Bản dịch
PE 5 — Lãnh Vực Thứ Năm: Phân Tích Cách Truyền Đạt
5. Hāravibhaṅgapañcamabhūmi
(1). Ở đấy, phân tích cách truyền đạt là gì? Ở đâu mười sáu cách truyền đạt đi đến sự chia chẻ theo âm tố, ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là ở phần đầu.
Ở đấy, đây là câu kệ:
1. ‘Các thiện hoặc các bất thiện, các Chân Lý hoặc một phần của các Chân Lý, điều gì đã được chỉ bảo?’ Sự thẩm xét về Kinh như thế là cách truyền đạt bằng sự chi bảo.
Giống như việc trình bày các Chân Lý Cao Thượng, bốn Chân Lý –phổ biến và không phổ biến– có mười tám thuật ngữ. Về Khổ, có bảy thuật ngữ, theo cách tóm tắt là khổ thuộc thân, thuộc tâm, sự gần gũi đối tượng không yêu mến, sự xa lìa đối tượng yêu mến, và ba tính chất của pháp hữu vi. Ở đấy, ba tướngtrạng của pháp hữu vi là ba trạng thái khổ: sanh là hữu vi tướng có trạng thái khổ do hành khổ, diệt là hữu vi tướng có trạng thái khổ do hoại khổ, và sự đổi khác là hữu vi tướng có trạng thái khổ do khổ khổ. Ở ba lãnh vực thuộc về thọ của ba hữu vi tướng này là: “Thọ không khổ không lạc có sanh là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do hành khổ, thọ lạc có diệt là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do hoại khổ, thọ khổ có sự đổi khác là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do khổ khổ,” như thế các khổ nên được tìm kiếm ở mười sáu thuật ngữ: ở chín thuật ngữ này và ở bảy thuật ngữ đầu tiên, và tướng trạng của mười một trạng thái khổ được diễn giải ở tập Diễn Giải. “Tướng trạng của sự hiện khởi là sanh, và tướng trạng của sự tử vong từ sự hiện khởi là tử,” mười lăm thuật ngữ nên được thực hiện một cách chi tiết như thế.
Như vậy, “(các Chân Lý) là phổ biến và không phổ biến ở bảy, ở mười thuật ngữ, ở năm mươi loại về sự hình thành giáo lý, ở mười tám loại về sự xác định Kinh, ở mười loại về sự sắp xếp Kinh, ở mười sáu loại về cách truyền đạt, ở hai mươi mốt loại về nghiên cứu và thẩm xét,” như thế (Kinh) này đã được chỉ bảo và đã được chỉ bảo đúng theo thực thể. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.
(2). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là gì?
2. Đoạn kệ, câu hỏi, và câu chất vấn, cái gì trước và cái gì sau, câu kệ tóm lược và sự tìm hiểu, cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự tìm hiểu’.
Đoạn kệ: Trước tiên là đoạn kệ, ý nghĩa của nó là gì? Đức Thế Tôn đã được đại đức Ajita hỏi điều nào thì nên nắm lấy điều ấy. Bao nhiêu đoạn kệ đã được hỏi? Như là điều gì? Câu kệ là: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì? …” Có bao nhiêu các đoạn kệ này? “Bốn;” như thế là câu chất vấn với câu trả lời. Các đoạn kệ đã được trả lời bởi đức Thế Tôn bằng bao nhiêu đoạn kệ thì sự phô bày các đoạn kệ ở câu chất vấn là như thế. Đây gọi là “đoạn kệ.”
Câu hỏi: Bốn đoạn kệ này có bao nhiêu câu hỏi, một, hoặc hai, hoặc nhiều hơn thế? Bốn đoạn kệ này là một câu hỏi, văn tự có sự xoay quanh ý nghĩa, mặc dầu là nhiều đoạn kệ nhưng cũng chỉ hỏi về một ý nghĩa. “Bốn đoạn kệ này có sự xoay quanh,” điều ấy theo văn tự chỉ là một câu hỏi.
Thế giới bị bao trùm bởi cái gì: Vị ấy hỏi liên quan đến thế giới. “Không chói sáng bởi điều gì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” là hỏi về chính cái (thế giới) ấy. “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” là hỏi về chính cái (thế giới) ấy. Như vậy, văn tự có sự xoay quanh ý nghĩa và là một câu hỏi. Câu hỏi ấy có bốn loại: nên được giải đáp dứt khoát, nên được giải đáp sau khi phân tích, nên được giải đáp bằng câu hỏi ngược lại, nên được đình chỉ. Ở đấy, “Mắt là vô thường?” là nên được giải đáp dứt khoát; “Cái gì là vô thường, cái ấy là khổ?” là nên được giải đáp sau khi phân tích; “Giả sử có vật vô thường và không phải là mắt, thì các xứ nào không phải là mắt, chúng cũng là vô thường;’ như thế không chỉ riêng mắt (là vô thường),” đây là điều nên được giải đáp sau khi phân tích; “Cái nào là mắt, cái ấy không phải là nhãn quyền?” nên được giải đáp bằng câu hỏi ngược lại; “Mắt ấy là đức Như Lai?” là nên được đình chỉ; “Ngoại trừ mắt (là đức Như Lai)?” là câu hỏi nên được đình chỉ.
Đây là câu hỏi. Đức Thế Tôn được hỏi về điều gì? Được hỏi về phiền não của thế giới. Điều gì là lý do? Bởi vì phiền não có ba loại: phiền não do tham ái, phiền não do tà kiến, và phiền não do uế hạnh. Ở đấy, ‘bị bao trùm bởi vô minh’ chỉ ra vô minh, ‘tham muốn’ chỉ ra tham ái, ‘sự nguy hiểm lớn lao’ chỉ ra quả thành tựu của nghiệp bất thiện. Đức Thế Tôn trả lời rằng: “Điều đã được nghe là: ‘Đối với nghiệp đem lại cảm thọ lạc, sẽ có quả thành tựu đem lại cảm thọ khổ,’ sự kiện này không xảy ra.” (Câu trả lời) với bốn đoạn kệ: “Thế gian bị bao trùm bởi vô minh, …” –nt– được nói đến như vậy.
Vị ấy hỏi ngược lại hơn thế nữa. Câu kệ là: “Các dòng chảy trôi đi khắp mọi nơi, …” Vị ấy hỏi bốn đoạn kệ, đức Thế Tôn trả lời điều ấy bằng hai đoạn kệ.
2. “Các dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.”
Ngài trả lời bốn đoạn kệ này bằng hai đoạn kệ. Ngài được hỏi là: “Điều này là thế nào?” là được hỏi về sự thanh lọc đối với thế giới đã bị uế nhiễm ấy. Các dòng chảy là sáu nhóm tham ái được diễn giải với số nhiều theo tất cả các xứ. “Các dòng chảy ấy được ngăn cản bởi cái gì?” là hỏi về việc dứt bỏ sự xâm nhập. “Các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” là hỏi về việc thủ tiêu các pháp tiềm ẩn. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo việc chế ngự bằng niệm ở sáu cửa; bởi vì, vị nào sống có sự nhận biết rõ, và với niệm là người giữ cửa các giác quan của vị ấy trở nên được gìn giữ; ở đấy, khi các giác quan được gìn giữ, sự minh sát lần lượt vận hành đưa đến sự dứt bỏ tận cùng đối với các dòng chảy ấy và đối với vô minh ấy, bởi nó mà thế giới bị bao trùm. Các dòng chảy được chặn đứng là như vậy.
Sau đó, vị ấy hỏi thêm nữa (rằng):
3. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Tuệ và luôn cả niệm, thưa ngài, danh và sắc; được tôi hỏi điều này, xin ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?
Đức Thế Tôn trả lời bốn đoạn kệ này bằng một đoạn kệ.
4. Này Ajita, câu hỏi nào ngươi đã hỏi, Ta (sẽ) trả lời câu hỏi ấy cho ngươi: ‘Ở nơi nào danh và sắc được hoại diệt không dư sót?’ Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.
