- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Saṅghādisesakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Ss 13 — Điều học về vị làm hư hỏng các gia đình
13. Kuladūsakasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại Kīṭāgiri (núi Kīṭā) là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.
Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi trò nhảy cóc, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh khăng, họ chơi trò đoán hình vẽ bằng tay, họ chơi bóng tròn, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò kéo cày, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi nói với cô vũ nữ như vầy: “Này cô em, hãy nhảy múa ở đây,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.
Inda-bh 2Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, và đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Vị ấy với mắt nhìn xuống, thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói như vầy:—“Người này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu, giống như kẻ khờ trong nhóm người khờ, giống như kẻ ngớ ngẩn trong nhóm người ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến thăm viếng, không có hợm hĩnh, khuôn mặt lại rạng rỡ, luôn mở đầu câu chuyện; chính vì thế, đồ ăn khất thực nên được cúng dường đến các ngài.” Có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy và đã nói điều này:—“Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?”—“Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.”—“Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.”
Inda-bh 3Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, dâng thức ăn, và đã nói điều này:—“Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?”—“Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, … (như trên) … Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.”
Inda-bh 4—“Này đạo hữu, được rồi.” Vị tỳ khưu ấy sau khi lắng nghe nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng thành Sāvatthī. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đã là thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này tỳ khưu, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đến vậy?”—“Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm.”
Inda-bh 5“Bạch ngài, con đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng con đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con, sau khi đến đã đảnh lễ con và đã nói điều này: ‘Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?’ ‘Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.’ ‘Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.’ Bạch ngài, khi ấy nam cư sĩ ấy đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi đã nói điều này: ‘Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?’ ‘Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthī để diện kiến đức Thế Tôn.’ ‘Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, … (như trên) … Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.’ Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.”
Inda-bh 6Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, … (như trên) … Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ, có đúng không vậy?—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
Inda-bh 7—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại hành xử sai nguyên tắc có hình thức như thế? Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngửa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ,—
họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi nói với cô vũ nữ như vầy: ‘Này cô em, hãy nhảy múa ở đây,’ họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.
Inda-bh 8Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi đã khiển trách, đức Thế Tôn đã nói Pháp thoại rồi bảo Sāriputta và Moggallāna rằng:—“Này Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kīṭāgiri rồi hãy thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, các vị này là những đệ tử của hai ngươi.”—“Bạch ngài, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và thô lỗ, làm thế nào chúng con thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu ấy được?”—“Này Sāriputta và Moggallāna, chính vì điều ấy hai ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.”—“Bạch ngài, xin vâng. Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế Tôn.”
Inda-bh 9—“Và này các tỳ khưu, nên thực thi như vầy: Trước hết, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ đã được hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sau đó, hội chúng tỳ khưu dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna đã đi đến vùng Kīṭāgiri và đã thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: “Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.” Khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục?”
Inda-bh 11Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, … (như trên) … họ hoàn tục, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, hoàn tục vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được nói như thế bởi các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: ‘Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau họ lại xua đuổi vị này, họ lại không xua đuổi vị kia.’
Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’
Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.”
Inda-bh 12Vị tỳ khưu (sống nương tựa) vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ: là ngôi làng, là thị trấn, là thành phố, là ngôi làng và luôn cả thị trấn.
Sống nương tựa: các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào nơi ấy.
Gia đình nghĩa là có bốn loại gia đình: Gia đình Sát-đế-lỵ, gia đình Bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng cùng đinh.
Kẻ làm hư hỏng các gia đình: là kẻ làm các gia đình trở thành hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột tắm, hoặc với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách đi bộ đưa tin.
Có hành động sai trái: vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị bảo kẻ khác kết lại.
Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.
Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy: Trước kia họ mộ đạo, vì vị ấy họ trở nên không còn mộ đạo. Họ đã có niềm tin trở thành không có niềm tin.
Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu làm hư hỏng các gia đình.
Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Và khi được các tỳ khưu nói như thế, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: “Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau các vị lại xua đuổi vị này, các vị lại không xua đuổi vị kia.”
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu được thực thi hành sự.
Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!”
Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hình phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hình phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 13Tội dukkaṭa do lời đề nghị. Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa. Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực.
Tội saṅghādisesa: Chỉ có hội chúng–không phải một số vị, không phải một cá nhân–ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hình phạt mānatta, cho giải tội; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.” Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; cũng vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”
Inda-bh 15Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa. Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 16Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Dứt điều học về vị làm hư hỏng các gia đình.
Inda-bh 17Bạch chư đại đức, mười ba điều saṅghādisesa đã được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, bốn điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này và che giấu biết được bao nhiêu ngày thì vị tỳ khưu ấy phải chịu hình phạt parivāsa không theo ý muốn bấy nhiêu ngày. Vị tỳ khưu đã trải qua hình phạt parivāsa nên thực hành thêm sáu đêm mānatta dành cho tỳ khưu. Vị tỳ khưu có hình phạt mānatta đã được hoàn tất thì vị tỳ khưu ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỳ khưu ấy thì vị tỳ khưu ấy chưa được giải tội và các tỳ khưu ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt Chương Mười Ba Pháp.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Sự xuất ra (tinh dịch), việc xúc chạm cơ thể, (nói lên) lời thô tục, tình dục cho bản thân, mai mối, và liêu cốc, trú xá, và không có nguyên cớ.
Điều nhỏ nhặt nào đó, sự chia rẽ (hội chúng), những kẻ ủng hộ vị ấy, vị khó dạy, và làm hư hỏng các gia đình, là mười ba điều học saṅghādisesa.
Dứt Chương saṅghādisesa.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on offenses entailing suspension
Chương Tăng Tàng đã kết thúc.
13. Kuladūsakasikkhāpada
13. Being a corrupter of families
Origin story
1. Điều học Bất Định thứ nhất
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā honti alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—
mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi, ocinantipi ocināpentipi, ganthentipi ganthāpentipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi,
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka were staying at Kīṭāgiri. They were misbehaving in many ways.
They planted flowering trees, watered and plucked them, and then tied the flowers together. They made the flowers into garlands, garlands with stalks on one side and garlands with stalks on both sides.
443. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Khi ấy, trưởng lão Udāyī là người hay lui tới các gia đình ở Sāvatthī, ngài thường đến thăm nhiều gia đình. Vào lúc bấy giờ, con gái của một gia đình hộ độ cho trưởng lão Udāyī đã được gả cho con trai của một gia đình khác. Khi ấy, vào buổi sáng, trưởng lão Udāyī đắp y, mang bát và y, đi đến gia đình kia; đến nơi, ngài hỏi những người trong nhà: ‘Cô gái tên như vậy ở đâu?’ Họ thưa rằng: ‘Thưa ngài, cô ấy đã được gả cho con trai của gia đình nọ.’ Gia đình đó cũng là gia đình hộ độ cho trưởng lão Udāyī. Khi ấy, trưởng lão Udāyī đi đến gia đình đó; đến nơi, ngài hỏi những người trong nhà: ‘Cô gái tên như vậy ở đâu?’ Họ thưa rằng: ‘Thưa ngài, cô ấy đang ngồi trong phòng riêng.’ Khi ấy, trưởng lão Udāyī đi đến chỗ cô gái ấy; đến nơi, ngài đã ngồi cùng với cô gái ấy, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, có che khuất, tại chỗ ngồi thích hợp cho việc hành dâm, nói chuyện hợp thời và thuyết pháp hợp thời.
Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjanti, ekathālakepi pivanti, ekāsanepi nisīdanti, ekamañcepi tuvaṭṭenti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭenti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, vikālepi bhuñjanti, majjampi pivanti, mālāgandhavilepanampi dhārenti, naccantipi gāyantipi vādentipi lāsentipi, naccantiyāpi naccanti, naccantiyāpi gāyanti, naccantiyāpi vādenti, naccantiyāpi lāsenti, gāyantiyāpi naccanti, gāyantiyāpi gāyanti, gāyantiyāpi vādenti, gāyantiyāpi lāsenti, vādentiyāpi naccanti, vādentiyāpi gāyanti, vādentiyāpi vādenti, vādentiyāpi lāsenti, lāsentiyāpi naccanti, lāsentiyāpi gāyanti, lāsentiyāpi vādenti, lāsentiyāpi lāsenti;
aṭṭhapadepi kīḷanti, dasapadepi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅgacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti.
