Bản dịch
PE 6 — Lãnh Vực Thứ Sáu: Tóm Lược Ý Nghĩa Của Kinh
6. Suttatthasamuccayabhūmi
6-1. Lời giáo huấn của chư Phật Thế Tôn đi đến sự tổng hợp theo ba loại: ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ.
Ở đấy, năm uẩn là: sắc uẩn ... cho đến ... thức uẩn. Mười sắc xứ: mắt và các cảnh sắc ... cho đến ... thân và các cảnh xúc; đây là sắc uẩn.
Ở đấy, sáu nhóm thọ là thọ uẩn: thọ sanh lên do nhãn xúc ... cho đến ... thọ sanh lên do ý xúc; đây là thọ uẩn.
Ở đấy, sáu nhóm tưởng là tưởng uẩn: sắc tưởng ... cho đến ... pháp tưởng, những cái này là sáu nhóm tưởng; đây là tưởng uẩn.
Ở đấy, sáu nhóm tư là hành uẩn: sắc tư ... cho đến ... pháp tư, những cái này là sáu nhóm tư; đây là hành uẩn.
Ở đấy, sáu nhóm thức là thức uẩn: nhãn thức ... cho đến ... ý thức, những cái này là sáu nhóm thức; đây là thức uẩn.
Những cái này là năm uẩn.
Sự biết toàn diện về chúng là gì? “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã;” những điều này là sự biết toàn diện về chúng.
Ở đấy, ý nghĩa của uẩn là gì? Ý nghĩa ‘gom lại’ là ý nghĩa của uẩn, ý nghĩa ‘chất đống’ là ý nghĩa của uẩn, ý nghĩa ‘một số lượng’ là ý nghĩa của uẩn. Điều ấy giống như là: đống cỏ, đám rừng, đống gỗ, khối lửa, khối nước, lượng gió; như thế, toàn bộ sự tổng hợp ở các uẩn là như vậy, ý nghĩa của uẩn là như vậy.
6-2. Ở đấy, 18 giới là: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới –nt– ý giới, pháp giới, ý thức giới. Những cái này là 18 giới. Sự biết toàn diện về chúng là: “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” những điều này là sự biết toàn diện về chúng.
Ở đấy, điều gì là ý nghĩa của giới được nói đến? Ý nghĩa ‘yếu tố’ là ý nghĩa của giới. Yếu tố: sự trong sáng của mắt là nhãn giới; tương tự như vậy ở 5 giới. Thêm nữa, ý nghĩa ‘tách rời luyến ái’ là ý nghĩa của giới. Bởi vì nhãn giới là được tách rời; tương tự như vậy ở 5 giới. Thêm nữa, đã có điều nói rằng: “‘Đồng nhất’ theo ý nghĩa bản thể tự nhiên là ý nghĩa của giới,” được nói đến như thế. Điều ấy giống như là: “Theo bản thể tự nhiên, người nam này là người bị bệnh mật, bị bệnh đàm, bị bệnh phong thấp, bị nhiều bệnh,” tương tự như vậy, bản thể tự nhiên là nhãn giới. Và ở tất cả các quyền trong số mười (giới) –nt– Ý nghĩa ‘từng phần riêng biệt’ là ý nghĩa của giới.
6-3. Ở đấy, 12 xứ là những gì? Sáu nội phần và sáu ngoại phần. ‘Nhãn xứ … cho đến … ý xứ’ là nội phần, ‘sắc xứ … cho đến … pháp xứ’ là ngoại phần. Những cái này là 12 xứ.
Sự biết toàn diện về chúng là gì? “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” những điều này là sự biết toàn diện về chúng. Và còn nữa, sự biết toàn diện có hai loại: sự biết toàn diện về điều đã được biết và sự biết toàn diện về dứt bỏ. Ở đấy, sự biết toàn diện về điều đã được biết là: “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” đây là sự biết toàn diện về điều đã được biết. Trái lại, sự biết toàn diện về dứt bỏ là sự dứt bỏ mong muốn và luyến ái; đây là sự biết toàn diện về dứt bỏ.
Ở đấy, ý nghĩa của xứ là gì? Được nói rằng: ý nghĩa hầm mỏ là ý nghĩa của xứ giống như mỏ vàng, mỏ bạc. Giống như bầy bò nọ kia đứng lên từ nơi hai hầm mỏ ấy, tương tự như vậy, bầy bò tâm và sở hữu tâm vươn dậy từ những nơi này, có ô nhiễm của nghiệp và có bản chất khổ.
Thêm nữa, đã có điều nói rằng: ý nghĩa cho phép tiếp cận là ý nghĩa của xứ. Giống như đối với đức vua, việc tiếp cận là thông qua các sự cho phép tiếp cận, tương tự như vậy, ý nghĩa cho phép tiếp cận là ý nghĩa của xứ.
6-4. Bốn Chân Lý Cao Thượng: là Khổ, Tập, Diệt, và Đạo. Giống như Khổ, theo nghĩa bao hàm, là thể xác và tinh thần; Tập, theo nghĩa bao hàm, là vô minh và tham ái; Diệt, theo nghĩa bao hàm, là minh và giải thoát; Đạo, theo nghĩa bao hàm, là chỉ tịnh và minh sát.
6-5. Ở đấy, 37 pháp thuộc phần giác ngộ là những gì? Bốn sự thiết lập niệm … cho đến … Thánh đạo tám chi phần. Như vậy, đây là 37 pháp thuộc phần giác ngộ. Các pháp này vận hành đến Niết Bàn đối với chư Phật [Thế Tôn, chư Độc Giác Phật], và chư Thinh Văn thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại. Đạo lộ ấy là bốn sự thiết lập niệm. Bốn là những gì? “Ở đây, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân trên thân, …” –nt– (bốn) chánh cần, (bốn) nền tảng của thần thông, (năm) quyền, (năm) lực. Ở đấy, ý nghĩa của quyền là gì? Ý nghĩa chúa tể là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa chủ đạo là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa trong sáng là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa việc làm của ai đó có tính chất không phổ biến là ý nghĩa của quyền. (?) Ý nghĩa không bị lay động là ý nghĩa của lực, ý nghĩa mạnh bạo là ý nghĩa của lực, ý nghĩa nắm giữ là ý nghĩa của lực, ý nghĩa nâng đỡ là ý nghĩa của lực.
Ở đấy, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ (bảy giác chi) là những gì? Niệm giác chi … cho đến … xả giác chi. Ở đấy, đạo lộ tám chi phần là những gì? Chánh kiến … cho đến … chánh định.
Ở đấy, “đạo lộ tám chi phần” là (các) uẩn: giới uẩn, định uẩn và tuệ uẩn. Ở đấy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là giới uẩn; chánh niệm, chánh tinh tấn và chánh định là định uẩn; chánh tư duy và chánh kiến là tuệ uẩn. Như vậy, uẩn là ba sự học tập. Như vậy, với ba biểu hiện thì có mười thuật ngữ –nt–.
6-6. Ở đấy, hành giả, đã đứng vững ở giới uẩn, thì không chấp thủ sân hận bất thiện, bứng lên hoàn toàn sân hận tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên sân hận, biết toàn diện về thọ khổ, vượt qua hẳn Dục giới.
(Hành giả) đã đứng vững ở định uẩn, thì không chấp thủ tham lam bất thiện, bứng lên hoàn toàn luyến ái tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên tham lam, biết toàn diện về thọ lạc, vượt qua hẳn Sắc giới.
(Hành giả) đã đứng vững ở tuệ uẩn, thì không chấp thủ si mê bất thiện, bứng lên hoàn toàn vô minh tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên si mê và mũi tên tà kiến, biết toàn diện về thọ không khổ không lạc, vượt qua hẳn Vô Sắc giới.
Như thế, với ba uẩn, hành giả không chấp thủ ba gốc rễ của bất thiện, nhổ lên bốn mũi tên, biết toàn diện về ba thọ, vượt qua hẳn Tam Giới.
6-7. Ở đấy, vô minh là gì? ‘Sự không biết về bốn Chân Lý Cao Thượng’ nên được thực hiện một cách chi tiết giống như sự nghi hoặc về các bậc thang. (?)
Ở đấy, thức là gì? Sáu nhóm thức. Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đây là danh. Ở đấy, sắc là gì? Bốn yếu tố chính (đất, nước, lửa, gió) và sự quy định về sắc có liên quan đến bốn yếu tố chính. Như thế, phần trước là danh và phần này là sắc; cả hai việc ấy được gọi là ‘danh sắc.’
Ở đấy, ‘sáu xứ’: là sáu xứ thuộc nội phần: mắt là xứ thuộc nội phần … cho đến … ý là xứ thuộc nội phần.
‘Xúc’: là sáu nhóm xúc: ‘nhãn xúc … cho đến … ý xúc,’ như thế là xúc.
‘Thọ:’ sáu nhóm thọ là thọ.
‘Tham ái:’ sáu nhóm tham ái là tham ái.
‘Thủ’: là bốn sự chấp thủ: ‘sự chấp thủ về (năm) dục, sự chấp thủ về tà kiến, sự chấp thủ về giới và phận sự, sự chấp thủ về ngã luận thuyết,’ như thế là thủ.
‘Hữu’: là ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.
Ở đấy, sanh là gì? Là sự sanh lên đầu tiên trong số các uẩn, đầu tiên trong số các giới, đầu tiên trong số các xứ, sự sanh ra, sự sanh khởi, sự hạ sanh, sự phát sanh, sự hiện khởi của các uẩn; việc này là sanh.
Ở đấy, lão là gì? Gọi là lão là sự rụng răng, tình trạng bạc tóc, trạng thái da nhăn, trạng thái xuống sắc của bốn yếu tố chính, sự đổ vỡ, lão là sự giảm thiểu, sự suy giảm, sự suy đồi, sự rút ngắn tuổi thọ, sự suy nhược, sự kết cuộc, sự chín mùi của các quyền; việc này là lão.
Ở đấy, tử là gì? Gọi là tử là sự từ trần, sự tiêu hoại, sự chết, sự hết thời kỳ, sự hoại rã các uẩn, sự bỏ lại thân xác, sự cắt đứt mạng quyền của các chúng sanh này nọ ở mỗi một tập thể chúng sanh khác nhau; việc này là tử. Như thế, phần trước là lão và phần này là tử, cả hai sự việc ấy được gọi là ‘lão tử.’
6-8. Ở đấy, vô minh là sự tối tăm và mờ mịt, có sự không nhận biết đúng theo thực thể là tướng trạng, là nền tảng của các hành. Các hành có sự tạo tác là tướng trạng, có sự tích lũy, sự hiện hữu lại nữa, và sự gắn chặt là biểu hiện; chúng là nền tảng của thức. Thức có sự làm cho vật (chỗ trú của thức) có sự nhận biết là tướng trạng, nó là nền tảng của danh sắc. Danh sắc có nhiều sự nương tựa là tướng trạng, nó là nền tảng của sáu xứ. Sáu xứ có sự xác định (sáu) giác quan là tướng trạng, nó là nền tảng của xúc. Xúc có sự hội hợp (của căn, cảnh, và thức) là tướng trạng, nó là nền tảng của thọ. Thọ có sự chấp nhận là tướng trạng, nó là nền tảng của tham ái. Tham ái có sự bám chặt là tướng trạng, nó là nền tảng của thủ. Thủ có sự tiêu hủy hoàn toàn việc nắm giữ là tướng trạng, nó là nền tảng của hữu. Hữu có sự tản mác ở các cảnh giới tái sanh khác nhau là tướng trạng, nó là nền tảng của sanh. Sanh có sự hiện khởi của các uẩn là tướng trạng, nó là nền tảng của lão. Lão có sự đưa đến gần và sự chín muồi là tướng trạng, nó là nền tảng của tử. Tử có sự cạn kiệt của tuổi thọ và hoại diệt mạng sống là tướng trạng, nó là nền tảng của khổ. Khổ có sự ép bức thân là tướng trạng, nó là nền tảng của ưu. Ưu có sự ép bức tâm là tướng trạng, nó là nền tảng của sầu muộn. Sầu muộn có sự buồn rầu là tướng trạng, nó là nền tảng của than vãn. Than vãn có sự thốt ra bằng lời nói là tướng trạng, nó là nền tảng của lo âu. Những gì có sự thất vọng là có sự lo âu.
6-9. Chín thuật ngữ là nơi mà toàn bộ phần bất thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ vào đó. Chín thuật ngữ nào? Hai ô nhiễm căn bản, ba gốc rễ của bất thiện, bốn sự trái khuấy.
Ở đấy, hai ô nhiễm căn bản là: vô minh và hữu ái. Ba gốc rễ của bất thiện là: tham lam, sân hận, và si mê. Bốn sự trái khuấy là: sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là): ‘tịnh’ ở bất tịnh.
6-10. Ở đấy, vô minh gọi là: sự không biết đúng theo thực thể về bốn Chân Lý Cao Thượng; điều này là vô minh. Hữu ái gọi là: sự luyến ái, luyến ái mãnh liệt, ước muốn, mê mẩn, ước nguyện, niềm vui, sự bám chặt, sự không buông bỏ về các hữu; điều này là hữu ái.
Ở đấy, bất thiện căn tham là gì? Là sự tham lam, biểu hiện tham lam, ước muốn, mê mẩn, ước nguyện, niềm vui, sự bám chặt, sự không buông bỏ về các đất đai của người khác, về các vật chất của người khác, về các địa vị của người khác, về các đồ vật của người khác, về các vật sở hữu của người khác loại này loại nọ, cái này là bất thiện căn tham. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do tham, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.
Ở đấy, bất thiện căn sân là gì? Là sự tức tối, sự không nhẫn nại, sự bực tức, sự oán hận, sự khởi sân, trạng thái mong muốn sự không tấn hóa, sự bất bình của tâm ở các chúng sanh, cái này là bất thiện căn sân. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do sân, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.
Ở đấy, bất thiện căn si là gì? Là sự không biết, sự không nhìn thấy, sự không lãnh hội, sự nắm lấy điều chưa đạt đến, sự không thấu triệt, sự si mê, sự ngu si, sự mê muội, sự mê ám, vô minh, bóng tối, sự tối tăm, sự ngăn trở, sự ngăn che, sự che đậy, sự che lấp, sự xa lìa hiện thực đối với các pháp thiện, cái này là bất thiện căn si. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do si mê, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.
6-11. Ở đấy, các sự trái khuấy cần được biết, nền tảng của các sự trái khuấy cần được biết, cái gì có thể là sự trái khuấy, cái ấy cần được biết.
Ở đấy, một sự trái khuấy, bốn nền tảng của sự trái khuấy, ba sự trái khuấy.
Và một sự trái khuấy là gì? Nắm lấy điều bị trái khuấy bởi phần đối nghịch (cho rằng) ‘thường’ ở vô thường, ‘lạc’ ở khổ, ‘ngã’ ở vô ngã, ‘tịnh’ ở bất tịnh; điều này là một sự trái khuấy.
Bốn nền tảng của sự trái khuấy là những gì? Thân, thọ, tâm, và pháp. Những điều này là bốn nền tảng của sự trái khuấy.
Ba sự trái khuấy là những gì? Tưởng, tâm, và kiến (sự nhận biết, sự nhận thức, và sự nhận thấy). Những điều này là ba sự trái khuấy.
Ở đấy, sự nắm lấy hiện tướng của vật vừa ý ở chỗ giác quan hoặc ở phạm vi hình dáng (của vật), điều này là sự trái khuấy của tưởng. Ở đấy, sự làm cho nhận biết về vật đang hiện diện của tâm bị sai lệch, điều này là sự trái khuấy của tâm. Ở đấy, sự chấp nhận, sự ưa thích, sự xem xét, sự nhận định, quan điểm, sự so sánh, sự đánh giá của tâm bị sai lệch về cảnh sắc ấy ở (trạng thái) bất tịnh (lại cho) là ‘tịnh,’ điều này là sự trái khuấy của kiến.
Ở đấy, có mười hai điều trái khuấy theo sự phân chia về vật (đối tượng) ở các nhóm là: ba ở thân, ba ở thọ, ba ở tâm, ba ở pháp, bốn sự trái khuấy của tưởng, bốn sự trái khuấy của tâm, bốn sự trái khuấy của kiến. Theo sự tích lũy ở các xứ, bốn sự trái khuấy trở thành sáu nhóm 12: 12 sự trái khuấy ở các sắc đối với người có tưởng ở nhãn thức … cho đến … 12 sự trái khuấy ở các pháp đối với người có tưởng ở ý thức. Bởi vì theo bản chất khác biệt của cảnh (đối tượng), (khi) các chúng sanh là không đo lường được, không thể tính toán được thì các điều trái khuấy của họ là không đo lường được, không thể tính toán được theo các bậc hạ, thượng, và trung.
6-12. Ở đấy, năm uẩn là bốn nền tảng của bản ngã: sắc uẩn - thân ấy là nền tảng của bản ngã, thọ uẩn - thọ ấy là nền tảng của bản ngã, tưởng uẩn và hành uẩn - các pháp ấy là nền tảng của bản ngã, thức uẩn - tâm ấy là nền tảng của bản ngã; như thế năm uẩn là bốn nền tảng của bản ngã. Ở đấy, có sự trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở thân bất tịnh. Tương tự như vậy, có sự trái khuấy về tự ngã ở các thọ, ở tâm, và ở các pháp.
Ở đấy, nhằm mục đích thủ tiêu bốn sự trái khuấy, đức Thế Tôn chỉ bảo, mô tả về bốn sự thiết lập niệm: Trong khi sống có sự quan sát thân trên thân, hành giả thủ tiêu sự trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh. Tương tự như vậy nên được thực hiện ở các thọ – ở tâm – và ở các pháp.
6-13. Ở đấy, vô minh, với sự tối tăm và mờ mịt, có sự không thấu triệt là tướng trạng; các sự trái khuấy là nền tảng của nó. Tham ái có sự bám chặt là tướng trạng; sắc đáng yêu sắc dễ chịu là nền tảng của nó. Tham lam có sự tráo trở theo tập tính của bản thân là tướng trạng; việc trộm cắp là nền tảng của nó. Ở đây, sân hận có sự tranh cãi là tướng trạng; sự giết hại sanh mạng là nền tảng của nó. – – Si mê có lối thực hành lệch khỏi mục tiêu là tướng trạng; lối thực hành sai trái là nền tảng của nó. Tưởng về thường còn có sự nắm giữ việc không bị hư hoại của các pháp hữu vi là tướng trạng; tất cả các hành là nền tảng của nó. Tưởng về khoái lạc có việc đi đến xúc có lậu hoặc là tướng trạng; việc tạo thành ‘của tôi’ là nền tảng của nó. Tưởng về tự ngã có việc tiếp cận các pháp là tướng trạng; việc tạo thành ‘tôi’ là nền tảng của nó. Tưởng về cái đẹp có sự thu thập cái đẹp là tướng trạng; sự không thu thúc các quyền là nền tảng của nó. Với chín thuật ngữ này đã được diễn giải, toàn bộ phần bất thiện là đã được diễn giải. Và nó quả thật có thể hiểu được bởi người nghe nhiều, không bởi kẻ ít nghe, bởi người có tuệ, không bởi kẻ có tuệ tồi, bởi người gắn bó, không bởi kẻ không gắn bó.
6-14. Chín thuật ngữ thiện là nơi toàn bộ phần thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ. Là chín thuật ngữ nào? Chỉ tịnh, minh sát, vô tham, vô sân, vô si, vô thường tưởng, khổ não tưởng, vô ngã tưởng, và bất tịnh tưởng.
Ở đấy, chỉ tịnh là gì? Là sự ổn định, sự đứng vững, sự kiên định, vị thế đứng, sự hình thành, sự thiết lập, sự định tĩnh, sự tập trung, sự không tán loạn, sự không ăn năn, sự vắng lặng của ý, sự chuyên nhất của tâm; việc này là chỉ tịnh.
Ở đấy, minh sát là gì? Là sự chọn lựa, sự khám phá, sự thẩm xét, sự suy xét toàn diện, sự nắm được, sự nắm lấy, sự nắm toàn diện, sự suy nghĩ toàn diện bằng tâm, sự cân nhắc, sự khảo sát, trí, minh, nhãn, sự giác ngộ, sự thông minh, tuệ, hào quang, ánh sáng, sự rực rỡ, sự chiếu sáng, thanh gươm, cây lao, trạch pháp giác chi, chánh kiến - chi phần của Đạo đúng theo thực thể về các uẩn, hoặc về các giới, hoặc về các xứ, hoặc về danh sắc, hoặc về các sự tùy thuận sanh khởi, hoặc về các pháp được tùy thuận sanh khởi, hoặc về Khổ, hoặc về Tập, hoặc về Diệt, hoặc về Đạo, hoặc về các pháp thiện và bất thiện, hoặc về việc bị chê trách và không bị chê trách, hoặc về (pháp) đen và trắng, hoặc về việc nên phục vụ và không nên phục vụ, điều này là minh sát.
Vì sao việc ấy được gọi là ‘minh sát’? Việc ấy là ‘việc thấy’ theo nhiều cách; vì thế, việc ấy được gọi là ‘minh sát.’ Và chính việc minh sát ấy theo hai cách (được gọi) là ‘minh sát pháp.’
Bằng cách này, (hành giả) nhìn thấy theo hai cách: về tịnh và bất tịnh, về đen và trắng, về nên phục vụ và không nên phục vụ, về nghiệp và quả thành tựu, về sự trói buộc và sự thoát khỏi, về sự tích lũy và sự giảm thiểu, về sự vận hành và sự đình chỉ, về phiền não và sự thanh lọc; như vậy được gọi là ‘minh sát.’ Hoặc là, ‘vi’ là tiếp đầu ngữ, ‘passanā’ là ý nghĩa; vì thế, được gọi là ‘vipassanā,’ điều này là minh sát.
6-15. Ở đấy, hai căn bệnh của chúng sanh là: vô minh và hữu ái. Nhằm loại trừ hai căn bệnh này, hai phương thuốc đã được đức Thế Tôn nói đến là: chỉ tịnh và minh sát. Người thân cận hai phương thuốc này chứng ngộ hai sự vô bệnh: sự xa lìa luyến ái (là) sự giải thoát của tâm, và sự xa lìa vô minh (là) sự giải thoát của tuệ. Ở đấy, chỉ tịnh là phương thuốc cho căn bệnh tham ái; sự giải thoát của tâm do sự xa lìa luyến ái là sự vô bệnh. Minh sát là phương thuốc cho căn bệnh vô minh; sự giải thoát của tuệ do sự xa lìa vô minh là sự vô bệnh. Bởi vì, đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Hai pháp cần được biết toàn diện: danh và sắc; hai pháp cần được dứt bỏ: vô minh và hữu ái; hai pháp cần được tu tập: chỉ tịnh và minh sát; hai pháp cần được chứng ngộ: minh và giải thoát.” Ở đấy, người tu tập chỉ tịnh thì biết toàn diện về sắc; trong khi biết toàn diện về sắc thì dứt bỏ tham ái; trong khi dứt bỏ tham ái thì chứng ngộ sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái. Người tu tập minh sát thì biết toàn diện về danh; trong khi biết toàn diện về danh thì dứt bỏ vô minh; trong khi dứt bỏ vô minh thì chứng ngộ sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Khi nào hai pháp danh và sắc được biết toàn diện bởi vị tỳ khưu, khi ấy, đối với vị này, hai pháp vô minh và hữu ái là được dứt bỏ, hai pháp chỉ tịnh và minh sát là được tu tập, hai pháp minh và giải thoát là được chứng ngộ. Cho đến chừng ấy, vị tỳ khưu là có phận sự đã được làm xong; điều này là Niết Bàn giới còn dư sót. Do sự chấm dứt tuổi thọ, do sự hoại diệt mạng quyền của vị ấy, khổ này được diệt tận và khổ khác không sanh lên. Ở đấy, sự diệt tận, sự vắng lặng của các uẩn, của các giới, của các xứ này, và sự không tiếp nối, sự không hiện khởi của các uẩn-giới-xứ khác là Niết Bàn giới không còn dư sót. 6-16. Ở đấy, thiện căn vô tham là gì? Là (pháp) thuộc bản chất tự nhiên, là sự không tham lam, biểu hiện không tham lam, trạng thái không tham lam, sự không ước muốn, không ước nguyện, không ham muốn, không bám chặt, cái này là thiện căn vô tham. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô tham, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, Thánh Đạo tám chi phần được gọi là ‘thiện,’ (vô tham) ấy là gốc rễ của ba chi phần của Đạo. Của ba chi phần nào? Của chánh tư duy, của chánh tinh tấn, và của chánh định, (vô tham) là ‘gốc rễ’ của các pháp này; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Ở đấy, thiện căn vô sân là gì? Là sự không tức tối, sự không bất bình, sự không làm hại, sự không oán hận, sự không sân hận, từ ái, biểu hiện từ ái, trạng thái mong muốn sự tấn hóa, trạng thái mong muốn điều lợi ích, niềm tịnh tín của tâm liên quan đến các chúng sanh hoặc liên quan đến các hành, cái này là thiện căn vô sân. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô sân, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, (vô sân ấy) là gốc rễ của ba chi phần của Đạo. Của ba chi phần nào? Của chánh ngữ, của chánh nghiệp, và của chánh mạng, (vô sân) là gốc rễ của ba chi phần này của Đạo; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Ở đấy, thiện căn vô si là gì? Là sự thấy và biết đúng theo thực thể về bốn Chân Lý Cao Thượng, sự lãnh hội, sự trực diện một cách đúng đắn, sự thấu triệt, sự không si mê, sự không mê ám, sự không mê muội, minh, sự xán lạn, ánh sáng, sự không ngăn trở đối với các pháp thiện thuộc hữu học, cái này là thiện căn vô si. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô si, và của các pháp – tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, (vô si ấy) là gốc rễ của hai chi phần của Đạo. Của hai chi phần nào? Của chánh kiến và của chánh niệm, (vô si) là gốc rễ của hai chi phần này của Đạo; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Đạo tám chi phần có thể được kết hợp với ba thiện căn này như vậy.