Vị ấy hỏi gì với câu hỏi này? Vị ấy hỏi về Niết Bàn Giới không còn dư sót. Đức Thế Tôn trả lời vị ấy về Niết Bàn Giới không còn dư sót. Ở đấy, vị ấy hỏi về phiền não với câu hỏi thứ nhất, hỏi về sự thanh lọc với câu hỏi thứ hai, hỏi về Niết Bàn Giới còn dư sót với câu hỏi thứ ba, hỏi về Niết Bàn Giới không còn dư sót với câu hỏi thứ tư. Sau đó, vị ấy hỏi ngược lại thêm nữa (rằng):
5. Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp (là các bậc A-la-hán) và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này, bậc Chín Chắn được tôi hỏi về oai nghi của những vị ấy, thưa ngài, xin ngài hãy nói lên.
Vị ấy hỏi bốn đoạn kệ này. Hơn nữa, các vị ấy ở câu hỏi là bao nhiêu? Là các bậc A-la-hán đã hiểu rõ Giáo Pháp và các bậc Hữu Học. “Cái gì trước và cái gì sau?” Đây là ý nghĩa. Ở đấy, vị ấy hỏi cái nào trước, cái nào sau? Vị ấy hỏi về bậc A-la-hán trước, về các bậc có pháp Hữu Học (sau). Ở đấy, với thuật ngữ thứ nhất: “những vị đã hiểu rõ Giáo Pháp” thì các bậc A-la-hán được đề cập, “đông đảo” thì các bậc Hữu Học được đề cập. “Bậc Chín Chắn được tôi hỏi về (oai nghi của) những vị ấy” là hỏi đức Thế Tôn về thuật ngữ phổ biến (cho cả hai hạng). Ở đấy, các (thuật ngữ) phổ biến và không phổ biến được hỏi ở các câu hỏi. Đức Thế Tôn trả lời điều ấy. Không như (thứ tự) điều đã được hỏi, điều đã được hỏi trước Ngài trả lời sau, điều đã được hỏi sau Ngài trả lời trước. Và điều đã được hỏi này là điều gì? “Oai nghi của các vị đã được thanh tịnh và của các vị đang được thanh tịnh là gì?” Điều này đã được hỏi như thế. “Không nên khát khao ở các dục, không nên bị vẩn đục ở tâm,” đức Thế Tôn ngăn cản các sự xâm nhập ở tầm là như thế. Hơn nữa, hai sự suy tầm (suy tầm về oán hận, suy tầm về hãm hại) là sự xâm nhập do trạng thái vẩn đục giống như đã được diễn giải ở các pháp che lấp. “Thiện xảo đối với tất cả các pháp,” Ngài đã trả lời về các bậc A-la-hán là như thế.
Câu kệ là: “Làm thế nào vượt qua cơn lũ? …” Bốn đoạn kệ này chính là bốn câu hỏi. Điều gì là lý do? Bởi vì ở đây, văn tự không có sự xoay quanh ý nghĩa giống như câu thứ nhất ở các câu hỏi của Ajita. Nhiều (câu trả lời) không trả lời một cách dứt khoát cho vị ấy được, không phải là nhiều câu hỏi, cũng không phải chỉ là một (sự việc), mà vị ấy hỏi toàn bộ. Giống như câu thứ tư đã được trả lời ở phần trước cho câu hỏi của Ajita, sự tìm kiếm đúng theo thực thể ở đây là nhờ vào sự liên kết của các đoạn kệ, vị tìm kiếm các câu trả lời đúng theo thực thể là như vậy. Ở đây, người nào hỏi sự việc như vậy lần nữa, ở đấy, đây là phương thức trong việc chất vấn.
“Mối rối bên trong, mối rối bên ngoài, …” câu kệ như thế cần được vạch lối cho câu trả lời về điều đã được hỏi: “Đã được trả lời như thế nào?” Chính đức Thế Tôn đã trả lời, câu kệ là: “Sau khi đứng vững ở giới, người có tuệ ...” Ở đấy, nhờ vào sự tu tập của tâm là chỉ tịnh, nhờ vào sự tu tập của tuệ là minh sát. Ở đấy, vị ấy suy luận như vầy: “Các pháp nào được dứt bỏ nhờ vào chỉ tịnh và nhờ vào minh sát, chúng là các mối rối bên trong và mối rối bên ngoài.” Ở đấy, câu trả lời là: luyến ái được dứt bỏ nhờ vào chỉ tịnh, vô minh nhờ vào minh sát. Luyến ái có chỗ dựa ở nội phần là mối rối bên trong, có chỗ dựa ở ngoại phần là mối rối bên ngoài; thân kiến có chỗ dựa ở nội phần là mối rối bên trong, và sáu mươi mốt tà kiến có chỗ dựa ở ngoại phần là mối rối bên ngoài. Bởi vì cái nào được hình thành với bản thể có chỗ dựa ở nội phần, v.v… thì sẽ là mối rối, cũng vậy, một cách tóm tắt, bất cứ tham ái và tà kiến nào có chỗ dựa ở nội phần (thì sẽ) là mối rối bên trong, bất cứ tham ái và tà kiến nào có chỗ dựa ở ngoại phần (thì sẽ) là mối rối bên ngoài.
Giống như vị Thiên nhân hỏi đức Thế Tôn, câu kệ là: “Bốn bánh xe, chín cánh cửa. ...” Ở đấy, đức Thế Tôn trả lời, câu kệ là: “Sau khi cắt đứt dây cương (thù hằn) và đai da (tham ái) ...” đức Thế Tôn trả lời điều này về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Với câu trả lời này, đức Thế Tôn kết luận rằng các ô nhiễm ở đây nên được diễn giải ở câu kệ thứ nhất. Bởi vì, ‘bốn bánh xe’ ấy hoặc là bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), ‘chín cánh cửa’ là chín vết thương (khiếu); (hoặc là) giống như ‘bốn bánh xe’ là bốn thủ, –do duyên thủ, hữu (sanh khởi); do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu,– ‘chín cánh cửa’ là chín loại ngã mạn, bởi vì cái khổ ‘tôi là tốt hơn’ có sự xuất phát từ ngã mạn.
Mặt khác, ba nhóm ba (ngã mạn) là được đầy đủ. Chính việc được gắn liền với nhóm ba là sự luyến ái có liên quan đến năm loại dục. Ở đấy, ‘dây cương’ được trả lời là tham ái, Ngài trả lời ‘đai da’ là ngã mạn, ‘ước muốn và tham lam xấu xa’ là luyến ái liên quan đến năm loại dục. Ở đấy, ‘tham lam không đúng đắn, xấu xa’ được diễn giải là ‘tham ái với gốc rễ.’ ‘Sau khi đã nhổ lên tham ái có gốc rễ ở sự không biết rõ’ là sự dứt bỏ tham ái và tà kiến. Hơn nữa, bất cứ các pháp đưa đến luân hồi nào khác được kết nối với bốn bánh xe bởi chính lý do ấy, tất cả cần được diễn giải. Ở đấy, câu kệ này tương đương với câu trả lời. Nếu là ‘sự tìm hiểu’ ở câu kệ tóm lược với sự cô đọng thì nhờ vào thể văn veyyākaraṇa đi cùng; đức Thế Tôn trình bày bao nhiêu thuật ngữ thì Ngài đọc kệ tóm lược với chừng ấy thuật ngữ.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu tám yếu tố xứng đáng để đi làm sứ giả.” Tám thuật ngữ này đã được trình bày. Đức Thế Tôn đọc kệ tóm lược với sáu thuật ngữ.
6. “Nếu vị nào không run sợ sau khi đi đến nơi hội chúng có sự tranh cãi ồn ào, là vị không bỏ dở lời nói, và không che giấu lời giảng dạy,―
7. ―vị nói có sự mạch lạc, và khi bị chất vấn không nổi sân; vị tỳ khưu như thế ấy quả xứng đáng để đi làm sứ giả.”
Ở đấy, hơn nữa, đức Thế Tôn trình bày bao nhiêu thuật ngữ thì Ngài đọc kệ tóm lược với chừng ấy thuật ngữ.
