Bản dịch
PE 7 — Phần Diễn Giải Phụ
Pakiṇṇakaniddesa
Thiền là lìa khỏi luyến ái. Bốn thiền nên được thực hiện với chi tiết. Chúng có hai loại: tách rời khỏi các giác chi và gắn liền với các giác chi. Ở đấy, (các thiền) tách rời khỏi các giác chi là liên quan đến ngoại đạo, (các thiền) gắn liền với các giác chi là (thuộc về) các Thánh nhân. Ở đấy, sau khi trình bày theo sáu căn (tánh) của con người thì có: tánh luyến ái, tánh sân hận, tánh si mê, tánh luyến ái và sân hận, tánh luyến ái và si mê, tánh sân hận và si mê, tánh có sự đồng đều (của cả ba phần); như thế đối với những người này, khi đã được chứng đạt thiền, thì có năm pháp che lấp là phần đối nghịch; giống như người không có khả năng để diệt trừ chúng, (hành giả) chế ngự ba bất thiện căn. Tham đắm và trạng thái trôi nổi ‘phóng dật’ là do bất thiện căn tham, (hành giả) chế ngự (chúng) bằng thiện căn vô tham; hối hận và hoài nghi là phe nhóm của si, (hành giả) chế ngự điều ấy bằng vô si; sân hận, dã dượi và buồn ngủ là phe nhóm của sân, (hành giả) chế ngự điều ấy bằng vô sân. Ở đấy, (hành giả) suy tầm về xuất ly nhằm bổ túc vô tham; ở đấy, (hành giả) suy tầm về không oán hận nhằm bổ túc vô sân; ở đấy, (hành giả) suy tầm về không hãm hại nhằm bổ túc vô si. Ở đấy, (hành giả) tách ly khỏi các dục nhằm bổ túc vô tham; ở đấy, (hành giả) tách ly khỏi các ác bất thiện pháp nhằm bổ túc vô sân và nhằm bổ túc vô si. (Hành giả) đạt đến và trú thiền thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Suy tầm: Có ba sự suy tầm: suy tầm về xuất ly, suy tầm về không oán hận, suy tầm về không hãm hại. Ở đấy, suy tầm (tầm) là sự tiếp xúc đầu tiên, xem xét (tứ) là sự xem xét điều đã nhận được. Giống như người nhìn thấy một người từ đằng xa đang đi đến và còn chưa biết người ấy là ‘nữ’ hay là ‘nam.’ Nhưng vào lúc nhận ra được là ‘nữ’ hay là ‘nam’ hay là ‘màu da như vầy’ hay là ‘hình dáng như vầy,’ trong lúc suy tầm những điều này, người ấy soi mói thêm nữa (rằng): “Vậy thì người này có giữ giới hay là có giới tồi, giàu có hay lâm cảnh khó khăn?” Như vậy, xem xét (tứ) bám sát vào suy tầm (tầm), xem xét (tứ) được di chuyển và vận hành theo (suy tầm). Giống như con chim rướn sức (vỗ cánh) lúc ban đầu, về sau không rướn sức. Sự rướn sức là như thế nào, sự suy tầm là tương tự như vậy; sự duỗi thẳng của cặp cánh (lúc bay lượn) là như thế nào, sự xem xét là tương tự như vậy. Can dự vào là suy tầm (tầm), đi loanh quanh là xem xét (tứ). Hướng đến là suy tầm (tầm), đi theo là xem xét (tứ).
Tầm là đối nghịch với dục tưởng, tứ là đối nghịch với oán hận tưởng và hãm hại tưởng. Việc làm của các tầm là sự không tác ý đến bất thiện, việc làm của các tứ là sự phủ lấp các yếu tố trước đó.
Vị đọc tụng theo cách lẩm nhẩm thực hiện việc học tập như thế nào, tầm là tương tự như vậy; vị ấy quan sát chính việc ấy như thế nào, tứ là tương tự như vậy. Sự biết không toàn diện là như thế nào, tầm là tương tự như vậy; sự biết toàn diện là như thế nào, tứ là tương tự như vậy. Ở sự phân tích về ngôn từ và ở sự phân tích về phép biện giải là tầm, ở sự phân tích pháp và ở sự phân tích ý nghĩa là tứ. Trạng thái thiện xảo trong việc sẵn sàng của tâm là tầm, thiện xảo trong sự quyết đoán của tâm là tứ. (Suy nghĩ rằng): “Cái này là thiện, cái này là bất thiện, [cái này cần được tu tập,] cái này cần được dứt bỏ, cái này cần được chứng ngộ” là tầm; sự dứt bỏ, [sự tu tập,] và sự chứng ngộ là như thế nào, tứ là tương tự như vậy.
