Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 8

Bản dịch

PE 8Lãnh Vực Phối Hợp Cách Truyền Đạt

Hārasampātabhūmi

(Nói về) bốn thiền, các thiền ấy có các yếu tố này. Các yếu tố ấy có sự gom lại, các yếu tố của sự (gom lại) này là lãnh vực của thiền. Sự đặc biệt của (thiền) này có ‘điều gì là sự đặc biệt’? Là các thành tố này. Với các thành tố ấy có sự phát khởi này; đối với sự phát khởi ấy có điều kiện này; với điều kiện ấy có sự tu tập này; đối với sự tu tập ấy có điều bất lợi này; với điều (bất lợi) ấy có sự thối giảm này. Sự thối giảm có đến cho người nào? Đến cho vị chứng thiền tiếp cận điều ấy. Vị quán xét điều ấy giống như đã được nói đến, là có sự đặc biệt này; với sự đặc biệt ấy có sự hứng thú này. Sự hứng thú ấy có đến cho người nào? Đến cho vị chứng thiền thuần chủng. (?) Đối với vị chứng thiền thuần chủng ấy, có trạng thái sẵn sàng này trong việc thiện xảo; thiền đã được đứng vững đi đến trạng thái không bị nghiền nát là thiền lực; đối với vị đã đứng vững ở thiền lực, có sự (toàn hảo) này; đối với vị đã đạt được sự toàn hảo, có các chi thiền này. Sự suy tư không bị khuấy động đã trở thành các chi thiền ở sơ thiền. Hỷ ấy, có trạng thái theo sau (thiền) ấy, là chi thiền ở sơ thiền; và đối với vị có chi thiền ấy, các pháp của vị ấy đưa đến trạng thái được tràn ngập bởi điều ấy.

Hỷ ở nhị thiền là pháp tự nhiên của chi thiền. Hơn nữa, do việc có trạng thái lạc là chi thiền đồng hành đối với (thiền) đã được xảy ra như thế ấy, sự tịnh tín thuộc nội phần ở nhị thiền là chi thiền do trạng thái tịnh tín của ý và do trạng thái được tràn ngập bởi sự tịnh tín ấy. Hỷ là chi thiền ở nhị thiền; sự tịnh tín thuộc nội phần, hỷ lạc sanh lên do định, là chi thiền ở nhị thiền. Bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tam thiền; hành xả ―trạng thái của xúc― là chi thiền ở tam thiền, và lạc là ‘chi phần’ của nó. Bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tứ thiền; hành xả ―không khổ không lạc― là chi thiền ở tứ thiền, là lãnh vực được hướng đến; sự thanh tịnh của niệm (được sanh lên) do hành xả là chi thiền ở tứ thiền; và sự thanh tịnh của niệm là hỷ được gắn liền với chi thiền ở nhiều lãnh vực của thiền; (?) bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tứ thiền.

Ở đấy, lãnh vực của thiền là gì? Lãnh vực của thiền thuộc sơ thiền có tầm có tứ là theo sau sự xuất ly. Lãnh vực của thiền thuộc nhị thiền không tầm không tứ là theo sau hỷ đã được sanh ra do sự tịnh tín thuộc nội phần. Lãnh vực của thiền thuộc tam thiền là được bao gồm lạc và sự khoan khoái, có liên quan đến hỷ. Lãnh vực của thiền thuộc tứ thiền là được đồng hành với sự quyết đoán, được đồng hành với lạc và khổ của vị ấy. Lãnh vực của thiền thuộc sơ thiền là được đồng hành với các vô lượng (tâm) có chúng sanh là đối tượng. [Lãnh vực của thiền thuộc nhị thiền là được đồng hành với các xứ thuộc lãnh vực thù thắng ở các xứ có sắc tưởng.] Lãnh vực của thiền thuộc tam thiền là được đồng hành với giải thoát ở các giải thoát. Lãnh vực của tứ thiền là các pháp, các sự tạo tác của thân, được đồng hành với sự quan sát.

Ở đấy, sự đặc biệt của thiền là gì? Trạng thái vượt qua hẳn dục giới được đồng hành với tâm và sở hữu tâm ngay sau khi tách ly khỏi các dục, tách ly khỏi các bất thiện pháp, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý ―được đồng hành với hỷ bởi vì đã được đồng hành với niệm có liên quan đến hỷ, không tầm lẫn không tứ,― đang nổi trội, đây là sự đặc biệt của thiền. Ở lãnh vực không tầm lẫn không tứ, tác ý ―đi theo niệm và đồng hành với hành xả― đang nổi trội, và niệm ―có trạng thái thuận theo thiền ấy― được ổn định, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý, ―được đồng hành với sự thanh tịnh của niệm,― đang nổi trội, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý, ―được đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ ở lãnh vực được đồng hành với Thức Vô Biên Xứ,― đang nổi trội, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền.

Ở đấy, các thành tố của thiền là những gì? Trạng thái chủ tâm trong việc xua đi dục tầm là thành tố xuất ly tầm, trạng thái chủ tâm trong việc đuổi đi hận tầm là thành tố vô hận tầm, trạng thái chủ tâm trong việc đuổi đi hại tầm là thành tố vô hại tầm, trạng thái cửa vào được phòng vệ ở các giác quan và trạng thái ít ước muốn là thành tố nuôi mạng thanh tịnh, trạng thái sống không bận rộn công việc là thành tố của bốn sự chứng đạt, trạng thái đạt đến các sự chứng đạt là thành tố của Đạo, sự khởi lên của thiền từ việc đã được sanh ra của thiền là thành tố của Quả. Thiền đi đến sự sanh khởi là do nhân thiện, bất cứ nhân nào và bất cứ lý do nào, những người đã đạt đến sự xuất ly thì chúng (các thiền) sanh khởi, trong khi có định do diệt tận sự đeo bám thì chúng sanh khởi, trong khi không vi phạm (giới) thì chúng sanh khởi, với sự dứt bỏ lạc quyền, hỷ quyền và do trạng thái không oán hận thì chúng sanh khởi. Hơn nữa, liên quan đến (nhân) ấy thì chúng sanh khởi. Với sự không bực tức thì chúng sanh khởi. Là sự sanh khởi của các thiền. Ở đấy, điều kiện là gì? Trạng thái có bạn lành là điều kiện của thiền, xu hướng theo việc tốt lành là điều kiện của thiền, trạng thái cửa vào được phòng vệ ở các giác quan là điều kiện của thiền, trạng thái không biết đủ trong các thiện pháp, việc lắng nghe Chánh Pháp là điều kiện của thiền, sự nỗ lực đúng đường lối đối với sự chấn động ở sự kiện gây nên chấn động là điều kiện của thiền, đây là điều kiện của thiền. Ở đấy, sự tu tập là gì? Thực hành từ ái là tu tập vô hận tầm; thực hành bi mẫn là tu tập vô hại tầm; trạng thái người hành động với hỷ, lạc, và sự nhận biết rõ là tu tập tùy hỷ; tu tập hành xả bởi vị nhìn thấy, tu tập hành xả bởi vị không nhìn thấy là sự hành xả và sự dửng dưng; tu tập bất tịnh tưởng là lối thực hành khó khăn có thắng trí chậm chạp, là thắng trí có sự kết nối với hữu trong số các sự kết nối với hữu. Sự tu tập nào được tu tập theo sáu cách: được thực hành thường xuyên, được kinh nghiệm, được làm thành nền tảng, được làm thành phương tiện, được thuần thục, khéo được nỗ lực, đây là sự tu tập.

Đối với người đang tu tập như vậy, đây là sự bất lợi ở sơ thiền: Pháp này hội đủ các sự tạo tác, chưa từng được nghe, có lậu hoặc. Nếu pháp này là thói quen và có phần đối nghịch kế cận, pháp này là hành vi đối đầu với dục và hoàn toàn thô thiển đối với các sự chứng đạt, pháp này là có tầm và tứ; ở đấy, nó khiến tâm bị xao động;– –và ở đây, thân bị mệt mỏi; và ở đây, khi thân bị mệt mỏi, tâm bị quấy rầy, (pháp này) thật sự không kham nổi sự quyết đoán về thắng trí; đây là các sự bất lợi ở sơ thiền.

Đây là các sự bất lợi ở nhị thiền: Được đồng hành với sự lan tỏa của hỷ, pháp này sẽ không nổi trội ở tâm, pháp này là sự tiếp cận không làm cho trong sạch, pháp này có sự tiếp cận là hiểm họa, có ưu phiền là sự đối nghịch, và đối với những sự kết nối tại nơi này nơi khác, pháp này là điều khó thực hành cho vị đang bị chế ngự bởi hỷ. (!) Trong khi lánh xa lãnh vực kinh sợ không được vận hành ở bốn trạng thái khổ, pháp này đưa đến trạng thái khổ bởi niềm tin đối với việc làm cho xuyên thấu, không đưa đến trạng thái khổ do vướng bận, trạng thái khổ do thắng trí, và trạng thái khổ do bệnh tật; đây là các sự bất lợi ở nhị thiền.

Ở đấy, các sự bất lợi ở tam thiền là những gì? Do được đồng hành với lạc do hành xả, ở đấy, pháp này xoay quanh hành xả và lạc đối với năm trường hợp có sự khoan khoái; do đó, đối với những việc đã được nghĩ là thường còn thì lạc là điều kiện của khổ, có liên quan đến sự xáo trộn của tâm, là được đi cùng với lạc và khổ. Và liên quan đến việc đi theo lạc và khổ, tâm không kham nổi sự quyết đoán trong các sự chứng ngộ về thắng trí. Tất cả các pháp này ở ba sự chứng đạt về thiền là sự xuyên thấu thông qua bốn trạng thái khổ: Sự sợ hãi ấy đưa đến trạng thái khổ, đưa đến trạng thái khổ do vướng bận, đưa đến trạng thái khổ do thắng trí, và đưa đến trạng thái khổ do bệnh tật; đây là các sự bất lợi ở tam thiền.

Ở đấy, các sự bất lợi ở tứ thiền là những gì? Là các pháp liên quan đến các sự chứng đạt tuần tự cho đến sự chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ; và ở lãnh vực của các pháp này, nhiều loại tà kiến sanh khởi đến các phàm nhân ngu si có sự khoan khoái. Và các thiền này là được xuyên thấu bởi các sắc tưởng thô và tế. Tất cả bốn thành tố chính thuộc phần thô và tế của thiền về lòng trắc ẩn và từ ái là luôn luôn phổ biến và khó thực hành. Và khi đã được phát khởi, các thiền này phát khởi nương tựa lẫn nhau. Ở đây, khi đã được phát khởi, các pháp này là không được đầy đủ. Với các hiện tướng không được nắm giữ toàn diện, các pháp này bị mất mát và bị diệt tận, các pháp này không được nắm lấy; và các thiền với các yếu tố đã được diệt tận của các pháp này, các hiện tướng không phải là tưởng về hiện tướng của thiền bị tản mát. (Tưởng) trước đây chưa đạt được là do năng lực của vị chứng thiền, do các sự bất lợi này; đây là sự thối giảm của thiền.

Đối với vị có tưởng còn sót lại do không suy xét sự chứng đạt về diệt tận, các tưởng và tác ý đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ đang nổi trội ở vị ấy; vị ấy đánh mất sự chứng đạt về diệt tận. Đối với vị đã đạt đến vô tưởng xứ, có tưởng không bị lay động, các tác ý đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ đang nổi trội ở vị ấy; và vị ấy không nhận biết lãnh vực ấy, vị ấy đánh mất nó. Đối với vị đã đạt đến Vô Sở Hữu Xứ, các tưởng và tác ý đồng hành với Thức Vô Biên Xứ đang nổi trội ở vị ấy; và vị ấy không nhận biết lãnh vực ấy, vị ấy đánh mất nó. Đối với vị đã đạt đến Thức Vô Biên Xứ, … đồng hành với sắc tưởng –nt– (cho đến … đồng hành với dục tưởng ở sơ thiền nên được thực hiện với chi tiết).

Tại sao vị ấy đánh mất? Vị tham thiền về lỗi lầm ở thiền có lỗi lầm, (?) vị tham thiền khắp mọi nơi, vị tham thiền bị gián đoạn, vị không tự mình tham thiền, vị tham thiền trong lúc đang chăm chỉ làm việc, và vị tham thiền không quen thuộc với bất cứ (đề mục) gì, vị tham thiền trong lúc quá vội vã, vị tham thiền trong khi đang xem thường, vị tham thiền khi thân hành không được tịch tịnh, vị tham thiền không biết về sự thoát ra của việc thâm nhập, vị tham thiền bị ngự trị bởi các pháp che lấp trong khi tác ý đến việc đạt được sự hứng thú. [Sự dứt bỏ việc thâm nhập của luyến ái về dục là hứng thú của thiền,] “sự nổi lên” của các pháp, của các nhân luyến ái về dục là hứng thú của thiền; các thiền với các yếu tố đã được diệt tận của các pháp này là trạng thái hành-xả-của-lạc thuộc thượng tầng, sự dứt bỏ của các ô nhiễm do mong muốn và do hành động là sự hứng thú, như vậy cũng là hứng thú của thiền. Khi cuộc sống thế gian bị ép bức bởi sự khó chịu lớn lao, thì “khoảng trống không có sự khó chịu” sẽ tách rời ra; đây là sự dứt bỏ của thiền. Điều này nên được tìm kiếm ở cuộc sống thế gian có sự vướng bận hoặc không có sự vướng bận. Thiền này có sự lợi ích trong việc dứt bỏ luân hồi đối với các chúng sanh đã thể nhập vào sự luân hồi không biết được điểm khởi đầu; sự hứng thú này của thiền thuộc về thân của vị chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền. “Vị chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền và về (đề mục) nên tham thiền.” (?) Vị tham thiền không bám víu vào trạng thái đã chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền. Các thuật ngữ của vị tham thiền về lỗi lầm được cân nhắc ở phần đối nghịch. (?)

1. Ở đấy, sự thiện xảo về thiền là gì? Thiện xảo về thể nhập là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự đặc biệt của thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo bên trong thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo xuất ra khỏi sự thể nhập là thiện xảo về thiền, thiện xảo về bản chất ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự bất lợi ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự thoát ra ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về việc nắm giữ theo kết quả của thiền, pháp tự nhiên không thối giảm ở kết quả suy xét theo kết quả của thiền và vị đã có sự đùa giỡn ở thiền đã được sanh lên đạt đến thiền liên quan đến thù thắng. Tuy nhiên, điều này là “thuộc về người này,” và việc nắm lấy hiện tướng của đối tượng từ (yếu tố) đã được mang lại từ hiện hữu không phải là năng lực của sự quyết đoán. Các hiện tướng về trạng thái chuyên nhất của tâm có lợi ích về cảnh giới tốt đẹp do năng lực của chỉ tịnh và sự không chìm xuống ở thiền đã vận hành đến Đạo Quả, đến chỉ tịnh. Trạng thái hành xả của định, chỗ trú của các hiện tướng có trước, là năng lực niệm của vị đã có sự nắm chặt ở năng lực chỉ định của các minh sát đã chuyển vận điều ấy.

2-3. Ở đấy, trạng thái toàn hảo của thiền là gì? Từ ái là trạng thái toàn hảo tốt đẹp. (?) Thông qua sự diễn tả bằng sự chỉ bảo ở Kinh: ‘Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, …’ hai Chân Lý được diễn giải là: Khổ và Tập. Thông qua cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu, ‘những kẻ nào không nhìn thấy tội lỗi ở các pháp đưa đến sự ràng buộc, những kẻ ấy sẽ vượt qua dòng lũ,’ sự kiện này không được biết đến, còn ‘những kẻ ấy sẽ không vượt qua,’ như thế thì có; đây là sự kết nối và sự tìm hiểu.

4. Vậy thì đây là nền tảng là của điều gì? Bị dính mắc vào các dục: là năm loại dục; điều ấy là nền tảng của tham ái về các dục. ‘Không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc’ là nền tảng của vô minh. Những kẻ bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn: là nền tảng của sự chấp thủ.

5. Bị dính mắc vào các dục: Có hai loại dục: vật dục và ô nhiễm dục. Ở đấy, ô nhiễm dục là dục ái (tham ái về dục); sắc ái, hữu ái là được liên quan với dục ái thông qua sự truyền đạt bằng tướng trạng. Không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc: Ở đấy, mong muốn và luyến ái là thuộc về sự ràng buộc; cái gì là nền tảng của điều ấy? Cảm thọ lạc và hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền; như thế, khi cảm thọ lạc được nắm giữ, ba thọ cũng được nắm giữ. Khi thọ uẩn được nắm giữ, toàn bộ năm uẩn được nắm giữ. Sắc-thinh-hương-vị-xúc (các vật dục) là được nắm giữ; khi các vật dục được nắm giữ, toàn bộ sáu ngoại xứ là được nắm giữ; người bị dính mắc ở các nội và ngoại xứ, …; việc này được gọi là sự truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, người nào trú ở ô nhiễm thô thiển trong số tất cả các ô nhiễm, người ấy không xa lìa luyến ái ở các ô nhiễm vi tế hơn điều ấy. Ở đấy, sự ràng buộc ở ngoại phần là ‘của tôi,’ sự ràng buộc ở nội phần là ‘tôi.’ Ở đấy, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào có ý muốn vượt qua dòng lũ, những người ấy sẽ sống có sự quan sát sự bất lợi ở các pháp đưa đến ràng buộc,” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Bị dính mắc vào các dục: là bị dính mắc vào những gì, bị dính mắc bởi cái gì, bị dính mắc đối với những gì; đây là biểu hiện có bốn loại liên quan đến cách truyền đạt trong số tất cả (các cách truyền đạt). Ở đấy, ba sự trái khuấy và các nền tảng (của chúng) là những gì? Ba bất thiện căn là nền tảng của ba sự trái khuấy: của sự trái khuấy của tâm, của sự trái khuấy của tưởng, của sự trái khuấy của kiến. Ba bất thiện căn là nền tảng của hành vi và hành động thấp kém hay cao quý và của bốn chấp thủ. Bất thiện căn sân được thấy là nền tảng của hành vi và hành động thấp kém hay cao quý. Giống như người bố thí sự không sợ hãi (vô úy) đến người mẹ, hoặc đến người cha, hoặc đến bất cứ người nào, đến luôn cả vị tỳ khưu cao cả; ở đấy, kẻ khác có thể thực hiện điều sai trái bằng thân hoặc bằng khẩu. Ở đấy, người nào trong lúc duy trì sự phòng hộ, sự che chở, sự bảo vệ cho những vị cao cả ấy, (mặc dầu) có liên quan đến oán hận, người ấy (cũng) bố thí sự không sợ hãi đến những vị cao cả. Khi sự không sợ hãi đã được bố thí đến những vị ấy, người nào, ở đấy, có thể thực hiện điều sai trái, ở đấy, trong lúc chấp thủ oán hận, người ấy tạo ra hành động sanh lên do sân,– –ở đấy, là sự che lấp do giác quan không tốt lành. Việc nào là tưởng về việc cúng dường sự không sợ hãi đến những vị ấy, việc này là hành động cao quý. Hơn nữa, lối thực hành sai trái là oán hận, là hành động thấp kém, là tham lam, và là si mê; đây là các lời nói về các sự che lấp. Các điều ấy là bốn sự chấp thủ. Với bốn chấp thủ ấy, người nữ hoặc người nam có sự chấp thủ đối với năm uẩn ấy. (Năm uẩn là Khổ,) chính các thủ ấy là Tập, đây là Khổ và Tập; chính việc ấy là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.

7. Ở đấy, những người nào không bị luyến ái ở các dục, những người ấy đạt đến việc quan sát sự bất lợi. Như thế, trạng thái ham muốn đi ra khỏi dục giới này được gọi là sự mong muốn xuất ly. Ở đấy, trong số các sự tạo tác, không làm thương tổn bất cứ cái gì dầu yếu hoặc mạnh (?) là sự mong muốn không oán hận; không hãm hại bất cứ cái gì là sự mong muốn không hãm hại. Như thế, ba sự mong muốn được quyết đoán trong việc xuất ly là: mong muốn về xuất ly, mong muốn về không oán hận, mong muốn về không hãm hại. Ở đấy, mong muốn về xuất ly là vô tham, mong muốn về không oán hận là vô sân, mong muốn về không hãm hại là vô si. Ba thiện căn này ở trong tám điều đúng đắn là những sự lợi ích cho người khác, chúng vận hành đưa đến sự diệt tận của chính bốn sự chấp thủ ấy. Hoặc hơn nữa, nếu một người tạo ra nghiệp đen hoặc trắng, thì chúng vận hành đưa đến việc hủy bỏ quả thành tựu của điều ấy; nghiệp không đen không trắng này vận hành đưa đến sự diệt trừ nghiệp. Ở đấy, sự diệt tận ba bất thiện căn là Diệt, ở đấy các lối thực hành chính là Đạo. Đây là hai Chân Lý. Đây là bốn Chân Lý. Là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

8. Bị dính mắc vào các dục: Các vị Hữu Học bị dính mắc chỉ với một biểu hiện, các phàm nhân bị dính mắc với hai biểu hiện. Ở đấy, câu hỏi nên-được- giải-đáp-sau-khi-phân-tích này là cần được nói đến. Mặc dầu vị Nhập Lưu cũng thân cận một (dục) nào đó và quả thật không bị dính mắc vào sự chấp chặt, bởi vì vị ấy ra sức cho việc giảm thiểu, không vì việc tích lũy. Vị Nhập Lưu thân cận các dục chỉ vì tác động của ô nhiễm; trái lại phàm nhân thân cận các dục đưa đến việc sanh khởi ô nhiễm. Ở đấy, trong số những kẻ bị dính mắc vào các dục, ‘người sẽ vượt qua bốn dòng lũ’ là điều nên được giải đáp sau khi phân tích. Đây là sự phân tích.

9. Sự đảo ngược: “Những người nào không bao giờ dính mắc vào các dục và không bị gắn liền với các sự ràng buộc, những người ấy sẽ vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn ấy;” đây là phần đối nghịch của Kinh (này).

10. Từ đồng nghĩa: Người bị dính mắc vào các dục và trong trường hợp ấy là loại dục nào trong số các dục; ở đấy, sự đi vào là bị dính mắc. Luôn cả các pháp là yếu tố nuôi dưỡng của các dục; ở đấy, sự đi vào là bị dính mắc. Ở đấy, đây là từ đồng nghĩa của các dục: ‘bãi lầy, bụi bặm, mũi tên, mụt ghẻ, tai họa, bất hạnh,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa; ở đấy, sự đi vào là ‘bị dính mắc.’ Như thế, ‘bị dính mắc’ có từ đồng nghĩa là: ‘bị cột trói, bị mê mẩn, bị trói buộc, bị bám chặt, đã đạt đến các dục, không được hoàn toàn tự do, sống nhiều với nó,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa. Đây gọi là từ đồng nghĩa.

11. Ở sự mô tả về việc lai vãng với các dục, ở sự mô tả về hành xứ của ô nhiễm, từ đồng nghĩa được mô tả ‘một cách đa dạng’: ‘bị dính mắc … sống nhiều với nó,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa. Các (dục) này được mô tả ở sự mô tả về việc lai vãng với các dục, ở sự mô tả về hành xứ của ô nhiễm, được mô tả với sự mô tả về mầm giống; các hành được mô tả với sự mô tả về sự ràng buộc; thủ được mô tả với sự mô tả về nhân; người được mô tả với sự mô tả về hạng người.