“Này các tỳ khưu, người bạn tốt thành tựu bảy yếu tố là vị đáng mến, đáng kính, đáng trọng” (nên được trình bày) với chi tiết. Đức Thế Tôn đọc kệ tóm lược về điều này với bảy thuật ngữ. Như thế, (có trường hợp) bậc đa văn đọc kệ tóm lược có nhiều (thuật ngữ) hơn hoặc bài giảng có sự trình bày thuật ngữ ít hơn, (có trường hợp) bậc đa văn đọc kệ tóm lược với bài kệ tóm lược có ít (thuật ngữ) hơn và sự trình bày có các thuật ngữ mới nhiều hơn. (?)
Đây được gọi là câu kệ tóm lược và sự tìm hiểu. Cách truyền đạt này có tên là sự tìm hiểu.
(3). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự kết nối là gì?
8. Trong số tất cả các cách truyền đạt, việc tìm hiểu về sự chính xác hay không chính xác của lãnh vực (văn tự) và hành xứ (ý nghĩa), cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự kết nối.’
Trong số mười sáu cách truyền đạt, điều nào được diễn giải dựa theo sự chỉ bảo, dựa theo sự tìm hiểu, đây là sự diễn giải. (!) “Câu hỏi này có được kết nối ở các Kinh hay không?”, việc thẩm sát như thế về điều ấy là sự kết nối.
Bởi vì giống như với nhân, với duyên, các chúng sanh bị ô nhiễm; có nhân, có duyên ở việc ô nhiễm của các chúng sanh; với nhân, với duyên, các chúng sanh được thanh tịnh; có nhân, có duyên ở việc thanh tịnh của các chúng sanh.
“Này Ānanda, người có giới sẽ không có suy tính rằng: ‘Làm thế nào để sự không ăn năn có thể sanh khởi đến tôi?’” –nt– thể loại veyyākaraṇa nên được thực hiện. Đây là đạo lộ đưa đến sự thanh tịnh. Đối với việc ấy, cái gì là nhân, cái gì là duyên cho giới uẩn? Có bốn nhân và duyên: việc thân cận bậc chân nhân và việc cư ngụ ở địa phương thích hợp; đây là duyên với tính chất duyên phụ trợ (?). Quả thành tựu của nghiệp cũ là duyên, do tính chất duyên ấy có sự quyết định đúng đắn cho bản thân; đây là nhân. Như thế, ‘giới uẩn là có nhân, có duyên.’ Đây là giới hợp thế.
Trái lại, giới xuất thế có ba quyền là duyên: tín quyền, tấn quyền, định quyền; đây là duyên. Niệm quyền và tuệ quyền là nhân. Nhờ vào tuệ dẫn đến sự thấu triệt, giới được sanh ra là giới của vị Nhập Lưu; vì thế, đây là nhân, đây là duyên.
Lại nữa, tịnh, hỷ, và hân hoan của định là duyên, lạc là nhân; vì thế, định uẩn là với nhân, với duyên. Được định tĩnh, hành giả nhận biết đúng theo thực thể; đây là tuệ. Đối với (tuệ) ấy, tiếng nói của người khác và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là nhân và là duyên. Như thế, ba uẩn này là với nhân, với duyên. Tuệ của chúng sanh là như vậy. Và nó không được kết nối ở các Kinh có sự giải thích về chúng sanh. Đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối; điều ấy nên được xem ở phần bốn y cứ chính.
(4). Ở đấy, cách truyền đạt bằng nền tảng là gì?
9. Đấng Chiến Thắng chỉ bảo Giáo Pháp và nền tảng của Giáo Pháp ấy, như thế cho đến toàn bộ Giáo Pháp; cách truyền đạt này (gọi) là nền tảng.
Ở đấy, năm loại dục là nền tảng của sự luyến ái về dục. Điều được nói rằng: ‘Sự luyến ái về dục ―đang sanh lên, đã sanh lên, hoặc sẽ sanh lên cho bất cứ những ai― là ở chính năm (ngoại) xứ này: đầu tiên là sắc (thinh, hương, vị, xúc). Nền tảng của sự luyến ái về dục là không ở ngoài năm (ngoại) xứ này;’ vì thế, năm loại dục là nền tảng của sự luyến ái về dục, năm quyền là nền tảng của sự luyến ái về sắc, ý quyền là nền tảng của sự luyến ái về hiện hữu, năm uẩn là nền tảng của thân kiến, 61 tà kiến là nền tảng của sự luyến ái về tà kiến, dục giới là nền tảng của sự luyến ái về dục, sắc giới là nền tảng của sự luyến ái về sắc, vô sắc giới là nền tảng của sự luyến ái về vô sắc, lạc tưởng là nền tảng của sự luyến ái về dục, oán hận tưởng là nền tảng của oán hận, trạng thái không nhận biết rõ rệt là nền tảng của sự mê muội, chín sự việc xung đột là nền tảng của oán hận, chín loại ngã mạn là nền tảng của sự cao ngạo, cảm thọ lạc là nền tảng của sự tiềm ẩn về luyến ái, cảm thọ khổ là nền tảng của sự tiềm ẩn về bất bình, cảm thọ không khổ không lạc là nền tảng của sự tiềm ẩn về vô minh, sự chấp thủ về ngã luận thuyết và nói dối là nền tảng của tham, việc giết hại sinh mạng, lời nói đâm thọc, lời nói thô lỗ là nền tảng của oán hận, tính chất sai trái và lời nói nhảm nhí là nền tảng của si mê, trạng thái hình thành trong khi đang hiện hữu và đang thụ hưởng (?) là nền tảng của việc tạo thành ‘tôi,’ việc sở hữu các vật ngoại thân là nền tảng của việc tạo thành ‘của tôi,’ sự quyến luyến đối với thân là nền tảng của tà kiến, khuyết tật thuộc về thân là nền tảng của sân hận, việc tô điểm ở thân là nền tảng của tham. Hoặc hơn nữa, mỗi pháp được sanh lên với mỗi biểu hiện (khác nhau) tùy theo sự xác định chúng sanh hoặc tùy theo sự xác định pháp hoặc tùy theo sự tiềm ẩn, pháp ấy là nền tảng của (biểu hiện) ấy. Pháp ấy được sanh lên với biểu hiện ấy.
Giống như người nam trong khi đạt được nền tảng cho bàn chân trước thì nâng lên bàn chân thứ hai. Sau đó, người ấy bước đi bàn chân kế tiếp. Ngược lại, nếu không đạt được nền tảng cho bàn chân thứ hai thì người ấy không nâng lên bàn chân kia; việc này là điều kiện cho việc kia. Tương tự như vậy, pháp thiện hoặc bất thiện hoặc vô ký, trong khi không đạt được nền tảng, thì không vận hành, giống như đối với pháp đã được kết hợp đúng đường lối. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng nền tảng.
(5). Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì?
10. Khi một pháp được nói đến, các pháp nào có chung tướng trạng với nó, tất cả chúng đều được nói đến; cách truyền đạt ấy gọi là tướng trạng.
Ở câu kệ: ‘Còn đối với những vị nào khéo nỗ lực, thường xuyên có niệm hướng đến thân,’ khi niệm hướng đến thân được nói đến thì niệm hướng đến thọ, hướng đến tâm, và hướng đến pháp được nói đến, (nghĩa là) với một sự thiết lập niệm trong số bốn sự thiết lập niệm. Bởi vì tâm vận hành không phải ở sự tồn tại của một thức, nó vận hành theo nhiều đường lối khác nhau: khi niệm hướng đến thân được nói đến thì (niệm) hướng đến thọ, và hướng đến tâm, đến pháp được nói đến. Bởi vì khi niệm hướng đến thân không được tu tập thì bốn sự thiết lập niệm không đi đến sự viên mãn nhờ vào tu tập. Tương tự như vậy, khi các pháp tương tự với pháp ấy được nói đến thì tất cả các pháp được nói đến.
Câu kệ là: ‘Thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật,’ các pháp thuộc về tâm được nói đến, khi tâm (được nói đến) thì sắc được nói đến; đây là danh sắc, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ.’ Kế đó, từ sự thanh lọc tâm của mình, cái mà hành giả thanh lọc bằng sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; thanh lọc khỏi cái nào, cái ấy là Tập; thanh lọc nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái mà đã được thanh lọc, cái ấy là Diệt.
