Bản dịch
PE 8 — Lãnh Vực Phối Hợp Cách Truyền Đạt
Hārasampātabhūmi
(Nói về) bốn thiền, các thiền ấy có các yếu tố này. Các yếu tố ấy có sự gom lại, các yếu tố của sự (gom lại) này là lãnh vực của thiền. Sự đặc biệt của (thiền) này có ‘điều gì là sự đặc biệt’? Là các thành tố này. Với các thành tố ấy có sự phát khởi này; đối với sự phát khởi ấy có điều kiện này; với điều kiện ấy có sự tu tập này; đối với sự tu tập ấy có điều bất lợi này; với điều (bất lợi) ấy có sự thối giảm này. Sự thối giảm có đến cho người nào? Đến cho vị chứng thiền tiếp cận điều ấy. Vị quán xét điều ấy giống như đã được nói đến, là có sự đặc biệt này; với sự đặc biệt ấy có sự hứng thú này. Sự hứng thú ấy có đến cho người nào? Đến cho vị chứng thiền thuần chủng. (?) Đối với vị chứng thiền thuần chủng ấy, có trạng thái sẵn sàng này trong việc thiện xảo; thiền đã được đứng vững đi đến trạng thái không bị nghiền nát là thiền lực; đối với vị đã đứng vững ở thiền lực, có sự (toàn hảo) này; đối với vị đã đạt được sự toàn hảo, có các chi thiền này. Sự suy tư không bị khuấy động đã trở thành các chi thiền ở sơ thiền. Hỷ ấy, có trạng thái theo sau (thiền) ấy, là chi thiền ở sơ thiền; và đối với vị có chi thiền ấy, các pháp của vị ấy đưa đến trạng thái được tràn ngập bởi điều ấy.
Hỷ ở nhị thiền là pháp tự nhiên của chi thiền. Hơn nữa, do việc có trạng thái lạc là chi thiền đồng hành đối với (thiền) đã được xảy ra như thế ấy, sự tịnh tín thuộc nội phần ở nhị thiền là chi thiền do trạng thái tịnh tín của ý và do trạng thái được tràn ngập bởi sự tịnh tín ấy. Hỷ là chi thiền ở nhị thiền; sự tịnh tín thuộc nội phần, hỷ lạc sanh lên do định, là chi thiền ở nhị thiền. Bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tam thiền; hành xả ―trạng thái của xúc― là chi thiền ở tam thiền, và lạc là ‘chi phần’ của nó. Bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tứ thiền; hành xả ―không khổ không lạc― là chi thiền ở tứ thiền, là lãnh vực được hướng đến; sự thanh tịnh của niệm (được sanh lên) do hành xả là chi thiền ở tứ thiền; và sự thanh tịnh của niệm là hỷ được gắn liền với chi thiền ở nhiều lãnh vực của thiền; (?) bản thể nhất điểm của tâm là chi thiền ở tứ thiền.
Ở đấy, lãnh vực của thiền là gì? Lãnh vực của thiền thuộc sơ thiền có tầm có tứ là theo sau sự xuất ly. Lãnh vực của thiền thuộc nhị thiền không tầm không tứ là theo sau hỷ đã được sanh ra do sự tịnh tín thuộc nội phần. Lãnh vực của thiền thuộc tam thiền là được bao gồm lạc và sự khoan khoái, có liên quan đến hỷ. Lãnh vực của thiền thuộc tứ thiền là được đồng hành với sự quyết đoán, được đồng hành với lạc và khổ của vị ấy. Lãnh vực của thiền thuộc sơ thiền là được đồng hành với các vô lượng (tâm) có chúng sanh là đối tượng. [Lãnh vực của thiền thuộc nhị thiền là được đồng hành với các xứ thuộc lãnh vực thù thắng ở các xứ có sắc tưởng.] Lãnh vực của thiền thuộc tam thiền là được đồng hành với giải thoát ở các giải thoát. Lãnh vực của tứ thiền là các pháp, các sự tạo tác của thân, được đồng hành với sự quan sát.
Ở đấy, sự đặc biệt của thiền là gì? Trạng thái vượt qua hẳn dục giới được đồng hành với tâm và sở hữu tâm ngay sau khi tách ly khỏi các dục, tách ly khỏi các bất thiện pháp, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý ―được đồng hành với hỷ bởi vì đã được đồng hành với niệm có liên quan đến hỷ, không tầm lẫn không tứ,― đang nổi trội, đây là sự đặc biệt của thiền. Ở lãnh vực không tầm lẫn không tứ, tác ý ―đi theo niệm và đồng hành với hành xả― đang nổi trội, và niệm ―có trạng thái thuận theo thiền ấy― được ổn định, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý, ―được đồng hành với sự thanh tịnh của niệm,― đang nổi trội, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền. Tưởng và tác ý, ―được đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ ở lãnh vực được đồng hành với Thức Vô Biên Xứ,― đang nổi trội, (hành giả) đạt đến và an trú vào lãnh vực ấy, đây là sự đặc biệt của thiền.
Ở đấy, các thành tố của thiền là những gì? Trạng thái chủ tâm trong việc xua đi dục tầm là thành tố xuất ly tầm, trạng thái chủ tâm trong việc đuổi đi hận tầm là thành tố vô hận tầm, trạng thái chủ tâm trong việc đuổi đi hại tầm là thành tố vô hại tầm, trạng thái cửa vào được phòng vệ ở các giác quan và trạng thái ít ước muốn là thành tố nuôi mạng thanh tịnh, trạng thái sống không bận rộn công việc là thành tố của bốn sự chứng đạt, trạng thái đạt đến các sự chứng đạt là thành tố của Đạo, sự khởi lên của thiền từ việc đã được sanh ra của thiền là thành tố của Quả. Thiền đi đến sự sanh khởi là do nhân thiện, bất cứ nhân nào và bất cứ lý do nào, những người đã đạt đến sự xuất ly thì chúng (các thiền) sanh khởi, trong khi có định do diệt tận sự đeo bám thì chúng sanh khởi, trong khi không vi phạm (giới) thì chúng sanh khởi, với sự dứt bỏ lạc quyền, hỷ quyền và do trạng thái không oán hận thì chúng sanh khởi. Hơn nữa, liên quan đến (nhân) ấy thì chúng sanh khởi. Với sự không bực tức thì chúng sanh khởi. Là sự sanh khởi của các thiền. Ở đấy, điều kiện là gì? Trạng thái có bạn lành là điều kiện của thiền, xu hướng theo việc tốt lành là điều kiện của thiền, trạng thái cửa vào được phòng vệ ở các giác quan là điều kiện của thiền, trạng thái không biết đủ trong các thiện pháp, việc lắng nghe Chánh Pháp là điều kiện của thiền, sự nỗ lực đúng đường lối đối với sự chấn động ở sự kiện gây nên chấn động là điều kiện của thiền, đây là điều kiện của thiền. Ở đấy, sự tu tập là gì? Thực hành từ ái là tu tập vô hận tầm; thực hành bi mẫn là tu tập vô hại tầm; trạng thái người hành động với hỷ, lạc, và sự nhận biết rõ là tu tập tùy hỷ; tu tập hành xả bởi vị nhìn thấy, tu tập hành xả bởi vị không nhìn thấy là sự hành xả và sự dửng dưng; tu tập bất tịnh tưởng là lối thực hành khó khăn có thắng trí chậm chạp, là thắng trí có sự kết nối với hữu trong số các sự kết nối với hữu. Sự tu tập nào được tu tập theo sáu cách: được thực hành thường xuyên, được kinh nghiệm, được làm thành nền tảng, được làm thành phương tiện, được thuần thục, khéo được nỗ lực, đây là sự tu tập.
Đối với người đang tu tập như vậy, đây là sự bất lợi ở sơ thiền: Pháp này hội đủ các sự tạo tác, chưa từng được nghe, có lậu hoặc. Nếu pháp này là thói quen và có phần đối nghịch kế cận, pháp này là hành vi đối đầu với dục và hoàn toàn thô thiển đối với các sự chứng đạt, pháp này là có tầm và tứ; ở đấy, nó khiến tâm bị xao động;– –và ở đây, thân bị mệt mỏi; và ở đây, khi thân bị mệt mỏi, tâm bị quấy rầy, (pháp này) thật sự không kham nổi sự quyết đoán về thắng trí; đây là các sự bất lợi ở sơ thiền.
Đây là các sự bất lợi ở nhị thiền: Được đồng hành với sự lan tỏa của hỷ, pháp này sẽ không nổi trội ở tâm, pháp này là sự tiếp cận không làm cho trong sạch, pháp này có sự tiếp cận là hiểm họa, có ưu phiền là sự đối nghịch, và đối với những sự kết nối tại nơi này nơi khác, pháp này là điều khó thực hành cho vị đang bị chế ngự bởi hỷ. (!) Trong khi lánh xa lãnh vực kinh sợ không được vận hành ở bốn trạng thái khổ, pháp này đưa đến trạng thái khổ bởi niềm tin đối với việc làm cho xuyên thấu, không đưa đến trạng thái khổ do vướng bận, trạng thái khổ do thắng trí, và trạng thái khổ do bệnh tật; đây là các sự bất lợi ở nhị thiền.
Ở đấy, các sự bất lợi ở tam thiền là những gì? Do được đồng hành với lạc do hành xả, ở đấy, pháp này xoay quanh hành xả và lạc đối với năm trường hợp có sự khoan khoái; do đó, đối với những việc đã được nghĩ là thường còn thì lạc là điều kiện của khổ, có liên quan đến sự xáo trộn của tâm, là được đi cùng với lạc và khổ. Và liên quan đến việc đi theo lạc và khổ, tâm không kham nổi sự quyết đoán trong các sự chứng ngộ về thắng trí. Tất cả các pháp này ở ba sự chứng đạt về thiền là sự xuyên thấu thông qua bốn trạng thái khổ: Sự sợ hãi ấy đưa đến trạng thái khổ, đưa đến trạng thái khổ do vướng bận, đưa đến trạng thái khổ do thắng trí, và đưa đến trạng thái khổ do bệnh tật; đây là các sự bất lợi ở tam thiền.
Ở đấy, các sự bất lợi ở tứ thiền là những gì? Là các pháp liên quan đến các sự chứng đạt tuần tự cho đến sự chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ; và ở lãnh vực của các pháp này, nhiều loại tà kiến sanh khởi đến các phàm nhân ngu si có sự khoan khoái. Và các thiền này là được xuyên thấu bởi các sắc tưởng thô và tế. Tất cả bốn thành tố chính thuộc phần thô và tế của thiền về lòng trắc ẩn và từ ái là luôn luôn phổ biến và khó thực hành. Và khi đã được phát khởi, các thiền này phát khởi nương tựa lẫn nhau. Ở đây, khi đã được phát khởi, các pháp này là không được đầy đủ. Với các hiện tướng không được nắm giữ toàn diện, các pháp này bị mất mát và bị diệt tận, các pháp này không được nắm lấy; và các thiền với các yếu tố đã được diệt tận của các pháp này, các hiện tướng không phải là tưởng về hiện tướng của thiền bị tản mát. (Tưởng) trước đây chưa đạt được là do năng lực của vị chứng thiền, do các sự bất lợi này; đây là sự thối giảm của thiền.
Đối với vị có tưởng còn sót lại do không suy xét sự chứng đạt về diệt tận, các tưởng và tác ý đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ đang nổi trội ở vị ấy; vị ấy đánh mất sự chứng đạt về diệt tận. Đối với vị đã đạt đến vô tưởng xứ, có tưởng không bị lay động, các tác ý đồng hành với Vô Sở Hữu Xứ đang nổi trội ở vị ấy; và vị ấy không nhận biết lãnh vực ấy, vị ấy đánh mất nó. Đối với vị đã đạt đến Vô Sở Hữu Xứ, các tưởng và tác ý đồng hành với Thức Vô Biên Xứ đang nổi trội ở vị ấy; và vị ấy không nhận biết lãnh vực ấy, vị ấy đánh mất nó. Đối với vị đã đạt đến Thức Vô Biên Xứ, … đồng hành với sắc tưởng –nt– (cho đến … đồng hành với dục tưởng ở sơ thiền nên được thực hiện với chi tiết).
Tại sao vị ấy đánh mất? Vị tham thiền về lỗi lầm ở thiền có lỗi lầm, (?) vị tham thiền khắp mọi nơi, vị tham thiền bị gián đoạn, vị không tự mình tham thiền, vị tham thiền trong lúc đang chăm chỉ làm việc, và vị tham thiền không quen thuộc với bất cứ (đề mục) gì, vị tham thiền trong lúc quá vội vã, vị tham thiền trong khi đang xem thường, vị tham thiền khi thân hành không được tịch tịnh, vị tham thiền không biết về sự thoát ra của việc thâm nhập, vị tham thiền bị ngự trị bởi các pháp che lấp trong khi tác ý đến việc đạt được sự hứng thú. [Sự dứt bỏ việc thâm nhập của luyến ái về dục là hứng thú của thiền,] “sự nổi lên” của các pháp, của các nhân luyến ái về dục là hứng thú của thiền; các thiền với các yếu tố đã được diệt tận của các pháp này là trạng thái hành-xả-của-lạc thuộc thượng tầng, sự dứt bỏ của các ô nhiễm do mong muốn và do hành động là sự hứng thú, như vậy cũng là hứng thú của thiền. Khi cuộc sống thế gian bị ép bức bởi sự khó chịu lớn lao, thì “khoảng trống không có sự khó chịu” sẽ tách rời ra; đây là sự dứt bỏ của thiền. Điều này nên được tìm kiếm ở cuộc sống thế gian có sự vướng bận hoặc không có sự vướng bận. Thiền này có sự lợi ích trong việc dứt bỏ luân hồi đối với các chúng sanh đã thể nhập vào sự luân hồi không biết được điểm khởi đầu; sự hứng thú này của thiền thuộc về thân của vị chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền. “Vị chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền và về (đề mục) nên tham thiền.” (?) Vị tham thiền không bám víu vào trạng thái đã chứng thiền về (đề mục) không nên tham thiền. Các thuật ngữ của vị tham thiền về lỗi lầm được cân nhắc ở phần đối nghịch. (?)
1. Ở đấy, sự thiện xảo về thiền là gì? Thiện xảo về thể nhập là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự đặc biệt của thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo bên trong thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo xuất ra khỏi sự thể nhập là thiện xảo về thiền, thiện xảo về bản chất ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự bất lợi ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về sự thoát ra ở thiền là thiện xảo về thiền, thiện xảo về việc nắm giữ theo kết quả của thiền, pháp tự nhiên không thối giảm ở kết quả suy xét theo kết quả của thiền và vị đã có sự đùa giỡn ở thiền đã được sanh lên đạt đến thiền liên quan đến thù thắng. Tuy nhiên, điều này là “thuộc về người này,” và việc nắm lấy hiện tướng của đối tượng từ (yếu tố) đã được mang lại từ hiện hữu không phải là năng lực của sự quyết đoán. Các hiện tướng về trạng thái chuyên nhất của tâm có lợi ích về cảnh giới tốt đẹp do năng lực của chỉ tịnh và sự không chìm xuống ở thiền đã vận hành đến Đạo Quả, đến chỉ tịnh. Trạng thái hành xả của định, chỗ trú của các hiện tướng có trước, là năng lực niệm của vị đã có sự nắm chặt ở năng lực chỉ định của các minh sát đã chuyển vận điều ấy.
2-3. Ở đấy, trạng thái toàn hảo của thiền là gì? Từ ái là trạng thái toàn hảo tốt đẹp. (?) Thông qua sự diễn tả bằng sự chỉ bảo ở Kinh: ‘Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, …’ hai Chân Lý được diễn giải là: Khổ và Tập. Thông qua cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu, ‘những kẻ nào không nhìn thấy tội lỗi ở các pháp đưa đến sự ràng buộc, những kẻ ấy sẽ vượt qua dòng lũ,’ sự kiện này không được biết đến, còn ‘những kẻ ấy sẽ không vượt qua,’ như thế thì có; đây là sự kết nối và sự tìm hiểu.
4. Vậy thì đây là nền tảng là của điều gì? Bị dính mắc vào các dục: là năm loại dục; điều ấy là nền tảng của tham ái về các dục. ‘Không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc’ là nền tảng của vô minh. Những kẻ bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn: là nền tảng của sự chấp thủ.
5. Bị dính mắc vào các dục: Có hai loại dục: vật dục và ô nhiễm dục. Ở đấy, ô nhiễm dục là dục ái (tham ái về dục); sắc ái, hữu ái là được liên quan với dục ái thông qua sự truyền đạt bằng tướng trạng. Không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc: Ở đấy, mong muốn và luyến ái là thuộc về sự ràng buộc; cái gì là nền tảng của điều ấy? Cảm thọ lạc và hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền; như thế, khi cảm thọ lạc được nắm giữ, ba thọ cũng được nắm giữ. Khi thọ uẩn được nắm giữ, toàn bộ năm uẩn được nắm giữ. Sắc-thinh-hương-vị-xúc (các vật dục) là được nắm giữ; khi các vật dục được nắm giữ, toàn bộ sáu ngoại xứ là được nắm giữ; người bị dính mắc ở các nội và ngoại xứ, …; việc này được gọi là sự truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, người nào trú ở ô nhiễm thô thiển trong số tất cả các ô nhiễm, người ấy không xa lìa luyến ái ở các ô nhiễm vi tế hơn điều ấy. Ở đấy, sự ràng buộc ở ngoại phần là ‘của tôi,’ sự ràng buộc ở nội phần là ‘tôi.’ Ở đấy, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào có ý muốn vượt qua dòng lũ, những người ấy sẽ sống có sự quan sát sự bất lợi ở các pháp đưa đến ràng buộc,” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Bị dính mắc vào các dục: là bị dính mắc vào những gì, bị dính mắc bởi cái gì, bị dính mắc đối với những gì; đây là biểu hiện có bốn loại liên quan đến cách truyền đạt trong số tất cả (các cách truyền đạt). Ở đấy, ba sự trái khuấy và các nền tảng (của chúng) là những gì? Ba bất thiện căn là nền tảng của ba sự trái khuấy: của sự trái khuấy của tâm, của sự trái khuấy của tưởng, của sự trái khuấy của kiến. Ba bất thiện căn là nền tảng của hành vi và hành động thấp kém hay cao quý và của bốn chấp thủ. Bất thiện căn sân được thấy là nền tảng của hành vi và hành động thấp kém hay cao quý. Giống như người bố thí sự không sợ hãi (vô úy) đến người mẹ, hoặc đến người cha, hoặc đến bất cứ người nào, đến luôn cả vị tỳ khưu cao cả; ở đấy, kẻ khác có thể thực hiện điều sai trái bằng thân hoặc bằng khẩu. Ở đấy, người nào trong lúc duy trì sự phòng hộ, sự che chở, sự bảo vệ cho những vị cao cả ấy, (mặc dầu) có liên quan đến oán hận, người ấy (cũng) bố thí sự không sợ hãi đến những vị cao cả. Khi sự không sợ hãi đã được bố thí đến những vị ấy, người nào, ở đấy, có thể thực hiện điều sai trái, ở đấy, trong lúc chấp thủ oán hận, người ấy tạo ra hành động sanh lên do sân,– –ở đấy, là sự che lấp do giác quan không tốt lành. Việc nào là tưởng về việc cúng dường sự không sợ hãi đến những vị ấy, việc này là hành động cao quý. Hơn nữa, lối thực hành sai trái là oán hận, là hành động thấp kém, là tham lam, và là si mê; đây là các lời nói về các sự che lấp. Các điều ấy là bốn sự chấp thủ. Với bốn chấp thủ ấy, người nữ hoặc người nam có sự chấp thủ đối với năm uẩn ấy. (Năm uẩn là Khổ,) chính các thủ ấy là Tập, đây là Khổ và Tập; chính việc ấy là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.
7. Ở đấy, những người nào không bị luyến ái ở các dục, những người ấy đạt đến việc quan sát sự bất lợi. Như thế, trạng thái ham muốn đi ra khỏi dục giới này được gọi là sự mong muốn xuất ly. Ở đấy, trong số các sự tạo tác, không làm thương tổn bất cứ cái gì dầu yếu hoặc mạnh (?) là sự mong muốn không oán hận; không hãm hại bất cứ cái gì là sự mong muốn không hãm hại. Như thế, ba sự mong muốn được quyết đoán trong việc xuất ly là: mong muốn về xuất ly, mong muốn về không oán hận, mong muốn về không hãm hại. Ở đấy, mong muốn về xuất ly là vô tham, mong muốn về không oán hận là vô sân, mong muốn về không hãm hại là vô si. Ba thiện căn này ở trong tám điều đúng đắn là những sự lợi ích cho người khác, chúng vận hành đưa đến sự diệt tận của chính bốn sự chấp thủ ấy. Hoặc hơn nữa, nếu một người tạo ra nghiệp đen hoặc trắng, thì chúng vận hành đưa đến việc hủy bỏ quả thành tựu của điều ấy; nghiệp không đen không trắng này vận hành đưa đến sự diệt trừ nghiệp. Ở đấy, sự diệt tận ba bất thiện căn là Diệt, ở đấy các lối thực hành chính là Đạo. Đây là hai Chân Lý. Đây là bốn Chân Lý. Là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
8. Bị dính mắc vào các dục: Các vị Hữu Học bị dính mắc chỉ với một biểu hiện, các phàm nhân bị dính mắc với hai biểu hiện. Ở đấy, câu hỏi nên-được- giải-đáp-sau-khi-phân-tích này là cần được nói đến. Mặc dầu vị Nhập Lưu cũng thân cận một (dục) nào đó và quả thật không bị dính mắc vào sự chấp chặt, bởi vì vị ấy ra sức cho việc giảm thiểu, không vì việc tích lũy. Vị Nhập Lưu thân cận các dục chỉ vì tác động của ô nhiễm; trái lại phàm nhân thân cận các dục đưa đến việc sanh khởi ô nhiễm. Ở đấy, trong số những kẻ bị dính mắc vào các dục, ‘người sẽ vượt qua bốn dòng lũ’ là điều nên được giải đáp sau khi phân tích. Đây là sự phân tích.
9. Sự đảo ngược: “Những người nào không bao giờ dính mắc vào các dục và không bị gắn liền với các sự ràng buộc, những người ấy sẽ vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn ấy;” đây là phần đối nghịch của Kinh (này).
10. Từ đồng nghĩa: Người bị dính mắc vào các dục và trong trường hợp ấy là loại dục nào trong số các dục; ở đấy, sự đi vào là bị dính mắc. Luôn cả các pháp là yếu tố nuôi dưỡng của các dục; ở đấy, sự đi vào là bị dính mắc. Ở đấy, đây là từ đồng nghĩa của các dục: ‘bãi lầy, bụi bặm, mũi tên, mụt ghẻ, tai họa, bất hạnh,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa; ở đấy, sự đi vào là ‘bị dính mắc.’ Như thế, ‘bị dính mắc’ có từ đồng nghĩa là: ‘bị cột trói, bị mê mẩn, bị trói buộc, bị bám chặt, đã đạt đến các dục, không được hoàn toàn tự do, sống nhiều với nó,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa. Đây gọi là từ đồng nghĩa.
11. Ở sự mô tả về việc lai vãng với các dục, ở sự mô tả về hành xứ của ô nhiễm, từ đồng nghĩa được mô tả ‘một cách đa dạng’: ‘bị dính mắc … sống nhiều với nó,’ hoặc các từ đồng nghĩa khác nữa. Các (dục) này được mô tả ở sự mô tả về việc lai vãng với các dục, ở sự mô tả về hành xứ của ô nhiễm, được mô tả với sự mô tả về mầm giống; các hành được mô tả với sự mô tả về sự ràng buộc; thủ được mô tả với sự mô tả về nhân; người được mô tả với sự mô tả về hạng người.
12. Sự liệt kê: ở (câu kệ) này là sự tùy thuận sanh khởi, Khổ, Tập, các ô nhiễm, các sự tạo tác và các sự ràng buộc; ở năm uẩn là hành uẩn; ở các pháp xứ là các pháp xứ bất thiện; ở các quyền là lạc quyền và hỷ quyền. Đây là sự liệt kê về quyền.
13. Sự làm rõ: Chừng ấy phần mở đầu này nên được diễn giải là ý nghĩa của Kinh.
14. Sự xác định: Các pháp này có (một số) được mô tả theo tính trạng đồng nhất, có (một số) theo tính trạng khác biệt. Các tưởng về dục ở bên ngoài được mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Bị dính mắc vào năm loại dục’: các sự thâm nhập và các sự trái khuấy được mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Có thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn’: vô minh được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Sự thiết yếu: Nhân gì, duyên gì của việc ấy? (Năm dục) là duyên với tính chất cảnh duyên. Sự tác ý đúng đường lối là duyên với tính chất đồng y chỉ duyên. Vô minh là duyên với tính chất đẳng vô gián duyên. Sự tiềm ẩn về luyến ái là duyên với tính chất nhân duyên. Đây là nhân, đây là duyên.
16. Sự xếp loại - Duyên: ‘Những người bị dính mắc vào các dục thì được đi đến cảnh giới tốt, có sắc đẹp’: đây là sự mong muốn, sự luyến ái về dục giới; các sự tạo tác ấy có yếu tố tạo thành là không có phước báu. Chúng do duyên gì? Do duyên vô minh. Chúng là duyên cho cái gì? Là duyên cho thức. Như thế, các hành do duyên vô minh, thức do duyên các hành, –nt– (cho đến lão tử). Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn lớn lao này. (Một Kinh được hoàn tất. Kinh liên quan đến năm pháp che lấp nên được thực hiện.)
1. Ở đấy, cái gì gọi là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo? Tham đắm, oán hận, và phóng dật là tham ái; dã dượi và buồn ngủ, hối hận, và hoài nghi là tà kiến. Hơn nữa, trạng thái không thể sử dụng của thân có phần nào là sự buồn ngủ, nhưng không phải là ô nhiễm theo tính chất ô nhiễm từ bản chất. Như thế, sự dửng dưng của tâm và trạng thái không thể sử dụng của thân là cận phiền não thuộc phe nhóm, nhưng không phải là ô nhiễm từ bản chất.– –Ở đấy, sự tích tụ của tưởng về tự ngã, sự mệt nhọc, sự tích tụ của hối hận, sự dã dượi là các sự co rút của tâm; như thế, năm pháp che lấp này có bốn pháp che lấp là ô nhiễm từ bản chất, còn dã dượi và buồn ngủ là cận phiền não thuộc nhóm che lấp. Giống như bốn lậu hoặc là các lậu hoặc với trạng thái lậu hoặc từ bản chất, nhưng không phải với trạng thái lậu hoặc của tâm. (?) Có những lậu hoặc với trạng thái bản chất của lậu hoặc, có những lậu hoặc với trạng thái lậu hoặc do việc bị gán ghép vào. Hơn nữa, điều đã nói về Kinh rằng: Các lậu hoặc ấy là được gắn liền hay là được tách rời thông qua bài Kinh nào, thì chúng sẽ được nói là có lậu hoặc hay không có lậu hoặc thông qua chính bài Kinh ấy.
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Tham đắm là tham ái về dục, tham ái về sắc, tham ái về hữu, hoặc bất cứ cái gì đi đến sự bám chặt, có lậu hoặc, của người đã bị tham đắm có sự quan sát về từ ái. “Người thực hành điều bất lợi, ở đấy, là người khởi lên sự oán hận, đã thực hành, sẽ thực hành (điều ấy).” Và chín sự việc xung đột nên được thực hiện như vậy.
3. Như vậy, đối với người có sự quan sát về oán hận, ô nhiễm là sự nóng nảy, sự mệt nhọc của thân, trạng thái không thể sử dụng (của thân), sự buồn ngủ; đối với người có sự quan sát về tâm, do sự cạn kiệt đối với sự bất bình, có sự dã dượi và buồn ngủ này. Ở đấy, sự không vắng lặng về xung đột (ở tâm) là sự phóng dật. Việc (suy nghĩ): “Điều này là thế nào?” là sự ngần ngại. Sự phán đoán là như thế này, đây là sự hoài nghi.
4. Ở đấy, có vô minh và tham ái, đây là sự thâm nhập; có sự ngăn trở, sự che lấp, sự che đậy, và cận phiền não, sự mong muốn về dục này là nền tảng cho sự thâm nhập của sự luyến ái về dục. Oán hận là nền tảng cho sự thâm nhập của oán hận. Dã dượi và buồn ngủ là nền tảng cho sự thâm nhập của dã dượi và buồn ngủ. Phóng dật và hối hận là nền tảng cho sự thâm nhập của vô minh. Hoài nghi là nền tảng cho sự thâm nhập của hoài nghi. Sự thâm nhập của sự luyến ái về dục là nền tảng cho sự ràng buộc về tiềm ẩn. Sự thâm nhập của oán hận là nền tảng cho sự ràng buộc về bất bình. Sự thâm nhập của dã dượi và buồn ngủ là nền tảng cho sự ràng buộc về ngã mạn. Sự thâm nhập của vô minh và sự thâm nhập của hoài nghi là nền tảng cho sự ràng buộc về tà kiến.
5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Khi sự thâm nhập của luyến ái về dục được nói đến thì tất cả các sự thâm nhập được nói đến; khi các sự ràng buộc được nói đến thì tất cả các sự ràng buộc được nói đến. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Năm pháp che lấp, – phần đối nghịch của thiền,– là nhân sanh Khổ. Cái nào là quả báo, cái ấy là Khổ. Ở đấy, sự suy tầm về xuất ly là phần đối nghịch của sự luyến ái về dục; sự suy tầm về không oán hận là phần đối nghịch của oán hận; sự suy tầm về không hãm hại là phần đối nghịch của ba pháp che lấp (còn lại). Như thế, đây là ba sự suy tầm. Sự suy tầm về xuất ly liên quan đến định uẩn, sự suy tầm về không oán hận liên quan đến giới uẩn, sự suy tầm về không hãm hại liên quan đến tuệ uẩn. Đây là ba uẩn. Thánh Đạo tám chi phần vận hành đưa đến sự dứt bỏ các pháp che lấp; sự dứt bỏ các pháp che lấp là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
7. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vầnlà gì? Năm pháp che lấp trở thành mười. Bị luyến ái với cái gì thuộc nội phần, cái ấy là pháp che lấp. Bị luyến ái với cái gì thuộc ngoại phần, cái ấy cũng là pháp che lấp. Tương tự như vậy cho đến … hoài nghi. Đây là mười pháp che lấp. Các ô nhiễm thuộc nội và ngoại phần; đây là hai sự ràng buộc: sự ràng buộc thuộc nội phần và sự ràng buộc thuộc ngoại phần. Ở đấy, ‘tôi’ là thuộc nội phần, ‘của tôi’ là thuộc ngoại phần. Sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) là thuộc nội phần, 61 tà kiến là thuộc ngoại phần. Sự mong muốn và luyến ái thuộc nội phần liên quan đến các sắc là sự luyến ái chưa được xa lìa, sự mong muốn chưa được xa lìa, tương tự như vậy cho đến … ở thức; đây là tham ái thuộc nội phần. Sự bám chặt vào sáu xứ bên ngoài và vào ba hữu; đây là tham ái thuộc ngoại phần. Đây là hai Chân Lý: các sự ràng buộc và các pháp đưa đến sự ràng buộc. Ở đấy, việc quan sát sự nhàm chán ở các pháp đưa đến ràng buộc là Đạo. Việc dứt bỏ các sự ràng buộc là Diệt. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? ‘Sự ràng buộc’: điều này không hẳn là như thế. ‘Sự ràng buộc của ngã mạn liên quan đến tà kiến’: điều ấy không hẳn là như thế, bởi vì ngã mạn không được nhìn thấy nên hành giả không dứt bỏ ngã mạn. Ngã mạn là (một trong) năm (ràng buộc) thuộc thượng phần, mặc dầu nó cũng có thể thuộc phe nhóm tà kiến, nhưng sự ràng buộc thuộc hạ phần không vận hành đưa đến việc dứt bỏ ngã mạn. Và việc tạo thành ‘tôi’ còn chưa được xuyên thấu là điều có thể xảy ra cho người này (rằng): “Vậy thì khi nào ta sẽ chứng ngộ, đạt đến, và an trú ở xứ an tịnh ấy, là xứ an tịnh mà các bậc Thánh sẽ đạt đến và an trú?” Đây là sự tham đắm, và điều ấy không phải là sự che lấp. Hơn nữa, có sự buồn ngủ, –là ô nhiễm của thân,– xâm nhập vị A-la-hán, và điều ấy không phải là pháp che lấp; đối với vị ấy, sự dã dượi và buồn ngủ không hẳn là ‘pháp che lấp.’ Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.
9. Sự đảo ngược: Năm pháp che lấp đi đến sự dứt bỏ nhờ vào thiền có năm chi phần, đây là phần đối nghịch của chúng. ‘Các pháp che lấp đối với một vị nào đó được dứt bỏ’ sẽ không được suy luận theo cách khác, mục đích tối hậu là thuộc về mỗi cá nhân. (?) Đây là sự đảo ngược.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? ‘Sự mong muốn về dục, sự mong muốn và luyến ái, sự yêu thương, sự đeo đuổi’ là từ đồng nghĩa. ‘Sự che lấp, sự che đậy, cận phiền não, sự thâm nhập’ là từ đồng nghĩa.
11. Sự mô tả: Các duyên do vô minh là sự mô tả với sự mô tả về phận sự, oán hận là sự mô tả với sự mô tả về việc tán loạn, sự dã dượi và buồn ngủ là sự mô tả với sự mô tả về việc không thủ tiêu. Như vậy, tất cả năm pháp che lấp ấy ở bài Kinh này là sự mô tả với sự mô tả về việc tán loạn.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Năm pháp che lấp này là vô minh và tham ái. Ở đấy, các pháp che lấp có vô minh là gốc rễ; tham ái là các hành, chúng có vô minh là duyên; hai pháp này được gộp vào hành uẩn ở năm uẩn, vào pháp xứ ở các xứ, vào pháp giới ở các giới, vào nền tảng ở các quyền của các pháp này: của lạc quyền, của hỷ quyền, của nữ quyền, và của nam quyền.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự làm rõ là gì? Kinh này đã được trình bày sau khi mở đầu như thế; ý nghĩa ấy được nói với năm thuật ngữ này.
14. Ở đấy, sự mong muốn về dục, oán hận, và hoài nghi là không được mô tả theo tính trạng đồng nhất, ‘các dục’ là không được mô tả theo tính trạng đồng nhất, và chúng quả thật là được mô tả theo tính trạng khác biệt. Đây là cách truyền đạt bằng sự xác định.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Sự mong muốn về dục có tác ý không đúng đường lối và đối tượng đẹp là duyên, hiện tướng đẹp là nhân. Oán hận có tác ý không đúng đường lối và các sự việc xung đột là duyên, sự tiềm ẩn của bất bình là nhân. Sự dã dượi và buồn ngủ có sự thối chí là duyên, có các sự mệt nhọc, các sự dao động do sự vận hành là nhân. Phóng dật và hối hận có đối tượng khả ái, có giác quan hướng đến sự hứng thú, và trí chưa được đầy đủ là duyên, có dục tưởng và sự tiềm ẩn của tà kiến là nhân. Hoài nghi có đối tượng từ chín loại ngã mạn và sự tiềm ẩn của ngã mạn là duyên, có sự tiềm ẩn của hoài nghi là nhân. Năm pháp này sanh khởi có nhân, có duyên.
16. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loại là gì? Năm pháp che lấp này, cũng như bốn lậu hoặc này, các khối u này, các mũi tên này, các chấp thủ này, các điều này liên quan đến chính các pháp ở bên ngoài ấy; (việc ấy) đi đến sự mô tả là ‘Kinh liên quan đến phiền não.’ Đây là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.
Kinh Liên Quan Đến Phiền Não Đã Được Diễn Giải.
Câu kệ là: “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, …”
1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là gì? Điều gì là ý nghĩa ở Kinh này? Nó chỉ bảo về thức uẩn thông qua sự xác định về uẩn, về ý thức giới thông qua sự xác định về giới, về ý xứ thông qua sự xác định về xứ, về ý quyền thông qua sự xác định về quyền. Ở đó, cái gì là các pháp dẫn đầu? Một cách tóm tắt, sáu pháp là các pháp dẫn đầu: (ba) gốc rễ của thiện và (ba) gốc rễ của bất thiện (không được đề cập), ở Kinh này gốc rễ của thiện được chỉ bảo. Ở đấy, các pháp có tâm là sự dẫn đầu là các pháp nào? Tâm là yếu tố dẫn đầu của chúng, cũng giống như vị vua là người dẫn đầu của đoàn quân, tương tự y như vậy, tâm là yếu tố dẫn đầu của các pháp.
Ở đấy, với mong muốn về xuất ly, với mong muốn về không oán hận, với mong muốn về không hãm hại đối với các sự dẫn đầu theo ba loại: với mong muốn về xuất ly thì có sự dẫn đầu của vô tham, với mong muốn về không oán hận thì có sự dẫn đầu của vô sân, với mong muốn về không hãm hại thì có sự dẫn đầu của vô si.
Ở đấy, ‘có tâm là chủ đạo’ các pháp này được nổi bật bởi tâm, hoặc là được tạo ra bởi tâm, chính tâm là ‘tối thượng’ đối với các pháp này, chính tâm là ‘đứng đầu’ đối với các pháp này, chính tâm ‘thể hiện chủ quyền’ đối với các pháp này; có tâm là chủ đạo là như thế.
Có tốc độ của tâm: ‘Tâm di chuyển đến nơi nào thì các pháp này di chuyển đến nơi ấy;’ có tốc độ của tâm là như thế. Gió di chuyển nhanh như thế nào hoặc bất cứ người nào đi nhanh được gọi là ‘có tốc độ của gió,’ ‘đi như chim,’ tương tự y như vậy, các pháp này, được sanh ra bởi ý, di chuyển; ở đấy, ‘các pháp này di chuyển;’ có tốc độ của tâm là như thế.
Chúng được hình thành do mong muốn theo ba cách và không có tính chất khuấy động: sự suy tư (3 loại), bảy loại thiện hạnh do thân (3 loại) và thiện hạnh do khẩu (4 loại), chúng là mười đường lối hành động thiện.
Ở đấy, ‘nếu … với tâm trong sạch’ là ý nghiệp, ‘nói’ là khẩu nghiệp, ‘hay làm’ là thân nghiệp. Với những điều này, mười đường lối hành động thiện ở Kinh này là tối thắng, an tịnh; vị ấy là người có giới, ở vòng quay ngược lại, không đưa đến việc đi ra khỏi thế gian; là Kinh liên quan đến huân tập. Đây là sự chỉ bảo.
2. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, …” là các gốc rễ của thiện và tám chi phần chân chánh. Đây là Kinh.
3. Sự kết nối: Quả thành tựu của mười đường lối hành động thiện là đưa đến thọ lạc, được dính líu đến không oán hận. Nó đi theo ‘ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).’ Có sự kết nối ấy.
4. Nền tảng: là nền tảng của mười tám sự quán xét của ý. ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: các pháp này là nền tảng của toàn bộ phần thiện. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: Sự tịnh tín của tâm là nền tảng của tín quyền, ‘nói’ là thuộc về chánh ngữ, ‘hay làm’ là nền tảng của chánh nghiệp và chánh tinh tấn.
5. Tướng trạng: Nói rằng: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có ... là sự dẫn đầu,’ như thế thì chúng cũng có thọ là sự dẫn đầu, chúng cũng có tưởng là sự dẫn đầu, chúng cũng có các hành là sự dẫn đầu. Bất cứ những pháp nào là đồng sanh, toàn bộ đều là sự dẫn đầu của các pháp ấy. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy,’ hỷ tâm cũng đi theo người ấy, cái bóng vô cùng an lạc, sự an lạc ấy cũng đi theo người ấy.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? ‘Có tâm là sự dẫn đầu,’ điều này không phải là một sự định danh. Bởi lý do gì? Toàn bộ các điều này là sáu nhóm thức. Về điều này, chủ tâm của đức Thế Tôn là gì? ‘Những người nào tầm cầu sự an lạc, những người ấy làm cho tâm được tịnh tín,’ đây là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh này. Ý nghĩa đã được diễn giải ngay ở phần trước.
7. Chính các gốc rễ của thiện là nhân của tám chi phần chân chánh; đây là Đạo tám chi phần. Mười sự kiện (hành động thiện) là các nhân cho việc chỉ bảo, là các duyên cho việc chỉ bảo, và là các sự diễn giải. Ở đấy, điều có thể nghĩ đến là: ‘Danh sắc cùng với khổ là chân lý của thức,’ (?) như thế gốc rễ của (bất) thiện được dứt bỏ theo từng chi phần. Điều này, ở lãnh vực chưa được dứt bỏ, là Tập. Việc dứt bỏ đối với chúng là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
8. Sự phân tích: “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo,có tốc độ của tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).”
Tuy nhiên, điều ấy không hẳn là có đối với vị Sa-môn hoặc đối với vị Bà- la-môn. Hoặc đối với vị có tà kiến ấy thì nó làm cho tâm (của vị ấy) được trong sạch về mục đích của bản thân, và (vị ấy) nói hay làm bằng tâm trong sạch ấy thì không phải khổ đau đi theo người ấy ví như bóng có sự đi theo (hình), mà chính hạnh phúc đi theo người ấy giống như bánh xe lớn đi theo bước chân (của con thú đang kéo xe). Điều này nên được giải đáp sau khi phân tích điều ấy (rằng): ‘Nếu với tâm trong sạch, thì thân nghiệp, khẩu nghiệp sẽ đưa đến thọ lạc,’ khi đi đúng đường thì sẽ dẫn đến thọ lạc, khi đi sai đường thì sẽ dẫn đến thọ khổ. Đây là sự phân tích.
9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là người nào nói hay làm với tâm xấu xa thì khổ đau đi theo người này; chính hai bài Kinh này đã được nói ra, và điều ấy chính là sự đảo ngược, …
10. Từ đồng nghĩa: là ý, tâm, thức, ý quyền, ý thức giới.
11. Sự mô tả: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: tâm này được mô tả với sự mô tả về phận sự. ‘Các pháp’: được mô tả với sự mô tả về các đường lối hành động thiện. ‘Có tâm là chủ đạo’: được mô tả với sự mô tả đặc biệt. ‘Có tốc độ của tâm’: được mô tả với sự mô tả về năng lực. ‘Tâm’: được mô tả với sự mô tả về xuất ly. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về tín quyền. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về suy tư không bị khuấy động ở nhị thiền. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: được mô tả với sự mô tả về phía đối nghịch của những người không có đức tin. ‘Nói’: được mô tả với sự mô tả về chánh ngữ. ‘Hay làm’: được mô tả với sự mô tả về chánh nghiệp. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: là sự gom chung lại các thiền, là ý quyền ở các quyền, là thức ở sự tùy thuận sanh khởi.
12. Sự liệt kê: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là từ ái và tùy hỷ, là nhị và tam thiền ở các thiền, được gộp vào hành uẩn ở các uẩn, là pháp giới ở các giới, là pháp xứ ở các xứ, thiện ở các quyền có lạc quyền và hỷ quyền là nền tảng.
Đối với các pháp đã được tùy thuận sanh khởi này, do duyên xúc có xúc đưa đến thọ lạc, thọ lạc ở các sự quán xét của ý là sự xem xét hỷ tâm, ở ba mươi sáu cơ sở đầu tiên là sáu hỷ tâm nương tựa vào xuất ly. Như thế, đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Kinh này được nói liên quan đến ý nghĩa nào thì ý nghĩa ấy đã được gắn liền, là Kinh liên quan đến ý nghĩa ấy. Đây là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.
14. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xác địnhlà gì? ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu’: là sự mô tả theo tính trạng khác biệt, không theo tính trạng đồng nhất. ‘Các pháp’: là tính trạng đồng nhất, không phải là sự mô tả theo tính trạng khác biệt. ‘Nếu … với tâm trong sạch’: Sự trong sạch có hai loại: là sự không đè nén do không oán hận thuộc nội phần và là sự tín nhiệm thuộc ngoại phần. Sự trong sạch thuộc nội phần có hai loại: trong sạch do thủ tiêu và trong sạch do đè nén. (!) Việc tiêu diệt sự thâm nhập của oán hận không phải là sự trong sạch ở gốc rễ hoặc là cái gốc rễ đã được sanh ra; (?) sự trong sạch là nhờ vào việc tiêu diệt pháp có oán hận. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: là lạc thuộc thân và thuộc tâm. Sự xa lìa đối tượng không yêu mến, sự gắn bó với đối tượng yêu mến, hạnh phúc của việc xuất gia, hạnh phúc của phàm nhân, hỷ giác chi là lạc thuộc tâm. Việc ‘có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc’ là lạc thuộc thân, và các giác chi là lạc thuộc tâm. Việc ‘có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc’ cũng là nền tảng của lạc giống như đã được đề cập thông qua sự mô tả, điều ấy là không được bám víu đối với các thiện pháp. (?) ‘Đi theo’: sự áp sát được nhìn thấy, và không phải trạng thái đã được đạt đến này đi theo (người ấy). Kinh này có thể được xác định theo hai biểu hiện: người có tâm ý trong sạch là theo nhân và việc đưa đến thọ khổ là theo quả thành tựu.
15. Sự thiết yếu: Đức Thế Tôn đi vào thành Rājagaha cùng với hội chúng tỳ khưu năm trăm vị. Ở đấy, một người nam phục vụ đức Thế Tôn; niềm tịnh tín đã sanh khởi đến vị ấy. Là hành giả có sự thực hành trước đây và có thiện căn, vị ấy tuyên bố với những người khác và nói lời nói này: ‘Thật lợi ích cho những người ấy việc đức Thế Tôn đi vào chỗ trú ngụ của họ! Nếu điều ấy cũng có thể xảy đến cho chúng ta, chúng ta cũng sẽ đạt được niềm tịnh tín đối với đức Thế Tôn.’ Với tâm không oán hận, vị ấy đã chắp tay hướng đến đức Thế Tôn cúi chào (nói rằng): ‘Kính lễ đức Thế Tôn, kính lễ đức Thế Tôn!’ rồi đã đứng ở một bên. Kế đó, đức Thế Tôn đã nói Kinh này: ‘Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu.’ Toàn bộ bài Kinh là như thế. Ở đấy, việc vị ấy nói với những người khác là khẩu nghiệp. Việc chắp tay cúi chào là thân nghiệp. Niềm tịnh tín ở tâm là ý nghiệp. Ở đấy, vị ấy bày tỏ, ca ngợi đến những người khác việc ‘đức Thế Tôn đi vào chỗ trú ngụ của họ.’ Toàn bộ thiện căn vô tham của vị ấy là tâm từ ái đối với đức Thế Tôn. Thiện căn vô sân của vị ấy là việc chắp tay cúi chào và chế ngự ngã mạn. Ở đấy, thiện căn vô si của vị này là rõ ràng.– –Việc vị ấy đạt được tuệ cao quý là sự dứt bỏ sự trái khuấy của kiến của vị này. Việc thu thúc đúng như thế ấy là sự dứt bỏ sự trái khuấy của tưởng của vị này. Niềm tịnh tín của tâm là sự dứt bỏ sự trái khuấy của tâm của vị này,’ như thế đối với các sự trái khuấy bất thiện, sự đè nén, sự dứt bỏ là duyên.
Ba thiện căn: Sự suy tư ở tâm không bị khuấy động được gọi là ‘tác ý’ của vị ấy. Việc đè nén với các ô nhiễm như thế, các sự trái khuấy, và các đối tượng là duyên với tính chất hữu duyên, các thiện căn là duyên với tính chất đồng y chỉ duyên, và việc ấy là sự tác ý; với nhân với duyên này tâm được sanh lên. Ở đấy, tâm được vận hành với đối tượng là bậc Đạo Sư, đây là tưởng nhớ đến Phật. Hành giả tác ý đến các đức hạnh của đức Thế Tôn, đây là tưởng nhớ đến Pháp của vị này. Ở đấy, niệm và sự nhận biết rõ là nhân, và điều này (cũng) là duyên; lời nói và tuệ là nhân, sự suy tầm và xem xét là duyên. Các sự tạo tác của thân, sự tạo tác của nghiệp gọi là nhân hoặc là không có duyên; sự tích lũy của nghiệp đưa đến thọ lạc do có liên quan đến nhân là duyên của nghiệp.
16. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xếp loạilà gì? ‘Nếu … với tâm trong sạch’: ở đây, chính người có niệm là được trong sạch. Hơn nữa, ‘do thanh lọc tâm mà các chúng sanh được giải thoát.’ Vì thế, các chúng sanh, –có tâm là sự dẫn đầu, có sự cố ý với tâm trong sạch,– ở đấy là ‘có trạng thái của tâm’ khỏi sự bất bình; đây là tập hợp của các sự cố ý với niềm tịnh tín, và niềm tịnh tín ấy của người này được khởi sự. Được trong sạch với niềm tịnh tín, các tưởng của người này không còn bị sai lệch. (Niềm tịnh tín) ấy có năm loại do sự đè nén. (?) Sự yên tịnh của thân chính là niềm tịnh tín đã được nương vào tâm; hơn nữa, tâm đã được trong sạch vào trước đó. Đây là sự xếp loại. Niềm tịnh tín của năm loại (?) cũng tương tự như vậy. ‘Do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy’: Đức Thế Tôn diễn giải thế nào? Bởi vì quả thành tựu của nghiệp ấy không đi theo sự thật về bản ngã, mà cách thức của nó đi theo; vào lúc hỷ tâm sanh lên do duyên mỉm cười, thì sự không ăn năn cũng đi theo. Đây là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.
Kinh Mahānāma dòng Sakya
1. “Nếu tôi từ trần vào lúc này (không có niệm, không có sự nhận biết rõ), cảnh giới tái sanh dành cho tôi là gì, kiếp sau của tôi là gì?” “Này Mahānāma, chớ sợ hãi! Này Mahānāma, chớ sợ hãi! Cái chết của ngươi sẽ không tồi tệ, sự từ trần của ngươi sẽ không tồi tệ. Này Mahānāma, tâm của bất cứ người nào, trong một thời gian dài, đã được phát triển đầy đủ với tín, đã được phát triển đầy đủ với giới, đã được phát triển đầy đủ với văn, …” (nên được thực hiện với chi tiết).
1. Thông qua xả thí và tuệ, điều gì được nhìn thấy? Tín là sự trong sạch của tâm; điều được suy tư không bị khuấy động là tín. Bởi lý do gì? Tính chất của tướng trạng không bị khuấy động, bởi vì tín có tướng trạng không bị khuấy động. Những người khác đã nói là ‘tướng trạng đi đến sự hoàn hảo hoàn toàn trong sạch về đức hạnh,’ hoặc một số người khác đã nói là ‘tín có tướng trạng chấp nhận lời nói.’
Một cách thức khác: Nếu một ai tin chắc về bản thân như vầy: ‘Tôi không biết bất cứ điều gì,’ ‘Tôi đây trong trường hợp ấy là có trạng thái không biết, – thì không khác biệt,’ (!) đây là ‘tín.’ Một cách thức khác: Việc quan sát sự bất lợi ở 61 tà kiến là ‘vô thường, khổ, vô ngã,’ và điều ấy được nhìn thấy bởi người ấy. Giống như một người nhìn thấy bằng mắt nước ở giếng sâu, và không thể với đến bằng thân; tương tự như vậy, quan điểm thánh thiện là do sự suy xét rồi chấp nhận và còn chưa được chứng ngộ; điều này được gọi là ‘tín,’ và nó là hợp thế. Một cách thức khác: Phàm phu chấp nhận sự bám chặt thuộc về thân kiến có nguồn gốc từ hai mươi (tà kiến); điều này là tưởng về phương pháp ‘đồng nhất’ (?) trong việc thấy đúng theo thực thể. Quả thật nhờ vào năm quyền yếu kém thông qua đường lối thấy mà các ô nhiễm đứng chung với tà kiến được dứt bỏ; đây là tín. (?)
Tín được gọi là đầy đủ ở lãnh vực lối vào các chi phần Nhập Lưu. Chính ở lãnh vực ấy, giới thuộc về Hữu Học được gọi là ‘vật nâng đỡ các bậc Thánh;’ chính ở lãnh vực ấy, tuệ yếu kém (vẫn) được gọi là ‘tuệ quyền;’ chính ở lãnh vực ấy, trạng thái không còn mục đích với các uẩn (do tái sanh), đây là sự xả thí. Vì thế, tín nên được diễn giải theo sự xác định về xả thí. Do ý ấy được tăng thêm, chính tín ấy, với quan điểm bị sai lệch, có thể trở thành không có đức tin; nó được đầy đủ, được thọ trì liên quan đến việc dẫn đi và mầm tái sanh. Ở đấy, tín quyền là (với ý nghĩa) ‘phụng sự việc ham muốn,’ như thế thì những sự buông bỏ về các ác pháp đang hiện diện không phải là sự xác định về xả thí; sự xác định về tuệ là thông qua tuệ quyền, sự xác định về an tịnh là thông qua giới. Bốn pháp này làm viên mãn giới: tín, giới, xả thí, và tuệ.
Ở đấy, nhờ vào tín mà vượt qua dòng lũ. Giới là sự không xao lãng; xả thí là hành động do tuệ; tuệ là tuệ quyền. Ở đấy, tuệ quyền là ở ba sự tịnh tín bất động, giới là ở tín quyền, xả thí là ở bốn thiền, tuệ là ở các Chân Lý, niệm có sự đưa đến mọi điều lợi ích. Vị Hữu Học ấy có cảnh giới tái sanh tốt lành, có kiếp sau tốt lành.
Đối với vị ấy, trong lúc thực hành giới dầu có niệm bị lơ là, nhưng không vì niệm bị lơ là ấy mà các quyền ấy hoặc thiện căn ấy trở thành quả thành tựu của nghiệp. Sự diễn giải về ý nghĩa của nhóm ba ấy là: Ở đấy, tín, giới, xả thí, tuệ là bốn pháp. Tín và tuệ là thiện hạnh về ý; giới là thiện hạnh thuộc thân, thuộc khẩu; xả thí là thiện hạnh với sở hữu tâm vô tham; như thế khi tâm được nắm giữ thì năm uẩn được nắm giữ. Thiện hạnh với các pháp này là Chân Lý Cao Thượng về Khổ, là nền tảng của Đạo.
2. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? Tại sao lại thực hành tín và giới? Với trạng thái tín, hành giả tưởng nhớ đến đức Thế Tôn cho dầu bị đối đầu với con voi say, với các loài ngựa, bò, chó, (vị ấy) hoàn toàn không vi phạm giới bằng thân hay bằng khẩu; ‘được tự tin về tư cách’ là không có sự ăn năn; vị nào có trạng thái nhận biết được thiết lập bởi tuệ thì giới của vị ấy không bị bể vỡ; đối với vị có sự mê mờ đã được bóc vỏ thì không có tâm bất thiện sanh khởi hoặc sự đồng hành với tà kiến. Đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu.
3. Sẽ có cảnh giới tốt lành cho vị nói Pháp; có sự kết nối ấy.
4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài với tín, với giới, với xả thí, với tuệ, với định là nền tảng của sơ thiền. Tín từ sự suy tư không bị khuấy động của vị này là nền tảng của nhị thiền. Ba sự tịnh tín bất động và giới được yêu quý bởi các bậc Thánh là nền tảng của giới uẩn. Tuệ là nền tảng của tuệ uẩn. Các pháp này và tâm này là nền tảng của định có trạng thái nhất điểm. Tín là nền tảng của tín quyền. Xả thí là nền tảng của định quyền. Tuệ là nền tảng của tuệ quyền. Tín và tuệ là nền tảng của minh sát. Giới và xả thí là nền tảng của chỉ tịnh. Tín và tuệ là nền tảng của sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Giới và xả thí là nền tảng của sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái.
5. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtướng trạng là gì? Khi thức được nói đến, với tín, niệm được tu tập, thì toàn bộ năm uẩn được nói đến. Khi tín được đề cập thì tất cả bảy loại tài sản được đề cập: tài sản về tín –nt–. Khi giới uẩn được nói đến thì định uẩn và tuệ uẩn được nói đến. “Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài, vào thời điểm cuối cùng, sẽ không có sự xoay vần theo điều ấy;” sự kiện này không được biết đến. Ở đấy, tưởng có sự xoay vần theo điều ấy, luôn cả các pháp nào sanh ra từ điều ấy cũng có sự xoay vần theo điều ấy: là sắc tưởng, sắc tư, sự quan sát, và tác ý; tương tự như vậy ở nhóm thức của sáu xứ. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? Những người nào mong muốn cảnh giới tái sanh tốt lành và kiếp sau tốt lành, những người ấy sẽ tác ý đến tín, giới, xả thí, và tuệ; điều này là chủ tâm (của đức Thế Tôn). Thậm chí những chúng sanh khác, dầu không gặp gỡ đối diện với đức Như Lai (nhưng) được nghe Pháp này thì sẽ từ trần không có ăn năn; điều này là chủ tâm (của đức Thế Tôn).
7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Việc này cũng là bốn pháp: tín và tuệ diệt trừ sự không có đức tin và vô minh, giới và xả thí diệt trừ tham ái và sân hận. Đối với người ấy, hai gốc rễ được dứt bỏ; người ấy làm dừng lại khổ và năm uẩn với hai gốc rễ ở lãnh vực chưa được dứt bỏ. Hai Chân Lý Cao Thượng (là Khổ và Tập). Chỉ tịnh và minh sát là sự dứt bỏ hai gốc rễ. Đây là hai Chân Lý Diệt và Đạo. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Tâm đã được phát triển đầy đủ với tín – nt– Nếu đối với phàm nhân thì cảnh giới tái sanh tốt lành cũng sẽ có cho người ấy,” không hẳn là nghiệp của người ấy có quả thành tựu sẽ chín muồi ngay trong thời hiện tại, hoặc sẽ thành tựu ở đời sống khác, hoặc là việc nào ở quá khứ được sẵn sàng đưa đến quả thành tựu (hiện tại). Và các duyên cho việc ấy là các sự cố ý, giống như ở Kinh Mahākammavibhaṅga, vì thế sự diễn giải này: “Cảnh giới tái sanh tốt lành dành cho người thực hành Giáo Pháp” là nên được giải đáp sau khi phân tích.
9. Ở đấy, sự đảo ngược là gì? Không có đức tin, ác giới, bỏn xẻn, và tuệ tồi là được dứt bỏ bởi phần đối nghịch; đây là sự đảo ngược.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Tâm đã được phát triển đầy đủ một thời gian dài là tâm, ý và thức, –nt– Tín là tín lực, tín quyền. Giới là thiện hạnh, sự chế ngự, sự hạn định, sự rèn luyện, trạng thái liền lặn, đây là các từ đồng nghĩa của nó. Sự xả thí là sự buông bỏ, vô tham, sự buông ra, sự xác định về xả thí. Tuệ là trạng thái nhận biết, ánh sáng tuệ, tuệ quyền, tuệ lực.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tâm được mô tả với sự mô tả về hạt giống, sự phát triển đầy đủ được mô tả với sự mô tả về huân tập, tín được mô tả với sự mô tả về tịnh tín, giới được mô tả với sự mô tả về thiện hạnh, xả thí được mô tả với sự mô tả về việc làm phước thiện, tuệ được mô tả với sự mô tả về thẩm xét. Ba pháp này, –tín, giới, xả thí,– của vị có tuệ đi đến sự hoàn toàn trong sạch.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Cái nào là tâm, cái ấy là thức uẩn thuộc các uẩn, là ý thức giới thuộc các giới, là ý xứ thuộc các xứ. Bốn pháp được gộp vào hành uẩn thuộc các uẩn, –nt– thuộc các giới, thuộc các xứ.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Điều này đã được đức Thế Tôn nói khi được hỏi bởi Mahānāma dòng Sakya, toàn bộ điều ấy được kết nối.
14. Ở đấy, sự xác định là gì? Tâm này được mô tả theo tính trạng khác biệt với các tâm bất thiện không được phát triển đầy đủ. Được phát triển đầy đủ: thêm nữa, điều được mô tả nương vào nơi ấy là thuộc về những tâm khác đã được phát triển đầy đủ; thậm chí tất cả bốn pháp này cũng được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Cảnh giới tái sanh tốt lành: là đối với người hưởng dục, không phải là sắc giới, vô sắc giới. Loài người: tất cả là có cảnh giới tái sanh tốt lành, chính điều ấy được mô tả ở lời thuyết giảng; đây là sự mô tả.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với tâm, các quyền là duyên với tính chất trưởng duyên, tác ý là duyên với tính chất nhân duyên. Đối với tín, tuệ hiệp thế là duyên với tính chất nhân duyên, và tác ý đúng đường lối là duyên. Đối với giới, việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là duyên, và việc quyết định đúng đắn cho bản thân là nhân. Đối với sự xả thí, vô tham là nhân, và không ăn năn là nhân và duyên. Đối với tuệ, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối của bản thân là nhân và duyên.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Tâm được phát triển đầy đủ một thời gian dài, các sở hữu tâm cũng vậy. Ở đây, tất cả các pháp được phát triển đầy đủ, cảnh giới tái sanh sẽ là tốt lành, việc tái sanh, kiếp sau sẽ là tốt lành. Như thế, những ai thuộc loài người có sự hưởng thụ và thọ dụng, tất cả đương nhiên là có cảnh giới tái sanh là tốt lành. Đây là sự xếp loại.
Câu kệ là: “Bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát …” Ở đấy, cái gì gọi là bên trên? Cái nào từ đây trở lên sẽ là tương lai, đây là bên trên. Bên dưới gọi là cái đã vượt qua, quá khứ; người ta đã nói cái này là “đã được khơi lại.” Ở đấy, thường kiến về quá khứ liên quan đến các kiếp sống thuộc giới hạn quá khứ, quan điểm về giới hạn tương lai của những người nào đó là đoạn kiến; đây chính là hai quan điểm liên quan đến các kiếp sống đã được nói đến: đoạn kiến và thường kiến.
Ở đấy, đây là thường kiến: mười lăm thuật ngữ này về thân kiến là chung nhóm với thường kiến: ‘Tự ngã của tôi có sắc, sắc của tôi ở trong tự ngã, tự ngã của tôi ở trong sắc;’ chúng viện dẫn điều được nói đến như thế là tuệ. (?) Đoạn kiến là năm thuật ngữ chung nhóm với sự đứt đoạn. Chúng thấy rằng: ‘Mạng sống và thân thể là một,’ ‘sắc là tự ngã của tôi,’ bốn loại thân kiến là có hình thức như thế với đoạn kiến và thường kiến; tương tự như vậy là mười lăm thuật ngữ của (thân) kiến với hai mươi luận điểm liên quan đến năm uẩn là chung nhóm với giới hạn quá khứ, năm thuật ngữ của thường kiến là chung nhóm với giới hạn tương lai của đoạn kiến.
Ở đấy, trong khi thấy rằng: ‘Tôi là cái này’ thì nhận thấy sắc là tự ngã, người ấy theo học thuyết đoạn kiến; và người ấy thấy rằng: ‘Tự ngã có sắc, và sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc,’ như thế đoạn kiến thừa nhận là tự ngã, còn thường kiến thừa nhận là giới hạn quá khứ. Vị không nhận thấy: ‘Tôi là cái này’ thì các tà kiến lậu của vị ấy đi đến dứt bỏ. Vị ấy, có luyến ái đã được xa lìa phía bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, trong ba thời với giới hạn quá khứ, với giới hạn tương lai, thông qua từng cách diễn giải ấy, không quan sát: ‘Tôi là’ bằng cửa (giác quan) này, bằng sự thực hành này, bằng cách thức này. Đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Sự thực hành thánh thiện ấy với việc đã đi đến trạng thái không còn hiện hữu thông qua luân hồi, ‘đưa đến việc không còn hiện hữu lại nữa,’ bất cứ sự thực hành thánh thiện nào đưa đến việc không còn hiện hữu lại nữa, hoặc năm quyền dầu là yếu kém, trung bình, hay vượt trội, tất cả đều vận hành đưa đến việc dứt bỏ sự hiện hữu lần nữa. ‘Tôi’ là dòng lũ tà kiến, dòng lũ của dục, dòng lũ của hữu, và dòng lũ vô minh là cuối cùng.
1. Ở đấy, với cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là bốn Chân Lý. Với năm quyền và quả vị Nhập Lưu là hai Chân Lý: Đạo và Diệt. Với nhân sanh khởi của hiện thân là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Đây là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Trong khi không nhận thấy: ‘Tôi là cái này’ thì dứt bỏ ba sự ràng buộc cần được dứt bỏ do thấy (kiến). Đây là sự tìm hiểu.
3. Ở đấy, sự kết nối là gì? Ba hạng người: hạng người hiểu nhanh, hạng người hiểu chậm, hạng người cần-được-dẫn-dắt. Người hiểu nhanh có quyền sắc bén, và kế đến là người hiểu chậm có quyền yếu kém, kế đến là người cần-được-dẫn-dắt có quyền yếu kém.
Ở đấy, người hiểu nhanh với trạng thái quyền sắc bén sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Nhất Chủng; đây là hạng Nhập Lưu thứ nhất. Người hiểu chậm với các quyền yếu kém sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Gia Gia; đây là hạng Nhập Lưu thứ nhì. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, sau khi đạt đến lãnh vực của việc thấy, chứng đắc Quả vị Nhập Lưu, và là vị Tối Đa Bảy Lần; đây là hạng Nhập Lưu thứ ba.
Ở đấy, sự kết nối ấy là: (hành giả) với các quyền yếu kém, trung bình, và vượt trội có thể chứng ngộ lãnh vực yếu kém, trung bình, và vượt trội, hoặc do sự dứt bỏ thân kiến, (hành giả) dứt bỏ các tà kiến. Đây là sự kết nối.
4. Ở đấy, nền tảng là gì? Ở đấy, thân kiến là nền tảng của tất cả tà kiến, hiện thân là nền tảng của danh và sắc, danh và sắc là nền tảng của thân kiến, năm quyền có sắc là nền tảng của sự luyến ái về sắc, sáu xứ là nền tảng của việc tạo thành ‘tôi.’
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Khi hai tà kiến được dứt bỏ, ở đấy 61 tà kiến đi đến sự dứt bỏ. Vị có sự luyến ái đã được xa lìa bên trên và bên dưới là vị có sự luyến ái đã được xa lìa ở tất cả mọi thứ đưa đến luyến ái. Ở lãnh vực khác sanh lên từ cái ấy, vị ấy nhìn thấy đúng theo thực thể (rằng): ‘Cái này là duyên.’ Vị ấy chạm đến toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh này? Các chúng sanh nào sẽ không thích thú, họ sẽ tinh tấn để dứt bỏ tà kiến. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Năm quyền yếu kém này là năm quyền thuộc hạ phần, chúng bứng lên toàn bộ tất cả tham đắm và oán hận nhờ vào tác động của sự tu tập, năng lực giải thoát của bậc Hữu Học không phải là tín. (Nếu các quyền là) thuộc thượng phần, tín là năng lực do tác động của quan điểm (kiến), tấn quyền là trạng thái đã được khởi sự, niệm quyền là trạng thái đã được nắm chặt, chúng đi đến mục đích tột cùng. Ở đấy, các quyền là Đạo, sự dứt bỏ phiền não là Diệt, pháp không sanh khởi ở vị lai là Khổ. Đây là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? Người nào nhận thấy: ‘Tôi là cái này,’ người ấy quả thật là ở lãnh vực thế tục với sự vượt trội, tuy nhiên không phải bằng sự thực hành thuộc bậc Thánh mà người ấy dứt bỏ thân kiến, là điều được nói về sự vượt trội ở lãnh vực đã được sanh ra từ điều ấy. Ở đấy, người ấy đạt được trạng thái vượt trội ở lãnh vực đã được sanh ra từ điều ấy với năm biểu hiện: với giới, với phận sự, với kiến thức rộng, với định, với lạc do việc xuất ly. Ở đấy, người có tưởng là đã đạt được trong khi còn chưa đạt được có sự ngã mạn thái quá. Chính ở việc khởi lên câu chuyện ấy, đức Thế Tôn nói về bài Kinh này: “Người có giới chỉ do phận sự.” Ở đấy, người nào có tưởng là đã đạt được trong khi còn chưa đạt được, định của người ấy là có liên quan vật chất, hơn nữa nó được tập luyện bởi người tầm thường; những người tầm thường được gọi là phàm nhân. Vật chất là thuộc về thế tục, không thuộc bậc Thánh, nhưng có liên quan đến Thánh đạo; vì thế, định là không thuộc bậc Thánh, được tập luyện bởi những người tầm thường. Hơn nữa, người nào không biết, không thấy đúng theo thực thể, theo kiểu cách bậc Thánh, người ấy dứt bỏ lối đi hướng thượng, là người bị lệch khỏi định thuộc bậc Thánh, không vật chất, được luyện tập bởi những vị không tầm thường; ở đấy, những vị không tầm thường được gọi là các Thánh nhân. Định được luyện tập bởi những vị này là định được luyện tập bởi những vị không tầm thường. Do đó, điều này: ‘tôi là cái này,’ ‘người đã không xem xét là người đi đến thế ấy,’ là nên được giải đáp sau khi phân tích.
9. Ở đấy, sự đảo ngược là gì? Ở lãnh vực của việc thấy này, các ô nhiễm sẽ được dứt bỏ, chúng quả thật được dứt bỏ. Dầu chưa được diễn giải bởi đức Thế Tôn, chúng cũng nên được diễn giải.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Cái nào thuộc về thân kiến thì thuộc về ngã kiến; đây là lãnh vực. Các ô nhiễm nào cần được dứt bỏ thì chúng chưa được dứt bỏ. Thường kiến, đoạn kiến, và kiến bị giới hạn ấy cũng chưa được diễn giải bởi đức Thế Tôn. Kiến không bị giới hạn là thường kiến. Đoạn kiến là vô hữu kiến. Thường kiến là vô hành kiến. Đây là từ đồng nghĩa.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tham ái được mô tả với sự mô tả về sự ràng buộc, Đạo được mô tả với sự mô tả về sự đạt được, các quyền được mô tả với sự mô tả về đạt được.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Hiện thân là Khổ. Nhân sanh khởi (Tập) được dứt bỏ do thấy, là Đạo. Và các quyền ấy được diễn giải ở uẩn, giới, xứ.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Kinh này được thuyết bởi đức Thế Tôn khởi đầu bởi chính điều nào thì điều khởi đầu ấy là được diễn giải.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Danh và sắc có nhân, cũng có duyên: thức là nhân, là hạt giống; vì thế, vô minh và các hành là duyên. Mọi hiện hữu theo cách thức khác sẽ không được đình chỉ, và điều nào là nhân của mọi hiện hữu, (điều ấy) là duyên của các vật sở hữu khác; (?) như thế do chánh kiến, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối là duyên. Tuệ nào làm cho sanh khởi, tuệ ấy là nhân của chánh kiến, là chánh tư duy, là chánh định. Đây là sự thiết yếu.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? (Thấy rằng): ‘Tôi là cái này,’ như thế không có sự nhận thấy là khổ, là cơn bệnh, –nt– (mười lăm thuật ngữ).
“Bạch Ngài, các giới có những mục đích gì, có những lợi ích gì? Này Ānanda, các giới có mục đích là không ăn năn” … cho đến … “sự giải thoát.”
Ở đấy, mục đích có hai loại: mục đích của con người và mục đích của lời nói.
Ở đấy, mục đích của con người là gì? Việc không bị cắn rứt về sau, đây là sự không ăn năn, đây là mục đích của con người. Giống như người nào đó phát triển, thân cận mục đích này, người ấy có thể nói rằng: ‘Bất cứ cái gì ở đây là thuộc về tôi, tôi khởi sự việc làm này vì mục đích cái ấy;’ đây là mục đích của con người.
Ở đấy, mục đích của lời nói là gì? Các giới là thiện hạnh thuộc thân và thuộc khẩu. Không ăn năn: Ở đấy, chính là phần sáng chói của giới và của phận sự, không phải cái khác, là trạng thái hành động đã được làm tốt, là thiện hạnh; đây là không ăn năn. Tương tự như vậy cho đến … ‘sự giải thoát’: Có hai mục đích ở mỗi một thuật ngữ: mục đích của con người và mục đích của lời nói. Giống như ở Kinh này, tương tự như vậy ở tất cả các Kinh, chỉ có hai mục đích: mục đích tuyệt đối và mục đích tối thượng.
Điều cần được tự mình chứng ngộ cho bản thân nương vào sự chứng ngộ Niết Bàn được gọi là ‘đã làm đối với việc cần phải làm.’ Đây cũng là từ đồng nghĩa. Hành giả nhận biết rõ mục đích được kết nối là có thể đạt được nhờ vào việc này,’ như thế là mục đích của lời nói. (!)
Ở đấy, mục đích nào mà vị Thinh Văn mong ước, việc đạt được mục đích ấy là mục đích của con người. Mỗi một pháp nào đức Thế Tôn chỉ bảo, mỗi một pháp ấy có thông tin về mục đích. Đây là mục đích (của lời nói).
Ở đấy, đối với các giới, sự không ăn năn là mục đích, cũng là sự lợi ích. Và sự lợi ích này là không đi đến khổ cảnh giống như điều (đã được thuyết) bởi đức Thế Tôn:
“Điều này là lợi ích khi pháp khéo được thực hành, người có sự thực hành pháp không đi đến khổ cảnh;” đây là mục đích (của lời nói).
Việc một người khởi đầu bằng các giới ở lãnh vực tu tập trở thành vị đã được gắn liền với giới, tương tự như vậy cho đến … ‘sự giải thoát.’ Giới uẩn là như thế ấy. (!)
Ở đấy, sự không ăn năn được diễn giải theo tác động của sự tiềm ẩn là giới; đây là giới uẩn. Và ‘sự hân hoan, hỷ, tịnh’ bởi định quyền; đây là định uẩn. Vị đã được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; đây là tuệ uẩn. Đây là ba uẩn: giới, định, và tuệ.
Vị làm viên mãn giới là như thế ấy: Nhờ nguyên nhân tấn quyền, vị ấy làm viên mãn giới, rồi ra sức về việc không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, về việc dứt bỏ (bất thiện) đã được sanh khởi, về việc sanh khởi của thiện chưa được sanh khởi, và về việc gia tăng của thiện đã được sanh khởi, tấn quyền được diễn giải như thế. Ở đấy, định uẩn là định quyền, tuệ uẩn là tuệ quyền. Điều ấy được thấy ở bốn chánh cần. Cũng vậy, vị ra sức về việc không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, đây là chánh cần thứ nhất. Việc (dứt bỏ bất thiện) đã được sanh khởi là thứ nhì. Bốn chánh cần có thể được thấy ở bốn thiền. Cũng vậy với giới uẩn, yếu tố xuất ly là đầu tiên.
Và ba sự suy tầm: suy tầm về xuất ly, suy tầm về không oán hận, và suy tầm về không hãm hại. Các trạng thái phổ biến của người được yêu mến là lạc thuộc thân được đem lại do sự hân hoan, là ‘không ổn định’ do sự yêu thương; đây là khổ. (?) Ở đấy, sự không tán loạn là định. Đây là sơ thiền với năm yếu tố.
Sự an tịnh thuộc tâm có tầm, có tứ là sự trở ngại. Ô nhiễm và bực bội được diệt tắt ở sơ thiền. Ở đấy, sự an tịnh của ô nhiễm và sự an tịnh của tầm và tứ, luôn cả hai pháp này cũng an tịnh. (!) Ở đấy, lạc là trạng thái an lạc của thân và của tâm, đây là sự an tịnh của người có hỷ lạc. Còn có trạng thái nhất điểm của tâm, với trạng thái nhất điểm ấy sự tịnh tín của tâm thuộc nội phần là chi thiền thứ tư. Như thế, sự tịnh tín thuộc nội phần và trạng thái nhất điểm của tâm, hỷ và lạc, đây là nhị thiền với bốn yếu tố.
(Hành giả) có thân được an tịnh thì cảm nhận lạc; sau khi lan tỏa với lạc (thuộc thân) vượt trội ấy, lạc thuộc tâm là sự luyến ái đã được xa lìa khỏi hỷ. Như vậy với trạng thái luyến ái đã được xa lìa khỏi hỷ của vị ấy, vị ấy đạt được hành xả; và do việc xa lìa luyến ái đối với hỷ, vị ấy đạt được hành xả, cảm thọ lạc, và đạt được niệm với sự nhận biết đúng đắn; nếu niệm có trạng thái chuyên nhất, đây là tam thiền với năm yếu tố.
Đối với vị có lạc, tâm được định; đây là sự phô diễn khác biệt của trạng thái chuyên nhất. Liên quan đến sự phô diễn ở sơ thiền, có trạng thái chuyên nhất của tâm, không có cảm thọ ở mắt, toàn bộ đi đến sự viên mãn ở tứ thiền như thế nào, thì hành xả, sự yên tịnh, niệm và sự nhận biết rõ, trạng thái chuyên nhất của tâm là như thế ấy; đây là tứ thiền.
Định có thể được thấy như thế nào, thì tuệ quyền có thể được nhìn thấy ở bốn Chân Lý Cao Thượng như thế ấy. Vị đã được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; sự nhận biết có bốn loại: là bất tịnh, là vô thường, là khổ não, và là vô ngã. Cái nào là đối tượng (cảnh của sự nhận biết), cái ấy là Khổ, là Chân Lý Cao Thượng. Trong khi nhận biết thì nhàm chán, được giải thoát; đây là Đạo. Cũng vậy, sự dứt bỏ dục lậu, hữu lậu, tà kiến lậu, vô minh lậu là Diệt. Các lậu hoặc ở lãnh vực chưa được dứt bỏ là Tập. Đây là bốn Chân Lý Cao Thượng. Giống như tuệ quyền có thể được nhìn thấy, giống như người này, đã được định tĩnh, thì nhận biết đúng theo thực thể; đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. ‘Trong khi nhận biết đúng theo thực thể thì nhàm chán,’ đây là sự luyến ái về dục và oán hận nhỏ nhoi và là quả vị Nhất Lai. Nhàm chán cái nào thì lìa khỏi luyến ái (đối với cái ấy), đây là lãnh vực tu tập sơ thiền. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả vị Bất Lai. Việc được gọi là giải thoát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh và là phẩm vị A-la-hán.
Và đây là các sự không ăn năn: tấn quyền và bốn chánh cần là các sự không có sự ăn năn, và tiếp theo điều ấy … cho đến … định; tương tự như vậy, bốn định ấy và định quyền là việc vị được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể. Bốn sự thiết lập niệm này liên quan đến việc làm viên mãn giới do được kết hợp với xả thí, và có tâm không bị khuấy động đối với các hiện tướng thấu triệt; niệm quyền này là bốn sự thiết lập niệm. Thêm nữa, với sự chỉ bảo này về Giáo Pháp, quyền nào có liên quan đến việc đi xuống theo tà kiến ở ba trường hợp và giới Hữu Học với sự dứt bỏ ô nhiễm, đây là tín quyền và bốn quả vị với các yếu tố của bậc Nhập Lưu. Các định quyền với các sự mang lại và đem đến nên được diễn giải ở tất cả các Kinh. Thiền với sự tiếp nhận được nắm lấy nhờ vào tinh tấn chính là trí của vị đang nhớ lại, đây là tuệ văn. Định với quang tướng không bị gián đoạn theo như ý muốn ở trạng thái cảnh giới không thấp thỏi, đây là tuệ tư. Việc vị được định tĩnh như thế ấy nhận biết đúng theo thực thể, đây là tuệ tu. Đây là sự diễn giải Kinh. Kinh này liên quan đến thấu triệt, quan trọng cho người thực hành giác ngộ, là cần được thấu hiểu. Kinh có được các yếu tố nào, những người sẽ giác ngộ (Kinh) ấy thì sẽ giác ngộ các yếu tố (ấy) của nó; vì thế là các yếu tố đưa đến giác ngộ (giác chi). Cũng vậy, từ ban đầu cho đến giới, phận sự, sự cố ý cần được thực hiện, tại sao (hành giả) làm viên mãn các giới? Nhằm không sanh khởi đối với bất thiện chưa sanh khởi, nhằm dứt bỏ bất thiện đã được sanh khởi, nhằm sanh khởi đối với thiện chưa được sanh khởi, và nhằm gia tăng đối với thiện đã được sanh khởi, đây là tinh tấn, là ‘yếu tố liên quan đến việc giác ngộ’ của mỗi một điều ấy; đây là tinh tấn giác chi. Với tinh tấn này, hai pháp đầu tiên là không ăn năn và hân hoan. Thêm nữa, hỷ nào do duyên không ăn năn, do duyên hân hoan; đây là hỷ giác chi. Đối với vị có hỷ ở ý, thân được yên tịnh; đây là tịnh giác chi. Vì thế, với lạc thuộc thân được đem lại, tâm của vị có lạc được định; đây là định giác chi. Việc vị được định tĩnh nhận biết đúng theo thực thể; đây là trạch pháp giác chi. Trạng thái phù hợp do việc sanh khởi của năm giác chi có liên quan đến giới, việc tạo ra hiện tướng đồng hành với trạng thái không lơ là của các pháp liên quan đến hỷ và của các pháp liên quan đến thù thắng là con đường không phải mới mẻ; đây là niệm giác chi. Việc vị nhận biết đúng theo thực thể thực hành sự tinh tấn vượt mức của sự ra sức, (khi nhận biết) ‘lãnh vực phóng dật’ đã được thực hiện thì nhắc nhở lại điều đã ước nguyện; bị chê trách là ‘lãnh vực lười biếng,’ thì thông qua các yếu tố bị thiếu sót mà giác ngộ về phương thức vắng lặng của mắt là ‘hành xả.’ Vì thế, sự hành xả ấy, sau khi tạo ra ‘yếu tố thuộc về giác chi’ cho vị ấy, được gọi là ‘xả giác chi.’ Việc này là sự diễn giải Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, bốn Chân Lý Cao Thượng được chỉ bảo.
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới’ … cho đến … ‘sự giải thoát,’ với câu hỏi này, sau khi cân nhắc sẽ là ý nghĩa gì? (!) Hai đoạn kệ là câu hỏi, hai đoạn kệ là câu trả lời, với hai thuật ngữ là hai thắng trí, và cũng với hai thuật ngữ là câu trả lời. (Vị ấy) hỏi điều gì? (Hỏi) về lãnh vực của thân liên quan đến việc thấu triệt đối với nghiệp, bởi vì nền tảng làm sanh khởi các pháp thuộc về bậc Vô Học là như thế ấy.
3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,” phải chăng đối với người không có mong muốn thì có sự lìa khỏi luyến ái; đây là sự kết nối.
4. Ở đấy, nền tảng là gì? Tấn là nền tảng của tấn quyền. Định là nền tảng của định quyền. Tuệ là nền tảng của tuệ quyền. Tấn là nền tảng của vô sân. Định là nền tảng của vô tham. Tuệ là nền tảng của vô si. Tấn quyền là nền tảng của ba yếu tố của Đạo: của chánh ngữ, của chánh nghiệp, của chánh mạng. Định quyền là nền tảng của ba yếu tố của Đạo: của chánh tư duy, của chánh tinh tấn, của chánh định. Tuệ quyền là nền tảng của hai yếu tố của Đạo: của chánh niệm và của chánh kiến.
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Khi giới uẩn được nói đến, tất cả ba uẩn là được nói đến. Khi giới được nói đến, giới là nhân và là duyên của các pháp còn lại, tất cả các pháp ấy là được nói đến. Khi một pháp dự phần vào giác ngộ được nói đến, tất cả các pháp đưa đến giác ngộ là được nói đến.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người nào mong muốn sự không ăn năn, những người ấy là có sự làm cho đầy đủ về giới; những người mong muốn sự hân hoan, những người ấy có sự làm cho đầy đủ về không ăn năn. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. –nt– Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
7. Ở đấy, sự xoay vầnlà gì? Kinh này liên quan đến thấu triệt. Cái gì là sự thấu triệt, cái ấy là Diệt; nhàm chán nhờ vào cái gì, cái ấy là Đạo; diệt tận cái gì, cái ấy là Khổ; cái gì được dứt bỏ nhờ vào đạo lộ đưa đến thấu triệt, cái ấy là Tập. Đây là sự xoay vần.
8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới” là nên được giải đáp sau khi phân tích. ‘Đối với vị đang bám víu (vào giới và phận sự) thì không có sự không ăn năn’ … cho đến … ‘vị khởi sự việc bất thiện đã được làm do sân hận bằng thân hoặc bằng khẩu.’ Mặc dù bất cứ điều gì cũng có thể là như vậy, việc này đã được làm tốt, việc này là thiện hạnh, nhưng không phải do sự không ăn năn ấy mà hân hoan sanh ra cho người này … cho đến … sự giải thoát. ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới ấy’ là nên được giải đáp sau khi phân tích. Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.
9. Ở đấy, sự đảo ngượclà gì? Với bảy sự thành tựu này ở việc nâng đỡ, mười một sự nâng đỡ dứt bỏ các sự phạm tội. (?) Đây là sự đảo ngược.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Đối với các sự chứng đạt về lực, giác chi, giải thoát, định của các Thánh pháp này, đây là các từ đồng nghĩa.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? ‘Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,’ như thế là giới uẩn. Điều ấy được mô tả với sự mô tả về xuất ly và sự mô tả về xả bỏ; mười yếu tố được mô tả theo từng cặp hai yếu tố như vậy.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Kinh này liên quan đến thấu triệt, đã được liệt kê ở năm (quyền), giống như điều đã được diễn giải trước đây, các quyền, v.v… đã được diễn giải ở uẩn, giới, xứ là tương tự như vậy.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? “Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới,” như thế sự khởi đầu chưa hẳn là rõ ràng; ‘sự hân hoan có cho vị không có sự ăn năn,’ như thế sự khởi đầu chưa hẳn là rõ ràng; khi nào mười một thuật ngữ được chỉ bảo, khi ấy sự khởi đầu là rõ ràng. Đây là sự làm rõ.
14. Ở đấy, sự xác định là gì? Giới được mô tả theo tính trạng khác biệt, tương tự như vậy đối với mười thuật ngữ.
15. Tất cả là lợi ích đối với giới uẩn, và những điều ấy có việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là duyên, có quyết định đúng đắn cho bản thân là nhân. Đối với định uẩn, lạc là nhân, an tịnh là duyên, và nhờ đó có sự đồng sanh với thiền, bởi vì sự ổn định là yếu tố của thiền. Một cách thức khác: trạng thái quan sát sự bất lợi ở các dục là duyên đối với định, trạng thái nhìn thấy sự lợi ích ở việc xuất ly là nhân.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Tấn quyền là giới uẩn, giới là bốn sự nỗ lực đúng đắn, sự thực hành đúng pháp và thuận pháp là sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha.
