Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 9

Bản dịch

PE 9Phân Tích Kinh

Suttavebhaṅgiya

Điểm khởi đầu của vô minh và hữu ái không được nhận biết. Ở đấy, điểm khởi đầu của các chúng sanh có sự che lấp bởi vô minh, (!) có sự ràng buộc bởi tham ái không được nhận biết. Ở đấy, các chúng sanh nào có sự ràng buộc bởi tham ái, họ là có nhiều sự bám víu, có sự thực hành minh sát lơi lỏng. Trái lại, các chúng sanh nào có quan điểm nổi trội, họ là có nhiều sự minh sát, có sự bám víu lơi lỏng.

1. Ở đấy, các chúng sanh có tánh tham ái bị chấp chặt vào tưởng về chúng sanh, không nhìn thấy sự sanh và diệt. Họ nhận thấy tự ngã ở năm uẩn rằng: “Tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc.” Năm uẩn là tương tự như vậy, họ nhận thấy tự ngã thông qua các uẩn khác. Ở đấy, các chúng sanh có quan điểm nổi trội, trong khi minh sát, nhận thấy trực tiếp các uẩn là tự ngã. Họ nhận thấy sắc là tự ngã (rằng): “Cái nào là sắc, cái ấy là tự ngã; cái nào là ta, cái ấy là sắc.” Vị ấy thấy sự tiêu hoại của sắc, đây là người theo học thuyết đoạn kiến. Như thế, các trường hợp đầu tiên của năm uẩn, năm nhận thức sai trái về hiện thân, là thuộc về đoạn kiến (rằng): “Mạng sống và thân thể là một.” Với ba đoạn kệ sau cùng (?) ở mỗi một uẩn thì liên quan đến thường kiến (rằng): “Mạng sống và thân thể là khác.” Những người ấy xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, có tánh tham ái, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc chính vì hệ quả ấy. Những người có tánh tà kiến sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân chính vì lạc của tà kiến ấy. Sự thực hành của ngoại đạo chỉ là chừng này.

Ở đấy, các chúng sanh có tánh tà kiến đi theo Pháp và Luật cao thượng là những người có xu hướng về pháp, các chúng sanh có tánh tham ái đi theo Pháp và Luật cao thượng là những người có xu hướng về niềm tin.

Ở đấy, những người nào có tánh tà kiến với quan điểm là có sự sai trái ở các dục, và những người nào có các sự tiềm ẩn ở các dục chưa được bứng lên, những người ấy sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân. Bậc Đạo Sư, hoặc một vị Thinh Văn khác, chỉ bảo Giáo Pháp cho những người ấy rằng: “Không có ý nghĩa gì với các dục,” và những người ấy ngay trước đây không là những người tầm cầu các dục, như thế họ buông bỏ các dục với chút ít cực nhọc. Những người ấy không bị bám chặt bởi khổ thuộc tâm; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành thoải mái.’ Trái lại, những chúng sanh nào có tánh tham ái, những người ấy bị bám chặt vào các dục. Bậc Đạo Sư, hoặc vị tỳ khưu nào đó, chỉ bảo Giáo Pháp cho những người ấy rằng: “Không có ý nghĩa gì với các dục.” Những người ấy buông bỏ sắc đáng yêu một cách khó khăn; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành khó khăn.’ Như thế, tất cả các chúng sanh này đi đến sự hội tụ vào hai lối thực hành: khó khăn và thoải mái.

Ở đấy, những chúng sanh có tánh tà kiến có hai loại: loại có quyền yếu kém và loại có quyền nhạy bén. Ở đấy, những chúng sanh có tánh tà kiến, có quyền nhạy bén thì buông bỏ một cách dễ dàng và chứng ngộ mau chóng; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng.’ Ở đấy, những chúng sanh có tánh tà kiến, có quyền yếu kém thì chứng ngộ chậm chạp hơn so sánh với loại thứ nhất có quyền nhạy bén, những người ấy buông bỏ một cách dễ dàng và chứng ngộ chậm chạp; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp.’ Ở đấy, những chúng sanh có tánh tham ái có hai loại: loại có quyền nhạy bén và loại có quyền yếu kém. Ở đấy, những chúng sanh có tánh tham ái, có quyền nhạy bén thì buông bỏ một cách khó khăn và chứng ngộ mau chóng; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng.’ Ở đấy, những chúng sanh có tánh tham ái, có quyền yếu kém thì chứng ngộ chậm chạp hơn so sánh với loại thứ nhất có quyền nhạy bén, những người ấy buông bỏ một cách khó khăn và chứng ngộ chậm chạp; vì thế, được gọi là ‘lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp.’ Đây là bốn lối thực hành, không có lối thứ năm, không có lối thứ sáu. Bởi vì bất cứ những vị nào đã Niết Bàn hoặc sẽ Niết Bàn bằng bốn lối thực hành này, không phải bằng những cách khác. Lối thực hành này diễn giải các ô nhiễm theo nhóm bốn. Chúng nên được diễn giải ở các Thánh pháp theo nhóm bốn đạo lộ. Đây được gọi là phương pháp có tên ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’

