Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 7

Bản dịch

PE 7Phần Diễn Giải Phụ

Pakiṇṇakaniddesa

Thiền là lìa khỏi luyến ái. Bốn thiền nên được thực hiện với chi tiết. Chúng có hai loại: tách rời khỏi các giác chi và gắn liền với các giác chi. Ở đấy, (các thiền) tách rời khỏi các giác chi là liên quan đến ngoại đạo, (các thiền) gắn liền với các giác chi là (thuộc về) các Thánh nhân. Ở đấy, sau khi trình bày theo sáu căn (tánh) của con người thì có: tánh luyến ái, tánh sân hận, tánh si mê, tánh luyến ái và sân hận, tánh luyến ái và si mê, tánh sân hận và si mê, tánh có sự đồng đều (của cả ba phần); như thế đối với những người này, khi đã được chứng đạt thiền, thì có năm pháp che lấp là phần đối nghịch; giống như người không có khả năng để diệt trừ chúng, (hành giả) chế ngự ba bất thiện căn. Tham đắm và trạng thái trôi nổi ‘phóng dật’ là do bất thiện căn tham, (hành giả) chế ngự (chúng) bằng thiện căn vô tham; hối hận và hoài nghi là phe nhóm của si, (hành giả) chế ngự điều ấy bằng vô si; sân hận, dã dượi và buồn ngủ là phe nhóm của sân, (hành giả) chế ngự điều ấy bằng vô sân. Ở đấy, (hành giả) suy tầm về xuất ly nhằm bổ túc vô tham; ở đấy, (hành giả) suy tầm về không oán hận nhằm bổ túc vô sân; ở đấy, (hành giả) suy tầm về không hãm hại nhằm bổ túc vô si. Ở đấy, (hành giả) tách ly khỏi các dục nhằm bổ túc vô tham; ở đấy, (hành giả) tách ly khỏi các ác bất thiện pháp nhằm bổ túc vô sân và nhằm bổ túc vô si. (Hành giả) đạt đến và trú thiền thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly. Suy tầm: Có ba sự suy tầm: suy tầm về xuất ly, suy tầm về không oán hận, suy tầm về không hãm hại. Ở đấy, suy tầm (tầm) là sự tiếp xúc đầu tiên, xem xét (tứ) là sự xem xét điều đã nhận được. Giống như người nhìn thấy một người từ đằng xa đang đi đến và còn chưa biết người ấy là ‘nữ’ hay là ‘nam.’ Nhưng vào lúc nhận ra được là ‘nữ’ hay là ‘nam’ hay là ‘màu da như vầy’ hay là ‘hình dáng như vầy,’ trong lúc suy tầm những điều này, người ấy soi mói thêm nữa (rằng): “Vậy thì người này có giữ giới hay là có giới tồi, giàu có hay lâm cảnh khó khăn?” Như vậy, xem xét (tứ) bám sát vào suy tầm (tầm), xem xét (tứ) được di chuyển và vận hành theo (suy tầm). Giống như con chim rướn sức (vỗ cánh) lúc ban đầu, về sau không rướn sức. Sự rướn sức là như thế nào, sự suy tầm là tương tự như vậy; sự duỗi thẳng của cặp cánh (lúc bay lượn) là như thế nào, sự xem xét là tương tự như vậy. Can dự vào là suy tầm (tầm), đi loanh quanh là xem xét (tứ). Hướng đến là suy tầm (tầm), đi theo là xem xét (tứ).

Tầm là đối nghịch với dục tưởng, tứ là đối nghịch với oán hận tưởng và hãm hại tưởng. Việc làm của các tầm là sự không tác ý đến bất thiện, việc làm của các tứ là sự phủ lấp các yếu tố trước đó.

Vị đọc tụng theo cách lẩm nhẩm thực hiện việc học tập như thế nào, tầm là tương tự như vậy; vị ấy quan sát chính việc ấy như thế nào, tứ là tương tự như vậy. Sự biết không toàn diện là như thế nào, tầm là tương tự như vậy; sự biết toàn diện là như thế nào, tứ là tương tự như vậy. Ở sự phân tích về ngôn từ và ở sự phân tích về phép biện giải là tầm, ở sự phân tích pháp và ở sự phân tích ý nghĩa là tứ. Trạng thái thiện xảo trong việc sẵn sàng của tâm là tầm, thiện xảo trong sự quyết đoán của tâm là tứ. (Suy nghĩ rằng): “Cái này là thiện, cái này là bất thiện, [cái này cần được tu tập,] cái này cần được dứt bỏ, cái này cần được chứng ngộ” là tầm; sự dứt bỏ, [sự tu tập,] và sự chứng ngộ là như thế nào, tứ là tương tự như vậy.

Đối với vị đã trú vững ở tầm và tứ này, hai loại khổ thuộc thân và thuộc tâm không sanh khởi, hai loại lạc thuộc thân và thuộc tâm sanh khởi. Như thế, lạc thuộc tâm được sanh ra từ tầm là hỷ, lạc thuộc thân chính là (thọ lạc) thuộc thân. Ở đấy, có trạng thái chuyên nhất của tâm, cái này là định. Như thế, sơ thiền là đã được tách rời năm yếu tố, đã được hội đủ năm yếu tố.