12. Sự liệt kê: ở (câu kệ) này là sự tùy thuận sanh khởi, Khổ, Tập, các ô nhiễm, các sự tạo tác và các sự ràng buộc; ở năm uẩn là hành uẩn; ở các pháp xứ là các pháp xứ bất thiện; ở các quyền là lạc quyền và hỷ quyền. Đây là sự liệt kê về quyền.

13. Sự làm rõ: Chừng ấy phần mở đầu này nên được diễn giải là ý nghĩa của Kinh.

14. Sự xác định: Các pháp này có (một số) được mô tả theo tính trạng đồng nhất, có (một số) theo tính trạng khác biệt. Các tưởng về dục ở bên ngoài được mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Bị dính mắc vào năm loại dục’: các sự thâm nhập và các sự trái khuấy được mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Có thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn’: vô minh được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Sự thiết yếu: Nhân gì, duyên gì của việc ấy? (Năm dục) là duyên với tính chất cảnh duyên. Sự tác ý đúng đường lối là duyên với tính chất đồng y chỉ duyên. Vô minh là duyên với tính chất đẳng vô gián duyên. Sự tiềm ẩn về luyến ái là duyên với tính chất nhân duyên. Đây là nhân, đây là duyên.

16. Sự xếp loại - Duyên: ‘Những người bị dính mắc vào các dục thì được đi đến cảnh giới tốt, có sắc đẹp’: đây là sự mong muốn, sự luyến ái về dục giới; các sự tạo tác ấy có yếu tố tạo thành là không có phước báu. Chúng do duyên gì? Do duyên vô minh. Chúng là duyên cho cái gì? Là duyên cho thức. Như thế, các hành do duyên vô minh, thức do duyên các hành, –nt– (cho đến lão tử). Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn lớn lao này. (Một Kinh được hoàn tất. Kinh liên quan đến năm pháp che lấp nên được thực hiện.)

1. Ở đấy, cái gì gọi là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo? Tham đắm, oán hận, và phóng dật là tham ái; dã dượi và buồn ngủ, hối hận, và hoài nghi là tà kiến. Hơn nữa, trạng thái không thể sử dụng của thân có phần nào là sự buồn ngủ, nhưng không phải là ô nhiễm theo tính chất ô nhiễm từ bản chất. Như thế, sự dửng dưng của tâm và trạng thái không thể sử dụng của thân là cận phiền não thuộc phe nhóm, nhưng không phải là ô nhiễm từ bản chất.– –Ở đấy, sự tích tụ của tưởng về tự ngã, sự mệt nhọc, sự tích tụ của hối hận, sự dã dượi là các sự co rút của tâm; như thế, năm pháp che lấp này có bốn pháp che lấp là ô nhiễm từ bản chất, còn dã dượi và buồn ngủ là cận phiền não thuộc nhóm che lấp. Giống như bốn lậu hoặc là các lậu hoặc với trạng thái lậu hoặc từ bản chất, nhưng không phải với trạng thái lậu hoặc của tâm. (?) Có những lậu hoặc với trạng thái bản chất của lậu hoặc, có những lậu hoặc với trạng thái lậu hoặc do việc bị gán ghép vào. Hơn nữa, điều đã nói về Kinh rằng: Các lậu hoặc ấy là được gắn liền hay là được tách rời thông qua bài Kinh nào, thì chúng sẽ được nói là có lậu hoặc hay không có lậu hoặc thông qua chính bài Kinh ấy.

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Tham đắm là tham ái về dục, tham ái về sắc, tham ái về hữu, hoặc bất cứ cái gì đi đến sự bám chặt, có lậu hoặc, của người đã bị tham đắm có sự quan sát về từ ái. “Người thực hành điều bất lợi, ở đấy, là người khởi lên sự oán hận, đã thực hành, sẽ thực hành (điều ấy).” Và chín sự việc xung đột nên được thực hiện như vậy.

3. Như vậy, đối với người có sự quan sát về oán hận, ô nhiễm là sự nóng nảy, sự mệt nhọc của thân, trạng thái không thể sử dụng (của thân), sự buồn ngủ; đối với người có sự quan sát về tâm, do sự cạn kiệt đối với sự bất bình, có sự dã dượi và buồn ngủ này. Ở đấy, sự không vắng lặng về xung đột (ở tâm) là sự phóng dật. Việc (suy nghĩ): “Điều này là thế nào?” là sự ngần ngại. Sự phán đoán là như thế này, đây là sự hoài nghi.

4. Ở đấy, có vô minh và tham ái, đây là sự thâm nhập; có sự ngăn trở, sự che lấp, sự che đậy, và cận phiền não, sự mong muốn về dục này là nền tảng cho sự thâm nhập của sự luyến ái về dục. Oán hận là nền tảng cho sự thâm nhập của oán hận. Dã dượi và buồn ngủ là nền tảng cho sự thâm nhập của dã dượi và buồn ngủ. Phóng dật và hối hận là nền tảng cho sự thâm nhập của vô minh. Hoài nghi là nền tảng cho sự thâm nhập của hoài nghi. Sự thâm nhập của sự luyến ái về dục là nền tảng cho sự ràng buộc về tiềm ẩn. Sự thâm nhập của oán hận là nền tảng cho sự ràng buộc về bất bình. Sự thâm nhập của dã dượi và buồn ngủ là nền tảng cho sự ràng buộc về ngã mạn. Sự thâm nhập của vô minh và sự thâm nhập của hoài nghi là nền tảng cho sự ràng buộc về tà kiến.

5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Khi sự thâm nhập của luyến ái về dục được nói đến thì tất cả các sự thâm nhập được nói đến; khi các sự ràng buộc được nói đến thì tất cả các sự ràng buộc được nói đến. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Năm pháp che lấp, – phần đối nghịch của thiền,– là nhân sanh Khổ. Cái nào là quả báo, cái ấy là Khổ. Ở đấy, sự suy tầm về xuất ly là phần đối nghịch của sự luyến ái về dục; sự suy tầm về không oán hận là phần đối nghịch của oán hận; sự suy tầm về không hãm hại là phần đối nghịch của ba pháp che lấp (còn lại). Như thế, đây là ba sự suy tầm. Sự suy tầm về xuất ly liên quan đến định uẩn, sự suy tầm về không oán hận liên quan đến giới uẩn, sự suy tầm về không hãm hại liên quan đến tuệ uẩn. Đây là ba uẩn. Thánh Đạo tám chi phần vận hành đưa đến sự dứt bỏ các pháp che lấp; sự dứt bỏ các pháp che lấp là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

7. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vầnlà gì? Năm pháp che lấp trở thành mười. Bị luyến ái với cái gì thuộc nội phần, cái ấy là pháp che lấp. Bị luyến ái với cái gì thuộc ngoại phần, cái ấy cũng là pháp che lấp. Tương tự như vậy cho đến … hoài nghi. Đây là mười pháp che lấp. Các ô nhiễm thuộc nội và ngoại phần; đây là hai sự ràng buộc: sự ràng buộc thuộc nội phần và sự ràng buộc thuộc ngoại phần. Ở đấy, ‘tôi’ là thuộc nội phần, ‘của tôi’ là thuộc ngoại phần. Sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) là thuộc nội phần, 61 tà kiến là thuộc ngoại phần. Sự mong muốn và luyến ái thuộc nội phần liên quan đến các sắc là sự luyến ái chưa được xa lìa, sự mong muốn chưa được xa lìa, tương tự như vậy cho đến … ở thức; đây là tham ái thuộc nội phần. Sự bám chặt vào sáu xứ bên ngoài và vào ba hữu; đây là tham ái thuộc ngoại phần. Đây là hai Chân Lý: các sự ràng buộc và các pháp đưa đến sự ràng buộc. Ở đấy, việc quan sát sự nhàm chán ở các pháp đưa đến ràng buộc là Đạo. Việc dứt bỏ các sự ràng buộc là Diệt. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? ‘Sự ràng buộc’: điều này không hẳn là như thế. ‘Sự ràng buộc của ngã mạn liên quan đến tà kiến’: điều ấy không hẳn là như thế, bởi vì ngã mạn không được nhìn thấy nên hành giả không dứt bỏ ngã mạn. Ngã mạn là (một trong) năm (ràng buộc) thuộc thượng phần, mặc dầu nó cũng có thể thuộc phe nhóm tà kiến, nhưng sự ràng buộc thuộc hạ phần không vận hành đưa đến việc dứt bỏ ngã mạn. Và việc tạo thành ‘tôi’ còn chưa được xuyên thấu là điều có thể xảy ra cho người này (rằng): “Vậy thì khi nào ta sẽ chứng ngộ, đạt đến, và an trú ở xứ an tịnh ấy, là xứ an tịnh mà các bậc Thánh sẽ đạt đến và an trú?” Đây là sự tham đắm, và điều ấy không phải là sự che lấp. Hơn nữa, có sự buồn ngủ, –là ô nhiễm của thân,– xâm nhập vị A-la-hán, và điều ấy không phải là pháp che lấp; đối với vị ấy, sự dã dượi và buồn ngủ không hẳn là ‘pháp che lấp.’ Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.

9. Sự đảo ngược: Năm pháp che lấp đi đến sự dứt bỏ nhờ vào thiền có năm chi phần, đây là phần đối nghịch của chúng. ‘Các pháp che lấp đối với một vị nào đó được dứt bỏ’ sẽ không được suy luận theo cách khác, mục đích tối hậu là thuộc về mỗi cá nhân. (?) Đây là sự đảo ngược.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? ‘Sự mong muốn về dục, sự mong muốn và luyến ái, sự yêu thương, sự đeo đuổi’ là từ đồng nghĩa. ‘Sự che lấp, sự che đậy, cận phiền não, sự thâm nhập’ là từ đồng nghĩa.

11. Sự mô tả: Các duyên do vô minh là sự mô tả với sự mô tả về phận sự, oán hận là sự mô tả với sự mô tả về việc tán loạn, sự dã dượi và buồn ngủ là sự mô tả với sự mô tả về việc không thủ tiêu. Như vậy, tất cả năm pháp che lấp ấy ở bài Kinh này là sự mô tả với sự mô tả về việc tán loạn.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Năm pháp che lấp này là vô minh và tham ái. Ở đấy, các pháp che lấp có vô minh là gốc rễ; tham ái là các hành, chúng có vô minh là duyên; hai pháp này được gộp vào hành uẩn ở năm uẩn, vào pháp xứ ở các xứ, vào pháp giới ở các giới, vào nền tảng ở các quyền của các pháp này: của lạc quyền, của hỷ quyền, của nữ quyền, và của nam quyền.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự làm rõ là gì? Kinh này đã được trình bày sau khi mở đầu như thế; ý nghĩa ấy được nói với năm thuật ngữ này.

14. Ở đấy, sự mong muốn về dục, oán hận, và hoài nghi là không được mô tả theo tính trạng đồng nhất, ‘các dục’ là không được mô tả theo tính trạng đồng nhất, và chúng quả thật là được mô tả theo tính trạng khác biệt. Đây là cách truyền đạt bằng sự xác định.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Sự mong muốn về dục có tác ý không đúng đường lối và đối tượng đẹp là duyên, hiện tướng đẹp là nhân. Oán hận có tác ý không đúng đường lối và các sự việc xung đột là duyên, sự tiềm ẩn của bất bình là nhân. Sự dã dượi và buồn ngủ có sự thối chí là duyên, có các sự mệt nhọc, các sự dao động do sự vận hành là nhân. Phóng dật và hối hận có đối tượng khả ái, có giác quan hướng đến sự hứng thú, và trí chưa được đầy đủ là duyên, có dục tưởng và sự tiềm ẩn của tà kiến là nhân. Hoài nghi có đối tượng từ chín loại ngã mạn và sự tiềm ẩn của ngã mạn là duyên, có sự tiềm ẩn của hoài nghi là nhân. Năm pháp này sanh khởi có nhân, có duyên.

16. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loại là gì? Năm pháp che lấp này, cũng như bốn lậu hoặc này, các khối u này, các mũi tên này, các chấp thủ này, các điều này liên quan đến chính các pháp ở bên ngoài ấy; (việc ấy) đi đến sự mô tả là ‘Kinh liên quan đến phiền não.’ Đây là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.

Kinh Liên Quan Đến Phiền Não Đã Được Diễn Giải.

Câu kệ là: “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, …”

1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là gì? Điều gì là ý nghĩa ở Kinh này? Nó chỉ bảo về thức uẩn thông qua sự xác định về uẩn, về ý thức giới thông qua sự xác định về giới, về ý xứ thông qua sự xác định về xứ, về ý quyền thông qua sự xác định về quyền. Ở đó, cái gì là các pháp dẫn đầu? Một cách tóm tắt, sáu pháp là các pháp dẫn đầu: (ba) gốc rễ của thiện và (ba) gốc rễ của bất thiện (không được đề cập), ở Kinh này gốc rễ của thiện được chỉ bảo. Ở đấy, các pháp có tâm là sự dẫn đầu là các pháp nào? Tâm là yếu tố dẫn đầu của chúng, cũng giống như vị vua là người dẫn đầu của đoàn quân, tương tự y như vậy, tâm là yếu tố dẫn đầu của các pháp.

Ở đấy, với mong muốn về xuất ly, với mong muốn về không oán hận, với mong muốn về không hãm hại đối với các sự dẫn đầu theo ba loại: với mong muốn về xuất ly thì có sự dẫn đầu của vô tham, với mong muốn về không oán hận thì có sự dẫn đầu của vô sân, với mong muốn về không hãm hại thì có sự dẫn đầu của vô si.

Ở đấy, ‘có tâm là chủ đạo’ các pháp này được nổi bật bởi tâm, hoặc là được tạo ra bởi tâm, chính tâm là ‘tối thượng’ đối với các pháp này, chính tâm là ‘đứng đầu’ đối với các pháp này, chính tâm ‘thể hiện chủ quyền’ đối với các pháp này; có tâm là chủ đạo là như thế.

Có tốc độ của tâm: ‘Tâm di chuyển đến nơi nào thì các pháp này di chuyển đến nơi ấy;’ có tốc độ của tâm là như thế. Gió di chuyển nhanh như thế nào hoặc bất cứ người nào đi nhanh được gọi là ‘có tốc độ của gió,’ ‘đi như chim,’ tương tự y như vậy, các pháp này, được sanh ra bởi ý, di chuyển; ở đấy, ‘các pháp này di chuyển;’ có tốc độ của tâm là như thế.

Chúng được hình thành do mong muốn theo ba cách và không có tính chất khuấy động: sự suy tư (3 loại), bảy loại thiện hạnh do thân (3 loại) và thiện hạnh do khẩu (4 loại), chúng là mười đường lối hành động thiện.

Ở đấy, ‘nếu … với tâm trong sạch’ là ý nghiệp, ‘nói’ là khẩu nghiệp, ‘hay làm’ là thân nghiệp. Với những điều này, mười đường lối hành động thiện ở Kinh này là tối thắng, an tịnh; vị ấy là người có giới, ở vòng quay ngược lại, không đưa đến việc đi ra khỏi thế gian; là Kinh liên quan đến huân tập. Đây là sự chỉ bảo.

2. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, …” là các gốc rễ của thiện và tám chi phần chân chánh. Đây là Kinh.

3. Sự kết nối: Quả thành tựu của mười đường lối hành động thiện là đưa đến thọ lạc, được dính líu đến không oán hận. Nó đi theo ‘ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).’ Có sự kết nối ấy.

4. Nền tảng: là nền tảng của mười tám sự quán xét của ý. ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: các pháp này là nền tảng của toàn bộ phần thiện. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: Sự tịnh tín của tâm là nền tảng của tín quyền, ‘nói’ là thuộc về chánh ngữ, ‘hay làm’ là nền tảng của chánh nghiệp và chánh tinh tấn.

5. Tướng trạng: Nói rằng: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có ... là sự dẫn đầu,’ như thế thì chúng cũng có thọ là sự dẫn đầu, chúng cũng có tưởng là sự dẫn đầu, chúng cũng có các hành là sự dẫn đầu. Bất cứ những pháp nào là đồng sanh, toàn bộ đều là sự dẫn đầu của các pháp ấy. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy,’ hỷ tâm cũng đi theo người ấy, cái bóng vô cùng an lạc, sự an lạc ấy cũng đi theo người ấy.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? ‘Có tâm là sự dẫn đầu,’ điều này không phải là một sự định danh. Bởi lý do gì? Toàn bộ các điều này là sáu nhóm thức. Về điều này, chủ tâm của đức Thế Tôn là gì? ‘Những người nào tầm cầu sự an lạc, những người ấy làm cho tâm được tịnh tín,’ đây là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh này. Ý nghĩa đã được diễn giải ngay ở phần trước.

7. Chính các gốc rễ của thiện là nhân của tám chi phần chân chánh; đây là Đạo tám chi phần. Mười sự kiện (hành động thiện) là các nhân cho việc chỉ bảo, là các duyên cho việc chỉ bảo, và là các sự diễn giải. Ở đấy, điều có thể nghĩ đến là: ‘Danh sắc cùng với khổ là chân lý của thức,’ (?) như thế gốc rễ của (bất) thiện được dứt bỏ theo từng chi phần. Điều này, ở lãnh vực chưa được dứt bỏ, là Tập. Việc dứt bỏ đối với chúng là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

8. Sự phân tích: “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo,có tốc độ của tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).”

Tuy nhiên, điều ấy không hẳn là có đối với vị Sa-môn hoặc đối với vị Bà- la-môn. Hoặc đối với vị có tà kiến ấy thì nó làm cho tâm (của vị ấy) được trong sạch về mục đích của bản thân, và (vị ấy) nói hay làm bằng tâm trong sạch ấy thì không phải khổ đau đi theo người ấy ví như bóng có sự đi theo (hình), mà chính hạnh phúc đi theo người ấy giống như bánh xe lớn đi theo bước chân (của con thú đang kéo xe). Điều này nên được giải đáp sau khi phân tích điều ấy (rằng): ‘Nếu với tâm trong sạch, thì thân nghiệp, khẩu nghiệp sẽ đưa đến thọ lạc,’ khi đi đúng đường thì sẽ dẫn đến thọ lạc, khi đi sai đường thì sẽ dẫn đến thọ khổ. Đây là sự phân tích.

9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là người nào nói hay làm với tâm xấu xa thì khổ đau đi theo người này; chính hai bài Kinh này đã được nói ra, và điều ấy chính là sự đảo ngược, …

10. Từ đồng nghĩa: là ý, tâm, thức, ý quyền, ý thức giới.

11. Sự mô tả: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: tâm này được mô tả với sự mô tả về phận sự. ‘Các pháp’: được mô tả với sự mô tả về các đường lối hành động thiện. ‘Có tâm là chủ đạo’: được mô tả với sự mô tả đặc biệt. ‘Có tốc độ của tâm’: được mô tả với sự mô tả về năng lực. ‘Tâm’: được mô tả với sự mô tả về xuất ly. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về tín quyền. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về suy tư không bị khuấy động ở nhị thiền. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về phía đối nghịch của những người không có đức tin. ‘Nói’: được mô tả với sự mô tả về chánh ngữ. ‘Hay làm’: được mô tả với sự mô tả về chánh nghiệp. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: là sự gom chung lại các thiền, là ý quyền ở các quyền, là thức ở sự tùy thuận sanh khởi.

12. Sự liệt kê: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là từ ái và tùy hỷ, là nhị và tam thiền ở các thiền, được gộp vào hành uẩn ở các uẩn, là pháp giới ở các giới, là pháp xứ ở các xứ, thiện ở các quyền có lạc quyền và hỷ quyền là nền tảng.

Đối với các pháp đã được tùy thuận sanh khởi này, do duyên xúc có xúc đưa đến thọ lạc, thọ lạc ở các sự quán xét của ý là sự xem xét hỷ tâm, ở ba mươi sáu cơ sở đầu tiên là sáu hỷ tâm nương tựa vào xuất ly. Như thế, đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Kinh này được nói liên quan đến ý nghĩa nào thì ý nghĩa ấy đã được gắn liền, là Kinh liên quan đến ý nghĩa ấy. Đây là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.

14. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xác địnhlà gì? ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là sự mô tả theo tính trạng khác biệt, không theo tính trạng đồng nhất. ‘Các pháp’: là tính trạng đồng nhất, không phải là sự mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: Sự trong sạch có hai loại: là sự không đè nén do không oán hận thuộc nội phần và là sự tín nhiệm thuộc ngoại phần. Sự trong sạch thuộc nội phần có hai loại: trong sạch do thủ tiêu và trong sạch do đè nén. (!) Việc tiêu diệt sự thâm nhập của oán hận không phải là sự trong sạch ở gốc rễ hoặc là cái gốc rễ đã được sanh ra; (?) sự trong sạch là nhờ vào việc tiêu diệt pháp có oán hận. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: là lạc thuộc thân và thuộc tâm. Sự xa lìa đối tượng không yêu mến, sự gắn bó với đối tượng yêu mến, hạnh phúc của việc xuất gia, hạnh phúc của phàm nhân, hỷ giác chi là lạc thuộc tâm. Việc ‘có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc’ là lạc thuộc thân, và các giác chi là lạc thuộc tâm. Việc ‘có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc’ cũng là nền tảng của lạc giống như đã được đề cập thông qua sự mô tả, điều ấy là không được bám víu đối với các thiện pháp. (?) ‘Đi theo’: sự áp sát được nhìn thấy, và không phải trạng thái đã được đạt đến này đi theo (người ấy). Kinh này có thể được xác định theo hai biểu hiện: người có tâm ý trong sạch là theo nhân và việc đưa đến thọ khổ là theo quả thành tựu.

15. Sự thiết yếu: Đức Thế Tôn đi vào thành Rājagaha cùng với hội chúng tỳ khưu năm trăm vị. Ở đấy, một người nam phục vụ đức Thế Tôn; niềm tịnh tín đã sanh khởi đến vị ấy. Là hành giả có sự thực hành trước đây và có thiện căn, vị ấy tuyên bố với những người khác và nói lời nói này: ‘Thật lợi ích cho những người ấy việc đức Thế Tôn đi vào chỗ trú ngụ của họ! Nếu điều ấy cũng có thể xảy đến cho chúng ta, chúng ta cũng sẽ đạt được niềm tịnh tín đối với đức Thế Tôn.’ Với tâm không oán hận, vị ấy đã chắp tay hướng đến đức Thế Tôn cúi chào (nói rằng): ‘Kính lễ đức Thế Tôn, kính lễ đức Thế Tôn!’ rồi đã đứng ở một bên. Kế đó, đức Thế Tôn đã nói Kinh này: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu.’ Toàn bộ bài Kinh là như thế. Ở đấy, việc vị ấy nói với những người khác là khẩu nghiệp. Việc chắp tay cúi chào là thân nghiệp. Niềm tịnh tín ở tâm là ý nghiệp. Ở đấy, vị ấy bày tỏ, ca ngợi đến những người khác việc ‘đức Thế Tôn đi vào chỗ trú ngụ của họ.’ Toàn bộ thiện căn vô tham của vị ấy là tâm từ ái đối với đức Thế Tôn. Thiện căn vô sân của vị ấy là việc chắp tay cúi chào và chế ngự ngã mạn. Ở đấy, thiện căn vô si của vị này là rõ ràng.– –Việc vị ấy đạt được tuệ cao quý là sự dứt bỏ sự trái khuấy của kiến của vị này. Việc thu thúc đúng như thế ấy là sự dứt bỏ sự trái khuấy của tưởng của vị này. Niềm tịnh tín của tâm là sự dứt bỏ sự trái khuấy của tâm của vị này,’ như thế đối với các sự trái khuấy bất thiện, sự đè nén, sự dứt bỏ là duyên.