‘Tùy thuộc vào mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh lên.’ Ở đấy, thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý là đồng sanh, các pháp này đây có chung tướng trạng với tướng trạng của sự sanh lên. Và người nào nhàm chán về sắc, người ấy nhàm chán về thọ, người ấy cũng nhàm chán về tưởng, hành, thức. Như thế, các pháp nào có chung tướng trạng, khi một pháp trong số đó được diễn giải, tất cả các pháp là được diễn giải. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng tướng trạng.
(6). Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì?
11. Ngôn ngữ, và chủ tâm, rồi văn tự trong việc chỉ bảo, ý nghĩa của Kinh là sự kết nối theo tuần tự; cách truyền đạt này là bốn sự dàn trận.
Ở đấy, cái gì là ngôn ngữ? Ngôn ngữ nên được tầm cầu (tìm hiểu) thế nào? Giống như điều đã được đức Thế Tôn nói: ‘Có được mười một yếu tố, vị tỳ khưu nắm được tính chất quan trọng ở các pháp một cách mau chóng: là vị thiện xảo về ý nghĩa, là vị thiện xảo về pháp, là vị thiện xảo về văn tự, là vị thiện xảo về ngôn ngữ, là vị thiện xảo về từ vựng thuộc nữ tánh, thiện xảo về từ vựng thuộc nam tánh, thiện xảo về từ vựng thuộc trung tánh, thiện xảo về từ vựng ở thì quá khứ, thiện xảo về từ vựng ở thì vị lai, và thiện xảo về từ vựng ở thì hiện tại, thiện xảo với một chủ tâm, thiện xảo với nhiều chủ tâm.’ Điều gì được chỉ bảo? Là thuộc quá khứ, tương lai, hay hiện tại? Với từ vựng thuộc nữ tánh, với từ vựng thuộc nam tánh, [với từ vựng thuộc trung tánh]? Có phải tất cả được diễn giải đúng theo Kinh? Xem xét là đúng hay sai về ngôn ngữ của Kinh theo văn tự, theo sự thiện xảo về ngôn ngữ (rằng): ‘Điều này nên được ứng dụng như vậy, điều này không nên được ứng dụng như vậy.’ Đây được gọi là thiện xảo về ngôn ngữ.
Ở đấy, sự thiện xảo về chủ tâm là gì? Đối với toàn bộ Kinh như đã được chỉ bảo, (vị ấy) đi đến sự chọn lựa rằng: ‘Đã được đức Thế Tôn chỉ bảo với (chủ tâm) này.’ Giống như điều gì?
Câu kệ là: “Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn), sự xao lãng là con đường đưa đến sự chết.”
Ở đấy, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Những người nào mong muốn Bất Tử, những người ấy sẽ sống không xao lãng.’ Đây là sự chủ tâm.
12. (Vị ấy không đình chỉ thời điểm của sự nỗ lực, (không đình chỉ) cảm thọ và Đạo Lộ đã được bậc ẩn sĩ tuyên thuyết, ở đấy, vị ấy không trở thành xấu xa, là vị đã được giải thoát khỏi khổ, có bụi bặm và lậu hoặc đã được giũ bỏ.)
Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Những ai không hứng thú với Khổ, những người ấy sẽ khởi sự tinh tấn nhằm diệt trừ Khổ.’ Ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Khi kệ ngôn hoặc thể văn veyyākaraṇa được chỉ bảo như thế, từ sự hoàn thành với Kinh này, người nào như vậy là ‘người thực hành đúng pháp và thuận pháp,’ (?)điều ấy là chủ tâm. Điều này được gọi là chủ tâm trong việc chỉ bảo.
Ở đấy, sự kết nối theo tuần tự là gì? Trường hợp các thuật ngữ ở kệ ngôn hoặc ở Kinh là không được gắn bó nhau như vầy hoặc đúng y như vầy, thì các thuật ngữ trước và sau của kệ ngôn ấy hoặc của Kinh nên được làm cho phối hợp với nhau. Việc kết nối theo tuần tự ấy được biết đến như vậy. Khi một câu kệ nào đó, hai hoặc ba, đã được khởi đầu, mà ý nghĩa là chưa được diễn giải bởi những câu kệ chưa được nói trong số những câu đã được nói thuộc một phần của nó, điều nào cần được nói điều ấy cần được cân nhắc. Như thế, đối với người đang tìm kiếm này, (nếu có) sự nghi ngờ ở việc tìm kiếm, thì đối với người ấy (điều sẽ được nói) nên được tìm kiếm ở những nơi khác thuộc những phần đã được mô tả. Đây được gọi là sự kết nối theo tuần tự.
‘Thiện xảo’ là thiện xảo về căn nguyên từ sự việc, thiện xảo về ngôn ngữ từ văn tự, thiện xảo về chủ tâm của việc chỉ bảo, thiện xảo về sự kết nối theo tuần tự. Ở đấy, câu kệ của việc ấy được tìm kiếm để tìm ra căn nguyên. Không phải ý nghĩa là sẽ được diễn giải từ sự việc; thiện xảo về căn nguyên là thiện xảo về ý nghĩa. Ý nghĩa đang được tìm kiếm từ bốn đoạn kệ này là (ý nghĩa) được tìm kiếm đúng theo thực thể. Và tất cả, hoặc là từ sự việc hoặc là do căn nguyên, điều nào là chủ tâm, văn tự, ngôn ngữ, và sự kết nối, điều ấy là không vượt lên trên so với sự tuần tự. Điều cần được chỉ bảo theo ý nghĩa của Kinh là như vậy. Điều này là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.
(7). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vầnlà gì?
13. Khi có một nền tảng, thì tìm kiếm nền tảng còn lại, rồi xoay vần ở phía đối nghịch; cách truyền đạt ấy gọi là sự xoay vần.
Giống như điều gì? Câu kệ là: “… đối với những kẻ cao ngạo, bị xao lãng …” Điều này là nền tảng của việc gì? Của việc buông thả đối với các thiện pháp. Vậy buông thả thiện pháp là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận bất thiện pháp. (Không xao lãng) là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận thiện pháp. (Xao lãng) là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận căn cứ địa của ô nhiễm. Như thế, do xao lãng, tà kiến là thuộc phe si mê, vô minh là thuộc phe mong muốn và luyến ái. Ở đấy, tham ái và tà kiến là bốn lậu hoặc: tham ái là dục lậu và hữu lậu, tà kiến là tà kiến lậu và vô minh lậu. Ở đấy, (nghĩ rằng): ‘có ở tâm’ và ‘thường còn ở các sở hữu tâm’ là tà kiến, với sự lôi cuốn ở năm loại dục là dục lậu, sự dính mắc ở các việc tái sanh là hữu lậu. Ở đấy, sắc thân là nền tảng của dục lậu và hữu lậu, danh thân là nền tảng của tà kiến lậu và vô minh lậu.
Ở đấy, sự lôi cuốn của việc dính mắc là tướng trạng của dục lậu, sự hình thành liên quan đến việc tạo tác do sự trói buộc từ ước nguyện là tướng trạng của hữu lậu, sự chấp chặt và sự bám víu là tướng trạng của tà kiến lậu, sự không thấu triệt và sự không nhận biết rõ về các pháp là tướng trạng của vô minh lậu.
Bốn lậu hoặc này là bốn sự chấp thủ: dục lậu là sự chấp thủ về dục, hữu lậu là sự chấp thủ về hiện hữu, tà kiến lậu là sự chấp thủ về tà kiến, vô minh lậu là sự chấp thủ về ngã luận thuyết; năm uẩn là do bốn sự chấp thủ này.
Ở đấy, vô minh lậu sẽ được dứt bỏ ở tâm; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát tâm trên tâm. Tà kiến lậu sẽ được dứt bỏ ở các pháp; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát pháp trên các pháp. Hữu lậu sẽ được dứt bỏ ở sự dính mắc; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát thọ trên các thọ. Dục lậu sẽ được dứt bỏ ở năm loại dục; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát thân trên thân.