Đối với vị đã trú vững ở tầm và tứ này, hai loại khổ thuộc thân và thuộc tâm không sanh khởi, hai loại lạc thuộc thân và thuộc tâm sanh khởi. Như thế, lạc thuộc tâm được sanh ra từ tầm là hỷ, lạc thuộc thân chính là (thọ lạc) thuộc thân. Ở đấy, có trạng thái chuyên nhất của tâm, cái này là định. Như thế, sơ thiền là đã được tách rời năm yếu tố, đã được hội đủ năm yếu tố.
Với sự thân cận một cách thường xuyên đối với chính tầm và tứ ấy, ý xuôi theo điều ấy là có cho vị ấy; tầm và tứ của vị ấy có vẻ như là thô thiển. Rồi hỷ, lạc, và sự xuất ly trở nên thô thiển. Thêm nữa, hỷ do định sanh và sự khoái cảm được sanh ra, là đối tượng cho sự xem xét (tứ) của vị ấy. Do sự vắng lặng của các điều ấy, ý thuộc nội phần được trong sáng. Hai pháp cần được tưởng nhớ đến, tầm và tứ, vào lúc bấy giờ là không cần được quan tâm. (?) Do sự vắng lặng của chúng, có bản thể nhất điểm là trạng thái chuyên nhất của tâm. (!) Đối với vị ấy, nhờ vào bản thể nhất điểm, hỷ đi đến sự viên mãn; hỷ là hỷ quyền, lạc là lạc quyền, trạng thái chuyên nhất của tâm là định. Nhị thiền ấy được hội đủ với bốn yếu tố. Do sự không còn luyến ái ở hỷ, vị ấy đi đến sự tổng hợp việc thấm ướt bởi nước. (?)
Ở đấy, “tâm với sự vui mừng là có sự chấp thủ,” và vị ấy, trong lúc cân nhắc về điều ấy, tác ý chỉ mỗi sự hành xả. Do sự không còn luyến ái ở hỷ, vị ấy có sự hành xả và an trú. Và giống như do hỷ mà lạc được đem lại, vị ấy cảm thọ điều ấy bằng thân, có sự nhận biết rõ, và an trú. Với niệm và sự nhận biết rõ, hành xả đi đến sự viên mãn; đây là tam thiền được hội đủ với bốn yếu tố.
Tương tự như vậy, do sự từ bỏ lạc thuộc thân, hỷ quyền ở sơ thiền được diệt tận, khổ quyền được diệt tận ở nhị thiền. Vị ấy, do sự từ bỏ lạc và do sự từ bỏ khổ (ở thân), do sự biến mất của hỷ tâm và ưu phiền (đã có) ngay trước đó, đạt đến và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của niệm (được sanh lên) do hành xả.
Ở đấy, sự không trong sáng của hành xả là do bốn quyền: do khổ quyền, do ưu quyền, do lạc quyền, và do hỷ quyền; do sự diệt tận của chúng, hành xả và sự nhận biết rõ hiện diện. Ở đấy, do lạc quyền và do hỷ quyền, thất niệm hiện diện, do sự diệt tận của chúng, niệm hiện diện; do khổ quyền và do ưu quyền, sự không nhận biết rõ hiện diện, do sự diệt tận của chúng, sự nhận biết rõ hiện diện. Như thế, do hành xả có tưởng(?), (hành giả) có niệm, có sự nhận biết rõ, và trạng thái chuyên nhất của tâm (hiện diện), điều này được gọi là tứ thiền. Ở đấy, người có tánh luyến ái có lạc quyền và hỷ quyền, người có tánh sân hận có khổ quyền và ưu quyền, người có tánh si mê có sự thất niệm và sự không nhận biết rõ. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái, sự ưa chuộng được diệt tận ở tam thiền và tứ thiền; đối với người có tánh sân hận, sự bất bình được diệt tận ở sơ thiền và nhị thiền; đối với người có tánh si mê, sự không nhận biết rõ được diệt tận ở sơ thiền và nhị thiền, sự thất niệm được diệt tận ở tam thiền và tứ thiền, tương tự y như vậy, đối với ba hạng người ấy, bốn thiền sẽ đi đến sự thanh lọc. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái và sân hận, sự không nhận biết rõ, sự ưa chuộng, và sự bất bình (hiện diện); vì thế thiền (của vị ấy) là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái và si mê, trạng thái ưa chuộng và sự bất lợi được nhìn thấy; thiền ấy của vị ấy là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh sân hận và si mê, sự bất bình, sự thất niệm, sự không nhận biết rõ, và sự bất lợi được nhìn thấy; vì thế, thiền của vị ấy là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh có sự đồng đều của ba phần luyến ái, sân hận, và si mê, thiền (của vị ấy) là liên quan đến thù thắng. Bốn thiền này được diễn giải ở bảy hạng người và ở bốn định: với định do mong muốn là sơ thiền, với định do tinh tấn là nhị thiền, với định do tâm là tam thiền, với định do thẩm xét là tứ thiền. Với vô nguyện là sơ thiền, với không tánh là nhị thiền, với vô tướng là tam thiền, với niệm hơi thở ra - hơi thở vào là tứ thiền. Với sự vắng lặng của dục tầm và oán hận là sơ thiền, với sự vắng lặng của tầm và tứ là nhị thiền, với sự vắng lặng của lạc quyền và hỷ quyền là tam thiền, và với sự vắng lặng của các sự tạo tác của thân là tứ thiền. Với sự xác định về xả thí là sơ thiền, với sự xác định về chân thật là nhị thiền, với sự xác định về tuệ là tam thiền, với sự xác định về an tịnh là tứ thiền. Bốn thiền này được diễn giải với sự diễn giải tóm tắt. Ở đấy, định quyền đi đến sự viên mãn, bốn (quyền còn lại) là các pháp vận hành theo. Ở đấy, vị nào nương vào sơ thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với ưu quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào nhị thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với khổ quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào tam thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với hỷ quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào tứ thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với lạc quyền là sự đối nghịch.
