- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Saṅghādisesakaṇḍa
Bản dịch
Bi Vb Ss 13 — Tăng-già-bà-thi-sa 13
13. Dutiyapāpasamācārasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā bị hội chúng nhắc nhở nên nói với các tỳ khưu ni như vầy:—“Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: ‘Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’”
Inda-bh 2Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā khi được hội chúng nhắc nhở lại nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ?’” Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu phàn nàn phê phán chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu ni Thullanandā khi được hội chúng nhắc nhở lại nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ?’” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 3Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā bị hội chúng nhắc nhở nên nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ,’ có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā khi được hội chúng nhắc nhở lại nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ’? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’
Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: ‘Này ni sư, chớ nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa cần được tách riêng.”
Inda-bh 4Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Nói như vầy: “Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng với sự không tôn trọng: với sự khinh khi. Với sự xem thường: với sự chê bai. Không lòng nhẫn nại: với sự nóng giận. Theo lối nói tầm phào: việc nói tầm phào đã được thực hiện. Có tính chất yếu nhược: có tính chất không phe nhóm. Đã nói như vầy: “Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.”
Vị tỳ khưu ni ấy: là vị tỳ khưu ni nói như thế ấy.
Bởi các tỳ khưu ni: bởi các tỳ khưu ni khác. Các vị ni nào thấy, các vị ni nào nghe, các vị ni ấy nên nói rằng: “Này ni sư, chớ nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’” Nên được nói đến lần thứ nhì. … (như trên) … Nên được nói đến lần thứ ba. … (như trên) … Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ni sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa. Tỳ khưu ni ấy nên được kéo đến giữa hội chúng rồi nên được nói rằng: “Này ni sư, chớ nói như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác … (như trên) … Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’” Nên được nói đến lần thứ nhì. … (như trên) … Nên được nói đến lần thứ ba. … (như trên) … Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa. Tỳ khưu ni ấy cần được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 5Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu ni này tên (như vầy) khi được hội chúng nhắc nhở lại nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: ‘Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’ Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Inda-bh 6Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu ni này tên (như vầy) khi được hội chúng nhắc nhở lại nói với các tỳ khưu ni như vầy: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác. Trong hội chúng cũng có những tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng đồn như vậy, có sự nuôi mạng như vậy, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau; hội chúng đã không nói các cô ấy bất cứ điều gì. Nhưng với chính các cô, hội chúng đã nói với sự không tôn trọng, với sự xem thường, không lòng nhẫn nại, theo lối nói tầm phào, có tính chất yếu nhược như vầy: Các sư tỷ sống thân cận (với thế tục), có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng đồn xấu xa, có sự nuôi mạng xấu xa, là những người gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu ni, và là những người che giấu tội lẫn nhau. Này các ni sư, hãy tự tách rời ra. Hội chúng khen ngợi sự tách rời của các sư tỷ.’ Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức ni nào đồng ý việc nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: … (như trên) … Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 7Do lời đề nghị thì phạm tội dukkaṭa. Do hai lời thông báo của hành sự thì phạm các tội thullaccaya. Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa. Đối với vị ni vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.
Inda-bh 8Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị ni trước đây.
(Khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba: vị ni vi phạm tội do sự nhắc nhở đến lần thứ ba, không phải do thực hiện sự việc.
Cần được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội saṅghādisesa: Chỉ có hội chúng–không phải một số vị, không phải một cá nhân–ban cho hành phạt mānatta của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, cho giải tội; vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’ Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là ‘tội saṅghādisesa.’
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị ni không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa. Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa. Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.
Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa.
Vị ni chưa được nhắc nhở, vị ni dứt bỏ, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều saṅghādisesa thứ mười.