Hatthismimpi sikkhanti, assasmimpi sikkhanti, rathasmimpi sikkhanti, dhanusmimpi sikkhanti, tharusmimpi sikkhanti, hatthissapi purato dhāvanti, assassapi purato dhāvanti, rathassapi purato dhāvantipi ādhāvantipi, usseḷentipi, apphoṭentipi, nibbujjhantipi, muṭṭhīhipi yujjhanti, raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vadanti—“idha, bhagini, naccassū”ti, nalāṭikampi denti, vividhampi anācāraṁ ācaranti.
They ate from the same plates as these women and drank from the same vessels. They sat on the same seats as them, and they lay down on the same beds, on the same sheets, under the same covers, and both on the same sheets and under the same covers. They ate at the wrong time, drank alcohol, and wore garlands, perfumes, and cosmetics. They danced, sang, played instruments, and performed. While the women were dancing, singing, playing instruments, and performing, so would they.
They played various games: eight-row checkers, ten-row checkers, imaginary checkers, hopscotch, pick-up-sticks, board games, tipcat, painting with the hand, dice, leaf flutes, toy plows, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carriages, toy bows, guessing from syllables, thought guessing, mimicking deformities.
They trained in elephant riding, in horsemanship, in carriage riding, in archery, in swordsmanship. And they ran in front of elephants, horses, and carriages, and they ran backward and forward. They whistled, clapped their hands, wrestled, and boxed. They spread their outer robe on a stage and said to the dancing girls, “Dance here, sister,” and they made gestures of approval. And they misbehaved in a variety of ways.
431. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tên là Assaji và Punabbasu là những vị thường trú ở Kīṭāgiri, là những kẻ không biết hổ thẹn, là các tỳ khưu ác đức. Họ đã thực hành các việc làm không đúng đắn như vầy: Họ cũng tự mình trồng các loại cây có hoa, cũng bảo người khác trồng; cũng tự mình tưới, cũng bảo người khác tưới; cũng tự mình hái, cũng bảo người khác hái; cũng tự mình kết, cũng bảo người khác kết; cũng tự mình làm vòng hoa một cuống, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm vòng hoa hai cuống, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm chùm hoa, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm vòng hoa đeo tay, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm vòng hoa đội đầu, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm vòng hoa đeo tai, cũng bảo người khác làm; cũng tự mình làm vòng hoa trang sức ngực, cũng bảo người khác làm. Họ cũng tự mình mang, cũng bảo người khác mang vòng hoa một cuống, vòng hoa hai cuống, chùm hoa, vòng hoa đeo tay, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa trang sức ngực cho các phụ nữ, các thiếu nữ, các cô gái, các con dâu, các nữ tỳ của các gia đình. Họ cũng ăn chung một đĩa, cũng uống chung một ly, cũng ngồi chung một ghế, cũng nằm chung một giường, cũng nằm chung một tấm trải, cũng đắp chung một tấm mền, cũng nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền với các phụ nữ, các thiếu nữ, các cô gái, các con dâu, các nữ tỳ của các gia đình. Họ cũng ăn vào giờ không hợp thời, cũng uống rượu, cũng mang vòng hoa, thoa vật thơm, và các loại phấn sáp; cũng nhảy múa, cũng ca hát, cũng chơi nhạc, cũng diễn trò; họ cũng nhảy múa với người nữ đang nhảy múa, cũng ca hát với người nữ đang nhảy múa, cũng chơi nhạc với người nữ đang nhảy múa, cũng diễn trò với người nữ đang nhảy múa; họ cũng nhảy múa với người nữ đang ca hát, cũng ca hát với người nữ đang ca hát, cũng chơi nhạc với người nữ đang ca hát, cũng diễn trò với người nữ đang ca hát; họ cũng nhảy múa với người nữ đang chơi nhạc, cũng ca hát với người nữ đang chơi nhạc, cũng chơi nhạc với người nữ đang chơi nhạc, cũng diễn trò với người nữ đang chơi nhạc; họ cũng nhảy múa với người nữ đang diễn trò, cũng ca hát với người nữ đang diễn trò, cũng chơi nhạc với người nữ đang diễn trò, cũng diễn trò với người nữ đang diễn trò. Họ cũng chơi cờ tám ô, cũng chơi cờ mười ô, cũng chơi cờ trên không, cũng chơi trò nhảy lò cò, cũng chơi trò búng hòn sỏi, cũng chơi trò xúc xắc, cũng chơi trò đánh gậy, cũng chơi trò vẽ bằng tay, cũng chơi trò bi, cũng chơi trò thổi kèn lá, cũng chơi trò cày bừa, cũng chơi trò nhào lộn, cũng chơi trò chong chóng, cũng chơi trò đo lường, cũng chơi trò xe nhỏ, cũng chơi trò cung tên nhỏ, cũng chơi trò đoán chữ, cũng chơi trò đoán ý, cũng chơi trò giả làm người tàn tật. Họ cũng học về voi, cũng học về ngựa, cũng học về xe, cũng học về cung, cũng học về gươm. Họ cũng chạy phía trước voi, cũng chạy phía trước ngựa, cũng chạy phía trước xe, cũng chạy tới chạy lui, cũng la hét, cũng vỗ tay, cũng đấu vật, cũng đấu quyền. Họ cũng trải tấm y hai lớp ở giữa võ đài rồi nói với người nữ vũ công rằng: ‘Này chị, hãy nhảy múa ở đây.’ Họ cũng búng ngón tay tán thưởng. Họ đã thực hành nhiều loại việc làm không đúng đắn.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu kāsīsu vassaṁvuṭṭho sāvatthiṁ gacchanto bhagavantaṁ dassanāya, yena kīṭāgiri tadavasari. Atha kho so bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kīṭāgiriṁ piṇḍāya pāvisi pāsādikena abhikkantena paṭikkantena ālokitena vilokitena samiñjitena pasāritena okkhittacakkhu iriyāpathasampanno. Manussā taṁ bhikkhuṁ passitvā evamāhaṁsu—“kvāyaṁ abalabalo viya mandamando viya bhākuṭikabhākuṭiko viya? Ko imassa upagatassa piṇḍakaṁ dassati? Amhākaṁ pana ayyā assajipunabbasukā saṇhā sakhilā sukhasambhāsā mihitapubbaṅgamā ehisvāgatavādino abbhākuṭikā uttānamukhā pubbabhāsino. Tesaṁ kho nāma piṇḍo dātabbo”ti.
Just then a monk who had completed the rainy-season residence in Kāsi was on his way to visit the Buddha at Sāvatthī when he arrived at Kīṭāgiri. In the morning he robed up, took his bowl and robe, and entered Kīṭāgiri to collect almsfood. He was pleasing in his conduct: in going out and coming back, in looking ahead and looking aside, in bending and stretching his arms. His eyes were lowered, and he was perfect in deportment. When people saw him, they said, “Who’s this, acting like a moron and always frowning? Who’s gonna give almsfood to him? Almsfood should be given to our Venerables Assaji and Punabbasuka, for they are gentle, congenial, pleasant to speak with, greeting one with a smile, welcoming, friendly, open, the first to speak.”
432. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu nọ đã an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, trong khi đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn đã đi đến Kīṭāgiri. Rồi vị tỳ khưu ấy, vào buổi sáng, sau khi đã đắp y, mang theo y bát, với dáng điệu trang nghiêm, đi tới, đi lui, nhìn tới, nhìn quanh, co tay, duỗi tay, với mắt nhìn xuống, đầy đủ oai nghi, đã đi vào Kīṭāgiri để khất thực. Những người dân sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói lên rằng: ‘Vị này là ai mà trông có vẻ yếu ớt, có vẻ chậm chạp, có vẻ cau có thế này? Ai sẽ cúng dường vật thực cho vị này, người đã đi đến? Còn các ngài Assaji và Punabbasu của chúng ta thì hòa nhã, thân thiện, dễ nói chuyện, luôn mỉm cười trước, có lời nói chào đón, không cau có, có gương mặt cởi mở, là người nói trước. Vật thực nên được cúng dường cho các vị ấy.’”
Addasā kho aññataro upāsako taṁ bhikkhuṁ kīṭāgirismiṁ piṇḍāya carantaṁ. Disvāna yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā etadavoca—“api, bhante, piṇḍo labbhatī”ti?
“Na kho, āvuso, piṇḍo labbhatī”ti.
“Ehi, bhante, gharaṁ gamissāmā”ti.
Atha kho so upāsako taṁ bhikkhuṁ gharaṁ netvā bhojetvā etadavoca—“kahaṁ, bhante, ayyo gamissatī”ti?
“Sāvatthiṁ kho ahaṁ, āvuso, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Tena hi, bhante, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda, evañca vadehi—‘duṭṭho, bhante, kīṭāgirismiṁ āvāso. Assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi …pe… vividhampi anācāraṁ ācaranti. Yepi te, bhante, manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā. Yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni. Riñcanti pesalā bhikkhū, nivasanti pāpabhikkhū. Sādhu, bhante, bhagavā kīṭāgiriṁ bhikkhū pahiṇeyya yathāyaṁ kīṭāgirismiṁ āvāso saṇṭhaheyyā’”ti.
A certain lay follower saw that monk walking for alms in Kīṭāgiri. He approached him, bowed, and said, “Venerable, have you received any almsfood?”
“No, I haven’t.”
“Come, let’s go to my house.”
He took that monk to his house and gave him a meal. He then said, “Where are you going, venerable?”
“I’m going to Sāvatthī to see the Buddha.”
“Well then, would you please pay respect at the Buddha’s feet in my name and say, ‘Sir, the monastery at Kīṭāgiri has been corrupted. The bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka are staying there. And they’re misbehaving in many ways. They plant flowering trees, water them … And they misbehave in a variety of ways. Those who previously had faith and confidence have now lost it, and there’s no longer any support for the Sangha. The good monks have left and the bad monks are staying on. Sir, please send monks to stay at the monastery at Kīṭāgiri.’”
Một vị cận sự nam đã thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất thực ở Kīṭāgiri. Sau khi thấy, vị ấy đã đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy; sau khi đi đến, đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy rồi nói lên lời này: “Bạch ngài, có nhận được vật thực không ạ?” – “Này hiền giả, vật thực đã không được nhận.” – “Bạch ngài, xin mời ngài đến, chúng ta sẽ đi về nhà.” Rồi vị cận sự nam ấy sau khi đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, đã dâng cúng vật thực rồi nói lên lời này: “Bạch ngài, vị tôn giả sẽ đi về đâu ạ?” – “Này hiền giả, tôi sẽ đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn.” – “Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ hai bàn chân của đức Thế Tôn và thưa lên lời này: ‘Bạch đức Thế Tôn, trú xứ ở Kīṭāgiri đã bị hư hỏng. Các vị tỳ khưu thường trú ở Kīṭāgiri tên là Assaji và Punabbasu là những kẻ không biết hổ thẹn, là các ác tỳ khưu. Các vị ấy thực hành hành vi không đúng đắn như vầy: họ trồng và bảo người khác trồng các loại cây có hoa, họ tưới và bảo người khác tưới... họ thực hành nhiều hành vi không đúng đắn khác nhau. Bạch đức Thế Tôn, những người nào trước đây đã có đức tin, đã có lòng trong sạch thì những người ấy bây giờ không có đức tin, không có lòng trong sạch. Những đường lối cúng dường nào của hội chúng trước đây thì những đường lối ấy bây giờ đã bị cắt đứt. Các vị tỳ khưu đức hạnh thì rời bỏ, các ác tỳ khưu thì ở lại. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng đức Thế Tôn hãy phái các vị tỳ khưu đến Kīṭāgiri để trú xứ ở Kīṭāgiri này được ổn định.’”
“Evamāvuso”ti kho so bhikkhu tassa upāsakassa paṭissutvā yena sāvatthi tena pakkāmi. Anupubbena yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ. Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ, kaccisi appakilamathena addhānaṁ āgato, kuto ca tvaṁ, bhikkhu, āgacchasī”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā. Appakilamathena cāhaṁ, bhante, addhānaṁ āgato. Idhāhaṁ, bhante, kāsīsu vassaṁvuṭṭho sāvatthiṁ āgacchanto bhagavantaṁ dassanāya yena kīṭāgiri tadavasariṁ. Atha khvāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kīṭāgiriṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Addasā kho maṁ, bhante, aññataro upāsako kīṭāgirismiṁ piṇḍāya carantaṁ. Disvāna yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā etadavoca—‘api, bhante, piṇḍo labbhatī’ti?
‘Na kho, āvuso, piṇḍo labbhatī’ti.
‘Ehi, bhante, gharaṁ gamissāmā’ti.
Atha kho, bhante, so upāsako maṁ gharaṁ netvā bhojetvā etadavoca—‘kahaṁ, bhante, ayyo gamissatī’ti?
‘Sāvatthiṁ kho ahaṁ, āvuso, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā’ti.
Tena hi, bhante, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda, evañca vadehi—‘duṭṭho, bhante, kīṭāgirismiṁ āvāso, assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi …pe… vividhampi anācāraṁ ācaranti. Yepi te, bhante, manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā, yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni, riñcanti pesalā bhikkhū nivasanti pāpabhikkhū. Sādhu, bhante, bhagavā kīṭāgiriṁ bhikkhū pahiṇeyya yathāyaṁ kīṭāgirismiṁ āvāso saṇṭhaheyyā’ti. Tato ahaṁ, bhagavā, āgacchāmī”ti.
The monk consented, got up, and set out for Sāvatthī. When he eventually arrived, he went to the Buddha in Anāthapiṇḍika’s Monastery. He bowed to the Buddha and sat down. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks, the Buddha said to him, “I hope you’re keeping well, monk, I hope you’re getting by? I hope you’re not tired from traveling? And where have you come from?”
“I’m keeping well, sir, I’m getting by. I’m not tired from traveling.” He then told the Buddha all that had happened at Kīṭāgiri,
adding, “That’s where I’ve come from, sir.”