Câu kệ là: “Tâm của người nào giống như tảng đá, …”:
Giống như tảng đá: như thế là ví dụ. Giống như tảng đá không rung động bởi gió, không bởi nóng, không bởi lạnh mà run rẩy; giống như nhiều vật không có tâm thức khô héo bởi nóng, co quắp bởi lạnh, tơi tả bởi gió, tảng đá không là như vậy. Giống như tảng đá sẽ không hành động đối với tất cả đối thủ, tương tự như vậy tâm ấy “không rung động bởi tất cả ô nhiễm,” đây là vô si; “không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái,” đây là vô tham; “không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức,” đây là vô sân.
Ở đấy, tuệ là thiện căn vô si, vô tham chính là vô tham, vô sân chính là vô sân. Với ba thiện căn này, vị đứng ở lãnh vực Hữu Học làm sanh khởi đạo lộ Vô Học. Sau khi vượt qua hẳn lãnh vực Hữu Học, (vị ấy) làm sanh khởi các pháp (Thánh Đạo tám chi phần), chánh giải thoát ấy, và tri kiến về vị của giải thoát; đây là mười pháp của các bậc Vô Học, của các bậc A-la-hán.
Ở đấy, với Đạo tám chi phần, sự tu tập gồm bốn loại cũng được đạt đến: sự tu tập về giới, sự tu tập về thân, sự tu tập về tâm, và sự tu tập về tuệ. Ở đấy, thân được tu tập với chánh nghiệp và với chánh mạng, giới được tu tập với chánh ngữ và với chánh tinh tấn, tâm được tu tập với chánh tư duy và với chánh định, tuệ được tu tập với chánh kiến và với chánh niệm. Với sự tu tập gồm bốn loại này, hai pháp đi đến sự viên mãn do tu tập là: tâm và tuệ, với sự tu tập về tâm là chỉ tịnh, với sự tu tập về tuệ là minh sát.
Ở đấy, “với sự dứt bỏ vô minh do tuệ, tâm được làm trở nên không còn bị trộn lẫn với các cận phiền não.” Với sự tu tập về tuệ, (vị ấy) làm viên mãn sự tu tập về tâm. “Tâm của người nào khéo được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Vả lại, hơn nữa, bản thể không oán hận của vị đại đức ấy là đã được khẳng định, (Dạ xoa) ấy thậm chí không đạt được điều ấy nên (đã) giáng cho vị ấy cái gọi là cú đánh; ở cơ thể được gọi là không suy tầm thì khổ không được cảm thọ. Đây là ý nghĩa của bài Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, mười pháp về phẩm vị A-la-hán của bậc Vô Học đã được chỉ bảo và sự tu tập về định là không thể đo lường.
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Trạng thái ví như tảng đá: Bất cứ các pháp nào sẽ được cảm thọ đưa đến lạc và khổ, tất cả các pháp ấy là đã được tách rời đối với các vị quan sát chỉ mỗi phi sắc pháp; điều thiết yếu cho việc cảm thọ từ thân là không được vận hành, khổ không được cảm thọ.
3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?”
4. Tâm không phải chịu đựng khổ ở ba sự tu tập: ở sự tu tập về tâm, ở sự tu tập về Diệt, và ở sự tu tập về định không bị gián đoạn. Như thế, “tâm của người nào được tu tập như vậy”: định là nền tảng đưa đến Quả vị.
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy”: các tâm được tu tập giống như đã được diễn giải trước đây là: tuệ, giới, thân, tâm. Giới cũng được khéo tu tập, và có trạng thái vững chãi thuộc thân, thuộc tâm, không rung động, luôn cả thọ, tưởng, và các hành cũng vậy. “Do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?”: luôn cả lạc cũng không đi theo sau, không khổ không lạc cũng không đi đến. (!)
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những ai sẽ vượt lên khổ đau, họ sẽ sống với các sự thể nhập có hình thức như thế. Ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Và những ai chưa tịnh tín, chính họ sẽ trở nên (tịnh tín). Hỷ và hân hoan sẽ có cho những vị đã được tịnh tín; ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn.
7. Sự xoay vần: Không có lãnh vực cho sự xoay vần.
8. Sự phân tích: “Tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Sự diễn giải có hai loại: sự diễn giải về nhân của khổ và sự diễn giải về phần đối nghịch. Nhân ấy của khổ là gì? Từ nơi nào khổ đi đến. Và sự diễn giải về phần đối nghịch: “Do đâu khổ đau sẽ không đến với người thuộc hạng như vậy?” là điều đã được diễn giải.
9. Sự đảo ngược: “Do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Như thế, lạc thuộc tâm không có ở Vô Dư (Niết Bàn), có ở Hữu Dư (Niết Bàn). Vả lại, các vị đã nói như vầy: “Thời điểm ấy, giây phút ấy, luôn cả hai trường hợp Hữu Dư và Vô Dư đều không được cảm thọ; thời điểm ấy, giây phút ấy, Vô Dư và Hữu Dư là không được cảm thọ. Lạc không vận hành đối với vị đã đạt đến (Diệt thọ tưởng định).” Ở đây, điều này là sự đảo ngược đặc biệt.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Tâm của vị nào đã được tu tập như vậy: đã được tu tập, đã khéo được tu tập, đã được thiết lập, đã được tạo thành nền móng, đã được khởi đầu tốt đẹp. Tâm: ý, thức, ý quyền, ý thức giới.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Tâm được mô tả với sự mô tả về sự vắng lặng của các ý hành, định được mô tả với sự mô tả về bậc Vô Học, khổ được mô tả với sự mô tả về việc đã được cắt lìa.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Khi tâm được diễn giải, năm uẩn là được diễn giải; đây là sự liệt kê về các uẩn. Khi ý thức giới được diễn giải, mười tám giới là được diễn giải; đây là sự liệt kê về các giới. Khi ý xứ được diễn giải, tất cả các xứ là được diễn giải. Ở đấy, ý xứ là nền tảng của danh và sắc, do duyên của danh và sắc, sáu xứ (sanh khởi), … cũng vậy ở sự tùy thuận sanh khởi. Đây là sự liệt kê.
13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu là rõ ràng thật sự.
14. Ở đấy, sự xác định là gì? Sự tu tập sáu quyền được mô tả theo tính trạng đồng nhất; do việc đã được tồn tại của sáu (quyền), thân được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Nhân đi trước cho việc sanh khởi của tâm là tác ý và trạng thái xuôi theo điều ấy; còn ở lãnh vực chưa được định, do trạng thái chưa được phát triển của các pháp đặc biệt, tâm di chuyển một cách liên tục. Nếu lạc là nhân của định, sự không ăn năn là duyên, thì nhân này duyên này là sự thiết yếu.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Tâm của người nào được tu tập như vậy,” như thế các pháp của vị ấy là nên được xếp loại: ‘Thân, giới, tuệ, tâm đã được tu tập’ là không được thích thú, không bị thiên lệch, không phải một, không thiếu hụt, không bị dính mắc sau khi đạt tới, đây là lãnh vực của đời sống Sa-môn, không phải là chánh định thuộc về vị Hữu Học ấy; tất cả mười pháp thuộc về Vô Học của các bậc A-la-hán là đã được diễn giải.
Các Kinh Liên Quan Đến Bậc Vô Học.
“Bạch Ngài, đương nhiên đối với vị nào mà niệm hướng đến thân trên thân là không được thiết lập, ở đây, vị ấy sau khi va chạm vào vị đồng phạm hạnh, lại không xin lỗi, rồi ra đi du hành.”
Vị đại đức ấy, ở đây, phủ nhận hai sự việc phát sanh và khẳng định sự dứt bỏ tà kiến ở sự tu tập về tâm, sự dứt bỏ tà kiến ở sự tu tập về thân, sự dứt bỏ tham ái ở sự tu tập về thân; vị ấy làm ví dụ thứ nhất rằng: “Đất không bị quấy rầy bởi vật dơ cũng như bởi vật sạch, không nhờm gớm, không tiếp nhận sự vui vẻ hay hân hoan, thật sự tương tự y như vậy, giống như đất, tôi đây sống với tâm ý bao la, vô lượng, không thù nghịch, không oán hận.”
Như thế, vị đại đức ấy khẳng định điều gì? Vị ấy khẳng định sự dứt bỏ lạc quyền nhờ vào sự tu tập về thân, khẳng định sự dứt bỏ hỷ quyền nhờ vào sự tu tập về tâm; (vị ấy) từ khước lạc quyền –các cảm thọ thuộc thân của các pháp đi theo luyến ái tiềm ẩn– nhưng không (từ khước) thọ uẩn. Cảm thọ lạc thuộc tâm, ở đấy, sanh lên do duyên thọ nhận; vị ấy từ khước lạc, hỷ tâm ấy, nhưng không (từ khước) cảm thọ sanh lên do ý xúc. Ở đấy, vị ấy nói về sự dứt bỏ ưa chuộng và bất bình đối với sắc uẩn ở bốn yếu tố chính, về các dục, về sắc, và về điều ấy ở lãnh vực của bậc Vô Học.
Việc quan sát thân trên thân, việc an trú lạc ở ngay chính bản thân này, mọi dứt bỏ đối với các trạng thái tác ý nhờ vào năng lực và nhờ vào sự gắng sức, sự quán xét vật được hình thành do mẹ và cha của thân này thông qua (hai ví dụ) này: với (ví dụ về) hũ mỡ và với (ví dụ về) người đàn ông có tánh thích trang điểm, thông qua thân và nhờ vào sự quan sát thân, thông qua tâm và nhờ vào sự quan sát tâm, vị ấy nắm giữ hai pháp: thân là nền tảng của ô nhiễm và các sự nương tựa hoàn toàn vào tâm bằng tâm. Với tâm đã khéo được tu tập, vị ấy khẳng định đã được an trú đối với bảy sự thể nhập.
Và ở ví dụ về con trai người gia chủ, giống như cái rương đầy các xấp vải với nhiều màu sắc khác nhau của con trai người gia chủ, cậu ấy mong muốn cặp vải nào vào buổi sáng thì lấy mặc vào buổi sáng, như vậy vào buổi trưa, vào buổi tối; tương tự y như vậy, vị đại đức ấy, do trạng thái đã khéo được tu tập của tâm, mong muốn an trú vào buổi sáng với sự an trú có hình thức như thế nào, thì an trú vào buổi sáng với hình thức như thế ấy, vào buổi trưa, vào buổi tối. Thông qua ví dụ đã được chính vị đại đức ấy nói cho tôi, sự tu tập vô thượng về quyền ở (đề mục) đất là với tâm đã được tu tập. Qua đó, vị đại đức ấy khẳng định sự tu tập này có tám loại: sự tu tập về thân ở bốn yếu tố chính và sự tu tập về tâm ở (các ví dụ về) con trâu, người hạ tiện, người đàn ông, và hũ mỡ; với các sự tu tập này và với sự tu tập ấy, chỉ tịnh tiến đến sự đầy đủ; với bốn việc này (bốn sự tu tập sau), tuệ tiến đến sự đầy đủ. (!)
Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống (sinh hoạt) như thế nào? Thân theo lẽ tự nhiên là không đáng ghét. Tưởng về tử thi đã trương sình ở thân, một cách tóm tắt có chín tưởng, đây là các pháp đáng ghét. Và vị đại đức ấy, không bị nhờm gớm với vật đáng ghét, sống gắn bó vào việc đeo đuổi sự tham thiền với niệm hướng đến thân, bởi vì tâm của vị ấy không chán ghét với trạng thái nhờm gớm.
Vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như thế nào? Thân là không đáng ghét đối với tất cả thế gian. Vị đại đức ấy sống với tưởng bất tịnh về thân; vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như vậy.
Vị có tưởng không chán ghét ở (các pháp) đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Cũng vậy, vị này, đối với tất cả thế gian, là vị cạo tóc, tay cầm bình bát, đi khất thực ở các ngôi nhà. Vị ấy có tưởng không chán ghét với thân có làn da đẹp hay làn da xấu và có tưởng không chán ghét với tâm đồng hành với sự nhàm chán. (!) Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy.
Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như thế nào? Ở các pháp không đáng ghét là đối với vị có tưởng về cái đẹp ở hình dáng phụ nữ, ở (các pháp) đáng ghét là đối với vị có sự nhờm gớm ở trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng (của tử thi); ở đấy vị đại đức có tưởng không chán ghét ấy sống.
Sau khi tránh né cả hai điều ấy, ở các pháp đáng ghét (và không đáng ghét), vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như thế nào? Ở các pháp không đáng ghét là đối với vị có tưởng về cái đẹp ở hình dáng phụ nữ, ở (các pháp) đáng ghét là đối với vị có sự nhờm gớm ở trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng (của tử thi), sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị ấy sống (nghĩ rằng): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.” Sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như vậy.
Một cách thức khác: Tưởng không chán ghét của tất cả các phàm nhân ngu si ở cuộc sống thế gian ở Tam Giới. Và ở đấy, đại đức Sāriputta sống, có tưởng chán ghét. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như thế nào? Tất cả các vị Hữu Học có tưởng chán ghét, ở đây là ở tất cả thế gian trong Tam Giới. Ở đấy, vị đã đạt đến lãnh vực đã được làm xong, đã chứng ngộ các kết quả của định, sống có tưởng không chán ghét. Điều gì là lý do? Bởi vì vị ấy không cần làm sanh khởi tưởng chán ghét nhằm dứt bỏ cái thế gian không còn hiện hữu nữa. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Ở cuộc sống thế gian trong Tam Giới cho đến lãnh vực Dục giới, (?) có trạng thái đồng đều trong việc chán ghét đối với các luyến ái, đối với các luyến ái đã được xa lìa, có trạng thái đồng đều trong việc không chán ghét sắc và vô sắc giới. Và ở đấy, đại đức Sāriputta sống, có tưởng chán ghét. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Bất cứ điều gì thuộc về lối nói đã được vụng nói từ người khác, không được hoan nghênh, lời nói ấy là không đáng ghét cho đến các lời nói không thích hợp; tưởng không chán ghét của con người là như thế ấy. Ở đấy, đại đức Sāriputta đã được chứng ngộ với thắng trí sống có tưởng không chán ghét. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Sau khi tránh né cả hai điều ấy, ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét, vị hành xả, có niệm và sự nhận biết rõ, sống như thế nào? Trong số đó, điều mà (phàm nhân) nhận thấy là: “Các pháp nào là uế hạnh, các pháp ấy là không đáng ghét.” Ở đấy, đại đức Sāriputta suy xét rằng: “Các pháp nào là uế hạnh, các pháp ấy có quả thành tựu không được ước muốn; các pháp nào là thiện hạnh, chúng đưa đến sự tích lũy.” Và sau khi đã thực hành thiện hạnh đưa đến sự tích lũy, sau khi đã thực hành uế hạnh có quả thành tựu không được ước muốn, sau khi tránh né cả hai pháp ấy, vị ấy sống, có sự hành xả. Và vị sống, có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét. Tham ái là pháp đáng ghét; điều gì là lý do? Bởi vì do tác động của tham ái, các chúng sanh bị dính mắc với hai pháp: bị dính mắc ở đoàn thực do tham ái về vị nếm, bị dính mắc ở xúc bởi lạc tưởng. Ở đấy, đại đức Sāriputta sống có tưởng chán ghét ở đoàn thực, sống có tưởng khổ não ở xúc. Vị có tưởng chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như vậy. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét (và ở các pháp không đáng ghét) sống như thế nào? Sự diệt trừ tham ái là Niết Bàn vô thượng, cũng vậy, đối với phàm nhân ngu si là tưởng chán ghét và tưởng bị hành hạ. Ở đấy, đối với đại đức Sāriputta là tưởng không chán ghét và tưởng không oán hận sau khi tự thân nhìn thấy bằng tuệ. Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét sống như vậy.
Vị có tưởng không chán ghét ở các pháp đáng ghét và không đáng ghét sống như thế nào? Và ở phần thứ ba là những vị có tưởng chán ghét về Niết Bàn và những vị có tưởng không chán ghét với tiếng tăm và danh thơm. Ở đấy, đại đức Sāriputta, trong khi khẳng định sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra bằng chánh tuệ đúng theo thực thể, sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghét và không đáng ghét ấy, sống có tưởng không chán ghét.
Sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghét và không đáng ghét ấy, vị hành xả, sống có niệm và sự nhận biết rõ, như thế nào? Điều vị ấy nhận thấy rằng: sự ưa chuộng là pháp không chán ghét và sự bất bình là pháp chán ghét; ở đấy, đại đức Sāriputta, do trạng thái đã dứt bỏ sự ưa chuộng và bất bình, có sự hành xả, là vị sống có niệm và sự nhận biết rõ. Và điều nhận thấy ở vị này là năm loại tu tập vô thượng về quyền. Đây là sự diễn giải Kinh.
1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảolà gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Ở đấy, được nói rằng: Ở Kinh này, việc an trú lạc ở ngay chính bản thân này được chỉ bảo; cũng vậy, tâm được giải thoát và sự quán xét, (là) pháp thắng tuệ được chỉ bảo. (!)
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Những vị nào sống có sự quan sát thân trên thân, tâm của các vị ấy không sống với sự ưa chuộng và bất bình, và tâm của vị không thích thú ở sự ưa chuộng và bất bình sẽ đi đến đúng đắn; điều này là kết quả của sự tu tập. Đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu.
3. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự kết nối là gì? “Với sự tu tập về thân và với sự tu tập về tâm thì sẽ không xem thường các vị đồng phạm hạnh về bất cứ điều gì,” có sự kết nối ấy. Đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối.
4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Sự tu tập về thân là nền tảng của sự thiết lập niệm thứ nhất. Trạng thái tâm bình đẳng như đất là nền tảng của việc quan sát vô thường
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Vị có sự quan sát về tự ngã sống với tâm bình đẳng như đất, vị tại gia sống một cách bình đẳng như đất. “Một cách bình đẳng như đất” có ý nghĩa gì? Giống như các vị là được liên hệ với việc không bị rung động ở ví dụ về tảng đá, tương tự y như thế, vị này bình đẳng như đất do trạng thái hổ thẹn (về thân xác này). Đây là tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở thể văn veyyākaraṇa này, điều gì là chủ tâm của vị đại đức ấy? “Bất cứ những vị A- la-hán nào mong muốn sự tu tập về các quyền, các vị ấy sẽ làm sanh khởi sự bình đẳng như đất.” Đây là sự chủ tâm.
7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Không có lãnh vực cho sự xoay vần.
8. Ở đấy, sự phân tích là gì? “Vị nào sống có sự quan sát thân, vị ấy sẽ đạt được tâm có sự bình đẳng như đất,” không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Những vị nào làm hành động có sự bể vỡ, … bị bỏ dở, …, những vị ấy không đạt được tâm có sự bình đẳng như đất. Mọi niệm hướng đến thân đưa đến sự tu tập của vị Hữu Học, có Niết Bàn là kết quả. Đây là sự phân tích.
9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? Những vị nào sẽ sống có sự quan sát thân, đối với chính các vị ấy, do duyên thân, các lậu hoặc có sự hủy hoại và bực bội có thể sanh lên. Đây là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Và ở các chúng sanh, năm uẩn là không vượt qua 22 quyền; cũng vậy, cái nào là ý quyền, cái ấy là ý giới và ý xứ; cái nào là định quyền, cái ấy là pháp giới và pháp xứ. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Bốn việc nào cần được tu tập bằng ý, tất cả (bốn việc) ấy đều đã được tu tập. Việc cần được đạt đến ở sự dứt bỏ bằng ý và sự khởi đầu cho mục đích của việc ấy trong mọi trường hợp, mục đích ấy là rõ ràng. Đây là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.
14. Ở đấy, sự xác định là gì? Định này được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Sáu nhóm được mô tả theo tính trạng đồng nhất: Năm quyền có sắc là sắc thân, sáu nhóm về thọ là thọ thân, sáu nhóm về tưởng là tưởng thân, sáu nhóm về tư là tư thân, sáu nhóm về thức là thức thân, tất cả các pháp này đi đến sự định danh chính là ‘pháp thân.’ Đây là sự xác định.
15. Sự thiết yếu: Thiện xảo về thể nhập và thiện xảo về lộ trình là nhân. Thiện xảo về hành xứ và thiện xảo về trạng thái sẵn sàng là duyên. Thiện xảo về thanh lọc là nhân, thiện xảo về trạng thái sẵn sàng là duyên. Lạc là nhân, không oán hận là duyên. Đây là sự thiết yếu.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Giống như đất vẫn y như thế khi (có người) ném xuống vật sạch, cũng như khi (có người) ném xuống vật dơ, tương tự như vậy, thân vẫn y như thế với các xúc vừa ý cũng như với các xúc không vừa ý, tâm vẫn y như thế với xúc bất bình hoặc với thọ lạc. Kinh này với ví dụ được phân tích theo cách phân tích cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn (người hiểu nhanh). Ở đấy, không có thuận tiện cho sự xếp loại.
Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não là gì? Và khi một người không lớn mạnh, (!) không tăng trưởng với các thiện pháp, đức Thế Tôn chỉ bảo về sự bất lợi này rằng: “‘Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy,’do đó, từ sự bất lợi nên mở ra.” Người ấy không bị tổn hại nhờ vào ba pháp ấy: Nhờ vào tưởng bất tịnh mà không bị tổn hại bởi luyến ái, nhờ vào từ tâm mà không bị tổn hại bởi sân hận, nhờ vào minh sát mà không bị tổn hại bởi si mê. Như vậy, mỗi một pháp nào là phần đối nghịch (đối với pháp bất thiện) thì sẽ làm viên mãn ở mỗi một pháp ấy. Pháp bất thiện nào là phần đối nghịch đối với pháp ấy thì bị chế ngự bởi pháp (thiện) ấy.
Một cách thức khác: Các pháp nào mà sự thoát ra bởi bản thân là không có khả năng, các pháp ấy được chỉ bảo rằng: ‘Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy.’ Trong khi suy tầm với các pháp ấy, nhờ thế lại có thể làm cho rõ ràng, làm cho tinh khiết tâm đã được chỉ bảo của vị đã uốn cong theo sự viễn ly, đã chiều theo sự viễn ly, đã xuôi theo sự viễn ly, (nhờ thế, vị ấy) đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh ở các thiện pháp. Cũng giống như sen xanh hoặc sen hồng hoặc sen trắng ở trong nước, mặt trăng ở giai đoạn thượng huyền đi đến vào ban đêm, vào ban ngày, chính sự phát triển của nó là được mong đợi, không phải là sự khuyết dần; theo cách thức như vậy, tâm ấy không bị tổn hại.
Cũng có một cách thức khác nữa: Ở đây, người nào không lừa gạt, không gian lận, không xảo trá, ngay thẳng thì thể hiện rõ bản thân đúng theo bản thể. Ở đấy, người nào che giấu thì các pháp bất thiện làm hư hỏng tâm của người ấy. ‘Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra’: hơn nữa, người nào không lừa gạt, không gian lận, không xảo trá, ngay thẳng, thể hiện rõ bản thân đúng theo bản thể, thì tâm của người ấy không bị hư hỏng bởi các pháp bất thiện. Đây là ý nghĩa của Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở đây, mười đường lối hành động bất thiện được chỉ bảo về tình trạng mưa nhiều, mười đường lối hành động thiện được chỉ bảo về tình trạng mưa không nhiều. Bởi các bất thiện mà một người không trở thành trong sạch, giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, do ô nhiễm của tâm, các chúng sanh bị ô nhiễm.”
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Điều nào có thể là điểm nổi bật của vị đã được giác ngộ, là vị có tâm không bị hư hỏng như vậy, điều ấy có ở bậc Đạo Sư với tính chất không bị gián đoạn, hoặc với trạng thái bi mẫn ở phẩm chất (?). Đây là sự tìm hiểu.
3. Ở đấy, sự kết nối là gì? “Tâm trong khi không bị hư hỏng thì vươn lên, khi được vươn lên thì thiết lập ở các pháp thiện;” có sự kết nối ấy.
4. Nền tảng: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: che giấu là nền tảng của những người không thu thúc (về giới); “mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: không che giấu là (nền tảng) của những người thu thúc; “vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: là nền tảng của việc thú tội.
5. Tướng trạng: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: Bất cứ những pháp nào có chung tướng trạng với việc che giấu theo nhiều cách, tất cả các pháp ấy bị hư hỏng. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Bất cứ những pháp nào có chung tướng trạng với việc không che giấu ấy, tất cả các pháp ấy không bị hư hỏng. (!) Như thế là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Bất cứ những vị nào có tâm, có các pháp bất thiện được thú nhận, những vị ấy sẽ sửa đổi đúng theo Pháp;’ ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
7. Sự xoay vần: Điều che giấu là có hai loại: kẻ đang rung động có thể bị mê mờ, đối với các vị có định không bị gián đoạn. Ở đấy, ngã mạn làm tăng trưởng các lậu hoặc ở người không có đức tin (!); và do việc không có đức tin, đi đến sự xao lãng; kẻ bị tác động bởi xao lãng đi đến bản chất huyên náo. Bởi vì điều này đã được nói đến bởi đức Thế Tôn: “Đối với những kẻ huyên náo, bị xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng.” Bốn điều ấy là các chấp thủ. Những cái nào là bốn chấp thủ, những cái ấy là năm thủ uẩn. Đây là (hai) Chân Lý: Khổ và Tập. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy”: Do nhân nào các lậu hoặc tăng trưởng, do trạng thái đã được dứt bỏ của chúng, các lậu hoặc được dứt bỏ. Ở đấy, do không xao lãng mà việc không có đức tin được dứt bỏ; do việc dứt bỏ phóng dật và hối hận có trạng thái thô thiển, hai pháp chỉ tịnh và tu tập của vị ấy đi đến sự viên mãn. Sự diệt trừ của các lậu hoặc ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Đây là sự xoay vần.
8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Sự dừng lại có thể xảy ra đối với người nào đó cũng giống như đối với các vị Hữu Học. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Ngay cả khi vị ấy tạo nên bất cứ nghiệp gì ác xấu, bằng thân, bằng khẩu, hoặc bằng ý, vị ấy không thể nào che giấu điều ấy, tính chất không thể của vị chứng đạt Niết Bàn đã được nói đến.” Mặc dầu tâm cũng có sự che lấp đối với chúng, tuy nhiên do không có điều kiện và chúng có thể được diễn giải vào thời điểm (thích hợp). Đây là cách truyền đạt bằng sự phân tích.
9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: các pháp nào của người nào mà không được mở ra toàn bộ thì bị mưa rơi nhiều. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Mưa không rơi nhiều ở vật không được đậy lại. Đây là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.
10. Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa là gì? Được che lấp: là được bao bọc, được bao trùm, được che lại, được đậy kín, được che phủ, được ngăn chặn. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: các pháp ấy của người nào là được loại ra, được dời đi (!), không được chấp nhận, được làm cho chấm dứt. Đây là cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa.
11. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự mô tả là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: được mô tả liên quan đến ô nhiễm. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: Phận sự đối với Chánh Pháp được mô tả với sự mô tả về lối thực hành. “Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy”: được mô tả với sự mô tả về sự giáo huấn. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra”: được mô tả với sự mô tả về việc quăng bỏ. Đây là cách truyền đạt bằng sự mô tả.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: Ba ô nhiễm là: luyến ái, sân hận, si mê; khi chúng được che đậy là hành uẩn –nt– Chúng giống như đã được diễn giải trước đây ở uẩn, giới, xứ. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.
13. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự làm rõ là gì? Ngài nói Kinh này với sự khởi đầu nào thì sự khởi đầu ấy là được gắn liền.
14. Sự xác định: “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Điều gì là lý do? Bởi vì ‘mưa rơi nhiều ở vật này, mưa rơi nhiều đối với người này, và mưa rơi nhiều như vậy,’ đây là tính trạng khác biệt. Việc được mô tả theo các tướng trạng phổ biến về phẩm chất là sự mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Có hai nhân, hai duyên cho việc mưa rơi nhiều ở vật ấy: sự phát khởi bất thiện và sự thích thú của người tạo ra lời nói là hai nhân; việc tác ý không đúng đường lối và sự buông thả về các thiện pháp là hai duyên (!).
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy”: ‘(vị ấy) nhận thấy một cách nhầm lẫn’ nhằm giữ kín về điều che giấu, nhằm không thú tội về việc ít nghe, về việc có sự nghi hoặc bởi bất thiện căn không còn hiện diện, và về việc ‘do tham ái mà các lỗi lầm ấy tăng trưởng (!);’ như thế sau khi nhận biết do kém khả năng, các hành ấy (sanh khởi); do duyên các hành, thức (sanh khởi); ... Đây là sự xếp loại. Thêm nữa, với việc thú tội như thế ấy, các thiện pháp của chính vị ấy đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Do sự diệt tận các hành của vị ấy, … Đây là sự xếp loại.
“Bốn hạng người làbóng tối có sự tiến đến bóng tối …” –nt–. Ở đấy, cái gì được gọi là bóng tối? Bóng tối là sự tối tăm, giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Giống như sự tối tăm, ở sự kinh hoàng ấy, con người không nhìn thấy chính mình, tương tự y như vậy, từ sự không biết là có bóng tối, thêm nữa là sự tối tăm, là điều xấu xa với hành động và với quả thành tựu, là không có đức tin. Như thế, trạng thái về tướng trạng như vậy là sự không biết, sự tối tăm, vô minh, si mê, vì thế các chúng sanh không nhận biết đúng theo thực thể; như thế được gọi là bóng tối.”
Bóng tối ấy là đối với ba con mắt: đối với nhục nhãn, đối với Thiên nhãn, đối với tuệ nhãn; đối với các con mắt này, ở đây bóng tối được diễn giải là ‘sự không biết.’
Ở đấy, cái gì là sự không biết, là sự không thấy? Liên quan đến chỗ nương tựa là sự không biết về điểm khởi đầu, sự không biết về điểm kết thúc, sự không biết về điểm khởi đầu và điểm kết thúc, sự không biết về nhân, sự không biết về duyên; đối với người có sự không biết ấy, đối với người có hiện tượng định, điều này là hệ quả: (Người ấy) không biết rằng: ‘Điều này nên phục vụ, điều này không nên tác ý,’ vì thế người ấy bị diễn giải theo bóng tối ấy; giống như bóng tối cũng được gọi là ‘bị lầm lạc,’ ý định (cũng được gọi) là tương tự như vậy. Do bóng tối ấy, người ấy được gọi là ‘bóng tối;’ người ấy, do bóng tối ấy chưa được bứng lên, chưa được cắt lìa, (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh, người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối.’ Chính sự tiến đến là pháp cần được tác ý, bóng tối thiêu đốt, thiết lập tâm hiểu biết, và các pháp ấy phù hợp cho việc suy đoán của bóng tối. Vị ấy nhận thấy bằng tuệ văn.
Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng? Vị ấy sinh hoạt do tác động của tuệ (văn) ấy; như vậy chính vị đang sinh hoạt ấy có sự tiến đến (ánh sáng). Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’
Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng? Ở đấy, cái có tên ánh sáng được gọi là: các pháp nào thuộc phần đối nghịch của chính bóng tối ấy, luôn cả ánh sáng trí tuệ; người có pháp đã được nghe ấy là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng. Ở đấy, người này đây được gọi là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng; nếu vị ấy đạt được bạn tốt có hình thức như thế là người ngăn cản vị ấy lánh xa việc bất thiện, khích lệ (vị ấy) có được trạng thái tốt lành đã được tu tập.
Và còn chỉ bảo Chánh Pháp như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên giao thiệp, các pháp này là không nên giao thiệp, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Được chín muồi với tưởng, niệm quyền nhận biết như thế nào, thì vị ấy nhận biết như vậy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên tu tập, các pháp này là không nên tu tập, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Vị ấy mong muốn lắng nghe các pháp ấy, lóng tai nghe, thiết lập tâm hiểu biết, và các pháp ấy phù hợp cho việc suy đoán của người này, vị ấy có được tuệ văn, nhờ vậy, vị ấy sinh hoạt do tác động của duyên, trong khi sinh hoạt như vậy, vị ấy (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’ Ở đấy, người nào là ánh sáng có sự tiến đến bóng tối? Cái có tên ánh sáng là các pháp nào thuộc phần đối nghịch của chính bóng tối ấy, luôn cả ánh sáng trí tuệ; vị ấy có pháp đã được nghe. Về người đang nhận biết thì được gọi là gì? Được gọi là ‘vị sáng suốt.’ Vị ấy nhận biết như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này là không có tội, các pháp này là nên phục vụ, các pháp này là không nên phục vụ, các pháp này là nên tu tập, các pháp này là không nên tu tập, các pháp này là nên đạt đến và an trú, các pháp này là không nên đạt đến và an trú, các pháp này là nên tác ý, các pháp này là không nên tác ý.” Tuy nhiên, ở đây, với việc thân cận bạn ác, với việc hùa theo tác động của bạn ác, vị ấy làm tăng trưởng các pháp bất thiện, dứt bỏ các pháp thiện. Vị ấy, do sự xao lãng ấy, không tác ý đến sự nhận biết về duyên và thân cận với việc không có niệm, không nhận biết rõ. Do đó, vị ấy làm gia tăng phần đối nghịch bóng tối. Vị ấy, bị ngự trị bởi bóng tối, có sự tiến đến bóng tối, và còn trở nên cực đoan về bóng tối. Người này được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.’
Ở đấy, người nào là ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng? Ở đấy, người này đây được gọi là người đã nương theo bạn tốt, có thể là người chí cốt, là người tìm kiếm điều tốt. Vị ấy đến gần các bạn tốt học hỏi, chất vấn: “Cái gì là thiện, cái gì là bất thiện? Cái gì là có tội, cái gì là không có tội? Cái gì là nên phục vụ, cái gì là không nên phục vụ? Cái gì là nên tu tập, cái gì là không nên tu tập? Cái gì là nên đạt đến và an trú, cái gì là không nên đạt đến và an trú? Cái gì là nên tác ý, cái gì là không nên tác ý? Thế nào là phiền não? Thế nào là sự thanh lọc? Thế nào là sự vận hành? Thế nào là sự đình chỉ? Thế nào là bị trói buộc? Thế nào là sự giải thoát? Thế nào là sự sanh lên của hiện thân? Thế nào là sự diệt tận của hiện thân?”
Vị ấy, ở đây, trong khi thực hành theo điều đã được chỉ bảo, đã được thiết lập, vị ấy nhận biết như vầy: “Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện, –nt– Như vậy là sự sanh lên của hiện thân. Như vậy là sự diệt tận của hiện thân.” (Nên được thực hiện với chi tiết.) Vị ấy mong mỏi các pháp ấy, như vậy làm tăng trưởng ưu điểm, trí, minh, ánh sáng. Người ấy (là người) có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng.’
Ở đấy, người nào là bóng tối có sự tiến đến bóng tối? Là người giảng giải về pháp bất thiện, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới thấp kém do việc tu tập điều ấy, là người có điều ấy là tối hậu, có điều ấy là cứu cánh. Người này được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối.’
Ở đấy, người là bóng tối có sự tiến đến ánh sáng giúp cho thấy quả thành tựu của nghiệp bất thiện bởi bóng tối. Người ấy đạt được nhãn quan, do tác động của bạn tốt, dứt bỏ các pháp bất thiện, tăng trưởng các pháp thiện.
Ở đấy, người giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới cao quý, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng.’
Ở đấy, người là ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy quả thành tựu của nghiệp thiện (quá khứ), và do việc gần gũi với bạn ác, do việc phục vụ bạn ác, có sự hùa theo bạn ác, tăng trưởng pháp bất thiện. Người ấy, do việc tu tập điều ấy, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới thấp kém, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.’
Ở đấy, người là ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng, với chừng ấy bản thể của ánh sáng, giúp cho thấy sự sanh lên ở các cảnh giới cao quý, (là người) có điều ấy là tối hậu; vì thế được gọi là ‘ánh sáng có sự tiến đến ánh sáng.’ Ánh sáng, do sự tiến đến bóng tối, giúp cho thấy sự trỗi dậy của mười pháp bất thiện. Với người là bóng tối giúp cho thấy quả thành tựu của các nghiệp bất thiện, không giúp cho thấy quả thành tựu của các pháp thiện (!). Với bóng tối, giúp cho thấy tám tính chất sai trái. Với ánh sáng, giúp cho thấy tám tính chất đúng đắn. Với ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy tám đường lối hành động bất thiện. Với ánh sáng giúp cho thấy tính chất cao quý. Với bóng tối có sự tiến đến ánh sáng giúp cho thấy pháp không đem lại sự ân hận. Với ánh sáng có sự tiến đến bóng tối giúp cho thấy pháp đem lại sự ân hận. Đây là ý nghĩa của Kinh.
1. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Ở đấy, được nói rằng: Ở Kinh này, các pháp thiện và bất thiện là được chỉ bảo. Quả thành tựu của các pháp thiện và bất thiện là được chỉ bảo. Sự kiện khác biệt về cảnh giới tái sanh của các chúng sanh thấp kém và cao quý là được chỉ bảo. Đây là cách truyền đạt bằngsự chỉ bảo.
2-3. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự tìm hiểu là gì? Người nào kinh qua quả thành tựu của nghiệp bất thiện, ở đấy, được tồn tại, nắm giữ các pháp bất thiện, (người ấy) trong lúc tìm hiểu thì được kết nối với điều ấy. Người nào kinh qua quả thành tựu của nghiệp thiện, ở đấy, được tồn tại, nắm giữ các pháp thiện, (người ấy) trong lúc tìm hiểu thì được kết nối với điều ấy. Đây là sự tìm hiểu và kết nối.
4. Ở đấy, cách truyền đạt bằngnền tảng là gì? Hạng người ‘ánh sáng’ (giúp cho thấy) nền tảng của việc quán xét. Hạng người ‘bóng tối’ đã bị nắm lấy bởi bóng tối giúp cho thấy nền tảng của việc quan sát sự huân tập (!). Với (hạng người là) ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng’ giúp cho thấy nền tảng của sự không xao lãng. ‘Bóng tối’ giúp cho thấy nền tảng của vô minh và tà kiến. Với (hạng người là) ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối’ giúp cho thấy nền tảng của sự xao lãng và của tà kiến. Đây là nền tảng.
5. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtướng trạng là gì? Với (hạng người) ‘bóng tối có sự tiến đến bóng tối,’ khi vô minh được diễn giải, tất cả các pháp ô nhiễm là được diễn giải. Với (hạng người) ‘ánh sáng (!) có sự tiến đến ánh sáng,’ khi minh được diễn giải, tất cả các pháp dự phần vào giác ngộ là được diễn giải. Với (hạng người) ‘ánh sáng có sự tiến đến bóng tối,’ sự xao lãng là được diễn giải. Với (hạng người) ‘bóng tối có sự tiến đến ánh sáng,’ sự không xao lãng là được diễn giải. Đây là cách truyền đạt bằngtướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Các chúng sanh nào thuộc dòng dõi thấp kém, những người ấy, sau khi nghe Kinh này, sẽ không thọ trì và thực hành các pháp thiện. Các chúng sanh nào thuộc dòng dõi cao quý, những người ấy, sau khi nghe sự chỉ bảo về pháp này, sẽ thọ trì và thực hành các pháp thiện nhiều hơn nữa.” Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận, là sự khuyên bảo về lãnh vực. (!)
7. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xoay vầnlà gì? Tham ái, sự phát khởi từ vô minh, là Tập. Bóng tối có sự tiến đến bóng tối là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Nhờ vào Kinh, nhờ vào pháp nào mà ánh sáng được nhận biết, pháp ấy là nền tảng của tuệ quyền. Do sự không si mê ấy, ba thiện căn đi đến sự viên mãn, (điều này) là nền tảng của cõi Trời.
8-9. Ở đấy, sự phân tích là gì? ‘Bóng tối có sự tiến đến bóng tối,’ không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Có sự hiện hữu là bóng tối nhưng ở trạng thái sanh lên là với hạng người ánh sáng do thiện (nghiệp) được cảm thọ ở đời sống kế tiếp. Có sự hiện hữu là ánh sáng nhưng ở trạng thái sanh lên là với hạng người bóng tối do bất thiện (nghiệp) được cảm thọ ở đời sống kế tiếp. Từ sự đảo ngược, ‘phần đối nghịch’ liên quan đến các (hạng người) bóng tối là (hạng người) ánh sáng có sự tiến đến bóng tối.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? (Hạng người) bóng tối thực hành như vậy đưa đến sự bất hạnh cho bản thân, do không có đức tin người ấy là ngu dốt, không thiện xảo, thiếu kinh nghiệm, không nhìn thấy sự bất lợi. (Hạng người) ánh sáng thực hành đưa đến sự lợi ích cho bản thân, sáng trí, thiện xảo, có kinh nghiệm, nhìn thấy sự bất lợi. Đây là từ đồng nghĩa.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? Hạng người (bóng tối) được mô tả với sự mô tả về quả thành tựu, [được mô tả (với sự mô tả) về trạng thái bị khống chế ở bất thiện]. (Hạng người) ánh sáng được mô tả với sự mô tả về sự sanh lên do pháp thiện và với sự mô tả về quả thành tựu của pháp thiện.
12. Sự liệt kê: Do duyên vô minh, các hành, … lão tử (sanh lên), và vô minh là nền tảng. Với sự diễn giải, do sự sanh lên của minh, có sự diệt tận của vô minh, … cho đến … có sự diệt tận của lão tử. Hai pháp này được gộp vào hành uẩn. Pháp giới và pháp xứ là nền tảng với sự diễn giải về các giới.
13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của Kinh này đã được chỉ bảo là (rõ ràng).
14. Sự xác định: Đức Thế Tôn đã nói về ‘bóng tối,’ Ngài chỉ bảo không riêng về một hạng người, mà là cảnh giới tái sanh của các chúng sanh. Ở đấy, những kẻ nào đã được sanh lên do pháp uế hạnh, Ngài diễn giải những kẻ ấy là bóng tối theo số nhiều. Ánh sáng là sự sanh lên do pháp thiện ở tất cả chúng sanh, và Ngài thuyết về mọi trường hợp ấy là ‘ánh sáng.’ Tính chất đồng nhất này là duyên, là sự mô tả theo sự tác ý đúng đường lối đối với bốn hạng người theo các yếu tố chính.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với bất thiện, việc có bạn ác là duyên, tác ý không đúng đường lối là nhân. Đối với thiện, việc có bạn tốt là duyên, tác ý đúng đường lối là nhân.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Ở đây, một người nào đó bị sanh ra ở gia tộc thấp kém,” bị hạ sanh ở gia tộc thấp kém, ở các sắc, ở các thinh, ở các hương, ở các vị, ở các xúc (thấp kém), người ấy không được tái sanh ở nơi có mọi sự thọ dụng và hưởng thụ của loài người. (Hạng người) ánh sáng được tái sanh ở các gia tộc cao quý, được sanh ra ở nơi có mọi sự thọ dụng và hưởng thụ của loài người.
Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt là gì? Câu kệ là: “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc ấy là không chắc chắn ...” Bởi lý do nào sự trói buộc ấy là không chắc chắn? Bởi bốn lý do: có thể thoát ra nhờ vào uy quyền, hoặc nhờ tài sản, hoặc nhờ người khác, hoặc nhờ sự cầu xin, hoặc nhờ sự nâng đỡ. Và sự mong muốn, sự luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ là sự trói buộc về tâm của người này. Điều ấy là không thể thoát ra nhờ vào uy quyền, hoặc nhờ tài sản, hoặc nhờ người khác, hoặc nhờ sự cầu xin, hoặc nhờ sự nâng đỡ, và ở đấy không có người nào là sự bảo chứng (để cầu cứu): “Hãy giúp cho thoát khỏi sự trói buộc bởi điều này,” (!) dầu là Thiên nhân hay nhân loại, tức là sự trói buộc bởi sự tiềm ẩn của luyến ái trói buộc (!) vào sáu ngoại xứ: Tham ái về sắc trói buộc vào các sắc … cho đến … tham ái về pháp (trói buộc) vào các pháp. Người nào ở đời này bị trói buộc được dẫn dắt đi ở đời khác (cũng) bị trói buộc, người ấy sanh ra bị trói buộc, chết đi bị trói buộc, từ đời này đi đến đời khác bị trói buộc, không có thể thoát ra ngoại trừ nhờ vào Thánh Pháp. Sau khi biết được sự trói buộc này, sự hiện hữu của cái chết, và sự hiện hữu của việc tái sanh là nỗi sợ hãi, (người ấy) dứt bỏ sự mong muốn và luyến ái. Sau khi dứt bỏ sự mong muốn và luyến ái này, vị ấy vượt qua đời này và từ đây đi đến đời khác. Ở đấy, sự dứt bỏ các hành khỏi sự trói buộc được gọi là sự tinh tấn ở cả hai trường hợp: bị bao trùm bởi hương thơm, bậc hiền trí tốt lành không bị vấy bẩn; cũng y như thế ấy, ở các vật sở hữu, ở những người con trai, và ở những người vợ thì “mũi tên đã được nhổ lên” giúp cho thấy sự dứt bỏ đối với chính tham ái ấy. Nhờ vào sự dứt bỏ gốc rễ của tham ái, vị này “du hành không xao lãng;” sự ham muốn xảy ra bởi vì xao lãng, với sự dứt bỏ (xao lãng), vị thích thú việc xuất ly, có sự an trú ở việc không xao lãng.― ―Với sự dứt bỏ chỗ trú của (xao lãng) ấy, vị này không mong ước đời này, không mong ước đời khác, không mong mỏi cái gì có vẻ đáng yêu, có vẻ vừa lòng phụ thuộc vào đời này, cũng không mong mỏi cái gì có vẻ đáng yêu, có vẻ vừa lòng phụ thuộc vào đời khác. Vì thế, được nói rằng: “(Vị ấy)không mong ước đời này và đời khác.”
Sự dứt bỏ của vị ấy là sự cắt đứt được diễn giải bởi bậc Hiền Trí ở các Phẩm Nhóm Tám. Sự chống đối ấy ở đây, sự không mong ước ở các Phẩm Nhóm Tám ở đây là không giống nhau; cũng vậy, tham ái này đối với vật dục, đối với vật sở hữu của người ấy, tất cả các dục (ham muốn) ấy được trình bày ở một câu kệ. Vì thế, đức Thế Tôn chỉ bảo rằng:
“Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ tất cả các dục.”
Đối với câu kệ này, sự diễn giải là theo hai cách: diễn giải bằng cách kết hợp và diễn giải theo trường hợp. Giống như câu kệ này là liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt, tương tự như vậy, câu trả lời cho câu kệ ấy là liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt. Giống như câu kệ này, Kinh được diễn giải ở tất cả các câu kệ hoặc ở các thể veyyākaraṇa là tương tự như vậy.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Kinh này được chỉ bảo với chủ tâm gì? Các chúng sanh nào có tánh luyến ái, chúng sẽ dứt bỏ các dục. Ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn.
2. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Các ô nhiễm liên quan đến mười nền tảng là đã được vượt qua, đã được ói ra, đã được nhận biết. Mười loại nào? Các ô nhiễm dục và các sự ràng buộc thuộc hạ phần và thuộc thượng phần là các xứ liên quan đến mười nền tảng. Đây là sự tìm hiểu.
3. Ở đấy, sự kết nối là gì? Những người nào bị luyến ái, những người ấy bị trói buộc bởi sự trói buộc chắc chắn; có sự kết nối ấy.
4. Ở đấy, nền tảng là gì? Người “bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma- ni” là nền tảng của việc tạo thành ‘của tôi.’ “Sự mong cầu” là nền tảng của sự luyến ái đối với sự việc quá khứ. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này” là nền tảng của sự tu tập.
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Người nào có tâm bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, bị dính liền vào việc tạo thành ‘tôi,’ bị dính liền vào việc tạo thành ‘của tôi,’ người ấy bị luyến ái ở con và vợ, bị luyến ái ở ruộng vườn. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người nào sẽ có sự mong muốn với Niết Bàn, những người ấy sẽ dứt bỏ tham ái ở những người con và vợ; ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Tham ái ở những người con và vợ là Tập. Các thủ uẩn và sự bám víu vào các sắc bên ngoài là Khổ. Ở đấy, cái nào sẽ bị cắt đứt, cái này là Diệt. Bị phá vỡ nhờ vào cái nào, cái này là Đạo. Đây là bốn Chân Lý.
8. Sự phân tích: Không có lãnh vực cho sự phân tích.
9. Sự đảo ngược: Phần đối nghịch đã được diễn giải.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Từ đồng nghĩa đã được diễn giải.
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? Có tham ái, một chúng sanh bị đi xuống; do duyên ấy có thức … cho đến … lão tử. Ở đấy, thọ là vô minh; do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh … cho đến … sự diệt tận của lão tử.
13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của câu kệ là rõ ràng.
14. Ở đấy, sự xác định là gì? “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là không chắc chắn” được mô tả theo tính trạng đồng nhất, không theo tính trạng khác biệt. “Có bốn sự luyến ái: sự luyến ái về dục, sự luyến ái về sắc, sự luyến ái về hữu, sự luyến ái về tà kiến” được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? Đối với những người có sự luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, việc ấy có tịnh tưởng là nhân và sự nắm giữ hình tướng theo chi tiết là duyên. Ở việc chúng bị cắt đứt, việc ấy có bất tịnh tưởng là nhân, việc xua đi sự nắm giữ hình tướng và sự nắm giữ chi tiết là duyên.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Người bị luyến ái ở các bông tai gắn ngọc ma-ni” là hạng người bị mê muội và còn xấu xa nữa. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự (trói buộc) này, các vị xuất gia”: điều ấy là được dứt bỏ với ý nghĩa đã được biết toàn diện, với ý nghĩa đã được xa lánh. Đây là sự xếp loại.
“Suy tính về điều gì, xếp đặt điều gì, tiềm ẩn điều gì” là duyên theo nghĩa rộng; hoặc là nghiệp nào thuộc tâm, thuộc thân, và thuộc khẩu. Bởi lý do gì? Bởi vì sự suy tính thuộc tâm được gọi là ‘ý nghiệp,’ hành động của sự suy tính là thuộc tâm, còn cái này là thuộc thân và thuộc khẩu; đây là ba nghiệp đã được diễn giải.
Các nghiệp thân và nghiệp khẩu thiện mà một người khởi sự bằng thân và bằng khẩu rồi bám víu; điều này được gọi là sự bám víu vào giới và phận sự.
Suy tư là các sự tạo tác (các hành) gồm ba loại: có yếu tố phước thiện, có yếu tố phi phước thiện, có yếu tố bất động; do duyên suy tư, thức đối với chúng là có trạng thái bất hoại về đối tượng, đưa đến sự tồn tại của thức.
Tịnh tưởng, lạc tưởng, và ngã tưởng là thuộc về tâm. Việc thức tiến đến sắc rồi tồn tại, có sắc là đối tượng, được thiết lập ở sắc, có sự rải rắc bởi hỷ, đi đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh, việc này là suy tư. Như thế, sự chấp thủ do tác động của đối tượng ở sự sanh lên đầu tiên được tồn tại ở các tính chất bền vững của thức được gọi là ‘thuộc về tâm.’
Ở đấy, sự đeo đuổi, sự bám chặt đối với vô sắc đã được trú vững cũng là đã bị rung động. Sự quan tâm ở các sắc hợp ý, ở các sắc đáng yêu và ở các sắc vừa lòng, là thuộc về tâm.
Suy tính về điều gì ở các vật hợp ý đã bị dính mắc là sự trói buộc của thân vào tham đắm, ở các tiềm ẩn về bất bình là sự trói buộc của thân vào oán hận. Tất cả bốn sự trói buộc (là như vậy). Đây là sự tiếp xúc đầu tiên của tâm ở năm loại dục. Đối với người nào có sự suy tính, có sự quan sát về điều hứng thú ở đấy (ở năm loại dục), thì có nhiều ác bất thiện pháp là những phận sự vô hình của tâm (khởi lên ở người ấy). Người có trạng thái bị trói chặt bởi luyến ái với các ô nhiễm dục ấy thì sẽ hành động theo sự ham muốn; đây được gọi là sự xếp đặt ở các dục. Tất cả bốn dòng lũ là như vậy.
Việc một người sống, được gắn liền, được phát triển, và được gần gũi với các dục ấy; đây là sự suy tính. Cũng vậy, đối với người chưa xa lìa luyến ái và chưa thoát khỏi sự yêu thương, do trạng thái biến hoại và đổi khác, sầu-bi- khổ-ưu-não sanh lên cho người ấy. Thức là được xoay quanh khổ, sự sanh lên của pháp diệt đối với điều đã được ghi nhớ chiếm giữ tâm. Điều này được gọi là ‘được xếp đặt.’ Như vậy, (vị ấy) suy tính và xếp đặt cho sự tồn tại của một thức. (?) Và sự tồn tại ấy có hai loại: sự tồn tại của đối tượng và sự tồn tại của yếu tố nuôi dưỡng. Ở đấy, sự tồn tại của đối tượng là duyên cho danh sắc; sự tồn tại của yếu tố nuôi dưỡng, sự tồn tại liên quan đến việc hạ sanh của sự hiện hữu lại nữa, và sự tồn tại liên quan đến tái sanh được gọi là đối tượng. Đối tượng ấy hiện diện, đưa đến sự tồn tại của thức; do duyên thức đối với điều ấy, danh sắc (sanh khởi) … cho đến … lão tử (sanh khởi), và (vị ấy) suy tính. (?)
Và rồi (vị ấy) lại còn ước nguyện về sự việc tương lai nhưng không liên quan đến tái sanh, phần đối nghịch này đã được diễn giải; “không suy tính, không ước nguyện và rồi làm cho hư hỏng,” như thế là hai cách diễn giải. Điều được suy tính ấy, điều được xếp đặt ấy của người này trước đây là chưa bị bứng lên; do duyên của điều ấy, đây là sự tồn tại của thức.
Hoặc là, các trạng thái tiềm ẩn của vị ấy trở nên rõ ràng; do duyên của điều ấy, sự hiện hữu lần nữa được sanh ra cho vị ấy. Hoặc là, (vị ấy) bị nghi ngờ về điều ấy hoặc được chỉ định về gia đình. (?) Vị ấy hoặc là mảnh mai hoặc là an tịnh, không bị nghi ngờ về các dục; như vậy (vị ấy) bị sanh ra ở các gia đình thấp kém (?) Điều ấy dẫn đến việc không sắp đặt; như vậy các hành đã được suy tính và đã được xếp đặt là các trạng thái của đối tượng. (?) Sự suy tính với sự xếp đặt, và nền tảng đã được sanh ra, cả hai điều này là đối tượng của thức; cũng vậy, do sự suy tính, do sự suy tư, và do ước nguyện, các chúng sanh đã được hiện hữu suy tính và suy tư. Các hạng đang tầm cầu sự hình thành không suy tính và không suy tư. (?) Và các chúng sanh đã được hiện hữu là các hạng nào? Các hạng đã được sanh ra mỏng manh, luôn cả các hạng noãn sanh. Các hạng noãn sanh được vỡ ra (từ trứng), các hạng thấp sanh thì không tự vỡ ra; đây là các hạng đã được hiện hữu (sinh linh). Các hạng đang tầm cầu sự hình thành là gì? Các hạng đi đến thai sanh, đi đến noãn sanh, trong khi luân hồi các hạng này không suy tính, không ước nguyện, không suy tư, và sự hiện hữu lần nữa được sanh ra do trạng thái tiềm ẩn.
Các hạng đã được hiện hữu là bị dính mắc, các hạng đang tầm cầu sự hình thành là không di động. Các hạng bị dính mắc suy tính, ước nguyện; còn các hạng không di động thì không suy tính, không ước nguyện, không suy tư, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn.
Một cách thức khác: Các Thánh nhân Hữu Học, ở đấy các vị ấy không suy tính và không suy tư, vẫn còn sanh lên do trạng thái tiềm ẩn.
Một cách thức khác: Các sanh mạng mảnh mai ở đất liền, ở trong nước, không đi vào phạm vi (nhìn) của mắt, chúng không suy tính, không suy tư, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn.
Một cách thức khác: Các vị ngoại đạo, tất cả các vị tỳ khưu ngã mạn thái quá, các vị ấy không suy tính, không ước nguyện, và luân hồi do trạng thái tiềm ẩn. Các vị không suy tính, không sắp xếp, và không tiềm ẩn, thậm chí đối tượng ấy cũng không hiện diện để đưa đến sự tồn tại của thức.
Và không suy tính: giúp cho thấy việc thủ tiêu sự thâm nhập. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy việc thủ tiêu sự tiềm ẩn. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ các ô nhiễm thô thiển. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ các ô nhiễm vi tế. Và không suy tính: với điều này (?) là lãnh vực.Và không ước nguyện: là vị Bất Lai, vị Nhất Lai. Và không tiềm ẩn: là vị A-la- hán. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của giới uẩn. Và không ước nguyện: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của định uẩn. Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ bằng phần đối nghịch của tuệ uẩn. Và không suy tính: giúp cho thấy sự dứt bỏ các phi phúc hành. [Và không ước nguyện: giúp cho thấy sự dứt bỏ các phúc hành.] Và không tiềm ẩn: giúp cho thấy sự dứt bỏ các bất động hành. Và không suy tính: là vị tri quyền.Và không ước nguyện: là dĩ tri quyền. Và không tiềm ẩn: là cụ tri quyền. Và không suy tính: là sự tu tập quyền bị yếu kém. Và không ước nguyện: là sự tu tập quyền một cách trung bình. Và không tiềm ẩn: là sự tu tập quyền được vượt trội. Đây là ý nghĩa của Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở đây, bốn Chân Lý được diễn giải ở Kinh. 2-3. Điều đã được suy tính và điều đã được xếp đặt: Có đối tượng ấy, tâm được thành lập, tìm hiểu, và được kết nối. ‘Không suy tính’ và ‘không ước nguyện’: ‘Có đối tượng ấy ở trạng thái tiềm ẩn, có thức,’ như thế (tâm) tìm hiểu và được kết nối. Không suy tính và không ước nguyện: Do sự dứt bỏ trạng thái tiềm ẩn, không tìm kiếm sự tồn tại của thức, trong lúc tìm hiểu thì được kết nối. Đây là sự tìm hiểu và sự kết nối.
4. Ở đấy, nền tảng là gì? Việc thâm nhập vào sự suy tính (trước đó) là nền tảng của việc thâm nhập vào sự suy tính (kế tiếp). Sự suy tư là nền tảng của chấp thủ. Trạng thái tiềm ẩn là nền tảng của sự thâm nhập. Sự tu tập nhằm loại bỏ mong muốn và luyến ái đối với chúng là sự dứt bỏ đối với sự luyến ái về hữu (hữu ái).
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? Điều được suy tính: là được cảm thọ, được xếp đặt, được nắm lấy, được nhận thức; cái ấy là thức, cũng là đối tượng, cũng là duyên.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? “Những người nào không ước muốn sự hiện hữu lần nữa, những người ấy sẽ không suy tính và sẽ không ước nguyện;” đây là chủ tâm.
7. Sự xoay vần: Sự suy tính, sự ước nguyện, trạng thái tiềm ẩn, và sự dứt bỏ việc tồn tại của thức là hai Chân Lý (Tập và Đạo).
8. Sự phân tích: Không có lãnh vực cho sự phân tích.
9. Sự đảo ngược: Hơn nữa, Kinh là có phần đối nghịch.
10. Ở đấy, từ đồng nghĩa là gì? Sự suy tính: sự suy tính về sắc, … cho đến … sự suy tính về pháp. Trạng thái tiềm ẩn: chúng là bảy trạng thái tiềm ẩn.
11. Sự mô tả: Sự suy tính được mô tả với sự mô tả về thâm nhập. Sự suy tư được mô tả với sự mô tả về chấp thủ. Trạng thái tiềm ẩn được mô tả với sự mô tả về nhân. Sự tồn tại của thức được mô tả với sự mô tả về nhân của sự tái sanh. Sự suy tính, sự suy tư, trạng thái tiềm ẩn, sự đoạn trừ được mô tả với sự mô tả về việc loại bỏ mong muốn và luyến ái. Với hai sự vận hành đầu là sự tùy thuận sanh khởi và sự mô tả phần giữa về tính chất duyên ấy. (?)
12. Sự liệt kê: Với hai sự vận hành là Khổ và Tập, với các sự (vận hành) ở giữa là Đạo và Diệt.
13. Sự làm rõ: Sự khởi đầu của Kinh ở Kinh là (rõ ràng).
14. Sự xác định: Điều được suy tính, tất cả là được mô tả theo tính trạng đồng nhất với sự xác định. Được suy tư: được mô tả theo tính trạng đồng nhất với sự chấp thủ. Thức được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Sự thiết yếu: Đối tượng đẹp, tác ý đúng đường lối, sự suy tính là duyên với tính chất nhân duyên. Sự thiết lập của thức, (cảnh) pháp, là duyên với tính chất cảnh duyên. Tác ý đối với vật ấy là duyên với tính chất nhân duyên.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? Kinh này được nhận biết; (?) ở đấy, (vị ấy) suy tính là ‘câu trả lời’ nên được diễn giải. Theo quan điểm ấy, do duyên thức, danh sắc (sanh khởi) … cho đến … lão tử. Đây là sự xếp loại.
Đối tượng này không hiện diện để đưa đến sự tồn tại của thức. Do sự diệt tận của thức, có sự diệt tận của danh sắc. Do sự diệt tận của danh sắc … cho đến … sự diệt tận của lão tử.
Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào? “Thế gian này bị đốt nóng” … cho đến … “Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu” là liên quan đến phiền não. “Bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành,” tuy nhiên, “hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu,” đây là sự thấu triệt. “Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, … bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu” là liên quan đến bậc Vô Học.
Ở đấy, ‘đã sanh lên sự đốt nóng’: ‘Sự đốt nóng sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê’ giúp cho thấy vị thế của các chúng sanh ấy. ‘Thế gian bị đốt nóng’: Xúc có ba loại: đưa đến thọ lạc, đưa đến thọ khổ, đưa đến thọ không khổ không lạc. Ở đấy, xúc đưa đến thọ lạc là sự đốt nóng của luyến ái, xúc đưa đến thọ khổ là sự đốt nóng của sân hận, xúc đưa đến thọ không khổ không lạc là sự đốt nóng của si mê. Và giống như đức Thế Tôn đã nói với Hatthaka Ālavaka ở Gomagga: “Con trai người gia chủ ngủ khổ sở bởi các sự đốt nóng sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê, các sự đốt nóng ấy không có đối với Ta.”
“Nói rằng bệnh là tự ngã”: Người bị đốt nóng bởi các sự đốt nóng ấy tiếp nhận điều trái khuấy gồm ba loại: điều trái khuấy do tưởng, điều trái khuấy do tâm, điều trái khuấy do kiến. Ở đấy, điều trái khuấy do tưởng (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, điều trái khuấy do tâm (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, điều trái khuấy do kiến (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, ‘ngã’ ở vô ngã.
Giống như điều trái khuấy của tâm, tưởng và kiến (là tương tự), chúng là ba loại suy tầm: suy tầm của tâm là điều trái khuấy, suy tầm của tưởng là điều trái khuấy, suy tầm của kiến cũng là điều trái khuấy. Ở đấy, vô minh là sự trái khuấy, là hành xứ, là lãnh vực nổi trội. Thật vậy, nhận biết điều ấy như thế nào, nhận thức như thế nào, nhận biết và nhận thức như thế nào, suy tính sự chấp nhận như thế nào, đây là bốn điều trái khuấy. Bởi các điều này, chúng sanh nói bốn loại nền tảng của bản ngã, trạng thái bệnh tật, trạng thái mụt nhọt là ‘ngã.’ “Nói rằng bệnh là tự ngã,” đây là sự xoay vần.
“Dầu nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy”: Nghĩ là ‘tịnh’ nhưng nó không là như thế; ‘lạc,’ ‘thường, ngã’ là tương tự như vậy. Theo một cách khác, người ấy đang là hữu (hiện tại), lại ước nguyện đến hữu vị lai. Vì thế, được gọi là ‘sự luyến ái về hữu.’ “(Người ấy) thỏa thích chính hữu ấy. Thỏa thích cái nào, cái ấy là khổ”: (đoạn văn này) diễn giải về năm uẩn như thế. Và do duyên của việc ấy, sầu-bi-khổ sẽ hình thành cho chính người ấy. Phiền não là chừng ấy. Hơn nữa, nhằm mục đích dứt bỏ mà Phạm hạnh này được sống. Việc loại bỏ mong muốn và luyến ái là đối với ba sự đốt nóng.
“Bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành”: Những người nào thỏa thích hữu, điều ấy là nỗi sợ hãi; người nào bị sợ hãi, điều ấy là khổ; Ngài đã nói về sự dứt bỏ của khổ ấy (rằng): “Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.”
Ngài đã nói về bốn điều trái khuấy giống như (bốn) chấp thủ đã được diễn giải. Ở đấy, điều trái khuấy thứ nhất là sự chấp thủ về dục, thứ nhì là sự chấp thủ về tà kiến, thứ ba là sự chấp thủ về giới và phận sự, thứ tư là sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Có sự cạn kiệt của chúng, thì không có sự hình thành của khổ, Ngài đã nói về sự diệt tận của khổ do sự dứt bỏ mầm tái sanh.
“Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh, hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu”: là bàn luận về lãnh vực của việc thấy. “Do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, … Niết Bàn”: là thuyết giảng về hai sự giải thoát: sự xa lìa luyến ái và sự xa lìa vô minh. “Đối với vị tỳ khưu (đã được tịch diệt) ấy”: là bàn luận về Niết Bàn giới không còn dư sót. Đây là sự diễn giải về ý nghĩa của Kinh.
2-3. Ở đấy, sự tìm hiểu là gì? Đối với người nào có sự bực bội, trong khi người ấy bị bực bội, người ấy (thấy) không có gì đúng theo thực thể và nhàm chán. Đây là sự tìm hiểu và sự kết nối.
4. Nền tảng: Sự bực bội sanh ra do luyến ái là nền tảng của lạc quyền và của hỷ quyền. Sự bực bội sanh ra do sân hận là nền tảng của khổ quyền và của ưu quyền. Sự bực bội sanh ra do si mê là nền tảng của xả quyền và của ưu quyền.
5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Người bị quấy nhiễu bởi xúc, bị quấy nhiễu bởi thọ, bị quấy nhiễu bởi tưởng, bị quấy nhiễu bởi các hành, suy nghĩ theo cách này cách khác, –dầu bởi hiện tướng tịnh, dầu bởi hiện tướng lạc, dầu bởi hiện tướng thường, dầu bởi hiện tướng ngã,– rồi nghĩ là: ‘tịnh’ ở bất tịnh, … toàn bộ là tương tự như vậy. Khi sự bực bội sanh ra do luyến ái được nói đến, bốn sự bực bội được nói đến: sanh ra do luyến ái, sanh ra do sân hận, sanh ra do si mê, sanh ra do tà kiến. “Ta nói rằng luyến áilà tự ngã,” Ngài nói như thế. Tất cả là mười lăm thuật ngữ: “Vô thường, khổ, …”
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trậnlà gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? Những người nào do bực bội mà không ước muốn, những người ấy không thỏa thích sự hiện hữu. Những người nào không thỏa thích sự hiện hữu, những người ấy viên tịch Niết Bàn. Đây là chủ tâm.
7. Ở đấy, sự xoay vần là gì? Diễn giải Khổ và Tập với phần liên quan đến ô nhiễm, Đạo và Diệt với phần liên quan đến thấu triệt.
8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: đã sanh ra bệnh tật. (!) ‘Nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã’: điều ấy không hẳn là như thế, người bị sanh lên sự đốt nóng, do không tác ý, không nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã.
9. Ở đấy, sự đảo ngượclà gì? Lãnh vực với sự đảo ngược nhằm mục đích chỉ ra phần thuận và phần đối nghịch. (!)
10. Ở đấy, cách truyền đạt bằngtừ đồng nghĩa là gì? Nói rằng bệnh là tự ngã, nói rằng bệnh là mũi tên. Tất cả mười lăm thuật ngữ nên được đề cập.
11. Ở đấy, sự mô tả là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: là nền tảng của ưu phiền, (đoạn Kinh) mô tả tất cả với sự mô tả về ngôn ngữ. ‘Nói rằng bệnh là tự ngã’: mô tả sự trái khuấy (!) với sự mô tả về ô nhiễm. “Thỏa thích cái nào –nt–cái ấy là khổ”: được mô tả với sự mô tả về việc quăng bỏ các sự trái khuấy. Các thế gian còn chưa bị dính mắc được mô tả theo tính trạng khác biệt bởi phần giữa. (?)
12. Ở đấy, sự liệt kê là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: là ba gốc rễ của bất thiện; các hành ấy được gộp vào hành uẩn, là pháp giới ở các giới, là pháp xứ ở các xứ, là nền tảng nữ quyền và nam quyền ở các quyền,.
13. Ở đấy, sự làm rõ là gì? Sự khởi đầu của câu kệ là rõ ràng.
14. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự xác địnhlà gì? ‘Sự bực bội’: Các thế gian bị dính mắc được mô tả theo tính trạng đồng nhất, các thế gian còn chưa bị dính mắc được mô tả theo tính trạng khác biệt bởi phần giữa. (?)
15. Ở đấy, sự thiết yếu là gì? ‘Đã sanh lên sự đốt nóng’: tác ý không đúng đường lối là nhân và sự trái khuấy là duyên. Ở đấy, tự ngã bị chấp chặt vào hai pháp (tâm và sở hữu tâm), trong khi người ấy đang bám víu vào cả hai pháp tâm và sở hữu tâm một cách sai lệch.
Một cách thức khác: Ngã tưởng thủ tiêu vô ngã tưởng bởi các pháp thuộc tâm. Một cách thức khác: Vô thường tưởng là ở các pháp thuộc tâm, nhưng không phải là ngã tưởng. Cái này được gọi là ‘tâm,’ hoặc là ‘ý,’ hoặc là ‘thức,’ hoặc là, cái này đã được tiêm nhiễm một thời gian dài: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ Ở đấy, việc quan sát các pháp là thuộc tâm, việc này cũng là pháp tưởng. Đối với việc ấy, cái gì là nhân, cái gì là duyên? Việc tạo thành ‘tôi’ là nhân, việc tạo thành ‘của tôi’ là duyên.
16. Ở đấy, sự xếp loại là gì? “Thế gian này bị đốt nóng”: bàn luận về bất thiện, ‘thức là duyên cho danh sắc … cho đến … lão tử.’ Đây là sự xếp loại.
“Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh”: là sự dứt bỏ đối với các gốc rễ của bất thiện. Ở đấy, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh … cho đến … có sự diệt tận của lão tử. Đây là sự xếp loại.
“Có bốn hạng người: Hạng đi xuôi dòng, hạng đi ngược dòng, hạng có bản thân đã đứng vững, hạng đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền, vị Bà-la-môn.”
Ở đấy, người đi xuôi dòng phục vụ các dục và làm hành động ác rồi còn thân cận các dục. Đây là bất thiện căn tham, điều ấy (!) chính là tham ái. Người ấy bị lôi đi bởi các dục ấy, được gọi là ‘hạng đi xuôi dòng.’ Hạng người đã đi với các (tham ái) ấy, do duyên của việc ấy, do nhân của việc ấy, làm hành động bất thiện bằng thân và bằng khẩu. Người này được gọi là ‘làm hành động ác.’ Đối với người ấy, có ba dòng chảy: sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến), sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự. Do ba dòng chảy này, (người ấy) tái sanh ở Tam Giới: ở dục giới, ở sắc giới, ở vô sắc giới.
Theo phần đối nghịch, người nào không thân cận các dục, người nào không bám víu vào giới và phận sự, người nào, do sự dứt bỏ các nhận thức sai trái về thân, nhìn thấy sự bất lợi ở các dục đúng theo thực thể, và người ấy không thân cận các pháp ấy. Và do duyên của việc ấy, người đứng vững là ‘Bà-la-môn,’ là vị A-la-hán thật sự. Ở đấy, vị A-la-hán là vị đã đi đến bờ kia của (dòng chảy) ấy; đối với vị đã đi đến bờ kia, là ‘vị đứng ở đất liền,’ có Niết Bàn giới còn dư sót (Hữu Dư Niết Bàn).
‘Hạng đi xuôi dòng’: Ngài đã nói về (người có) sự không dứt bỏ các sự ràng buộc cần được dứt bỏ do việc thấy. ‘Hạng đi ngược dòng’: và Ngài đã nói về (người có) sự dứt bỏ các ô nhiễm đứng chung với tà kiến. Với hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về (người có) sự dứt bỏ năm ràng buộc thuộc hạ phần. Ở đấy, với hạng đi xuôi dòng, Ngài đã nói về đạo lộ hữu sắc. (?) Với hạng đi ngược dòng và hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về Đạo Lộ. Với hạng đã đi đến bờ kia, các vị Thinh Văn Vô Học và các vị Chánh Đẳng Giác đã được nói đến. Với hạng đi xuôi dòng, Ngài đã nói về lối thực hành đưa đến nhân sanh khởi của hiện thân. Với hạng đi ngược dòng và hạng có bản thân đã đứng vững, Ngài đã nói về lối thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân. Với hạng đã đi đến bờ kia, mười pháp của phẩm vị A-la- hán Vô Học đã được nói đến. Đây là ý nghĩa của Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Chính ở Kinh này, bốn Chân Lý Cao Thượng đã được diễn giải và việc vượt qua hẳn các thế gian thuộc Tam Giới.
2. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là gì? ‘Người nào thân cận các dục, người ấy có thể làm hành động ác;’ ‘người nào không thân cận các dục, người ấy không thể làm hành động ác;’ ‘và người nào đã vượt lên khỏi hai lãnh vực này là vị đã đi đến bờ kia,’ việc thẩm xét như thế là sự tìm hiểu.
3. Sự kết nối: ‘Được kết nối vào các Kinh (hay) không được kết nối,’ việc thẩm xét như thế là sự kết nối.
4. Nền tảng: Với hạng đi xuôi dòng, nền tảng là thuộc về bảy sự ràng buộc. Việc làm của bất thiện là nền tảng của các gốc rễ bất thiện. Với hạng đi ngược dòng, nền tảng là thuộc về việc thấy đúng theo thực thể. Với hạng có bản thân đã đứng vững, nền tảng là thuộc về không thể bị chuyển dịch. ‘Hạng đã đi đến bờ kia’: nền tảng là thuộc về lãnh vực của vị đã làm xong công việc.
5. Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì? Người đi xuôi dòng do tác động của tham ái thì cũng đi do tác động của tất cả các ô nhiễm. Người ra sức lội ngược dòng đối với tham ái thì cũng ra sức lội ngược dòng đối với tất cả các ô nhiễm. Người tự mình đứng vững thì cũng đứng vững với thân, cũng đứng vững với khẩu và ý. Đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
6. Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì? Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn ở Kinh? “Những người nào sẽ không thích thú với lối thực hành của hạng người đi xuôi dòng, những người ấy sẽ ra sức lội ngược dòng” … cho đến … lãnh vực của vị đã làm xong công việc. Điều này là chủ tâm.
7. Sự xoay vần: Ở đây, bốn Chân Lý được diễn giải ở Kinh.
8. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là gì? Người nào thân cận các dục và làm hành động ác, người ấy không hẳn là hạng đi xuôi dòng; ngay cả vị Nhập Lưu cũng thân cận các dục và còn làm hành động ác liên quan đến điều ấy. “Mặc dầu bậc Hữu Học cũng có thể làm ác” giống như đã được diễn giải ở Kinh, nhưng vị ấy không phải là hạng đi xuôi dòng; đây là điều nên được giải đáp sau khi phân tích. Người không thân cận các dục và không làm hành động ác không hẳn là hạng đi ngược dòng. Tất cả ngoại đạo đã xa lìa luyến ái ở các dục, không thân cận các dục, và không làm hành động ác, họ là hạng đi xuôi dòng và là hạng đi ngược dòng. Đây là sự phân tích.
9. Ở đấy, cách truyền đạt bằngsự đảo ngượclà gì? Phần đối nghịch là đã được diễn giải.
10. Từ đồng nghĩa: Ở các dục là các vật dục cùng với các ô nhiễm dục; còn sắc, thinh, hương, vị, xúc, con trai, vợ, nô bộc, người làm công là các vật sở hữu.
11. Sự mô tả: Tất cả phàm phu được mô tả theo tính chất chung. Hạng đi xuôi dòng được mô tả với sự mô tả về sự chi phối của ô nhiễm. Ngược lại, các hạng người Hữu Học được mô tả với sự mô tả về Niết Bàn. Còn những bậc Bất Lai được mô tả với sự mô tả về việc không thể bị chuyển dịch. Đây là sự mô tả.
12. Sự liệt kê: Hạng đi xuôi dòng là Khổ. Các pháp của hạng ấy là nhân sanh của Khổ (Tập). Cái nào là sắc, đây là sắc uẩn; cũng vậy, năm uẩn và sự tùy thuận sanh khởi là tương tự. Các ô nhiễm ấy được gộp vào hành uẩn, và được mô tả ở pháp xứ, ở pháp giới, (!) và ở các quyền.
13. Sự làm rõ: Kinh này được chỉ bảo với sự khởi đầu nào thì toàn bộ sự khởi đầu ấy là rõ ràng.
14. Sự xác định: Tất cả các vị Nhập Lưu là thuộc hạng đi ngược dòng, hoặc là được diễn giải theo tính chất chung. Chính các bậc Hữu Học, –Đạo và người Hữu Học,– là thuộc hạng đi ngược dòng với khuynh hướng tiềm ẩn về luyến ái. Hạng có bản thân đã đứng vững: là đã xa lìa luyến ái, được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Hạng đã đi đến bờ kia: là tất cả các vị A-la-hán, tất cả các vị Độc Giác và Chánh Đẳng Giác, là được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Sự thiết yếu: Đối với hạng đi xuôi dòng, bạn ác là duyên, sự thâm nhập của các dục là nhân. Đối với hạng đi ngược dòng, có hai nhân, có hai duyên, … cho đến … có quan điểm dựa vào chánh kiến; đối với hạng ấy, Đạo đã đạt được là nhân, sự ra sức –thuộc thân và một phần thuộc tâm– là duyên.
16. Sự xếp loại: Kinh này là sự phân tích, không có lãnh vực cho sự xếp loại.
“Bốn điều lợi ích cho những người đã lóng tai nghe” … cho đến … “khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến,” bài Kinh nên được thực hiện với chi tiết. “Đối với người đang gắn bó, đang ra sức, đang tinh tấn, … (khi là) người bệnh, … vào thời điểm lúc chết, … (khi là) vị Thiên nhân … đạt được quả vị Độc Giác.” ‘Đã lóng tai nghe’: là việc làm đã được thực hiện bởi người có sự lắng nghe Chánh Pháp, nhưng tâm của người ấy không khát khao với việc minh sát các pháp thắng tuệ và không có trạng thái được thấu triệt. Và Kinh này được chỉ bảo cho năm hạng người: cho người có xu hướng về niềm tin có quyền yếu kém và có quyền sắc bén, cho người có xu hướng về pháp có quyền sắc bén và có quyền yếu kém, hơn nữa, là người có tánh si mê không có khả năng để gắn bó, để ra sức, để tinh tấn. Sự giải thoát, đúng theo thực thể, liên quan đến định, làm cho thấy quả vị vào thời điểm ấy, vào khoảnh khắc ấy, vào giây phút ấy. (Nếu) người ấy bỏ lỡ (thời cơ), hoặc có kẻ khác gây trở ngại cho người ấy, thì sự giải thoát không phải là không có quả thành tựu an lạc cho người ấy ngay trong thời hiện tại hoặc sẽ được cảm thọ ở đời sống khác sau khi tái sanh. (!) Ở đấy, người nào có xu hướng về pháp, đối với người ấy nếu các pháp là đã được lóng tai nghe, thì người ấy đạt được (sự thù thắng) trong khi đang gắn bó; người nào có xu hướng về pháp có quyền yếu kém thì đạt được khi là người bệnh; người nào có xu hướng về niềm tin có quyền sắc bén thì đạt được vào thời điểm lúc chết; người nào (có xu hướng về niềm tin) có quyền yếu kém thì đạt được khi là vị Thiên nhân; vào lúc có trạng thái Thiên nhân mà không đạt được, thì do sự luyến ái với Pháp, do niềm vui với Pháp, người ấy đạt được quả vị Độc Giác.
Người nào gắn bó, ra sức, tinh tấn ở các việc lóng tai nghe, người ấy theo tuần tự nhận biết sự thù thắng, trong khi nhận biết thì đạt được (sự thù thắng). Hơn nữa, nếu là người bệnh và có sự tác ý, ở đấy trong khi gắn bó thì đạt được. Hơn nữa, nếu vào lúc chết, có sự kinh động tâm, ở đấy trong khi gắn bó thì đạt được. Hơn nữa, nếu không có sự kinh động tâm ở bất cứ nơi nào, khi người ấy là vị Thiên nhân, có sự an lạc, có các nền tảng là bản thể của Pháp nên không nói vô ích. Người ấy biết như vầy: “Đây chính là Pháp và Luật mà trước đây, trong lúc làm người, chúng ta đã thực hành Phạm hạnh.” Và đạt được (sự thù thắng) khi là vị Thiên nhân. Hoặc là, bị bám chặt vào năm loại dục thuộc cõi Trời, có cuộc sống xao lãng, người ấy do thiện căn ấy mà đạt được quả vị Độc Giác.
Điều nào khéo được tích lũy qua lời nói, qua tiếng nói của người khác, đây là tuệ văn. Còn những pháp nào đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý, đây là tuệ tư. Điều nào đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến, đây là tuệ tu. Điều nào đã được lóng tai nghe, đã được tích lũy bởi ý, và người nào đã viên tịch Niết Bàn ngay trong thời hiện tại, đây là hạng người A-la-hán. Người nào sanh lên là vị Thiên nhân, đạt được (sự thù thắng), và ở đấy viên tịch Niết Bàn, đây là bậc Bất Lai. Người nào do thiện căn ấy mà đạt được quả vị Độc Giác, đây là hạng người được hình thành với các yếu tố cần thiết do sự thực hành trước đây.
‘Các pháp đã được lóng tai nghe’ là giải thoát xứ thứ nhất, ‘đã được tích lũy qua lời nói’ là giải thoát xứ thứ nhì và thứ ba, ‘đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’ là giải thoát xứ thứ tư, ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’ là giải thoát xứ thứ năm.
‘Các lời nói nào do đã được lóng tai nghe, thuộc về giải thoát, thông qua khẩu, đã khéo được thấu triệt’: sau khi lắng nghe các pháp tuần tự bằng tai của mình, (hành giả) làm viên mãn giới uẩn; ‘đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: (hành giả) làm viên mãn định uẩn; ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: (hành giả) làm viên mãn tuệ uẩn.
‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: là đã được nghe nhiều, nên được thực hiện với chi tiết; đây là biểu hiện thứ nhất của niềm tin. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: (hành giả) sống chuyên về thiền tịnh; nên được thực hiện với chi tiết; đây là biểu hiện thứ nhì của niềm tin. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: là sự giải thoát của tâm do không còn lậu hoặc, (hành giả) nhận biết rằng: ‘Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la- hán) này nữa;’ đây là biểu hiện thứ ba của niềm tin.
‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy vị Hữu Học. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy vị A-la-hán. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Bậc Đạo Sư giúp cho thấy đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với các dục. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với Sắc Giới. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Ngài giúp cho thấy sự thoát ra đối với Tam Giới. Đây là ý nghĩa của Kinh.
1. Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, ba sự tìm kiếm đã được chỉ bảo: Đạo lộ chỉ tịnh trong việc tìm kiếm các dục nhờ vào ‘các pháp đã được lóng tai nghe,’ (nhờ vào các pháp) ‘đã được tích lũy qua lời nói,’ đạo lộ chỉ tịnh trong việc tìm kiếm Phạm hạnh (nhờ vào các pháp) ‘đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến.’
2. Sự tìm hiểu: Trong lúc tác ý đến Kinh như thế, trong lúc cân nhắc, thì đạt được tuệ văn. Và ‘vị ấy tác ý’ như thế, các pháp đã được nghe như thế, thì khi ấy đạt được tuệ tư. Ngay trong thời hiện tại (hành giả) tác ý như thế, thì khi ấy đạt được tuệ tu. Đây là sự tìm hiểu.
3. Đạt được tuệ văn do đã nghe, đạt được tuệ tư do đã suy nghĩ, đạt được tuệ tu do sự tu tập. Có sự kết nối ấy.
4. Nền tảng: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’ là nền tảng của việc nghe Pháp. ‘Đã được tích lũy qua lời nói’ là nền tảng của việc gắn bó. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’ là nền tảng của minh sát đúng pháp và thuận pháp. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’ là nền tảng của tuệ.
5. (Tướng trạng:) (Ở đây, cách truyền đạt bằng tướng trạng được thấy dường như là thiếu ở các sách.)
6. Bốn sự dàn trận: Ở Kinh này, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào hội đủ hai tuệ này, chính những người ấy … đi theo sự giảng dạy có sự dẫn dắt ra khỏi.” Đây là chủ tâm.
7. Sự xoay vần: Do không lắng nghe, do không tác ý, và do không thấu triệt, lối thực hành đưa đến nhân sanh của hiện thân được nói đến. Do lắng nghe, do tác ý, và do thấu triệt, lối thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân được nói đến. Đây là sự xoay vần.
8. Sự phân tích: nên được giải đáp dứt khoát. Ở đấy, không có lãnh vực cho sự phân tích.
9. Sự đảo ngược: Bốn điều lợi ích với điều thứ năm là phần đối nghịch, nhờ vào chính điều ấy, (hành giả) đạt được ngay trong thời hiện tại. Trong lúc chúng được sanh lên, điều ấy là một cách thức khác. (?)
10. Từ đồng nghĩa: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: Điều đã được nói cũng là điều đã được thấy; tuệ quyền cũng là điều đã được nhận thức; điều đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến cũng là điều đã được làm rõ rệt.
11. Sự mô tả: ‘Các pháp đã được lóng tai nghe’: sự chỉ bảo được mô tả với sự mô tả về vô minh; tác ý được mô tả với sự mô tả về hân hoan; các pháp đã được thấy được mô tả với sự mô tả về điều lợi ích.