2. Ở đó, đây là bốn yếu tố nuôi dưỡng, bốn điều trái khuấy, (bốn) sự chấp thủ, (bốn) sự gắn bó, (bốn) sự trói buộc, (bốn) lậu hoặc, (bốn) dòng lũ, (bốn) mũi tên, (bốn) sự tồn tại của thức, (bốn) việc đi đến sự thiên vị. Tất cả mười thuật ngữ này là như vậy. Đây là sự tổng hợp của Kinh. Bốn yếu tố nuôi dưỡng (bốn thực): Ở đấy, đoàn thực và xúc thực là cần được dứt bỏ bởi người có tánh tham ái; ở đấy, tư niệm thực và thức thực là cần được dứt bỏ bởi người có tánh tà kiến. Yếu tố nuôi dưỡng thứ nhất là điều trái khuấy thứ nhất, yếu tố nuôi dưỡng thứ nhì là điều trái khuấy thứ nhì, yếu tố nuôi dưỡng thứ ba là điều trái khuấy thứ ba, yếu tố nuôi dưỡng thứ tư là điều trái khuấy thứ tư. Đây là bốn điều trái khuấy, không có điều thứ năm, không có điều thứ sáu. Và điều này có bốn yếu tố nuôi dưỡng là sự đo lường. Ở đấy, người đã trú vào điều trái khuấy thứ nhất thì chấp thủ các dục; đây là sự chấp thủ về dục. Người đã trú vào điều trái khuấy thứ nhì thì chấp thủ hữu thuộc vị lai; đây là sự chấp thủ về giới và phận sự. Người đã trú vào điều trái khuấy thứ ba thì chấp thủ quan điểm bị sai lệch; đây là sự chấp thủ về quan điểm. Người đã trú vào điều trái khuấy thứ tư thì chấp thủ các uẩn là tự ngã; đây là sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Ở đấy, người đã trú vào sự chấp thủ về dục thì tham đắm, trói buộc vào các dục; đây là trói buộc thân bởi tham đắm. Người đã trú vào sự chấp thủ về giới và phận sự thì trói buộc vào oán hận; đây là sự trói buộc thân bởi oán hận. Người đã trú vào sự chấp thủ về quan điểm thì trói buộc vào sự bám víu; đây là sự trói buộc thân bởi sự bám víu. Người đã trú vào sự chấp thủ về ngã luận thuyết thì trói buộc trong lúc vọng tưởng; đây là sự trói buộc thân bởi sự chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’ (!) Đối với người ấy, các ô nhiễm bị trói buộc (như vậy) thì trào ra (rò rỉ); hơn nữa có cái gì đó được gọi là sự ăn năn, các sự ăn năn là các (pháp) tiềm ẩn. Ở đấy, dục lậu là do sự trói buộc thân bởi tham đắm, hữu lậu là do sự trói buộc thân bởi oán hận, kiến lậu là do sự trói buộc thân bởi sự bám víu, vô minh lậu là do sự trói buộc thân bởi sự chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’

Bốn lậu hoặc ấy khi đã đi đến sự lớn mạnh thì trở thành dòng lũ, vì thế được gọi là ‘dòng lũ.’ Ở đấy, dục lậu là dòng lũ của dục, hữu lậu là dòng lũ của hữu, vô minh lậu là dòng lũ vô minh, tà kiến lậu là dòng lũ tà kiến.

Bốn dòng lũ ấy, ―đã đi sâu vào chỗ ngụ, đã đi cùng với sự tiềm ẩn,― được gọi là ‘mũi tên,’ chúng tồn tại sau khi chạm vào trái tim. Ở đấy, dòng lũ của dục là mũi tên luyến ái, dòng lũ của hữu là mũi tên sân hận, dòng lũ vô minh là mũi tên si mê, dòng lũ tà kiến là mũi tên tà kiến.

Bị khống chế bởi bốn mũi tên này, thức tồn tại ở bốn pháp: ở sắc, ở thọ, ở tưởng, ở các hành. Đây là bốn sự tồn tại của thức. Ở đấy, thông qua mũi tên luyến ái, thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui, có sự đến gần sắc, rồi tồn tại; thông qua mũi tên sân hận có sự đến gần thọ; thông qua mũi tên si mê có sự đến gần tưởng; thông qua mũi tên tà kiến, thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui, có sự đến gần các hành, rồi tồn tại.

Bởi bốn sự tồn tại này của thức, (chúng sanh) đi đến sự thiên vị có bốn loại: vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê. Người ấy đi đến sự thiên vị vì mong muốn do luyến ái, đi đến sự thiên vị vì sân hận do sân hận, đi đến sự thiên vị vì si mê do si mê, đi đến sự thiên vị vì sợ hãi do tà kiến. Nghiệp này và các ô nhiễm này là như thế, đây là nhân của luân hồi.