6-17. Ở đấy, vô thường tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các hành đều có bản tánh sanh diệt,” điều này là vô thường tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi vô thường tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở tám pháp thế gian, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.
Ở đấy, khổ tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các hành là khổ,” điều này là khổ tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi khổ tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở sự thụ động, ở sự xao lãng, và ở sự kinh ngạc, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.
Ở đấy, vô ngã tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các pháp là vô ngã,” điều này là vô ngã tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi vô ngã tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối vào việc tạo thành ‘tôi,’ không trụ lại ở việc tạo thành ‘của tôi,’ mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.
Ở đấy, bất tịnh tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Các hành của chúng sanh là bất tịnh,” điều này là bất tịnh tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi bất tịnh tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở hiện tướng bất tịnh, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.
6-18. Ở đấy, sự biết toàn diện đối với năm uẩn đã được đức Thế Tôn chỉ bảo, ở đấy, bất tịnh tưởng là tính chất biết toàn diện đối với sắc uẩn, khổ não tưởng là tính chất biết toàn diện đối với thọ uẩn, vô ngã tưởng là tính chất biết toàn diện đối với tưởng uẩn (và) đối với hành uẩn, vô thường tưởng là tính chất biết toàn diện đối với thức uẩn.
Ở đấy, (hành giả) thủ tiêu tham ái bằng chỉ tịnh, thủ tiêu vô minh bằng minh sát, thủ tiêu sân hận bằng vô sân, thủ tiêu si mê bằng vô si, thủ tiêu thường tưởng bằng vô thường tưởng, thủ tiêu lạc tưởng bằng khổ tưởng, thủ tiêu ngã tưởng bằng vô ngã tưởng, thủ tiêu tịnh tưởng bằng bất tịnh tưởng.
Chỉ tịnh có sự không tán loạn và sự gom lại toàn diện của tâm là tướng trạng, các (tầng) thiền là nền tảng của nó. Minh sát có sự thấu triệt tất cả các pháp đúng theo thực thể là tướng trạng, nền tảng của nó là tất cả điều-có- thể-biết. Vô tham có sự ngăn chặn ước muốn là tướng trạng, sự tránh xa việc trộm cắp là nền tảng của nó. Vô sân có không oán hận là tướng trạng, sự tránh xa việc sát sanh là nền tảng của nó. Vô si có sự không bị ngăn trở trong công việc là tướng trạng, sự thực hành đúng đắn là nền tảng của nó. Vô thường tưởng có sự nắm lấy (hiện tượng) tiêu hoại của các pháp bị tạo tác là tướng trạng, sinh và diệt là nền tảng của nó. Khổ não tưởng có sự nhận biết xúc có lậu hoặc là tướng trạng, nền tảng của nó là thọ. Vô ngã tưởng có sự không tiếp cận tất cả các pháp là tướng trạng, nền tảng của nó là pháp tưởng. Bất tịnh tưởng có sự rành rẽ về trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng, hoặc bị trương sình của tử thi là tướng trạng, sự nhàm chán là nền tảng của nó. Khi chín thuật ngữ này được chỉ rõ thì toàn bộ phần thiện được chỉ rõ, và nó có thể hiểu được bởi người nghe nhiều, không bởi kẻ ít nghe, bởi người có tuệ không bởi kẻ có tuệ tồi, bởi người gắn bó, không bởi kẻ không gắn bó. Ở đấy, vô thường tưởng không thiết lập ở người thiên về thường tưởng, cho rằng tâm không liên tục, không quán xét về niệm; khổ não tưởng không thiết lập ở người thiên về khoái lạc và sự hứng thú ở năm loại dục, không quán xét về sự sai trái của đường lối sinh hoạt; vô ngã tưởng không thiết lập ở người thiên về (có) tự ngã ở uẩn-giới-xứ, không quán xét về sự phân biệt các giới khác nhau và nhiều loại giới; bất tịnh tưởng là được che giấu, không thiết lập ở người thích thú về màu da hay hình dáng và ở người thiên về vẻ đẹp ở thân. 6-19. Tín có sự không ăn năn là tướng trạng, sự đặt để niềm tin là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn chi phần của vị Nhập Lưu. Bởi vì điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là như vầy: “Này các tỳ khưu, tín quyền được thấy ở đâu? Ở bốn chi phần của vị Nhập Lưu, ở các thiện pháp.” Tấn quyền có sự không chối bỏ tính dũng cảm là tướng trạng, sự ra sức tinh tấn là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn chánh cần thuộc quá khứ. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, tấn quyền được thấy ở đâu? Ở bốn chánh cần.” Niệm có sự ghi nhớ là tướng trạng, sự không mê muội là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn sự thiết lập niệm thuộc quá khứ. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, niệm quyền được thấy ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm.” Định có sự chuyên nhất là tướng trạng, sự không tán loạn là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn thiền. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, định quyền được thấy ở đâu? Ở bốn thiền.” Tuệ có sự nhận biết là tướng trạng, sự phán đoán về ý nghĩa thực thể là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn Chân Lý Cao Thượng. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, tuệ quyền được thấy ở đâu? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng.”
6-20. Bốn bánh xe: Việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là bánh xe, việc hầu cận bậc chân nhân là bánh xe, quyết định đúng đắn cho bản thân là bánh xe, việc đã làm phước thiện trong quá khứ là bánh xe. Ở đấy, việc cư ngụ ở địa phương thích hợp có sự nương tựa bậc Thánh là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của việc hầu cận bậc chân nhân. Việc hầu cận bậc chân nhân có sự nương tựa bậc Thánh là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của quyết định đúng đắn cho bản thân. Quyết định đúng đắn cho bản thân có sự thực hành đúng đắn là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của các việc phước thiện. Việc phước thiện có sự tích lũy các thiện pháp là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của tất cả các sự thành đạt.
6-21. Mười một pháp có gốc rễ ở giới: Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới –nt– sự biết và sự thấy về giải thoát, sự nhận biết rằng: ‘… không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’ Ở đấy, giới có sự tránh xa là tướng trạng, nó là nền tảng của sự không ăn năn. Sự không ăn năn có sự chỉ trích của bản thân là tướng trạng, nó là nền tảng của sự hân hoan. Sự hân hoan có sự thỏa thích là tướng trạng, nó là nền tảng của sự no vui (hỷ). Sự no vui (hỷ) có sự hoan hỷ là tướng trạng, nó là nền tảng của tịnh. Tịnh có sự có thể sử dụng là tướng trạng, nó là nền tảng của lạc. Lạc có sự không oán hận là tướng trạng, nó là nền tảng của định. Định có sự không tán loạn là tướng trạng, nó là nền tảng của sự biết và thấy đúng theo thực thể. Tuệ có sự phán đoán không bị sai lệch là tướng trạng, nó là nền tảng của sự nhàm chán. Sự nhàm chán có sự không lưu luyến là tướng trạng, nó là nền tảng của sự lìa khỏi luyến ái. Sự lìa khỏi luyến ái có sự không phiền não là tướng trạng, nó là nền tảng của sự giải thoát. Sự giải thoát có sự tách rời khỏi các pháp bất thiện là tướng trạng, nó là nền tảng của việc thanh lọc thuộc về giải thoát.
6-22. Bốn lãnh vực của bậc Thánh là bốn quả vị của hạnh Sa-môn. Ở đấy, người nhận biết đúng theo thực thể, đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Sau khi nhận biết đúng theo thực thể, vị ấy nhàm chán; điều này là nền tảng của sự luyến ái về dục và oán hận nhỏ nhoi, và là quả vị Nhất Lai. Vị ấy lìa luyến ái vi tế, đây là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, và là quả vị Bất Lai. Sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là lãnh vực đã được thực hành xong, và là phẩm vị A-la-hán.
‘Các quả vị của hạnh Sa-môn,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Thánh Đạo tám chi phần là hạnh Sa-môn; ‘các quả báo’ ấy của nó được gọi là ‘các quả vị của hạnh Sa-môn.’ Tại sao chúng được gọi là ‘các quả báo của Phạm hạnh’? Phạm hạnh là Thánh Đạo tám chi phần; ‘các quả báo’ ấy của nó được gọi là ‘các quả báo của Phạm hạnh.’ Ở đấy, vị Nhập Lưu là thế nào? Với sự lãnh hội các Chân Lý, ba sự ràng buộc đối với vị đệ tử của bậc Thánh được dứt bỏ: sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự. ‘Do sự dứt bỏ, do sự cạn kiệt hoàn toàn của ba sự ràng buộc này, vị đệ tử của bậc Thánh là có pháp không bị thối đọa,’ … cho đến … ‘thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’ Ở đấy, sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) là gì? ‘Kẻ phàm phu, ngu si, không lắng nghe,’ … (cho đến) … ‘không rành rẽ Thánh pháp, kẻ ấy nhận thấy sắc là tự ngã,’ –nt– (cho đến) … ‘tự ngã ở trong thức.’ Kẻ ấy có sự chấp về tự ngã hoặc chấp về sở hữu của tự ngã ở năm uẩn này, là kẻ vận dụng sự kiểm soát ở từng uẩn (cho rằng): ‘Cái này là ta,’ là kẻ đã đưa ra, có sự ủng hộ, đang đeo đẳng, chăm sóc ‘bộ phận cơ thể này đến bộ phận cơ thể khác.’ Việc chấp nhận, việc ưa thích, việc xem xét, việc suy tầm theo biểu hiện, quan điểm và sự suy xét nhiệt tình của vị có trạng thái như thế ấy được gọi là ‘sự nhận thức sai trái về thân.’ Ở đấy, năm quan điểm liên quan đến đoạn kiến. Năm (quan điểm) nào? Kẻ ấy nhận thấy sắc là tự ngã … cho đến … nhận thấy thức là tự ngã. Năm (quan điểm) này liên quan đến đoạn kiến, 15 (quan điểm) còn lại liên quan đến thường kiến. Như thế, với việc dứt bỏ sự nhận thức sai trái về thân, 62 tà kiến được dứt bỏ. Do sự dứt bỏ thì không còn liên quan đến đoạn kiến và thường kiến. Như thế, do sự dứt bỏ đoạn kiến và thường kiến, vị đệ tử của bậc Thánh không có bất cứ quan điểm (kiến) nào, [ngoại trừ chánh kiến xuất thế gian. Vả lại, không có sự nhận thức sai trái về thân là thế nào?] ‘Ở đây, vị đệ tử của bậc Thánh là có sự lắng nghe,’ … tất cả phần trắng nên được thực hiện cho đến … ‘rành rẽ các Thánh pháp, nhận thấy sắc là vô ngã,’ –nt– … (cho đến) … ‘thức’ –nt–. Vị này, trong khi nhận thấy như vậy, sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) không có đối với vị này. Sự hoài nghi không có là thế nào? Ở đây, vị đệ tử của bậc Thánh không nghi ngờ, không hoài nghi về đức Phật, tịnh tín rằng: ‘Thật vậy, đức Thế Tôn ấy là: …’ – (toàn bộ); không nghi ngờ, không hoài nghi về Giáo Pháp – (toàn bộ) … cho đến … ‘sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn,’ vị ấy thành tựu pháp không nghi ngờ thứ nhì này; không nghi ngờ về Tăng Chúng –nt– … cho đến ... ‘sự cúng dường của chư Thiên và nhân loại,’ vị ấy thành tựu pháp không nghi ngờ thứ ba này. Vị ấy không nghi ngờ, không hoài nghi, hướng đến, tịnh tín (rằng): “Tất cả các hành là khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi (rằng): “Tham ái là nhân sanh Khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi (rằng): “Sự diệt tận tham ái là sự diệt tận khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi, hướng đến, tịnh tín (rằng): “Thánh Đạo tám chi phần là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.”
Biểu hiện nghi ngờ, sự nhầm lẫn, sự hoài nghi, sự phân vân, sự không quyết định, sự không quả quyết, sự không ổn định, sự không xác định, sự không chắc chắn, trạng thái không quyết định về đức Phật, hoặc về Giáo Pháp, hoặc về Tăng Chúng, hoặc về Khổ, hoặc về Tập, hoặc về Diệt, hoặc về Đạo, đối với vị ấy, chúng là đã được dứt bỏ, có rễ đã được cắt lìa, như cây thốt-nốt đã bị cụt ngọn, đã đi đến việc không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự có hai loại: hoặc là thuộc về giới hoặc là của vị đã được trong sạch. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự thuộc về giới là gì? (Nghĩ rằng): “Với giới này, hay với phận sự này, hay với sự khắc khổ này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó; ở đấy, ta sẽ đùa giỡn, sẽ vui thích, sẽ gần gũi với các tiên nữ có các bàn chân như của chim bồ câu,” việc chấp nhận, việc ưa thích, việc giải thoát, sự luyến ái, quan điểm vận hành luyến ái, biểu hiện, việc nhìn thấy của vị có trạng thái như thế ấy là sự bám víu vào giới và phận sự thuộc về giới. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự của vị đã được trong sạch là gì? “Ở đây, một người nào đó bám víu vào giới (nghĩ rằng): ‘(Hành giả) được trong sạch nhờ vào giới, được dẫn đi nhờ vào giới, được giải thoát nhờ vào giới, vượt qua lạc, vượt qua khổ, vượt qua lạc và khổ, tuần tự chứng đạt với phần cao nhất,’và người bám víu vào cả hai giới và phận sự ấy (nghĩ rằng): ‘Nhờ vào cả hai giới và phận sự ấy, họ được trong sạch, được dẫn đi, được giải thoát, vượt qua lạc, vượt qua khổ, vượt qua lạc và khổ, và tuần tự chứng đạt;’” đối với người cho rằng pháp không làm cho trong sạch, pháp không làm cho giải thoát là trong sạch, là sự giải thoát, thì việc chấp nhận, việc ưa thích, việc giải thoát, việc xem xét, việc suy tầm theo biểu hiện, việc suy xét về quan điểm, việc nhìn thấy của vị có trạng thái như thế ấy là sự bám víu vào giới và phận sự của vị đã được trong sạch. Cả hai sự bám víu này là ‘đã được dứt bỏ đối với vị đệ tử của bậc Thánh’ … cho đến … ‘không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai.’ Vị ấy là người có giới, ‘được thành tựu với các giới được yêu quý bởi các bậc Thánh, không bị bể vỡ,’ … cho đến … ‘vận hành đưa đến an tịnh (Niết Bàn).’ Do việc dứt bỏ ba sự ràng buộc này, ‘vị đệ tử của bậc Thánh có sự lắng nghe là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa’ – (toàn bộ). ‘Với sự lãnh hội các Chân Lý,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Bốn sự lãnh hội: lãnh hội do biết toàn diện, lãnh hội do dứt bỏ, lãnh hội do chứng ngộ, lãnh hội do tu tập. Ở đấy, vị đệ tử của bậc Thánh lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện, lãnh hội về Tập với sự lãnh hội do dứt bỏ, lãnh hội về Diệt với sự lãnh hội do chứng ngộ, lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập. Sự lãnh hội do biết toàn diện về Khổ, sự lãnh hội do dứt bỏ Tập, sự lãnh hội do chứng ngộ Diệt, sự lãnh hội do tu tập Đạo là bởi lý do gì? Bởi chỉ tịnh và minh sát. Lãnh hội như thế nào? Sau khi gắn chặt tâm vào đối tượng, (hành giả) thấy năm uẩn là khổ. Ở đấy, sự gắn chặt là chỉ tịnh, sự thâm nhập là minh sát.
Đối với vị nhìn thấy ‘năm uẩn là khổ,’ thì sự lưu luyến, sự đeo đuổi, sự tiếp cận, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, nguyện vọng, ước nguyện của vị ấy ở năm uẩn được dứt bỏ. Ở đấy, năm uẩn là Khổ. Ở đấy, sự lưu luyến, sự đeo đuổi, sự tiếp cận, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, nguyện vọng, ước nguyện là Tập. Sự dứt bỏ đối với điều ấy là Diệt. Chỉ tịnh và minh sát là Đạo. Như vậy, sự lãnh hội đối với bốn Chân Lý Cao Thượng ấy xảy ra vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm, không trước không sau. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói (rằng): “Với sự lãnh hội các Chân Lý, ba sự ràng buộc đối với vị đệ tử của bậc Thánh được dứt bỏ.” Ở đấy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm: ‘(Vị ấy) lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’ … cho đến … ‘lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập.’ ‘Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’… cho đến … ‘Đạo với sự lãnh hội do tu tập’ (!) là bởi lý do gì? Trong lúc nhìn thấy như vậy, giống như chiếc thuyền, trong lúc di chuyển ở nước, thực hiện bốn công việc: làm cho đạt đến bờ bên kia, từ bỏ bờ bên này, vận chuyển khối hàng, rẽ đôi dòng nước, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm: ‘‘(Vị ấy) lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’ … cho đến … ‘lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập.’ Hoặc là giống như mặt trời, trong lúc mọc lên, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, không trước không sau: Xua tan sự tối tăm, làm hiện ra ánh sáng, sắc được thấy rõ, làm giảm dần sự lạnh lẽo, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, –nt–. Giống như ngọn đèn, trong lúc cháy sáng, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, không trước không sau: Xua tan sự tối tăm, làm hiện ra ánh sáng, sắc được thấy rõ, làm cạn dần nhiên liệu, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, –nt–. Khi ‘vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa,đã được chắc chắn,’… cho đến … ‘thực hiện việc chấm dứt khổ đau;’ đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Đứng vững ở quả vị Nhập Lưu, trong lúc tu tập (chỉ tịnh và) minh sát thêm hơn nữa; (và khi chúng) được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, do sự dứt bỏ phần lớn luyến ái về dục và oán hận, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Nhất Lai, có bản thân đã được hoàn thành, (sẽ) đi đến thế gian này chỉ một lần nữa và thực hiện việc chấm dứt khổ đau; đây là lãnh vực giảm bớt và là quả vị Nhất Lai. Đứng vững ở quả vị Nhất Lai, trong lúc tu tập minh sát, (vị đệ tử của bậc Thánh) dứt bỏ không còn dư sót sự luyến ái về dục và oán hận có sự tiềm ẩn; khi sự luyến ái về dục và oán hận đã được dứt bỏ không còn dư sót, năm sự ràng buộc thuộc hạ phần là được dứt bỏ (gồm có): sự nhận thức sai trái về thân, sự bám víu vào giới và phận sự, hoài nghi, sự mong muốn về dục, và oán hận. Do sự dứt bỏ đối với năm sự ràng buộc thuộc hạ phần, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Bất Lai, ở đấy, có sự viên tịch Niết Bàn, có pháp không quay trở lại từ thế giới ấy; đây là lãnh vực xa lìa luyến ái và là quả vị Bất Lai.
Đứng vững ở quả vị Bất Lai, trong lúc tu tập minh sát thêm hơn nữa, (vị đệ tử của bậc Thánh) dứt bỏ năm sự ràng buộc thuộc thượng phần (gồm có): ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh. Do sự dứt bỏ đối với năm sự ràng buộc thuộc thượng phần này, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự ràng buộc ở hữu đã được đoạn tận, có sự hiểu biết đúng đắn, đã được giải thoát; đây là lãnh vực đã được làm xong và là quả vị A-la-hán.
Đây là Niết Bàn giới còn dư sót. Đối với vị này, do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự hoại diệt của mạng quyền, khổ này được diệt tận, và khổ khác không sanh lên. Sự diệt tận, sự vắng lặng của khổ này và sự không hiện khởi của cái (khổ) khác, đây là Niết Bàn giới không còn dư sót. Đây là hai Niết Bàn giới. Như thế, các Chân Lý được nói đến, sự lãnh hội các Chân Lý được nói đến, sự xác định ô nhiễm được nói đến, sự dứt bỏ được nói đến, các lãnh vực được nói đến, các Quả vị được nói đến, các Niết Bàn giới được nói đến. Như vậy, khi các điều này được nói đến, toàn bộ sự giác ngộ là được nói đến. Ở đây, sự nỗ lực cần được thực hiện.
6-23. Ở đấy, chín sự chứng đạt theo tuần tự là những gì? Bốn thiền, bốn sự chứng đạt vô sắc, và sự chứng đạt diệt (thọ tưởng).
Ở đấy, bốn thiền là những gì? “Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, ngay sau khi tách ly khỏi các dục, …” nên được thực hiện với chi tiết. Ở đấy, bốn sự chứng đạt vô sắc là những gì? ‘Thật vậy, đối với vị có sự lìa luyến ái, cần được nói đến’ … (cho đến) … ‘sự chứng đạt diệt (thọ tưởng)’ nên được thực hiện với chi tiết; đây là chín sự chứng đạt theo tuần tự.
Ở đấy, sơ thiền là gì? Là đã được tách rời năm yếu tố, là đã được hội đủ năm yếu tố. Đã được tách rời năm yếu tố nào? Năm pháp che lấp. Ở đấy, năm pháp che lấp là những gì? ‘Sự mong muốn về dục, …’ chi tiết nên được thực hiện.
Ở đấy, sự mong muốn về dục là gì? Là sự mong muốn và luyến ái về năm loại dục, sự yêu thương, sự đeo đuổi, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, ước nguyện, sự không buông bỏ, sự tiềm ẩn, sự thâm nhập; đây là pháp che lấp ‘sự mong muốn về dục.’
Ở đấy, oán hận là gì? Là sự tức tối, –nt– ở chúng sanh và ở các sự tạo tác. Chi tiết giống như ở (bất thiện căn) sân; đây là pháp che lấp ‘oán hận.’ Ở đấy, sự buồn ngủ là gì? Là trạng thái đờ đẫn của thân, trạng thái nặng nề của thân, trạng thái không có thể sử dụng của thân, sự trì trệ của thân, việc ngủ, trạng thái mơ màng, sự nháy mắt, sự díu mắt; điều này là sự buồn ngủ. Ở đấy, sự dã dượi là gì? Là trạng thái dã dượi, trạng thái đờ đẫn của tâm, trạng thái nặng nề của tâm, sự không an tịnh của tâm; điều này là sự dã dượi. Như thế, sự dã dượi này và sự buồn ngủ trước đây, cả hai điều ấy được gọi là pháp che lấp ‘dã dượi và buồn ngủ.’
Ở đấy, phóng dật là gì? Là sự không vắng lặng của tâm; điều này là phóng dật. Ở đấy, hối hận là gì? Là sự bối rối, sự day dứt, sự dằn vặt của tâm, sự bối rối ở trái tim, sự ăn năn; điều này là hối hận. Như thế, sự hối hận này và sự phóng dật trước đây, cả hai điều ấy được gọi là pháp che lấp ‘phóng dật và hối hận.’