12. Sự liệt kê: Ba tuệ: về các điều đã được tích lũy qua lời nói là tuệ văn, về các điều đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý là tuệ tư, về các điều đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến là tuệ tu. Đây là các Chân Lý Cao Thượng. Các quyền; (!) do sự sanh khởi của minh có sự diệt tận của vô minh là sự tùy thuận sanh khởi; ba quyền ở các quyền, (?) được gộp vào pháp xứ ở các xứ, được gộp vào pháp giới ở các giới.
13. Sự làm rõ: Sự khởi đầu, sự tiến vào của Kinh là được gắn liền. (?)
14. Sự xác định: ‘Bốn điều lợi ích’: các điều lợi ích được mô tả theo tính trạng khác biệt. (Các pháp) ‘đã được lóng tai nghe’: cách thức diễn đạt của các bậc Thánh được mô tả theo tính trạng khác biệt. Và ‘việc lắng nghe các pháp’: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất.
15. Sự thiết yếu: Đối với việc lắng nghe Giáo Pháp, việc ngồi gần là duyên, niềm tin là nhân. ‘Đã được suy nghĩ kỹ lưỡng bằng ý’: đã cảm nhận được ý nghĩa là duyên, đã cảm nhận được pháp là nhân. ‘Đã khéo được thấu triệt bằng (chánh) kiến’: Việc lắng nghe Chánh Pháp và sự tác ý là duyên, tuệ văn và tuệ tư là nhân.
16. Sự xếp loại: Kinh đã được phân tích, không có cách thức khác về kết quả của việc sanh ra. (?) Ở đấy, có lãnh vực của việc xếp loại.
Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào? Câu kệ là: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí.” “Cho người bố thí”: việc làm phước bố thí được nói đến. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: việc làm phước trì giới được nói đến. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Ngài đã nói về sự dứt bỏ đối với tham lam, si mê, và oán hận. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Ngài đã nói về sự loại bỏ mong muốn và luyến ái đối với tham lam, si mê, và oán hận. Câu kệ “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: vô tham là gốc rễ của thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: vô sân là gốc rễ của thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Sự không thù oán, sự không chống đối luôn luôn đưa đến trạng thái không oán hận. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Do sự sanh khởi của trí, có sự diệt tận của vô trí. “Vị ấy được tịch diệt”: bàn luận về Đạo, Quả, và Niết Bàn giới không còn dư sót, bàn luận về việc dứt bỏ các ô nhiễm thô thiển nhờ vào bố thí, bàn luận về sự dứt bỏ (các ô nhiễm) bậc trung nhờ vào giới, các ô nhiễm vi tế nhờ vào tuệ. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là lãnh vực đã được làm xong.
“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Đạo được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Ngài đã nói đến Đạo Quả. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, … đối với người đang tự chế ngự, …”: với ba đoạn kệ, gốc rễ của thiện thuộc thế gian được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: gốc rễ của thiện xuất thế gian được nói đến. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: bàn luận về lãnh vực phàm phu. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: bàn luận về lãnh vực của bậc Hữu Học. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: lãnh vực của bậc Vô Học được nói đến. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: lối thực hành dẫn đến Đạo được nói đến. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: sự giải thoát của bậc Hữu Học. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: sự giải thoát của bậc Vô Học. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Ngài đã nói lời giảng về bố thí, lời giảng về giới, lời giảng về cõi Trời, sự chỉ bảo về Giáo Pháp thuộc thế gian. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: việc quan sát sự bất lợi ở thế gian. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: luôn cả sự chỉ bảo ưu việt về Giáo Pháp (!) là đã được thấu triệt. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Với việc bố thí sự không sợ hãi đến các sinh mạng, với việc tránh xa sự giết hại sinh mạng, (vị ấy) bố thí sự không sợ hãi đến các chúng sanh. Tất cả các điều học nên được thực hành tương tự như vậy. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Sau khi đặt nền tảng ở giới, (vị ấy) tự chế ngự tâm; đối với vị đang tự chế ngự, (tâm) đi đến sự viên mãn. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là hai sự giải thoát. Đây là sự diễn giải Kinh.
1. Ở đấy, sự chỉ bảo là gì? Ở Kinh này, điều gì được chỉ bảo? Hai nhàn cảnh: chư Thiên và loài người, năm loại dục thuộc cõi Trời và thuộc loài người: là sự diễn giải với hai đoạn kệ. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Đạo được nói đến. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Hai Niết Bàn giới được chỉ bảo: còn dư sót (Hữu Dư) và không còn dư sót (Vô Dư). Đây là sự chỉ bảo.
2. Sự tìm hiểu: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: với đoạn kệ thứ nhất, việc làm phước bố thí được nói đến; với việc ấy, sự sanh khởi các pháp thiện không bị gián đoạn của người này được nói đến. Với đoạn kệ thứ nhì, … Với (đoạn kệ) thứ tư, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái; do sự diệt trừ si mê, có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Đây là sự tìm hiểu.
3. Sự kết nối: Người đã đứng vững ở việc bố thí làm viên mãn hai việc: (Vị ấy) dứt bỏ sự bỏn xẻn và việc phước tăng trưởng. Có sự kết nối ấy.
4. Nền tảng: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: là nền tảng của sự xác định về xả thí. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: là nền tảng của sự xác định về tuệ. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: là nền tảng của sự xác định về chân thật. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là nền tảng của sự xác định về an tịnh. Đây là nền tảng.
5. Ở đấy, tướng trạng là gì? “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí. Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Thậm chí đối với người bố thí, sự thù oán cũng không được tạo ra. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác. Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Cũng từ sự cạn kiệt của sắc, cũng từ sự cạn kiệt của thọ, đức Như Lai, trong lúc mô tả, có thể mô tả điều đã được thấy với sắc ấy từ sự cạn kiệt, từ sự xa lìa và diệt tận của sắc. Năm uẩn là tương tự như vậy.
6. Bốn sự dàn trận: Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? Những người sẽ ước nguyện các tài sản lớn thì sẽ bố thí vật thí nhằm dứt bỏ hiểm họa; những người mong muốn sự không thù oán thì sẽ dứt bỏ năm sự thù oán; những người mong muốn thiện thì sẽ tu tập Đạo tám chi phần nhằm dứt bỏ tám trạng thái sai trái; những người ham muốn Niết Bàn thì sẽ dứt bỏ luyến ái, sân hận, và si mê; đây là chủ tâm của đức Thế Tôn.
7. Sự xoay vần: Việc bỏn xẻn ở người không bố thí, việc thù oán ở người không tự chế ngự, và việc không dứt bỏ bất thiện và ác, đây là sự diễn giải về Khổ, không phải là Tập. Với vô tham, với vô sân, và với vô si là với thiện, đây là ba thiện căn. Duyên của chúng là tám trạng thái chân chánh, đây là Đạo. Sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê đối với chúng, đây là Diệt.
8. Sự phân tích: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: không hẳn là như thế. Người nào bố thí do sợ hãi hình phạt của vua và người nào bố thí đến các vị có giới với vật dụng chưa làm thành được phép, phước thiện không tăng trưởng cho người ấy; người ấy bố thí vật thí ấy do bất thiện. Việc thí gậy gộc, việc thí gươm dao thì vô phước tăng trưởng, không phải phước thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: không hẳn là như thế. Điều gì là lý do? Người nào nhìn thấy sự trừng phạt trong thời hiện tại rằng: “Nếu các vị vua bắt giữ ta thì có thể chặt tay –nt– không do sự tự chế ngự ấy mà không tạo ra sự thù oán. Còn người nào thọ trì như vầy: “Có quả thành tựu xấu xa cho việc giết hại sinh mạng ngay ở thời hiện tại và ở thời vị lai.” (!) Và như vậy có sự kiêng cữ là nhân đối với tất cả bất thiện. Với sự tự chế ngự này, sự thù oán không được tích lũy.
9. Sự đảo ngược: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Phước thiện không tăng trưởng cho người không bố thí; yếu tố tạo thành việc bố thí là phước thiện. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Đối với người không tự chế ngự, sự thù oán được thực hiện. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: Người bất thiện không từ bỏ điều ác. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: … Vị đã được tịch diệt, đối với bậc Vô Học không có sự tịch diệt. (?) [Mặc dầu đi đến với chúng tôi, nhưng đức Thế Tôn đã không do (chúng tôi) rước đến, mặc dầu đã phái đi người sứ giả nhưng Ngài vẫn chưa được báo tin, trái lại đích thân Ngài, được tùy tùng bởi hội chúng tỳ khưu đông đảo, đã đạt đến chỗ trú ngụ của chúng tôi. Và do chúng tôi, hội trường đã được dựng nên. Sau khi hướng dẫn đấng Thập Lực đến nơi này, chúng tôi đã suy nghĩ rằng: “Chúng ta hãy thỉnh Ngài giảng về pháp hạnh phúc,” và đã đi đến gặp đấng Thập Lực. ‘Chúng tôi đã đi đến hội trường’: Nghe nói vào ngày ấy, ở hội trường, công việc trang hoàng đã được hoàn tất, các giàn giáo vừa mới được tháo cất. “‘Chư Phật có khuynh hướng ở rừng, vui thích ở rừng, các vị có thể ngụ ở trong làng hay không?’ Vì thế, ngay sau khi biết được tâm ý của đức Thế Tôn, chúng ta sẽ sửa soạn,” nghĩ vậy, họ đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Và giờ đây, sau khi đạt được tâm ý (của đức Thế Tôn), những người có ý muốn sửa soạn đã đi đến hội trường.
‘Có trải thảm toàn bộ’: Khi toàn bộ đã được trải thảm thì họ đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Hơn nữa, ở đây các vị vua xứ Malla ấy, sau khi đã sửa soạn hội trường, đã bảo quét dọn luôn cả các con đường ở thành phố, đã cho treo lên các lá cờ, đã cho sắp xếp các hũ đầy (nước) và các cây chuối ở cửa nhà, và đã làm cho toàn thành phố tựa như chòm sao được rải rắc với các cây đèn và các tràng hoa (rằng): “Các người hãy cho các cháu bé chưa dứt sữa uống sữa, hãy mau mau cho các trẻ con ăn, ngủ, chớ có gây tiếng động lớn; hôm nay bậc Đạo Sư sẽ ngụ trong làng một đêm. Các vị Phật ít thích tiếng ồn.” Sau khi cho đánh trống, họ đã tự thân cầm lấy các cây đèn rồi đi đến gặp đức Thế Tôn.
‘Có đức Thế Tôn ở ngay trước mặt’: đã sắp xếp chỗ ngồi có đức Thế Tôn ở trước mặt. Ở đấy, đức Thế Tôn, ngồi ở giữa các vị tỳ khưu và các cư sĩ, tỏa sáng cực kỳ rực rỡ, khơi dậy niềm tịnh tín toàn diện, có làn da màu hoàng kim, có dáng cao sang, đáng nhìn. Từ thân phía trước phát ra hào quang màu hoàng kim đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay, từ thân phía sau, từ thân phía phải, từ thân phía trái phát ra hào quang có màu hoàng kim đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay, [ở phía trên từ toàn bộ đầu tóc, bắt đầu từ đỉnh cọng tóc, phát ra hào quang có màu cần cổ của chim công đạt đến khoảng cách tám mươi cánh tay ở khoảng không của bầu trời,] ở phía dưới từ hai lòng bàn chân phát ra hào quang có màu san hô đạt đến tầng đất cứng khoảng cách tám mươi cánh tay; tương tự như vậy ở xung quanh, các hào quang của đức Phật có sáu màu có khoảng cách ước chừng tám mươi cánh tay bắn tóe ra, chiếu sáng, lung linh. Tất cả các khu vực tựa như đang rải rắc với các bông hoa campaka bằng vàng, tựa như đang được rưới rắc bởi những dòng tinh chất màu hoàng kim được tuôn ra từ chiếc chậu bằng vàng, tựa như được bao quanh bởi tấm choàng màu hoàng kim đã trải thẳng, tựa như đã được phủ khắp bởi bụi phấn hoa kiṃsuka và hoa kaṇikāra đã được bốc lên bởi làn gió lốc,– –thân thể chói lọi với ba mươi hai tướng trạng cao quý có vầng hào quang và tám mươi tướng phụ của đức Thế Tôn đang rực rỡ tựa như ngôi sao đã mọc lên hoàn toàn, tựa như khoảng không của bầu trời đã được mở rộng, tựa như rừng sen đã nở rộ toàn bộ, tựa như cây san hô trải rộng một trăm do-tuần tỏa sáng với sự lộng lẫy ngự trị sự lộng lẫy của 32 mặt trăng, của 32 mặt trời, của 32 vị Chuyển Luân Vương, của 32 vị Thiên Vương, của 32 vị Đại Phạm Thiên đang đứng xếp hàng. Các vị tỳ khưu ngồi vây quanh toàn bộ tất cả đều có ít ước muốn, tự biết đủ, sống tách biệt, không giao du, có sự ra sức tinh tấn, là những vị diễn giả có sự nhẫn nại với lời nói, là những vị quở trách, chê trách điều xấu xa, thành tựu về giới, thành tựu về định –nt–] (Giảng giải Kinh Saṅgīti*).
Vị đã được tịch diệt, đối với bậc Vô Học không có sự tịch diệt. (?)
10. Từ đồng nghĩa: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: Phước thiện cũng tăng trưởng cho người tùy hỷ. Phước thiện cũng tăng trưởng đối với vị đang tập trung tâm thông qua hành động phục vụ.
11. Sự mô tả: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô tham. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô sân. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: được mô tả với sự mô tả về sự tiêu diệt do nương tựa vào vô si.
12. Sự liệt kê: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự” là ở năm quyền, giới uẩn được liệt kê với sự tự chế ngự, sự thu thúc là ở sáu quyền, đây là định uẩn. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: đây là tuệ uẩn. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: là giải thoát uẩn, là pháp giới ở các giới, là ý xứ ở các xứ.
13. Sự làm rõ: Kinh này được chỉ bảo với sự khởi đầu nào thì sự khởi đầu ấy là rõ ràng.
14. Sự xác định: ‘Bố thí’: là được mô tả theo tính trạng đồng nhất. Sự xả thí, sự buông bỏ, Pháp thí, tài thí, tám sự bố thí nên được thực hiện với chi tiết; đây là tính trạng khác biệt. Và đối với người bố thí thì không được mô tả với sự mô tả theo tính trạng đồng nhất, sự kham nhẫn được mô tả với sự mô tả là ‘không lỗi lầm.’ “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: được mô tả với sự mô tả về sự tinh tấn trong việc ngăn cản.
15. Sự thiết yếu: Đối với sự bố thí, hân hoan là duyên, vô tham là nhân. Đối với người đang tự chế ngự, tác ý đúng đường lối là nhân, sự buông bỏ là duyên. “Và người hiền thiện từ bỏ điều ác”: việc thấy đúng theo thực thể là duyên, việc đạt được trí là nhân. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: lời phát biểu từ người khác, tác ý đúng đường lối thuộc nội phần và Giáo Pháp là nhân và là duyên.
16. Sự xếp loại: Câu kệ là: “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí,” đối với người ấy, giới tăng trưởng, sự tự chế ngự cũng tăng trưởng. “Sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự”: Các ô nhiễm khác cũng không được tích lũy, luôn cả các lậu hoặc, các điều khó chịu nào do duyên ấy có thể sanh khởi đến người này, thì chúng cũng không sanh khởi đến người này. “Do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt”: Do sự cạn kiệt của luyến ái và sân hận, do sự cạn kiệt của sự tiềm ẩn về luyến ái, của sân hận, của si mê. “Vị ấy được tịch diệt”: Niết Bàn giới còn dư sót, luôn cả không còn dư sót. Đây là sự xếp loại.
Lãnh Vực Phối Hợp Cách Truyền Đạt thuộc Peṭakopadesa của Ngài Mahākaccāyana được đầy đủ.
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
74. Yāni cattāri jhānāni, tesaṃ jhānānaṃ imāni aṅgāni, tesaṃ aṅgānaṃ samūho † assa aṅgā, ayaṃ jhānabhūmi ko visesoti assa viseso. Ime sambhārā tehi ayaṃ samudāgamo, tassa samudāgamassa ayaṃ upanisā, tāya upanisāya ayaṃ bhāvanā. Tassā bhāvanāya ayaṃ ādīnavo. Tena ayaṃ parihāni. Kassa parihānīti tadupagajjhāyino †. Taṃ yathā bhaṇitaṃ paccavekkhanto ayaṃ viseso. Tena visesena ayaṃ assādo, so kassa assādo ajhāniyā jhāyino, tassā ajhāniyā jhāyino, idaṃ kallitā kosalle ṭhitajjhānaṃ anomaddiyataṃ gacchati jhānabalaṃ, jhānabale ṭhitassa ayaṃ pāramippattassa imāni jhānaṅgāni anāvilasaṅkappo paṭhame jhāne jhānaṅgāni bhāvī. So pīti tadanusārittāva paṭhame jhāne jhānaṅgaṃ tassaṅguno ca dhammā tadabhisannitāya ca. Pīti dutiye jhāne jhānaṅgadhammatā kho pana tathā pavattassa sahagataṃ jhānaṅgadhammaṃ sasukhatāya ajjhattaṃ sampasādo dutiye jhāne jhānaṅgaṃ manosampasādanatāya tadabhisannitāya ca. Pīti dutiye jhāne jhānaṅgaṃ ajjhattaṃ sampasādanaṃ samādhitā † pīti dutiye jhāne jhānaṅgaṃ, cetaso ekodibhāvo dutiye jhāne jhānaṅgaṃ, upekkhā phassatā tatiye jhāne jhānaṅgaṃ, sukhaṃ tassa aṅganti ca. Cetaso ekodibhāvo catutthe jhāne jhānaṅgaṃ, upekkhā adukkhamasukhā catutthe jhāne jhānaṅgaṃ, abhinisābhūmi upekkhāsatipārisuddhi catutthe jhāne jhānaṅgaṃ. Satipārisuddhi ca anekajjhābhūmīsu jhānaṅgasamāyuttā pīti cetaso ekodibhāvo catutthe jhāne jhānaṅgaṃ.
74. The four jhānas that exist, of those jhānas, these are the factors. The collection of those factors is its factors. This is the jhāna-ground. What is the distinction? This is its distinction. These are the requisites; by these requisites, this is the arising. Of that arising, this is the proximate cause. By that proximate cause, this development arises. From that development, this danger arises. Because of that, this is the decline. Whose decline? For the person who enters that jhāna. As for that example, it is 'reflecting on what was said,' etc. This is the distinction. By that distinction, this satisfaction may be. That satisfaction, whose satisfaction is it? For the meditator who is without jhāna. For that meditator who is without jhāna, this jhāna is called suitable. The jhāna established in skillfulness reaches the power of jhāna, which is called unassailability. For one established in the power of jhāna, who has reached the pinnacle, these jhāna factors, having an unclouded intention, will be manifest in the first jhāna. That one, by following after that rapture, in the first jhāna it becomes a jhāna factor, and its qualities are states dependent on that. Now, as for rapture being a jhāna factor in the second jhāna: for that which has occurred thus, the associated jhāna factor is present because rapture is not true happiness. Internal confidence in the second jhāna is a jhāna factor because of mental serenity and because of being based on that confidence. Rapture is a jhāna factor in the second jhāna. Rapture with internal confidence and concentration is a jhāna factor in the second jhāna. Unification of mind is a jhāna factor in the second jhāna. Equanimity, through contact, is a jhāna factor in the third jhāna, and happiness is its factor. Unification of mind is a jhāna factor in the fourth jhāna. Equanimity that is neither-painful-nor-pleasant is a jhāna factor in the fourth jhāna. Being a dependent ground, the purity of mindfulness caused by equanimity is a jhāna factor in the fourth jhāna. And the purity of mindfulness, in many jhāna-grounds, is associated with jhāna factors; rapture and unification of mind are jhāna factors in the fourth jhāna.
74. Bốn thiền nào có, những thứ này là các chi thiền của các thiền ấy. Sự tập hợp của các chi thiền ấy là các chi. Đây là nền tảng thiền. Sự đặc biệt là gì? Đây là sự đặc biệt. Đây là các vật trợ, do chúng đây là sự tập hợp. Đây là cận y duyên của sự tập hợp ấy, do cận y duyên ấy đây là sự tu tập. Đây là sự nguy hại của sự tu tập ấy. Do đó, đây là sự suy thoái. Sự suy thoái của ai? Của người nhập thiền ấy. Ví như điều đã được nói, khi quán xét, đây là sự đặc biệt. Do sự đặc biệt ấy, đây là vị ngọt. Vị ngọt ấy của ai? Của người thiền không có thiền, của người thiền không có thiền ấy. Thiền này là thích hợp. Thiền được an trú trong sự thiện xảo đi đến thiền lực không bị chà đạp. Đối với người đã đạt đến ba-la-mật, an trú trong thiền lực, các chi thiền này, với ý định không bị khuấy đục, các chi thiền trong sơ thiền trở nên hiển lộ. Hỷ ấy, do tùy hành theo đó, là chi thiền trong sơ thiền, và các pháp là phẩm chất của nó, và do y cứ vào đó. Nhưng hỷ là bản chất của chi thiền trong nhị thiền; đối với cái diễn tiến như vậy, pháp chi thiền tương ưng, do không phải là lạc, nội tĩnh trong nhị thiền là chi thiền, do làm cho tâm tịnh tín và do y cứ vào đó. Hỷ là chi thiền trong nhị thiền, nội tĩnh, hỷ được định tĩnh là chi thiền trong nhị thiền, nhất tâm là chi thiền trong nhị thiền. Xả có sự xúc chạm là chi thiền trong tam thiền, và lạc là chi của nó. Nhất tâm là chi thiền trong tứ thiền. Xả không khổ không lạc là chi thiền trong tứ thiền. Nền tảng y cứ, sự thanh tịnh của niệm do xả, là chi thiền trong tứ thiền. Và sự thanh tịnh của niệm tương ưng với chi thiền trong nhiều nền tảng thiền. Hỷ, nhất tâm là chi thiền trong tứ thiền.
Tattha katamā jhānabhūmi? Savitakke savicāre vivekā anugatā paṭhame jhāne jhānabhūmi. Avitakke avicāre ajjhattaṃ sampasādanaṃ janitaṃ pītimanugatā dutiye jhāne jhānabhūmi. Sukhasātasamohitā sappītikā tatiye jhāne jhānabhūmi. Tassa sukhadukkhasahagatā abhinīhārasahagatā catutthe jhāne jhānabhūmi. Appamāṇasahagatā sattārammaṇā paṭhame jhāne jhānabhūmi. Abhibhūmiāyatanasahagatā rūpasaññīsu dutiye jhāne jhānabhūmi. Vimokkhasahagatānaṃ vimokkhesu tatiye jhāne jhānabhūmi. Anupassanāsahagatā kāyasaṅkhārā sammā catutthassa jhānassa bhūmi.
Among them, what is the jhāna-ground? The jhāna-ground in the first jhāna is that which follows from seclusion from things with applied and sustained thought. The jhāna-ground in the second jhāna is that which follows the rapture born of internal confidence, in regard to things without applied and sustained thought. Things that have rapture, which are combined with the pleasure of happiness, are the jhāna-ground in the third jhāna. Of that, the state associated with happiness and pain, associated with directing the mind, is the jhāna-ground in the fourth jhāna. Being associated with the immeasurables, having beings as its object, is the jhāna-ground in the first jhāna. The state associated with the mastery spheres, for those with perception of form, is the jhāna-ground in the second jhāna. For states associated with liberation, being free from the hindrances is the jhāna-ground in the third jhāna. The bodily formation associated with insight-contemplation is rightly the ground of the fourth jhāna.
Trong đó, nền tảng thiền là gì? Sự tùy hành do ly (các pháp) có tầm có tứ là nền tảng thiền trong sơ thiền. Sự tùy hành theo hỷ được sanh ra từ nội tĩnh, (trong các pháp) không tầm không tứ, là nền tảng thiền trong nhị thiền. (Các pháp) có hỷ, được tập hợp bởi sự vui thích trong lạc, là nền tảng thiền trong tam thiền. (Pháp) tương ưng với sự hướng tâm, tương ưng với lạc và khổ của nó, là nền tảng thiền trong tứ thiền. Sự lấy chúng sanh làm đối tượng, tương ưng với vô lượng, là nền tảng thiền trong sơ thiền. (Pháp) tương ưng với thắng xứ, đối với những vị có sắc tưởng, là nền tảng thiền trong nhị thiền. Đối với các pháp tương ưng với giải thoát, trong các sự giải thoát, là nền tảng thiền trong tam thiền. Thân hành tương ưng với tùy quán là nền tảng của tứ thiền một cách chân chánh.
75. Tattha katame jhānavisesā? Vivicceva kāmehi vivicca pāpakehi akusalehi dhammehi cittacetasikasahagatā kāmadhātusamatikkamanatāpi, ayaṃ jhānaviseso. Avitakkā ceva avicārā ca sappītikāya satisahagatāya pītisahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Ayaṃ jhānaviseso. Avitakkāya bhūmiyā avicāreyeva sati anugatā upekkhāsahagatā manasikārā samudācaranti. Tadanudhammatāya ca sati saṇḍahati †. Tañca bhūmiṃ upasampajja viharati, ayaṃ jhānaviseso. Satipārisuddhisahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, tañca bhūmiṃ upasampajja viharati, ayaṃ jhānaviseso. Viññāṇañcāyatanasahagatāya bhūmiyaṃ ākiñcaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, tañca bhūmiṃ upasampajja viharati, ayaṃ jhānaviseso.
75. Herein, what are the distinctions of jhāna? Being secluded from sensual pleasures, secluded from evil, unwholesome states, there is also the state of transcending the sense-sphere, which is associated with mind and mental factors; this is a distinction of jhāna. Through that which is rapturous and associated with mindfulness, perceptions and attention associated with rapture, which are without applied thought and sustained thought, arise; this is a distinction of jhāna. In the ground without applied thought, and indeed without sustained thought, attention associated with equanimity, which is in accordance with mindfulness, arises. And mindfulness is established in accordance with that state. And one dwells having attained that ground; this is a distinction of jhāna. Perceptions and attention associated with the purity of mindfulness arise, and one dwells having attained that ground; this is a distinction of jhāna. In the ground associated with the sphere of infinite consciousness, perceptions and attention associated with the sphere of nothingness arise, and one dwells having attained that ground; this is a distinction of jhāna.
75. Ở đây, các đặc tính của thiền là gì? Chính là ly dục, ly các pháp ác bất thiện, trạng thái vượt qua cõi Dục cùng với tâm và tâm sở, đây là đặc tính của thiền. Vô tầm và vô tứ, do có hỷ và có niệm, các tưởng và tác ý đi cùng với hỷ khởi lên. Đây là đặc tính của thiền. Ở trong cảnh giới vô tầm, chính là vô tứ, các tác ý đi cùng với xả, tương ứng với niệm, khởi lên. Và niệm được an lập tương ứng với pháp ấy. Vị ấy đạt đến và an trú trong cảnh giới ấy, đây là đặc tính của thiền. Các tưởng và tác ý đi cùng với niệm thanh tịnh khởi lên, vị ấy đạt đến và an trú trong cảnh giới ấy, đây là đặc tính của thiền. Trong cảnh giới đi cùng với Thức Vô Biên Xứ, các tưởng và tác ý đi cùng với Vô Sở Hữu Xứ khởi lên, vị ấy đạt đến và an trú trong cảnh giới ấy, đây là đặc tính của thiền.
Jhānasambhārā nekkhammavitakko sambhāro kāmavitakkavinodanādhippāyatā. Abyāpādavitakko sambhāro byāpādavitakkapaṭivinodanādhippāyatā. Avihiṃsāvitakko sambhāro vihiṃsāvitakkapaṭivinodanādhippāyatā. Indriyesu guttadvāratā appicchatā sambhāro parisuddhājīvo catunnaṃ samāpattīnaṃ sambhāro akammassa vihāritā. Maggasambhāro samāpattipajjanatā. Phalasambhāro jhānanibbattitāya jhānasamudāgamo. Kusalahetu yaṃ jhānaṃ samudayaṃ gacchanti ko ca † na kutoci nekkhammappattā samudāgacchanti. Ālambanirodhasamādhi santo samudāgacchanti. Avītikkantā samudāgacchanti. Sukhindriyaṃ somanassindriyaṃ pahānāya te ca abyāpajjatāya samudāgacchanti. Taṃ pana sandhāya samudāgacchanti. Aparidāhanāya samudāgacchanti. Ayaṃ ñāṇasamudāgamo.
The requisites for jhāna: the requisite of the thought of renunciation is the intention to dispel sensual thought. The requisite of the thought of non-ill-will is the intention to dispel the thought of ill-will. The requisite of the thought of non-harming is the intention to dispel the thought of harming. Guardedness in the sense faculties, fewness of wishes, and pure livelihood are requisites. The requisite of the four attainments is dwelling in inaction. The requisite of the path is the attainment of absorption. The requisite of fruition, due to the production of jhāna, is the arising of jhāna. It is from a wholesome cause that jhānas come to arise. Some, having attained renunciation, do not arise from any cause. The concentration of the cessation of the object, being peaceful, arises. Not having been transgressed, they arise. For the abandoning of the faculty of pleasure and the faculty of joy, they arise through non-affliction. Referring to that very abandoning, they arise. They arise for the sake of non-feverishness. This is the arising of knowledge.
Các tư lương của thiền: Tư lương tầm xuất ly là có ý muốn loại trừ dục tầm. Tư lương tầm vô sân là có ý muốn loại trừ sân tầm. Tư lương tầm vô hại là có ý muốn loại trừ hại tầm. Hộ trì các căn, thiểu dục là tư lương, mạng sống trong sạch là tư lương của bốn thiền chứng, là sự an trú trong vô nghiệp. Tư lương của đạo là sự chứng đắc thiền. Tư lương của quả là sự thành tựu thiền do sự phát sinh của thiền. Do nhân thiện, thiền khởi lên. Và không do đâu khác, những vị đã đạt đến xuất ly khởi lên. Định do đối tượng diệt, là sự an tịnh, khởi lên. Những vị chưa vượt qua khởi lên. Để đoạn trừ lạc quyền và hỷ quyền, và chúng khởi lên do không có phiền não. Lại nữa, nhắm đến điều đó, chúng khởi lên. Chúng khởi lên để không bị thiêu đốt. Đây là sự thành tựu của trí tuệ.
76. Tattha katamā upanisā? Kalyāṇamittatā jhānassa upanisā. Kalyāṇasampavaṅkatā jhānassa upanisā. Indriyesu guttadvāratā jhānassa upanisā. Asantuṭṭhitā kusalesu dhammesu jhānassa upanisā. Saddhammassavanaṃ jhānassa upanisā. Saṃvejaniye ṭhāne saṃviggassa yoniso padhānaṃ. Ayaṃ jhānopanisā.
76. Herein, what is the supporting condition? Good friendship is a supporting condition for jhāna. Inclining towards the good is a supporting condition for jhāna. Guardedness in the sense faculties is a supporting condition for jhāna. Non-contentment with regard to wholesome states is a supporting condition for jhāna. Hearing the good Dhamma is a supporting condition for jhāna. For one who is stirred in a situation that inspires urgency, there is wise effort. This is the supporting condition for jhāna.
76. Ở đây, cận y duyên là gì? Thân cận thiện hữu là cận y duyên của thiền. Thiên về điều thiện là cận y duyên của thiền. Hộ trì các căn là cận y duyên của thiền. Không tự mãn trong các pháp thiện là cận y duyên của thiền. Nghe diệu pháp là cận y duyên của thiền. Đối với người có lòng cảm động ở nơi đáng cảm động, có sự tinh cần như lý. Đây là cận y duyên của thiền.
Tattha katamā bhāvanā? Mettāsevanā abyāpādavitakkabhāvanā. Karuṇāsevanā avihiṃsāvitakkabhāvanā. Muditābhāvanā pītisukhasampajaññā kāritā. Upekkhābhāvanā passavatā upekkhābhāvanā apassavatā upekkhā ca ajjhupekkhā ca, asubhasaññābhāvanā dukkhāpaṭipadā dandhābhiññā bhavasandhābhiññā bhavasandhānaṃ, sā chabbidhā bhāvanā bhāvitā bahulīkatā anuṭṭhitā vatthukatā yānīkatā paricitā susamāraddhā. Ayaṃ bhāvanā.
Herein, what is development? The cultivation of loving-kindness is the development of the thought of non-ill-will. The cultivation of compassion is the development of the thought of non-harming. The development of appreciative joy brings about the clear comprehension of rapture and happiness. The development of equanimity is for one who sees, and the development of equanimity is for one who does not see; it is both equanimity and onlooking equanimity. The development of the perception of foulness is of painful progress and slow direct knowledge, the direct knowledge that connects existence, the connecting of existence. That sixfold development is developed, frequently practiced, repeatedly undertaken, made a foundation, made a vehicle, familiarized, and well undertaken. This is development.
Ở đây, sự tu tập là gì? Thực hành tâm từ là sự tu tập tầm vô sân. Thực hành tâm bi là sự tu tập tầm vô hại. Tu tập tâm hỷ làm cho tỉnh giác về hỷ lạc được thực hiện. Tu tập tâm xả đối với người có thấy, tu tập tâm xả đối với người không có thấy, là xả và hành xả. Tu tập tưởng bất tịnh là khổ hành đạo, chậm thắng trí, thắng trí nối liền hữu, sự nối liền hữu. Sáu loại tu tập ấy đã được tu tập, đã được làm cho sung mãn, đã được thực hành lặp đi lặp lại, đã được làm cho thành nền tảng, đã được làm cho như cỗ xe, đã được thực hành thuần thục, đã được khéo tinh tấn. Đây là sự tu tập.
Evaṃ bhāvayantassa ayaṃ ādīnavo. Paṭhame jhāne saṅkhārasamannāgato eso dhammo assuto sāsavo. Sace esa dhammo ayaṃ sīlo āsannapaṭipakkho ca esa dhammo kāmo paticāro pativicāro samāpattīnaṃ ca sabboḷāriko esa dhammo vitakkavicāro ca. Tattha cittaṃ khobhenti, kāyo cettha kilamati, kāyamhi cettha kilante cittaṃ vihaññati. Anabhinīhārakkhamova abhiññānaṃ ime ādīnavā paṭhame jhāne.
For one who develops thus, this is the drawback. In the first jhāna, this state is endowed with formations; this state is impure and is with taints. If this state is so, this virtue is a near opponent. This state is desired; it is repeated consideration and detailed contemplation, and the coarsest of the attainments; this state is also applied and sustained thought. Therein, they agitate the mind. Herein, the body becomes weary; and when the body is weary, the mind is afflicted. It is unfit for directing towards the higher knowledges. These are the drawbacks in the first jhāna.
Đối với người tu tập như vậy, đây là sự nguy hại. Trong sơ thiền, pháp này đi cùng với các hành, pháp này chưa từng được nghe, có lậu hoặc. Nếu pháp này là giới này, và là đối nghịch gần, pháp này là dục, là sự phản tư, sự thẩm sát, và pháp này là thô thiển nhất trong các thiền chứng, là tầm và tứ. Ở đây, chúng làm dao động tâm, và ở đây thân mệt mỏi, và ở đây khi thân mệt mỏi, tâm bị não hại. Không có khả năng hướng đến các thắng trí. Đây là những sự nguy hại trong sơ thiền.
Dutiye jhāne ime ādīnavā pītipharaṇasahagato ca eso dhammo, na samudācārasseti cittaṃ. Asodhayaṃ upagamo cesa dhammo upagamiparissayo † domanassapaccatthiko cesa dhammo. Tattha tattha yuttīnaṃ pīti parajjato cesa dhammo dukkaraṃ hoti, avattasantāsabhūmiparivajjayanto catūsu dukkhatāsu esa dhammo anuviddhāpanasaddhāya † dukkhatāya ca na palibodhadukkhatāya ca abhiññādukkhatāya ca rogadukkhatāya ca, ime ādīnavā dutiye jhāne.
In the second jhāna, these are the drawbacks: this state is accompanied by the pervasion of joy, and the mind thinks, 'It will not arise.' Not being purified, this state is an approach; this state is a danger to the substrata of existence; this state is an enemy to displeasure. For the various applications therein, because joy is an opponent, this state becomes difficult. While avoiding the plane of unarisen terror, this state, through faith in attaining sequential penetration, is subject to the four kinds of suffering: the suffering of suffering, the suffering of non-obstruction, the suffering of the higher knowledges, and the suffering of disease. These are the drawbacks in the second jhāna.
Trong nhị thiền, đây là những sự nguy hại: Pháp này đi cùng với sự biến mãn của hỷ, và tâm sẽ không khởi lên. Pháp này là sự tiếp cận không thanh lọc, là hiểm họa của sự tiếp cận, pháp này là kẻ thù của ưu. Ở những nơi tương ứng, pháp này là do hỷ là kẻ thù, trở nên khó làm. Trong khi tránh né cảnh giới của sự sợ hãi không hiện hữu, pháp này ở trong bốn loại khổ do tín tâm xuyên thấu: do khổ tánh, do khổ vì chướng ngại, do khổ vì thắng trí, và do khổ vì bệnh tật. Đây là những sự nguy hại trong nhị thiền.
Tattha katame ādīnavā tatiye jhāne? Upekkhāsukhasahagatāya tattha sātāvīnaṃ pañcannaṃ upekkhāsukhaṃ parivattito esa dhammo tena niccasaññitānañca yaṃ hoti. Dukkhopaniyaṃ sukhaṃ cittassa saṅkhobhataṃ upādāya sukhadukkhāya gato savati. Sukhadukkhānukatañca upādāya anabhihārakkhamaṃ cittaṃ hoti. Abhiññāya sacchikiriyāsu sabbepi cete dhammā tīsu jhānasamāpattīsu catūhi ca dukkhatāhi anuviddhānaṃ sā bhayā dukkhatāya palibodhadukkhatāya ca abhiññāya dukkhatāya ca ime ādīnavā tatiye jhāne.
Herein, what are the drawbacks in the third jhāna? For those who delight in that which is accompanied by equanimity and pleasure, among the five feelings, this state is a turning away from equanimous pleasure; because of that, it is so for those who perceive permanence. Pleasure has suffering as its basis. Clinging to the mind's agitation, having gone to pleasure and pain, it flows. And by clinging to what is done in accordance with pleasure and pain, the mind becomes unfit for directing towards the higher knowledges. Among the things to be realized by direct knowledge, all these states in the three jhāna-attainments, for those pierced by the four kinds of suffering, are subject to the suffering of suffering, the suffering of obstruction, and the suffering of the higher knowledges. These are the drawbacks in the third jhāna.
Ở đây, những sự nguy hại trong tam thiền là gì? Đi cùng với xả và lạc, ở đây đối với năm (thọ), pháp này là lạc xả đã được chuyển biến, do đó điều này xảy ra đối với những người có tưởng về sự thường còn. Lạc này dẫn đến khổ, do chấp thủ sự dao động của tâm, nó đi đến lạc và khổ rồi trôi chảy. Và do chấp thủ sự đi theo lạc và khổ, tâm trở nên không có khả năng hướng đến. Trong những sự chứng ngộ bằng thắng trí, tất cả những pháp này trong ba thiền chứng, đối với những người bị bốn loại khổ xuyên thấu: khổ tánh đáng sợ đó, khổ vì chướng ngại, và khổ vì thắng trí. Đây là những sự nguy hại trong tam thiền.
Tattha katame ādīnavā catutthe jhāne? Ākiñcaññāsamāpattikā te dhammānusamāpattikā etissā ca bhūmiyaṃ sātānaṃ bālaputhujjanānaṃ anekavidhāni diṭṭhigatāni uppajjanti. Oḷārikā sukhumehi ca rūpasaññāhi anuvidhāni etāni jhānāni sadā anudayamettājhānakalānudanukalāya sādhāraṇā, dukkarā ca sabbe cattāro mahāsambhārā samudāgatāni ca etāni jhānāni aññamaññaṃ nissāya samudāgacchanti. Ettha samudāgatā ca ete dhammā na samattā honti. Asamuggahitanimittā ca ete dhammā parihāyanti. Nirujjhanti ca ete dhammā na upādiyanti nirujjhaṅgāni ca, etesaṃ dhammānaṃ jhānāni nimittāni na jhānanimittasaññā vokirati. Appaṭiladdhapubbā ca jhāyīvasena ca bhavati †. Imehi ādīnavehi ayaṃ jhānaparihāni.
Therein, what are the dangers in the fourth jhāna? For the foolish worldlings who delight in the plane of that attainment of nothingness, who possess the attainment of nothingness, and who are in accordance with the attainment, various kinds of wrong views arise. And these jhānas are in conformity with coarse and subtle form-perceptions. Always, anudaya-mettā is common to the gradual divisions of the jhāna divisions. And all four great requisites are difficult to accomplish. And these jhānas that have arisen, arise in dependence on one another. Herein, these states that have arisen are not completed. And these states, having signs not well-grasped, decline. And these states cease; one does not cling to them. And they are factors of cessation. For these states, the jhānas are the signs. The perception of the jhāna-sign is not mixed. It occurs both because of not having been attained before and by the power of one who enters jhāna. Because of these dangers, this decline of jhāna occurs.
Ở đây, những nguy hiểm trong thiền thứ tư là gì? Các pháp ấy là sự chứng đắc Vô sở hữu xứ, là sự chứng đắc tương ứng với pháp ấy, và ở trong cảnh giới này, đối với những kẻ phàm phu ngu si đang vui thích, nhiều loại tà kiến khác nhau khởi sanh. Các thiền này tương ứng với các sắc tưởng thô và tế, lòng từ bi luôn phổ biến trong từng phần và từng phân đoạn của các chi thiền, và cả bốn sự chuẩn bị lớn đều khó thực hiện, và các thiền này đã khởi sanh, chúng khởi sanh nương tựa lẫn nhau. Ở đây, các pháp đã khởi sanh này không được hoàn mãn. Và các pháp này, với tướng không được nắm bắt đúng cách, sẽ bị suy thoái. Và các pháp này diệt đi, không được chấp thủ, và là các chi phần đưa đến sự đoạn diệt. Đối với các pháp này, các thiền là những tướng (nguyên nhân), tưởng về tướng của thiền không bị phân tán. Và nó xảy ra do chưa từng đạt được trước đây và do năng lực của người nhập thiền. Do những nguy hiểm này mà có sự suy thoái thiền này.
77. Nirodhasamāpattiyā apaṭisaṅkhāya avasesasaññino ākiñcaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti, so nirodhasamāpattito parihāyati. Āneñjasaññino asaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasahagatā manasikārā samudācaranti, tañca bhūmiṃ na pajānāti, so tato parihāyati. Ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā manasikārā samudācaranti, tañca bhūmiṃ na pajānāti, so tato parihāyati. Viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññāsahagatā. Vitthārena…pe… yāva paṭhame jhāne kāmasaññāsahagatā kātabbā. Sakassa † parihāyati, kalaṅkajjhāne kalaṅkaṃ jhāyati, parisamantato jhāyati, bhindanto jhāyati, na sajjhāyati, āyūhanto jhāyati, kiñci ca niparicito jhāyati. Atividhāvanto jhāyati, atimaññanto jhāyati, kāyasaṅkhāre appaṭisambhāre jhāyati, pariyuṭṭhānassa nissaraṇaṃ ajānanto jhāyati, nīvaraṇābhibhūto jhāyati, assāpattimanasikaronto jhānassa assādo kāmarāgapariyuṭṭhānaṃ pahānaṃ jhānassa assādo kāmarāgahetūnaṃ dhammānaṃ udayanti, nirujjhaṅgāni etesaṃ dhammānaṃ jhānāni uparimā sukhupekkhā kāmakammakilesānaṃ pahānaṃ assādo, evaṃ kho puna jhānassa assādo mahāsaṃvāsamappīḷite lokasaṃnivāse asambodhokāsā vigamessamidaṃ jhānappahānā. Ayaṃ palirodhamappalirodhalokasannivāse esanidhamidaṃ jhānaṃ anamataggasaṃsārasamāpannānaṃ sattānaṃ saṃsārappahānanā ānisaṃso, yamidaṃ jhānassa assādo kāyassa ajhāniyajhāyino bhavati. Ajhāniyajhāniyajhāyīhi aparāmasanto ajhāniyajhāyitaṃ jhāyati, yāni kalaṅkajjhāyino padāni, tāni anudhitāni paṭipakkhe.
77. Through not reflecting on the attainment of cessation, for one with residual perception, perceptions and attentions associated with the base of nothingness arise; that person declines from the attainment of cessation. For one with imperturbable perception, or for one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, attentions associated with the base of nothingness arise, and one does not know that plane; that person declines from it. For one who has attained the base of nothingness, perceptions and attentions of the base of infinite consciousness arise, and one does not know that plane; that person declines from it. For one who has attained the base of infinite consciousness, those associated with form-perception arise. In detail... up to the first jhāna, those associated with sensual perception should be dealt with. One declines from one's own jhāna. In a flawed jhāna, one meditates flawedly. One meditates contemplating all around. One meditates breaking through. One does not become attached. One meditates striving. One meditates while practicing some state uninterruptedly. One meditates running past. One meditates being conceited. One meditates on bodily formations that are not a proper basis. One meditates not knowing the escape from obsession. One meditates overcome by the hindrances. Attending to its attainment is the gratification of jhāna. The abandoning of the obsession of sensual lust is the gratification of jhāna. States that have sensual lust as their cause arise. The jhānas are the factors for the cessation of these states; the higher pleasure and equanimity, the abandoning of sensual kamma and defilements, is the gratification. Thus again is the gratification of jhāna. 'In a worldly abode not oppressed by great association, I shall be free from the sphere of non-awakening.' This is the abandoning of jhāna. This is the seeking in the worldly abode of obstruction and non-obstruction. Here, for beings accustomed to the beginningless saṃsāra, the abandoning of saṃsāra through this jhāna is the benefit. This is the gratification of jhāna. It occurs for one who meditates with the body in an un-jhānic way. Not contemplating, one meditates in an un-jhānic way. Whatever are the steps of one who meditates flawedly, those are accordingly in opposition to the contrary.
77. Do không quán xét Diệt tận định, đối với người còn lại tưởng, các tác ý về tưởng đi cùng với Vô sở hữu xứ khởi lên, người ấy bị suy thoái khỏi Diệt tận định. Đối với người có tưởng bất động, khi đã nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ, các tác ý đi cùng với Vô sở hữu xứ khởi lên, và người ấy không biết cảnh giới đó, do đó người ấy bị suy thoái khỏi cảnh giới ấy. Đối với người đã nhập Vô sở hữu xứ, các tác ý về tưởng Thức vô biên xứ khởi lên, và người ấy không biết cảnh giới đó, do đó người ấy bị suy thoái khỏi cảnh giới ấy. Đối với người đã nhập Thức vô biên xứ, (các tác ý) đi cùng với sắc tưởng (khởi lên). Cần phải được thực hiện một cách chi tiết... cho đến thiền thứ nhất, (các tác ý) đi cùng với dục tưởng. Người ấy bị suy thoái khỏi thiền của chính mình, nhập thiền một cách ô uế trong thiền ô uế, nhập thiền từ mọi phía, nhập thiền trong khi phá vỡ (các triền cái), không dính mắc, nhập thiền trong khi nỗ lực, và nhập thiền mà không thực hành liên tục bất cứ điều gì. Nhập thiền trong khi chạy quá mức, nhập thiền trong khi quá kiêu mạn, nhập thiền trong các thân hành không được chuẩn bị, nhập thiền mà không biết sự xuất ly khỏi phiền não, nhập thiền khi bị các triền cái áp đảo. Tác ý về sự chứng đắc ấy là vị ngọt của thiền, sự từ bỏ phiền não tham dục là vị ngọt của thiền. Các pháp có nhân là tham dục khởi lên, các chi phần đoạn diệt của các pháp này là các thiền, xả lạc ở tầng trên, sự từ bỏ các phiền não của dục và nghiệp là vị ngọt. Như vậy, lại nữa, là vị ngọt của thiền. 'Ta sẽ thoát khỏi những nơi không giác ngộ trong thế gian không bị áp bức bởi sự chung sống đông đúc,' đây là sự từ bỏ thiền. Đây là sự tìm kiếm trong thế gian có chướng ngại và không có chướng ngại, đây là thiền. Đối với chúng sanh đã rơi vào vòng luân hồi vô thủy vô chung, sự từ bỏ luân hồi là quả báu, đây là vị ngọt của thiền. Nó xảy ra đối với người nhập thiền không đáng nhập bằng thân. Không quán xét bởi những người nhập thiền không đáng nhập, người ấy nhập thiền một cách không đáng nhập. Những bước chân của người nhập thiền ô uế, chúng tương ứng với phía đối nghịch.
78. Tattha katamaṃ jhānakosallaṃ? Samāpattikosallaṃ jhānakosallaṃ, jhānavisesakosallaṃ jhānakosallaṃ, jhānantarikakosallaṃ jhānakosallaṃ, samāpattivuṭṭhānakosallaṃ jhānakosallaṃ, jhāne sabhāvakosallaṃ jhānakosallaṃ, jhāne ādīnavakosallaṃ jhānakosallaṃ, jhāne nissaraṇakosallaṃ jhānakosallaṃ, jhānaphalena upādāya kosallaṃ, jhānaphalena paṭisaṅkhānaphale aparihānadhammatā nibbattijhāne ca kīḷitāpi visesabhāgiyaṃ jhānaṃ paṭilabbhati. Idaṃ panassāti bhavahāritā ca ārammaṇānimittaggāho anabhinīhārabalaṃ, cittekaggatā nimittāsu gatisahitā samathabalena asaṃsīdanañca jhāne maggaphalaṃ samathaṃ pavatte samādhino upekkhāpalipubbāparanimittāsayo paggāhino † satibalaṃ taṃ pavattitānañca vipassanānaṃ samaññābale.
78. Herein, what is skill in jhāna? Skill in attainment is skill in jhāna; skill in the distinctions of jhāna is skill in jhāna; skill in the cause of jhāna is skill in jhāna; skill in emerging from attainment is skill in jhāna; in jhāna, skill in its intrinsic nature is skill in jhāna; in jhāna, skill in its dangers is skill in jhāna; in jhāna, skill in the escape is skill in jhāna. Skill depending on the fruit of jhāna; by the fruit of jhāna, in the fruit of reflection, there is the quality of non-decline. And in the arisen jhāna, even through meditative play, one obtains a jhāna partaking of distinction. For one, this may be the state of carrying beyond existence and the grasping of the object as a sign, but it is not the power of directing forward. One-pointedness of mind, together with the good grasping of the sign, and non-sinking by the power of serenity. When the serenity that is path and fruit occurs in jhāna, the power of mindfulness of one who exerts—which is the basis for the sign before and after, hindered by the equanimity of concentration—and of the insights that have arisen from it, is obtained in equal power.
78. Ở đây, sự thiện xảo về thiền là gì? Sự thiện xảo trong việc nhập định là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo về các đặc tính của thiền là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo về các yếu tố của thiền là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo trong việc xuất khỏi định là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo về tự tánh trong thiền là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo về sự nguy hiểm trong thiền là sự thiện xảo về thiền, sự thiện xảo về sự xuất ly trong thiền là sự thiện xảo về thiền. Sự thiện xảo do nương vào quả của thiền, do quả của thiền, trong quả của sự quán xét, có trạng thái không suy thoái, và trong thiền đã sanh khởi, ngay cả khi vui chơi, người ấy cũng đạt được thiền có phần thù thắng. Lại nữa, điều này của nó là: sự mang đi đến các cõi hữu, sự nắm bắt tướng của đối tượng, và năng lực không hướng đến; nhất tâm đi cùng với sự đi đến trong các tướng, và sự không chìm lắng nhờ năng lực của chỉ. Khi chỉ, tức là đạo và quả, diễn ra trong thiền, niệm lực của người nâng đỡ, là nơi nương tựa của các tướng trước sau, bị cản trở bởi xả của định, và (người ấy đạt được) trong năng lực tương đương của các pháp minh sát đã làm cho niệm lực đó khởi lên.
Tattha katamā jhānapāramitā? Supāramitā mettā kāmesu sattā kāmasaṅgasattāti † yamhi sutte desanāya vohārena dve saccāni niddiṭṭhāni, dukkhañca samudayo ca, vicayena hārena ye saṃyojanīyesu dhammesu vajjaṃ na passanti, te oghaṃ tarissantīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Na tarissantīti atthi esā yutti ca vicayo ca idaṃ nu kissa padaṭṭhānaṃ, kāmesu sattāti pañca kāmaguṇā, taṃ kāmataṇhāya padaṭṭhānaṃ. Saṃyojane vajjamapassamānāti avijjāya padaṭṭhānaṃ, na hi jātu saṃyojanasaṅgasattā oghaṃ tareyyuṃ vipulaṃ mahantanti upādānassa padaṭṭhānaṃ. Kāmesu sattāti kāmā dvidhā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca, tattha kilesakāmā kāmataṇhā kāmataṇhāya yuttā bhavanti rūpataṇhā bhavataṇhā lakkhaṇena hārena, saṃyojane vajjamapassamānāti saṃyojanassa. Yo tattha chandarāgo tassa kiṃ padaṭṭhānaṃ? Sukhā vedanā dve ca indriyāni – sukhindriyañca somanassindriyañca. Iti sukhāya vedanāya gahitāya tayopi vedanā gahitā honti. Vedanākkhandhe gahite sabbe pañcakkhandhā gahitā honti. Rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbā gahitā, vatthukāmesu gahitesu sabbāni cha bāhirāni āyatanāni gahitāni honti. Ajjhattikabāhiresu āyatanesu yo sato, ayaṃ vuccate lakkhaṇo hāro, tattha yo oḷārikamhi kilese ajjhāvasito sabbakilesesu yo na tato sukhumataresu na vītarāgo bhavati. Tattha bāhirasaṃyojanaṃ mamanti ajjhattasaṃyojanaṃ ahanti. Tattha bhagavato ko adhippāyo? Ye oghaṃ taritukāmā te saṃyojanīyesu dhammesu ādīnavānupassino viharissantīti ayamettha bhagavato adhippāyo. Kāmesu sattāti yesu ca sattā yena ca sattā yesañca sattā ayaṃ catubbidho ākāro sabbesaṃ hārabhāgiyo.
Herein, what is the perfection of jhāna? Loving-kindness is the good perfection. In the discourse where, by the convention of the teaching, two truths—suffering and its origin—are pointed out, saying 'attached to sensual pleasures, attached to sensual clinging,' by the method of investigation: that those who do not see the fault in things pertaining to the fetters will cross the flood—this is not possible. That they will not cross—this is possible. This is both the method of reasoning and the method of investigation. Of what is this the proximate cause? 'Attached to sensual pleasures' refers to the five strands of sensual pleasure; that is the proximate cause of sensual craving. 'Not seeing the fault in the fetter' is the proximate cause of ignorance. Indeed, those attached by clinging to the fetters would certainly not cross the flood. The teaching 'vast and great' is the proximate cause of clinging. 'Attached to sensual pleasures': sensual pleasures are twofold—object-based sensual pleasures and defilement-based sensual pleasures. Among these, defilement-based sensual pleasure is sensual craving. Associated with sensual craving are form-craving and existence-craving, by the method of characteristics. 'Not seeing the fault in the fetter' pertains to the fetter. Whatever desire and lust there is, what is its proximate cause? Pleasant feeling, and two faculties: the faculty of pleasure and the faculty of joy. Thus, when pleasant feeling is grasped, all three feelings are grasped. When the feeling aggregate is grasped, all five aggregates are grasped. Forms, sounds, smells, tastes, and tactile objects are grasped. When object-based sensual pleasures are grasped, all six external sense bases are grasped. Whatever mindfulness exists regarding the internal and external sense bases, this is called the method of characteristics. Therein, one who is attached to a coarse defilement is attached to all defilements; therefore, one does not become free from lust towards subtler things. Therein, one conceives the external fetter as 'mine' and the internal fetter as 'I'. What is the Blessed One’s intention here? Those who wish to cross the flood shall dwell repeatedly contemplating the danger in things pertaining to the fetters—this is the Blessed One’s intention here. 'Attached to sensual pleasures' means: in which they are attached, by which they are attached, and whose they are. This fourfold aspect bears the perception of 'I' for all.
Ở đây, thiền ba-la-mật là gì? Từ ái là ba-la-mật tốt đẹp. Trong kinh nào mà hai sự thật, tức là khổ và tập, được chỉ ra bằng cách dùng từ ngữ của bài thuyết giảng (với câu) “dính mắc vào các dục, dính mắc vào sự tham ái dục”, bằng phương pháp trạch pháp, những ai không thấy lỗi lầm trong các pháp là đối tượng của triền phược, họ sẽ vượt qua bộc lưu, trường hợp này không xảy ra. (Họ) sẽ không vượt qua, trường hợp này có. Đây là phương pháp hợp lý và phương pháp trạch pháp. Điều này là nhân cần thiết cho cái gì? “Dính mắc vào các dục” là năm dục trưởng dưỡng, đó là nhân cần thiết của dục ái. “Không thấy lỗi lầm trong triền phược” là nhân cần thiết của vô minh. Quả thật, những người dính mắc vào sự tham ái triền phược chắc chắn sẽ không vượt qua được bộc lưu rộng lớn, vĩ đại; (điều này) là nhân cần thiết của thủ. “Dính mắc vào các dục”, các dục có hai loại: dục cảnh và phiền não dục. Trong đó, phiền não dục là dục ái. Những người hợp với dục ái cũng trở thành (hợp với) sắc ái, hữu ái, bằng phương pháp đặc tướng. “Không thấy lỗi lầm trong triền phược” (là nhân cần thiết) của triền phược. Dục tham ở đó, cái gì là nhân cần thiết của nó? Lạc thọ và hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền. Như vậy, khi lạc thọ được nắm bắt, cả ba thọ cũng được nắm bắt. Khi thọ uẩn được nắm bắt, tất cả năm uẩn cũng được nắm bắt. Sắc, thanh, hương, vị, xúc được nắm bắt. Khi các dục cảnh được nắm bắt, tất cả sáu ngoại xứ cũng được nắm bắt. Trong các nội ngoại xứ, niệm nào có mặt, đây được gọi là phương pháp đặc tướng. Ở đó, người nào bị chi phối bởi phiền não thô thiển, trong tất cả các phiền não, người đó không ly tham đối với những (phiền não) vi tế hơn. Ở đó, (người ấy nghĩ) ngoại triền phược là “của tôi”, nội triền phược là “tôi”. Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai muốn vượt qua bộc lưu, họ sẽ sống, thường xuyên quán thấy sự nguy hại trong các pháp là đối tượng của triền phược. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây. “Dính mắc vào các dục” là: dính mắc vào cái gì, dính mắc bởi cái gì, và dính mắc của ai. Bốn phương diện này là phần của phương pháp đối với tất cả.
79. Tattha katamāni tīṇi vipallāsāni padaṭṭhānāni ca? Cittavipallāsassa diṭṭhivipallāsassa saññāvipallāsassa tayo vipallāsā tīṇi akusalamūlāni padaṭṭhānaṃ. Tīṇi akusalamūlāni hīnappaṇītakāriyakammassa padaṭṭhānaṃ. Catunnañca upādānānaṃ doso akusalamūlaṃ dissati. Hīnappaṇītakāriyakammassa padaṭṭhānaṃ. Yathā mātuyā vā pituno vā aññatarassa vā puna uḷārassa bhikkhuno abhayaṃ deti. Tattha añño micchā paṭipajjeyya kāyena vā vācāya vā. Tattha so byāpādamupādāya tesaṃ uḷārānaṃ rakkhāvaraṇaguttiyā anupālayanto yo uḷārānaṃ abhayaṃ deti. Tesaṃ abhaye dinne yo tattha micchā paṭipajjeyya. Tattha so byāpādaṃ upādāyanto dosajaṃ kammaṃ karoti. Yo tattha asādhu indriyā nīvaraṇaṃ yaṃ tesaṃ abhayaṃ dakkhiṇato saññaṃ idaṃ paṇītaṃ kāraṇaṃ mayā puna tattha micchāpaṭipatti ayaṃ byāpādo hīnagamivakammaṃ lobho moho ca imāni nīvaraṇāni vacanāni tāni cattāri upādānāni tehi catūhi upādānehi yo so upādāno itthī vā puriso vā tesaṃ pañcakkhandhānaṃ teyeva upādāno samudayo idaṃ dukkhañca samudayo ca soyeva desanāhāro.
79. Herein, what are the three distortions and their proximate causes? The three distortions—of mind, of view, and of perception—have the three unwholesome roots as their proximate cause. The three unwholesome roots are the proximate cause of inferior and superior action. And for the four kinds of clinging, hatred, an unwholesome root, is seen as the proximate cause of inferior and superior action. For example, one gives safety to one's mother, or father, or to some other person, or again, to an eminent monk. Therein, another might practice wrongly by body or by speech. Therein, that person, clinging to ill will while constantly protecting, guarding, and defending those eminent ones, gives safety to them. When safety has been given to them, whoever might practice wrongly therein—that person, clinging to ill will, performs an action born of hatred. Whoever, from an unwholesome faculty in that action, whatever hindrance there is, gives safety to them nobly, thinking, 'This perception is a noble cause for me.' Again, therein there is wrong practice. This is ill will. An action leading to a low destination has been done. Greed and delusion—these are spoken of as hindrances. Those four are the clingings. Through those four clingings, whatever clinging there is to the five aggregates, such as 'woman' or 'man', that very clinging is the origin. This is suffering, and this is the origin. This itself is the method of teaching.
79. Ở đây, ba sự điên đảo và các nhân cần thiết là gì? (Của) tâm điên đảo, kiến điên đảo, tưởng điên đảo, ba sự điên đảo này, ba bất thiện căn là nhân cần thiết. Ba bất thiện căn là nhân cần thiết của nghiệp được thực hiện hạ liệt và cao thượng. Và đối với bốn thủ, sân là bất thiện căn được thấy. (Đây là) nhân cần thiết của nghiệp được thực hiện hạ liệt và cao thượng. Ví như, người ấy cho sự không sợ hãi đến mẹ, hoặc cha, hoặc một người nào đó, hoặc lại nữa, đến một vị tỳ khưu cao thượng. Ở đó, một người khác có thể thực hành sai lầm bằng thân hoặc bằng lời. Ở đó, người ấy, do chấp thủ sân hận, trong khi bảo vệ, che chở, hộ trì những vị cao thượng ấy, người mà cho sự không sợ hãi đến những vị cao thượng. Khi sự không sợ hãi được cho đến họ, người nào ở đó thực hành sai lầm. Ở đó, người ấy, do chấp thủ sân hận, tạo ra nghiệp do sân sinh. Người nào ở đó, từ căn không tốt, cái triền cái nào, sự không sợ hãi nào của họ, từ phía nam, tưởng rằng “đây là lý do cao thượng bởi ta”, lại nữa, ở đó có sự thực hành sai lầm, đây là sân, là nghiệp dẫn đến hạ thú, tham và si, những triền cái này là những lời dạy, chúng là bốn thủ. Do bốn thủ ấy, sự chấp thủ nào, dù là người nữ hay người nam, đối với năm uẩn của họ, chính sự chấp thủ ấy là tập. Đây là khổ và đây là tập, chính đó là phương pháp thuyết giảng.
Tattha kāmesu ye na pajjanti, te ādīnavānupassanāya pajjanti. Itissā kāmadhātuyā nikkhamitukāmatā, ayaṃ vuccati nekkhammacchando. Yo tattha anabhisaṅkhārānaṃ kiñci visodheti tassa dhāvarā vā, ayaṃ abyāpādacchando. Kiñci vihiṃsati, ayaṃ vihiṃsāchando. Iti nekkhammābhinīhatā tayo chandā – nekkhammacchando abyāpādacchando avihiṃsāchando. Tattha nekkhammacchando alobho; abyāpādacchando adoso; avihiṃsāchando amoho. Imāni tīṇi kusalamūlāni aṭṭhasu sampattesu parahitāni, tesaṃyeva catunnaṃ upādānānaṃ nirodhāya saṃvattanti. Sace vā puna kammaṃ kareyya kaṇhaṃ vā sukkaṃ vā tassa vipākahānāya saṃvattanti. Idaṃ kammaṃ akaṇhaṃ asukkaṃ kammakkhayāya saṃvattati. Tattha yo tiṇṇaṃ akusalamūlānaṃ nirodho, ayaṃ nirodho. Soyeva maggo tattha paṭipadāni imāni dve saccāni imāni cattāri saccāni āvaṭṭo hāro.
Therein, those who do not engage in sensual pleasures, engage in contemplating the danger. Thus, the desire to escape from this realm of sensual pleasure is called the desire for renunciation. Therein, whoever purifies something among the non-formations, for him there is constant effort; this is called the desire for non-ill-will. Whoever harms something, this is the desire for harming. Thus, there are three desires directed towards renunciation: the desire for renunciation, the desire for non-ill-will, and the desire for non-harming. Therein, the desire for renunciation is non-greed; the desire for non-ill-will is non-aversion; the desire for non-harming is non-delusion. These three are wholesome roots. In the eight attainments, they are for the welfare of others, and they lead to the cessation of those very four kinds of clinging. If one were to again perform an action, whether dark or bright, they lead to the abandonment of its result. This action, neither dark nor bright, leads to the destruction of kamma. Therein, the cessation of the three unwholesome roots is the truth of Cessation. That itself is the truth of the Path. Therein, these practices constitute two truths. These four truths constitute the Āvaṭṭa hāra.
Ở đây, những ai không thực hành trong các dục, họ thực hành trong việc quán thấy sự nguy hại. Như vậy, có sự mong muốn thoát khỏi cõi dục này, đây được gọi là xuất ly dục. Người nào ở đó thanh lọc điều gì đó trong các pháp vô hành, người đó có sự nỗ lực kiên trì, đây là vô sân dục. (Nếu) làm hại điều gì, đây là hãm hại dục. Như vậy, có ba loại dục hướng đến xuất ly: xuất ly dục, vô sân dục, vô hại dục. Trong đó, xuất ly dục là vô tham; vô sân dục là vô sân; vô hại dục là vô si. Ba thiện căn này, trong tám sự thành tựu, là lợi ích cho người khác, chúng dẫn đến sự đoạn diệt của chính bốn thủ ấy. Hoặc nếu lại làm nghiệp đen hay nghiệp trắng, chúng dẫn đến sự từ bỏ quả của nghiệp ấy. Nghiệp này, không đen không trắng, dẫn đến sự đoạn tận của nghiệp. Ở đây, sự đoạn diệt nào của ba bất thiện căn, đây là diệt. Chính đó là đạo. Ở đây, các pháp thực hành này là hai sự thật. Bốn sự thật này là phương pháp chuyển luân.
Kāmesu sattāti ye sekkhā, te ekenevākārena sattā. Ye puthujjanā, te dvīhākārehi sattā, tassāyaṃ pañho vibhajjabyākaraṇīyo vattabbo. Kiñcāpi sotāpanno paṭisevanāya, no ca kho abhinivese satto yo hi apacayāya padahati, na upacayāya. Sekkho hi kilesavasena kāme paṭisevati. Puthujjano pana kilesasamuṭṭhānāya kāme paṭisevati. Tattha kāmesu sattānaṃ catuoghaṃ tarissatīti vibhajjabyākaraṇīyo, ayaṃ vibhatti.
Regarding 'attached to sensual pleasures': those who are trainees are attached in one way. Those who are worldlings are attached in two ways. This question is one to be answered with a distinction. Although a stream-enterer is attached by way of indulgence, he is not attached by way of adherence. For he strives for decrease, not for increase. A trainee indulges in sensual pleasures by the power of defilements, whereas a worldling indulges in sensual pleasures for the arising of defilements. Therein, the question 'Will those attached to sensual pleasures cross the four floods?' is one to be answered with a distinction. This is the Vibhatti hāra.
Về câu “dính mắc vào các dục”, những vị hữu học nào có mặt, họ dính mắc theo một phương diện. Những vị phàm phu nào có mặt, họ dính mắc theo hai phương diện. Vấn đề này của người ấy được gọi là cần được trả lời bằng cách phân tích. Mặc dù vị Tu-đà-hoàn (dính mắc) trong sự thọ dụng, nhưng không dính mắc trong sự chấp thủ. Vì vị ấy nỗ lực để giảm trừ, không phải để tích lũy. Quả thật, vị hữu học thọ dụng các dục do năng lực của phiền não. Còn phàm phu thì thọ dụng các dục để làm phát sinh phiền não. Ở đây, (câu hỏi) “liệu những người dính mắc vào các dục có vượt qua được bốn bộc lưu không?” cần được trả lời bằng cách phân tích. Đây là phương pháp phân tích.
80. Parivattanoti kāme ye neva sajjanti na ca saṃyojanehi saṃyuttā, te oghaṃ tarissanti vipulaṃ mahantanti. Ayaṃ suttassa paṭipakkho.
80. The Parivattana method: 'Those who neither cling to sensual pleasures nor are conjoined with the fetters will cross the vast and great flood.' This is the contrary of the sutta's statement.
80. (Phương pháp) chuyển đổi là: những ai không dính mắc vào các dục và không tương ưng với các triền phược, họ sẽ vượt qua bộc lưu rộng lớn, vĩ đại. Đây là phần đối lập của kinh.
Vevacananti yo kāmesu satto yo ca tattha kāmānaṃ guṇo, tattha viso satto. Yepi kāmānaṃ āhārā dhammā, tattha viso satto. Tatthimaṃ kāmānaṃ vevacanaṃ pāko rajo sallaṃ gaṇḍo īti upaddavoti. Yāni vā pana aññāni vevacanāni tattha viso sattoti vevacanaṃ. Satto bandho mucchito gadhito ajjhosito kāme ajjhāpannā parimutto tabbahulavihārīti. Yāni vā pana aññāni vevacanāni, ayaṃ vevacano nāma. Kāmappacārapaññattiyā kilesagocarapaññattiyā paññattā cittanti vevacanaṃ. Satto tabbahulavihārīti yāni vā pana aññāni. Ime kāmappacārapaññattiyā kilesagocara paññattiyā paññattā, bījapaññattiyā paññattā, saṅkhārā saṃyojanapaññattiyā paññattā, upādānaṃ hetupaññattiyā paññattaṃ, puggalo puthupaññattiyā paññatto.
Regarding Synonyms (Vevacana): Whoever is attached to sensual pleasures, and whatever is the quality of those sensual pleasures—therein one is poisonously attached. And whatever things are the nourishment of sensual pleasures—therein one is poisonously attached. Herein, these are synonyms for sensual pleasures: ripening, dust, a dart, a boil, calamity, and misfortune. Or whatever other synonyms there may be, 'poisonously attached' is a synonym therein. 'Attached,' 'bound,' 'infatuated,' 'seized,' 'engulfed,' 'fallen into sensual pleasures,' 'unliberated,' 'frequently dwelling in that.' Or whatever other synonyms there may be, this is called the Hāra of Synonyms. 'Mind' is a synonym designated by the designation of the range of sensuality and the designation of the sphere of defilements. 'Attached,' 'frequently dwelling in that,' and whatever others—these are designated by the designation of the range of sensuality and the designation of the sphere of defilements; they are designated by the designation of a seed; formations are designated by the designation of fetters; clinging is designated by the designation of a cause; a person is designated by the designation of multiplicity.
Về Đồng nghĩa từ (Vevacana): Sự dính mắc nào trong các dục, và phẩm chất nào của các dục ở đó, ở đó có sự dính mắc như chất độc. Và những pháp nào là thức ăn của các dục, ở đó có sự dính mắc như chất độc. Ở đây, đây là đồng nghĩa từ của các dục: sự chín muồi, bụi bặm, mũi tên, khối u, tai họa, tai ương. Hoặc những đồng nghĩa từ nào khác, ở đó "dính mắc như chất độc" là một đồng nghĩa từ. Dính mắc, trói buộc, mê muội, tham lam, nuốt chửng, rơi vào, đắm chìm trong dục, thường trú trong đó. Hoặc những đồng nghĩa từ nào khác, đây được gọi là (hāra) đồng nghĩa từ. Được chế định bởi sự chế định về hành xứ của dục, bởi sự chế định về đối tượng của phiền não, "tâm" là một đồng nghĩa từ. "Dính mắc, thường trú trong đó" hoặc những (đồng nghĩa từ) nào khác. Những điều này được chế định bởi sự chế định về hành xứ của dục, bởi sự chế định về đối tượng của phiền não; được chế định bởi sự chế định về hạt giống; các hành được chế định bởi sự chế định về triền phược; thủ được chế định bởi sự chế định về nhân; cá nhân được chế định bởi sự chế định đa dạng.
Otaraṇoti imāya paṭiccasamuppādo dukkhañca samudayo ca. Ye kilesā ye saṅkhārā saṃyojanāni ca pañcasu khandhesu saṅkhārakkhandho dhammāyatanesu akusalā dhammāyatanāni indriyesu sukhindriyañca, somanassindriyañca, ayaṃ indriyotaraṇo.
Regarding Examination (Otaraṇa): By this method, dependent origination is suffering and its origin. Whatever defilements, formations, and fetters there are, they are examined thus: within the five aggregates, it is the aggregate of formations; within the mind-object bases, it is the unwholesome mind-object bases; and within the faculties, it is the faculty of pleasure and the faculty of joy. This is the examination of the faculties.
Về Thẩm sát (Otaraṇa): Bằng (phương pháp) này, lý duyên khởi là khổ và tập. Những phiền não nào, những hành nào, và những triền phược; trong năm uẩn là hành uẩn; trong các pháp xứ là các pháp xứ bất thiện; trong các căn là lạc căn và hỷ căn. Đây là sự thẩm sát các căn.
Sodhanoti ettako. Eseva ārambho niddisitabbo suttattho.
Regarding Purification (Sodhana): This much. This very beginning, the meaning of the discourse, should be pointed out.
Về Thanh lọc (Sodhana): Chỉ chừng ấy. Chính sự nỗ lực này cần được chỉ ra là ý nghĩa của kinh.
Adhiṭṭhānoti ime dhammā atthi ekattatāya paññattā atthi vemattatāya. Ye saññā bāhiro kāme, te vemattatāya paññattā. Pañcasu kāmaguṇesu sattāti pariyuṭṭhānavipallāsā vemattatāya paññattā oghaṃ tareyyuṃ. Vipulaṃ mahantanti avijjā ekattatāya paññattā.
Regarding Foundation (Adhiṭṭhāna): These phenomena are designated by way of unity and also by way of diversity. Those perceptions that are external sensual pleasures are designated by way of diversity. In the phrase 'attached to the five strands of sensual pleasure,' obsessions and distortions are designated by way of diversity. In the phrase 'they would cross the vast and great flood,' ignorance is designated by way of unity.
Về Quyết định (Adhiṭṭhāna): Có những pháp này được chế định theo tính đồng nhất, có những pháp được chế định theo tính dị biệt. Những tưởng nào bên ngoài các dục, chúng được chế định theo tính dị biệt. (Câu) "Dính mắc trong năm dục công đức" (ám chỉ) các triền cái và điên đảo được chế định theo tính dị biệt. (Câu) "Họ có thể vượt qua bộc lưu rộng lớn, vĩ đại" (ám chỉ) vô minh được chế định theo tính đồng nhất.
Parikkhāroti tassa ko hetu ko paccayo? Ārammaṇapaccayatāya paccayo. Ayoniso ca manasikāro sannissayassa paccayatāya paccayo. Avijjā samanantarapaccayatāya paccayo. Rāgānusayo hetupaccayatāya paccayo. Ayaṃ hetu, ayaṃ paccayo.
Regarding Analysis (Parikkhāra): Of that, what is the cause, what is the condition? It is a condition by way of object-condition. Unwise attention is a condition by way of strong dependence-condition. Ignorance is a condition by way of contiguity-condition. The underlying tendency to lust is a condition by way of root-condition. This is the cause, this is the condition.
Về Phân tích (Parikkhāra): Nhân của nó là gì, duyên của nó là gì? Là duyên do tính chất làm duyên đối tượng. Và như lý tác ý là duyên do tính chất làm duyên y chỉ. Vô minh là duyên do tính chất làm duyên vô gián. Dục tùy miên là duyên do tính chất làm duyên nhân. Đây là nhân, đây là duyên.
Samāropano paccayoti ye kāmesu sattā sugatā surūpāti ayaṃ kāmadhātuyā chando rāgo te apuññamayā saṅkhārā. Te kiṃ paccayā? Avijjā paccayā. Te kissa paccayā? Viññāṇassa paccayā. Iti avijjāpaccayā saṅkhārā. Saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ yāva jarāmaraṇaṃ evametassa kevalassa mahato dukkhakkhandhassa samudayo hoti ekaṃ suttaṃ gataṃ. Pañcanīvaraṇikaṃ suttaṃ kātabbaṃ.
Regarding Superimposition (Samāropana) as a condition: Those attached to sensual pleasures, who are fortunate and of good form—this is desire and lust for the sense-sphere; these are demeritorious formations. What is their condition? They are conditioned by ignorance. For what are they a condition? They are a condition for consciousness. Thus, with ignorance as a condition, formations come to be. With formations as a condition, consciousness comes to be, and so on, up to aging and death. In this way, there is the origin of this whole great mass of suffering. One discourse is completed. The discourse on the five hindrances should be undertaken.
Về Duyên áp đặt (Samāropana): Những ai dính mắc trong các dục, thiện thú, sắc đẹp, đây là dục và tham trong cõi dục, chúng là các hành phi phước. Chúng có duyên gì? Có duyên là vô minh. Chúng là duyên cho cái gì? Là duyên cho thức. Như vậy, do vô minh làm duyên, các hành (khởi lên). Do hành làm duyên, thức (khởi lên)... cho đến già-chết. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ lớn lao này. Một bài kinh đã được trình bày. Cần phải thực hiện (phân tích) bài kinh về năm triền cái.
81. Tattha katamo desanāhāro nāma? Yā ca abhijjhā yo ca byāpādo yañca uddhaccaṃ, ayaṃ taṇhā. Yañca thinamiddhaṃ, yañca kukkuccaṃ yā ca vicikicchā, ayaṃ diṭṭhi. Yā pana kāyassa akammaniyatā kiñcāpi taṃ middhaṃ no tu sabhāvakilesatāya kileso, iti yā ca cittasallīyanā yā ca kāyākammaniyatā, ayaṃ pakkhopakileso na tu sabhāvakileso. Tattha attasaññānupacittaṃ kilamatho kukkuccānupacittaṃ thinaṃ yā cittassa līyanā, iti ime pañca nīvaraṇā cattāri nīvaraṇāni sabhāvakilesā thinamiddhaṃ nīvaraṇapakkhopakileso. Yathā cattāro āsavā sabhāvaāsavatāya āsavā no tu cittasāsavatāya āsavā. Sabhāvatāya āsavā. Pakkhe āsavatāya āsavā. Atha panāha suttantaṃ yena te sampayuttā vā vippayuttā vā āsavā, teyeva ete vattabbā sāsavā vā anāsavā vā.
81. Herein, what is called the Hāra of Teaching (Desanāhāra)? Covetousness, ill will, and restlessness—this is craving. Sloth and torpor, worry, and doubt—this is wrong view. As for the body’s unwieldiness, although that is torpor, it is not a defilement by way of its own nature. Thus, the mind's sluggishness and the body's unwieldiness—this is a partisan defilement, not a defilement in its own nature. Therein, weariness accumulated with the perception of self, sloth accumulated with worry, and the mind's sluggishness—thus, of these five hindrances, four hindrances are defilements by nature, while sloth and torpor is a partisan defilement of the hindrances. Just as the four taints are taints by way of their own nature, but not taints by way of the mind's being tainted. They are taints by nature; they are taints by way of being partisan. But the Suttanta says: those things with which the taints are associated or dissociated, they themselves should be called 'tainted' or 'untainted'.
81. Trong đó, hāra Thuyết giảng (Desanāhāra) là gì? Tham ái nào, sân nào, và trạo cử nào, đây là ái. Hôn trầm-thụy miên nào, hối quá nào, và hoài nghi nào, đây là tà kiến. Còn sự không kham nhẫn của thân, mặc dù đó là thụy miên, nhưng không phải là phiền não do bản chất phiền não. Như vậy, sự dính mắc của tâm và sự không kham nhẫn của thân, đây là phiền não thuộc nhóm, chứ không phải phiền não tự thân. Trong đó, tâm bị chồng chất bởi tự ngã tưởng là sự mệt mỏi; tâm bị chồng chất bởi hối quá là hôn trầm, là sự co rút của tâm. Như vậy, trong năm triền cái này, bốn triền cái là phiền não tự thân; hôn trầm-thụy miên là phiền não thuộc nhóm triền cái. Giống như bốn lậu hoặc là lậu hoặc do bản chất lậu hoặc, chứ không phải là lậu hoặc do tâm có lậu hoặc. Là lậu hoặc do bản chất. Là lậu hoặc do thuộc nhóm. Lại nữa, kinh nói rằng, do đó chúng tương ưng hay không tương ưng với lậu hoặc, chính chúng cần được gọi là hữu lậu hay vô lậu.
Tattha katamo vicayo. Abhijjhā kāmataṇhā rūpataṇhā bhavataṇhā. Yaṃ vā pana kiñci ajjhosānagataṃ sāsavā abhijjhitassa mettānupassiya yo anatthaṃ carati. Tattha yo byāpādaṃ uppādeti, acari carissatīti. Evaṃ nava āghātavatthūni kattabbāni, tassevaṃ byāpādānupassissa kileso yo paridāho kāyakilamatho akammaniyatā middhaṃ. Cittānupassissa paṭighātena khiyanā, idaṃ thinamiddhaṃ. Tattha adhikaraṇaavūpasamo, idaṃ uddhaccaṃ. Yaṃ kiṃ kasathamīti † idaṃ kukkuccaṃ. Yaṃ yathā idaṃ santīraṇaṃ, ayaṃ vicikicchā. Tattha avijjā ca taṇhā ca atthi, idaṃ pariyuṭṭhānaṃ. Āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ chadanaṃ upakkileso ca atthi, idaṃ kāmacchando kāmarāgapariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Byāpādo byāpādapariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Thinamiddhaṃ thinamiddhapariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Uddhaccakukkuccaṃ avijjāpariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Vicikicchā vicikicchāpariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Kāmarāgapariyuṭṭhānaṃ anusayasaṃyojanassa padaṭṭhānaṃ. Byāpādapariyuṭṭhānaṃ paṭighasaṃyojanassa padaṭṭhānaṃ. Thinamiddhapariyuṭṭhānaṃ mānasaṃyojanassa padaṭṭhānaṃ. Avijjāpariyuṭṭhānañca vicikicchāpariyuṭṭhānañca diṭṭhisaṃyojanassa padaṭṭhānaṃ.
Herein, what is the Hāra of Investigation (Vicayahāra)? Covetousness, sensual craving, craving for form, craving for existence. Or whatever else is a state of being overcome, that is tainted. For one who covets, while repeatedly contemplating loving-kindness, who acts for another's harm. Therein, one who arouses ill will, thinking, 'He has harmed me... he will harm me.' Thus, the nine grounds for resentment are to be made. For one who thus contemplates ill will, the defilement—which is a burning, bodily fatigue, and unwieldiness—is torpor. For one who repeatedly contemplates the mind, there is weariness through aversion; this is sloth and torpor. Therein, the non-settling of disputes; this is restlessness. Whatever remorse there is; this is worry. In whatever way there is this investigation; this is doubt. Therein, there are ignorance and craving; this is obsession. There is obstruction, hindrance, covering, and defilement; this is sensual desire, the proximate cause of the obsession of sensual lust. Ill will is the proximate cause of the obsession of ill will. Sloth and torpor is the proximate cause of the obsession of sloth and torpor. Restlessness and worry is the proximate cause of the obsession of ignorance. Doubt is the proximate cause of the obsession of doubt. The obsession of sensual lust is the proximate cause of the fetter of underlying tendency. The obsession of ill will is the proximate cause of the fetter of aversion. The obsession of sloth and torpor is the proximate cause of the fetter of conceit. The obsession of ignorance and the obsession of doubt are the proximate cause of the fetter of views.
Trong đó, (hāra) Tầm cầu (Vicaya) là gì? Tham ái là dục ái, sắc ái, hữu ái. Bất cứ điều gì đã bị nuốt chửng, (đều) hữu lậu. Đối với người bị tham ái, người quán từ, kẻ nào làm điều bất lợi. Ở đó, kẻ nào khởi lên sân hận (nghĩ rằng): "Nó đã làm, nó sẽ làm (điều bất lợi cho ta)". Như vậy, chín sân hận sự cần được thực hiện. Đối với người quán sân như vậy, phiền não, sự thiêu đốt, sự mệt mỏi của thân, sự không kham nhẫn, là thụy miên. Đối với người quán tâm, sự mệt mỏi do chướng ngại, đây là hôn trầm-thụy miên. Trong đó, sự không lắng dịu của tranh cãi, đây là trạo cử. "Tại sao tôi đã làm điều đó?", đây là hối quá. Sự thẩm xét rằng "Cái này như thế nào?", đây là hoài nghi. Trong đó, có vô minh và ái, đây là triền cái. Có sự che lấp, ngăn che, bao phủ, và tùy phiền não, đây là tham dục, là nhân cần thiết của triền cái tham dục. Sân là nhân cần thiết của triền cái sân. Hôn trầm-thụy miên là nhân cần thiết của triền cái hôn trầm-thụy miên. Trạo hối là nhân cần thiết của triền cái vô minh. Hoài nghi là nhân cần thiết của triền cái hoài nghi. Triền cái tham dục là nhân cần thiết của tùy miên và triền phược. Triền cái sân là nhân cần thiết của triền phược sân. Triền cái hôn trầm-thụy miên là nhân cần thiết của triền phược mạn. Triền cái vô minh và triền cái hoài nghi là nhân cần thiết của triền phược tà kiến.
Tattha katamo lakkhaṇo hāro? Kāmarāgapariyuṭṭhāne vutte sabbāni pariyuṭṭhānāni vuttāni hontīti. Saṃyojanesu vuttesu sabbasaṃyojanāni vuttāni honti. Ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Herein, what is the Hāra of Characteristic (Lakkhaṇahāra)? When the obsession of sensual lust is spoken of, all obsessions are said to have been spoken of. When the fetters are spoken of, all fetters are said to have been spoken of. This is the Hāra of Characteristic.
