- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Nissaggiyakaṇḍa
- Cīvaravagga
Bản dịch
Bi Vb Np 12 — Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề 12
12. Lahupāvuraṇasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về nói Pháp thoại. Khi ấy vào mùa nóng, đức vua Pasenadi xứ Kosala sau khi khoác lên tấm choàng sợi lanh đắt giá đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā, sau khi đến đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi xuống ở một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:—“Thưa ni sư, có nhu cầu về vật gì xin ni sư cứ nói.”—“Tâu đại vương, nếu ngài có ý định bố thí đến tôi thì hãy dâng tấm choàng sợi lanh này.” Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã dâng tỳ khưu ni Thullanandā tấm choàng sợi lanh rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 2Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các tỳ khưu ni này ham muốn quá độ, không tự biết đủ! Tại sao lại yêu cầu đức vua tấm choàng sợi lanh?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại yêu cầu đức vua tấm choàng sợi lanh?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā yêu cầu đức vua tấm choàng sợi lanh, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại yêu cầu đức vua tấm choàng sợi lanh vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni, trong khi bảo sắm tấm choàng loại nhẹ, nên bảo sắm tối đa là hai kaṁsa rưỡi. Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Tấm choàng loại nhẹ nghĩa là bất cứ loại tấm choàng nào vào mùa nóng.
Trong khi bảo sắm: trong khi yêu cầu.
Nên bảo sắm tối đa là hai kaṁsa rưỡi: nên bảo sắm vật trị giá là mười kahāpaṇa.
Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy: vị ni yêu cầu vượt quá trị giá ấy, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: … (như trên) … “Bạch chư đại đức ni, tấm choàng loại dày này của tôi đã được bảo sắm vượt quá hai kaṁsa rưỡi, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng. … (như trên) … hội chúng nên cho lại … (như trên) … các đại đức ni nên cho lại … (như trên) … “Tôi cho lại ni sư.”
Hơn hai kaṁsa rưỡi, nhận biết là hơn, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn hai kaṁsa rưỡi, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn hai kaṁsa rưỡi, (lầm) tưởng là kém, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Kém hai kaṁsa rưỡi, (lầm) tưởng là hơn, phạm tội dukkaṭa. Kém hai kaṁsa rưỡi, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Kém hai kaṁsa rưỡi, nhận biết là kém thì vô tội.
Vị ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa là hai kaṁsa rưỡi, vị ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa kém hai kaṁsa rưỡi, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bảo sắm vật có giá trị thấp đối với người có ý định bảo sắm vật giá trị cao, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ mười hai.
TÓM LƯỢC CÁC ĐIỀU NÀY:
Bình bát, ngoài hạn kỳ và trong thời hạn, trao đổi, và yêu cầu, sau khi bảo sắm, có nhu cầu vật khác nữa, thuộc về hội chúng, (của) nhóm, tự mình yêu cầu, thuộc về cá nhân, (trị giá) bốn kaṁsa, và hai kaṁsa rưỡi.
Bạch chư đại đức ni, ba mươi điều nissaggiya pācittiya đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức ni rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Chư đại đức ni được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt các điều Nissaggiya.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on relinquishment
- The subchapter on robes
12. Getting an expensive light cloak in exchange
Origin story
Phẩm Ưng Xả trong Phân Tích Tỳ Khưu Ni đã kết thúc.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena thullanandā bhikkhunī bahussutā hoti bhāṇikā visāradā paṭṭā dhammiṁ kathaṁ kātuṁ. Atha kho rājā pasenadi kosalo uṇhakāle mahagghaṁ khomaṁ pārupitvā yena thullanandā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā thullanandaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ thullanandā bhikkhunī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho rājā pasenadi kosalo thullanandāya bhikkhuniyā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito thullanandaṁ bhikkhuniṁ etadavoca—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the nun Thullanandā was a learned reciter, and she was confident and skilled at giving teachings. On one occasion when the weather was warm, King Pasenadi of Kosala put on an expensive linen cloak and went to Thullanandā. He bowed and sat down. And Thullanandā instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. He then said,
793. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, trong tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, chúng tỳ-khưu-ni được một vị cận sự nam không rõ tên thỉnh mời dùng tỏi rằng: “Vị thánh nữ nào cần tỏi, tôi xin thỉnh mời dùng tỏi.” Và người giữ ruộng cũng được ra lệnh rằng: “Nếu các tỳ-khưu-ni đến, hãy cúng dường cho mỗi vị tỳ-khưu-ni hai ba củ.” Cũng vào lúc bấy giờ, tại Sāvatthī có một lễ hội. Số tỏi đã được mang đến đều đã hết. Các tỳ-khưu-ni đến gặp vị cận sự nam ấy và nói rằng: “Thưa hiền hữu, chúng tôi cần tỏi.” – “Thưa các thánh nữ, không có. Số tỏi đã mang đến đều đã hết. Xin các ngài hãy đi ra ruộng.” Tỳ-khưu-ni Thullanandā đi ra ruộng, do không biết chừng mực nên đã cho lấy nhiều tỏi. Người giữ ruộng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” Các tỳ-khưu-ni đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của người giữ ruộng ấy. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao thánh nữ Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni Thullanandā không biết chừng mực đã cho lấy nhiều tỏi không?” – “Bạch Thế Tôn, là thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy! Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (vân vân) ...” Sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các tỳ-khưu:
783. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Khi ấy, tỳ khưu ni Thullanandā là người có học thức rộng, có tài ăn nói, dạn dĩ, khéo léo trong việc thuyết pháp. Bấy giờ, vào mùa lạnh, vua Pasenadi nước Kosala khoác một tấm chăn len quý giá, đi đến chỗ tỳ khưu ni Thullanandā; sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi xuống một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên. Bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, sau khi được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này: “Thưa sư tỷ, xin hãy nói điều ngài mong muốn.” “Thưa Đại vương, nếu ngài muốn cho tôi, xin hãy cho tấm chăn len này.” Bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đã trao tấm chăn len cho tỳ khưu ni Thullanandā, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Dân chúng chê bai, phàn nàn, chỉ trích rằng: “Các tỳ khưu ni này có lòng tham lớn, không biết đủ. Tại sao lại có thể xin nhà vua tấm chăn len chứ!” Các tỳ khưu ni đã nghe được lời chê bai, phàn nàn, chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục… (vân vân)… các vị ấy đã chê bai, phàn nàn, chỉ trích rằng: “Tại sao sư tỷ Thullanandā lại có thể xin nhà vua tấm chăn len chứ!”… (vân vân)… “Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu ni Thullanandā đã xin nhà vua tấm chăn len không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách… (vân vân)… “Này các tỳ khưu, tại sao tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể xin nhà vua tấm chăn len! Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin… (vân vân)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy nên trình bày học giới này như sau:
“Sace me tvaṁ, mahārāja, dātukāmosi, imaṁ khomaṁ dehī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo thullanandāya bhikkhuniyā khomaṁ datvā uṭṭhāyāsanā thullanandaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“mahicchā imā bhikkhuniyo asantuṭṭhā. Kathañhi nāma rājānaṁ khomaṁ viññāpessantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā rājānaṁ khomaṁ viññāpessatī”ti …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī rājānaṁ khomaṁ viññāpetī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī rājānaṁ khomaṁ viññāpessati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
“Great king, if you wish to give me something, then give me this linen cloak.”
The king gave her his cloak. He then got up from his seat, bowed down, circumambulated her with his right side toward her, and left. People complained and criticized her, “These nuns have great desires; they are not content. How can they ask the king for his linen cloak?”
The nuns heard the complaints of those people, and the nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā ask the king for his linen cloak?” … “Is it true, monks, that the nun Thullanandā asked for this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her … “How could the nun Thullanandā ask the king for his linen cloak? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
788. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại tu viện Jetavana, trong khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika, ở Sāvatthī. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā là người có học thức rộng, có tài ăn nói, dạn dĩ, khéo léo trong việc thuyết pháp. Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala, vào lúc trời nóng, đã khoác một tấm vải khoma quý giá rồi đi đến chỗ tỳ khưu ni Thullanandā; sau khi đến, đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Tỳ khưu ni Thullanandā đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ vua Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một nơi hợp lẽ. Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này: “Thưa sư cô, xin hãy nói điều gì sư cô cần.” – “Tâu đại vương, nếu ngài muốn cho tôi, xin hãy cho tấm vải khoma này.” Khi ấy, vua Pasenadi xứ Kosala sau khi dâng tấm vải khoma cho tỳ khưu ni Thullanandā, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā, đi nhiễu quanh bên phải rồi ra về. Dân chúng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Các tỳ khưu ni này có lòng tham lớn, không biết đủ. Sao lại có thể xin vua tấm vải khoma chứ!” Các tỳ khưu ni đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục ... (v.v.) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Sao sư cô Thullanandā lại có thể xin vua tấm vải khoma chứ!” ... (v.v.) ... “Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu ni Thullanandā đã xin vua tấm vải khoma không?” – “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (v.v.) ... “Này các tỳ khưu, sao tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể xin vua tấm vải khoma! Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (v.v.) ... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni nên trình bày học giới này như vầy: –
“Lahupāvuraṇaṁ pana bhikkhuniyā cetāpentiyā aḍḍhateyyakaṁsaparamaṁ cetāpetabbaṁ. Tato ce uttari cetāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyan”ti.
‘If a nun carries out an exchange to get a light cloak, it is to be worth at most two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins. If she gets one in exchange that is worth more than that, she commits an offense entailing relinquishment and confession.’”
Definitions
789. “Lại nữa, tỳ khưu ni khi xin một tấm y choàng nhẹ, nên xin loại có giá trị tối đa là hai kaṃsa rưỡi. Nếu vị ấy xin vượt quá mức ấy thì phạm tội ưng xả đối trị.”
- Lahupāvuraṇaṁ nāma
- yaṁ kiñci uṇhakāle pāvuraṇaṁ.
- A light cloak:
- whatever cloak is used in warm weather.