Phần Diễn Giải Phụ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
72. Jhānaṃ virāgo. Cattāri jhānāni vitthārena kātabbāni. Tāni duvidhāni; bojjhaṅgavippayuttāni ca bojjhaṅgasampayuttāni ca. Tattha bojjhaṅgavippayuttāni bāhirakāni, bojjhaṅgasampayuttāni ariyapuggalāni. Tattha yena cha puggalamūlāni tesaṃ nikkhipetvā rāgacarito, dosacarito, mohacarito, rāgadosacarito, rāgamohacarito, dosamohacarito, samabhāgacarito, iti imesaṃ puggalānaṃ jhānaṃ samāpajjitānaṃ pañca nīvaraṇāni paṭipakkho tesaṃ paṭighātāya yathā asamattho tīṇi akusalamūlāni niggaṇhāti. Lobhena akusalamūlena abhijjhā ca uddhaccañca uppilavataṃ alobhena kusalamūlena niggaṇhāti, kukkuccañca vicikicchā ca mohapakkho, taṃ amohena niggaṇhāti. Doso ca thinamiddhañca dosapakkho, taṃ adosena niggaṇhāti.
72. Jhāna is dispassion. The four jhānas should be dealt with in detail. They are of two kinds: those dissociated from the factors of awakening and those associated with the factors of awakening. Therein, those dissociated from the factors of awakening are external; those associated with the factors of awakening belong to noble individuals. Therein, setting aside the six root-individuals, for these persons—one with a greedy temperament, one with a hateful temperament, one with a deluded temperament, one with a greedy-hateful temperament, one with a greedy-deluded temperament, one with a hateful-deluded temperament, and one with a balanced temperament—who have attained jhāna, that jhāna is the opponent of the five hindrances. In order to counteract them, being as it is incapable, it suppresses the three unwholesome roots. With the wholesome root of non-greed, it suppresses covetousness, restlessness, and buoyancy, which arise from the unwholesome root of greed. Worry and doubt belong to the faction of delusion; it suppresses them with non-delusion. Hatred and sloth-and-torpor belong to the faction of hatred; it suppresses them with non-hatred.
72. Thiền là sự ly tham. Bốn thiền nên được thực hiện một cách chi tiết. Chúng có hai loại: không tương ưng với giác chi và tương ưng với giác chi. Trong đó, loại không tương ưng với giác chi là của ngoại đạo; loại tương ưng với giác chi là của các bậc Thánh. Trong đó, có sáu căn bản của các hạng người, đặt chúng qua một bên: người tham hành, người sân hành, người si hành, người tham-sân hành, người tham-si hành, người sân-si hành, người có các phần đồng đều. Như vậy, đối với những người nhập thiền này, (thiền) là đối nghịch với năm triền cái. Vì không có khả năng để sát hại chúng, vị ấy chế ngự ba bất thiện căn. Bằng bất thiện căn là tham, (sanh khởi) tham ái, trạo cử, và sự phù phiếm; vị ấy chế ngự (chúng) bằng thiện căn là vô tham. Hối quá và hoài nghi thuộc phe của si, vị ấy chế ngự chúng bằng vô si. Sân và hôn trầm-thụy miên thuộc phe của sân, vị ấy chế ngự chúng bằng vô sân.
Tattha alobhassa pāripūriyā nekkhammavitakkaṃ vitakketi. Tattha adosassa pāripūriyā abyāpādavitakkaṃ vitakketi. Tattha amohassa pāripūriyā avihiṃsāvitakkaṃ vitakketi. Tattha alobhassa pāripūriyā vivitto hoti kāmehi. Tattha adosassa pāripūriyā amohassa pāripūriyā ca vivitto hoti pāpakehi akusalehi dhammehi, savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Therein, for the fulfillment of non-greed, one thinks the thought of renunciation. Therein, for the fulfillment of non-hatred, one thinks the thought of non-ill will. Therein, for the fulfillment of non-delusion, one thinks the thought of non-harming. Therein, for the fulfillment of non-greed, one becomes secluded from sensual pleasures. Therein, for the fulfillment of non-hatred and the fulfillment of non-delusion, one becomes secluded from evil, unwholesome states. Accompanied by applied thought and sustained thought, born of seclusion, with rapture and pleasure, one enters and abides in the first jhāna.