Trong đó, hāra Đặc tướng (Lakkhaṇa) là gì? Khi triền cái tham dục được nói đến, tất cả các triền cái được xem là đã được nói đến. Khi các triền phược được nói đến, tất cả các triền phược được xem là đã được nói đến. Đây là hāra Đặc tướng.
82. Tattha katamo catubyūho hāro? Ye ime pañca nīvaraṇā jhānapaṭipakkho so dukkhasamudayo. Yaṃ phalaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Tattha kāmacchandassa nekkhammavitakko paṭipakkho; byāpādassa abyāpādavitakko paṭipakkho; tiṇṇaṃ nīvaraṇānaṃ avihiṃsāvitakko paṭipakkho. Iti ime tayo vitakkā. Nekkhammavitakko samādhikkhandhaṃ bhajati. Abyāpādavitakko sīlakkhandhaṃ bhajati. Avihiṃsāvitakko paññākkhandhaṃ bhajati. Ime tayo khandhā. Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo nīvaraṇappahānāya saṃvattati. Yaṃ nīvaraṇappahānaṃ, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni. Ayaṃ catubyūho hāro.
82. Among these, which is the mode of fourfold array? These five hindrances are the opponent of jhāna; they are the origin of suffering. Whatever fruit there is, this is suffering. Therein, the thought of renunciation is the opponent of sensual desire; the thought of non-ill will is the opponent of ill will; the thought of non-harming is the opponent of the three hindrances. Thus, these are the three thoughts. The thought of renunciation resorts to the aggregate of concentration. The thought of non-ill will resorts to the aggregate of virtue. The thought of non-harming resorts to the aggregate of wisdom. These are the three aggregates. The Noble Eightfold Path leads to the abandonment of the hindrances. Whatever is the abandonment of the hindrances, this is cessation. These are the Four Truths. This is the mode of fourfold array.
82. Trong ấy, pháp tứ phân (catubyūha hāra) là gì? Năm triền cái này là đối nghịch của thiền, đó là tập đế. Quả nào, đây là khổ đế. Trong ấy, tầm xuất ly là đối nghịch của tham dục; tầm vô sân là đối nghịch của sân; tầm vô hại là đối nghịch của ba triền cái. Như vậy, đây là ba loại tầm. Tầm xuất ly thuộc về định uẩn. Tầm vô sân thuộc về giới uẩn. Tầm vô hại thuộc về tuệ uẩn. Đây là ba uẩn. Thánh đạo tám ngành đưa đến sự đoạn trừ các triền cái. Sự đoạn trừ triền cái nào, đây là diệt đế. Đây là bốn sự thật. Đây là pháp tứ phân.
Tattha katamo āvaṭṭo hāro? Pañca nīvaraṇāni dasa bhavanti. Yadapi ajjhattaṃ sārajjati, tadapi nīvaraṇaṃ. Yadapi bahiddhā sārajjati, tadapi nīvaraṇaṃ, evaṃ yāva vicikicchā ime dasa nīvaraṇā. Ajjhattabahiddhā kilesā imāni dve saṃyojanāni ajjhattasaṃyojanañca bahiddhāsaṃyojanañca. Tattha ahanti ajjhattaṃ, mamanti bahiddhā. Sakkāyadiṭṭhi ajjhattaṃ, ekasaṭṭhi diṭṭhigatāni bahiddhā. Yo ajjhattaṃ chandarāgo rūpesu avītarāgo bhavati avītacchando. Evaṃ yāva viññāṇe, ayaṃ ajjhattā taṇhā. Yaṃ chasu bāhiresu āyatanesu tīsu ca bhavesu ajjhosānaṃ, ayaṃ bahiddhā taṇhā. Imāni dve saccāni saṃyojanāni saṃyojanīyā ca dhammā. Tattha saṃyojanesu dhammesu yā nibbidānupassanā ca, ayaṃ maggo. Yaṃ saṃyojanappahānaṃ, ayaṃ nirodho. Ayaṃ āvaṭṭo hāro.
Among these, which is the mode of revolving? The five hindrances become ten. Insofar as one is attached internally, that too is a hindrance. Insofar as one is attached externally, that too is a hindrance. Thus, up to doubt, these are the ten hindrances. The internal and external are defilements; these two are the fetters: the internal fetter and the external fetter. Therein, 'I' is internal; 'mine' is external. Personality view is internal; the sixty-one wrong views are external. Whatever internal desire and lust there is for forms, one is not free from lust, not free from desire. Similarly, up to consciousness, this is internal craving. Whatever engulfment there is in the six external sense bases and in the three existences, this is external craving. These are the two truths: the fetters and the phenomena that can be fettered. Therein, in regard to the phenomena that are fetters, whatever contemplation of disenchantment there is, this is the path. Whatever abandonment of the fetters there is, this is cessation. This is the mode of revolving.
Trong ấy, pháp luân chuyển (āvaṭṭa hāra) là gì? Năm triền cái trở thành mười. Khi nào có sự tham đắm bên trong, đó cũng là triền cái. Khi nào có sự tham đắm bên ngoài, đó cũng là triền cái, như vậy cho đến hoài nghi, đây là mười triền cái. Phiền não bên trong và bên ngoài, đây là hai kiết sử: kiết sử bên trong và kiết sử bên ngoài. Trong ấy, 'tôi' là bên trong, 'của tôi' là bên ngoài. Thân kiến là bên trong, sáu mươi mốt tà kiến là bên ngoài. Dục tham nào đối với các sắc bên trong mà chưa ly tham, chưa ly dục. Như vậy cho đến thức, đây là ái bên trong. Sự bám víu nào trong sáu xứ bên ngoài và trong ba cõi, đây là ái bên ngoài. Đây là hai sự thật: các kiết sử và các pháp đáng bị kiết sử trói buộc. Trong ấy, đối với các pháp thuộc kiết sử, sự quán yếm ly nào, đây là đạo đế. Sự đoạn trừ kiết sử nào, đây là diệt đế. Đây là pháp luân chuyển.
Tattha katamo vibhattihāro? Saṃyojananti na etaṃ ekaṃsena. Mānasaṃyojanaṃ diṭṭhibhāgiyanti na taṃ ekaṃsena adiṭṭhamānaṃ nissāyamānaṃ na pajahati. Yo pañca uddhambhāgiyo māno kiñcāpi so diṭṭhipakkhe siyā. Na tu orambhāgiyaṃ saṃyojanaṃ tassa pahānāya saṃvattatīti. Yo ca ahaṃkāro na paviddhoyaṃ panassa evaṃ hoti. Kadāsu nāmāhaṃ taṃ santaṃ āyatanaṃ sacchikatvā upasampajja viharissāmi, yaṃ ariyā santaṃ āyatanaṃ upasampajja viharissantīti, ayaṃ abhijjhā na ca taṃ nīvaraṇaṃ. Atthi pana arahato kāyakilesamiddhañca okkamati na ca taṃ nīvaraṇaṃ tassa thinamiddhaṃ nīvaraṇanti. Na ekaṃsena. Ayaṃ vibhattihāro.
Among these, which is the mode of analysis? The term 'fetter' is not absolute. The fetter of conceit partakes of view; in this sense, it is not absolute that it abandons conceit. Although the conceit that is among the five higher fetters may be on the side of view, a lower fetter does not lead to its abandonment. And for one whose 'I-making' is not dispelled, this thought occurs: 'When shall I, having realized and attained that peaceful sphere, dwell therein, the peaceful sphere in which the noble ones, having attained it, dwell?' This is covetousness, but it is not a hindrance. Furthermore, for an Arahant, bodily defilement and drowsiness may occur, but that is not a hindrance. The statement 'sloth and torpor is a hindrance' is not absolute. This is the mode of analysis.
Trong ấy, pháp phân biệt (vibhatti hāra) là gì? Nói 'kiết sử' thì điều này không phải là một chiều. Nói 'mạn kiết sử thuộc phần kiến' thì điều đó không phải là một chiều, nó không từ bỏ mạn chưa thấy, mạn nương tựa. Mạn nào thuộc năm thượng phần kiết sử, dù nó có thể thuộc về phe kiến. Nhưng hạ phần kiết sử không đưa đến sự đoạn trừ mạn ấy. Và ngã mạn nào chưa được loại bỏ, người ấy có ý nghĩ như sau: 'Khi nào ta sẽ chứng ngộ, đạt đến và an trú trong xứ tịch tịnh ấy, nơi mà các bậc Thánh đã đạt đến và an trú?' Đây là tham ái, và đó không phải là triền cái. Lại nữa, có sự mệt mỏi của thân và hôn trầm xảy đến với bậc A-la-hán, nhưng đó không phải là triền cái của vị ấy, hôn trầm thụy miên là triền cái. Không phải một chiều. Đây là pháp phân biệt.
Parivattanoti pañca nīvaraṇā pañcaṅgikena jhānena pahānaṃ gacchanti. Ayaṃ tesaṃ paṭipakkho nīvaraṇo asukassa pahīnāti na aññānuminitabbaṃ, paramatthamajjhattaṃ, ayaṃ parivattanā.
The mode of alteration is as follows: The five hindrances reach abandonment through the five-factored jhāna. This jhāna is their opponent. It should not be inferred that a hindrance is abandoned by some other means. The ultimate meaning is internal. This is the mode of alteration.
Pháp chuyển đổi (parivattanā) là gì? Năm triền cái được đoạn trừ bởi thiền có năm chi. Đây là đối nghịch của chúng, là triền cái. Không nên suy luận khác rằng 'triền cái của người kia đã được đoạn trừ', chân nghĩa là ở bên trong. Đây là pháp chuyển đổi.
Tattha katamo vevacano? Kāmacchando chandarāgo pemaṃ nikantīti vevacanaṃ. Nīvaraṇaṃ chadanaṃ upakkileso pariyuṭṭhānanti vevacanaṃ.
Among these, which is the mode of synonyms? Sensual desire, desire-lust, affection, and craving—these are synonyms. Hindrance, covering, defilement, and obsession—these are synonyms.
Trong ấy, pháp đồng nghĩa (vevacana) là gì? Tham dục, dục tham, ái luyến, khát khao là những từ đồng nghĩa. Triền cái, che đậy, tùy phiền não, phiền não hiện hành là những từ đồng nghĩa.
Paññattīti avijjāpaccayā kiccapaññattiyā † paññatti, byāpādo vikkhepapaññattiyā paññatti, thinamiddhaṃ asamugghātapaññattiyā paññatti. Evaṃ sabbepi ete pañca nīvaraṇā imamhi sutte vikkhepapaññattiyā paññatti.
Designation is as follows: Ignorance is a designation by way of designation from a condition. Ill will is a designation by way of designation of distraction. Sloth and torpor are a designation by way of designation of non-eradication. Thus, in this discourse, all these five hindrances are designated by way of designation of distraction.
Pháp chế định (paññatti) là gì? Do duyên vô minh, có sự chế định về phận sự. Sân là sự chế định về tán loạn. Hôn trầm thụy miên là sự chế định về không nhổ bật. Như vậy, tất cả năm triền cái này trong kinh này là sự chế định về tán loạn.
Tattha katamo otaraṇo? Ime pañca nīvaraṇā avijjā ca taṇhā ca tattha avijjāmūlā nīvaraṇā. Yā taṇhā ime saṅkhārā, te avijjāpaccayā ime dve dhammā pañcasu khandhesu saṅkhārakkhandhapariyāpannā, āyatanesu dhammāyatanaṃ, dhātūsu dhammadhātu, indriyesu imesaṃ dhammānaṃ padaṭṭhānaṃ sukhindriyassa ca somanassindriyassa ca itthindriyassa ca purisindriyassa ca.
Therein, what is the mode of inclusion? There are these five hindrances, and ignorance, and craving. Therein, the hindrances are rooted in ignorance. There is that craving and these formations; they are conditioned by ignorance. These two phenomena, among the five aggregates, are included in the formations aggregate. Among the bases, they are the mind-object base. Among the elements, they are the mind-object element. Among the faculties, they are the proximate cause for the faculty of pleasure, the faculty of joy, the female faculty, and the male faculty.
Trong ấy, pháp dẫn nhập (otaraṇa) là gì? Năm triền cái này, vô minh và ái. Trong ấy, các triền cái có vô minh làm gốc rễ. Ái nào, các hành này, chúng có vô minh làm duyên. Hai pháp này trong năm uẩn được bao gồm trong hành uẩn, trong các xứ là pháp xứ, trong các giới là pháp giới, trong các căn là nền tảng của các pháp này: lạc căn, hỷ căn, nữ căn và nam căn.
Tattha katamo sodhano hāro? Idaṃ suttaṃ yathā ārabbha nikkhittaṃ so attho bhāsito imehi pañcahi padehi.
Therein, what is the mode of purification? For whatever reason this discourse was undertaken and set forth, that meaning is explained by these five terms.
Trong ấy, pháp thanh lọc (sodhana hāra) là gì? Kinh này được bắt đầu và trình bày như thế nào, ý nghĩa đó được nói lên bởi năm từ này.
Tattha kāmacchando ca byāpādo ca vicikicchā ca na ekattatāya paññattā, kāmāti na ekattatāya paññattā, atha khalu vemattatāya paññattā. Ayaṃ adhiṭṭhāno hāro.
Therein, sensual desire, ill-will, and doubt are not designated in terms of singularity. 'Sensual pleasures' are not designated in terms of singularity; but indeed, they are designated in terms of diversity. This is the mode of determination.
Trong ấy, tham dục, sân và hoài nghi không được chế định là một, 'dục' không được chế định là một, mà thực ra được chế định là khác nhau. Đây là pháp quyết định (adhiṭṭhāna hāra).
Tattha katamo parikkhāro? Kāmacchandassa ayoniso manasikāro subhārammaṇapaccayo; subhanimittañca hetu. Byāpādassa ayoniso manasikāro āghātavatthūni ca paccayo; paṭighānusayo hetu. Thinamiddhassa paṭisaṃhāro paccayo; pavattiyā kilamathā calanā tañca hetu. Uddhaccakukkuccassa rajanīyaṃ ārammaṇiyaṃ assādiyākindriyaṃ tāva aparipuṇṇañca ñāṇaṃ paccayo; kāmasaññā ca diṭṭhianusayo ca hetu. Vicikicchāya nava mānavidhā ārammaṇaṃ mānānusayo, sova paccayo; vicikicchānusayo hetu. Ete pañca dhammā sahetu sappaccayā uppajjanti.
Therein, what is the mode of requisites? For sensual desire, unwise attention to a beautiful object is the support condition; and the sign of the beautiful is the root cause. For ill-will, unwise attention and grounds for resentment are the support condition; the underlying tendency to aversion is the root cause. For sloth and torpor, withdrawal is the support condition; fatigue and agitation in activity are the root cause. For restlessness and remorse, an alluring, delightful, and enjoyable object, a faculty, and furthermore, incomplete knowledge is the support condition; the perception of sensual pleasures and the underlying tendency to views are the root cause. For doubt, the object is the nine kinds of conceit, and the underlying tendency to conceit itself is the support condition; the underlying tendency to doubt is the root cause. These five phenomena arise with their root causes and support conditions.
Trong ấy, pháp phụ trợ (parikkhāra) là gì? Đối với tham dục, tác ý không như lý và đối tượng tịnh là duyên; tịnh tướng là nhân. Đối với sân, tác ý không như lý và các sự oán hận là duyên; sân tùy miên là nhân. Đối với hôn trầm thụy miên, sự co rút là duyên; sự mệt mỏi và dao động trong khi diễn tiến là nhân. Đối với trạo cử hối quá, căn khả ái, đáng ưa, đáng nếm, và trí chưa viên mãn là duyên; dục tưởng và kiến tùy miên là nhân. Đối với hoài nghi, chín loại mạn là đối tượng, mạn tùy miên chính là duyên; hoài nghi tùy miên là nhân. Năm pháp này sanh khởi có nhân có duyên.
Tattha katamo samāropano hāro? Ime pañca nīvaraṇā cattāropi ete āsavā gaṇḍāpi † ete sallāpi ete upādānāni ete. Tesu eva bāhiresu dhammesu saṃkilesabhāgiyaṃ suttanti paññattiṃ gacchati. Ayaṃ samāropano hāro.
Therein, what is the mode of attribution? These five hindrances are also the four taints, they are also the boils, they are also the darts, they are also the clingings. In regard to those very external phenomena, it comes to be designated as the 'discourse pertaining to defilement'. This is the mode of attribution.
Trong ấy, pháp áp đặt (samāropana hāra) là gì? Năm triền cái này, bốn lậu hoặc này, chúng cũng là ung nhọt, chúng cũng là mũi tên, chúng là thủ. Chính trong các pháp ngoại tại ấy mà nó được gọi là 'kinh thuộc phần phiền não'. Đây là pháp áp đặt.
Niddiṭṭhaṃ saṃkilesikabhāgiyaṃ suttaṃ.
The discourse pertaining to the factors of defilement has been set forth.
Kinh thuộc phần ô nhiễm đã được chỉ rõ.
83. Manopubbaṅgamā dhammāti gāthā.
83. The verse: 'Mind is the forerunner of phenomena...'
83. Kệ rằng: Các pháp lấy ý làm đầu.
Tattha katamo desanā hāro? Imamhi sutte ko attho khandhavavatthānena viññāṇakkhandhaṃ deseti, dhātuvavatthānena manoviññāṇadhātuṃ, āyatanavavatthānena manāyatanaṃ, indriyavavatthānena manindriyaṃ. Tassa kiṃ pubbaṅgamā dhammā? Saṃkhittena cha dhammā pubbaṅgamā dhammā kusalamūlāni ca akusalamūlāni ca animittaṃ imamhi sutte kusalamūlaṃ desitaṃ. Tattha katamā manopubbaṅgamā dhammā? Mano tesaṃ pubbaṅgamaṃ, yathāpi balassa rājā pubbaṅgamo, evameva dhammānaṃ manopubbaṅgamā. Tattha tividhānaṃ pubbaṅgamānaṃ nekkhammacchandena abyāpādacchandena avihiṃsāchandena. Alobhassa nekkhammacchandena pubbaṅgamā. Adosassa abyāpādacchandena pubbaṅgamā. Amohassa avihiṃsāchandena pubbaṅgamā. Tattha manoseṭṭhāti manasā ime dhammā ussaṭā manena vā nimmitā. Manova imesaṃ dhammānaṃ seṭṭhoti manova imesaṃ dhammānaṃ seṭṭhajeṭṭhoti manova imesaṃ dhammānaṃ ādhipaccaṃ karotīti manoseṭṭhā. Manojavāti yattha mano gacchati. Tattha ime dhammā gacchantīti manojavā. Yathā vāto sīghaṃ gacchati añño vā koci sīghaṃ gāmako vuccate vātajavoti pakkhigāmikoti, evameva ime dhammā manena sampajāyamānā gacchanti, tattha ime dhammā gacchantīti manojavāti. Te tividhā chandasamudānitā anāvilatā ca saṅkappo. Sattavidhā ca kāyikaṃ sucaritaṃ vācasikaṃ sucaritaṃ, te dasa kusalakammapathā. Tattha manasā ce pasannenāti manokammaṃ. Bhāsati vāti vacīkammaṃ. Karoti vāti kāyakammaṃ. Imehi imasmiṃ sutte dasa kusalakammapathā paramāpi santā sīlavatā paramā. So bhavati vivattiyaṃ na lokaniyyānāya vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ bhavati. Ayaṃ desanā.
Therein, what is the mode of exposition? In this discourse, what is the meaning? By the analysis of the aggregates, it teaches the consciousness aggregate; by the analysis of the elements, the mind-consciousness element; by the analysis of the sense bases, the mind base; by the analysis of the faculties, the mind faculty. What are its forerunning phenomena? In brief, six phenomena are forerunning phenomena: the wholesome roots and the unwholesome roots. In this discourse, the wholesome root is taught. Therein, what are the phenomena of which mind is the forerunner? Mind is their forerunner. Just as a king is the forerunner of an army, even so is mind the forerunner of these phenomena. Therein, of the threefold forerunners: with the desire for renunciation, the desire for non-ill will, and the desire for non-harming. For non-greed, the desire for renunciation is the forerunner. For non-hatred, the desire for non-ill will is the forerunner. For non-delusion, the desire for non-harming is the forerunner. Therein, 'mind is chief' means these phenomena are instigated by mind or created by mind. Or, mind is the chief of these phenomena. Or, mind is the chief and foremost of these phenomena. Or, mind exercises supremacy over these phenomena; therefore, 'mind is chief'. 'Mind-swift' means wherever the mind goes, there these phenomena go; therefore, 'mind-swift'. Just as the wind goes swiftly, or some other swift-goer is called 'wind-swift' or 'bird-swift', even so these phenomena, arising together with the mind, go. Therein, these phenomena go; therefore, they are called 'mind-swift'. They are threefold: that which is brought about by desire, uncloudedness, and intention. And they are sevenfold: bodily good conduct and verbal good conduct. These are the ten wholesome courses of action. Therein, 'if with a serene mind' refers to mental action. 'Speaks' refers to verbal action. 'Acts' refers to bodily action. Through these, in this discourse, the ten wholesome courses of action are supreme, yet being virtuous is supreme. He is for failure; it does not become a discourse partaking of the habit-energy for leading out of the world. This is the mode of exposition.
Trong đó, Desanā hāra là gì? Trong kinh này, ý nghĩa là gì? Bằng cách phân định uẩn, (Đức Phật) thuyết giảng về thức uẩn; bằng cách phân định giới, (thuyết giảng về) ý thức giới; bằng cách phân định xứ, (thuyết giảng về) ý xứ; bằng cách phân định quyền, (thuyết giảng về) ý quyền. Các pháp đi trước của nó là gì? Nói tóm lại, sáu pháp là các pháp đi trước: các căn thiện và các căn bất thiện. Trong kinh này, căn thiện được thuyết giảng. Trong đó, các pháp do ý dẫn đầu là gì? Ý đi trước chúng. Giống như vua đi trước quân đội, cũng vậy, ý đi trước các pháp. Trong đó, có ba loại đi trước: bằng dục xuất ly, bằng dục vô sân, bằng dục vô hại. Đối với vô tham, dục xuất ly đi trước. Đối với vô sân, dục vô sân đi trước. Đối với vô si, dục vô hại đi trước. Trong đó, 'ý là tối thắng' có nghĩa là: các pháp này được làm cho dồi dào bởi ý, hoặc được tạo ra bởi ý. Hoặc 'ý là tối thắng trong các pháp này', hoặc 'ý là tối thắng, là bậc nhất trong các pháp này', hoặc 'ý làm chủ các pháp này', vì vậy gọi là 'ý là tối thắng'. 'Nhanh như ý' có nghĩa là: nơi nào ý đi đến, các pháp này đi đến nơi đó, vì vậy gọi là 'nhanh như ý'. Giống như gió đi nhanh, hoặc người nào đi nhanh được gọi là 'nhanh như gió' hay 'nhanh như chim', cũng vậy, các pháp này, được sinh khởi tốt đẹp bởi ý, đi đến (đối tượng); nơi đó các pháp này đi đến, vì vậy gọi là 'nhanh như ý'. Chúng có ba loại: dục được khởi lên, sự không vẩn đục, và tầm. Và có bảy loại: thân thiện hành và khẩu thiện hành. Chúng là mười thiện nghiệp đạo. Trong đó, 'với ý trong sạch' là ý nghiệp. 'Nói' là khẩu nghiệp. 'Làm' là thân nghiệp. Bằng những điều này, trong kinh này, mười thiện nghiệp đạo là cao thượng, và người có giới cũng là cao thượng. Người ấy ở trong sự thất bại, kinh không trở thành (kinh) có phần dẫn đến sự xuất ly khỏi thế gian. Đây là Desanā (hāra).
Tattha katamo vicayo hāro? Manopubbaṅgamā dhammāti kusalamūlāni ca aṭṭhaṅgasammattāni. Idaṃ suttaṃ.
Therein, what is the mode of investigation? 'Mind is the forerunner of phenomena' refers to the wholesome roots and the eight factors of rightness. This is the discourse.
Trong đó, Vicaya hāra là gì? 'Các pháp do ý dẫn đầu' là các căn thiện và tám chánh tánh. Đây là kinh (về Vicaya hāra).
Yuttīti dasannaṃ kusalakammapathānaṃ yo vipāko, so sukhavedanīyo abyāpādassaṅgamāno. Chāyāva anapāyinīti anugacchati atthi esā yutti.
This is the mode of connection: Whatever is the result of the ten wholesome courses of action, that is to be felt as pleasant, accompanied by non-ill will. 'Like a shadow that never departs' means it follows. This is the connection.
Yutti (hāra) là: Quả nào của mười thiện nghiệp đạo, quả ấy là thọ lạc, đi cùng với vô sân. 'Như bóng không rời' nghĩa là có sự đi theo sau. Đây là Yutti (hāra).
Padaṭṭhānanti aṭṭhārasannaṃ manopavicārānaṃ padaṭṭhānaṃ. Manopubbaṅgamā dhammāti sabbakusalapakkhassa ime dhammā padaṭṭhānaṃ. Manasā ce pasannenāti yo cetaso pasādo, idaṃ saddhindriyassa padaṭṭhānaṃ. Bhāsati vāti sammāvācāya. Karoti vāti sammākammantassa ca sammāvāyāmassa ca padaṭṭhānaṃ.
This is the mode of proximate cause: It is the proximate cause for the eighteen mental investigations. 'Mind is the forerunner of phenomena' means these phenomena are the proximate cause for the entire wholesome side. 'If with a serene mind' means that serenity of mind is the proximate cause for the faculty of faith. 'Speaks' is the proximate cause for Right Speech. 'Acts' is the proximate cause for Right Action and Right Effort.
Padaṭṭhāna (hāra) là: là nhân cần thiết của mười tám sự thẩm sát của ý. 'Các pháp do ý dẫn đầu' là: các pháp này là nhân cần thiết của toàn bộ phe thiện. 'Với ý trong sạch' là: sự trong sạch nào của tâm, đây là nhân cần thiết của tín quyền. 'Nói' là (nhân cần thiết) của chánh ngữ. 'Làm' là nhân cần thiết của chánh nghiệp và chánh tinh tấn.
Lakkhaṇoti iti pubbaṅgamā dhammāti vedanāpubbaṅgamāpi ete, saññāpubbaṅgamāpi ete, saṅkhārapubbaṅgamāpi ete. Ye keci dhammā sahajātā sabbe pubbaṅgamā etesaṃ dhammānaṃ. Tato naṃ sukhamanvetīti somanassamapi naṃ anveti yaṃ susukhacchāyā tadāpi naṃ sukhaṃ tadapi anveti.
This is the mode of characteristics: Thus, regarding 'forerunning phenomena'—these also have feeling as a forerunner, these also have perception as a forerunner, these also have formations as a forerunner. Whatever phenomena are co-nascent, all are forerunners of these phenomena. 'Then happiness follows him' means gladness also follows him. Whatever is a very pleasant shadow, that happiness also follows him.
Lakkhaṇa (hāra) là: 'Các pháp đi trước' là: chúng cũng do thọ dẫn đầu, chúng cũng do tưởng dẫn đầu, chúng cũng do hành dẫn đầu. Bất cứ pháp nào đồng sanh, tất cả đều đi trước các pháp này. 'Do đó, lạc đi theo người ấy' là: hỷ cũng đi theo người ấy; bóng mát của sự an lạc nào, sự an lạc ấy cũng đi theo người ấy.
84. Tattha katamo catubyūho hāro? Manopubbaṅgamāti na idaṃ ekādivacanaṃ. Kiṃ kāraṇā? Sabbe yeva ime chaviññāṇakāyā, imamhi bhagavato ko adhippāyo? Ye sukhena atthikā, te manaṃ pasādentīti ayaṃ imamhi sutte bhagavato adhippāyo. Attho pubbeyeva niddiṭṭho.
84. Therein, what is the mode of fourfold arrangement? 'Mind is the forerunner'—this is not a singular expression. What is the reason? All these are indeed the six bodies of consciousness. In this, what is the Blessed One's intention? 'Those who desire happiness should make the mind serene'—this is the Blessed One's intention in this discourse. The meaning has already been set forth.
84. Trong đó, Catubyūha hāra là gì? 'Do ý dẫn đầu' - đây không phải là lời nói về một (thức). Vì lý do gì? Tất cả chúng chính là sáu thân thức. Trong (kinh) này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? 'Những ai mong muốn hạnh phúc, họ hãy làm cho ý trong sạch' - đây là chủ ý của Đức Thế Tôn trong kinh này. Ý nghĩa đã được chỉ ra trước đây.
Yāni hi kusalamūlāni, tāni aṭṭhānisaṃsamattā hetu, ayaṃ aṭṭhaṅgiko maggo. Dasa ṭhānāni desanāhetūni desanāpaccayā niddesanā ca. Tattha yaṃ maññe dukkhena saha nāmarūpaṃ viññāṇasaccanti aṅgena kusalamūlaṃ pahīyati, ayaṃ appahīnabhūmiyaṃ samudayo. Yaṃ tesaṃ pahānā, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni. Ayaṃ āvaṭṭo hāro.
Indeed, whatever wholesome roots exist, they, being merely of eight benefits, are the generating cause; this is the path endowed with eight factors. The ten wholesome courses of action are the generating causes that are the teaching, and also the exposition of the condition that is the teaching. Therein, by the factor of 'I conceive name-and-form along with suffering as the truth of consciousness,' a wholesome root is abandoned; this is the truth of origin in the plane that is not to be abandoned. Whatever is the abandoning of these causes, this is the truth of cessation. These four are the truths. This is the mode of turning.
Quả vậy, những căn thiện nào, chúng chỉ là tám quả, là nhân; đây là Bát chi đạo. Mười nơi là nhân thuyết giảng, và là sự chỉ dẫn về duyên thuyết giảng. Trong đó, căn thiện nào được đoạn trừ bởi chi phần 'Tôi cho rằng danh sắc cùng với khổ là thức đế', đây là tập đế trong cảnh giới chưa được đoạn trừ. Sự đoạn trừ nào của chúng, đây là diệt đế. Đây là bốn đế. Đây là Āvaṭṭa hāra.
Vibhattīti –
This is the mode of analysis:
Vibhatti (hāra) là –
Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinīti.
Mind precedes all mental states, mind is their chief, they are mind-made. If with a pure mind one speaks or acts, happiness follows him like a shadow that never departs.
Các pháp do ý dẫn đầu, ý làm chủ, do ý tạo thành; nếu với ý trong sạch, nói năng hay hành động, do đó, hạnh phúc đi theo, như bóng không rời hình.
Taṃ na ekaṃsena samaṇassa vā brāhmaṇassa vā pana hoti. Tassa vā micchādiṭṭhikassa sakasatthe cittaṃ pasādeti, tena ca pasannena cittena bhāsati byākaroti na taṃ sukhamanveti na chāyāva anugāminī, dukkhameva taṃ anveti. Yathā vahantaṃ cakkaṃ padamanveti, idaṃ taṃ vibhajjabyākaraṇīyaṃ. Manasā ce pasannena kāyakammaṃ vacīkammaṃ sukhavedanīyanti samaggate sukhavedanīyaṃ micchaggate dukkhavedanīyaṃ, ayaṃ vibhatti.
This is not exclusively for a recluse or a brahmin. Or, for one with wrong view, if he makes his mind serene towards his own doctrine, and with that serene mind he speaks or explains, happiness does not follow him, just as a shadow does not follow; only suffering follows him, just as the wheel follows the footstep of the ox pulling the load. This is that which is to be answered by analysis. If with a serene mind there is bodily action or verbal action, it is to be felt as pleasant. Thus, in the case of well-performed kamma, it is to be felt as pleasant; in the case of wrongly undertaken kamma, it is to be felt as painful. This is the mode of analysis.
Điều đó không nhất thiết xảy ra cho sa-môn hay bà-la-môn. Hoặc người có tà kiến ấy làm cho tâm trong sạch đối với giáo lý của mình, và với tâm trong sạch ấy, người ấy nói, giải thích, (nhưng) hạnh phúc không đi theo người ấy, không như bóng đi theo; chỉ có khổ đi theo người ấy, giống như bánh xe đi theo dấu chân con bò kéo. Đây là điều cần được trả lời bằng cách phân tích. 'Với ý trong sạch, thân nghiệp, khẩu nghiệp là thọ lạc' (nghĩa là): khi (nghiệp) được thực hiện đúng đắn, là thọ lạc; khi (nghiệp) được thực hiện sai lầm, là thọ khổ. Đây là Vibhatti (hāra).
Tattha katamo parivattano hāro? Manopubbaṅgamā dhammāti yaṃ manasā paduṭṭhena bhāsati vā karoti vā dukkhamassānugāminī, etāniyeva dve suttāni bhāsitāni esa eva ca paṭipakkho. Vevacananti yadidaṃ manocittaṃ viññāṇaṃ manindriyaṃ manoviññāṇadhātu.
Therein, which is the mode of reversal? As for 'Mind precedes mental states': whatever one speaks or acts with a corrupted mind, suffering follows him. Just these two suttas have been spoken, and this is the very opposite. As for synonyms: namely, mind (mano), thought (citta), consciousness (viññāṇa), the mind-faculty (manindriya), and the mind-consciousness-element (manoviññāṇadhātu).
Trong đó, Parivattana hāra là gì? 'Các pháp do ý dẫn đầu' (được chuyển đổi thành): việc nào mà người ta nói hay làm với ý ô nhiễm, khổ đi theo người ấy. Chính hai kinh này đã được thuyết giảng, và đây chính là mặt đối lập. Vevacana (hāra) là: đó là ý, tâm, thức, ý quyền, ý thức giới.
Paññattīti manopubbaṅgamā dhammāti ayaṃ mano kiñci paññattiyā paññattaṃ. Dhammāti kusalakammapathapaññattiyā paññattaṃ. Manoseṭṭhāti visiṭṭhapaññattiyā paññattaṃ. Manojavāti sahapaññattiyā paññattaṃ. Cittanti nekkhammapaññattiyā paññattaṃ. Manasā ce pasannenāti saddhindriyapaññattiyā paññattaṃ. Manasā ce pasannenāti anāvilasaṅkappadutiyajjhānapaññattiyā paññattaṃ. Manasā ce pasannenāti assaddhānaṃ paṭipakkhapaññattiyā paññattaṃ. Bhāsati vāti sammāvācāpaññattiyā paññattaṃ. Karoti vāti sammākammantapaññattiyā paññattaṃ. Tato naṃ sukhamanvetīti jhānasamādhānaṃ. Indriyesu manindriyaṃ. Paṭiccasamuppāde viññāṇaṃ. Manopubbaṅgamā dhammāti mettā ca mudutā ca jhānesu dutiyaṃ jhānaṃ tatiyañca. Khandhesu saṅkhārakkhandhapariyāpanno. Dhātūsu dhammadhātu, āyatanesu dhammāyatanaṃ. Yaṃ kusalaṃ indriyesu sukhindriyañca somanassindriyañca padaṭṭhānaṃ. Imesaṃ dhammānaṃ paṭiccasamuppannānaṃ phassapaccayā sukhavedanīyo phasso sukhavedanā manopavicāresu somanassavicāro chattiṃsesu paṭhamapadesu cha somanassanekkhammassitā. Iti ayaṃ otaraṇo hāro.
As for the mode of designation (`paññatti hāra`): Regarding 'Mind precedes mental states,' this mind is designated by some designation. Regarding 'states,' it is designated by the designation of wholesome courses of action. Regarding 'mind is their chief,' it is designated by the designation of distinction. Regarding 'mind-swift,' it is designated by the designation of concomitance. Regarding 'thought,' it is designated by the designation of renunciation. Regarding 'If with a serene mind,' it is designated by the designation of the faith faculty. Regarding 'If with a serene mind,' it is designated by the designation of the second jhāna which has untroubled thought. Regarding 'If with a serene mind,' it is designated by the designation of the opposite of the faithless. Regarding 'or speaks,' it is designated by the designation of right speech. Regarding 'or acts,' it is designated by the designation of right action. Regarding 'Thence happiness follows him,' it is the designation of the establishment of jhāna. Among the faculties, it is the mind-faculty. In dependent origination, it is consciousness. Regarding 'Mind precedes mental states,' it is loving-kindness and gentleness, and among the jhānas, the second jhāna and the third. Among the aggregates, it is included in the aggregate of formations. Among the elements, the dhamma-element; among the sense bases, the dhamma-base. Whatever is wholesome, among the faculties, the pleasure faculty and the joy faculty are the proximate cause. For these dependently arisen states, because of contact as condition, there is pleasant feeling; contact is pleasant feeling. Mind, among minds accompanied by investigation, is investigation accompanied by joy. Among the thirty-six initial items, six items are based on renunciation accompanied by joy. Thus, this is the mode of descent (`otaraṇa hāra`).
Chế định cú. (Trong câu) ‘các pháp lấy ý làm đầu,’ ‘ý’ này được chế định bằng một loại chế định nào đó. (Trong từ) ‘các pháp,’ được chế định bằng chế định về thiện nghiệp đạo. (Trong từ) ‘lấy ý làm tối thắng,’ được chế định bằng chế định đặc thù. (Trong từ) ‘do ý tạo ra,’ được chế định bằng chế định đồng sanh. (Trong từ) ‘tâm,’ được chế định bằng chế định về xuất ly. (Trong câu) ‘với ý trong sạch,’ được chế định bằng chế định về tín quyền. (Trong câu) ‘với ý trong sạch,’ được chế định bằng chế định về thiền thứ hai có sự suy tư không bị vẩn đục. (Trong câu) ‘với ý trong sạch,’ được chế định bằng chế định về đối nghịch của những người không có đức tin. (Trong từ) ‘nói,’ được chế định bằng chế định về chánh ngữ. (Trong từ) ‘làm,’ được chế định bằng chế định về chánh nghiệp. (Trong câu) ‘do đó, hạnh phúc đi theo người ấy,’ (có nghĩa là) sự an lập của thiền. Trong các quyền, (đó là) ý quyền. Trong duyên khởi, (đó là) thức. (Trong câu) ‘các pháp lấy ý làm đầu,’ (đó là) tâm từ và sự nhu hòa. Trong các thiền, (đó là) thiền thứ hai và thiền thứ ba. Trong các uẩn, (đó là) được bao gồm trong hành uẩn. Trong các giới, (đó là) pháp giới; trong các xứ, (đó là) pháp xứ. Điều thiện nào trong các quyền, (đó là) lạc quyền và hỷ quyền, là trạng thái cận nhân. Trong các pháp này đã đồng sanh khởi do duyên, do xúc làm duyên, xúc có thọ lạc, thọ lạc, trong các ý tầm, tầm có hỷ. Trong ba mươi sáu câu đầu, sáu câu nương vào xuất ly có hỷ. Như vậy, đây là Dẫn nhập cú.
Tattha katamo sodhano hāro? Yaṃ atthaṃ ārabbha idaṃ suttaṃ bhāsitaṃ. So attho niyutto etamatthaṃ ārabbha suttaṃ. Ayaṃ sodhano hāro.
Therein, which is the mode of purification (`sodhana hāra`)? With reference to which meaning was this sutta spoken? That meaning is applied. The sutta was spoken with reference to this meaning. This is the mode of purification (`sodhana hāra`).
Ở đây, Thanh lọc cú là gì? Kinh này được thuyết giảng nhân ý nghĩa nào, ý nghĩa ấy đã được liên kết. Kinh (được thuyết giảng) nhân ý nghĩa này. Đây là Thanh lọc cú.
85. Tattha katamo adhiṭṭhāno hāro? Manopubbaṅgamā dhammāti vevacanapaññatti, na ekattapaññatti. Dhammāti ekato na vevacanapaññatti. Manasā ce pasannenāti so pasādo dvidho ajjhattañca abyāpādāvikkhambhanabahiddhā ca okappanato. So ajjhattapasādo dvidho. Samugghātapasādo ca vikkhambhanapasādo ca byāpādapariyuṭṭhānaṃ. Vighāto na mūlapasādo jātamūlampi vā. Pasādo sabyāpādaṃ vighātena. Tato naṃ sukhamanvetīti sukhaṃ kāyikañca cetasikañca appiyavippayogopi piyasampayogopi nekkhammasukhampi puthujjanasukhampi pītisambojjhaṅgampi cetasikaṃ sukhaṃ. Yampi passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, tampi kāyikaṃ sukhaṃ bojjhaṅgā ca cetasikaṃ sukhaṃ. Yampi passaddhakāyo sukhaṃ vedesi, tampi tañca sukhapadaṭṭhānaṃ paññattiyā yathāvuttaṃ taṃ aparāmaṭṭhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ. Anvetīti appanā sandissati na cāyaṃ vā pattabhūto anveti. Tadidaṃ suttaṃ dvīhi ākārehi adhiṭṭhātabbaṃ. Hetunā ca yo pasannamānaso vipākena ca yo dukkhavedanīyo.
85. Therein, which is the mode of determination (`adhiṭṭhāna hāra`)? As for 'Mind precedes mental states,' it is a designation by synonym, not a designation of a single meaning. As for 'states,' it is a designation of a single group, not a designation by synonym. As for 'If with a serene mind,' that serenity is twofold: internal, and external through suppression of ill will, by way of intention. That internal serenity is twofold regarding the obsession of ill will: serenity by eradication and serenity by suppression. Destruction is not the root-serenity, nor has it an arisen root. Serenity is attained by destroying that which is accompanied by ill will. As for 'Thence happiness follows him,' there is happiness that is both bodily and mental: separation from the unloved and union with the loved, the happiness of renunciation and the happiness of a worldling; the enlightenment factor of rapture is mental happiness. Whatever happiness one with a tranquil body feels, that too is bodily happiness, and the enlightenment factors are mental happiness. Whatever happiness one with a tranquil body feels, that and that tranquil body are the proximate cause of happiness. As stated in the mode of designation, that state of being unattached belongs to wholesome states. As for 'follows,' absorption appears, but it does not follow as having been attained. This sutta is to be determined in two aspects: by way of cause, one whose mind is serene; and by way of result, that which is to be felt as suffering.
85. Ở đây, Quyết định cú là gì? (Trong câu) ‘các pháp lấy ý làm đầu,’ (đây là) chế định đồng nghĩa, không phải chế định đơn nghĩa. (Trong từ) ‘các pháp,’ (đây là) chế định đơn nghĩa, không phải chế định đồng nghĩa. (Trong câu) ‘với ý trong sạch,’ sự trong sạch ấy có hai loại: nội tâm và ngoại tâm là sự trấn áp sân hận, do sự tin tưởng. Sự trong sạch nội tâm ấy có hai loại: sự trong sạch do đoạn trừ và sự trong sạch do trấn áp sự ám ảnh của sân hận. (Sự ám ảnh) đã bị loại bỏ, không phải là sự trong sạch tận gốc hoặc có gốc đã sanh. Sự trong sạch (là) do đã loại bỏ pháp có sân hận. (Trong câu) ‘do đó, hạnh phúc đi theo người ấy,’ (có nghĩa là) lạc thuộc thân và lạc thuộc tâm, sự xa lìa người không ưa thích, sự sum họp với người ưa thích, lạc xuất ly, lạc của phàm nhân, hỷ giác chi, lạc thuộc tâm. Lạc nào mà người có thân an tịnh cảm thọ, đó cũng là lạc thuộc thân. Các giác chi cũng là lạc thuộc tâm. Lạc nào mà người có thân an tịnh cảm thọ, lạc ấy và (thân an tịnh) ấy có lạc làm trạng thái cận nhân. Như đã nói trong Chế định cú, điều không bị chấp thủ ấy (thuộc) về các pháp thiện. (Từ) ‘đi theo’ (có nghĩa là) an chỉ được thấy. Và người đã đạt đến không đi theo. Kinh này nên được quyết định bằng hai phương diện: do nhân, là người có tâm trong sạch, và do quả, là thọ khổ.
Parikkhāroti bhagavā pañcasatena bhikkhusaṅghena nagaraṃ pavisati rājagahaṃ. Tattha manusso puggalo bhagavantaṃ parivisati, tassa pasādo uppanno kusalamūlapubbayogāvacaropi. So aññesañca akkhāti, idaṃ vācaṃ bhāsati lābhā tesaṃ, yesaṃ nivesanaṃ bhagavā pavisati, amhākampi yadi bhaveyya mayampi bhagavato saṃpasādaṃ lacchamhāti. Yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā ‘‘namo bhagavato namo bhagavato’’ti abyāpādamāno ekamante aṭṭhāsi. Tadanantare bhagavā imaṃ suttaṃ abhāsittha ‘‘manopubbaṅgamā dhammā’’ti. Sabbaṃ suttaṃ tathā yaṃ paresaṃ bhāsati idaṃ vācākammaṃ. Yaṃ añjaliṃ paṇāmeti, idaṃ kāyakammaṃ. Yo manopasādo, idaṃ manokammaṃ. Tattha yaṃ paresaṃ pakāseti bhāsati vaṇṇaṃ. Yesaṃ bhagavā nivesanaṃ gacchatīti. Sabbaṃ tassa alobho kusalamūlaṃ. Yaṃ bhagavati mettacitto, tassa adoso kusalamūlaṃ. Yaṃ añjaliṃ paṇāmeti mānañca niggaṇhāti, tatthassa amoho kusalamūlaṃ pātubhavati. Yaṃ uḷārapaññaṃ paṭilabhati, idamassa diṭṭhivipallāsappahānaṃ. Yaṃ tathāyeva saṃvaro hoti, idamassa saññāvipallāsappahānaṃ. Yaṃ manassa pasādanaṃ, idamassa cittavipallāsappahānanti akusalavipallāsānaṃ vikkhambhanaṃ pahānaṃ paccayo. Tīṇi kusalamūlāni yo anāvilacittasaṅkappo, so tassa manasikāroti vuccati. Yaṃ kilesehi vikkhambhanaṃ iti vipallāsā ca ārammaṇā sappaccayatāya paccayo kusalamūlāni ca sandissayatāya paccayo, so ca manasikāro hetunā iminā paccayena cittaṃ uppannaṃ. Tattha yaṃ sasatthārammaṇaṃ cittaṃ pavattaṃ ayaṃ buddhānussati. Yampi bhagavato guṇe manasi karoti, ayamassa dhammānussati. Tattha satisampajaññaṃ hetu, ayañca paccayo. Vācā paññā hetu vitakkavicārā paccayo. Kāyasaṅkhārā kammassa abhisaṅkhāro nāma hetu vā appaccayo sukhavedanīyassa kammassa upacayo hetukā kammassa paccayo.
As for the mode of analysis (`parikkhāra hāra`): The Blessed One, with a company of five hundred bhikkhus, enters the city of Rājagaha. There, a human person attends upon the Blessed One, and faith arises in him; he is one who possesses previous practice of wholesome roots. He also tells others, speaking these words: 'It is a gain for them, for those whose house the Blessed One enters. If he were to enter our house too, we too would gain faith in the Blessed One.' Having extended his joined hands in the direction where the Blessed One was, saying, 'Homage to the Blessed One! Homage to the Blessed One!', being without ill will, he stood to one side. Immediately after that, the Blessed One spoke this discourse: 'Mind precedes mental states.' Likewise, whatever discourse he speaks to others, this is verbal action. That he extends his joined hands, this is bodily action. That there is serenity of mind, this is mental action. Therein, that he proclaims and speaks the praise of the Buddha to others, saying, 'Those whose house the Blessed One goes to...'—all this for him is non-greed as a wholesome root. That his mind has loving-kindness towards the Blessed One, for him this is non-hatred as a wholesome root. That he extends his joined hands and suppresses conceit, therein for him non-delusion as a wholesome root becomes manifest. That he obtains sublime wisdom, this for him is the abandoning of the perversion of view. That there is restraint in the same way, this for him is the abandoning of the perversion of perception. That there is gladdening of the mind, this for him is the abandoning of the perversion of consciousness. Thus, the suppression and abandoning of unwholesome perversions is a condition. The three wholesome roots and the unsullied mental resolve, this is called his attention. The suppression from defilements—and thus the perversions—are a condition by way of having an object with its condition. The wholesome roots are a condition by way of being discernible. And that attention, through this generative cause and this support condition, is the arisen mind. Therein, the mind that has occurred with the Teacher as its object, this is the recollection of the Buddha. And that he gives attention to the qualities of the Blessed One, this is his recollection of the Dhamma. Therein, mindfulness and clear comprehension are a generative cause, and this is also a support condition. Speech and wisdom are a generative cause; initial and sustained thought are a support condition. Bodily formations and what is called the volitional formation of kamma are a generative cause or a non-condition. The accumulation of kamma to be felt as pleasant is a generative cause. The accumulation of bodily action is a support condition.
Trang bị cú. Đức Thế Tôn cùng với năm trăm vị Tỳ khưu Tăng đi vào thành Vương Xá. Ở đó, một người phục vụ Đức Thế Tôn, sự trong sạch của người ấy sanh khởi, cũng là người có thiện căn, hành vi tốt trong quá khứ. Người ấy nói với những người khác, nói lời này: “Thật là lợi ích cho những người mà nhà của họ Đức Thế Tôn đi vào. Nếu Ngài cũng vào nhà của chúng ta, chúng ta cũng sẽ có được sự trong sạch đối với Đức Thế Tôn.” Hướng về nơi Đức Thế Tôn, người ấy chắp tay và nói: “Nam mô Đức Thế Tôn, nam mô Đức Thế Tôn,” rồi với tâm không sân hận, đứng một bên. Ngay sau đó, Đức Thế Tôn thuyết kinh này: “Các pháp lấy ý làm đầu.” Tất cả kinh mà người ấy nói với người khác như vậy, đó là khẩu nghiệp. Việc chắp tay, đó là thân nghiệp. Sự trong sạch của ý, đó là ý nghiệp. Ở đây, việc người ấy tuyên bố, nói lên phẩm hạnh cho người khác: “Những ai mà Đức Thế Tôn đi vào nhà của họ...” Tất cả (hành động) của người ấy có vô tham làm thiện căn. Việc có tâm từ đối với Đức Thế Tôn, (hành động) của người ấy có vô sân làm thiện căn. Việc chắp tay và chế ngự ngã mạn, ở đó vô si làm thiện căn của người ấy hiện khởi. Việc người ấy đạt được trí tuệ cao thượng, đây là sự đoạn trừ kiến điên đảo của người ấy. Việc có sự thu thúc như vậy, đây là sự đoạn trừ tưởng điên đảo của người ấy. Việc làm cho ý trong sạch, đây là sự đoạn trừ tâm điên đảo của người ấy. Sự trấn áp, đoạn trừ các điên đảo bất thiện là duyên. Ba thiện căn, sự suy tư của tâm không vẩn đục, đó được gọi là tác ý của người ấy. Sự trấn áp các phiền não, các điên đảo này là duyên do có đối tượng làm duyên, và các thiện căn là duyên do sự hiển hiện. Và tác ý ấy, do nhân này, do duyên này, tâm đã sanh khởi. Ở đây, tâm nào đã khởi lên lấy Bậc Đạo Sư làm đối tượng, đây là niệm Phật. Việc người ấy tác ý đến các ân đức của Đức Thế Tôn, đây là niệm Pháp của người ấy. Ở đây, chánh niệm và tỉnh giác là nhân, và đây cũng là duyên. Lời nói, trí tuệ là nhân; tầm và tứ là duyên. Thân hành, sự cố ý tạo tác của nghiệp được gọi là nhân hoặc không phải duyên. Sự tích tập của nghiệp có thọ lạc là nhân, (sự tích tập) của nghiệp là duyên.
86. Tattha katamo samāropano hāro? Manasāyeva pasannena satoyevettha pasanno api ca cittavodānā sattā vimuccantīti tena sattā cittapubbaṅgamā cittena pasannena cetanāpi tattha cittabhūtā bhavantīti paṭighā ayaṃ cetanānaṃ pasādena kāyo cassa pasādo, so ca ārabhati pasādena pasanno saññānanti cassa aviparītā, so pañcavidho vikkhambhanā, kāyapassambhanāyevā pasādo cittasito cittaṃ pana pubbaṃyeva pasannaṃ. Ayaṃ samāropanā. Evaṃ pañcannampi pasādo. Tato naṃ sukhamanvetīti katamaṃ bhagavā niddisati? Na hi attasaccaṃ tassa kammassa vipāko anveti. Tassa upāyo anugacchati yadā sitapaccayā uppajjate somanassaṃ avippaṭisāropi anveti. Ayaṃ samāropano hāro.
86. Herein, what is the Samāropana hāra? By a serene mind alone, being mindful, one has faith herein. Furthermore, because 'beings are liberated through the purification of mind,' by that, beings are preceded by mind. By a serene mind, volitions also become mind-made therein. Through the serenity of volitions free from aversion, this body of his is also serene. And he strives with serenity. Serenity is perception, and for him it is unperverted. This serenity is fivefold: suppression. The serenity that is the very calming of the body is dependent on the mind, but the mind is already serene beforehand. This is Samāropanā. Thus is the serenity of the five. As for 'Thence happiness follows him,' what does the Blessed One indicate? Surely not the truth of self. The result of that kamma follows. The means for it follows. When, conditioned by a smile, gladness arises, non-remorse also follows. This is the Samāropana hāra.
86. Trong ấy, samāropana hāra là gì? Chỉ với tâm trong sáng, chỉ với chánh niệm, ở đây có sự trong sạch. Và lại nữa, do tâm thanh tịnh, chúng sanh được giải thoát. Do đó, chúng sanh có tâm dẫn đầu. Với tâm trong sáng, tư cũng trở thành tâm ở đó. Do sự trong sạch của các tư, thân này của người ấy cũng trong sạch từ sự sân hận. Và người ấy nỗ lực với sự trong sạch. Sự trong sạch là tưởng, và tưởng của người ấy không sai lệch. Sự trong sạch ấy có năm loại: sự trấn áp, sự khinh an của thân, sự trong sạch nương vào tâm, còn tâm thì đã trong sạch từ trước. Đây là samāropanā. Như vậy là sự trong sạch của cả năm. ‘Do đó, lạc đi theo sau’ – Đức Thế Tôn chỉ điều gì? Không phải là tự ngã đế. Quả của nghiệp ấy đi theo sau. Phương tiện của nghiệp ấy đi theo sau. Khi do nhân duyên mỉm cười mà hỷ sanh khởi, sự không hối hận cũng đi theo sau. Đây là samāropana hāra.
Mahānāma sakkassa suttaṃ †. Tasmiṃ ce samaye assato asampajāno kālaṃ kareyya kāme bhavati. Assato abhisamāhāro yo mā bhāyi, mahānāma, yaṃ taṃ cittaṃ dīgharattaṃ saddhāparibhāvitaṃ sīlaparibhāvitaṃ sutacāgaparibhāvitanti vitthārena kātabbaṃ. Cāgena ca paññāya ca kiṃ dasseti? Yā saddhā, sā cetaso pasādo. Yā anāvilasaṅkappitā, sā saddhā. Kiṃ kāraṇā? Anāvilalakkhaṇā. Anāvilalakkhaṇā hi saddhā. Apare āhu guṇaparisuddhiniṭṭhāgamanalakkhaṇā, yañca apare vā vacanapaṭiggahalakkhaṇā saddhā. Aparo pariyāyo attānaṃ yadi evaṃ okappeti ‘‘nāhaṃ kiñci jānāmīti esā ahaṃ tattha anuññattā anaññatā’’ti. Ayaṃ saddhāti. Aparo pariyāyo ekasaṭṭhiyā diṭṭhigatānaṃ ādīnavānupassanā aniccaṃ dukkhamanattāti. Tena ca padiṭṭhaṃ bhavati yathā gambhīre udapāne udakaṃ cakkhunā passati na ca kāyena abhisambhunāti. Evamassa ariyā nijjhānakkhantiyā diṭṭhi bhavati, na ca sacchikatā. Ayaṃ vuccati saddhā. Sā ca lokikā. Aparo pariyāyo khamati puthujjanabhūtassa vīsati cāti ko sakkāyādhīnā na niveso. Na etaṃ ekanti nayasaññā yathābhūtaṃ diṭṭhiyā tu khalu mudūhi pañcahi indriyehi dassanamaggena pahīnā bhavanti. Diṭṭhekaṭṭhā ca kilesā, ayaṃ saddhā.
There is the sutta of Mahānāma the Sakyan. In that sutta, it is said: 'If at that time one, being unmindful and not clearly comprehending, were to die, one is reborn in the sense-sphere.' One who is unmindful is urged on. 'Mahānāma, do not fear! That mind of yours which for a long time has been imbued with faith, imbued with virtue, imbued with learning and generosity...'—this should be stated in full. And by generosity and by wisdom, what does it show? Whatever faith there is, that is serenity of mind. That which is an unsullied resolve, that is faith. For what reason? It has the characteristic of being unsullied. Indeed, faith has the characteristic of being unsullied. Others say it has the characteristic of arriving at the completion of the purity of virtues. And others say faith has the characteristic of accepting the word. Another exposition: If one places trust in oneself thus: 'I know nothing.' Thus, for me, this faith, because it is permitted in that context of serenity, becomes something not other than that. This is called faith. Another exposition: The contemplation of the danger in the sixty-one wrong views, seeing them as impermanent, suffering, and not-self. And by that it becomes seen, just as one sees water in a deep well with the eye but cannot reach it with the body. So too for him, through reflective acceptance of the noble truths, view arises, but it is not realized. This is called faith. And that is mundane. Another exposition: One who is a worldling approves of the twenty types of identity view. Thus, what is the non-adherence connected with identity view? This is not one thing. Thus, the perception of the method as it really is. As for wrong view, it is indeed abandoned by the five tender faculties and by the path of seeing. And there are defilements that are of the same station as view. This is faith.
Kinh Mahānāma người Thích Ca. Nếu vào lúc ấy, người ấy chết trong trạng thái thất niệm, không tỉnh giác, thì sanh vào cõi Dục. Người thất niệm có sự nỗ lực nào, chớ sợ hãi, này Mahānāma, tâm ấy của ông đã được huân tập lâu ngày bởi tín, được huân tập bởi giới, được huân tập bởi văn và thí xả, nên được trình bày rộng rãi. Do thí xả và trí tuệ, điều gì được chỉ ra? Tín nào, đó là sự trong sạch của tâm. Sự không có ý định khuấy động nào, đó là tín. Vì lý do gì? Vì có đặc tính không khuấy động. Vì tín có đặc tính không khuấy động. Những người khác nói: có đặc tính đi đến sự hoàn tất của sự thanh tịnh về phẩm chất, và những người khác lại nói: tín có đặc tính tiếp nhận lời nói. Một phương pháp khác: nếu người ấy tự mình tin tưởng như vầy: ‘Tôi không biết gì cả, tôi ở đây được cho phép, không phải là người khác.’ Đây là tín. Một phương pháp khác: sự quán xét nguy hiểm trong sáu mươi mốt tà kiến là vô thường, khổ, vô ngã. Do đó, điều ấy được thấy, giống như trong giếng sâu, người ta thấy nước bằng mắt nhưng không thể chạm tới bằng thân. Cũng vậy, đối với người ấy, có kiến do sự kham nhẫn quán xét các pháp bậc Thánh, nhưng không có sự chứng ngộ. Đây được gọi là tín. Và tín ấy là thế gian. Một phương pháp khác: người phàm phu chấp nhận hai mươi loại, vậy sự không chấp thủ nào phụ thuộc vào thân kiến? Đây không phải là một, đó là nhận thức về phương pháp. Theo như thật, tà kiến chắc chắn được đoạn trừ bởi năm căn mềm yếu và bởi đạo kiến. Và các phiền não cùng loại với tà kiến, đây là tín.
Sotāpattaṅgamadukkhāyaṃ bhūmiyaṃ paripuṇṇā vuccati. Tasmiṃyeva bhūmiyaṃ sekkhasīlaṃ ariyā dhāranti vuccati. Tasmiṃyeva bhūmiyaṃ mudupaññā paññindriyanti vuccati. Tasmiṃyeva bhūmiyaṃ khandhehi anatthikatā, ayaṃ cāgo. Tasmā saddhā cāgādhiṭṭhānena niddisitabbā. Yatikena † bhiyyo manena sā hissa viparītā diṭṭhikā assaddhā, sā nayanaupadhīsu pamattā samādinnā. Tattha saddhindriyaṃ yo kāmaṃ parivissanti iti santapāpapaṭinissaggā na cāgādhiṭṭhānaṃ paññindriyena paññādhiṭṭhānaṃ, sīlena upasamādhiṭṭhānaṃ. Ime cattāro dhammā sīlaṃ paribhāvayanti saddhā sīlaṃ cāgo ca paññāti. Tattha saddhāya oghaṃ tarati. Yaṃ sīlaṃ, ayaṃ appamādo. Yo cāgo, idaṃ paññāya kammaṃ. Yā paññā, idaṃ paññindriyaṃ, tattha yaṃ saddhindriyaṃ. Taṃ tīsu aveccappasādesu. Yaṃ sīlaṃ, taṃ saddhindriyesu. Yo cāgo, so catūsu jhānesu. Yā paññā, sā saccesu, sati sabbatthagāminī. Tassa sekkhassa bhaddikā bhati, bhaddiko abhisamparāyo. Tassa sammuṭṭhassatikassa sīlaṃ karontassa na kāyasammuṭṭhassatitāya tāni vā indriyāni taṃ vā kusalamūlaṃ kammavipākaṃ bhavati. Tassa tikassa atthaniddeso. Tattha saddhā sīlaṃ cāgo paññā cattāro dhammā. Yā saddhā yā ca paññā, idaṃ manosucaritaṃ. Yaṃ sīlaṃ, idaṃ kāyikaṃ vācasikaṃ sucaritaṃ. Yo cāgo, idaṃ cetasikaṃ alobho sucaritaṃ. Iti citte gahite pañcakkhandhā gahitā bhavanti. Imehi dhammehi sucaritaṃ idaṃ dukkhañca ariyasaccaṃ padaṭṭhānaṃ maggassa.
The factor of stream-entry is said to be fulfilled in the sphere that is without suffering. In that very sphere, the noble ones are said to uphold the virtue of a trainee. In that very sphere, tender wisdom is called the faculty of wisdom. In that very sphere, there is disinterest in the aggregates; this is relinquishment. Therefore, faith should be designated as having relinquishment as its foundation. For a monk, through an excessive mind, there would be perverted faithlessness, which is indeed that wrong view. That wrong view, being heedless regarding the substrates of the method, is undertaken. Therein, regarding the faculty of faith, the view 'Whoever will attend to sensual pleasure...' is held; thus, this is not the foundation of relinquishment through the abandoning of manifest evil. The foundation of wisdom is through the faculty of wisdom; the foundation of tranquility is through virtue. These four qualities—faith, virtue, relinquishment, and wisdom—cultivate virtue. Therein, one crosses the flood by faith. Whatever is virtue, this is heedfulness. Whatever is relinquishment, this is the work of wisdom. Whatever is wisdom, this is the faculty of wisdom. Therein, whatever is the faculty of faith, that consists in unwavering confidence in the three jewels. Whatever is virtue, that is for those without faith. Whatever is relinquishment, that is in the four jhānas. Whatever is wisdom, that is in the truths; mindfulness is all-pervading. For that trainee, there is a good provision and a good future destination. For one with confused mindfulness who practices virtue, because of the state of having confused mindfulness regarding the body, neither those faculties nor that wholesome root become the result of kamma. This is the exposition of the meaning of the triad. Therein, faith, virtue, relinquishment, and wisdom are four qualities. Whatever is faith and whatever is wisdom, this is mental good conduct. Whatever is virtue, this is bodily and verbal good conduct. Whatever is relinquishment, this is mental non-greed, good conduct. Thus, when the mind is grasped, the five aggregates are grasped. By these qualities, good conduct is accomplished. This suffering, the noble truth, is the proximate cause of the path.
Yếu tố của bậc Dự lưu được gọi là viên mãn trong cảnh giới không khổ. Trong chính cảnh giới ấy, các bậc Thánh được gọi là giữ gìn giới của bậc hữu học. Trong chính cảnh giới ấy, trí tuệ mềm yếu được gọi là tuệ quyền. Trong chính cảnh giới ấy, có sự không quan tâm đến các uẩn, đây là sự thí xả. Do đó, tín nên được chỉ ra với nền tảng là sự thí xả. Với tâm của người tu sĩ càng lúc càng sai lệch, tà kiến và vô tín của người ấy, do buông lung trong các căn cứ của phương pháp, đã được chấp thủ. Ở đây, tín quyền là người nào sẽ hưởng thụ dục lạc, như vậy, do từ bỏ các ác pháp hiện hữu, không phải là nền tảng thí xả. Với tuệ quyền là nền tảng trí tuệ, với giới là nền tảng an tịnh. Bốn pháp này: tín, giới, thí xả và trí tuệ, làm cho giới phát triển. Ở đây, người ấy vượt qua bộc lưu bằng tín. Giới nào, đây là sự không buông lung. Sự thí xả nào, đây là nghiệp của trí tuệ. Trí tuệ nào, đây là tuệ quyền. Ở đây, tín quyền nào, đó là ở trong ba sự bất động tịnh tín. Giới nào, đó là ở trong các tín quyền. Sự thí xả nào, đó là ở trong bốn thiền. Trí tuệ nào, đó là ở trong các đế, niệm đi đến khắp nơi. Đối với bậc hữu học ấy, có hành trang tốt đẹp, có cảnh giới sau tốt đẹp. Đối với người thất niệm khi đang giữ giới, do sự thất niệm nơi thân, các căn ấy hoặc căn bản thiện ấy không trở thành quả của nghiệp. Sự giải thích ý nghĩa của bộ ba ấy. Ở đây, tín, giới, thí xả, trí tuệ là bốn pháp. Tín nào và trí tuệ nào, đây là ý thiện hành. Giới nào, đây là thân thiện hành và khẩu thiện hành. Sự thí xả nào, đây là tâm sở vô tham, là thiện hành. Như vậy, khi tâm được nắm bắt, năm uẩn được nắm bắt. Bởi các pháp này, có thiện hành, đây là khổ thánh đế và là nền tảng của đạo.
87. Tattha katamo vicayo hāro? Yā ca saddhā yañca sīlaṃ. Taṃ kissa karoti? Yā saddhā tāya bhagavantaṃ anussarati mattenapi hatthinā samāgatā, assa bho kukkurā sabbaṃ sīlena nappaṭipajjati kāyena vā vācāya vā ṭhānaṃ visārado bhavatīti avippaṭisārī paññā yassa paññattaṃ upaṭṭhapeti. Tassa akhaṇḍassa sīlaṃ yaṃ na pacchi tassaṃ mohassa akusalacittaṃ uppajjati micchādiṭṭhisahagataṃ vā, ayaṃ vicayo hāro. Dhammavādino bhaddikārāti bhavissati atthi esā yutti.
87. Herein, what is the investigative mode? Whatever faith and whatever virtue there is, what does it accomplish? Through that faith, one recollects the Blessed One, even when confronted by a maddened elephant. Through virtue, one does not engage in every action by body or speech, and one becomes confident in one's standing. Being without remorse, wisdom establishes for one what has been designated. For that one whose virtue is unbroken and does not cease, due to delusion, an unwholesome mind accompanied by wrong view arises. This is the investigative mode. Those who speak the Dhamma will be doers of good. There is this rationale.
87. Trong ấy, vicaya hāra là gì? Tín nào và giới nào. Điều đó làm gì? Tín nào, do tín ấy, người ấy niệm tưởng đến Đức Thế Tôn, dù gặp phải voi say. Này các bạn, loài chó không thực hành tất cả bằng giới, bằng thân hay bằng lời. Người ấy trở nên dũng cảm ở một nơi, do đó, người không hối hận, trí tuệ thiết lập sự quy định cho người ấy. Đối với người có giới không bị phá vỡ, giới nào không bị cắt đứt, trong sự si mê của người ấy, tâm bất thiện sanh khởi, hoặc đi kèm với tà kiến. Đây là vicaya hāra. Người nói pháp sẽ là người làm điều tốt lành, có sự hợp lý này.
Tattha katamo padaṭṭhāno hāro? Yamidaṃ cittaṃ dīgharattaṃ paribhāvitaṃ saddhāya sīlena cāgena paññāya samādhinā paṭhamajjhānassa padaṭṭhānaṃ. Yā saddhā assa anāvilasaṅkappo, taṃ dutiyajjhānassa padaṭṭhānaṃ. Tīṇi ca aveccappasādā yaṃ sīlaṃ, taṃ ariyakantaṃ, taṃ sīlakkhandhassa padaṭṭhānaṃ. Yā paññā, sā paññākkhandhassa padaṭṭhānaṃ. Ime ca dhammā idañca cittaṃ ekodibhūtasamādhissa padaṭṭhānaṃ. Saddhā saddhindriyassa padaṭṭhānaṃ. Cāgo samādhindriyassa padaṭṭhānaṃ. Paññā paññindriyassa padaṭṭhānaṃ. Saddhā ca paññā ca vipassanā padaṭṭhānaṃ. Sīlañca cāgo ca samathassa padaṭṭhānaṃ. Saddhā ca paññā ca avijjā virāgāya paññāvimuttiyā padaṭṭhānaṃ. Sīlañca cāgo ca rāgavirāgāya cetovimuttiyā padaṭṭhānaṃ.
Herein, what is the mode of proximate cause? That mind which has long been developed by faith, virtue, relinquishment, wisdom, and concentration is the proximate cause for the first jhāna. The faith that is an unclouded resolve is the proximate cause for the second jhāna. The three kinds of unwavering confidence and that virtue which is dear to the noble ones—these are the proximate cause for the aggregate of virtue. Whatever is wisdom, that is the proximate cause for the aggregate of wisdom. These qualities and this mind are the proximate cause of unified concentration. Faith is the proximate cause for the faculty of faith. Relinquishment is the proximate cause for the faculty of concentration. Wisdom is the proximate cause for the faculty of wisdom. Faith and wisdom are the proximate cause for insight. Virtue and relinquishment are the proximate cause for serenity. Faith and wisdom are the proximate cause for liberation by wisdom through the fading away of ignorance. Virtue and relinquishment are the proximate cause for liberation of mind through the fading away of lust.
Trong ấy, padaṭṭhānahāra là gì? Tâm nào đã được tu tập trong thời gian dài với tín, giới, thí, tuệ, định, (tâm ấy) là nền tảng của sơ thiền. Tín nào là tầm không bị vẩn đục, tín ấy là nền tảng của nhị thiền. Và giới nào là sự tịnh tín bất động trong ba ngôi báu, giới ấy được các bậc Thánh ưa thích, giới ấy là nền tảng của giới uẩn. Tuệ nào, tuệ ấy là nền tảng của tuệ uẩn. Các pháp này và tâm này là nền tảng của định nhất tâm. Tín là nền tảng của tín quyền. Thí là nền tảng của định quyền. Tuệ là nền tảng của tuệ quyền. Tín và tuệ là nền tảng của minh sát. Giới và thí là nền tảng của chỉ. Tín và tuệ là nền tảng cho tuệ giải thoát, sự ly tham khỏi vô minh. Giới và thí là nền tảng cho tâm giải thoát, sự ly tham khỏi tham ái.
Tattha katamo lakkhaṇo hāro? Viññāṇe vutte saddhāsatibhāvite sabbe pañcakkhandhā vuttā bhavanti. Saddhāya bhaṇitāya sabbāni satta dhanāni bhaṇitāni honti saddhādhanaṃ…pe… sīlakkhandhe vutte samādhikkhandho ca paññākkhandho ca vuttā bhavanti. Yaṃ taṃ cittaṃ dīgharattaṃ paribhāvitaṃ pacchimake kāle na tadanuparivatti bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Tattha saññāpi tadanuparivattinī bhavati. Yepi tajjātikā dhammā, tepi tadanuparivattino bhavanti. Rūpasaññā rūpasañcetanānupassanamanasikāro evaṃ channaṃ āyatanānaṃ viññāṇakāye, ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Herein, what is the mode of characteristics? When consciousness is mentioned, and faith and mindfulness are developed, all five aggregates are said to be mentioned. When faith is mentioned, all seven treasures—the treasure of faith and so on—are mentioned. When the aggregate of virtue is mentioned, the aggregate of concentration and the aggregate of wisdom are also said to be mentioned. That the mind which has long been developed will not be conforming in the final moment—this is not a possible case. Therein, perception also becomes conforming. Whatever phenomena are of a similar nature, they also become conforming. Perception of form, volition regarding form, and attention to contemplation—thus there is conformity in the consciousness-group of the six sense bases. This is the mode of characteristics.
Trong ấy, lakkhaṇahāra là gì? Khi thức được nói đến, khi tín và niệm được tu tập, tất cả năm uẩn được xem là đã được nói đến. Khi tín được nói đến, tất cả bảy thánh tài được xem là đã được nói đến: tín tài...v.v... Khi giới uẩn được nói đến, định uẩn và tuệ uẩn được xem là đã được nói đến. Tâm nào đã được tu tập trong thời gian dài, không có trường hợp vào thời điểm sau cùng nó sẽ không tương ứng theo (tâm ấy). Trong đó, tưởng cũng tương ứng theo (tâm ấy). Các pháp nào cùng loại với tâm ấy, các pháp ấy cũng tương ứng theo (tâm ấy). Sắc tưởng, sắc tư, sự tùy quán tác ý, như vậy trong thân thức của sáu xứ. Đây là lakkhaṇahāra.
Tattha katamo catubyūho hāro? Idha sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye bhaddikaṃ bhatiṃ ākaṅkheyya bhaddikañca abhisamparāyaṃ, te saddhaṃ sīlaṃ cāgaṃ paññañca manasi karissanti, ayaṃ adhippāyo. Ye caññepi sattā tathāgatassa sammukhaṃ na paṭiyujjhante, imaṃ dhammaṃ sotā avippaṭisārato kālaṃ karissantīti, ayaṃ adhippāyo.
Herein, what is the fourfold arrangement mode? What is the Blessed One's intention in this sutta? Those who desire a good provision and a good future destination should apply faith, virtue, relinquishment, and wisdom to their minds—this is the intention. And those other beings who do not contend with the Tathāgata to his face, having heard this Dhamma, will pass away without remorse—this is the intention.
Trong ấy, catubyūhahāra là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai mong muốn tư lương tốt đẹp và đời sau tốt đẹp, họ sẽ tác ý đến tín, giới, thí, và tuệ; đây là chủ ý. Và những chúng sanh khác không gặp được Đức Như Lai, những người nghe pháp này sẽ mệnh chung không hối tiếc; đây là chủ ý.
88. Tattha katamo āvaṭṭo hāro? Idampi cattāro dhammā saddhā ca paññā ca assaddhiyañca avijjañca hananti. Sīlañca cāgo ca taṇhā ca dosañca hananti. Tassa dve mūlāni pahīyanti. Dukkhaṃ nivatteti appahīnabhūmiyañca dvimūlāni pañcakkhandhā. Dve ariyasaccāni samatho ca vipassanā ca. Dvinnaṃ mūlānaṃ pahānaṃ. Imāni dve saccāni nirodho ca maggo ca. Ayaṃ āvaṭṭo hāro.
88. Herein, what is the revolving mode? Here also, faith and wisdom destroy faithlessness and ignorance. Virtue and relinquishment destroy craving and aversion. For that one, two roots are abandoned. One turns away suffering. And in the unabandoned sphere, the five aggregates have two roots. Serenity and insight are two noble truths. There is the abandoning of the two roots. These two truths are cessation and the path. This is the revolving mode.
88. Trong ấy, āvaṭṭahāra là gì? Ở đây cũng vậy, bốn pháp: tín và tuệ diệt trừ vô tín và vô minh; giới và thí diệt trừ tham ái và sân hận. Hai căn nguyên của vị ấy được đoạn trừ. (Vị ấy) làm cho khổ chấm dứt. Và trong cảnh giới chưa đoạn trừ có hai căn nguyên và năm uẩn. Hai thánh đế là chỉ và quán. Sự đoạn trừ hai căn nguyên. Hai đế này là diệt và đạo. Đây là āvaṭṭahāra.
Tattha katamo vibhatti? Yaṃ taṃ cittaṃ saddhāparibhāvitaṃ…pe… sace puthujjanassa tassapi bhaddikā bhati bhavissatīti na ekaṃsena tassa kammaṃ diṭṭheyeva dhamme vipākanti paccessati, aparamhi vā pariyāye bhavissati. Yaṃ vā atītaṃ vipākāya paccupaṭṭhitaṃ, tappaccayāni cetāni, ye yathā mahākammavibhaṅge ‘‘tenāyaṃ vibhajjabyākaraṇiyo niddeso dhammacārino yā bhaddikā bhatī’’ti.
Herein, what is the Vibhatti (Analysis)? That mind which is developed with faith... if for that ordinary person there will be a good provision, one will not believe for certain that the kamma will result in this very life; or it will be in another existence. Or whatever past kamma is present for its result, these have that as their cause, as is stated in the Mahākammavibhaṅga: 'Therefore, this explanation, "the good provision for one who practices the Dhamma," is one that requires analysis.'
Trong ấy, vibhattihāra là gì? Tâm nào được tu tập với tín...v.v... Nếu phàm nhân ấy cũng sẽ có tư lương tốt đẹp, người ấy sẽ không tin một cách chắc chắn rằng nghiệp của mình trổ quả ngay trong hiện tại, mà (tin rằng) nó sẽ xảy ra trong đời sau. Hoặc nghiệp quá khứ nào đã hiện khởi để trổ quả, những quả này có nghiệp ấy làm duyên, như đã được nói trong kinh Đại Phân Biệt Nghiệp: 'Do đó, lời chỉ dẫn này 'tư lương tốt đẹp của người hành pháp' cần được giải thích bằng cách phân tích'.
Tattha katamā parivattanā? Assaddhiyaṃ dussīlyaṃ yaṃ maccheraṃ duppaññaṃ ca † yañca paṭipakkhena pahīnā bhavanti, ayaṃ parivattanā.
Herein, what is the Parivattanā (Transformation)? When lack of faith, immorality, stinginess, and lack of wisdom are abandoned by their opposites, this is the Parivattanā.
Trong ấy, parivattanāhāra là gì? Vô tín, ác giới, sự keo kiệt nào, và sự vô trí nào, (tất cả) được đoạn trừ bởi các pháp đối trị, đây là parivattanāhāra.
Tattha katamaṃ vevacanaṃ? Yaṃ taṃ cittaṃ dīgharattaṃ paribhāvitaṃ cittaṃ manoviññāṇaṃ…pe… yaṃ saddhābalaṃ saddhindriyaṃ, yaṃ sīlaṃ taṃ sucaritaṃ, saṃyamo niyamo damo khandhatā imāni tassa vevacanāni. Yo cāgo so paṭinissaggo alobho vosaggo cāgoyiṭṭhānaṃ. Yā paññā sā paññattā paññappabhā paññindriyaṃ paññābalaṃ.
Herein, what is the Vevacana (Synonym)? That mind which has been developed for a long time is mind, mind-consciousness... Whatever is the power of faith, the faculty of faith. Whatever is virtue, that is good conduct, restraint, discipline, taming, the state of being an aggregate—these are its synonyms. Whatever is relinquishment, that is abandoning, non-greed, giving up, giving away, offering. Whatever is wisdom, that is detailed knowledge, the light of wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom.
Trong ấy, vevacanahāra là gì? Tâm nào được tu tập trong thời gian dài, (từ đồng nghĩa của) tâm là ý thức...v.v... Tín lực nào, tín quyền nào, giới nào, giới ấy là thiện hạnh, sự phòng hộ, sự chế ngự, sự điều phục, bản chất của uẩn, đây là những từ đồng nghĩa của nó. Sự xả thí nào, sự xả thí ấy là sự từ bỏ, vô tham, sự buông bỏ, sự xả thí, sự cúng dường. Tuệ nào, tuệ ấy là sự hiểu biết, ánh sáng trí tuệ, tuệ quyền, tuệ lực.
Tattha katamā paññatti? Yaṃ taṃ cittaṃ bījaṃ paññattiyā paññattaṃ. Paribhāvanā vāsanā paññattiyā paññatti. Saddhā pasādapaññattiyā paññattā. Sīlaṃ sucaritapaññattiyā paññattaṃ. Cāgo puññakiriyapaññattiyā paññatto. Paññā vīmaṃsapaññattiyā paññattā. Ime tayo dhammā saddhā sīlaṃ cāgo paññavato pārisuddhiṃ gacchanti.
Herein, what is the Paññatti (Designation)? That mind, the seed, is made known by designation. Development is made known by the designation of habit-energy. Faith is made known by the designation of clarity. Virtue is made known by the designation of good conduct. Relinquishment is made known by the designation of meritorious action. Wisdom is made known by the designation of investigation. These three qualities—faith, virtue, and relinquishment—attain to the purity of one who has wisdom.
Trong ấy, paññattihāra là gì? Tâm nào là hạt giống, được chế định bởi sự chế định. Sự tu tập được chế định bởi sự chế định về tập quán. Tín được chế định bởi sự chế định về tịnh tín. Giới được chế định bởi sự chế định về thiện hạnh. Thí được chế định bởi sự chế định về việc làm phước. Tuệ được chế định bởi sự chế định về sự thẩm sát. Ba pháp này: tín, giới, thí, đối với người có trí tuệ, chúng đi đến sự thanh tịnh.
Tattha katamo otaraṇo? Yaṃ cittaṃ, taṃ khandhesu viññāṇakkhandho, dhātūsu manoviññāṇadhātu, āyatanesu manāyatanaṃ. Ye cattāro dhammā, te khandhesu saṅkhārakkhandhe pariyāpannā…pe… dhātūsu āyatanesu.
Herein, what is the Otaraṇa (Descent)? That which is mind is, among the aggregates, the consciousness aggregate; among the elements, the mind-consciousness element; among the sense bases, the mind base. Those four phenomena are included, among the aggregates, in the formations aggregate... and so forth, among the elements and sense bases.
Trong ấy, otaraṇahāra là gì? Tâm nào, tâm ấy trong các uẩn là thức uẩn, trong các giới là ý thức giới, trong các xứ là ý xứ. Bốn pháp nào, các pháp ấy trong các uẩn được bao gồm trong hành uẩn...v.v... trong các giới (được bao gồm trong pháp giới) và trong các xứ (được bao gồm trong pháp xứ).
Tattha katamo sodhano hāro? Idaṃ bhagavato bhāsitaṃ mahānāmena sakkena pucchitena sabbaṃ taṃ niyuttaṃ.
Herein, what is the Sodhana (Purification) mode? This was spoken by the Blessed One in response to a question by Mahānāma the Sakyan; all of it is relevant.
Điều này được Đức Thế Tôn thuyết giảng do Mahānāma dòng Thích Ca hỏi, tất cả điều đó đều hợp lý.
Tattha katamo adhiṭṭhāno? Idaṃ cittaṃ vemattatāya paññattaṃ akusalehi cittehi aparibhāvitehi paribhāvitanti yāni puna paribhāvitāni aññesampi tattha upādāya paññattaṃ sabbepime cattāro dhammā ekattatāya paññattā. Bhaddikā bhatīti kāmabhogino teva rūpadhātu arūpadhātu manussāti sabbā bhaddikā bhati tadeva kathāya paññattaṃ, ayaṃ paññatti.
Herein, what is the Adhiṭṭhāna (Determination)? This mind is designated as distinct from undeveloped, unwholesome minds, and as developed. Again, those that are developed are also designated there in dependence on other things. All these four phenomena are designated as a unity. As for 'a good provision': enjoyers of sensual pleasures, the form realm, the formless realm, and humans—all are a good provision. That very thing is designated by this statement. This is the designation.
Trong ấy, adhiṭṭhānahāra là gì? Tâm này được chế định là có sự khác biệt, (tâm) đã được tu tập so với các tâm bất thiện chưa được tu tập. Những tâm nào lại được tu tập, cũng được chế định dựa vào các pháp khác ở đó. Tất cả bốn pháp này được chế định là một thể thống nhất. 'Tư lương tốt đẹp' là: những người hưởng thụ dục lạc, cõi sắc, cõi vô sắc, cõi người, tất cả đều là tư lương tốt đẹp; chính điều đó được chế định bởi lời nói. Đây là sự chế định.
Tattha katamo parikkhāro? Cittassa indriyāni paccayo ādhipateyyapaccayatāya manasikāro. Hetupaccayatāya paccayo. Saddhāya lokikā paññā hetupaccayatāya paccayo. Yoniso ca manasikāro paccayo. Sīlassa patirūpadesavāso paccayo. Attasammāpaṇidhānañca hetu. Cāgassa alobho hetu. Avippaṭisāro ca hetupaccayo. Paññā parato ca ghoso ajjhattañca yoniso manasikāro hetupaccayo ca.
Herein, what is the Requisite? The faculties are a condition for the mind by way of dominance condition. Attention is a condition by way of root condition. For faith, worldly wisdom is a condition by way of root condition. And wise attention is a condition. For virtue, living in a suitable place is a condition. And right resolve of oneself is a root cause. For relinquishment, non-greed is a root cause. And non-regret is a root condition. Wisdom, the voice of another, and internal wise attention are a root cause and a condition.
Trong ấy, Parikkhāra là gì? Các căn là duyên của tâm do là chủ duyên, tác ý là duyên do là nhân duyên. Trí tuệ hiệp thế là duyên của tín do là nhân duyên. Và như lý tác ý là duyên. Trú ở nơi thích hợp là duyên của giới. Và sự hướng tâm đúng đắn là nhân. Vô tham là nhân của sự xả thí. Và sự không hối hận là nhân duyên. Trí tuệ, tiếng nói từ người khác, và như lý tác ý bên trong cũng là nhân duyên.
Tattha katamo samāropano? Yaṃ taṃ cittaṃ dīgharattaṃ paribhāvitanti cetasikāpi. Ettha sabbe dhammā paribhāvitā bhaddikā te bhati bhavissati, bhaddikā upapattiko abhisamparāyo. Iti ye keci manussakā upabhogaparibhogā sabbe bhaddikā bhatiyeva, ayaṃ samāropano.
Herein, what is the Projection? As that mind has been developed for a long time, so too have the mental factors. Herein, if all phenomena are developed, there will be a good provision for you; there will be a good rebirth and future destination. Thus, whatever human enjoyments and possessions there are, all are indeed a good provision. This is the Projection.
Trong ấy, Samāropana là gì? Tâm nào được tu tập trong thời gian dài, các tâm sở cũng vậy. Ở đây, khi tất cả các pháp được tu tập, chúng sẽ là lương thực tốt đẹp cho ngươi, sự tái sanh và đời sau sẽ tốt đẹp. Như vậy, bất cứ vật dụng và đồ dùng nào của con người, tất cả đều là lương thực tốt đẹp. Đây là Samāropana.