Ở đấy, pháp che lấp ‘hoài nghi’ là gì? (Biểu hiện nghi ngờ, sự nhầm lẫn …) về đức Phật, hoặc về Giáo Pháp, hoặc về Tăng Chúng, –nt–; điều này là hoài nghi. Và thêm nữa, có năm loại hoài nghi: (hoài nghi) có chướng ngại toàn thể, có chướng ngại cục bộ, có chướng ngại về sự chứng đạt, có chướng ngại về Đạo, có chướng ngại về cõi Trời. Tuy nhiên, ở đây hoài nghi có chướng ngại về sự chứng đạt được đề cập đến. Đây là năm pháp che lấp.
Ở đấy, ‘các pháp che lấp,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Chúng che lấp về cái gì? Chúng che lấp về toàn bộ phần thiện. Chúng che lấp như thế nào? Sự mong muốn về dục che lấp về bất tịnh, oán hận che lấp về từ ái, sự dã dượi che lấp về sự tịnh lặng, buồn ngủ che lấp về sự ra sức tinh tấn, phóng dật che lấp về chỉ tịnh, hối hận che lấp về sự không ăn năn, hoài nghi che lấp về sự nhận biết (tuệ), về sự tùy thuận sanh khởi.
Một cách thức khác: Sự mong muốn về dục che lấp về thiện căn vô tham, oán hận che lấp về thiện căn vô sân, sự dã dượi và buồn ngủ che lấp về định, phóng dật và hối hận che lấp về các sự thiết lập niệm, hoài nghi che lấp về thiện căn vô si.
Một cách thức khác: ba sự an trú là: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú. Thiên trú là bốn thiền, Phạm trú là bốn vô lượng (tâm), Thánh trú là 37 pháp dự phần vào giác ngộ. Ở đấy, sự mong muốn về dục, sự phóng dật, và sự hối hận che lấp về Thiên trú; oán hận che lấp về Phạm trú; sự dã dượi, buồn ngủ, và hoài nghi che lấp về Thánh trú.
Một cách thức khác: Sự mong muốn về dục, oán hận, phóng dật và hối hận che lấp về chỉ tịnh; sự dã dượi, buồn ngủ, và hoài nghi che lấp về minh sát. Vì thế, chúng được gọi là ‘pháp che lấp.’ Sơ thiền là đã được tách ly khỏi năm yếu tố này.
Sơ thiền là đã được gắn liền với năm yếu tố nào? Với tầm và tứ, với hỷ, với lạc, và với trạng thái chuyên nhất của tâm. Với sự sanh lên–đạt được–và hội đủ, với sự chứng ngộ đối với năm yếu tố này, sơ thiền được gọi là ‘đã đạt được.’ Sau khi làm sanh lên năm yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến sơ thiền, (vị ấy) an trú với Thiên trú.” Ở đấy, nhị thiền là được hội đủ với bốn yếu tố: với hỷ, với lạc, với trạng thái chuyên nhất của tâm, với sự tịnh tín thuộc nội phần. Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu bốn yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến nhị thiền, (vị ấy) an trú.” Ở đấy, tam thiền là được hội đủ với năm yếu tố: với niệm, với sự nhận biết rõ, với lạc, với trạng thái chuyên nhất của tâm, với hành xả. Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu các yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến tam thiền, (vị ấy) an trú.” Ở đấy, tứ thiền là được hội đủ với bốn yếu tố: với hành xả, với sự thanh tịnh của niệm, với thọ không khổ không lạc, và với trạng thái chuyên nhất của tâm; tứ thiền được hội đủ với năm yếu tố này. Như thế, với sự sanh lên– đạt được–và hội đủ, với sự chứng ngộ của bốn yếu tố này, tứ thiền được gọi là: ‘đã đạt được.’ Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu bốn yếu tố này, (vị ấy) đạt đến và an trú; vì thế, được gọi là: “(Vị ấy) an trú với Thiên trú.” 6-24. Ở đấy, ý nghĩa vô thường là gì? Ý nghĩa ép buộc là ý nghĩa vô thường, ý nghĩa mảnh mai, ý nghĩa làm cho đạt được (sự thay đổi), ý nghĩa tách ly là ý nghĩa vô thường; đây là ý nghĩa vô thường. Ở đấy, ý nghĩa khổ não là gì? Ý nghĩa ép buộc là ý nghĩa khổ não, ý nghĩa áp bức, ý nghĩa chấn động, ý nghĩa bệnh hoạn là ý nghĩa khổ não; đây là ý nghĩa khổ não. Ở đấy, ý nghĩa rỗng không là gì? Ý nghĩa không bị nhiễm bẩn là ý nghĩa rỗng không, ý nghĩa không cộng tác, ý nghĩa đã rời đi, ý nghĩa xoay vần trở lại là ý nghĩa rỗng không; đây là ý nghĩa rỗng không. Ở đấy, ý nghĩa vô ngã là gì? Ý nghĩa không có quyền uy là ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa không vận hành sự điều khiển, ý nghĩa không làm được như ý muốn, ý nghĩa đã được tách rời là ý nghĩa vô ngã; đây là ý nghĩa vô ngã.
Lãnh vực thứ sáu - Tóm Lược Ý Nghĩa của Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
60. Buddhānaṃ bhagavantānaṃ sāsanaṃ tividhena saṅgahaṃ gacchati, khandhesu dhātūsu āyatanesu ca. Tattha pañcakkhandhā rūpakkhandho yāva viññāṇakkhandho. Dasa rūpaāyatanāni cakkhu rūpā ca yāva kāyo phoṭṭhabbā ca, ayaṃ rūpakkhandho. Tattha cha vedanākāyā vedanākkhandho cakkhusamphassajā vedanā yāva manosamphassajā vedanā, ayaṃ vedanākkhandho. Tattha cha saññākāyā saññākkhandho, rūpasaññā yāva dhammasaññā ime cha saññākāyā, ayaṃ saññākkhandho. Tattha cha cetanākāyā saṅkhārakkhandho, rūpasañcetanā yāva dhammasañcetanā ime cha cetanākāyā, ayaṃ saṅkhārakkhandho. Tattha cha viññāṇakāyā viññāṇakkhandho, cakkhuviññāṇaṃ yāva manoviññāṇaṃ ime cha viññāṇakāyā, ayaṃ viññāṇakkhandho. Ime pañcakkhandhā.
60. The teaching of the Blessed Buddhas is comprised in three ways: in the aggregates, the elements, and the sense bases. Therein, the five aggregates are: the form aggregate up to the consciousness aggregate. The ten form-bases—the eye and forms up to the body and tangible objects—this is the form aggregate. Therein, the six bodies of feeling are the feeling aggregate: feeling born of eye-contact up to feeling born of mind-contact—this is the feeling aggregate. Therein, the six bodies of perception are the perception aggregate: perception of forms up to perception of mental phenomena—these are the six bodies of perception; this is the perception aggregate. Therein, the six bodies of volition are the formations aggregate: volition regarding forms up to volition regarding mental phenomena—these are the six bodies of volition; this is the formations aggregate. Therein, the six bodies of consciousness are the consciousness aggregate: eye-consciousness up to mind-consciousness—these are the six bodies of consciousness; this is the consciousness aggregate. These are the five aggregates.
60. Giáo pháp của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, được thâu nhiếp theo ba cách: trong các uẩn, trong các giới, và trong các xứ. Ở đó, có năm uẩn: sắc uẩn cho đến thức uẩn. Mười sắc xứ: nhãn và sắc cho đến thân và xúc. Đây là sắc uẩn. Ở đó, sáu thân thọ là thọ uẩn: thọ sanh từ nhãn xúc cho đến thọ sanh từ ý xúc. Đây là thọ uẩn. Ở đó, sáu thân tưởng là tưởng uẩn: sắc tưởng cho đến pháp tưởng. Đây là sáu thân tưởng. Đây là tưởng uẩn. Ở đó, sáu thân tư là hành uẩn: sắc tư cho đến pháp tư. Đây là sáu thân tư. Đây là hành uẩn. Ở đó, sáu thân thức là thức uẩn: nhãn thức cho đến ý thức. Đây là sáu thân thức. Đây là thức uẩn. Đây là năm uẩn.
Tesaṃ kā pariññā? Aniccaṃ dukkhaṃ saññā anattāti esā etesaṃ pariññā. Tattha katamo khandhattho? Samūhattho khandhattho, puñjattho khandhattho, rāsattho khandhattho. Taṃ yathā dabbakkhandho vanakkhandho dārukkhandho aggikkhandho udakakkhandho vāyukkhandho iti evaṃ khandhesu sabbasaṅgahova evaṃ khandhattho.
What is their full understanding? Their full understanding is this: impermanence, suffering, perception, and non-self. This is their full understanding. Therein, what is the meaning of 'aggregate'? The meaning of 'aggregate' is 'collection,' the meaning of 'aggregate' is 'heap,' the meaning of 'aggregate' is 'mass.' For example: a collection of substances, a collection of forest, a pile of wood, a mass of fire, a body of water, or a mass of wind. Thus, in the aggregates, the meaning of 'aggregate' is complete inclusion.
Sự liễu tri về chúng là gì? (Sự liễu tri) rằng: ‘Tưởng là vô thường, khổ, vô ngã,’ đó là sự liễu tri về chúng. Ở đây, nghĩa của uẩn là gì? Nghĩa là nhóm lại là nghĩa của uẩn, nghĩa là đống là nghĩa của uẩn, nghĩa là khối là nghĩa của uẩn. Ví như: đống vật chất, lùm cây, đống củi, khối lửa, khối nước, khối gió. Như vậy, trong các uẩn, sự thâu nhiếp tất cả chính là nghĩa của uẩn.
Tattha aṭṭhārasa dhātuyo cakkhudhātu rūpadhātu cakkhuviññāṇadhātu…pe… manodhātu dhammadhātu manoviññāṇadhātu. Etāyo aṭṭhārasa dhātuyo. Tāsaṃ pariññā aniccaṃ dukkhaṃ saññā anattāti esā etāsaṃ pariññā. Tattha ko dhātuattho? Vuccate avayavattho dhātuattho. Avayavoti cakkhu no pasādo cakkhudhātu. Evaṃ pañcasu dhātūsu puna rāgavavacchedattho dhātuattho. Vavacchinnā hi cakkhudhātu. Evaṃ pañcasu punarāha ekantipakatyatthena dhātuatthoti vuccate. Taṃ yathā, pakatiyā ayaṃ puriso pittiko semhiko vātiko sannipātikoti evaṃ pakaticakkhudhātu dasannaṃ piyā ca sabbesu indriyesu…pe… visabhāgattho dhātuattho.
Therein, the eighteen elements are: the eye element, the form element, the eye-consciousness element… up to… the mind element, the mental-object element, and the mind-consciousness element. These are the eighteen elements. Their full understanding is this: impermanence, suffering, perception, and non-self. This is their full understanding. Therein, what is the meaning of 'element'? It is said the meaning of 'element' is 'component.' As for 'component,' the sensitivity of the eye is the eye element. So it is for the five elements. Again, the meaning of 'element' is 'the cutting off of craving,' for the eye element is distinct. So it is for the five. Again, it is said that the meaning of 'element' is 'inherent nature.' Just as, by nature, this person is bilious, phlegmatic, windy, or of mixed humors—so too, the eye element by nature... among all the faculties… up to… the meaning of 'element' is 'dissimilarity'.
Ở đây, mười tám giới là: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới... cho đến... ý giới, pháp giới, ý thức giới. Đó là mười tám giới. Sự liễu tri về chúng là (sự liễu tri) rằng: ‘Tưởng là vô thường, khổ, vô ngã,’ đó là sự liễu tri về chúng. Ở đây, nghĩa của giới là gì? Được nói rằng: nghĩa là thành phần là nghĩa của giới. Thành phần là: thần kinh nhãn của mắt là nhãn giới. Tương tự đối với năm giới. Lại nữa, nghĩa là đoạn trừ tham ái là nghĩa của giới. Vì nhãn giới đã được phân định. Tương tự đối với năm giới. Lại nữa, được nói rằng: nghĩa của giới là theo nghĩa tự tánh. Ví như: ‘Người này theo tự tánh là người có đàm, có mật, có gió, có sự hỗn hợp.’ Tương tự như vậy, nhãn giới có tự tánh... trong tất cả các căn... cho đến... nghĩa là khác biệt là nghĩa của giới.
Tattha dvādasāyatanāni katamāni? Cha ajjhattikāni cha bāhirāni. Cakkhāyatanaṃ yāva manāyatananti ajjhattikaṃ, rūpāyatanaṃ yāva dhammāyatananti bāhiraṃ. Etāni dvādasa āyatanāni. Etesaṃ kā pariññā? Aniccaṃ dukkhaṃ saññā anattāti, esā etesaṃ pariññā. Api ca dvidhā pariññā ñātapariññā ca pahānapariññā ca. Tattha ñātapariññā nāma aniccaṃ dukkhaṃ saññā anattāti, esā ñātapariññā. Pahānapariññā pana chandarāgappahānā, esā pahānapariññā. Tattha katamo āyatanattho? Vuccate ākārattho āyatanattho. Yathā suvaṇṇākaro dubbaṇṇākaro, yathā dvīhi tehi ākārehi te te gāvā uttiṭṭhanti. Evaṃ etehi cittacetasikā gāvā uttiṭṭhanti kammakilesā dukkhadhammā ca. Punarāha āyadānattho āyatanattho. Yathā rañño āyadānehi āyo bhavati, evaṃ āyadānattho āyatanattho.
Therein, what are the twelve sense bases? Six internal and six external. The eye base up to the mind base are internal; the form base up to the mental-phenomena base is external. These are the twelve sense bases. What is their full understanding? Their full understanding is this: impermanence, suffering, perception, and non-self. This is their full understanding. Moreover, full understanding is twofold: full understanding as knowledge and full understanding as abandoning. Therein, full understanding as knowledge is this: impermanence, suffering, perception, and non-self. This is full understanding as knowledge. Full understanding as abandoning, however, is the abandonment of desire and lust. This is full understanding as abandoning. Therein, what is the meaning of 'āyatana'? It is said the meaning of 'āyatana' is 'source.' Just as there is a source of gold and a source of base metals, and just as from those two sources those various cows stand, so from these sense bases do the cows that are mind and mental states stand; and kamma, defilements, and phenomena of suffering also stand. Again, it is said that the meaning of 'āyatana' is 'source of revenue.' Just as a king's income arises from sources of revenue, so the meaning of 'āyatana' is 'source of revenue'.
Ở đây, mười hai xứ là gì? Sáu nội xứ và sáu ngoại xứ. Nhãn xứ cho đến ý xứ là nội xứ; sắc xứ cho đến pháp xứ là ngoại xứ. Đó là mười hai xứ. Sự liễu tri về chúng là gì? (Sự liễu tri) rằng: ‘Tưởng là vô thường, khổ, vô ngã,’ đó là sự liễu tri về chúng. Hơn nữa, liễu tri có hai loại: biến tri và đoạn tri. Ở đây, biến tri là (sự liễu tri) rằng: ‘Tưởng là vô thường, khổ, vô ngã,’ đó là biến tri. Còn đoạn tri là sự đoạn trừ dục tham, đó là đoạn tri. Ở đây, nghĩa của xứ là gì? Được nói rằng: nghĩa là nơi phát sinh là nghĩa của xứ. Ví như mỏ vàng, mỏ kim loại xấu; ví như từ hai nơi phát sinh ấy mà những con bò kia sinh khởi. Tương tự như vậy, từ những xứ này mà những con bò là tâm và tâm sở sinh khởi, và cả nghiệp, phiền não, và các pháp khổ đau nữa. Lại nữa, nghĩa là nơi thu thuế là nghĩa của xứ. Ví như thuế của vua phát sinh từ những nơi thu thuế, tương tự như vậy, nghĩa là nơi thu thuế là nghĩa của xứ.
61. Cattāri ariyasaccāni dukkhaṃ samudayo nirodho maggo ca. Dukkhaṃ yathā samāsena dhammācariyaṃ mānasañca, samudayo samāsena avijjā ca taṇhā ca, nirodho samāsena vijjā ca vimutti ca, maggo samāsena samatho ca vipassanā ca.
61. The Four Noble Truths are: suffering, the origin, cessation, and the path. Suffering, in brief, is conduct in the Dhamma and mind; the origin, in brief, is ignorance and craving; cessation, in brief, is knowledge and liberation; the path, in brief, is serenity and insight.
61. Bốn Thánh đế là: khổ, tập, diệt, và đạo. Khổ, nói tóm lại, là sự thực hành pháp và tâm. Tập, nói tóm lại, là vô minh và ái. Diệt, nói tóm lại, là minh và giải thoát. Đạo, nói tóm lại, là chỉ và quán.
Tattha sattatiṃsa bodhipakkhikā dhammā katame? Cattāro satipaṭṭhānā yāva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, evamete sattatiṃsa bodhipakkhikā dhammā. Ye dhammā atītānāgatapaccuppannānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ paccekabuddhānaṃ sāvakānaṃ ca nibbānāya saṃvattantīti, so maggo cattāro satipaṭṭhānā. Katame cattāro? Idha bhikkhu kāye kāyānupassī viharati, sammappadhānaṃ…pe… iddhipādaṃ…pe… indriyāni…pe… balāni…pe… tattha ko indriyattho? Indattho indriyattho, ādhipateyyattho indriyattho, pasādattho indriyattho, asādhāraṇaṃ kassa kiriyattho indriyattho anavapariyattho balattho, thāmattho balattho, upādāyattho balattho, upatthambhanattho balattho.
Herein, what are the thirty-seven factors of enlightenment? The four establishments of mindfulness up to the Noble Eightfold Path—these are the thirty-seven factors of enlightenment. Those qualities that conduce to the Nibbāna of the Buddhas, Blessed Ones, Paccekabuddhas, and disciples of the past, future, and present—that is the path. The establishments of mindfulness are four. What are the four? Here, a monk dwells contemplating the body in the body... the right strivings... the bases for psychic potency... the faculties... the powers... Herein, what is the meaning of 'faculty'? 'Lordship' is the meaning of 'faculty'; 'sovereignty' is the meaning of 'faculty'; 'clarity' is the meaning of 'faculty'; 'uncommon action' is the meaning of 'faculty'. 'Exertion' is the meaning of 'power'; 'strength' is the meaning of 'power'; 'supporting' is the meaning of 'power'.
Ở đây, ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề là gì? Bốn niệm xứ cho đến Thánh đạo tám ngành, như vậy đó là ba mươi bảy pháp trợ Bồ-đề. Những pháp nào đưa đến Niết-bàn cho các vị Phật, Thế Tôn, Độc Giác Phật, và các vị Thinh văn, đó là đạo, là bốn niệm xứ. Bốn là gì? Ở đây, vị Tỳ-khưu sống, quán thân trên thân, chánh cần... cho đến... thần túc... cho đến... các căn... cho đến... các lực... Ở đây, nghĩa của căn là gì? Nghĩa là làm chủ là nghĩa của căn, nghĩa là thống trị là nghĩa của căn, nghĩa là trong sáng là nghĩa của căn, nghĩa là hành động riêng biệt của cái gì đó là nghĩa của căn. Nghĩa là không lùi bước là nghĩa của lực, nghĩa là sức mạnh là nghĩa của lực, nghĩa là nâng đỡ là nghĩa của lực, nghĩa là hỗ trợ là nghĩa của lực.
Tattha katame satta bojjhaṅgā? Satisambojjhaṅgo yāva upekkhāsambojjhaṅgo. Tattha katamo aṭṭhaṅgiko maggo? Sammādiṭṭhi yāva sammāsamādhi. Tattha aṭṭhaṅgiko maggoti khandho sīlakkhandho ca samādhikkhandho ca paññākkhandho ca. Tattha yā ca sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo, ayaṃ sīlakkhandho. Yā ca sammāsati yo ca sammāvāyāmo yo ca sammāsamādhi, ayaṃ samādhikkhandho. Yo ca sammāsaṅkappo yā ca sammādiṭṭhi, ayaṃ paññākkhandho. Evaṃ tāyo tisso sikkhā. Evaṃ tīhākārehi dasa padāni…pe….
Herein, what are the seven enlightenment factors? The enlightenment factor of mindfulness up to the enlightenment factor of equanimity. Herein, what is the Eightfold Path? Right view up to right concentration. Herein, the Eightfold Path has three aggregates: the aggregate of virtue, the aggregate of concentration, and the aggregate of wisdom. Therein, right speech, right action, and right livelihood—this is the aggregate of virtue. Right mindfulness, right effort, and right concentration—this is the aggregate of concentration. Right intention and right view—this is the aggregate of wisdom. Thus, these are the three trainings. Thus, in three aspects, there are ten terms… and so on.
Ở đây, bảy giác chi là gì? Niệm giác chi cho đến xả giác chi. Ở đây, đạo tám ngành là gì? Chánh kiến cho đến chánh định. Ở đây, đạo tám ngành là ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, và tuệ uẩn. Trong đó, chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng, đây là giới uẩn. Chánh niệm, chánh tinh tấn, và chánh định, đây là định uẩn. Chánh tư duy và chánh kiến, đây là tuệ uẩn. Như vậy, đó là ba học. Như vậy, với ba phương diện này, có mười mục...
Tattha yogāvacaro sīlakkhandhe ṭhito dosaṃ akusalaṃ na upādiyati, dosānusayaṃ samūhanati, dosasallaṃ uddharati, dukkhavedanaṃ parijānāti, kāmadhātuṃ samatikkamati. Samādhikkhandhe ṭhito lobhaṃ akusalaṃ na upādiyati, rāgānusayaṃ samūhanati, lobhasallaṃ uddharati, sukhavedanaṃ parijānāti, rūpadhātuṃ samatikkamati. Paññākkhandhe ṭhito mohaṃ akusalaṃ na upādiyati, avijjānusayaṃ samūhanati, mohasallaṃ diṭṭhisallañca uddharati, adukkhamasukhavedanaṃ parijānāti, arūpadhātuṃ samatikkamati. Iti tīhi khandhehi tīṇi akusalamūlāni na upādiyati, cattāri sallāni uddharati, tisso vedanā parijānāti, tedhātukaṃ samatikkamati.
Herein, a practitioner, established in the aggregate of virtue, does not cling to unwholesome aversion, eradicates the underlying tendency to aversion, extracts the dart of aversion, fully understands painful feeling, and transcends the sense-sphere. Established in the aggregate of concentration, one does not cling to unwholesome greed, eradicates the underlying tendency to lust, extracts the dart of greed, fully understands pleasant feeling, and transcends the form sphere. Established in the aggregate of wisdom, one does not cling to unwholesome delusion, eradicates the underlying tendency to ignorance, extracts the dart of delusion and the dart of views, fully understands neither-painful-nor-pleasant feeling, and transcends the formless sphere. Thus, by means of these three aggregates, one does not cling to the three unwholesome roots, one extracts the four darts, one fully understands the three feelings, and one transcends the three spheres.
Ở đây, hành giả đứng vững trong giới uẩn, không chấp thủ sân là bất thiện, nhổ lên tùy miên sân, rút ra mũi tên sân, liễu tri khổ thọ, vượt qua Dục giới. Đứng vững trong định uẩn, không chấp thủ tham là bất thiện, nhổ lên tùy miên tham, rút ra mũi tên tham, liễu tri lạc thọ, vượt qua Sắc giới. Đứng vững trong tuệ uẩn, không chấp thủ si là bất thiện, nhổ lên tùy miên vô minh, rút ra mũi tên si và mũi tên tà kiến, liễu tri bất khổ bất lạc thọ, vượt qua Vô sắc giới. Như vậy, với ba uẩn, vị ấy không chấp thủ ba bất thiện căn, rút ra bốn mũi tên, liễu tri ba thọ, vượt qua ba cõi.