Trong đó, để viên mãn vô tham, vị ấy suy tầm về sự xuất ly. Trong đó, để viên mãn vô sân, vị ấy suy tầm về sự vô sân. Trong đó, để viên mãn vô si, vị ấy suy tầm về sự vô hại. Trong đó, để viên mãn vô tham, vị ấy ly khỏi các dục. Trong đó, để viên mãn vô sân và để viên mãn vô si, vị ấy ly khỏi các pháp ác, bất thiện; vị ấy trú sau khi đạt đến thiền thứ nhất, có tầm, có tứ, do ly dục sanh, có hỷ và lạc.
Vitakkāti tayo vitakkā – nekkhammavitakko abyāpādavitakko avihiṃsāvitakko. Tattha paṭhamābhinipāto vitakko, paṭiladdhassa vicaraṇaṃ vicāro. Yathā puriso dūrato purisaṃ passati āgacchantaṃ, na ca tāva jānāti eso itthīti vā purisoti vā yadā tu paṭilabhati itthīti vā purisoti vā evaṃ vaṇṇoti vā evaṃ saṇṭhānoti vā ime vitakkayanto uttari upaparikkhanti kiṃ nu kho ayaṃ sīlavā udāhu dussīlo aḍḍho vā duggatoti vā. Evaṃ vicāro vitakke appeti, vicāro cariyati ca anuvattati ca. Yathā pakkhī pubbaṃ āyūhati pacchā nāyūhati yathā āyūhanā evaṃ vitakko, yathā pakkhānaṃ pasāraṇaṃ evaṃ vicāro anupālati vitakketi vicarati vicāreti. Vitakkayati vitakketi, anuvicarati vicāreti. Kāmasaññāya paṭipakkho vitakko, byāpādasaññāya vihiṃsasaññāya ca paṭipakkho vicāro. Vitakkānaṃ kammaṃ akusalassa amanasikāro, vicārānaṃ kammaṃ jeṭṭhānaṃ saṃvāraṇā. Yathā paliko tuṇhiko sajjhāyaṃ karoti evaṃ vitakko, yathā taṃyeva anupassati evaṃ vicāro. Yathā apariññā evaṃ vitakko. Yathā pariññā evaṃ vicāro. Niruttipaṭisambhidāyañca paṭibhānapaṭisambhidāyañca vitakko, dhammapaṭisambhidāyañca atthapaṭisambhidāyañca vicāro. Kallitā kosallattaṃ cittassa vitakko, abhinīhārakosallaṃ cittassa vicāro. Idaṃ kusalaṃ idaṃ akusalaṃ idaṃ bhāvetabbaṃ idaṃ pahātabbaṃ idaṃ sacchikātabbanti vitakko, yathā pahānañca bhāvanā ca sacchikiriyā ca evaṃ vicāro. Imesu vitakkavicāresu ṭhitassa duvidhaṃ dukkhaṃ na uppajjati kāyikañca cetasikañca; duvidhaṃ sukhaṃ uppajjati kāyikañca cetasikañca. Iti vitakkajanitaṃ cetasikaṃ sukhaṃ pīti kāyikaṃ sukhaṃ kāyikoyeva. Yā tattha cittassa ekaggatā, ayaṃ samādhi. Iti paṭhamaṃ jhānaṃ pañcaṅgavippahīnaṃ pañcaṅgasamannāgataṃ.
There are three kinds of initial application: the initial application of renunciation, the initial application of non-ill will, and the initial application of non-harming. Therein, `vitakka` is the initial impact on the object; `vicāra` is the examination of what has been apprehended. Just as a person sees another approaching from a distance but does not yet know whether it is a woman or a man, but when they discern it—whether it is a woman or a man, of such appearance or such stature—they then investigate further, thinking: 'Is this person virtuous or unvirtuous? Wealthy or poor?' Thus, `vicāra` enters into `vitakka`; `vicāra` moves along and accompanies it. Just as a bird first exerts effort in flight and then does not, so `vitakka` is like the exertion, and `vicāra` is like the spreading of the wings. It sustains. One applies initial thought, examines, and causes sustained examination. One thinks and applies initial thought; one reflects upon and causes sustained examination. `Vitakka` is the opponent of the perception of sensuality; `vicāra` is the opponent of the perceptions of ill will and harming. The function of `vitakka` is non-attention to the unwholesome; the function of `vicāra` is the restraint of the principal defilements. Just as a diligent person recites silently, so is `vitakka`. Just as one observes that very thing, so is `vicāra`. `Vitakka` is like non-comprehension; `vicāra` is like comprehension. `Vitakka` occurs in the analytical knowledge of language and the analytical knowledge of ready speech; `vicāra` occurs in the analytical knowledge of the Dhamma and the analytical knowledge of meaning. The readiness and skillfulness of the mind is caused by `vitakka`; the skill in directing the mind towards an object is caused by `vicāra`. `Vitakka` is thinking: 'This is wholesome, this is unwholesome, this is to be developed, this is to be abandoned, this is to be realized.' `Vicāra` is how the abandoning, developing, and realizing occurs. For one established in this `vitakka` and `vicāra`, two kinds of suffering do not arise—bodily and mental; and two kinds of happiness arise—bodily and mental. Thus, the mental pleasure generated by `vitakka` is rapture; bodily pleasure is just bodily. Whatever one-pointedness of mind there is therein, this is concentration. Thus, the first jhāna has abandoned five factors and is possessed of five factors.