89. Uddhaṃ adho sabbadhi vītarāgoti gāthā †. Tattha kiṃ uddhaṃ nāma? Yaṃ ito uddhaṃ bhavissati anāgāmī, idaṃ uddhaṃ. Adho nāma yamatikkantamatītaṃ, idamavoca apadānatanti uddhaṃ. Tattha atītena sassatadiṭṭhi pubbantākappikānaṃ aparantadiṭṭhi kesañci, ucchedadiṭṭhiṃ yaṃ † vuttakappikānaṃ imā ceva diṭṭhiyo ucchedadiṭṭhi ca sassatadiṭṭhi ca. Tatthāyaṃ sassatadiṭṭhi imāni pannarasa padāni sakkāyadiṭṭhi sassataṃ bhajanti. Rūpavantaṃ me attā, attani me rūpaṃ, rūpaṃ me attāti yaduccate paññaṃ paridahanti. Yā ucchedadiṭṭhi sā pañcasatāni ucchedaṃ bhajanti. Te ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti passanti, rūpaṃ me attāti tathārūpā catubbidhā sakkāyadiṭṭhi ucchedena ca sassatena ca. Evaṃ pañcasu khandhesu vīsativatthukāya diṭṭhiyā pannarasa padāni pubbantaṃ bhajanti. Sassatadiṭṭhiyā pañca padāni aparantaṃ bhajanti ucchedadiṭṭhiyā. Tattha ‘‘ayamahamasmī’’ti passantā rūpaṃ attato samanupassati, so ucchedavādī rūpavantañca attānaṃ, attani ca rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attāti so passati cāti iti ucchedadiṭṭhi ca, attato paṭissarati sassatadiṭṭhi pubbantato ca paṭissarati. ‘‘Ayamahamasmī’’ti na samanupassati. Tassa diṭṭhāsavā pahānaṃ gacchanti. Yo tīsu addhāsu pubbante ca aparante ca tena tena niddiṭṭhānena uddhaṃ adho sabbadhi vītarāgo ‘‘ahamasmī’’ti na anupassatīti iminā dvārena iminā payogena iminā upāyena idaṃ dassanabhūmi ca sotāpattiphalañca so ariyo payogo anabhāvaṃgatena saṃsārena apunabbhavāti yo koci ariyo payogo punabbhavāya mudūni vā pañcindriyāni majjhāni adhimattāni vā sabbaṃ apunabbhavappahānāya saṃvattanti. Ahanti diṭṭhogho kāmogho bhavogho avijjogho ca odhiso. Tattha desanāhārena cattāri saccāni pañcahi indriyehi sotāpattiphalena ca dve saccāni maggo ca nirodho ca. Sakkāyasamudayena dve saccāni dukkhañca samudayo ca, ayaṃ desanā hāro.
89. There is the verse: 'Above, below, and everywhere, free from passion.' Therein, what is 'above'? Whatever is to come in the future from this point, that is 'above.' What is 'below'? That which is past and has gone by. This was stated... the Apadāna text is 'above.' Therein, with respect to the past, there is the eternalist view for those who speculate on the past; for some, there is the view of the future end; and for those who speculate on what has been said, there is the annihilationist view which they grasp. These are the views: the annihilationist view and the eternalist view. Therein, this eternalist view and these fifteen instances of personality view adhere to eternalism. 'My self has form,' 'in my self is form,' 'form is my self'—what is said thus burns up wisdom. The annihilationist view and the five types of views adhere to annihilation. They see, 'that which is the life-principle is the body,' and 'form is my self.' Such is the fourfold personality view, through both annihilationism and eternalism. Thus, in the five aggregates, in the view with twenty bases, fifteen instances adhere to the past. In the eternalist view, five instances adhere to the future end; in the annihilationist view, five instances adhere to the future end. Therein, one who sees 'this I am' closely considers form as self; he, being an annihilationist, sees the self as possessing form, form in the self, or the self in form. Thus, by the annihilationist view, one recollects in terms of a self, and the eternalist view recollects with respect to the past. One does not closely consider 'this I am.' For him, the cankers of views are abandoned. Whoever, in the three times—the past, the future, and both—is free from passion above, below, and everywhere through each and every indicated point, does not repeatedly see 'I am.' Through this door, through this endeavor, through this method, this is the ground of vision and the fruit of stream-entry. That noble one, endowed with effort, having gone to non-existence in saṃsāra, has no further becoming. Any noble one endowed with effort, whether their five faculties are soft, medium, or supreme, all conduce to the abandoning of further becoming. In the term 'I am', there are the flood of views, the flood of sensual desire, the flood of existence, and the flood of ignorance—these are the four divisions. Therein, by the mode of teaching, the four truths are taught through the five faculties. And by the fruit of stream-entry, two truths are taught: the path and cessation. By the arising of personality, two truths are taught: suffering and its origin. This is the mode of teaching.
89. Có câu kệ: "Ly tham ở trên, dưới, và khắp nơi". Trong đó, "trên" là gì? Cái gì sẽ xảy ra ở trên, tức là vị lai, đó là "trên". "Dưới" là cái đã trôi qua, quá khứ. Điều này được nói trong Apadāna, đó là "trên". Trong đó, đối với những người suy tưởng về quá khứ, thường kiến liên quan đến quá khứ; đối với một số người là hậu biên kiến; đoạn kiến của những người suy tưởng về điều đã được nói. Chính là những tà kiến này: đoạn kiến và thường kiến. Trong đó, thường kiến này, mười lăm trường hợp thân kiến này, đi theo thường kiến. "Tự ngã của ta có sắc", "sắc ở trong tự ngã của ta", "sắc là tự ngã của ta", điều được nói này làm thiêu đốt trí tuệ. Đoạn kiến nào, năm trăm (quan điểm) đó đi theo đoạn kiến. Họ thấy rằng "sinh mạng đó là thân thể đó", "sắc là tự ngã của ta". Thân kiến có bốn loại như vậy, với đoạn kiến và thường kiến. Như vậy, trong năm uẩn, với tà kiến có hai mươi cơ sở, mười lăm trường hợp đi theo quá khứ. Với thường kiến, năm trường hợp đi theo vị lai; với đoạn kiến (cũng vậy). Trong đó, người thấy "đây là ta" thì quán sắc là tự ngã; người theo đoạn kiến đó thấy rằng "tự ngã có sắc", "sắc ở trong tự ngã", hoặc "tự ngã ở trong sắc". Như vậy, đoạn kiến nhớ lại từ tự ngã, và thường kiến nhớ lại từ quá khứ. Người không quán rằng "đây là ta", các lậu hoặc về tà kiến của người ấy được đoạn trừ. Người nào trong ba thời, ở quá khứ và vị lai, theo cách đã chỉ ra, ly tham ở trên, dưới, và khắp nơi, không tùy quán rằng "ta là", bằng cửa này, bằng sự nỗ lực này, bằng phương tiện này, đây là kiến địa và Tu-đà-hoàn quả. Vị Thánh ấy, với sự nỗ lực, đã đi đến chỗ không còn tồn tại, không còn tái sanh trong vòng luân hồi. Bất kỳ vị Thánh nào có nỗ lực, dù năm căn là hạ, trung, hay thượng, tất cả đều dẫn đến sự đoạn trừ việc tái sanh. "Ta là" là kiến bộc, dục bộc, hữu bộc, và vô minh bộc, có bốn phần. Trong đó, bằng Desanā hāra, bốn chân lý (được thuyết): với năm căn và Tu-đà-hoàn quả là hai chân lý: Đạo và Diệt. Với sự sanh khởi của thân kiến là hai chân lý: Khổ và Tập. Đây là Desanā hāra.
Tattha katamo vicayo? ‘‘Ayamahamasmī’’ti asamanupassanto tīṇi dassanappahātabbāni saṃyojanāni pajahati. Ayaṃ vicayo.
Herein, what is the Investigation? Not closely considering 'this I am,' one abandons the three fetters that are to be abandoned by vision. This is the Investigation.
Trong ấy, Vicaya là gì? Người không quán rằng "đây là ta" đoạn trừ ba kiết sử cần được đoạn trừ bằng kiến đạo. Đây là Vicaya.
Tattha katamā yutti? Tividhā puggalā koci ugghaṭitaññū koci vipañcitaññū koci neyyo. Ugghaṭitaññū tikkhindriyo ca tato vipañcitaññū mudindriyo tato mudindriyehi neyyo. Tattha ugghaṭitaññū tikkhindriyatāya dassanabhūmimāgamma sotāpattiphalaṃ pāpuṇāti, ekabījako bhavati. Ayaṃ paṭhamo sotāpanno. Vipañcitaññū mudūhi indriyehi dassanabhūmimāgamma sotāpattiphalaṃ pāpuṇāti, kolaṃkolo ca hoti. Ayaṃ dutiyo sotāpanno. Tattha neyyo dassanabhūmimāgamma sotāpattiphalaṃ pāpuṇāti, sattakkhattuparamo ca bhavati. Ayaṃ tatiyo sotāpanno.
Herein, what is the Suitability? There are three kinds of persons: one who understands upon utterance, one who understands upon elaboration, and one who is to be guided. The one who understands upon utterance has keen faculties; below that, the one who understands upon elaboration has soft faculties; below that, with soft faculties, is the one who is to be guided. Therein, the one who understands upon utterance, due to the keenness of their faculties, having come to the ground of vision, attains the fruit of stream-entry; he becomes a 'one-seeder.' This is the first stream-enterer. The one who understands upon elaboration, with soft faculties, having come to the ground of vision, attains the fruit of stream-entry; he becomes a 'clan-to-clan' attainer. This is the second stream-enterer. Therein, the one who is to be guided, having come to the ground of vision, attains the fruit of stream-entry; he becomes one who is 'at most seven-more-times.' This is the third stream-enterer.
Trong ấy, Yutti là gì? Có ba loại người: một số là Ugghaṭitaññū, một số là Vipañcitaññū, một số là Neyya. Ugghaṭitaññū có căn tánh lanh lợi, sau đó Vipañcitaññū có căn tánh chậm lụt, sau đó Neyya có căn tánh chậm lụt hơn. Trong đó, Ugghaṭitaññū do có căn tánh lanh lợi, dựa vào kiến địa, đạt đến Tu-đà-hoàn quả, trở thành Nhất chủng tử. Đây là vị Tu-đà-hoàn thứ nhất. Vipañcitaññū với các căn chậm lụt, dựa vào kiến địa, đạt đến Tu-đà-hoàn quả, và trở thành Gia-gia. Đây là vị Tu-đà-hoàn thứ hai. Trong đó, Neyya dựa vào kiến địa, đạt đến Tu-đà-hoàn quả, và trở thành Thất lai. Đây là vị Tu-đà-hoàn thứ ba.
Atthi esā yutti mudumajjhādhimattehi indriyehi mudumajjhādhimattaṃ bhūmiṃ sacchikareyya sakkāyadiṭṭhippahānena vā diṭṭhigatāni pajahati. Ayaṃ yutti.
This is the suitability: with faculties that are soft, medium, or supreme, one should realize a soft, medium, or supreme ground. And by abandoning personality view, one abandons wrong views. This is the Suitability.
Có sự hợp lý này: với các căn hạ, trung, thượng, nên chứng ngộ các địa vị hạ, trung, thượng; hoặc bằng cách đoạn trừ thân kiến, đoạn trừ các tà kiến. Đây là Yutti.
Tattha katamo padaṭṭhāno? Tattha sakkāyadiṭṭhi sabbamicchādiṭṭhiyā padaṭṭhānaṃ. Sakkāyo nāmarūpassa padaṭṭhānaṃ. Nāmarūpaṃ sakkāyadiṭṭhiyā padaṭṭhānaṃ. Pañca indriyāni rūpīni rūparāgassa padaṭṭhānaṃ. Saḷāyatanaṃ ahaṃkārassa padaṭṭhānaṃ. Tattha katamo lakkhaṇo? Dvīsu diṭṭhīsu pahīnāsu tattha ekā diṭṭhi diṭṭhigatāni pahānaṃ gacchanti. Uddhaṃ ca adho ca vītarāgo sabbarajanīyesu vītarāgo hoti. Tajjā parabhūmiyaṃ, idaṃ paccayanti yathābhūtaṃ passati. So sabbapaṭiccasamuppādaṃ āmasati. Ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Herein, what is the Proximate Cause? Here, personality view is the proximate cause for all wrong views. Personality is the proximate cause for name-and-form. Name-and-form is the proximate cause for personality view. The five material faculties are the proximate cause for lust for form. The six sense bases are the proximate cause for the making of 'I'. Herein, what is the Characteristic? When the two views are abandoned, then the one view and the wrong views go to abandonment. Above and below, being free from passion, one is free from passion in all that is enticing. In another realm corresponding to that, one sees 'this is conditioned' as it actually is. He touches upon all of dependent origination. This is the mode of Characteristic.
Trong ấy, Padaṭṭhāna là gì? Trong đó, thân kiến là nhân gần của tất cả tà kiến. Thân kiến là nhân gần của danh sắc. Danh sắc là nhân gần của thân kiến. Năm căn có sắc là nhân gần của sắc ái. Sáu xứ là nhân gần của ngã mạn. Trong ấy, Lakkhaṇa là gì? Khi hai tà kiến được đoạn trừ, trong đó một tà kiến và các tà kiến khác được đoạn trừ. Ly tham ở trên và dưới, trở nên ly tham trong tất cả những gì đáng tham ái. Ở địa vị khác tương ứng với điều đó, vị ấy thấy như thật rằng "cái này có duyên". Vị ấy quán xét toàn bộ lý duyên khởi. Đây là Lakkhaṇa hāra.
90. Tattha katamo catubyūho hāro? Imamhi sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye sattā ye nābhiramissanti, te diṭṭhippahānāya vāyamissanti. Ayamettha bhagavato adhippāyo. Ayaṃ catubyūho hāro.
90. Herein, what is the Fourfold Arrangement? In this discourse, what is the Blessed One's intention? Those beings who will delight in this teaching will strive to abandon wrong views. This is the Blessed One's intention here. This is the Fourfold Arrangement.
90. Trong ấy, Catubyūha hāra là gì? Trong kinh này, ý định của Đức Thế Tôn là gì? Những chúng sanh nào hoan hỷ với giáo pháp nào, họ sẽ nỗ lực để đoạn trừ tà kiến. Đây là ý định của Đức Thế Tôn ở đây. Đây là Catubyūha hāra.
Tattha katamo āvaṭṭo hāro? Yānimāni mudūni pañcindriyāni tāni orambhāgiyāni pañcindriyāni. Sabbena sabbaṃ samūhananti abhijjhābyāpādo ca bhāvanākārena sekkhāya vimuttiyā balaṃ saddhā, uddhambhāgiyāni diṭṭhivasena balaṃ saddhā, vīriyindriyaṃ ārabhitattā satindriyaṃ paggahitattā accantaṃ niṭṭhaṃ gacchanti. Tattha yāni indriyāni, ayaṃ maggo saṃkilesappahānaṃ. Ayaṃ nirodho āyatiṃ anuppādadhammo, idaṃ dukkhaṃ. Ayaṃ āvaṭṭo hāro.
Herein, what is the mode of revolving? These five soft faculties are the five faculties pertaining to the lower part. They completely uproot covetousness and ill will. By way of cultivation, for the trainee's liberation, faith is a power. For the higher fetters, by means of view, faith is a power. The faculty of energy, because it is initiated, and the faculty of mindfulness, because it is exerted, reach the ultimate conclusion. Therein, whatever faculties there are, this is the path for the abandoning of defilements. This is cessation, a state of non-arising in the future. This is suffering. This is the mode of revolving.
Ở đây, āvaṭṭa hāra là gì? Năm căn mềm yếu nào, chúng là năm căn thuộc hạ phần. Tham ái và sân hận bị nhổ bật lên một cách hoàn toàn. Do cách thức tu tập, đối với sự giải thoát của bậc hữu học, tín là sức mạnh. Đối với các (kiết sử) thượng phần, do năng lực của kiến, tín là sức mạnh. Do đã được khởi sự, tấn căn; do đã được nâng đỡ, niệm căn đi đến sự hoàn tất một cách tuyệt đối. Ở đây, các căn nào (có mặt), đây là đạo, là sự đoạn trừ phiền não. Đây là diệt, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai, đây là khổ. Đây là āvaṭṭa hāra.
Tattha katamo vibhatti hāro? ‘‘Ayamahamasmī’’ti yo samanupassati, so ca kho adhimattena lokikā yaṃ bhūmiyaṃ na tu ariyena payogena so sakkāyadiṭṭhi pajahati. Yaṃ vuccati tajjāya bhūmiyā adhimattāya. Tattha tajjāya bhūmiyaṃ pañcahi ākārehi adhimattataṃ paṭilabhati sīlena vatena bāhussaccena samādhinā nekkhammasukhena. Tattha appatte pattasaññī adhimānaṃ gaṇhāti. Etasmiṃyeva vatthuppattiyaṃ bhagavā idaṃ suttaṃ bhāsati. Sīlavā vatamattenāti. Tattha yo appatte pattasaññī tassa yo samādhi, so sāmiso kāpurisasevito pana so kāpurisā vuccanti puthujjanā. Āmisaṃ yañca ariyamaggamāgamma lokikā anariyaṃ tena samādhi hoti anariyo kāpurisasevito. Yo pana ariyākārena yathābhūtaṃ na jānāti na passati †, so adhigamanaṃ pajahati yo ariyena samādhinā akāpurisasevitena nirāmisena nīyati, tattha akāpurisā vuccanti ariyapuggalā. Yo tehi sevito samādhi, so akāpurisasevito. Tasmā ekaṃ vibhajjabyākaraṇīyaṃ ‘‘ayamahamasmī’’ti asamanupassanto tathā pāteti.
Herein, which is the mode of analysis of distinctions? Whoever repeatedly observes, 'This I am,' that person is indeed in the worldly plane with an excessive faculty, but not with the effort associated with the noble path; thus, that person does not abandon the personality view. This is called 'by the excessive [faculty] in the plane suitable for that [noble path].' There, in the plane suitable for that [noble path], one obtains the state of having an excessive faculty in five ways: through virtue, through observance, through great learning, through concentration, and through the bliss of renunciation. There, one who has the perception of having attained what has not been attained grasps conceit. On this very occasion, the Blessed One speaks this discourse: 'Virtuous by mere observance.' There, for one who has the perception of having attained what has not been attained, whatever concentration he has, that concentration is with sensual bait and is frequented by inferior persons. Ordinary people are called inferior persons. Relying on the noble path that is connected with sensual bait, one is called worldly; because of that, the concentration becomes ignoble. The ignoble is frequented by inferior persons. But whoever does not know and does not see things as they really are in a noble manner, that person abandons attainment. Whoever is led out by noble concentration—which is frequented by non-inferior persons and is without sensual bait—there, noble individuals are called non-inferior persons. Whatever concentration is frequented by them is 'frequented by non-inferior persons.' Therefore, regarding a matter to be answered with analysis, one who does not repeatedly observe 'This I am' causes [it] to fall in that way.
Ở đây, vibhatti hāra là gì? Người nào thường quán xét 'Đây là ta, đây là của ta', người ấy, dù có (căn) vượt trội trong cảnh giới thế gian, không đoạn trừ được thân kiến bằng sự nỗ lực của bậc Thánh. Điều được gọi là 'vượt trội trong cảnh giới tương ứng'. Ở đây, trong cảnh giới tương ứng, người ấy đạt được sự vượt trội qua năm phương diện: giới, hạnh, đa văn, định, và lạc do xuất ly. Ở đây, chưa đạt đến mà có tưởng là đã đạt, người ấy sanh lòng tăng thượng mạn. Chính trong sự việc này, Đức Thế Tôn đã thuyết bài kinh này: 'Chỉ bằng giới và hạnh...'. Ở đây, người nào chưa đạt mà có tưởng là đã đạt, định của người ấy là định có vật chất, được kẻ hạ liệt thực hành; và những kẻ hạ liệt ấy được gọi là phàm phu. Và do nương vào thánh đạo có vật chất, (họ) là thế gian, không phải bậc Thánh; do đó, định trở thành không thánh thiện, được kẻ hạ liệt thực hành. Còn người nào không biết, không thấy đúng như thật theo cách của bậc Thánh, người ấy từ bỏ sự chứng đắc. Người nào được dẫn dắt bởi định của bậc Thánh, không do kẻ hạ liệt thực hành, không có vật chất; ở đây, những người không phải hạ liệt được gọi là các bậc Thánh. Định nào được các vị ấy thực hành, định ấy là 'không do kẻ hạ liệt thực hành'. Do đó, đây là một vấn đề cần được phân tích trả lời. Người không quán xét (đúng đắn về) 'Đây là ta, đây là của ta' thì bị rơi rớt như vậy.
Tattha katamā parivattanā? Imāya dassanabhūmiyā kilesā pahātabbā, tehi pahīyanti aniddiṭṭhāpi bhagavatā niddisitabbā yo.
Herein, what is the mode of transformation? In this ground of vision, the defilements that are to be abandoned are abandoned. And whatever meaning was not pointed out by the Blessed One is to be pointed out.
Ở đây, parivattanā là gì? Trong cảnh giới của kiến này, các phiền não cần được đoạn trừ, chúng bị đoạn trừ. Ý nghĩa nào dù không được Đức Thế Tôn chỉ rõ cũng cần được chỉ ra.
Tattha katamaṃ vevacanaṃ? Yā sakkāyadiṭṭhiyā attadiṭṭhiyā. Ayaṃ bhūmi. Ye kilesā pahātabbā. Te appahīyanti aniddiṭṭhāpi bhagavatā sassatadiṭṭhi ca ucchedadiṭṭhi ca, sā pariyantadiṭṭhi ca. Yā apariyantadiṭṭhi ca, sā sassatadiṭṭhi ca. Yā ucchedadiṭṭhi, sā natthikā diṭṭhi. Yā sassatadiṭṭhi, sā akiriyadiṭṭhi. Idaṃ vevacanaṃ.
Herein, which is the mode of synonyms? Whatever view there is in the personality view, in the self-view—this is the ground. The defilements that are to be abandoned are not abandoned. Even if not pointed out by the Blessed One, there is the view of eternalism and the view of annihilationism. That is also the view of the finite. Whatever view of the infinite there is, that is also the view of eternalism. Whatever view of annihilationism there is, that is the view of nihilism. Whatever view of eternalism there is, that is the view of non-action. This is the mode of synonyms.
Ở đây, vevacana là gì? Cái gì là thân kiến, (cái đó) là tự ngã kiến. Đây là cảnh giới (của tà kiến). Các phiền não nào cần được đoạn trừ, chúng không bị đoạn trừ. Dù không được Đức Thế Tôn chỉ rõ, (có) thường kiến và đoạn kiến. Nó cũng là hữu biên kiến. Vô biên kiến cũng là thường kiến. Đoạn kiến là hư vô kiến. Thường kiến là vô tác kiến. Đây là vevacana.
Tattha katamā paññatti? Taṇhā saṃyojanapaññattiyā paññattā. Maggo paṭilābhapaññattiyā paññatto. Indriyā paṭilābhapaññattiyā paññattāti. Tattha katamo otaraṇo? Sakkāyo dukkhaṃ dassanappahātabbo. Samudayo maggo. Indriyāni tāni ca niddiṭṭhāni khandhadhātuāyatanesu.
Herein, what is the mode of designation? Craving is designated by the designation of a fetter. The path is designated by the designation of attainment. The faculties are designated by the designation of attainment. Herein, which is the mode of entry? Personality is suffering, to be abandoned by vision. The origin and the path. And those faculties are pointed out in the aggregates, elements, and sense bases.
Ở đây, paññatti là gì? Ái được chế định bằng khái niệm kiết sử. Đạo được chế định bằng khái niệm chứng đắc. Các căn được chế định bằng khái niệm chứng đắc. Ở đây, otaraṇa là gì? Thân kiến là khổ, cần được đoạn trừ bằng kiến. Tập là đạo. Và các căn ấy được chỉ rõ trong các uẩn, giới, và xứ.
Tattha katamo sodhano hāro? Yañhi ārabbha bhagavatā idaṃ suttaṃ bhāsitaṃ, so ārabbha niddiṭṭho. Tattha katamo parikkhāro? Nāmarūpassa hetupaccayopi viññāṇaṃ hetu bījaṃ. Tena avijjā ca saṅkhārā ca paccayo. Nivattinayo na aparo pariyāyo sabbabhavo, ye ca sabbabhavassa hetu parabhaṇḍapaccayo iti sammādiṭṭhi parato ca ghoso yoniso ca manasikāro paccayo. Yā paññā uppādeti, esā hetu sammādiṭṭhiyā sammāsaṅkappo bhavati, yā sammāsamādhi †, ayaṃ parikkhāro.
Herein, which is the mode of cleansing? Concerning which teaching this discourse was spoken by the Blessed One, that teaching is pointed out as the reference. Herein, which is the mode of requisites? For name-and-form, there is a cause and a supporting condition. Consciousness is the generative cause, the seed. By that, ignorance and formations are the supporting condition. There is no other way; this is the method of turning back. All existence, and whatever generative causes of all existence, and the condition of external factors—thus, for right view, the sound of the teaching from another and wise attention are the supporting condition. The wisdom one produces, that is the generative cause. From right view, right intention comes to be. Whatever is right concentration—this is the mode of requisites.
Ở đây, sodhana hāra là gì? Nhân duyên nào mà Đức Thế Tôn đã thuyết bài kinh này, nhân duyên ấy được chỉ rõ. Ở đây, parikkhāra là gì? Nhân và duyên của danh sắc cũng là thức; (thức là) nhân, là hạt giống. Do đó, vô minh và các hành là duyên. Phương pháp xoay chuyển (luân hồi) không có cách nào khác. Toàn bộ sự hiện hữu, và các nhân của toàn bộ sự hiện hữu, là duyên như vật mượn. Như vậy là chánh kiến. Tiếng nói từ người khác và sự tác ý như lý là duyên. Tuệ nào sanh khởi, đó là nhân. Từ chánh kiến, chánh tư duy sanh khởi. Cái gì là chánh định, đây là parikkhāra.
Tattha katamo samāropano? ‘‘Ayamahamasmī’’ti asamanupassī dukkhato rogato…pe… pannarasa padāni. Sīlāni bhagavā kimatthiyāni kimānisaṃsāni. Sīlāni, ānanda, avippaṭisāratthāni yāva vimutti. Tattha duvidho attho – purisattho ca vacanattho ca.
Herein, which is the mode of imputation? One who does not repeatedly observe 'This I am' observes in terms of suffering, disease... and so on for fifteen terms. 'Blessed One, for what purpose are the virtues? What is their benefit?' 'Ānanda, the virtues are for the purpose of non-remorse, up to liberation.' Therein, the meaning is twofold: the personal meaning and the verbal meaning.
Ở đây, samāropana là gì? Người không quán xét 'Đây là ta, đây là của ta' (thì quán xét) là khổ, là bệnh... (vân vân)... mười lăm thuật ngữ. (Hỏi:) Bạch Thế Tôn, các giới có mục đích gì, có quả báu gì? (Đáp:) Này Ānanda, các giới có mục đích là sự không hối tiếc, cho đến giải thoát. Ở đây, có hai loại ý nghĩa: ý nghĩa liên quan đến cá nhân và ý nghĩa liên quan đến lời nói.
91. Tattha katamo purisattho? Yāyaṃ na pacchānutāpitā ayaṃ avippaṭisāro, ayaṃ purisattho. Yathā koci brūhayati imatthamāsevati so bhaṇeyya, kiñci mamettha adhīnaṃ tassatthāya idaṃ kiriyaṃ ārabhāmīti. Ayaṃ purisattho.
91. Herein, which is the personal meaning? This which is non-remorse afterwards is non-remorse; this is the personal meaning. Just as someone develops and frequents this meaning, he might say, 'Something here is dependent on me; for the sake of that, I undertake this action.' This is the personal meaning.
91. Ở đây, ý nghĩa liên quan đến cá nhân là gì? Sự không hối tiếc về sau này, đây là sự không hối tiếc (avippaṭisāra), đây là ý nghĩa liên quan đến cá nhân. Ví như có người làm cho tăng trưởng, thực hành ý nghĩa này, người ấy có thể nói: 'Có điều gì đó ở đây phụ thuộc vào tôi, vì lợi ích của điều đó mà tôi bắt đầu hành động này'. Đây là ý nghĩa liên quan đến cá nhân.
Tattha katamo vacanattho? Sīlāni kāyikaṃ vā vācasikaṃ vā sucaritaṃ avippaṭisāroti. Tattha sīlassa vatassa ca bhāsoyeva. Anaññā sugatakammatā sucaritaṃ ayaṃ avippaṭisāro. Evaṃ yāva vimuttīti ekamekasmiṃ pade dve atthā – purisattho ca vacanattho ca, yathā imamhi sutte evaṃ sabbesu suttesu dve dve atthā. Ayaṃ hi paramattho uttamattho ca. Yaṃ nibbānasacchikaṃ nissāya yaṃ sakaṃ sacchikātabbaṃ bhavati, so vuccati katassa † katthoti. Ayaṃ puna vevacanaṃ sampajānāti. Iminā niyuttatthamabhilabbhanti vacanattho. Tattha yaṃ atthaṃ sāvako abhikaṅkhati. Tassa yo paṭilābho, ayaṃ purisattho. Yaṃ yaṃ bhagavā dhammaṃ deseti, tassa tassa dhammassa yā atthaviññatti. Ayaṃ attho, tattha sīlānaṃ avippaṭisāro atthopi ānisaṃsopi. Eso ca ānisaṃso yaṃ duggatiṃ na gacchati. Yathā taṃ bhagavatā esānisaṃso dhamme suciṇṇe na duggatiṃ gacchati dhammacārī, ayaṃ attho.
Herein, which is the verbal meaning? Virtues—good conduct by body or speech—are for the purpose of non-remorse. Therein, it is merely the lustre of virtue and observance. Good conduct is a state not other than the deed of the Well-farer; this is non-remorse. Thus, up to 'liberation,' in each and every term there are two meanings: the personal meaning and the verbal meaning. Just as in this discourse, so too in all discourses, there are two meanings each. This is indeed the ultimate meaning and the supreme meaning. Relying on the realization of Nibbāna, that which is to be realized by oneself comes to be. That person is called 'one for whom the meaning is for what has been done.' Again, one understands this synonym well. By this, the appropriate meaning is obtained; this is the verbal meaning. Therein, whatever meaning a disciple desires, the attainment of that is the personal meaning. Whatever teaching the Blessed One teaches, the understanding of the meaning of that teaching is the meaning. Therein, for virtues, non-remorse is both the purpose and the benefit. And this benefit is that one does not go to a bad destination. As was stated by the Blessed One: 'This is the benefit of practicing the Dhamma well: the one who fares according to the Dhamma does not go to a bad destination.' This is the meaning.
Ở đây, ý nghĩa liên quan đến lời nói là gì? Các giới là thiện hạnh về thân hoặc về lời, (đưa đến) sự không hối tiếc. Ở đây, đó chính là sự tỏa sáng của giới và hạnh. Thiện hạnh không phải là gì khác hơn là hành động của bậc Thiện Thệ; đây là sự không hối tiếc. Như vậy, cho đến giải thoát, trong mỗi một thuật ngữ có hai ý nghĩa: ý nghĩa liên quan đến cá nhân và ý nghĩa liên quan đến lời nói. Giống như trong bài kinh này, cũng vậy, trong tất cả các bài kinh đều có hai ý nghĩa. Đây thực sự là ý nghĩa tối thượng, ý nghĩa cao cả nhất. Nương vào sự chứng ngộ Niết-bàn, điều gì cần được tự mình chứng ngộ, điều đó được gọi là 'ý nghĩa của việc đã được làm'. Vị này lại hiểu rõ các từ đồng nghĩa. Nhờ đó, họ đạt được ý nghĩa phù hợp; (đây là) ý nghĩa liên quan đến lời nói. Ở đây, ý nghĩa nào mà người đệ tử mong muốn, sự chứng đắc ý nghĩa đó, đây là ý nghĩa liên quan đến cá nhân. Pháp nào mà Đức Thế Tôn thuyết giảng, sự liễu tri ý nghĩa của pháp đó, đây là ý nghĩa (attha). Ở đây, sự không hối tiếc của các giới vừa là mục đích vừa là quả báu. Và quả báu này là không đi đến ác thú. Như đã được Đức Thế Tôn (nói): 'Đây là quả báu của pháp được thực hành tốt đẹp: người sống theo pháp không đi đến ác thú'. Đây là ý nghĩa.
Yaṃ puriso bhāvanābhūmiyaṃ sīlāni ārabbha sīlena saṃyutto hoti evaṃ yāva vimutti tathā sīlakkhandho. Tattha yo ca avippaṭisāro anusayavasena niddiṭṭho, tañca sīlaṃ ayaṃ sīlakkhandho. Pāmojjapītipassaddhīti ca samādhindriyena, ayaṃ samādhikkhandho. Yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ paññākkhandho. Ime tayo khandhā sīlaṃ samādhi paññā ca tathā sīlaṃ paripūreti yaṃ vīriyindriyaṃ tena kāraṇena so sīlaṃ paripūreti, anuppannassa ca akusalassa anuppādāya vāyamati, uppannassa ca pahānāya anuppannassa ca kusalassa uppādāya, uppannassa ca kusalassa bhiyyobhāvāya iti vīriyindriyaṃ niddiṭṭhaṃ. Tattha yo samādhikkhandho, idaṃ samādhindriyaṃ. Paññākkhandho paññindriyaṃ, taṃ catūsu sammappadhānesu daṭṭhabbaṃ. Tathā yo anuppannassa ca akusalassa anuppādāya vāyamati, idaṃ paṭhamaṃ sammappadhānaṃ. Yaṃ uppannassa, idaṃ dutiyaṃ. Cattāri sammappadhānāni catūsu jhānesu passitabbāni. Tathā sīlakkhandhena nekkhammadhātu ca adhikā †, tayo ca vitakkā nekkhammavitakko abyāpādavitakko avihiṃsāvitakko ca. Sādhāraṇabhūtā. Yā piyāyamānassa pāmojjena idaṃ kāyikaṃ sukhaṃ ānitaṃ aniyamītipemena, idaṃ dukkhaṃ. Yo tattha avikkhepo, ayaṃ samādhi. Idaṃ pañcaṅgikaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ. Yā cetasikā passaddhi savitakkaṃ savicāraṃ virodhanaṃ, yo kileso ca paridāho, so paṭhame jhāne niruddho. Tathā yā ca kilesapassaddhi yā ca vitakkavicārānaṃ passaddhi, ubhayepi ete dhamme passaddhāyaṃ. Tattha kāyassa cittassa ca sukhaṃ sukhāyanā, idaṃ pītisukhino passaddhi. Yopi ekodibhāvo cittassa, tena ekodibhāvena yaṃ cittassa ajjhattaṃ sampasādanaṃ, idaṃ catutthaṃ jhānaṅgaṃ. Iti ajjhattañca sampasādo cetaso ca ekodibhāvo pīti ca sukhañca, idaṃ dutiyaṃ jhānaṃ caturaṅgikaṃ. Yo passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, tena adhimattena sukhena pharitvā sukhaṃ cetasikaṃ yaṃ, so pītivītarāgo evaṃ tassa pītivītarāgatāya upekkhaṃ paṭilabhati. So pītiyā ca virāgā upekkhaṃ paṭilabhati. Sukhañca paṭisaṃvedeti. Sati ca sammā paññāya paṭilabhati. Sace sati ekaggatā idaṃ pañcaṅgikaṃ tatiyaṃ jhānaṃ. Yaṃ sukhino cittaṃ samādhiyati, ayaṃ ekaggatāya parāvidhānabhāgiyā, paṭhame jhāne atthi cittekaggatā no cakkhussa vedanā sabbaṃ pāripūriṃ gacchati. Yathā catutthe jhāne, tathā yā upekkhā passambhayaṃ satisampajaññaṃ cittekaggatā ca, idaṃ catutthaṃ jhānaṃ.
When a person on the ground of development, undertaking the precepts, is endowed with virtue—thus up to liberation—such is the aggregate of virtue. Herein, that non-remorse described by way of latent tendencies, and that virtue—this is the aggregate of virtue. And gladness, rapture, and tranquility by means of the faculty of concentration—this is the aggregate of concentration. That which one who is concentrated understands as it truly is—this is the aggregate of wisdom. These three aggregates are virtue, concentration, and wisdom. Thus, virtue fulfills the faculty of energy. For that reason, he fulfills virtue. He strives for the non-arising of unarisen unwholesome states, for the abandoning of arisen ones, for the arising of unarisen wholesome states, and for the increase of arisen wholesome states—thus the faculty of energy is described. Herein, that which is the aggregate of concentration, this is the faculty of concentration. The aggregate of wisdom is the faculty of wisdom; this should be seen in the four right efforts. Thus, he who strives for the non-arising of unarisen unwholesome states, this is the first right effort. That concerning the arisen, this is the second. The four right efforts should be seen in the four jhānas. Likewise, through the aggregate of virtue, the element of renunciation is superior, as are the three thoughts: the thought of renunciation, the thought of non-ill will, and the thought of non-harming. These have become common. That fondness with gladness for one who is dear, this is bodily happiness; that which is brought by unregulated affection, this is suffering. That non-distraction therein, this is concentration. This is the five-factored first jhāna. That mental tranquility, which is the opposition to hindrances, and whatever defilement and distress there is, that is ceased in the first jhāna. Likewise, both the tranquility of defilements and the tranquility of applied and sustained thought, both these states are included in tranquility. Herein, the happiness of body and mind is an experience of happiness; this is the tranquility of one who has rapture and happiness. And that one-pointedness of mind—by that one-pointedness, the internal assurance of mind—this is the fourth jhāna factor. Thus, internal assurance, one-pointedness of mind, rapture, and happiness—this is the four-factored second jhāna. One whose body is tranquil experiences happiness. Having pervaded with that abundant happiness, he experiences mental happiness. He is one with dispassion for rapture; thus, due to his dispassion for rapture, he attains equanimity. Through dispassion for rapture, he attains equanimity. He also experiences happiness. And he attains mindfulness with right wisdom. If there is mindfulness and one-pointedness, this is the five-factored third jhāna. The mind of one who is happy becomes concentrated; this one-pointedness is conducive to higher arrangement. In the first jhāna, there is one-pointedness of mind, but the feeling of the eye does not go to full completion as it does in the fourth jhāna. Likewise, that equanimity, tranquilizing, mindfulness, full awareness, and one-pointedness of mind—this is the fourth jhāna.
Do người nam trong địa hạt tu tập, nỗ lực về các giới, được liên kết với giới, như vậy cho đến sự giải thoát, cũng vậy là giới uẩn. Ở đây, sự không hối hận nào được chỉ ra do năng lực của tùy miên, đó cũng là giới, đây là giới uẩn. Và sự hoan hỷ, hỷ, khinh an là do định quyền, đây là định uẩn. Việc người có định biết như thật, đây là tuệ uẩn. Ba uẩn này là giới, định, và tuệ. Cũng vậy, giới làm cho sung mãn tinh tấn quyền nào, do nguyên nhân đó, người ấy làm cho sung mãn giới, và cố gắng để bất thiện chưa sanh không sanh khởi, để đoạn trừ (bất thiện) đã sanh, để thiện chưa sanh được sanh khởi, và để thiện đã sanh được tăng trưởng, như vậy tinh tấn quyền được chỉ ra. Ở đây, định uẩn nào, đó là định quyền. Tuệ uẩn là tuệ quyền, điều đó nên được thấy trong bốn chánh cần. Cũng vậy, người nào cố gắng để bất thiện chưa sanh không sanh khởi, đây là chánh cần thứ nhất. Việc đối với (bất thiện) đã sanh, đây là (chánh cần) thứ hai. Bốn chánh cần nên được thấy trong bốn thiền. Cũng vậy, với giới uẩn, xuất ly giới cũng vượt trội, và ba tầm: xuất ly tầm, vô sân tầm, và vô hại tầm. (Chúng) trở thành chung. Sự hoan hỷ nào của người đang yêu mến, đây là thân lạc được mang đến bởi tình thương không giới hạn, đây là khổ. Sự không tán loạn nào ở đây, đây là định. Đây là sơ thiền có năm chi. Sự khinh an của tâm nào có tầm có tứ là sự đối kháng, phiền não và nhiệt não nào, nó được đoạn diệt trong sơ thiền. Cũng vậy, sự khinh an của phiền não nào và sự khinh an của tầm và tứ nào, cả hai pháp này đều ở trong sự khinh an. Ở đây, lạc của thân và tâm là sự cảm thọ lạc, đây là sự khinh an của người có hỷ và lạc. Và sự nhất tâm nào của tâm, do sự nhất tâm đó mà có sự tĩnh lặng nội tâm nào của tâm, đây là thiền chi thứ tư. Như vậy, sự tĩnh lặng nội tâm, và sự nhất tâm của tâm, và hỷ, và lạc, đây là nhị thiền có bốn chi. Người có thân khinh an cảm thọ lạc, sau khi thấm nhuần với lạc thù thắng đó, tâm sở lạc nào, người ấy ly hỷ, như vậy do sự ly hỷ của người ấy mà đạt được xả. Người ấy do ly hỷ mà đạt được xả. Và cảm thọ lạc. Và đạt được niệm với chánh tuệ. Nếu có niệm và nhất tâm, đây là tam thiền có năm chi. Tâm của người có lạc được định tĩnh, đây là phần thuộc về sự sắp đặt của người khác do nhất tâm, trong sơ thiền có sự nhất tâm, nhưng thọ của nhãn không đi đến sự sung mãn hoàn toàn. Như trong tứ thiền, cũng vậy, xả nào, sự an tịnh, niệm-tỉnh giác, và nhất tâm, đây là tứ thiền.
92. Yathā samādhi dassayitabbaṃ, tathā paññindriyaṃ taṃ catūsu ariyasaccesu passitabbaṃ. Yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, sā pajānanā catubbidhā asubhato dukkhato anattato ca, yadārammaṇaṃ taṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ, yaṃ pajānanto nibbindati vimuccati tathā yaṃ kāmāsavassa pahānaṃ bhavāsavassa diṭṭhāsavassa avijjāsavassa, ayaṃ nirodho appahīnabhūmiyaṃ āsavasamudayo. Imāni cattāri ariyasaccāni yathā paññindriyaṃ passitabbaṃ. Yathāyaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dassanabhūmi. Sotāpattiphalañca yathābhūtaṃ pajānanto nibbindatīti, idaṃ tanukañca. Kāmarāgabyāpādaṃ sakadāgāmiphalañca yaṃ nibbindati virajjati, ayaṃ paṭhamajjhānabhāvanābhūmi ca rāgavirāgā cetovimutti anāgāmiphalañca. Yaṃ vimutti vimuccati, ayaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti arahattañca. Ime avippaṭisārā ca vīriyindriyañca cattāro sammappadhānā avippaṭisārā tañca upari yāva samādhi, evaṃ te cattāri jhānāni samādhindriyañca yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti. Ime cattāro satipaṭṭhānā sīlapāripūrimupādāya cāgasaṃhitena ca nibbedhikānañca nimittānaṃ anāvilamanā, idaṃ satindriyaṃ cattāro satipaṭṭhānā. Yaṃ puna imāya dhammadesanāya tīsu ṭhānesu diṭṭhogamanakindriyaṃ kilesapahānena ca sekkhasīlaṃ, idaṃ saddhindriyaṃ. Cattāri ca sotāpattiyaṅgāni phalāni. Samādhindriyāni sopaniyāhārīni sabbasuttesu niddisitabbāni. Yaṃ jhānaṃ paṭilabhanaṃ vīriyagahitaṃyeva ñāṇaṃ paṭissarato, ayaṃ sutamayī paññā. Yo samādhi pubbāparanimittābhāso anomagatitāya yathākāmo, ayaṃ cintāmayī paññā, yaṃ tathāsamāhito yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ bhāvanāmayī paññā. Ayaṃ suttaniddeso.
92. Just as concentration is to be shown, so too is the faculty of wisdom; it is to be seen in the four noble truths. That which one who is concentrated understands as it truly is—that understanding is of the unattractive, of suffering, and of non-self. Whatever its object, that is the noble truth of suffering. Understanding this, one becomes disenchanted and is liberated. Likewise, the abandoning of the taint of sensual desire, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance—this is cessation. In the stage where these are not abandoned is the origin of the taints. These four noble truths are to be seen as the faculty of wisdom. When this concentrated one understands as it truly is, this is the ground of vision. And the fruit of stream-entry is understanding as it truly is and becoming disenchanted; this is also attenuation. And the fruit of once-returning is the attenuation of sensual desire and ill will, regarding which one becomes disenchanted and detached. This is the ground for the development of the first jhāna, and the liberation of mind through dispassion for lust is the fruit of non-returning. That liberation by which one is liberated—this is liberation by wisdom through dispassion for ignorance, and Arahantship. This non-remorse, the faculty of energy, the four right efforts are without remorse, and that which is above up to concentration; thus these four jhānas and the faculty of concentration are that which one who is concentrated understands as it truly is. These four establishments of mindfulness—based on the fulfillment of virtue, connected with relinquishment, and for the penetrating signs, with an unagitated mind—this is the faculty of mindfulness, the four establishments of mindfulness. Furthermore, in this Dhamma teaching, in three instances: that which is the faculty of arriving at vision, and the virtue of a trainee through the abandoning of defilements—this is the faculty of faith. And the four factors of stream-entry are fruits. The faculties of concentration are to be brought forward and should be indicated in all the discourses. For one who recollects the attainment of jhāna, that knowledge which is grasped by energy—this is wisdom based on learning. That concentration whose sign shines before and after, with unimpeded progress as one wishes—this is wisdom based on reflection. That which one who is thus concentrated understands as it truly is—this is wisdom based on development. This is the exposition of the discourse.
92. Như định nên được chỉ ra, cũng vậy tuệ quyền nên được thấy trong bốn thánh đế. Việc người có định biết như thật, sự biết đó có bốn loại: từ phương diện bất tịnh, từ phương diện khổ, và từ phương diện vô ngã, đối tượng nào, đó là khổ thánh đế, biết điều đó, vị ấy nhàm chán, giải thoát. Cũng vậy, sự đoạn trừ dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu, đây là diệt đế; trong địa hạt chưa đoạn trừ, (đó là) tập khởi của các lậu hoặc. Bốn thánh đế này nên được thấy như là tuệ quyền. Như người có định này biết như thật, đây là địa hạt của kiến. Và dự lưu quả, biết như thật, vị ấy nhàm chán, đây là sự làm cho mỏng nhẹ. Dục ái và sân, và nhất lai quả, vị ấy nhàm chán, ly tham, đây là địa hạt tu tập sơ thiền, và do ly tham là tâm giải thoát, và bất lai quả. Sự giải thoát nào mà vị ấy được giải thoát, đây là do ly vô minh là tuệ giải thoát, và A-la-hán quả. Những sự không hối hận này, và tinh tấn quyền, bốn chánh cần, sự không hối hận, và điều đó cho đến định ở trên, như vậy bốn thiền đó và định quyền là điều mà người có định biết như thật. Bốn niệm xứ này, do sự sung mãn của giới, và do liên hệ đến sự xả thí, và của những tướng thâm nhập, tâm không bị vẩn đục, đây là niệm quyền, bốn niệm xứ. Lại nữa, trong pháp thoại này, ở ba nơi, quyền đi đến kiến và do đoạn trừ phiền não là hữu học giới, đây là tín quyền. Và bốn dự lưu chi là các quả. Các định quyền là những thứ được mang đến tuần tự, nên được chỉ ra trong tất cả các kinh. Thiền nào là sự chứng đắc, trí được nắm giữ bởi tinh tấn của người đang hồi tưởng, đây là văn tuệ. Định nào có ánh sáng của các tướng trước sau, do có hành xứ không thấp kém, theo ý muốn, đây là tư tuệ, việc người có định như vậy biết như thật, đây là tu tuệ. Đây là sự chỉ dẫn về kinh.
Imaṃ suttaṃ nibbedhabhāgiyaṃ bujjhakāradhikaṃ bujjhitabbaṃ. Yehi aṅgehi samannāgataṃ taṃ bujjhissanti tassa aṅgāni bujjhissanti, tena bojjhaṅgā. Tathā ādito yāva sīlaṃ vataṃ cetanā karaṇīyā, kissa sīlāni pāripūreti. Anuppannassa ca akusalassa anuppādāya uppannassa ca akusalassa pahānāya anuppannassa kusalassa uppādāya uppannassa ca kusalassa bhiyyobhāvāya, idaṃ vīriyaṃ tassa tassa bujjhitassa aṅganti. Ayaṃ vīriyasambojjhaṅgo. Iminā vīriyena dve dhammā ādito avippaṭisāro pāmojjañca yā puna pīti avippaṭisārapaccayā pāmojjapaccayā, ayaṃ pītisambojjhaṅgo. Yaṃ pītimanassa kāyo passambhati. Ayaṃ passaddhisambojjhaṅgo. Tena kāyikasukhamānitaṃ yaṃ sukhino cittaṃ samādhiyati, ayaṃ samādhisambojjhaṅgo. Yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo. Yā sīlamupādāya pañcannaṃ bojjhaṅgānaṃ upādāyānulomatā nimittāyanā pītibhāgiyānañca visesabhāgiyānañca apilāpanatā sahagatā hoti anavamaggo, ayaṃ satisambojjhaṅgo. Yaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, accāraddhavīriyaṃ karoti. Uddhaccabhūmīti katā abhipatthitaṃ peseti. Kosajjabhūmīti garahito rahitehi aṅgehi bujjhati yaṃ cakkhusamathapathaṃ, sā upekkhāti. Tena sā upekkhā tassa bojjhaṅgassa aṅganti karitvā upekkhāsambojjhaṅgoti vuccate. Eso suttaniddeso.
This discourse is conducive to penetration; it is to be understood. They will understand that which is endowed with these factors; they will understand its factors. Therefore, they are called factors of awakening. Furthermore, from the beginning, up to virtue and practice, intention is to be made. For what purpose does one fulfill the virtues? For the non-arising of unarisen unwholesome states, for the abandoning of arisen unwholesome states, for the arising of unarisen wholesome states, and for the greater development of arisen wholesome states; this energy is a factor of that which is to be understood. This is the awakening-factor of energy. Through this energy, from the beginning, there are two states: non-remorse and gladness. Again, whatever rapture there is, conditioned by non-remorse and conditioned by gladness, this is the awakening-factor of rapture. Because the body of one with a rapturous mind becomes tranquil, this is the awakening-factor of tranquility. Through that, bodily pleasure is brought about. Because the mind of one who is happy becomes concentrated, this is the awakening-factor of concentration. Because one who is concentrated understands things as they really are, this is the awakening-factor of investigation of phenomena. Whatever conformity, being a cause, and non-forgetfulness of states conducive to rapture and states conducive to distinction, occurs in conjunction, depending on virtue and depending on the five awakening-factors, this is the awakening-factor of mindfulness. Because one understands as it really is, one makes excessive effort. The state of restlessness, having been made, sends forth what is longed for. The state of laziness is censured. Through factors free from censure, one understands the path of calming the eye-faculty; that is equanimity. Therefore, because that equanimity is a factor of that awakening-factor, it is called the awakening-factor of equanimity. This is the exposition of the discourse.
Kinh này có phần thâm nhập, có đặc tính giác ngộ, cần được giác ngộ. Do được trang bị bởi những chi phần nào, họ sẽ giác ngộ điều ấy, sẽ giác ngộ các chi phần của nó, do đó gọi là giác chi. Tương tự, từ ban đầu cho đến giới, cho đến hạnh, tác ý cần được thực hiện. Vì sao làm cho các giới được viên mãn? Để cho pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, để đoạn trừ pháp bất thiện đã sanh, để cho pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và để cho pháp thiện đã sanh được tăng trưởng. Sự tinh tấn này là chi phần của pháp cần được giác ngộ ấy. Đây là tinh tấn giác chi. Do sự tinh tấn này, có hai pháp từ ban đầu là không hối hận và hoan hỷ. Lại nữa, hỷ nào do duyên không hối hận, do duyên hoan hỷ, đây là hỷ giác chi. Thân của người có tâm hoan hỷ được an tịnh. Đây là khinh an giác chi. Do đó, lạc thuộc thân được mang lại. Tâm của người có lạc được định tĩnh, đây là định giác chi. Người có định tĩnh biết rõ như thật, đây là trạch pháp giác chi. Sự thuận thứ, sự tạo nhân, sự không che lấp, sự tương ưng nào do nương vào giới, do nương vào năm giác chi, của các pháp thuộc phần hỷ và các pháp thuộc phần đặc biệt, đây là niệm giác chi. Khi biết như thật, thực hiện sự tinh tấn quá mức. Được gọi là địa của trạo cử, nó dẫn đến điều mong muốn. Được gọi là địa của giải đãi, bị chê trách, giác ngộ con đường an tịnh của nhãn căn bằng các chi phần không bị chê trách, đó là xả. Do đó, vì xả ấy là chi phần của giác chi ấy, nên được gọi là xả giác chi. Đây là sự chỉ dẫn về kinh.
93. Tattha katamā desanā? Asmiṃ sutte cattāri ariyasaccāni desitāni. Tattha katamo vicayo? Sīlavato avippaṭisāro yāva vimutti imissāya pucchāya minikimatthassamīti dve padāni pucchā dve padāni visajjanāni dvīhi padehi dve abhiññaṃ dvīhi ceva padehi visajjanā kiṃ pucchati nibbādhikaṃ kāyabhūmiṃ kammassa tathā hi patiṭṭhā ca asekkhe dhamme uppādeti. Tattha katamā yutti? Sīlavato avippaṭisāro bhavati kiṃ nicchandassa ca virāgo atthi esā yutti. Tattha katamaṃ padaṭṭhānaṃ? Vīriyaṃ vīriyindriyassa padaṭṭhānaṃ. Samādhi samādhindriyassa padaṭṭhānaṃ. Paññā paññindriyassa padaṭṭhānaṃ. Vīriyaṃ adosassa padaṭṭhānaṃ. Samādhi alobhassa padaṭṭhānaṃ. Paññā amohassa padaṭṭhānaṃ. Vīriyindriyaṃ tiṇṇaṃ maggaṅgānaṃ padaṭṭhānaṃ, sammāvācāya sammākammantassa sammāājīvassa. Samādhindriyaṃ tiṇṇaṃ maggaṅgānaṃ padaṭṭhānaṃ, sammāsaṅkappassa sammāvācāya sammāsamādhino. Paññindriyaṃ dvinnaṃ maggaṅgānaṃ padaṭṭhānaṃ, sammāsatiyā sammādiṭṭhiyā ca.
93. Therein, what is the Teaching Hāra? In this discourse, the four noble truths are taught. Therein, what is the Investigation Hāra? For one with virtue, there is non-remorse up to liberation. With this question, one compares. What meaning does one compare? Thus, two terms are the question, and two terms are the answer; with two terms, two things are to be known, and with two terms, the answer is to be known. What does it ask? It asks about the unafflicted bodily plane of the kamma of cultivation. For indeed, the foundation produces the qualities of a non-trainee. Therein, what is the Coherence Hāra? For one with virtue, non-remorse occurs. How? For one without desire, there is also dispassion. This is the Coherence Hāra. Therein, what is the Proximate Cause Hāra? Energy is the proximate cause of the energy faculty. Concentration is the proximate cause of the concentration faculty. Wisdom is the proximate cause of the wisdom faculty. Energy is the proximate cause of non-hatred. Concentration is the proximate cause of non-greed. Wisdom is the proximate cause of non-delusion. The energy faculty is the proximate cause of three path factors: right speech, right action, and right livelihood. The concentration faculty is the proximate cause of three path factors: right thought, right speech, and right concentration. The wisdom faculty is the proximate cause of two path factors: right mindfulness and right view.
93. Trong đó, thuyết giảng là gì? Trong kinh này, bốn Thánh đế được thuyết giảng. Trong đó, thẩm sát là gì? Sự không hối hận của người có giới cho đến giải thoát được so sánh bằng câu hỏi này: 'Có ý nghĩa gì?'. Hai câu là câu hỏi, hai câu là câu trả lời. Cần biết hai điều bằng hai câu, và câu trả lời cũng bằng hai câu. Hỏi điều gì? Hỏi về địa của thân không bị phiền não của nghiệp. Vì như vậy, sự thiết lập làm sanh khởi các pháp vô học. Trong đó, hợp lý là gì? Người có giới có sự không hối hận. Sao? Người không có dục cũng có sự ly tham. Đây là hợp lý. Trong đó, nhân cần thiết là gì? Tinh tấn là nhân cần thiết của tinh tấn quyền. Định là nhân cần thiết của định quyền. Tuệ là nhân cần thiết của tuệ quyền. Tinh tấn là nhân cần thiết của vô sân. Định là nhân cần thiết của vô tham. Tuệ là nhân cần thiết của vô si. Tinh tấn quyền là nhân cần thiết của ba đạo chi: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Định quyền là nhân cần thiết của ba đạo chi: chánh tư duy, chánh ngữ, chánh định. Tuệ quyền là nhân cần thiết của hai đạo chi: chánh niệm và chánh kiến.
Tattha katamo lakkhaṇo? Sīlakkhandhe vutte sabbe tayo khandhā vuttā bhavanti, sīlameva hi selopamatā yathā selo sabbapaccatthikehi akaraṇīyo evaṃ taṃ cittaṃ sabbakilesehi na kampatīti, ayaṃ amoho. Virattaṃ † rajanīyesūti ayaṃ alobho. Kopaneyye na kuppatīti ayaṃ adoso. Tattha paññā amoho kusalamūlaṃ, alobho alobhoyeva, adoso adosoyeva. Imehi tīhi kusalamūlehi sekkhabhūmiyaṃ ṭhito asekkhamaggaṃ uppādeti. Sekkhabhūmi sampattikammadhamme uppādeti, sā ca sammāvimutti, yañca vimuttirasañāṇadassanaṃ ime dasa asekkhānaṃ arahattaṃ dhammā. Tattha aṭṭhaṅgikena maggena catubbidhā bhāvanāpi labbhati. Sīlabhāvanā kāyabhāvanā cittabhāvanā paññābhāvanā ca. Tattha sammākammantena sammāājīvena ca kāyo bhāvito. Sammāvācāya sammāvāyāmena ca sīlaṃ bhāvitaṃ. Sammāsaṅkappena sammāsamādhinā ca cittaṃ bhāvitaṃ. Sammādiṭṭhiyā sammāsatiyā ca paññā bhāvitā. Imāya catubbidhāya bhāvanāya dve dhammā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti cittaṃ paññañca. Cittaṃ bhāvanāya samatho, paññā bhāvanāya vipassanā. Tattha paññā avijjāpahānena cittaṃ upakkilesehi amissīkatanti. Paññā bhāvanāya cittabhāvanaṃyeva paripūreti. Evaṃ yassa subhāvitaṃ cittaṃ kuto taṃ dukkhamessatīti. Api ca kho pana tassa āyasmato abyāpādadhātu adhimuttā, na so petaṃ samāpanno tassa saṅkhāpahāraṃ deti, saṅkhāvitakkite sarīre dukkhaṃ na vediyati, ayaṃ suttattho.
Therein, what is the Characteristic Hāra? When the aggregate of virtue is mentioned, all three aggregates are said to be mentioned. Indeed, virtue itself is like a mountain. Just as a mountain cannot be acted upon by any enemies, so that mind is not shaken by any defilements; this is non-delusion. It is dispassionate towards things that entice passion; this is non-greed. It does not get angry at things that provoke anger; this is non-hatred. Therein, wisdom is the wholesome root called non-delusion; non-greed is just non-greed; non-hatred is just non-hatred. With these three wholesome roots, one standing on the trainee's plane produces the non-trainee's path. The trainee's plane produces the qualities of the kamma of attainment. And that right liberation, and the knowledge and vision of the taste of liberation—these ten are the qualities of arahantship for non-trainees. Therein, through the eight-factored path, the fourfold development is also obtained: development of virtue, development of body, development of mind, and development of wisdom. Therein, the body is developed by right action and right livelihood. Virtue is developed by right speech and right effort. The mind is developed by right thought and right concentration. Wisdom is developed by right view and right mindfulness. Through this fourfold development, two things—mind and wisdom—reach the fulfillment of development. The mind by development is serenity; wisdom by development is insight. Therein, wisdom, by abandoning ignorance, makes the mind unmixed with defilements. The development of wisdom fulfills the development of mind itself. Thus, for one whose mind is well-developed, from where will suffering come? Furthermore, that venerable one is resolved upon the element of non-ill-will. Having attained that, he does not feel the countless striking of suffering in the body, which is subject to thoughts and considerations. This is the meaning of the discourse.
Trong đó, đặc tính là gì? Khi giới uẩn được nói, cả ba uẩn đều được nói đến. Vì giới ví như tảng đá. Như tảng đá không thể bị làm gì bởi tất cả kẻ thù, cũng vậy, tâm ấy không dao động bởi tất cả phiền não, đây là vô si. Ly tham trong các đối tượng đáng tham ái, đây là vô tham. Không sân hận trong các đối tượng đáng sân hận, đây là vô sân. Trong đó, tuệ là vô si, là thiện căn; vô tham chính là vô tham, vô sân chính là vô sân. Người đứng trên địa hữu học làm sanh khởi đạo vô học bằng ba thiện căn này. Địa hữu học làm sanh khởi các pháp nghiệp thành tựu. Chánh giải thoát ấy, và tri kiến về vị giải thoát, mười pháp này là pháp A-la-hán của bậc vô học. Trong đó, bốn loại tu tập cũng được thành tựu bởi Bát chi đạo: tu tập giới, tu tập thân, tu tập tâm, và tu tập tuệ. Trong đó, thân được tu tập bởi chánh nghiệp và chánh mạng. Giới được tu tập bởi chánh ngữ và chánh tinh tấn. Tâm được tu tập bởi chánh tư duy và chánh định. Tuệ được tu tập bởi chánh kiến và chánh niệm. Do bốn loại tu tập này, hai pháp đạt đến sự viên mãn của tu tập: tâm và tuệ. Tâm do tu tập là chỉ, tuệ do tu tập là quán. Trong đó, tuệ do đoạn trừ vô minh làm cho tâm không bị trộn lẫn với các tùy phiền não. Tu tập tuệ làm viên mãn chính sự tu tập tâm. Như vậy, người có tâm được khéo tu tập, khổ đau từ đâu sẽ đến với người ấy? Hơn nữa, vị tôn giả ấy đã quyết chứng vô sân giới. Vị ấy đã nhập vào trạng thái đó, không cảm thọ sự khổ đau trong thân thể bị các hành tấn công. Đây là ý nghĩa của kinh.
94. Tattha katamā desanā? Imamhi sutte dasa asekkhā arahattadhammā desitā appamāṇā ca sammā vibhāvanā. Tattha katamo vicayo? Selopamatā ye ye dhammā vedanīyasukhadukkhopagatā, te sabbe nirūpaṃ vānupassantānaṃ vūpagatā kāyato vedayitaparikkhāro appavattito dukkhaṃ na vediyati. Tattha katamā yutti, yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ kuto taṃ † dukkhamessatīti. Tīsu bhāvanāsu dukkhaṃ nakkhamati cittaṃ cittabhāvanāya ca. Nirodhabhāvanāya ca ānantarikā samādhibhāvanāya ca. Iti yassevaṃ bhāvitaṃ cittanti samādhi phalassa padaṭṭhānaṃ.
94. Therein, what is the Teaching Hāra? In this discourse, ten qualities of arahantship for the non-trainee are taught, which are immeasurable and have right development. Therein, what is the Investigation Hāra? Having the simile of the mountain: whatever phenomena are connected with feelings of pleasure and pain, all of them are subsided for those who contemplate the formless. From the body, because the requisite for feeling does not arise, suffering is not felt. Therein, what is the Coherence Hāra? For one whose mind is thus developed, from where will suffering come? Suffering does not endure in three developments: the development of mind, the development of cessation, and the development of immediate concentration. Thus, for one whose mind is thus developed, concentration is the proximate cause of the fruit.
94. Trong đó, thuyết giảng là gì? Trong kinh này, mười pháp A-la-hán của bậc vô học được thuyết giảng, và sự giải thích đúng đắn vô lượng. Trong đó, thẩm sát là gì? Những pháp nào ví như tảng đá, đã đi đến khổ và lạc có thể cảm thọ, tất cả những pháp ấy đã lắng dịu đối với những người đang tùy quán sự vô sắc. Do sự hỗ trợ cho cảm thọ từ thân không diễn tiến, khổ không được cảm thọ. Trong đó, hợp lý là gì? Người có tâm được tu tập như vậy, khổ đau từ đâu sẽ đến với người ấy? Đối với tâm, trong ba sự tu tập, khổ không thể tồn tại: trong sự tu tập tâm, trong sự tu tập diệt, và trong sự tu tập định vô gián. Như vậy, người có tâm được tu tập như vậy, định là nhân cần thiết của quả.
Tattha katamo lakkhaṇo? Yassevaṃ bhāvitaṃ † cittanti cittāni bhāvitāni yathā paṭhamaṃ niddiṭṭhāni paññā sīlaṃ kāyo cittaṃ, sīlampi subhāvitaṃ kāyikacetasikañca ṭhitattā nānupakampatīti vedanāpi tathā saññāpi saṅkhārāpi. Kuto taṃ dukkhamessatīti sukhampi nānugacchati, adukkhamasukhampi nāgatanti.
Herein, what is the Characteristic Method (lakkhaṇa-hāra)? In the phrase 'one whose mind is thus developed,' it means that minds are developed as was first pointed out: wisdom, virtue, the mental body, and mind. Virtue is also well-developed, and the bodily and mental state is well-developed. Because of its stability, it does not waver; so too with feeling, perception, and formations. In the phrase 'From where would suffering come to that person?,' pleasure also does not follow, and neither-painful-nor-pleasant feeling has not come.
Trong các hāra ấy, lakkhaṇa hāra là gì? (Trong câu) ‘yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ’ (người nào có tâm được tu tập như vậy), các tâm đã được tu tập như đã được chỉ ra trước tiên là: tuệ, giới, thân, tâm. Giới cũng được tu tập tốt đẹp. (Trong câu) ‘ṭhitattā nānupakampati’ (vì vững vàng nên không lay động), thọ cũng vậy, tưởng cũng vậy, các hành cũng vậy. (Trong câu) ‘kuto taṃ dukkhamessati’ (do đâu khổ sẽ đến với người ấy), lạc cũng không theo sau, bất khổ bất lạc cũng không đến.
Tattha katamo catubyūho hāro? Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye dukkhena adhikā bhavissanti, te evarūpāhi samāpattīhi virahissanti. Ayamettha bhagavato adhippāyo. Ye ca appasannā, te hi bhavissanti, pasannānañca pītipāmojjaṃ bhavissati, ayaṃ tattha bhagavato adhippāyo. Āvaṭṭoti natthi āvaṭṭanassa bhūmi.
Herein, what is the Fourfold Exposition Method (catubyūha-hāra)? Here, what is the Blessed One’s intention? Those who will be overcome by suffering, they will be without such attainments. This is the Blessed One’s intention herein. And those who are not confident, they will become so, and for the confident, joy and gladness will arise. This is the Blessed One’s intention therein. As for Āvaṭṭa (Turning): there is no ground for the Āvaṭṭa-hāra.
Trong các hāra ấy, catubyūha hāra là gì? Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai sẽ bị khổ đau vượt trội, họ sẽ bị thiếu vắng các thiền chứng như vậy. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây. Và những ai không có đức tin, họ sẽ (như vậy), và đối với những người có đức tin, hỷ và hoan hỷ sẽ khởi lên. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đó. (Về) āvaṭṭa, không có cơ sở cho sự quay vòng.
Vibhattīti yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ kuto taṃ dukkhamessatīti duvidho niddeso – dukkhahetuniddeso ca paṭipakkhaniddeso ca. Ko so dukkhahetu? Yato dukkhaṃ āgacchati paṭipakkhe vutte sesadhammānaṃ sīlaṃ hetu ca paccayo ca, te sabbe dhammā vuttā honti. Ekabodhipakkhiye dhamme vutte sabbe bodhagamanīyā dhammā vuttā bhavanti.
As for Analysis (vibhatti): In the teaching 'For one whose mind is thus developed, from where will suffering come to that person?,' the indication is twofold: the indication of the cause of suffering and the indication of the counterpart. What is that cause of suffering? That from which suffering comes. When the counterpart is stated, virtue is the cause and condition for the remaining states, and thus all those states are said to be stated. When one state pertaining to awakening is stated, all states conducive to awakening are said to be stated.
(Về) vibhatti, trong lời dạy ‘yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ kuto taṃ dukkhamessati’ (người nào có tâm được tu tập như vậy, do đâu khổ sẽ đến với người ấy), có hai loại chỉ dẫn: chỉ dẫn về nguyên nhân của khổ và chỉ dẫn về đối pháp. Nguyên nhân của khổ đó là gì? Là cái từ đó khổ đau đến. Khi đối pháp được nói đến, giới là nhân và là duyên cho các pháp còn lại, (do đó) tất cả các pháp ấy được xem là đã được nói đến. Khi một pháp trợ Bồ-đề được nói đến, tất cả các pháp đưa đến giác ngộ được xem là đã được nói đến.
Tattha katamo catubyūho hāro? Imamhi sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye avippaṭisārena chandikā, te sīlapāripūrī bhavanti pāmojjachandikā avippaṭisārīpāripūrī, ayamettha bhagavato adhippāyo…pe… ayaṃ catubyūho hāro.
Herein, what is the Fourfold Exposition Method (catubyūha-hāra)? In this sutta, what is the Blessed One’s intention? Those who have a wish for non-remorse become fulfilled in virtue; those who have a wish for joy become fulfilled in non-remorse. This is the Blessed One’s intention herein… and so on… This is the Fourfold Exposition Method.
Trong các hāra ấy, catubyūha hāra là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai có ước muốn thông qua sự không hối tiếc, họ trở thành người viên mãn giới. Những ai có ước muốn hoan hỷ, họ trở thành người viên mãn sự không hối tiếc. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây... v.v... Đây là catubyūha hāra.
Tattha katamo āvaṭṭo? Idaṃ suttaṃ nibbedhabhāgiyaṃ. Yo nibbedho, ayaṃ nirodho. Yena nibbijjhati, so maggo. Yaṃ nibbijjhati, taṃ dukkhaṃ. Yaṃ nibbedhagāminā maggena pahīyati, samudayoyaṃ vutto.
Herein, what is the Turning Method (āvaṭṭa-hāra)? This sutta pertains to penetration. Whatever is the penetration, this is Cessation. That by which one penetrates, that is the Path. That which is penetrated, that is Suffering. That which is abandoned by the path leading to penetration, this is called the Origin.
Trong các hāra ấy, āvaṭṭa hāra là gì? Kinh này thuộc phần thâm nhập. Sự thâm nhập nào, đó là Diệt đế. Cái mà nhờ đó thâm nhập, đó là Đạo đế. Cái bị thâm nhập, đó là Khổ đế. Cái bị đoạn trừ bởi con đường đưa đến sự thâm nhập, đó được gọi là Tập đế.
Tattha katamā vibhatti? Sīlavato avippaṭisāroti vibhajjabyākaraṇīyaṃ, parāmasantassa natthi avippaṭisāro yāva dosakataṃ kāyena vā vācāya vā akusalaṃ ārabhati. Kiñcipissa evaṃ hoti ‘‘sukatametaṃ sucaritametaṃ no cassa tena avippaṭisārena pāmojjaṃ jāyati yāva vimutti, tassa sīlavato avippaṭisāro’’ti vibhajjabyākaraṇīyaṃ, ayaṃ vibhattihāro.
Herein, what is the Analysis Method (vibhatti-hāra)? The statement 'For the virtuous, there is non-remorse' is a matter for analytical explanation. For one who misapprehends, there is no non-remorse, as he undertakes unwholesome action by body or speech, up to actions done with hate. And even if it occurs to him, 'This is well-done, this is well-practiced,' joy leading up to liberation does not arise for him from that non-remorse. The statement 'For that virtuous person, there is non-remorse' is a matter for analytical explanation. This is the Analysis Method.
Trong các hāra ấy, vibhatti hāra là gì? (Câu) ‘Người có giới có sự không hối tiếc’ là câu trả lời cần phân tích. Người chấp thủ thì không có sự không hối tiếc, khi người ấy thực hành điều bất thiện bằng thân hoặc lời nói cho đến khi phạm lỗi. Dù cho người ấy có (suy nghĩ) rằng: ‘Điều này được làm tốt, điều này là thiện hạnh’, nhưng đối với người ấy, từ sự không hối tiếc đó, hoan hỷ cho đến giải thoát không khởi lên. (Câu) ‘Người có giới ấy có sự không hối tiếc’ là câu trả lời cần phân tích. Đây là vibhatti hāra.
Tattha katamā parivattanā? Imehi sattahi upanisāsampattīhi ekādasa upanisā vibhattiyaṃ pajahānaṃ pajahanti, ayaṃ parivattanā.
Herein, what is the Transformation Method (parivattanā-hāra)? By means of these seven accomplishments of supporting conditions, eleven supports abandon the things to be abandoned in the analysis. This is the Transformation Method.
Trong các hāra ấy, parivattanā hāra là gì? Bởi bảy sự thành tựu về y chỉ này, mười một y chỉ trong sự phân tích sẽ đoạn trừ những gì cần đoạn trừ. Đây là parivattanā.
Tattha katamā vevacanā? Imesaṃ ariyadhammānaṃ balabojjhaṅgavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ imāni vevacanāni.
Herein, what is the Synonym Method (vevacanā-hāra)? For these noble states—the powers, factors of awakening, liberations, concentrations, and attainments—these are the synonyms.
Trong các hāra ấy, vevacanā hāra là gì? Của các Thánh pháp này, (tức là) lực, giác chi, giải thoát, định, và thiền chứng, đây là những từ đồng nghĩa.
Tattha katamā paññatti? Sīlavato avippaṭisāroti sīlakkhandhe nekkhammapaññattiyā paññattaṃ, nisajjapaññatti ca evaṃ dasa aṅgāni dvīhi dvīhi aṅgehi paññattāni.
Herein, what is the Designation Method (paññatti-hāra)? In the teaching 'For the virtuous, there is non-remorse,' in the aggregate of virtue, it is designated by the designation of renunciation, and the designation of relinquishment is also designated. Thus, the ten factors are designated by means of two factors each, in pairs.
Trong các hāra ấy, paññatti hāra là gì? Trong lời dạy ‘sīlavato avippaṭisāro’ (người có giới có sự không hối tiếc), trong giới uẩn, nó được chế định bằng khái niệm xuất ly, và khái niệm xả ly cũng được chế định. Như vậy, mười chi phần được chế định bởi từng cặp hai chi phần.
Tattha katamo otaraṇo? Idaṃ nibbedhabhāgiyasuttaṃ pañcasu otiṇṇaṃ yathā yaṃ paṭhamaṃ niddiṭṭhaṃ evamindriyādikhandhadhātuāyatanesu niddisitabbāni.
Herein, what is the Descent Method (otaraṇa-hāra)? This sutta pertaining to penetration descends into five suttas. As was first indicated, so they should be indicated in the faculties, etc.—the aggregates, elements, and sense bases.
Trong các hāra ấy, otaraṇa hāra là gì? Kinh thuộc phần thâm nhập này đi vào trong năm (pháp). Như đã được chỉ ra lúc đầu, cũng vậy, (các pháp này) cần được chỉ ra trong các căn, uẩn, giới, xứ, v.v.
Tattha katamo sodhano hāro? Sīlavato avippaṭisāroti na tāva suddho ārambho avippaṭisārino pāmojjanti na tāva suddho ārambho yāni ekādasa padāni desitāni yadā tadā suddho ārambho, ayaṃ sodhano.
Herein, what is the Purification Method (sodhana-hāra)? The statement 'For the virtuous, there is non-remorse'—the commencement is not yet pure. The statement 'For one with non-remorse, there is joy'—the commencement is not yet pure. When the eleven terms that were taught are present, then the commencement is pure. This is the Purification Method.
Trong các hāra ấy, sodhana hāra là gì? (Câu) ‘Người có giới có sự không hối tiếc’, sự khởi đầu này chưa thanh tịnh. (Câu) ‘Người không hối tiếc có sự hoan hỷ’, sự khởi đầu này chưa thanh tịnh. Khi nào mười một pháp được thuyết giảng, khi đó sự khởi đầu mới thanh tịnh. Đây là sodhana hāra.
Tattha katamo adhiṭṭhāno? Sīlavemattatāya paññattaṃ evaṃ dasa padāni sabbāni sīlakkhandhassa ānisaṃso, te ca patirūpadesavāso ca paccayo attasammāpaṇidhānañca hetu, samādhikkhandhassa sukhaṃ hetu passaddhi paccayo, yena jhānasahajāti ca ṭhānanti jhānaṅgā aparo pariyāyo kāmesu ādīnavānupassanā samādhino paccayo nekkhamme ānisaṃsadassāvitā hetu.
Herein, what is the Determination Method (adhiṭṭhāna-hāra)? It is designated by the diversity of virtue. Thus, all ten terms are the benefit of the aggregate of virtue. And those benefits, and living in a suitable place, are a condition; and right resolve for oneself is a generative cause. For the aggregate of concentration, happiness is a generative cause and tranquility is a supporting condition, by which co-arising with jhāna is a basis; these are the jhāna factors. Another method: seeing the danger in sensual pleasures is a supporting condition for concentration; seeing the benefit in renunciation is a generative cause.
Trong các hāra ấy, adhiṭṭhāna hāra là gì? Được chế định bởi sự khác biệt của giới. Như vậy, tất cả mười pháp đều là quả báu của giới uẩn. Và chúng, và việc sống ở nơi thích hợp là duyên, và sự tự hướng tâm đúng đắn là nhân. Đối với định uẩn, lạc là nhân, tịnh là duyên. Do đó, sự đồng sanh với thiền và các thiền chi là cơ sở. Một cách trình bày khác: quán thấy sự nguy hại trong các dục là duyên cho định, thấy được lợi ích trong sự xuất ly là nhân.
Tattha katamā samāropanā? Yaṃ vīriyindriyaṃ, so sīlakkhandho. Yaṃ sīlaṃ, te cattāro dhammā padhānā. Yaṃ dhammānudhammapaṭipatti, so pātimokkhasaṃvaro.
Herein, what is the Synthesis Method (samāropanā-hāra)? Whatever is the faculty of energy, that is the aggregate of virtue. Whatever is virtue, those are the four principal states of exertion. Whatever is the practice in accordance with the Dhamma, that is the restraint of the Pātimokkha.
Trong các hāra ấy, samāropanā hāra là gì? Tấn quyền nào, đó là giới uẩn. Giới nào, đó là bốn chánh cần. Sự thực hành pháp và tùy pháp nào, đó là sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha.
95. Yassa selopamaṃ cittanti gāthā †, selopamanti upamā yathā selo vātena na kampati na uṇhena na sītena saṃkampati. Yathā anekā acetanā, te uṇhena milāyanti, sītena avasussanti, vātena bhajanti. Na evaṃ selo virattaṃ rajanīyesu dosanīye na dussatīti kāraṇaṃ dosanīye domanassantaṃ, na duṭṭhena vā kampati uṇhena vā, so milāyati sītena vā avasussati, evaṃ cittaṃ rāgena nānussati sītena kampatīti. Kiṃ kāraṇaṃ? Virattaṃ rajanīyesu dosanīye na dussati. Kiṃ kāraṇaṃ? Dosanīye panassanti na dussati, aduṭṭhaṃ taṃ na kosissanti, tena kuppanīye na kuppati, yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ kuto taṃ dukkhaniddeso ca kuto evarūpassa dukkhaṃ āgamissatīti niddiṭṭhaṃ.
95. The verse 'Whose mind is like a rock.' 'Like a rock' is a simile. Just as a rock is not shaken by the wind, not moved by heat, and not shaken by cold; just as many insentient things wither from heat, dry up from cold, and are broken by wind; not so the rock. One who is dispassionate towards desirable objects is not angered by a hateful object. This is the reason. In a hateful object, there is an end to displeasure. One is not shaken by a wicked person or moved by heat. That person withers or dries up from cold. Thus, the mind does not recollect with lust; it is shaken by cold. Thus it should be known. What is the reason? It is dispassionate towards desirable objects and is not angered by a hateful object. What is the reason? But in a hateful object, it might be, thus he is not angry. They will not be angry at that unangered person. Therefore, he is not angered by what is angering. It is pointed out: 'For one whose mind is thus developed, from where would suffering come?' and 'From where would suffering come to such a one?'
95. (Câu) ‘Yassa selopamaṃ cittaṃ’ (Người nào có tâm ví như tảng đá) là một bài kệ. ‘Selopamaṃ’ là một ví dụ. Giống như tảng đá không lay động bởi gió, không rung chuyển bởi nóng, bởi lạnh. Giống như nhiều vật vô tri, chúng héo úa vì nóng, khô héo vì lạnh, tan vỡ vì gió. Tảng đá không như vậy. (Tâm) ly tham đối với các pháp đáng tham, không sân hận đối với các pháp đáng sân hận, đó là nguyên nhân. Lý do là gì? (Tâm) ly tham đối với các pháp đáng tham, không sân hận đối với các pháp đáng sân hận. Lý do là gì? Đối với pháp đáng sân hận, nó không sân hận. Người không sân hận ấy, họ sẽ không mắng nhiếc. Do đó, người ấy không tức giận đối với điều đáng tức giận. (Câu) ‘Người nào có tâm được tu tập như vậy, do đâu khổ...’ và ‘Do đâu khổ sẽ đến với người như vậy?’ đã được chỉ ra.
Parivattanāti kuto taṃ dukkhamessatīti yaṃ cetasikaṃ sukhaṃ anupādisesā ayaṃ natthi sopādisesā ayaṃ atthi. Puna evamāhaṃsu taṃ khaṇaṃ taṃ muhuttaṃ ubhayameva avedayitaṃ sopādisesaṃ yañca anupādisesaṃ yañca taṃ khaṇaṃ taṃ muhuttaṃ anupādisesaṃ yañca sopādisesaṃ ca avedayitaṃ. Sukhamāpannassa anāvattikanti ayamettha viseso parivattanā.
As for the Transformation Method (parivattanā-hāra): In the phrase 'From where would suffering come to that person?': Regarding mental happiness, this Nibbāna element without residue does not exist, while this Nibbāna element with residue does exist. Again, they said thus: 'At that moment, at that instant, both are experienced—that which is with residue and that which is without residue. At that moment, at that instant, that which is without residue and that which is with residue are experienced.' For one who has attained happiness, there is no returning. This, herein, is the special Transformation Method.
(Về) parivattanā, (trong câu) ‘do đâu khổ sẽ đến với người ấy?’, lạc thuộc về tâm nào, (trong) vô dư y Niết-bàn, cái này không có; (trong) hữu dư y Niết-bàn, cái này có. Lại nữa, họ nói như vầy: trong khoảnh khắc đó, trong sát-na đó, cả hai (hữu dư y và vô dư y) đều không được cảm thọ. Trong khoảnh khắc đó, trong sát-na đó, cả vô dư y và hữu dư y đều không được cảm thọ. Đối với người đã đạt được lạc, không có sự quay trở lại. Đây là sự đặc biệt của parivattanā ở đây.
Tattha katamo vevacano? Yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ vā bhāvitaṃ subhāvitaṃ anuṭṭhitaṃ vatthukataṃ susamāraddhaṃ. Cittanti mano viññāṇaṃ manindriyaṃ manoviññāṇadhātu.
Among these, what is the Vevacana? [It is where it is said:] For whom the mind is thus developed, thoroughly developed, well-developed, established, made a basis, and well-undertaken. 'Citta' means mind-consciousness, the mind faculty, and the mind-consciousness element.
Trong các hāra ấy, thế nào là vevacana (đồng nghĩa)? Đối với người nào, tâm đã được tu tập như vậy, hoặc đã được tu tập, đã được khéo tu tập, đã được làm cho khởi lên, đã được làm cho vững chắc, đã được khéo tinh cần. Tâm tức là ý, là ý thức, là ý căn, là ý thức giới.
Tattha katamā paññatti? Cittaṃ mano saṅkhārā vūpasamapaññattiyā paññattaṃ. Samādhi asekkhapaññattiyā paññatto. Dukkhaṃ ucchinnapaññattiyā paññattaṃ.
Among these, what is the Paññatti? The mind is designated by the designation of the calming of mental formations. Concentration is designated by the designation of a non-learner. Suffering is designated by the designation of what is cut off.
Trong các hāra ấy, thế nào là paññatti (chế định)? Tâm được chế định bởi sự chế định về sự lắng dịu của các tâm hành. Định được chế định bởi sự chế định về bậc vô học. Khổ được chế định bởi sự chế định về sự đoạn tận.
Tattha katamo otaraṇo? Citte niddiṭṭhe pañcakkhandhā niddiṭṭhā honti, ayaṃ khandhesu otaraṇo, manoviññāṇadhātuyā niddiṭṭhāya aṭṭhārasa dhātuyo niddiṭṭhā honti, ayaṃ dhātūsu otaraṇo. Manāyatane niddiṭṭhe sabbāni āyatanāni niddiṭṭhāni honti. Tattha manāyatanaṃ nāmarūpassa padaṭṭhānaṃ. Nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ. Tathā paṭiccasamuppāde. Ayaṃ otaraṇo. Tattha katamo sodhano suddhoyeva ārambho.
Among these, what is the Otaraṇa? When the mind is pointed out, the five aggregates are pointed out; this is the inclusion in the aggregates. When the mind-consciousness element is pointed out, the eighteen elements are pointed out; this is the inclusion in the elements. When the mind-base is indicated, all the sense bases are indicated. Therein, the mind-base is the proximate cause of name-and-form. Conditioned by name-and-form, the six sense bases arise. So it is in dependent origination. This is the Otaraṇa. Among these, what is the Sodhana? The striving is indeed pure.
Trong các hāra ấy, thế nào là otaraṇa (sự bao hàm)? Khi tâm được chỉ ra, năm uẩn được chỉ ra, đây là sự bao hàm trong các uẩn. Khi ý thức giới được chỉ ra, mười tám giới được chỉ ra, đây là sự bao hàm trong các giới. Khi ý xứ được chỉ ra, tất cả các xứ được chỉ ra. Trong đó, ý xứ là nhân gần của danh sắc. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Tương tự như trong duyên khởi. Đây là sự bao hàm. Trong đó, thế nào là sodhana (sự thanh lọc)? Sự khởi đầu chính là thanh tịnh.