Ở đấy, đây là bốn hướng: Đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, sự chấp thủ về dục, sự gắn bó với dục, sự trói buộc thân bởi tham đắm, dục lậu, dòng lũ của dục, mũi tên luyến ái, do sự đến gần sắc có sự tồn tại của thức, việc đi đến sự thiên vị vì mong muốn; đây là hướng thứ nhất.

Xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, sự chấp thủ về giới và phận sự, sự gắn bó với hữu, sự trói buộc thân bởi oán hận (!), hữu lậu, dòng lũ của hữu, mũi tên sân hận, do sự đến gần thọ có sự tồn tại của thức, việc đi đến sự thiên vị vì sân hận; đây là hướng thứ nhì.

Tư niệm thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, sự chấp thủ về tà kiến, sự gắn bó với tà kiến, sự trói buộc thân bởi bám víu, tà kiến lậu, dòng lũ tà kiến, mũi tên tà kiến, do sự đến gần tưởng có sự tồn tại của thức, việc đi đến sự thiên vị vì sợ hãi; đây là hướng thứ ba.

Thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, sự chấp thủ về ngã luận thuyết, sự gắn bó với vô minh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ (!) vô minh lậu, dòng lũ vô minh, mũi tên si mê, do sự đến gần các hành có sự tồn tại của thức, việc đi đến sự thiên vị vì si mê; đây là hướng thứ tư. Như thế là việc xem xét về hướng thứ nhất với thuật ngữ thứ nhất của mười Kinh này; đây được gọi là ‘việc định hướng.’ Việc định hướng ở nhóm bất thiện theo bốn điều trái khuấy sau khi kết hợp với ô nhiễm, đây là lãnh vực của việc định hướng ở nhóm bất thiện.

Ý nghĩa của các pháp này, ―của các thuật ngữ thứ nhất thuộc về năm (Kinh), thuộc về mười Kinh― là gì? Có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Cái thứ nhì là tương tự, cái thứ ba là tương tự, cái thứ tư là tương tự. Đây là sự tổng hợp thứ nhất. Với sự giản lược này, tất cả các ô nhiễm nên được điền vào ở bốn thuật ngữ.

Kế đến, ở nhóm thiện là bốn lối thực hành, bốn thiền, bốn sự thiết lập niệm, bốn sự an trú: ―thuộc cõi Trời, thuộc Phạm Thiên, thuộc bậc Thánh, bất động―, bốn chánh cần, bốn pháp kỳ diệu phi thường, bốn phát nguyện, bốn định: ―định do mong muốn, định do tinh tấn, định do tâm, định do thẩm xét―, bốn pháp dự phần vào an lạc: ―không gì khác ngoại trừ các yếu tố đưa đến giác ngộ, không gì khác ngoại trừ sự khắc khổ, không gì khác ngoại trừ sự thu thúc các quyền, không gì khác ngoại trừ sự xả bỏ tất cả―, bốn vô lượng (tâm).

Ở đấy, lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp trong khi được tu tập, trong khi được thực hành nhiều làm viên mãn sơ thiền; sơ thiền được viên mãn làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ nhất, sự thiết lập niệm thứ nhất được viên mãn làm viên mãn sự an trú thứ nhất, sự an trú thứ nhất được viên mãn làm viên mãn chánh cần thứ nhất, chánh cần thứ nhất được viên mãn làm viên mãn pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất được viên mãn làm viên mãn sự phát nguyện thứ nhất.

Sự phát nguyện thứ nhất được viên mãn làm viên mãn định do mong muốn, định do mong muốn được viên mãn làm viên mãn sự thu thúc các quyền, sự thu thúc các quyền được viên mãn làm viên mãn từ ái vô lượng thứ nhất. Như vậy cho đến sự xả bỏ tất cả làm viên mãn vô lượng (tâm) thứ tư.

Ở đấy, lối thực hành thứ nhất, sơ thiền, sự thiết lập niệm thứ nhất, sự an trú thứ nhất, chánh cần thứ nhất, (!) pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, phát nguyện về chân thật, định do mong muốn, sự thu thúc các quyền, và từ ái vô lượng. Đây là hướng thứ nhất.

Lối thực hành thứ nhì, nhị thiền, sự thiết lập niệm thứ nhì, sự an trú thứ nhì, chánh cần thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì, phát nguyện về xả thí, định do tâm, sự khắc khổ, và bi mẫn vô lượng. Đây là hướng thứ nhì.

Lối thực hành thứ ba, tam thiền, sự thiết lập niệm thứ ba, sự an trú thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba, phát nguyện về tuệ, định do tinh tấn, yếu tố đưa đến giác ngộ, và tùy hỷ vô lượng. Đây là hướng thứ ba.

Lối thực hành thứ tư, tứ thiền, sự thiết lập niệm thứ tư, sự an trú thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn), định do thẩm xét, sự xả bỏ tất cả, và hành xả vô lượng. Đây là hướng thứ tư. Việc xem xét về bốn hướng này được gọi là phương pháp có tên ‘việc định hướng.’