Ba thiện căn: Sự suy tư ở tâm không bị khuấy động được gọi là ‘tác ý’ của vị ấy. Việc đè nén với các ô nhiễm như thế, các sự trái khuấy, và các đối tượng là duyên với tính chất hữu duyên, các thiện căn là duyên với tính chất đồng y chỉ duyên, và việc ấy là sự tác ý; với nhân với duyên này tâm được sanh lên. Ở đấy, tâm được vận hành với đối tượng là bậc Đạo Sư, đây là tưởng nhớ đến Phật. Hành giả tác ý đến các đức hạnh của đức Thế Tôn, đây là tưởng nhớ đến Pháp của vị này. Ở đấy, niệm và sự nhận biết rõ là nhân, và điều này (cũng) là duyên; lời nói và tuệ là nhân, sự suy tầm và xem xét là duyên. Các sự tạo tác của thân, sự tạo tác của nghiệp gọi là nhân hoặc là không có duyên; sự tích lũy của nghiệp đưa đến thọ lạc do có liên quan đến nhân là duyên của nghiệp.

16. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xếp loạilà gì? ‘Nếu … với tâm trong sạch’: ở đây, chính người có niệm là được trong sạch. Hơn nữa, ‘do thanh lọc tâm mà các chúng sanh được giải thoát.’ Vì thế, các chúng sanh, –có tâm là sự dẫn đầu, có sự cố ý với tâm trong sạch,– ở đấy là ‘có trạng thái của tâm’ khỏi sự bất bình; đây là tập hợp của các sự cố ý với niềm tịnh tín, và niềm tịnh tín ấy của người này được khởi sự. Được trong sạch với niềm tịnh tín, các tưởng của người này không còn bị sai lệch. (Niềm tịnh tín) ấy có năm loại do sự đè nén. (?) Sự yên tịnh của thân chính là niềm tịnh tín đã được nương vào tâm; hơn nữa, tâm đã được trong sạch vào trước đó. Đây là sự xếp loại. Niềm tịnh tín của năm loại (?) cũng tương tự như vậy. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: Đức Thế Tôn diễn giải thế nào? Bởi vì quả thành tựu của nghiệp ấy không đi theo sự thật về bản ngã, mà cách thức của nó đi theo; vào lúc hỷ tâm sanh lên do duyên mỉm cười, thì sự không ăn năn cũng đi theo. Đây là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.

Kinh Mahānāma dòng Sakya

1. “Nếu tôi từ trần vào lúc này (không có niệm, không có sự nhận biết rõ), cảnh giới tái sanh dành cho tôi là gì, kiếp sau của tôi là gì?” “Này Mahānāma, chớ sợ hãi! Này Mahānāma, chớ sợ hãi! Cái chết của ngươi sẽ không tồi tệ, sự từ trần của ngươi sẽ không tồi tệ. Này Mahānāma, tâm của bất cứ người nào, trong một thời gian dài, đã được phát triển đầy đủ với tín, đã được phát triển đầy đủ với giới, đã được phát triển đầy đủ với văn, …” (nên được thực hiện với chi tiết).

1. Thông qua xả thí và tuệ, điều gì được nhìn thấy? Tín là sự trong sạch của tâm; điều được suy tư không bị khuấy động là tín. Bởi lý do gì? Tính chất của tướng trạng không bị khuấy động, bởi vì tín có tướng trạng không bị khuấy động. Những người khác đã nói là ‘tướng trạng đi đến sự hoàn hảo hoàn toàn trong sạch về đức hạnh,’ hoặc một số người khác đã nói là ‘tín có tướng trạng chấp nhận lời nói.’

Một cách thức khác: Nếu một ai tin chắc về bản thân như vầy: ‘Tôi không biết bất cứ điều gì,’ ‘Tôi đây trong trường hợp ấy là có trạng thái không biết, – thì không khác biệt,’ (!) đây là ‘tín.’ Một cách thức khác: Việc quan sát sự bất lợi ở 61 tà kiến là ‘vô thường, khổ, vô ngã,’ và điều ấy được nhìn thấy bởi người ấy. Giống như một người nhìn thấy bằng mắt nước ở giếng sâu, và không thể với đến bằng thân; tương tự như vậy, quan điểm thánh thiện là do sự suy xét rồi chấp nhận và còn chưa được chứng ngộ; điều này được gọi là ‘tín,’ và nó là hợp thế. Một cách thức khác: Phàm phu chấp nhận sự bám chặt thuộc về thân kiến có nguồn gốc từ hai mươi (tà kiến); điều này là tưởng về phương pháp ‘đồng nhất’ (?) trong việc thấy đúng theo thực thể. Quả thật nhờ vào năm quyền yếu kém thông qua đường lối thấy mà các ô nhiễm đứng chung với tà kiến được dứt bỏ; đây là tín. (?)

Tín được gọi là đầy đủ ở lãnh vực lối vào các chi phần Nhập Lưu. Chính ở lãnh vực ấy, giới thuộc về Hữu Học được gọi là ‘vật nâng đỡ các bậc Thánh;’ chính ở lãnh vực ấy, tuệ yếu kém (vẫn) được gọi là ‘tuệ quyền;’ chính ở lãnh vực ấy, trạng thái không còn mục đích với các uẩn (do tái sanh), đây là sự xả thí. Vì thế, tín nên được diễn giải theo sự xác định về xả thí. Do ý ấy được tăng thêm, chính tín ấy, với quan điểm bị sai lệch, có thể trở thành không có đức tin; nó được đầy đủ, được thọ trì liên quan đến việc dẫn đi và mầm tái sanh. Ở đấy, tín quyền là (với ý nghĩa) ‘phụng sự việc ham muốn,’ như thế thì những sự buông bỏ về các ác pháp đang hiện diện không phải là sự xác định về xả thí; sự xác định về tuệ là thông qua tuệ quyền, sự xác định về an tịnh là thông qua giới. Bốn pháp này làm viên mãn giới: tín, giới, xả thí, và tuệ.

Ở đấy, nhờ vào tín mà vượt qua dòng lũ. Giới là sự không xao lãng; xả thí là hành động do tuệ; tuệ là tuệ quyền. Ở đấy, tuệ quyền là ở ba sự tịnh tín bất động, giới là ở tín quyền, xả thí là ở bốn thiền, tuệ là ở các Chân Lý, niệm có sự đưa đến mọi điều lợi ích. Vị Hữu Học ấy có cảnh giới tái sanh tốt lành, có kiếp sau tốt lành.

Đối với vị ấy, trong lúc thực hành giới dầu có niệm bị lơ là, nhưng không vì niệm bị lơ là ấy mà các quyền ấy hoặc thiện căn ấy trở thành quả thành tựu của nghiệp. Sự diễn giải về ý nghĩa của nhóm ba ấy là: Ở đấy, tín, giới, xả thí, tuệ là bốn pháp. Tín và tuệ là thiện hạnh về ý; giới là thiện hạnh thuộc thân, thuộc khẩu; xả thí là thiện hạnh với sở hữu tâm vô tham; như thế khi tâm được nắm giữ thì năm uẩn được nắm giữ. Thiện hạnh với các pháp này là Chân Lý Cao Thượng về Khổ, là nền tảng của Đạo.

2. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? Tại sao lại thực hành tín và giới? Với trạng thái tín, hành giả tưởng nhớ đến đức Thế Tôn cho dầu bị đối đầu với con voi say, với các loài ngựa, bò, chó, (vị ấy) hoàn toàn không vi phạm giới bằng thân hay bằng khẩu; ‘được tự tin về tư cách’ là không có sự ăn năn; vị nào có trạng thái nhận biết được thiết lập bởi tuệ thì giới của vị ấy không bị bể vỡ; đối với vị có sự mê mờ đã được bóc vỏ thì không có tâm bất thiện sanh khởi hoặc sự đồng hành với tà kiến. Đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu.

3. Sẽ có cảnh giới tốt lành cho vị nói Pháp; có sự kết nối ấy.

4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài với tín, với giới, với xả thí, với tuệ, với định là nền tảng của sơ thiền. Tín từ sự suy tư không bị khuấy động của vị này là nền tảng của nhị thiền. Ba sự tịnh tín bất động và giới được yêu quý bởi các bậc Thánh là nền tảng của giới uẩn. Tuệ là nền tảng của tuệ uẩn. Các pháp này và tâm này là nền tảng của định có trạng thái nhất điểm. Tín là nền tảng của tín quyền. Xả thí là nền tảng của định quyền. Tuệ là nền tảng của tuệ quyền. Tín và tuệ là nền tảng của minh sát. Giới và xả thí là nền tảng của chỉ tịnh. Tín và tuệ là nền tảng của sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Giới và xả thí là nền tảng của sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái.

5. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtướng trạng là gì? Khi thức được nói đến, với tín, niệm được tu tập, thì toàn bộ năm uẩn được nói đến. Khi tín được đề cập thì tất cả bảy loại tài sản được đề cập: tài sản về tín –nt–. Khi giới uẩn được nói đến thì định uẩn và tuệ uẩn được nói đến. “Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài, vào thời điểm cuối cùng, sẽ không có sự xoay vần theo điều ấy;” sự kiện này không được biết đến. Ở đấy, tưởng có sự xoay vần theo điều ấy, luôn cả các pháp nào sanh ra từ điều ấy cũng có sự xoay vần theo điều ấy: là sắc tưởng, sắc tư, sự quan sát, và tác ý; tương tự như vậy ở nhóm thức của sáu xứ. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? Những người nào mong muốn cảnh giới tái sanh tốt lành và kiếp sau tốt lành, những người ấy sẽ tác ý đến tín, giới, xả thí, và tuệ; điều này là chủ tâm (của đức Thế Tôn). Thậm chí những chúng sanh khác, dầu không gặp gỡ đối diện với đức Như Lai (nhưng) được nghe Pháp này thì sẽ từ trần không có ăn năn; điều này là chủ tâm (của đức Thế Tôn).

7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Việc này cũng là bốn pháp: tín và tuệ diệt trừ sự không có đức tin và vô minh, giới và xả thí diệt trừ tham ái và sân hận. Đối với người ấy, hai gốc rễ được dứt bỏ; người ấy làm dừng lại khổ và năm uẩn với hai gốc rễ ở lãnh vực chưa được dứt bỏ. Hai Chân Lý Cao Thượng (là Khổ và Tập). Chỉ tịnh và minh sát là sự dứt bỏ hai gốc rễ. Đây là hai Chân Lý Diệt và Đạo. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Tâm đã được phát triển đầy đủ với tín – nt– Nếu đối với phàm nhân thì cảnh giới tái sanh tốt lành cũng sẽ có cho người ấy,” không hẳn là nghiệp của người ấy có quả thành tựu sẽ chín muồi ngay trong thời hiện tại, hoặc sẽ thành tựu ở đời sống khác, hoặc là việc nào ở quá khứ được sẵn sàng đưa đến quả thành tựu (hiện tại). Và các duyên cho việc ấy là các sự cố ý, giống như ở Kinh Mahākammavibhaṅga, vì thế sự diễn giải này: “Cảnh giới tái sanh tốt lành dành cho người thực hành Giáo Pháp” là nên được giải đáp sau khi phân tích.

9. Ở đấy, sự đảo ngược là gì? Không có đức tin, ác giới, bỏn xẻn, và tuệ tồi là được dứt bỏ bởi phần đối nghịch; đây là sự đảo ngược.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài là tâm, ý và thức, –nt– Tín là tín lực, tín quyền. Giới là thiện hạnh, sự chế ngự, sự hạn định, sự rèn luyện, trạng thái liền lặn, đây là các từ đồng nghĩa của nó. Sự xả thí là sự buông bỏ, vô tham, sự buông ra, sự xác định về xả thí. Tuệ là trạng thái nhận biết, ánh sáng tuệ, tuệ quyền, tuệ lực.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tâm được mô tả với sự mô tả về hạt giống, sự phát triển đầy đủ được mô tả với sự mô tả về huân tập, tín được mô tả với sự mô tả về tịnh tín, giới được mô tả với sự mô tả về thiện hạnh, xả thí được mô tả với sự mô tả về việc làm phước thiện, tuệ được mô tả với sự mô tả về thẩm xét. Ba pháp này, –tín, giới, xả thí,– của vị có tuệ đi đến sự hoàn toàn trong sạch.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Cái nào là tâm, cái ấy là thức uẩn thuộc các uẩn, là ý thức giới thuộc các giới, là ý xứ thuộc các xứ. Bốn pháp được gộp vào hành uẩn thuộc các uẩn, –nt– thuộc các giới, thuộc các xứ.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Điều này đã được đức Thế Tôn nói khi được hỏi bởi Mahānāma dòng Sakya, toàn bộ điều ấy được kết nối.

14. Ở đấy, sự xác định là gì? Tâm này được mô tả theo tính trạng khác biệt với các tâm bất thiện không được phát triển đầy đủ. Được phát triển đầy đủ: thêm nữa, điều được mô tả nương vào nơi ấy là thuộc về những tâm khác đã được phát triển đầy đủ; thậm chí tất cả bốn pháp này cũng được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Cảnh giới tái sanh tốt lành: là đối với người hưởng dục, không phải là sắc giới, vô sắc giới. Loài người: tất cả là có cảnh giới tái sanh tốt lành, chính điều ấy được mô tả ở lời thuyết giảng; đây là sự mô tả.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với tâm, các quyền là duyên với tính chất trưởng duyên, tác ý là duyên với tính chất nhân duyên. Đối với tín, tuệ hiệp thế là duyên với tính chất nhân duyên, và tác ý đúng đường lối là duyên. Đối với giới, việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là duyên, và việc quyết định đúng đắn cho bản thân là nhân. Đối với sự xả thí, vô tham là nhân, và không ăn năn là nhân và duyên. Đối với tuệ, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối của bản thân là nhân và duyên.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Tâm được phát triển đầy đủ một thời gian dài, các sở hữu tâm cũng vậy. Ở đây, tất cả các pháp được phát triển đầy đủ, cảnh giới tái sanh sẽ là tốt lành, việc tái sanh, kiếp sau sẽ là tốt lành. Như thế, những ai thuộc loài người có sự hưởng thụ và thọ dụng, tất cả đương nhiên là có cảnh giới tái sanh là tốt lành. Đây là sự xếp loại.

Câu kệ là: “Bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát …” Ở đấy, cái gì gọi là bên trên? Cái nào từ đây trở lên sẽ là tương lai, đây là bên trên. Bên dưới gọi là cái đã vượt qua, quá khứ; người ta đã nói cái này là “đã được khơi lại.” Ở đấy, thường kiến về quá khứ liên quan đến các kiếp sống thuộc giới hạn quá khứ, quan điểm về giới hạn tương lai của những người nào đó là đoạn kiến; đây chính là hai quan điểm liên quan đến các kiếp sống đã được nói đến: đoạn kiến và thường kiến.

Ở đấy, đây là thường kiến: mười lăm thuật ngữ này về thân kiến là chung nhóm với thường kiến: ‘Tự ngã của tôi có sắc, sắc của tôi ở trong tự ngã, tự ngã của tôi ở trong sắc;’ chúng viện dẫn điều được nói đến như thế là tuệ. (?) Đoạn kiến là năm thuật ngữ chung nhóm với sự đứt đoạn. Chúng thấy rằng: ‘Mạng sống và thân thể là một,’ ‘sắc là tự ngã của tôi,’ bốn loại thân kiến là có hình thức như thế với đoạn kiến và thường kiến; tương tự như vậy là mười lăm thuật ngữ của (thân) kiến với hai mươi luận điểm liên quan đến năm uẩn là chung nhóm với giới hạn quá khứ, năm thuật ngữ của thường kiến là chung nhóm với giới hạn tương lai của đoạn kiến.

Ở đấy, trong khi thấy rằng: ‘Tôi là cái này’ thì nhận thấy sắc là tự ngã, người ấy theo học thuyết đoạn kiến; và người ấy thấy rằng: ‘Tự ngã có sắc, và sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc,’ như thế đoạn kiến thừa nhận là tự ngã, còn thường kiến thừa nhận là giới hạn quá khứ. Vị không nhận thấy: ‘Tôi là cái này’ thì các tà kiến lậu của vị ấy đi đến dứt bỏ. Vị ấy, có luyến ái đã được xa lìa phía bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, trong ba thời với giới hạn quá khứ, với giới hạn tương lai, thông qua từng cách diễn giải ấy, không quan sát: ‘Tôi là’ bằng cửa (giác quan) này, bằng sự thực hành này, bằng cách thức này. Đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Sự thực hành thánh thiện ấy với việc đã đi đến trạng thái không còn hiện hữu thông qua luân hồi, ‘đưa đến việc không còn hiện hữu lại nữa,’ bất cứ sự thực hành thánh thiện nào đưa đến việc không còn hiện hữu lại nữa, hoặc năm quyền dầu là yếu kém, trung bình, hay vượt trội, tất cả đều vận hành đưa đến việc dứt bỏ sự hiện hữu lần nữa. ‘Tôi’ là dòng lũ tà kiến, dòng lũ của dục, dòng lũ của hữu, và dòng lũ vô minh là cuối cùng.

1. Ở đấy, với cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là bốn Chân Lý. Với năm quyền và quả vị Nhập Lưu là hai Chân Lý: Đạo và Diệt. Với nhân sanh khởi của hiện thân là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Đây là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Trong khi không nhận thấy: ‘Tôi là cái này’ thì dứt bỏ ba sự ràng buộc cần được dứt bỏ do thấy (kiến). Đây là sự tìm hiểu.

3. Ở đấy, sự kết nối là gì? Ba hạng người: hạng người hiểu nhanh, hạng người hiểu chậm, hạng người cần-được-dẫn-dắt. Người hiểu nhanh có quyền sắc bén, và kế đến là người hiểu chậm có quyền yếu kém, kế đến là người cần-được-dẫn-dắt có quyền yếu kém.

Ở đấy, người hiểu nhanh với trạng thái quyền sắc bén sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Nhất Chủng; đây là hạng Nhập Lưu thứ nhất. Người hiểu chậm với các quyền yếu kém sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Gia Gia; đây là hạng Nhập Lưu thứ nhì. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Tối Đa Bảy Lần; đây là hạng Nhập Lưu thứ ba.

Ở đấy, sự kết nối ấy là: (hành giả) với các quyền yếu kém, trung bình, và vượt trội có thể chứng ngộ lãnh vực yếu kém, trung bình, và vượt trội, hoặc do sự dứt bỏ thân kiến, (hành giả) dứt bỏ các tà kiến. Đây là sự kết nối.

4. Ở đấy, nền tảng là gì? Ở đấy, thân kiến là nền tảng của tất cả tà kiến, hiện thân là nền tảng của danh và sắc, danh và sắc là nền tảng của thân kiến, năm quyền có sắc là nền tảng của sự luyến ái về sắc, sáu xứ là nền tảng của việc tạo thành ‘tôi.’

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Khi hai tà kiến được dứt bỏ, ở đấy 61 tà kiến đi đến sự dứt bỏ. Vị có sự luyến ái đã được xa lìa bên trên và bên dưới là vị có sự luyến ái đã được xa lìa ở tất cả mọi thứ đưa đến luyến ái. Ở lãnh vực khác sanh lên từ cái ấy, vị ấy nhìn thấy đúng theo thực thể (rằng): ‘Cái này là duyên.’ Vị ấy chạm đến toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh này? Các chúng sanh nào sẽ không thích thú, họ sẽ tinh tấn để dứt bỏ tà kiến. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Năm quyền yếu kém này là năm quyền thuộc hạ phần, chúng bứng lên toàn bộ tất cả tham đắm và oán hận nhờ vào tác động của sự tu tập, năng lực giải thoát của bậc Hữu Học không phải là tín. (Nếu các quyền là) thuộc thượng phần, tín là năng lực do tác động của quan điểm (kiến), tấn quyền là trạng thái đã được khởi sự, niệm quyền là trạng thái đã được nắm chặt, chúng đi đến mục đích tột cùng. Ở đấy, các quyền là Đạo, sự dứt bỏ phiền não là Diệt, pháp không sanh khởi ở vị lai là Khổ. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? Người nào nhận thấy: ‘Tôi là cái này,’ người ấy quả thật là ở lãnh vực thế tục với sự vượt trội, tuy nhiên không phải bằng sự thực hành thuộc bậc Thánh mà người ấy dứt bỏ thân kiến, là điều được nói về sự vượt trội ở lãnh vực đã được sanh ra từ điều ấy. Ở đấy, người ấy đạt được trạng thái vượt trội ở lãnh vực đã được sanh ra từ điều ấy với năm biểu hiện: với giới, với phận sự, với kiến thức rộng, với định, với lạc do việc xuất ly. Ở đấy, người có tưởng là đã đạt được trong khi còn chưa đạt được có sự ngã mạn thái quá. Chính ở việc khởi lên câu chuyện ấy, đức Thế Tôn nói về bài Kinh này: “Người có giới chỉ do phận sự.” Ở đấy, người nào có tưởng là đã đạt được trong khi còn chưa đạt được, định của người ấy là có liên quan vật chất, hơn nữa nó được tập luyện bởi người tầm thường; những người tầm thường được gọi là phàm nhân. Vật chất là thuộc về thế tục, không thuộc bậc Thánh, nhưng có liên quan đến Thánh đạo; vì thế, định là không thuộc bậc Thánh, được tập luyện bởi những người tầm thường. Hơn nữa, người nào không biết, không thấy đúng theo thực thể, theo kiểu cách bậc Thánh, người ấy dứt bỏ lối đi hướng thượng, là người bị lệch khỏi định thuộc bậc Thánh, không vật chất, được luyện tập bởi những vị không tầm thường; ở đấy, những vị không tầm thường được gọi là các Thánh nhân. Định được luyện tập bởi những vị này là định được luyện tập bởi những vị không tầm thường. Do đó, điều này: ‘tôi là cái này,’ ‘người đã không xem xét là người đi đến thế ấy,’ là nên được giải đáp sau khi phân tích.

