Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 6

Bản dịch

PE 6Lãnh Vực Thứ Sáu: Tóm Lược Ý Nghĩa Của Kinh

6. Suttatthasamuccayabhūmi

6-1. Lời giáo huấn của chư Phật Thế Tôn đi đến sự tổng hợp theo ba loại: ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ.

Ở đấy, năm uẩn là: sắc uẩn ... cho đến ... thức uẩn. Mười sắc xứ: mắt và các cảnh sắc ... cho đến ... thân và các cảnh xúc; đây là sắc uẩn.

Ở đấy, sáu nhóm thọ là thọ uẩn: thọ sanh lên do nhãn xúc ... cho đến ... thọ sanh lên do ý xúc; đây là thọ uẩn.

Ở đấy, sáu nhóm tưởng là tưởng uẩn: sắc tưởng ... cho đến ... pháp tưởng, những cái này là sáu nhóm tưởng; đây là tưởng uẩn.

Ở đấy, sáu nhóm tư là hành uẩn: sắc tư ... cho đến ... pháp tư, những cái này là sáu nhóm tư; đây là hành uẩn.

Ở đấy, sáu nhóm thức là thức uẩn: nhãn thức ... cho đến ... ý thức, những cái này là sáu nhóm thức; đây là thức uẩn.

Những cái này là năm uẩn.

Sự biết toàn diện về chúng là gì? “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã;” những điều này là sự biết toàn diện về chúng.

Ở đấy, ý nghĩa của uẩn là gì? Ý nghĩa ‘gom lại’ là ý nghĩa của uẩn, ý nghĩa ‘chất đống’ là ý nghĩa của uẩn, ý nghĩa ‘một số lượng’ là ý nghĩa của uẩn. Điều ấy giống như là: đống cỏ, đám rừng, đống gỗ, khối lửa, khối nước, lượng gió; như thế, toàn bộ sự tổng hợp ở các uẩn là như vậy, ý nghĩa của uẩn là như vậy.

6-2. Ở đấy, 18 giới là: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới –nt– ý giới, pháp giới, ý thức giới. Những cái này là 18 giới. Sự biết toàn diện về chúng là: “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” những điều này là sự biết toàn diện về chúng.

Ở đấy, điều gì là ý nghĩa của giới được nói đến? Ý nghĩa ‘yếu tố’ là ý nghĩa của giới. Yếu tố: sự trong sáng của mắt là nhãn giới; tương tự như vậy ở 5 giới. Thêm nữa, ý nghĩa ‘tách rời luyến ái’ là ý nghĩa của giới. Bởi vì nhãn giới là được tách rời; tương tự như vậy ở 5 giới. Thêm nữa, đã có điều nói rằng: “‘Đồng nhất’ theo ý nghĩa bản thể tự nhiên là ý nghĩa của giới,” được nói đến như thế. Điều ấy giống như là: “Theo bản thể tự nhiên, người nam này là người bị bệnh mật, bị bệnh đàm, bị bệnh phong thấp, bị nhiều bệnh,” tương tự như vậy, bản thể tự nhiên là nhãn giới. Và ở tất cả các quyền trong số mười (giới) –nt– Ý nghĩa ‘từng phần riêng biệt’ là ý nghĩa của giới.

6-3. Ở đấy, 12 xứ là những gì? Sáu nội phần và sáu ngoại phần. ‘Nhãn xứ … cho đến … ý xứ’ là nội phần, ‘sắc xứ … cho đến … pháp xứ’ là ngoại phần. Những cái này là 12 xứ.

Sự biết toàn diện về chúng là gì? “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” những điều này là sự biết toàn diện về chúng. Và còn nữa, sự biết toàn diện có hai loại: sự biết toàn diện về điều đã được biết và sự biết toàn diện về dứt bỏ. Ở đấy, sự biết toàn diện về điều đã được biết là: “Vô thường, khổ não, rỗng không, vô ngã,” đây là sự biết toàn diện về điều đã được biết. Trái lại, sự biết toàn diện về dứt bỏ là sự dứt bỏ mong muốn và luyến ái; đây là sự biết toàn diện về dứt bỏ.

Ở đấy, ý nghĩa của xứ là gì? Được nói rằng: ý nghĩa hầm mỏ là ý nghĩa của xứ giống như mỏ vàng, mỏ bạc. Giống như bầy bò nọ kia đứng lên từ nơi hai hầm mỏ ấy, tương tự như vậy, bầy bò tâm và sở hữu tâm vươn dậy từ những nơi này, có ô nhiễm của nghiệp và có bản chất khổ.

Thêm nữa, đã có điều nói rằng: ý nghĩa cho phép tiếp cận là ý nghĩa của xứ. Giống như đối với đức vua, việc tiếp cận là thông qua các sự cho phép tiếp cận, tương tự như vậy, ý nghĩa cho phép tiếp cận là ý nghĩa của xứ.

6-4. Bốn Chân Lý Cao Thượng: là Khổ, Tập, Diệt, và Đạo. Giống như Khổ, theo nghĩa bao hàm, là thể xác và tinh thần; Tập, theo nghĩa bao hàm, là vô minh và tham ái; Diệt, theo nghĩa bao hàm, là minh và giải thoát; Đạo, theo nghĩa bao hàm, là chỉ tịnh và minh sát.

6-5. Ở đấy, 37 pháp thuộc phần giác ngộ là những gì? Bốn sự thiết lập niệm … cho đến … Thánh đạo tám chi phần. Như vậy, đây là 37 pháp thuộc phần giác ngộ. Các pháp này vận hành đến Niết Bàn đối với chư Phật [Thế Tôn, chư Độc Giác Phật], và chư Thinh Văn thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại. Đạo lộ ấy là bốn sự thiết lập niệm. Bốn là những gì? “Ở đây, vị tỳ khưu sống có sự quan sát thân trên thân, …” –nt– (bốn) chánh cần, (bốn) nền tảng của thần thông, (năm) quyền, (năm) lực. Ở đấy, ý nghĩa của quyền là gì? Ý nghĩa chúa tể là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa chủ đạo là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa trong sáng là ý nghĩa của quyền, ý nghĩa việc làm của ai đó có tính chất không phổ biến là ý nghĩa của quyền. (?) Ý nghĩa không bị lay động là ý nghĩa của lực, ý nghĩa mạnh bạo là ý nghĩa của lực, ý nghĩa nắm giữ là ý nghĩa của lực, ý nghĩa nâng đỡ là ý nghĩa của lực.

Ở đấy, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ (bảy giác chi) là những gì? Niệm giác chi … cho đến … xả giác chi. Ở đấy, đạo lộ tám chi phần là những gì? Chánh kiến … cho đến … chánh định.

Ở đấy, “đạo lộ tám chi phần” là (các) uẩn: giới uẩn, định uẩn và tuệ uẩn. Ở đấy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là giới uẩn; chánh niệm, chánh tinh tấn và chánh định là định uẩn; chánh tư duy và chánh kiến là tuệ uẩn. Như vậy, uẩn là ba sự học tập. Như vậy, với ba biểu hiện thì có mười thuật ngữ –nt–.