Về tầm, có ba loại tầm: tầm xuất ly, tầm vô sân, và tầm vô hại. Trong đó, sự hướng đến đối tượng lần đầu tiên là tầm, sự khảo sát đối tượng đã nắm bắt được là tứ. Ví như một người đàn ông thấy một người đang đi đến từ xa, lúc đầu không biết đó là đàn bà hay đàn ông. Nhưng khi nhận ra là đàn bà hay đàn ông, có hình sắc như thế này, có hình dáng như thế kia, người ấy tiếp tục xem xét thêm: 'Người này có giới hay không có giới? Giàu hay nghèo?'. Như vậy, tứ đi vào trong tầm, tứ vừa khảo sát vừa đi theo. Ví như con chim lúc đầu phải gắng sức, sau đó không cần gắng sức nữa; sự gắng sức đó giống như tầm, còn sự dang rộng đôi cánh giống như tứ. Tứ bảo vệ, tầm suy nghĩ, tứ khảo sát, tứ làm cho khảo sát. Tầm làm cho suy nghĩ, tứ làm cho khảo sát theo. Tầm là đối nghịch của dục tưởng; tứ là đối nghịch của sân tưởng và hại tưởng. Việc làm của tầm là không tác ý đến điều bất thiện; việc làm của tứ là sự phòng hộ các pháp bậc trên. Ví như người có sức mạnh im lặng đọc tụng, đó là tầm; ví như quán xét chính điều đó, đó là tứ. Ví như sự chưa liễu tri, đó là tầm; ví như sự liễu tri, đó là tứ. Tầm có trong Từ vô ngại giải và Biện tài vô ngại giải; tứ có trong Pháp vô ngại giải và Nghĩa vô ngại giải. Sự khéo léo, sự thành thạo của tâm là tầm; sự khéo léo trong việc hướng tâm đến đối tượng là tứ. 'Đây là thiện, đây là bất thiện, điều này cần được tu tập, điều này cần được đoạn trừ, điều này cần được chứng ngộ' – đó là tầm. Cách thức để đoạn trừ, tu tập và chứng ngộ, đó là tứ. Đối với người an trú trong tầm và tứ này, hai loại khổ thân và khổ tâm không phát sinh; hai loại lạc thân và lạc tâm phát sinh. Như vậy, lạc thuộc tâm sở do tầm sinh ra là hỷ, lạc thuộc thân là lạc của thân. Sự nhất tâm ở đó, đây là định. Như vậy, thiền thứ nhất từ bỏ năm chi và thành tựu năm chi.
Tesaṃyeva vitakkavicārānaṃ abhikkhaṇaṃ āsevanāya tassa tappoṇamānasaṃ hoti. Tassa vitakkavicārā oḷārikā khāyanti. Yañca pītisukhañca nekkhammañca oḷārikaṃ bhavati. Api ca samādhijā pīti rati ca jāyati. Tassa vicārārammaṇaṃ. Tesaṃ vūpasamā ajjhattaṃ ceto sampasīdati. Ye vitakkavicārā dve dhammānussaritabbā. Paccuppannā daraṇitabbaṃ. Tesaṃ vūpasamā ekodibhāvaṃ cittekaggataṃ hoti. Tassa ekodibhāvena pīti pāripūriṃ gacchati. Yā pīti, taṃ somanassindriyaṃ, yaṃ sukhaṃ, taṃ sukhindriyaṃ. Yā cittekaggatā, ayaṃ samādhi. Taṃ dutiyaṃ jhānaṃ caturaṅgasamannāgataṃ. So pītiyā virāgā yāti ojahi jallasahagataṃ.
By the constant cultivation of that very initial and sustained application, one's mind becomes inclined towards that. To that person, initial and sustained application appear gross. And the rapture, pleasure, and renunciation become gross. Moreover, rapture and delight born of concentration arise. Sustained application is its object. From their stilling, the mind becomes internally serene. Those two, initial and sustained application, are the states to be recollected. The present sign should be revered. From their stilling, unification and one-pointedness of mind come to be. Through that unification, rapture reaches fulfillment. Whatever rapture there is, that is the faculty of gladness; whatever pleasure there is, that is the faculty of pleasure. Whatever one-pointedness of mind there is, this is concentration. Through dispassion for rapture, he proceeds, having abandoned that which is accompanied by stain.