Inda-bh 9Bạch chư đại đức ni, mười bảy điều saṅghādisesa đã được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, tám điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu ni vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này thì vị tỳ khưu ni ấy nên thực hành nửa tháng mānatta nơi có cả hai hội chúng. Vị tỳ khưu ni có hành phạt mānatta đã được hoàn tất thì vị tỳ khưu ni ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu ni nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu ni nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỳ khưu ni ấy thì vị tỳ khưu ni ấy chưa được giải tội và các tỳ khưu ni ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
TÓM LƯỢC CÁC ĐIỀU NÀY:
Việc kiện tụng, nữ đạo tặc, trong làng, bị án treo, và bởi việc nhai, việc gì với ni sư, bị nổi giận, ở sự việc nào đó, (sống) thân cận, và với sự khinh khi; các điều ấy là mười.
Dứt Mười Bảy Pháp.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing suspension
Trong Phân Tích Tỳ Khưu Ni, chương Tăng Tàn đã kết thúc.
13. Dutiyapāpasamācārasikkhāpada
13. Encouraging inappropriate socializing
Origin story
1. Điều học thứ nhất
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena thullanandā bhikkhunī saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vadeti—“saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha. Tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā evamāha— ‘bhaginiyo kho saṁsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī’”ti.
Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vakkhati—saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo …pe… viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetīti” …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vadeti—saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha. Tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā evamāha— bhaginiyo kho saṁsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vakkhati—saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo …pe… viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetīti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the nun Thullanandā had been pressed by the Sangha. She then said to the nuns, “Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha who have such behavior, reputation, and notoriety, and who harass the Sangha of nuns and hide each other’s offenses. The Sangha says nothing to them. It’s because of disrespect, contempt, impatience, and slander, and because you are weak that the Sangha says to you, ‘Sisters, you socialize, behave badly, have a bad reputation, are notorious, harass the Sangha of nuns, and hide each other’s offenses. Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters.’”
The nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā, after being pressed by the Sangha, say this to the nuns?” … “Is it true, monks, that after being pressed by the Sangha, the nun Thullanandā said this to the nuns?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her … “How could the nun Thullanandā, after being pressed by the Sangha, say this to the nuns? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
733. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Vào lúc ấy, nhóm sáu tỳ khưu ni đã cất giữ nhiều bình bát. Những người đi dạo quanh các tu viện nhìn thấy và đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu ni lại cất giữ nhiều bình bát như vậy? Chắc là các tỳ khưu ni sẽ buôn bán bình bát, hoặc sẽ mở cửa hàng đồ gốm!’ Các tỳ khưu ni đã nghe được những lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục... (vân vân)... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu tỳ khưu ni lại cất giữ bình bát?’... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu tỳ khưu ni đã cất giữ bình bát không?’ ‘Bạch Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, bậc Thế Tôn, đã khiển trách... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, tại sao nhóm sáu tỳ khưu ni lại cất giữ bình bát? Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... (vân vân)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên tuyên đọc điều học này như sau:
“Yā pana bhikkhunī evaṁ vadeyya—‘saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha. Tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā evamāha— bhaginiyo kho saṁsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī’ti. Sā bhikkhunī bhikkhunīhi evamassa vacanīyā—‘mā, ayye, evaṁ avaca—saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha.
‘If a nun says, “Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha who have such behavior, reputation, and notoriety, and who harass the Sangha of nuns and hide each other’s offenses. The Sangha says nothing to them. It’s because of disrespect, contempt, impatience, and slander, and because you are weak that the Sangha says to you, ‘Sisters, you socialize, behave badly, have a bad reputation, are notorious, harass the Sangha of nuns, and hide each other’s offenses. Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters,’” then the nuns should correct her like this: “Venerable, don’t say such things: ‘Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha who have such behavior, reputation, and notoriety, and who harass the Sangha of nuns and hide each other’s offenses. The Sangha says nothing to them.
734. ‘Vị tỳ khưu ni nào cất giữ bình bát thì phạm tội Ưng Xả Đối Trị.’
727. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với các tỳ khưu ni đã được hội chúng tỳ khưu ni khiển trách như vầy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như thế, có tiếng tăm như thế, có lối sống như thế, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Hội chúng đã không nói gì đến các vị ấy. Chính chỉ các vị mà hội chúng đã nói như vầy do sự khinh miệt, do sự xem thường, do sự không kham nhẫn, do sự lấn lướt, do sự yếu thế: – ‘Quả thật, các chị em đang sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có lối sống xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’’ Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn ... (như trên) ... các vị ấy đã phàn nàn, đã chê bai, đã khiển trách rằng: – ‘Tại sao tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể nói với các tỳ khưu ni đã được hội chúng khiển trách như vầy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác ... (như trên) ... Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’’ ... (như trên) ... – Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với các tỳ khưu ni đã được hội chúng khiển trách như vầy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như thế, có tiếng tăm như thế, có lối sống như thế, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Hội chúng đã không nói gì đến các vị ấy. Chính chỉ các vị mà hội chúng đã nói như vầy do sự khinh miệt, do sự xem thường, do sự không kham nhẫn, do sự lấn lướt, do sự yếu thế: – ‘Quả thật, các chị em đang sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có lối sống xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’’? – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã khiển trách ... (như trên) ... – Này các tỳ khưu, tại sao tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể nói với các tỳ khưu ni đã được hội chúng khiển trách như vầy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác ... (như trên) ... Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’! Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (như trên) ... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên tụng đọc học giới này như vầy: –
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
728. ‘Vị tỳ khưu ni nào nói như vầy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như thế, có tiếng tăm như thế, có lối sống như thế, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Hội chúng đã không nói gì đến các vị ấy. Chính chỉ các vị mà hội chúng đã nói như vầy do sự khinh miệt, do sự xem thường, do sự không kham nhẫn, do sự lấn lướt, do sự yếu thế: – ‘Quả thật, các chị em đang sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có lối sống xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’ Vị tỳ khưu ni ấy cần được các tỳ khưu ni nói như vầy: – ‘Thưa hiền tỷ, chớ có nói như vậy: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như thế, có tiếng tăm như thế, có lối sống như thế, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Hội chúng đã không nói gì đến các vị ấy. Chính chỉ các vị mà hội chúng đã nói như vầy do sự khinh miệt, do sự xem thường, do sự không kham nhẫn, do sự lấn lướt, do sự yếu thế: – ‘Quả thật, các chị em đang sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có lối sống xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’’ Và nếu vị tỳ khưu ni ấy, trong khi được các tỳ khưu ni nói đến, vẫn cứ khăng khăng như thế ấy, vị tỳ khưu ni ấy cần được các tỳ khưu ni khiển trách cho đến lần thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu trong khi được khiển trách cho đến lần thứ ba, vị ấy từ bỏ việc ấy thì như vậy là tốt. Nếu vị ấy không từ bỏ, vị tỳ khưu ni này cũng đã phạm tội Tăng Tàn cần phải trục xuất, có liên quan đến lần thứ ba.’
729. Vị nào: là vị nào, là loại nào ... (như trên) ... Tỳ khưu ni: ... (như trên) ... là tỳ khưu ni được ám chỉ trong ý nghĩa này.
Nói như vầy có nghĩa là: – ‘Này các hiền tỷ, các vị cứ sống chung đụng đi. Các vị đừng sống riêng rẽ. Ở trong hội chúng, cũng có các tỳ khưu ni khác có hạnh kiểm như thế, có tiếng tăm như thế, có lối sống như thế, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Hội chúng đã không nói gì đến các vị ấy.’
Chính chỉ các vị mà hội chúng do sự khinh miệt có nghĩa là do sự coi thường.
Do sự xem thường có nghĩa là do tình trạng bị xem thường.
Do sự không kham nhẫn có nghĩa là do sự tức giận.
Do sự lấn lướt có nghĩa là do tình trạng bị lấn lướt.
Đã nói như vầy: – ‘Quả thật, các chị em đang sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có lối sống xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho hội chúng tỳ khưu ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Này các hiền tỷ, hãy sống riêng rẽ. Hội chúng chỉ tán dương sự sống riêng rẽ của các chị em mà thôi.’