6-6. Ở đấy, hành giả, đã đứng vững ở giới uẩn, thì không chấp thủ sân hận bất thiện, bứng lên hoàn toàn sân hận tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên sân hận, biết toàn diện về thọ khổ, vượt qua hẳn Dục giới.

(Hành giả) đã đứng vững ở định uẩn, thì không chấp thủ tham lam bất thiện, bứng lên hoàn toàn luyến ái tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên tham lam, biết toàn diện về thọ lạc, vượt qua hẳn Sắc giới.

(Hành giả) đã đứng vững ở tuệ uẩn, thì không chấp thủ si mê bất thiện, bứng lên hoàn toàn vô minh tiềm ẩn, nhổ lên mũi tên si mê và mũi tên tà kiến, biết toàn diện về thọ không khổ không lạc, vượt qua hẳn Vô Sắc giới.

Như thế, với ba uẩn, hành giả không chấp thủ ba gốc rễ của bất thiện, nhổ lên bốn mũi tên, biết toàn diện về ba thọ, vượt qua hẳn Tam Giới.

6-7. Ở đấy, vô minh là gì? ‘Sự không biết về bốn Chân Lý Cao Thượng’ nên được thực hiện một cách chi tiết giống như sự nghi hoặc về các bậc thang. (?)

Ở đấy, thức là gì? Sáu nhóm thức. Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đây là danh. Ở đấy, sắc là gì? Bốn yếu tố chính (đất, nước, lửa, gió) và sự quy định về sắc có liên quan đến bốn yếu tố chính. Như thế, phần trước là danh và phần này là sắc; cả hai việc ấy được gọi là ‘danh sắc.’

Ở đấy, ‘sáu xứ’: là sáu xứ thuộc nội phần: mắt là xứ thuộc nội phần … cho đến … ý là xứ thuộc nội phần.

‘Xúc’: là sáu nhóm xúc: ‘nhãn xúc … cho đến … ý xúc,’ như thế là xúc.

‘Thọ:’ sáu nhóm thọ là thọ.

‘Tham ái:’ sáu nhóm tham ái là tham ái.

‘Thủ’: là bốn sự chấp thủ: ‘sự chấp thủ về (năm) dục, sự chấp thủ về tà kiến, sự chấp thủ về giới và phận sự, sự chấp thủ về ngã luận thuyết,’ như thế là thủ.

‘Hữu’: là ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.

Ở đấy, sanh là gì? Là sự sanh lên đầu tiên trong số các uẩn, đầu tiên trong số các giới, đầu tiên trong số các xứ, sự sanh ra, sự sanh khởi, sự hạ sanh, sự phát sanh, sự hiện khởi của các uẩn; việc này là sanh.

Ở đấy, lão là gì? Gọi là lão là sự rụng răng, tình trạng bạc tóc, trạng thái da nhăn, trạng thái xuống sắc của bốn yếu tố chính, sự đổ vỡ, lão là sự giảm thiểu, sự suy giảm, sự suy đồi, sự rút ngắn tuổi thọ, sự suy nhược, sự kết cuộc, sự chín mùi của các quyền; việc này là lão.

Ở đấy, tử là gì? Gọi là tử là sự từ trần, sự tiêu hoại, sự chết, sự hết thời kỳ, sự hoại rã các uẩn, sự bỏ lại thân xác, sự cắt đứt mạng quyền của các chúng sanh này nọ ở mỗi một tập thể chúng sanh khác nhau; việc này là tử. Như thế, phần trước là lão và phần này là tử, cả hai sự việc ấy được gọi là ‘lão tử.’

6-8. Ở đấy, vô minh là sự tối tăm và mờ mịt, có sự không nhận biết đúng theo thực thể là tướng trạng, là nền tảng của các hành. Các hành có sự tạo tác là tướng trạng, có sự tích lũy, sự hiện hữu lại nữa, và sự gắn chặt là biểu hiện; chúng là nền tảng của thức. Thức có sự làm cho vật (chỗ trú của thức) có sự nhận biết là tướng trạng, nó là nền tảng của danh sắc. Danh sắc có nhiều sự nương tựa là tướng trạng, nó là nền tảng của sáu xứ. Sáu xứ có sự xác định (sáu) giác quan là tướng trạng, nó là nền tảng của xúc. Xúc có sự hội hợp (của căn, cảnh, và thức) là tướng trạng, nó là nền tảng của thọ. Thọ có sự chấp nhận là tướng trạng, nó là nền tảng của tham ái. Tham ái có sự bám chặt là tướng trạng, nó là nền tảng của thủ. Thủ có sự tiêu hủy hoàn toàn việc nắm giữ là tướng trạng, nó là nền tảng của hữu. Hữu có sự tản mác ở các cảnh giới tái sanh khác nhau là tướng trạng, nó là nền tảng của sanh. Sanh có sự hiện khởi của các uẩn là tướng trạng, nó là nền tảng của lão. Lão có sự đưa đến gần và sự chín muồi là tướng trạng, nó là nền tảng của tử. Tử có sự cạn kiệt của tuổi thọ và hoại diệt mạng sống là tướng trạng, nó là nền tảng của khổ. Khổ có sự ép bức thân là tướng trạng, nó là nền tảng của ưu. Ưu có sự ép bức tâm là tướng trạng, nó là nền tảng của sầu muộn. Sầu muộn có sự buồn rầu là tướng trạng, nó là nền tảng của than vãn. Than vãn có sự thốt ra bằng lời nói là tướng trạng, nó là nền tảng của lo âu. Những gì có sự thất vọng là có sự lo âu.

6-9. Chín thuật ngữ là nơi mà toàn bộ phần bất thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ vào đó. Chín thuật ngữ nào? Hai ô nhiễm căn bản, ba gốc rễ của bất thiện, bốn sự trái khuấy.

Ở đấy, hai ô nhiễm căn bản là: vô minh và hữu ái. Ba gốc rễ của bất thiện là: tham lam, sân hận, và si mê. Bốn sự trái khuấy là: sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã; sự trái khuấy của tưởng, sự trái khuấy của tâm, sự trái khuấy của kiến (nghĩ là): ‘tịnh’ ở bất tịnh.

6-10. Ở đấy, vô minh gọi là: sự không biết đúng theo thực thể về bốn Chân Lý Cao Thượng; điều này là vô minh. Hữu ái gọi là: sự luyến ái, luyến ái mãnh liệt, ước muốn, mê mẩn, ước nguyện, niềm vui, sự bám chặt, sự không buông bỏ về các hữu; điều này là hữu ái.

Ở đấy, bất thiện căn tham là gì? Là sự tham lam, biểu hiện tham lam, ước muốn, mê mẩn, ước nguyện, niềm vui, sự bám chặt, sự không buông bỏ về các đất đai của người khác, về các vật chất của người khác, về các địa vị của người khác, về các đồ vật của người khác, về các vật sở hữu của người khác loại này loại nọ, cái này là bất thiện căn tham. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do tham, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.

Ở đấy, bất thiện căn sân là gì? Là sự tức tối, sự không nhẫn nại, sự bực tức, sự oán hận, sự khởi sân, trạng thái mong muốn sự không tấn hóa, sự bất bình của tâm ở các chúng sanh, cái này là bất thiện căn sân. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do sân, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.