Vị tỳ khưu ấy sau khi đã vâng lời vị cận sự nam ấy rằng: “Thưa hiền giả, xin vâng,” rồi đã khởi hành đi đến Sāvatthi. Tuần tự, vị ấy đã đi đến Sāvatthi, tu viện Jetavana của ông Anāthapiṇḍika, nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Và đây là thông lệ của các vị Phật, các đức Thế Tôn, là cùng chào hỏi thân mật với các vị tỳ khưu khách. Rồi đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy lời này: “Này tỳ khưu, có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Có phải thầy đã đi đường xa mà ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, thầy từ đâu đến?” – “Bạch đức Thế Tôn, con kham nhẫn được. Bạch đức Thế Tôn, con chịu đựng được. Bạch ngài, con đã đi đường xa mà ít mệt nhọc. Bạch ngài, ở đây, sau khi đã an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, trong khi đang đi đến Sāvatthi để yết kiến đức Thế Tôn, con đã ghé vào Kīṭāgiri. Rồi, bạch ngài, vào buổi sáng, sau khi đã đắp y, mang theo y bát, con đã đi vào Kīṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, một vị cận sự nam đã thấy con đang đi khất thực ở Kīṭāgiri. Sau khi thấy, vị ấy đã đi đến chỗ con; sau khi đi đến, đã đảnh lễ con rồi nói lên lời này: ‘Bạch ngài, có nhận được vật thực không ạ?’ ‘Này hiền giả, vật thực đã không được nhận.’ ‘Bạch ngài, xin mời ngài đến, chúng ta sẽ đi về nhà.’ Rồi, bạch ngài, vị cận sự nam ấy sau khi đã dẫn con về nhà, đã dâng cúng vật thực rồi nói lên lời này: ‘Bạch ngài, vị tôn giả sẽ đi về đâu ạ?’ ‘Này hiền giả, tôi sẽ đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn.’ ‘Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài nhân danh tôi cúi đầu đảnh lễ hai bàn chân của đức Thế Tôn và thưa lên lời này: “Bạch đức Thế Tôn, trú xứ ở Kīṭāgiri đã bị hư hỏng, các vị tỳ khưu thường trú ở Kīṭāgiri tên là Assaji và Punabbasu là những kẻ không biết hổ thẹn, là các ác tỳ khưu. Các vị ấy thực hành hành vi không đúng đắn như vầy: họ trồng và bảo người khác trồng các loại cây có hoa, họ tưới và bảo người khác tưới... họ thực hành nhiều hành vi không đúng đắn khác nhau. Bạch đức Thế Tôn, những người nào trước đây đã có đức tin, đã có lòng trong sạch thì những người ấy bây giờ không có đức tin, không có lòng trong sạch, những đường lối cúng dường nào của hội chúng trước đây thì những đường lối ấy bây giờ đã bị cắt đứt, các vị tỳ khưu đức hạnh thì rời bỏ, các ác tỳ khưu thì ở lại. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng đức Thế Tôn hãy phái các vị tỳ khưu đến Kīṭāgiri để trú xứ ở Kīṭāgiri này được ổn định.”’ Bạch đức Thế Tôn, con từ nơi ấy đến.”
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi …pe… vividhampi anācāraṁ ācaranti, yepi te, bhikkhave, manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā; yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni; riñcanti pesalā bhikkhū nivasanti pāpabhikkhū”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā evarūpaṁ anācāraṁ ācarissanti—mālāvacchaṁ ropessantipi ropāpessantipi, sañcissantipi siñcāpessantipi, ocinissantipi ocināpessantipi, ganthissantipi ganthāpessantipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karissantipi kārāpessantipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karissantipi kārāpessantipi, mañjarikaṁ karissantipi kārāpessantipi, vidhūtikaṁ karissantipi kārāpessantipi, vaṭaṁsakaṁ karissantipi kārāpessantipi, āveḷaṁ karissantipi kārāpessantipi, uracchadaṁ karissantipi kārāpessantipi. Te kulitthīnaṁ kuladhītānaṁ kulakumārīnaṁ kulasuṇhānaṁ kuladāsīnaṁ ekatovaṇṭikamālaṁ harissantipi hārāpessantipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ harissantipi hārāpessantipi, mañjarikaṁ harissantipi hārāpessantipi, vidhūtikaṁ harissantipi hārāpessantipi, vaṭaṁsakaṁ harissantipi hārāpessantipi, āveḷaṁ harissantipi hārāpessantipi, uracchadaṁ harissantipi hārāpessantipi. Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjissanti, ekathālakepi pivissanti, ekāsanepi nisīdissanti, ekamañcepi tuvaṭṭissanti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭissanti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭissanti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭissanti, vikālepi bhuñjissanti, majjampi pivissanti, mālāgandhavilepanampi dhārissanti naccissantipi gāyissantipi vādessantipi lāsessantipi, naccantiyāpi naccissanti naccantiyāpi gāyissanti naccantiyāpi vādessanti naccantiyāpi lāsessanti, gāyantiyāpi naccissanti gāyantiyāpi gāyissanti gāyantiyāpi vādessanti gāyantiyāpi lāsessanti, vādentiyāpi naccissanti vādentiyāpi gāyissanti vādentiyāpi vādessanti vādentiyāpi lāsessanti, lāsentiyāpi naccissanti lāsentiyāpi gāyissanti lāsentiyāpi vādessanti lāsentiyāpi lāsessanti
aṭṭhapadepi kīḷissanti dasapadepi kīḷissanti, ākāsepi kīḷissanti, parihārapathepi kīḷissanti, santikāyapi kīḷissanti, khalikāyapi kīḷissanti, ghaṭikāyapi kīḷissanti, salākahatthenapi kīḷissanti, akkhenapi kīḷissanti, paṅgacīrenapi kīḷissanti, vaṅkakenapi kīḷissanti, mokkhacikāyapi kīḷissanti, ciṅgulakenapi kīḷissanti, pattāḷhakenapi kīḷissanti, rathakenapi kīḷissanti, dhanukenapi kīḷissanti, akkharikāyapi kīḷissanti, manesikāyapi kīḷissanti, yathāvajjenapi kīḷissanti,
hatthismimpi sikkhissanti, assasmimpi sikkhissanti, rathasmimpi sikkhissanti, dhanusmimpi sikkhissanti, tharusmimpi sikkhissanti, hatthissapi purato dhāvissanti, assassapi purato dhāvissanti, rathassapi purato dhāvissantipi ādhāvissantipi usseḷessantipi, apphoṭessantipi, nibbujjhissantipi, muṭṭhīhipi yujjhissanti, raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vakkhanti “idha, bhagini, naccassū”ti nalāṭikampi dassanti, vividhampi anācāraṁ ācarissanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā sāriputtamoggallāne āmantesi—“gacchatha tumhe, sāriputtā, kīṭāgiriṁ gantvā assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karotha. Tumhākaṁ ete saddhivihārikā”ti.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka are staying at Kīṭāgiri and misbehaving like this? And is it true that those people who previously had faith and confidence have now lost it, that there’s no longer any support for the Sangha, and that the good monks have left and the bad monks are staying on?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “Monks, how can those foolish men misbehave in this way?
This will affect people’s confidence …” He then gave a teaching and addressed Sāriputta and Moggallāna: “Go to Kīṭāgiri and do a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka. They’re your students.”