9. Ở đấy, sự đảo ngược là gì? Ở lãnh vực của việc thấy này, các ô nhiễm sẽ được dứt bỏ, chúng quả thật được dứt bỏ. Dầu chưa được diễn giải bởi đức Thế Tôn, chúng cũng nên được diễn giải.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Cái nào thuộc về thân kiến thì thuộc về ngã kiến; đây là lãnh vực. Các ô nhiễm nào cần được dứt bỏ thì chúng chưa được dứt bỏ. Thường kiến, đoạn kiến, và kiến bị giới hạn ấy cũng chưa được diễn giải bởi đức Thế Tôn. Kiến không bị giới hạn là thường kiến. Đoạn kiến là vô hữu kiến. Thường kiến là vô hành kiến. Đây là từ đồng nghĩa.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tham ái được mô tả với sự mô tả về sự ràng buộc, Đạo được mô tả với sự mô tả về sự đạt được, các quyền được mô tả với sự mô tả về đạt được.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Hiện thân là Khổ. Nhân sanh khởi (Tập) được dứt bỏ do thấy, là Đạo. Và các quyền ấy được diễn giải ở uẩn, giới, xứ.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Kinh này được thuyết bởi đức Thế Tôn khởi đầu bởi chính điều nào thì điều khởi đầu ấy là được diễn giải.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Danh và sắc có nhân, cũng có duyên: thức là nhân, là hạt giống; vì thế, vô minh và các hành là duyên. Mọi hiện hữu theo cách thức khác sẽ không được đình chỉ, và điều nào là nhân của mọi hiện hữu, (điều ấy) là duyên của các vật sở hữu khác; (?) như thế do chánh kiến, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối là duyên. Tuệ nào làm cho sanh khởi, tuệ ấy là nhân của chánh kiến, là chánh tư duy, là chánh định. Đây là sự thiết yếu.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? (Thấy rằng): ‘Tôi là cái này,’ như thế không có sự nhận thấy là khổ, là cơn bệnh, –nt– (mười lăm thuật ngữ).

“Bạch Ngài, các giới có những mục đích gì, có những lợi ích gì? Này Ānanda, các giới có mục đích là không ăn năn” … cho đến … “sự giải thoát.”

Ở đấy, mục đích có hai loại: mục đích của con người và mục đích của lời nói.

Ở đấy, mục đích của con người là gì? Việc không bị cắn rứt về sau, đây là sự không ăn năn, đây là mục đích của con người. Giống như người nào đó phát triển, thân cận mục đích này, người ấy có thể nói rằng: ‘Bất cứ cái gì ở đây là thuộc về tôi, tôi khởi sự việc làm này vì mục đích cái ấy;’ đây là mục đích của con người.

Ở đấy, mục đích của lời nói là gì? Các giới là thiện hạnh thuộc thân và thuộc khẩu. Không ăn năn: Ở đấy, chính là phần sáng chói của giới và của phận sự, không phải cái khác, là trạng thái hành động đã được làm tốt, là thiện hạnh; đây là không ăn năn. Tương tự như vậy cho đến … ‘sự giải thoát’: Có hai mục đích ở mỗi một thuật ngữ: mục đích của con người và mục đích của lời nói. Giống như ở Kinh này, tương tự như vậy ở tất cả các Kinh, chỉ có hai mục đích: mục đích tuyệt đối và mục đích tối thượng.

Điều cần được tự mình chứng ngộ cho bản thân nương vào sự chứng ngộ Niết Bàn được gọi là ‘đã làm đối với việc cần phải làm.’ Đây cũng là từ đồng nghĩa. Hành giả nhận biết rõ mục đích được kết nối là có thể đạt được nhờ vào việc này,’ như thế là mục đích của lời nói. (!)

Ở đấy, mục đích nào mà vị Thinh Văn mong ước, việc đạt được mục đích ấy là mục đích của con người. Mỗi một pháp nào đức Thế Tôn chỉ bảo, mỗi một pháp ấy có thông tin về mục đích. Đây là mục đích (của lời nói).

Ở đấy, đối với các giới, sự không ăn năn là mục đích, cũng là sự lợi ích. Và sự lợi ích này là không đi đến khổ cảnh giống như điều (đã được thuyết) bởi đức Thế Tôn:

“Điều này là lợi ích khi pháp khéo được thực hành, người có sự thực hành pháp không đi đến khổ cảnh;” đây là mục đích (của lời nói).

Việc một người khởi đầu bằng các giới ở lãnh vực tu tập trở thành vị đã được gắn liền với giới, tương tự như vậy cho đến … ‘sự giải thoát.’ Giới uẩn là như thế ấy. (!)

Ở đấy, sự không ăn năn được diễn giải theo tác động của sự tiềm ẩn là giới; đây là giới uẩn. Và ‘sự hân hoan, hỷ, tịnh’ bởi định quyền; đây là định uẩn. Vị đã được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; đây là tuệ uẩn. Đây là ba uẩn: giới, định, và tuệ.

Vị làm viên mãn giới là như thế ấy: Nhờ nguyên nhân tấn quyền, vị ấy làm viên mãn giới, rồi ra sức về việc không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, về việc dứt bỏ (bất thiện) đã được sanh khởi, về việc sanh khởi của thiện chưa được sanh khởi, và về việc gia tăng của thiện đã được sanh khởi, tấn quyền được diễn giải như thế. Ở đấy, định uẩn là định quyền, tuệ uẩn là tuệ quyền. Điều ấy được thấy ở bốn chánh cần. Cũng vậy, vị ra sức về việc không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, đây là chánh cần thứ nhất. Việc (dứt bỏ bất thiện) đã được sanh khởi là thứ nhì. Bốn chánh cần có thể được thấy ở bốn thiền. Cũng vậy với giới uẩn, yếu tố xuất ly là đầu tiên.

Và ba sự suy tầm: suy tầm về xuất ly, suy tầm về không oán hận, và suy tầm về không hãm hại. Các trạng thái phổ biến của người được yêu mến là lạc thuộc thân được đem lại do sự hân hoan, là ‘không ổn định’ do sự yêu thương; đây là khổ. (?) Ở đấy, sự không tán loạn là định. Đây là sơ thiền với năm yếu tố.

Sự an tịnh thuộc tâm có tầm, có tứ là sự trở ngại. Ô nhiễm và bực bội được diệt tắt ở sơ thiền. Ở đấy, sự an tịnh của ô nhiễm và sự an tịnh của tầm và tứ, luôn cả hai pháp này cũng an tịnh. (!) Ở đấy, lạc là trạng thái an lạc của thân và của tâm, đây là sự an tịnh của người có hỷ lạc. Còn có trạng thái nhất điểm của tâm, với trạng thái nhất điểm ấy sự tịnh tín của tâm thuộc nội phần là chi thiền thứ tư. Như thế, sự tịnh tín thuộc nội phần và trạng thái nhất điểm của tâm, hỷ và lạc, đây là nhị thiền với bốn yếu tố.

(Hành giả) có thân được an tịnh thì cảm nhận lạc; sau khi lan tỏa với lạc (thuộc thân) vượt trội ấy, lạc thuộc tâm là sự luyến ái đã được xa lìa khỏi hỷ. Như vậy với trạng thái luyến ái đã được xa lìa khỏi hỷ của vị ấy, vị ấy đạt được hành xả; và do việc xa lìa luyến ái đối với hỷ, vị ấy đạt được hành xả, cảm thọ lạc, và đạt được niệm với sự nhận biết đúng đắn; nếu niệm có trạng thái chuyên nhất, đây là tam thiền với năm yếu tố.

Đối với vị có lạc, tâm được định; đây là sự phô diễn khác biệt của trạng thái chuyên nhất. Liên quan đến sự phô diễn ở sơ thiền, có trạng thái chuyên nhất của tâm, không có cảm thọ ở mắt, toàn bộ đi đến sự viên mãn ở tứ thiền như thế nào, thì hành xả, sự yên tịnh, niệm và sự nhận biết rõ, trạng thái chuyên nhất của tâm là như thế ấy; đây là tứ thiền.

Định có thể được thấy như thế nào, thì tuệ quyền có thể được nhìn thấy ở bốn Chân Lý Cao Thượng như thế ấy. Vị đã được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; sự nhận biết có bốn loại: là bất tịnh, là vô thường, là khổ não, và là vô ngã. Cái nào là đối tượng (cảnh của sự nhận biết), cái ấy là Khổ, là Chân Lý Cao Thượng. Trong khi nhận biết thì nhàm chán, được giải thoát; đây là Đạo. Cũng vậy, sự dứt bỏ dục lậu, hữu lậu, tà kiến lậu, vô minh lậu là Diệt. Các lậu hoặc ở lãnh vực chưa được dứt bỏ là Tập. Đây là bốn Chân Lý Cao Thượng. Giống như tuệ quyền có thể được nhìn thấy, giống như người này, đã được định tĩnh, thì nhận biết đúng theo thực thể; đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. ‘Trong khi nhận biết đúng theo thực thể thì nhàm chán,’ đây là sự luyến ái về dục và oán hận nhỏ nhoi và là quả vị Nhất Lai. Nhàm chán cái nào thì lìa khỏi luyến ái (đối với cái ấy), đây là lãnh vực tu tập sơ thiền. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả vị Bất Lai. Việc được gọi là giải thoát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh và là phẩm vị A-la-hán.

Và đây là các sự không ăn năn: tấn quyền và bốn chánh cần là các sự không có sự ăn năn, và tiếp theo điều ấy … cho đến … định; tương tự như vậy, bốn định ấy và định quyền là việc vị được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể. Bốn sự thiết lập niệm này liên quan đến việc làm viên mãn giới do được kết hợp với xả thí, và có tâm không bị khuấy động đối với các hiện tướng thấu triệt; niệm quyền này là bốn sự thiết lập niệm. Thêm nữa, với sự chỉ bảo này về Giáo Pháp, quyền nào có liên quan đến việc đi xuống theo tà kiến ở ba trường hợp và giới Hữu Học với sự dứt bỏ ô nhiễm, đây là tín quyền và bốn quả vị với các yếu tố của bậc Nhập Lưu. Các định quyền với các sự mang lại và đem đến nên được diễn giải ở tất cả các Kinh. Thiền với sự tiếp nhận được nắm lấy nhờ vào tinh tấn chính là trí của vị đang nhớ lại, đây là tuệ văn. Định với quang tướng không bị gián đoạn theo như ý muốn ở trạng thái cảnh giới không thấp thỏi, đây là tuệ tư. Việc vị được định tĩnh như thế ấy nhận biết đúng theo thực thể, đây là tuệ tu. Đây là sự diễn giải Kinh. Kinh này liên quan đến thấu triệt, quan trọng cho người thực hành giác ngộ, là cần được thấu hiểu. Kinh có được các yếu tố nào, những người sẽ giác ngộ (Kinh) ấy thì sẽ giác ngộ các yếu tố (ấy) của nó; vì thế là các yếu tố đưa đến giác ngộ (giác chi). Cũng vậy, từ ban đầu cho đến giới, phận sự, sự cố ý cần được thực hiện, tại sao (hành giả) làm viên mãn các giới? Nhằm không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, nhằm dứt bỏ bất thiện đã được sanh khởi, nhằm sanh khởi đối với thiện chưa được sanh khởi, và nhằm gia tăng đối với thiện đã được sanh khởi, đây là tinh tấn, là ‘yếu tố liên quan đến việc giác ngộ’ của mỗi một điều ấy; đây là tinh tấn giác chi. Với tinh tấn này, hai pháp đầu tiên là không ăn năn và hân hoan. Thêm nữa, hỷ nào do duyên không ăn năn, do duyên hân hoan; đây là hỷ giác chi. Đối với vị có hỷ ở ý, thân được yên tịnh; đây là tịnh giác chi. Vì thế, với lạc thuộc thân được đem lại, tâm của vị có lạc được định; đây là định giác chi. Việc vị được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; đây là trạch pháp giác chi. Trạng thái phù hợp do việc sanh khởi của năm giác chi có liên quan đến giới, việc tạo ra hiện tướng đồng hành với trạng thái không lơ là của các pháp liên quan đến hỷ và của các pháp liên quan đến thù thắng là con đường không phải mới mẻ; đây là niệm giác chi. Việc vị nhận biết đúng theo thực thể thực hành sự tinh tấn vượt mức của sự ra sức, (khi nhận biết) ‘lãnh vực phóng dật’ đã được thực hiện thì nhắc nhở lại điều đã ước nguyện; bị chê trách là ‘lãnh vực lười biếng,’ thì thông qua các yếu tố bị thiếu sót mà giác ngộ về phương thức vắng lặng của mắt là ‘hành xả.’ Vì thế, sự hành xả ấy, sau khi tạo ra ‘yếu tố thuộc về giác chi’ cho vị ấy, được gọi là ‘xả giác chi.’ Việc này là sự diễn giải Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, bốn Chân Lý Cao Thượng được chỉ bảo.

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới’ … cho đến … ‘sự giải thoát,’ với câu hỏi này, sau khi cân nhắc sẽ là ý nghĩa gì? (!) Hai đoạn kệ là câu hỏi, hai đoạn kệ là câu trả lời, với hai thuật ngữ là hai thắng trí, và cũng với hai thuật ngữ là câu trả lời. (Vị ấy) hỏi điều gì? (Hỏi) về lãnh vực của thân liên quan đến việc thấu triệt đối với nghiệp, bởi vì nền tảng làm sanh khởi các pháp thuộc về bậc Vô Học là như thế ấy.

3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,” phải chăng đối với người không có mong muốn thì có sự lìa khỏi luyến ái; đây là sự kết nối.

4. Ở đấy, nền tảng là gì? Tấn là nền tảng của tấn quyền. Định là nền tảng của định quyền. Tuệ là nền tảng của tuệ quyền. Tấn là nền tảng của vô sân. Định là nền tảng của vô tham. Tuệ là nền tảng của vô si. Tấn quyền là nền tảng của ba yếu tố của Đạo: của chánh ngữ, của chánh nghiệp, của chánh mạng. Định quyền là nền tảng của ba yếu tố của Đạo: của chánh tư duy, của chánh tinh tấn, của chánh định. Tuệ quyền là nền tảng của hai yếu tố của Đạo: của chánh niệm và của chánh kiến.

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Khi giới uẩn được nói đến, tất cả ba uẩn là được nói đến. Khi giới được nói đến, giới là nhân và là duyên của các pháp còn lại, tất cả các pháp ấy là được nói đến. Khi một pháp dự phần vào giác ngộ được nói đến, tất cả các pháp đưa đến giác ngộ là được nói đến.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người nào mong muốn sự không ăn năn, những người ấy là có sự làm cho đầy đủ về giới; những người mong muốn sự hân hoan, những người ấy có sự làm cho đầy đủ về không ăn năn. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. –nt– Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

7. Ở đấy, sự xoay vầnlà gì? Kinh này liên quan đến thấu triệt. Cái gì là sự thấu triệt, cái ấy là Diệt; nhàm chán nhờ vào cái gì, cái ấy là Đạo; diệt tận cái gì, cái ấy là Khổ; cái gì được dứt bỏ nhờ vào đạo lộ đưa đến thấu triệt, cái ấy là Tập. Đây là sự xoay vần.

8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới” là nên được giải đáp sau khi phân tích. ‘Đối với vị đang bám víu (vào giới và phận sự) thì không có sự không ăn năn’ … cho đến … ‘vị khởi sự việc bất thiện đã được làm do sân hận bằng thân hoặc bằng khẩu.’ Mặc dù bất cứ điều gì cũng có thể là như vậy, việc này đã được làm tốt, việc này là thiện hạnh, nhưng không phải do sự không ăn năn ấy mà hân hoan sanh ra cho người này … cho đến … sự giải thoát. ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới ấy’ là nên được giải đáp sau khi phân tích. Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.

9. Ở đấy, sự đảo ngượclà gì? Với bảy sự thành tựu này ở việc nâng đỡ, mười một sự nâng đỡ dứt bỏ các sự phạm tội. (?) Đây là sự đảo ngược.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Đối với các sự chứng đạt về lực, giác chi, giải thoát, định của các Thánh pháp này, đây là các từ đồng nghĩa.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,’ như thế là giới uẩn. Điều ấy được mô tả với sự mô tả về xuất ly và sự mô tả về xả bỏ; mười yếu tố được mô tả theo từng cặp hai yếu tố như vậy.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Kinh này liên quan đến thấu triệt, đã được liệt kê ở năm (quyền), giống như điều đã được diễn giải trước đây, các quyền, v.v… đã được diễn giải ở uẩn, giới, xứ là tương tự như vậy.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,” như thế sự khởi đầu chưa hẳn là rõ ràng; ‘sự hân hoan có cho vị không có sự ăn năn,’ như thế sự khởi đầu chưa hẳn là rõ ràng; khi nào mười một thuật ngữ được chỉ bảo, khi ấy sự khởi đầu là rõ ràng. Đây là sự làm rõ.

14. Ở đấy, sự xác định là gì? Giới được mô tả theo tính trạng khác biệt, tương tự như vậy đối với mười thuật ngữ.

15. Tất cả là lợi ích đối với giới uẩn, và những điều ấy có việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là duyên, có quyết định đúng đắn cho bản thân là nhân. Đối với định uẩn, lạc là nhân, an tịnh là duyên, và nhờ đó có sự đồng sanh với thiền, bởi vì sự ổn định là yếu tố của thiền. Một cách thức khác: trạng thái quan sát sự bất lợi ở các dục là duyên đối với định, trạng thái nhìn thấy sự lợi ích ở việc xuất ly là nhân.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Tấn quyền là giới uẩn, giới là bốn sự nỗ lực đúng đắn, sự thực hành đúng pháp và thuận pháp là sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha.

Câu kệ là: “Tâm của người nào giống như tảng đá, …”:

Giống như tảng đá: như thế là ví dụ. Giống như tảng đá không rung động bởi gió, không bởi nóng, không bởi lạnh mà run rẩy; giống như nhiều vật không có tâm thức khô héo bởi nóng, co quắp bởi lạnh, tơi tả bởi gió, tảng đá không là như vậy. Giống như tảng đá sẽ không hành động đối với tất cả đối thủ, tương tự như vậy tâm ấy “không rung động bởi tất cả ô nhiễm,” đây là vô si; “không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái,” đây là vô tham; “không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức,” đây là vô sân.

Ở đấy, tuệ là thiện căn vô si, vô tham chính là vô tham, vô sân chính là vô sân. Với ba thiện căn này, vị đứng ở lãnh vực Hữu Học làm sanh khởi đạo lộ Vô Học. Sau khi vượt qua hẳn lãnh vực Hữu Học, (vị ấy) làm sanh khởi các pháp (Thánh Đạo tám chi phần), chánh giải thoát ấy, và tri kiến về vị của giải thoát; đây là mười pháp của các bậc Vô Học, của các bậc A-la-hán.

Ở đấy, với Đạo tám chi phần, sự tu tập gồm bốn loại cũng được đạt đến: sự tu tập về giới, sự tu tập về thân, sự tu tập về tâm, và sự tu tập về tuệ. Ở đấy, thân được tu tập với chánh nghiệp và với chánh mạng, giới được tu tập với chánh ngữ và với chánh tinh tấn, tâm được tu tập với chánh tư duy và với chánh định, tuệ được tu tập với chánh kiến và với chánh niệm. Với sự tu tập gồm bốn loại này, hai pháp đi đến sự viên mãn do tu tập là: tâm và tuệ, với sự tu tập về tâm là chỉ tịnh, với sự tu tập về tuệ là minh sát.

Ở đấy, “với sự dứt bỏ vô minh do tuệ, tâm được làm trở nên không còn bị trộn lẫn với các cận phiền não.” Với sự tu tập về tuệ, (vị ấy) làm viên mãn sự tu tập về tâm. “Tâm của người nào khéo được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Vả lại, hơn nữa, bản thể không oán hận của vị đại đức ấy là đã được khẳng định, (Dạ xoa) ấy thậm chí không đạt được điều ấy nên (đã) giáng cho vị ấy cái gọi là cú đánh; ở cơ thể được gọi là không suy tầm thì khổ không được cảm thọ. Đây là ý nghĩa của bài Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, mười pháp về phẩm vị A-la-hán của bậc Vô Học đã được chỉ bảo và sự tu tập về định là không thể đo lường.

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Trạng thái ví như tảng đá: Bất cứ các pháp nào sẽ được cảm thọ đưa đến lạc và khổ, tất cả các pháp ấy là đã được tách rời đối với các vị quan sát chỉ mỗi phi sắc pháp; điều thiết yếu cho việc cảm thọ từ thân là không được vận hành, khổ không được cảm thọ.

3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?”

4. Tâm không phải chịu đựng khổ ở ba sự tu tập: ở sự tu tập về tâm, ở sự tu tập về Diệt, và ở sự tu tập về định không bị gián đoạn. Như thế, “tâm của người nào được tu tập như vậy”: định là nền tảng đưa đến Quả vị.

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy”: các tâm được tu tập giống như đã được diễn giải trước đây là: tuệ, giới, thân, tâm. Giới cũng được khéo tu tập, và có trạng thái vững chãi thuộc thân, thuộc tâm, không rung động, luôn cả thọ, tưởng, và các hành cũng vậy. “Do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?”: luôn cả lạc cũng không đi theo sau, không khổ không lạc cũng không đi đến. (!)

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những ai sẽ vượt lên khổ đau, họ sẽ sống với các sự thể nhập có hình thức như thế. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Và những ai chưa tịnh tín, chính họ sẽ trở nên (tịnh tín). Hỷ và hân hoan sẽ có cho những vị đã được tịnh tín; ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn.

7. Sự xoay vần: Không có lãnh vực cho sự xoay vần.

8. Sự phân tích: “Tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Sự diễn giải có hai loại: sự diễn giải về nhân của khổ và sự diễn giải về phần đối nghịch. Nhân ấy của khổ là gì? Từ nơi nào khổ đi đến. Và sự diễn giải về phần đối nghịch: “Do đâu khổ đau sẽ không đến với người thuộc hạng như vậy?” là điều đã được diễn giải.

9. Sự đảo ngược: “Do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Như thế, lạc thuộc tâm không có ở Vô Dư (Niết Bàn), có ở Hữu Dư (Niết Bàn). Vả lại, các vị đã nói như vầy: “Thời điểm ấy, giây phút ấy, luôn cả hai trường hợp Hữu Dư và Vô Dư đều không được cảm thọ; thời điểm ấy, giây phút ấy, Vô Dư và Hữu Dư là không được cảm thọ. Lạc không vận hành đối với vị đã đạt đến (Diệt thọ tưởng định).” Ở đây, điều này là sự đảo ngược đặc biệt.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Tâm của vị nào đã được tu tập như vậy: đã được tu tập, đã khéo được tu tập, đã được thiết lập, đã được tạo thành nền móng, đã được khởi đầu tốt đẹp. Tâm: ý, thức, ý quyền, ý thức giới.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tâm được mô tả với sự mô tả về sự vắng lặng của các ý hành, định được mô tả với sự mô tả về bậc Vô Học, khổ được mô tả với sự mô tả về việc đã được cắt lìa.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Khi tâm được diễn giải, năm uẩn là được diễn giải; đây là sự liệt kê về các uẩn. Khi ý thức giới được diễn giải, mười tám giới là được diễn giải; đây là sự liệt kê về các giới. Khi ý xứ được diễn giải, tất cả các xứ là được diễn giải. Ở đấy, ý xứ là nền tảng của danh và sắc, do duyên của danh và sắc, sáu xứ (sanh khởi), … cũng vậy ở sự tùy thuận sanh khởi. Đây là sự liệt kê.

13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu là rõ ràng thật sự.