Tattha katamo adhiṭṭhāno? Chaḷindriyaṃ bhāvanā ekattāyaṃ paññatti chaṭṭhitena kāyo ekattāya paññatto.
Among these, what is the Adhiṭṭhāna? The development of the six faculties is a designation of unity. By being established in the six, the body is designated as a unity.
Trong các hāra ấy, thế nào là adhiṭṭhāna (sự quyết định)? Sự tu tập sáu căn là sự chế định trong tính thống nhất. Do được thiết lập ở căn thứ sáu, thân được chế định trong tính thống nhất.
Tattha katamo parikkhāro? Cittassa pubbahetu samuppādāya manasikāro ca tappoṇatā ca yaṃ asamāhitabhūmiyaṃ ca visesadhammānaṃ abhāvitattā cittasatataṃ gacchati, sace samādhino sukhaṃ hetu avippaṭisāro paccayo, ayaṃ hetu ayaṃ paccayo parikkhāro.
Among these, what is the Parikkhāra? For the arising of the mind from a prior cause, there are attention and inclination towards that. And in the unconcentrated state, due to the non-development of special qualities, it reaches a certain mental continuity. For one who is concentrated, if happiness is the cause, non-remorse is the condition. This cause and this condition are the Parikkhāra.
Trong đó, thế nào là parikkhāra (vật trợ duyên)? Đối với sự sanh khởi của nhân trước của tâm, có sự tác ý và sự hướng về đó. Do vì các pháp đặc biệt chưa được tu tập trong tâm địa không định tĩnh, nên tâm đi đến sự liên tục. Nếu đối với người có định, lạc là nhân, sự không hối tiếc là duyên. Nhân này, duyên này là vật trợ duyên.
Tattha katamā samāropanā? Yassevaṃ bhāvitanti tassa dhammā samāropayitabbā. Kāyo sīlaṃ paññā bhāvitacittanti anabhirataṃ anapaṇataṃ anekaṃ anutaṃ anāpajjāsattaṃ ayaṃ samaññāyatanā na tassa sekkhassa sammāsamādhi sabbe asekkhā dasa arahantadhammā niddiṭṭhā honti. Asekkhabhāgiyāni suttāni.
Among these, what is the Samāropanā? In [the phrase] 'for whom it is thus developed,' the qualities [of learner and non-learner] should be ascribed to that person. Developed body, developed virtue, developed wisdom, developed mind—meaning non-delight, non-inclination, oneness, non-praising, non-clinging. This is for the sake of the goal of recluseship; it is not the right concentration of that learner. All ten qualities of an Arahant, a non-learner, are pointed out. These are the suttas pertaining to the non-learner.
Trong các hāra ấy, thế nào là samāropanā (sự quy kết)? Đối với người nào đã tu tập như vậy, các pháp cần được quy kết cho vị ấy. Thân, giới, tuệ, tâm đã được tu tập, (nghĩa là) không ưa thích, không hướng đến, không phải một, không nhỏ bé, không dính mắc. Đây là cơ sở của danh xưng, không phải là chánh định của bậc hữu học ấy. Tất cả mười pháp A-la-hán của bậc vô học đều được chỉ ra. (Đây là) các kinh thuộc phần vô học.
96. Yassa nūna, bhante, kāyagatāsati abhāvitā, ayaṃ so aññataraṃ sabrahmacāriṃ † āsajja samāpajja appaṭinisajja janapadacārikaṃ pakkameyya, so āyasmā imasmiṃ vippaṭijānāti dve pajāni paṭijānāti cittabhāvanāyañca diṭṭhiyā pahānaṃ, kāyabhāvanāyañca diṭṭhippahānaṃ, kāyabhāvanāyañca taṇhāpahānaṃ, yaṃ paṭhamaṃ upamaṃ karoti. Asucināpi sucināpi pathavī neva aṭṭiyati na jigucchati na pītipāmojjaṃ paṭilabhati, evameva hi pathavīsamena so cetasā anvayena appakena averena abyāpajjena viharāmīti. Iti so āyasmā kiṃ paṭijānāti, kāyabhāvanāya sukhindriyapahānaṃ paṭijānāti, cittabhāvanāya somanassindriyapahānaṃ paṭijānāti. Kāyikā vedanā rāgānusayamanugatānaṃ sukhindriyaṃ paṭikkhipati. Na hi vedanākkhandhaṃ yā cetasikā sukhavedanā tattha ayaṃ paṭilābhapaccayā uppajjati sukhaṃ somanassaṃ. Sotaṃ paṭikkhipati, na hi manosamphassajaṃ vedanaṃ. Tattha catūsu mahābhūtesu rūpakkhandhassa anusayapaṭighapahānaṃ bhaṇati. Kāme rūpañca tañca asekkhabhūmiyaṃ. Kāye kāyānupassanā diṭṭhadhammasukhavihārañca. Balena ca ussāhena ca sabbaṃ manasi katattānaṃ pahānaṃ medaṃ katālikāya ca purisena ca maṇḍanakajātikena ca, etehi imassa mātāpitusambhūtaṃ paccavekkhaṇaṃ, so kāyena ca kāyānupassanāya ca cittena ca cittānupassanāya ca dve dhamme dhāreti. Kāyakilesavatthuṃ cittena ca cittasannissaye cittena subhāvitena sattannaṃ ca samāpattīnaṃ viharituṃ paṭijānāti.
96. Venerable sir, for whom mindfulness directed to the body is indeed undeveloped, that person, having accosted, approached, and not let go of a certain companion in the holy life, might set out on a journey through the country. That venerable one, in this matter, knows two things contradictorily; he knows in detail and knows again: the abandonment of views through the development of the mind, and the abandonment of craving through the development of the body. First, he makes a simile. 'Just as the earth is neither distressed nor disgusted by what is impure or pure, and does not obtain joy and gladness, even so I dwell with a mind like the earth, consequential, small, without enmity, and without affliction.' Thus, what does that venerable one know? He knows the abandonment of the pleasure faculty through the development of the body; he knows the abandonment of the joy faculty through the development of the mind. For those who follow the underlying tendency to lust, bodily feeling rejects the pleasure faculty. Indeed, in the feeling aggregate, whatever mental pleasant feeling there is, this arises from the condition of acquisition; pleasure rejects joy. It does not reject feeling born of mind-contact. Therein, regarding the four great elements, he speaks of abandoning the underlying tendency of aversion for the form aggregate. In the sensual realm there is form, and that is also in the plane of the non-learner. Contemplation of the body in the body is for a pleasant abiding in this very life. For those who have applied their whole mind with strength and effort, [they think:] 'This abandonment of mine is by a man who has made a mistake and by a man who is fond of adornment.' By these, for this person, it is the reflection on being born of mother and father. That person, with the body and with contemplation of the body, and with the mind and with contemplation of the mind, maintains two principles. He knows how to dwell in the seven attainments with a well-developed mind reliant on the mind, regarding the basis of bodily defilement.
96. Bạch ngài, đối với người nào niệm thân không được tu tập, vị ấy chắc chắn sau khi va chạm, giao du, không từ bỏ một vị đồng phạm hạnh nào đó, sẽ ra đi du hành trong xứ. Vị trưởng lão ấy trong trường hợp này, nhận biết sai, nhận biết hai điều, nhận biết rằng: do sự tu tập tâm, tà kiến được đoạn trừ; và do sự tu tập thân, tà kiến được đoạn trừ; và do sự tu tập thân, ái được đoạn trừ. Điều mà vị ấy làm ví dụ đầu tiên. Ví như đất không bực tức, không ghê tởm, không nhận được hỷ lạc đối với vật không sạch hay vật sạch; cũng vậy, vị ấy an trú với tâm giống như đất, với sự tương ứng, nhỏ bé, không oán, không sân. Như vậy, vị trưởng lão ấy nhận biết điều gì? Vị ấy nhận biết sự đoạn trừ lạc căn do tu tập thân, nhận biết sự đoạn trừ hỷ căn do tu tập tâm. Thọ thuộc thân loại trừ lạc căn của những người đi theo tùy miên tham. Quả vậy, không phải thọ uẩn, thọ lạc nào thuộc tâm sở, ở đây điều này sanh khởi do duyên thành tựu, lạc và hỷ. Vị ấy loại trừ điều đó, nhưng không phải thọ do ý xúc sanh. Ở đây, trong bốn đại, vị ấy nói về sự đoạn trừ tùy miên sân của sắc uẩn. Trong cõi dục, có sắc và điều đó ở trong tâm địa vô học. Trong thân, có sự quán thân và sự hiện tại lạc trú. Do sức mạnh và do nỗ lực, sự đoạn trừ của tất cả những gì đã được tác ý trong tâm, sự đoạn trừ này của ta là do người có lỗi lầm và do người có bản chất trang điểm. Do những điều này, có sự quán xét về thân do cha mẹ sanh ra của vị này. Vị ấy mang giữ hai pháp: bằng thân và bằng sự quán thân, bằng tâm và bằng sự quán tâm. Vị ấy nhận biết rằng có thể an trú trong bảy chứng đắc bằng tâm và bằng tâm đã được khéo tu tập, đối với vật của phiền não thuộc thân, trong sự y cứ vào tâm.
Gahapatiputtopamatāya ca yathā gahapatiputtassa nānāraṅgānaṃ vatthakaraṇḍako puṇṇo bhaveyya, so yaṃ yadeva vatthayugaṃ pubbaṇhasamaye ākaṅkhati, pubbaṇhasamaye nibbāpeti, evaṃ majjhanhikasamaye, sāyanhasamaye, evameva so āyasmā cittassa subhāvitattā yathārūpena vihārena ākaṅkhati pubbaṇhasamayaṃ viharituṃ, tathārūpena † pubbaṇhasamayaṃ viharati, majjhanhikasamaye, sāyanhasamaye. Tena vesa āyasmatā upamāya me āsitāya pathavī vā anuttarā indriyabhāvanā bhāvitacittena. Tena so āyasmā idaṃ aṭṭhavidhaṃ bhāvanaṃ paṭijānāti catūsu mahābhūtesu, kāyabhāvanaṃ upakacaṇḍālaṃ purisametakaṃ bhavatalākāsu cittabhāvanaṃ, imāhi bhāvanāhi tāya bhāvanāya ca samathā pāripūrimantehi. Imehi catūhi paññāpāripūrimantehi.
This should be understood by the simile of the householder's son. Just as a householder's son might have a chest full of garments of various colors, and whatever pair of garments he desires in the morning, that he puts on in the morning; and similarly at midday and in the evening. Even so, that venerable one, because his mind is well-developed, whatever kind of abiding he desires to dwell in during the morning, in that kind of abiding he dwells in the morning; and similarly at midday and in the evening. Therefore, for that venerable one, by the simile spoken by me, just as with the earth, so with a developed mind there is the unsurpassed development of the faculties. Therefore, that venerable one understands this eightfold development: development of the body in the four great elements; and development of the mind in [the similes of] Upaka the outcaste, the man-eater, and the planes of existence. By these final developments and by that development, serenity reaches fulfillment. By these final four, wisdom reaches fulfillment.
Và bằng ví dụ về con trai của gia chủ. Giống như con trai của gia chủ có thể có một cái rương đựng đầy các cặp y với nhiều màu sắc khác nhau. Bất cứ cặp y nào vị ấy muốn vào buổi sáng, vị ấy mặc vào buổi sáng; tương tự vào buổi trưa, vào buổi chiều. Cũng vậy, vị trưởng lão ấy, do tâm đã được khéo tu tập, bất cứ cách an trú nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú bằng cách đó vào buổi sáng, vào buổi trưa, vào buổi chiều. Do đó, bởi ví dụ về đất đã được ta nói, sự tu tập các căn là vô thượng đối với người có tâm đã được tu tập. Do đó, vị trưởng lão ấy nhận biết tám loại tu tập này: trong bốn đại, có sự tu tập thân; trong các trường hợp upakacaṇḍāla, purisametaka, bhavatalāka, có sự tu tập tâm. Bằng những sự tu tập này và bằng sự tu tập ấy, các pháp chỉ được viên mãn ở cuối. Bằng bốn pháp này, tuệ được viên mãn ở cuối.
97. Kathaṃ upakacaṇḍālaṃ paṭikūlesu dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Kāyo pakatiyā appaṭikūlaṃ kāye uddhumātakasaññā saṃkhittena nava saññā ime paṭikūlā dhammā ceso āyasmā paṭikūlato ajigucchito kāyagatāsatiyā bhāvanānuyogamanuyutto viharati, na hi tassa jigucchappahāya cittaṃ paṭikūlati.
97. How is it [like] Upaka the outcaste? He dwells perceiving the non-repulsive in repulsive things. The body is by nature non-repulsive. In the body there are the perception of a bloated corpse and, in brief, the nine perceptions; these are repulsive things. That venerable one, not disgusted by the repulsive, dwells engaged in the practice of developing mindfulness directed to the body. Indeed, for him, having abandoned disgust, the mind is not repulsed.
97. Thế nào là upakacaṇḍāla? Vị ấy an trú với tưởng không ghê tởm trong các pháp ghê tởm. Thân vốn tự nhiên không ghê tởm. Trong thân, có tưởng về tử thi sình trương, nói tóm lại là chín loại tưởng. Đây là những pháp ghê tởm. Vị trưởng lão ấy an trú, chuyên tâm vào sự nỗ lực tu tập niệm thân, không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Quả vậy, do đã đoạn trừ sự ghê tởm, tâm của vị ấy không ghê tởm.
Kathaṃ appaṭikūlesu dhammesu paṭikūlasaññī viharatīti? Kāyo sabbalokassa appaṭikūlo taṃ so āyasmā asubhasaññāya viharati. Evaṃ appaṭikūlesu dhammesu paṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the repulsive in non-repulsive things? The body is non-repulsive to the entire world. That venerable one dwells with the perception of foulness in regard to it. Thus he dwells perceiving the repulsive in non-repulsive things.
Thế nào là vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong các pháp không ghê tởm? Thân đối với tất cả thế gian là không ghê tởm. Vị trưởng lão ấy an trú với tưởng bất tịnh về thân đó. Như vậy, vị ấy an trú với tưởng ghê tởm trong các pháp không ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca appaṭikūlasaññī viharatīti api sabboyaṃ lokassa yamidaṃ muṇḍo pattapāṇī kulesu piṇḍāya vicarati, tena ca so āyasmā suvaṇṇadubbaṇṇena appaṭikūlasaññī cittena ca kāyena nibbidāsahagatena appaṭikūlasaññī, evaṃ paṭikūlesu appaṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things? Indeed, of all the people in the world, there is this shaven-headed one, holding a bowl in hand, who wanders among families for alms-food. And because of that, that venerable one, with a mind that perceives the non-repulsive in the beautiful and the ugly, and with a body accompanied by disenchantment, perceives the non-repulsive. Thus, he dwells perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong những điều đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm? Vả lại, đối với tất cả thế gian này, người cạo đầu, tay cầm bát, đi lại trong các gia đình để khất thực, do đó vị trưởng lão ấy có tưởng không đáng ghê tởm đối với sắc tốt và sắc xấu, với tâm và thân đi kèm với sự nhàm chán, vị ấy có tưởng không đáng ghê tởm. Như vậy, vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Paṭikūlesu ca dhammesu subhasaññino itthirūpe paṭikūlesu ca jigucchino vinīlakavipubbake tattha so āyasmā paṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in repulsive things? In repulsive things, there is the perception of beauty in a woman's form, and disgust at a bluish and festering corpse. Therein, that venerable one dwells perceiving the repulsive.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm? Trong các pháp đáng ghê tởm, có tưởng về tịnh; trong sắc của người nữ đáng ghê tởm và đáng chán ghét, xanh bầm và chảy mủ, ở đó vị trưởng lão ấy trú với tưởng đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu dhammesu tadubhayaṃ abhinivajjayitvā upekkhako viharati sato ca sampajāno ca? Appaṭikūlesu ca dhammesu subhasaññino itthirūpe paṭikūlesu ca jigucchino vinīlakavipubbake tadubhayaṃ abhinivajjayitvā ‘netaṃ mama’‘nesohamasmi’‘neso me’ attāti viharati. Evaṃ tadubhayaṃ abhinivajjayitvā upekkhako viharati sato sampajāno.
How, concerning repulsive and non-repulsive things, having avoided both, does one dwell equanimous, mindful, and with clear comprehension? When there is the perception of beauty in non-repulsive things such as a woman's form, and disgust at repulsive things such as a bluish and festering corpse, having avoided both, one dwells reflecting: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ Thus, having avoided both, one dwells equanimous, mindful, and with clear comprehension.
Làm thế nào vị ấy, trong các pháp đáng ghê tởm, sau khi tránh né cả hai (tưởng tịnh và bất tịnh), trú với tâm xả, có chánh niệm và tỉnh giác? Trong các pháp không đáng ghê tởm, có tưởng về tịnh; trong sắc của người nữ đáng ghê tởm và đáng chán ghét, xanh bầm và chảy mủ, sau khi tránh né cả hai điều đó, vị ấy trú với (quán tưởng) 'cái này không phải của tôi', 'cái này không phải là tôi', 'cái này không phải là tự ngã của tôi'. Như vậy, sau khi tránh né cả hai điều đó, vị ấy trú với tâm xả, có chánh niệm, tỉnh giác.
Aparo pariyāyo. Tedhātuko lokasannivāso sabbabālaputhujjanānaṃ appaṭikūlasaññā. Tattha ca āyasmā sāriputto appaṭikūlasaññī viharati. Evaṃ appaṭikūlesu dhammesu paṭikūlasaññī viharati.
Another exposition. For all foolish worldlings, there is the perception of the non-repulsive in the world-system of the three realms. And therein, the Venerable Sāriputta dwells perceiving the repulsive. Thus, he dwells perceiving the repulsive in non-repulsive things.
Một pháp môn khác. Nơi ở của chúng sanh trong tam giới, đối với tất cả phàm phu ngu si, là tưởng không đáng ghê tởm. Và ở đó, trưởng lão Sāriputta trú với tưởng đáng ghê tởm. Như vậy, trong các pháp không đáng ghê tởm, vị ấy trú với tưởng đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Paṭikūlasaññino sabbasekkhā idha kā tedhātuke sabbaloke. Tattha katamo bhūmippatto samādhiphale sacchikato appaṭikūlasaññī viharati? Kiṃ kāraṇaṃ? Na hi taṃ atthi yassa lokassa pahānāya paṭikūlasaññī uppādeyya.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in repulsive things? For all trainees, there is the perception of the repulsive here in the entire world of the three realms. Therein, who is it that, having reached the stage and realized the fruit of concentration, dwells perceiving the non-repulsive? For what reason? Because there is no world for the abandoning of which one would need to produce the perception of the repulsive.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm? Tất cả các bậc hữu học ở đây trong toàn bộ tam giới này đều có tưởng đáng ghê tởm. Ở đó, người đã đạt đến tầng bậc nào, đã chứng ngộ quả của định, lại trú với tưởng không đáng ghê tởm? Lý do là gì? Vì không có thế gian nào mà để đoạn trừ nó, tưởng đáng ghê tởm lại nên khởi lên.
Kathaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu paṭikūlasaññī viharati? Tedhātuke lokasannivāse yāva kāmalokabhūmatā hi rāgānaṃ vītarāgānaṃ paṭikūlasamatā rūpārūpadhātuṃ appaṭikūlasamatā. Tattha ca āyasmā sāriputto paṭikūlasaññī viharati. Evaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu paṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the repulsive in both repulsive and non-repulsive things? In the world-system of the three realms, as far as the plane of the sense-sphere world, for both those with lust and those without lust, there is an equivalence of the repulsive; in the form and formless realms, there is an equivalence of the non-repulsive. And therein, the Venerable Sāriputta dwells perceiving the repulsive. Thus, he dwells perceiving the repulsive in both repulsive and non-repulsive things.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm? Trong nơi ở của chúng sanh trong tam giới, đối với những người còn tham ái thì có cõi dục giới; đối với những người đã ly tham thì có sự bình đẳng trong cái đáng ghê tởm, và sự bình đẳng trong cái không đáng ghê tởm đối với sắc giới và vô sắc giới. Và ở đó, trưởng lão Sāriputta trú với tưởng đáng ghê tởm. Như vậy, vị ấy trú với tưởng đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Yaṃ kiñci parato duruttānaṃ durāgatānaṃ vacanapathānaṃ taṃ vacanaṃ appaṭikūlaṃ yāvatā vācaso appatirūpā tathā janassa appaṭikūlasaññā. Tattha āyasmā sāriputto abhiññāya sacchikato appaṭikūlasaññī viharati, evaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things? Whatever courses of speech from others are ill-spoken and ill-come, that speech is non-repulsive. Insofar as words are unseemly, so there is for people a perception of the non-repulsive. Therein, the Venerable Sāriputta, having realized this for himself through direct knowledge, dwells perceiving the non-repulsive. Thus, he dwells perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm? Bất cứ con đường lời nói nào từ người khác là những lời nói xấu, những điều đến một cách tồi tệ, lời nói đó là không đáng ghê tởm. Trong chừng mực lời nói là không thích hợp, như vậy người ta có tưởng không đáng ghê tởm. Ở đó, trưởng lão Sāriputta, sau khi biết với thắng trí và đã chứng ngộ, trú với tưởng không đáng ghê tởm. Như vậy, vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm.
98. Kathaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu tadubhayaṃ abhinivajjayitvā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno? Yañca nesaṃ samanupassati ye dhammā duccaritā, te dhammā appaṭikūlā. Tattha āyasmā sāriputto iti paṭisañcikkhati ye dhammā duccaritā, te dhammā aniṭṭhavipākā. Ye dhammā sucaritā, te ācayagāmino. So ca sucaritaṃ ācayagāminiṃ karitvā duccaritaṃ aniṭṭhavipākaṃ karitvā tadubhayaṃ abhinivajjayitvā upekkhako viharati.
98. How does one dwell equanimous, mindful, and with clear comprehension, having avoided both in regard to repulsive and non-repulsive things? He observes of them that those things which are misconduct are non-repulsive. Therein, the Venerable Sāriputta reflects thus: ‘Those things that are misconduct have a disagreeable result. Those things that are good conduct are conducive to accumulation.’ And he, considering that good conduct is conducive to accumulation and that misconduct has a disagreeable result, having avoided both, dwells equanimous.
98. Làm thế nào vị ấy, trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm, sau khi tránh né cả hai, trú với tâm xả, có chánh niệm và tỉnh giác? Và điều mà vị ấy thấy rõ là: những pháp nào là ác hạnh, những pháp đó không đáng ghê tởm. Ở đó, trưởng lão Sāriputta suy xét như vầy: những pháp nào là ác hạnh, những pháp đó có quả không mong muốn; những pháp nào là thiện hạnh, những pháp đó dẫn đến sự tích tập. Và vị ấy, sau khi làm thiện hạnh dẫn đến sự tích tập và làm ác hạnh có quả không mong muốn, sau khi tránh né cả hai, trú với tâm xả.
Atha paṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlesu ca paṭikūlasaññī viharati. Taṇhā paṭikūladhammā kiṃ kāraṇaṃ? Taṇhāvasena hi sattā dvīhi dhammehi sattā, kabaḷīkāre āhāre rasataṇhāya sattā, phasse sukhasaññāya sattā. Tatthāyasmā sāriputto kabaḷīkāre ca āhāre paṭikūlasaññī viharati, phasse ca dukkhasaññī viharati. Evaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca paṭikūlasaññī viharati.
Then he dwells perceiving the repulsive in both repulsive and non-repulsive things. Craving is a repulsive thing. For what reason? For by the power of craving, beings are attached by two things: they are attached by craving for flavor in physical food, and attached by the perception of pleasure in contact. Therein, the Venerable Sāriputta dwells perceiving the repulsive in physical food and perceiving suffering in contact. Thus, he dwells perceiving the repulsive in both repulsive and non-repulsive things.
Lại nữa, vị ấy trú với tưởng đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm. Ái là pháp đáng ghê tởm. Lý do là gì? Vì do năng lực của ái, chúng sanh bị dính mắc bởi hai pháp: trong đoàn thực, chúng sanh bị dính mắc bởi vị ái; trong xúc, chúng sanh bị dính mắc bởi tưởng về lạc. Ở đó, trưởng lão Sāriputta trú với tưởng đáng ghê tởm trong đoàn thực, và trú với tưởng về khổ trong xúc. Như vậy, vị ấy trú với tưởng đáng ghê tởm trong những điều đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Taṇhākkhayaṃ anuttaraṃ nibbānaṃ tathā bālaputhujjanānaṃ paṭikūlasaññā pahatasaññā ca. Tatthāyasmato sāriputtassa appaṭikūlasaññā abyāpādasaññā ca sāmaṃ paññāya passitvā evaṃ paṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things? For foolish worldlings, the destruction of craving, unsurpassed Nibbāna, is a perception of the repulsive and a perception of what is struck down. But for the Venerable Sāriputta, having seen for himself with wisdom, there is the perception of the non-repulsive and the perception of non-ill will. Thus, he dwells perceiving the non-repulsive in repulsive things.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm? Niết-bàn vô thượng, sự đoạn tận ái, đối với phàm phu ngu si lại là tưởng đáng ghê tởm và tưởng về sự hủy diệt. Ở đó, đối với trưởng lão Sāriputta, có tưởng không đáng ghê tởm và tưởng vô sân, sau khi tự mình thấy bằng trí tuệ. Như vậy, vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlesu ca appaṭikūlesu ca dhammesu appaṭikūlasaññī viharati? Tatiye ca nibbāne paṭikūlasaññino yasena ca kittini ca appaṭikūlasaññino. Tatthāyasmā sāriputto assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ sammāpaññāya paṭijānanto paṭikūlañca appaṭikūlañca dhammaṃ tadubhayaṃ abhinivajjayitvā appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the non-repulsive in both repulsive and non-repulsive things? And thirdly, in regard to Nibbāna, there are those who perceive the repulsive, and those who, through fame and renown, perceive the non-repulsive. Therein, the Venerable Sāriputta, understanding as it really is with right wisdom the gratification, the danger, and the escape, and having avoided both things—the repulsive and the non-repulsive—dwells perceiving the non-repulsive.
Làm thế nào vị ấy trú với tưởng không đáng ghê tởm trong các pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm? Và trong Niết-bàn thứ ba, người có tưởng đáng ghê tởm, và với danh vọng và tiếng tăm, người có tưởng không đáng ghê tởm. Ở đó, trưởng lão Sāriputta, trong khi biết rõ vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly như thật bằng chánh trí tuệ, sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm, trú với tưởng không đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūlaṃ appaṭikūlañca dhammaṃ tadubhayaṃ abhinivajjayitvā upekkhako viharati? Sato ca sampajāno ca, yañca samanupassati anunayo appaṭikūlo dhammo paṭigho ca paṭikūlo dhammo, tatthāyasmā sāriputto anunayassa paṭighappahīnattā upekkhako viharati sato sampajāno ca. Yañcassa samanupassati ayaṃ pañcavidhā anuttarā indriyabhāvanā. Ayaṃ suttaniddeso.
How does one dwell equanimous, having avoided both the repulsive and the non-repulsive thing, being mindful and clearly comprehending? One observes that attraction is a non-repulsive thing and aversion is a repulsive thing. Therein, the venerable Sāriputta, due to having abandoned attraction and aversion, dwells equanimous, mindful, and with clear comprehension. And what he observes is this fivefold unsurpassed development of the faculties. This is the explanation of the discourse.
Làm thế nào vị ấy, sau khi tránh né cả hai pháp đáng ghê tởm và không đáng ghê tởm, trú với tâm xả, có chánh niệm và tỉnh giác? Và điều mà vị ấy thấy rõ là: sự thuận theo là pháp không đáng ghê tởm, và sự chống đối là pháp đáng ghê tởm. Ở đó, trưởng lão Sāriputta, do đã đoạn trừ sự thuận theo và sự chống đối, trú với tâm xả, có chánh niệm và tỉnh giác. Và điều mà vị ấy thấy rõ, đây là sự tu tập các căn vô thượng gồm năm loại. Đây là phần chỉ dẫn kinh.
99. Tattha katamo desanāhāro? Imamhi sutte kiṃ desitabbaṃ? Tattha vuccate, imamhi sutte diṭṭhadhammasukhavihāro desito, tathā vimuttaṃ cittaṃ paccavekkhaṇā ca adhipaññādhammaṃ desitaṃ.
99. Therein, what is the Teaching Mode of exposition? What is to be taught in this discourse? Therein, it is said: In this discourse, dwelling happily in the present life is taught, and likewise the liberated mind, reviewing, and the Dhamma of higher wisdom are taught.
99. Trong đó, pháp cú thuyết thị là gì? Trong kinh này, điều gì cần được thuyết giảng? Ở đó, được nói rằng: trong kinh này, sự an trú lạc trong hiện tại đã được thuyết giảng; cũng vậy, tâm giải thoát, sự quán xét, và pháp thắng trí đã được thuyết giảng.
Tattha katamo vicayo? Ye kāye kāyānupassino viharanti, tesaṃ cittaṃ anunayappaṭighena na viharati anunayappaṭighena cābhiramamānassa cittaṃ samaggataṃ bhavissatīti bhāvanāya balametaṃ, ayaṃ vicayo hāro.
Herein, what is the mode of investigation? For those who dwell contemplating the body in the body, their mind does not dwell with attraction and aversion; and that the mind of one delighting with attraction and aversion will become unified—this is the strength of development. This is the mode of investigation.
Trong ấy, trạch pháp cú pháp (vicayo) là gì? Những vị nào sống quán thân trong thân, tâm của các vị ấy không trú với sân tùy miên và ái tùy miên. Đối với người đang hoan hỷ, tâm sẽ trở nên nhất trí. Đây là năng lực của sự tu tập. Đây là trạch pháp cú pháp.
Tattha katamo yuttihāro? Kāyabhāvanāya ca cittabhāvanāya ca na kiñci sabrahmacārī atimaññissatīti. Atthi esā yutti, ayaṃ yuttihāro.
Herein, what is the mode of reason? That on account of the development of the body and the development of the mind, a fellow monastic will not despise another for any reason. This is the reason. This is the mode of reason.
Trong ấy, hợp lý cú pháp (yuttihāro) là gì? Do tu tập thân và do tu tập tâm, vị đồng phạm hạnh sẽ không khinh thường (người khác) vì bất cứ lý do gì. Có sự hợp lý này. Đây là hợp lý cú pháp.
Tattha katamo padaṭṭhāno hāro? Kāyabhāvanāya paṭhamassa sati upaṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Yā pathavīsamacittatā, sā aniccānupassanāya padaṭṭhānaṃ.
Herein, what is the mode of proximate cause? The development of the body is the proximate cause for the first establishment of mindfulness. The state of mind like the earth is the proximate cause for the contemplation of impermanence.
Trong ấy, nhân cận cú pháp (padaṭṭhāno hāro) là gì? Sự tu tập thân là nhân cận của niệm xứ thứ nhất. Tâm thái tương tự như đất là nhân cận của sự quán vô thường.
Tattha katamo lakkhaṇo? Yaṃ pathavīsamena cetasā viharati attānupassī pathavīsamena gihī viharati. Ko attho pathavīsamenāti? Yathā ye ca selopamatāya akammayuttā evameva pathavīsamo ayaṃ hiriyatāya. Ayaṃ lakkhaṇo.
Herein, what is the mode of characteristic? That one, contemplating the body, dwells with a mind like the earth; a householder dwells with a mind like the earth. What is the meaning of 'like the earth'? Just as those who are like a rock mountain are not engaged in action, even so is this one like the earth due to a lack of shame. This is the mode of characteristic.
Trong ấy, tướng cú pháp (lakkhaṇo) là gì? Việc vị ấy sống với tâm như đất, người quán tự ngã, người gia chủ sống với (tâm) như đất. Nghĩa của 'như đất' là gì? Cũng như những người ví như tảng đá, không dính líu đến hành động, cũng vậy, người này như đất do sự vô tàm. Đây là tướng cú pháp.
Tattha katamo catubyūho hāro? Imamhi byākaraṇe ko tassa āyasmato adhippāyo? Ye keci arahantā indriyabhāvanaṃ ākaṅkhiyanti, te pathavīsamataṃ uppādayissantīti. Ayaṃ adhippāyo.
Herein, what is the fourfold mode of exposition? In this explanation, what is the intention of that venerable one? Whichever arahants desire the development of the faculties, they will produce the state of being like the earth. This is the intention.
Trong ấy, tứ phân cú pháp (catubyūho hāro) là gì? Trong lời giải thích này, chủ ý của vị trưởng lão ấy là gì? Bất cứ vị A-la-hán nào mong muốn tu tập các căn, các vị ấy sẽ làm phát sinh tâm thái như đất. Đây là chủ ý.
Tattha katamo āvaṭṭoti? Natthi āvaṭṭassa bhūmi.
Herein, what is the mode of reversal? There is no ground for the mode of reversal.
Trong ấy, luân chuyển cú pháp (āvaṭṭo) là gì? Không có nền tảng cho luân chuyển cú pháp.
Tattha katamo vibhatti? Yo kāyānupassī viharati, so pathavīsamacittataṃ paṭilabhissatīti na ekaṃsena. Kiṃ kāraṇaṃ? Ye khaṇḍakādichinnakādino, na te pathavīsamacittataṃ paṭilabhanti. Sabbā kāyagatāsati sekkhabhāvanāya nibbānaṃ phalaṃ, ayaṃ vibhatti.
Herein, what is the mode of distinction? That one who dwells contemplating the body will attain the state of mind like the earth is not certain. What is the reason? Those whose virtue is broken, cut, and so forth, do not attain the state of mind like the earth. For the learner's development of all mindfulness directed to the body, Nibbāna is the fruit. This is the mode of distinction.
Trong ấy, phân tích cú pháp (vibhatti) là gì? Người sống quán thân trong thân sẽ đạt được tâm thái như đất, điều này không phải là tuyệt đối. Lý do là gì? Những người có giới bị sứt mẻ, bị vi phạm, v.v., họ không đạt được tâm thái như đất. Với sự tu tập của bậc hữu học về toàn bộ niệm thân, quả là Niết-bàn. Đây là phân tích cú pháp.
Tattha katamo parivattano hāro? Ye kāyānupassino viharissanti, tesaṃyeva kāyapaccayā uppajjeyya āsavā vighātapariḷāhā, ayaṃ parivattano hāro.
Herein, what is the mode of exchange? For those who will dwell contemplating the body, for them indeed, on account of the body, taints accompanied by distress and anguish may arise. This is the mode of exchange.
Trong ấy, chuyển đổi cú pháp (parivattano hāro) là gì? Đối với chính những người sẽ sống quán thân trong thân, do duyên nơi thân, các lậu hoặc, sự mệt mỏi và phiền não có thể phát sinh. Đây là chuyển đổi cú pháp.
Tattha katamo otaraṇo? Pañcakkhandhā † avitiṇṇā † bāvīsatindriyāni, tathā yaṃ manindriyaṃ, taṃ manodhātu manāyatanañca. Yaṃ samādhindriyaṃ, taṃ dhammadhātu dhammāyatanañca. Ayaṃ otaraṇo hāro.
Herein, what is the mode of inclusion? The twenty-two faculties have not transcended the five aggregates. Likewise, that which is the mind faculty is also the mind-element and the mind-base. That which is the concentration faculty is also the Dhamma-element and the Dhamma-base. This is the mode of inclusion.
Trong ấy, dẫn nhập cú pháp (otaraṇo) là gì? Hai mươi hai căn không vượt ngoài năm uẩn. Tương tự, cái gọi là ý căn, đó là ý giới và ý xứ. Cái gọi là định căn, đó là pháp giới và pháp xứ. Đây là dẫn nhập cú pháp.
Tattha katamo sodhano hāro? Ye ca manasā cattāro bhāvetabbā, te sabbe bhāvitā yaṃ taṃ manena pahīne pattabbataṃ sabbattha etassa ca atthāya ārambho, so attho suddho. Ayaṃ sodhano hāro.
Herein, what is the mode of purification? The four things that are to be developed by the mind, they have all been developed. That which is the state to be attained in abandoning exists. And everywhere the undertaking is for the sake of this purpose; that purpose is pure. This is the mode of purification.
Trong ấy, thanh lọc cú pháp (sodhano hāro) là gì? Và bốn pháp nào cần được tu tập bằng ý, khi tất cả chúng đã được tu tập bằng ý, thì cái gọi là trạng thái cần được đạt đến trong sự đoạn trừ, ở khắp mọi nơi sự nỗ lực đều vì mục đích này, mục đích ấy là thanh tịnh. Đây là thanh lọc cú pháp.
Tattha katamo adhiṭṭhāno? Ayaṃ samādhi ekattatāya paññatto, cha kāyā ekattatāya paññattā. Pañcindriyāni rūpīni rūpakāyo. Cha vedanākāyā vedanākāyo. Cha saññākāyā saññākāyo. Cha cetanākāyā cetanākāyo. Cha viññāṇakāyā viññāṇakāyo. Sabbepi ete dhammā dhammakāyotiyeva saṅkhaṃ gacchanti. Ayaṃ adhiṭṭhāno.
Herein, what is the mode of determination? This concentration is designated for the state of oneness; the six bodies are designated for the state of oneness. The five material faculties are the form-body. The six bodies of feeling are the feeling-body. The six bodies of perception are the perception-body. The six bodies of volition are the volition-body. The six bodies of consciousness are the consciousness-body. All these phenomena are reckoned only as the Dhamma-body. This is the mode of determination.
Trong ấy, quyết định cú pháp (adhiṭṭhāno) là gì? Định này được chế định là sự nhất tâm, sáu thân được chế định là sự nhất tâm. Năm căn có sắc là sắc thân. Sáu thân thọ là thọ thân. Sáu thân tưởng là tưởng thân. Sáu thân tư là tư thân. Sáu thân thức là thức thân. Tất cả các pháp này được kể là pháp thân. Đây là quyết định cú pháp.
Parikkhāroti samāpattikosallañca vīthikosallañca † hetu. Yañca gocarakosallaṃ yañca kallaṃ taṃ kosallaṃ paccayo. Vodānakosallaṃ hetu, kallaṃ paccayo. Sukhaṃ hetu, abyāpajjaṃ paccayo. Ayaṃ parikkhāro.
The mode of equipment is as follows: Skill in attainment and skill in process are the generative cause. Skill in resort and skill in suitability are the supportive condition. Skill in purification is the generative cause; suitability is the supportive condition. Happiness is the generative cause; non-affliction is the supportive condition. This is the mode of equipment.
Trang bị cú pháp (parikkhāro) là: Sự thiện xảo trong thiền chứng và sự thiện xảo trong lộ trình tâm là nhân. Sự thiện xảo trong hành xứ và sự thiện xảo trong sự thích hợp là duyên. Sự thiện xảo trong sự thanh lọc là nhân, sự thích hợp là duyên. Lạc là nhân, vô sân là duyên. Đây là trang bị cú pháp.
Tattha katamo samāropanoti? Yathā pathavī sucimpi nikkhīpante asucimpi nikkhitte tādiseyeva evaṃ kāyo manāpikehipi phassehi amanāpikehipi phassehi tādisoyeva paṭighasamphassena vā sukhāya vedanāya tādisaṃ yo cittaṃ. Idaṃ suttaṃ vibhattaṃ saopammaṃ ugghaṭitaññussa puggalassa vibhāgena. Tattha samāropanāya avakāso natthi.
Herein, what is the mode of application? Just as the earth remains the same when something clean is placed upon it or when something unclean is placed upon it, so too the body remains the same when touched by pleasant contacts and by unpleasant contacts. Likewise, the mind remains the same with contact of resistance or with pleasant feeling. This discourse, with its simile, has been analyzed by way of a division for a person of quick understanding. Herein, there is no occasion for the mode of application.
Trong ấy, áp đặt cú pháp (samāropano) là gì? Giống như đất, khi người ta đặt vật thanh tịnh hay vật không thanh tịnh lên, nó vẫn như vậy; cũng vậy, thân đối với các xúc khả ý và các xúc không khả ý vẫn như vậy; hoặc với xúc chạm sân, hoặc với thọ lạc, tâm vẫn như vậy. Kinh này được phân tích cùng với ví dụ, theo sự phân loại dành cho hạng người quảng khai tri. Ở đây không có cơ hội cho áp đặt cú pháp.
100. Tattha katamaṃ suttaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ? Yato ca kusalehi dhammehi na virodhati, na vaḍḍhati, imaṃ ādīnavaṃ bhagavā deseti, tasmā channaṃ vivareyya, vivaṭaṃ nātivassati, tato ādīnavato vivareyyāti taṃ tīhi dhammehi nābhidhaṃsitāti asubhasaññāya rāgena nābhidhaṃsiyati. Mettāya dosena nābhidhaṃsiyati. Vipassanā mohena nābhidhaṃsiyati. Evañcassa yo yo dhammo paṭipakkho tamhi tamhi dhamme paripūrissati. Yo tassa dhammassa akusalo dhammo paṭipakkho, tena nādhivāsiyati.
100. Herein, which discourse partakes of defilement? Since one neither conflicts with nor grows in wholesome states, the Blessed One teaches this danger. Therefore, one should uncover what is covered; it does not rain upon what is open. Therefore, due to the danger, one should uncover. It is not overcome by three states: by the perception of foulness, it is not overcome by lust; by loving-kindness, it is not overcome by hatred; by insight, it is not overcome by delusion. And thus, for this one, whatever state is the counterpart, in that very state he will become perfect. The unwholesome state which is the opponent of that wholesome state is not endured by him.
100. Trong ấy, kinh nào thuộc phần phiền não? Bởi vì không mâu thuẫn với các thiện pháp, nhưng cũng không tăng trưởng, Đức Thế Tôn thuyết giảng sự nguy hại này. Do đó, nên mở ra cái bị che đậy; mưa không rơi ướt cái đã mở; do đó, nên mở ra khỏi sự nguy hại. Nó không bị phá hủy bởi ba pháp: do bất tịnh tưởng, nó không bị tham phá hủy; do tâm từ, nó không bị sân phá hủy; do minh sát, nó không bị si phá hủy. Và như vậy, đối với vị ấy, pháp nào là đối trị thì pháp ấy sẽ được viên mãn. Bất thiện pháp nào là đối nghịch với thiện pháp của vị ấy, nó không được dung thứ.
Aparo pariyāyo. Ye ime dhammā attanā na sakkoti vuṭṭhānaṃ, te ete dhammā desitā. Channamativassatīti tehi vitakkaṃ yena ca sakkā puna desitaṃ cittaṃ vibhāvetuṃ pariyodāpetuṃ vivekaninnassa vivekapoṇassa vivekapabbhārassa vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ āpajjati kusalesu dhammesu, seyyathāpi nāma uppalaṃ vā kumudaṃ vā padumaṃ vā udake sukkapakkhe cando yāvaratti yāvadivaso āgacchati, tassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhitabbā, na parihāni, evaṃvidhaṃ taṃ cittaṃ nābhidhaṃsiyati. Aparopettha yo akūṭo asaṭho amāyāvī uju puriso yathābhūtaṃ attānaṃ āvikaroti. Tattha yo chādeti tassa akusalā dhammā cittaṃ anudhāvanti. Channamativassatīti yo pana hoti asaṭho akūṭo amāyāvī uju puriso yathābhūtaṃ attānaṃ āvikaroti. Tassa cittaṃ akusalehi dhammehi na viddhaṃsiyati, ayaṃ suttattho.
Another method. These states are taught for those who are not able to arise from them by themselves. As for the saying, 'It rains upon the covered': by those thoughts by which it is possible to clarify and purify the mind that has been taught again, for one inclined to seclusion, sloping towards seclusion, tending towards seclusion, there comes to be growth, increase, and abundance in wholesome states. Just as, for a blue lotus, a white lotus, or a red lotus in the water, or for the moon in the waxing fortnight, as night and day pass, only growth is to be expected, not decline; such a mind is not overcome. Furthermore, herein is one who is not crooked, not fraudulent, not deceitful, an upright person who reveals himself as he truly is. Therein, for one who conceals, unwholesome states pursue the mind. As for the saying, 'It rains upon the covered': for one who is not fraudulent, not crooked, not deceitful, an upright person who reveals himself as he truly is, his mind is not destroyed by unwholesome states. This is the meaning of the discourse.
Một pháp môn khác. Những pháp này được thuyết cho những ai không thể tự mình đứng dậy (khỏi phiền não). 'Mưa rơi ướt cái bị che đậy' có nghĩa là: họ có thể, bằng sự suy tầm, làm cho tâm đã được thuyết giảng trở nên rõ ràng, làm cho trong sạch. Đối với người hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nghiêng về viễn ly, sự tăng trưởng, phát triển, quảng đại trong các thiện pháp sẽ xảy ra. Ví như hoa sen xanh, hoa sen trắng, hay hoa sen hồng trong nước, hoặc mặt trăng trong thượng huyền, đến suốt đêm ngày, chỉ có sự tăng trưởng được mong đợi, không có sự suy giảm; tâm như vậy không bị phá hủy. Lại nữa, ở đây có người ngay thẳng, không gian xảo, không lừa lọc, không xảo trá, bộc lộ bản thân như thật. Trong đó, người nào che giấu, các bất thiện pháp theo đuổi tâm của người ấy. 'Mưa rơi ướt cái bị che đậy'. Nhưng người nào không lừa lọc, không gian xảo, không xảo trá, là người ngay thẳng, bộc lộ bản thân như thật, tâm của người ấy không bị các bất thiện pháp phá hoại. Đây là ý nghĩa của kinh.
101. Tattha katamā desanā? Idha desitā dasa akusalakammapathā adhivassanatāya dasa kusalakammapathā anadhivassanatāya akusalehi na visujjhati. Yathā vuttaṃ bhagavatā ‘‘cittasaṃkilesā, bhikkhave, sattā saṃkilissantī’’ti.
101. Herein, what is the teaching? Herein are taught the ten unwholesome courses of action, due to being rained upon, and the ten wholesome courses of action, due to not being rained upon. One is not purified by unwholesome states. As was said by the Blessed One: 'Monks, it is due to the defilements of the mind that beings are defiled.'
101. Trong ấy, thuyết giảng cú pháp (desanā) là gì? Ở đây, mười bất thiện nghiệp đạo được thuyết giảng là do bị (mưa phiền não) rơi ướt, mười thiện nghiệp đạo là do không bị (mưa phiền não) rơi ướt. Do các bất thiện pháp, không có sự thanh tịnh. Như đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ kheo, do tâm ô nhiễm, chúng sanh bị ô nhiễm'.
Tattha katamo vicayo? Yassevaṃ cittaṃ adhivāsiyati, tassa bujjhitassa yaṃ bhaveyya kūṭeyya, taṃ ānantariyenapi satthari vā guṇānukampanatāya, ayaṃ vicayo.
Among these, what is the vicaya-hāra? For one whose mind thus endures, for whatever reason there might be crookedness, that might occur without immediate consequence toward the Teacher, or out of regard for his virtues. This is the vicaya-hāra.
Trong các hāra ấy, vicaya hāra là gì? Đối với người nào mà tâm được kham nhẫn như vậy, đối với người đã hiểu biết ấy, điều gì có thể là quanh co, xảo trá, điều ấy (có thể xảy ra) do không có sự gián đoạn, hoặc đối với bậc Đạo Sư, hoặc do lòng bi mẫn đối với các đức hạnh. Đây là vicaya hāra.
Tattha katamā yuttīti? Evaṃ anadhivasiyantaṃ cittaṃ vuṭṭhāti. Vuṭṭhitaṃ patiṭṭhahati kusalesu dhammesūti atthi esā yutti.
Among these, what is the yutti-hāra? Thus, the mind that does not endure emerges. The emerged mind becomes established in wholesome states. This is the suitability.
Trong các hāra ấy, yutti hāra là gì? Tâm không được kham nhẫn như vậy thì khởi lên. (Tâm) đã khởi lên thì an trú trong các thiện pháp. Có sự hợp lý này như vậy.
Padaṭṭhānanti channamativassatīti channaṃ asaṃvarānaṃ padaṭṭhānaṃ, vivaṭaṃ nātivassatīti achannaṃ saṃvaraṇānaṃ. Tasmā channaṃ vivareyya vivaṭaṃ nātivassatīti desanāya padaṭṭhānaṃ.
The padaṭṭhāna-hāra: 'The covered overflows' is the proximate cause of non-restraint. 'The uncovered does not overflow' is the proximate cause of restraint. Therefore, the saying 'One should uncover the covered; the uncovered does not overflow' is the proximate cause of the teaching.
Padaṭṭhāna (nhân gần) là gì? (Câu) 'cái được che thì mưa thấm vào' là nhân gần của sự không phòng hộ đối với sáu (căn). (Câu) 'cái không được che thì mưa không thấm vào' là nhân gần của sự không che đậy, của sự phòng hộ. Do đó, (câu) 'nên mở cái được che, cái không được che thì mưa không thấm vào' là nhân gần của lời thuyết giảng.
Lakkhaṇoti channamativassatīti ye keci vicittena channena ekalakkhaṇā dhammā sabbe te aviddhaṃsiyanti. Tasmā channaṃ vivareyya. Vivaṭaṃ nātivassatīti ye keci tena acchannena ekalakkhaṇā dhammā sabbe te nātivassantīti lakkhaṇo hāro.
The lakkhaṇa-hāra: Regarding 'The covered overflows': whatever states have the same characteristic as a variegated covering, all those states are not destroyed. Therefore, 'One should uncover the covered.' Regarding 'The uncovered does not overflow': whatever states have the same characteristic as that which is uncovered, all those states are not rained upon. This is the lakkhaṇa-hāra.
Lakkhaṇa hāra là gì? (Về câu) 'cái được che thì mưa thấm vào': bất cứ pháp nào có cùng đặc tính với cái che được trang hoàng, tất cả các pháp ấy không bị phá hủy. Do đó, nên mở cái được che. (Về câu) 'cái không được che thì mưa không thấm vào': bất cứ pháp nào có cùng đặc tính với cái không được che ấy, tất cả các pháp ấy không bị (mưa phiền não) thấm vào. Như vậy là lakkhaṇa hāra.
Tattha katamo catubyūho hāro? Imamhi sutte bhagavato ko adhippāyo? Yesaṃ kesañci cittaṃ akusalā dhammā adhipaṭidesitā te yathādhammaṃ paṭikarissantīti ayaṃ tattha bhagavato adhippāyo. Ayaṃ catubyūho hāro.
Among these, what is the catubyūha-hāra? In this discourse, what is the Blessed One's intention? For whomever unwholesome states concerning the mind are repeatedly taught, they will remedy it according to the Dhamma. This is the Blessed One's intention therein. This is the catubyūha-hāra.
Trong các hāra ấy, catubyūha hāra là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Đối với bất kỳ ai mà các pháp bất thiện đã được thuyết giảng (như là) chi phối tâm, họ sẽ sửa chữa lại đúng theo pháp. Như vậy, đây là chủ ý của Đức Thế Tôn trong kinh ấy. Đây là catubyūha hāra.
Āvaṭṭoti yaṃ channaṃ taṃ duvidhaṃ kampamānaṃ samucchitabbo. Ānantariyasamādhīnaṃ. Tattha passaddhiyañca māno āsave vaḍḍheti, assaddhiyena ca pamādaṃ gacchati, pamādena onamati, unnaḷabhāvaṃ gacchati. Vuttaṃ cetaṃ bhagavatā ‘‘unnaḷānaṃ pamattānaṃ tesaṃ vaḍḍhanti āsavā’’ti cattāri tāni upādānāni, yāni cattāri upādānāni, te pañcupādānakkhandhā bhavanti. Imāni saccāni dukkhañca samudayo ca. Tasmā channaṃ vivareyyāti yena hetunā, te āsavā vaḍḍhanti. Tesaṃ pahīnattā āsavā pahīyante. Tattha appamādena assaddhiyaṃ pahīyati uddhaccakukkuccappahānena oḷārikatā tassa dve dhammā na samatho ca bhāvanā ca pāripūriṃ gacchanti. Yo tesaṃ āsavānaṃ khayo, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni, ayaṃ āvaṭṭo.
The āvaṭṭa-hāra: Whatever is covered, that which is twofold and trembling should be cut off. Among the immediate concentrations, conceit in tranquility increases the corruptions. Through faithlessness one goes to heedlessness; through heedlessness one stoops, one goes to a state of arrogance. And this was said by the Blessed One: 'For the arrogant and heedless, their corruptions increase.' Those four are the clingings. Whichever four clingings there are, they become the five aggregates subject to clinging. These are the truths: suffering and origin. Therefore, 'One should uncover the covered.' By which cause those corruptions increase, due to their abandonment, the corruptions are abandoned. Therein, through heedfulness, faithlessness is abandoned. Through the abandoning of restlessness and remorse, due to coarseness, for that person the two states—serenity and development—do not go to fulfillment. Whatever is the destruction of those corruptions, this is cessation. These are the four truths. This is the āvaṭṭa-hāra.
Āvaṭṭa hāra là gì? Cái gì được che, cái đó có hai loại, đang dao động, cần phải được cắt đứt. (Trong) các định vô gián. Trong đó, ngã mạn trong sự tịnh chỉ làm tăng trưởng các lậu hoặc, và do không có lòng tin nên đi đến sự dễ duôi, do dễ duôi nên khuynh hướng xuống thấp, đi đến tình trạng thấp kém. Và điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Đối với những người thấp kém, dễ duôi, các lậu hoặc của họ tăng trưởng'. Bốn thủ ấy, những gì là bốn thủ, chúng trở thành năm thủ uẩn. Đây là các sự thật: khổ và tập. Do đó, (câu) 'nên mở cái được che' (có nghĩa là) do nguyên nhân nào mà các lậu hoặc ấy tăng trưởng, do đã đoạn trừ chúng, các lậu hoặc được đoạn trừ. Trong đó, do không dễ duôi, sự không có lòng tin được đoạn trừ. Do đoạn trừ trạo cử và hối quá, (nhưng) do tính thô thiển, hai pháp của người ấy là chỉ và quán không đi đến viên mãn. Sự đoạn tận các lậu hoặc ấy, đây là diệt. Đây là bốn sự thật. Đây là āvaṭṭa hāra.
Tattha katamo vibhatti hāro? Channamativassatīti na ekaṃso. Kiṃ kāraṇaṃ? Yassa assā nivattanā yathāpi sekkhānaṃ. Yathāvuttaṃ bhagavatā –
Among these, what is the vibhatti-hāra? 'The covered overflows' is not absolute. What is the reason? Because for one there may be a turning back, just as for trainees. As was said by the Blessed One:
Trong các hāra ấy, vibhatti hāra là gì? (Câu) 'cái được che thì mưa thấm vào' không phải là tuyệt đối. Nguyên nhân là gì? Đối với người nào có sự chìm đắm, cũng như đối với các bậc hữu học. Như đã được Đức Thế Tôn nói –
‘‘Kiñcāpi sekkho pakareyya pāpaṃ, kāyena vācāya uda cetasā vā;
Abhabbo hi tassa pariguhanāya, abhabbatā diṭṭhapadassa hotī’’ti.
“Although a trainee might commit an evil deed by body, by speech, or by mind, he is indeed incapable of concealing it; this incapability is a characteristic of one who has seen the state.”
‘Dù cho bậc hữu học có làm điều ác, bằng thân, hoặc lời, hoặc ý; vị ấy không có khả năng che giấu điều đó, sự không có khả năng (che giấu) là của người đã thấy đạo.’
Kiñcāpi tesaṃ nivāraṇaṃ cittaṃ hoti. Api tu appaccayā samāye ca te niddisitabbā, ayaṃ vibhattihāro.
Although their mind may be one with hindrances, nevertheless, those states, being without deep-rooted cause, should be pointed out at the right time. This is the vibhatti-hāra.
Dù cho tâm của họ có triền cái, tuy nhiên, do không có duyên và vào đúng thời điểm, các pháp ấy cần được chỉ ra. Đây là vibhatti hāra.
Tattha katamo parivattano hāro. Channamativassatīti yassa ye dhammā sabbaṃ anavivaṭaṃ ativassiyati, vivaṭaṃ nātivassati, avaguṇantaṃ nātivassati. Ayaṃ parivattano hāro.
Among these, what is the parivattanā-hāra? Regarding 'The covered overflows': for whomever there are certain states, it rains excessively upon all who are not free from the round of rebirth. It does not rain upon one who is free from the round. It does not rain upon one who conceals virtue. This is the parivattanā-hāra.
Trong các hāra ấy, parivattana hāra là gì? (Về câu) 'cái được che thì mưa thấm vào': đối với người nào, các pháp nào thấm ướt tất cả những ai chưa thoát khỏi vòng luân hồi, (nhưng) không thấm ướt người đã thoát khỏi vòng luân hồi, không thấm ướt người che giấu đức hạnh. Đây là parivattana hāra.
Tattha katamo vevacano hāro. Channanti āvutaṃ nivutaṃ pihitaṃ paṭikujjitaṃ sañchannaṃ parodhaṃ, vivaṭaṃ nātivassatīti yassa te dhammā pabbajjitā vinodaṃ nādhivassitā vantikatāti, ayaṃ vevacano hāro.
Among these, what is the vevacana-hāra? 'Covered' means veiled, hindered, closed, overturned, well-covered, obstructed. 'The uncovered is not rained upon' means, for one who has gone forth, those states that are abandoned, dispelled, not rained upon, and rejected. This is the vevacana-hāra.
Trong các hāra ấy, vevacana hāra là gì? 'Channa' (được che) có nghĩa là: được bao bọc, được che đậy, được đóng lại, bị úp xuống, được che kỹ, bị cản trở. (Về câu) 'cái không được che thì mưa không thấm vào': đối với người nào, các pháp ấy của người xuất gia đã được từ bỏ, không bị thấm ướt, đã được loại trừ. Đây là vevacana hāra.
Tattha katamo paññatti hāro. Channamativassatīti kilesabhāgiyapaññattaṃ vivaṭaṃ nātivassatīti sadhammakiccaṃ yaṃ paṭipadā paññattiyā paññattaṃ, tasmā hi channaṃ vivareyyāti anusāsanapaññattiyā paññattaṃ, vivaṭaṃ nātivassatīti niddhānapaññattiyā paññattaṃ, ayaṃ paññatti hāro.
Among these, what is the paññatti-hāra? 'The covered overflows' is designated as pertaining to the defilements. 'The uncovered does not overflow', which is the duty of the true Dhamma, is designated by the designation of the path. Therefore, 'One should uncover the covered' is designated by the designation of instruction. 'The uncovered does not overflow' is designated by the designation of conclusion. This is the paññatti-hāra.
Trong các hāra ấy, paññatti hāra là gì? (Câu) 'cái được che thì mưa thấm vào' được chế định thuộc về phần phiền não. (Câu) 'cái không được che thì mưa không thấm vào' là phận sự của chánh pháp, được chế định bằng sự chế định về pháp hành. Do đó, (câu) 'nên mở cái được che' được chế định bằng sự chế định về lời giáo huấn. (Câu) 'cái không được che thì mưa không thấm vào' được chế định bằng sự chế định về kết luận. Đây là paññatti hāra.
Tattha katamo otaraṇo hāro? Channamativassatīti tayo kilesā rāgo doso moho, te khandhesu saṅkhārakkhandho…pe… te purā yathā niddiṭṭhaṃ khandhadhātuāyatanesu, ayaṃ otaraṇo hāro.
Among these, what is the otaraṇa-hāra? 'The covered overflows' refers to the three defilements: greed, hatred, and delusion. Among the aggregates, they are the aggregate of formations... and so on... they are shown in the aggregates, elements, and sense bases as previously indicated. This is the otaraṇa-hāra.
Trong các hāra ấy, otaraṇa hāra là gì? (Câu) 'cái được che thì mưa thấm vào' (chỉ cho) ba phiền não: tham, sân, si. Chúng trong các uẩn là hành uẩn...v.v... chúng đã được chỉ ra trước đây trong uẩn, giới, và xứ. Đây là otaraṇa hāra.
Tattha katamo sodhano hāro? Yenārambhena idaṃ suttaṃ bhāsati so ārambho niyutto.
Among these, what is the sodhana-hāra? The introduction by which this discourse is spoken, that introduction is suitable.
Trong các hāra ấy, sodhana hāra là gì? Do sự khởi đầu nào mà kinh này được nói, sự khởi đầu đó là thích hợp.
Adhiṭṭhānoti channamativassatīti ekattatāya paññattaṃ. Kiṃkāraṇaṃ? Idaṃ hi ativassatīti imassa ca ativassati evañca ativassatīti ayaṃ vemattatāya yā suṇasādhāraṇehi lakkhaṇehi paññāpiyati, sā ekattapaññatti.
The adhiṭṭhāna-hāra: 'The covered overflows' is designated as a unity. What is the reason? Indeed, 'it overflows,' and for this person 'it overflows,' and thus 'it overflows'—this diversity, which is designated by characteristics common to hearing, is a designation of unity.
Adhiṭṭhāna hāra là gì? (Câu) 'cái được che thì mưa thấm vào' được chế định với tính cách đơn nhất. Nguyên nhân là gì? Vì (câu) 'cái này thấm vào' và 'đối với người này cũng thấm vào'. Và như vậy, (câu) 'thấm vào' này, cái mà được chế định với tính cách khác biệt bởi các đặc tính chung cho việc nghe, sự chế định đó là sự chế định đơn nhất.
Tattha katamo parikkhāro? Yañca taṃ ativassiyanti, tassa dve hetū dve paccayā akusalapasuteva vācakattābhirati ca. Ime dve ayonisomanasikāro ca kusalā dhammā vopasaggā ca, ime dve paccayā.
Among these, what is the parikkhāra-hāra? For one upon whom it rains excessively, there are two causes and two conditions. The two causes are devotion to the unwholesome and delight in skillfulness in speech. The two conditions are unwise attention and decline in wholesome states. These are the two conditions.
Trong các hāra ấy, parikkhāra hāra là gì? Đối với việc bị thấm ướt ấy, có hai nhân và hai duyên. (Hai nhân là:) sự chuyên tâm vào bất thiện và sự ưa thích trong việc nói năng. Đây là hai nhân. (Hai duyên là:) tác ý không như lý và sự suy thoái các thiện pháp. Đây là hai duyên.
Tattha katamo samāropano? Channamativassatīti vemati passatīti channaṃ yaṃ pariggahituṃ yaṃ adesituṃ appassutaṃ yaṃ kathaṃkathā vibhūtena akusalamūlena yaṃ taṇhāya ca te vaḍḍhati dosāti sannitvā te appasakkhayena saṅkhārā. Saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ yāva jarāmaraṇaṃ, ayaṃ samāropano. Yaṃ puna tathā desanā, tasseva akusalā dhammā vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullatamāpajjati tassa saṅkhārā nirodhā, ayaṃ samāropano.
Among these, what is the samāropana-hāra? Regarding 'The covered overflows', it means 'one sees doubt'. That which is covered is to be grasped; that which is of little learning is not to be taught; that which is doubt... Due to the manifest unwholesome root, because of which craving and hatred increase for you, having thus concluded, those formations increase due to lack of power. Conditioned by formations is consciousness, and so on up to aging and death. This is the samāropana-hāra. Again, because of such a teaching, for that very person unwholesome states come to increase, growth, and abundance. For that person, there is the cessation of formations. This is the samāropana-hāra.
Trong các hāra ấy, samāropana hāra là gì? (Về câu) 'cái được che thì mưa thấm vào', (có nghĩa là) thấy sự nghi ngờ. Cái được che nào cần được nắm giữ, cái ít nghe nào không được thuyết giảng, sự nghi ngờ nào (phát sinh) do gốc bất thiện đã hiển lộ, do tham ái và sân của ngươi tăng trưởng, sau khi quyết định như vậy, các hành (tăng trưởng) do năng lực yếu kém. Do hành làm duyên, thức (khởi lên)... cho đến già chết. Đây là samāropana hāra. Lại nữa, khi có lời thuyết giảng như vậy, các pháp bất thiện của chính người ấy đi đến sự tăng trưởng, phát triển, lan rộng. Do sự diệt của các hành của người ấy (mà các pháp khác cũng diệt). Đây là samāropana hāra.
102. Cattāro puggalā † tamo tamaparāyanoti…pe… tattha katamo vuccate tamo nāma? Yo tamo andhakāro, yathā vuttaṃ bhagavatā ‘‘yathā andhakāre tasmiṃ bhayānake sakampidhātupuriso na passati, evameva aññāṇato tamopanandhakāro pāpakasakammasavipākaṃ na saddho hoti. Iti evaṃ lakkhaṇatā aññāṇaṃ tamo avijjā moho, yena sattā yathābhūtaṃ nappajānanti, iti vuccati tamoti. So tiṇṇaṃ cakkhūnaṃ tamo maṃsacakkhuno dibbacakkhuno paññācakkhuno, imesaṃ cakkhūnaṃ idha tamo niddisiyati aññāṇanti. Tattha katamaṃ aññāṇaṃ adassanaṃ? Atha nissaye yaṃ pubbante aññāṇaṃ aparante aññāṇaṃ pubbantāparante aññāṇaṃ hetumhi aññāṇaṃ paccayamhi aññāṇaṃ tassa aññāṇino samādhibhūtassa eso nissando. Yaṃ na jānāti idaṃ sevitabbaṃ idaṃ na manasikātabbanti. So tena tamena niddisiyati tamopi yathā vuccati. Mūḷhoti evaṃ cetanā. Tena tamena so puggalo vuccati. Tamoti so tena tamena asamūhatena asamucchinnena tapparamo bhavati tapparāyano, ayaṃ vuccati puggalo tamo tamaparāyanoti. Parāyanoyeva dhammo manasikātabbo so tamo dahati aññacittaṃ upaṭṭhapeti. Te cassa dhammā nijjhānakkhamanti. So sutamayāya paññāya samanupassati.
102. There are four persons: the one of darkness, the one destined for darkness... and so on... Herein, who is called 'tamo' (darkness)? The 'tamo' is darkness, like a blind person. As was said by the Blessed One: 'Just as in that terrifying darkness, a man of trembling nature does not see, in the same way, due to ignorance—delusion is called darkness—one does not have faith in the result of one's own evil deeds.' Thus, by this characteristic, ignorance is called 'tamo' (darkness), 'avijjā' (nescience), and 'moho' (delusion), by which beings do not know things as they truly are. Therefore, it is called 'tamo'. It is the darkness for the three eyes: the physical eye, the divine eye, and the wisdom eye. Here, in this teaching, the darkness for these eyes is pointed out as ignorance. Therein, what is ignorance? It is not seeing. Furthermore, regarding the support, whatever ignorance there is concerning the past, ignorance concerning the future, ignorance concerning the past and future, ignorance concerning the cause, ignorance concerning the condition—for that ignorant person who is not composed, this is the consequence. That one does not know: 'This should be associated with; this should not be attended to.' He is pointed out by that darkness. 'Tamo' is also spoken of as 'mūḷho' (deluded); such is the intention. By that darkness, that person is called 'tamo'. By that darkness which is not uprooted, not cut off, he becomes one who delights in it, one who is destined for it. This person is called 'one of darkness, destined for darkness'. In the next existence, that very Dhamma should be attended to; it burns that darkness and establishes the mind of Arahatship-fruition. And those dhammas are fit for his contemplation. He sees with wisdom born of learning.
102. Có bốn hạng người: người bóng tối, có đích đến là bóng tối... v.v... Trong ấy, thế nào được gọi là bóng tối? Người nào là bóng tối, là u ám, như đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Ví như trong bóng tối đáng sợ hãi ấy, người có bản chất run rẩy không nhìn thấy, cũng giống như vậy, do vì không biết nên bóng tối là sự u ám, không có niềm tin về quả báo của nghiệp xấu do chính mình đã làm.’ Do vì có đặc điểm như vậy nên sự không biết là bóng tối, là vô minh, là si mê; do vì điều ấy chúng sanh không biết đúng như thật, vì vậy được gọi là bóng tối. Điều ấy là bóng tối của ba loại mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn. Ở đây, bóng tối của các loại mắt này được chỉ rõ là sự không biết. Trong ấy, thế nào là sự không biết, là sự không thấy? Lại nữa, về nơi nương tựa, sự không biết ở quá khứ, sự không biết ở vị lai, sự không biết ở quá khứ và vị lai, sự không biết về nhân, sự không biết về duyên, đối với người không biết ấy, người không có sự định tĩnh, đây là kết quả. Do không biết rằng: ‘Điều này nên thực hành, điều này không nên tác ý.’ Vị ấy được chỉ rõ bằng bóng tối ấy, cũng được gọi là bóng tối, như được nói là: ‘Kẻ si mê.’ Có chủ ý như vậy. Do bóng tối ấy, hạng người ấy được gọi là bóng tối. Do bóng tối ấy chưa được nhổ lên, chưa được cắt đứt, vị ấy lấy đó làm vui thích, lấy đó làm đích đến. Hạng người này được gọi là người bóng tối, có đích đến là bóng tối. Pháp có đích đến nên được tác ý, pháp ấy thiêu đốt bóng tối, làm cho tâm khác được an lập. Và các pháp ấy của vị ấy có thể kham nhẫn sự quán xét. Vị ấy nhìn thấy bằng tuệ văn.
Tattha katamo tamo jotiparāyano? So tena paññāvasena iriyati evaṃ tasseva iriyantassa parāyano bhavati. Ayaṃ vuccate puggalo tamo jotiparāyano.
Herein, who is the person of darkness destined for light? He proceeds by the power of that wisdom. Thus, for him who is so proceeding, that becomes his destination. This person is called 'one of darkness destined for light'.
Trong ấy, thế nào là người bóng tối, có đích đến là ánh sáng? Vị ấy hành động bằng năng lực của tuệ ấy. Như vậy, đối với vị đang hành động ấy, điều ấy trở thành đích đến. Hạng người này được gọi là người bóng tối, có đích đến là ánh sáng.
Tattha katamo puggalo joti jotiparāyano †? Tattha vuccati joti nāma yaṃ tassa ce tamassa paṭipakkhena ye ca dhamme antamaso ñāṇāloko, so suṇadhammo puggalo tamo jotiparāyano, tattha vuccate, yoyaṃ puggalo tamo jotiparāyano, so yadi tathārūpaṃ kalyāṇamittaṃ paṭilabhati, yo naṃ akusalato ca nivāreti bhāvitakusalatāva bhāvī niyojetīti. Evañca saddhammaṃ deseti. Ime dhammā kusalā, ime dhammā akusalā. Ime dhammā sāvajjā, ime dhammā anavajjā. Ime dhammā sevitabbā, ime dhammā na sevitabbā. Ime dhammā bhajitabbā, ime dhammā na bhajitabbā. Ime dhammā upasampajja vihātabbā, ime dhammā na upasampajja vihātabbā. Ime dhammā manasikātabbā, ime dhammā na manasikātabbāti. Paccate saññāya yathā saññāyati satindriyāni, so evaṃ pajānāti. Ime dhammā kusalā, ime dhammā akusalā. Ime dhammā sāvajjā, ime dhammā anavajjā. Ime dhammā sevitabbā, ime dhammā na sevitabbā. Ime dhammā bhāvetabbā, ime dhammā na bhāvetabbā. Ime dhammā upasampajja vihātabbā, ime dhammā na upasampajja vihātabbā. Ime dhammā manasikātabbā, ime dhammā na manasikātabbāti. So te dhamme susuyyati, sotaṃ odahati, aññaṃ cittaṃ upaṭṭhapeti, te cassa dhammā nijjhānakkhamanti, so sutamayāya paññāya samannāgato so tena paccayavasena iriyati evaṃ tasseva iriyanti tapparamo bhavati tapparāyano. Ayaṃ vuccate puggalo tamo tamaparāyano.
Herein, who is the person of light destined for light? Therein, 'joti' (light) is said to be that which is the opposite of darkness, and those dhammas, at the very least, the light of knowledge. If it is said that the person who has heard the Dhamma is 'one of darkness destined for light', an answer is given here: If this person who is 'one of darkness destined for light' obtains such a good spiritual friend, who restrains him from the unwholesome and engages him in what is wholesome to be developed, and teaches the true Dhamma thus: 'These dhammas are wholesome; these dhammas are unwholesome. These dhammas are blameworthy; these dhammas are blameless. These dhammas are to be associated with; these dhammas are not to be associated with. These dhammas are to be cultivated; these dhammas are not to be cultivated. These dhammas are to be undertaken and abided in; these dhammas are not to be undertaken and abided in. These dhammas are to be attended to; these dhammas are not to be attended to.' It is known by perception, just as the faculties of mindfulness are perceived. He knows thus: 'These dhammas are wholesome; these dhammas are unwholesome. These dhammas are blameworthy; these dhammas are blameless. These dhammas are to be associated with; these dhammas are not to be associated with. These dhammas are to be developed; these dhammas are not to be developed. These dhammas are to be undertaken and abided in; these dhammas are not to be undertaken and abided in. These dhammas are to be attended to; these dhammas are not to be attended to.' He listens well to those dhammas, gives ear, and establishes the mind of non-delusion-fruition. And those dhammas are fit for his contemplation. He is endowed with wisdom born of learning. He proceeds by the power of that condition. Thus, for him they proceed; he becomes one who delights in it, one who is destined for it. This person is called 'one of darkness, destined for darkness'.
Trong ấy, thế nào là hạng người ánh sáng, có đích đến là ánh sáng? Trong ấy, được nói rằng: Ánh sáng là điều đối nghịch với bóng tối ấy, và các pháp ấy cho đến tối thiểu là ánh sáng của trí tuệ. Vị ấy là người có pháp được nghe, là người bóng tối có đích đến là ánh sáng. Trong ấy, được nói rằng: Hạng người nào là người bóng tối có đích đến là ánh sáng, nếu vị ấy gặp được thiện hữu tri thức tương xứng như vậy, là người ngăn cản vị ấy khỏi điều bất thiện và khuyến khích vị ấy trong việc tu tập các pháp thiện đã được tu tập. Và vị ấy thuyết giảng Chánh pháp như vầy: ‘Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện. Các pháp này có tội, các pháp này vô tội. Các pháp này nên thực hành, các pháp này không nên thực hành. Các pháp này nên gần gũi, các pháp này không nên gần gũi. Các pháp này nên thành tựu và an trú, các pháp này không nên thành tựu và an trú. Các pháp này nên tác ý, các pháp này không nên tác ý.’ Được nhận biết bằng tưởng, như niệm căn được nhận biết. Vị ấy biết như vầy: ‘Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện. Các pháp này có tội, các pháp này vô tội. Các pháp này nên thực hành, các pháp này không nên thực hành. Các pháp này nên tu tập, các pháp này không nên tu tập. Các pháp này nên thành tựu và an trú, các pháp này không nên thành tựu và an trú. Các pháp này nên tác ý, các pháp này không nên tác ý.’ Vị ấy lắng nghe kỹ các pháp ấy, chú tâm lắng nghe, làm cho tâm khác được an lập. Và các pháp ấy của vị ấy có thể kham nhẫn sự quán xét. Vị ấy được thành tựu tuệ văn, vị ấy hành động bằng năng lực của duyên ấy. Như vậy, đối với chính vị ấy, chúng được tiến hành, vị ấy lấy đó làm vui thích, lấy đó làm đích đến. Hạng người này được gọi là người ánh sáng, có đích đến là ánh sáng.
Tattha katamo puggalo joti tamaparāyano? Joti nāma yā tasseva tamassa paṭipakkhena ye dhammā antamaso ñāṇāloko, so puna dhammo. Katamā uccate? Paññāyato paṇḍitoti vuccate, so evaṃ pajānāti. Ime dhammā kusalā, ime dhammā akusalā. Ime dhammā sāvajjā, ime dhammā anavajjā. Ime dhammā sevitabbā, ime dhammā na sevitabbā. Ime dhammā bhāvitabbā, ime dhammā na bhāvitabbā. Ime dhammā upasampajja vihātabbā, ime dhammā na upasampajja vihātabbā. Ime dhammā manasikātabbā, ime dhammā na manasikātabbā. Idha pana pāpamittasaṃsevano pāpamittavasānugo akusale dhamme abhivaḍḍheti, kusale dhamme pajahati. So tena pamādena paccayasaññā amanasikatvā assatiasampajaññaṃ āsevati. Tayā yo paṭipakkho tamo, so pavaḍḍheti. So tamābhibhūto parāyano tamaparamo ceva bhavati. Ayaṃ vuccati puggalo joti tamaparāyano.
Herein, who is the person of light destined for darkness? 'Joti' (light) is the name for those dhammas which are the opposite of that very darkness, at the very least, the light of knowledge; that is the puna dhamma. How is it said? Because of wisdom, one is called wise. He knows thus: 'These dhammas are wholesome; these dhammas are unwholesome. These dhammas are blameworthy; these dhammas are blameless. These dhammas are to be associated with; these dhammas are not to be associated with. These dhammas are to be developed; these dhammas are not to be developed. These dhammas are to be undertaken and abided in; these dhammas are not to be undertaken and abided in. These dhammas are to be attended to; these dhammas are not to be attended to.' But here, one who associates with bad friends, who follows the will of bad friends, develops unwholesome dhammas and abandons wholesome dhammas. Through that heedlessness, not attending to the perception of conditions, one resorts to lack of mindfulness and lack of clear comprehension. By that, one develops darkness, which is the opposite of the wholesome. Being oppressed by darkness, having darkness as one's destination, one indeed delights in darkness. This person is called 'one of light destined for darkness'.
Trong ấy, thế nào là hạng người ánh sáng, có đích đến là bóng tối? Ánh sáng là các pháp đối nghịch với bóng tối ấy, cho đến tối thiểu là ánh sáng của trí tuệ, đó lại là pháp. Thế nào được gọi là? Do có tuệ nên được gọi là bậc trí. Vị ấy biết như vầy: ‘Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện. Các pháp này có tội, các pháp này vô tội. Các pháp này nên thực hành, các pháp này không nên thực hành. Các pháp này nên tu tập, các pháp này không nên tu tập. Các pháp này nên thành tựu và an trú, các pháp này không nên thành tựu và an trú. Các pháp này nên tác ý, các pháp này không nên tác ý.’ Nhưng ở đây, người giao du với bạn ác, người thuận theo bạn ác, làm tăng trưởng các pháp bất thiện, từ bỏ các pháp thiện. Do sự dễ duôi ấy, vị ấy không tác ý đến tưởng về duyên, thực hành sự thất niệm, không tỉnh giác. Do đó, bóng tối đối nghịch nào có mặt, vị ấy làm cho nó tăng trưởng. Vị ấy bị bóng tối chinh phục, có đích đến là bóng tối, và chỉ lấy bóng tối làm vui thích. Hạng người này được gọi là người ánh sáng, có đích đến là bóng tối.
103. Tattha katamo puggalo joti jotiparāyano? Tattha vuccate soyaṃ puggalo kalyāṇamittassa sannissito bhavati sakkā saṃyogī kusalaṃ gavesī, so kalyāṇamitte upasaṅkamitvā paripucchati, paripañhayati? Kiṃ kusalaṃ, kiṃ akusalaṃ? Kiṃ sāvajjaṃ, kiṃ anavajjaṃ? Kiṃ sevitabbaṃ, kiṃ na sevitabbaṃ? Kiṃ bhāvitabbaṃ, kiṃ na bhāvitabbaṃ? Kiṃ upasampajja vihātabbaṃ, kiṃ na upasampajja vihātabbaṃ? Kiṃ manasikātabbaṃ, kiṃ na manasikātabbaṃ? Kathaṃ saṃkileso hoti, kathaṃ vodānaṃ hoti? Kathaṃ pavatti hoti, kathaṃ nivatti hoti? Kathaṃ bandho hoti, kathaṃ mokkho hoti? Kathaṃ sakkāyasamudayo hoti, kathaṃ sakkāyanirodho hoti? So ettha desitaṃ yathā upaṭṭhitaṃ tathā sampaṭipajjanto so evaṃ pajānāti. Ime dhammā kusalā, ime dhammā akusalā. Evaṃ…pe… yāva kathaṃ sakkāyasamudayo hoti, kathaṃ sakkāyanirodho hotīti vitthārena kātabbaṃ. So te dhamme adhipāṭikaṅkhāti evaṃ lakkhaṇaṃ ñāṇaṃ vijjā ālokaṃ vaḍḍheti. So puggalo tapparamo bhavati tapparāyano, ayaṃ vuccate puggalo joti jotiparāyano.
103. Among these, which person is light, destined for light? Herein, it is said: This person is one who relies on a good friend. Being associated with the wholesome and seeking the wholesome, he is able to do so. Approaching good friends, he asks and questions: 'What is wholesome? What is unwholesome? What is blameworthy? What is blameless? What should be practiced? What should not be practiced? What should be developed? What should not be developed? What should be undertaken and abided in? What should not be undertaken and abided in? What should be attended to? What should not be attended to? How does defilement occur? How does purification occur? How does continuation occur? How does cessation occur? How does bondage occur? How does liberation occur? How does the arising of self-identity occur? How does the cessation of self-identity occur?' Practicing well according to what has been taught and is present, he thus understands distinctly: 'These dhammas are wholesome; these dhammas are unwholesome.' And so on... this should be done in detail up to: 'How does the arising of self-identity occur? How does the cessation of self-identity occur?' He strongly desires those dhammas. Thus, he increases the characteristic, knowledge, and the light that is true knowledge. That person delights in that and has that as his destination. This person is called 'light, destined for light'.
103. Ở đây, hạng người nào là joti jotiparāyana (từ ánh sáng đến ánh sáng)? Về điều ấy, được nói rằng: Hạng người này thân cận thiện hữu, có khả năng, có sự liên kết, tìm cầu điều thiện. Người ấy sau khi đến gần thiện hữu, hỏi han, chất vấn rằng: ‘Cái gì là thiện, cái gì là bất thiện? Cái gì có tội lỗi, cái gì không có tội lỗi? Cái gì nên thực hành, cái gì không nên thực hành? Cái gì nên tu tập, cái gì không nên tu tập? Cái gì nên thành tựu và an trú, cái gì không nên thành tựu và an trú? Cái gì nên tác ý, cái gì không nên tác ý? Làm thế nào có sự ô nhiễm, làm thế nào có sự trong sạch? Làm thế nào có sự tiếp diễn, làm thế nào có sự chấm dứt? Làm thế nào có sự trói buộc, làm thế nào có sự giải thoát? Làm thế nào có sự phát sanh của thân kiến, làm thế nào có sự đoạn diệt của thân kiến?’ Người ấy, ở đây, thực hành đúng theo như vậy, như đã được giảng dạy, như đã được trình bày. Người ấy biết rõ như vầy: ‘Các pháp này là thiện, các pháp này là bất thiện.’ Như vậy... (vân vân)... cho đến ‘làm thế nào có sự phát sanh của thân kiến, làm thế nào có sự đoạn diệt của thân kiến’ nên được thực hiện một cách chi tiết. Người ấy mong muốn các pháp ấy một cách tha thiết. Như vậy, người ấy làm tăng trưởng đặc tính, trí tuệ, minh, ánh sáng. Hạng người ấy lấy đó làm vui thích, lấy đó làm đích đến. Hạng người này được gọi là joti jotiparāyana.
Tattha katamo puggalo tamo tamaparāyano? Yo akusalaṃ dhammaṃ dīpeti. Taṃ bhāvanāya hīnāsu gatīsu upapattiṃ dasseti, tapparamo bhavati tapparāyano. Ayaṃ vuccate puggalo tamo tamaparāyano.
Among these, which person is darkness, destined for darkness? It is one who explains the unwholesome dhamma. He shows rebirth in inferior destinations through the development of that. He delights in that and has that as his destination. This person is called 'darkness, destined for darkness'.
Ở đây, hạng người nào là tamo tamaparāyana (từ bóng tối đến bóng tối)? Người nào chỉ dạy pháp bất thiện. Do sự tu tập pháp ấy, người ấy chỉ ra sự tái sanh trong các cõi thấp kém, lấy đó làm vui thích, lấy đó làm đích đến. Hạng người này được gọi là tamo tamaparāyana.
Tattha yo puggalo tamo jotiparāyano? So tamena akusalassa kammassa vipākaṃ dasseti. Tameti yaṃ cakkhu kalyāṇamittassa yena akusale dhamme pajahati, kusale dhamme abhivaḍḍhati.
Among these, which person is darkness, destined for light? He shows the result of unwholesome kamma by means of darkness. There is the eye of a good friend, by which one abandons unwholesome dhammas and increases wholesome dhammas.
Ở đây, hạng người nào là tamo jotiparāyana (từ bóng tối đến ánh sáng)? Người ấy, bằng bóng tối, chỉ ra quả của nghiệp bất thiện. Mắt của thiện hữu là thứ mà nhờ đó người ấy từ bỏ các pháp bất thiện, làm tăng trưởng các pháp thiện.
Tattha yo ca paṇītāsu gatīsu upapattiṃ dasseti, tapparamo tena vuccate tamo jotiparāyano.
Among these, he who also shows rebirth in excellent destinations, delighting in that, is therefore called 'darkness, destined for light'.
Ở đây, và người nào chỉ ra sự tái sanh trong các cõi cao quý, lấy đó làm vui thích, do đó được gọi là tamo jotiparāyana.
Tattha yo puggalo joti tamaparāyano? Kusalassa kammavipākaṃ dasseti. Yaṃ cakkhu pāpamittasaṃsaggena pāpamittupasevena pāpamittavasānugo akusalaṃ dhammaṃ abhivaḍḍhati, taṃ bhāvanāya hīnāsu gatīsu upapattiṃ dasseti. Tapparamo tena vuccate joti tamaparāyano.
Among these, which person is light, destined for darkness? He shows the result of wholesome kamma. He who has the eye of wisdom, through association with bad friends, frequenting bad friends, and being under the influence of bad friends, increases unwholesome dhamma. By developing that, he shows rebirth in inferior destinations. Delighting in that, he is therefore called 'light, destined for darkness'.
Ở đây, hạng người nào là joti tamaparāyana (từ ánh sáng đến bóng tối)? Người ấy chỉ ra quả của nghiệp thiện. Mắt trí tuệ nào, do giao du với ác hữu, do thân cận ác hữu, do thuận theo ý muốn của ác hữu, làm tăng trưởng pháp bất thiện, do sự tu tập pháp ấy, chỉ ra sự tái sanh trong các cõi thấp kém. Lấy đó làm vui thích, do đó được gọi là joti tamaparāyana.
