- Theravāda Vinaya
- Bhikkhunivibhaṅga
- Pācittiyakaṇḍa
- Lasuṇavagga
Bản dịch
Bi Vb Pc 1 — Ba-dật-đề 1
1. Lasuṇasikkhāpada
Bạch chư đại đức ni, một trăm sáu mươi sáu điều pācittiya này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, hội chúng tỳ khưu ni được nam cư sĩ nọ thỉnh cầu về tỏi (nói rằng): “Các ni sư nào có nhu cầu về tỏi, tôi dâng tỏi.” Và người canh ruộng được ra lệnh rằng: “Nếu các tỳ khưu ni đi đến, hãy dâng cho mỗi một vị tỳ khưu ni hai ba bó.” Vào lúc bấy giờ, trong thành Sāvatthī có lễ hội. Tỏi đã được đem lại bao nhiêu đều không còn. Các tỳ khưu ni đã đi đến nam cư sĩ ấy và đã nói điều này:—“Này đạo hữu, có nhu cầu về tỏi.”—“Thưa các ni sư, không có. Tỏi đã được đem lại bao nhiêu đều hết cả. Xin hãy đi đến ruộng.” Tỳ khưu ni Thullanandā sau khi đi đến ruộng đã không biết chừng mực và đã bảo mang đi nhiều tỏi. Người canh ruộng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các tỳ khưu ni sau khi đi đến ruộng lại không biết chừng mực rồi bảo mang đi nhiều tỏi?”
Inda-bh 2Các tỳ khưu ni đã nghe được người canh ruộng ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ni sư Thullanandā lại không biết chừng mực rồi bảo mang đi nhiều tỏi?” … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā không biết chừng mực rồi bảo mang đi nhiều tỏi, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại không biết chừng mực rồi bảo mang đi nhiều tỏi vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Ngài đã nói Pháp thoại rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 3—“Này các tỳ khưu, vào thời quá khứ tỳ khưu ni Thullanandā đã là vợ của người Bà-la-môn nọ và có ba người con gái là Nandā, Nandavatī, và Sundarīnandā. Này các tỳ khưu, khi ấy người Bà-la-môn ấy sau khi qua đời đã sanh vào bào thai của con chim thiên nga nọ. Các lông của con chim ấy đã là hoàn toàn bằng vàng. Nó đã cho các cô ấy mỗi người một lông chim.
Này các tỳ khưu, khi ấy tỳ khưu ni Thullanandā (nghĩ rằng): “Con chim thiên nga này cho chúng ta mỗi người một lông chim” nên đã nắm lấy con chim thiên nga chúa ấy và đã vặt trụi lông. Bộ lông của con chim ấy trong khi được mọc lại có màu trắng. Này các tỳ khưu, lúc bấy giờ tỳ khưu ni Thullanandā cũng vì quá tham lam khiến vàng đã bị tiêu tan; giờ đây tỏi sẽ bị mất đi.
“Vật gì đã được nhận lãnh thì nên hoan hỷ với vật ấy, bởi vì quá tham lam nên kẻ ác đã nắm lấy thiên nga chúa, khiến cho vàng đã bị tiêu tan.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã khiển trách tỳ khưu ni Thullanandā bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào nhai tỏi thì phạm tội pācittiya.”
Inda-bh 4Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào … (như trên) …
Tỳ khưu ni: … (như trên) … vị ni này là ‘vị tỳ khưu ni’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Tỏi nghĩa là (loại thảo mộc) thuộc về xứ Magadha được đề cập đến. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ ăn” rồi thọ lãnh thì phạm tội dukkaṭa. Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội pācittiya.
Tỏi, nhận biết là tỏi, vị ni nhai phạm tội pācittiya. Tỏi, có sự hoài nghi, vị ni nhai phạm tội pācittiya. Tỏi, (lầm) tưởng không phải tỏi, vị ni nhai phạm tội pācittiya.