14. Ở đấy, sự xác định là gì? Sự tu tập sáu quyền được mô tả theo tính trạng đồng nhất; do việc đã được tồn tại của sáu (quyền), thân được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Nhân đi trước cho việc sanh khởi của tâm là tác ý và trạng thái xuôi theo điều ấy; còn ở lãnh vực chưa được định, do trạng thái chưa được phát triển của các pháp đặc biệt, tâm di chuyển một cách liên tục. Nếu lạc là nhân của định, sự không ăn năn là duyên, thì nhân này duyên này là sự thiết yếu.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy,” như thế các pháp của vị ấy là nên được xếp loại: ‘Thân, giới, tuệ, tâm đã được tu tập’ là không được thích thú, không bị thiên lệch, không phải một, không thiếu hụt, không bị dính mắc sau khi đạt tới, đây là lãnh vực của đời sống Sa-môn, không phải là chánh định thuộc về vị Hữu Học ấy; tất cả mười pháp thuộc về Vô Học của các bậc A-la-hán là đã được diễn giải.

Các Kinh Liên Quan Đến Bậc Vô Học.

“Bạch Ngài, đương nhiên đối với vị nào mà niệm hướng đến thân trên thân là không được thiết lập, ở đây, vị ấy sau khi va chạm vào vị đồng phạm hạnh, lại không xin lỗi, rồi ra đi du hành.”

Vị đại đức ấy, ở đây, phủ nhận hai sự việc phát sanh và khẳng định sự dứt bỏ tà kiến ở sự tu tập về tâm, sự dứt bỏ tà kiến ở sự tu tập về thân, sự dứt bỏ tham ái ở sự tu tập về thân; vị ấy làm ví dụ thứ nhất rằng: “Đất không bị quấy rầy bởi vật dơ cũng như bởi vật sạch, không nhờm gớm, không tiếp nhận sự vui vẻ hay hân hoan, thật sự tương tự y như vậy, giống như đất, tôi đây sống với tâm ý bao la, vô lượng, không thù nghịch, không oán hận.”

Như thế, vị đại đức ấy khẳng định điều gì? Vị ấy khẳng định sự dứt bỏ lạc quyền nhờ vào sự tu tập về thân, khẳng định sự dứt bỏ hỷ quyền nhờ vào sự tu tập về tâm; (vị ấy) từ khước lạc quyền –các cảm thọ thuộc thân của các pháp đi theo luyến ái tiềm ẩn– nhưng không (từ khước) thọ uẩn. Cảm thọ lạc thuộc tâm, ở đấy, sanh lên do duyên thọ nhận; vị ấy từ khước lạc, hỷ tâm ấy, nhưng không (từ khước) cảm thọ sanh lên do ý xúc. Ở đấy, vị ấy nói về sự dứt bỏ ưa chuộng và bất bình đối với sắc uẩn ở bốn yếu tố chính, về các dục, về sắc, và về điều ấy ở lãnh vực của bậc Vô Học.

Việc quan sát thân trên thân, việc an trú lạc ở ngay chính bản thân này, mọi dứt bỏ đối với các trạng thái tác ý nhờ vào năng lực và nhờ vào sự gắng sức, sự quán xét vật được hình thành do mẹ và cha của thân này thông qua (hai ví dụ) này: với (ví dụ về) hũ mỡ và với (ví dụ về) người đàn ông có tánh thích trang điểm, thông qua thân và nhờ vào sự quan sát thân, thông qua tâm và nhờ vào sự quan sát tâm, vị ấy nắm giữ hai pháp: thân là nền tảng của ô nhiễm và các sự nương tựa hoàn toàn vào tâm bằng tâm. Với tâm đã khéo được tu tập, vị ấy khẳng định đã được an trú đối với bảy sự thể nhập.

Và ở ví dụ về con trai người gia chủ, giống như cái rương đầy các xấp vải với nhiều màu sắc khác nhau của con trai người gia chủ, cậu ấy mong muốn cặp vải nào vào buổi sáng thì lấy mặc vào buổi sáng, như vậy vào buổi trưa, vào buổi tối; tương tự y như vậy, vị đại đức ấy, do trạng thái đã khéo được tu tập của tâm, mong muốn an trú vào buổi sáng với sự an trú có hình thức như thế nào, thì an trú vào buổi sáng với hình thức như thế ấy, vào buổi trưa, vào buổi tối. Thông qua ví dụ đã được chính vị đại đức ấy nói cho tôi, sự tu tập vô thượng về quyền ở (đề mục) đất là với tâm đã được tu tập. Qua đó, vị đại đức ấy khẳng định sự tu tập này có tám loại: sự tu tập về thân ở bốn yếu tố chính và sự tu tập về tâm ở (các ví dụ về) con trâu, người hạ tiện, người đàn ông, và hũ mỡ; với các sự tu tập này và với sự tu tập ấy, chỉ tịnh tiến đến sự đầy đủ; với bốn việc này (bốn sự tu tập sau), tuệ tiến đến sự đầy đủ. (!)

Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống (sinh hoạt) như thế nào? Thân theo lẽ tự nhiên là không đáng ghét. Tưởng về tử thi đã trương sình ở thân, một cách tóm tắt có chín tưởng, đây là các pháp đáng ghét. Và vị đại đức ấy, không bị nhờm gớm với vật đáng ghét, sống gắn bó vào việc đeo đuổi sự tham thiền với niệm hướng đến thân, bởi vì tâm của vị ấy không chán ghét với trạng thái nhờm gớm.

Vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như thế nào? Thân là không đáng ghét đối với tất cả thế gian. Vị đại đức ấy sống với tưởng bất tịnh về thân; vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như vậy.

Vị có tưởng không chán ghét ở (các pháp) đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Cũng vậy, vị này, đối với tất cả thế gian, là vị cạo tóc, tay cầm bình bát, đi khất thực ở các ngôi nhà. Vị ấy có tưởng không chán ghét với thân có làn da đẹp hay làn da xấu và có tưởng không chán ghét với tâm đồng hành với sự nhàm chán. (!) Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy.

Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như thế nào? Ở các pháp không đáng ghét là đối với vị có tưởng về cái đẹp ở hình dáng phụ nữ, ở (các pháp) đáng ghét là đối với vị có sự nhờm gớm ở trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng (của tử thi); ở đấy vị đại đức có tưởng không chán ghét ấy sống.

Sau khi tránh né cả hai điều ấy, ở các pháp đáng ghét (và không đáng ghét), vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như thế nào? Ở các pháp không đáng ghét là đối với vị có tưởng về cái đẹp ở hình dáng phụ nữ, ở (các pháp) đáng ghét là đối với vị có sự nhờm gớm ở trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng (của tử thi), sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị ấy sống (nghĩ rằng): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.” Sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như vậy.

Một cách thức khác: Tưởng không chán ghét của tất cả các phàm nhân ngu si ở cuộc sống thế gian ở Tam Giới. Và ở đấy, đại đức Sāriputta sống, có tưởng chán ghét. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như thế nào? Tất cả các vị Hữu Học có tưởng chán ghét, ở đây là ở tất cả thế gian trong Tam Giới. Ở đấy, vị đã đạt đến lãnh vực đã được làm xong, đã chứng ngộ các kết quả của định, sống có tưởng không chán ghét. Điều gì là lý do? Bởi vì vị ấy không cần làm sanh khởi tưởng chán ghét nhằm dứt bỏ cái thế gian không còn hiện hữu nữa. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Ở cuộc sống thế gian trong Tam Giới cho đến lãnh vực Dục giới, (?) có trạng thái đồng đều trong việc chán ghét đối với các luyến ái, đối với các luyến ái đã được xa lìa, có trạng thái đồng đều trong việc không chán ghét sắc và vô sắc giới. Và ở đấy, đại đức Sāriputta sống, có tưởng chán ghét. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Bất cứ điều gì thuộc về lối nói đã được vụng nói từ người khác, không được hoan nghênh, lời nói ấy là không đáng ghét cho đến các lời nói không thích hợp; tưởng không chán ghét của con người là như thế ấy. Ở đấy, đại đức Sāriputta đã được chứng ngộ với thắng trí sống có tưởng không chán ghét. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Sau khi tránh né cả hai điều ấy, ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét, vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như thế nào? Trong số đó, điều mà (phàm nhân) nhận thấy là: “Các pháp nào là uế hạnh, các pháp ấy là không đáng ghét.” Ở đấy, đại đức Sāriputta suy xét rằng: “Các pháp nào là uế hạnh, các pháp ấy có quả thành tựu không được ước muốn; các pháp nào là thiện hạnh, chúng đưa đến sự tích lũy.” Và sau khi đã thực hành thiện hạnh đưa đến sự tích lũy, sau khi đã thực hành uế hạnh có quả thành tựu không được ước muốn, sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị ấy sống, có sự hành xả. Và vị sống, có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét. Tham ái là pháp đáng ghét; điều gì là lý do? Bởi vì do tác động của tham ái, các chúng sanh bị dính mắc với hai pháp: bị dính mắc ở đoàn thực do tham ái về vị nếm, bị dính mắc ở xúc bởi lạc tưởng. Ở đấy, đại đức Sāriputta sống có tưởng chán ghét ở đoàn thực, sống có tưởng khổ não ở xúc. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét (và ở các pháp không đáng ghét) sống như thế nào? Sự diệt trừ tham ái là Niết Bàn vô thượng, cũng vậy, đối với phàm nhân ngu si là tưởng chán ghét và tưởng bị hành hạ. Ở đấy, đối với đại đức Sāriputta là tưởng không chán ghét và tưởng không oán hận sau khi tự thân nhìn thấy bằng tuệ. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như vậy.

Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Và ở phần thứ ba là những vị có tưởng chán ghét về Niết Bàn và những vị có tưởng không chán ghét với tiếng tăm và danh thơm. Ở đấy, đại đức Sāriputta, trong khi khẳng định sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra bằng chánh tuệ đúng theo thực thể, sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghét và không đáng ghét ấy, sống có tưởng không chán ghét.

Sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghét và không đáng ghét ấy, vị hành xả, sống có niệm và sự nhận biết rõ, như thế nào? Điều vị ấy nhận thấy rằng: sự ưa chuộng là pháp không chán ghét và sự bất bình là pháp chán ghét; ở đấy, đại đức Sāriputta, do trạng thái đã dứt bỏ sự ưa chuộng và bất bình, có sự hành xả, là vị sống có niệm và sự nhận biết rõ. Và điều nhận thấy ở vị này là năm loại tu tập vô thượng về quyền. Đây là sự diễn giải Kinh.

1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảolà gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Ở đấy, được nói rằng: Ở Kinh này, việc an trú lạc ở ngay chính bản thân này được chỉ bảo; cũng vậy, tâm được giải thoát và sự quán xét, (là) pháp thắng tuệ được chỉ bảo. (!)

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Những vị nào sống có sự quan sát thân trên thân, tâm của các vị ấy không sống với sự ưa chuộng và bất bình, và tâm của vị không thích thú ở sự ưa chuộng và bất bình sẽ đi đến đúng đắn; điều này là kết quả của sự tu tập. Đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu.

3. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự kết nối là gì? “Với sự tu tập về thân và với sự tu tập về tâm thì sẽ không xem thường các vị đồng phạm hạnh về bất cứ điều gì,” có sự kết nối ấy. Đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối.

4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Sự tu tập về thân là nền tảng của sự thiết lập niệm thứ nhất. Trạng thái tâm bình đẳng như đất là nền tảng của việc quan sát vô thường

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Vị có sự quan sát về tự ngã sống với tâm bình đẳng như đất, vị tại gia sống một cách bình đẳng như đất. “Một cách bình đẳng như đất” có ý nghĩa gì? Giống như các vị là được liên hệ với việc không bị rung động ở ví dụ về tảng đá, tương tự y như thế, vị này bình đẳng như đất do trạng thái hổ thẹn (về thân xác này). Đây là tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở thể văn veyyākaraṇa này, điều gì là chủ tâm của vị đại đức ấy? “Bất cứ những vị A- la-hán nào mong muốn sự tu tập về các quyền, các vị ấy sẽ làm sanh khởi sự bình đẳng như đất.” Đây là sự chủ tâm.

7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Không có lãnh vực cho sự xoay vần.

8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Vị nào sống có sự quan sát thân, vị ấy sẽ đạt được tâm có sự bình đẳng như đất,” không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Những vị nào làm hành động có sự bể vỡ, … bị bỏ dở, …, những vị ấy không đạt được tâm có sự bình đẳng như đất. Mọi niệm hướng đến thân đưa đến sự tu tập của vị Hữu Học, có Niết Bàn là kết quả. Đây là sự phân tích.

9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? Những vị nào sẽ sống có sự quan sát thân, đối với chính các vị ấy, do duyên thân, các lậu hoặc có sự hủy hoại và bực bội có thể sanh lên. Đây là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Và ở các chúng sanh, năm uẩn là không vượt qua 22 quyền; cũng vậy, cái nào là ý quyền, cái ấy là ý giới và ý xứ; cái nào là định quyền, cái ấy là pháp giới và pháp xứ. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Bốn việc nào cần được tu tập bằng ý, tất cả (bốn việc) ấy đều đã được tu tập. Việc cần được đạt đến ở sự dứt bỏ bằng ý và sự khởi đầu cho mục đích của việc ấy trong mọi trường hợp, mục đích ấy là rõ ràng. Đây là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.

14. Ở đấy, sự xác định là gì? Định này được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Sáu nhóm được mô tả theo tính trạng đồng nhất: Năm quyền có sắc là sắc thân, sáu nhóm về thọ là thọ thân, sáu nhóm về tưởng là tưởng thân, sáu nhóm về tư là tư thân, sáu nhóm về thức là thức thân, tất cả các pháp này đi đến sự định danh chính là ‘pháp thân.’ Đây là sự xác định.

15. Sự thiết yếu: Thiện xảo về thể nhập và thiện xảo về lộ trình là nhân. Thiện xảo về hành xứ và thiện xảo về trạng thái sẵn sàng là duyên. Thiện xảo về thanh lọc là nhân, thiện xảo về trạng thái sẵn sàng là duyên. Lạc là nhân, không oán hận là duyên. Đây là sự thiết yếu.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Giống như đất vẫn y như thế khi (có người) ném xuống vật sạch, cũng như khi (có người) ném xuống vật dơ, tương tự như vậy, thân vẫn y như thế với các xúc vừa ý cũng như với các xúc không vừa ý, tâm vẫn y như thế với xúc bất bình hoặc với thọ lạc. Kinh này với ví dụ được phân tích theo cách phân tích cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn (người hiểu nhanh). Ở đấy, không có thuận tiện cho sự xếp loại.

Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não là gì? Và khi một người không lớn mạnh, (!) không tăng trưởng với các thiện pháp, đức Thế Tôn chỉ bảo về sự bất lợi này rằng: “‘Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy,’do đó, từ sự bất lợi nên mở ra.” Người ấy không bị tổn hại nhờ vào ba pháp ấy: Nhờ vào tưởng bất tịnh mà không bị tổn hại bởi luyến ái, nhờ vào từ tâm mà không bị tổn hại bởi sân hận, nhờ vào minh sát mà không bị tổn hại bởi si mê. Như vậy, mỗi một pháp nào là phần đối nghịch (đối với pháp bất thiện) thì sẽ làm viên mãn ở mỗi một pháp ấy. Pháp bất thiện nào là phần đối nghịch đối với pháp ấy thì bị chế ngự bởi pháp (thiện) ấy.

Một cách thức khác: Các pháp nào mà sự thoát ra bởi bản thân là không có khả năng, các pháp ấy được chỉ bảo rằng: ‘Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy.’ Trong khi suy tầm với các pháp ấy, nhờ thế lại có thể làm cho rõ ràng, làm cho tinh khiết tâm đã được chỉ bảo của vị đã uốn cong theo sự viễn ly, đã chiều theo sự viễn ly, đã xuôi theo sự viễn ly, (nhờ thế, vị ấy) đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh ở các thiện pháp. Cũng giống như sen xanh hoặc sen hồng hoặc sen trắng ở trong nước, mặt trăng ở giai đoạn thượng huyền đi đến vào ban đêm, vào ban ngày, chính sự phát triển của nó là được mong đợi, không phải là sự khuyết dần; theo cách thức như vậy, tâm ấy không bị tổn hại.

Cũng có một cách thức khác nữa: Ở đây, người nào không lừa gạt, không gian lận, không xảo trá, ngay thẳng thì thể hiện rõ bản thân đúng theo bản thể. Ở đấy, người nào che giấu thì các pháp bất thiện làm hư hỏng tâm của người ấy. ‘Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra’: hơn nữa, người nào không lừa gạt, không gian lận, không xảo trá, ngay thẳng, thể hiện rõ bản thân đúng theo bản thể, thì tâm của người ấy không bị hư hỏng bởi các pháp bất thiện. Đây là ý nghĩa của Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở đây, mười đường lối hành động bất thiện được chỉ bảo về tình trạng mưa nhiều, mười đường lối hành động thiện được chỉ bảo về tình trạng mưa không nhiều. Bởi các bất thiện mà một người không trở thành trong sạch, giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, do ô nhiễm của tâm, các chúng sanh bị ô nhiễm.”

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Điều nào có thể là điểm nổi bật của vị đã được giác ngộ, là vị có tâm không bị hư hỏng như vậy, điều ấy có ở bậc Đạo Sư với tính chất không bị gián đoạn, hoặc với trạng thái bi mẫn ở phẩm chất (?). Đây là sự tìm hiểu.

3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Tâm trong khi không bị hư hỏng thì vươn lên, khi được vươn lên thì thiết lập ở các pháp thiện;” có sự kết nối ấy.

4. Nền tảng: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: che giấu là nền tảng của những người không thu thúc (về giới); “mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: không che giấu là (nền tảng) của những người thu thúc; “vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: là nền tảng của việc thú tội.

5. Tướng trạng: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: Bất cứ những pháp nào có chung tướng trạng với việc che giấu theo nhiều cách, tất cả các pháp ấy bị hư hỏng. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Bất cứ những pháp nào có chung tướng trạng với việc không che giấu ấy, tất cả các pháp ấy không bị hư hỏng. (!) Như thế là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Bất cứ những vị nào có tâm, có các pháp bất thiện được thú nhận, những vị ấy sẽ sửa đổi đúng theo Pháp;’ ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

7. Sự xoay vần: Điều che giấu là có hai loại: kẻ đang rung động có thể bị mê mờ, đối với các vị có định không bị gián đoạn. Ở đấy, ngã mạn làm tăng trưởng các lậu hoặc ở người không có đức tin (!); và do việc không có đức tin, đi đến sự xao lãng; kẻ bị tác động bởi xao lãng đi đến bản chất huyên náo. Bởi vì điều này đã được nói đến bởi đức Thế Tôn: “Đối với những kẻ huyên náo, bị xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng.” Bốn điều ấy là các chấp thủ. Những cái nào là bốn chấp thủ, những cái ấy là năm thủ uẩn. Đây là (hai) Chân Lý: Khổ và Tập. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy”: Do nhân nào các lậu hoặc tăng trưởng, do trạng thái đã được dứt bỏ của chúng, các lậu hoặc được dứt bỏ. Ở đấy, do không xao lãng mà việc không có đức tin được dứt bỏ; do việc dứt bỏ phóng dật và hối hận có trạng thái thô thiển, hai pháp chỉ tịnh và tu tập của vị ấy đi đến sự viên mãn. Sự diệt trừ của các lậu hoặc ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là sự xoay vần.

8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Sự dừng lại có thể xảy ra đối với người nào đó cũng giống như đối với các vị Hữu Học. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Ngay cả khi vị ấy tạo nên bất cứ nghiệp gì ác xấu, bằng thân, bằng khẩu, hoặc bằng ý, vị ấy không thể nào che giấu điều ấy, tính chất không thể của vị chứng đạt Niết Bàn đã được nói đến.” Mặc dầu tâm cũng có sự che lấp đối với chúng, tuy nhiên do không có điều kiện và chúng có thể được diễn giải vào thời điểm (thích hợp). Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.

9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: các pháp nào của người nào mà không được mở ra toàn bộ thì bị mưa rơi nhiều. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Mưa không rơi nhiều ở vật không được đậy lại. Đây là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.

10. Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa là gì? Được che lấp: là được bao bọc, được bao trùm, được che lại, được đậy kín, được che phủ, được ngăn chặn. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: các pháp ấy của người nào là được loại ra, được dời đi (!), không được chấp nhận, được làm cho chấm dứt. Đây là cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa.

11. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự mô tả là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: được mô tả liên quan đến ô nhiễm. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Phận sự đối với Chánh Pháp được mô tả với sự mô tả về lối thực hành. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy”: được mô tả với sự mô tả về sự giáo huấn. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: được mô tả với sự mô tả về việc quăng bỏ. Đây là cách truyền đạt bằng sự mô tả.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: Ba ô nhiễm là: luyến ái, sân hận, si mê; khi chúng được che đậy là hành uẩn –nt– Chúng giống như đã được diễn giải trước đây ở uẩn, giới, xứ. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.

13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Ngài nói Kinh này với sự khởi đầu nào thì sự khởi đầu ấy là được gắn liền.

14. Sự xác định: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Điều gì là lý do? Bởi vì ‘mưa rơi nhiều ở vật này, mưa rơi nhiều đối với người này, và mưa rơi nhiều như vậy,’ đây là tính trạng khác biệt. Việc được mô tả theo các tướng trạng phổ biến về phẩm chất là sự mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Có hai nhân, hai duyên cho việc mưa rơi nhiều ở vật ấy: sự phát khởi bất thiện và sự thích thú của người tạo ra lời nói là hai nhân; việc tác ý không đúng đường lối và sự buông thả về các thiện pháp là hai duyên (!).

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: ‘(vị ấy) nhận thấy một cách nhầm lẫn’ nhằm giữ kín về điều che giấu, nhằm không thú tội về việc ít nghe, về việc có sự nghi hoặc bởi bất thiện căn không còn hiện diện, và về việc ‘do tham ái mà các lỗi lầm ấy tăng trưởng (!);’ như thế sau khi nhận biết do kém khả năng, các hành ấy (sanh khởi); do duyên các hành, thức (sanh khởi); ... Đây là sự xếp loại. Thêm nữa, với việc thú tội như thế ấy, các thiện pháp của chính vị ấy đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Do sự diệt tận các hành của vị ấy, … Đây là sự xếp loại.

“Bốn hạng người làbóng tối có sự tiến đến bóng tối …” –nt–. Ở đấy, cái gì được gọi là bóng tối? Bóng tối là sự tối tăm, giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Giống như sự tối tăm, ở sự kinh hoàng ấy, con người không nhìn thấy chính mình, tương tự y như vậy, từ sự không biết là có bóng tối, thêm nữa là sự tối tăm, là điều xấu xa với hành động và với quả thành tựu, là không có đức tin. Như thế, trạng thái về tướng trạng như vậy là sự không biết, sự tối tăm, vô minh, si mê, vì thế các chúng sanh không nhận biết đúng theo thực thể; như thế được gọi là bóng tối.”

Bóng tối ấy là đối với ba con mắt: đối với nhục nhãn, đối với Thiên nhãn, đối với tuệ nhãn; đối với các con mắt này, ở đây bóng tối được diễn giải là ‘sự không biết.’