Ở đấy, bất thiện căn si là gì? Là sự không biết, sự không nhìn thấy, sự không lãnh hội, sự nắm lấy điều chưa đạt đến, sự không thấu triệt, sự si mê, sự ngu si, sự mê muội, sự mê ám, vô minh, bóng tối, sự tối tăm, sự ngăn trở, sự ngăn che, sự che đậy, sự che lấp, sự xa lìa hiện thực đối với các pháp thiện, cái này là bất thiện căn si. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp bất thiện được sanh ra do si mê, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy.

6-11. Ở đấy, các sự trái khuấy cần được biết, nền tảng của các sự trái khuấy cần được biết, cái gì có thể là sự trái khuấy, cái ấy cần được biết.

Ở đấy, một sự trái khuấy, bốn nền tảng của sự trái khuấy, ba sự trái khuấy.

Và một sự trái khuấy là gì? Nắm lấy điều bị trái khuấy bởi phần đối nghịch (cho rằng) ‘thường’ ở vô thường, ‘lạc’ ở khổ, ‘ngã’ ở vô ngã, ‘tịnh’ ở bất tịnh; điều này là một sự trái khuấy.

Bốn nền tảng của sự trái khuấy là những gì? Thân, thọ, tâm, và pháp. Những điều này là bốn nền tảng của sự trái khuấy.

Ba sự trái khuấy là những gì? Tưởng, tâm, và kiến (sự nhận biết, sự nhận thức, và sự nhận thấy). Những điều này là ba sự trái khuấy.

Ở đấy, sự nắm lấy hiện tướng của vật vừa ý ở chỗ giác quan hoặc ở phạm vi hình dáng (của vật), điều này là sự trái khuấy của tưởng. Ở đấy, sự làm cho nhận biết về vật đang hiện diện của tâm bị sai lệch, điều này là sự trái khuấy của tâm. Ở đấy, sự chấp nhận, sự ưa thích, sự xem xét, sự nhận định, quan điểm, sự so sánh, sự đánh giá của tâm bị sai lệch về cảnh sắc ấy ở (trạng thái) bất tịnh (lại cho) là ‘tịnh,’ điều này là sự trái khuấy của kiến.

Ở đấy, có mười hai điều trái khuấy theo sự phân chia về vật (đối tượng) ở các nhóm là: ba ở thân, ba ở thọ, ba ở tâm, ba ở pháp, bốn sự trái khuấy của tưởng, bốn sự trái khuấy của tâm, bốn sự trái khuấy của kiến. Theo sự tích lũy ở các xứ, bốn sự trái khuấy trở thành sáu nhóm 12: 12 sự trái khuấy ở các sắc đối với người có tưởng ở nhãn thức … cho đến … 12 sự trái khuấy ở các pháp đối với người có tưởng ở ý thức. Bởi vì theo bản chất khác biệt của cảnh (đối tượng), (khi) các chúng sanh là không đo lường được, không thể tính toán được thì các điều trái khuấy của họ là không đo lường được, không thể tính toán được theo các bậc hạ, thượng, và trung.

6-12. Ở đấy, năm uẩn là bốn nền tảng của bản ngã: sắc uẩn - thân ấy là nền tảng của bản ngã, thọ uẩn - thọ ấy là nền tảng của bản ngã, tưởng uẩn và hành uẩn - các pháp ấy là nền tảng của bản ngã, thức uẩn - tâm ấy là nền tảng của bản ngã; như thế năm uẩn là bốn nền tảng của bản ngã. Ở đấy, có sự trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở thân bất tịnh. Tương tự như vậy, có sự trái khuấy về tự ngã ở các thọ, ở tâm, và ở các pháp.

Ở đấy, nhằm mục đích thủ tiêu bốn sự trái khuấy, đức Thế Tôn chỉ bảo, mô tả về bốn sự thiết lập niệm: Trong khi sống có sự quan sát thân trên thân, hành giả thủ tiêu sự trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh. Tương tự như vậy nên được thực hiện ở các thọ – ở tâm – và ở các pháp.

6-13. Ở đấy, vô minh, với sự tối tăm và mờ mịt, có sự không thấu triệt là tướng trạng; các sự trái khuấy là nền tảng của nó. Tham ái có sự bám chặt là tướng trạng; sắc đáng yêu sắc dễ chịu là nền tảng của nó. Tham lam có sự tráo trở theo tập tính của bản thân là tướng trạng; việc trộm cắp là nền tảng của nó. Ở đây, sân hận có sự tranh cãi là tướng trạng; sự giết hại sanh mạng là nền tảng của nó. – – Si mê có lối thực hành lệch khỏi mục tiêu là tướng trạng; lối thực hành sai trái là nền tảng của nó. Tưởng về thường còn có sự nắm giữ việc không bị hư hoại của các pháp hữu vi là tướng trạng; tất cả các hành là nền tảng của nó. Tưởng về khoái lạc có việc đi đến xúc có lậu hoặc là tướng trạng; việc tạo thành ‘của tôi’ là nền tảng của nó. Tưởng về tự ngã có việc tiếp cận các pháp là tướng trạng; việc tạo thành ‘tôi’ là nền tảng của nó. Tưởng về cái đẹp có sự thu thập cái đẹp là tướng trạng; sự không thu thúc các quyền là nền tảng của nó. Với chín thuật ngữ này đã được diễn giải, toàn bộ phần bất thiện là đã được diễn giải. Và nó quả thật có thể hiểu được bởi người nghe nhiều, không bởi kẻ ít nghe, bởi người có tuệ, không bởi kẻ có tuệ tồi, bởi người gắn bó, không bởi kẻ không gắn bó.

6-14. Chín thuật ngữ thiện là nơi toàn bộ phần thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ. Là chín thuật ngữ nào? Chỉ tịnh, minh sát, vô tham, vô sân, vô si, vô thường tưởng, khổ não tưởng, vô ngã tưởng, và bất tịnh tưởng.

Ở đấy, chỉ tịnh là gì? Là sự ổn định, sự đứng vững, sự kiên định, vị thế đứng, sự hình thành, sự thiết lập, sự định tĩnh, sự tập trung, sự không tán loạn, sự không ăn năn, sự vắng lặng của ý, sự chuyên nhất của tâm; việc này là chỉ tịnh.

Ở đấy, minh sát là gì? Là sự chọn lựa, sự khám phá, sự thẩm xét, sự suy xét toàn diện, sự nắm được, sự nắm lấy, sự nắm toàn diện, sự suy nghĩ toàn diện bằng tâm, sự cân nhắc, sự khảo sát, trí, minh, nhãn, sự giác ngộ, sự thông minh, tuệ, hào quang, ánh sáng, sự rực rỡ, sự chiếu sáng, thanh gươm, cây lao, trạch pháp giác chi, chánh kiến - chi phần của Đạo đúng theo thực thể về các uẩn, hoặc về các giới, hoặc về các xứ, hoặc về danh sắc, hoặc về các sự tùy thuận sanh khởi, hoặc về các pháp được tùy thuận sanh khởi, hoặc về Khổ, hoặc về Tập, hoặc về Diệt, hoặc về Đạo, hoặc về các pháp thiện và bất thiện, hoặc về việc bị chê trách và không bị chê trách, hoặc về (pháp) đen và trắng, hoặc về việc nên phục vụ và không nên phục vụ, điều này là minh sát.