62. Tattha katamā avijjā? Yaṃ catūsu ariyasaccesu aññāṇanti vitthārena yathā so pāṇasajjesu kathaṃkathā kātabbaṃ. Tattha katamaṃ viññāṇaṃ? Cha viññāṇakāyā vedanā saññā cetanā phasso manasikāro, idaṃ nāmaṃ. Tattha katamaṃ rūpaṃ? Cātumahābhūtikaṃ catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyarūpassa paññattiṃ. Iti purimakañca nāmaṃ idañca rūpaṃ tadubhayaṃ nāmarūpanti vuccati. Tattha chaḷāyatananti cha ajjhattikāni āyatanāni, cakkhu ajjhattikaṃ āyatanaṃ yāva mano ajjhattikaṃ āyatanaṃ. Phassoti cha phassakāyā cakkhusamphasso yāva manosamphassoti phasso. Cha vedanākāyā vedanā. Taṇhāti cha taṇhākāyā taṇhā. Upādānanti cattāri upādānāni kāmupādānaṃ diṭṭhupādānaṃ sīlabbatupādānaṃ attavādupādānanti upādānaṃ. Bhavoti tayo bhavā kāmabhavo rūpabhavo arūpabhavo. Tattha katamā jāti? Yā paṭhamaṃ khandhānaṃ paṭhamaṃ dhātūnaṃ paṭhamaṃ āyatanānaṃ uppatti jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo, ayaṃ jāti. Tattha katamā jarā? Jarā nāma yaṃ taṃ khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā pavivittaṃ catunnaṃ mahābhūtānaṃ vivaṇṇataṃ bhaggo taṃ jarā hīyanā pahīyanā āyuno hāni saṃhāni indriyānaṃ paribhedo upanāho paripāko, ayaṃ jarā. Tattha katamaṃ maraṇaṃ? Maraṇaṃ nāma yaṃ tasmiṃ tasmiṃ sattanikāye tesaṃ tesaṃ sattānaṃ cuti cavanatā maraṇaṃ kālaṅkiriyā uddhumātakānaṃ bhedo kāyassa jīvitindriyassa upacchedo, idaṃ maraṇaṃ. Iti purimikā ca jarā idañca maraṇaṃ tadubhayaṃ jarāmaraṇaṃ.
62. Herein, what is ignorance? It is ignorance concerning the four noble truths, to be understood in detail. Herein, what is consciousness? The six groups of consciousness, feeling, perception, volition, contact, and attention—this is 'name.' Herein, what is form? The four great elements and the designation of form derived from the four great elements. Thus, the preceding 'name' and this 'form' are together called 'name-and-form.' Herein, the six sense bases are the six internal sense bases: the eye as an internal sense base up to the mind as an internal sense base. Contact is the six groups of contact: eye-contact up to mind-contact is contact. Feeling is the six groups of feeling. Craving is the six groups of craving. Clinging is the four kinds of clinging: clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rules and observances, and clinging to a doctrine of self. Becoming is the three kinds of becoming: sensual becoming, form becoming, and formless becoming. Herein, what is birth? The initial arising of the aggregates, the initial arising of the elements, the initial arising of the sense bases; birth, complete birth, descent, coming-to-be, the manifestation of the aggregates—this is birth. Herein, what is aging? Aging is that which is decrepitude, grayness of hair, and wrinkled skin; the separation, discoloration, and breaking of the four great elements—that is aging. It is waning and decline, the decrease and complete decrease of the life-span, the impairment, constriction, and decay of the faculties—this is aging. Herein, what is death? For the various beings in the various orders of beings, it is their passing away, their falling away, decease, the breaking up of the body, the cutting off of the life faculty—this is death. Thus, the preceding aging and this death are together called 'aging-and-death'.
62. Trong đó, vô minh là gì? Sự không biết trong bốn Thánh đế, nên được trình bày chi tiết như sự hoài nghi trong các bộ phận của sinh vật. Trong đó, thức là gì? Sáu thân thức, thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đây là danh. Trong đó, sắc là gì? Bốn đại chủng và sự biểu thị của sắc do nương vào bốn đại chủng. Như vậy, danh đã nói trước và sắc này, cả hai được gọi là danh sắc. Trong đó, sáu xứ là sáu nội xứ: mắt là nội xứ cho đến ý là nội xứ. Xúc là sáu thân xúc: nhãn xúc cho đến ý xúc là xúc. Sáu thân thọ là thọ. Ái là sáu thân ái. Thủ là bốn thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ là thủ. Hữu là ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Trong đó, sanh là gì? Sự sanh khởi đầu tiên của các uẩn, sự sanh khởi đầu tiên của các giới, sự sanh khởi đầu tiên của các xứ, sự phát sanh, sự sanh, sự nhập thai, sự hiện hữu, sự xuất hiện của các uẩn, đây là sanh. Trong đó, già là gì? Già là sự rụng răng, tóc bạc, da nhăn, sự tách rời, sự biến đổi màu sắc, sự gãy vỡ của bốn đại chủng, đó là già; sự suy giảm, sự suy thoái, sự hao tổn, sự tiêu hao của tuổi thọ, sự hư hoại, sự căng thẳng, sự chín muồi của các căn, đây là già. Trong đó, chết là gì? Chết là sự di chuyển, sự biến mất, sự chết, sự mệnh chung của các chúng sanh trong mỗi loài chúng sanh ấy, sự tan rã của thân thể của những kẻ sình trương, sự đoạn tuyệt của mạng căn, đây là chết. Như vậy, già đã nói trước và chết này, cả hai là già-chết.
Tattha andhakāratimisā yathābhūtaṃ appajānanalakkhaṇā avijjā saṅkhārānaṃ padaṭṭhānaṃ ha. Abhisaṅkharaṇalakkhaṇā saṅkhārā, upacayapunabbhavābhiropanapaccupaṭṭhānā. Te viññāṇassa padaṭṭhānaṃ. Vatthu saviññattilakkhaṇaṃ viññāṇaṃ, taṃ nāmarūpassa padaṭṭhānaṃ. Anekasannissayalakkhaṇaṃ nāmarūpaṃ, taṃ saḷāyatanassa padaṭṭhānaṃ. Indriyavavatthāpanalakkhaṇaṃ saḷāyatanaṃ, taṃ phassassa padaṭṭhānaṃ. Sannipātalakkhaṇo phasso, so vedanāya padaṭṭhānaṃ. Anubhavanalakkhaṇā vedanā, sā taṇhāya padaṭṭhānaṃ. Ajjhosānalakkhaṇā taṇhā, sā upādānassa padaṭṭhānaṃ. Ādānaparihananalakkhaṇaṃ upādānaṃ, taṃ bhavassa padaṭṭhānaṃ. Nānāgativikkhepalakkhaṇo bhavo, so jātiyā padaṭṭhānaṃ. Khandhānaṃ pātubhāvalakkhaṇā jāti, sā jarāya padaṭṭhānaṃ. Upanayaparipākalakkhaṇā jarā, sā maraṇassa padaṭṭhānaṃ. Āyukkhayajīvitauparodhalakkhaṇaṃ maraṇaṃ, taṃ dukkhassa padaṭṭhānaṃ. Kāyasampīḷanalakkhaṇaṃ dukkhaṃ, taṃ domanassassa padaṭṭhānaṃ. Cittasampīḷanalakkhaṇaṃ domanassaṃ, taṃ sokassa padaṭṭhānaṃ. Socanalakkhaṇo soko, so paridevassa padaṭṭhānaṃ. Vacīnicchāraṇalakkhaṇo paridevo, so upāyāsassa padaṭṭhānaṃ. Ye āyāsā te upāyāsā.
Herein, ignorance, like darkness and gloom, is characterized by not knowing things as they actually are; it is the proximate cause for volitional formations. Volitional formations are characterized by forming; they manifest as accumulating and projecting into renewed existence. They are the proximate cause for consciousness. Consciousness is characterized by cognizing with a basis; it is the proximate cause for name-and-form. Name-and-form is characterized by having multiple supports; it is the proximate cause for the six sense bases. The six sense bases are characterized by the establishment of the sense faculties; they are the proximate cause for contact. Contact is characterized by coming together; it is the proximate cause for feeling. Feeling is characterized by being experienced; it is the proximate cause for craving. Craving is characterized by attachment; it is the proximate cause for clinging. Clinging is characterized by taking up and holding on; it is the proximate cause for becoming. Becoming is characterized by dispersal into various destinations; it is the proximate cause for birth. Birth is characterized by the manifestation of the aggregates; it is the proximate cause for aging. Aging is characterized by leading on and ripening; it is the proximate cause for death. Death is characterized by the exhaustion of the life-span and the obstruction of the life faculty; it is the proximate cause for suffering. Suffering is characterized by bodily affliction; it is the proximate cause for displeasure. Displeasure is characterized by mental affliction; it is the proximate cause for sorrow. Sorrow is characterized by grieving; it is the proximate cause for lamentation. Lamentation is characterized by verbal utterance; it is the proximate cause for despair. Those tribulations are despair.
Trong đó, vô minh có đặc tính không biết đúng như thật, như bóng tối mịt mù, là nhân gần của các hành. Các hành có đặc tính tạo tác, có sự biểu hiện là tích lũy và đưa đến tái sanh. Chúng là nhân gần của thức. Thức có đặc tính nhận biết đối tượng, nó là nhân gần của danh sắc. Danh sắc có đặc tính nương tựa lẫn nhau, nó là nhân gần của sáu xứ. Sáu xứ có đặc tính phân định các căn, nó là nhân gần của xúc. Xúc có đặc tính hội tụ, nó là nhân gần của thọ. Thọ có đặc tính cảm nhận, nó là nhân gần của ái. Ái có đặc tính đắm nhiễm, nó là nhân gần của thủ. Thủ có đặc tính chấp giữ và nắm chặt, nó là nhân gần của hữu. Hữu có đặc tính phân tán vào các cõi khác nhau, nó là nhân gần của sanh. Sanh có đặc tính làm xuất hiện các uẩn, nó là nhân gần của già. Già có đặc tính dẫn đến (cái chết) và chín muồi, nó là nhân gần của chết. Chết có đặc tính làm cạn kiệt tuổi thọ và ngăn chặn mạng sống, nó là nhân gần của khổ. Khổ có đặc tính bức bách thân, nó là nhân gần của ưu. Ưu có đặc tính bức bách tâm, nó là nhân gần của sầu. Sầu có đặc tính sầu muộn, nó là nhân gần của bi. Bi có đặc tính phát ra lời nói (than khóc), nó là nhân gần của não. Những gì là mệt nhọc, đó là não.
Nava padāni yattha sabbo akusalapakkho saṅgahaṃ samosaraṇaṃ gacchati. Katamāni nava padāni? Dve mūlakilesā, tīṇi akusalamūlāni, cattāro vipallāsā. Tattha dve mūlakilesā avijjā ca bhavataṇhā ca, tīṇi akusalamūlāni lobho doso moho ca. Cattāro vipallāsā † – ‘‘anicce nicca’’nti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso, ‘‘dukkhe sukha’’nti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso, ‘‘anattani attā’’ti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso, ‘‘asubhe subha’’nti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
There are nine terms wherein the entire unwholesome side is included and comprised. What are the nine terms? Two root defilements, three unwholesome roots, and four perversions. Herein, the two root defilements are ignorance and craving for existence. The three unwholesome roots are greed, aversion, and delusion. The four perversions are: the perversion of perception, the perversion of mind, and the perversion of view that what is impermanent is permanent; that what is suffering is pleasure; that what is non-self is self; and that what is unattractive is attractive.
Có chín nền tảng nơi mà toàn bộ phe bất thiện được thu nhiếp và hội tụ. Chín nền tảng là gì? Hai phiền não gốc, ba gốc bất thiện, bốn điên đảo. Trong đó, hai phiền não gốc là vô minh và hữu ái; ba gốc bất thiện là tham, sân, và si. Bốn điên đảo là: trong cái vô thường (cho là) thường, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo; trong khổ (cho là) vui, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo; trong vô ngã (cho là) ngã, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo; trong bất tịnh (cho là) tịnh, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
63. Tattha avijjā nāma catūsu ariyasaccesu yathābhūtaṃ aññāṇaṃ, ayaṃ avijjā. Bhavataṇhā nāma yo bhavesu rāgo sārāgo icchā mucchā patthanā nandī ajjhosānaṃ apariccāgo, ayaṃ bhavataṇhā.
63. Herein, what is called ignorance is not knowing the four noble truths as they actually are; this is ignorance. What is called craving for existence is the lust for existences, strong lust, desire, infatuation, aspiration, delight, clinging, and non-relinquishment; this is craving for existence.
63. Trong đó, gọi là vô minh là sự không biết đúng như thật trong bốn Thánh đế, đây là vô minh. Gọi là hữu ái là sự tham ái, sự đắm say, sự mong muốn, sự mê muội, sự nguyện cầu, sự vui thích, sự đắm nhiễm, sự không từ bỏ trong các cõi hữu, đây là hữu ái.
Tattha katamo lobho akusalamūlaṃ?
Herein, what is greed, the unwholesome root?
Trong đó, tham là gốc bất thiện nào?
Lobho nāma so tesu tesu paravatthūsu paradabbesu paraṭṭhānesu parasāpateyyesu parapariggahitesu lobho lubbhanā icchā mucchā patthanā nandī ajjhosānaṃ apariccāgo, ayaṃ lobho akusalamūlaṃ. Kassetaṃ mūlaṃ? Lobho lobhajassa akusalassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa ca, tathā yathā taṃsampayuttānaṃ cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ.
That which is called greed is this: in regard to the various belongings of others, the property of others, the places of others, the wealth of others, and the possessions taken up by others, whatever greed, covetousness, desire, infatuation, longing, delight, clinging, and non-relinquishment there is—this is greed, an unwholesome root. Of what is this the root? Greed is the root of unwholesome bodily, verbal, and mental action born of greed, and likewise of the associated mental states, mind and mental factors.
Gọi là tham đó là sự tham lam, sự thèm muốn, sự mong muốn, sự mê muội, sự nguyện cầu, sự vui thích, sự đắm nhiễm, sự không từ bỏ đối với các vật của người khác, tài sản của người khác, địa vị của người khác, của cải của người khác, những thứ đã được người khác sở hữu; đây là tham, gốc bất thiện. Nó là gốc của cái gì? Tham là gốc của thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp bất thiện sanh từ tham, và cũng là gốc của các pháp tâm và tâm sở tương ưng với chúng.
Tattha katamo doso akusalamūlaṃ?
Herein, what is the unwholesome root that is hatred?
Trong đó, sân là gốc bất thiện nào?
So sattesu āghāto akkhanti appaccayo byāpādo padoso anatthakāmatā cetaso paṭighāto, ayaṃ doso akusalamūlaṃ.
It is animosity towards beings, impatience, displeasure, ill will, anger, desire for their harm, and mental repulsion; this is hatred, an unwholesome root.
Sân đó là sự oán hận, sự không kham nhẫn, sự không tin tưởng, sự sân hận, sự phẫn nộ, sự mong muốn điều bất lợi, sự va chạm của tâm đối với chúng sanh; đây là sân, gốc bất thiện.
Kassetaṃ mūlaṃ?
Of what is this the root?
Nó là gốc của cái gì?
Dosajassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa sampayuttānañca cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ.
It is the root of bodily, verbal, and mental action born of hatred, and of the associated mental states, mind and mental factors.
(Nó là) gốc của thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp sanh từ sân, và của các pháp tâm và tâm sở tương ưng.
Tattha katamo moho akusalamūlaṃ?
Herein, what is the unwholesome root that is delusion?
Trong đó, si là gốc bất thiện nào?
Yaṃ catūsu ariyasaccesu anabhisamayo asampajjaggāho appaṭivedho moho muyhanā sammoho sammuyhanā avijjā tamo andhakāro āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ chadanaṃ acchadanaṃ † apasacchāgamanaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ, ayaṃ moho akusalamūlaṃ.
Whatever non-comprehension of the four noble truths, failure to grasp, non-penetration, delusion, bewilderment, confusion, great bewilderment, ignorance, darkness, gloom, obstruction, hindrance, concealment, improper concealment, and turning away from wholesome states there is—this is delusion, an unwholesome root.
Sự không thấu suốt, không nắm bắt trọn vẹn, không liễu ngộ nào trong bốn Thánh đế, sự si mê, sự mê muội, sự si mê mãnh liệt, sự mê muội mãnh liệt, vô minh, bóng tối, sự tối tăm, sự che lấp, triền cái, sự che đậy, sự che đậy xấu xa, sự đi đến chỗ từ bỏ nào đối với các pháp thiện, sự si mê này là căn bất thiện.
Kassetaṃ mūlaṃ?
Of what is this the root?
Nó là gốc rễ của cái gì?
Mohajassa akusalassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa ca taṃsampayuttakānañca cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ.
It is the root of unwholesome bodily action, verbal action, and mental action born of delusion, and of the associated states of mind and mental factors.
(Nó) là căn của thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp bất thiện sanh từ si, và của các pháp tâm và tâm sở tương ưng với chúng.
Tattha vipallāsā jānitabbā, vipallāsānaṃ vatthu jānitabbaṃ. Yaṃ vipallāsaṃ siyā, taṃ jānitabbaṃ. Tattha eko vipallāso tīṇi vipallāsāni cattāri vipallāsavatthūni. Katamo eko vipallāso ca, yena paṭipakkhena vipallāsitaṃ gaṇhāti?
Herein, the perversions are to be known; the basis of the perversions is to be known. Whatever might be a perversion, that is to be known. Herein, there is one perversion, three perversions, and four bases of perversion. And what is the one perversion, by which one grasps in a perverted, contrary way?
Ở đây, các điên đảo tưởng nên được biết, đối tượng của các điên đảo tưởng nên được biết. Cái gì có thể là điên đảo tưởng, điều đó nên được biết. Ở đây, có một điên đảo tưởng, ba điên đảo tưởng, bốn đối tượng của điên đảo tưởng. Và thế nào là một điên đảo tưởng, mà qua đó người ta nắm bắt một cách điên đảo, trái ngược (với thực tại)?
‘‘Anicce nicca’’nti, ‘‘dukkhe sukha’’nti, ‘‘anattani attā’’ti, ‘‘asubhe subha’’nti, ayaṃ eko vipallāso.
That the impermanent is permanent, that what is suffering is pleasure, that what is non-self is self, and that the unattractive is attractive—this is the one perversion.
Trong cái vô thường (cho là) thường; trong cái khổ (cho là) lạc; trong cái vô ngã (cho là) ngã; trong cái bất tịnh (cho là) tịnh. Đây là một điên đảo tưởng.
Katamāni cattāri vipallāsavatthūni?
What are the four bases of perversion?
Bốn đối tượng của điên đảo tưởng là gì?
Kāyo vedanā cittaṃ dhammā ca. Imāni cattāri vipallāsavatthūni.
The body, feelings, mind, and mental objects. These are the four bases of perversion.
Thân, thọ, tâm, và các pháp. Đây là bốn đối tượng của điên đảo tưởng.
Katamāni tīṇi vipallāsāni?
What are the three perversions?
Ba điên đảo tưởng là gì?
Saññā cittaṃ diṭṭhi ca. Imāni tīṇi vipallāsāni.
Perception, mind, and view. These are the three perversions.
Tưởng, tâm, và kiến. Đây là ba điên đảo tưởng.
Tattha manāpike vatthumhi indriyavatthe vaṇṇāyatane vā yo nimittassa uggāho, ayaṃ saññāvipallāso. Tattha viparītacittassa vatthumhi sati viññatti, ayaṃ cittavipallāso. Tattha viparītacittassa tamhi rūpe ‘‘asubhe subha’’nti yā khanti ruci upekkhanā nicchayo diṭṭhi nidassanaṃ santīraṇā, ayaṃ diṭṭhivipallāso. Tattha vatthubhedena kāyesu dvādasa vipallāsā bhavanti. Tayo kāye tayo vedanāya tayo citte tayo dhamme, cattāro saññāvipallāsā cattāro cittavipallāsā cattāro diṭṭhivipallāsā, āyatanūpacayato cakkhuviññāṇasaññāsamaṅgissa rūpesu dvādasa vipallāsā yāva mano saññāsamaṅgissa, dhammesu dvādasa vipallāsā cha dvādasakā cattāri vipallāsā bhavanti. Ārammaṇanānattato hi aparimitasaṅkheyyānaṃ sattānaṃ † aparimitamasaṅkheyyā vipallāsā bhavanti hīnukkaṭṭhamajjhimatāya.
Herein, in regard to a pleasing object, at the sense faculty as basis or at the form base, whatever grasping of the sign there is, this is the perversion of perception. Herein, when there is a basis for a perverted mind, the cognizing is the perversion of mind. Herein, for one with a perverted mind, in regard to that form, whatever approval, liking, regard, decision, view, viewing, and investigation that 'the unattractive is attractive' there is, this is the perversion of view. Herein, by division of the bases, twelve perversions arise: three in the body, three in feelings, three in the mind, and three in dhammas. Thus there are four perversions of perception, four perversions of mind, and four perversions of view. By way of the accumulation of sense bases, for one endowed with perception associated with eye-consciousness, there are twelve perversions in regard to forms, and so on up to one endowed with perception associated with mind-consciousness, there are twelve perversions in regard to dhammas. There are six sets of twelve perversions. Indeed, due to the diversity of objects, for limitless, innumerable beings, there are limitless, innumerable perversions, depending on whether they are inferior, superior, or middling.
Ở đây, sự nắm bắt tướng trong một đối tượng khả ái, trong đối tượng của giác quan, hoặc trong sắc xứ, đó là tưởng điên đảo. Ở đây, khi có đối tượng, sự biểu tri của tâm bị điên đảo, đó là tâm điên đảo. Ở đây, đối với người có tâm bị điên đảo, sự kham nhẫn, sự ưa thích, sự xả, sự quyết định, tà kiến, sự chỉ rõ, sự thẩm xét nào về sắc ấy rằng 'trong cái bất tịnh là tịnh', đó là kiến điên đảo. Ở đây, do sự khác biệt của đối tượng, có mười hai điên đảo tưởng phát sinh. Ba trong thân, ba trong thọ, ba trong tâm, ba trong pháp; bốn tưởng điên đảo, bốn tâm điên đảo, bốn kiến điên đảo. Do sự tích tập của các xứ, đối với người có nhãn thức và tưởng, có mười hai điên đảo tưởng trong các sắc; cho đến người có ý và tưởng, có mười hai điên đảo tưởng trong các pháp. Có sáu nhóm mười hai, (như vậy) có bốn loại điên đảo tưởng. Thật vậy, do sự đa dạng của đối tượng, đối với vô lượng vô số chúng sanh, có vô lượng vô số điên đảo tưởng, do sự hạ liệt, ưu thắng, và trung bình.
64. Tattha pañcakkhandhā cattāri attabhāvavatthūni bhavanti. Yo rūpakkhandho, so kāyo attabhāvavatthu. Yo vedanākkhandho, so vedanā attabhāvavatthu. Yo saññākkhandho ca saṅkhārakkhandho ca, te dhammā attabhāvavatthu. Yo viññāṇakkhandho, so cittaṃ attabhāvavatthu. Iti pañcakkhandhā cattāri attabhāvavatthūni. Tattha kāye ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso bhavati. Evaṃ vedanāsu…pe… citte…pe… dhammesu ca attavipallāso bhavati. Tattha catunnaṃ vipallāsānaṃ samugghātanatthaṃ bhagavā cattāro satipaṭṭhāne deseti paññapeti kāye kāyānupassī viharato ‘‘asubhe subha’’nti vipallāsaṃ samugghāteti, evaṃ vedanāsu, citte, dhammesu ca kātabbaṃ.
64. Herein, the five aggregates become the four bases for the sense of self. The form aggregate is the body, a base for the sense of self. The feeling aggregate is feelings, a base for the sense of self. The perception aggregate and the formations aggregate are dhammas, a base for the sense of self. The consciousness aggregate is the mind, a base for the sense of self. Thus the five aggregates are the four bases for the sense of self. Herein, with regard to the body, the perversion of 'the unattractive as attractive' occurs. Similarly, with regard to feelings, mind, and dhammas, the perversion of self occurs. For the purpose of eradicating the four perversions, the Blessed One teaches and makes known the four establishments of mindfulness. By dwelling contemplating the body in the body, one eradicates the perversion of 'the unattractive as attractive.' The same should be done with regard to feelings, mind, and dhammas.
64. Ở đây, năm uẩn trở thành bốn đối tượng của tự thể. Sắc uẩn nào, đó là thân, đối tượng của tự thể. Thọ uẩn nào, đó là thọ, đối tượng của tự thể. Tưởng uẩn và hành uẩn nào, chúng là các pháp, đối tượng của tự thể. Thức uẩn nào, đó là tâm, đối tượng của tự thể. Như vậy, năm uẩn là bốn đối tượng của tự thể. Ở đây, trong thân, điên đảo tưởng 'trong cái bất tịnh là tịnh' phát sinh. Tương tự, trong các thọ... trong tâm... và trong các pháp, ngã điên đảo tưởng phát sinh. Ở đây, để nhổ bật bốn điên đảo tưởng, Đức Thế Tôn thuyết giảng và chế định bốn niệm xứ. Người sống quán thân trong thân nhổ bật điên đảo tưởng 'trong cái bất tịnh là tịnh'; tương tự, cần phải thực hành đối với các thọ, tâm, và các pháp.