Vị tỳ khưu ni ấy: là vị tỳ khưu ni có lời nói như vậy.
aññāhi bhikkhunīhi. Yā passanti yā suṇanti tāhi vattabbā—
other nuns who see it or hear about it. They should correct her like this:
Bởi các tỳ-khưu-ni có nghĩa là bởi các tỳ-khưu-ni khác.
“māyye, evaṁ avaca—‘saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo …pe… viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī’”ti.
Dutiyampi vattabbā. Tatiyampi vattabbā. Sace paṭinissajjati, iccetaṁ kusalaṁ; no ce paṭinissajjati, āpatti dukkaṭassa. Sutvā na vadanti, āpatti dukkaṭassa.
Sā bhikkhunī saṅghamajjhampi ākaḍḍhitvā vattabbā—
“māyye, evaṁ avaca—‘saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo …pe… viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī’”ti.
Dutiyampi vattabbā. Tatiyampi vattabbā. Sace paṭinissajjati, iccetaṁ kusalaṁ; no ce paṭinissajjati, āpatti dukkaṭassa.
“Evañca pana, bhikkhave, samanubhāsitabbā. Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
“Venerable, don’t say such things: ‘Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha … “… Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters.”’”
And they should correct her a second and a third time. If she stops, all is well. If she does not stop, she commits an offense of wrong conduct. If those who hear about it do not say anything, they commit an offense of wrong conduct.
That nun, even if she has to be pulled into the Sangha, should be corrected like this:
“Venerable, don’t say such things: ‘Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha … “… Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters.”’”
They should correct her a second and a third time. If she stops, all is well. If she does not stop, she commits an offense of wrong conduct.
“And, monks, she should be pressed like this. A competent and capable nun should inform the Sangha:
Những vị nào thấy, những vị nào nghe thì các vị ấy nên nói rằng: ‘Thưa sư tỷ, xin đừng nói như vầy: “Thưa quý sư tỷ, quý vị cứ sống chung đụng đi. Quý vị đừng sống riêng rẽ. Trong tăng chúng cũng có các tỳ-khưu-ni khác ... (vân vân) ... Thưa quý sư tỷ, quý vị hãy sống viễn ly. Tăng chúng chỉ tán thán sự viễn ly của các chị em mà thôi.”’ Nên nói đến lần thứ hai. Nên nói đến lần thứ ba. Nếu vị ấy từ bỏ thì điều ấy là tốt; nếu không từ bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Nghe rồi mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị tỳ-khưu-ni ấy cũng nên được kéo đến giữa tăng chúng và được nói rằng: ‘Thưa sư tỷ, xin đừng nói như vầy: “Thưa quý sư tỷ, quý vị cứ sống chung đụng đi. Quý vị đừng sống riêng rẽ. Trong tăng chúng cũng có các tỳ-khưu-ni khác ... (vân vân) ... Thưa quý sư tỷ, quý vị hãy sống viễn ly. Tăng chúng chỉ tán thán sự viễn ly của các chị em mà thôi.”’ Nên nói đến lần thứ hai. Nên nói đến lần thứ ba. Nếu vị ấy từ bỏ thì điều ấy là tốt; nếu không từ bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị tỳ-khưu-ni ấy cần được khiển trách. Này các tỳ-khưu, nên khiển trách như vầy. Tăng chúng nên được một vị tỳ-khưu-ni có khả năng, có năng lực trình cho biết rằng:
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā bhikkhunī saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vadeti—“saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha. Tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā evamāha—bhaginiyo kho saṁsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī”ti. Sā taṁ vatthuṁ na paṭinissajjati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ samanubhāseyya tassa vatthussa paṭinissaggāya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The nun so-and-so, after being pressed by the Sangha, says this to the nuns, “Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha who have such behavior, reputation, and notoriety, and who harass the Sangha of nuns and hide each other’s offenses. The Sangha says nothing to them. It’s because of disrespect, contempt, impatience, and slander, and because you are weak that the Sangha says to you, ‘Sisters, you socialize, behave badly, have a bad reputation, are notorious, harass the Sangha of nuns, and hide each other’s offenses. Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters.’” And she keeps on saying it. If the Sangha is ready, it should press the nun so-and-so to make her stop. This is the motion.