Do thường xuyên thực hành chính những tầm và tứ ấy, tâm của vị ấy hướng về đó. Đối với vị ấy, tầm và tứ hiện ra là thô thiển. Và hỷ, lạc, và xuất ly cũng trở nên thô thiển. Hơn nữa, hỷ và thích thú do định sinh ra được phát sinh. Vị ấy có tứ làm đối tượng. Do sự lắng dịu của chúng, nội tâm trở nên tĩnh lặng. Hai pháp là tầm và tứ cần được tùy niệm. Cần phải tôn trọng pháp hiện tại. Do sự lắng dịu của chúng, sự nhất tâm, sự chuyên nhất của tâm phát sinh. Do sự nhất tâm ấy, hỷ đạt đến viên mãn. Cái gì là hỷ, đó là hỷ quyền; cái gì là lạc, đó là lạc quyền. Cái gì là nhất tâm, đây là định. Thiền thứ hai đó thành tựu bốn chi. Vị ấy do ly hỷ mà đi đến, từ bỏ trạng thái đi cùng với sự dính mắc.
73. Tattha somanassacittamupādānanti ca so taṃ vicinanto upekkhameva manasikaroti. So pītiyā virāgā upekkhako viharati. Yathā ca pītiyā sukhamānitaṃ, taṃ kāyena paṭisaṃvedeti sampajāno viharati. Yena satisampajaññena upekkhāpāripūriṃ gacchati. Idaṃ tatiyaṃ jhānaṃ caturaṅgasamannāgataṃ.
73. Therein, the mind accompanied by gladness has clinging, and so, investigating that, he attends only to equanimity. Through dispassion for rapture, he abides equanimous. And as pleasure was brought by rapture, he experiences that with the body; he abides clearly comprehending. Through that mindfulness and clear comprehension, equanimity reaches fulfillment. This is the third jhāna, endowed with four factors.
73. Ở đó, vì có sự chấp thủ đối với tâm hỷ, nên vị ấy, trong khi xem xét điều đó, chỉ tác ý đến xả. Vị ấy, do ly hỷ, trú với tâm xả. Và như lạc được mang lại bởi hỷ, vị ấy cảm nhận lạc đó bằng thân, trú với tỉnh giác. Nhờ chánh niệm và tỉnh giác ấy, vị ấy đạt đến sự viên mãn của xả. Đây là thiền thứ ba, thành tựu bốn chi.
Tathā kāyikassa sukhassa pahānāya paṭhame jhāne somanassindriyaṃ nirujjhati. Dutiye jhāne dukkhindriyaṃ nirujjhati. So sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Tattha catūhi indriyehi upekkhā pasādā hoti, dukkhindriyena domanassindriyena sukhindriyena somanassindriyena ca. Tesaṃ nirodhā upekkhāsampajaññaṃ hoti, tattha sukhindriyena somanassindriyena ca asati hoti, tesaṃ nirodhā satimā hoti, dukkhindriyena domanassindriyena ca asampajaññaṃ, tesaṃ nirodhā sampajaññaṃ hoti, iti upekkhāya ca saññā, sato sampajāno cittekaggatā ca idaṃ vuccate ca catutthaṃ jhānaṃ.
Likewise, for the abandoning of bodily pleasure, in the first jhāna the faculty of gladness ceases. In the second jhāna, the faculty of pain ceases. He, because of abandoning pleasure and because of abandoning pain, and because of the prior disappearance of gladness and displeasure, enters and abides in the fourth jhāna, which is neither-painful-nor-pleasant and has purity of mindfulness caused by equanimity. Therein, with regard to the four faculties—the faculty of pain, the faculty of displeasure, the faculty of pleasure, and the faculty of gladness—equanimity is pure. Due to their cessation, there is equanimity and clear comprehension. Therein, with the faculty of pleasure and the faculty of gladness, there is lack of mindfulness; due to their cessation, one becomes mindful. With the faculty of pain and the faculty of displeasure, there is lack of clear comprehension; due to their cessation, there is clear comprehension. Thus, with the perception of equanimity, and being mindful and clearly comprehending, there is one-pointedness of mind. This is called the fourth jhāna.