Tattha yo puggalo joti jotiparāyano so jotitā pabhātā † yāva paṇītāsu gatīsu upapattiṃ dasseti. Tapparamo tenāha joti jotiparāyano.
Among these, the person who is light, destined for light—he, by his luminosity and radiance, shows rebirth up to the excellent destinations. Delighting in that, he is therefore called 'light, destined for light'.
Ở đây, hạng người nào là joti jotiparāyana, người ấy sáng chói, rực rỡ, cho đến chỉ ra sự tái sanh trong các cõi cao quý. Lấy đó làm vui thích, do đó nói là joti jotiparāyana.
Jotitamaparāyanena dasa akusalānaṃ kammānaṃ udayaṃ dasseti. Tamena puggalena akusalānaṃ kammānaṃ vipākaṃ dasseti. Na akusalānaṃ dhammānaṃ vipākaṃ dasseti. Tamena aṭṭha micchattāni dasseti. Jotinā aṭṭha sammattāni dasseti. Jotinā tamaparāyanena dasa akusalakammapathe dasseti. Jotinā paṇītattaṃ dasseti. Tamena jotiparāyanena atapanīyaṃ dhammaṃ dasseti. Jotinā tamaparāyanena tapanīyaṃ dhammaṃ dasseti. Ayaṃ suttattho.
By means of the one destined from light to darkness, he shows the arising of the ten unwholesome kammas. By means of the person who is darkness, he shows the result of unwholesome kammas. He does not show the result of unwholesome dhammas. By means of darkness, he shows the eight wrongnesses. By means of light, he shows the eight rightnesses. By means of the one destined from light to darkness, he shows the ten unwholesome courses of kamma. By means of light, he shows excellence. By means of the one destined from darkness to light, he shows the non-afflicting dhamma. By means of the one destined from light to darkness, he shows the afflicting dhamma. This is the meaning of the sutta.
Bằng (hạng người) joti tamaparāyana, chỉ ra sự phát sanh của mười nghiệp bất thiện. Bằng hạng người u tối, chỉ ra quả của các nghiệp bất thiện. Không chỉ ra quả của các pháp bất thiện. Bằng bóng tối, chỉ ra tám tà tánh. Bằng ánh sáng, chỉ ra tám chánh tánh. Bằng (hạng người) joti tamaparāyana, chỉ ra mười con đường nghiệp bất thiện. Bằng ánh sáng, chỉ ra sự cao quý. Bằng (hạng người) tamo jotiparāyana, chỉ ra pháp không phiền não. Bằng (hạng người) joti tamaparāyana, chỉ ra pháp phiền não. Đây là ý nghĩa của kinh.
104. Tattha katamo desanā hāro? Imamhi sutte kiṃ desitaṃ? Tattha vuccate imamhi sutte kusalākusalā dhammā desitā. Kusalākusalānañca dhammānaṃ vipāko desito. Hīnappaṇītānañca sattānaṃ gati nānākāraṇaṃ desitaṃ. Ayaṃ desanā hāro.
104. Among these, what is the Mode of Exposition? What is taught in this sutta? Herein, it is said: in this sutta, wholesome and unwholesome dhammas are taught. And the result of wholesome and unwholesome dhammas is taught. And the various reasons for the destinations of inferior and excellent beings are taught. This is the Mode of Exposition.
104. Ở đây, desanā hāra (phương pháp thuyết giảng) là gì? Trong kinh này, điều gì được thuyết giảng? Về điều ấy, được nói rằng: trong kinh này, các pháp thiện và bất thiện được thuyết giảng. Và quả của các pháp thiện và bất thiện được thuyết giảng. Và sự khác biệt về cảnh giới của các chúng sanh thấp kém và cao quý được thuyết giảng. Đây là desanā hāra.
Tattha katamo vicayo hāro? Akusalassa kammassa yo vipākaṃ paccanubhoti. Tattha ṭhito akusale dhamme uppādiyati vicayantaṃ yujjati. Kusalassa kammassa yo vipākaṃ paccanubhoti. Tattha ṭhito kusale dhamme uppādiyati vicayantaṃ yujjati. Ayaṃ vicayo yutti ca.
Among these, what is the Mode of Investigation? He who experiences the result of unwholesome kamma, and while established therein generates unwholesome dhammas—it is suitable to investigate this. He who experiences the result of wholesome kamma, and while established therein generates wholesome dhammas—it is suitable to investigate this. This is both Investigation and Suitability.
Ở đây, vicaya hāra (phương pháp thẩm sát) là gì? Người nào trải nghiệm quả của nghiệp bất thiện, đứng trong đó, làm phát sanh các pháp bất thiện, việc thẩm sát điều đó là hợp lý. Người nào trải nghiệm quả của nghiệp thiện, đứng trong đó, làm phát sanh các pháp thiện, việc thẩm sát điều đó là hợp lý. Đây là vicaya (thẩm sát) và yutti (lý lẽ).
Tattha katamo padaṭṭhāno hāro? Yo puggalo joti, so paccavekkhaṇāya padaṭṭhānaṃ. Yo puggalo tamo, so tamādinnaṃ vānupassanāya padaṭṭhānanti dasseti. Tamena jotiparāyanena appamādassa padaṭṭhānaṃ dasseti, tamo avijjāya ca diṭṭhiyā ca padaṭṭhānaṃ dasseti. Jotinā tamaparāyanena pamādassa ca diṭṭhiyā ca padaṭṭhānaṃ dasseti. Ayaṃ padaṭṭhāno.
Among these, what is the Mode of Proximate Cause? The person who is light is the proximate cause for reflection. The person who is darkness is shown to be the proximate cause for contemplating what is seized by darkness. By means of the one destined from darkness to light, he shows the proximate cause for diligence. He shows darkness to be the proximate cause for both ignorance and wrong view. By means of the one destined from light to darkness, he shows the proximate cause for both negligence and wrong view. This is the Mode of Proximate Cause.
Ở đây, padaṭṭhāna hāra (phương pháp nhân cần thiết) là gì? Hạng người nào là ánh sáng (joti), người ấy là nhân cần thiết cho sự quán xét. Hạng người nào là bóng tối (tamo), người ấy được chỉ ra là nhân cần thiết cho sự quán sát việc chấp thủ do bóng tối. Bằng (hạng người) tamo jotiparāyana, chỉ ra nhân cần thiết của sự không dể duôi. Bóng tối (tamo) chỉ ra nhân cần thiết của vô minh và tà kiến. Bằng (hạng người) joti tamaparāyana, chỉ ra nhân cần thiết của sự dể duôi và tà kiến. Đây là padaṭṭhāna hāra.
Tattha katamo lakkhaṇo hāro? Tamena tamaparāyanena tamoti avijjāya niddiṭṭhāya sabbakilesadhammā niddiṭṭhā honti. Tamena jotiparāyanena jotivijjāya niddiṭṭhāya sabbe bodhipakkhiyadhammā niddiṭṭhā honti. Jotitamaparāyanena pamādo niddiṭṭho hoti. Tamena jotiparāyanena appamādo niddiṭṭho hoti. Ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Among these, what is the Mode of Characteristic? By means of the one destined from darkness to darkness, when 'darkness' is pointed out as ignorance, all defiled dhammas are pointed out. By means of the one destined from darkness to light, when 'light' is pointed out as true knowledge, all dhammas pertaining to enlightenment are pointed out. By means of the one destined from light to darkness, negligence is pointed out. By means of the one destined from darkness to light, diligence is pointed out. This is the Mode of Characteristic.
Ở đây, lakkhaṇa hāra (phương pháp đặc tính) là gì? Bằng (hạng người) tamo tamaparāyana, khi ‘bóng tối’ được chỉ ra là vô minh, thì tất cả các pháp phiền não được xem là đã được chỉ ra. Bằng (hạng người) tamo jotiparāyana, khi ‘ánh sáng’ được chỉ ra là minh, thì tất cả các pháp trợ Bồ-đề được xem là đã được chỉ ra. Bằng (hạng người) joti tamaparāyana, sự dể duôi được chỉ ra. Bằng (hạng người) tamo jotiparāyana, sự không dể duôi được chỉ ra. Đây là lakkhaṇa hāra.
Tattha katamo catubyūho hāro? Imamhi sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye sattā nīcakulino, na te imaṃ sutvā kusale dhamme samādāya vattissanti. Ye sattā uccakulino, te imaṃ dhammadesanaṃ sutvā bhiyyoso mattāya kusale dhamme samādāya vattissantīti. Ayaṃ catubyūho hāro. Bhūmiyaṃ upadeso.
Among these, what is the Fourfold Strategic Mode? What is the Blessed One's intention in this sutta? 'Those beings of low lineage, having heard this, will not undertake and practice wholesome dhammas. Those beings of high lineage, having heard this Dhamma teaching, will all the more undertake and practice wholesome dhammas.' This is the Fourfold Strategic Mode. It is an instruction regarding the ground.
Ở đây, catubyūha hāra (phương pháp bốn dàn trận) là gì? Trong kinh này, ý định của Đức Thế Tôn là gì? Những chúng sanh nào thuộc dòng dõi thấp kém, sau khi nghe (pháp) này, họ sẽ không thọ trì và thực hành các pháp thiện. Những chúng sanh nào thuộc dòng dõi cao quý, họ sau khi nghe bài pháp này, ở mức độ cao hơn nữa, sẽ thọ trì và thực hành các pháp thiện. Đây là catubyūha hāra. Sự chỉ dẫn trong nền tảng.
Tattha katamo āvaṭṭo hāro? Yā avijjāto pabhūti taṇhā, ayaṃ samudayo. Yo tamo tamaparāyano, idaṃ dukkhaṃ. Imāni dve saccāni dukkhañca samudayo ca joti yena suttena dhammena paññāpiyati, so dhammo paññindriyassa padaṭṭhānaṃ. Tena amohena tīṇi kusalamūlāni pāripūriṃ gacchanti saggassa padaṭṭhānaṃ.
Among these, what is the Mode of Revolution? The craving that arises from ignorance—this is origination. He who is darkness, destined for darkness—this is suffering. These two truths, suffering and origination, and light are made known by means of the sutta and the Dhamma. That Dhamma is the proximate cause for the faculty of wisdom. Through that non-delusion, the three wholesome roots reach fulfillment—the proximate cause for heaven.
Ở đây, āvaṭṭa hāra (phương pháp xoay vòng) là gì? Tham ái nào bắt nguồn từ vô minh, đây là Tập đế. (Hạng người) nào là tamo tamaparāyana, đây là Khổ đế. Hai sự thật này là Khổ và Tập. Ánh sáng (joti) được biểu thị bằng kinh và pháp nào, pháp ấy là nhân cần thiết của tuệ quyền. Bằng sự không si mê ấy, ba thiện căn đi đến sự viên mãn, là nhân cần thiết của cõi trời.
Tattha katamā vibhatti? Tamo tamaparāyanoti na ekaṃsena. Kiṃ kāraṇaṃ? Atthi tamo ca bhavo aparāpariyavedanīyena ca kusalena jotinā puggalena sahopattibhāve. Atthi joti ca bhavo aparāpariyavedanīyena ca akusalena tamena puggalena sahopattibhāve parivattanā tamesu paṭipakkhoti jotinā tamaparāyano.
Herein, what is the Vibhatti (Analysis)? 'One destined for darkness from darkness' is not absolute. What is the reason? There is darkness and existence in the state of co-arising with a person of light through wholesome kamma to be experienced in a future existence. There is light and existence in the state of co-arising with a person of darkness through unwholesome kamma to be experienced in a future existence. There is a turning; among darknesses, it is the opposite. Thus, by means of light, there is one destined for darkness.
Trong ấy, vibhatti (phân tích) là gì? (Câu) ‘Người tối tăm có đích đến là tối tăm’ không phải là một chiều. Lý do là gì? Có bóng tối và sự hiện hữu trong trường hợp đồng sanh với hạng người ánh sáng có thiện nghiệp sẽ được cảm thọ trong đời sau. Có ánh sáng và sự hiện hữu trong trường hợp đồng sanh với hạng người tối tăm có bất thiện nghiệp sẽ được cảm thọ trong đời sau; sự chuyển đổi trong các hạng người tối tăm là đối nghịch. Do đó, người ánh sáng (cũng có thể) có đích đến là tối tăm.
Tattha katamo vevacano? Yo tamo, so evaṃ attabyāpādāya paṭipanno, so assaddhāya bālo akusalo abyatto anādīnavadassī. Yo joti, so attahitāya paṭipanno paṇḍito kusalo byatto ādīnavadassī. Ayaṃ vevacano.
Herein, what is the Vevacana (Synonym)? Whoever is darkness is thus practicing for their own affliction; due to faithlessness, they are a fool, unskillful, inexpert, not seeing danger. Whoever is light practices for their own welfare; they are wise, skillful, expert, seeing danger. This is the Vevacana.
Trong ấy, vevacana (đồng nghĩa) là gì? Người nào là tối tăm, người ấy thực hành để tự làm hại mình; do không có đức tin, người ấy là kẻ ngu, bất thiện, không thông thạo, không thấy sự nguy hiểm. Người nào là ánh sáng, người ấy thực hành vì lợi ích của mình, là bậc trí, thiện xảo, thông thạo, thấy sự nguy hiểm. Đây là vevacana.
Tattha katamā paññatti? So puggalo vipākapaññattiyā paññāpiyati, akusale pariyādinnatā paññāpiyati. Jotikusaladhammupapattipaññattiyā paññāpiyati kusaladhammavipākapaññattiyā cāti.
Herein, what is the Paññatti (Designation)? That person is made known by the designation of result; is made known by being completely taken over by the unwholesome. Light is made known by the designation of the arising of wholesome states and by the designation of the result of wholesome states.
Trong ấy, paññatti (chế định) là gì? Hạng người ấy được biết đến bằng chế định về quả, được biết đến do sự nắm giữ các pháp bất thiện. (Hạng người) ánh sáng được biết đến bằng chế định về sự sanh khởi của các pháp thiện và bằng chế định về quả của các pháp thiện.
Otaraṇoti ye avijjāpaccayā saṅkhārā yañca jarāmaraṇaṃ yā ca avijjā, taṃ padaṭṭhānaṃ, niddesena vijjuppādo avijjānirodho yo yāva jarāmaraṇanirodho, ime dve dhammā saṅkhārakkhandhapariyāpannā. Dhammadhātu dhammāyatanañca padaṭṭhānaṃ niddesena dhātūsu.
As for the Otaraṇa (Descent): Whatever formations arise conditioned by ignorance, and whatever aging-and-death and whatever ignorance there is, that is the proximate cause. By way of exposition: the arising of knowledge is the cessation of ignorance; whatever cessation there is up to the cessation of aging-and-death—these two phenomena are included in the aggregate of formations. The element of phenomena and the sense-base of phenomena are the proximate cause; by way of exposition, it should be expounded in the elements.
Otaraṇa (áp dụng) là gì? Các hành nào do duyên vô minh, và già chết nào, và vô minh nào, đó là nhân gần. Bằng sự chỉ dẫn, sự sanh khởi của minh là sự diệt của vô minh, sự diệt nào cho đến sự diệt của già chết; hai pháp này được bao gồm trong hành uẩn. Pháp giới và pháp xứ là nhân gần, (được giải thích) bằng sự chỉ dẫn trong các giới.
Tattha katamo sodhano? Imassa suttassa desitassa ārambho. Adhiṭṭhānoti tamoti bhagavā bravīti, na ekaṃ puggalaṃ deseti. Yāvatā sattānaṃ gati, tattha ye duccaritadhammena upapannā, te bahulādhivacanena tamo niddisati. Yā joti sabbasattesu kusaladhammopapatti sabbaṃ taṃ jotīti abhilapati ayamekatā paccayo yonisomanasikārapaññatti catunnaṃ mahābhūtānaṃ puggalānaṃ.
Herein, what is the Sodhana (Purification)? It is the commencement of this sutta that has been taught. As for the Adhiṭṭhāna (Determination): The Blessed One spoke of 'darkness,' but he does not teach about a single person. As far as the destinations of beings extend, those who have arisen with the quality of misconduct are indicated as 'darkness' by the term for the majority. Whatever arising of wholesome states there is in all beings, all of that is designated as 'light.' This is the condition for sameness for the persons of the four great elements, the designation of wise attention.
Trong ấy, sodhana (thanh lọc) là gì? Là sự khởi đầu của kinh này đã được thuyết giảng. Adhiṭṭhāna (xác định) là gì? Đức Thế Tôn nói ‘tối tăm’, Ngài không thuyết về một hạng người duy nhất. Trong tất cả các cõi đi của chúng sanh, những ai sanh lên với pháp ác hạnh, những người ấy được chỉ là ‘tối tăm’ bằng một danh xưng số nhiều. Sự sanh khởi của pháp thiện nào trong tất cả chúng sanh, tất cả đó được gọi là ‘ánh sáng’. Đây là duyên của sự đồng nhất, là chế định về như lý tác ý của bốn hạng người đại nhân.
Tattha katamo parikkhāro? Akusalassa pāpamittatā paccayo, ayoniso manasikāro hetu. Kusalassa kalyāṇamittatā paccayo, yoniso manasikāro hetu.
Herein, what is the Parikkhāra (Requisite)? For the unwholesome, association with bad friends is the supporting condition; unwise attention is the root cause. For the wholesome, association with good friends is the supporting condition; wise attention is the root cause.
Trong ấy, parikkhāra (yếu tố phụ trợ) là gì? Đối với bất thiện, thân cận bạn ác là duyên, không như lý tác ý là nhân. Đối với thiện, thân cận bạn lành là duyên, như lý tác ý là nhân.
Tattha katamā samāropanāti? Idhekacco nīce kule paccājāto hotīti nīce kule paccājāto rūpesu saddesu gandhesu rasesu phassesu, so upapanno sabbamhi mānussake upabhogaparibhoge. Joti paṇītesu kusalesu upapanno sabbamhi mānussake upabhogaparibhoge upapannoti.
Herein, what is the Samāropana (Ascription)? As for 'Here, someone is reborn in a low family': one is reborn in a low family in regard to forms, sounds, odors, tastes, and tangible objects. That person has arisen in the human world with all its uses and enjoyments. A person of light has arisen in sublime wholesome states; has arisen in the human world with all its uses and enjoyments.
Trong ấy, samāropana (liên hệ) là gì? (Câu) ‘Ở đây, có người được tái sanh trong gia đình hạ tiện’ có nghĩa là: được tái sanh trong gia đình hạ tiện là được tái sanh trong các sắc, thanh, hương, vị, xúc (hạ tiện); người ấy sanh lên trong toàn thể cõi người với sự hưởng thụ và tiêu dùng. (Hạng người) ánh sáng sanh lên trong các pháp thiện cao quý, cũng sanh lên trong toàn thể cõi người với sự hưởng thụ và tiêu dùng.
105. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ nibbedhabhāgiyaṃ ca suttaṃ? Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrāti gāthā. Kena kāraṇena taṃ bandhanaṃ daḷhaṃ? Catūhi kāraṇehi issariyena sakkā mocetuṃ dhanena vā aññena vā yācanāya vā parāyanena vā. Yesu ca ayaṃ rāgo maṇikuṇḍalesu puttesu dāresu ca yā apekkhā, idamassa cetasikabandhanaṃ. Taṃ na sakkā issariyena vā dhanena vā aññena vā yācanāya vā parāyanena vā mocetuṃ. Na ca tattha koci atthi pāṭibhogo. Iminā bandhanato mocayitthāti devo vā manusso vā tadidaṃ bandhanaṃ rāgānusayena ca chasu bāhiresu ca āyatanesu bandhati. Rūpesu rūpataṇhā bandhati, yāva dhammesu dhammataṇhā. Yo idha loke bandho paralokasmiṃ bandho nīyati. So bandho jāyati, bandho mīyati. Bandho asmā lokā paraṃ lokaṃ gacchati. Na sakkā mocetuṃ aññatra ariyamaggena imañca bandhanaṃ. Maraṇabhāvañca upapattibhāvañca bhayato viditvā chandarāgaṃ pajahati. So imaṃ chandarāgaṃ pajahitvā atikkamati. Ayañca loko ito paraṃ dutiyo.
105. Herein, what is the sutta that partakes of defilement and partakes of penetration? It is the verse: 'That, the wise do not call a strong bondage.' For what reason is that bondage strong? A physical bondage can be released by sovereignty, by wealth, by another means, by entreaty, or by flight. But this lust for jewel earrings, for sons, and for wives, whatever longing there is—this is one's mental bondage. That cannot be released by sovereignty, by wealth, by another means, by entreaty, or by flight. And there is no guarantor, be it a deva or a human, who can say, 'Release them from this bondage!' This very bondage binds through the underlying tendency of lust and through the six external sense-bases. Craving for forms binds in regard to forms, and so on up to craving for dhammas. One who is bound in this world is led bound to the next world. Bound one is born, bound one dies. Bound one goes from this world to the next world. And this bondage cannot be released except by the noble path. Having known through fear the state of death and the state of arising, one abandons sensual passion. Having abandoned this sensual passion, one transcends. And this world, from here on, is the second.
105. Trong ấy, kinh nào thuộc phần ô nhiễm và phần xuyên thấu? Là bài kệ: ‘Bậc trí không gọi đó là sự trói buộc bền chặt...’. Do lý do gì sự trói buộc ấy là bền chặt? (Sự trói buộc vật chất có thể được giải thoát) bằng bốn lý do: bằng quyền lực, hoặc bằng của cải, hoặc bằng điều khác, hoặc bằng sự cầu xin, hoặc bằng sự phục tùng. Và lòng tham này đối với ngọc, hoa tai, con cái, và vợ, sự quyến luyến nào, đây là sự trói buộc thuộc về tâm của người ấy. Sự trói buộc đó không thể được giải thoát bằng quyền lực, hoặc bằng của cải, hoặc bằng điều khác, hoặc bằng sự cầu xin, hoặc bằng sự phục tùng. Và ở đó không có ai bảo lãnh, dù là trời hay người, (nói rằng): ‘Hãy giải thoát khỏi sự trói buộc này’. Sự trói buộc này trói buộc do tùy miên tham và trong sáu ngoại xứ. Trong các sắc, ái đối với sắc trói buộc, cho đến trong các pháp, ái đối với pháp trói buộc. Sự trói buộc nào ở đời này, sự trói buộc ấy được dẫn đến đời sau. Người ấy bị trói buộc mà sanh, bị trói buộc mà chết. Bị trói buộc mà đi từ đời này sang đời khác. Không thể giải thoát sự trói buộc này ngoại trừ bằng thánh đạo. Thấy được sự đáng sợ trong việc chết và việc sanh, người ấy từ bỏ dục tham. Người ấy, sau khi từ bỏ dục tham này, liền vượt qua. Và thế giới này là thứ hai sau thế giới kia.
Tattha yaṃ bandhanāsaṅkhārānaṃ pahānaṃ idaṃ vuccati ubhayesu ṭhānesu vīriyaṃ, gandhaparivāto † sumuni nopalimpati. Tatheva pariggahesu puttesu dāresu ca avūḷho salloti tasseva taṇhāya pahānaṃ dasseti. Ayaṃ taṇhāmūlassa pahānā vare † appamattoti kāmo pamādavattati pahānāya nekkhammābhirato appamādavihārī bhavati. Tassa āsayaṃ pahānāya neva imaṃ lokaṃ āsīsati na paralokaṃ. Na idhalokaṃ nissitaṃ, piyarūpaṃ sātarūpaṃ ākaṅkhati. Nāpi paralokaṃ nissitaṃ piyarūpaṃ sātarūpaṃ ākaṅkhati, tena vuccate ‘‘nāsīsate lokamimaṃ paraṃ lokañcā’’ti. Yaṃ tassa pahānaṃ taṃ chedanaṃ aṭṭhakavaggiyesu muni niddiṭṭho. So idha virodho aṭṭhakavaggiyesu nāsīsanaṃ idha anāthā. Tathāyaṃ taṇhāya tassa pariggahassa vatthukāmassa ekagāthāya ete sabbe kāmā dassitā. Tena bhagavā deseti ‘‘etampi chetvāna paribbajanti anapekkhino sabbakāme pahāyā’’ti. Imissā gāthāya dvidhā niddeso saṃsandananiddeso ca samayaniddeso ca, yathā ayaṃ gāthā saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca, evaṃ tāya gāthāya saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca visajjanā. Evaṃ gāthā sabbagāthāsu byākaraṇesu vā niddiṭṭhaṃ suttaṃ.
Herein, the abandoning of the formations that are bonds is called 'effort' in two respects. Surrounded by bonds, the good sage is not smeared. Likewise, regarding possessions, sons, and wives, the dart is not pulled out; thus it shows the abandoning of craving for that very person. This one, due to abandoning the root of craving, is heedful in the sublime wholesome state. One who desires release, in order to abandon the state of negligence, delights in renunciation and becomes one who dwells heedfully. For them, due to abandoning inclination, they yearn for neither this world nor the next. They do not long for what is dear and agreeable dependent on this world. Nor do they long for what is dear and agreeable dependent on the next world. Therefore it is said: 'They do not yearn for this world or the next.' That abandoning by them, that cutting off, is expounded by the Sage in the Aṭṭhakavagga. Here, that opposition in the Aṭṭhakavagga is non-yearning; here, one is without refuge. Thus, by means of a single verse, all these sensual pleasures—of one who has craving, possessions, and objects of sensual pleasure—are shown. Therefore the Blessed One teaches: 'Having cut this too, they wander forth, without longing, having abandoned all sensual pleasures.' The exposition of this verse is twofold: the exposition of connection and the exposition of correspondence. Just as this verse partakes of defilement and partakes of penetration, so the answer for that verse partakes of defilement and partakes of penetration. Thus, the sutta is expounded in the verse, in all verses, or in the prose expositions.
Trong ấy, sự từ bỏ các hành trói buộc, điều này được gọi là tinh tấn ở cả hai nơi. Bậc thiện tu không bị ô nhiễm bởi các kiết sử bao quanh. Cũng như vậy, trong các tài sản, con cái và vợ, (ái) là mũi tên chưa được nhổ ra, do đó (kinh) chỉ ra sự từ bỏ chính ái ấy. Vị này, do từ bỏ gốc rễ của ái, được gọi là không dể duôi trong (pháp) cao thượng. Người mong muốn (giải thoát), để từ bỏ sự dể duôi, trở nên ưa thích xuất ly, sống không dể duôi. Do từ bỏ ái dục, vị ấy không mong cầu đời này, cũng không mong cầu đời sau. Vị ấy không khao khát sắc đáng yêu, sắc đáng hài lòng thuộc về đời này. Vị ấy cũng không khao khát sắc đáng yêu, sắc đáng hài lòng thuộc về đời sau, do đó được nói rằng: ‘Không mong cầu đời này và cả đời sau’. Sự từ bỏ nào của vị ấy, sự cắt đứt ấy, bậc ẩn sĩ đã chỉ ra trong Phẩm Tám. Sự đối nghịch ở đây trong Phẩm Tám là không mong cầu; ở đây (là) không nơi nương tựa. Như vậy, do ái, sự nắm giữ các dục trần của người ấy, tất cả các dục ấy được chỉ ra bằng một bài kệ. Do đó, Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Cắt đứt cả điều ấy rồi, họ đi tu không quyến luyến, sau khi từ bỏ tất cả các dục’. Bài kệ này có sự giải thích, là sự giải thích so sánh, như vậy là có hai. Bài kệ này là câu trả lời cho cả phần ô nhiễm và phần xuyên thấu. Như vậy, kinh được chỉ ra trong bài kệ, trong tất cả các bài kệ hay trong các bài giảng.
106. Tattha katamā desanā? Imaṃ suttaṃ kenādhippāyena desitaṃ. Ye rāgacaritā sattā, te kāme pajahissantīti ayaṃ tattha bhagavato adhippāyo.
106. Herein, what is the Desanā (Teaching)? With what intention was this sutta taught? That beings who are of lustful temperament will abandon sensual pleasures—this was the Blessed One's intention therein.
106. Trong ấy, desanā (giáo huấn) là gì? Kinh này được thuyết giảng với chủ ý nào? Những chúng sanh nào có tánh tham, họ sẽ từ bỏ các dục; đây là chủ ý của Đức Thế Tôn trong kinh ấy.
Tattha katamo vicayo? Yassa dasavatthukā kilesā uttiṇṇā vantā viditā. Katame dasavidhāti, kilesakāmā ca orambhāgiyauddhambhāgiyā ca saṃyojanā dasavatthukāni āyatanāni, ayaṃ vicayo.
Herein, what is the Vicaya (Investigation)? It is that by which the ten-fold based defilements are overcome, expelled, and known. What are the ten kinds? The defilements of sensuality, the lower and higher fetters, and the ten-fold based sense-bases. This is the Vicaya.
Trong ấy, vicaya (thẩm sát) là gì? Đối với người nào, các phiền não có mười sự vật đã được vượt qua, đã được nôn ra, đã được biết rõ. Mười loại là gì? Là các dục phiền não, các hạ phần và thượng phần kiết sử, và mười xứ có sự vật. Đây là vicaya.
Tattha katamā yutti? Ye sārattā te gāḷhabandhanena bandhanti atthi esā yutti.
Among these, what is the yutti (reasoning)? Those who are intensely attached bind with a firm bond. This is the yutti.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải tương hợp là gì? Những ai tham đắm mãnh liệt, họ bị trói buộc bằng sự trói buộc vững chắc. Đây là phương pháp luận giải tương hợp.
Tattha katamo padaṭṭhāno? Sāratto maṇikuṇḍalesu mamaṃkārassa padaṭṭhānaṃ. Apekkhāti atītavatthussa sarāgassa padaṭṭhānaṃ. Etampi chetvāti bhāvanāya padaṭṭhānaṃ.
Among these, what is the padaṭṭhāna (proximate cause)? Intense attachment to jeweled earrings is the proximate cause of the conceit 'mine'. Expectation is the proximate cause of being with passion for a past object. 'Having cut this too' is the proximate cause of cultivation.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải nhân cận là gì? Sự tham đắm mãnh liệt vào bông tai ngọc là nhân cận của ngã sở. Sự luyến ái là nhân cận của việc có tham ái đối với sự vật quá khứ. Câu ‘sau khi cắt đứt cả điều này’ là nhân cận của sự tu tập.
Tattha katamo lakkhaṇo? Sārattacitto maṇikuṇḍalesu yo ahaṃkāre visatto mamaṃkāre visatto, yo puttadāre sāratto. Khettavatthusmiṃ sāratto. Ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Among these, what is the lakkhaṇa (characteristic)? One with a mind intensely attached to jeweled earrings, who is detached from the notion 'I' and detached from the conceit 'mine'; who is intensely attached to children and wife, and intensely attached to fields and land. This is the lakkhaṇa-hāra.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải đặc tính là gì? Người có tâm tham đắm mãnh liệt vào bông tai ngọc, người nào dính mắc vào ngã chấp, dính mắc vào ngã sở, người nào tham đắm vợ con, tham đắm ruộng vườn. Đây là phương pháp luận giải đặc tính.
Tattha katamo catubyūho hāro? Idha sutte bhagavato ko adhippāyo. Ye nibbānena chandikā bhavissanti, te puttadāre taṇhaṃ pajahissanti. Ayaṃ tattha bhagavato adhippāyo. Imāni cattāri saccāni.
Among these, what is the catubyūha-hāra (fourfold arrangement)? In this discourse, what is the Blessed One's intention? Those who will be desirous of Nibbāna will abandon craving for children and wife. This is the Blessed One's intention therein. These are the four truths.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải tứ phân là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai sẽ có ý muốn đối với Nibbāna, họ sẽ từ bỏ ái dục đối với vợ con. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây. Đây là bốn chân lý.
Tattha katamo āvaṭṭo? Yā puttadāre taṇhā, ayaṃ samudayo. Ye upādinnakkhandhā, te ye ca bāhiresu rūpesu rūpapariggaho, idaṃ dukkhaṃ, yaṃ tattha chedanīyaṃ, ayaṃ nirodho. Yena bhijjati, ayaṃ maggo. Vibhattīti natthi vibhattiyā bhūmi, parivattanoti paṭipakkho niddiṭṭho.
Among these, what is the āvaṭṭa (revolving)? The craving for children and wife—this is the origin. The appropriated aggregates, and the grasping of forms among external forms—this is suffering. That which is to be cut off therein—this is cessation. That by which it is broken—this is the path. As for vibhatti (distinction), there is no ground for the vibhatti-hāra; as for parivattana (reversion), the opposite has been indicated.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải luân chuyển là gì? Ái dục đối với vợ con, đây là Tập đế. Các thủ uẩn, và sự nắm giữ sắc pháp ở các đối tượng bên ngoài, đây là Khổ đế. Điều cần được cắt đứt ở đây, đây là Diệt đế. Pháp mà nhờ đó phiền não bị phá vỡ, đây là Đạo đế. Về phương pháp luận giải phân tích, không có cơ sở cho phương pháp luận giải phân tích. Về phương pháp luận giải chuyển đổi, pháp đối nghịch được chỉ ra.
Tattha katamo vevacano? Niddiṭṭho vevacano. Tattha katamo otaraṇo? Atthi taṇhā eko satto otiṇṇo tappaccayā viññāṇaṃ yāva jarāmaraṇaṃ. Yā tattha vedanā, ayaṃ avijjā vijjuppādā avijjānirodho yāva jarāmaraṇanirodho.
Among these, what is the vevacana (synonym)? The synonym has been indicated. Among these, what is the otaraṇa (descent)? There is craving; a being has descended. Dependent on that, consciousness down to aging and death has descended. Whatever feeling is there, this is ignorance. From the arising of knowledge, there is the cessation of ignorance, down to the cessation of aging and death.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải đồng nghĩa là gì? Từ đồng nghĩa đã được chỉ ra. Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải thâm nhập là gì? Có ái dục, một chúng sanh đã đi vào. Do duyên ấy, thức cho đến lão tử (cũng đi vào). Thọ nào có ở đó, đây là vô minh. Do minh sanh khởi nên vô minh diệt, cho đến lão tử diệt.
Tattha katamo sodhano? Suddho gāthāya ārambho. Tattha katamo adhiṭṭhāno? Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrāti ekattatāya paññattā, na vemattatāya. Cattāro rāgā kāmarāgo rūparāgo bhavarāgo diṭṭhirāgo cāti ekattatāya paññattā.
Among these, what is the sodhana (purification)? The beginning of the verse is pure. Among these, what is the adhiṭṭhāna (determination)? In the verse 'That, the wise say, is not a strong bond,' [passions] are designated as a unity, not as a diversity. Four passions—sensual passion, passion for form, passion for existence, and passion for views—are designated as a unity.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải thanh lọc là gì? Phần mở đầu của câu kệ là thanh tịnh. Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải quyết định là gì? Trong câu kệ ‘Bậc trí không gọi đó là sự trói buộc vững chắc’, (các loại tham ái) được trình bày như là một, không phải như là khác biệt. Bốn loại tham ái là dục ái, sắc ái, hữu ái, và kiến ái, được trình bày như là một.
Tattha katamo parikkhāro? Yesaṃ rāgo maṇikuṇḍalesu tassa subhasaññā hetu, anubyañjanaso ca nimittaggāhitā paccayo. Yāya te chinnāni tassa asubhasaññā hetu, nimittaggahaṇaanubyañjanaggahaṇavinodanaṃ paccayo.
Among these, what is the parikkhāra (requisite)? For those whose passion is for jeweled earrings, the perception of beauty is the root cause (hetu), and grasping the signs and details is the supporting condition (paccayo). For those by whom these are cut off, the perception of non-beauty is the root cause, and dispelling the grasping of signs and details is the supporting condition.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải trợ duyên là gì? Đối với những người có tham ái về bông tai ngọc, tịnh tưởng là nhân (hetu), và sự nắm bắt tướng chung và tướng riêng là duyên (paccayo). Nhờ pháp nào mà những tham ái ấy được cắt đứt, đối với người ấy, bất tịnh tưởng là nhân, và sự loại bỏ việc nắm bắt tướng chung và tướng riêng là duyên.
Tattha katamo samāropano? Sāratto maṇikuṇḍalesu sammūḷhavidho duṭṭhātipi etampi † chetvāna paribbajantīti taṃ pariññātatthaṃ parivajjitatthaṃ pajahitā, ayaṃ samāropano.
Among these, what is the samāropana (superimposition)? Intense attachment to jeweled earrings, a kind of delusion, and malice—'having cut off even this, they wander forth.' Thus, that is abandoned for the purpose of full understanding and for the purpose of avoidance. This is the samāropana.
Trong các phương pháp luận giải ấy, phương pháp luận giải áp dụng là gì? Sự tham đắm mãnh liệt vào bông tai ngọc, trạng thái si mê, sự sân hận, v.v... (được áp dụng vào câu) ‘sau khi cắt đứt cả điều này, họ đi xuất gia.’ Do đó, điều ấy được từ bỏ nhằm mục đích liễu tri, nhằm mục đích tránh né. Đây là phương pháp luận giải áp dụng.
107. Yaṃ cetasikaṃ yaṃ pakappitaṃ vitthārena paccayo, yaṃ vā cetasikaṃ kāyikaṃ cetasikaṃ kammaṃ. Kiṃkāraṇā? Cetasikā hi cetanā manokammāti vuccate, sā cetanākammaṃ, yaṃ cetasikaṃ imaṃ kāyikañca vācasikañca imāni tīṇi kammāni niddiṭṭhāni. Kāyakammaṃ vacīkammañca tāni kusalāni piyaṃ kāyena ca vācāya ca ārabhati parāmasati, ayaṃ vuccati sīlabbataparāmāso. Saṅkappanā te tividhā saṅkhārā puññamayā apuññamayā āneñjamayā, tappaccayā viññāṇaṃ te ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā. Yā subhasaññā sukhasaññā attasaññā ca. Idaṃ cetasikaṃ. Yaṃ rūpūpagaṃ viññāṇaṃ tiṭṭhati rūpārammaṇaṃ rūpapatiṭṭhitaṃ nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ gacchati, ayaṃ saṅkappanā, iti yaṃ viññāṇaṭṭhitīsu ṭhitaṃ paṭhamābhinibbattiārammaṇavasena upādānaṃ, idaṃ vuccati cetasikanti.
107. Whatever is mental, whatever is conceived, is a supporting condition in detail. Or whatever action is mental, bodily, and mental. For what reason? Because mental volition is called 'mental action.' That volition is action. Whatever is mental, this is also bodily and verbal. These three actions are indicated: bodily action and verbal action. These can be wholesome. Whatever one undertakes and grasps with body and speech—this is called the grasping of precepts and practices. These formations of conception are threefold: meritorious, demeritorious, and imperturbable. Dependent on them, consciousness arises. This becomes their object for the stability of consciousness. The perception of beauty, the perception of pleasure, and the perception of self—this is mental. Consciousness that has gone to form stands with form as its object, established in form, sprinkled with delight, it goes to growth, development, and abundance. This is conception. Thus, established in the stations of consciousness, the clinging that is the first arising by way of an object—this is called 'mental'.
107. Bất cứ điều gì thuộc về tâm, bất cứ điều gì được tư duy, một cách rộng rãi, là duyên. Hoặc bất cứ nghiệp nào thuộc về tâm, về thân, là ý nghiệp. Vì sao? Vì tư tâm sở (cetanā) được gọi là ý nghiệp (manokamma), tư ấy là nghiệp. Bất cứ điều gì thuộc về tâm, điều này là thân nghiệp và khẩu nghiệp. Ba nghiệp này đã được chỉ ra. Thân nghiệp và khẩu nghiệp, chúng là thiện... điều mà người ấy thực hành, chấp thủ, đây được gọi là giới cấm thủ. Sự tư duy, đó là ba loại hành: phước hành, phi phước hành, và bất động hành. Do duyên ấy, có thức. Chúng là đối tượng này, là nền tảng cho thức. Tịnh tưởng, lạc tưởng, và ngã tưởng. Đây là pháp thuộc về tâm. Thức nào đi đến sắc, tồn tại, lấy sắc làm đối tượng, lấy sắc làm chỗ đứng, được nuôi dưỡng bằng hỷ, đi đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh, đây là sự tư duy. Như vậy, sự sanh khởi đầu tiên, đứng trong các thức trú, do năng lực của đối tượng, là thủ. Điều này được gọi là pháp thuộc về tâm.
Tattha ṭhitassa arūpassa yā nikanti ajjhosānaṃ, idampi sakampitaṃ manāpikesu rūpesu piyarūpasātarūpesu ābhogo, idaṃ cetasikaṃ. Yaṃ ceteti sattesu † manāpikesu abhijjhākāyagantho paṭighānusayesu byāpādakāyagantho sabbe cattāro ganthā, ayaṃ pañcasu kāmaguṇesu paṭhamābhinipāto cittassa yā cetanā yassa tattha assādānupassissa anekā pāpakā akusalā dhammā cittaṃ arūpavatiyo honti. Puggalo rāgānubandhibhūto tehi kilesakāmehi yathā kāmakaraṇīyo, ayaṃ vuccate kāmesu pakappanā. Evaṃ sabbe cattāro oghā. Yaṃ tehi kāmehi saṃyutto viharati bhāvito ajjhosanno, ayaṃ cetanā. Yassa tathāyaṃ avītarāgassa adhigatapemassa tassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā dukkhānuparivattitaṃ viññāṇaṃ hoti saritassa vayadhammasamuppādo cittaṃ pariyādiyati, idaṃ vuccati pakappitanti.
There, for one established in the formless, whatever delight and attachment there is, this too is agitation. The application of mind to pleasing, dear, and agreeable forms—this is mental. Whatever one intends regarding pleasing beings—the bodily knot of covetousness; in the underlying tendencies of aversion, the bodily knot of ill will; all four knots exist. This is the first impact on the five strands of sensual pleasure. Whatever volition of the mind there is, for one who constantly sees gratification therein, many evil, unwholesome states arise and overwhelm the mind. The person, having become bound by passion, is one who can be made to do whatever is desired by those sensual defilements. This is called 'conception regarding sensual pleasures.' Thus, all four floods. That one abides connected with, afflicted by, and sunken into those sensual pleasures—this is volition. For one who is not free of passion, who has acquired affection, due to the change and alteration of that, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair arise. Consciousness becomes that which revolves around suffering. For one who is mindful, the arising of the phenomenon of decay overpowers the mind. This is called 'conceived'.
Ở đó, đối với người an trú trong vô sắc, sự ham muốn, sự đắm nhiễm nào, điều này cũng là sự dao động. Đối với các sắc pháp khả ý, các sắc pháp đáng yêu, đáng hài lòng, sự chú tâm, đây là pháp thuộc về tâm. Điều mà người ấy chủ ý đến đối với các chúng sanh khả ý là tham thân triền. Đối với các sân tuỳ miên là sân thân triền. Tất cả là bốn triền. Đây là sự rơi vào ban đầu đối với năm dục trưởng dưỡng, là tư của tâm. Đối với người thường quán thấy vị ngọt, nhiều pháp ác, bất thiện khởi lên trong tâm. Cá nhân bị tham ái trói buộc, bị các dục vọng phiền não ấy chi phối theo ý muốn, điều này được gọi là sự tư duy trong các dục. Như vậy, tất cả là bốn bộc lưu. Người nào sống liên hệ, bị chi phối, đắm nhiễm trong các dục ấy, đây là tư. Đối với người chưa ly tham, đã đạt được sự yêu mến, do sự biến đổi và khác đi của chúng, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Thức trở nên xoay vần theo khổ. Đối với người có chánh niệm, sự sanh khởi của các pháp có tính hoại diệt chiếm giữ tâm. Điều này được gọi là sự tư duy.
Ekamekassa ceteti ca pakappeti ca viññāṇassa ṭhiti yā hoti, sā ca ṭhiti dvidhā ārammaṇaṭṭhiti ca āhāraṭṭhiti ca. Tattha yā ārammaṇaṭṭhiti, ayaṃ nāmarūpassa paccayo. Yā āhāraṭṭhiti yā punabbhavābhinibbattikā ṭhiti yā ca ponobhavikā ṭhiti, ayaṃ vuccati ārammaṇaṃ. Taṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā tassa viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ yāva jarāmaraṇañca ceteti, atha ca puna patthayate yato na ponobhavikā anāgatavatthumhi, ayaṃ paṭipakkho niddiṭṭho. Na ceteti na patthayati atha ca dūsetīti duvidho niddeso. Assa pubbe hoti taṃ cetasikaṃ taṃ pakappitaṃ asamūhataṃ tappaccayā, ayaṃ viññāṇassa ṭhiti hoti.
For each single thing, one both intends and conceives. Whatever stability of consciousness there is, that stability is twofold: stability as object and stability as nutriment. Therein, whatever is stability as object, this is a condition for name-and-form. The stability as nutriment, which is productive of a new existence and pertains to a new existence, is called 'object.' That is for the stability of consciousness. For that person, conditioned by consciousness, one intends name-and-form down to aging and death. Then again, because one aspires for no new existence in a future state, this opposite is indicated. 'One does not intend, one does not aspire, and yet one corrupts'—thus the explanation is twofold. For that person, that previous mental intention and that conception is un-uprooted on account of that condition; this becomes the stability of consciousness.
Đối với mỗi một pháp, người ấy chủ ý và tư duy. Thức trú nào có, thức trú ấy có hai loại: đối tượng trú và vật thực trú. Trong đó, đối tượng trú là duyên cho danh sắc. Vật thực trú, là trú xứ tạo ra tái sanh, là trú xứ thuộc về tái sanh, đây được gọi là đối tượng. Điều đó là nền tảng cho thức. Đối với người ấy, do duyên thức, người ấy chủ ý đến danh sắc cho đến lão tử. Và rồi, người ấy lại mong cầu điều không thuộc về tái sanh trong sự vật vị lai, đây là pháp đối nghịch được chỉ ra. Không chủ ý, không mong cầu, và còn làm hư hoại, như vậy sự trình bày có hai loại. Đối với người ấy, trước đây đã có pháp thuộc về tâm ấy, sự tư duy ấy, chưa được nhổ lên, do duyên ấy, đây là thức trú.
108. Atha vā tassa anusayā āvibhavanti tappaccayā tassa punabbhavo nibbattati. Atha vā naṃ saṃkiyate appetu āgāre vā, sukhumā vā santi vā na saṃkiyate kāme taṃ evaṃ niccesupi āgāresu jāto hoti. Taṃ nayati yaṃ no kappetuṃ evaṃ saṅkhārā cetitā pakappitā ca ārammaṇabhūtā honti, yā ca cetanā yā ca pakappanā yañca vatthu nibbattaṃ, ubhopi ete ārammaṇaṃ viññāṇassa tathā cetanāya ca saṅkappanāya ca patthanāya ca bhūtā sattā ceteti ca saṅkappeti ca. Yaṃ gavesanā na ca ceteti na ca saṅkappeti. Katame ca sattā bhūtā? Ye ca tanujātaaṇḍajāpi aṇḍakā anubhinnā saṃsedajā na ca sambhinnā ime bhūtā. Katame sambhavesino gabbhagatā aṇḍagatā saṃsaranto ime na ceteti na pattheti na ca saṅkappeti. Anusaye na ca punabbhavo nibbattīti? Ye bhūtā sattā ye sambhavesino, te thāvarā. Ye vā sato cetenti patthenti ca ye thāvarā. Te na ca cetenti, na ca patthenti, na ca saṅkappenti, anusayena ca saṃsaranti.
108. Or else, for that person, the underlying tendencies become manifest. Due to that cause, rebirth in a new existence arises for him. Or else, even if one lets him enter a house, he is praised. Whether subtle or peaceful, he is not praised in regard to sensual pleasures. Thus, he is born even in permanent houses. A monk does not praise the prosperity of that house, the prosperity of which it is not possible to conceive. Thus, formations are willed and conceived, and they become objects. Whatever volition, whatever conception, and whatever basis has arisen, both of these are an object for consciousness. Similarly, beings who have come into existence through volition, conception, and aspiration, will and conceive. Whatever is sought, one neither wills nor conceives. And which beings are 'existing'? Those born from thin-shelled eggs, which are hatched, and moisture-born beings, which are not hatched—these are 'existing'. Which are those 'seeking becoming'? Those in the womb, those in eggs, and those wandering in saṃsāra. These do not will, do not aspire, and do not conceive. Through the underlying tendency, renewed existence comes to be. Those beings that are 'existing' and those that are 'seeking becoming' are 'stationary'. Or those who, being mindful, will and aspire. Those who are 'stationary' do not will, do not aspire, and do not conceive; they wander in saṃsāra through underlying tendencies.
108. Hoặc là, các tùy miên của người ấy trở nên hiện rõ, do duyên ấy sự tái sanh của người ấy được phát sanh. Hoặc là, người ấy được tán thán dầu cho ở trong nhà, hoặc là vi tế hoặc là an tịnh, người ấy không được tán thán ở trong các dục, như vậy người ấy được sanh ra ở trong các trú xứ thường hằng. Vị ấy không tán thán điều ấy, điều mà không phải để suy lường, như vậy các hành đã được tác ý và đã được suy lường trở thành đối tượng. Và điều gì là tác ý, và điều gì là sự suy lường, và vật gì đã được phát sanh, cả hai điều này là đối tượng của thức, cũng vậy do tác ý, do sự suy lường, và do sự mong cầu, các chúng sanh đã hiện hữu thì có tác ý và có suy lường. Điều gì là sự tìm cầu, không có tác ý và không có suy lường. Và những chúng sanh nào đã hiện hữu? Những chúng sanh noãn sanh có vỏ mỏng, những chúng sanh từ trứng chưa được nở, những chúng sanh thấp sanh chưa được nở, những chúng sanh này đã hiện hữu. Những chúng sanh nào đang tìm sanh hữu? Những chúng sanh trong thai tạng, những chúng sanh trong trứng, những chúng sanh đang luân hồi, những chúng sanh này không có tác ý, không có mong cầu, và không có suy lường. Do tùy miên, sự tái sanh được phát sanh. Những chúng sanh nào đã hiện hữu, những chúng sanh nào đang tìm sanh hữu, chúng là những chúng sanh bất động. Hoặc những chúng sanh nào có chánh niệm, có tác ý và có mong cầu, chúng là những chúng sanh bất động. Chúng không có tác ý, không có mong cầu, và không có suy lường, và chúng luân hồi do tùy miên.
Aparo pariyāyo. Ye ariyapuggalā sekkhā, tattha te na ca cetenti, na ca saṅkappenti, anusayena puna uppajjanti.
Another discourse. Those noble individuals who are trainees, in that noble plane, do not will and do not conceive, yet through underlying tendencies, they are reborn again.
Một pháp môn khác. Những bậc Thánh nhân là hữu học, ở đây các vị ấy không có tác ý, không có suy lường, do tùy miên các vị ấy lại sanh khởi.
Aparo pariyāyo. Sukhumā pāṇā bhūmigatā udakagatā cakkhuno āpāthaṃ nāgacchanti, te na ca cetenti, na ca saṅkappenti, anusayena ca saṃsaranti.
Another discourse. Subtle living beings, whether on land or in water, do not come into the range of the eye. They do not will and do not conceive, and through underlying tendencies, they wander in saṃsāra.
Một pháp môn khác. Các sinh vật vi tế ở trong đất, ở trong nước không đi vào tầm nhìn của mắt, chúng không có tác ý, không có suy lường, và chúng luân hồi do tùy miên.
Aparo pariyāyo. Bāhikā sabbe bhikkhū abhimānikā, te na ca cetenti, na ca patthayanti, anusayena ca saṃsaranti, na ca cetenti, na ca saṅkappenti, na ca anusenti. Ārammaṇampetaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Another discourse. All monks who are outside the Sāsana are very conceited. They do not will and do not aspire, and through underlying tendencies, they wander in saṃsāra. They do not will, do not conceive, and do not have latent tendencies. This is not an object for the establishment of consciousness.
Một pháp môn khác. Tất cả các vị tỳ khưu ngoại đạo có lòng kiêu mạn, các vị ấy không có tác ý, không có mong cầu, và các vị ấy luân hồi do tùy miên, không có tác ý, không có suy lường, và không có tùy miên. Và đối tượng này không phải là nền tảng cho thức.
Na ca cetetīti pariyuṭṭhānasamugghātaṃ dasseti. Na ca anusetīti anusayasamugghātaṃ dasseti. Na ca cetetīti oḷārikānaṃ kilesānaṃ pahānaṃ dasseti. Na ca anusetīti sukhumānaṃ kilesānaṃ pahānaṃ dasseti. Na ca cetetīti yena bhūmi ca na ca patthayantīti sakadāgāmī anāgāmī, na ca anusetīti arahaṃ, na ca cetetīti sīlakkhandhassa paṭipakkhena pahānaṃ dasseti, na ca patthayatīti samādhikkhandhassa paṭipakkhena pahānaṃ dasseti, na ca anusayatīti paññākkhandhassa paṭipakkhena pahānaṃ dasseti, na ca cetetīti apuññamayānaṃ saṅkhārānaṃ pahānaṃ dasseti, na ca patthayatīti puññamayānaṃ saṅkhārānaṃ pahānaṃ dasseti, na ca anusetīti āneñjamayānaṃ saṅkhārānaṃ pahānaṃ dasseti, na ca cetetīti anaññātaññassāmītindriyaṃ, na ca patthayatīti aññindriyaṃ, na ca anusayatīti aññātāvino indriyaṃ. Na ca cetetīti mudukā indriyabhāvanā, na ca patthayatīti majjhaindriyabhāvanā, na ca anusetīti adhimattā indriyabhāvanā. Ayaṃ suttattho.
'And one does not will' shows the utter uprooting of obsession. 'And one does not have latent tendencies' shows the utter uprooting of underlying tendencies. 'And one does not will' shows the abandoning of gross defilements. 'And one does not have latent tendencies' shows the abandoning of subtle defilements. 'And one does not will' shows the plane of vision. 'And one does not aspire' shows the once-returner and the non-returner. 'And one does not have latent tendencies' shows the Arahant. 'And one does not will' shows the abandoning by means of the opposite of the aggregate of virtue. 'And one does not aspire' shows the abandoning by means of the opposite of the aggregate of concentration. 'And one does not have latent tendencies' shows the abandoning by means of the opposite of the aggregate of wisdom. 'And one does not will' shows the abandoning of formations consisting of demerit. 'And one does not aspire' shows the abandoning of formations consisting of merit. 'And one does not have latent tendencies' shows the abandoning of formations consisting of the imperturbable. 'And one does not will' shows the faculty 'I shall come to know the unknown'. 'And one does not aspire' shows the faculty of final knowledge. 'And one does not have latent tendencies' shows the faculty of one who has final knowledge. 'And one does not will' shows the development of the faculties that is soft. 'And one does not aspire' shows the development of the faculties that is medium. 'And one does not have latent tendencies' shows the development of the faculties that is extreme. This is the meaning of the sutta.
‘Không có tác ý’ là chỉ cho sự nhổ bật các triền cái. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho sự nhổ bật các tùy miên. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho sự đoạn trừ các phiền não thô. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho sự đoạn trừ các phiền não vi tế. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho kiến địa. ‘Không có mong cầu’ là chỉ cho bậc Nhất lai, bậc Bất lai. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho bậc A-la-hán. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho sự đoạn trừ bằng cách đối trị với uẩn giới. ‘Không có mong cầu’ là chỉ cho sự đoạn trừ bằng cách đối trị với uẩn định. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho sự đoạn trừ bằng cách đối trị với uẩn tuệ. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho sự đoạn trừ các hành phi phước. ‘Không có mong cầu’ là chỉ cho sự đoạn trừ các hành phước. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho sự đoạn trừ các hành bất động. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho vị tri ngã tri căn. ‘Không có mong cầu’ là chỉ cho cụ tri căn. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho vô học tri căn. ‘Không có tác ý’ là chỉ cho sự tu tập các căn mềm dịu. ‘Không có mong cầu’ là chỉ cho sự tu tập các căn trung bình. ‘Không có tùy miên’ là chỉ cho sự tu tập các căn vượt trội. Đây là ý nghĩa của kinh.
109. Tattha katamā desanā? Idha sutte cattāri saccāni desitāni. Yañca cetayitaṃ yañca pakappitaṃ atthi etaṃ ārammaṇaṃ cittaṃ patiṭṭhati vicinati † yujjati. Na ca cetetīti na ca patthayatīti atthi evaṃ ārammaṇaṃ anusaye viññāṇamiti viciniyati yujjati na ca ceteti na ca patthayati. Anusayappahānā viññāṇaṭṭhitiṃ na gavesanti, viciyantaṃ yujjati. Ayaṃ yuttivicayo.
109. Among these, what is the Desanā Hāra (Teaching)? In this sutta, the four truths are taught. Whatever is willed and whatever is conceived, that object exists, is established in the mind, is investigated, and is connected. The phrases 'one does not will' and 'one does not aspire' exist. Thus, it is investigated and connected that the object in the underlying tendency is consciousness. One does not will; one does not aspire. Because of abandoning the underlying tendencies, they do not seek a station for consciousness. What is being investigated is connected. This is the investigation of connection.
109. Ở đây, thuyết giảng là gì? Ở trong kinh này, bốn sự thật được thuyết giảng. Điều gì đã được tác ý, điều gì đã được suy lường, có đối tượng này, tâm được an trú, được thẩm sát, được kết hợp. ‘Không có tác ý’, ‘không có mong cầu’, có đối tượng như vậy ở trong tùy miên, được thẩm sát là thức, được kết hợp, không có tác ý, không có mong cầu. Do sự đoạn trừ tùy miên, các vị ấy không tìm cầu nền tảng của thức, điều đang được thẩm sát được kết hợp. Đây là sự thẩm sát về sự kết hợp.
Tattha katamo padaṭṭhāno? Cetanā pariyuṭṭhānaṃ cetanāpariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Saṅkappanaṃ upādānassa padaṭṭhānaṃ. Anusayo pariyuṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Tesaṃ chandarāgavināsāya bhāvanā bhavarāgassa pahānaṃ.
Among these, what is the Padaṭṭhāna Hāra (Proximate Cause)? Volition is obsession. Volition is the proximate cause of obsession. Conception is the proximate cause of clinging. Underlying tendency is the proximate cause of obsession. For them, the development for the destruction of desire and lust is the abandoning of the lust for existence.
Ở đây, nhân gần là gì? Tác ý là triền cái, tác ý là nhân gần của triền cái. Sự suy lường là nhân gần của thủ. Tùy miên là nhân gần của triền cái. Đối với các vị ấy, sự tu tập để hủy diệt dục tham là sự đoạn trừ hữu tham.
Tattha katamo lakkhaṇo? Yaṃ cetasikanti vedayitaṃ pakappitaṃ uggahitaṃ viññātaṃ tabbiññāṇaṃ ārammaṇampi paccayopi.
Among these, what is the Lakkhaṇa Hāra (Characteristic)? In the term 'mental factor': whatever is felt, whatever is conceived, whatever is grasped as pleasant or unpleasant, is known; that consciousness is both an object and a condition.
Ở đây, đặc tính là gì? Điều gì là tâm sở, là được cảm thọ, được suy lường, được nắm bắt, được nhận biết, thức ấy vừa là đối tượng vừa là duyên.
Tattha katamo catubyūho? Idha sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye punabbhavaṃ na icchanti, te na cetayissanti na ca patthayissantīti, ayaṃ adhippāyo.
Among these, what is the Catubyūha Hāra (Fourfold Array)? In this sutta, what is the Blessed One's intention? Those who do not wish for renewed existence will not will and will not aspire—this is the intention.
Ở đây, bốn phương diện là gì? Ở trong kinh này, chủ ý của đức Thế Tôn là gì? Những vị nào không mong muốn sự tái sanh, các vị ấy sẽ không có tác ý và sẽ không có mong cầu, đây là chủ ý.
Āvaṭṭoti yā ca cetanā patthanā ca anusayo ca viññāṇaṭṭhitipahānā ca, imāni dve saccāni. Vibhattīti natthi vibhattiyā bhūmi. Parivattanā pana paṭipakkhaṃ suttaṃ.
The Āvaṭṭa Hāra (Cycle) is: whatever volition, aspiration, underlying tendency, station of consciousness, and abandoning there is. These are two truths. As for the Vibhatti Hāra (Distinction), there is no ground for distinction. The Parivattanā Hāra (Conversion), however, is the opposing sutta.
Về sự luân chuyển, điều gì là tác ý, là sự mong cầu, là tùy miên, và là sự đoạn trừ nền tảng của thức, đây là hai sự thật. Về sự phân tích, không có cơ sở cho sự phân tích. Còn về sự chuyển đổi, là kinh đối nghịch.
Tattha katamo vevacano? Cetanā rūpasañcetanā yāvadhammasañcetanā. Yo anusayo, te satta anusayā.
Among these, what is the Vevacana Hāra (Synonym)? Volition is volition regarding form up to volition regarding mind-objects. Whatever underlying tendency there is, they are the seven underlying tendencies.
Ở đây, đồng nghĩa là gì? Tác ý là sắc tư, cho đến pháp tư. Tùy miên nào, chúng là bảy tùy miên.
Paññattīti cetanāpariyuṭṭhānaṃ paññattiyā paññattā. Saṅkappanaṃ upādānapaññattiyā paññattaṃ. Anusayo hetupaññattiyā paññatto. Viññāṇaṭṭhiti upapattihetupaññattiyā paññattā. Cetanā saṅkappanā anusayo samucchedo chandarāgavinayapaññattiyā paññatto. Paṭhame keci dvīhi parivattakehi paṭiccasamuppādo idappaccayatāya majjhapaññatti.
The Paññatti Hāra (Designation) is: Volition is designated by the designation of obsession. Conception is designated by the designation of clinging. Underlying tendency is designated by the designation of cause. The station of consciousness is designated by the designation of the cause of rebirth. Volition, conception, underlying tendency, and cutting off are designated by the designation of the removal of desire and lust. In the first case, some say that dependent origination with two cycles, due to specific conditionality, is a neutral designation.
Về sự chế định, tác ý được chế định bằng sự chế định triền cái. Sự suy lường được chế định bằng sự chế định về thủ. Tùy miên được chế định bằng sự chế định về nhân. Nền tảng của thức được chế định bằng sự chế định về nhân tái sanh. Tác ý, sự suy lường, tùy miên, sự đoạn tuyệt được chế định bằng sự chế định về sự nhiếp phục dục tham. Lúc ban đầu, một số người cho rằng duyên khởi với hai sự luân chuyển là sự chế định trung dung do tính duyên sinh này.
Otaraṇoti dvīhi parivattakehi dukkhañca samudayo ca majjhimakehi maggo ca nirodho ca. Sodhanoti sutte suttassa ārambho.
The Otaraṇa Hāra (Descent) is: by means of the two cycles, one descends into suffering and its origin; by means of the middle ones, into the path and cessation. The Sodhana Hāra (Purification) is: the beginning of the sutta within the sutta.
Về sự đi vào, với hai sự luân chuyển, khổ và tập đi vào; với những điều ở giữa, đạo và diệt đi vào. Về sự thanh lọc, ở trong kinh là sự nỗ lực của kinh.
Adhiṭṭhānoti yañcetayitaṃ sabbaṃ adhiṭṭhānena ekattāya paññattaṃ. Saṅkappitanti upādānekattāya paññattaṃ. Viññāṇaṃ ekattāya paññattaṃ.
The Adhiṭṭhāna Hāra (Determination) is: all that is willed is designated as a unity by determination. What is conceived is designated as a unity of clinging. Consciousness is designated as a unity.
Về sự quyết định, tất cả những gì đã được tác ý được chế định là một bởi sự quyết định. Điều đã được suy lường được chế định là một với thủ. Thức được chế định là một.
Parikkhāroti subhañca ārammaṇaṃ ayoniso manasikāro cetanā hetupaccayatāya paccayo. Viññāṇassa patiṭṭhāno dhammo ārammaṇapaccayatāya paccayo. Tassa manasikāro hetupaccayatāya paccayo.
As for the requisite-nutriment: a pleasant object, unwise attention, and intention are a condition by way of root-condition. The nature of being a support for consciousness is a condition by way of object-condition. That person's attention is a condition by way of root-condition.
Yếu tố hỗ trợ là: đối tượng tốt đẹp, tác ý không như lý, và tư là trợ duyên theo cách thức của nhân duyên. Pháp là nền tảng của thức là trợ duyên theo cách thức của cảnh duyên. Tác ý của vị ấy là trợ duyên theo cách thức của nhân duyên.
Tattha katamo samāropano? Idaṃ suttaṃ saññitaṃ tattha ceteti visajjanā iti niddisitabbā. Tassa diṭṭhiyā viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ yāva jarāmaraṇaṃ, ayaṃ samāropano. Ārammaṇametaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā yāva jarāmaraṇanirodho.
Among those, what is the mode of superimposition? This sutta is to be noted. Therein, the answer is to be indicated as 'one intends'. By that person's view, from consciousness as condition, there is name-and-form up to aging and death. This is the mode of superimposition. This object is not for the stationing of consciousness. From the cessation of consciousness, there is the cessation of name-and-form. From the cessation of name-and-form, there is cessation up to aging and death.
Trong ấy, phương pháp áp đặt là gì? Kinh này được ghi nhận, trong đó câu trả lời nên được chỉ ra là ‘vị ấy có tư’. Do tà kiến của vị ấy, với thức làm duyên, danh sắc (sinh khởi) cho đến già-chết, đây là phương pháp áp đặt. Đối tượng này không phải để cho thức tồn tại, do thức diệt nên danh sắc diệt, do danh sắc diệt nên (các pháp) cho đến già-chết diệt.
110. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ? Ayaṃ loko † santāpajāto yāva ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vippamokkhamāhaṃsu. Saṃkilesabhāgiyaṃ upadhiṃ hi paṭicca dukkhamidaṃ sambhoti, yā tā pana taṇhā pahīyanti, bhavaṃ nābhinandatīti nibbedhassa nibbutassa † bhikkhuno anupādāya punabbhavo na hoti. Upaccagā sabbabhavāni tādīti asekkhabhāgiyaṃ.
110. Among those, what is the sutta that partakes of defilement, that partakes of penetration, and that partakes of the adept? 'This world is born of anguish,' up to 'whatever ascetics or brahmins declared liberation from existence by means of existence.' That which partakes of defilement is: 'Dependent on the substrate, this suffering arises.' That which partakes of penetration is: 'When those cravings are abandoned, one does not delight in existence'; thus, for the penetrated, extinguished monk, through non-clinging there is no future existence. That which partakes of the adept is: 'Such a one has overcome all existences.'
110. Trong ấy, kinh nào thuộc phần phiền não, thuộc phần xuyên thấu, và thuộc phần vô học? ‘Thế gian này bị nhiệt não thiêu đốt, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tuyên bố sự giải thoát khỏi hữu bằng hữu.’ (Phần phiền não là:) ‘Vì duyên với sanh y, khổ này sinh khởi.’ ‘Những ái nào được đoạn trừ, vị ấy không hoan hỷ trong hữu,’ đối với vị tỳ khưu đã xuyên thấu, đã tịch tịnh, do không còn chấp thủ nên không có tái sanh. ‘Vị như vậy đã vượt qua tất cả các cõi hữu,’ đây là phần vô học.
Tattha santāpajātoti rāgajo santāpo dosajo mohajoti. Tesaṃ sattānaṃ ṭhānaṃ dasseti. Loko santāpajātoti phasso tividho sukhavedanīyo dukkhavedanīyo adukkhamasukhavedanīyo. Tattha sukhavedanīyo phasso rāgasantāpo, dukkhavedanīyo dosasantāpo, adukkhamasukhavedanīyo mohasantāpo. Yathā ca bhagavā āha paṭhamakassa valāhakassa gomagge † yehi gahapatiputta rāgajehi dosajehi mohajehi santāpehi dukkhaṃ supati, te mama santāpā na santi.
Therein, 'born of anguish' means anguish born of lust, born of hatred, and born of delusion. It shows the cause for those beings. 'The world is born of anguish' means contact is threefold: contact accompanied by pleasant feeling, contact accompanied by painful feeling, and contact accompanied by neither-painful-nor-pleasant feeling. Therein, contact accompanied by pleasant feeling is the anguish of lust; contact accompanied by painful feeling is the anguish of hatred; contact accompanied by neither-painful-nor-pleasant feeling is the anguish of delusion. And just as the Blessed One said to the first Valāhaka on the cow path: 'Householder, by which anguishes born of lust, born of hatred, and born of delusion one sleeps in suffering—those anguishes are not present for me.'
Trong ấy, ‘bị nhiệt não thiêu đốt’ là nhiệt não do tham, do sân, do si. Điều này chỉ ra nền tảng của các chúng sanh ấy. ‘Thế gian bị nhiệt não thiêu đốt’ có nghĩa là xúc có ba loại: xúc tương ưng với lạc thọ, xúc tương ưng với khổ thọ, và xúc tương ưng với thọ bất khổ bất lạc. Trong đó, xúc tương ưng với lạc thọ là nhiệt não do tham; xúc tương ưng với khổ thọ là nhiệt não do sân; xúc tương ưng với thọ bất khổ bất lạc là nhiệt não do si. Và như Đức Thế Tôn đã nói với Valāhaka thứ nhất trên đường đi của bò: ‘Này con trai gia chủ, những nhiệt não do tham, do sân, do si nào mà người ta ngủ trong khổ, những nhiệt não ấy Ta không có.’
Rogaṃ vadati attatoti tehi santāpehi santāpito tividhaṃ vipallāsaṃ paṭilabhati saññāvipallāsaṃ cittavipallāsaṃ diṭṭhivipallāsaṃ. Tattha asubhe subhanti saññāvipallāso. Dukkhe sukhanti cittavipallāso. Anicce niccanti anattani attāti diṭṭhivipallāso.
One speaks of disease as self. Tormented by those anguishes, one obtains the threefold perversion: the perversion of perception, the perversion of mind, and the perversion of view. Therein, perceiving the foul as beautiful is the perversion of perception. Perceiving suffering as happiness is the perversion of mind. Perceiving the impermanent as permanent and what is not-self as self is the perversion of view.
‘Họ gọi bệnh là tự ngã.’ Bị thiêu đốt bởi những nhiệt não ấy, người ấy đạt được ba loại điên đảo: tưởng điên đảo, tâm điên đảo, và kiến điên đảo. Trong đó, (cho rằng) ‘tốt đẹp’ trong cái không tốt đẹp là tưởng điên đảo. (Cho rằng) ‘lạc’ trong cái khổ là tâm điên đảo. (Cho rằng) ‘thường’ trong cái vô thường và ‘ngã’ trong cái vô ngã là kiến điên đảo.
Yathā cittassa vipallāso saññādiṭṭhite tividhā vitakkā – cittavitakko vipallāso saññāvitakko vipallāso diṭṭhivitakko vipallāsopi. Tattha avijjā vipallāso gocarā gatipateyyabhūmi, yathā hi taṃ sañjānāti yathā vijānāti yathā sañjānāti ca vijānāti ca. Yathā khanti ceteti ime cattāro vipallāsā sattā yehi catubbidhaṃ attabhāvavatthuṃ rogabhūtaṃ gaṇḍabhūtaṃ ‘‘attā’’ti vadanti. Rogaṃ vadati attatoti ayaṃ āvaṭṭo. Yena yena hi maññati tato taṃ hoti aññathāti subhanti maññati na tathā hoti. Evaṃ sukhanti niccaṃ attāti so aññathā bhavameva santaṃ anāgataṃ bhavaṃ patthayati, tena vuccati ‘‘bhavarāgo’’ti. Bhavamevābhinandati, yaṃ abhinandati, taṃ dukkhanti pañcakkhandhe niddisiyati. Yañca tappaccayā sokaparidevadukkhaṃ tassa hi bhāvessati. Ettāvatā saṃkileso hoti. Pahānatthaṃ kho pana brahmacariyaṃ vussati. Tiṇṇaṃ santāpānaṃ chandarāgavinayo hoti.
Just as there is the perversion of mind, so too are there perversions of perception and view. Thoughts are threefold: the perversion of thought of mind, the perversion of thought of perception, and also the perversion of thought of view. Therein, the perversion of ignorance is the domain of resort, the ground for falling. For, as one perceives it, as one cognizes it, as one both perceives and cognizes it, as one approves and intends—by these four perversions, beings call the fourfold basis of individuality, which has become a disease, a boil, 'self.' 'One speaks of disease as self'—this is the mode of revolving. For in whatever way one conceives, it becomes otherwise than that. One conceives 'it is beautiful,' but it is not so. Likewise with 'happiness,' 'permanent,' and 'self.' That person, being otherwise, desires a future existence while in this very existence; therefore, it is called 'lust for existence.' One greatly delights in existence itself. That in which one delights is suffering—thus the five aggregates are indicated. And whatever sorrow, lamentation, and suffering arise on account of that, for that person it will be developed. To this extent, there is defilement. But for the sake of abandoning it, the holy life is lived. There is the removal of desire and lust for the three anguishes.
Như có tâm điên đảo, cũng có tưởng và kiến điên đảo. Có ba loại tầm: tầm của tâm điên đảo, tầm của tưởng điên đảo, và tầm của kiến điên đảo. Trong đó, vô minh điên đảo là cảnh vực, là nơi đến, là nền tảng; vì người ấy nhận thức nó như thế nào, biết nó như thế nào, thì người ấy vừa nhận thức vừa biết nó như thế ấy. Như người ấy chấp nhận và có tư, những chúng sanh bị bốn điên đảo này, do chúng mà họ gọi bốn loại vật thể của tự thể, vốn là bệnh, là ung nhọt, là ‘tự ngã’. ‘Họ gọi bệnh là tự ngã,’ đây là phương pháp luân chuyển. Bởi vì, bất cứ điều gì người ấy tưởng tri, điều đó trở thành khác đi. Người ấy tưởng tri là ‘tốt đẹp,’ nhưng nó không phải như vậy. Tương tự, (tưởng tri) là ‘lạc,’ ‘thường,’ ‘ngã.’ Vị ấy, một cách khác, mong cầu một cõi hữu trong tương lai, vốn là một cõi hữu hiện hữu, do đó được gọi là ‘hữu ái’. Vị ấy hoan hỷ trong hữu. ‘Điều gì vị ấy hoan hỷ, điều đó là khổ,’ năm uẩn được chỉ ra. Và do duyên ấy, sầu, bi, khổ sẽ phát triển nơi vị ấy. Đến chừng ấy là có phiền não. Nhưng để đoạn trừ, phạm hạnh được sống. Có sự điều phục dục tham đối với ba loại nhiệt não.
Upadhiṃ hi paṭicca dukkhamidaṃ bhavatīti ye bhavamevābhinandanti yassa bhāvessati, taṃ dukkhaṃ tassa dukkhassa pahānamāha. Sabbaso upādānañca yaṃ natthi dukkhassa sambhavoti cattāro vipallāsā yathā niddiṭṭhaupādānamāha. Tassa paṭhamo vipallāso kāmupādānaṃ, dutiyaṃ diṭṭhupādānaṃ, tatiyaṃ sīlabbatupādānaṃ, catutthaṃ attavādupādānaṃ, tesaṃ yo khayo natthi dukkhassa sambhavo upadhi nidānaṃ dukkhanirodhamāha. Evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya passato vibhavataṇhā na hoti. Vibhavaṃ nābhinandatīti dassanabhūmiṃ manteti sabbaso taṇhakkhayaṃ nibbānanti dve vimuttiyo katheti rāgavirāgañca avijjāvirāgañca. Tassa bhikkhunoti anupādisesanibbānadhātuṃ manteti. Ayaṃ suttassa atthaniddeso.
'Dependent on the substrate, this suffering arises.' For those who greatly delight in existence itself, for whom that suffering will be developed, He teaches the abandoning of that suffering. 'Where there is in every way no clinging, there is no arising of suffering.' He teaches the four perversions as the indicated forms of clinging. The first perversion is clinging to sensual pleasures; the second, clinging to views; the third, clinging to rites and rituals; the fourth, clinging to the doctrine of self. When there is their destruction, there is no arising of suffering. The substrate is the cause; He speaks of the cessation of suffering. Thus, for one who sees this as it really is with right wisdom, craving for non-existence does not arise. 'One does not delight in non-existence'—thus one understands the stage of vision. He speaks of 'Nibbāna, the utter destruction of craving,' and of the two liberations: dispassion for lust and dispassion for ignorance. As for 'for that monk,' one understands this as the Nibbāna-element without residue remaining. This is the explanation of the meaning of the sutta.
‘Vì duyên với sanh y, khổ này sinh khởi.’ Những ai hoan hỷ trong hữu, đối với người mà (khổ) sẽ phát triển, khổ ấy, Ngài nói về sự đoạn trừ khổ ấy. ‘Khi hoàn toàn không có chấp thủ, không có sự sinh khởi của khổ.’ Ngài nói về bốn điên đảo như là chấp thủ đã được chỉ ra. Điên đảo thứ nhất trong đó là dục thủ, thứ hai là kiến thủ, thứ ba là giới cấm thủ, thứ tư là ngã luận thủ. Sự đoạn tận của chúng, ‘không có sự sinh khởi của khổ,’ Ngài nói về sự diệt khổ có sanh y làm nhân. Như vậy, đối với người thấy điều này như thật bằng chánh trí tuệ, phi hữu ái không sinh khởi. ‘Vị ấy không hoan hỷ trong phi hữu,’ vị ấy hiểu đó là kiến địa. ‘Sự đoạn tận hoàn toàn ái dục là Niết-bàn,’ Ngài nói về hai sự giải thoát: sự ly tham và sự ly vô minh. ‘Của vị tỳ khưu ấy,’ vị ấy hiểu đó là vô dư y Niết-bàn giới. Đây là sự giải thích ý nghĩa của kinh.
111. Tattha katamo vicayo? Yassa yattha pariḷāheti tassa pariḍayhantassa so yathābhūtaṃ natthi nibbindati ca, ayaṃ vicayo ca yutti ca. Padaṭṭhāno rāgajo pariḷāho sukhindriyassa domanassindriyassa ca padaṭṭhānaṃ. Dosajo pariḷāho sukhindriyassa domanassindriyassa ca padaṭṭhānaṃ. Mohajo pariḷāho upekkhindriyassa domanassindriyassa ca padaṭṭhānaṃ.
111. Among those, what is the mode of investigation? For whomever, wherein there is burning, for that one who is being burned, there is no seeing things as they truly are, and no disenchantment. This is the mode of investigation and of reasoned judgment. The burning born of lust is the proximate cause of the faculty of pleasure and the faculty of displeasure. The burning born of hatred is the proximate cause of the faculty of pleasure and the faculty of displeasure. The burning born of delusion is the proximate cause of the faculty of equanimity and the faculty of displeasure.
111. Trong ấy, phương pháp thẩm sát là gì? Đối với người nào, ở đâu có sự thiêu đốt, đối với người đang bị thiêu đốt ấy, không có sự nhàm chán như thật đối với điều đó, đây là phương pháp thẩm sát và phương pháp hợp lý. Về nhân cần thiết: sự thiêu đốt do tham là nhân cần thiết cho lạc quyền và ưu quyền. Sự thiêu đốt do sân là nhân cần thiết cho lạc quyền và ưu quyền. Sự thiêu đốt do si là nhân cần thiết cho xả quyền và ưu quyền.
Tattha katamo lakkhaṇo hāro? Phassapareto vedanāpareto saññāparetopi saṅkhāraparetopi yena yena maññati yadi subhanimittena yadi sukhanimittena yadi niccanimittena yadi attanimittena asubhe subhanti maññati, evaṃ sabbaṃ rāgaje pariḷāhe vutte cattāro pariḷāhā vuttā bhavanti. Rāgajo dosajo mohajo diṭṭhijo ca rāgaṃ vadāmīti attato vadati. Sabbāni pannarasa padāni aniccaṃ dukkhanti.
Among those, what is the mode of characteristics? One oppressed by contact, oppressed by feeling, oppressed by perception, or oppressed by formations—in whatever way one conceives, whether by the sign of beauty, the sign of pleasure, the sign of permanence, or the sign of self—one conceives of the foul as 'beautiful.' Thus, when the burning born of lust is spoken of in its entirety, four burnings are said to be included: that born of lust, that born of hatred, that born of delusion, and that born of views. 'I call it lust,' one says, speaking of its essence. All fifteen terms are impermanent and suffering.
Trong ấy, phương pháp đặc tướng là gì? Người bị xúc chi phối, bị thọ chi phối, bị tưởng chi phối, bị hành chi phối, bất cứ điều gì người ấy tưởng tri, dù là bằng tướng tốt đẹp, bằng tướng lạc, bằng tướng thường, hay bằng tướng ngã, người ấy tưởng tri ‘tốt đẹp’ trong cái không tốt đẹp. Như vậy, khi tất cả sự thiêu đốt do tham được nói đến, bốn sự thiêu đốt được nói đến. ‘Ta gọi cái sinh từ tham, từ sân, từ si, và từ tà kiến là tham,’ vị ấy nói về tự ngã. Tất cả mười lăm câu là vô thường, khổ.
Tattha katamo catubyūho? Idha sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye pariḷāhena na acchanti te bhavaṃ nābhinandanti. Ye bhavaṃ nābhinandanti, te parinibbāyissanti. Ayaṃ adhippāyo.
Among those, what is the mode of the fourfold array? In this sutta, what is the Blessed One's intention? Those who do not abide in burning do not delight in existence. Those who do not delight in existence will attain final Nibbāna. This is the intention.
Trong ấy, phương pháp tứ phân là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai không sống với sự thiêu đốt, họ không hoan hỷ trong hữu. Những ai không hoan hỷ trong hữu, họ sẽ đạt Bát-niết-bàn. Đây là chủ ý.
Tattha katamo āvaṭṭo? Saṃkilesabhāgiyena dukkhañca samudayañca niddisati. Nibbedhabhāgiyena maggañca nirodhañca.
Among these, what is the Revolving Method? By means of a discourse pertaining to defilement, it indicates suffering and its origin. By means of a discourse pertaining to penetration, it indicates the path and cessation.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Āvaṭṭa là gì? Bằng kinh thuộc phần phiền não, chỉ ra khổ và tập. Bằng kinh thuộc phần thấu triệt, chỉ ra đạo và diệt.
Tattha katamā vibhatti? Santāpajāto rogajāto rogaṃ vadati attato taṃ na ekaṃsena hoti amanasikārā santāpajāto kho na ca rogaṃ attato vadati.
Among these, what is the Method of Analysis? 'Born of anguish' is born of disease; one speaks of disease as self. That is not invariably so. Due to inattention, one who is born of anguish does not, in fact, speak of disease as self.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Vibhatti là gì? Sự nóng nảy phát sanh là do bệnh phát sanh, gọi là bệnh. Về bản chất, điều ấy không hoàn toàn là như vậy. Do không tác ý, sự nóng nảy phát sanh quả thật không được gọi là bệnh về bản chất.
Tattha katamo parivattano? Pakkhapaṭipakkhanidassanatthaṃ bhūmi parivattanāya.
Among these, what is the Method of Reversal? The ground for reversal is for the purpose of showing the thesis and antithesis.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Parivattana là gì? Nền tảng cho sự chuyển đổi là nhằm mục đích chỉ ra vế thuận và vế nghịch.
Tattha katamo vevacano hāro? Rogañca attato vadati sallaṃ attato vadati. Pannarasa padāni sabbāni vattabbāni.
Among these, what is the Method of Synonyms? One speaks of disease as self; one speaks of a dart as self. All fifteen terms should be stated.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Vevacana là gì? Gọi là bệnh về bản chất, gọi là mũi tên về bản chất. Tất cả mười lăm từ cần được nói đến.
Tattha katamā paññatti? Santāpajātoti domanassapadaṭṭhānaṃ. Sabbe vacanapaññattiyā paññapeti. Rogaṃ vadati attato vipallāso saṃkilesapaññattiyā paññapeti. Yaṃ nābhinandati, taṃ dukkhanti vipallāsanikkhepapaññattiyā paññattā. Te akatasattā lokā majjhena vemattatāya paññattā.
Among these, what is the Method of Designation? 'Born of anguish' is the proximate cause for displeasure. It makes all things known by verbal designation. The perversion of speaking of disease as self is made known by the designation of defilement. 'Whatever one does not delight in, that is suffering'—this is designated by the designation of the deposition of perversion. Those beings without attachment are designated by way of differentiation in the middle.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Paññatti là gì? 'Sự nóng nảy phát sanh' là trạng thái gần của ưu. Làm cho biết tất cả trong chế định về lời nói. Gọi là bệnh về bản chất, sự sai lệch làm cho biết trong chế định về phiền não. 'Cái gì không hoan hỷ, cái đó là khổ' được chế định trong chế định về sự đặt xuống sai lệch. Các thế gian không bị dính mắc ấy được chế định bởi sự khác biệt ở mức trung bình.
Tattha katamo otaraṇo? Santāpajātoti tīṇi akusalamūlāni, te saṅkhārā saṅkhārakkhandhapariyāpannā, dhātūsu dhammadhātu, āyatanesu dhammāyatanaṃ. Indriyesu itthindriyaṃ purisindriyañca padaṭṭhānaṃ.
Among these, what is the Method of Descent? 'Born of anguish' means the three unwholesome roots. Those are formations, included in the aggregate of formations. Among the elements, it is the phenomena-element; among the sense bases, it is the phenomena-base. Among the faculties, the female faculty and the male faculty are the proximate cause.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Otaraṇa là gì? 'Sự nóng nảy phát sanh' là ba bất thiện căn, chúng là các hành, được bao gồm trong hành uẩn; trong các giới là pháp giới; trong các xứ là pháp xứ. Trong các quyền, nữ quyền và nam quyền là trạng thái gần.
Tattha katamo sodhano? Suddho suttassa ārambho.
Among these, what is the Method of Purification? The commencement of the discourse is pure.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Sodhana là gì? Sự khởi đầu của bài kinh là thanh tịnh.
Tattha katamo adhiṭṭhāno hāro? Pariḷāhoti ye sattā lokā ekattapaññattiyā paññattā, te akatasattā lokā majjhena vemattatāya paññattā.
Among these, what is the Method of Determination? 'Burning' means: those attached worlds are designated by the designation of oneness; those worlds without attachment are designated by way of differentiation in the middle.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Adhiṭṭhāna là gì? 'Sự thiêu đốt' là những thế gian bị dính mắc nào được chế định bởi chế định về tính đồng nhất, các thế gian không bị dính mắc ấy được chế định bởi sự khác biệt ở mức trung bình.