Với sự thân cận một cách thường xuyên đối với chính tầm và tứ ấy, ý xuôi theo điều ấy là có cho vị ấy; tầm và tứ của vị ấy có vẻ như là thô thiển. Rồi hỷ, lạc, và sự xuất ly trở nên thô thiển. Thêm nữa, hỷ do định sanh và sự khoái cảm được sanh ra, là đối tượng cho sự xem xét (tứ) của vị ấy. Do sự vắng lặng của các điều ấy, ý thuộc nội phần được trong sáng. Hai pháp cần được tưởng nhớ đến, tầm và tứ, vào lúc bấy giờ là không cần được quan tâm. (?) Do sự vắng lặng của chúng, có bản thể nhất điểm là trạng thái chuyên nhất của tâm. (!) Đối với vị ấy, nhờ vào bản thể nhất điểm, hỷ đi đến sự viên mãn; hỷ là hỷ quyền, lạc là lạc quyền, trạng thái chuyên nhất của tâm là định. Nhị thiền ấy được hội đủ với bốn yếu tố. Do sự không còn luyến ái ở hỷ, vị ấy đi đến sự tổng hợp việc thấm ướt bởi nước. (?)

Ở đấy, “tâm với sự vui mừng là có sự chấp thủ,” và vị ấy, trong lúc cân nhắc về điều ấy, tác ý chỉ mỗi sự hành xả. Do sự không còn luyến ái ở hỷ, vị ấy có sự hành xả và an trú. Và giống như do hỷ mà lạc được đem lại, vị ấy cảm thọ điều ấy bằng thân, có sự nhận biết rõ, và an trú. Với niệm và sự nhận biết rõ, hành xả đi đến sự viên mãn; đây là tam thiền được hội đủ với bốn yếu tố.

Tương tự như vậy, do sự từ bỏ lạc thuộc thân, hỷ quyền ở sơ thiền được diệt tận, khổ quyền được diệt tận ở nhị thiền. Vị ấy, do sự từ bỏ lạc và do sự từ bỏ khổ (ở thân), do sự biến mất của hỷ tâm và ưu phiền (đã có) ngay trước đó, đạt đến và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của niệm (được sanh lên) do hành xả.

Ở đấy, sự không trong sáng của hành xả là do bốn quyền: do khổ quyền, do ưu quyền, do lạc quyền, và do hỷ quyền; do sự diệt tận của chúng, hành xả và sự nhận biết rõ hiện diện. Ở đấy, do lạc quyền và do hỷ quyền, thất niệm hiện diện, do sự diệt tận của chúng, niệm hiện diện; do khổ quyền và do ưu quyền, sự không nhận biết rõ hiện diện, do sự diệt tận của chúng, sự nhận biết rõ hiện diện. Như thế, do hành xả có tưởng(?), (hành giả) có niệm, có sự nhận biết rõ, và trạng thái chuyên nhất của tâm (hiện diện), điều này được gọi là tứ thiền. Ở đấy, người có tánh luyến ái có lạc quyền và hỷ quyền, người có tánh sân hận có khổ quyền và ưu quyền, người có tánh si mê có sự thất niệm và sự không nhận biết rõ. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái, sự ưa chuộng được diệt tận ở tam thiền và tứ thiền; đối với người có tánh sân hận, sự bất bình được diệt tận ở sơ thiền và nhị thiền; đối với người có tánh si mê, sự không nhận biết rõ được diệt tận ở sơ thiền và nhị thiền, sự thất niệm được diệt tận ở tam thiền và tứ thiền, tương tự y như vậy, đối với ba hạng người ấy, bốn thiền sẽ đi đến sự thanh lọc. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái và sân hận, sự không nhận biết rõ, sự ưa chuộng, và sự bất bình (hiện diện); vì thế thiền (của vị ấy) là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh luyến ái và si mê, trạng thái ưa chuộng và sự bất lợi được nhìn thấy; thiền ấy của vị ấy là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh sân hận và si mê, sự bất bình, sự thất niệm, sự không nhận biết rõ, và sự bất lợi được nhìn thấy; vì thế, thiền của vị ấy là liên quan đến thoái hóa. Ở đấy, đối với người có tánh có sự đồng đều của ba phần luyến ái, sân hận, và si mê, thiền (của vị ấy) là liên quan đến thù thắng. Bốn thiền này được diễn giải ở bảy hạng người và ở bốn định: với định do mong muốn là sơ thiền, với định do tinh tấn là nhị thiền, với định do tâm là tam thiền, với định do thẩm xét là tứ thiền. Với vô nguyện là sơ thiền, với không tánh là nhị thiền, với vô tướng là tam thiền, với niệm hơi thở ra - hơi thở vào là tứ thiền. Với sự vắng lặng của dục tầm và oán hận là sơ thiền, với sự vắng lặng của tầm và tứ là nhị thiền, với sự vắng lặng của lạc quyền và hỷ quyền là tam thiền, và với sự vắng lặng của các sự tạo tác của thân là tứ thiền. Với sự xác định về xả thí là sơ thiền, với sự xác định về chân thật là nhị thiền, với sự xác định về tuệ là tam thiền, với sự xác định về an tịnh là tứ thiền. Bốn thiền này được diễn giải với sự diễn giải tóm tắt. Ở đấy, định quyền đi đến sự viên mãn, bốn (quyền còn lại) là các pháp vận hành theo. Ở đấy, vị nào nương vào sơ thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với ưu quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào nhị thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với khổ quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào tam thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với hỷ quyền là sự đối nghịch; vị nào nương vào tứ thiền rồi đạt đến sự diệt trừ các lậu hoặc, vị ấy là hành theo lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với lạc quyền là sự đối nghịch.

Phần Diễn Giải Phụ.