Tattha andhakāratimisā appaṭivedhalakkhaṇā avijjā, tassā vipallāsapadaṭṭhānaṃ. Ajjhosānalakkhaṇā taṇhā, tassā piyarūpasātarūpaṃ padaṭṭhānaṃ. Attāsayavañcanālakkhaṇo lobho, tassa adinnādānaṃ padaṭṭhānaṃ. Idha vivādalakkhaṇo doso, tassa pāṇātipāto padaṭṭhānaṃ. Vatthuvippaṭipattilakkhaṇo moho, tassa micchāpaṭipatti padaṭṭhānaṃ. Saṅkhatānaṃ dhammānaṃ avināsaggahaṇalakkhaṇā niccasaññā, tassā sabbasaṅkhārā padaṭṭhānaṃ. Sāsavaphassopagamanalakkhaṇā sukhasaññā, tassā mamaṅkāro padaṭṭhānaṃ. Dhammesu upagamanalakkhaṇā attasaññā, tassā ahaṅkāro padaṭṭhānaṃ. Vaṇṇasaṅgahaṇalakkhaṇā subhasaññā, tassā indriyaasaṃvaro padaṭṭhānaṃ. Etehi navahi padehi uddiṭṭhehi sabbo akusalapakkho niddiṭṭho bhavati, so ca kho bahussutena sakkā jānituṃ no appassutena, paññavatā no duppaññena, yuttena no ayuttena.
Herein, ignorance has the characteristic of non-penetration, like darkness and gloom; its proximate cause is perversion. Craving has the characteristic of attachment; its proximate cause is what is dear and agreeable. Greed has the characteristic of deceiving for one’s own purpose; its proximate cause is taking what is not given. Here, hatred has the characteristic of conflict; its proximate cause is the destruction of life. Delusion has the characteristic of wrong practice in regard to things; its proximate cause is wrong practice. The perception of permanence has the characteristic of grasping conditioned things as indestructible; its proximate cause is all conditioned phenomena. The perception of pleasure has the characteristic of resorting to tainted contact; its proximate cause is the making of 'mine.' The perception of self has the characteristic of laying claim to phenomena; its proximate cause is the making of 'I.' The perception of attractiveness has the characteristic of grasping at appearance; its proximate cause is non-restraint of the sense faculties. By these nine terms that have been pointed out, the entire unwholesome side is explained. This can be known by one who is learned, not by one of little learning; by one with wisdom, not by one with poor wisdom; by one who is diligent, not by one who is not.
Ở đây, vô minh có đặc tính là sự tối tăm mờ mịt, không liễu ngộ; nhân cần thiết của nó là điên đảo tưởng. Ái có đặc tính là nuốt chửng; nhân cần thiết của nó là sắc khả ái, sắc khả ý. Tham có đặc tính là lừa dối theo ý muốn của mình; nhân cần thiết của nó là lấy của không cho. Sân có đặc tính là tranh cãi ở đời này; nhân cần thiết của nó là sát sanh. Si có đặc tính là thực hành sai lạc đối với đối tượng; nhân cần thiết của nó là tà hạnh. Thường tưởng có đặc tính là nắm bắt các pháp hữu vi như là không hoại diệt; nhân cần thiết của nó là tất cả các hành. Lạc tưởng có đặc tính là đi đến xúc hữu lậu; nhân cần thiết của nó là ngã sở mạn. Ngã tưởng có đặc tính là đi đến (chấp thủ) trong các pháp; nhân cần thiết của nó là ngã mạn. Tịnh tưởng có đặc tính là nắm bắt tướng sắc; nhân cần thiết của nó là không phòng hộ các căn. Bởi chín mục đã được chỉ ra này, toàn bộ phe bất thiện được trình bày. Và điều đó có thể được biết bởi người đa văn, không phải bởi người ít nghe; bởi người có trí tuệ, không phải bởi người liệt tuệ; bởi người hợp lý, không phải bởi người phi lý.
Nava padāni kusalāni yattha sabbo kusalapakkho saṅgaho samosaraṇaṃ gacchanti. Katamāni nava padāni? Samatho vipassanā alobho adoso amoho aniccasaññā dukkhasaññā anattasaññā asubhasaññā ca.
There are nine wholesome terms wherein the entire wholesome side is included and comprised. What are the nine terms? Serenity, insight, non-greed, non-hatred, non-delusion, the perception of impermanence, the perception of suffering, the perception of non-self, and the perception of unattractiveness.
Có chín mục thiện, nơi mà toàn bộ phe thiện được bao gồm và quy tụ. Chín mục đó là gì? Chỉ, quán, vô tham, vô sân, vô si, vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng, và bất tịnh tưởng.
Tattha katamo samatho? Yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti ṭhānaṃ paṭṭhānaṃ upaṭṭhānaṃ samādhi samādhānaṃ avikkhepo avippaṭisāro vūpasamo mānaso ekaggaṃ cittassa, ayaṃ samatho.
Herein, what is serenity? It is the mind's standing, firm standing, steady standing, standing, establishing, presence, concentration, composure, non-distraction, non-remorse, mental calming, and one-pointedness of mind; this is serenity.
Ở đây, thế nào là chỉ? Sự đứng vững, sự an trụ, sự kiên trụ, sự trụ, sự thiết lập, sự hiện diện, định, sự định tĩnh, sự không tán loạn, sự không hối tiếc, sự an tịnh của tâm, sự nhất tâm của tâm nào, đó là chỉ.
Tattha katamā vipassanā? Khandhesu vā dhātūsu vā āyatanesu vā nāmarūpesu vā paṭiccasamuppādesu vā paṭiccasamuppannesu vā dhammesu dukkhesu vā samudayesu vā nirodhe vā magge vā kusalākusalesu vā dhammesu sāvajjaanavajjesu vā kaṇhasukkesu vā sevitabbaasevitabbesu vā so yathābhūtaṃ vicayo pavicayo vīmaṃsā paravīmaṃsā gāhanā aggāhanā pariggāhanā cittena paricitanā tulanā upaparikkhā ñāṇaṃ vijjā vā cakkhu buddhi medhā paññā obhāso āloko ābhā pabhā khaggo nārāco † dhammavicayasambojjhaṅgo sammādiṭṭhi maggaṅgaṃ, ayaṃ vipassanā. Tenesā vipassanā iti vuccati vividhā vā esā vipassanāti, tasmā esā vipassanāti vuccati. Dvidhā cesā hi vipassanā dhammavipassanāti vuccati, dvidhā imāya passati subhañca asubhañca kaṇhañca sukkañca sevitabbañca asevitabbañca kammañca vipākañca bandhañca vimokkhañca ācayañca apacayañca pavattiñca nivattiñca saṃkilesañca vodānañca, evaṃ vipassanāti vuccati. Atha vā viiti upasaggo passanāti attho tasmā vipassanāti vuccate, ayaṃ vipassanā.
Herein, what is insight? With regard to the aggregates, or the elements, or the sense bases, or name-and-form, or dependent origination, or dependently arisen phenomena, or the truths of suffering, its origin, its cessation, and the path, or wholesome and unwholesome states, or blameworthy and blameless states, or dark and bright states, or states to be cultivated and not to be cultivated—whatever, in accordance with reality, is investigation, thorough investigation, examination, supreme examination, grasping, supreme grasping, comprehensive grasping, discrimination by mind, comparison, close examination, knowledge, true knowledge, the eye of wisdom, understanding, swift wisdom, wisdom, radiance, light, splendor, brilliance, the sword of wisdom, the arrow of wisdom, the enlightenment factor of investigation of phenomena, and the path factor of right view, this is insight. Therefore, this is called insight. Or, since this insight is manifold, it is called insight. Indeed, this insight, being twofold as impermanence and suffering, is called insight into phenomena. By means of this, one sees in two ways: the beautiful and the ugly; the dark and the bright; what should be cultivated and what should not be cultivated; action and its result; bondage and liberation; accumulation and dissipation; continuance and discontinuance; defilement and purification. Thus it is called insight. Alternatively, 'vi' is a prefix and 'passanā' means 'seeing'; therefore it is called 'vipassanā'. This is insight.
Trong ấy, thế nào là minh sát? Hoặc trong các uẩn, hoặc trong các giới, hoặc trong các xứ, hoặc trong danh sắc, hoặc trong các pháp duyên khởi, hoặc trong các pháp được duyên khởi, hoặc trong các pháp khổ, hoặc trong các pháp tập, hoặc trong diệt, hoặc trong đạo, hoặc trong các pháp thiện và bất thiện, hoặc trong các pháp có tội và không có tội, hoặc trong các pháp đen và trắng, hoặc trong các pháp nên thực hành và không nên thực hành, sự thẩm xét, sự thẩm xét chi tiết, sự tìm hiểu, sự tìm hiểu sâu sắc, sự nắm bắt, sự nắm bắt cao độ, sự thấu triệt, sự phân biệt, sự cân nhắc, sự xem xét kỹ lưỡng, tri kiến, minh, hoặc mắt, trí, tuệ, trí tuệ, ánh sáng, quang minh, hào quang, rực rỡ, thanh gươm, mũi tên, trạch pháp giác chi, chánh kiến đạo chi phần, đây là minh sát. Do đó, nó được gọi là minh sát. Hoặc minh sát này có nhiều loại, do đó nó được gọi là minh sát. Minh sát này có hai loại, được gọi là pháp minh sát. Bằng minh sát này, người ta thấy hai loại: tịnh và bất tịnh, đen và trắng, nên thực hành và không nên thực hành, nghiệp và quả, trói buộc và giải thoát, tích tập và tiêu trừ, nhiễm ô và thanh tịnh. Như vậy, nó được gọi là minh sát. Hoặc, 'vi' là một tiếp đầu ngữ, 'passanā' có nghĩa là thấy, do đó được gọi là minh sát. Đây là minh sát.
65. Tattha dve rogā sattānaṃ avijjā ca bhavataṇhā ca, etesaṃ dvinnaṃ rogānaṃ nighātāya bhagavatā dve bhesajjāni vuttāni samatho ca vipassanā ca. Imāni dve bhesajjāni paṭisevento dve aroge sacchikaroti rāgavirāgaṃ cetovimuttiṃ avijjāvirāgañca paññāvimuttiṃ. Tattha taṇhārogassa samatho bhesajjaṃ, rāgavirāgā cetovimutti arogaṃ. Avijjārogassa vipassanābhesajjaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti arogaṃ. Evañhi bhagavā cāha, ‘‘dve dhammā pariññeyyā † nāmañca rūpañca, dve dhammā pahātabbā avijjā ca bhavataṇhā ca, dve dhammā bhāvetabbā samatho ca vipassanā ca, dve dhammā sacchikātabbā vijjā ca vimutti cā’’ti. Tattha samathaṃ bhāvento rūpaṃ parijānāti, rūpaṃ parijānanto taṇhaṃ pajahati, taṇhaṃ pajahanto rāgavirāgā cetovimuttiṃ sacchikaroti, vipassanaṃ bhāvento nāmaṃ parijānāti, nāmaṃ parijānanto avijjaṃ pajahati, avijjaṃ pajahanto avijjāvirāgā paññāvimuttiṃ sacchikaroti. Yadā bhikkhuno dve dhammā pariññātā bhavanti nāmañca rūpañca, tathāssa dve dhammā pahīnā bhavanti avijjā ca bhavataṇhā ca. Dve dhammā bhāvitā bhavanti samatho ca vipassanā ca, dve dhammā sacchikātabbā bhavanti vijjā ca vimutti ca. Ettāvatā bhikkhu katakicco bhavati. Esā sopādisesā nibbānadhātu. Tassa āyupariyādānā jīvitindriyassa uparodhā idañca dukkhaṃ nirujjhati, aññañca dukkhaṃ na uppajjati. Tattha yo imesaṃ khandhānaṃ dhātuāyatanānaṃ nirodho vūpasamo aññesañca khandhadhātuāyatanānaṃ appaṭisandhi apātubhāvo, ayaṃ anupādisesā nibbānadhātu.
65. Herein, beings have two diseases: ignorance and craving for existence. To counteract these two diseases, the Blessed One has taught two remedies: serenity and insight. By applying these two remedies, one realizes two states of health: liberation of mind through dispassion for lust and liberation by wisdom through dispassion for ignorance. Herein, serenity is the remedy for the disease of craving, and liberation of mind through dispassion for lust is the state of health. Insight is the remedy for the disease of ignorance, and liberation by wisdom through dispassion for ignorance is the state of health. Thus, the Blessed One has said: 'Two things are to be fully understood: name and form. Two things are to be abandoned: ignorance and craving for existence. Two things are to be developed: serenity and insight. Two things are to be realized: knowledge and liberation.' Herein, one who develops serenity fully understands form. By fully understanding form, one abandons craving. By abandoning craving, one realizes liberation of mind through dispassion for lust. One who develops insight fully understands name. By fully understanding name, one abandons ignorance. By abandoning ignorance, one realizes liberation by wisdom through dispassion for ignorance. When a monk has fully understood the two things—name and form—then for him, the two things—ignorance and craving for existence—are abandoned. The two things—serenity and insight—are developed. The two things—knowledge and liberation—are realized. To this extent, the monk has done what had to be done. This is the Nibbāna-element with residue remaining. With the exhaustion of his life-span and the cessation of his life-faculty, this suffering ceases, and no further suffering arises. Herein, the cessation and pacification of these aggregates, elements, and sense bases, and the non-reappearance of other aggregates, elements, and sense bases—this is the Nibbāna-element without residue remaining.
65. Trong ấy, có hai thứ bệnh của chúng sanh: vô minh và hữu ái. Để tiêu trừ hai thứ bệnh này, Đức Thế Tôn đã thuyết hai loại thuốc: chỉ và quán. Người thực hành hai loại thuốc này chứng ngộ được hai sự không bệnh: tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh. Trong đó, chỉ là thuốc cho bệnh ái, tâm giải thoát do ly tham là sự không bệnh. Minh sát là thuốc cho bệnh vô minh, tuệ giải thoát do ly vô minh là sự không bệnh. Vì Đức Thế Tôn đã dạy rằng: "Có hai pháp cần được liễu tri: danh và sắc. Có hai pháp cần được đoạn trừ: vô minh và hữu ái. Có hai pháp cần được tu tập: chỉ và quán. Có hai pháp cần được chứng ngộ: minh và giải thoát." Trong đó, người tu tập chỉ thì liễu tri sắc. Khi liễu tri sắc, vị ấy đoạn trừ ái. Khi đoạn trừ ái, vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát do ly tham. Người tu tập minh sát thì liễu tri danh. Khi liễu tri danh, vị ấy đoạn trừ vô minh. Khi đoạn trừ vô minh, vị ấy chứng ngộ tuệ giải thoát do ly vô minh. Khi vị Tỳ khưu đã liễu tri hai pháp là danh và sắc, khi ấy hai pháp là vô minh và hữu ái của vị ấy đã được đoạn trừ. Hai pháp là chỉ và quán đã được tu tập. Hai pháp là minh và giải thoát đã được chứng ngộ. Đến chừng ấy, vị Tỳ khưu đã làm xong việc cần làm. Đây là hữu dư y Niết-bàn giới. Do sự chấm dứt tuổi thọ, sự đoạn diệt của mạng căn, khổ này diệt, và khổ khác không sanh khởi. Trong đó, sự diệt, sự lắng dịu của các uẩn, giới, xứ này, và sự không tái sanh, sự không xuất hiện của các uẩn, giới, xứ khác, đây là vô dư y Niết-bàn giới.
Tattha katamaṃ alobho kusalamūlaṃ? Yaṃdhātuko alobho alubbhanā alubbhitattaṃ anicchā apatthanā akantā anajjhosānaṃ. Ayaṃ alobho kusalamūlaṃ. Kassetaṃ mūlaṃ? Alobhajassa kusalassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa taṃsampayuttānañca cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ. Atha vā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo kusalanti vuccati, so tiṇṇaṃ maggaṅgānaṃ mūlaṃ. Katamesaṃ tiṇṇaṃ, sammāsaṅkappassa sammāvāyāmassa sammāsamādhissa ca imesaṃ mūlanti, tasmā kusalamūlanti vuccati.
Herein, what is the wholesome root of non-greed? Whatever is non-greed by nature, non-coveting, the state of being ungreedy, non-desire, non-longing, non-delighting, and non-indulgence. This is the wholesome root of non-greed. Of what is this the root? It is the root of wholesome bodily action, verbal action, and mental action born of non-greed, and of their associated mind and mental factors. Alternatively, the Noble Eightfold Path is called wholesome, and this non-greed is the root of three path factors. Of which three? Of right intention, right effort, and right concentration. It is the root of these; therefore, it is called a wholesome root.
Trong đó, thế nào là vô tham thiện căn? Bất cứ bản chất nào là vô tham, không tham đắm, trạng thái không tham đắm, không mong muốn, không cầu mong, không ưa thích, không quyến luyến. Đây là vô tham thiện căn. Nó là gốc rễ của cái gì? Nó là gốc rễ của thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thiện phát sinh từ vô tham, và của các pháp tâm và tâm sở tương ưng với chúng. Hoặc, Thánh đạo Tám ngành được gọi là thiện, nó là gốc rễ của ba đạo chi phần. Của ba chi phần nào? Của chánh tư duy, chánh tinh tấn, và chánh định. Nó là gốc rễ của những pháp này, do đó được gọi là thiện căn.
Tattha katamaṃ adoso kusalamūlaṃ? Yā sattesu vā saṅkhāresu vā anaghāto appaṭighāto abyāpatti abyāpādo adoso mettā mettāyanā atthakāmatā hitakāmatā cetaso pasādo, ayaṃ adoso kusalamūlaṃ. Kassetaṃ mūlaṃ? Adosajassa kusalassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa taṃsampayuttānañca cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ. Atha vā tiṇṇaṃ maggaṅgānaṃ mūlaṃ. Katamesaṃ tiṇṇaṃ? Sammāvācāya sammākammantassa sammāājīvassa ca imesaṃ tiṇṇaṃ maggaṅgānaṃ mūlaṃ, tasmā kusalamūlanti vuccati.
Herein, what is the wholesome root of non-hatred? Whatever, toward beings or formations, is non-affliction, non-resistance, freedom from adversity, non-ill-will, non-hatred, loving-kindness, the state of loving-kindness, wishing for their welfare, wishing for their benefit, and clarity of mind—this is the wholesome root of non-hatred. Of what is this the root? It is the root of wholesome bodily action, verbal action, and mental action born of non-hatred, and of their associated mind and mental factors. Alternatively, it is the root of three path factors. Of which three? Of right speech, right action, and right livelihood. It is the root of these three path factors; therefore, it is called a wholesome root.
Trong đó, thế nào là vô sân thiện căn? Bất cứ điều gì, hoặc đối với chúng sanh hoặc đối với các pháp hữu vi, là không làm hại, không xung đột, không phiền não, không ác ý, không sân hận, là từ, là tâm từ, là mong muốn lợi ích, là mong muốn hạnh phúc, là sự trong sáng của tâm, đây là vô sân thiện căn. Nó là gốc rễ của cái gì? Nó là gốc rễ của thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thiện phát sinh từ vô sân, và của các pháp tâm và tâm sở tương ưng với chúng. Hoặc, nó là gốc rễ của ba đạo chi phần. Của ba chi phần nào? Của chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng. Nó là gốc rễ của ba đạo chi phần này, do đó được gọi là thiện căn.
Tattha katamaṃ amoho kusalamūlaṃ? Yaṃ catūsu ariyasaccesu yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ abhisamayo sammā ca paccāgamo paṭivedho amoho asammuyhanā asammoho vijjāpakāso āloko anāvaraṇaṃ sekkhānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ, ayaṃ amoho kusalamūlaṃ. Kassetaṃ mūlaṃ? Amohajassa kusalassa kāyakammassa vacīkammassa manokammassa taṃsampayuttānañca cittacetasikānaṃ dhammānaṃ mūlaṃ. Atha vā dvinnaṃ maggaṅgānaṃ etaṃ mūlaṃ. Katamesaṃ dvinnaṃ? Sammādiṭṭhiyā ca sammāsatiyā ca imesaṃ dvinnaṃ maggaṅgānaṃ mūlaṃ, tasmā kusalamūlanti vuccati. Evaṃ imesaṃ tīhi kusalamūlehi aṭṭhaṅgiko maggo yojetabbo.
Herein, what is the wholesome root that is non-delusion? That which is the knowledge and vision of the Four Noble Truths as they truly are, realization, proper attainment, penetration, non-delusion, non-confusion, non-bewilderment, true knowledge, manifestation, light, and the non-obstruction of the wholesome states for the trainees—this is the wholesome root that is non-delusion. Of what is this the root? It is the root of wholesome bodily action, verbal action, and mental action born of non-delusion, and of the associated mind and mental factors. Alternatively, this is the root of two path factors. Which two? Of Right View and Right Mindfulness—it is the root of these two path factors. Therefore, it is called a wholesome root. Thus, the eight-factored path should be connected with these three wholesome roots.
Trong đó, thế nào là vô si thiện căn? Bất cứ điều gì là tri kiến như thật trong bốn Thánh đế, sự thấu suốt, sự đạt đến chân chánh, sự chứng ngộ, sự không si mê, trạng thái không si mê, sự hoàn toàn không si mê, minh, sự soi sáng, ánh sáng, sự không che chướng đối với các pháp thiện của bậc hữu học, đây là vô si thiện căn. Nó là gốc rễ của cái gì? Nó là gốc rễ của thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thiện phát sinh từ vô si, và của các pháp tâm và tâm sở tương ưng với chúng. Hoặc, nó là gốc rễ của hai đạo chi phần. Của hai chi phần nào? Của chánh kiến và chánh niệm. Nó là gốc rễ của hai đạo chi phần này, do đó được gọi là thiện căn. Như vậy, Thánh đạo Tám ngành cần được liên kết với ba thiện căn này.
66. Tattha katamā aniccasaññā? ‘‘Sabbe saṅkhārā uppādavayadhammino’’ti ca yā saññā sañjānanā vavatthapanā uggāho, ayaṃ aniccasaññā. Tassā ko nissando? Aniccasaññāya bhāvitāya bahulīkatāya aṭṭhasu lokadhammesu cittaṃ nānusandhati na sandhati na saṇṭhahati, upekkhā vā paṭikkūlatā vā saṇṭhahati, ayamassā nissando.
66. Herein, what is the perception of impermanence? The perception, act of perceiving, determination, and grasping that 'All formations are of the nature of arising and passing away'—this is the perception of impermanence. What is its result? When the perception of impermanence is developed and cultivated, the mind does not connect with, associate with, or stand upon the eight worldly conditions; either equanimity or repulsion is established. This is its result.
66. Trong ấy, thế nào là vô thường tưởng? Tưởng nào, sự nhận biết nào, sự xác định nào, sự nắm bắt nào về việc: "Tất cả các pháp hữu vi đều có sanh diệt là pháp", đây là vô thường tưởng. Kết quả của nó là gì? Khi vô thường tưởng được tu tập, được làm cho sung mãn, tâm không dính mắc, không kết nối, không an trú trong tám pháp thế gian; hoặc xả, hoặc sự nhàm chán được an trú. Đây là kết quả của nó.
Tattha katamā dukkhasaññā? ‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti yā saññā sañjānanā vavatthapanā uggāho, ayaṃ dukkhasaññā. Tassā ko nissando? Dukkhasaññāya bhāvitāya bahulīkatāya ālasse saṃpamāde vimhaye ca cittaṃ nānusandhati na sandhati na saṇṭhahati, upekkhā vā paṭikkūlatā vā saṇṭhahati, ayamassā nissando.
Herein, what is the perception of suffering? The perception, act of perceiving, determination, and grasping that 'All formations are suffering'—this is the perception of suffering. What is its result? When the perception of suffering is developed and cultivated, the mind does not connect with, associate with, or stand upon laziness, negligence, or wonder; either equanimity or repulsion is established. This is its result.