Ở đấy, đây là sự liên kết: bốn yếu tố nuôi dưỡng và bốn lối thực hành, bốn điều trái khuấy và bốn sự thiết lập niệm, bốn sự chấp thủ và bốn thiền, bốn sự gắn bó và các sự an trú, các sự trói buộc và các chánh cần, các lậu hoặc và các pháp kỳ diệu phi thường, các dòng lũ và các phát nguyện, các mũi tên và các định, các sự tồn tại của thức và các pháp dự phần vào an lạc, bốn việc đi đến sự thiên vị và bốn vô lượng (tâm); như thế là sự liên kết của thiện và bất thiện theo tác động của phần đối nghịch. Điều này được gọi là phương pháp ‘việc định hướng.’

Bốn quả vị của hạnh Sa-môn là đoạn cuối của nó: pháp thứ nhất ở sự diễn giải về thiện và bất thiện là sự diễn giải về phương hướng, đoạn cuối của nó là Quả vị Nhập Lưu, thứ nhì là Quả vị Nhất Lai, thứ ba là Quả vị Bất Lai, thứ tư là quả vị A-la-hán.

3. Ở đấy, phương pháp ‘ba trình tự’ là gì? Những người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng là hai hạng người, những người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng là hai hạng người.

Đối với bốn hạng người này, người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng; đây là hai hạng người. Ở đấy, người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng là người hiểu nhanh; người kế tiếp có tính chất phổ biến là người hiểu chậm; người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp là người cần- được-dẫn-dắt. Những người này đã là bốn hạng rồi trở thành ba hạng. Ở đấy, minh sát có chỉ tịnh đi trước là dành cho người hiểu nhanh, chỉ tịnh có minh sát đi trước là dành cho người cần-được-dẫn-dắt, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung là dành cho người hiểu chậm.

Sự chỉ bảo mềm mỏng là dành cho người hiểu nhanh, sự chỉ bảo sắc bén là dành cho người cần-được-dẫn-dắt, sự chỉ bảo sắc bén và mềm mỏng là dành cho người hiểu chậm.

Sự học tập về thắng tuệ là dành cho người hiểu nhanh, sự học tập về thắng tâm là dành cho người cần-được-dẫn-dắt, sự học tập về thắng giới là dành cho người hiểu chậm. Như thế việc đi ra khỏi với bốn lối thực hành là dành cho các hạng người này.

Ở đấy, đây là phiền não: “ba gốc rễ của bất thiện (bất thiện căn), ba xúc, ba thọ, ba sự khắn khít, ba phiền não, ba sự suy tầm, ba sự bực bội, ba tướng trạng của pháp bị tạo tác, ba trạng thái khổ.”

Ba bất thiện căn: bất thiện căn tham, bất thiện căn sân, bất thiện căn si. Ba xúc: xúc đưa đến thọ lạc, xúc đưa đến thọ khổ, xúc đưa đến thọ không khổ không lạc. Ba thọ: thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc. Ba sự khắn khít: sự khắn khít với hỷ tâm, sự khắn khít với ưu tâm, sự khắn khít với hành xả. Ba phiền não: luyến ái, sân hận, si mê. Ba sự suy tầm: suy tầm về dục, suy tầm về oán hận, suy tầm về hãm hại. Ba sự bực bội: sự bực bội do luyến ái sanh, do sân hận sanh, do si mê sanh. Ba tướng trạng của pháp bị tạo tác: sanh, trụ, diệt. Ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do sự biến hoại, trạng thái khổ do pháp tạo tác.

Ở đấy, bất thiện căn tham đã được khởi lên từ đâu? Đối tượng có ba loại: hợp ý, không hợp ý, và đưa đến trạng thái hành xả. Ở đấy, với đối tượng hợp ý, bất thiện căn tham khởi lên. Như thế, từ đối tượng hợp ý, có xúc đưa đến thọ lạc; tùy thuận vào xúc đưa đến thọ lạc, thọ lạc sanh khởi; tùy thuận vào thọ lạc, sự khắn khít với hỷ tâm sanh khởi; tùy thuận vào sự khắn khít với hỷ tâm, luyến ái sanh khởi; tùy thuận vào luyến ái, suy tầm về dục sanh khởi; tùy thuận vào suy tầm về dục, sự bực bội do-luyến-ái-sanh sanh khởi; tùy thuận vào sự bực bội do-luyến-ái-sanh, sự sanh ―tướng trạng của pháp bị tạo tác― sanh khởi; tùy thuận vào sự sanh ―tướng trạng của pháp bị tạo tác―, trạng thái khổ do sự biến hoại sanh khởi.

Bất thiện căn sân đã được khởi lên từ đâu? Với đối tượng không hợp ý, bất thiện căn sân khởi lên. Như thế, từ đối tượng không hợp ý, có xúc đưa đến thọ khổ; tùy thuận vào xúc đưa đến thọ khổ, thọ khổ sanh khởi; tùy thuận vào thọ khổ, sự khắn khít với ưu tâm sanh khởi; tùy thuận vào sự khắn khít với ưu tâm, sân hận sanh khởi; tùy thuận vào sân hận, suy tầm về oán hận sanh khởi; tùy thuận vào suy tầm về oán hận, sự bực bội do-sân-hận- sanh sanh khởi; tùy thuận vào sự bực bội do-sân-hận-sanh, trạng thái đổi khác của trụ ―tướng trạng của pháp bị tạo tác― sanh khởi; tùy thuận vào trạng thái đổi khác của trụ ―tướng trạng của pháp bị tạo tác―, trạng thái khổ do (thọ) khổ sanh khởi.

