- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Nissaggiyakaṇḍa
- Cīvaravagga
Bản dịch
Bi Vb Np 11 — Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề 11
11. Garupāvuraṇasikkhāpada
Inda-bh 1Duyên khởi ở thành Sāvatthī: Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về nói Pháp thoại. Khi ấy vào mùa lạnh, đức vua Pasenadi xứ Kosala sau khi khoác lên tấm choàng len đắt giá đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā, sau khi đến đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi xuống ở một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại.
Sau đó, khi đã được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:—“Thưa ni sư, có nhu cầu về vật gì xin ni sư cứ nói.”—“Tâu đại vương, nếu ngài có ý định bố thí đến tôi thì hãy dâng tấm choàng len này.” Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã dâng tỳ khưu ni Thullanandā tấm choàng len rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 2Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các tỳ khưu ni này ham muốn quá độ, không tự biết đủ! Tại sao lại yêu cầu đức vua tấm choàng len?” Các tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại yêu cầu đức vua tấm choàng len?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā yêu cầu đức vua tấm choàng len, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại yêu cầu đức vua tấm choàng len vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni, trong khi bảo sắm tấm choàng loại dày, nên bảo sắm tối đa là bốn kaṁsa. Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 3Tấm choàng loại dày nghĩa là bất cứ loại tấm choàng nào vào mùa đông.
Trong khi bảo sắm: trong khi yêu cầu.
Nên bảo sắm tối đa là bốn kaṁsa: nên bảo sắm vật trị giá là mười sáu kahāpaṇa.99
Nếu bảo sắm vượt quá trị giá ấy: vị ni yêu cầu vượt quá trị giá ấy, trong lúc tiến hành thì phạm tội dukkaṭa. Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: … (như trên) … “Bạch chư đại đức ni, tấm choàng loại dày này của tôi đã được bảo sắm vượt quá bốn kaṁsa, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng. … (như trên) … hội chúng nên cho lại … (như trên) … các đại đức ni nên cho lại … (như trên) … “Tôi cho lại ni sư.”
Hơn bốn kaṁsa, nhận biết là hơn, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn bốn kaṁsa, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya. Hơn bốn kaṁsa, (lầm) tưởng là kém, vị ni bảo sắm thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Kém bốn kaṁsa, (lầm) tưởng là hơn, phạm tội dukkaṭa. Kém bốn kaṁsa, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Kém bốn kaṁsa, nhận biết là kém thì vô tội.
Vị ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa là bốn kaṁsa, vị ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa kém bốn kaṁsa, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị ni bảo sắm vật có giá trị thấp đối với người có ý định bảo sắm vật giá trị cao, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on relinquishment
- The subchapter on robes
Phẩm Ưng Xả trong Phân Tích Tỳ Khưu Ni đã kết thúc.
11. Garupāvuraṇasikkhāpada
11. Getting an expensive heavy cloak in exchange
Origin story
Học giới thứ mười hai đã kết thúc.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena thullanandā bhikkhunī bahussutā hoti bhāṇikā visāradā paṭṭā dhammiṁ kathaṁ kātuṁ. Atha kho rājā pasenadi kosalo sītakāle mahagghaṁ kambalaṁ pārupitvā yena thullanandā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā thullanandaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ thullanandā bhikkhunī dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho rājā pasenadi kosalo thullanandāya bhikkhuniyā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito thullanandaṁ bhikkhuniṁ etadavoca—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the nun Thullanandā was a learned reciter, and she was confident and skilled at giving teachings. On one occasion when the weather was cold, King Pasenadi of Kosala put on an expensive woolen cloak and went to Thullanandā. He bowed and sat down. And Thullanandā instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. He then said,
793. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, trong tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, chúng tỳ-khưu-ni được một vị cận sự nam không rõ tên thỉnh mời dùng tỏi rằng: “Vị thánh nữ nào cần tỏi, tôi xin thỉnh mời dùng tỏi.” Và người giữ ruộng cũng được ra lệnh rằng: “Nếu các tỳ-khưu-ni đến, hãy cúng dường cho mỗi vị tỳ-khưu-ni hai ba củ.” Cũng vào lúc bấy giờ, tại Sāvatthī có một lễ hội. Số tỏi đã được mang đến đều đã hết. Các tỳ-khưu-ni đến gặp vị cận sự nam ấy và nói rằng: “Thưa hiền hữu, chúng tôi cần tỏi.” – “Thưa các thánh nữ, không có. Số tỏi đã mang đến đều đã hết. Xin các ngài hãy đi ra ruộng.” Tỳ-khưu-ni Thullanandā đi ra ruộng, do không biết chừng mực nên đã cho lấy nhiều tỏi. Người giữ ruộng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” Các tỳ-khưu-ni đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của người giữ ruộng ấy. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao thánh nữ Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni Thullanandā không biết chừng mực đã cho lấy nhiều tỏi không?” – “Bạch Thế Tôn, là thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy! Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (vân vân) ...” Sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các tỳ-khưu:
“Sace me tvaṁ, mahārāja, dātukāmosi, imaṁ kambalaṁ dehī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo thullanandāya bhikkhuniyā kambalaṁ datvā uṭṭhāyāsanā thullanandaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“mahicchā imā bhikkhuniyo asantuṭṭhā. Kathañhi nāma rājānaṁ kambalaṁ viññāpessantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā rājānaṁ kambalaṁ viññāpessatī”ti …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī rājānaṁ kambalaṁ viññāpetī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī rājānaṁ kambalaṁ viññāpessati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
“Great king, if you wish to give me something, then give me this woolen cloak.”
The king gave her his cloak. He then got up from his seat, bowed down, circumambulated her with his right side toward her, and left. People complained and criticized her, “These nuns have great desires; they are not content. How can they ask the king for his woolen cloak?”
The nuns heard the complaints of those people, and the nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā ask the king for his woolen cloak?” … “Is it true, monks, that the nun Thullanandā asked for this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her … “How could the nun Thullanandā ask the king for his woolen cloak? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
783. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Khi ấy, tỳ khưu ni Thullanandā là người có học thức rộng, có tài ăn nói, dạn dĩ, khéo léo trong việc thuyết pháp. Bấy giờ, vào mùa lạnh, vua Pasenadi nước Kosala khoác một tấm chăn len quý giá, đi đến chỗ tỳ khưu ni Thullanandā; sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi xuống một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên. Bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, sau khi được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng pháp thoại, đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này: “Thưa sư tỷ, xin hãy nói điều ngài mong muốn.” “Thưa Đại vương, nếu ngài muốn cho tôi, xin hãy cho tấm chăn len này.” Bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đã trao tấm chăn len cho tỳ khưu ni Thullanandā, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Dân chúng chê bai, phàn nàn, chỉ trích rằng: “Các tỳ khưu ni này có lòng tham lớn, không biết đủ. Tại sao lại có thể xin nhà vua tấm chăn len chứ!” Các tỳ khưu ni đã nghe được lời chê bai, phàn nàn, chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu ni thiểu dục… (vân vân)… các vị ấy đã chê bai, phàn nàn, chỉ trích rằng: “Tại sao sư tỷ Thullanandā lại có thể xin nhà vua tấm chăn len chứ!”… (vân vân)… “Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu ni Thullanandā đã xin nhà vua tấm chăn len không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách… (vân vân)… “Này các tỳ khưu, tại sao tỳ khưu ni Thullanandā lại có thể xin nhà vua tấm chăn len! Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin… (vân vân)… Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy nên trình bày học giới này như sau:
“Garupāvuraṇaṁ pana bhikkhuniyā cetāpentiyā catukkaṁsaparamaṁ cetāpetabbaṁ. Tato ce uttari cetāpeyya, nissaggiyaṁ pācittiyan”ti.
‘If a nun carries out an exchange to get a heavy cloak, it is to be worth at most four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins. If she gets one in exchange that is worth more than that, she commits an offense entailing relinquishment and confession.’”
Definitions
784. “Vị tỳ khưu ni nào xin một tấm choàng nặng thì được phép xin tối đa là bốn kaṃsa. Nếu vị ấy xin vượt quá mức ấy thì phạm tội ưng xả đối trị.”
- Garupāvuraṇaṁ nāma
- yaṁ kiñci sītakāle pāvuraṇaṁ.
- A heavy cloak:
- whatever cloak is used in cold weather.