Tattha katamo parikkhāro? Santāpajātoti ayoniso manasikāro hetu, vipallāsañca paccayo. Tattha dvīhi dhammehi attā abhiniviṭṭhā cittañca cetasikañca dhamme ubhayāni tassa viparītena parāmasato. Aparo pariyāyo, cetasikehi dhammehi attasaññā anattasaññā samugghāteti. Aparo pariyāyo. Aniccasaññā cetasikesu dhammesu, na tu attasaññā. Idaṃ vuccati cittanti vā manoti vā viññāṇanti vā idaṃ dīgharattaṃ abbhuggataṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti. Tattha cetasikā dhammānupassanā esāpi dhammasaññā. Tassa ko hetu, ko paccayo? Ahaṃkāro hetu, mamaṃkāro paccayo.
Among these, what is the Method of Requisites? 'Born of anguish' means: improper attention is the cause, and perversion is the condition. Therein, the self is clung to by means of two phenomena—mind and mental factors—due to grasping them perversely. Another exposition: by means of mental phenomena, the perception of non-self eradicates the perception of self. Another exposition: there is perception of impermanence in mental phenomena, but not perception of self. This is called 'mind' or 'intellect' or 'consciousness'. For a long time this has arisen: 'This is mine, this I am, this is my self.' Therein, the contemplation of mental phenomena is also a perception of phenomena. What is its cause, what its condition? 'I-making' is the cause; 'mine-making' is the condition.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Parikkhāra là gì? 'Sự nóng nảy phát sanh' có sự tác ý không như lý làm nhân, và sự sai lệch làm duyên. Ở đây, do sự nắm giữ sai lệch đối với hai pháp là tâm và tâm sở, ngã được chấp thủ. Một phương pháp khác: bằng các pháp tâm sở, nhổ lên tự ngã tưởng và vô ngã tưởng. Một phương pháp khác: nhổ lên vô thường tưởng trong các pháp tâm sở, nhưng không nhổ lên tự ngã tưởng. Cái này được gọi là tâm, hay ý, hay thức; cái này đã trỗi lên từ lâu rằng: 'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'. Ở đây, sự quán pháp trong các tâm sở, đây cũng là pháp tưởng. Cái gì là nhân, cái gì là duyên của nó? Ngã mạn là nhân, sở hữu mạn là duyên.
Tattha katamo samāropano? Ayaṃ loko santāpajātoti akusalaṃ manteti viññāṇaṃ nāmarūpassa paccayo yāva jarāmaraṇanti, ayaṃ samāropano.
Among these, what is the Method of Superimposition? One considers: 'This world is born of anguish.' 'Consciousness is a condition for name-and-form,' up to 'aging-and-death'—this is the Method of Superimposition.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Samāropana là gì? Cho rằng: 'Thế gian này có sự nóng nảy phát sanh', (như vậy) là suy xét về điều bất thiện. Thức là duyên cho danh sắc, cho đến già chết. Đây là Samāropana.
112. Evametaṃ yathābhūtaṃ, sammappaññāya passati akusalamūlānaṃ pahānaṃ. Tattha avijjānirodho avijjānirodhā yāva jarāmaraṇanirodho, ayaṃ samāropano.
112. Thus, seeing this as it really is with right wisdom, one sees the abandoning of the unwholesome roots. Therein, with the cessation of ignorance, there is cessation up to aging-and-death. This is the Method of Superimposition.
112. Như vậy, vị ấy thấy sự đoạn trừ các bất thiện căn đối với điều này như thật bằng chánh trí tuệ. Ở đây, có sự diệt của vô minh; do vô minh diệt, cho đến già chết diệt. Đây là Samāropana.
Cattāro puggalā † – anusotagāmī paṭisotagāmī ṭhitatto, tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇoti.
There are four persons: one who goes with the stream, one who goes against the stream, one who is of steadfast self, and a brahmin who has crossed over, gone to the far shore, and stands on high ground.
Có bốn hạng người: người đi xuôi dòng, người đi ngược dòng, người có tự ngã đứng vững, và người Bà-la-môn đã vượt qua, đã đến bờ kia, đứng trên cạn.
Tattha yo anusotagāmī ayaṃ kāme sevati. Pāpañca kammaṃ karoti yāva kāme paṭisevati. Idaṃ lobho akusalamūlaṃ, so yeva taṇhā, so tehi kāmehi vuyhati anusotagāmīti vuccati. Yo puggalo tāhi gamito tappaccayā tassa hetu akusalakammaṃ karoti kāyena ca vācāya ca, ayaṃ vuccati pāpakammaṃ karotīti. Tassa tīṇi sotāni sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāso. Imehi tīhi sotehi tividhadhātuyaṃ uppajjati kāmadhātuyaṃ rūpadhātuyaṃ arūpadhātuyaṃ. Tena paṭipakkhena yo kāme na paṭisevati. Yo sīlavataṃ na parāmasati. Yo sakkāyadiṭṭhīnaṃ pahānāya kāmesu yathābhūtaṃ ādīnavaṃ passati. Yena ca te dhamme paṭisevati. Yañca tappaccayā tiṭṭhati brāhmaṇoti arahaṃ kira. Tattha arahaṃ tassa pāraṅgato hoti, pāraṅgatassa thale tiṭṭhati sopādisesā nibbānadhātu. Anusotagāminīti dassanappahātabbānaṃ saṃyojanānaṃ appahānamāha. Paṭisotagāminīti phale diṭṭhekaṭṭhānañca kilesānaṃ pahānamāha, ṭhitattena pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ pahānamāha. Tattha anusotagāminā maggarūpimāha. Paṭisotagāminā ṭhitattena ca maggamitimāha. Pāraṅgatena sāvakā asekkhā ca sammāsambuddhā ca vuttā. Anusotagāminā sakkāyasamudayagāminiṃ paṭipadamāha. Paṭisotagāminā ṭhitattena sakkāyanirodhagāminiṃ paṭipadamāha. Pāraṅgatena dasa asekkhā arahantā dhammā vuttā. Ayaṃ suttattho.
Herein, one who goes with the stream indulges in sensual pleasures and also does evil deeds. Insofar as one indulges in sensual pleasures, this is greed, an unwholesome root. That itself is craving. One is carried away by those sensual pleasures and is thus called 'one who goes with the stream.' A person who is led by these, and for that reason performs unwholesome deeds with body and speech, is called 'one who does evil deeds.' For that person, there are three streams: identity view, doubt, and misapprehension of rites and rituals. Through these three streams, one is reborn in the threefold realm: the sensual realm, the form realm, and the formless realm. In opposition to that is one who does not indulge in sensual pleasures, who does not misapprehend virtuous conduct, who sees the danger in sensual pleasures as it really is for the sake of abandoning identity views. By practicing these phenomena, and because of that, one stands firm as a brahmin—indeed, an Arahant. Herein, for that person, the Arahant has gone to the far shore. For one who has gone to the far shore, one stands on high ground, which is the Nibbāna-element with residue remaining. 'Going with the stream' refers to the non-abandoning of the fetters to be abandoned by seeing. 'Going against the stream' refers to the abandoning of defilements in the fruit, which has a standing similar to the view. By 'one of steadfast self', it refers to the abandoning of the five lower fetters. By 'one who goes with the stream', it refers to the form of the path. By 'one who goes against the stream' and 'one of steadfast self', it refers to the stability of the path. By 'one who has gone to the far shore', disciples who are adepts and Perfectly Enlightened Buddhas are meant. By 'one who goes with the stream', it refers to the practice leading to the arising of identity. By 'one who goes against the stream' and 'one of steadfast self', it refers to the practice leading to the cessation of identity. By 'one who has gone to the far shore', the ten phenomena of the Arahants who are adepts are meant. This is the meaning of the discourse.
Ở đây, người đi xuôi dòng là người hưởng thụ các dục. Và làm ác nghiệp cho đến khi còn hưởng thụ các dục. Đây là tham, là bất thiện căn; chính nó là ái; người ấy bị cuốn trôi bởi các dục ấy, nên được gọi là người đi xuôi dòng. Người nào bị chúng dẫn đi, do duyên ấy, do nhân ấy mà làm ác nghiệp bằng thân và khẩu, người này được gọi là 'người làm ác nghiệp'. Người ấy có ba dòng chảy: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Với ba dòng chảy này, người ấy sanh vào ba loại giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ngược lại, người nào không hưởng thụ các dục, người nào không chấp thủ vào giới hạnh, người nào thấy sự nguy hại trong các dục như thật để đoạn trừ các thân kiến. Và do đó, người ấy thực hành các pháp ấy. Và do duyên ấy, người ấy đứng vững, được gọi là Bà-la-môn, quả thật là bậc A-la-hán. Ở đây, bậc A-la-hán của vị ấy là người đã đến bờ kia; đối với người đã đến bờ kia, đứng trên cạn là hữu dư y Niết-bàn giới. 'Người đi xuôi dòng' nói lên sự chưa đoạn trừ các kiết sử cần được đoạn trừ bằng kiến. 'Người đi ngược dòng' nói lên sự đoạn trừ các phiền não và sự đồng nhất với kiến trong quả. 'Người có tự ngã đứng vững' nói lên sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Ở đây, 'người đi xuôi dòng' nói lên hình thức của đạo. 'Người đi ngược dòng' và 'người có tự ngã đứng vững' nói lên sự đo lường của đạo. 'Người đã đến bờ kia' nói về các vị Thanh văn vô học và các bậc Chánh Đẳng Giác. 'Người đi xuôi dòng' nói lên con đường đưa đến sự sanh khởi của thân kiến. 'Người đi ngược dòng' và 'người có tự ngã đứng vững' nói lên con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến. 'Người đã đến bờ kia' nói về mười pháp vô học của bậc A-la-hán. Đây là ý nghĩa của bài kinh.
113. Tattha katamā desanā? Imasmiṃ hi sutte cattāri ariyasaccāni desitāni. Tedhātukalokasamatikkamanañca.
113. Among these, what is the Method of Exposition? In this discourse, the four Noble Truths are taught, as well as the transcending of the world of the three realms.
113. Trong các phương pháp ấy, phương pháp Desanā là gì? Quả vậy, trong bài kinh này, bốn Thánh đế đã được thuyết giảng, và cả sự vượt qua thế gian ba giới.
Tattha katamo vicayo hāro? Yo kāme paṭisevati pāpaṃ † kareyyāti yo ca kāme na paṭisevati so pāpakammaṃ na kareyyāti yo ca imehi dvīhi bhūmīhi uttiṇṇo pāraṅgatoti yā vīmaṃsā ayaṃ vicayo.
Among these, what is the Method of Investigation? The inquiry that: 'One who indulges in sensual pleasures would do evil,' and 'One who does not indulge in sensual pleasures would not do evil,' and 'One who has crossed beyond these two grounds has gone to the far shore'—this is the Method of Investigation.
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Vicaya là gì? Sự thẩm sát rằng: 'Người nào hưởng thụ các dục, người ấy sẽ làm điều ác', và 'Người nào không hưởng thụ các dục, người ấy sẽ không làm ác nghiệp', và 'Người nào đã vượt qua, đã đến bờ kia khỏi hai cảnh giới này' — sự thẩm sát như vậy, đây là Vicaya.
Yuttīti yujjati suttesu, nāyujjatīti yā vīmaṃsāya, ayaṃ yutti. Padaṭṭhānoti anusotagāminā sattannaṃ saṃyojanānaṃ padaṭṭhānaṃ. Akusalassa kiriyā akusalassa mūlānaṃ padaṭṭhānaṃ. Paṭisotagāminā yathābhūtadassanassa padaṭṭhānaṃ. Ṭhitattena asaṃhāriyāya † padaṭṭhānaṃ. Pāraṅgatoti kadāci bhūmiyā padaṭṭhānaṃ.
Reasoning is the inquiry as to whether something accords with the discourses or does not accord. Proximate Cause: Going with the stream is the proximate cause for the seven fetters. The performance of the unwholesome is the proximate cause for the unwholesome roots. Going against the stream is the proximate cause for seeing things as they really are. The state of steadfastness is the proximate cause for being unshakeable. 'Having gone to the far shore' is sometimes the proximate cause for a certain plane.
Yutti là sự thẩm sát rằng: 'Có phù hợp trong các kinh hay không phù hợp?'. Padaṭṭhāna là: 'Người đi xuôi dòng' là trạng thái gần của bảy kiết sử. Việc làm bất thiện là trạng thái gần của các bất thiện căn. 'Người đi ngược dòng' là trạng thái gần của sự thấy như thật. 'Người có tự ngã đứng vững' là trạng thái gần của sự không thể lay chuyển. 'Người đã đến bờ kia' là trạng thái gần của một cảnh giới nào đó.
Tattha katamo lakkhaṇo hāro? Yo anusotaṃ gacchati taṇhāvasena. Sabbesampi kilesānaṃ vasena gacchati. Yo paṭisotaṃ vāyamati. Taṇhāya sabbesampi so kilesānaṃ vāyamati paṭisotaṃ. Yo attanā ṭhito kāyenapi so ṭhito vācācittenapi so ṭhito. Ayaṃ lakkhaṇo hāro.
Among these, which is the method of characteristics? Whoever, by the power of craving, goes downstream to the state of a blind worldling, that person goes by the power of all defilements. Whoever strives upstream for the state of a virtuous worldling with craving, that person strives to make all defilements go upstream. Whoever is established by himself, that person is established in body, and also in speech and mind. This is the method of characteristics.
Trong các hāra ấy, Lakkhaṇohāra là gì? Người nào đi theo dòng do năng lực của ái, người ấy đi do năng lực của tất cả phiền não. Người nào nỗ lực ngược dòng, người ấy nỗ lực ngược dòng đối với tất cả phiền não. Người nào đứng vững tự mình, người ấy đứng vững về thân, người ấy cũng đứng vững về lời nói và tâm ý. Đây là Lakkhaṇohāra.
Tattha katamo catubyūho? Idha sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye anusotagāminiyā paṭipadāya nābhiramissanti, te paṭisotaṃ vāyamissantīti yāva kadāci bhūmiyaṃ, ayaṃ adhippāyo. Āvaṭṭoti idha sutte cattāri suttāni desitāni.
Among these, which is the fourfold arrangement? In this discourse, what is the Blessed One's intention? 'Those who will not delight in the practice that leads downstream, they will strive upstream.' Thus, they will strive up to a certain plane. This is the intention. As for the method of turning, in this discourse, four suttas are taught.
Trong các hāra ấy, Catubyūha là gì? Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Rằng: ‘Những ai sẽ không ưa thích trong con đường xuôi dòng, họ sẽ nỗ lực ngược dòng cho đến một cảnh giới nào đó.’ Đây là chủ ý. Về Āvaṭṭa, trong kinh này, bốn bài kinh đã được thuyết giảng.
Tattha katamo vibhatti hāro? Yo kāme paṭisevati pāpañca kammaṃ karoti. So anusotagāmīti na ekaṃsena sotāpannopi kāme paṭisevati. Taṃ bhāgiyañca pāpakammaṃ karoti. Kiñcāpi sekkhopi kareyya pāpaṃ yathā sutte niddiṭṭho na ca so anusotagāmī, idaṃ vibhajjabyākaraṇīyaṃ. Na ca kāme paṭisevati na ca pāpakammaṃ karoti paṭisotagāmī na ca ekaṃsena sabbe bāhirako kāmesu vītarāgo na ca kāme paṭisevati, tena ca pāpakammaṃ karoti anusotagāmī paṭisotagāmī, ayaṃ vibhatti.
Among these, which is the method of analysis? 'Whoever partakes of sensual pleasures and does evil kamma is one who goes downstream.' This is not absolutely so. A stream-enterer also partakes of sensual pleasures and does evil kamma that is his share. Although a trainee might do evil, he is not one who goes downstream as pointed out in the sutta. This is a matter to be answered by analysis. 'One who neither partakes of sensual pleasures nor does evil kamma is one who goes upstream.' This is not absolutely so. Not everyone is free from passion for external sensual pleasures and does not partake of them. And for that reason, both the one who goes downstream and the one who goes upstream do evil kamma. This is the analysis.
Trong các hāra ấy, Vibhattihāra là gì? ‘Người nào hưởng thụ các dục và làm điều ác, người ấy là người đi xuôi dòng.’ Điều này không hoàn toàn đúng. Vị Dự lưu cũng hưởng thụ các dục và làm ác nghiệp tương ứng với phần của vị ấy. Mặc dù vị hữu học có thể làm điều ác, vị ấy không được chỉ định là người đi xuôi dòng như trong kinh. Đây là điều cần được trả lời bằng cách phân tích. ‘Người không hưởng thụ các dục và không làm điều ác là người đi ngược dòng.’ Điều này cũng không hoàn toàn đúng, vì không phải tất cả (những người đi ngược dòng) đều đã ly tham đối với các ngoại dục. Do đó, cả người đi xuôi dòng và người đi ngược dòng đều có thể làm ác nghiệp. Đây là Vibhatti.
Tattha katamo parivattano hāro? Niddiṭṭho paṭipakkho. Vevacanoti kāmesu vatthukāmāpi kilesakāmāpi rūpasaddagandharasaphassaputtadāradāsakammakaraporisañca pariggahā.
Among these, which is the method of reversal? The opposite has been pointed out. As for the method of synonyms: among sensual pleasures, there are both sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements, namely: taking possession of visible forms, sounds, smells, tastes, tangible objects, sons, wives, slaves, workers, and men.
Trong các hāra ấy, Parivattanohāra là gì? Mặt đối lập được chỉ ra. Về Vevacana: trong các dục, có cả dục đối tượng (vatthukāma) và dục phiền não (kilesakāma), tức là sự chiếm hữu sắc, thanh, hương, vị, xúc, con cái, vợ, tôi tớ, người làm công, và người hầu.
Paññattīti sabbe puthujjanā ekattāya paññattā. Anusotagāmīti kilesasamudācārapaññattiyā paññattā. Ye pana sekkhā puggalā, te nibbānapaññattiyā † paññattā. Ye pana anāgāmī, te asaṃhāriya paññattiyā paññattā, ayaṃ paññatti.
As for the method of designation: all worldlings are designated as one. 'One who goes downstream' is designated by the designation of the constant occurrence of defilements. As for those persons who are trainees, they are designated by the designation of completion. As for those who are non-returners, they are designated by the designation of the immovable. This is the designation.
Về Paññatti: Tất cả phàm phu được chế định là một. Người đi xuôi dòng được chế định bằng sự chế định về sự biểu hiện của phiền não. Còn các vị hữu học, họ được chế định bằng sự chế định về Nibbāna. Còn các vị Bất lai, họ được chế định bằng sự chế định về tính không thể lay chuyển. Đây là Paññatti.
Otaraṇoti yo anusotagāmī, so dukkhaṃ. Ye tassa dhammā, te dukkhassa samudayo. Yaṃ rūpaṃ, ayaṃ rūpakkhandho, evaṃ pañcapi khandhā paṭiccasamuppādo, te kilesā saṅkhārakkhandhapariyāpannā dhammāyatanaṃ dhammadhātu indriyesu ca paññattā.
As for the method of entry: whoever is one who goes downstream, he is suffering. Whatever phenomena are his, they are the origin of suffering. Whatever is form, this is the form aggregate. Thus, there are the five aggregates and dependent origination. Those defilements are included in the aggregate of formations; they are designated as the dhamma-base, the dhamma-element, and also among the faculties.
Về Otaraṇa: Người đi xuôi dòng là khổ. Các pháp của người ấy là tập khởi của khổ. Sắc nào có, đó là sắc uẩn. Tương tự như vậy đối với cả năm uẩn và duyên khởi. Các phiền não ấy được bao gồm trong hành uẩn, và được chế định trong pháp xứ, pháp giới, và các căn.
Sodhanoti yenārambhena idaṃ suttaṃ desitaṃ, so ārambho sabbo suddho.
As for the method of purification: by whatever undertaking this discourse was taught, that entire undertaking is pure.
Về Sodhana: Nỗ lực nào mà kinh này được thuyết giảng, toàn bộ nỗ lực ấy là thanh tịnh.
Adhiṭṭhānoti paṭisotagāminā sabbe sotāpannā ekattena vā niddiṭṭhā rāgānusayapaṭisotagāmino sekkhāva maggo ca sekkho ca puggalo ṭhitattoti.
As for the method of determination: by 'one who goes upstream,' all stream-enterers are pointed out as one. For the one who goes upstream with the underlying tendency of lust, there are only the trainee, the path, and the person who is a trainee; he is established in the faculties such as faith.
Về Adhiṭṭhāna: Bởi (thuật ngữ) ‘người đi ngược dòng’, tất cả các vị Dự lưu được chỉ định là một. Đối với người đi ngược dòng có tùy miên tham, (các thuật ngữ) vị hữu học, đạo, và cá nhân hữu học được thiết lập trong ý nghĩa.
Vītarāgo ekattāya paññatto. Pāraṅgatoti sabbe arahanto sabbe paccekabuddhā sammāsambuddhā ca ekattāya paññattā.
The one free from lust is designated as one. As for 'one who has gone to the far shore,' all Arahants, all Paccekabuddhas, and the Perfectly Self-Enlightened Buddhas are designated as one.
Bậc ly tham được chế định là một. Về (thuật ngữ) ‘người đến bờ kia’, tất cả các vị A-la-hán, tất cả các vị Độc Giác Phật, và các vị Chánh Đẳng Giác được chế định là một.
Parikkhāroti anusotagāmino pāpamittapaccayo kāmapariyuṭṭhānaṃ hetu. Paṭisotagāmino dve hetū dve paccayā ca yāva sammādiṭṭhiyā uppādāyadiṭṭhi †, tassa paṭiladdhamaggo hetu ārambho paccayo kāyiko cetasikassa koṭṭhāso ca. Samāropanoti vibhatti idaṃ suttaṃ natthi samāropanāya bhūmi.
As for the method of requisite conditions: for the one who goes downstream, association with bad friends is the support condition, and sensual obsession is the generative cause. For the one who goes upstream, there are two generative causes and two support conditions. Until the arising of right view, there is wrong view. For that person, the attained path is the generative cause; effort and the bodily and mental component are the support condition. As for the method of superimposition: this discourse is an analysis; there is no ground for superimposition.
Về Parikkhāra: Đối với người đi xuôi dòng, ác hữu là duyên, sự ám ảnh của dục là nhân. Đối với người đi ngược dòng, có hai nhân và hai duyên. Cho đến khi chánh kiến sanh khởi, tà kiến vẫn còn. Đối với người ấy, đạo đã chứng đắc là nhân; sự nỗ lực và phần thuộc về thân và tâm là duyên. Về Samāropanā: Kinh này là sự phân tích; không có cơ sở cho Samāropanā.
114. Pañcānisaṃsā sotānugatānaṃ dhammānaṃ † yāva diṭṭhiyā suppaṭividdhānaṃ suttaṃ vitthārena kātabbaṃ. Yuñjato ghaṭentassa vāyamato gilāno maraṇakāle devabhūto paccekabodhiṃ pāpuṇāti. Sotānugatāti saddhammassavanena kataṃ hoti. Na ca adhipaññādhammavipassanāya tassa cittaṃ tasitaṃ hoti, na ca anibbiddhattaṃ, idaṃ ca suttaṃ pañcannaṃ puggalānaṃ desitaṃ, saddhānusārino mudindriyassa tikkhindriyassa ca dhammānusārino tikkhindriyassa mudindriyassa ca. Yo pana mohacarito puggalo na sakkoti yuñjituṃ ghaṭituṃ vāyamituṃ yathābhūtaṃ yathāsamādhikā vimutti taṃ khaṇaṃ taṃ layaṃ taṃ muhuttaṃ phalaṃ dasseti. Sādhu parihāyati paro taṃ duyhati, no tu sukhaavipākinī bhavati. Tassa diṭṭhe yeva ca dhamme upapajjaaparāpariyavedanīyaṃ. Tattha yo puggalo dhammānusārī tassa yadi sotānugatā dhammā honti so yuñjanto pāpuṇāti. Yo dhammānusārī mudindriyo, so gilāno pāpuṇāti. Yo saddhānusārī tikkhindriyo, so maraṇakālasamaye pāpuṇāti. Yo mudindriyo, so devabhūto pāpuṇāti. Yadā devabhūto na pāpuṇāti, na so teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā paccekabodhiṃ pāpuṇāti. Yo sotānugatesu yuñjati ghaṭeti vāyamati, so pubbāpannena visesaṃ sañjānāti, sañjānanto pāpuṇāti. Sace pana gilānassa manasikāro hoti, tattha yuñjanto pāpuṇāti. Sace panassa maraṇakāle saṃviggo hoti, tattha yuñjanto pāpuṇāti. Sace pana na katthaci † saṃvego hoti, tassa devabhūtassa sukhino dhammabhūtā pādā evaṃ avilapati. So evaṃ jānāti ‘‘ayaṃ so dhammavinayo yattha mayaṃ pubbe manussabhūtā brahmacariyaṃ carimhā’’ti. Atha devabhūto pāpuṇāti. Dibbesu vā pañcasu kāmaguṇesu ajjhosito hoti pamādavihārī, so tena kusalamūlena paccekabodhiṃ pāpuṇāti.
114. The five benefits for the dhammas that follow the stream, for those who have well penetrated the view, should be elaborated in detail for every sutta. For one who strives, exerts, and makes an effort, he attains the state of a Paccekabuddha whether he is sick, at the time of death, or having become a deva. 'Following the stream' means good conduct is done through listening to the good Dhamma. And through higher wisdom and insight into phenomena, his mind is not alarmed, nor does it become disenchanted. And this discourse was taught for five persons: the faith-follower with dull faculties and with sharp faculties, and the Dhamma-follower with sharp faculties and with dull faculties. But as for the person of deluded conduct, he is not able to strive, exert, or make effort according to reality. In whatever way there is liberation from concentration, it shows its fruit in that moment, that instant, that second. He declines well; another destroys that unwholesome deed; it does not have a pleasant result. For him, it arises in this very life, or is to be experienced in a subsequent rebirth. Therein, if a person is a Dhamma-follower and has dhammas that follow the stream, he attains by striving. The Dhamma-follower with dull faculties attains when sick. The faith-follower with sharp faculties attains at the time of death. The one with dull faculties attains by becoming a deva. When, having become a deva, he does not attain, it is not by that very passion for the Dhamma, by that very delight in the Dhamma, that he attains Paccekabodhi. Whoever strives, exerts, and makes an effort in the things that follow the stream, he discerns a special attainment through what was previously reached; and discerning, he attains. But if a sick person has attention, he attains by striving in that state. And if at the time of death he is stirred with urgency, he attains by striving in that state. But if there is no sense of urgency anywhere, for him, having become a happy deva, there is a portion that is Dhamma, and he does not lament. He knows thus: 'This is that Dhamma-Vinaya wherein we, formerly as human beings, lived the holy life.' Then, having become a deva, he attains. Or, being attached to the five strands of divine sensual pleasures and dwelling heedlessly, he attains the state of a Paccekabuddha through that wholesome root.
114. Năm lợi ích của các pháp thuận theo dòng (nghe) cho đến khi kiến được khéo thâm nhập, nên được trình bày chi tiết theo kinh. Người nỗ lực, cố gắng, tinh tấn, (nếu không thành tựu ngay) sẽ chứng đắc Độc Giác Bồ-đề khi bị bệnh, vào lúc lâm chung, hoặc sau khi sanh làm trời. Thuận theo dòng (nghe) nghĩa là đã được thực hiện qua việc nghe diệu pháp. Và do pháp-minh-sát tuệ cao, tâm của người ấy không bị rúng động, cũng không nhàm chán. Và kinh này được thuyết cho năm hạng người: Tín-hành giả có độn căn và lợi căn, và Pháp-hành giả có lợi căn và độn căn. Còn người có si-hạnh, không thể nỗ lực, cố gắng, tinh tấn như thật. Khi sự giải thoát khỏi định xảy ra, nó cho quả trong khoảnh khắc đó, trong chốc lát đó, trong sát-na đó. (Sự thực hành) tốt đẹp bị suy giảm, người khác làm hại nó, nó không có quả là an lạc. Đối với người ấy, (quả) sanh khởi ngay trong hiện tại hoặc trong đời sau. Trong đó, người Pháp-hành giả, nếu có các pháp thuận theo dòng (nghe), người ấy chứng đắc do nỗ lực. Người Pháp-hành giả có độn căn, người ấy chứng đắc khi bị bệnh. Người Tín-hành giả có lợi căn, người ấy chứng đắc vào lúc lâm chung. Người (Tín-hành giả) có độn căn, người ấy chứng đắc sau khi sanh làm trời. Khi đã sanh làm trời mà chưa chứng đắc, chính do pháp tham và pháp hỷ ấy mà người ấy chứng đắc Độc Giác Bồ-đề. Người nào nỗ lực, cố gắng, tinh tấn trong các pháp thuận theo dòng (nghe), người ấy nhận biết được sự đặc biệt qua thành tựu ban đầu, và do nhận biết nên chứng đắc. Nếu người bệnh có tác ý, người ấy chứng đắc do nỗ lực lúc đó. Nếu vào lúc lâm chung người ấy có sự xúc động, người ấy chứng đắc do nỗ lực lúc đó. Nếu không có sự xúc động ở đâu cả, đối với người ấy khi đã sanh làm trời và được an lạc, các nền tảng của pháp khởi lên, và người ấy không than van. Người ấy biết như sau: ‘Đây là Giáo pháp và Giới luật mà chúng ta đã thực hành phạm hạnh khi trước đây còn là người.’ Bấy giờ, sau khi sanh làm trời, người ấy chứng đắc. Hoặc nếu người ấy sống phóng dật, đắm chìm trong năm dục công đức của chư thiên, thì do thiện căn ấy, người ấy chứng đắc Độc Giác Bồ-đề.
Yā paratoghosena vacasā suparicitā, ayaṃ sutamayī paññā. Ye pana dhammā honti manasā anupekkhitā, ayaṃ cintāmayī paññā. Yaṃ diṭṭhiyā suppaṭividdhā, ayaṃ bhāvanāmayī paññā. Yaṃ sotānugatā vacasā paricitā honti, so ca diṭṭhe yeva dhamme parinibbāyī, ayaṃ arahaṃ puggalo. Yo upapajjati devabhūto pāpuṇāti, tattha ca parinibbāyati, ayaṃ anāgāmī. Yo tena kusalamūlena paccekabodhiṃ pāpuṇāti, ayaṃ pubbayogasambhārasambhūto puggalo.
That which is well-acquainted by speech through the voice of another, this is wisdom consisting of learning. Furthermore, those dhammas that are contemplated with the mind, this is wisdom consisting of reflection. That which is well-penetrated by view, this is wisdom consisting of meditation. One who has followed by ear and is practiced by speech, and who attains final Nibbāna in this very life, this is the Arahant person. One who is reborn as a deva and attains final Nibbāna there, this is the Non-Returner. One who, through that wholesome root, attains the enlightenment of a Paccekabuddha, this is a person produced from the accumulation of previous practice.
Trí tuệ nào được quen thuộc kỹ lưỡng bằng lời nói từ tiếng nói của người khác, đây là văn tuệ. Còn những pháp nào được quán xét bằng ý, đây là tư tuệ. Pháp nào được khéo thâm nhập bằng tri kiến, đây là tu tuệ. Pháp nào đã đi theo đường tai nghe, được quen thuộc bằng lời nói, và vị ấy là người tịch diệt ngay trong hiện tại, đây là hạng người A-la-hán. Vị nào sanh lên, trở thành vị trời, đạt đến (cõi trời), và tịch diệt ở nơi ấy, đây là bậc Bất Lai. Vị nào do căn lành ấy mà đạt đến giác ngộ Độc Giác, đây là hạng người được sanh ra do đã tích lũy các yếu tố từ sự thực hành trong quá khứ.
Sotānugatā dhammāti paṭhamaṃ vimuttāyatanaṃ, vacasā paricitāti dutiyaṃ tatiyañca vimuttāyatanaṃ, manasā anupekkhitāti catutthaṃ vimuttāyatanaṃ diṭṭhiyā suppaṭividdhāti pañcamaṃ vimuttāyatanaṃ.
By 'dhammas followed by ear' is shown the first basis for liberation; by 'practiced by speech,' the second and third bases for liberation; by 'contemplated with the mind,' the fourth basis for liberation; and by 'well-penetrated by view,' the fifth basis for liberation.
Bằng câu 'các pháp đã đi theo đường tai nghe' (chỉ) xứ giải thoát thứ nhất, bằng câu 'được quen thuộc bằng lời nói' (chỉ) xứ giải thoát thứ hai và thứ ba, bằng câu 'được quán xét bằng ý' (chỉ) xứ giải thoát thứ tư, bằng câu 'được khéo thâm nhập bằng tri kiến' (chỉ) xứ giải thoát thứ năm.
Sotānugatāya vimuttiyā vacasā yā vācā suppaṭividdhā anupubbadhammassa sotena sutvā sīlakkhandhe paripūreti, manasā anupekkhitā samādhikkhandhaṃ paripūreti, diṭṭhiyā suppaṭividdhā paññākkhandhaṃ paripūreti.
By means of the liberation that follows what is heard, through speech that is well-penetrated, having heard the sequential Dhamma with the ear, one fulfills the aggregates of virtue. Contemplation with the mind fulfills the aggregate of concentration. Penetration by view fulfills the aggregate of wisdom.
Trong sự giải thoát đã đi theo đường tai nghe, lời nói nào được khéo thâm nhập bằng lời nói, sau khi nghe pháp tuần tự bằng tai, vị ấy làm cho viên mãn các giới uẩn; sự quán xét bằng ý làm cho viên mãn định uẩn; sự khéo thâm nhập bằng tri kiến làm cho viên mãn tuệ uẩn.
Sotānugatā dhammā bahussutā hontīti vitthārena kātabbaṃ. Idaṃ paṭhamaṃ saddhāpadānaṃ manasā anupekkhitāti paṭisallānabahulo viharati, vitthārena kātabbaṃ. Idaṃ dutiyaṃ saddhāpadānaṃ diṭṭhiyā suppaṭividdhāti anāsavā cetovimuttiyā nāparaṃ itthattāyāti pajānātīti. Idaṃ tatiyaṃ saddhāpadānaṃ.
'Dhammas followed by ear become learned'—this should be elaborated. This is the first expression of faith. By 'contemplated with the mind,' one dwells much in seclusion—this should be elaborated. This is the second expression of faith. By 'well-penetrated by view,' one knows: 'Through the taintless liberation of mind, there is nothing further for this state of being.' This is the third expression of faith.
Cần phải được trình bày chi tiết rằng: 'Các pháp đã đi theo đường tai nghe là các pháp đa văn'. Đây là nền tảng đức tin thứ nhất. 'Được quán xét bằng ý' (nghĩa là) vị ấy sống thường xuyên độc cư, cần phải được trình bày chi tiết. Đây là nền tảng đức tin thứ hai. 'Được khéo thâm nhập bằng tri kiến' (nghĩa là) vị ấy hiểu biết rằng: 'Là người không còn lậu hoặc, nhờ tâm giải thoát, không còn gì phải làm thêm cho trạng thái này'. Đây là nền tảng đức tin thứ ba.
Sotānugatā dhammāti sekkhaṃ satthā dasseti. Manasā anupekkhitāti arahattaṃ satthā dasseti. Diṭṭhiyā suppaṭividdhāti tathāgataṃ arahantaṃ sammāsambuddhaṃ satthā dasseti.
By 'dhammas followed by ear,' the Teacher shows the trainee. By 'contemplated with the mind,' the Teacher shows Arahantship. By 'well-penetrated by view,' the Teacher shows the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One.
Bằng câu 'các pháp đã đi theo đường tai nghe', bậc Đạo Sư chỉ dạy về bậc hữu học. Bằng câu 'được quán xét bằng ý', bậc Đạo Sư chỉ dạy về quả A-la-hán. Bằng câu 'được khéo thâm nhập bằng tri kiến', bậc Đạo Sư chỉ dạy về bậc Như Lai, bậc Ứng Cúng, bậc Chánh Đẳng Giác.
Sotānugatā dhammāti kāmānaṃ nissaraṇaṃ dasseti. Manasā anupekkhitāti rūpadhātuyā nissaraṇaṃ dasseti. Diṭṭhiyā suppaṭividdhāti tedhātukānaṃ nissaraṇaṃ dasseti. Ayaṃ suttattho.
By 'dhammas followed by ear,' it shows the escape from sensual pleasures. By 'contemplated with the mind,' it shows the escape from the form element. By 'well-penetrated by view,' it shows the escape from the three elements. This is the meaning of the sutta.
Bằng câu 'các pháp đã đi theo đường tai nghe', (kinh) chỉ dạy sự xuất ly khỏi các dục. Bằng câu 'được quán xét bằng ý', (kinh) chỉ dạy sự xuất ly khỏi sắc giới. Bằng câu 'được khéo thâm nhập bằng tri kiến', (kinh) chỉ dạy sự xuất ly khỏi ba giới. Đây là ý nghĩa của kinh.
115. Tattha katamo desanāhāro? Imamhi sutte tayo esanā desitā sotānugatehi dhammehi vacasā paricitehi kāmesanāya samathamaggo. Diṭṭhiyā suppaṭividdhehi brahmacariyesanāya samathamaggo.
115. Therein, what is the Instructional Exposition? In this sutta, three quests are taught. Through dhammas followed by ear and practiced by speech, there is the path of tranquility for the quest for sensual pleasures. Through that which is well-penetrated by view, there is the path of tranquility for the quest for the holy life.
115. Trong các phương pháp đó, phương pháp thuyết giảng là gì? Trong kinh này, ba sự tìm cầu đã được thuyết giảng: Bằng các pháp đã đi theo đường tai nghe và các pháp được quen thuộc bằng lời nói, (có) con đường chỉ tịnh cho sự tìm cầu các dục. Bằng các pháp được khéo thâm nhập bằng tri kiến, (có) con đường chỉ tịnh cho sự tìm cầu phạm hạnh.
Vicayoti yathā suttaṃ manasikaronto vicinanto sutamayipaññaṃ paṭilabhati. Yathā ca so manasikarotīti yathā sutadhammā tadā cintāmayipaññaṃ paṭilabhati. Yathā diṭṭheva dhamme manasikaroti tadā bhāvanāmayipaññaṃ paṭilabhati. Ayaṃ vicayo.
Investigation: Attending to and investigating in accordance with the sutta, one obtains wisdom consisting of learning. And as one attends to the Dhamma as it has been heard, one then obtains wisdom consisting of reflection. As one attends in this very life, one then obtains wisdom consisting of meditation. This is Investigation.
Phương pháp thẩm sát là: Khi tác ý và thẩm sát kinh như đã được nghe, vị ấy đạt được văn tuệ. Và khi vị ấy tác ý đến các pháp như đã được nghe, lúc ấy vị ấy đạt được tư tuệ. Khi vị ấy tác ý đến pháp ngay trong hiện tại, lúc ấy vị ấy đạt được tu tuệ. Đây là phương pháp thẩm sát.
Sutena sutamayipaññaṃ paṭilabhati. Cintāya cintāmayipaññaṃ bhāvanāya bhāvanāmayipaññaṃ paṭilabhati. Atthi esā yutti.
Through learning, one obtains wisdom consisting of learning. Through reflection, one obtains wisdom consisting of reflection. Through meditation, one obtains wisdom consisting of meditation. This is the method.
Do văn, vị ấy đạt được văn tuệ. Do tư, vị ấy đạt được tư tuệ. Do tu, vị ấy đạt được tu tuệ. Sự hợp lý này là có.
Padaṭṭhānoti sotānugatā dhammāti dhammassavanassa padaṭṭhānaṃ. Vacasā paricitāti yuñjanāya padaṭṭhānaṃ. Manasā anupekkhitāti dhammānudhammāya vipassanāya padaṭṭhānaṃ. Diṭṭhiyā anupekkhitāti paññāyapi anupekkhitā diṭṭhiyāpi anupekkhitā.
Proximate Cause: 'Dhammas followed by ear' is the proximate cause for hearing the Dhamma. 'Practiced by speech' is the proximate cause for application. 'Contemplated with the mind' is the proximate cause for insight in conformity with the Dhamma. 'Contemplated by view' means contemplated by wisdom as well as contemplated by view.
Phương pháp nhân duyên gần là: 'Các pháp đã đi theo đường tai nghe' là nhân duyên gần của sự nghe pháp. 'Được quen thuộc bằng lời nói' là nhân duyên gần của sự thực hành. 'Được quán xét bằng ý' là nhân duyên gần của minh sát tuệ tùy pháp hành. 'Được quán xét bằng tri kiến' (nghĩa là) được quán xét bằng trí tuệ và được quán xét bằng tri kiến.
Catubyūhoti imamhi sutte bhagavato ko adhippāyo? Ye imāhi dvīhi paññāhi samannāgatā tehi….
The Fourfold Array: In this sutta, what is the Blessed One’s intention? Those who are endowed with these two kinds of wisdom, by them….
Phương pháp tứ phân là: Trong kinh này, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những vị nào được hội đủ hai loại trí tuệ này, do chúng...
Sa nibbutoti maggaphalaṃ anupādisesañca nibbānadhātuṃ manteti, dānena oḷārikānaṃ kilesānaṃ pahānaṃ manteti. Sīlena majjhimānaṃ, paññāya sukhumakilesānaṃ manteti, rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti katā ca bhūmi.
By 'He is extinguished,' it refers to the path and fruit, and the Nibbāna-element without residue. Through giving, it refers to the abandoning of coarse defilements; through virtue, the middling ones; through wisdom, the subtle defilements. By 'through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' the ground is also accomplished.
Bằng câu 'vị ấy được tịch diệt', (kinh) muốn nói đến đạo và quả, và Niết-bàn giới vô dư y. Do bố thí, (kinh) muốn nói đến sự đoạn trừ các phiền não thô. Do giới, (đoạn trừ) các phiền não trung bình. Do trí tuệ, (kinh) muốn nói đến (sự đoạn trừ) các phiền não vi tế. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', đây là cảnh giới đã được thực hiện.
Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyati;
Kusalo ca jahāti pāpakanti maggo vutto;
Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti maggaphalamāha.
By 'For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated; and the skillful one abandons evil,' the path is spoken of. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' it speaks of the fruit of the path.
Bằng câu 'Người cho, phước báu tăng trưởng; do tự chế, oán thù không tích tụ; và người thiện xảo từ bỏ điều ác', đạo được nói đến. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', (kinh) nói đến đạo và quả.
Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamatoti tīhi padehi lokikaṃ kusalamūlaṃ vuttaṃ. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti lokuttaraṃ kusalamūlaṃ vuttaṃ.
By the three phrases beginning 'For one who gives, merit increases; through restraint...', the worldly wholesome root is stated. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' the supramundane wholesome root is stated.
Bằng ba vế 'Người cho, phước báu tăng trưởng; do tự chế...', căn lành thế gian được nói đến. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', căn lành siêu thế được nói đến.
Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyatīti puthujjanabhūmiṃ manteti. Kusalo ca jahāti pāpakanti sekkhabhūmiṃ manteti. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti asekkhabhūmi vuttā.
By 'For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated,' it refers to the plane of the worldling. By 'And the skillful one abandons evil,' it refers to the plane of the trainee. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' the plane of the one beyond training is spoken of.
Bằng câu 'Người cho, phước báu tăng trưởng; do tự chế, oán thù không tích tụ', (kinh) muốn nói đến cảnh giới của phàm phu. Bằng câu 'và người thiện xảo từ bỏ điều ác', (kinh) muốn nói đến cảnh giới của bậc hữu học. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', cảnh giới của bậc vô học được nói đến.
Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyatīti magganiyā paṭipadā vuttā. Kusalo ca jahāti pāpakanti sekkhavimutti. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti asekkhavimutti.
By 'For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated,' the practice leading to the path is spoken of. By 'And the skillful one abandons evil,' the liberation of the trainee is spoken of. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' the liberation of the one beyond training is spoken of.
Bằng câu 'Người cho, phước báu tăng trưởng; do tự chế, oán thù không tích tụ', con đường thực hành dẫn đến đạo được nói đến. Bằng câu 'và người thiện xảo từ bỏ điều ác', sự giải thoát của bậc hữu học (được nói đến). Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', sự giải thoát của bậc vô học (được nói đến).
Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyatīti dānakathaṃ sīlakathaṃ maggakathaṃ lokikānaṃ dhammānaṃ desanamāha. Kusalo ca jahāti pāpakanti loke ādīnavānupassanā. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti sāmukkaṃsikāya dhammadesanāyapi paṭividdhā.
By 'For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated,' it speaks of the discourse on giving, the discourse on virtue, and the teaching of worldly dhammas. By 'And the skillful one abandons evil,' it speaks of the contemplation of danger in the world. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' it speaks of penetration through the Buddha's own exalted Dhamma teaching.
Bằng câu 'Người cho, phước báu tăng trưởng; do tự chế, oán thù không tích tụ', (kinh) nói đến sự thuyết giảng về bố thí, về giới, về đạo, và về các pháp thế gian. Bằng câu 'và người thiện xảo từ bỏ điều ác', (kinh nói đến) sự quán xét về sự nguy hại trong thế gian. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', (kinh nói đến) sự thâm nhập pháp bằng bài pháp thoại đặc thù (của chư Phật).
Dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti pāṇānaṃ abhayadānena pāṇātipātā veramaṇisattānaṃ abhayaṃ deti. Evaṃ sabbāni sikkhāpadāni kātabbāni. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti sīle patiṭṭhāya cittaṃ saṃyameti, tassa saṃyamato pāripūriṃ gacchati. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti dve vimuttiyo. Ayaṃ suttaniddeso.
By 'For one who gives, merit increases': through the gift of fearlessness to beings—by abstaining from killing living beings—one gives fearlessness. In this way, all training rules should be undertaken. By 'Through restraint, enmity is not accumulated': having established oneself in virtue, one restrains the mind; through that restraint, one attains fulfillment. By 'Through the destruction of greed, hatred, and delusion, he is extinguished,' the two liberations are spoken of. This is the exposition of the sutta.
Bằng câu 'Người cho, phước báu tăng trưởng', do sự bố thí vô úy cho các chúng sanh, vị ấy ban sự vô úy cho các chúng sanh đang thực hành sự tránh xa sát sanh. Như vậy, tất cả các học giới cần phải được thực hiện. Bằng câu 'do tự chế, oán thù không tích tụ', sau khi an trú trong giới, vị ấy chế ngự tâm; do sự tự chế ấy, vị ấy đi đến sự viên mãn. Bằng câu 'do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch diệt', hai loại giải thoát được nói đến. Đây là phần chỉ dẫn về kinh.
116. Tattha katamā desanā? Imamhi sutte kiṃ desitaṃ? Dve sugatiyo devā ca manussā ca, dibbā ca pañcakāmaguṇā, mānussakā ca. Dvīhi padehi niddeso. Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyati, kusalo ca jahāti pāpakanti maggo vutto. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti dve nibbānadhātuyo desitā sopādisesā ca anupādisesā ca. Ayaṃ desanā.
116. Herein, what is the Desanā? What is taught in this discourse? Two good destinies are taught: that of devas and that of humans; and the five strands of sensual pleasure, both divine and human. By three phrases, an explanation is given. By the text, 'For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated; and the skillful one abandons evil,' the path is spoken of. By the text, 'Through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished,' the two Nibbāna elements are taught: that with residue remaining and that without residue remaining. This is the Desanā.
116. Trong ấy, desanā là gì? Trong kinh này, điều gì được thuyết giảng? Hai thiện thú là cõi trời và cõi người, và năm dục trưởng dưỡng ở cõi trời và ở cõi người. Sự chỉ dẫn bằng hai câu. Bằng câu ‘Người cho, phước báu tăng trưởng; do thu thúc, oán thù không chất chứa; người thiện xảo từ bỏ điều ác,’ đạo được nói đến. Bằng câu ‘Do đoạn tận tham, sân, si nên vị ấy được tịch tịnh,’ hai giới Niết-bàn là hữu dư y và vô dư y được thuyết giảng. Đây là desanā.
Vicayoti dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti iminā paṭhamena padena dānamayikapuññakiriyavatthu vuttaṃ. Tenassa ānantariyānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ. Dutiyena padena… yanti, niyyānikaṃ sāsananti, ayaṃ adhippāyo. Assavanena ca amanasikārena ca appaṭivedhena ca sakkāyasamudayagāminī paṭipadā vuttā. Savanena ca manasikārena ca paṭivedhena ca sakkāyanirodhagāminī paṭipadā vuttā. Ayaṃ āvaṭṭo.
This is Vicaya: By this first phrase, 'For one who gives, merit increases,' the basis of meritorious action consisting of giving is stated. Because of that, the immediately subsequent wholesome states are taught. By the second phrase... they lead to the teaching that is the cause for release; this is the intention. And through not hearing, through inattention, and through non-penetration, the practice leading to the arising of self-identity is stated. And through hearing, through attention, and through penetration, the practice leading to the cessation of self-identity is stated. This is Āvaṭṭa.
Về Vicaya: Bằng câu đầu tiên ‘Người cho, phước báu tăng trưởng,’ vật sự phước thí được nói đến. Do đó, (được thuyết giảng) về các pháp thiện vô gián của vị ấy. Bằng câu thứ hai... đi đến, (nghĩa là) giáo pháp đưa đến giải thoát, đây là chủ ý. Do không nghe, không như lý tác ý, và không thông đạt, con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến được nói đến. Do nghe, do như lý tác ý, và do thông đạt, con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến được nói đến. Đây là āvaṭṭa.
Vibhattīti ekaṃsabyākaraṇīyo. Natthi tattha vibhattiyā bhūmi. Parivattanāti ye pañcānisaṃsā, te pañcādinā paṭipakkhena teneva diṭṭheva dhamme pāpuṇāti, taṃ upapajjamānā aparo pariyāyo.
This is Vibhatti: It is a definitive answer. Therein, there is no basis for classification. This is Parivattanā: Whatever five benefits there are, one attains them in this very life by their fivefold opposites, attaining that benefit as it arises. This is another method.
Về Vibhatti: là sự trả lời dứt khoát. Ở đó không có cơ sở cho sự phân tích. Về Parivattanā: Năm quả báu nào, người ấy đạt được chúng ngay trong hiện tại chính bằng năm pháp đối nghịch; khi chúng phát sinh, (người ấy) đạt được. Đây là một phương pháp trình bày khác.
Vevacananti sotānugatā dhammāti yaṃ suttaṃ diṭṭhampi paññindriyaṃ viññattampi diṭṭhiyā suppaṭividdhampi vibhāvitampi.
This is Vevacanā: 'Dhammas that follow the ear' means that whatever sutta is seen is also made known with regard to the faculty of wisdom, is also well-penetrated by wisdom, and is also made clear.
Về Vevacana: (Cụm từ) ‘các pháp đi vào dòng nghe’ có nghĩa là kinh nào mà trong đó, điều được thấy cũng là tuệ quyền, điều được biểu thị cũng được thông suốt bằng trí tuệ, và cũng được làm cho rõ ràng.
Paññattīti sotānugatādhammāti desanā avijjāpaññattiyā paññattaṃ. Manasikāro pāmojjapaññattiyā paññatto, diṭṭhadhammāpi ānisaṃsapaññattiyā paññattā.
This is Paññatti: The teaching 'dhammas that follow the ear' is made known by the designation of ignorance. Attention is made known by the designation of joy. Even dhammas that are seen are made known by the designation of benefit.
Về Paññatti: Sự thuyết giảng ‘các pháp đi vào dòng nghe’ được chế định bằng sự chế định về vô minh. Sự tác ý được chế định bằng sự chế định về sự hân hoan, và các pháp hiện tại cũng được chế định bằng sự chế định về quả báu.
Otaraṇoti tisso paññā vacasā paricitesu sutamayīpaññā manasā anupekkhitesu cintāmayīpaññā diṭṭhiyā suppaṭividdhāsu bhāvanāmayīpaññā. Imāni ariyasaccāni indriyāni vijjuppādā avijjānirodho paṭiccasamuppādo indriyesu tīṇi indriyāni, āyatanesu dhammāyatanapariyāpannā dhātūsu dhammadhātupariyāpannāti. Sodhanoti yo ārambho suttassa paveso niyutto.
This is Otaraṇa: There are three kinds of wisdom: in things practiced with speech, wisdom based on learning; in things contemplated with the mind, wisdom based on reflection; in things well-penetrated by wisdom, wisdom based on development. These Noble Truths are faculties. The arising of knowledge, the cessation of ignorance, is Dependent Origination. Among the faculties, they are three faculties. Among the bases, they are included in the dhamma-base. Among the elements, it is included in the dhamma-element. This is Sodhana: Whatever effort is connected is the entry into the sutta.
Về Otaraṇa: có ba loại trí tuệ: đối với những gì được thực hành bằng lời nói là văn tuệ; đối với những gì được quán xét bằng ý là tư tuệ; đối với những gì được thông suốt bằng trí tuệ là tu tuệ. Các Thánh đế này là các quyền. Sự khởi sinh của minh, sự đoạn diệt của vô minh, là duyên khởi. Trong các quyền, (có) ba quyền; trong các xứ, (chúng) được bao gồm trong pháp xứ; trong các giới, (chúng) được bao gồm trong pháp giới. Về Sodhana: sự nỗ lực nào được áp dụng để đi vào kinh.
Adhiṭṭhānoti pañcānisaṃsāti vemattatāya paññattā ānisaṃsā sotā anugatāti vemattatāya ariyavohāro paññatto, dhamme ca savananti ekattatāya paññattaṃ.
This is Adhiṭṭhāna: The five benefits are made known because of their diversity. 'Benefits that follow the ear' means noble speech is made known because of its diversity. 'And the hearing of the Dhamma' is made known because of its oneness.
Về Adhiṭṭhāna: (Cụm từ) ‘năm quả báu’ được chế định theo tính cách khác biệt. (Cụm từ) ‘các quả báu đi vào dòng nghe’ được chế định là cách nói của bậc Thánh theo tính cách khác biệt. (Cụm từ) ‘và nghe pháp’ được chế định theo tính cách đồng nhất.
Parikkhāroti dhammassavanassa payirupāsanā paccayo, saddhā hetu. Manasā anupekkhitāti atthappaṭisaṃveditā paccayo, dhammappaṭisaṃveditā hetu, diṭṭhiyā suppaṭividdhāti saddhammassavanañca manasikāro ca paccayo, sutamayī cintāmayī paññā hetu. Samāropanoti vibhattaṃ suttaṃ aparo pariyāyo nibbatti bale natthi. Tattha samāropanāya bhūmi.
This is Parikkhāra: For the hearing of the Dhamma, attending upon is the supporting condition; faith is the root cause. For 'contemplated by the mind,' penetrating the meaning is the supporting condition; penetrating the Dhamma is the root cause. For 'well-penetrated by wisdom,' the hearing of the true Dhamma and attention are the supporting condition; wisdom based on learning and reflection is the root cause. This is Samāropanā: The sutta is analyzed. Another method: there is nothing in the power of origination. Therein, there is no ground for synthesis.
Về Parikkhāra: Đối với việc nghe pháp, sự thân cận là duyên, đức tin là nhân. (Đối với việc) ‘quán xét bằng ý,’ sự cảm nhận ý nghĩa là duyên, sự cảm nhận pháp là nhân. (Đối với việc) ‘thông suốt bằng trí tuệ,’ việc nghe diệu pháp và sự tác ý là duyên, văn tuệ và tư tuệ là nhân. Về Samāropana: Kinh đã được phân tích. Một phương pháp trình bày khác không có trong năng lực phát sinh. Ở đó có cơ sở cho Samāropana.
117. Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ? Dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti gāthā. Dadatoti dānamayikapuññakiriyavatthu vuttaṃ. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti sīlamayikapuññakiriyavatthu vuttaṃ. Kusalo ca jahāti pāpakanti lobhassa ca mohassa ca byāpādassa ca pahānamāha. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti lobhassa ca mohassa ca byāpādassa ca chandarāgavinayamāhāti. Dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti gāthā alobho kusalamūlaṃ bhavati. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti adoso kusalamūlaṃ bhavati. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti averā asapattā abyāpādatāya sadā. Kusalo ca jahāti pāpakanti ñāṇuppādā aññāṇanirodho. Catutthapadena rāgadosamohakkhayena rāgavirāgā cetovimuttimohakkhayena avijjāvirāgā paññāvimutti, ayaṃ vicayo.
117. Herein, what is the sutta that partakes of impressions and partakes of penetration? The verse is: 'For one who gives, merit increases.' By 'giving,' the basis of meritorious action consisting of giving is stated. By 'through restraint, enmity is not accumulated,' the basis of meritorious action consisting of virtue is stated. By 'and the skillful one abandons evil,' it speaks of the abandoning of greed, delusion, and ill will. By 'through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished,' it speaks of the removal of sensual desire for greed, delusion, and ill will. Thus, the verse 'For one who gives, merit increases' means non-greed becomes a wholesome root. 'Through restraint, enmity is not accumulated' means non-hatred becomes a wholesome root. 'Through restraint, enmity is not accumulated' means that due to being without ill will, one is always without enmity, without adversaries. 'And the skillful one abandons evil' means that through the arising of knowledge, there is the cessation of non-knowledge. By the fourth phrase, through the destruction of lust, hatred, and delusion, through dispassion for lust, there is liberation of mind; through the destruction of delusion, through dispassion for ignorance, there is liberation by wisdom. This is Vicaya.
117. Trong đó, kinh nào là phần tu tập và phần xuyên thấu? Kệ ‘Người cho, phước báu tăng trưởng.’ Bằng (câu) ‘Người cho,’ vật sự phước thí được nói đến. Bằng (câu) ‘Do thu thúc, oán thù không chất chứa,’ vật sự phước giới được nói đến. (Câu) ‘Người thiện xảo từ bỏ điều ác’ nói lên sự đoạn trừ tham, si và sân. (Câu) ‘Do đoạn tận tham, sân, si nên vị ấy được tịch tịnh’ nói lên sự điều phục dục tham đối với tham, si và sân. Kệ ‘Người cho, phước báu tăng trưởng’ (có nghĩa là) vô tham trở thành căn bản thiện. (Câu) ‘Do thu thúc, oán thù không chất chứa’ (có nghĩa là) vô sân trở thành căn bản thiện. (Câu) ‘Do thu thúc, oán thù không chất chứa’ (có nghĩa là) do không sân hận nên luôn không oán thù, không kẻ địch. (Câu) ‘Người thiện xảo từ bỏ điều ác’ (có nghĩa là) do trí khởi sinh nên vô minh đoạn diệt. Bằng câu thứ tư, do đoạn tận tham, sân, si, (có) tâm giải thoát do ly tham; do đoạn tận si, (có) tuệ giải thoát do ly vô minh. Đây là vicaya.
Yuttīti dāne ṭhito ubhayaṃ hi paripūreti. Macchariyañca pajahati. Puññañca pavaḍḍhati. Atthi esā yutti.
This is Yutti: One established in giving indeed fulfills both: one abandons stinginess, and merit increases. Such is this Yutti.
Về Yutti: Người an trú trong bố thí quả thực hoàn thành cả hai: vừa từ bỏ sự bỏn xẻn, vừa làm tăng trưởng phước báu. Đây là yutti.
Padaṭṭhānanti dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti cāgādhiṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti paññādhiṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ kusalo ca jahāti pāpakanti saccādhiṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti upasamādhiṭṭhānassa padaṭṭhānaṃ. Ayaṃ padaṭṭhāno.
This is Padaṭṭhāna: 'For one who gives, merit increases' is the proximate cause of the determination of relinquishment. 'Through restraint, enmity is not accumulated' is the proximate cause of the determination of wisdom. 'And the skillful one abandons evil' is the proximate cause of the determination of truth. 'Through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished' is the proximate cause of the determination of peace. This is Padaṭṭhāna.
Về Padaṭṭhāna: (Câu) ‘Người cho, phước báu tăng trưởng’ là nhân cần thiết của sự quyết tâm xả ly. (Câu) ‘Do thu thúc, oán thù không chất chứa’ là nhân cần thiết của sự quyết tâm trí tuệ. (Câu) ‘Người thiện xảo từ bỏ điều ác’ là nhân cần thiết của sự quyết tâm chân thật. (Câu) ‘Do đoạn tận tham, sân, si nên vị ấy được tịch tịnh’ là nhân cần thiết của sự quyết tâm an tịnh. Đây là padaṭṭhāna.
Tattha katamo lakkhaṇo? Dadato puññaṃ pavaḍḍhati saṃyamato veraṃ na cīyati. Dadatopi veraṃ na kariyāti kusalo ca jahāti pāpakaṃ rāgadosamohakkhayā sa nibbuto rūpakkhayāpi vedanakkhayāpi, yena rūpena diṭṭhaṃ, tena tathāgato paññapento paññapeyya rūpassa khayā virāganirodhāti evaṃ pañcakkhandhā.
Herein, what is the Lakkhaṇa? For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not accumulated. Even toward one who gives, enmity should not be made. Thus, the skillful one abandons evil. Through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished. Also through the destruction of form, and through the destruction of feeling, one is extinguished. By whatever form it was seen, by that the Tathāgata, when making known, would make it known. Through the destruction of form, there is cessation of passion. Thus the five aggregates.
Trong đó, lakkhaṇa là gì? Người cho, phước báu tăng trưởng; do thu thúc, oán thù không chất chứa. Đối với người cho cũng không nên tạo oán thù. Và người thiện xảo từ bỏ điều ác. Do đoạn tận tham, sân, si nên vị ấy được tịch tịnh; cũng do đoạn tận sắc, cũng do đoạn tận thọ, vị ấy được tịch tịnh. Bằng sắc nào đã được thấy, bằng sắc đó Như Lai, khi chế định, có thể chế định. Do sự đoạn tận của sắc, có sự ly tham, đoạn diệt. Tương tự như vậy đối với năm uẩn.
Catubyūho idha bhagavato ko adhippāyo? Ye mahābhogānaṃ patthayissanti? Te dānaṃ dassanti parissayapahānāya, ye averābhichandakā, te pañca verāni pajahissanti, ye kusalābhichandakā, te aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvessanti aṭṭhannaṃ micchattānaṃ pahānāya. Ye nibbāyitukāmā, te rāgadosamohaṃ pajahissantīti ayaṃ bhagavato adhippāyo.
This is Catubyūha: Here, what is the Blessed One's intention? Those who aspire to great wealth will give gifts for the sake of abandoning dangers. Those who are desirous of being without enmity will abandon the five enmities. Those who are desirous of what is skillful will cultivate the eight-factored path for the sake of abandoning the eight wrongnesses. Those who desire to be extinguished will abandon lust, hatred, and delusion. This is the Blessed One's intention.
Về Catubyūha: Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai mong cầu tài sản lớn, họ sẽ bố thí để đoạn trừ nguy hiểm. Những ai mong muốn không oán thù, họ sẽ từ bỏ năm điều oán thù. Những ai mong muốn điều thiện, họ sẽ tu tập Bát chi thánh đạo để đoạn trừ tám tà hạnh. Những ai mong muốn tịch tịnh, họ sẽ từ bỏ tham, sân, si. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn.
Āvaṭṭoti yañca adadato macchariyaṃ yañca asaṃyamato veraṃ yañca akusalassa pāpassa appahānaṃ, ayaṃ dukkhaniddeso na samudayo. Alobhena ca adosena ca amohena ca kusalena imāni tīṇi kusalamūlāni. Tesaṃ paccayo aṭṭha sammattāni, ayaṃ maggo. Tesaṃ rāgadosamohānaṃ khayā, ayaṃ nirodho.
This is Āvaṭṭa: Whatever stinginess there is in one who does not give, whatever enmity there is in one who is not restrained, and whatever non-abandoning of unskillful evil there is—this is an explanation of suffering, not its origin. By means of the skillful, which is non-greed, non-hatred, and non-delusion, these three are the wholesome roots. Their condition is the eight rightnesses; this is the path. Through the destruction of that lust, hatred, and delusion, this is cessation.
Về Āvaṭṭa: Sự bỏn xẻn của người không cho, oán thù của người không thu thúc, và sự không đoạn trừ điều ác bất thiện, đây là sự chỉ dẫn về khổ, không phải tập. Bằng vô tham, vô sân, vô si, bằng thiện, đây là ba căn bản thiện. Duyên của chúng là tám chánh hạnh. Đây là đạo. Sự đoạn tận của tham, sân, si ấy, đây là diệt.
Vibhattīti dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti na ekaṃsena yo rājadaṇḍabhayena deti, yo ca akappiyassa paribhogena sīlavantesu deti, na tassa puññaṃ pavaḍḍhatīti so cetaṃ dānaṃ akusalena deti, daṇḍadānaṃ satthadānaṃ apuññamayaṃ pavaḍḍhati, na puññaṃ. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti na ekaṃsena kiṃ kāraṇaṃ yañca yo padaṃ diṭṭhadhammikaṃ passati yadi mama rājāno gahetvā hatthaṃ vā chindeyya…pe… na tena saṃyamena veraṃ na karoti. Yo tu evaṃ samādiyati pāṇātipātassa pāpako vipākoti, diṭṭhe yeva dhamme abhisamparāye ca evaṃ sabbassa akusalassa hetuto ārati. Iminā saṃyamena veraṃ na cīyati.
The Hāra of Analysis is: 'For the giver, merit increases'—this is not invariably so. If one gives out of fear of royal punishment, or if one gives to the virtuous what is unsuitable for use, for that person, merit does not increase. And if one gives that gift with an unwholesome mind, what is comprised of demerit, such as the giving of punishment or the giving of weapons, increases; merit does not. 'Through restraint, enmity is not accumulated'—this is not invariably so. What is the reason? If someone sees an immediate worldly consequence, thinking, 'If kings were to seize me, they might cut off my hand…'—it is not by such restraint that he avoids creating enmity. But if one rightly undertakes the understanding of the evil result of the destruction of life, both in this very life and in the next, and thus abstains from the cause of all that is unwholesome, by this restraint, enmity is not accumulated.
Hārā Phân Biệt (Vibhatti) là: (Câu) "Phước báu tăng trưởng đối với người cho" không phải một cách chắc chắn. Người nào cho vì sợ hình phạt của vua, và người nào cho các bậc có giới đức bằng cách sử dụng vật không thích hợp, phước báu của người ấy không tăng trưởng. Và người ấy cho sự bố thí này với (tâm) bất thiện; sự cho hình phạt, cho vũ khí, là việc làm phi phước đức, tăng trưởng, không phải phước báu. (Câu) "Do sự thu thúc, oán thù không được tạo ra" không phải một cách chắc chắn. Lý do là gì? Người nào thấy trạng thái ngay trong hiện tại rằng: "Nếu các vị vua bắt ta rồi chặt tay... v.v...", không phải là người ấy không tạo ra oán thù bằng sự thu thúc ấy. Còn người nào thọ trì như vầy: "Quả của sát sanh là xấu ác, ngay trong hiện tại và cả trong đời sau", như vậy, người ấy tránh xa nguyên nhân của tất cả (pháp) bất thiện. Bằng sự thu thúc này, oán thù không được tạo ra.
Parivattanāti dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti adadato puññaṃ na pavaḍḍhati. Yaṃ dānamayaṃ, taṃ saṃyamato veraṃ na cīyati, asaṃyamato veraṃ karīyati. Kusalo ca jahāti pāpakaṃ akusalo na jahāti. Rāgadosamohakkhayā sanibbutoti dūtaṃ pesetvā paṇītaṃ pesetvāpi na pakkosāmi, so sayameva pana mahābhikkhusaṅghaparivāro amhākaṃ vasanaṭṭhānaṃ sampatto amhehi ca santhāgārasālā † kāritā, ettha mayaṃ dasabalaṃ ānetvā maṅgalaṃ bhaṇāpemāti cintetvā upasaṅkamiṃsu. Yena santhāgāraṃ tenupasaṅkamiṃsūti taṃ divasaṃ kira santhāgāre cittakammaṃ niṭṭhāpetvā aṭṭakā muttamattā honti. Buddhā nāma araññajjhāsayā araññārāmā antogāme vaseyyuṃ vā no vāti tasmā bhagavato manaṃ jānitvāva paṭijaggissāmāti cintetvā te bhagavantaṃ upasaṅkamiṃsu. Idāni pana manaṃ labhitvā paṭijaggitukāmā yena santhāgāraṃ, tenupasaṅkamiṃsu. Sabbasantharinti yathā sabbaṃ santhataṃ hoti evaṃ yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsūti. Ettha pana te mallarājāno santhāgāraṃ paṭijaggitvā nagaravīthiyopi sammajjāpetvā dhaje ussāpetvā suvaṇṇaghaṭikadaliyo ca ṭhapāpetvā sakalanagaraṃ dīpamālāhi vippakiṇṇatārakaṃ viya katvā khīrapake † dārake khīraṃ pāyetha, dahare kumāre lahuṃ lahuṃ bhojāpetvā sayāpetha, uccāsaddaṃ mākari, ajja ekarattiṃ satthā antogāmeva vasissati, buddhā nāma appasaddakāmā hontīti bheriṃ carāpetvā sayaṃ daṇḍakadīpikā ādāya yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu. Bhagavantaṃ yeva purakkhatvāti bhagavantaṃ purato katvā, tattha bhagavā bhikkhūnañceva upāsakānañca majjhe nisinno ativiya virocati. Samantapāsādiko suvaṇṇavaṇṇo abhirūpo dassanīyo puratthimakāyato suvaṇṇavaṇṇā rasmi uṭṭhahitvā gaganatale asītihatthaṃ ṭhānaṃ gaṇhāti. Pacchimakāyato dakkhiṇahatthato vāmahatthato suvaṇṇavaṇṇā heṭṭhā pādatalehi pavāḷavaṇṇarasmi uṭṭhahitvā ghanapathaviyaṃ asītihatthaṃ ṭhānaṃ gaṇhāti, evaṃ samantā asītihatthamattaṃ ṭhānaṃ chabbaṇṇabuddharasmiyo vijjotamānā vitaṇḍamānā vidhāvanti, sabbe disābhāgā suvaṇṇacampakapupphehi vikiriyamānā viya suvaṇṇaghaṭato nikkhantasuvaṇṇarasadhārāhi siñcamānā viya pasāritasuvaṇṇapaṭaparikkhittā vviya verambhavātasamuṭṭhitakiṃsukakiṃsukārakaṇikārapupphacuṇṇasamokiṇṇā viya vippakasantaṃ asītianubyañjanabyāmappabhā dvattiṃsavaralakkhaṇasamujjalaṃ sarīraṃ samuggatatārakaṃ viya gaganatalaṃ vikasitamiva padumavanaṃ sabbaphāliphullo viya yojanasatiko pāricchattako paṭipāṭiyā ṭhapitānaṃ dvattiṃsacandānaṃ dvattiṃsasūriyānaṃ dvattiṃsacakkavattīnaṃ dvattiṃsadevarājānaṃ dvattiṃsamahābrahmānaṃ nibbuto asekkhassa natthi nibbuti.
The Hāra of Reciprocal Relation is: In the text 'For the giver, merit increases,' it implies that for the non-giver, merit does not increase. Whatever consists of giving, for one who is restrained, enmity is not accumulated; for one who is unrestrained, enmity is created. And the skillful one abandons evil; the unskillful one does not abandon evil. As to 'extinguished through the destruction of greed, hatred, and delusion': 'Even having sent a messenger and a noble gift, I did not invite him, yet he himself, surrounded by a great community of monks, has arrived at our dwelling place, and we have had a meeting hall built. Here we shall invite the One with Ten Powers and have him recite a blessing,' they thought, and so they approached. They approached the meeting hall. It is said that on that day, having finished the decorative work in the meeting hall, they were just free from the scaffolding. 'Buddhas, by nature, are inclined to the forest, they delight in the forest; they may or may not stay inside a village.' Therefore, thinking, 'Only after knowing the Blessed One's mind shall we attend to him,' they approached the Blessed One. But now, having received his consent and wishing to attend to him, they approached the meeting hall. As to 'with all furnishings spread': just as everything was spread out, so they approached the Blessed One. Then, those Malla kings, having prepared the meeting hall, had the city streets swept, banners raised, and golden pots and plantain trees set up. Having made the entire city like a sky scattered with stars with rows of lamps, they had a drum beaten, announcing: 'Let the infants be given milk to drink; having fed the young boys quickly, put them to sleep. Let no loud noise be made. Tonight the Teacher will stay inside the village; Buddhas, by nature, are lovers of quiet.' Then, taking torches on poles themselves, they approached the Blessed One. As to 'placing the Blessed One at the forefront': having placed the Blessed One in front, there the Blessed One, seated amidst the monks and lay followers, shone exceedingly. He was inspiring confidence all around, golden-hued, beautiful, and pleasing to see. From the front of his body, golden-colored rays arose and took up a space of eighty cubits in the sky. From the back of his body, from his right hand, from his left hand, golden-colored rays arose, and from the soles of his feet below, coral-colored rays arose and took up a space of eighty cubits in the solid earth. Thus, all around, for a space of eighty cubits, the six-colored Buddha-rays shone, shimmered, and darted about. All the directions appeared as if strewn with golden campaka flowers, as if sprinkled with streams of golden liquid flowing from golden pots, as if draped with unfurled golden cloth, as if mingled with the pollen of kiṃsuka, kiṃsukāra, and kaṇikāra flowers stirred up by a Verambha wind. His body, radiant with the eighty minor characteristics and a fathom-wide halo, resplendent with the thirty-two excellent major characteristics, was like the celestial vault with its risen stars, like a blossomed lotus grove, like a Pāricchattaka tree a hundred yojanas tall and in full bloom, and as resplendent as thirty-two moons, thirty-two suns, thirty-two wheel-turning monarchs, and thirty-two kings of the gods placed in succession. He is greatly extinguished; for an Asekha, there is no extinguishing.
Hārā Chuyển Đổi (Parivattanā) là: (Câu) "Phước báu tăng trưởng đối với người cho" (nghĩa là) phước báu không tăng trưởng đối với người không cho. Việc làm bố thí nào, do sự thu thúc ấy, oán thù không được tạo ra; do không thu thúc, oán thù được tạo ra. Và người thiện từ bỏ điều ác, người bất thiện không từ bỏ. (Về câu) "Vị ấy tịch tịnh do sự đoạn tận tham, sân, si", (có câu chuyện rằng): "Ta đã không mời gọi (Đức Phật), dù đã gửi sứ giả, dù đã gửi vật quý giá. Nhưng chính ngài, được đại chúng Tỳ khưu vây quanh, đã đến nơi ở của chúng ta. Và chúng ta đã cho xây dựng giảng đường Santhāgāra. Tại đây, chúng ta hãy mời bậc Thập Lực đến và yêu cầu ngài thuyết pháp lành". Suy nghĩ như vậy, họ đã đi đến. Họ đã đi đến nơi có giảng đường Santhāgāra. Nghe nói, vào ngày hôm đó, họ vừa mới hoàn thành công việc trang trí trong giảng đường và vừa mới dỡ giàn giáo. "Chư Phật vốn có khuynh hướng ở rừng, ưa thích ở rừng; các ngài có thể ở trong làng hoặc không". Do đó, suy nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ phục vụ sau khi biết được ý của Đức Thế Tôn", họ đã đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Nhưng bây giờ, khi đã biết được ý của ngài và muốn phục vụ, họ đã đi đến nơi có giảng đường Santhāgāra. (Câu) "Trải khắp tất cả" có nghĩa là, cũng như tất cả được trải ra, họ đã đi đến nơi có Đức Thế Tôn. Ở đây, các vị vua dòng Mallā ấy, sau khi dọn dẹp giảng đường, cho quét dọn các đường phố trong thành, cho dựng cờ phướn, cho đặt các bình vàng và cây chuối, làm cho toàn thành phố giống như bầu trời rải rác các vì sao bằng những tràng đèn, (rồi ra lệnh): "Hãy cho các trẻ còn bú sữa được bú sữa, hãy cho các trẻ nhỏ đã cai sữa ăn nhanh nhanh rồi cho chúng ngủ, đừng làm ồn ào. Đêm nay, bậc Đạo Sư sẽ ở lại trong làng. Chư Phật vốn ưa thích sự yên tĩnh". Sau khi cho đánh trống loan báo như vậy, chính họ cầm đuốc đi đến nơi có Đức Thế Tôn. (Câu) "Lấy Đức Thế Tôn làm đầu" có nghĩa là đặt Đức Thế Tôn ở phía trước. Ở đó, Đức Thế Tôn ngồi giữa các Tỳ khưu và các cận sự nam, vô cùng rực rỡ. Ngài khả ái khắp xung quanh, sắc vàng, hình dáng đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng. Từ thân phía trước, hào quang sắc vàng phát ra, chiếm một khoảng không gian tám mươi hắc tay trên bầu trời. Từ thân phía sau, từ tay phải, từ tay trái, (hào quang) sắc vàng; từ lòng bàn chân bên dưới, hào quang sắc san hô phát ra, chiếm một khoảng không gian tám mươi hắc tay trên mặt đất dày đặc. Như vậy, sáu loại Phật quang chiếu sáng, rung động, lan tỏa ra một khoảng không gian khoảng tám mươi hắc tay xung quanh. Tất cả các phương hướng giống như được rải đầy hoa champaka vàng, giống như được tưới bởi những dòng tinh chất vàng chảy ra từ bình vàng, giống như được bao bọc bởi tấm vải vàng đã được giăng ra, giống như được trộn lẫn với phấn hoa kimsuka, kimsukāra, kaṇikāra do gió Veramba thổi lên. Thân ngài rực rỡ với ba mươi hai tướng tốt, có vầng hào quang một sải của tám mươi vẻ đẹp phụ, tỏa sáng giống như bầu trời đầy sao, giống như rừng sen đã nở, giống như cây paricchattaka trăm do tuần nở hoa khắp cành, (rực rỡ) như sự chiếu sáng của ba mươi hai mặt trăng, ba mươi hai mặt trời, ba mươi hai vị Chuyển luân vương, ba mươi hai vị Đế-thích, ba mươi hai vị Đại Phạm thiên được đặt theo thứ tự. Ngài đã tịch tịnh. Đối với bậc Vô học, không còn có sự tịch tịnh (để đạt được nữa).
Vevacananti dadato puññaṃ pavaḍḍhati, anumodatopi puññaṃ pavaḍḍhati. Cittassa samādahatopi veyyāvaccakiriyāyapi puññaṃ pavaḍḍhatīti.
The Hāra of Synonyms is: As for 'For the giver, merit increases,' also for one who rejoices, merit increases. Also for one who composes the mind, and also through the performance of service, merit increases.
Hārā Đồng Nghĩa (Vevacana) là: Phước báu tăng trưởng đối với người cho, phước báu cũng tăng trưởng đối với người tùy hỷ. Phước báu cũng tăng trưởng đối với người định tâm và đối với việc làm phục vụ.
Paññattīti dadato puññaṃ pavaḍḍhati, alobhassa paṭinissayaghātapaññattiyā paññattaṃ. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti adosassa paṭinissayaghātapaññattiyā paññattaṃ kusalo ca jahāti pāpakanti amohassa paṭinissayaghātapaññattiyā paññattaṃ.
The Hāra of Designation is: 'For the giver, merit increases' is designated in the designation of non-greed, which destroys the support. 'Through restraint, enmity is not accumulated' is designated in the designation of non-hatred, which destroys the support. 'And the skillful one abandons evil' is designated in the designation of non-delusion, which destroys the support.
Hārā Chế Định (Paññatti) là: (Câu) "Phước báu tăng trưởng đối với người cho" được chế định trong sự chế định về việc loại trừ nơi nương tựa của vô tham. (Câu) "Do sự thu thúc, oán thù không được tạo ra" được chế định trong sự chế định về việc loại trừ nơi nương tựa của vô sân. (Câu) "Và người thiện từ bỏ điều ác" được chế định trong sự chế định về việc loại trừ nơi nương tựa của vô si.
Otaraṇoti pañcasu indriyesu dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyati saṃyamena sīlakkhandho. Otiṇṇo chasu indriyesu saṃvaro, ayaṃ samādhikkhandho, yaṃ kusalo ca jahāti pāpakaṃ, ayaṃ paññākkhandho, rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti vimuttikkhandho. Dhātūsu dhammadhātu, āyatanesu manāyatanaṃ.
The Hāra of Entry is: In the five faculties, for the giver, merit increases. As for 'Through restraint, enmity is not accumulated,' by restraint, the aggregate of virtue is to be understood. One who has crossed over is restraint in the six faculties; this is the aggregate of concentration. That the skillful one abandons evil, this is the aggregate of wisdom. 'Extinguished through the destruction of greed, hatred, and delusion' is the aggregate of liberation. Among the elements, it is the mind-object element; among the sense bases, it is the mind base.
Hārā Thâm Nhập (Otaraṇa) là: Trong năm căn, (câu) "Phước báu tăng trưởng đối với người cho", (câu) "Do sự thu thúc, oán thù không được tạo ra"; bằng sự thu thúc, (đó là) giới uẩn. Sự thu thúc trong sáu căn đã được thâm nhập, đây là định uẩn. (Câu) "Và người thiện từ bỏ điều ác", đây là tuệ uẩn. (Câu) "Vị ấy tịch tịnh do sự đoạn tận tham, sân, si", (đó là) giải thoát uẩn. Trong các giới, (đó là) pháp giới; trong các xứ, (đó là) ý xứ.
Sodhanoti yenārambhena idaṃ suttaṃ desitaṃ so ārambho suddho.
The Hāra of Purification is: The effort with which this sutta was taught, that effort is pure.
Hārā Thanh Lọc (Sodhanā) là: Do sự nỗ lực nào mà kinh này được thuyết giảng, sự nỗ lực ấy là thanh tịnh.
Adhiṭṭhāno dānanti ekattatāya paññattaṃ. Cāgo pariccāgo dhammadānaṃ āmisadānaṃ, aṭṭha dānāni vitthārena kātabbāni, ayaṃ vemattatā. Na ca dadato ekattapaññattiyā paññattaṃ. Khantī anavajjanti paññattiyā paññattaṃ. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti rodhavīriyapaññattiyā † paññattā.
The Hāra of Determination is: 'Giving' is designated by way of oneness. Relinquishment, abandonment, the gift of Dhamma, the gift of material things—the eight kinds of giving should be practiced in detail; this is distinction. And for the giver, it is not designated by the designation of oneness. 'Patience' is designated by the designation 'faultless'. 'Extinguished through the destruction of greed, hatred, and delusion' is designated by the designation of restraining through energy.
Hārā Quyết Định (Adhiṭṭhāna) là: (Câu) "Bố thí" được chế định theo tính đồng nhất. Sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn, pháp thí, tài thí, tám loại bố thí cần được thực hiện một cách chi tiết, đây là tính dị biệt. Và (câu) "đối với người cho" không được chế định theo sự chế định đồng nhất. (Câu) "Nhẫn nại là không có lỗi" được chế định theo sự chế định. (Câu) "Vị ấy tịch tịnh do sự đoạn tận tham, sân, si" được chế định trong sự chế định về tinh tấn ngăn trừ.
Parikkhāroti dānassa pāmojjaṃ paccayo, alobho hetu. Saṃyamato yoniso manasikāro hetu, pariccāgo paccayo. Kusalo ca jahāti pāpakanti yathābhūtadassanaṃ paccayo, ñāṇappaṭilābho hetu. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti parato ca ghoso ajjhattañca yoniso manasikāro maggo ca hetu ca paccayo ca.
Regarding the requisite nutriment: For giving, joy is the supporting condition, and non-greed is the root cause. From restraint, appropriate attention is the root cause, and relinquishment is the supporting condition. Regarding 'And the skillful one abandons evil': Seeing things as they truly are is the supporting condition, and the attainment of knowledge is the root cause. Regarding 'Extinguished through the destruction of greed, hatred, and delusion': A voice from another, internal appropriate attention, and the path are both the root cause and the supporting condition.
Về phần Hỗ trợ (Parikkhāra): Đối với việc bố thí, sự hân hoan là duyên, vô tham là nhân. Đối với người có sự chế ngự, tác ý như lý là nhân, sự xả ly là duyên. Về phần "Thiện và từ bỏ ác": Thấy đúng như thật là duyên, sự chứng đắc trí tuệ là nhân. Về phần "Vị ấy được tịch tịnh do sự đoạn tận tham, sân, si": Lời dạy từ người khác, sự tác ý như lý bên trong, và Thánh đạo vừa là nhân, vừa là duyên.
Samāropanoti dadato puññaṃ pavaḍḍhatīti gāthā tassa sīlampi vaḍḍhati. Saṃyamopi vaḍḍhati. Saṃyamato veraṃ na cīyatīti. Aññepi kilesā na cīyanti yepissa tappaccayā uppajjeyyuṃ āsavā vighātā, tepissa na uppajjanti. Rāgadosamohakkhayā sa nibbutoti rāgadosassāpi khayā rāgānusayassapi khayā dosassa mohassāpi sa nibbutoti sopādisesā nibbānadhātu anupādisesāpi. Ayaṃ samāropano.
Regarding application: The verse is, 'For one who gives, merit increases.' For that person, virtue also increases. Restraint also increases. Through restraint, enmity is not accumulated. Other defilements are also not accumulated. Whatever wearisome taints would arise for that person due to that cause, they also do not arise for him. Regarding 'Extinguished through the destruction of greed, hatred, and delusion': Through the destruction of greed and hatred, through the destruction of the underlying tendency to greed, and through the destruction of hatred and delusion, one is extinguished. Thus, it becomes the Nibbāna-element with residue remaining, and also the Nibbāna-element without residue remaining. This is the application.
Về phần Quy kết (Samāropana): Kệ ngôn nói rằng: "Đối với người cho, phước báu tăng trưởng". Giới của người ấy cũng tăng trưởng, sự chế ngự cũng tăng trưởng. Do có sự chế ngự, oán thù không được tích tập. Các phiền não khác cũng không được tích tập. Những lậu hoặc nào có thể sanh khởi do nhân duyên ấy, gây nên sự mệt mỏi, những lậu hoặc ấy cũng không sanh khởi nơi người đó. Về phần "Vị ấy được tịch tịnh do sự đoạn tận tham, sân, si": Do sự đoạn tận tham và sân, do sự đoạn tận tham tùy miên, do (sự đoạn tận) sân và si, vị ấy được tịch tịnh. Đây là hữu dư y Niết-bàn giới và cũng là vô dư y Niết-bàn giới. Đây là (hà sa) Quy kết.
Therassa mahākaccāyanassa peṭakopadese
In the Peṭakopadesa of the Elder Mahākaccāyana.
Trong bộ Peṭakopadesa của Trưởng lão Mahākaccāyana.