Ở đấy, cái gì là sự không biết, là sự không thấy? Liên quan đến chỗ nương tựa là sự không biết về điểm khởi đầu, sự không biết về điểm kết thúc, sự không biết về điểm khởi đầu và điểm kết thúc, sự không biết về nhân, sự không biết về duyên; đối với người có sự không biết ấy, đối với người có hiện tượng định, điều này là hệ quả: (Người ấy) không biết rằng: ‘Điều này nên phục vụ, điều này không nên tác ý,’ vì thế người ấy bị diễn giải theo bóng tối ấy; giống như bóng tối cũng được gọi là ‘bị lầm lạc,’ ý định (cũng được gọi) là tương tự như vậy. Do bóng tối ấy, người ấy được gọi là ‘bóng tối;’ người ấy, do bóng tối ấy chưa được bứng lên, chưa được cắt lìa, (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh, người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối.’ Chính sự tiến đến là pháp cần được tác ý, bóng tối thiêu đốt, thiết lập tâm hiểu biết, và các pháp ấy phù hợp cho việc suy đoán của bóng tối. Vị ấy nhận thấy bằng tuệ văn.

Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng? Vị ấy sinh hoạt do tác động của tuệ (văn) ấy; như vậy chính vị đang sinh hoạt ấy có sự tiến đến (ánh sáng). Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’

Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng? Ở đấy, cái có tên ánh sáng được gọi là: các pháp nào thuộc phần đối nghịch của chính bóng tối ấy, luôn cả ánh sáng trí tuệ; người có pháp đã được nghe ấy là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng. Ở đấy, người này đây được gọi là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng; nếu vị ấy đạt được bạn tốt có hình thức như thế là người ngăn cản vị ấy lánh xa việc bất thiện, khích lệ (vị ấy) có được trạng thái tốt lành đã được tu tập.

Và còn chỉ bảo Chánh Pháp như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên giao thiệp, các pháp này là không nên giao thiệp, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Được chín muồi với tưởng, niệm quyền nhận biết như thế nào, thì vị ấy nhận biết như vậy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên tu tập, các pháp này là không nên tu tập, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Vị ấy mong muốn lắng nghe các pháp ấy, lóng tai nghe, thiết lập tâm hiểu biết, và các pháp ấy phù hợp cho việc suy đoán của người này, vị ấy có được tuệ văn, nhờ vậy, vị ấy sinh hoạt do tác động của duyên, trong khi sinh hoạt như vậy, vị ấy (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’ Ở đấy, người nào là ánh sáng có sự tiến đến bóng tối? Cái có tên ánh sáng là các pháp nào thuộc phần đối nghịch của chính bóng tối ấy, luôn cả ánh sáng trí tuệ; vị ấy có pháp đã được nghe. Về người đang nhận biết thì được gọi là gì? Được gọi là ‘vị sáng suốt.’ Vị ấy nhận biết như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên tu tập, các pháp này là không nên tu tập, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Tuy nhiên, ở đây, với việc thân cận bạn ác, với việc hùa theo tác động của bạn ác, vị ấy làm tăng trưởng các pháp bất thiện, dứt bỏ các pháp thiện. Vị ấy, do sự xao lãng ấy, không tác ý đến sự nhận biết về duyên và thân cận với việc không có niệm, không nhận biết rõ. Do đó, vị ấy làm gia tăng phần đối nghịch bóng tối. Vị ấy, bị ngự trị bởi bóng tối, có sự tiến đến bóng tối, và còn trở nên cực đoan về bóng tối. Người này được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.’

Ở đấy, người nào là ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng? Ở đấy, người này đây được gọi là người đã nương theo bạn tốt, có thể là người chí cốt, là người tìm kiếm điều tốt. Vị ấy đến gần các bạn tốt học hỏi, chất vấn: “Cái gì là thiện, cái gì là bất thiện? Cái gì là có tội, cái gì là không có tội? Cái gì là nên phục vụ, cái gì là không nên phục vụ? Cái gì là nên tu tập, cái gì là không nên tu tập? Cái gì là nên đạt đến và an trú, cái gì là không nên đạt đến và an trú? Cái gì là nên tác ý, cái gì là không nên tác ý? Thế nào là phiền não? Thế nào là sự thanh lọc? Thế nào là sự vận hành? Thế nào là sự đình chỉ? Thế nào là bị trói buộc? Thế nào là sự giải thoát? Thế nào là sự sanh lên của hiện thân? Thế nào là sự diệt tận của hiện thân?”

Vị ấy, ở đây, trong khi thực hành theo điều đã được chỉ bảo, đã được thiết lập, vị ấy nhận biết như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, –nt– Như vậy là sự sanh lên của hiện thân. Như vậy là sự diệt tận của hiện thân.” (Nên được thực hiện với chi tiết.) Vị ấy mong mỏi các pháp ấy, như vậy làm tăng trưởng ưu điểm, trí, minh, ánh sáng. Người ấy (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng.’

Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến bóng tối? Là người giảng giải về pháp bất thiện, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới thấp kém do việc tu tập điều ấy, là người có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối.’

Ở đấy, người là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng giúp cho thấy quả thành tựu của nghiệp bất thiện bởi bóng tối. Người ấy đạt được nhãn quan, do tác động của bạn tốt, dứt bỏ các pháp bất thiện, tăng trưởng các pháp thiện.

Ở đấy, người giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới cao quý, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’

Ở đấy, người là ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy quả thành tựu của nghiệp thiện (quá khứ), và do việc gần gũi với bạn ác, do việc phục vụ bạn ác, có sự hùa theo bạn ác, tăng trưởng pháp bất thiện. Người ấy, do việc tu tập điều ấy, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới thấp kém, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.’

Ở đấy, người là ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng, với chừng ấy bản thể của ánh sáng, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới cao quý, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng.’ Ánh sáng, do sự tiến đến bóng tối, giúp cho thấy sự trỗi dậy của mười pháp bất thiện. Với người là bóng tối giúp cho thấy quả thành tựu của các nghiệp bất thiện, không giúp cho thấy quả thành tựu của các pháp thiện (!). Với bóng tối, giúp cho thấy tám tính chất sai trái. Với ánh sáng, giúp cho thấy tám tính chất đúng đắn. Với ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy tám đường lối hành động bất thiện. Với ánh sáng giúp cho thấy tính chất cao quý. Với bóng tối có sự tiến đến ánh sáng giúp cho thấy pháp không đem lại sự ân hận. Với ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy pháp đem lại sự ân hận. Đây là ý nghĩa của Kinh.

1. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Ở đấy, được nói rằng: Ở Kinh này, các pháp thiện và bất thiện là được chỉ bảo. Quả thành tựu của các pháp thiện và bất thiện là được chỉ bảo. Sự kiện khác biệt về cảnh giới tái sanh của các chúng sanh thấp kém và cao quý là được chỉ bảo. Đây là cách truyền đạt bằngsự chỉ bảo.

2-3. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? Người nào kinh qua quả thành tựu của nghiệp bất thiện, ở đấy, được tồn tại, nắm giữ các pháp bất thiện, (người ấy) trong lúc tìm hiểu thì được kết nối với điều ấy. Người nào kinh qua quả thành tựu của nghiệp thiện, ở đấy, được tồn tại, nắm giữ các pháp thiện, (người ấy) trong lúc tìm hiểu thì được kết nối với điều ấy. Đây là sự tìm hiểu và kết nối.

4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Hạng người ‘ánh sáng’ (giúp cho thấy) nền tảng của việc quán xét. Hạng người ‘bóng tối’ đã bị nắm lấy bởi bóng tối giúp cho thấy nền tảng của việc quan sát sự huân tập (!). Với (hạng người là) ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng’ giúp cho thấy nền tảng của sự không xao lãng. ‘Bóng tối’ giúp cho thấy nền tảng của vô minh và tà kiến. Với (hạng người là) ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối’ giúp cho thấy nền tảng của sự xao lãng và của tà kiến. Đây là nền tảng.

5. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtướng trạng là gì? Với (hạng người) ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối,’ khi vô minh được diễn giải, tất cả các pháp ô nhiễm là được diễn giải. Với (hạng người) ‘ánh sáng (!) có sự tiến đến ánh sáng,’ khi minh được diễn giải, tất cả các pháp dự phần vào giác ngộ là được diễn giải. Với (hạng người) ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối,’ sự xao lãng là được diễn giải. Với (hạng người) ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng,’ sự không xao lãng là được diễn giải. Đây là cách truyền đạt bằngtướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Các chúng sanh nào thuộc dòng dõi thấp kém, những người ấy, sau khi nghe Kinh này, sẽ không thọ trì và thực hành các pháp thiện. Các chúng sanh nào thuộc dòng dõi cao quý, những người ấy, sau khi nghe sự chỉ bảo về pháp này, sẽ thọ trì và thực hành các pháp thiện nhiều hơn nữa.” Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận, là sự khuyên bảo về lãnh vực. (!)

7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Tham ái, sự phát khởi từ vô minh, là Tập. Bóng tối có sự tiến đến bóng tối là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Nhờ vào Kinh, nhờ vào pháp nào mà ánh sáng được nhận biết, pháp ấy là nền tảng của tuệ quyền. Do sự không si mê ấy, ba thiện căn đi đến sự viên mãn, (điều này) là nền tảng của cõi Trời.

8-9. Ở đấy, sự phân tích là gì? ‘Bóng tối có sự tiến đến bóng tối,’ không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Có sự hiện hữu là bóng tối nhưng ở trạng thái sanh lên là với hạng người ánh sáng do thiện (nghiệp) được cảm thọ ở đời sống kế tiếp. Có sự hiện hữu là ánh sáng nhưng ở trạng thái sanh lên là với hạng người bóng tối do bất thiện (nghiệp) được cảm thọ ở đời sống kế tiếp. Từ sự đảo ngược, ‘phần đối nghịch’ liên quan đến các (hạng người) bóng tối là (hạng người) ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? (Hạng người) bóng tối thực hành như vậy đưa đến sự bất hạnh cho bản thân, do không có đức tin người ấy là ngu dốt, không thiện xảo, thiếu kinh nghiệm, không nhìn thấy sự bất lợi. (Hạng người) ánh sáng thực hành đưa đến sự lợi ích cho bản thân, sáng trí, thiện xảo, có kinh nghiệm, nhìn thấy sự bất lợi. Đây là từ đồng nghĩa.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Hạng người (bóng tối) được mô tả với sự mô tả về quả thành tựu, [được mô tả (với sự mô tả) về trạng thái bị khống chế ở bất thiện]. (Hạng người) ánh sáng được mô tả với sự mô tả về sự sanh lên do pháp thiện và với sự mô tả về quả thành tựu của pháp thiện.

12. Sự liệt kê: Do duyên vô minh, các hành, … lão tử (sanh lên), và vô minh là nền tảng. Với sự diễn giải, do sự sanh lên của minh, có sự diệt tận của vô minh, … cho đến … có sự diệt tận của lão tử. Hai pháp này được gộp vào hành uẩn. Pháp giới và pháp xứ là nền tảng với sự diễn giải về các giới.

13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của Kinh này đã được chỉ bảo là (rõ ràng).

14. Sự xác định: Đức Thế Tôn đã nói về ‘bóng tối,’ Ngài chỉ bảo không riêng về một hạng người, mà là cảnh giới tái sanh của các chúng sanh. Ở đấy, những kẻ nào đã được sanh lên do pháp uế hạnh, Ngài diễn giải những kẻ ấy là bóng tối theo số nhiều. Ánh sáng là sự sanh lên do pháp thiện ở tất cả chúng sanh, và Ngài thuyết về mọi trường hợp ấy là ‘ánh sáng.’ Tính chất đồng nhất này là duyên, là sự mô tả theo sự tác ý đúng đường lối đối với bốn hạng người theo các yếu tố chính.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với bất thiện, việc có bạn ác là duyên, tác ý không đúng đường lối là nhân. Đối với thiện, việc có bạn tốt là duyên, tác ý đúng đường lối là nhân.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Ở đây, một người nào đó bị sanh ra ở gia tộc thấp kém,” bị hạ sanh ở gia tộc thấp kém, ở các sắc, ở các thinh, ở các hương, ở các vị, ở các xúc (thấp kém), người ấy không được tái sanh ở nơi có mọi sự thọ dụng và hưởng thụ của loài người. (Hạng người) ánh sáng được tái sanh ở các gia tộc cao quý, được sanh ra ở nơi có mọi sự thọ dụng và hưởng thụ của loài người.

Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt là gì? Câu kệ là: “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc ấy là không chắc chắn ...” Bởi lý do nào sự trói buộc ấy là không chắc chắn? Bởi bốn lý do: có thể thoát ra nhờ vào uy quyền, hoặc nhờ tài sản, hoặc nhờ người khác, hoặc nhờ sự cầu xin, hoặc nhờ sự nâng đỡ. Và sự mong muốn, sự luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ là sự trói buộc về tâm của người này. Điều ấy là không thể thoát ra nhờ vào uy quyền, hoặc nhờ tài sản, hoặc nhờ người khác, hoặc nhờ sự cầu xin, hoặc nhờ sự nâng đỡ, và ở đấy không có người nào là sự bảo chứng (để cầu cứu): “Hãy giúp cho thoát khỏi sự trói buộc bởi điều này,” (!) dầu là Thiên nhân hay nhân loại, tức là sự trói buộc bởi sự tiềm ẩn của luyến ái trói buộc (!) vào sáu ngoại xứ: Tham ái về sắc trói buộc vào các sắc … cho đến … tham ái về pháp (trói buộc) vào các pháp. Người nào ở đời này bị trói buộc được dẫn dắt đi ở đời khác (cũng) bị trói buộc, người ấy sanh ra bị trói buộc, chết đi bị trói buộc, từ đời này đi đến đời khác bị trói buộc, không có thể thoát ra ngoại trừ nhờ vào Thánh Pháp. Sau khi biết được sự trói buộc này, sự hiện hữu của cái chết, và sự hiện hữu của việc tái sanh là nỗi sợ hãi, (người ấy) dứt bỏ sự mong muốn và luyến ái. Sau khi dứt bỏ sự mong muốn và luyến ái này, vị ấy vượt qua đời này và từ đây đi đến đời khác. Ở đấy, sự dứt bỏ các hành khỏi sự trói buộc được gọi là sự tinh tấn ở cả hai trường hợp: bị bao trùm bởi hương thơm, bậc hiền trí tốt lành không bị vấy bẩn; cũng y như thế ấy, ở các vật sở hữu, ở những người con trai, và ở những người vợ thì “mũi tên đã được nhổ lên” giúp cho thấy sự dứt bỏ đối với chính tham ái ấy. Nhờ vào sự dứt bỏ gốc rễ của tham ái, vị này “du hành không xao lãng;” sự ham muốn xảy ra bởi vì xao lãng, với sự dứt bỏ (xao lãng), vị thích thú việc xuất ly, có sự an trú ở việc không xao lãng.― ―Với sự dứt bỏ chỗ trú của (xao lãng) ấy, vị này không mong ước đời này, không mong ước đời khác, không mong mỏi cái gì có vẻ đáng yêu, có vẻ vừa lòng phụ thuộc vào đời này, cũng không mong mỏi cái gì có vẻ đáng yêu, có vẻ vừa lòng phụ thuộc vào đời khác. Vì thế, được nói rằng: “(Vị ấy)không mong ước đời này và đời khác.”

Sự dứt bỏ của vị ấy là sự cắt đứt được diễn giải bởi bậc Hiền Trí ở các Phẩm Nhóm Tám. Sự chống đối ấy ở đây, sự không mong ước ở các Phẩm Nhóm Tám ở đây là không giống nhau; cũng vậy, tham ái này đối với vật dục, đối với vật sở hữu của người ấy, tất cả các dục (ham muốn) ấy được trình bày ở một câu kệ. Vì thế, đức Thế Tôn chỉ bảo rằng:

“Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ tất cả các dục.”

Đối với câu kệ này, sự diễn giải là theo hai cách: diễn giải bằng cách kết hợp và diễn giải theo trường hợp. Giống như câu kệ này là liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt, tương tự như vậy, câu trả lời cho câu kệ ấy là liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt. Giống như câu kệ này, Kinh được diễn giải ở tất cả các câu kệ hoặc ở các thể veyyākaraṇa là tương tự như vậy.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Kinh này được chỉ bảo với chủ tâm gì? Các chúng sanh nào có tánh luyến ái, chúng sẽ dứt bỏ các dục. Ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn.

2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Các ô nhiễm liên quan đến mười nền tảng là đã được vượt qua, đã được ói ra, đã được nhận biết. Mười loại nào? Các ô nhiễm dục và các sự ràng buộc thuộc hạ phần và thuộc thượng phần là các xứ liên quan đến mười nền tảng. Đây là sự tìm hiểu.

3. Ở đấy, sự kết nối là gì? Những người nào bị luyến ái, những người ấy bị trói buộc bởi sự trói buộc chắc chắn; có sự kết nối ấy.

4. Ở đấy, nền tảng là gì? Người “bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma- ni” là nền tảng của việc tạo thành ‘của tôi.’ “Sự mong cầu” là nền tảng của sự luyến ái đối với sự việc quá khứ. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này” là nền tảng của sự tu tập.

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Người nào có tâm bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, bị dính liền vào việc tạo thành ‘tôi,’ bị dính liền vào việc tạo thành ‘của tôi,’ người ấy bị luyến ái ở con và vợ, bị luyến ái ở ruộng vườn. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người nào sẽ có sự mong muốn với Niết Bàn, những người ấy sẽ dứt bỏ tham ái ở những người con và vợ; ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Tham ái ở những người con và vợ là Tập. Các thủ uẩn và sự bám víu vào các sắc bên ngoài là Khổ. Ở đấy, cái nào sẽ bị cắt đứt, cái này là Diệt. Bị phá vỡ nhờ vào cái nào, cái này là Đạo. Đây là bốn Chân Lý.

8. Sự phân tích: Không có lãnh vực cho sự phân tích.

9. Sự đảo ngược: Phần đối nghịch đã được diễn giải.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Từ đồng nghĩa đã được diễn giải.

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Có tham ái, một chúng sanh bị đi xuống; do duyên ấy có thức … cho đến … lão tử. Ở đấy, thọ là vô minh; do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh … cho đến … sự diệt tận của lão tử.

13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của câu kệ là rõ ràng.

14. Ở đấy, sự xác định là gì? “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là không chắc chắn” được mô tả theo tính trạng đồng nhất, không theo tính trạng khác biệt. “Có bốn sự luyến ái: sự luyến ái về dục, sự luyến ái về sắc, sự luyến ái về hữu, sự luyến ái về tà kiến” được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với những người có sự luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, việc ấy có tịnh tưởng là nhân và sự nắm giữ hình tướng theo chi tiết là duyên. Ở việc chúng bị cắt đứt, việc ấy có bất tịnh tưởng là nhân, việc xua đi sự nắm giữ hình tướng và sự nắm giữ chi tiết là duyên.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Người bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni” là hạng người bị mê muội và còn xấu xa nữa. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này, các vị xuất gia”: điều ấy là được dứt bỏ với ý nghĩa đã được biết toàn diện, với ý nghĩa đã được xa lánh. Đây là sự xếp loại.

“Suy tính về điều gì, xếp đặt điều gì, tiềm ẩn điều gì” là duyên theo nghĩa rộng; hoặc là nghiệp nào thuộc tâm, thuộc thân, và thuộc khẩu. Bởi lý do gì? Bởi vì sự suy tính thuộc tâm được gọi là ‘ý nghiệp,’ hành động của sự suy tính là thuộc tâm, còn cái này là thuộc thân và thuộc khẩu; đây là ba nghiệp đã được diễn giải.

Các nghiệp thân và nghiệp khẩu thiện mà một người khởi sự bằng thân và bằng khẩu rồi bám víu; điều này được gọi là sự bám víu vào giới và phận sự.

Suy tư là các sự tạo tác (các hành) gồm ba loại: có yếu tố phước thiện, có yếu tố phi phước thiện, có yếu tố bất động; do duyên suy tư, thức đối với chúng là có trạng thái bất hoại về đối tượng, đưa đến sự tồn tại của thức.

Tịnh tưởng, lạc tưởng, và ngã tưởng là thuộc về tâm. Việc thức tiến đến sắc rồi tồn tại, có sắc là đối tượng, được thiết lập ở sắc, có sự rải rắc bởi hỷ, đi đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh, việc này là suy tư. Như thế, sự chấp thủ do tác động của đối tượng ở sự sanh lên đầu tiên được tồn tại ở các tính chất bền vững của thức được gọi là ‘thuộc về tâm.’

Ở đấy, sự đeo đuổi, sự bám chặt đối với vô sắc đã được trú vững cũng là đã bị rung động. Sự quan tâm ở các sắc hợp ý, ở các sắc đáng yêu và ở các sắc vừa lòng, là thuộc về tâm.

Suy tính về điều gì ở các vật hợp ý đã bị dính mắc là sự trói buộc của thân vào tham đắm, ở các tiềm ẩn về bất bình là sự trói buộc của thân vào oán hận. Tất cả bốn sự trói buộc (là như vậy). Đây là sự tiếp xúc đầu tiên của tâm ở năm loại dục. Đối với người nào có sự suy tính, có sự quan sát về điều hứng thú ở đấy (ở năm loại dục), thì có nhiều ác bất thiện pháp là những phận sự vô hình của tâm (khởi lên ở người ấy). Người có trạng thái bị trói chặt bởi luyến ái với các ô nhiễm dục ấy thì sẽ hành động theo sự ham muốn; đây được gọi là sự xếp đặt ở các dục. Tất cả bốn dòng lũ là như vậy.

Việc một người sống, được gắn liền, được phát triển, và được gần gũi với các dục ấy; đây là sự suy tính. Cũng vậy, đối với người chưa xa lìa luyến ái và chưa thoát khỏi sự yêu thương, do trạng thái biến hoại và đổi khác, sầu-bi- khổ-ưu-não sanh lên cho người ấy. Thức là được xoay quanh khổ, sự sanh lên của pháp diệt đối với điều đã được ghi nhớ chiếm giữ tâm. Điều này được gọi là ‘được xếp đặt.’ Như vậy, (vị ấy) suy tính và xếp đặt cho sự tồn tại của một thức. (?) Và sự tồn tại ấy có hai loại: sự tồn tại của đối tượng và sự tồn tại của yếu tố nuôi dưỡng. Ở đấy, sự tồn tại của đối tượng là duyên cho danh sắc; sự tồn tại của yếu tố nuôi dưỡng, sự tồn tại liên quan đến việc hạ sanh của sự hiện hữu lại nữa, và sự tồn tại liên quan đến tái sanh được gọi là đối tượng. Đối tượng ấy hiện diện, đưa đến sự tồn tại của thức; do duyên thức đối với điều ấy, danh sắc (sanh khởi) … cho đến … lão tử (sanh khởi), và (vị ấy) suy tính. (?)

Và rồi (vị ấy) lại còn ước nguyện về sự việc tương lai nhưng không liên quan đến tái sanh, phần đối nghịch này đã được diễn giải; “không suy tính, không ước nguyện và rồi làm cho hư hỏng,” như thế là hai cách diễn giải. Điều được suy tính ấy, điều được xếp đặt ấy của người này trước đây là chưa bị bứng lên; do duyên của điều ấy, đây là sự tồn tại của thức.

