- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Nissaggiyakaṇḍa
- Pattavagga
Bản dịch
Bi Vb Np 1 — Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề 1
1. Pattasannicayasikkhāpada
Bạch chư đại đức ni, ba mươi điều nissaggiya pācittiya này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ nhiều bình bát. Dân chúng trong lúc đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các tỳ khưu ni lại thực hiện việc tích trữ nhiều bình bát? Không lẽ các tỳ khưu ni sẽ làm việc buôn bán bình bát hay sẽ lập nên gian hàng gốm sứ?”
Inda-bh 2Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại thực hiện việc tích trữ bình bát?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ bình bát, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại thực hiện việc tích trữ bình bát vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào thực hiện việc tích trữ bình bát thì (bình bát ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Bình bát nghĩa là có hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát đất. Bình bát có ba dạng: bình bát cỡ lớn, bình bát cỡ vừa, bình bát cỡ nhỏ. Bình bát cỡ lớn nghĩa là chứa được một nửa āḷhaka cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ vừa nghĩa là chứa được một nāḷika cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ nhỏ nghĩa là chứa được một pattha cơm, một phần tư vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Lớn hơn các cỡ ấy không phải là bình bát, nhỏ hơn không phải là bình bát.
Thực hiện việc tích trữ: (bình bát) chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.
Nên được xả bỏ: Đến lúc rạng đông thì phạm vào nissaggiya, (bình bát ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch chư đại đức ni, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực. Bình bát đã xả bỏ nên được cho lại:
“Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về tỳ khưu ni tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại bình bát này đến tỳ khưu ni tên (như vầy).”
Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến nhiều tỳ khưu ni, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Thưa các đại đức ni, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức ni.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực. Bình bát đã xả bỏ nên được cho lại:
“Xin các đại đức ni hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về tỳ khưu ni tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến các đại đức ni. Nếu là thời điểm thích hợp cho các đại đức ni, các đại đức ni nên cho lại bình bát này đến tỳ khưu ni tên (như vầy).”
Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu ni, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Thưa ni sư, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến ni sư.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ni ấy, bình bát đã xả bỏ nên được cho lại: “Tôi cho lại ni sư bình bát này.”
Khi đã qua đêm, nhận biết là đã qua đêm, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi đã qua đêm, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi đã qua đêm, (lầm) tưởng là chưa qua đêm, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi chưa chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã chú nguyện để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị vỡ, (lầm) tưởng là đã bị vỡ, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội nissaggiya pācittiya.
Bình bát là vật vi phạm nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa qua đêm, (lầm) tưởng là đã qua đêm, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa qua đêm, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa qua đêm, nhận biết là chưa qua đêm thì vô tội.
Trong lúc rạng đông vị ni chú nguyện để dùng riêng, vị ni chú nguyện để dùng chung, vị ni phân phát, (bình bát) bị mất trộm, bị hư hỏng, bị vỡ, (các người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do sự thân thiết, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư không cho lại bình bát đã được xả bỏ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên không cho lại bình bát đã được xả bỏ; vị ni nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa.”
Điều học thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on relinquishment
- The subchapter on almsbowls
3. Chương Ưng Xả Đối Trị (Phân Tích Tỳ Khưu Ni)
1. Pattasannicayasikkhāpada
1. The training rule on collecting almsbowls
1. Điều học thứ nhất
Ime kho panāyyāyo tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these thirty rules on relinquishment and confession come up for recitation.
Origin story
Này các tỳ khưu ni, ba mươi pháp Ưng Xả Đối Trị này
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo bahū patte sannicayaṁ karonti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhuniyo bahū patte sannicayaṁ karissanti, pattavāṇijjaṁ vā bhikkhuniyo karissanti, āmattikāpaṇaṁ vā pasāressantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhuniyo pattasannicayaṁ karissantī”ti …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhuniyo pattasannicayaṁ karontī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhuniyo pattasannicayaṁ karissanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the nuns from the group of six had collected a large number of almsbowls. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized those nuns, “How can the nuns collect a large number of bowls? Will they start up as bowl merchants or set up a bowl shop?”