Vì sao việc ấy được gọi là ‘minh sát’? Việc ấy là ‘việc thấy’ theo nhiều cách; vì thế, việc ấy được gọi là ‘minh sát.’ Và chính việc minh sát ấy theo hai cách (được gọi) là ‘minh sát pháp.’

Bằng cách này, (hành giả) nhìn thấy theo hai cách: về tịnh và bất tịnh, về đen và trắng, về nên phục vụ và không nên phục vụ, về nghiệp và quả thành tựu, về sự trói buộc và sự thoát khỏi, về sự tích lũy và sự giảm thiểu, về sự vận hành và sự đình chỉ, về phiền não và sự thanh lọc; như vậy được gọi là ‘minh sát.’ Hoặc là, ‘vi’ là tiếp đầu ngữ, ‘passanā’ là ý nghĩa; vì thế, được gọi là ‘vipassanā,’ điều này là minh sát.

6-15. Ở đấy, hai căn bệnh của chúng sanh là: vô minh và hữu ái. Nhằm loại trừ hai căn bệnh này, hai phương thuốc đã được đức Thế Tôn nói đến là: chỉ tịnh và minh sát. Người thân cận hai phương thuốc này chứng ngộ hai sự vô bệnh: sự xa lìa luyến ái (là) sự giải thoát của tâm, và sự xa lìa vô minh (là) sự giải thoát của tuệ. Ở đấy, chỉ tịnh là phương thuốc cho căn bệnh tham ái; sự giải thoát của tâm do sự xa lìa luyến ái là sự vô bệnh. Minh sát là phương thuốc cho căn bệnh vô minh; sự giải thoát của tuệ do sự xa lìa vô minh là sự vô bệnh. Bởi vì, đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Hai pháp cần được biết toàn diện: danh và sắc; hai pháp cần được dứt bỏ: vô minh và hữu ái; hai pháp cần được tu tập: chỉ tịnh và minh sát; hai pháp cần được chứng ngộ: minh và giải thoát.” Ở đấy, người tu tập chỉ tịnh thì biết toàn diện về sắc; trong khi biết toàn diện về sắc thì dứt bỏ tham ái; trong khi dứt bỏ tham ái thì chứng ngộ sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái. Người tu tập minh sát thì biết toàn diện về danh; trong khi biết toàn diện về danh thì dứt bỏ vô minh; trong khi dứt bỏ vô minh thì chứng ngộ sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Khi nào hai pháp danh và sắc được biết toàn diện bởi vị tỳ khưu, khi ấy, đối với vị này, hai pháp vô minh và hữu ái là được dứt bỏ, hai pháp chỉ tịnh và minh sát là được tu tập, hai pháp minh và giải thoát là được chứng ngộ. Cho đến chừng ấy, vị tỳ khưu là có phận sự đã được làm xong; điều này là Niết Bàn giới còn dư sót. Do sự chấm dứt tuổi thọ, do sự hoại diệt mạng quyền của vị ấy, khổ này được diệt tận và khổ khác không sanh lên. Ở đấy, sự diệt tận, sự vắng lặng của các uẩn, của các giới, của các xứ này, và sự không tiếp nối, sự không hiện khởi của các uẩn-giới-xứ khác là Niết Bàn giới không còn dư sót. 6-16. Ở đấy, thiện căn vô tham là gì? Là (pháp) thuộc bản chất tự nhiên, là sự không tham lam, biểu hiện không tham lam, trạng thái không tham lam, sự không ước muốn, không ước nguyện, không ham muốn, không bám chặt, cái này là thiện căn vô tham. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô tham, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, Thánh Đạo tám chi phần được gọi là ‘thiện,’ (vô tham) ấy là gốc rễ của ba chi phần của Đạo. Của ba chi phần nào? Của chánh tư duy, của chánh tinh tấn, và của chánh định, (vô tham) là ‘gốc rễ’ của các pháp này; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Ở đấy, thiện căn vô sân là gì? Là sự không tức tối, sự không bất bình, sự không làm hại, sự không oán hận, sự không sân hận, từ ái, biểu hiện từ ái, trạng thái mong muốn sự tấn hóa, trạng thái mong muốn điều lợi ích, niềm tịnh tín của tâm liên quan đến các chúng sanh hoặc liên quan đến các hành, cái này là thiện căn vô sân. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô sân, và của các pháp –tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, (vô sân ấy) là gốc rễ của ba chi phần của Đạo. Của ba chi phần nào? Của chánh ngữ, của chánh nghiệp, và của chánh mạng, (vô sân) là gốc rễ của ba chi phần này của Đạo; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Ở đấy, thiện căn vô si là gì? Là sự thấy và biết đúng theo thực thể về bốn Chân Lý Cao Thượng, sự lãnh hội, sự trực diện một cách đúng đắn, sự thấu triệt, sự không si mê, sự không mê ám, sự không mê muội, minh, sự xán lạn, ánh sáng, sự không ngăn trở đối với các pháp thiện thuộc hữu học, cái này là thiện căn vô si. Cái này là gốc rễ (căn) của việc gì? Là gốc rễ của thân nghiệp, của khẩu nghiệp, của ý nghiệp thiện được sanh ra do vô si, và của các pháp – tâm và sở hữu tâm– được gắn liền với điều ấy. Hoặc là, (vô si ấy) là gốc rễ của hai chi phần của Đạo. Của hai chi phần nào? Của chánh kiến và của chánh niệm, (vô si) là gốc rễ của hai chi phần này của Đạo; vì thế được gọi là ‘gốc rễ của thiện.’ Đạo tám chi phần có thể được kết hợp với ba thiện căn này như vậy.

6-17. Ở đấy, vô thường tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các hành đều có bản tánh sanh diệt,” điều này là vô thường tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi vô thường tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở tám pháp thế gian, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.

Ở đấy, khổ tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các hành là khổ,” điều này là khổ tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi khổ tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở sự thụ động, ở sự xao lãng, và ở sự kinh ngạc, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.

Ở đấy, vô ngã tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Tất cả các pháp là vô ngã,” điều này là vô ngã tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi vô ngã tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối vào việc tạo thành ‘tôi,’ không trụ lại ở việc tạo thành ‘của tôi,’ mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.

Ở đấy, bất tịnh tưởng là gì? Là tưởng, biểu hiện của tưởng, sự xác định, sự nắm lấy (rằng): “Các hành của chúng sanh là bất tịnh,” điều này là bất tịnh tưởng. Hệ quả của điều ấy là gì? Khi bất tịnh tưởng được tu tập, được thực hành thường xuyên, thì tâm không móc nối, không kết nối, không trụ lại ở hiện tướng bất tịnh, mà sự hành xả hoặc trạng thái chán ghét trụ lại; điều này là hệ quả của nó.