Bất thiện căn si đã được khởi lên từ đâu? Với đối tượng đưa đến trạng thái hành xả, bất thiện căn si khởi lên. Như thế, từ đối tượng đưa đến trạng thái hành xả, có xúc đưa đến thọ không khổ không lạc; tùy thuận vào xúc đưa đến thọ không khổ không lạc, thọ không khổ không lạc sanh khởi; tùy thuận vào thọ không khổ không lạc, sự khắn khít với hành xả sanh khởi; tùy thuận vào sự khắn khít với hành xả, si mê sanh khởi; tùy thuận vào si mê, suy tầm về hãm hại sanh khởi; tùy thuận vào suy tầm về hãm hại, sự bực bội do-si- mê-sanh sanh khởi; tùy thuận vào sự bực bội do-si-mê-sanh, diệt ―tướng trạng của pháp bị tạo tác― sanh khởi; tùy thuận vào diệt ―tướng trạng của pháp bị tạo tác―, trạng thái khổ do pháp tạo tác sanh khởi. Như thế, đây là sự diễn giải về ba ô nhiễm. Đây được gọi là phương pháp ‘ba trình tự’ về nhóm bất thiện.

Như thế là ba bất thiện căn, không phải bốn, không phải năm. Ba xúc, (!) ba thọ, … cho đến… trạng thái khổ do pháp tạo tác. Như thế, bất cứ nhóm bất thiện nào, tất cả đều hội tụ lại ở ba bất thiện căn.

Ở đấy, nhóm thiện là gì? Ba thiện căn. Ba tuệ: tuệ văn, tuệ tư, tuệ tu. Ba định: có tầm có tứ –nt–. Ba sự học tập: sự học tập về thắng giới –nt–. Ba hiện tướng: hiện tướng chỉ tịnh, hiện tướng ra sức, hiện tướng hành xả. Ba sự suy tầm: suy tầm về xuất ly –nt– suy tầm về không hãm hại. Ba quyền: Vị tri quyền (khả năng về ‘Tôi sẽ biết điều chưa được biết’) (giảng chi tiết). Ba sự khắn khít: sự khắn khít với xuất ly, sự khắn khít với không oán hận, sự khắn khít với không hãm hại. Ba sự tìm kiếm: sự tìm kiếm các dục, sự tìm kiếm hiện hữu, sự tìm kiếm Phạm hạnh. Ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn.

Ở đấy, thiện căn vô tham làm viên mãn tuệ văn, tuệ văn được viên mãn làm viên mãn định có tầm có tứ, định có tầm có tứ được viên mãn làm viên mãn sự học tập về thắng tâm, sự học tập về thắng tâm được viên mãn làm viên mãn hiện tướng chỉ tịnh, hiện tướng chỉ tịnh được viên mãn làm viên mãn sự suy tầm về xuất ly, sự suy tầm về xuất ly được viên mãn làm viên mãn vị tri quyền, vị tri quyền được viên mãn làm viên mãn sự khắn khít với xuất ly, sự khắn khít với xuất ly được viên mãn dứt bỏ việc tìm kiếm các dục, sự dứt bỏ việc tìm kiếm các dục làm viên mãn định uẩn.

Thiện căn vô sân làm viên mãn tuệ tư, tuệ tư được viên mãn làm viên mãn định không có tầm chỉ có tứ, định không có tầm chỉ có tứ được viên mãn làm viên mãn sự học tập về thắng giới, sự học tập về thắng giới được viên mãn làm viên mãn hiện tướng hành xả, hiện tướng hành xả được viên mãn làm viên mãn sự suy tầm về không oán hận, sự suy tầm về không oán hận được viên mãn làm viên mãn dĩ tri quyền, dĩ tri quyền được viên mãn làm viên mãn sự khắn khít với không oán hận, sự khắn khít với không oán hận được viên mãn dứt bỏ việc tìm kiếm sự hiện hữu, sự dứt bỏ việc tìm kiếm sự hiện hữu làm viên mãn giới uẩn.

Thiện căn vô si làm viên mãn tuệ tu, tuệ tu được viên mãn làm viên mãn định không có tầm không có tứ, định không có tầm không có tứ được viên mãn làm viên mãn sự học tập về thắng tuệ, sự học tập về thắng tuệ được viên mãn làm viên mãn hiện tướng ra sức, hiện tướng ra sức được viên mãn làm viên mãn cụ tri quyền, cụ tri quyền được viên mãn làm viên mãn sự khắn khít với không hãm hại, sự khắn khít với không hãm hại được viên mãn làm viên mãn việc tìm kiếm Phạm hạnh, việc tìm kiếm Phạm hạnh được viên mãn làm viên mãn tuệ uẩn.