The nuns heard the complaints of those people, and the nuns of few desires complained and criticized those nuns, “How can the nuns from the group of six collect bowls?” … “Is it true, monks, that the nuns from the group of six do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can the nuns from the group of six collect bowls? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
733. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Vào lúc ấy, nhóm sáu tỳ khưu ni đã cất giữ nhiều bình bát. Những người đi dạo quanh các tu viện nhìn thấy và đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu ni lại cất giữ nhiều bình bát như vậy? Chắc là các tỳ khưu ni sẽ buôn bán bình bát, hoặc sẽ mở cửa hàng đồ gốm!’ Các tỳ khưu ni đã nghe được những lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục... (vân vân)... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu tỳ khưu ni lại cất giữ bình bát?’... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu tỳ khưu ni đã cất giữ bình bát không?’ ‘Bạch Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, bậc Thế Tôn, đã khiển trách... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, tại sao nhóm sáu tỳ khưu ni lại cất giữ bình bát? Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... (vân vân)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên tuyên đọc điều học này như sau:
“Yā pana bhikkhunī pattasannicayaṁ kareyya, nissaggiyaṁ pācittiyan”ti.
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
‘If a nun collects almsbowls, she commits an offense entailing relinquishment and confession.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
734. ‘Vị tỳ khưu ni nào cất giữ bình bát thì phạm tội Ưng Xả Đối Trị.’
735. Vị nào: là vị nào, bất kể... (vân vân)... Tỳ khưu ni: ... (vân vân)... trong ý nghĩa này, vị tỳ khưu ni được đề cập đến là...
Bình bát: có hai loại bình bát là bình bát bằng sắt và bình bát bằng đất sét. Có ba kích cỡ bình bát: bình bát cỡ lớn, bình bát cỡ trung, và bình bát cỡ nhỏ. Bình bát cỡ lớn là bình bát chứa được nửa āḷhaka cơm, một phần tư thức ăn cứng, và thức ăn kèm tương ứng. Bình bát cỡ trung là bình bát chứa được một nāḷika cơm, một phần tư thức ăn cứng, và thức ăn kèm tương ứng. Bình bát cỡ nhỏ là bình bát chứa được một pattha cơm, một phần tư thức ăn cứng, và thức ăn kèm tương ứng. Lớn hơn cỡ lớn thì không phải là bình bát, nhỏ hơn cỡ nhỏ cũng không phải là bình bát.
Cất giữ: là chưa chú nguyện, chưa tác pháp.
Nissajjitabbo saṅghassa vā gaṇassa vā ekabhikkhuniyā vā. Evañca pana, bhikkhave, nissajjitabbo. Tāya bhikkhuniyā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhunīnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
“ayaṁ me, ayye, patto rattātikkanto nissaggiyo, imāhaṁ saṅghassa nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhapatto dātabbo—
The bowl should be relinquished to a sangha, a group, or an individual nun. “And, monks, it should be relinquished like this. After approaching the Sangha, that nun should arrange her upper robe over one shoulder and pay respect at the feet of the senior nuns. She should then squat on her heels, raise her joined palms, and say:
‘Venerables, this almsbowl, which I have kept for more than one day, is to be relinquished. I relinquish it to the Sangha.’”