6-18. Ở đấy, sự biết toàn diện đối với năm uẩn đã được đức Thế Tôn chỉ bảo, ở đấy, bất tịnh tưởng là tính chất biết toàn diện đối với sắc uẩn, khổ não tưởng là tính chất biết toàn diện đối với thọ uẩn, vô ngã tưởng là tính chất biết toàn diện đối với tưởng uẩn (và) đối với hành uẩn, vô thường tưởng là tính chất biết toàn diện đối với thức uẩn.

Ở đấy, (hành giả) thủ tiêu tham ái bằng chỉ tịnh, thủ tiêu vô minh bằng minh sát, thủ tiêu sân hận bằng vô sân, thủ tiêu si mê bằng vô si, thủ tiêu thường tưởng bằng vô thường tưởng, thủ tiêu lạc tưởng bằng khổ tưởng, thủ tiêu ngã tưởng bằng vô ngã tưởng, thủ tiêu tịnh tưởng bằng bất tịnh tưởng.

Chỉ tịnh có sự không tán loạn và sự gom lại toàn diện của tâm là tướng trạng, các (tầng) thiền là nền tảng của nó. Minh sát có sự thấu triệt tất cả các pháp đúng theo thực thể là tướng trạng, nền tảng của nó là tất cả điều-có- thể-biết. Vô tham có sự ngăn chặn ước muốn là tướng trạng, sự tránh xa việc trộm cắp là nền tảng của nó. Vô sân có không oán hận là tướng trạng, sự tránh xa việc sát sanh là nền tảng của nó. Vô si có sự không bị ngăn trở trong công việc là tướng trạng, sự thực hành đúng đắn là nền tảng của nó. Vô thường tưởng có sự nắm lấy (hiện tượng) tiêu hoại của các pháp bị tạo tác là tướng trạng, sinh và diệt là nền tảng của nó. Khổ não tưởng có sự nhận biết xúc có lậu hoặc là tướng trạng, nền tảng của nó là thọ. Vô ngã tưởng có sự không tiếp cận tất cả các pháp là tướng trạng, nền tảng của nó là pháp tưởng. Bất tịnh tưởng có sự rành rẽ về trạng thái đổi màu xanh, trạng thái chảy nước vàng, hoặc bị trương sình của tử thi là tướng trạng, sự nhàm chán là nền tảng của nó. Khi chín thuật ngữ này được chỉ rõ thì toàn bộ phần thiện được chỉ rõ, và nó có thể hiểu được bởi người nghe nhiều, không bởi kẻ ít nghe, bởi người có tuệ không bởi kẻ có tuệ tồi, bởi người gắn bó, không bởi kẻ không gắn bó. Ở đấy, vô thường tưởng không thiết lập ở người thiên về thường tưởng, cho rằng tâm không liên tục, không quán xét về niệm; khổ não tưởng không thiết lập ở người thiên về khoái lạc và sự hứng thú ở năm loại dục, không quán xét về sự sai trái của đường lối sinh hoạt; vô ngã tưởng không thiết lập ở người thiên về (có) tự ngã ở uẩn-giới-xứ, không quán xét về sự phân biệt các giới khác nhau và nhiều loại giới; bất tịnh tưởng là được che giấu, không thiết lập ở người thích thú về màu da hay hình dáng và ở người thiên về vẻ đẹp ở thân. 6-19. Tín có sự không ăn năn là tướng trạng, sự đặt để niềm tin là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn chi phần của vị Nhập Lưu. Bởi vì điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là như vầy: “Này các tỳ khưu, tín quyền được thấy ở đâu? Ở bốn chi phần của vị Nhập Lưu, ở các thiện pháp.” Tấn quyền có sự không chối bỏ tính dũng cảm là tướng trạng, sự ra sức tinh tấn là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn chánh cần thuộc quá khứ. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, tấn quyền được thấy ở đâu? Ở bốn chánh cần.” Niệm có sự ghi nhớ là tướng trạng, sự không mê muội là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn sự thiết lập niệm thuộc quá khứ. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, niệm quyền được thấy ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm.” Định có sự chuyên nhất là tướng trạng, sự không tán loạn là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn thiền. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, định quyền được thấy ở đâu? Ở bốn thiền.” Tuệ có sự nhận biết là tướng trạng, sự phán đoán về ý nghĩa thực thể là biểu hiện, nền tảng của nó là bốn Chân Lý Cao Thượng. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn (rằng): “Này các tỳ khưu, tuệ quyền được thấy ở đâu? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng.”

6-20. Bốn bánh xe: Việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là bánh xe, việc hầu cận bậc chân nhân là bánh xe, quyết định đúng đắn cho bản thân là bánh xe, việc đã làm phước thiện trong quá khứ là bánh xe. Ở đấy, việc cư ngụ ở địa phương thích hợp có sự nương tựa bậc Thánh là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của việc hầu cận bậc chân nhân. Việc hầu cận bậc chân nhân có sự nương tựa bậc Thánh là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của quyết định đúng đắn cho bản thân. Quyết định đúng đắn cho bản thân có sự thực hành đúng đắn là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của các việc phước thiện. Việc phước thiện có sự tích lũy các thiện pháp là tướng trạng, việc ấy là nền tảng của tất cả các sự thành đạt.

6-21. Mười một pháp có gốc rễ ở giới: Sự không ăn năn hiện hữu ở người có giới –nt– sự biết và sự thấy về giải thoát, sự nhận biết rằng: ‘… không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’ Ở đấy, giới có sự tránh xa là tướng trạng, nó là nền tảng của sự không ăn năn. Sự không ăn năn có sự chỉ trích của bản thân là tướng trạng, nó là nền tảng của sự hân hoan. Sự hân hoan có sự thỏa thích là tướng trạng, nó là nền tảng của sự no vui (hỷ). Sự no vui (hỷ) có sự hoan hỷ là tướng trạng, nó là nền tảng của tịnh. Tịnh có sự có thể sử dụng là tướng trạng, nó là nền tảng của lạc. Lạc có sự không oán hận là tướng trạng, nó là nền tảng của định. Định có sự không tán loạn là tướng trạng, nó là nền tảng của sự biết và thấy đúng theo thực thể. Tuệ có sự phán đoán không bị sai lệch là tướng trạng, nó là nền tảng của sự nhàm chán. Sự nhàm chán có sự không lưu luyến là tướng trạng, nó là nền tảng của sự lìa khỏi luyến ái. Sự lìa khỏi luyến ái có sự không phiền não là tướng trạng, nó là nền tảng của sự giải thoát. Sự giải thoát có sự tách rời khỏi các pháp bất thiện là tướng trạng, nó là nền tảng của việc thanh lọc thuộc về giải thoát.

6-22. Bốn lãnh vực của bậc Thánh là bốn quả vị của hạnh Sa-môn. Ở đấy, người nhận biết đúng theo thực thể, đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Sau khi nhận biết đúng theo thực thể, vị ấy nhàm chán; điều này là nền tảng của sự luyến ái về dục và oán hận nhỏ nhoi, và là quả vị Nhất Lai. Vị ấy lìa luyến ái vi tế, đây là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, và là quả vị Bất Lai. Sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là lãnh vực đã được thực hành xong, và là phẩm vị A-la-hán.