Ở đấy, việc quan sát thân liên quan đến Chân Lý Cao Thượng về Khổ, việc quan sát thọ là duyên cho năm quyền: ―lạc quyền, khổ quyền, hỷ quyền, ưu quyền, xả quyền, ―l à sự tiếp cận ô nhiễm của chúng sanh, do đó liên quan đến Tập; việc quan sát tâm trên tâm liên quan đến Diệt; việc quan sát pháp trên các pháp liên quan đến Đạo.
Và do việc thấy ấy của vị này về bốn (Chân Lý), tất cả (lậu hoặc) của chính vị ấy được dứt bỏ như đã được diễn giải trước đây: ‘Đối với những kẻ cao ngạo, bị xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng;’ bởi vì có sự diệt trừ các lậu hoặc đối với vị biết, đối với vị thấy (rằng): ‘Khổ, Tập, Diệt, Đạo.’ Các bất thiện pháp nên được tìm kiếm như vậy, luôn cả đường lối của pháp bất thiện ấy. Do đó, một người tìm kiếm các pháp bất thiện theo cách đối nghịch rồi xoay vần theo cách truyền đạt đối với các ô nhiễm ấy. Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.
Các pháp trắng cũng nên được tìm kiếm như vậy sau khi xoay vần các pháp bất thiện. Ở đấy, đây là lãnh vực của cách truyền đạt xoay vần: (bốn) thiết lập niệm, (bốn) sự trái khuấy và bốn trí, sự thực hành đưa đến sự sanh khởi của hiện thân và sự thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân.
(8). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tíchlà gì? Bất cứ điều gì nên được giải đáp sau khi phân tích được gọi là cách truyền đạt bằng sự phân tích. Giống như điều gì? Và sau khi đi đến làm người lần nữa, là vị không mắng nhiếc việc đi đến của chúng tôi. Khi việc chất vấn đã được phát khởi, người này có một chủ tâm nào đó. (?) Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự phân tích.
(9). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự đảo ngượclà gì? Bất cứ sự diễn giải đối nghịch nào, điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn: “Đối với người có chánh kiến, tà kiến bị kiệt quệ,” như thế với chi tiết về tất cả các chi phần của Đạo. Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.
(10). Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩalà gì?
14. “Vị hiểu rõ các Kinh là người biết một pháp ở Kinh được trình bày bằng nhiều từ đồng nghĩa; cách truyền đạt ấy có tên là từ đồng nghĩa.”
Giống như đại đức Sāriputta đã được đức Thế Tôn ca ngợi về một sự việc bằng từ đồng nghĩa với cách nói khác nhau: “Sāriputta có tuệ vĩ đại, có tuệ vi tiếu, có tuệ tốc hành;” đây là từ đồng nghĩa của tuệ.
Và giống như ý nghĩa ‘đi ra khỏi’ ở Maggavibhaṅga (Chương Đạo Phân Tích), mỗi một chi phần của Đạo được diễn giải bằng các từ đồng nghĩa. Các từ đồng nghĩa của vô minh là tương tự như vậy. Trong khi chính nó chỉ là một bất thiện căn, nhưng người ta nhận biết nó bằng tên này tên nọ ở những xứ sở này khác, nhưng không phải vì nó ‘được gọi’ bằng tên này (tên nọ) mà nó lại liên quan đến cái khác. ‘Đối với vị tỳ khưu từ bỏ tất cả các dục,’ các dục được nói đến. ‘Đối với người nào, bãi lầy đã được vượt qua khỏi,’ Ngài gọi chính các dục ấy là ‘bãi lầy.’ ‘Đối với vị đang giũ bỏ bụi bặm (ô nhiễm) đã được tạo ra trước đây,’ Ngài gọi chính các dục ấy là ‘bụi bặm;’ tương tự như vậy ở Kinh, pháp nào được chỉ bảo thì có sự tìm kiếm đối với pháp ấy (rằng): ‘Tên gọi này là của pháp nào, từ đồng nghĩa này là của pháp nào?’ Bởi vì ‘ngôn ngữ của những nhóm người này khác, đấng Toàn Tri chỉ bảo theo từng loại ngôn ngữ ấy tùy theo người đi đến,’ như thế từ đồng nghĩa của nó nên được tìm kiếm. Đây là cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa.
(11). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự mô tảlà gì? Ngài diễn giải Kinh về ‘bốn Chân Lý Cao Thượng’ bằng việc mô tả thông qua sự trình bày. Sự mô tả về nhân sanh là: “Này các tỳ khưu, nếu ở đoàn thực mà có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái, thì nơi ấy thức được thiết lập –nt–,” như thế Ngài mô tả về nguồn phát khởi. “Nếu ở đoàn thực mà không có sự luyến ái, –nt–,” như thế Ngài mô tả về sự thủ tiêu.
“Đối với vị ấy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu,” như thế Ngài mô tả về sự dứt bỏ. Câu kệ là: “Bị vây hãm bởi tham ái, tuệ của người này di chuyển vòng quanh,” như thế Ngài mô tả về sự hợp ý. Hơn nữa, tương tự như ‘sự mô tả về sự hợp ý,’ như thế đức Thế Tôn mô tả về một pháp. Không phải vì sau khi đã xác định tham ái là ‘nhân sanh Khổ’ mà nhân sanh tham ái có thể được diễn giải trong mọi trường hợp. Giống như sự mô tả đối nghịch rằng: ‘Hành giả không chấp nhận, dứt bỏ, loại trừ dục tầm đã được sanh khởi.’
Tương tự như vậy đối với tất cả các pháp thiện và bất thiện. Và nơi nào là địa bàn của pháp này thì chính pháp ấy vận hành ở nơi ấy, các pháp còn lại của nó là những yếu tố vận hành theo nó. Sự mô tả ấy có hai loại: sự mô tả dựa vào cái khác và sự mô tả dựa vào chính nó. Sự mô tả dựa vào chính nó là gì? “Này các tỳ khưu, hãy tu tập về định. Này các tỳ khưu, được định tĩnh, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể. Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là vô thường;’” đây là sự mô tả dựa vào chính nó (thuộc về định) và sự mô tả dựa vào cái khác, sự mô tả ấy là thuộc về tuệ và thuộc về giới.
Giống như “hãy tu tập bốn thiền,” thuộc về vị ấy là có định quyền, bốn quyền (còn lại) là cùn lụt, chúng là dựa vào cái khác; với ba niềm tịnh tín tuyệt đối (vào đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Chúng), định quyền là dựa vào cái khác; ở bốn Chân Lý Cao Thượng, bốn quyền là dựa vào cái khác, tuệ quyền là không dựa vào cái khác; ở các thiết lập niệm (niệm quyền); ở các chánh cần, tấn quyền (là không dựa vào cái khác). Như thế, ở nền tảng của chính nó, pháp ấy là dựa vào chính nó ở địa bàn của chính nó, và nó nên được mô tả ở tại nơi ấy. Việc tiêu diệt từ phía đối nghịch của nó nên được diễn giải. Ở đây, việc này là sự mô tả theo nhiều biểu hiện (tìm hiểu rằng): ‘Bởi lý do gì mà pháp này được mô tả?’ Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự mô tả.
(12). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự liệt kêlà gì? Nên liệt kê ở sáu pháp. Ở sáu pháp nào? Ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ, ở các quyền, ở các Chân Lý, ở các sự tùy thuận sanh khởi. Không có trường hợp thể loại Kinh ấy, hoặc gāthā ấy, hoặc veyyākaraṇa (!) ấy lại không chỉ ra ở một pháp nào đó trong số sáu pháp này. Toàn bộ các sự chỉ bảo này là chừng ấy, hoặc là các uẩn, hoặc là các giới, hoặc là các xứ, hoặc là các quyền, hoặc là các Chân Lý, hoặc là các sự tùy thuận sanh khởi.
Ở đấy, thọ uẩn thuộc năm uẩn là nền tảng của luyến ái, sân hận, và si mê. Ở đấy, có ba thọ: ở đấy, hỷ tâm có sự tương quan với thọ lạc, ưu tâm có sự tương quan với thọ khổ, hành xả có sự tương quan với thọ không khổ không lạc.