Không phải tỏi, (lầm) tưởng là tỏi, vị ni nhai phạm tội dukkaṭa. Không phải tỏi, có sự hoài nghi, vị ni nhai phạm tội dukkaṭa. Không phải tỏi, nhận biết không phải tỏi, vị ni nhai thì vô tội.
Trong trường hợp củ hành, củ hành đỏ, củ hành tây, lá hẹ, nấu chung với xúp, nấu chung với thịt, nấu chung với dầu ăn, rau cải trộn, hương vị làm ngon miệng, vị ni bị điên, … (như trên) … vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều học thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Nuns’ Analysis
- The chapter on offenses entailing confession
- The subchapter on garlic
4. Phẩm Pācittiya (Phân Tích Tỳ Khưu Ni)
1. Lasuṇasikkhāpada
1. The training rule on eating garlic
1. Học Giới Thứ Nhất
Ime kho panāyyāyo chasaṭṭhisatā pācittiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these one hundred and sixty-six rules on confession come up for recitation.
Origin story
Lại nữa, thưa các sư cô, một trăm sáu mươi sáu pháp pācittiya này
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññatarena upāsakena bhikkhunisaṅgho lasuṇena pavārito hoti—“yāsaṁ ayyānaṁ lasuṇena attho, ahaṁ lasuṇenā”ti. Khettapālo ca āṇatto hoti—“sace bhikkhuniyo āgacchanti, ekamekāya bhikkhuniyā dvetayo bhaṇḍike dehī”ti.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ ussavo hoti. Yathābhataṁ lasuṇaṁ parikkhayaṁ agamāsi. Bhikkhuniyo taṁ upāsakaṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“lasuṇena, āvuso, attho”ti.
“Natthāyye. Yathābhataṁ lasuṇaṁ parikkhīṇaṁ. Khettaṁ gacchathā”ti.
Thullanandā bhikkhunī khettaṁ gantvā na mattaṁ jānitvā bahuṁ lasuṇaṁ harāpesi. Khettapālo ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhikkhuniyo na mattaṁ jānitvā bahuṁ lasuṇaṁ harāpessantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhuniyo tassa khettapālassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyā thullanandā na mattaṁ jānitvā bahuṁ lasuṇaṁ harāpessatī”ti …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī na mattaṁ jānitvā bahuṁ lasuṇaṁ harāpetī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī na mattaṁ jānitvā bahuṁ lasuṇaṁ harāpessati. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time a lay follower had invited the Sangha of nuns to ask for garlic: “If any of the nuns need garlic, I’ll supply it.” And he had told his field-keeper, “If the nuns come, give two or three bulbs to each nun.”
On that occasion they were holding a celebration in Sāvatthī, and the garlic was used up as soon as it arrived there. Just then the nuns went to that lay follower and said, “We need garlic.”
“Venerables, there isn’t any. As soon as the garlic arrives, it’s used up. Please go to the field.”
The nun Thullanandā went to the field, and not having any sense of moderation she took a large amount of garlic. The field-keeper complained and criticized them, “How could the nuns not have any sense of moderation and take a large amount of garlic?”