Tương tự, do đoạn trừ lạc thuộc thân, trong thiền thứ nhất, hỷ quyền diệt. Trong thiền thứ hai, khổ quyền diệt. Vị ấy, do đoạn trừ lạc và đoạn trừ khổ, do sự biến mất từ trước của hỷ và ưu, chứng đạt và an trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả. Ở đó, do bốn quyền này mà xả trở nên trong sáng: khổ quyền, ưu quyền, lạc quyền, và hỷ quyền. Do sự diệt của chúng, xả và tỉnh giác phát sinh. Ở đó, do lạc quyền và hỷ quyền mà có sự thất niệm; do sự diệt của chúng, vị ấy trở nên có chánh niệm. Do khổ quyền và ưu quyền mà có sự không tỉnh giác; do sự diệt của chúng, tỉnh giác phát sinh. Như vậy, tưởng về xả, chánh niệm, tỉnh giác, và nhất tâm, đây được gọi là thiền thứ tư.
Tattha yo rāgacarito puggalo tassa sukhindriyañca somanassindriyañca; yo dosacarito puggalo tassa dukkhindriyañca domanassindriyañca; yo mohacarito puggalo tassa asati ca asampajaññañca.
Herein, for a person of lustful temperament, there are the faculty of pleasure and the faculty of gladness; for a person of hateful temperament, there are the faculty of pain and the faculty of displeasure; for a person of deluded temperament, there is lack of mindfulness and lack of clear comprehension.
Trong đó, người có tánh tham thì có lạc quyền và hỷ quyền; người có tánh sân thì có khổ quyền và ưu quyền; người có tánh si thì có thất niệm và không tỉnh giác.
Tattha rāgacaritassa puggalassa tatiye jhāne catutthe ca anunayo nirujjhati, dosacaritassa paṭhame jhāne dutiye ca paṭighaṃ nirujjhati, mohacaritassa puggalassa paṭhame jhāne dutiye ca asampajaññaṃ nirujjhati. Tatiye jhāne catutthe ca asati nirujjhati, evameva tesaṃ tiṇṇaṃ puggalānaṃ cattāri jhānāni vodānaṃ gamissanti.
Herein, for a person of lustful temperament, attraction ceases in the third and fourth jhānas. For a person of hateful temperament, aversion ceases in the first and second jhānas. For a person of deluded temperament, lack of clear comprehension ceases in the first and second jhānas. In the third and fourth jhānas, lack of mindfulness ceases. Thus, for these three types of individuals, the four jhānas will lead to purification.
Trong đó, đối với người có tánh tham, ái luyến diệt trong thiền thứ ba và thứ tư; đối với người có tánh sân, phẫn nộ diệt trong thiền thứ nhất và thứ hai; đối với người có tánh si, sự không tỉnh giác diệt trong thiền thứ nhất và thứ hai. Thất niệm diệt trong thiền thứ ba và thứ tư. Cứ như thế, bốn thiền của ba hạng người ấy sẽ đi đến sự trong sạch.
Tattha rāgadosacaritassa puggalassa asampajaññañca anunayo ca paṭighañca, tena hānabhāgiyaṃ † jhānaṃ hoti. Tattha rāgamohacaritassa puggalassa anunayattaṃ ca ādīnavaṃ dassitā, taṃ tassa hānabhāgiyaṃ jhānaṃ hoti. Tattha dosamohacaritassa puggalassa paṭigho ca asati ca asampajaññañca ādīnavaṃ dassitā tena tassa hānabhāgiyaṃ jhānaṃ hoti.
Herein, for a person of lustful and hateful temperament, there is lack of clear comprehension, attraction, and aversion; by that, the jhāna is conducive to decline. Herein, for a person of lustful and deluded temperament, the state of attraction and the drawback are shown; that is for them a jhāna conducive to decline. Herein, for a person of hateful and deluded temperament, aversion, lack of mindfulness, and lack of clear comprehension are shown as a drawback; by that, the jhāna is for them conducive to decline.
Ở đây, đối với người có tánh tham và sân, có sự không tỉnh giác, sự luyến ái, và sự phẫn nộ; do đó, thiền có phần suy thoái. Ở đây, đối với người có tánh tham và si, trạng thái luyến ái và sự nguy hại được chỉ ra; đó là thiền có phần suy thoái của người ấy. Ở đây, đối với người có tánh sân và si, sự phẫn nộ, sự thất niệm, và sự không tỉnh giác được chỉ ra là sự nguy hại; do đó, đó là thiền có phần suy thoái của người ấy.