433. Bấy giờ, Thế Tôn nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đã cho triệu tập chúng Tỳ-khưu và hỏi các Tỳ-khưu rằng: – Này các Tỳ-khưu, có đúng sự thật là các Tỳ-khưu tên là Assaji và Punabbasu, là những người trú ngụ ở Kīṭāgiri, là những kẻ không biết hổ thẹn, là các ác Tỳ-khưu, họ đã thực hành các việc làm không đúng đắn có hình thức như vầy: họ tự mình trồng cây hoa và bảo người khác trồng, tự mình tưới nước và bảo người khác tưới nước, ...v.v... họ đã thực hành nhiều việc làm không đúng đắn khác nhau; và này các Tỳ-khưu, những người trước kia có đức tin, có sự trong sạch, thì nay họ trở nên không có đức tin, không có sự trong sạch; và những đường lối cúng dường đến cho Tăng chúng trước kia thì nay cũng bị cắt đứt; các Tỳ-khưu đức hạnh thì rời bỏ, các ác Tỳ-khưu thì ở lại? – Bạch Thế Tôn, là sự thật. Đức Phật, Thế Tôn đã quở trách ...v.v... – Này các Tỳ-khưu, tại sao những kẻ rỗng tuếch kia lại có thể thực hành các việc làm không đúng đắn có hình thức như vầy được chứ? Họ tự mình trồng cây hoa và bảo người khác trồng, tự mình tưới nước và bảo người khác tưới, tự mình hái và bảo người khác hái, tự mình kết và bảo người khác kết, tự mình làm vòng hoa một cuống và bảo người khác làm, tự mình làm vòng hoa hai cuống và bảo người khác làm, tự mình làm chùm hoa và bảo người khác làm, tự mình làm vòng hoa đeo tay và bảo người khác làm, tự mình làm hoa cài đầu và bảo người khác làm, tự mình làm hoa đeo tai và bảo người khác làm, tự mình làm hoa trang sức ngực và bảo người khác làm. Họ tự mình mang vòng hoa một cuống và bảo người khác mang cho các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các cô gái trẻ, các con dâu trong gia đình, các nữ tỳ trong gia đình; tự mình mang vòng hoa hai cuống và bảo người khác mang; tự mình mang chùm hoa và bảo người khác mang; tự mình mang vòng hoa đeo tay và bảo người khác mang; tự mình mang hoa cài đầu và bảo người khác mang; tự mình mang hoa đeo tai và bảo người khác mang; tự mình mang hoa trang sức ngực và bảo người khác mang. Họ cùng ăn chung một bát, cùng uống chung một ly, cùng ngồi chung một ghế, cùng ngủ chung một giường, cùng ngủ chung một tấm trải, cùng đắp chung một tấm mền, cùng ngủ chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền với các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các cô gái trẻ, các con dâu trong gia đình, các nữ tỳ trong gia đình; họ ăn vào giờ phi thời, uống rượu, mang vòng hoa, hương thơm, và vật thoa phết; họ nhảy múa, ca hát, chơi nhạc cụ, và biểu diễn; họ nhảy múa theo người nữ đang nhảy múa, ca hát theo người nữ đang nhảy múa, chơi nhạc cụ theo người nữ đang nhảy múa, biểu diễn theo người nữ đang nhảy múa; họ nhảy múa theo người nữ đang ca hát, ca hát theo người nữ đang ca hát, chơi nhạc cụ theo người nữ đang ca hát, biểu diễn theo người nữ đang ca hát; họ nhảy múa theo người nữ đang chơi nhạc cụ, ca hát theo người nữ đang chơi nhạc cụ, chơi nhạc cụ theo người nữ đang chơi nhạc cụ, biểu diễn theo người nữ đang chơi nhạc cụ; họ nhảy múa theo người nữ đang biểu diễn, ca hát theo người nữ đang biểu diễn, chơi nhạc cụ theo người nữ đang biểu diễn, biểu diễn theo người nữ đang biểu diễn; họ chơi cờ tám ô, chơi cờ mười ô, chơi cờ trên không, chơi cờ nhảy ô, chơi cờ gieo hột, chơi cờ xúc xắc, chơi trò đánh gậy, chơi trò vẽ bằng tay, chơi bi, chơi trò thổi lá, chơi trò cày bừa nhỏ, chơi trò nhào lộn, chơi trò chong chóng, chơi trò đo bằng lá, chơi trò xe nhỏ, chơi trò cung nhỏ, chơi trò đoán chữ, chơi trò đoán ý, chơi trò giả dạng người khuyết tật; họ học thuật cưỡi voi, học thuật cưỡi ngựa, học thuật đánh xe, học thuật bắn cung, học thuật dùng gươm; họ chạy phía trước voi, chạy phía trước ngựa, chạy phía trước xe; họ chạy tới chạy lui, la hét, vỗ tay, đấu vật, và đánh quyền; họ còn trải tấm thượng y ra giữa sân khấu và nói với nữ vũ công rằng: ‘Này chị, hãy nhảy múa ở đây,’ rồi trao tặng phẩm; họ thực hành nhiều việc làm không đúng đắn khác nhau! Này các Tỳ-khưu, việc này không thể làm cho những người chưa trong sạch được trong sạch...v.v... Sau khi quở trách và thuyết một bài pháp, ngài gọi hai vị Sāriputta và Moggallāna đến và bảo rằng: – Này các Sāriputta, các ngươi hãy đi. Sau khi đến Kīṭāgiri, hãy thi hành hình phạt trục xuất (pabbājanīyakamma) ra khỏi Kīṭāgiri đối với các Tỳ-khưu Assaji và Punabbasu. Họ là các đệ tử cùng ở với các ngươi.
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karoma? Caṇḍā te bhikkhū pharusā”ti.
“Tena hi tumhe, sāriputtā, bahukehi bhikkhūhi saddhiṁ gacchathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sāriputtamoggallānā bhagavato paccassosuṁ.
“Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ. Paṭhamaṁ assajipunabbasukā bhikkhū codetabbā. Codetvā sāretabbā. Sāretvā āpattiṁ ropetabbā. Āpattiṁ ropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Sir, how can we do a procedure of banishment against these monks? They’re temperamental and harsh.”
“Well then, take many monks.”
“Yes, sir.”
“And, monks, this is how it should be done. First you should accuse the monks Assaji and Punabbasuka. They should then be reminded of what they have done, before they are charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– Bạch ngài, làm thế nào chúng con có thể thi hành hình phạt trục xuất ra khỏi Kīṭāgiri đối với các Tỳ-khưu Assaji và Punabbasu? Các Tỳ-khưu ấy hung dữ và thô bạo. – Này các Sāriputta, nếu vậy thì các ngươi hãy đi cùng với nhiều Tỳ-khưu. – Xin vâng, bạch ngài. Khi ấy, hai vị Sāriputta và Moggallāna đã vâng lời Thế Tôn. – Này các Tỳ-khưu, và việc ấy nên được thực hiện như vầy: Trước tiên, các Tỳ-khưu Assaji và Punabbasu cần phải bị khiển trách. Sau khi khiển trách, cần phải làm cho nhớ lại. Sau khi làm cho nhớ lại, cần phải làm cho thừa nhận tội. Sau khi làm cho thừa nhận tội, vị Tỳ-khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime assajipunabbasukā bhikkhū kuladūsakā pāpasamācārā. Imesaṁ pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni ca imehi duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ kareyya—“na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabban”ti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks, Assaji and Punabbasuka, are corrupters of families and badly behaved. Their bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by them have been seen and heard about. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. This is the motion.
434. “Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu này là những người làm hư hỏng gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của các vị này đã được thấy và cũng đã được nghe. Và các gia đình đã bị các vị này làm hư hỏng cũng đã được thấy và cũng đã được nghe. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên thực hiện hành sự trục xuất (pabbājanīyakamma) đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được sống ở Kīṭāgiri.’ Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime assajipunabbasukā bhikkhū kuladūsakā pāpasamācārā. Imesaṁ pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni ca imehi duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Saṅgho assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karoti—“na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabban”ti. Yassāyasmato khamati assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammassa karaṇaṁ—“na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabban”ti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks, Assaji and Punabbasuka, are corrupters of families and badly behaved. Their bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by them have been seen and heard about. The Sangha does a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. Any monk who approves of doing a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu này là những người làm hư hỏng gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của các vị này đã được thấy và cũng đã được nghe. Và các gia đình đã bị các vị này làm hư hỏng cũng đã được thấy và cũng đã được nghe. Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất (pabbājanīyakamma) đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được sống ở Kīṭāgiri.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được sống ở Kīṭāgiri,’ vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho …pe… so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. … should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này… (như trên)… Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con… (như trên)… vị ấy hãy nói lên.”
Kataṁ saṅghena assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ—“na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabban”ti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has done a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Hành sự trục xuất (pabbājanīyakamma) đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được sống ở Kīṭāgiri’ đã được Tăng chúng thực hiện. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Atha kho sāriputtamoggallānappamukho bhikkhusaṅgho kīṭāgiriṁ gantvā assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ akāsi—“na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabban”ti. Te saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattanti, na lomaṁ pātenti, na netthāraṁ vattanti, na bhikkhū khamāpenti, akkosanti paribhāsanti chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpenti, pakkamantipi, vibbhamantipi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma assajipunabbasukā bhikkhū saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattissanti, na lomaṁ pātessanti, na netthāraṁ vattissanti, na bhikkhū khamāpessanti, akkosissanti paribhāsissanti, chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpessanti pakkamissantipi vibbhamissantipī”ti.