The nuns heard the complaints of that field-keeper, and the nuns of few desires complained and criticized her, “How could Venerable Thullanandā not have any sense of moderation and take a large amount of garlic?” … “Is it true, monks, that the nun Thullanandā did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked her, “How could the nun Thullanandā not have any sense of moderation and take a large amount of garlic? This will affect people’s confidence …” … and after giving a teaching he addressed the monks:
Jataka
793. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang ngự tại Sāvatthī, trong tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, chúng tỳ-khưu-ni được một vị cận sự nam không rõ tên thỉnh mời dùng tỏi rằng: “Vị thánh nữ nào cần tỏi, tôi xin thỉnh mời dùng tỏi.” Và người giữ ruộng cũng được ra lệnh rằng: “Nếu các tỳ-khưu-ni đến, hãy cúng dường cho mỗi vị tỳ-khưu-ni hai ba củ.” Cũng vào lúc bấy giờ, tại Sāvatthī có một lễ hội. Số tỏi đã được mang đến đều đã hết. Các tỳ-khưu-ni đến gặp vị cận sự nam ấy và nói rằng: “Thưa hiền hữu, chúng tôi cần tỏi.” – “Thưa các thánh nữ, không có. Số tỏi đã mang đến đều đã hết. Xin các ngài hãy đi ra ruộng.” Tỳ-khưu-ni Thullanandā đi ra ruộng, do không biết chừng mực nên đã cho lấy nhiều tỏi. Người giữ ruộng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” Các tỳ-khưu-ni đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của người giữ ruộng ấy. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao thánh nữ Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy!” ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, có thật là tỳ-khưu-ni Thullanandā không biết chừng mực đã cho lấy nhiều tỏi không?” – “Bạch Thế Tôn, là thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách ... (vân vân) ... “Này các tỳ-khưu, tại sao tỳ-khưu-ni Thullanandā lại không biết chừng mực mà cho lấy nhiều tỏi như vậy! Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (vân vân) ...” Sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các tỳ-khưu:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī aññatarassa brāhmaṇassa pajāpati ahosi. Tisso ca dhītaro—nandā, nandavatī, sundarīnandā. Atha kho, bhikkhave, so brāhmaṇo kālaṁ katvā aññataraṁ haṁsayoniṁ upapajji. Tassa sabbasovaṇṇamayā pattā ahesuṁ. So tāsaṁ ekekaṁ pattaṁ deti. Atha kho, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī ‘ayaṁ haṁso amhākaṁ ekekaṁ pattaṁ detī’ti taṁ haṁsarājaṁ gahetvā nippattaṁ akāsi. Tassa puna jāyamānā pattā setā sampajjiṁsu. Tadāpi, bhikkhave, thullanandā bhikkhunī atilobhena suvaṇṇā parihīnā. Idāni lasuṇā parihāyissatīti.
“Once upon a time, monks, Thullanandā was the wife of a brahmin. They had three daughters, Nandā, Nandavatī, and Sundarīnandā. When that brahmin eventually died, he was reborn as a goose, whose feathers were all made of gold. And he gave his former family members one feather at a time. Thullanandā considered this. She then grabbed hold of that king of geese and plucked him. But when his feathers regrew they were white. At that time too, monks, Thullanandā lost her gold because she was too greedy. Now she will lose her garlic.”
“Này các tỳ-khưu, vào thời quá khứ, tỳ-khưu-ni Thullanandā đã là vợ của một vị Bà-la-môn không rõ tên. Và có ba người con gái là Nandā, Nandavatī, Sundarīnandā. Này các tỳ-khưu, sau đó vị Bà-la-môn ấy sau khi qua đời đã tái sanh vào loài ngỗng. Lông của nó đều làm bằng vàng ròng. Nó đã cho mỗi người trong gia đình ấy một chiếc lông. Này các tỳ-khưu, sau đó tỳ-khưu-ni Thullanandā (nghĩ rằng) ‘con ngỗng này cho chúng ta mỗi người một chiếc lông’ đã bắt con ngỗng chúa ấy và vặt trụi lông. Lông của nó mọc lại thì trở thành màu trắng. Này các tỳ-khưu, khi ấy tỳ-khưu-ni Thullanandā vì quá tham lam đã bị mất vàng. Bây giờ thì sẽ bị mất tỏi.”
Yaṁ laddhaṁ tena tuṭṭhabbaṁ, Atilobho hi pāpako; Haṁsarājaṁ gahetvāna, Suvaṇṇā parihāyathā”ti.
“One should be content with what one gets, Because excessive greed is bad. After grabbing hold of the king of geese, The gold came to an end.”
“Nên hài lòng với những gì nhận được, vì lòng tham quá độ là xấu xa; do bắt ngỗng chúa, nên đã bị mất vàng.”