Trong ấy, thế nào là khổ tưởng? Tưởng nào, sự nhận biết nào, sự xác định nào, sự nắm bắt nào về việc: "Tất cả các pháp hữu vi là khổ", đây là khổ tưởng. Kết quả của nó là gì? Khi khổ tưởng được tu tập, được làm cho sung mãn, tâm không dính mắc, không kết nối, không an trú trong sự lười biếng, sự phóng dật, và sự kinh ngạc; hoặc xả, hoặc sự nhàm chán được an trú. Đây là kết quả của nó.
Tattha katamā anattasaññā? ‘‘Sabbesu dhammesu anattā’’ti yā saññā sañjānanā vavatthapanā uggāho, ayaṃ anattasaññā. Tassā ko nissando, anattasaññāya bhāvitāya bahulīkatāya ahaṅkāro cittaṃ nānusandhati na sandhati, mamaṅkāro na saṇṭhahati, upekkhā vā paṭikkūlatā vā saṇṭhahati, ayamassā nissando.
Herein, what is the perception of non-self? The perception, act of perceiving, determination, and grasping that 'In all phenomena there is non-self'—this is the perception of non-self. What is its result? When the perception of non-self is developed and cultivated, the conceit of 'I' does not connect with or associate with the mind, the conceit of 'mine' is not established, and either equanimity or repulsion is established. This is its result.
Trong ấy, thế nào là vô ngã tưởng? Tưởng nào, sự nhận biết nào, sự xác định nào, sự nắm bắt nào về việc: "Trong tất cả các pháp là vô ngã", đây là vô ngã tưởng. Kết quả của nó là gì? Khi vô ngã tưởng được tu tập, được làm cho sung mãn, ngã mạn không dính mắc, không kết nối với tâm, ngã sở mạn không an trú; hoặc xả, hoặc sự nhàm chán được an trú. Đây là kết quả của nó.
Tattha katamā asubhasaññā? ‘‘Satta saṅkhārā asubhā’’ti yā saññā sañjānanā vavatthapanā uggāho, ayaṃ asubhasaññā. Tassā ko nissando? Asubhasaññāya bhāvitāya bahulīkatāya subhanimitte cittaṃ nānusandhati na sandhati na saṇṭhahati, upekkhā vā paṭikkūlatā vā saṇṭhahati, ayamassā nissando.
Herein, what is the perception of the unattractive? The perception, act of perceiving, determination, and grasping that 'The formations of beings are unattractive'—this is the perception of the unattractive. What is its result? When the perception of the unattractive is developed and cultivated, the mind does not connect with, associate with, or stand upon the sign of attractiveness; either equanimity or repulsion is established. This is its result.
Trong ấy, thế nào là bất tịnh tưởng? Tưởng nào, sự nhận biết nào, sự xác định nào, sự nắm bắt nào về việc: "Các pháp hữu vi của chúng sanh là bất tịnh", đây là bất tịnh tưởng. Kết quả của nó là gì? Khi bất tịnh tưởng được tu tập, được làm cho sung mãn, tâm không dính mắc, không kết nối, không an trú trong tịnh tướng; hoặc xả, hoặc sự nhàm chán được an trú. Đây là kết quả của nó.
Tattha pañcannaṃ khandhānaṃ pariññā bhagavatā desitā, yo tattha asubhasaññā rūpakkhandhassa pariññattaṃ, dukkhasaññā vedanākkhandhassa pariññattaṃ, anattasaññā saññākkhandhassa saṅkhārakkhandhassa pariññattaṃ, aniccasaññā viññāṇakkhandhassa pariññattaṃ. Tattha samathena taṇhaṃ samugghāteti, vipassanā avijjaṃ samugghāteti, adosena dosaṃ samugghāteti, amohena mohaṃ samugghāteti, aniccasaññāya niccasaññaṃ samugghāteti, dukkhasaññāya sukhasaññaṃ samugghāteti, anattasaññāya attasaññaṃ samugghāteti, asubhasaññāya subhasaññaṃ samugghāteti.
Herein, the Blessed One has taught the full understanding of the five aggregates. In this context, the perception of unattractiveness is for the full understanding of the form aggregate; the perception of suffering is for the full understanding of the feeling aggregate; the perception of non-self is for the full understanding of the perception aggregate and the formations aggregate; the perception of impermanence is for the full understanding of the consciousness aggregate. Herein, by means of serenity one eradicates craving; by means of insight one eradicates ignorance; by means of non-aversion one eradicates aversion; by means of non-delusion one eradicates delusion; by means of the perception of impermanence one eradicates the perception of permanence; by means of the perception of suffering one eradicates the perception of pleasure; by means of the perception of non-self one eradicates the perception of self; and by means of the perception of unattractiveness one eradicates the perception of attractiveness.
Trong ấy, sự liễu tri năm uẩn đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng. Trong đó, bất tịnh tưởng là sự liễu tri sắc uẩn, khổ tưởng là sự liễu tri thọ uẩn, vô ngã tưởng là sự liễu tri tưởng uẩn và hành uẩn, vô thường tưởng là sự liễu tri thức uẩn. Trong đó, với chỉ, người ấy nhổ bật ái; với quán, người ấy nhổ bật vô minh; với vô sân, người ấy nhổ bật sân; với vô si, người ấy nhổ bật si; với vô thường tưởng, người ấy nhổ bật thường tưởng; với khổ tưởng, người ấy nhổ bật lạc tưởng; với vô ngã tưởng, người ấy nhổ bật ngã tưởng; với bất tịnh tưởng, người ấy nhổ bật tịnh tưởng.
Cittavikkhepapaṭisaṃharaṇalakkhaṇo samatho, tassa jhānāni padaṭṭhānaṃ. Sabbadhammaṃ yathābhūtaṃ paṭivedhalakkhaṇā vipassanā, tassā sabbaneyyaṃ padaṭṭhānaṃ. Icchāpaṭisaṃharaṇalakkhaṇo alobho, tassa adinnādānā veramaṇī padaṭṭhānaṃ. Abyāpādalakkhaṇo adoso, tassa pāṇātipātā veramaṇī padaṭṭhānaṃ. Vatthuappaṭihatalakkhaṇo amoho, tassa sammāpaṭipatti padaṭṭhānaṃ. Saṅkhatānaṃ dhammānaṃ vināsaggahaṇalakkhaṇā aniccasaññā, tassā udayabbayo padaṭṭhānaṃ. Sāsavaphassasañjānanalakkhaṇā dukkhasaññā, tassā vedanā padaṭṭhānaṃ. Sabbadhammaanupagamanalakkhaṇā anattasaññā, tassā dhammasaññā padaṭṭhānaṃ. Vinīlakavipubbakauddhumātakasamuggahaṇalakkhaṇā asubhasaññā, tassā nibbidā padaṭṭhānaṃ. Imesu navasu padesu upadiṭṭhesu sabbo kusalapakkho upadiṭṭho bhavati, so ca bahussutena sakkā jānituṃ no appassutena, paññavatā no duppaññena, yuttena no ayuttenāti.
Serenity has the characteristic of withdrawing the scattered mind; its proximate cause is the jhānas. Insight has the characteristic of penetrating all phenomena as they really are; its proximate cause is all that is to be known. Non-greed has the characteristic of restraining desire; its proximate cause is abstaining from taking what is not given. Non-aversion has the characteristic of non-ill will; its proximate cause is abstaining from killing living beings. Non-delusion has the characteristic of being unobstructed regarding reality; its proximate cause is right practice. The perception of impermanence has the characteristic of apprehending the destruction of conditioned phenomena; its proximate cause is rise and fall. The perception of suffering has the characteristic of recognizing contact that is with the taints; its proximate cause is feeling. The perception of non-self has the characteristic of not approaching any phenomena; its proximate cause is the perception of phenomena. The perception of unattractiveness has the characteristic of apprehending the discolored, the putrid, and the bloated corpse; its proximate cause is disenchantment. When these nine topics are taught, the entire wholesome side is taught. And this can be known by one who is learned, not by one who is unlearned; by one who is wise, not by one who is unwise; by one who is endowed with wisdom, not by one who is not.
Chỉ có đặc tính là sự thu nhiếp tâm tán loạn, các thiền là nhân cần thiết của nó. Quán có đặc tính là sự thâm nhập tất cả các pháp như thật, tất cả những gì cần biết là nhân cần thiết của nó. Vô tham có đặc tính là sự chế ngự dục vọng, sự từ bỏ lấy của không cho là nhân cần thiết của nó. Vô sân có đặc tính là không làm hại, sự từ bỏ sát sanh là nhân cần thiết của nó. Vô si có đặc tính là không bị ngăn ngại đối với thực tại, chánh hạnh là nhân cần thiết của nó. Vô thường tưởng có đặc tính là nắm bắt sự hoại diệt của các pháp hữu vi, sự sanh diệt là nhân cần thiết của nó. Khổ tưởng có đặc tính là nhận biết xúc hữu lậu, thọ là nhân cần thiết của nó. Vô ngã tưởng có đặc tính là không đi đến tất cả các pháp, pháp tưởng là nhân cần thiết của nó. Bất tịnh tưởng có đặc tính là nắm bắt (tử thi) xanh bầm, mưng mủ, sình trướng, sự nhàm chán là nhân cần thiết của nó. Khi chín mục này được chỉ ra, toàn bộ thiện phần được xem là đã được chỉ ra. Và điều đó có thể được biết bởi người đa văn, không phải bởi người ít nghe; bởi người có trí tuệ, không phải bởi người liệt tuệ; bởi người hợp lý, không phải bởi người phi lý.
67. Tattha niccasaññādhimuttassa aparāparaṃ cittaṃ paṇāmento satimapaccavekkhato aniccasaññā na upaṭṭhāti, pañcasu kāmaguṇesu sukhassādādhimuttassa iriyāpathassa agatimapaccavekkhato dukkhasaññā na upaṭṭhāti, khandhadhātuāyatanesu attādhimuttassa nānādhātuanekadhātuvinibbhogamapaccavekkhato anattasaññā na upaṭṭhāti, vaṇṇasaṇṭhānābhiratassa kāye subhādhimuttassa ca vippaṭicchannā asubhasaññā na upaṭṭhāti.
67. Herein, for one who is intent on the perception of permanence, inclining the mind to this and that and not reflecting on mindfulness, the perception of impermanence does not arise. For one who is intent on the pleasant taste of the five strands of sensual desire, not reflecting on the improper movement of the postures, the perception of suffering does not arise. For one who is intent on a self in the aggregates, elements, and sense bases, not reflecting on the analysis into various and manifold elements, the perception of non-self does not arise. For one delighting in appearance and figure and intent on the perception of beauty in the body, the concealed perception of unattractiveness does not arise.
67. Trong ấy, đối với người thiên về thường tưởng, do hướng tâm đây đó và không quán xét niệm, vô thường tưởng không hiện khởi. Đối với người thiên về vị ngọt của lạc trong năm dục trưởng dưỡng, do không quán xét sự bất động của oai nghi, khổ tưởng không hiện khởi. Đối với người thiên về ngã trong các uẩn, giới, và xứ, do không quán xét sự phân chia thành nhiều giới và các giới khác nhau, vô ngã tưởng không hiện khởi. Đối với người ưa thích sắc và hình tướng trong thân và thiên về tịnh, bất tịnh tưởng bị che lấp không hiện khởi.
Avippaṭisāralakkhaṇā saddhā, saddahanā paccupaṭṭhānaṃ. Tassa cattāri sotāpattiyaṅgāni padaṭṭhānaṃ. Evañhi vuttaṃ bhagavatā † saddhindriyaṃ bhikkhave, kuhiṃ daṭṭhabbaṃ, catūsu sotāpattiyaṅgesu kusalesu dhammesu.
Faith has non-regret as its characteristic and trust as its manifestation. Its proximate cause is the four factors of stream-entry. For it was said by the Blessed One: "Monks, where should the faculty of faith be seen? In the four factors of stream-entry, in wholesome states."
Tín có đặc tính là không hối hận, có sự tin tưởng là hiện trạng. Bốn dự lưu chi là nhân cần thiết của nó. Thật vậy, Đức Thế Tôn đã nói như sau: 'Này các Tỳ kheo, tín quyền cần được thấy ở đâu? Trong bốn dự lưu chi là các pháp thiện.'
Sūrāapaṭikkhepanalakkhaṇaṃ vīriyindriyaṃ, vīriyindriyārambho paccupaṭṭhānaṃ. Tassa atītā cattāro sammappadhānā padaṭṭhānaṃ. Yathā vuttaṃ bhagavatā † vīriyindriyaṃ, bhikkhave, kuhiṃ daṭṭhabbaṃ, catūsu sammappadhānesu.
The faculty of energy has the characteristic of not rejecting courage; its manifestation is the instigation of energy. Its proximate cause is the four past right exertions. As the Blessed One said: "Monks, where should the faculty of energy be seen? In the four right exertions."
Tấn quyền có đặc tính là không từ bỏ sự dũng mãnh, có sự khởi đầu tinh tấn là hiện trạng. Bốn chánh cần đã qua là nhân cần thiết của nó. Như đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ kheo, tấn quyền cần được thấy ở đâu? Trong bốn chánh cần.'
Sati saraṇalakkhaṇā, asammohapaccupaṭṭhānā. Tassa atītā cattāro satipaṭṭhānā padaṭṭhānaṃ. Yathā vuttaṃ bhagavatā satindriyaṃ bhikkhave, kuhiṃ daṭṭhabbaṃ, catūsu satipaṭṭhānesu.
Mindfulness has recollection as its characteristic and non-confusion as its manifestation. Its proximate cause is the preceding four foundations of mindfulness. As the Blessed One said: "Monks, where should the faculty of mindfulness be seen? In the four foundations of mindfulness."
Niệm có đặc tính là ghi nhớ, có sự không si mê là hiện trạng. Bốn niệm xứ đã qua là nhân cần thiết của nó. Như đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ kheo, niệm quyền cần được thấy ở đâu? Trong bốn niệm xứ.'
Ekaggalakkhaṇo samādhi, avikkhepapaccupaṭṭhāno, tassa cattāri ñāṇāni padaṭṭhānaṃ. Yathā vuttaṃ bhagavatā samādhindriyaṃ, bhikkhave, kuhiṃ daṭṭhabbaṃ, catūsu jhānesu.
Concentration has the characteristic of one-pointedness; its manifestation is non-distraction, and the four knowledges are its proximate cause. As the Blessed One said: "Monks, where should the faculty of concentration be seen? In the four jhānas."
Định có đặc tính là nhất tâm, có sự không tán loạn là hiện trạng, bốn trí là nhân cần thiết của nó. Như đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ kheo, định quyền cần được thấy ở đâu? Trong bốn thiền.'
Pajānanalakkhaṇā paññā, bhūtatthasantīraṇā paccupaṭṭhānā, tassa cattāri ariyasaccāni padaṭṭhānaṃ. Yathā vuttaṃ bhagavatā † paññindriyaṃ, bhikkhave, kuhiṃ daṭṭhabbaṃ, catūsu ariyasaccesu.
Wisdom has the characteristic of understanding. Its manifestation is thorough investigation of reality. Its proximate cause is the four noble truths. As the Blessed One said: "Monks, where should the faculty of wisdom be seen? In the four noble truths."
Tuệ có đặc tính là trí hiểu, có sự thẩm sát ý nghĩa chân thật là hiện trạng, bốn Thánh đế là nhân cần thiết của nó. Như đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ kheo, tuệ quyền cần được thấy ở đâu? Trong bốn Thánh đế.'
Cattāri cakkāni † patirūpadesavāso cakkaṃ, sappurisūpanissayo cakkaṃ, attasammāpaṇidhānaṃ cakkaṃ, pubbe katapuññatā cakkaṃ. Tattha ariyasannissayalakkhaṇo patirūpadesavāso, so sappurisūpanissayassa padaṭṭhānaṃ. Ariyasannissayalakkhaṇo sappurissūpanissayo, so attasammāpaṇidhānassa padaṭṭhānaṃ. Sammāpaṭipattilakkhaṇaṃ attasammāpaṇidhānaṃ, taṃ puññānaṃ padaṭṭhānaṃ. Kusaladhammopacayalakkhaṇaṃ puññaṃ, taṃ sabbasampattīnaṃ padaṭṭhānaṃ.
The four wheels are: the wheel of residence in a suitable location, the wheel of association with good people, the wheel of rightly directing oneself, and the wheel of having made merit in the past. Herein, residence in a suitable location has the characteristic of being a support for the noble ones, and it is the proximate cause for association with good people. Association with good people has the characteristic of being a support for the noble ones, and it is the proximate cause for rightly directing oneself. Rightly directing oneself has the characteristic of right practice, and it is the proximate cause for merit. Merit has the characteristic of accumulating wholesome states, and it is the proximate cause for all accomplishments.
Bốn bánh xe là: bánh xe sống ở nơi thích hợp, bánh xe thân cận bậc chân nhân, bánh xe tự mình hướng đến điều chân chánh, bánh xe đã tạo công đức từ trước. Trong đó, sống ở nơi thích hợp có đặc tính là nơi nương tựa của bậc Thánh, điều đó là nhân gần của việc thân cận bậc chân nhân. Thân cận bậc chân nhân có đặc tính là nơi nương tựa của bậc Thánh, điều đó là nhân gần của việc tự mình hướng đến điều chân chánh. Tự mình hướng đến điều chân chánh có đặc tính là thực hành chân chánh, điều đó là nhân gần của các công đức. Công đức có đặc tính là sự tích lũy các thiện pháp, điều đó là nhân gần của tất cả các thành tựu.
Ekādasasīlamūlakā dhammā sīlavato avippaṭisāro bhavati…pe… so vimuttiñāṇadassanaṃ ‘‘nāparaṃ itthattāyā’’ti pajānanā. Tattha veramaṇilakkhaṇaṃ sīlaṃ, taṃ avippaṭisārassa padaṭṭhānaṃ. Na attānuvādalakkhaṇo avippaṭisāro, so pāmojjassa padaṭṭhānaṃ. Abhippamodanalakkhaṇaṃ pāmojjaṃ, taṃ pītiyā padaṭṭhānaṃ. Attamanalakkhaṇā pīti, sā passaddhiyā padaṭṭhānaṃ. Kammaniyalakkhaṇā passaddhi, sā sukhassa padaṭṭhānaṃ. Abyāpādalakkhaṇaṃ sukhaṃ, taṃ samādhino padaṭṭhānaṃ. Avikkhepanalakkhaṇo samādhi, so yathābhūtañāṇadassanassa padaṭṭhānaṃ. Aviparītasantīraṇalakkhaṇā paññā, sā nibbidāya padaṭṭhānaṃ anālayanalakkhaṇā nibbidā, sā virāgassa padaṭṭhānaṃ. Asaṃkilesalakkhaṇo virāgo, so vimuttiyā padaṭṭhānaṃ. Akusaladhammavivekalakkhaṇā vimutti, sā vimuttino vodānassa padaṭṭhānaṃ.
There are eleven states rooted in virtue. For the virtuous one, non-remorse arises… up to… he has the knowledge and vision of liberation and understands, "There is nothing further for this state." Herein, virtue has the characteristic of abstaining, which is the proximate cause for non-remorse. Non-remorse has the characteristic of not reproaching oneself, and it is the proximate cause for joy. Joy has the characteristic of great rejoicing, which is the proximate cause for rapture. Rapture has the characteristic of gladdening the mind, which is the proximate cause for tranquility. Tranquility has the characteristic of wieldiness, which is the proximate cause for happiness. Happiness has the characteristic of non-affliction, which is the proximate cause for concentration. Concentration has the characteristic of non-distraction, which is the proximate cause for knowledge and vision of things as they really are. Wisdom has the characteristic of undistorted investigation, which is the proximate cause for disenchantment. Disenchantment has the characteristic of non-attachment, which is the proximate cause for dispassion. Dispassion has the characteristic of non-defilement, which is the proximate cause for liberation. Liberation has the characteristic of seclusion from unwholesome states, which is the proximate cause for purification.
Mười một pháp có giới làm gốc rễ: người có giới có sự không hối tiếc... cho đến... người ấy có sự hiểu biết rằng "không còn việc gì khác phải làm cho mục đích này" là giải thoát tri kiến. Trong đó, giới có đặc tính là sự chế ngự, điều đó là nhân gần của sự không hối tiếc. Sự không hối tiếc có đặc tính là không tự khiển trách mình, điều đó là nhân gần của sự hân hoan. Sự hân hoan có đặc tính là vui mừng tột độ, điều đó là nhân gần của hỷ. Hỷ có đặc tính là sự hài lòng, điều đó là nhân gần của sự khinh an. Sự khinh an có đặc tính là sự dễ sử dụng, điều đó là nhân gần của lạc. Lạc có đặc tính là không có phiền não, điều đó là nhân gần của định. Định có đặc tính là không tán loạn, điều đó là nhân gần của như thật tri kiến. Tuệ có đặc tính là thẩm xét không sai lệch, điều đó là nhân gần của sự nhàm chán. Sự nhàm chán có đặc tính là không quyến luyến, điều đó là nhân gần của sự ly tham. Sự ly tham có đặc tính là không ô nhiễm, điều đó là nhân gần của sự giải thoát. Sự giải thoát có đặc tính là sự tách lìa khỏi các bất thiện pháp, sự giải thoát đó là nhân gần của sự trong sạch.
68. Catasso ariyabhūmiyo cattāri sāmaññaphalāni. Tattha yo yathābhūtaṃ pajānāti, esā dassanabhūmi. Sotāpattiphalañca so yathābhūtaṃ pajānitvā nibbindati, idaṃ tanukāmarāgassa padaṭṭhānaṃ byāpādānaṃ. Sakadāgāmiphalañca saṇhaṃ virajjati, ayaṃ rāgavirāgā cetovimutti. Anāgāmiphalañca yaṃ avijjāvirāgā vimuccati, ayaṃ katābhūmi. Arahattañca sāmaññaphalānīti ko vacanattho, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo sāmaññaṃ, tassetāni phalāni sāmaññaphalānīti vuccati. Kissa brahmaññaphalānīti vuccante? Brahmaññaariyo aṭṭhaṅgiko maggo, tassa tāni phalānīti brahmaññaphalānīti vuccante.
68. There are four noble grounds and four fruits of recluseship. Herein, one who understands things as they really are—this is the ground of vision. And the fruit of stream-entry is that, having understood things as they really are, one becomes disenchanted—this is the proximate cause for the attenuation of sensual desire and ill will. And the fruit of once-returning is that one becomes subtly dispassionate—this is liberation of mind through dispassion for lust. And the fruit of non-returning is that one is liberated through dispassion for ignorance—this is the accomplished ground. And Arahantship. What is the meaning of the term "fruits of recluseship"? The noble eightfold path is recluseship, and these are its fruits; therefore they are called the fruits of recluseship. Why are they called the fruits of brahminhood? The noble eightfold path is brahminhood, and these are its fruits; therefore they are called the fruits of brahminhood.
68. Bốn Thánh địa, bốn Sa-môn quả. Trong đó, vị nào biết như thật, đó là kiến địa. Và quả Dự lưu, vị ấy sau khi biết như thật thì nhàm chán, đây là nhân gần của việc làm muội lược tham ái và sân hận. Và quả Nhất lai, ly tham một cách vi tế, đây là tâm giải thoát do ly tham. Và quả Bất lai, do ly tham khỏi vô minh mà được giải thoát, đây là địa đã được thực hiện. Và quả A-la-hán. Ý nghĩa của từ "Sa-môn quả" là gì? Thánh đạo tám ngành là Sa-môn hạnh, các quả này của đạo ấy được gọi là Sa-môn quả. Tại sao được gọi là Phạm hạnh quả? Thánh đạo tám ngành là Phạm hạnh, các quả ấy của đạo đó được gọi là Phạm hạnh quả.
Tattha sotāpanno kathaṃ hoti? Saha saccābhisamayā ariyasāvakassa tīṇi saṃyojanāni pahīyanti sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāso ca, imesaṃ tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ pahānā parikkhayā ariyasāvako hoti sotāpanno avinipātadhammo yāva dukkhassantaṃ karoti.
Herein, how does one become a stream-enterer? With the breakthrough to the truths, three fetters are abandoned by the noble disciple: identity view, doubt, and clinging to rites and rituals. Through the abandoning and destruction of these three fetters, the noble disciple becomes a stream-enterer, one not subject to downfall, who makes an end of suffering.