730. ‘Thưa quý sư tỷ, mong tăng chúng lắng nghe con. Vị tỳ-khưu-ni tên là... này đã nói với các tỳ-khưu-ni đã được tăng chúng khiển trách như vầy: “Thưa quý sư tỷ, quý vị cứ sống chung đụng đi. Quý vị đừng sống riêng rẽ. Trong tăng chúng cũng có các tỳ-khưu-ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng tăm như vậy, có sanh kế như vậy, là những người gây phiền nhiễu cho tăng chúng tỳ-khưu-ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Tăng chúng đã không nói gì các vị ấy. Chỉ riêng đối với quý vị, tăng chúng vì khinh miệt, vì xem thường, vì không kham nhẫn, vì tranh cãi, vì (quý vị) yếu thế nên mới nói như vầy: ‘Này các chị em, các vị sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có sanh kế xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho tăng chúng tỳ-khưu-ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Thưa quý sư tỷ, quý vị hãy sống viễn ly. Tăng chúng chỉ tán thán sự viễn ly của các chị em mà thôi.’ Vị ấy không từ bỏ vấn đề ấy. Nếu thời điểm thích hợp đối với tăng chúng, tăng chúng nên khiển trách tỳ-khưu-ni tên là... về việc từ bỏ vấn đề ấy. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā bhikkhunī saṅghena samanubhaṭṭhā bhikkhuniyo evaṁ vadeti—“saṁsaṭṭhāva, ayye, tumhe viharatha. Mā tumhe nānā viharittha. Santi saṅghe aññāpi bhikkhuniyo evācārā evaṁsaddā evaṁsilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Tā saṅgho na kiñci āha. Tumhaññeva saṅgho uññāya paribhavena akkhantiyā vebhassiyā dubbalyā evamāha—bhaginiyo kho saṁsaṭṭhā viharanti pāpācārā pāpasaddā pāpasilokā, bhikkhunisaṅghassa vihesikā, aññamaññissā vajjappaṭicchādikā. Viviccathāyye. Vivekaññeva bhaginīnaṁ saṅgho vaṇṇetī”ti. Sā taṁ vatthuṁ na paṭinissajjati. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ samanubhāsati tassa vatthussa paṭinissaggāya. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya bhikkhuniyā samanubhāsanā tassa vatthussa paṭinissaggāya, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The nun so-and-so, after being pressed by the Sangha, says this to the nuns, “Venerables, you should socialize. Don’t live separately. There are other nuns in the Sangha who have such behavior, reputation, and notoriety, and who harass the Sangha of nuns and hide each other’s offenses. The Sangha says nothing to them. It’s because of disrespect, contempt, impatience, and slander, and because you are weak that the Sangha says to you, ‘Sisters, you socialize, behave badly, have a bad reputation, are notorious, harass the Sangha of nuns, and hide each other’s offenses. Be secluded, venerables. The Sangha praises seclusion for the sisters.’” And she keeps on saying it. The Sangha presses the nun so-and-so to make her stop. Any nun who approves of pressing the nun so-and-so to make her stop should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
‘Thưa quý sư tỷ, mong tăng chúng lắng nghe con. Vị tỳ-khưu-ni tên là... này đã nói với các tỳ-khưu-ni đã được tăng chúng khiển trách như vầy: “Thưa quý sư tỷ, quý vị cứ sống chung đụng đi. Quý vị đừng sống riêng rẽ. Trong tăng chúng cũng có các tỳ-khưu-ni khác có hạnh kiểm như vậy, có tiếng tăm như vậy, có sanh kế như vậy, là những người gây phiền nhiễu cho tăng chúng tỳ-khưu-ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Tăng chúng đã không nói gì các vị ấy. Chỉ riêng đối với quý vị, tăng chúng vì khinh miệt, vì xem thường, vì không kham nhẫn, vì tranh cãi, vì (quý vị) yếu thế nên mới nói như vầy: ‘Này các chị em, các vị sống chung đụng, có hạnh kiểm xấu xa, có tiếng tăm xấu xa, có sanh kế xấu xa, là những người gây phiền nhiễu cho tăng chúng tỳ-khưu-ni, là những người che giấu tội lỗi cho nhau. Thưa quý sư tỷ, quý vị hãy sống viễn ly. Tăng chúng chỉ tán thán sự viễn ly của các chị em mà thôi.’ Vị ấy không từ bỏ vấn đề ấy. Tăng chúng khiển trách tỳ-khưu-ni tên là... về việc từ bỏ vấn đề ấy. Việc khiển trách tỳ-khưu-ni tên là... về việc từ bỏ vấn đề ấy, nếu vị sư tỷ nào chấp thuận thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ hai, con cũng nói lên ý nghĩa này ... (vân vân) ... Lần thứ ba, con cũng nói lên ý nghĩa này ... (vân vân) ...”