790. Y choàng nhẹ có nghĩa là bất cứ loại y choàng nào dùng trong mùa nóng.
Khi xin có nghĩa là khi cho biết (nhu cầu).
Nên xin loại có giá trị tối đa là hai kaṃsa rưỡi có nghĩa là nên xin loại có giá trị mười kahāpaṇa.
Nissajjitabbaṁ saṅghassa vā gaṇassa vā ekabhikkhuniyā vā. Evañca pana, bhikkhave, nissajjitabbaṁ. …pe…
“idaṁ me, ayye, lahupāvuraṇaṁ atirekaaḍḍhateyyakaṁsaparamaṁ cetāpitaṁ nissaggiyaṁ, imāhaṁ saṅghassa nissajjāmī”ti …pe… dadeyyā”ti …pe… dadeyyun”ti …pe… ayyāya dammī”ti.
It should be relinquished to a sangha, a group, or an individual nun. “And, monks, it should be relinquished like this. …” (To be expanded as in <a href='https://suttacentral.net/pli-tv-bi-vb-np1#2.1.21'>Bi NP 1:2.1.21</a>–2.1.43, with appropriate substitutions.)
“Venerables, this light cloak worth more than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, which I got in exchange, is to be relinquished. I relinquish it to the Sangha.” … “the Sangha should give …” “you should give …” “I give this back to you.”
Permutations
Nếu vị ấy xin vượt quá mức ấy có nghĩa là cho biết (nhu cầu) vượt quá mức ấy thì phạm tội tác ác trong lúc cố gắng. Khi nhận được thì vật ấy trở thành vật cần phải xả. Cần phải xả cho Tăng chúng, hoặc cho một nhóm, hoặc cho một tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên xả như vầy: ... (v.v.) ... “Thưa các sư cô, tấm y choàng nhẹ này của tôi, đã được xin vượt quá hai kaṃsa rưỡi, là vật cần phải xả. Tôi xin xả tấm y này cho Tăng chúng.” ... (v.v.) ... nên cho ... (v.v.) ... họ nên cho ... (v.v.) ... tôi cho lại sư cô.
Atirekaaḍḍhateyyakaṁse atirekasaññā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Atirekaaḍḍhateyyakaṁse vematikā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Atirekaaḍḍhateyyakaṁse ūnakasaññā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
If it is worth more than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, and she perceives it as such, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is worth more than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she is unsure of it, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is worth more than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she perceives it as being worth less, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession.
791. Đối với vật (trị giá) hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có nhận thức là hơn và xin thì phạm tội ưng xả đối trị. Đối với vật (trị giá) hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có sự nghi ngờ và xin thì phạm tội ưng xả đối trị. Đối với vật (trị giá) hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có nhận thức là ít hơn và xin thì phạm tội ưng xả đối trị.
Ūnakaaḍḍhateyyakaṁse atirekasaññā, āpatti dukkaṭassa. Ūnakaaḍḍhateyyakaṁse vematikā, āpatti dukkaṭassa. Ūnakaaḍḍhateyyakaṁse ūnakasaññā, anāpatti.
Anāpatti—
If it is worth less than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she perceives it as being worth more, she commits an offense of wrong conduct. If it is worth less than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she is unsure of it, she commits an offense of wrong conduct. If it is worth less than two-and-a-half <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, and she perceives it as such, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense:
Đối với vật (trị giá) ít hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có nhận thức là hơn thì phạm tội tác ác. Đối với vật (trị giá) ít hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có sự nghi ngờ thì phạm tội tác ác. Đối với vật (trị giá) ít hơn hai kaṃsa rưỡi, vị ấy có nhận thức là ít hơn thì không phạm tội.
792. Không phạm tội: khi xin vật có giá trị tối đa là hai kaṃsa rưỡi, khi xin vật có giá trị tối đa ít hơn hai kaṃsa rưỡi, (xin) từ bà con, từ những người đã thỉnh mời, (xin) vì lợi ích của người khác, (xin) bằng tiền của mình, khi xin vật ít giá trị từ người muốn cho vật có giá trị lớn, đối với vị bị mất trí, đối với vị phạm đầu tiên.
Dvādasamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
(Dutiya) Pattavagga
10 Pariṇatasikkhāpada
The twelfth training rule is finished.
Học giới thứ mười hai đã kết thúc.
Uddiṭṭhā kho, ayyāyo, tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā. Tatthāyyāyo pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Dutiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Tatiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Parisuddhetthāyyāyo, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Bhikkhunivibhaṅge nissaggiyakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
“Venerables, the thirty rules on relinquishment and confession have been recited. In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
The chapter on offenses entailing relinquishment in the Nuns’ Analysis is finished.
Thưa các sư cô, ba mươi pháp ưng xả đối trị đã được trình bày. Về các điều ấy, tôi xin hỏi các sư cô: “Trong các điều ấy, các sư cô có được trong sạch không?” Lần thứ hai, tôi xin hỏi: “Trong các điều ấy, các sư cô có được trong sạch không?” Lần thứ ba, tôi xin hỏi: “Trong các điều ấy, các sư cô có được trong sạch không?” Các sư cô được trong sạch trong các điều ấy, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận điều này là như vậy.