Hoặc là, các trạng thái tiềm ẩn của vị ấy trở nên rõ ràng; do duyên của điều ấy, sự hiện hữu lần nữa được sanh ra cho vị ấy. Hoặc là, (vị ấy) bị nghi ngờ về điều ấy hoặc được chỉ định về gia đình. (?) Vị ấy hoặc là mảnh mai hoặc là an tịnh, không bị nghi ngờ về các dục; như vậy (vị ấy) bị sanh ra ở các gia đình thấp kém (?) Điều ấy dẫn đến việc không sắp đặt; như vậy các hành đã được suy tính và đã được xếp đặt là các trạng thái của đối tượng. (?) Sự suy tính với sự xếp đặt, và nền tảng đã được sanh ra, cả hai điều này là đối tượng của thức; cũng vậy, do sự suy tính, do sự suy tư, và do ước nguyện, các chúng sanh đã được hiện hữu suy tính và suy tư. Các hạng đang tầm cầu sự hình thành không suy tính và không suy tư. (?) Và các chúng sanh đã được hiện hữu là các hạng nào? Các hạng đã được sanh ra mỏng manh, luôn cả các hạng noãn sanh. Các hạng noãn sanh được vỡ ra (từ trứng), các hạng thấp sanh thì không tự vỡ ra; đây là các hạng đã được hiện hữu (sinh linh). Các hạng đang tầm cầu sự hình thành là gì? Các hạng đi đến thai sanh, đi đến noãn sanh, trong khi luân hồi các hạng này không suy tính, không ước nguyện, không suy tư, và sự hiện hữu lần nữa được sanh ra do trạng thái tiềm ẩn.

Các hạng đã được hiện hữu là bị dính mắc, các hạng đang tầm cầu sự hình thành là không di động. Các hạng bị dính mắc suy tính, ước nguyện; còn các hạng không di động thì không suy tính, không ước nguyện, không suy tư, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn.

Một cách thức khác: Các Thánh nhân Hữu Học, ở đấy các vị ấy không suy tính và không suy tư, vẫn còn sanh lên do trạng thái tiềm ẩn.

Một cách thức khác: Các sanh mạng mảnh mai ở đất liền, ở trong nước, không đi vào phạm vi (nhìn) của mắt, chúng không suy tính, không suy tư, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn.

Một cách thức khác: Các vị ngoại đạo, tất cả các vị tỳ khưu ngã mạn thái quá, các vị ấy không suy tính, không ước nguyện, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn. Các vị không suy tính, không sắp xếp, và không tiềm ẩn, thậm chí đối tượng ấy cũng không hiện diện để đưa đến sự tồn tại của thức.

Và không suy tính: giúp cho thấy việc thủ tiêu sự thâm nhập. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy việc thủ tiêu sự tiềm ẩn. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ các ô nhiễm thô thiển. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ các ô nhiễm vi tế. Và không suy tính: với điều này (?) là lãnh vực.Và không ước nguyện: là vị Bất Lai, vị Nhất Lai. Và không tiềm ẩn: là vị A-la- hán. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của giới uẩn. Và không ước nguyện: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của định uẩn. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của tuệ uẩn. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ các phi phúc hành. [Và không ước nguyện: giúp cho thấy sự dứt bỏ các phúc hành.] Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ các bất động hành. Và không suy tính: là vị tri quyền.Và không ước nguyện: là dĩ tri quyền. Và không tiềm ẩn: là cụ tri quyền. Và không suy tính: là sự tu tập quyền bị yếu kém. Và không ước nguyện: là sự tu tập quyền một cách trung bình. Và không tiềm ẩn: là sự tu tập quyền được vượt trội. Đây là ý nghĩa của Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở đây, bốn Chân Lý được diễn giải ở Kinh. 2-3. Điều đã được suy tính và điều đã được xếp đặt: Có đối tượng ấy, tâm được thành lập, tìm hiểu, và được kết nối. ‘Không suy tính’ và ‘không ước nguyện’: ‘Có đối tượng ấy ở trạng thái tiềm ẩn, có thức,’ như thế (tâm) tìm hiểu và được kết nối. Không suy tính và không ước nguyện: Do sự dứt bỏ trạng thái tiềm ẩn, không tìm kiếm sự tồn tại của thức, trong lúc tìm hiểu thì được kết nối. Đây là sự tìm hiểu và sự kết nối.

4. Ở đấy, nền tảng là gì? Việc thâm nhập vào sự suy tính (trước đó) là nền tảng của việc thâm nhập vào sự suy tính (kế tiếp). Sự suy tư là nền tảng của chấp thủ. Trạng thái tiềm ẩn là nền tảng của sự thâm nhập. Sự tu tập nhằm loại bỏ mong muốn và luyến ái đối với chúng là sự dứt bỏ đối với sự luyến ái về hữu (hữu ái).

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Điều được suy tính: là được cảm thọ, được xếp đặt, được nắm lấy, được nhận thức; cái ấy là thức, cũng là đối tượng, cũng là duyên.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? “Những người nào không ước muốn sự hiện hữu lần nữa, những người ấy sẽ không suy tính và sẽ không ước nguyện;” đây là chủ tâm.

7. Sự xoay vần: Sự suy tính, sự ước nguyện, trạng thái tiềm ẩn, và sự dứt bỏ việc tồn tại của thức là hai Chân Lý (Tập và Đạo).

8. Sự phân tích: Không có lãnh vực cho sự phân tích.

9. Sự đảo ngược: Hơn nữa, Kinh là có phần đối nghịch.

10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Sự suy tính: sự suy tính về sắc, … cho đến … sự suy tính về pháp. Trạng thái tiềm ẩn: chúng là bảy trạng thái tiềm ẩn.

11. Sự mô tả: Sự suy tính được mô tả với sự mô tả về thâm nhập. Sự suy tư được mô tả với sự mô tả về chấp thủ. Trạng thái tiềm ẩn được mô tả với sự mô tả về nhân. Sự tồn tại của thức được mô tả với sự mô tả về nhân của sự tái sanh. Sự suy tính, sự suy tư, trạng thái tiềm ẩn, sự đoạn trừ được mô tả với sự mô tả về việc loại bỏ mong muốn và luyến ái. Với hai sự vận hành đầu là sự tùy thuận sanh khởi và sự mô tả phần giữa về tính chất duyên ấy. (?)

12. Sự liệt kê: Với hai sự vận hành là Khổ và Tập, với các sự (vận hành) ở giữa là Đạo và Diệt.

13. Sự làm rõ: Sự khởi đầu của Kinh ở Kinh là (rõ ràng).

14. Sự xác định: Điều được suy tính, tất cả là được mô tả theo tính trạng đồng nhất với sự xác định. Được suy tư: được mô tả theo tính trạng đồng nhất với sự chấp thủ. Thức được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Sự thiết yếu: Đối tượng đẹp, tác ý đúng đường lối, sự suy tính là duyên với tính chất nhân duyên. Sự thiết lập của thức, (cảnh) pháp, là duyên với tính chất cảnh duyên. Tác ý đối với vật ấy là duyên với tính chất nhân duyên.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Kinh này được nhận biết; (?) ở đấy, (vị ấy) suy tính là ‘câu trả lời’ nên được diễn giải. Theo quan điểm ấy, do duyên thức, danh sắc (sanh khởi) … cho đến … lão tử. Đây là sự xếp loại.

Đối tượng này không hiện diện để đưa đến sự tồn tại của thức. Do sự diệt tận của thức, có sự diệt tận của danh sắc. Do sự diệt tận của danh sắc … cho đến … sự diệt tận của lão tử.

Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào? “Thế gian này bị đốt nóng” … cho đến … “Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu” là liên quan đến phiền não. “Bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành,” tuy nhiên, “hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu,” đây là sự thấu triệt. “Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, … bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu” là liên quan đến bậc Vô Học.

Ở đấy, ‘đã sanh lên sự đốt nóng’: ‘Sự đốt nóng sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê’ giúp cho thấy vị thế của các chúng sanh ấy. ‘Thế gian bị đốt nóng’: Xúc có ba loại: đưa đến thọ lạc, đưa đến thọ khổ, đưa đến thọ không khổ không lạc. Ở đấy, xúc đưa đến thọ lạc là sự đốt nóng của luyến ái, xúc đưa đến thọ khổ là sự đốt nóng của sân hận, xúc đưa đến thọ không khổ không lạc là sự đốt nóng của si mê. Và giống như đức Thế Tôn đã nói với Hatthaka Ālavaka ở Gomagga: “Con trai người gia chủ ngủ khổ sở bởi các sự đốt nóng sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê, các sự đốt nóng ấy không có đối với Ta.”

“Nói rằng bệnh là tự ngã”: Người bị đốt nóng bởi các sự đốt nóng ấy tiếp nhận điều trái khuấy gồm ba loại: điều trái khuấy do tưởng, điều trái khuấy do tâm, điều trái khuấy do kiến. Ở đấy, điều trái khuấy do tưởng (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, điều trái khuấy do tâm (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, điều trái khuấy do kiến (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, ‘ngã’ ở vô ngã.

Giống như điều trái khuấy của tâm, tưởng và kiến (là tương tự), chúng là ba loại suy tầm: suy tầm của tâm là điều trái khuấy, suy tầm của tưởng là điều trái khuấy, suy tầm của kiến cũng là điều trái khuấy. Ở đấy, vô minh là sự trái khuấy, là hành xứ, là lãnh vực nổi trội. Thật vậy, nhận biết điều ấy như thế nào, nhận thức như thế nào, nhận biết và nhận thức như thế nào, suy tính sự chấp nhận như thế nào, đây là bốn điều trái khuấy. Bởi các điều này, chúng sanh nói bốn loại nền tảng của bản ngã, trạng thái bệnh tật, trạng thái mụt nhọt là ‘ngã.’ “Nói rằng bệnh là tự ngã,” đây là sự xoay vần.

“Dầu nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy”: Nghĩ là ‘tịnh’ nhưng nó không là như thế; ‘lạc,’ ‘thường, ngã’ là tương tự như vậy. Theo một cách khác, người ấy đang là hữu (hiện tại), lại ước nguyện đến hữu vị lai. Vì thế, được gọi là ‘sự luyến ái về hữu.’ “(Người ấy) thỏa thích chính hữu ấy. Thỏa thích cái nào, cái ấy là khổ”: (đoạn văn này) diễn giải về năm uẩn như thế. Và do duyên của việc ấy, sầu-bi-khổ sẽ hình thành cho chính người ấy. Phiền não là chừng ấy. Hơn nữa, nhằm mục đích dứt bỏ mà Phạm hạnh này được sống. Việc loại bỏ mong muốn và luyến ái là đối với ba sự đốt nóng.

“Bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành”: Những người nào thỏa thích hữu, điều ấy là nỗi sợ hãi; người nào bị sợ hãi, điều ấy là khổ; Ngài đã nói về sự dứt bỏ của khổ ấy (rằng): “Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.”

Ngài đã nói về bốn điều trái khuấy giống như (bốn) chấp thủ đã được diễn giải. Ở đấy, điều trái khuấy thứ nhất là sự chấp thủ về dục, thứ nhì là sự chấp thủ về tà kiến, thứ ba là sự chấp thủ về giới và phận sự, thứ tư là sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Có sự cạn kiệt của chúng, thì không có sự hình thành của khổ, Ngài đã nói về sự diệt tận của khổ do sự dứt bỏ mầm tái sanh.

“Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh, hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu”: là bàn luận về lãnh vực của việc thấy. “Do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, … Niết Bàn”: là thuyết giảng về hai sự giải thoát: sự xa lìa luyến ái và sự xa lìa vô minh. “Đối với vị tỳ khưu (đã được tịch diệt) ấy”: là bàn luận về Niết Bàn giới không còn dư sót. Đây là sự diễn giải về ý nghĩa của Kinh.

2-3. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Đối với người nào có sự bực bội, trong khi người ấy bị bực bội, người ấy (thấy) không có gì đúng theo thực thể và nhàm chán. Đây là sự tìm hiểu và sự kết nối.

4. Nền tảng: Sự bực bội sanh ra do luyến ái là nền tảng của lạc quyền và của hỷ quyền. Sự bực bội sanh ra do sân hận là nền tảng của khổ quyền và của ưu quyền. Sự bực bội sanh ra do si mê là nền tảng của xả quyền và của ưu quyền.

5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Người bị quấy nhiễu bởi xúc, bị quấy nhiễu bởi thọ, bị quấy nhiễu bởi tưởng, bị quấy nhiễu bởi các hành, suy nghĩ theo cách này cách khác, –dầu bởi hiện tướng tịnh, dầu bởi hiện tướng lạc, dầu bởi hiện tướng thường, dầu bởi hiện tướng ngã,– rồi nghĩ là: ‘tịnh’ ở bất tịnh, … toàn bộ là tương tự như vậy. Khi sự bực bội sanh ra do luyến ái được nói đến, bốn sự bực bội được nói đến: sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê, sanh ra do tà kiến. “Ta nói rằng luyến áilà tự ngã,” Ngài nói như thế. Tất cả là mười lăm thuật ngữ: “Vô thường, khổ, …”

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? Những người nào do bực bội mà không ước muốn, những người ấy không thỏa thích sự hiện hữu. Những người nào không thỏa thích sự hiện hữu, những người ấy viên tịch Niết Bàn. Đây là chủ tâm.

7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Diễn giải Khổ và Tập với phần liên quan đến ô nhiễm, Đạo và Diệt với phần liên quan đến thấu triệt.

8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: đã sanh ra bệnh tật. (!) ‘Nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã’: điều ấy không hẳn là như thế, người bị sanh lên sự đốt nóng, do không tác ý, không nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã.

9. Ở đấy, sự đảo ngượclà gì? Lãnh vực với sự đảo ngược nhằm mục đích chỉ ra phần thuận và phần đối nghịch. (!)

10. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtừ đồng nghĩa là gì? Nói rằng bệnh là tự ngã, nói rằng bệnh là mũi tên. Tất cả mười lăm thuật ngữ nên được đề cập.

11. Ở đấy, sự mô tả là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: là nền tảng của ưu phiền, (đoạn Kinh) mô tả tất cả với sự mô tả về ngôn ngữ. ‘Nói rằng bệnh là tự ngã’: mô tả sự trái khuấy (!) với sự mô tả về ô nhiễm. “Thỏa thích cái nào –nt–cái ấy là khổ”: được mô tả với sự mô tả về việc quăng bỏ các sự trái khuấy. Các thế gian còn chưa bị dính mắc được mô tả theo tính trạng khác biệt bởi phần giữa. (?)

12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: là ba gốc rễ của bất thiện; các hành ấy được gộp vào hành uẩn, là pháp giới ở các giới, là pháp xứ ở các xứ, là nền tảng nữ quyền và nam quyền ở các quyền,.

13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của câu kệ là rõ ràng.

14. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xác địnhlà gì? ‘Sự bực bội’: Các thế gian bị dính mắc được mô tả theo tính trạng đồng nhất, các thế gian còn chưa bị dính mắc được mô tả theo tính trạng khác biệt bởi phần giữa. (?)

15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: tác ý không đúng đường lối là nhân và sự trái khuấy là duyên. Ở đấy, tự ngã bị chấp chặt vào hai pháp (tâm và sở hữu tâm), trong khi người ấy đang bám víu vào cả hai pháp tâm và sở hữu tâm một cách sai lệch.

Một cách thức khác: Ngã tưởng thủ tiêu vô ngã tưởng bởi các pháp thuộc tâm. Một cách thức khác: Vô thường tưởng là ở các pháp thuộc tâm, nhưng không phải là ngã tưởng. Cái này được gọi là ‘tâm,’ hoặc là ‘ý,’ hoặc là ‘thức,’ hoặc là, cái này đã được tiêm nhiễm một thời gian dài: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ Ở đấy, việc quan sát các pháp là thuộc tâm, việc này cũng là pháp tưởng. Đối với việc ấy, cái gì là nhân, cái gì là duyên? Việc tạo thành ‘tôi’ là nhân, việc tạo thành ‘của tôi’ là duyên.

16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Thế gian này bị đốt nóng”: bàn luận về bất thiện, ‘thức là duyên cho danh sắc … cho đến … lão tử.’ Đây là sự xếp loại.

“Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh”: là sự dứt bỏ đối với các gốc rễ của bất thiện. Ở đấy, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh … cho đến … có sự diệt tận của lão tử. Đây là sự xếp loại.

“Có bốn hạng người: Hạng đi xuôi dòng, hạng đi ngược dòng, hạng có bản thân đã đứng vững, hạng đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền, vị Bà-la-môn.”

Ở đấy, người đi xuôi dòng phục vụ các dục và làm hành động ác rồi còn thân cận các dục. Đây là bất thiện căn tham, điều ấy (!) chính là tham ái. Người ấy bị lôi đi bởi các dục ấy, được gọi là ‘hạng đi xuôi dòng.’ Hạng người đã đi với các (tham ái) ấy, do duyên của việc ấy, do nhân của việc ấy, làm hành động bất thiện bằng thân và bằng khẩu. Người này được gọi là ‘làm hành động ác.’ Đối với người ấy, có ba dòng chảy: sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến), sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự. Do ba dòng chảy này, (người ấy) tái sanh ở Tam Giới: ở dục giới, ở sắc giới, ở vô sắc giới.

Theo phần đối nghịch, người nào không thân cận các dục, người nào không bám víu vào giới và phận sự, người nào, do sự dứt bỏ các nhận thức sai trái về thân, nhìn thấy sự bất lợi ở các dục đúng theo thực thể, và người ấy không thân cận các pháp ấy. Và do duyên của việc ấy, người đứng vững là ‘Bà-la-môn,’ là vị A-la-hán thật sự. Ở đấy, vị A-la-hán là vị đã đi đến bờ kia của (dòng chảy) ấy; đối với vị đã đi đến bờ kia, là ‘vị đứng ở đất liền,’ có Niết Bàn giới còn dư sót (Hữu Dư Niết Bàn).

‘Hạng đi xuôi dòng’: Ngài đã nói về (người có) sự không dứt bỏ các sự ràng buộc cần được dứt bỏ do việc thấy. ‘Hạng đi ngược dòng’: và Ngài đã nói về (người có) sự dứt bỏ các ô nhiễm đứng chung với tà kiến. Với hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về (người có) sự dứt bỏ năm ràng buộc thuộc hạ phần. Ở đấy, với hạng đi xuôi dòng, Ngài đã nói về đạo lộ hữu sắc. (?) Với hạng đi ngược dòng và hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về Đạo Lộ. Với hạng đã đi đến bờ kia, các vị Thinh Văn Vô Học và các vị Chánh Đẳng Giác đã được nói đến. Với hạng đi xuôi dòng, Ngài đã nói về lối thực hành đưa đến nhân sanh khởi của hiện thân. Với hạng đi ngược dòng và hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về lối thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân. Với hạng đã đi đến bờ kia, mười pháp của phẩm vị A-la- hán Vô Học đã được nói đến. Đây là ý nghĩa của Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Chính ở Kinh này, bốn Chân Lý Cao Thượng đã được diễn giải và việc vượt qua hẳn các thế gian thuộc Tam Giới.

2. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là gì? ‘Người nào thân cận các dục, người ấy có thể làm hành động ác;’ ‘người nào không thân cận các dục, người ấy không thể làm hành động ác;’ ‘và người nào đã vượt lên khỏi hai lãnh vực này là vị đã đi đến bờ kia,’ việc thẩm xét như thế là sự tìm hiểu.

3. Sự kết nối: ‘Được kết nối vào các Kinh (hay) không được kết nối,’ việc thẩm xét như thế là sự kết nối.

4. Nền tảng: Với hạng đi xuôi dòng, nền tảng là thuộc về bảy sự ràng buộc. Việc làm của bất thiện là nền tảng của các gốc rễ bất thiện. Với hạng đi ngược dòng, nền tảng là thuộc về việc thấy đúng theo thực thể. Với hạng có bản thân đã đứng vững, nền tảng là thuộc về không thể bị chuyển dịch. ‘Hạng đã đi đến bờ kia’: nền tảng là thuộc về lãnh vực của vị đã làm xong công việc.

5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Người đi xuôi dòng do tác động của tham ái thì cũng đi do tác động của tất cả các ô nhiễm. Người ra sức lội ngược dòng đối với tham ái thì cũng ra sức lội ngược dòng đối với tất cả các ô nhiễm. Người tự mình đứng vững thì cũng đứng vững với thân, cũng đứng vững với khẩu và ý. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? “Những người nào sẽ không thích thú với lối thực hành của hạng người đi xuôi dòng, những người ấy sẽ ra sức lội ngược dòng” … cho đến … lãnh vực của vị đã làm xong công việc. Điều này là chủ tâm.

7. Sự xoay vần: Ở đây, bốn Chân Lý được diễn giải ở Kinh.

8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? Người nào thân cận các dục và làm hành động ác, người ấy không hẳn là hạng đi xuôi dòng; ngay cả vị Nhập Lưu cũng thân cận các dục và còn làm hành động ác liên quan đến điều ấy. “Mặc dầu bậc Hữu Học cũng có thể làm ác” giống như đã được diễn giải ở Kinh, nhưng vị ấy không phải là hạng đi xuôi dòng; đây là điều nên được giải đáp sau khi phân tích. Người không thân cận các dục và không làm hành động ác không hẳn là hạng đi ngược dòng. Tất cả ngoại đạo đã xa lìa luyến ái ở các dục, không thân cận các dục, và không làm hành động ác, họ là hạng đi xuôi dòng và là hạng đi ngược dòng. Đây là sự phân tích.

9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? Phần đối nghịch là đã được diễn giải.

10. Từ đồng nghĩa: Ở các dục là các vật dục cùng với các ô nhiễm dục; còn sắc, thinh, hương, vị, xúc, con trai, vợ, nô bộc, người làm công là các vật sở hữu.

11. Sự mô tả: Tất cả phàm phu được mô tả theo tính chất chung. Hạng đi xuôi dòng được mô tả với sự mô tả về sự chi phối của ô nhiễm. Ngược lại, các hạng người Hữu Học được mô tả với sự mô tả về Niết Bàn. Còn những bậc Bất Lai được mô tả với sự mô tả về việc không thể bị chuyển dịch. Đây là sự mô tả.

12. Sự liệt kê: Hạng đi xuôi dòng là Khổ. Các pháp của hạng ấy là nhân sanh của Khổ (Tập). Cái nào là sắc, đây là sắc uẩn; cũng vậy, năm uẩn và sự tùy thuận sanh khởi là tương tự. Các ô nhiễm ấy được gộp vào hành uẩn, và được mô tả ở pháp xứ, ở pháp giới, (!) và ở các quyền.

13. Sự làm rõ: Kinh này được chỉ bảo với sự khởi đầu nào thì toàn bộ sự khởi đầu ấy là rõ ràng.

14. Sự xác định: Tất cả các vị Nhập Lưu là thuộc hạng đi ngược dòng, hoặc là được diễn giải theo tính chất chung. Chính các bậc Hữu Học, –Đạo và người Hữu Học,– là thuộc hạng đi ngược dòng với khuynh hướng tiềm ẩn về luyến ái. Hạng có bản thân đã đứng vững: là đã xa lìa luyến ái, được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Hạng đã đi đến bờ kia: là tất cả các vị A-la-hán, tất cả các vị Độc Giác và Chánh Đẳng Giác, là được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Sự thiết yếu: Đối với hạng đi xuôi dòng, bạn ác là duyên, sự thâm nhập của các dục là nhân. Đối với hạng đi ngược dòng, có hai nhân, có hai duyên, … cho đến … có quan điểm dựa vào chánh kiến; đối với hạng ấy, Đạo đã đạt được là nhân, sự ra sức –thuộc thân và một phần thuộc tâm– là duyên.