Lại nữa, ở đấy cái được cảm thọ là Chân Lý về Khổ, là hành uẩn trong số các uẩn. Ở đấy, thân vận hành tiến đến sự bị xao lãng (!); việc đi đến hành (sự tạo tác) ấy là có hai loại, và sự liệt kê ở hữu phần là nghiệp. Và có ba hành: –hoặc là phúc hành, hoặc là phi phúc hành, hoặc là bất động hành– là nhân; tất cả là đối với người có luyến ái, không phải đối với người đã xa lìa luyến ái, đối với sân hận (cũng thế): người chưa xa lìa luyến ái suy tính và xếp đặt các sự tạo tác; trái lại, vị đã xa lìa luyến ái suy tính và không tạo tác. Việc tia sét nóng bỏng, trong lúc giáng xuống ở khúc gỗ, ở thân cây, hoặc ở nơi nào khác, phá vỡ và đốt cháy (nơi ấy), tương tự như vậy người có sự luyến ái suy tính với sự cố ý và tạo tác; giống như tia sét lạnh không phá vỡ và không đốt cháy, tương tự như vậy người đã xa lìa luyến ái suy tính với sự cố ý và không tạo tác. Ở đấy, một uẩn trong năm uẩn –không thuộc thân thể (vật lý) với các giác quan– là tưởng uẩn.
Ở đấy, thuộc về các giới thì có 18 giới. Ở đấy, có sắc là mười giới; trong khi chúng được chỉ bảo thì sắc uẩn nên được diễn giải, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Và sáu nhóm thức với ý giới là thứ bảy; ở đấy, thức uẩn nên được diễn giải, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Trái lại, pháp giới là sự hội tụ của các pháp; pháp ấy được đạt đến bởi điều nào: –bởi nguyên nhân, bởi hệ quả, bởi quả báo, bởi phận sự, và bởi từ đồng nghĩa,– thì nên được diễn giải theo mỗi một điều ấy: (!) hoặc là thiện, hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký, hoặc là không tạo tác. Trong số mười hai xứ, mười xứ là có sắc, Chân Lý Cao Thượng về Khổ ấy nên được diễn giải (theo) sắc uẩn; (!) và ý xứ nên được diễn giải theo thức uẩn, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Pháp xứ là sự hội tụ của các pháp khác nhau.
Ở đấy, các pháp nào thuộc về các quyền thì nên được diễn giải liên quan đến các quyền, các pháp nào không thuộc về các quyền thì nên được diễn giải không liên quan đến các quyền, và nên được liệt kê theo thứ lớp. Pháp giới là như thế nào thì pháp xứ nên được tìm kiếm như thế ấy. Bởi vì cái nào là pháp giới thì chính cái ấy là pháp xứ, không kém không hơn.
Ở đấy, sự tùy thuận sanh khởi có ba loại, có bốn loại, có hai loại. Ở đấy, ba loại tùy thuận sanh khởi là: nhân, quả, hệ quả. Vô minh, các hành, ái, thủ là nhân; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, và thọ là duyên; hữu là quả thành tựu; sanh, tử là hệ quả.
Bốn loại là thế nào? Nhân, duyên, quả thành tựu, và hệ quả. Vô minh, ái, các hành, và thủ là nhân; thức là duyên cho danh sắc, danh sắc sanh lên. Đối với cái đã được sanh lên như thế, sáu xứ, xúc, và thọ là duyên; hữu là quả thành tựu; sanh, lão, và tử là hệ quả.
Sự tùy thuận sanh khởi có hai loại là thế nào? Vô minh, các hành, ái, thủ là Tập; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, (lão,) và tử là Khổ. Trái lại, do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành, v.v… các điều này, theo sự đối nghịch với nó, là hai Chân Lý (Diệt, Đạo). Vì thế, sự tùy thuận sanh khởi được diễn giải theo kiểu cách nào thì nên được diễn giải theo mỗi một kiểu cách ấy.
Hai mươi hai quyền thì cũng như vậy: Mười hai quyền là các nhãn quyền, từ nhãn quyền ... cho đến ... ưu quyền; đây là Khổ. Nam quyền là nền tảng của tà kiến và của tham ái. Từ khi người nam có thể thực hiện điều ấy như vầy đối với các người nữ, rồi bị luyến ái ở nội phần; đây là việc tạo thành ‘tôi.’ Người nam, bị luyến ái như thế với điều ấy, rồi tầm cầu ở bên ngoài; đây là việc tạo thành ‘của tôi.’ Người nữ là tương tự như vậy. Ở đấy, lạc quyền và hỷ quyền là những yếu tố vận hành theo nam quyền. Các pháp tham lam của người ấy, khi được đầy đủ về chủ tâm, chúng làm phát triển các gốc rễ của (bất) thiện. Nếu chủ tâm này của người ấy không đi đến sự viên mãn, thì khổ quyền và ưu quyền vận hành đối với người ấy, và bất thiện căn sân phát triển. Trái lại, nếu người ấy tu tập về hành xả và là người vận hành theo xả quyền, thì thiện căn vô si phát triển. Như thế, bảy quyền có liên quan đến cơ sở của ô nhiễm là không lợi ích, thấp kém (gồm có): các thọ của tất cả (lạc, khổ, hỷ, ưu, xả), nữ quyền, nam quyền.
Ở đấy, tám quyền là tín quyền ... cho đến ... cụ tri quyền, đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Trong số mười quyền (?), năm quyền (!) là nền tảng của sự luyến ái về dục, ý quyền là nền tảng của sự luyến ái về hữu, năm quyền (!) là nền tảng của sự luyến ái về sắc, nữ quyền và nam quyền là nền tảng của sự mô tả về chúng sanh. Ở đấy, với quyền nào mà thể loại sutta (Kinh) hoặc gāthā (kệ) có thể liệt kê, thì nên được diễn giải theo mỗi một quyền ấy. Như vậy là ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ, ở các Chân Lý, ở các sự tùy thuận sanh khởi. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.
(13). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự làm rõlà gì? Ba câu kệ được nói với một phần mở đầu; ở đấy, đối với một câu kệ đã được nói và phần còn lại chưa được nói, thì ý nghĩa ấy không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Bởi vì cho đến khi ý nghĩa ấy chưa được nói, phần chưa được nói ấy không thể diễn giải. Giống như điều gì? Câu kệ là: ‘Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn).’ Một câu kệ này không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Đối với câu kệ mở đầu này, còn có phần chưa được nói.
15. “Sau khi biết rõ điều ấy ở sự không xao lãng, các bậc sáng suốt vui thích ở sự không xao lãng, thích thú trong hành xứ của các bậc Thánh.”
Đây là điều chưa được nói. Ý nghĩa của câu kệ đã được nói này không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Ở đấy, có phần còn lại. Câu kệ: “Các vị ấy, có thiền chứng, kiên trì, thường xuyên có sự nỗ lực vững chãi, …” Như vậy, khi nào các câu kệ này được trình bày, khi ấy ý nghĩa nên được diễn giải.
Như vậy, ở các Kinh hoặc ở các veyyākaraṇa (!) chưa từng được nghe trước đây, một phần trình bày đã được nói ra. Việc thẩm xét, việc cân nhắc rằng: “Cái này có việc cần làm: (Có phải) Kinh này đã được nói? Từ đồng nghĩa của nó đã được diễn giải hay chưa (được diễn giải)?” Ở đấy, việc thẩm xét được gọi là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.