Trong đó, làm thế nào để trở thành bậc Dự lưu? Cùng với sự chứng ngộ các chân lý, ba kiết sử của vị Thánh đệ tử được đoạn trừ: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Do sự đoạn trừ, sự tận diệt ba kiết sử này, vị Thánh đệ tử trở thành bậc Dự lưu, có pháp không rơi vào đọa xứ, cho đến khi chấm dứt khổ đau.
Tattha katamā sakkāyadiṭṭhi? Assutavā bālo puthujjano yāva ariyadhamme akovido, so rūpaṃ attato samanupassati yāva viññāṇasmiṃ attānaṃ, so imesu pañcasu khandhesu attaggāho vā attaniyaggāho vā esohamasmi ekasmiṃ vasavattiko † pakkhitto anuggaho anusayanto aṅgamaṅganti parati. Yā tathābhūtassa khanti ruci pekkhanā ākāraparivitakko diṭṭhinijjhāyanā abhippasannā, ayaṃ vuccate sakkāyadiṭṭhīti.
Herein, what is identity view? The uninstructed, foolish worldling, who is unskilled in the Dhamma of the noble ones, regards form as self, up to regarding consciousness as self. In these five aggregates, there is grasping of 'self' or grasping of 'what belongs to self', thinking, 'This I am'. He is under the power of one of these, partisan, favored, with underlying tendencies, and delights in its various parts as his limbs. Whatever approval, inclination, regard, manner of reasoning, contemplation of views, and deep conviction such a one has, this is called identity view.
Trong đó, thân kiến là gì? Kẻ phàm phu ngu si, vô văn, cho đến không thông thạo Thánh pháp, người ấy quán xét sắc là tự ngã, cho đến quán xét thức là tự ngã. Người ấy trong năm uẩn này có sự chấp thủ là tự ngã hoặc là của tự ngã, (cho rằng) "đây là ta", (cho rằng) mình là người có quyền lực, là phe phái, được nâng đỡ, là người đi theo, là các chi phần lớn nhỏ, và hoan hỷ trong đó. Bất cứ sự chấp nhận, sự ưa thích, sự trông đợi, sự suy tư về hình tướng, sự suy xét về tà kiến, sự tín nhiệm nào của người như vậy, đây được gọi là thân kiến.
Tattha pañca diṭṭhiyo ucchedaṃ bhajanti. Katamāyo pañca? Rūpaṃ attato samanupassati, yāva viññāṇaṃ attato samanupassati, imāyo pañca ucchedaṃ bhajanti, avasesāyo pannarasa sassataṃ bhajanti. Iti sakkāyadiṭṭhipahānā dvāsaṭṭhidiṭṭhigatāni pahīyanti. Pahānā ucchedaṃ sassatañca na bhajati. Iti ucchedasassatappahānā ariyasāvakassa na kiñci diṭṭhigataṃ bhavati, aññā vā lokuttarāya sammādiṭṭhiyā. Kathaṃ pana sakkāyadiṭṭhi na bhavati? Idha ariyasāvako sutavā hoti, sabbo sukkapakkho kātabbo, yāva ariyadhammesu kovido rūpaṃ anattato samanupassati, yāva viññāṇaṃ…pe… evamassa samanupassantassa sakkāyadiṭṭhi na bhavati.
Herein, five views incline towards annihilationism. Which five? One regards form as self, up to regarding consciousness as self—these five incline towards annihilationism. The remaining fifteen incline towards eternalism. Thus, with the abandonment of identity view, the sixty-two wrong views are abandoned. By abandoning them, one does not incline towards annihilationism or eternalism. In this way, with the abandonment of annihilationism and eternalism, no wrong view whatsoever arises for the noble disciple, other than the supramundane right view. But how does identity view not arise? Here, the noble disciple is learned—all that pertains to the wholesome side should be done—up to being skilled in the noble teachings. One regards form as not-self, up to regarding consciousness as not-self… In this way, for one who regards things thus, identity view does not arise.
Trong đó, năm tà kiến đi đến đoạn kiến. Năm loại nào? Quán xét sắc là tự ngã, cho đến quán xét thức là tự ngã, năm loại này đi đến đoạn kiến, mười lăm loại còn lại đi đến thường kiến. Như vậy, do đoạn trừ thân kiến, sáu mươi hai tà kiến được đoạn trừ. Do đoạn trừ, vị ấy không đi đến đoạn kiến và thường kiến. Như vậy, do đoạn trừ đoạn kiến và thường kiến, vị Thánh đệ tử không có bất kỳ tà kiến nào, ngoại trừ chánh kiến siêu thế. Nhưng làm thế nào thân kiến không khởi lên? Ở đây, vị Thánh đệ tử là bậc đa văn, tất cả phần thiện pháp cần được thực hiện, cho đến thông thạo các Thánh pháp, quán xét sắc là vô ngã, cho đến thức... cho đến... Đối với người quán xét như vậy, thân kiến không khởi lên.
Kathaṃ vicikicchā na bhavati? Idha ariyasāvako buddhe na kaṅkhati, na vicikicchati abhippasīdati, itipi so bhagavāti sabbaṃ. Dhamme na kaṅkhati na vicikicchati sabbaṃ. Yāva taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānanti, iminā dutiyena ākaṅkhiyena dhammena samannāgato hoti. Saṅghe na kaṅkhati…pe… yāva pūjā devānañca manussānañcāti, iminā tatiyena ākaṅkhiyena dhammena samannāgato hoti.
How does doubt not arise? Here, a noble disciple does not doubt or waver about the Buddha, but is fully confident: "Indeed, the Blessed One is such..." [and so on for all the Buddha's qualities]. They do not doubt or waver about the Dhamma... [and so on for all the Dhamma's qualities] up to the destruction of craving, dispassion, cessation, and Nibbāna—they are endowed with this second desirable quality. They do not doubt or waver about the Saṅgha… [and so on for all the Saṅgha's qualities] up to being worthy of offerings by gods and humans—they are endowed with this third desirable quality.
Làm thế nào hoài nghi không khởi lên? Ở đây, vị Thánh đệ tử không do dự, không hoài nghi, có lòng tịnh tín nơi Đức Phật, (biết) tất cả (ân đức) rằng "Đức Thế Tôn là như vậy...". Không do dự, không hoài nghi nơi Pháp, (biết) tất cả (ân đức). Cho đến (biết) sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn, vị ấy thành tựu pháp đáng mong mỏi thứ hai này. Không do dự nơi Tăng... cho đến... cho đến (biết Tăng) là đối tượng cúng dường của trời và người, vị ấy thành tựu pháp đáng mong mỏi thứ ba này.
Sabbe saṅkhārā dukkhāti na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati abhippasīdati. Taṇhā dukkhasamudayoti na kaṅkhati na vicikicchati. Taṇhānirodhā dukkhanirodhoti na kaṅkhati na vicikicchati. Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo dukkhanirodhagāminī paṭipadāti na kaṅkhati na vicikicchati adhimuccati abhippasīdati. Yāva buddhe vā dhamme vā saṅghe vā dukkhe vā samudaye vā nirodhe vā magge vā kaṅkhāyanā vimati vicikicchā dvedhāpathā āsappanā † parisappanā anavaṭṭhānaṃ adhiṭṭhāgamanaṃ † anekaṃso anekaṃsikatā, te tassa pahīnā bhavanti paṇunnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā.
‘All conditioned formations are suffering’—he does not doubt, is not uncertain; he is resolved and has exceeding confidence. ‘Craving is the origin of suffering’—he does not doubt, is not uncertain. ‘Through the cessation of craving is the cessation of suffering’—he does not doubt, is not uncertain. ‘The Noble Eightfold Path is the practice leading to the cessation of suffering’—he does not doubt, is not uncertain; he is resolved and has exceeding confidence. Whatever doubting, perplexity, uncertainty, being of two minds, groping, fumbling, unsteadiness, indecisiveness, inconclusiveness, or the state of being inconclusive regarding the Buddha, the Dhamma, the Saṅgha, suffering, its origin, its cessation, or the path—these have been abandoned by him, dispelled, uprooted, made like a palm stump, brought to non-existence, so that they have the nature of non-arising in the future.
(Về lời dạy) "Tất cả các hành là khổ", vị ấy không do dự, không hoài nghi, quyết tin, có lòng tịnh tín. (Về lời dạy) "Ái là nguồn gốc của khổ", vị ấy không do dự, không hoài nghi. (Về lời dạy) "Do ái diệt nên khổ diệt", vị ấy không do dự, không hoài nghi. (Về lời dạy) "Thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến khổ diệt", vị ấy không do dự, không hoài nghi, quyết tin, có lòng tịnh tín. Cho đến bất cứ sự do dự, sự phân vân, sự hoài nghi, sự lưỡng lự, sự dao động, sự trăn trở, sự không vững chắc, sự không quyết đoán, sự không chắc chắn, tình trạng không chắc chắn nào về Phật, Pháp, Tăng, Khổ, Tập, Diệt, hay Đạo, những điều ấy đối với vị ấy đã được đoạn trừ, được loại bỏ, được nhổ tận gốc, được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, được làm cho không thể hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai.
69. Tattha sīlabbataparāmāso dvidhā – sīlassa vā suddhassa vā. Tattha sīlassa sīlabbataparāmāso imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā tattha kapotapādāhi accharāhi saddhiṃ kīḷissāmi ramissāmi paricarissāmīti. Yathābhūtadassananti rucivimutti rāgo rāgaparivattakā diṭṭhirūpanā passanā asantussitassa sīlabbataparāmāso. Tattha katamo suddhassa sīlabbataparāmāso? Idhekacco sīlaṃ parāmasati, sīlena sujjhati, sīlena nīyati, sīlena muccati, sukhaṃ vītikkamati, dukkhaṃ vītikkamati, sukhadukkhaṃ vītikkamati anupāpuṇāti uparimena. Tadubhayaṃ sīlavataṃ parāmasati tadubhayena sīlavatena sujjhanti muccanti nīyanti, sukhaṃ vītikkamanti, dukkhaṃ vītikkamanti, sukhadukkhaṃ vītikkamanti, anupāpuṇantīti avisucikaraṃ dhammaṃ avimuttikaraṃ dhammaṃ visucito vimuttito paccāgacchantassa yā tathābhūtassa khanti ruci mutti pekkhanā ākāraparivitakko diṭṭhinijjhāyanā passanā, ayaṃ suddhassa sīlabbataparāmāso. Ete ubho parāmāsā ariyasāvakassa pahīnā bhavanti yāva āyatiṃ anuppādadhammā, so sīlavā bhavati ariyakantehi sīlehi samannāgato akkhaṇḍehi yāva upasamasaṃvattanikehi. Imesaṃ tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ pahānā sutavā ariyasāvako bhavati sotāpanno avinipātadhammo, sabbaṃ.
69. Herein, clinging to precepts and practices is twofold: in regard to morality or in regard to purity. Herein, clinging to precepts and practices in regard to morality is as follows: ‘By this morality or observance or austerity or holy life, I shall become a god or one among the gods, and there I shall play, delight, and be attended by celestial nymphs with dove-like feet.’ For one who is discontented, this clinging to precepts and practices involves not seeing things as they really are, a delight in a false liberation, lust and the perversion of lust, and a perception that is a manifestation of view. Herein, what is clinging to precepts and practices in regard to purity? Here, someone clings to morality, thinking: ‘By morality one is purified; by morality one is led on; by morality one is liberated; one transcends pleasure; one transcends pain; one transcends both pleasure and pain; one sequentially attains the supreme.’ He clings to both morality and observances, thinking: ‘By both morality and observances they are purified, liberated, and led on; they transcend pleasure, transcend pain, transcend both pleasure and pain, and they sequentially attain the supreme.’ For one of such a nature, who regards a practice that does not cause purity as purifying, and a practice that does not cause liberation as liberating, whatever approval, liking, release, consideration, reflection on the mode, view, contemplation, or perception there is—this is the clinging to precepts and practices based on purity. These two kinds of clinging are abandoned by the noble disciple, so that they have the nature of non-arising in the future. He becomes virtuous, endowed with the virtues dear to the noble ones, which are unbroken and conducive to peace. With the abandonment of these three fetters, the instructed noble disciple becomes a stream-enterer, not subject to states of woe. All this should be known.
69. Trong đó, giới cấm thủ có hai loại – hoặc về giới, hoặc về sự thanh tịnh. Trong đó, giới cấm thủ về giới là: ‘Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành chư thiên hoặc một trong các chư thiên, ở đó ta sẽ vui chơi, hoan hỷ, hầu hạ cùng với các tiên nữ có chân như chim bồ câu.’ Cái thấy không như thật là sự ưa thích, sự giải thoát, tham ái, sự xoay vần của tham ái, tà kiến, sự thấy danh sắc của người không biết đủ, đó là giới cấm thủ. Trong đó, thế nào là giới cấm thủ về sự thanh tịnh? Ở đây, có người chấp thủ giới: ‘Nhờ giới mà được thanh tịnh, nhờ giới mà được dẫn dắt, nhờ giới mà được giải thoát, vượt qua khổ, vượt qua lạc, vượt qua khổ lạc, đạt đến quả vị cao hơn.’ Người ấy chấp thủ cả hai loại giới và hạnh. ‘Nhờ cả hai loại giới và hạnh này mà chúng sanh được thanh tịnh, được giải thoát, được dẫn dắt, vượt qua khổ, vượt qua lạc, vượt qua khổ lạc, đạt đến quả vị cao hơn.’ Đối với người quay lại nhận biết pháp không làm cho thanh tịnh, pháp không làm cho giải thoát, là thanh tịnh, là giải thoát, thì sự kham nhẫn, sự ưa thích, sự giải thoát, sự quán xét, sự suy tư về tướng trạng, tà kiến, sự chiêm nghiệm, sự thấy của người như vậy, đây là giới cấm thủ về sự thanh tịnh. Cả hai sự chấp thủ này đã được vị Thánh đệ tử đoạn trừ, cho đến khi chúng trở thành các pháp không sanh khởi trong tương lai. Vị ấy trở thành người có giới, đầy đủ các giới được các bậc Thánh ưa thích, không bị sứt mẻ, cho đến khi dẫn đến sự an tịnh. Do đoạn trừ ba kiết sử này, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở thành bậc Dự lưu, không có pháp bị rơi vào đọa xứ, tất cả.
Sahasaccābhisamayā, iti ko vacanattho? Cattāro abhisamayā, pariññābhisamayo pahānābhisamayo sacchikiriyābhisamayo bhāvanābhisamayo.
‘By the simultaneous realization of the truths’—what is the meaning of this statement? There are four realizations: realization by full understanding, realization by abandoning, realization by direct experience, and realization by development.
Đồng thời liễu ngộ các chân lý, nghĩa của từ này là gì? Có bốn sự liễu ngộ: liễu ngộ bằng sự biến tri, liễu ngộ bằng sự đoạn trừ, liễu ngộ bằng sự chứng ngộ, liễu ngộ bằng sự tu tập.
Tattha ariyasāvako dukkhaṃ pariññābhisamayena abhisameti, samudayaṃ pahānābhisamayena abhisameti, nirodhaṃ sacchikiriyābhisamayena abhisameti, maggaṃ bhāvanābhisamayena abhisameti. Kiṃ kāraṇaṃ? Dukkhassa pariññābhisamayo, samudayassa pahānābhisamayo, nirodhassa sacchikiriyābhisamayo, maggassa bhāvanābhisamayo. Samathavipassanāya kathaṃ abhisameti? Ārammaṇe cittaṃ upanibandhetvā pañcakkhandhe dukkhato passati. Tattha yo upanibandho, ayaṃ samatho. Yā pariyogāhanā, ayaṃ vipassanā. Pañcakkhandhe dukkhāti passato yo pañcakkhandhesu ālayo nikanti upagamanaṃ ajjhosānā icchā mucchā paṇidhi patthanā pahīyati. Tattha pañcakkhandhā dukkhaṃ. Yo tattha ālayo nikanti upagamanaṃ ajjhosānaṃ icchā mucchā paṇidhi patthanā, ayaṃ samudayo. Yaṃ tassa pahānaṃ, so nirodho samatho vipassanā ca maggo, evaṃ tesaṃ catunnaṃ ariyasaccānaṃ ekakāle ekakkhaṇe ekacitte apubbaṃ acarimaṃ abhisamayo bhavati. Tenāha bhagavā ‘‘sahasaccābhisamayā ariyasāvakassa tīṇi saṃyojanāni pahīyantī’’ti.
Herein, a noble disciple realizes suffering through realization by full understanding; he realizes the origin through realization by abandoning; he realizes cessation through realization by direct experience; and he realizes the path through realization by development. For what reason? Because there is the full understanding of suffering, the abandoning of the origin, the direct experience of cessation, and the development of the path. How does one realize by means of serenity and insight? Having bound the mind to an object, one sees the five aggregates as suffering. Herein, that binding is serenity; the thorough investigation is insight. For one who sees the five aggregates as suffering, any attachment, fondness, attraction, clinging, desire, infatuation, aspiration, or longing for the five aggregates is abandoned. Herein, the five aggregates are suffering. That attachment, fondness, attraction, clinging, desire, infatuation, aspiration, or longing for them is the origin. The abandoning of that is cessation. Serenity and insight are the path. Thus, the realization of these Four Noble Truths occurs at one time, in a single moment, in a single mind, not before and not after. Therefore the Blessed One said: ‘Through the simultaneous realization of the truths, three fetters are abandoned by the noble disciple.’”
Trong đó, vị Thánh đệ tử liễu ngộ khổ bằng sự biến tri, liễu ngộ tập bằng sự đoạn trừ, liễu ngộ diệt bằng sự chứng ngộ, liễu ngộ đạo bằng sự tu tập. Nguyên nhân là gì? Sự biến tri về khổ, sự đoạn trừ về tập, sự chứng ngộ về diệt, sự tu tập về đạo. Làm thế nào liễu ngộ bằng chỉ và quán? Sau khi buộc tâm vào đề mục, vị ấy thấy năm uẩn là khổ. Trong đó, sự buộc tâm là chỉ. Sự thâm nhập là quán. Đối với người thấy năm uẩn là khổ, sự ái luyến, sự khao khát, sự gần gũi, sự chấp thủ, sự mong muốn, sự mê đắm, sự ước nguyện, sự cầu mong trong năm uẩn được đoạn trừ. Trong đó, năm uẩn là khổ. Sự ái luyến, sự khao khát, sự gần gũi, sự chấp thủ, sự mong muốn, sự mê đắm, sự ước nguyện, sự cầu mong ở đó, đây là tập. Sự đoạn trừ nó là diệt. Chỉ và quán là đạo. Như vậy, sự liễu ngộ bốn Thánh đế này xảy ra không trước không sau, trong cùng một thời, cùng một sát-na, cùng một tâm. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Do đồng thời liễu ngộ các chân lý, ba kiết sử của vị Thánh đệ tử được đoạn trừ.’
70. Tattha samathavipassanā yuganaddhā vattamānā ekakāle ekakkhaṇe ekacitte cattāri kiccāni karoti, dukkhaṃ pariññābhisamayena abhisameti, yāva maggaṃ bhāvanābhisamayena abhisameti. Kiṃ kāraṇā? Dukkhaṃ pariññābhisamayo, yāva maggaṃ bhāvanābhisamayo. Evaṃ diṭṭhanto yathā nāvā jalaṃ gacchantī cattāri kiccāni karoti, pārimaṃ tīraṃ pāpeti, orimaṃ tīraṃ jahati, bhāraṃ vahati, sotaṃ chindati; evameva samathavipassanā yuganaddhā vattamānā ekakāle ekakkhaṇe ekacitte cattāri kiccāni karoti, dukkhaṃ pariññābhisamayena abhisameti, yāva maggaṃ bhāvanābhisamayena abhisameti. Yathā vā sūriyo udayanto ekakāle apubbaṃ acarimaṃ cattāri kiccāni karoti, andhakāraṃ vidhamati, ālokaṃ pātukaroti, rūpaṃ nidassīyati, sītaṃ pariyādiyati; evameva samathavipassanā yuganaddhā vattamānā ekakāle…pe… yathā padīpo jalanto ekakāle apubbaṃ acarimaṃ cattāri kiccāni karoti, andhakāraṃ vidhamati, ālokaṃ pātukaroti, rūpaṃ nidassīyati, upādānaṃ pariyādiyati; evameva samathavipassanā yuganaddhā vattamānā ekakāle…pe….
70. Herein, serenity and insight, proceeding yoked together, at a single time, in a single moment, with a single mind, perform four functions: they realize suffering through realization by full understanding, up to the path through realization by development. For what reason? Because there is the full understanding of suffering, up to the development of the path. It is as when a boat crossing the water performs four functions: it reaches the far shore, it leaves the near shore, it carries its cargo, and it cuts through the stream. In the same way, serenity and insight, proceeding yoked together, at a single time, in a single moment, with a single mind, perform four functions: they realize suffering through realization by full understanding, up to the path through realization by development. Or it is as when the rising sun, at a single time, not before and not after, performs four functions: it dispels the darkness, it produces light, it makes forms visible, and it overcomes the cold. In the same way, serenity and insight, proceeding yoked together, at a single time… and so on. Or it is as when a burning lamp, at a single time, not before and not after, performs four functions: it dispels the darkness, it produces light, it makes forms visible, and it consumes its fuel. In the same way, serenity and insight, proceeding yoked together, at a single time… and so on.
70. Trong đó, chỉ và quán song hành hiện khởi trong cùng một thời, cùng một sát-na, cùng một tâm, thực hiện bốn phận sự: liễu ngộ khổ bằng sự biến tri, cho đến liễu ngộ đạo bằng sự tu tập. Nguyên nhân là gì? Sự biến tri về khổ, cho đến sự tu tập về đạo. Ví dụ cũng vậy, giống như con thuyền đi trên nước thực hiện bốn phận sự: đưa đến bờ bên kia, rời bờ bên này, chuyên chở hàng hóa, và rẽ dòng nước; cũng vậy, chỉ và quán song hành hiện khởi trong cùng một thời, cùng một sát-na, cùng một tâm, thực hiện bốn phận sự: liễu ngộ khổ bằng sự biến tri, cho đến liễu ngộ đạo bằng sự tu tập. Hoặc giống như mặt trời khi mọc lên, trong cùng một thời, không trước không sau, thực hiện bốn phận sự: xua tan bóng tối, làm cho ánh sáng xuất hiện, làm cho sắc hiện rõ, và làm tan đi cái lạnh; cũng vậy, chỉ và quán song hành hiện khởi trong cùng một thời… vân vân… Giống như ngọn đèn khi cháy sáng, trong cùng một thời, không trước không sau, thực hiện bốn phận sự: xua tan bóng tối, làm cho ánh sáng xuất hiện, làm cho sắc hiện rõ, và tiêu thụ nhiên liệu; cũng vậy, chỉ và quán song hành hiện khởi trong cùng một thời… vân vân….
Yadā ariyasāvako sotāpanno bhavati avinipātadhammo niyato yāva dukkhassantaṃ karoti, ayaṃ dassanabhūmi. Sotāpattiphalañca sotāpattiphale ṭhito uttari samathavipassanaṃ bhāvento yuganaddhā vattamānā kāmarāgabyāpādānaṃ yebhuyyena pahānā ariyasāvako hoti. Sakadāgāmi pariniṭṭhitattā sakideva imaṃ lokaṃ āgantvā dukkhassantaṃ karoti, ayaṃ tanubhūmi.
When a noble disciple becomes a stream-enterer, he is not subject to downfall, is fixed, and makes an end of suffering. This is the ground of vision. And a stream-enterer, established in the fruit of stream-entry, by further developing serenity and insight which proceed yoked together, becomes a once-returner through the attenuation of sensual desire and ill will. Because of having been perfected, he comes to this world only once and makes an end of suffering. This is the ground of attenuation.
Khi vị Thánh đệ tử trở thành bậc Dự lưu, không có pháp rơi vào đọa xứ, chắc chắn cho đến khi chấm dứt khổ, đây là kiến địa. Và vị Dự lưu, an trú trong Dự lưu quả, khi tu tập chỉ và quán cao hơn, do đoạn trừ phần lớn dục ái và sân, vị Thánh đệ tử trở thành bậc Nhất lai. Do đã hoàn thành, vị ấy chỉ trở lại thế gian này một lần duy nhất rồi chấm dứt khổ, đây là bạc địa.