Tattha rāgadosamohasamabhāgacaritassa puggalassa visesabhāgiyaṃ jhānaṃ hoti, imāni cattāri jhānāni sattasu puggalesu niddisitabbāni. Catūsu ca samādhīsu chandasamādhinā paṭhamaṃ jhānaṃ, vīriyasamādhinā dutiyaṃ jhānaṃ, cittasamādhinā tatiyaṃ jhānaṃ, vīmaṃsāsamādhinā catutthaṃ jhānaṃ. Appaṇihitena paṭhamaṃ jhānaṃ, suññatāya dutiyaṃ jhānaṃ, animittena tatiyaṃ jhānaṃ, ānāpānassatiyā catutthaṃ jhānaṃ. Kāmavitakkabyāpādānañca taṃ taṃ vūpasamena paṭhamaṃ jhānaṃ hoti, vitakkavicārānaṃ vūpasamena dutiyaṃ jhānaṃ, sukhindriyasomanassindriyānaṃ vūpasamena tatiyaṃ jhānaṃ, kāyasaṅkhārānaṃ vūpasamena catutthaṃ jhānañca. Cāgādhiṭṭhānena paṭhamaṃ jhānaṃ, saccādhiṭṭhānena dutiyaṃ jhānaṃ, paññādhiṭṭhānena tatiyaṃ jhānaṃ, upasamādhiṭṭhānena catutthaṃ jhānaṃ. Imāni cattāri jhānāni saṅkhepaniddesena niddiṭṭhāni, tattha samādhindriyaṃ pāripūriṃ gacchati. Anuvattanakāni cattāri, tattha yo paṭhamaṃ jhānaṃ nissāya āsavakkhayaṃ pāpuṇāti, so sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya domanassindriyapaṭipakkhena. Yo dutiyaṃ jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ pāpuṇāti, so sukhāya paṭipadāya khippābhiññāya dukkhindriyapaṭipakkhena. Yo tatiyaṃ jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ pāpuṇāti, so sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya somanassindriyapaṭipakkhena. Yo catutthaṃ jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ pāpuṇāti, so sukhāya paṭipadāya khippābhiññāya sukhindriyapaṭipakkhena gato.
These four jhānas should be pointed out in relation to seven types of individuals. And among the four kinds of concentration: the first jhāna is by means of concentration of zeal, the second by means of concentration of energy, the third by means of concentration of mind, and the fourth by means of concentration of investigation. The first jhāna is by means of the aimless, the second by means of emptiness, the third by means of the signless, and the fourth by means of mindfulness of breathing. The first jhāna arises through the calming of sensual thought and ill will; the second jhāna arises through the calming of applied and sustained thought; the third jhāna arises through the calming of the faculties of pleasure and gladness; and the fourth jhāna arises through the calming of bodily formations. The first jhāna is by means of the determination of relinquishment, the second by means of the determination of truth, the third by means of the determination of wisdom, and the fourth by means of the determination of peace. These four jhānas have been pointed out in a brief exposition. Therein, the faculty of concentration goes to fulfillment. The four other faculties are its followers. Therein, one who, relying on the first jhāna, attains the destruction of the taints, does so by means of a pleasant practice, slow direct knowledge, and as an opponent to the faculty of displeasure. One who, relying on the second jhāna, attains the destruction of the taints, does so by means of a pleasant practice, quick direct knowledge, and as an opponent to the faculty of pain. One who, relying on the third jhāna, attains the destruction of the taints, does so by means of a pleasant practice, slow direct knowledge, and as an opponent to the faculty of gladness. One who, relying on the fourth jhāna, attains the destruction of the taints, has proceeded by means of a pleasant practice, quick direct knowledge, and as an opponent to the faculty of pleasure.
Ở đây, đối với người có tánh tham, sân, si đồng phần, thiền có phần thù thắng. Bốn thiền này cần được chỉ rõ nơi bảy hạng người. Và trong bốn loại định: sơ thiền (được chỉ rõ) bằng dục định, nhị thiền bằng cần định, tam thiền bằng tâm định, tứ thiền bằng thẩm định. Sơ thiền (được chỉ rõ) bằng vô nguyện, nhị thiền bằng không, tam thiền bằng vô tướng, tứ thiền bằng niệm hơi thở vô hơi thở ra. Và do sự lắng dịu của dục tầm và sân tầm, sơ thiền sanh khởi; do sự lắng dịu của tầm và tứ, nhị thiền sanh khởi; do sự lắng dịu của lạc quyền và hỷ quyền, tam thiền sanh khởi; và do sự lắng dịu của thân hành, tứ thiền sanh khởi. Sơ thiền (được chỉ rõ) bằng xả quyết định, nhị thiền bằng đế quyết định, tam thiền bằng tuệ quyết định, tứ thiền bằng tịch tịnh quyết định. Bốn thiền này được chỉ rõ bằng sự trình bày tóm tắt, trong đó định quyền đi đến sự viên mãn. Bốn (quyền) còn lại là tùy hành. Trong đó, vị nào y cứ sơ thiền mà đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy (đạt được) bằng lạc đạo, độn thắng trí, đối nghịch với ưu quyền. Vị nào y cứ nhị thiền mà đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy (đạt được) bằng lạc đạo, tốc thắng trí, đối nghịch với khổ quyền. Vị nào y cứ tam thiền mà đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy (đạt được) bằng lạc đạo, độn thắng trí, đối nghịch với hỷ quyền. Vị nào y cứ tứ thiền mà đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy đã đi đến (sự đoạn tận) bằng lạc đạo, tốc thắng trí, đối nghịch với lạc quyền.
Pakiṇṇakaniddeso.
The Miscellaneous Exposition.
Phần Trình Bày Tạp Loại.