Samanubhaṭṭhā saṅghena itthannāmā bhikkhunī tassa vatthussa paṭinissaggāya. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has pressed the nun so-and-so to make her stop. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ-khưu-ni tên là... đã được tăng chúng khiển trách về việc từ bỏ vấn đề ấy. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận việc này là như vậy.”
Ñattiyā dukkaṭaṁ, dvīhi kammavācāhi thullaccayā, kammavācāpariyosāne āpatti saṅghādisesassa. Saṅghādisesaṁ ajjhāpajjantiyā ñattiyā dukkaṭaṁ, dvīhi kammavācāhi thullaccayā paṭippassambhanti.
After the motion, she commits an offense of wrong conduct. After each of the first two announcements, she commits a serious offense. When the last announcement is finished, she commits an offense entailing suspension. For one who commits the offense entailing suspension, the offense of wrong conduct and the serious offenses are annulled.
Khi tác bạch xong thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi hai lần tuyên bố xong thì phạm các tội thullaccaya (trọng tội). Khi kết thúc các lần tuyên bố thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàn). Đối với vị đã phạm tội saṅghādisesa thì tội dukkaṭa (tác ác) do lời tác bạch và các tội thullaccaya (trọng tội) do hai lần tuyên bố được lắng dịu.
Câu ‘vị này cũng vậy’ được nói là dựa vào các vị (tỳ-khưu-ni) trước.
Cho đến lần thứ ba có nghĩa là phạm tội do sự khiển trách cho đến lần thứ ba, không phải (phạm tội) cùng lúc với sự vi phạm vấn đề.
Bị trục xuất có nghĩa là bị trục xuất khỏi tăng chúng.
Permutations
Saṅghādisesa (tăng tàn) có nghĩa là chỉ có tăng chúng mới có thể ban hành mānatta (biệt trú), phục hồi lại từ đầu, và phục vị cho tội ấy; không phải nhiều vị tỳ-khưu-ni hay một vị tỳ-khưu-ni (có thể làm được). Do đó, được gọi là ‘saṅghādisesa.’ Đó là tên gọi, là danh xưng của nhóm tội phạm ấy, do đó cũng được gọi là ‘saṅghādisesa.’
Dhammakamme dhammakammasaññā na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa. Dhammakamme vematikā na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa. Dhammakamme adhammakammasaññā na paṭinissajjati, āpatti saṅghādisesassa.
If it is a legitimate legal procedure, and she perceives it as such, and she does not stop, she commits an offense entailing suspension. If it is a legitimate legal procedure, but she is unsure of it, and she does not stop, she commits an offense entailing suspension. If it is a legitimate legal procedure, but she perceives it as illegitimate, and she does not stop, she commits an offense entailing suspension.
731. Trong một yết-ma hợp pháp, có nhận thức là yết-ma hợp pháp mà không từ bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàn). Trong một yết-ma hợp pháp, có sự nghi ngờ mà không từ bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàn). Trong một yết-ma hợp pháp, có nhận thức là yết-ma không hợp pháp mà không từ bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàn).