785. Tấm choàng nặng có nghĩa là bất cứ tấm choàng nào dùng trong mùa lạnh.
Xin có nghĩa là làm cho người ta biết.
Được phép xin tối đa là bốn kaṃsa có nghĩa là được phép xin (tấm choàng) trị giá mười sáu kahāpaṇa.
Nissajjitabbaṁ saṅghassa vā gaṇassa vā ekabhikkhuniyā vā. Evañca pana, bhikkhave, nissajjitabbaṁ. …pe…
“idaṁ me, ayye, garupāvuraṇaṁ atirekacatukkaṁsaparamaṁ cetāpitaṁ nissaggiyaṁ, imāhaṁ saṅghassa nissajjāmī”ti …pe… dadeyyāti …pe… dadeyyunti …pe… ayyāya dammīti.
It should be relinquished to a sangha, a group, or an individual nun. “And, monks, it should be relinquished like this. …” (To be expanded as in <a href='https://suttacentral.net/pli-tv-bi-vb-np1#2.1.21'>Bi NP 1:2.1.21</a>–2.1.43, with appropriate substitutions.)
“Venerables, this heavy cloak worth more than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, which I got in exchange, is to be relinquished. I relinquish it to the Sangha.” … “the Sangha should give …” “you should give …” “I give this back to you.”
Permutations
Nếu vị ấy xin vượt quá mức ấy có nghĩa là vị ấy làm cho người ta biết (để xin) vượt quá mức ấy, thì phạm tội tác ác trong lúc cố gắng. Khi nhận được thì (vật ấy) trở thành vật cần phải xả bỏ. Cần phải xả bỏ cho Tăng chúng, hoặc cho một nhóm, hoặc cho một tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, cần phải xả bỏ như sau: … ‘Thưa các sư tỷ, tấm choàng nặng này của tôi, được xin vượt quá bốn kaṃsa, là vật cần phải xả bỏ. Tôi xin xả bỏ vật này cho Tăng chúng.’ … (vân vân) … nên trao lại … (vân vân) … nên trao lại … (vân vân) … tôi xin trao lại cho sư tỷ.
Atirekacatukkaṁse atirekasaññā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Atirekacatukkaṁse vematikā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Atirekacatukkaṁse ūnakasaññā cetāpeti, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
If it is worth more than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, and she perceives it as such, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is worth more than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she is unsure of it, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is worth more than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she perceives it as being worth less, and she gets it in exchange, she commits an offense entailing relinquishment and confession.
786. Trường hợp (vật) vượt quá bốn kaṃsa, vị ấy nhận thức là vượt quá và xin thì phạm tội ưng xả đối trị. Trường hợp (vật) vượt quá bốn kaṃsa, vị ấy nghi ngờ và xin thì phạm tội ưng xả đối trị. Trường hợp (vật) vượt quá bốn kaṃsa, vị ấy nhận thức là không đủ và xin thì phạm tội ưng xả đối trị.
Ūnakacatukkaṁse atirekasaññā, āpatti dukkaṭassa. Ūnakacatukkaṁse vematikā, āpatti dukkaṭassa. Ūnakacatukkaṁse ūnakasaññā, anāpatti.
Anāpatti—
If it is worth less than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she perceives it as being worth more, she commits an offense of wrong conduct. If it is worth less than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, but she is unsure of it, she commits an offense of wrong conduct. If it is worth less than four <i lang='pi' translate='no'>kaṁsa</i> coins, and she perceives it as such, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense:
Trường hợp (vật) không đủ bốn kaṃsa, vị ấy nhận thức là vượt quá thì phạm tội tác ác. Trường hợp (vật) không đủ bốn kaṃsa, vị ấy nghi ngờ thì phạm tội tác ác. Trường hợp (vật) không đủ bốn kaṃsa, vị ấy nhận thức là không đủ thì không phạm tội.
787. Không phạm tội: vị ấy xin (vật) tối đa là bốn kaṃsa, vị ấy xin (vật) không đủ bốn kaṃsa, (xin) từ những người bà con, từ những người đã thỉnh mời, (xin) vì lợi ích của người khác, (xin) bằng tài sản của mình, xin vật ít giá trị từ người muốn cho vật quý giá, trường hợp vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên.
Ekādasamasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ.
The eleventh training rule is finished.
Học giới thứ mười một đã kết thúc.