Như thế, ba pháp này liên quan đến phần thiện; tất cả các pháp thiện được diễn giải với ba sự diễn giải về nhóm ba; ba lối vào giải thoát là đoạn cuối của nó. Ở đấy, với lối thứ nhất là Vô nguyện, với lối thứ hai là Không tánh, với lối thứ ba là Vô tướng. Đây được gọi là phương pháp có tên ‘ba trình tự’ thứ nhì.

4. Ở đấy, đây là ba hạng người: “Người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, người cần-được-dẫn-dắt.” Trong số ba hạng người này, hai hạng người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với sự chứng đắc mau chóng và nhờ vào lối thực hành thoải mái với sự chứng đắc chậm chạp; họ là hai hạng người. Hai hạng người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với sự chứng đắc mau chóng và nhờ vào lối thực hành khó khăn với sự chứng đắc chậm chạp; bốn hạng này với sự khác nhau ấy trở thành hai: hạng có tánh tà kiến và hạng có tánh tham ái. Những hạng này đã là bốn trở thành ba, đã là ba trở thành hai. Đối với hai hạng người này, đây là phiền não: vô minh và tham ái, không hổ thẹn (tội lỗi) và không ghê sợ (tội lỗi), sự thất niệm và sự không nhận biết rõ, các pháp che lấp và các sự ràng buộc, sự bám chặt và sự chấp chặt, việc tạo thành ‘tôi’ và việc tạo thành ‘của tôi,’ sự không có đức tin và sự khó dạy, sự biếng nhác và sự tác ý không đúng đường lối, hoài nghi và tham đắm, sự không lắng nghe chánh pháp và sự không chứng đạt.

Ở đấy, vô minh, không hổ thẹn (tội lỗi), sự thất niệm, các pháp che lấp, sự bám chặt, việc tạo thành ‘tôi,’ sự không có đức tin, sự biếng nhác, hoài nghi, và sự không lắng nghe chánh pháp, đây là một hướng.

Tham ái, không ghê sợ (tội lỗi), sự không nhận biết rõ, các sự ràng buộc, sự chấp chặt, việc tạo thành ‘của tôi,’ sự khó dạy, sự tác ý không đúng đường lối, tham đắm, và sự không chứng đạt, đây là hướng thứ hai.

Mười thuật ngữ thứ nhất trong số mười cặp hai nên được thực hiện. Chúng giúp cho hiểu được ý nghĩa một cách tóm tắt. Mười thuật ngữ thứ nhì trong số tất cả các cặp hai là thuộc về phần đen ở phần đối nghịch, đây là hướng thứ hai.

Như thế là sự diễn giải về khổ của các pháp bất thiện, đây là Tập. Pháp trú ngụ là danh và sắc, đây là Khổ. Như thế, cái này là Tập và cái này là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập, là sự diễn giải thứ nhất thuộc phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ.’

Ở đấy, phần thiện là gì? Chỉ tịnh và minh sát, minh và hạnh, niệm và sự nhận biết rõ, hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi), sự dứt bỏ việc tạo thành ‘tôi’ và sự dứt bỏ việc tạo thành ‘của tôi,’ chánh tinh tấn và sự tác ý đúng đường lối, chánh niệm và chánh định, tuệ và sự nhàm chán, sự chứng đạt và sự lắng nghe chánh pháp, hỷ tâm và sự thực hành đúng pháp và thuận pháp.

Ở đấy, chỉ tịnh, minh, niệm, hổ thẹn (tội lỗi), sự dứt bỏ việc tạo thành ‘tôi,’ chánh tinh tấn, chánh niệm, tuệ, sự chứng đạt, và hỷ tâm, các pháp này là một hướng.

Minh sát, hạnh, sự nhận biết rõ, ghê sợ (tội lỗi), sự dứt bỏ việc tạo thành ‘của tôi,’ tác ý đúng đường lối, chánh định, sự nhàm chán, sự lắng nghe chánh pháp, và sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, đây là hướng thứ hai. Như thế là bốn hướng của phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ’ ở nhóm thiện và ở nhóm bất thiện.

Trong số ấy, các thuật ngữ bất thiện thứ nhất thuộc nhóm bất thiện đi đến sự dứt bỏ bởi các (thuật ngữ) thiện, chúng đi đến sự dứt bỏ bởi các thuật ngữ thứ nhì ở nhóm thiện. Do sự dứt bỏ đối với chúng, có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái. Các thuật ngữ bất thiện thứ nhì thuộc nhóm bất thiện đi đến sự dứt bỏ, chúng đi đến sự dứt bỏ bởi các thuật ngữ thứ nhất thuộc nhóm thiện. Do sự dứt bỏ đối với chúng, có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là đoạn cuối. Trong số ba phương pháp này, phương pháp thứ nhất tên là ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’

5. Tám thuật ngữ: bốn thiện và bốn bất thiện, tám thuật ngữ này là các thuật ngữ căn bản. Theo phương pháp về ý nghĩa, (phương pháp) thứ nhì là ‘ba trình tự.’ Nó hướng dẫn bằng sáu pháp, hướng dẫn các thiện căn và các bất thiện căn. Như thế, sáu thuật ngữ này và tám thuật ngữ căn bản trước đây, chúng là mười bốn thuật ngữ trong số mười tám thuật ngữ căn bản. Ở đấy, phương pháp cuối cùng, –‘xoay vần với sự hoan hỷ,’– hướng dẫn bằng bốn pháp: vô minh và tham ái, chỉ tịnh và minh sát. Bốn pháp này, mười tám thuật ngữ căn bản này, được diễn giải ở ba phương pháp.