Atha kho te bhikkhū assajipunabbasuke bhikkhū anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, assajipunabbasukā bhikkhū saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattanti …pe… vibbhamantipī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
Soon afterwards a sangha of monks, headed by Sāriputta and Moggallāna, went to Kīṭāgiri and did the procedure of banishment against Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. After the Sangha had done the procedure, those monks did not conduct themselves properly or suitably so as to deserve to be released, nor did they ask the monks for forgiveness. Instead they abused and reviled them, and they slandered them as acting from favoritism, ill will, confusion, and fear. And they left and they disrobed. The monks of few desires complained and criticized them, “How can these monks act in this way when the Sangha has done a legal procedure of banishment against them?”
They rebuked the monks Assaji and Punabbasuka in many ways and then told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks Assaji and Punabbasuka acted in this way?” “It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
435. Khi ấy, Tăng chúng tỳ khưu do các ngài Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu đã đi đến Kīṭāgiri và đã thực hiện hành sự trục xuất (pabbājanīyakamma) đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được sống ở Kīṭāgiri.’ Các vị ấy, bị Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất, đã không hành xử đúng đắn, không hạ mình, không thực hành hạnh để thoát khỏi hành sự, không xin lỗi các tỳ khưu, mắng nhiếc, phỉ báng, khiến cho (các tỳ khưu khác) rơi vào thiên vị do tham muốn, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi; các vị ấy cũng đã bỏ đi, cũng đã hoàn tục. Các vị tỳ khưu thiểu dục … (như trên) … đã khiển trách, chỉ trích, phàn nàn rằng: “Làm sao mà các tỳ khưu Assaji và Punabbasu, bị Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất, lại không hành xử đúng đắn, không hạ mình, không thực hành hạnh để thoát khỏi hành sự, không xin lỗi các tỳ khưu, mắng nhiếc, phỉ báng, khiến cho (các tỳ khưu khác) rơi vào thiên vị do tham muốn, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi; lại còn bỏ đi, lại còn hoàn tục chứ!” Khi ấy, các tỳ khưu ấy sau khi đã khiển trách các tỳ khưu Assaji và Punabbasu bằng nhiều cách, đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn … (như trên) … “Này các tỳ khưu, có thật chăng các tỳ khưu Assaji và Punabbasu, bị Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất, đã không hành xử đúng đắn … (như trên) … cũng đã hoàn tục?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn, đã khiển trách … (như trên) … và này các tỳ khưu, các con hãy tuyên đọc học giới này như sau:
“Bhikkhu paneva aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati kuladūsako pāpasamācāro. Tassa kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca, kulāni ca tena duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. So bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo—‘āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro, āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca, kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Pakkamatāyasmā imamhā āvāsā. Alaṁ te idha vāsenā’ti. Evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno te bhikkhū evaṁ vadeyya—‘chandagāmino ca bhikkhū dosagāmino ca bhikkhū mohagāmino ca bhikkhū bhayagāmino ca bhikkhū tādisikāya āpattiyā ekaccaṁ pabbājenti ekaccaṁ na pabbājentī’ti, so bhikkhu bhikkhūhi evamassa vacanīyo—‘māyasmā evaṁ avaca. Na ca bhikkhū chandagāmino. Na ca bhikkhū dosagāmino. Na ca bhikkhū mohagāmino. Na ca bhikkhū bhayagāmino. Āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro. Āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Pakkamatāyasmā imamhā āvāsā. Alaṁ te idha vāsenā’ti. Evañca so bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno tatheva paggaṇheyya, so bhikkhu bhikkhūhi yāvatatiyaṁ samanubhāsitabbo tassa paṭinissaggāya. Yāvatatiyañce samanubhāsiyamāno taṁ paṭinissajjeyya, iccetaṁ kusalaṁ; no ce paṭinissajjeyya, saṅghādiseso”ti.
‘If a monk who lives supported by a village or town is a corrupter of families and badly behaved, and his bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by him have been seen and heard about, then the monks should correct him like this: “Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.” If he replies, “You’re acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. Because of this sort of offense, you only banish some, but not others,” then the monks should correct him like this: “No, venerable, the monks are not acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.” If that monk continues as before, the monks should press him up to three times to make him stop. If he then stops, all is well. If he does not stop, he commits an offense entailing suspension.’”
Definitions
436. “Vị tỳ khưu nào sống nương tựa vào một ngôi làng hay một thị trấn nào đó, là người làm hư hỏng gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của vị ấy đã được thấy và cũng đã được nghe, và các gia đình đã bị vị ấy làm hư hỏng cũng đã được thấy và cũng đã được nghe. Vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: ‘Thưa trưởng lão, ngài là người làm hư hỏng gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của trưởng lão đã được thấy và cũng đã được nghe, và các gia đình đã bị trưởng lão làm hư hỏng cũng đã được thấy và cũng đã được nghe. Trưởng lão hãy rời khỏi trú xứ này. Ngài không nên sống ở đây nữa.’ Và nếu vị tỳ khưu ấy, đang được các tỳ khưu nói như vậy, lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: ‘Các tỳ khưu hành động theo thiên vị do tham muốn, các tỳ khưu hành động theo thiên vị do sân hận, các tỳ khưu hành động theo thiên vị do si mê, các tỳ khưu hành động theo thiên vị do sợ hãi. Đối với tội tương tự, các vị trục xuất một số người, không trục xuất một số người khác,’ vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: ‘Thưa trưởng lão, xin đừng nói như vậy. Các tỳ khưu không hành động theo thiên vị do tham muốn, các tỳ khưu không hành động theo thiên vị do sân hận, các tỳ khưu không hành động theo thiên vị do si mê, các tỳ khưu không hành động theo thiên vị do sợ hãi. Chính trưởng lão là người làm hư hỏng gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của trưởng lão đã được thấy và cũng đã được nghe, và các gia đình đã bị trưởng lão làm hư hỏng cũng đã được thấy và cũng đã được nghe. Trưởng lão hãy rời khỏi trú xứ này. Ngài không nên sống ở đây nữa.’ Và nếu vị tỳ khưu ấy, đang được các tỳ khưu nói như vậy, vẫn cố chấp như thế, vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu khuyên can đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu trong khi được khuyên can đến lần thứ ba mà vị ấy từ bỏ việc ấy, thì điều đó là tốt; nếu không từ bỏ, thì phạm tội Tăng Tàn (saṅghādisesa).”
- Bhikkhu paneva aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vāti
- gāmopi nigamopi nagarampi gāmo ceva nigamo ca.
- A monk … a village or town:
- a village and a town and a city are included in just a village and a town.
437. Vị tỳ khưu nào... một ngôi làng hay một thị trấn nào đó: Làng, thị trấn, hay thành phố đều được gọi là làng và thị trấn.
Sống nương tựa có nghĩa là các vật dụng như y, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh cho người bệnh có liên quan đến nơi ấy.
Gia đình được gọi là bốn loại gia đình: gia đình dòng dõi Sát-đế-lỵ, gia đình dòng dõi Bà-la-môn, gia đình dòng dõi Phệ-xá, gia đình dòng dõi Thủ-đà-la.
Người làm hư hỏng gia đình có nghĩa là làm hư hỏng các gia đình bằng cách cho hoa, hoặc cho trái cây, hoặc cho bột thơm, hoặc cho đất sét, hoặc cho tăm xỉa răng, hoặc cho tre, hoặc bằng cách chữa bệnh, hoặc bằng cách làm người đưa tin.
Hành vi xấu ác là: tự mình trồng cây hoa nhỏ hoặc bảo người khác trồng, tự mình tưới nước hoặc bảo người khác tưới, tự mình hái hoặc bảo người khác hái, tự mình kết vòng hoa hoặc bảo người khác kết.
Được thấy và được nghe là: những vị nào có mặt thì thấy, những vị nào vắng mặt thì nghe.