(14). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xác định là gì? Là tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt. Ở đấy, sự mô tả việc đã làm, sự mô tả việc sẽ làm, tính trạng đồng nhất, và tính trạng khác biệt ấy theo như sự mô tả, các điều này là tính trạng khác biệt thông qua từ đồng nghĩa. Cái ‘nhận biết’ là tuệ, và tuệ là sự mô tả với ý nghĩa chủ đạo. Tuệ lực với ý nghĩa không bị lay động là được mô tả theo ý nghĩa không bị hạ thấp. Được hình thành từ điều ấy với năng lực tự thân ở các đối tượng, chính niệm ấy tưởng nhớ đến Ba Ngôi Báu: tưởng nhớ đến Phật, tưởng nhớ đến Pháp, tưởng nhớ đến Tăng Chúng với trạng thái tưởng nhớ đến không bị sai lệch. Chánh kiến với việc nghiên cứu các pháp là trạch pháp giác chi, là ‘thắng trí’ từ sự quyết đoán. Một cách ngắn gọn, các Đạo là những gì? Nguyên chất là có tính trạng đồng nhất do trạng thái không bị xáo trộn. Giống như (nước) được gắn bó với nóng là nước nóng, được gắn bó với lạnh là nước lạnh, nước buốt, nước băng; đây là tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt.
Lại nữa, có pháp được tổng hợp từ các pháp khác nhau nhưng lại có tính trạng đồng nhất; sắc (pháp) là như thế nào thì bốn (đất-nước-lửa-gió) nên được nhìn thấy như vậy. Và ‘sắc’ ấy là có tính trạng đồng nhất, ‘nguyên tố đất, nguyên tố nước, lửa, gió’ là có tính trạng khác biệt. Tất cả bốn nguyên tố là như vậy. ‘Sắc’ là có tính trạng đồng nhất, ‘nguyên tố đất, nguyên tố nước, lửa, gió’ là có tính trạng khác biệt. ‘Nguyên tố đất’ theo tướng trạng là có tính trạng đồng nhất, do các nguyên tố đã được trộn lẫn là có tính trạng khác biệt. ‘Bất cứ cái gì có tướng trạng thô cứng, mọi thứ ấy là nguyên tố đất’ là có tính trạng đồng nhất; ‘tóc, lông, móng, răng, da ngoài, da trong’ là có tính trạng khác biệt. Tất cả bốn nguyên tố là như vậy. ‘Sắc’ là (có tính trạng) đồng nhất, ‘thinh, hương, vị, xúc’ là tính trạng khác biệt.
Lại nữa, có pháp do tính trạng khác biệt mà có tên khác, giống như chín tưởng về quan sát thân: tưởng về xác chết đã đổi màu xanh, hoặc tưởng về tử thi đã bị trương sình; đây là tưởng bất tịnh, nó có tính trạng đồng nhất, theo cảnh tượng là có tính trạng khác biệt.– –Tưởng ấy như vậy của người đang nhận thấy sự bất lợi ở các cảm thọ là định quyền với sự xác định như thế ấy. Chính sự tu tập tưởng ở các pháp tại nơi ấy là tấn quyền, và sự quan sát pháp ở các pháp của người đang dứt bỏ tưởng của tâm ở tâm là tuệ quyền và là sự quan sát tâm ở tâm. Như thế, bất cứ sự tiếp cận nào với trí, trong mọi trường hợp, là hành xứ của tuệ, là tuệ; đây là tính trạng khác biệt, giống như ‘sự luyến ái về dục, sự luyến ái về hữu, sự luyến ái về tà kiến’ là tính trạng khác biệt của tham ái. Như thế, trí (sự biết), sự thẩm xét, sự cân nhắc về tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt là cách truyền đạt bằng sự xác định.
(15). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự thiết yếulà gì? Sự thanh lọc và phiền não là có nhân, có duyên; việc tìm kiếm cả hai điều ấy là cách truyền đạt bằng sự thiết yếu. Như thế, đối với các pháp –có nhân thì nhân nên được tìm kiếm, –có duyên thì duyên nên được tìm kiếm.
Ở đấy, cái gì là sự khác biệt của nhân và của duyên? Nhân có tính chất tự thân, duyên có tính chất từ cái khác; đối với tính chất từ cái khác duyên cũng là nhân, nhân là thuộc về tính chất tự thân, duyên là thuộc về tính chất từ bất cứ cái nào khác. Chưa được nói đến là nhân, đã được nói đến là duyên. Thuộc về nội tại là nhân, ngoại lai là duyên. Tính chất tự thân là nhân, tính chất từ cái khác là duyên. Liên quan việc sanh ra là nhân, liên quan việc trợ giúp là duyên. Nhân là chủ, duyên là khách. Không phổ biến là nhân, phổ biến là duyên. Nhân chỉ có một, duyên có cái này cái khác.
Sự hỗ trợ đối với nhân cần được thu thập, sự thu thập là nhân. Ở đấy nhân có hai loại, duyên có hai loại: duyên không bị gián đoạn và duyên tuần tự; nhân cũng có hai loại: nhân không bị gián đoạn và nhân có sự tuần tự. Ở đấy, duyên tuần tự là gì? Vô minh là duyên tuần tự đối với danh sắc. Thức là duyên với tính chất duyên không bị gián đoạn. Nếu ở phần đầu có sự diệt tận của vô minh thì cũng có sự diệt tận của danh sắc; ở đấy, sự không gián đoạn là với lý do gì? Duyên tuần tự, duyên không bị gián đoạn được thu thập, điều này là duyên. Ở đấy, nhân có sự tuần tự là gì? Đối với người đang nhận thức, nhân (của người ấy) là với tính chất của nhân có sự tuần tự, một biểu hiện khác là nhân với tính chất của nhân không bị gián đoạn; bởi vì đối với cái này mà cái kia được sanh ra không bị gián đoạn thì cái này cũng là nhân cho cái kia. Do sự diệt tận của sanh, có sự diệt tận của biểu hiện ở ngoại phần; do sự diệt tận của biểu hiện, có sự diệt tận của hình phạt; do sự diệt tận của hình phạt, có sự diệt tận của đổ vỡ. (?) Như vậy, nhân cũng có hai loại; nhân nên được thấy theo hai cách ấy.
Giống như sự tùy thuận sanh khởi, vô minh là duyên, vậy thì cái gì là duyên của nó? Sự tác ý không đúng đường lối. Nó là duyên của cái gì? Của các hành; như thế là duyên và được sanh khởi. Ở đấy, cái gì là nhân? Chính vô minh. Bởi vì như thế ấy, điểm khởi đầu trước đây không được biết đến. Ở đấy, sự tiềm ẩn của vô minh là nhân cho sự xâm nhập của vô minh, trước đây là nhân, sau đó là duyên, vô minh ấy cũng là duyên cho các hành với bốn lý do: với tính chất duyên đồng sanh, với tính chất duyên không gián đoạn, với tính chất duyên thẩm thấu, với tính chất duyên nâng đỡ.
Vô minh là duyên của các hành với tính chất duyên đồng sanh là thế nào? Khi tâm bị xâm nhập bởi luyến ái, ở đấy, do sự xâm nhập của vô minh, nó tiêu diệt mọi hành xứ của tuệ. Ở đấy, ‘các hành’ là phụ thuộc vào duyên thuộc về ba cõi (?), vô minh này, với sự đồng sanh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, tình trạng lớn mạnh; tuệ bị dứt bỏ bởi bốn lý do. Bởi bốn lý do gì? Sự tiềm ẩn, sự xâm nhập, sự ràng buộc, sự chấp thủ. Ở đấy, sự tiềm ẩn làm sanh ra sự xâm nhập, khi bị xâm nhập thì bị ràng buộc, khi bị ràng buộc thì bị chấp thủ, do duyên chấp thủ hữu (sanh khởi). (Được nói rằng: “Như vậy, các hành ấy, có ba loại, được sanh lên, đã đạt đến nền tảng, không dừng lại ở tưởng; điều này đưa đến trạng thái được dẫn dắt theo đạo lộ, chúng đi đến vững mạnh, các hành ấy không bị dẫn dắt ngược lại.” Như vậy, do duyên với ý nghĩa đã được sanh lên do nhân, thật sự có duyên cho các hành (sanh khởi). Sau khi tách riêng thiện và bất thiện đã được diễn giải, thiện và bất thiện cần được đề cập. Về các pháp là quả thành tựu, sau khi tách riêng điều nên nói và điều không nên nói, điều nên nói và điều không nên nói cần được đề cập …) toàn bộ bài Kinh nên được xem xét toàn diện. (?)