Adhammakamme dhammakammasaññā, āpatti dukkaṭassa. Adhammakamme vematikā, āpatti dukkaṭassa. Adhammakamme adhammakammasaññā, āpatti dukkaṭassa.
Anāpatti—
If it is an illegitimate legal procedure, but she perceives it as legitimate, she commits an offense of wrong conduct. If it is an illegitimate legal procedure, but she is unsure of it, she commits an offense of wrong conduct. If it is an illegitimate legal procedure, and she perceives it as such, she commits an offense of wrong conduct.
Non-offenses
There is no offense:
Trong một yết-ma không hợp pháp, có nhận thức là yết-ma hợp pháp thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Trong một yết-ma không hợp pháp, có sự nghi ngờ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Trong một yết-ma không hợp pháp, có nhận thức là yết-ma không hợp pháp thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
732. Không phạm tội trong trường hợp vị (tỳ-khưu-ni) chưa bị khiển trách, vị đã từ bỏ, vị bị điên cuồng, vị vi phạm đầu tiên.
Dasamasaṅghādisesasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
Kuladūsakasikkhāpada
The thirteenth offense entailing suspension is finished.
Điều học Saṅghādisesa thứ mười đã kết thúc.
Uddiṭṭhā kho, ayyāyo, sattarasa saṅghādisesā dhammā—nava paṭhamāpattikā, aṭṭha yāvatatiyakā. Yesaṁ bhikkhunī aññataraṁ vā aññataraṁ vā āpajjati, tāya bhikkhuniyā ubhatosaṅghe pakkhamānattaṁ caritabbaṁ. Ciṇṇamānattā bhikkhunī yattha siyā vīsatigaṇo bhikkhunisaṅgho tattha sā bhikkhunī abbhetabbā. Ekāyapi ce ūno vīsatigaṇo bhikkhunisaṅgho taṁ bhikkhuniṁ abbheyya. Sā ca bhikkhunī anabbhitā, tā ca bhikkhuniyo gārayhā, ayaṁ tattha sāmīci.
“Venerables, the seventeen rules on suspension have been recited, nine being immediate offenses, eight after the third announcement. If a nun commits any one of them, she must undertake the trial period for a half-month toward both Sanghas. When this is completed, she is to be rehabilitated wherever there is a sangha of at least twenty nuns. If that nun is rehabilitated by a sangha of nuns of even one less than twenty, that nun is not rehabilitated and those nuns are at fault. This is the proper procedure.
Này các tỳ khưu ni, mười bảy pháp Tăng Tàn đã được tuyên đọc: chín pháp phạm ngay lần đầu, tám pháp phạm đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu ni nào phạm vào bất cứ pháp nào trong các pháp ấy, vị tỳ khưu ni ấy phải thực hành pháp pakkhamānatta đối với hai Tăng chúng. Vị tỳ khưu ni đã thực hành xong pháp mānatta, ở nơi nào có Tăng chúng tỳ khưu ni đủ túc số hai mươi vị, vị tỳ khưu ni ấy cần được phục vị ở nơi đó. Nếu Tăng chúng tỳ khưu ni thiếu dù chỉ một vị trong túc số hai mươi vị mà phục vị cho tỳ khưu ni ấy, thì vị tỳ khưu ni ấy không được xem là đã phục vị, và các vị tỳ khưu ni kia đáng bị khiển trách. Đây là cách hành xử đúng đắn trong trường hợp ấy.
Tatthāyyāyo pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Dutiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Tatiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Parisuddhetthāyyāyo, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
Trong các pháp ấy, tôi xin hỏi các tỳ khưu ni: ‘Các vị có được trong sạch không?’ Lần thứ hai, tôi cũng hỏi: ‘Các vị có được trong sạch không?’ Lần thứ ba, tôi cũng hỏi: ‘Các vị có được trong sạch không?’ Các tỳ khưu ni đã trong sạch trong các pháp này, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Sattarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
Bhikkhunivibhaṅge saṅghādisesakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of seventeen is finished.
The chapter on offenses entailing suspension in the Nuns’ Analysis is finished.
Phần Mười Bảy Pháp đã kết thúc.