‘Các quả vị của hạnh Sa-môn,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Thánh Đạo tám chi phần là hạnh Sa-môn; ‘các quả báo’ ấy của nó được gọi là ‘các quả vị của hạnh Sa-môn.’ Tại sao chúng được gọi là ‘các quả báo của Phạm hạnh’? Phạm hạnh là Thánh Đạo tám chi phần; ‘các quả báo’ ấy của nó được gọi là ‘các quả báo của Phạm hạnh.’ Ở đấy, vị Nhập Lưu là thế nào? Với sự lãnh hội các Chân Lý, ba sự ràng buộc đối với vị đệ tử của bậc Thánh được dứt bỏ: sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự. ‘Do sự dứt bỏ, do sự cạn kiệt hoàn toàn của ba sự ràng buộc này, vị đệ tử của bậc Thánh là có pháp không bị thối đọa,’ … cho đến … ‘thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’ Ở đấy, sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) là gì? ‘Kẻ phàm phu, ngu si, không lắng nghe,’ … (cho đến) … ‘không rành rẽ Thánh pháp, kẻ ấy nhận thấy sắc là tự ngã,’ –nt– (cho đến) … ‘tự ngã ở trong thức.’ Kẻ ấy có sự chấp về tự ngã hoặc chấp về sở hữu của tự ngã ở năm uẩn này, là kẻ vận dụng sự kiểm soát ở từng uẩn (cho rằng): ‘Cái này là ta,’ là kẻ đã đưa ra, có sự ủng hộ, đang đeo đẳng, chăm sóc ‘bộ phận cơ thể này đến bộ phận cơ thể khác.’ Việc chấp nhận, việc ưa thích, việc xem xét, việc suy tầm theo biểu hiện, quan điểm và sự suy xét nhiệt tình của vị có trạng thái như thế ấy được gọi là ‘sự nhận thức sai trái về thân.’ Ở đấy, năm quan điểm liên quan đến đoạn kiến. Năm (quan điểm) nào? Kẻ ấy nhận thấy sắc là tự ngã … cho đến … nhận thấy thức là tự ngã. Năm (quan điểm) này liên quan đến đoạn kiến, 15 (quan điểm) còn lại liên quan đến thường kiến. Như thế, với việc dứt bỏ sự nhận thức sai trái về thân, 62 tà kiến được dứt bỏ. Do sự dứt bỏ thì không còn liên quan đến đoạn kiến và thường kiến. Như thế, do sự dứt bỏ đoạn kiến và thường kiến, vị đệ tử của bậc Thánh không có bất cứ quan điểm (kiến) nào, [ngoại trừ chánh kiến xuất thế gian. Vả lại, không có sự nhận thức sai trái về thân là thế nào?] ‘Ở đây, vị đệ tử của bậc Thánh là có sự lắng nghe,’ … tất cả phần trắng nên được thực hiện cho đến … ‘rành rẽ các Thánh pháp, nhận thấy sắc là vô ngã,’ –nt– … (cho đến) … ‘thức’ –nt–. Vị này, trong khi nhận thấy như vậy, sự nhận thức sai trái về thân (thân kiến) không có đối với vị này. Sự hoài nghi không có là thế nào? Ở đây, vị đệ tử của bậc Thánh không nghi ngờ, không hoài nghi về đức Phật, tịnh tín rằng: ‘Thật vậy, đức Thế Tôn ấy là: …’ – (toàn bộ); không nghi ngờ, không hoài nghi về Giáo Pháp – (toàn bộ) … cho đến … ‘sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn,’ vị ấy thành tựu pháp không nghi ngờ thứ nhì này; không nghi ngờ về Tăng Chúng –nt– … cho đến ... ‘sự cúng dường của chư Thiên và nhân loại,’ vị ấy thành tựu pháp không nghi ngờ thứ ba này. Vị ấy không nghi ngờ, không hoài nghi, hướng đến, tịnh tín (rằng): “Tất cả các hành là khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi (rằng): “Tham ái là nhân sanh Khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi (rằng): “Sự diệt tận tham ái là sự diệt tận khổ;” không nghi ngờ, không hoài nghi, hướng đến, tịnh tín (rằng): “Thánh Đạo tám chi phần là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.”

Biểu hiện nghi ngờ, sự nhầm lẫn, sự hoài nghi, sự phân vân, sự không quyết định, sự không quả quyết, sự không ổn định, sự không xác định, sự không chắc chắn, trạng thái không quyết định về đức Phật, hoặc về Giáo Pháp, hoặc về Tăng Chúng, hoặc về Khổ, hoặc về Tập, hoặc về Diệt, hoặc về Đạo, đối với vị ấy, chúng là đã được dứt bỏ, có rễ đã được cắt lìa, như cây thốt-nốt đã bị cụt ngọn, đã đi đến việc không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự có hai loại: hoặc là thuộc về giới hoặc là của vị đã được trong sạch. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự thuộc về giới là gì? (Nghĩ rằng): “Với giới này, hay với phận sự này, hay với sự khắc khổ này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó; ở đấy, ta sẽ đùa giỡn, sẽ vui thích, sẽ gần gũi với các tiên nữ có các bàn chân như của chim bồ câu,” việc chấp nhận, việc ưa thích, việc giải thoát, sự luyến ái, quan điểm vận hành luyến ái, biểu hiện, việc nhìn thấy của vị có trạng thái như thế ấy là sự bám víu vào giới và phận sự thuộc về giới. Ở đấy, sự bám víu vào giới và phận sự của vị đã được trong sạch là gì? “Ở đây, một người nào đó bám víu vào giới (nghĩ rằng): ‘(Hành giả) được trong sạch nhờ vào giới, được dẫn đi nhờ vào giới, được giải thoát nhờ vào giới, vượt qua lạc, vượt qua khổ, vượt qua lạc và khổ, tuần tự chứng đạt với phần cao nhất,’và người bám víu vào cả hai giới và phận sự ấy (nghĩ rằng): ‘Nhờ vào cả hai giới và phận sự ấy, họ được trong sạch, được dẫn đi, được giải thoát, vượt qua lạc, vượt qua khổ, vượt qua lạc và khổ, và tuần tự chứng đạt;’” đối với người cho rằng pháp không làm cho trong sạch, pháp không làm cho giải thoát là trong sạch, là sự giải thoát, thì việc chấp nhận, việc ưa thích, việc giải thoát, việc xem xét, việc suy tầm theo biểu hiện, việc suy xét về quan điểm, việc nhìn thấy của vị có trạng thái như thế ấy là sự bám víu vào giới và phận sự của vị đã được trong sạch. Cả hai sự bám víu này là ‘đã được dứt bỏ đối với vị đệ tử của bậc Thánh’ … cho đến … ‘không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai.’ Vị ấy là người có giới, ‘được thành tựu với các giới được yêu quý bởi các bậc Thánh, không bị bể vỡ,’ … cho đến … ‘vận hành đưa đến an tịnh (Niết Bàn).’ Do việc dứt bỏ ba sự ràng buộc này, ‘vị đệ tử của bậc Thánh có sự lắng nghe là bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa’ – (toàn bộ). ‘Với sự lãnh hội các Chân Lý,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Bốn sự lãnh hội: lãnh hội do biết toàn diện, lãnh hội do dứt bỏ, lãnh hội do chứng ngộ, lãnh hội do tu tập. Ở đấy, vị đệ tử của bậc Thánh lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện, lãnh hội về Tập với sự lãnh hội do dứt bỏ, lãnh hội về Diệt với sự lãnh hội do chứng ngộ, lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập. Sự lãnh hội do biết toàn diện về Khổ, sự lãnh hội do dứt bỏ Tập, sự lãnh hội do chứng ngộ Diệt, sự lãnh hội do tu tập Đạo là bởi lý do gì? Bởi chỉ tịnh và minh sát. Lãnh hội như thế nào? Sau khi gắn chặt tâm vào đối tượng, (hành giả) thấy năm uẩn là khổ. Ở đấy, sự gắn chặt là chỉ tịnh, sự thâm nhập là minh sát.