16. Sự xếp loại: Kinh này là sự phân tích, không có lãnh vực cho sự xếp loại.

“Bốn điều lợi ích cho những người đã lóng tai nghe” … cho đến … “khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến,” bài Kinh nên được thực hiện với chi tiết. “Đối với người đang gắn bó, đang ra sức, đang tinh tấn, … (khi là) người bệnh, … vào thời điểm lúc chết, … (khi là) vị Thiên nhân … đạt được quả vị Độc Giác.” ‘Đã lóng tai nghe’: là việc làm đã được thực hiện bởi người có sự lắng nghe Chánh Pháp, nhưng tâm của người ấy không khát khao với việc minh sát các pháp thắng tuệ và không có trạng thái được thấu triệt. Và Kinh này được chỉ bảo cho năm hạng người: cho người có xu hướng về niềm tin có quyền yếu kém và có quyền sắc bén, cho người có xu hướng về pháp có quyền sắc bén và có quyền yếu kém, hơn nữa, là người có tánh si mê không có khả năng để gắn bó, để ra sức, để tinh tấn. Sự giải thoát, đúng theo thực thể, liên quan đến định, làm cho thấy quả vị vào thời điểm ấy, vào khoảnh khắc ấy, vào giây phút ấy. (Nếu) người ấy bỏ lỡ (thời cơ), hoặc có kẻ khác gây trở ngại cho người ấy, thì sự giải thoát không phải là không có quả thành tựu an lạc cho người ấy ngay trong thời hiện tại hoặc sẽ được cảm thọ ở đời sống khác sau khi tái sanh. (!) Ở đấy, người nào có xu hướng về pháp, đối với người ấy nếu các pháp là đã được lóng tai nghe, thì người ấy đạt được (sự thù thắng) trong khi đang gắn bó; người nào có xu hướng về pháp có quyền yếu kém thì đạt được khi là người bệnh; người nào có xu hướng về niềm tin có quyền sắc bén thì đạt được vào thời điểm lúc chết; người nào (có xu hướng về niềm tin) có quyền yếu kém thì đạt được khi là vị Thiên nhân; vào lúc có trạng thái Thiên nhân mà không đạt được, thì do sự luyến ái với Pháp, do niềm vui với Pháp, người ấy đạt được quả vị Độc Giác.

Người nào gắn bó, ra sức, tinh tấn ở các việc lóng tai nghe, người ấy theo tuần tự nhận biết sự thù thắng, trong khi nhận biết thì đạt được (sự thù thắng). Hơn nữa, nếu là người bệnh và có sự tác ý, ở đấy trong khi gắn bó thì đạt được. Hơn nữa, nếu vào lúc chết, có sự kinh động tâm, ở đấy trong khi gắn bó thì đạt được. Hơn nữa, nếu không có sự kinh động tâm ở bất cứ nơi nào, khi người ấy là vị Thiên nhân, có sự an lạc, có các nền tảng là bản thể của Pháp nên không nói vô ích. Người ấy biết như vầy: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây, trong lúc làm người, chúng ta đã thực hành Phạm hạnh.” Và đạt được (sự thù thắng) khi là vị Thiên nhân. Hoặc là, bị bám chặt vào năm loại dục thuộc cõi Trời, có cuộc sống xao lãng, người ấy do thiện căn ấy mà đạt được quả vị Độc Giác.

Điều nào khéo được tích lũy qua lời nói, qua tiếng nói của người khác, đây là tuệ văn. Còn những pháp nào đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý, đây là tuệ tư. Điều nào đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến, đây là tuệ tu. Điều nào đã được lóng tai nghe, đã được tích lũy bởi ý, và người nào đã viên tịch Niết Bàn ngay trong thời hiện tại, đây là hạng người A-la-hán. Người nào sanh lên là vị Thiên nhân, đạt được (sự thù thắng), và ở đấy viên tịch Niết Bàn, đây là bậc Bất Lai. Người nào do thiện căn ấy mà đạt được quả vị Độc Giác, đây là hạng người được hình thành với các yếu tố cần thiết do sự thực hành trước đây.

‘Các pháp đã được lóng tai nghe’ là giải thoát xứ thứ nhất, ‘đã được tích lũy qua lời nói’ là giải thoát xứ thứ nhì và thứ ba, ‘đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’ là giải thoát xứ thứ tư, ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’ là giải thoát xứ thứ năm.

‘Các lời nói nào do đã được lóng tai nghe, thuộc về giải thoát, thông qua khẩu, đã khéo được thấu triệt’: sau khi lắng nghe các pháp tuần tự bằng tai của mình, (hành giả) làm viên mãn giới uẩn; ‘đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: (hành giả) làm viên mãn định uẩn; ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: (hành giả) làm viên mãn tuệ uẩn.

‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: là đã được nghe nhiều, nên được thực hiện với chi tiết; đây là biểu hiện thứ nhất của niềm tin. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: (hành giả) sống chuyên về thiền tịnh; nên được thực hiện với chi tiết; đây là biểu hiện thứ nhì của niềm tin. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: là sự giải thoát của tâm do không còn lậu hoặc, (hành giả) nhận biết rằng: ‘Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la- hán) này nữa;’ đây là biểu hiện thứ ba của niềm tin.

‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy vị Hữu Học. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy vị A-la-hán. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.

‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với các dục. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với Sắc Giới. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với Tam Giới. Đây là ý nghĩa của Kinh.

1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, ba sự tìm kiếm đã được chỉ bảo: Đạo lộ chỉ tịnh trong việc tìm kiếm các dục nhờ vào ‘các pháp đã được lóng tai nghe,’ (nhờ vào các pháp) ‘đã được tích lũy qua lời nói,’ đạo lộ chỉ tịnh trong việc tìm kiếm Phạm hạnh (nhờ vào các pháp) ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến.’

2. Sự tìm hiểu: Trong lúc tác ý đến Kinh như thế, trong lúc cân nhắc, thì đạt được tuệ văn. Và ‘vị ấy tác ý’ như thế, các pháp đã được nghe như thế, thì khi ấy đạt được tuệ tư. Ngay trong thời hiện tại (hành giả) tác ý như thế, thì khi ấy đạt được tuệ tu. Đây là sự tìm hiểu.

3. Đạt được tuệ văn do đã nghe, đạt được tuệ tư do đã suy nghĩ, đạt được tuệ tu do sự tu tập. Có sự kết nối ấy.

4. Nền tảng: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’ là nền tảng của việc nghe Pháp. ‘Đã được tích lũy qua lời nói’ là nền tảng của việc gắn bó. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’ là nền tảng của minh sát đúng pháp và thuận pháp. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’ là nền tảng của tuệ.

5. (Tướng trạng:) (Ở đây, cách truyền đạt bằng tướng trạng được thấy dường như là thiếu ở các sách.)

6. Bốn sự dàn trận: Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào hội đủ hai tuệ này, chính những người ấy … đi theo sự giảng dạy có sự dẫn dắt ra khỏi.” Đây là chủ tâm.

7. Sự xoay vần: Do không lắng nghe, do không tác ý, và do không thấu triệt, lối thực hành đưa đến nhân sanh của hiện thân được nói đến. Do lắng nghe, do tác ý, và do thấu triệt, lối thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân được nói đến. Đây là sự xoay vần.

8. Sự phân tích: nên được giải đáp dứt khoát. Ở đấy, không có lãnh vực cho sự phân tích.

9. Sự đảo ngược: Bốn điều lợi ích với điều thứ năm là phần đối nghịch, nhờ vào chính điều ấy, (hành giả) đạt được ngay trong thời hiện tại. Trong lúc chúng được sanh lên, điều ấy là một cách thức khác. (?)

10. Từ đồng nghĩa: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Điều đã được nói cũng là điều đã được thấy; tuệ quyền cũng là điều đã được nhận thức; điều đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến cũng là điều đã được làm rõ rệt.

11. Sự mô tả: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: sự chỉ bảo được mô tả với sự mô tả về vô minh; tác ý được mô tả với sự mô tả về hân hoan; các pháp đã được thấy được mô tả với sự mô tả về điều lợi ích.

12. Sự liệt kê: Ba tuệ: về các điều đã được tích lũy qua lời nói là tuệ văn, về các điều đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý là tuệ tư, về các điều đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến là tuệ tu. Đây là các Chân Lý Cao Thượng. Các quyền; (!) do sự sanh khởi của minh có sự diệt tận của vô minh là sự tùy thuận sanh khởi; ba quyền ở các quyền, (?) được gộp vào pháp xứ ở các xứ, được gộp vào pháp giới ở các giới.

13. Sự làm rõ: Sự khởi đầu, sự tiến vào của Kinh là được gắn liền. (?)

14. Sự xác định: ‘Bốn điều lợi ích’: các điều lợi ích được mô tả theo tính trạng khác biệt. (Các pháp) ‘đã được lóng tai nghe’: cách thức diễn đạt của các bậc Thánh được mô tả theo tính trạng khác biệt. Và ‘việc lắng nghe các pháp’: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất.

15. Sự thiết yếu: Đối với việc lắng nghe Giáo Pháp, việc ngồi gần là duyên, niềm tin là nhân. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: đã cảm nhận được ý nghĩa là duyên, đã cảm nhận được pháp là nhân. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Việc lắng nghe Chánh Pháp và sự tác ý là duyên, tuệ văn và tuệ tư là nhân.

16. Sự xếp loại: Kinh đã được phân tích, không có cách thức khác về kết quả của việc sanh ra. (?) Ở đấy, có lãnh vực của việc xếp loại.

Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào? Câu kệ là: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí.” “Cho người bố thí”: việc làm phước bố thí được nói đến. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: việc làm phước trì giới được nói đến. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Ngài đã nói về sự dứt bỏ đối với tham lam, si mê, và oán hận. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Ngài đã nói về sự loại bỏ mong muốn và luyến ái đối với tham lam, si mê, và oán hận. Câu kệ “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: vô tham là gốc rễ của thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: vô sân là gốc rễ của thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Sự không thù oán, sự không chống đối luôn luôn đưa đến trạng thái không oán hận. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Do sự sanh khởi của trí, có sự diệt tận của vô trí. “Vị ấy được tịch diệt”: bàn luận về Đạo, Quả, và Niết Bàn giới không còn dư sót, bàn luận về việc dứt bỏ các ô nhiễm thô thiển nhờ vào bố thí, bàn luận về sự dứt bỏ (các ô nhiễm) bậc trung nhờ vào giới, các ô nhiễm vi tế nhờ vào tuệ. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là lãnh vực đã được làm xong.

“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Đạo được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Ngài đã nói đến Đạo Quả. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, … đối với người đang tự chế ngự, …”: với ba đoạn kệ, gốc rễ của thiện thuộc thế gian được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: gốc rễ của thiện xuất thế gian được nói đến. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: bàn luận về lãnh vực phàm phu. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: bàn luận về lãnh vực của bậc Hữu Học. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: lãnh vực của bậc Vô Học được nói đến. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: lối thực hành dẫn đến Đạo được nói đến. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: sự giải thoát của bậc Hữu Học. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: sự giải thoát của bậc Vô Học. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Ngài đã nói lời giảng về bố thí, lời giảng về giới, lời giảng về cõi Trời, sự chỉ bảo về Giáo Pháp thuộc thế gian. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: việc quan sát sự bất lợi ở thế gian. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: luôn cả sự chỉ bảo ưu việt về Giáo Pháp (!) là đã được thấu triệt. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Với việc bố thí sự không sợ hãi đến các sinh mạng, với việc tránh xa sự giết hại sinh mạng, (vị ấy) bố thí sự không sợ hãi đến các chúng sanh. Tất cả các điều học nên được thực hành tương tự như vậy. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Sau khi đặt nền tảng ở giới, (vị ấy) tự chế ngự tâm; đối với vị đang tự chế ngự, (tâm) đi đến sự viên mãn. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là hai sự giải thoát. Đây là sự diễn giải Kinh.

1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Hai nhàn cảnh: chư Thiên và loài người, năm loại dục thuộc cõi Trời và thuộc loài người: là sự diễn giải với hai đoạn kệ. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Đạo được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Hai Niết Bàn giới được chỉ bảo: còn dư sót (Hữu Dư) và không còn dư sót (Vô Dư). Đây là sự chỉ bảo.

2. Sự tìm hiểu: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: với đoạn kệ thứ nhất, việc làm phước bố thí được nói đến; với việc ấy, sự sanh khởi các pháp thiện không bị gián đoạn của người này được nói đến. Với đoạn kệ thứ nhì, … Với (đoạn kệ) thứ tư, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái; do sự diệt trừ si mê, có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Đây là sự tìm hiểu.

3. Sự kết nối: Người đã đứng vững ở việc bố thí làm viên mãn hai việc: (Vị ấy) dứt bỏ sự bỏn xẻn và việc phước tăng trưởng. Có sự kết nối ấy.

4. Nền tảng: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: là nền tảng của sự xác định về xả thí. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: là nền tảng của sự xác định về tuệ. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: là nền tảng của sự xác định về chân thật. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là nền tảng của sự xác định về an tịnh. Đây là nền tảng.

5. Ở đấy, tướng trạng là gì? “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí. Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Thậm chí đối với người bố thí, sự thù oán cũng không được tạo ra. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác. Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Cũng từ sự cạn kiệt của sắc, cũng từ sự cạn kiệt của thọ, đức Như Lai, trong lúc mô tả, có thể mô tả điều đã được thấy với sắc ấy từ sự cạn kiệt, từ sự xa lìa và diệt tận của sắc. Năm uẩn là tương tự như vậy.

6. Bốn sự dàn trận: Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người sẽ ước nguyện các tài sản lớn thì sẽ bố thí vật thí nhằm dứt bỏ hiểm họa; những người mong muốn sự không thù oán thì sẽ dứt bỏ năm sự thù oán; những người mong muốn thiện thì sẽ tu tập Đạo tám chi phần nhằm dứt bỏ tám trạng thái sai trái; những người ham muốn Niết Bàn thì sẽ dứt bỏ luyến ái, sân hận, và si mê; đây là chủ tâm của đức Thế Tôn.

7. Sự xoay vần: Việc bỏn xẻn ở người không bố thí, việc thù oán ở người không tự chế ngự, và việc không dứt bỏ bất thiện và ác, đây là sự diễn giải về Khổ, không phải là Tập. Với vô tham, với vô sân, và với vô si là với thiện, đây là ba thiện căn. Duyên của chúng là tám trạng thái chân chánh, đây là Đạo. Sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê đối với chúng, đây là Diệt.

8. Sự phân tích: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: không hẳn là như thế. Người nào bố thí do sợ hãi hình phạt của vua và người nào bố thí đến các vị có giới với vật dụng chưa làm thành được phép, phước thiện không tăng trưởng cho người ấy; người ấy bố thí vật thí ấy do bất thiện. Việc thí gậy gộc, việc thí gươm dao thì vô phước tăng trưởng, không phải phước thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Người nào nhìn thấy sự trừng phạt trong thời hiện tại rằng: “Nếu các vị vua bắt giữ ta thì có thể chặt tay –nt– không do sự tự chế ngự ấy mà không tạo ra sự thù oán. Còn người nào thọ trì như vầy: “Có quả thành tựu xấu xa cho việc giết hại sinh mạng ngay ở thời hiện tại và ở thời vị lai.” (!) Và như vậy có sự kiêng cữ là nhân đối với tất cả bất thiện. Với sự tự chế ngự này, sự thù oán không được tích lũy.

9. Sự đảo ngược: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Phước thiện không tăng trưởng cho người không bố thí; yếu tố tạo thành việc bố thí là phước thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Đối với người không tự chế ngự, sự thù oán được thực hiện. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Người bất thiện không từ bỏ điều ác. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: … Vị đã được tịch diệt, đối với bậc Vô Học không có sự tịch diệt. (?) [Mặc dầu đi đến với chúng tôi, nhưng đức Thế Tôn đã không do (chúng tôi) rước đến, mặc dầu đã phái đi người sứ giả nhưng Ngài vẫn chưa được báo tin, trái lại đích thân Ngài, được tùy tùng bởi hội chúng tỳ khưu đông đảo, đã đạt đến chỗ trú ngụ của chúng tôi. Và do chúng tôi, hội trường đã được dựng nên. Sau khi hướng dẫn đấng Thập Lực đến nơi này, chúng tôi đã suy nghĩ rằng: “Chúng ta hãy thỉnh Ngài giảng về pháp hạnh phúc,” và đã đi đến gặp đấng Thập Lực. ‘Chúng tôi đã đi đến hội trường’: Nghe nói vào ngày ấy, ở hội trường, công việc trang hoàng đã được hoàn tất, các giàn giáo vừa mới được tháo cất. “‘Chư Phật có khuynh hướng ở rừng, vui thích ở rừng, các vị có thể ngụ ở trong làng hay không?’ Vì thế, ngay sau khi biết được tâm ý của đức Thế Tôn, chúng ta sẽ sửa soạn,” nghĩ vậy, họ đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Và giờ đây, sau khi đạt được tâm ý (của đức Thế Tôn), những người có ý muốn sửa soạn đã đi đến hội trường.

‘Có trải thảm toàn bộ’: Khi toàn bộ đã được trải thảm thì họ đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Hơn nữa, ở đây các vị vua xứ Malla ấy, sau khi đã sửa soạn hội trường, đã bảo quét dọn luôn cả các con đường ở thành phố, đã cho treo lên các lá cờ, đã cho sắp xếp các hũ đầy (nước) và các cây chuối ở cửa nhà, và đã làm cho toàn thành phố tựa như chòm sao được rải rắc với các cây đèn và các tràng hoa (rằng): “Các người hãy cho các cháu bé chưa dứt sữa uống sữa, hãy mau mau cho các trẻ con ăn, ngủ, chớ có gây tiếng động lớn; hôm nay bậc Đạo Sư sẽ ngụ trong làng một đêm. Các vị Phật ít thích tiếng ồn.” Sau khi cho đánh trống, họ đã tự thân cầm lấy các cây đèn rồi đi đến gặp đức Thế Tôn.

‘Có đức Thế Tôn ở ngay trước mặt’: đã sắp xếp chỗ ngồi có đức Thế Tôn ở trước mặt. Ở đấy, đức Thế Tôn, ngồi ở giữa các vị tỳ khưu và các cư sĩ, tỏa sáng cực kỳ rực rỡ, khơi dậy niềm tịnh tín toàn diện, có làn da màu hoàng kim, có dáng cao sang, đáng nhìn. Từ thân phía trước phát ra hào quang màu hoàng kim đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay, từ thân phía sau, từ thân phía phải, từ thân phía trái phát ra hào quang có màu hoàng kim đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay, [ở phía trên từ toàn bộ đầu tóc, bắt đầu từ đỉnh cọng tóc, phát ra hào quang có màu cần cổ của chim công đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay ở khoảng không của bầu trời,] ở phía dưới từ hai lòng bàn chân phát ra hào quang có màu san hô đạt đến tầng đất cứng khoảng cách tám mươi cánh tay; tương tự như vậy ở xung quanh, các hào quang của đức Phật có sáu màu có khoảng cách ước chừng tám mươi cánh tay bắn tóe ra, chiếu sáng, lung linh. Tất cả các khu vực tựa như đang rải rắc với các bông hoa campaka bằng vàng, tựa như đang được rưới rắc bởi những dòng tinh chất màu hoàng kim được tuôn ra từ chiếc chậu bằng vàng, tựa như được bao quanh bởi tấm choàng màu hoàng kim đã trải thẳng, tựa như đã được phủ khắp bởi bụi phấn hoa kiṃsuka và hoa kaṇikāra đã được bốc lên bởi làn gió lốc,– –thân thể chói lọi với ba mươi hai tướng trạng cao quý có vầng hào quang và tám mươi tướng phụ của đức Thế Tôn đang rực rỡ tựa như ngôi sao đã mọc lên hoàn toàn, tựa như khoảng không của bầu trời đã được mở rộng, tựa như rừng sen đã nở rộ toàn bộ, tựa như cây san hô trải rộng một trăm do-tuần tỏa sáng với sự lộng lẫy ngự trị sự lộng lẫy của 32 mặt trăng, của 32 mặt trời, của 32 vị Chuyển Luân Vương, của 32 vị Thiên Vương, của 32 vị Đại Phạm Thiên đang đứng xếp hàng. Các vị tỳ khưu ngồi vây quanh toàn bộ tất cả đều có ít ước muốn, tự biết đủ, sống tách biệt, không giao du, có sự ra sức tinh tấn, là những vị diễn giả có sự nhẫn nại với lời nói, là những vị quở trách, chê trách điều xấu xa, thành tựu về giới, thành tựu về định –nt–] (Giảng giải Kinh Saṅgīti*).

Vị đã được tịch diệt, đối với bậc Vô Học không có sự tịch diệt. (?)

10. Từ đồng nghĩa: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Phước thiện cũng tăng trưởng cho người tùy hỷ. Phước thiện cũng tăng trưởng đối với vị đang tập trung tâm thông qua hành động phục vụ.

11. Sự mô tả: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô tham. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô sân. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô si.

12. Sự liệt kê: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự” là ở năm quyền, giới uẩn được liệt kê với sự tự chế ngự, sự thu thúc là ở sáu quyền, đây là định uẩn. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: đây là tuệ uẩn. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là giải thoát uẩn, là pháp giới ở các giới, là ý xứ ở các xứ.

13. Sự làm rõ: Kinh này được chỉ bảo với sự khởi đầu nào thì sự khởi đầu ấy là rõ ràng.

14. Sự xác định: ‘Bố thí’: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Sự xả thí, sự buông bỏ, Pháp thí, tài thí, tám sự bố thí nên được thực hiện với chi tiết; đây là tính trạng khác biệt. Và đối với người bố thí thì không được mô tả với sự mô tả theo tính trạng đồng nhất, sự kham nhẫn được mô tả với sự mô tả là ‘không lỗi lầm.’ “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: được mô tả với sự mô tả về sự tinh tấn trong việc ngăn cản.

15. Sự thiết yếu: Đối với sự bố thí, hân hoan là duyên, vô tham là nhân. Đối với người đang tự chế ngự, tác ý đúng đường lối là nhân, sự buông bỏ là duyên. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: việc thấy đúng theo thực thể là duyên, việc đạt được trí là nhân. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: lời phát biểu từ người khác, tác ý đúng đường lối thuộc nội phần và Giáo Pháp là nhân và là duyên.

16. Sự xếp loại: Câu kệ là: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí,” đối với người ấy, giới tăng trưởng, sự tự chế ngự cũng tăng trưởng. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Các ô nhiễm khác cũng không được tích lũy, luôn cả các lậu hoặc, các điều khó chịu nào do duyên ấy có thể sanh khởi đến người này, thì chúng cũng không sanh khởi đến người này. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Do sự cạn kiệt của luyến ái và sân hận, do sự cạn kiệt của sự tiềm ẩn về luyến ái, của sân hận, của si mê. “Vị ấy được tịch diệt”: Niết Bàn giới còn dư sót, luôn cả không còn dư sót. Đây là sự xếp loại.

Lãnh Vực Phối Hợp Cách Truyền Đạt thuộc Peṭakopadesa của Ngài Mahākaccāyana được đầy đủ.

--ooOoo--