Ở đấy, chín thuật ngữ thiện là nơi tất cả thiện hội tụ lại. Và trong số chín thuật ngữ ấy, bốn thuật ngữ là ở ‘sự tiêu khiển của các sư tử,’ ba (thuật ngữ) là ở ‘ba trình tự,’ hai (thuật ngữ) là ở ‘xoay vần với sự hoan hỷ,’ chúng là nhóm thiện. (!) Ở đấy, chín thuật ngữ thiện là nơi tất cả thiện được kết nối. Ở đấy, bốn thuật ngữ là ở phương pháp ‘sự tiêu khiển của các sư tử,’ ba (thuật ngữ) là ở ‘ba trình tự,’ hai (thuật ngữ) là ở ‘xoay vần với sự hoan hỷ.’ Chín thuật ngữ thiện này đã được diễn giải.

Ở đấy, bốn thuật ngữ ở phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ’ là nơi mười tám thuật ngữ căn bản hội tụ lại. Giống như thế nào? Chỉ tịnh, vô tham, vô sân, bất tịnh tưởng, và khổ não tưởng, năm thuật ngữ thuộc nhóm thiện này liên quan đến chỉ tịnh. Minh sát, vô si, vô thường tưởng, và vô ngã tưởng, bốn thuật ngữ này liên quan đến minh sát. Chín thuật ngữ thiện này được kết nối ở hai thuật ngữ.

Ở đấy, trong số chín thuật ngữ bất thiện ở nhóm bất thiện, tham ái, tham, sân, tịnh tưởng, lạc tưởng, năm thuật ngữ này liên quan đến tham ái; vô minh, si, thường tưởng, ngã tưởng, bốn từ này liên quan đến vô minh. Chín thuật ngữ bất thiện này là khéo được tóm tắt. Như thế, ba phương pháp không đi vào một phương pháp. Như vậy, mười tám thuật ngữ căn bản đã được diễn giải ở phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ.’

6. Mười tám thuật ngữ căn bản được kết nối ở phương pháp ‘ba trình tự’ như thế nào? Trong số chín thuật ngữ thiện thì minh sát, vô si, vô thường tưởng, và vô ngã tưởng, bốn thuật ngữ này là vô si; (!) chỉ tịnh, vô tham, bất tịnh tưởng, (và khổ não tưởng,) bốn thuật ngữ này là (vô) tham và (vô) sân. Như vậy, chín thuật ngữ này có thể được kết hợp ở ba (căn) thiện.

Ở đấy, trong số chín thuật ngữ bất thiện thì tham ái, tham, tịnh tưởng, và lạc tưởng, bốn thuật ngữ này là tham thuộc các bất thiện căn; vô minh, si, thường tưởng, ngã tưởng, đây là si, đây là sân. Chín thuật ngữ này được kết hợp ở ba bất thiện (căn). Như vậy, mười tám thuật ngữ căn bản sau khi được kết hợp ở các thiện (và các bất thiện căn), nên được diễn giải bằng phương pháp ‘ba trình tự.’

Mười tám thuật ngữ căn bản được kết nối ở phương pháp ‘sự tiêu khiển của các sư tử’ như thế nào? Tham ái và tịnh tưởng, đây là sự trái khuấy thứ nhất. Tham và lạc tưởng, đây là sự trái khuấy thứ nhì. Vô minh và thường tưởng, đây là sự trái khuấy thứ ba. Si và ngã tưởng, đây là sự trái khuấy thứ tư. Như thế, chín thuật ngữ có gốc rễ bất thiện được kết hợp ở bốn thuật ngữ.

Ở đấy, trong số chín thuật ngữ căn bản thiện: chỉ tịnh và tưởng bất tịnh, đây là sự thiết lập niệm thứ nhất; vô tham và khổ não tưởng, đây là sự thiết lập niệm thứ nhì; minh sát và vô thường tưởng, đây là sự thiết lập niệm thứ ba; vô si và vô ngã tưởng, đây là sự thiết lập niệm thứ tư. Mười tám thuật ngữ căn bản này được đưa vào theo phương pháp ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’

Đối với ba phương pháp này, thì lãnh vực, luyến ái, và sân hận đi vào một phương pháp. Đối với một phương pháp, khi pháp bất thiện hoặc pháp thiện được nhận biết, thì phần đối nghịch được tìm thấy. Sau khi tìm thấy các phần đối nghịch, phương pháp ấy (!) có thể được diễn giải. Khi phương pháp ấy được diễn giải, tất cả các phương pháp đã đi vào một phương pháp như thế nào thì nên được diễn giải như thế ấy. Và mười tám thuật ngữ căn bản đã đi vào một phương pháp, khi pháp ấy được nhận biết, tất cả các pháp là được nhận biết.