Đối với vị nhìn thấy ‘năm uẩn là khổ,’ thì sự lưu luyến, sự đeo đuổi, sự tiếp cận, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, nguyện vọng, ước nguyện của vị ấy ở năm uẩn được dứt bỏ. Ở đấy, năm uẩn là Khổ. Ở đấy, sự lưu luyến, sự đeo đuổi, sự tiếp cận, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, nguyện vọng, ước nguyện là Tập. Sự dứt bỏ đối với điều ấy là Diệt. Chỉ tịnh và minh sát là Đạo. Như vậy, sự lãnh hội đối với bốn Chân Lý Cao Thượng ấy xảy ra vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm, không trước không sau. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói (rằng): “Với sự lãnh hội các Chân Lý, ba sự ràng buộc đối với vị đệ tử của bậc Thánh được dứt bỏ.” Ở đấy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm: ‘(Vị ấy) lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’ … cho đến … ‘lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập.’ ‘Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’… cho đến … ‘Đạo với sự lãnh hội do tu tập’ (!) là bởi lý do gì? Trong lúc nhìn thấy như vậy, giống như chiếc thuyền, trong lúc di chuyển ở nước, thực hiện bốn công việc: làm cho đạt đến bờ bên kia, từ bỏ bờ bên này, vận chuyển khối hàng, rẽ đôi dòng nước, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, vào cùng một thời điểm, ở cùng một tâm: ‘‘(Vị ấy) lãnh hội về Khổ với sự lãnh hội do biết toàn diện’ … cho đến … ‘lãnh hội về Đạo với sự lãnh hội do tu tập.’ Hoặc là giống như mặt trời, trong lúc mọc lên, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, không trước không sau: Xua tan sự tối tăm, làm hiện ra ánh sáng, sắc được thấy rõ, làm giảm dần sự lạnh lẽo, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, –nt–. Giống như ngọn đèn, trong lúc cháy sáng, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, không trước không sau: Xua tan sự tối tăm, làm hiện ra ánh sáng, sắc được thấy rõ, làm cạn dần nhiên liệu, tương tự y như vậy, chỉ tịnh và minh sát được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, thực hiện bốn công việc vào cùng một lúc, –nt–. Khi ‘vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa,đã được chắc chắn,’… cho đến … ‘thực hiện việc chấm dứt khổ đau;’ đây là lãnh vực của việc thấy và là quả vị Nhập Lưu. Đứng vững ở quả vị Nhập Lưu, trong lúc tu tập (chỉ tịnh và) minh sát thêm hơn nữa; (và khi chúng) được kết hợp chung, trong lúc được vận hành, do sự dứt bỏ phần lớn luyến ái về dục và oán hận, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Nhất Lai, có bản thân đã được hoàn thành, (sẽ) đi đến thế gian này chỉ một lần nữa và thực hiện việc chấm dứt khổ đau; đây là lãnh vực giảm bớt và là quả vị Nhất Lai. Đứng vững ở quả vị Nhất Lai, trong lúc tu tập minh sát, (vị đệ tử của bậc Thánh) dứt bỏ không còn dư sót sự luyến ái về dục và oán hận có sự tiềm ẩn; khi sự luyến ái về dục và oán hận đã được dứt bỏ không còn dư sót, năm sự ràng buộc thuộc hạ phần là được dứt bỏ (gồm có): sự nhận thức sai trái về thân, sự bám víu vào giới và phận sự, hoài nghi, sự mong muốn về dục, và oán hận. Do sự dứt bỏ đối với năm sự ràng buộc thuộc hạ phần, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc Bất Lai, ở đấy, có sự viên tịch Niết Bàn, có pháp không quay trở lại từ thế giới ấy; đây là lãnh vực xa lìa luyến ái và là quả vị Bất Lai.

Đứng vững ở quả vị Bất Lai, trong lúc tu tập minh sát thêm hơn nữa, (vị đệ tử của bậc Thánh) dứt bỏ năm sự ràng buộc thuộc thượng phần (gồm có): ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh. Do sự dứt bỏ đối với năm sự ràng buộc thuộc thượng phần này, vị đệ tử của bậc Thánh trở thành bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự ràng buộc ở hữu đã được đoạn tận, có sự hiểu biết đúng đắn, đã được giải thoát; đây là lãnh vực đã được làm xong và là quả vị A-la-hán.

Đây là Niết Bàn giới còn dư sót. Đối với vị này, do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự hoại diệt của mạng quyền, khổ này được diệt tận, và khổ khác không sanh lên. Sự diệt tận, sự vắng lặng của khổ này và sự không hiện khởi của cái (khổ) khác, đây là Niết Bàn giới không còn dư sót. Đây là hai Niết Bàn giới. Như thế, các Chân Lý được nói đến, sự lãnh hội các Chân Lý được nói đến, sự xác định ô nhiễm được nói đến, sự dứt bỏ được nói đến, các lãnh vực được nói đến, các Quả vị được nói đến, các Niết Bàn giới được nói đến. Như vậy, khi các điều này được nói đến, toàn bộ sự giác ngộ là được nói đến. Ở đây, sự nỗ lực cần được thực hiện.

6-23. Ở đấy, chín sự chứng đạt theo tuần tự là những gì? Bốn thiền, bốn sự chứng đạt vô sắc, và sự chứng đạt diệt (thọ tưởng).

Ở đấy, bốn thiền là những gì? “Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, ngay sau khi tách ly khỏi các dục, …” nên được thực hiện với chi tiết. Ở đấy, bốn sự chứng đạt vô sắc là những gì? ‘Thật vậy, đối với vị có sự lìa luyến ái, cần được nói đến’ … (cho đến) … ‘sự chứng đạt diệt (thọ tưởng)’ nên được thực hiện với chi tiết; đây là chín sự chứng đạt theo tuần tự.

Ở đấy, sơ thiền là gì? Là đã được tách rời năm yếu tố, là đã được hội đủ năm yếu tố. Đã được tách rời năm yếu tố nào? Năm pháp che lấp. Ở đấy, năm pháp che lấp là những gì? ‘Sự mong muốn về dục, …’ chi tiết nên được thực hiện.