Sakadāgāmiphalañca yo sakadāgāmiphale ṭhito vipassanaṃ bhāvento kāmarāgabyāpāde sānusaye anavasesaṃ pajahati, kāmarāgabyāpādesu anavasesaṃ pahīnesu pañcorambhāgiyāni saṃyojanāni pahīnāni bhavanti sakkāyadiṭṭhi sīlabbataparāmāso vicikicchā kāmacchando byāpādo ca, imesaṃ pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ pahānā † ariyasāvako hoti anāgāmī tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā, ayaṃ vītarāgabhūmi.
And a once-returner, established in the fruit of the once-returner, by developing insight, abandons sensual desire and ill will together with their underlying tendencies without remainder. When sensual desire and ill will have been abandoned without remainder, the five lower fetters are abandoned: identity view, clinging to rules and observances, doubt, sensual desire, and ill will. With the abandonment of these five lower fetters, the noble disciple becomes a non-returner, one who attains final Nibbāna there, not of a nature to return from that world. This is the ground free from lust.
Và quả Nhất lai, vị nào đứng vững trong quả Nhất lai, tu tập minh sát, từ bỏ không còn dư sót tham ái trong cõi Dục và sân hận cùng với tùy miên; khi tham ái trong cõi Dục và sân hận đã được đoạn trừ không còn dư sót, năm hạ phần kiết sử được đoạn trừ, (đó là) thân kiến, giới cấm thủ, hoài nghi, tham dục, và sân hận. Do đoạn trừ năm hạ phần kiết sử này, vị Thánh đệ tử trở thành bậc Bất lai, vị ấy nhập Niết-bàn tại đó, có pháp không trở lại từ cõi ấy. Đây là địa vị ly tham.
Anāgāmiphalañca anāgāmiphale ṭhito uttari samathavipassanaṃ bhāvento pañca uddhambhāgiyāni saṃyojanāni pajahati rūparāgaarūparāgamānauddhaccaavijjañca. Imesaṃ pañcannaṃ uddhambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ pahānā ariyasāvako arahā bhavati, khīṇāsavo vusitavā sammadaññā † vimutto parikkhīṇabhavasaṃyojano anuppattasadattho, ayaṃ katābhūmi.
And a non-returner, established in the fruit of the non-returner, by further developing serenity and insight, abandons the five higher fetters: lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, and ignorance. With the abandonment of these five higher fetters, the noble disciple becomes an Arahant, one whose taints are destroyed, who has lived the holy life, is completely liberated through final knowledge, whose fetters of existence are utterly destroyed, and who has reached his own goal. This is the accomplished ground.
Và quả Bất lai, vị nào đứng vững trong quả Bất lai, tu tập chỉ và quán cao hơn nữa, từ bỏ năm thượng phần kiết sử, (đó là) tham ái trong cõi Sắc, tham ái trong cõi Vô sắc, mạn, trạo cử, và vô minh. Do đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, vị Thánh đệ tử trở thành bậc A-la-hán, lậu hoặc đã tận, đã sống đời phạm hạnh, giải thoát nhờ chánh trí, kiết sử hữu đã được đoạn tận, đã đạt được mục đích của mình. Đây là địa vị đã làm xong.
Arahantova ayaṃ sopādisesā nibbānadhātu. Tassa āyukkhayā jīvitindriyāparodhā idañca dukkhaṃ nirujjhati, aññañca dukkhaṃ na uppajjati. Yo imassa dukkhassa nirodho vūpasamo, aññassa ca apātubhāvo, ayaṃ anupādisesā nibbānadhātu. Imā dve nibbānadhātuyo. Iti saccāni vuttāni. Saccābhisamayo vutto, kilesavavatthānaṃ vuttaṃ, pahānaṃ vuttaṃ, bhūmiyo vuttā, phalāni vuttāni, nibbānadhātuyo vuttā. Evamimesu vuttesu sabbabodhi vuttā bhavati. Ettha yogo karaṇīyo.
This very Arahant constitutes the Nibbāna element with residue remaining. For him, with the exhaustion of the life-span and the cessation of the life faculty, this suffering ceases, and other suffering does not arise. The cessation and calming of this suffering, and the non-manifestation of other suffering, this is the Nibbāna element without residue remaining. These are the two Nibbāna elements. Thus the truths have been spoken of. The realization of the truths has been spoken of, the determination of the defilements has been spoken of, abandoning has been spoken of, the grounds have been spoken of, the fruits have been spoken of, and the Nibbāna elements have been spoken of. When these have been thus spoken of, the whole of enlightenment has been spoken of. Herein, effort should be made.
Vị A-la-hán này chính là Hữu dư y Niết-bàn giới. Do tuổi thọ của vị ấy đã hết, do mạng quyền đã chấm dứt, khổ này diệt, và khổ khác không sanh khởi. Sự diệt, sự lắng dịu của khổ này, và sự không hiện hữu của khổ khác, đây là Vô dư y Niết-bàn giới. Đây là hai Niết-bàn giới. Như vậy, các chân lý đã được nói. Sự liễu ngộ chân lý đã được nói, sự phân định phiền não đã được nói, sự đoạn trừ đã được nói, các địa vị đã được nói, các quả đã được nói, các Niết-bàn giới đã được nói. Khi những điều này đã được nói như vậy, toàn bộ sự giác ngộ được xem là đã được nói. Ở đây, cần phải nỗ lực.
71. Tattha katamāyo nava anupubbasamāpattiyo? Cattāri jhānāni catasso ca arūpasamāpattiyo nirodhasamāpatti ca. Tattha cattāri jhānāni katamāni? Idha, bhikkhave, † bhikkhu vivicceva kāmehīti vitthārena kātabbāni. Tattha katamā cattāro arūpasamāpattiyo? Virāgino vata vattabbo, yāva nirodhasamāpatti vitthārena kātabbā. Imāyo nava anupubbasamāpattiyo.
71. Therein, what are the nine successive attainments? The four jhānas, the four formless attainments, and the attainment of cessation. Therein, what are the four jhānas? ‘Here, bhikkhus, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures…’—this is to be elaborated in full. Therein, what are the four formless attainments? The passage beginning ‘For one who is dispassionate…’ up to the attainment of cessation is to be elaborated in full. These are the nine successive attainments.
71. Trong đó, chín thiền chứng tuần tự là những gì? Bốn thiền, bốn thiền chứng Vô sắc, và Diệt tận định. Trong đó, bốn thiền là những gì? "Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu ly dục..." nên được trình bày chi tiết. Trong đó, bốn thiền chứng Vô sắc là những gì? "Quả thật, đối với người đã ly tham ái đối với sắc..." cho đến Diệt tận định, nên được trình bày chi tiết. Đây là chín thiền chứng tuần tự.
Tattha katamaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ? Pañcaṅgavippayuttaṃ pañcaṅgasamannāgataṃ. Katamehi pañcahi aṅgehi vippayuttaṃ? Pañcahi nīvaraṇehi. Tattha katamāni pañca nīvaraṇāni? Kāmacchandoti vitthāretabbo. Tattha katamo kāmacchando? Yo pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo pemaṃ nikanti ajjhosānaṃ icchā mucchā patthanā apariccāgo anusayo pariyuṭṭhānaṃ, ayaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ. Tattha katamaṃ byāpādanīvaraṇaṃ? Yo sattesu saṅkhāresu ca āghāto…pe… yathā dose tathā nioṭṭhānā, ayaṃ byāpādo nīvaraṇaṃ. Tattha katamaṃ middhaṃ? Yā cittassa jaḷatā cittassa garuttaṃ cittassa akammanīyatā cittassa nikkhepo niddāyanā pacalikatā pacalāyanā pacalāyanaṃ, idaṃ middhaṃ. Tattha katamaṃ thinaṃ †? Yā kāyassa thinatā jaḷatā kāyassa garuttā kāyassa appassaddhi, idaṃ thinaṃ. Iti idañca thinaṃ purimakañca middhaṃ tadubhayaṃ thinamiddhanīvaraṇanti vuccati. Tattha katamaṃ uddhaccaṃ? Yo avūpasamo cittassa, idaṃ uddhaccaṃ. Tattha katamaṃ kukkuccaṃ? Yo cetaso vilekho alañcanā vilañcanā hadayalekho vippaṭisāro, idaṃ kukkuccaṃ. Iti idañca kukkuccaṃ purimakañca uddhaccaṃ tadubhayaṃ uddhaccakukkuccanīvaraṇanti vuccati. Tattha katamaṃ vicikicchānīvaraṇaṃ? Yo buddhe vā dhamme vā saṅghe vā…pe… ayaṃ vicikicchā. Api ca kho pana pañca vicikicchāyo samanantarāyikā desantarāyikā samāpattantarāyikā maggantarāyikā saggantarāyikā, imāyo pañca vicikicchāyo. Idha pana samāpattantarāyikā vicikicchā adhippetā. Ime pañca nīvaraṇā.
Therein, what is the first jhāna? It is dissociated from five factors and endowed with five factors. From which five factors is it dissociated? From the five hindrances. Therein, what are the five hindrances? Sensual desire—this should be elaborated. Therein, what is sensual desire? That which, regarding the five cords of sensual pleasure, is impassioned desire, affection, craving, clinging, longing, infatuation, yearning, non-relinquishment, latent tendency, and obsession—this is the hindrance of sensual desire. Therein, what is the hindrance of ill will? That which is hostility toward beings and formations… and so on… as with hatred, so with obstinacy—this is the hindrance of ill will. Therein, what is torpor? That which is sluggishness of mind, heaviness of mind, unwieldiness of mind, sinking of mind, drowsiness, nodding, and dozing—this is torpor. Therein, what is sloth? That which is sluggishness of body, dullness of body, heaviness of body, and lack of tranquility of body—this is sloth. Thus, this sloth and the aforementioned torpor together are called the hindrance of sloth and torpor. Therein, what is restlessness? That which is the unquietness of mind—this is restlessness. Therein, what is remorse? That which is vexation of mind, fretting, a state of fretting, heartache, and regret—this is remorse. Thus, this remorse and the aforementioned restlessness together are called the hindrance of restlessness and remorse. Therein, what is the hindrance of doubt? That which is doubt regarding the Buddha, or the Dhamma, or the Saṅgha… and so on… this is doubt. Moreover, there are five kinds of doubt: doubt that is an immediate obstruction, doubt that is an obstruction regarding another country, doubt that is an obstruction to attainment, doubt that is an obstruction to the path, and doubt that is an obstruction to heaven—these are the five kinds of doubt. Here, however, doubt that is an obstruction to attainment is intended. These are the five hindrances.
Trong đó, thiền thứ nhất là gì? Ly năm chi, thành tựu năm chi. Ly năm chi nào? (Ly) năm triền cái. Trong đó, năm triền cái là gì? "Tham dục..." nên được trình bày chi tiết. Trong đó, tham dục là gì? Sự tham muốn, yêu mến, ưa thích, đắm say, mong muốn, say mê, ước vọng, không từ bỏ, tùy miên, sự xâm chiếm trong năm dục trưởng dưỡng, đây là triền cái tham dục. Trong đó, triền cái sân hận là gì? Sự căm ghét đối với các chúng sanh và các pháp hữu vi... v.v... như trong sân, cũng vậy là sự áp bức, đây là triền cái sân hận. Trong đó, thụy miên là gì? Sự đờ đẫn của tâm, sự nặng nề của tâm, sự không kham nhẫn của tâm, sự buông xuôi của tâm, sự buồn ngủ, sự lắc lư, sự chao đảo, sự chạy trốn, đây là thụy miên. Trong đó, hôn trầm là gì? Sự co rút của thân, sự đờ đẫn, sự nặng nề của thân, sự không tĩnh lặng của thân, đây là hôn trầm. Như vậy, hôn trầm này và thụy miên trước đó, cả hai được gọi là triền cái hôn trầm-thụy miên. Trong đó, trạo cử là gì? Sự không lắng dịu của tâm, đây là trạo cử. Trong đó, hối quá là gì? Sự băn khoăn của tâm, sự không ghi nhận, sự không ghi nhận đặc biệt, sự băn khoăn trong lòng, sự hối hận, đây là hối quá. Như vậy, hối quá này và trạo cử trước đó, cả hai được gọi là triền cái trạo cử-hối quá. Trong đó, triền cái hoài nghi là gì? Sự hoài nghi đối với Phật, hoặc Pháp, hoặc Tăng... v.v... đây là hoài nghi. Lại nữa, có năm loại hoài nghi: hoài nghi làm trở ngại tức thời, hoài nghi làm trở ngại địa phương, hoài nghi làm trở ngại thiền chứng, hoài nghi làm trở ngại đạo, hoài nghi làm trở ngại cõi trời. Đây là năm loại hoài nghi. Nhưng ở đây, hoài nghi làm trở ngại thiền chứng được chủ ý đến. Đây là năm triền cái.
Tattha nīvaraṇānīti ko vacanattho, kuto nivārayantīti? Sabbato kusalapakkhikā nivārayanti. Kathaṃ † nivārayanti? Kāmacchando asubhato nivārayati, byāpādo mettāya † nivārayati, thinaṃ passaddhito nivārayati, middhaṃ vīriyārambhato nivārayati, uddhaccaṃ samathato nivārayati, kukkuccaṃ avippaṭisārato nivārayati, vicikicchā paññāto paṭiccasamuppādato nivārayati.
Therein, what is the meaning of the term 'hindrances'? From what do they hinder? They hinder from all that is on the side of the wholesome. How do they hinder? Sensual desire hinders from the unattractive, ill will hinders from loving-kindness, sloth hinders from tranquility, torpor hinders from the arousal of energy, restlessness hinders from calm, remorse hinders from non-regret, and doubt hinders from wisdom and from dependent origination.
Trong đó, ngữ nghĩa của "nīvaraṇāni" là gì, chúng ngăn che khỏi điều gì? Chúng ngăn che khỏi tất cả các pháp thuộc phe thiện. Chúng ngăn che như thế nào? Tham dục ngăn che khỏi (quán) bất tịnh, sân hận ngăn che khỏi tâm từ, hôn trầm ngăn che khỏi sự tĩnh lặng, thụy miên ngăn che khỏi sự tinh tấn, trạo cử ngăn che khỏi chỉ, hối quá ngăn che khỏi sự không hối hận, hoài nghi ngăn che khỏi trí tuệ và (sự hiểu biết) duyên khởi.
Aparo pariyāyo. Kāmacchando alobhato kusalamūlato nivārayati, byāpādo adosato nivārayati, thinamiddhaṃ samādhito nivārayati, uddhaccakukkuccaṃ satipaṭṭhānehi nivārayati, vicikicchā amohato kusalamūlato nivārayati.
Another method. Sensual desire hinders from non-greed, a wholesome root; ill will hinders from non-hatred; sloth and torpor hinder from concentration; restlessness and remorse hinder from the establishments of mindfulness; doubt hinders from non-delusion, a wholesome root.
Một cách trình bày khác. Tham dục ngăn che khỏi vô tham là thiện căn, sân hận ngăn che khỏi vô sân, hôn trầm-thụy miên ngăn che khỏi định, trạo cử-hối quá ngăn che khỏi các niệm xứ, hoài nghi ngăn che khỏi vô si là thiện căn.
Aparo pariyāyo. Tayo vihārā dibbavihāro brahmavihāro ariyavihāro. Dibbavihāro cattāri jhānāni, brahmavihāro cattāri appamāṇāni, ariyavihāro sattatiṃsa bodhipakkhiyā dhammā. Tattha kāmacchando uddhaccaṃ kukkuccañca dibbavihāraṃ nivārayati, byāpādo brahmavihāraṃ nivārayati, thinamiddhaṃ vicikicchā ca ariyavihāraṃ nivārayati.
Another method. There are three abidings: the divine abiding, the Brahmā abiding, and the noble abiding. The divine abiding is the four jhānas; the Brahmā abiding is the four immeasurables; the noble abiding is the thirty-seven factors of enlightenment. Herein, sensual desire, restlessness, and remorse hinder the divine abiding; ill will hinders the Brahmā abiding; and sloth and torpor, and doubt hinder the noble abiding.
Một cách trình bày khác. Có ba trú xứ: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú. Thiên trú là bốn thiền, Phạm trú là bốn vô lượng tâm, Thánh trú là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Trong đó, tham dục, trạo cử và hối quá ngăn che Thiên trú; sân hận ngăn che Phạm trú; hôn trầm-thụy miên và hoài nghi ngăn che Thánh trú.
Aparo pariyāyo. Kāmacchando byāpādo uddhaccakukkuccañca samathaṃ nivārayanti, thinamiddhaṃ vicikicchā ca vipassanaṃ nivārayanti, ato nīvaraṇanti vuccante. Imehi pañcahi aṅgehi vippayuttaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ.
Another method. Sensual desire, ill will, and restlessness and remorse hinder serenity; sloth and torpor, and doubt hinder insight. Therefore they are called 'hindrances.' The first jhāna is dissociated from these five factors.
Một phương pháp khác. Tham dục, sân hận, và trạo cử-hối quá ngăn che thiền chỉ; hôn trầm-thụy miên và hoài nghi ngăn che thiền quán, do đó chúng được gọi là các triền cái. Thiền thứ nhất không tương ưng với năm chi phần này.
Katamehi pañcahi aṅgehi sampayuttaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ? Vitakkavicārehi pītiyā sukhena ca cittekaggatāya ca. Imesaṃ pañcannaṃ aṅgānaṃ uppādapaṭilābhasamannāgamo sacchikiriyaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ paṭiladdhanti vuccati. Imāni pañca aṅgāni uppādetvā viharatīti, tena vuccate paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharatīti dibbena vihārena.
With which five factors is the first jhāna associated? With applied thought and sustained thought, with rapture, with pleasure, and with one-pointedness of mind. The arising, acquisition, possession, and realization of these five factors is what is called 'the first jhāna has been attained.' Because one dwells having generated these five factors, it is therefore said that one 'dwells having entered upon the first jhāna' by means of the divine abiding.
Thiền thứ nhất tương ưng với năm chi phần nào? Với tầm và tứ, với hỷ, với lạc, và với nhất tâm. Do sự thành tựu việc sanh khởi và chứng đắc của năm chi phần này, nên được gọi là đã chứng ngộ, đã chứng đắc thiền thứ nhất. Vị ấy trú sau khi làm cho năm chi phần này sanh khởi, do đó được gọi là: 'vị ấy trú sau khi đã đạt đến thiền thứ nhất' bằng thiên trú.
Tattha dutiyaṃ jhānaṃ caturaṅgasamannāgataṃ pītisukhena cittekaggatāya ajjhattaṃ sampasādanena imāni cattāri aṅgāni uppādetvā sampādetvā viharati, tena vuccati dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharatīti.
Herein, the second jhāna is endowed with four factors: rapture, pleasure, one-pointedness of mind, and internal confidence. Because one dwells having generated and accomplished these four factors, it is therefore said that one 'dwells having entered upon the second jhāna'.
Trong đó, thiền thứ hai thành tựu bốn chi phần: với hỷ lạc, với nhất tâm, và với nội tĩnh. Vị ấy trú sau khi làm cho bốn chi phần này sanh khởi và thành tựu, do đó được gọi là: 'trú sau khi đã đạt đến thiền thứ hai'.
Tattha pañcaṅgasamannāgataṃ tatiyaṃ jhānaṃ satiyā sampajaññe sukhena cittekaggatāya upekkhāya imāni pañcaṅgāni uppādetvā sampādetvā viharati, tena vuccati tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharatīti.
Likewise, the third jhāna is endowed with five factors: mindfulness, clear comprehension, pleasure, one-pointedness of mind, and equanimity. Because one dwells having generated and accomplished these five factors, it is therefore said that one 'dwells having entered upon the third jhāna'.
Trong đó, thiền thứ ba thành tựu năm chi phần: với niệm, với tỉnh giác, với lạc, với nhất tâm, và với xả. Vị ấy trú sau khi làm cho năm chi phần này sanh khởi và thành tựu, do đó được gọi là: 'trú sau khi đã đạt đến thiền thứ ba'.
Tattha catutthaṃ jhānaṃ caturaṅgasamannāgataṃ upekkhāya satipārisuddhiyā adukkhamasukhāya vedanāya cittekaggatā ca, imehi catūhaṅgehi samannāgataṃ catutthaṃ jhānaṃ. Iti imesaṃ catunnaṃ aṅgānaṃ uppādo paṭilābho samannāgamo sacchikiriyā catutthaṃ jhānaṃ paṭiladdhanti vuccati. Imāni cattāri jhānāni uppādetvā sampādetvā upasampajja viharati, tena vuccati dibbena vihārena viharatīti.
Herein, the fourth jhāna is endowed with four factors: equanimity, purity of mindfulness, the feeling of neither-pain-nor-pleasure, and one-pointedness of mind. Thus, the arising, acquisition, possession, and realization of these four factors is what is called 'the fourth jhāna has been attained.' Because one dwells having generated, accomplished, and entered upon these four jhānas, it is therefore said that one 'dwells with a divine abiding'.
Trong đó, thiền thứ tư thành tựu bốn chi phần: với xả, với niệm thanh tịnh, với thọ không khổ không lạc, và với nhất tâm. Thiền thứ tư thành tựu với bốn chi phần này. Như vậy, sự sanh khởi, sự chứng đắc, sự thành tựu, sự chứng ngộ của bốn chi phần này được gọi là đã chứng đắc thiền thứ tư. Vị ấy trú sau khi làm cho bốn thiền này sanh khởi, thành tựu, và đạt đến, do đó được gọi là 'trú bằng thiên trú'.
Tattha katamo aniccaṭṭho? Pīḷanaṭṭho aniccaṭṭho pabhaṅgaṭṭho sampāpanaṭṭho vivekaṭṭho aniccaṭṭho, ayaṃ aniccaṭṭho.
Herein, what is the meaning of impermanence? The meaning of oppression, the meaning of disintegration, the meaning of termination, and the meaning of separation is the meaning of impermanence. This is the meaning of impermanence.
Trong đó, nghĩa vô thường là gì? Nghĩa là bị bức bách là nghĩa vô thường, nghĩa là bị hoại diệt, nghĩa là làm cho hoàn tất, nghĩa là trống không là nghĩa vô thường. Đây là nghĩa vô thường.
Tattha katamo dukkhaṭṭho? Pīḷanaṭṭho dukkhaṭṭho sampīḷanaṭṭho saṃvegaṭṭho byādhinaṭṭho, ayaṃ dukkhaṭṭho.
Herein, what is the meaning of suffering? The meaning of oppression, the meaning of affliction, the meaning of dread, and the meaning of disease is the meaning of suffering. This is the meaning of suffering.
Trong đó, nghĩa khổ là gì? Nghĩa là bị bức bách là nghĩa khổ, nghĩa là bị bức bách dữ dội, nghĩa là kinh sợ, nghĩa là bệnh hoạn. Đây là nghĩa khổ.
Tattha katamo suññaṭṭho? Anupalitto suññaṭṭho, asambhājanaṭṭho gatapaṭṭho † vivaṭṭaṭṭho, ayaṃ suññaṭṭho.
Herein, what is the meaning of emptiness? The meaning of being unstained, the meaning of being unmixed, the meaning of being departed, and the meaning of being uncovered is the meaning of emptiness. This is the meaning of emptiness.
Trong đó, nghĩa không là gì? Nghĩa là không bị vấy bẩn là nghĩa không, nghĩa là không làm cho sanh khởi, nghĩa là không phiền não, nghĩa là trống không. Đây là nghĩa không.
Tattha katamo anattaṭṭho? Anissariyaṭṭho anattaṭṭho, avasavattanaṭṭho, akāmakāriṭṭho parividaṭṭho, ayaṃ anattaṭṭhoti.
Herein, what is the meaning of not-self? The meaning of being without mastery, the meaning of not being subject to control, the meaning of being contrary to will, and the meaning of otherness is the meaning of not-self. This is the meaning of not-self.
Trong đó, nghĩa vô ngã là gì? Nghĩa là không có quyền sở hữu là nghĩa vô ngã, nghĩa là không theo ý muốn, nghĩa là được làm trái với ý muốn, nghĩa là parivida. Đây là nghĩa vô ngã.
The Peṭaka-Ground named Saṃvattisantikā, entitled the Compendium of Sutta Meanings, is completed.
Địa của Peṭaka tên là Suttatthasamuccaya, Saṃvattisantikā, đã hoàn tất.