Trong số ba phương pháp này, phương pháp ‘sự tiêu khiển của các sư tử’ có bốn Quả vị là đoạn cuối: Hướng thứ nhất có Quả vị thứ nhất, hướng thứ nhì có Quả vị thứ nhì, hướng thứ ba có Quả vị thứ ba, hướng thứ tư có Quả vị thứ tư.

Phương pháp ‘ba trình tự’ có ba lối vào giải thoát là đoạn cuối: Hướng thứ nhất có Vô nguyện, hướng thứ nhì có Không tánh, hướng thứ ba có Vô tướng.

Phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ’ có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là đoạn cuối: Hướng thứ nhất có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, hướng thứ nhì có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.

Đây là ba phương pháp. Trong số ba phương pháp này, việc xem xét về mười tám thuật ngữ căn bản được gọi là phương pháp ‘việc định hướng.’

Sau khi xem xét, nhận biết (rằng): “Pháp này liên quan đến pháp này,” như thế là sự kết hợp đúng đắn ở nhóm thiện và ở nhóm bất thiện. Phương pháp này có tên ‘cái móc câu.’ Đây là năm phương pháp.

Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược:

(1) Tham ái và luôn cả vô minh, tham, sân, và tương tự như thế là si, và bốn sự trái khuấy; chín thuật ngữ (này) là lãnh địa của ô nhiễm.

(2) (Bốn) sự thiết lập niệm, chỉ tịnh và minh sát, (ba) thiện căn, toàn bộ điều này là thiện, chín thuật ngữ (này) là lãnh địa của các quyền.

(3) Tất cả thiện được kết nối với chín thuật ngữ, và bất thiện nữa. Các thuật ngữ căn bản này nọ, cả hai là mười tám thuật ngữ.

(4) Tham ái và vô minh, chỉ tịnh và minh sát, (phương pháp) –được kết nối với sự gắn bó– dẫn dắt vào bốn Chân Lý là phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ.’

(5) (Phương pháp) dẫn dắt các pháp bất thiện bằng các bất thiện căn và các pháp thiện bằng các thiện căn (!) theo thực thể, đúng theo (thực thể), không xa lìa (thực thể), các vị đã gọi phương pháp ấy là ‘ba trình tự.’

(6) (Phương pháp) dẫn dắt các ô nhiễm do những điều trái khuấy và các diệu pháp do các quyền, các bậc biết rõ phương pháp đã gọi phương pháp ấy là ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’

(7) (Phương pháp) –được đề cập ở phần giải thích với các trạng thái thiện và và với các trạng thái bất thiện– dùng tâm xem xét (các pháp ấy) có tên là ‘việc định hướng.’

(8) Sau khi xem xét tất cả các pháp thiện và bất thiện bằng việc định hướng, rồi lấy ra và gom chung lại; phương pháp này gọi là ‘cái móc câu.’

Nguồn phát khởi các phương pháp.

Quan điểm Phân Tích Kinh của Trưởng Lão Mahākaccāyana ở tác phẩm Peṭakopadesa đã được đầy đủ.

Các nhóm bốn về bất thiện và thiện được diễn giải ở phương pháp ‘sự tiêu khiển của các sư tử,’ các nhóm ba về thiện và bất thiện được diễn giải ở phương pháp ‘batrình tự,’ các nhóm hai về thiện và bất thiện được diễn giải ở phương pháp ‘xoay vần với sự hoan hỷ,’ ý nghĩa ở hai pháp thiện được phân tích ở nhóm ba là lãnh vực của hiện hữu. (?) Và toàn bộ ý nghĩa diễn giải nhờ vào ba văn tự. (?) Chừng ấy được nói đến. (!) Ý nghĩa với bốn thuật ngữ, với hai mươi tám phần thì không có lãnh vực để diễn giải. Chính người thông qua (điều ấy) diễn giải với bốn thuật ngữ. (?) Như thế, việc không bác bỏ đối với điều nào như đã được diễn giải, đây là sự đo lường.

Giống như tất cả định có thể được tầm cầu ở ba loại định: ở (định) có tầm có tứ, ở (định) không có tầm chỉ có tứ, ở (định) không có tầm không có tứ; đây là sự đo lường. Không có định thứ tư.

Cũng vậy, có ba tuệ: (tuệ) tư, (tuệ) văn, (tuệ) tu (được) diễn giải ở tất cả các tuệ. Không có tuệ thứ tư, (không có) tuệ không có tư, không có văn, không có tu. Không thể là không có (tuệ). (!) Sự không loại bỏ đối với các pháp này được gọi là sự đo lường.

Tác phẩm Peṭakopadesa của Trưởng Lão Mahākaccāyana trú tại Jambuvana đã được đầy đủ.

Tác phẩm Peṭakopadesa được hoàn tất.

--ooOoo--