Ở đấy, sự mong muốn về dục là gì? Là sự mong muốn và luyến ái về năm loại dục, sự yêu thương, sự đeo đuổi, sự bám chặt, ước muốn, sự mê mẩn, ước nguyện, sự không buông bỏ, sự tiềm ẩn, sự thâm nhập; đây là pháp che lấp ‘sự mong muốn về dục.’

Ở đấy, oán hận là gì? Là sự tức tối, –nt– ở chúng sanh và ở các sự tạo tác. Chi tiết giống như ở (bất thiện căn) sân; đây là pháp che lấp ‘oán hận.’ Ở đấy, sự buồn ngủ là gì? Là trạng thái đờ đẫn của thân, trạng thái nặng nề của thân, trạng thái không có thể sử dụng của thân, sự trì trệ của thân, việc ngủ, trạng thái mơ màng, sự nháy mắt, sự díu mắt; điều này là sự buồn ngủ. Ở đấy, sự dã dượi là gì? Là trạng thái dã dượi, trạng thái đờ đẫn của tâm, trạng thái nặng nề của tâm, sự không an tịnh của tâm; điều này là sự dã dượi. Như thế, sự dã dượi này và sự buồn ngủ trước đây, cả hai điều ấy được gọi là pháp che lấp ‘dã dượi và buồn ngủ.’

Ở đấy, phóng dật là gì? Là sự không vắng lặng của tâm; điều này là phóng dật. Ở đấy, hối hận là gì? Là sự bối rối, sự day dứt, sự dằn vặt của tâm, sự bối rối ở trái tim, sự ăn năn; điều này là hối hận. Như thế, sự hối hận này và sự phóng dật trước đây, cả hai điều ấy được gọi là pháp che lấp ‘phóng dật và hối hận.’

Ở đấy, pháp che lấp ‘hoài nghi’ là gì? (Biểu hiện nghi ngờ, sự nhầm lẫn …) về đức Phật, hoặc về Giáo Pháp, hoặc về Tăng Chúng, –nt–; điều này là hoài nghi. Và thêm nữa, có năm loại hoài nghi: (hoài nghi) có chướng ngại toàn thể, có chướng ngại cục bộ, có chướng ngại về sự chứng đạt, có chướng ngại về Đạo, có chướng ngại về cõi Trời. Tuy nhiên, ở đây hoài nghi có chướng ngại về sự chứng đạt được đề cập đến. Đây là năm pháp che lấp.

Ở đấy, ‘các pháp che lấp,’ ý nghĩa của lời nói là gì? Chúng che lấp về cái gì? Chúng che lấp về toàn bộ phần thiện. Chúng che lấp như thế nào? Sự mong muốn về dục che lấp về bất tịnh, oán hận che lấp về từ ái, sự dã dượi che lấp về sự tịnh lặng, buồn ngủ che lấp về sự ra sức tinh tấn, phóng dật che lấp về chỉ tịnh, hối hận che lấp về sự không ăn năn, hoài nghi che lấp về sự nhận biết (tuệ), về sự tùy thuận sanh khởi.

Một cách thức khác: Sự mong muốn về dục che lấp về thiện căn vô tham, oán hận che lấp về thiện căn vô sân, sự dã dượi và buồn ngủ che lấp về định, phóng dật và hối hận che lấp về các sự thiết lập niệm, hoài nghi che lấp về thiện căn vô si.

Một cách thức khác: ba sự an trú là: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú. Thiên trú là bốn thiền, Phạm trú là bốn vô lượng (tâm), Thánh trú là 37 pháp dự phần vào giác ngộ. Ở đấy, sự mong muốn về dục, sự phóng dật, và sự hối hận che lấp về Thiên trú; oán hận che lấp về Phạm trú; sự dã dượi, buồn ngủ, và hoài nghi che lấp về Thánh trú.

Một cách thức khác: Sự mong muốn về dục, oán hận, phóng dật và hối hận che lấp về chỉ tịnh; sự dã dượi, buồn ngủ, và hoài nghi che lấp về minh sát. Vì thế, chúng được gọi là ‘pháp che lấp.’ Sơ thiền là đã được tách ly khỏi năm yếu tố này.

Sơ thiền là đã được gắn liền với năm yếu tố nào? Với tầm và tứ, với hỷ, với lạc, và với trạng thái chuyên nhất của tâm. Với sự sanh lên–đạt được–và hội đủ, với sự chứng ngộ đối với năm yếu tố này, sơ thiền được gọi là ‘đã đạt được.’ Sau khi làm sanh lên năm yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến sơ thiền, (vị ấy) an trú với Thiên trú.” Ở đấy, nhị thiền là được hội đủ với bốn yếu tố: với hỷ, với lạc, với trạng thái chuyên nhất của tâm, với sự tịnh tín thuộc nội phần. Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu bốn yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến nhị thiền, (vị ấy) an trú.” Ở đấy, tam thiền là được hội đủ với năm yếu tố: với niệm, với sự nhận biết rõ, với lạc, với trạng thái chuyên nhất của tâm, với hành xả. Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu các yếu tố này, (vị ấy) an trú; vì thế, được gọi là: “Sau khi đạt đến tam thiền, (vị ấy) an trú.” Ở đấy, tứ thiền là được hội đủ với bốn yếu tố: với hành xả, với sự thanh tịnh của niệm, với thọ không khổ không lạc, và với trạng thái chuyên nhất của tâm; tứ thiền được hội đủ với năm yếu tố này. Như thế, với sự sanh lên– đạt được–và hội đủ, với sự chứng ngộ của bốn yếu tố này, tứ thiền được gọi là: ‘đã đạt được.’ Sau khi làm sanh lên, sau khi làm cho thành tựu bốn yếu tố này, (vị ấy) đạt đến và an trú; vì thế, được gọi là: “(Vị ấy) an trú với Thiên trú.” 6-24. Ở đấy, ý nghĩa vô thường là gì? Ý nghĩa ép buộc là ý nghĩa vô thường, ý nghĩa mảnh mai, ý nghĩa làm cho đạt được (sự thay đổi), ý nghĩa tách ly là ý nghĩa vô thường; đây là ý nghĩa vô thường. Ở đấy, ý nghĩa khổ não là gì? Ý nghĩa ép buộc là ý nghĩa khổ não, ý nghĩa áp bức, ý nghĩa chấn động, ý nghĩa bệnh hoạn là ý nghĩa khổ não; đây là ý nghĩa khổ não. Ở đấy, ý nghĩa rỗng không là gì? Ý nghĩa không bị nhiễm bẩn là ý nghĩa rỗng không, ý nghĩa không cộng tác, ý nghĩa đã rời đi, ý nghĩa xoay vần trở lại là ý nghĩa rỗng không; đây là ý nghĩa rỗng không. Ở đấy, ý nghĩa vô ngã là gì? Ý nghĩa không có quyền uy là ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa không vận hành sự điều khiển, ý nghĩa không làm được như ý muốn, ý nghĩa đã được tách rời là ý nghĩa vô ngã; đây là ý nghĩa vô ngã.

Lãnh vực thứ sáu - Tóm Lược Ý Nghĩa của Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.