After relinquishing it, she should confess the offense. The confession should be received by a competent and capable nun. The relinquished bowl is then to be given back:
Phải xả bỏ: là phải xả bỏ ngay khi rạng đông. Vật ấy phải được xả bỏ cho Tăng chúng, hoặc cho một nhóm, hoặc cho một tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, vật ấy nên được xả bỏ như sau: Vị tỳ khưu ni ấy nên đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu ni trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay và nói như sau: ‘Thưa các sư tỷ, bình bát này của con đã qua đêm, phải được xả bỏ. Con xin xả bỏ bình bát này cho Tăng chúng.’ Sau khi xả bỏ, vị ấy phải sám hối tội. Một vị tỳ khưu ni có khả năng và thẩm quyền nên nhận sự sám hối. Bình bát đã được xả bỏ nên được trao lại –
“Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ patto itthannāmāya bhikkhuniyā nissaggiyo saṅghassa nissaṭṭho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ pattaṁ itthannāmāya bhikkhuniyā dadeyyā”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This almsbowl, which was to be relinquished by the nun so-and-so, has been relinquished to the Sangha. If the Sangha is ready, it should give this bowl back to nun so-and-so.”
‘Kính bạch Tăng chúng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Bình bát này của tỳ khưu ni tên là... phải được xả bỏ và đã được xả bỏ cho Tăng chúng. Nếu Tăng chúng thấy thích hợp, Tăng chúng có thể trao lại bình bát này cho tỳ khưu ni tên là...’
Tāya bhikkhuniyā sambahulā bhikkhuniyo upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhunīnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassu vacanīyā—
“ayaṁ me, ayyāyo, patto rattātikkanto nissaggiyo, imāhaṁ ayyānaṁ nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhapatto dātabbo—
Or: after approaching several nuns, that nun should arrange her upper robe over one shoulder and pay respect at the feet of the senior nuns. She should then squat on her heels, raise her joined palms, and say:
“Venerables, this almsbowl, which I have kept for more than one day, is to be relinquished. I relinquish it to you.”
After relinquishing it, she should confess the offense. The confession should be received by a competent and capable nun. The relinquished bowl is then to be given back:
Vị tỳ khưu ni ấy nên đến một nhóm các tỳ khưu ni, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu ni trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay và nói như sau: ‘Thưa các sư tỷ, bình bát này của con đã qua đêm, phải được xả bỏ. Con xin xả bỏ bình bát này cho các sư tỷ.’ Sau khi xả bỏ, vị ấy phải sám hối tội. Một vị tỳ khưu ni có khả năng và thẩm quyền nên nhận sự sám hối. Bình bát đã được xả bỏ nên được trao lại –
“Suṇantu me, ayyāyo. Ayaṁ patto itthannāmāya bhikkhuniyā nissaggiyo ayyānaṁ nissaṭṭho. Yadi ayyānaṁ pattakallaṁ, ayyāyo, imaṁ pattaṁ itthannāmāya bhikkhuniyā dadeyyun”ti.
“Please, venerables, I ask you to listen. This almsbowl, which was to be relinquished by the nun so-and-so, has been relinquished to you. If the venerables are ready, you should give this bowl back to nun so-and-so.”
‘Kính thưa các sư tỷ, xin các sư tỷ lắng nghe con. Bình bát này của tỳ khưu ni tên là... phải được xả bỏ và đã được xả bỏ cho các sư tỷ. Nếu các sư tỷ thấy thích hợp, các sư tỷ có thể trao lại bình bát này cho tỳ khưu ni tên là...’
Tāya bhikkhuniyā ekaṁ bhikkhuniṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyā—
“ayaṁ me, ayye, patto rattātikkanto nissaggiyo. Imāhaṁ ayyāya nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Tāya bhikkhuniyā āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhapatto dātabbo—
“imaṁ pattaṁ ayyāya dammī”ti.
Or: after approaching a single nun, that nun should arrange her upper robe over one shoulder, squat on her heels, raise her joined palms, and say:
“This almsbowl, which I have kept for more than one day, is to be relinquished. I relinquish it to you.”
After relinquishing it, she should confess the offense. The confession should be received by that nun. The relinquished bowl is then to be given back:
“I give this almsbowl back to you.”