Atha kho bhagavā thullanandaṁ bhikkhuniṁ anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya …pe… evañca pana, bhikkhave, bhikkhuniyo imaṁ sikkhāpadaṁ uddisantu—
Then, after rebuking the nun Thullanandā in many ways, the Buddha spoke in dispraise of being difficult to support … “And, monks, the nuns should recite this training rule like this:
Final ruling
Sau đó, Thế Tôn đã quở trách tỳ-khưu-ni Thullanandā bằng nhiều cách về sự khó nuôi dưỡng ... (vân vân) ... “Và này các tỳ-khưu, các tỳ-khưu-ni hãy tụng đọc học giới này như sau:”
“Yā pana bhikkhunī lasuṇaṁ khādeyya pācittiyan”ti.
- Yā panāti
- yā yādisā …pe…
- bhikkhunīti
‘If a nun eats garlic, she commits an offense entailing confession.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Nun:
794. “Vị tỳ-khưu-ni nào ăn tỏi thì phạm tội pācittiya.”
795. Cụm từ “vị nào” có nghĩa là bất cứ vị nào ... (vân vân) ... Cụm từ “tỳ-khưu-ni” ... (vân vân) ... trong trường hợp này, “tỳ-khưu-ni” được hiểu là vị đã được thọ cụ túc giới.
Tỏi được gọi là loại của xứ Māgadha.
“Khādissāmīti paṭiggaṇhā”ti, āpatti dukkaṭassa. Ajjhohāre ajjhohāre āpatti pācittiyassa.
If she receives it with the intention of eating it, she commits an offense of wrong conduct. For every mouthful swallowed, she commits an offense entailing confession.
Permutations
Nhận với ý định “tôi sẽ ăn,” phạm tội dukkaṭa. Mỗi khi nuốt, phạm tội pācittiya.
Lasuṇe lasuṇasaññā khādati, āpatti pācittiyassa. Lasuṇe vematikā khādati, āpatti pācittiyassa. Lasuṇe alasuṇasaññā khādati, āpatti pācittiyassa.
If it is garlic and she perceives it as such, and she eats it, she commits an offense entailing confession. If it is garlic, but she is unsure of it, and she eats it, she commits an offense entailing confession. If it is garlic, but she does not perceive it as such, and she eats it, she commits an offense entailing confession.
796. Ăn tỏi và nhận thức đó là tỏi, phạm tội pācittiya. Ăn tỏi và có sự nghi ngờ, phạm tội pācittiya. Ăn tỏi nhưng nhận thức đó không phải là tỏi, phạm tội pācittiya.
Alasuṇe lasuṇasaññā khādati, āpatti dukkaṭassa. Alasuṇe vematikā khādati, āpatti dukkaṭassa. Alasuṇe alasuṇasaññā khādati, anāpatti.
Anāpatti—palaṇḍuke, bhañjanake, harītake, cāpalasuṇe, sūpasampāke,
If it is not garlic, but she perceives it as such, and she eats it, she commits an offense of wrong conduct. If it is not garlic, but she is unsure of it, and she eats it, she commits an offense of wrong conduct. If it is not garlic and she does not perceive it as such, and she eats it, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense: if it is an onion; if it is a shallot; if it is chebulic myrobalan; if it is a spring onion; if it is cooked in a bean curry;
Ăn vật không phải tỏi nhưng nhận thức đó là tỏi, phạm tội dukkaṭa. Ăn vật không phải tỏi và có sự nghi ngờ, phạm tội dukkaṭa. Ăn vật không phải tỏi và nhận thức đó không phải là tỏi, không phạm tội.
797. Không phạm tội trong trường hợp: hành tây, hành tím, hành lá, tỏi một nhánh, (tỏi) trong canh, (tỏi) trong thịt, (tỏi) trong dầu, (tỏi) trong mứt, (tỏi) trong món trộn; đối với vị tỳ-khưu-ni bị điên, đối với vị phạm tội đầu tiên.
Lasuṇasikkhāpadaṁ paṭhamaṁ niṭṭhitaṁ.
The training rule, the first, is finished.
Học giới thứ nhất đã kết thúc.