Và các gia đình bị vị ấy làm hư hỏng là: trước kia (họ) là người có đức tin, do nương vào vị tỳ-khưu ấy mà trở thành người không có đức tin; (trước kia họ) là người có lòng trong sạch, (do nương vào vị ấy mà) trở thành người không có lòng trong sạch.
Được thấy và được nghe là: những vị nào có mặt thì thấy, những vị nào vắng mặt thì nghe.
Vị tỳ-khưu ấy là: vị tỳ-khưu nào làm hư hỏng gia đình.
Bởi các tỳ-khưu là: bởi các tỳ-khưu khác. Những vị nào thấy, những vị nào nghe. Bởi những vị ấy, nên nói rằng: ‘Quả thật hiền giả là người làm hư hỏng gia đình, có hành vi xấu ác. Quả thật các hành vi xấu ác của hiền giả được thấy và được nghe. Và các gia đình bị hiền giả làm hư hỏng cũng được thấy và được nghe. Hiền giả hãy đi khỏi trú xứ này. Ngài sống ở đây đã đủ rồi.’
Và vị tỳ-khưu ấy, đang khi được các tỳ-khưu nói như vậy, có thể nói với các tỳ-khưu ấy rằng: ‘Các tỳ-khưu cũng đi theo thiên vị, các tỳ-khưu cũng đi theo sân hận, các tỳ-khưu cũng đi theo si mê, các tỳ-khưu cũng đi theo sợ hãi. Do tội có tính chất như vậy, một số vị thì họ trục xuất, một số vị thì họ không trục xuất.’
Vị tỳ-khưu ấy là: vị tỳ-khưu nào đã bị làm yết-ma.
aññehi bhikkhūhi. Ye passanti ye suṇanti. Tehi vattabbo—“māyasmā evaṁ avaca. Na ca bhikkhū chandagāmino, na ca bhikkhū dosagāmino, na ca bhikkhū mohagāmino, na ca bhikkhū bhayagāmino. Āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro. Āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Pakkamatāyasmā imamhā āvāsā. Alaṁ te idha vāsenā”ti. Dutiyampi vattabbo. Tatiyampi vattabbo.
other monks, those who see it or hear about it. They should correct him like this: “No, venerable, the monks are not acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.” And they should correct him a second and a third time.
Bởi các tỳ-khưu là: bởi các tỳ-khưu khác. Những vị nào thấy, những vị nào nghe, bởi những vị ấy, nên nói rằng: ‘Hiền giả chớ có nói như vậy. Các tỳ-khưu không đi theo thiên vị, các tỳ-khưu không đi theo sân hận, các tỳ-khưu không đi theo si mê, các tỳ-khưu không đi theo sợ hãi. Quả thật hiền giả là người làm hư hỏng gia đình, có hành vi xấu ác. Quả thật các hành vi xấu ác của hiền giả được thấy và được nghe. Và các gia đình bị hiền giả làm hư hỏng cũng được thấy và được nghe. Hiền giả hãy đi khỏi trú xứ này. Ngài sống ở đây đã đủ rồi.’ Nên nói lần thứ hai. Nên nói lần thứ ba.
Sace paṭinissajjati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce paṭinissajjati, āpatti dukkaṭassa. Sutvā na vadanti, āpatti dukkaṭassa.
So bhikkhu saṅghamajjhampi ākaḍḍhitvā vattabbo—“māyasmā evaṁ avaca. Na ca bhikkhū chandagāmino, na ca bhikkhū dosagāmino, na ca bhikkhū mohagāmino, na ca bhikkhū bhayagāmino. Āyasmā kho kuladūsako pāpasamācāro. Āyasmato kho pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni cāyasmatā duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Pakkamatāyasmā imamhā āvāsā. Alaṁ te idha vāsenā”ti. Dutiyampi vattabbo. Tatiyampi vattabbo. Sace paṭinissajjati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce paṭinissajjati, āpatti dukkaṭassa.
“Evañca pana, bhikkhave, samanubhāsitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
If he stops, all is well. If he does not stop, he commits an offense of wrong conduct. If those who hear about it do not say anything, they commit an offense of wrong conduct.
That monk, even if he has to be pulled into the Sangha, should be corrected like this: “No, venerable, the monks are not acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. Venerable, you’re a corrupter of families and badly behaved. Your bad behavior has been seen and heard about, and the families corrupted by you have been seen and heard about. Leave this monastery; you’ve stayed here long enough.” They should correct him a second and a third time. If he stops, all is well. If he does not stop, he commits an offense of wrong conduct.
“And, monks, he should be pressed like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
Nếu vị ấy từ bỏ, việc ấy là tốt. Nếu không từ bỏ, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Nghe mà không nói, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị tỳ-khưu ấy, sau khi đã được kéo đến giữa Tăng chúng, cũng nên được nói rằng: ‘Hiền giả chớ có nói như vậy. Các tỳ-khưu không đi theo thiên vị, các tỳ-khưu không đi theo sân hận, các tỳ-khưu không đi theo si mê, các tỳ-khưu không đi theo sợ hãi. Quả thật hiền giả là người làm hư hỏng gia đình, có hành vi xấu ác. Quả thật các hành vi xấu ác của hiền giả được thấy và được nghe. Và các gia đình bị hiền giả làm hư hỏng cũng được thấy và được nghe. Hiền giả hãy đi khỏi trú xứ này. Ngài sống ở đây đã đủ rồi.’ Nên nói lần thứ hai. Nên nói lần thứ ba. Nếu vị ấy từ bỏ, việc ấy là tốt. Nếu không từ bỏ, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị tỳ-khưu ấy nên được khiển trách. Này các tỳ-khưu, và nên khiển trách như vầy. Tăng chúng nên được cho biết bởi vị tỳ-khưu có khả năng, có năng lực rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena pabbājanīyakammakato bhikkhū chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpeti. So taṁ vatthuṁ na paṭinissajjati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ samanubhāseyya tassa vatthussa paṭinissaggāya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so, who has had a legal procedure of banishment done against him, is slandering the monks as acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. And he keeps on doing it. If the Sangha is ready, it should press monk so-and-so to make him stop. This is the motion.
438. ‘Bạch chư tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ-khưu tên là ... này, đã bị Tăng chúng làm yết-ma trục xuất, lại khiến các tỳ-khưu đi đến chỗ thiên vị, đi đến chỗ sân hận, đi đến chỗ si mê, đi đến chỗ sợ hãi. Vị ấy không từ bỏ vấn đề ấy. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng đã đến, Tăng chúng nên khiển trách vị tỳ-khưu tên là ... để vị ấy từ bỏ vấn đề ấy. Đây là lời tuyên cáo.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena pabbājanīyakammakato bhikkhū chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpeti. So taṁ vatthuṁ na paṭinissajjati. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ samanubhāsati tassa vatthussa paṭinissaggāya. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno samanubhāsanā tassa vatthussa paṭinissaggāya, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so, who has had a legal procedure of banishment done against him, is slandering the monks as acting out of favoritism, ill will, confusion, and fear. And he keeps on doing it. The Sangha presses monk so-and-so to make him stop. Any monk who approves of pressing monk so-and-so to make him stop should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ-khưu tên là ... này, đã bị Tăng chúng làm yết-ma trục xuất, lại khiến các tỳ-khưu đi đến chỗ thiên vị, đi đến chỗ sân hận, đi đến chỗ si mê, đi đến chỗ sợ hãi. Vị ấy không từ bỏ vấn đề ấy. Tăng chúng đang khiển trách vị tỳ-khưu tên là ... để vị ấy từ bỏ vấn đề ấy. Vị hiền giả nào chấp thuận việc khiển trách vị tỳ-khưu tên là ... để vị ấy từ bỏ vấn đề ấy, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
‘Lần thứ hai, tôi cũng nói lên ý nghĩa này ...pe... lần thứ ba, tôi cũng nói lên ý nghĩa này ...pe...’