Permutations
Vị tỳ khưu ni ấy nên đến một vị tỳ khưu ni khác, vắt thượng y qua một bên vai, ngồi xổm, chắp tay và nói như sau: ‘Thưa sư tỷ, bình bát này của con đã qua đêm, phải được xả bỏ. Con xin xả bỏ bình bát này cho sư tỷ.’ Sau khi xả bỏ, vị ấy phải sám hối tội. Vị tỳ khưu ni kia nên nhận sự sám hối. Bình bát đã được xả bỏ nên được trao lại bằng cách nói: ‘Con xin trao lại bình bát này cho sư tỷ.’
Rattātikkante atikkantasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Rattātikkante vematikā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Rattātikkante anatikkantasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Anadhiṭṭhite adhiṭṭhitasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avikappite vikappitasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avissajjite vissajjitasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Anaṭṭhe naṭṭhasaññā … avinaṭṭhe vinaṭṭhasaññā … abhinne bhinnasaññā … avilutte viluttasaññā, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
If it is more than one day and she perceives it as more, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is more than one day, but she is unsure of it, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is more than one day, but she perceives it as less, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been determined, but she perceives that it has, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been assigned to another, but she perceives that it has, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been given away, but she perceives that it has, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been not lost, but she perceives that it has … If it has not been destroyed, but she perceives that it has … If it has not been broken, but she perceives that it has … If it has not been stolen, but she perceives that it has, she commits an offense entailing relinquishment and confession.
736. Khi đã quá đêm, có tưởng là đã quá, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. Khi đã quá đêm, có sự nghi ngờ, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. Khi đã quá đêm, có tưởng là chưa quá, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. (Vật) chưa chú nguyện, có tưởng là đã chú nguyện, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. (Vật) chưa làm tịnh thí, có tưởng là đã làm tịnh thí, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. (Vật) chưa xả, có tưởng là đã xả, (phạm) Ưng Xả Đối Trị. (Vật) không bị mất, có tưởng là đã bị mất ... (vật) không bị hư, có tưởng là đã bị hư ... (vật) không bị bể, có tưởng là đã bị bể ... (vật) không bị cướp đoạt, có tưởng là đã bị cướp đoạt, (phạm) Ưng Xả Đối Trị.
Nissaggiyaṁ pattaṁ anissajjitvā paribhuñjati, āpatti dukkaṭassa. Rattānatikkante atikkantasaññā, āpatti dukkaṭassa. Rattānatikkante vematikā, āpatti dukkaṭassa. Rattānatikkante anatikkantasaññā anāpatti.
Anāpatti—
If she uses an almsbowl that should be relinquished without first relinquishing it, she commits an offense of wrong conduct. If it is less than one day, but she perceives it as more, she commits an offense of wrong conduct. If it is less than one day, but she is unsure of it, she commits an offense of wrong conduct. If it is less than one day and she perceives it as less, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense:
Sử dụng bình bát thuộc loại ưng xả mà chưa xả, phạm tội đột-cát. Khi chưa quá đêm, có tưởng là đã quá, phạm tội đột-cát. Khi chưa quá đêm, có sự nghi ngờ, phạm tội đột-cát. Khi chưa quá đêm, có tưởng là chưa quá, vô tội.
737. Vô tội (trong các trường hợp): chú nguyện, làm tịnh thí, xả bỏ (bình bát) trong lúc rạng đông; (bình bát) bị mất, bị hư, bị bể; bị (người khác) giật lấy, bị (người khác) lấy do thân quen; vị điên cuồng, vị phạm tội đầu tiên.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo nissaṭṭhapattaṁ na denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, nissaṭṭhapatto na dātabbo. Yā na dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the nuns from the group of six did not give back a relinquished bowl. They told the Buddha.
“Monks, a relinquished almsbowl should be given back. If a nun doesn’t give it back, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-khưu-ni không trả lại bình bát đã được xả. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): 'Này các tỳ-khưu, bình bát đã được xả không phải là không được trao lại. Vị nào không trao lại, phạm tội đột-cát.'
Paṭhamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
The first training rule is finished.
Điều học thứ nhất đã kết thúc.