Samanubhaṭṭho saṅghena itthannāmo bhikkhu tassa vatthussa paṭinissaggāya. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has pressed monk so-and-so to make him stop. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Vị tỳ-khưu tên là ... đã được Tăng chúng khiển trách để từ bỏ vấn đề ấy. Tăng chúng chấp thuận, vì vậy im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.’
Ñattiyā dukkaṭaṁ, dvīhi kammavācāhi thullaccayā, kammavācāpariyosāne āpatti saṅghādisesassa. Saṅghādisesaṁ ajjhāpajjantassa ñattiyā dukkaṭaṁ, dvīhi kammavācāhi thullaccayā paṭippassambhanti.
After the motion, he commits an offense of wrong conduct. After each of the first two announcements, he commits a serious offense. When the last announcement is finished, he commits an offense entailing suspension. For one who commits the offense entailing suspension, the offense of wrong conduct and the serious offenses are annulled.
439. Với lời tuyên cáo, (phạm) tội dukkaṭa (tác ác). Với hai lời yết-ma, (phạm) các tội thullaccaya (thâu-lan-giá). Khi kết thúc lời yết-ma, phạm tội saṅghādisesa (tăng-già-bà-thi-sa). Đối với người đang phạm tội saṅghādisesa, tội dukkaṭa (tác ác) do lời tuyên cáo và các tội thullaccaya (thâu-lan-giá) do hai lời yết-ma được lắng dịu.
Permutations
Saṅghādisesa là: chỉ có Tăng chúng mới ban hành biệt trú (parivāsa) đối với tội ấy, mới kéo về lại từ đầu, mới ban hành mānatta, mới phục vị; không phải nhiều người, không phải một cá nhân. Vì vậy được gọi là ‘saṅghādisesa.’ (Đó) là tên gọi, là danh xưng của chính nhóm tội ấy. Cũng vì vậy được gọi là saṅghādisesa.
Dhammakamme dhammakammasaññī na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa.
If it is a legitimate legal procedure, and he perceives it as such, and he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
440. Trong yết-ma đúng pháp, có tưởng là yết-ma đúng pháp, không từ bỏ, phạm tội saṅghādisesa.
Dhammakamme vematiko na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa.
If it is a legitimate legal procedure, but he is unsure of it, and he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
Trong yết-ma đúng pháp, có sự nghi ngờ, không từ bỏ, phạm tội saṅghādisesa.
Dhammakamme adhammakammasaññī na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa.
If it is a legitimate legal procedure, but he perceives it as illegitimate, and he does not stop, he commits an offense entailing suspension.
Trong yết-ma đúng pháp, có tưởng là yết-ma không đúng pháp, không từ bỏ, phạm tội saṅghādisesa.
Adhammakamme dhammakammasaññī, āpatti dukkaṭassa.
If it is an illegitimate legal procedure, but he perceives it as legitimate, he commits an offense of wrong conduct.
Trong yết-ma không đúng pháp, có tưởng là yết-ma đúng pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Adhammakamme vematiko, āpatti dukkaṭassa.
If it is an illegitimate legal procedure, but he is unsure of it, he commits an offense of wrong conduct.
Trong yết-ma không đúng pháp, có sự nghi ngờ, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Adhammakamme adhammakammasaññī, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—
If it is an illegitimate legal procedure, and he perceives it as such, he commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense:
Trong yết-ma không đúng pháp, có tưởng là yết-ma không đúng pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
441. Không phạm tội: đối với người không được khiển trách, đối với người từ bỏ, đối với người bị điên, đối với người phạm đầu tiên.
Kuladūsakasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ terasamaṁ.
The training rule on being a corrupter of families, the thirteenth, is finished.
Điều học về làm hư hỏng gia đình, thứ mười ba, đã kết thúc.
“Uddiṭṭhā kho, āyasmanto, terasa saṅghādisesā dhammā, nava paṭhamāpattikā, cattāro yāvatatiyakā. Yesaṁ bhikkhu aññataraṁ vā aññataraṁ vā āpajjitvā yāvatīhaṁ jānaṁ paṭicchādeti tāvatīhaṁ tena bhikkhunā akāmā parivattabbaṁ. Parivutthaparivāsena bhikkhunā uttari chārattaṁ bhikkhumānattāya paṭipajjitabbaṁ. Ciṇṇamānatto bhikkhu yattha siyā vīsatigaṇo bhikkhusaṅgho tattha so bhikkhu abbhetabbo. Ekenapi ce ūno vīsatigaṇo bhikkhusaṅgho taṁ bhikkhuṁ abbheyya, so ca bhikkhu anabbhito, te ca bhikkhū gārayhā, ayaṁ tattha sāmīci.
Tatthāyasmante pucchāmi—‘kaccittha parisuddhā’? Dutiyampi pucchāmi—‘kaccittha parisuddhā’? Tatiyampi pucchāmi—‘kaccittha parisuddhā’? Parisuddhetthāyasmanto. Tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī”ti.
“Venerables, the thirteen rules on suspension have been recited, nine being immediate offenses, four after the third announcement. If a monk commits any one of them, he is to undergo probation for the same number of days as he knowingly concealed that offense. When this is completed, he must undertake the trial period for a further six days. When this is completed, he is to be rehabilitated wherever there is a sangha of at least twenty monks. If that monk is rehabilitated by a sangha of even one less than twenty, that monk is not rehabilitated and those monks are at fault. This is the proper procedure.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
442. Thưa chư hiền, mười ba pháp Tăng Tàng đã được tụng đọc. Trong đó, có chín pháp phạm ngay lần đầu, bốn pháp phạm đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu nào phạm vào một trong các pháp ấy, rồi biết mà che giấu trong bao nhiêu ngày, thì vị tỳ khưu ấy phải sống biệt trú (parivāsa) bấy nhiêu ngày dù không muốn. Vị tỳ khưu đã sống biệt trú xong, phải thực hành thêm sáu đêm pháp hoan hỷ (mānatta) cho các tỳ khưu. Vị tỳ khưu đã thực hành pháp hoan hỷ xong, phải được giải tội (abbhāna) ở nơi nào có Tăng chúng tỳ khưu đủ túc số hai mươi vị. Nếu Tăng chúng tỳ khưu thiếu dù chỉ một vị trong túc số hai mươi mà giải tội cho vị tỳ khưu ấy, thì vị tỳ khưu ấy vẫn chưa được giải tội, và các vị tỳ khưu kia đáng bị khiển trách. Đây là cách xử sự đúng đắn trong trường hợp ấy. Về vấn đề này, tôi xin hỏi chư hiền: ‘Có phải các ngài trong sạch trong vấn đề này không?’ Lần thứ hai, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong vấn đề này không?’ Lần thứ ba, tôi xin hỏi: ‘Có phải các ngài trong sạch trong vấn đề này không?’ Chư hiền trong sạch trong vấn đề này, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Terasakaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
The group of thirteen is finished.
This is the summary:
Phần mười ba pháp đã kết thúc.
Vissaṭṭhi kāyasaṁsaggaṁ, duṭṭhullaṁ attakāmañca; Sañcarittaṁ kuṭī ceva, vihāro ca amūlakaṁ.
“Emission, physical contact, Indecent, and his own needs; Matchmaking, and a hut, And a dwelling, groundless.
Cố ý xuất tinh, thân thể tiếp xúc, lời lẽ thô tục, và tự phục vụ; làm mai mối, cả cốc nhỏ, tịnh xá, và vu khống.
Kiñcilesañca bhedo ca, tasseva anuvattakā; Dubbacaṁ kuladūsañca, saṅghādisesā terasāti.
Saṅghādisesakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
A pretext, and schism, Those who side with him; Difficult to correct, and corrupter of families—The thirteen offenses entailing suspension.”
The chapter on offenses entailing suspension is finished.
Tội nhỏ mọn, chia rẽ Tăng, và những người theo phe; khó dạy, làm ô uế gia đình, đó là mười ba pháp Tăng Tàng.