Mười lực của đức Như Lai (và) bốn pháp tự tin là các phước thiện, là việc đã không được thực hiện bởi những kẻ khác. Vô minh là duyên cho các hành với tính chất duyên không gián đoạn. “Vô minh sanh khởi với tâm nào, thì tâm không bị gián đoạn sanh khởi đối với tâm ấy,” việc “tâm không bị gián đoạn sanh khởi” đối với nó, (nghĩa là) đối với tâm kế tiếp ấy, tâm trước đó là duyên với tính chất nhân duyên. Vì thế, (có) vô minh là nhân, (cho nên) trí có sự gắn bó với tâm ấy, không được tạo cơ hội, nên không được sanh lên. Yếu tố không xao lãng của nó bị trôi đi bởi tham đắm, nơi ấy các sự trái khuấy sanh lên (nghĩ rằng): ‘tịnh’ ở bất tịnh, ‘lạc’ ở khổ. Ở đấy, các hành – trong khi sanh lên ở người bị luyến ái, bị xấu xa, bị mê muội– là các sự cố ý do sự xâm nhập của luyến ái, do sự xâm nhập của oán hận, do sự xâm nhập của vô minh; sự trái khuấy của kiến sẽ được diễn giải ở phần diễn giải về sự việc. Tâm bị sai lệch nhận biết điều gì, đây là sự trái khuấy của tâm. Tưởng bị sai lệch nắm giữ điều gì, đây là sự trái khuấy của tưởng. Kiến bị sai lệch chấp chặt điều gì, đây là sự trái khuấy của kiến.
Tám sự sai trái tăng trưởng, ba bất thiện ở sự tác ý không đúng đường lối làm cho thức và vô minh (!) sanh lên. Như thế, cuối cùng theo sự tuần tự, các hành bất thiện, loại này hay loại khác, đi đến sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Và các hành ấy trở nên lớn mạnh và không được thấu triệt, liên quan đến tái sanh. Như vậy, vô minh là duyên cho các hành với tính chất duyên đồng sanh và với tính chất duyên không gián đoạn.
Vô minh là duyên cho các hành với biểu hiện thẩm thấu là thế nào? Vô minh ấy làm thấm ướt, thấm đẫm các hành ấy. Cũng giống như loài sen xanh, hoặc sen trắng, có thể lớn mạnh ở hồ nước, được thấm ướt bởi nước lạnh, chúng đạt đến sự ướt đẫm, sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Vô minh là duyên cho các hành với biểu hiện thẩm thấu là tương tự như vậy.
Vô minh là duyên cho các hành với ý nghĩa nâng đỡ là thế nào? Các hành ấy, nương vào vô minh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Cũng giống như loài sen xanh, hoặc sen trắng, nương vào đất, sau khi thiết lập ở đất, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh, các hành ấy nương vào vô minh, được thiết lập ở vô minh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Vô minh là duyên cho các hành với ý nghĩa nâng đỡ là như vậy. Lại nữa, hữu được sanh ra ở sự nối liền tái sanh do quả thành tựu của nghiệp đồng hành với luyến ái. Toàn bộ việc đã được chấp chặt ấy đối với nghiệp do tác động của vô trí được gọi là “các hành liên quan đến tái sanh;” do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, trong năm hạng người: các vị Hữu Học, các vị đã đạt đến sự thể nhập vô tưởng, các vị đã đi đến sự hiện hữu, các hạng thấp sanh do chính việc đi vào bên trong, hoặc hơn nữa, bất cứ các hạng nào khác chưa đạt đến sự hình thành, họ không nghĩ đến và không ước nguyện, đối với các hạng ấy do duyên gì có các hành? Lại nữa, đối với các hạng ấy, do còn luyến ái, các hành, các chấp thủ, với quả thành tựu đã được chín muồi chưa được bứng lên, với duyên chưa được cắt lìa, vẫn còn lưu lại ở tâm; đối với các hạng ấy có việc đi đến lần nữa. (!) Do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, vô minh không phải là các chấp thủ, cũng không phải là các hành của những người ấy. (!) Thêm nữa, đối với những người ấy còn có bảy tiềm ẩn chưa được bứng lên, chưa được cắt lìa; điều ấy là cảnh cho việc hình thành của thức, do duyên thức danh sắc (sanh khởi). Do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, vô minh là bất cứ nghiệp nào có sự đi đến việc tích trữ, toàn bộ việc ấy bị tạo tác do tác động của vô minh và bị bám víu do tác động của tham ái. Và do tác động của sự vô trí, ở đấy, (con người) không biết đến ngay cả sự bất lợi; chính điều ấy trở thành hạt giống của thức. Chính vô minh ấy trở thành tham ái và yêu mến. Chính vô minh ấy trở thành sự mê muội. Cũng như vậy, các hành do duyên vô minh cần được nói đến. Như thế, vô minh là duyên cho các hành với những biểu hiện này. Ở đấy, do vô minh là nhân, với tác ý không đúng đường lối là duyên; ở đấy, có sự không gián đoạn, ở đấy, sự liên tục này là kết quả, là sự sanh ra; ở đấy, sự tiếp nối này là sự hiện hữu lại nữa, là sự không gián đoạn với ý nghĩa không thủ tiêu; đây là sự tiềm ẩn. Giống như lá cờ hoặc tấm vải choàng (hai người hoặc một người có sức mạnh trong các việc vắt ráo, hoặc ở những nơi không có gió, tất nhiên không thể làm cho khô rang trong các việc vắt ráo. Ở đấy, yếu tố nước có thể được làm khô ráo khỏi sự ẩm ướt một cách tuần tự nhờ vào yếu tố sức nóng. Lại nữa, nếu đem vật ấy để ở ngoài trời, nó có thể đi đến sự ẩm ướt nhiều hơn nữa bởi hạt sương, bởi vì không nhờ vào yếu tố lửa thì nó không thể đi đến sự khô ráo hoàn toàn. Tương tự y như thế, sự chứng đạt dẫu là tận cùng đỉnh điểm của hữu cũng không vận hành đưa đến sự thủ tiêu đối tượng tương ứng. Bởi vì các hành giả ấy nương vào, bám chặt, và không đi đến sự dứt bỏ tham ái thông qua tham ái).
Ở đấy, việc không thủ tiêu ấy là sự tiềm ẩn của vô minh và là sự vướng bận của tâm; đây là sự xâm nhập. Việc không thấu triệt đúng theo thực thể của thức là vô minh lậu; vô minh trở thành hạt giống của thức. Cái gì là hạt giống, cái ấy là nhân; nó không bị trừ tuyệt. Trong khi không bị trừ tuyệt nó kết nối lại. Trong khi đang kết nối lại, nó không đi đến sự thủ tiêu. Không bị thủ tiêu, nó che khuất tâm. Tâm bị che khuất không nhận biết đúng theo thực thể.
Như thế đối với thức, ý nghĩa của việc có lậu hoặc là ý nghĩa của vô minh, ý nghĩa của nhân là ý nghĩa của sự không gián đoạn, ý nghĩa của việc không đình chỉ là ý nghĩa về kết quả, ý nghĩa của sự tiếp nối là ý nghĩa của sự hiện hữu lại nữa, ý nghĩa của sự không thủ tiêu là ý nghĩa của sự tiềm ẩn, ý nghĩa của sự vướng bận là ý nghĩa của sự xâm nhập, ý nghĩa của sự không hoàn toàn thấu triệt là ý nghĩa của vô minh. Đề tài về vô minh được diễn giải là bấy nhiêu đây. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự thiết yếu.
(16). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loạilà gì? Về điều được-nói-ngắn-gọn ấy, hơn nữa nên nói chi tiết về điều ấy ngay khi nó còn đang hiện diện. Nên hiểu biết về đường lối chi tiết; điều này là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.
Ở đấy, diễn giải về tên gọi là nói ngắn gọn, diễn giải về sự việc là từ đồng nghĩa, trạng thái sự việc là nói chi tiết. Giống như điều gì? Này tỳ khưu, cái nào là đã được sanh ra thì (cái ấy) nên được dứt bỏ. Đây là sự nói ngắn gọn.
Ở đấy, sự xếp loại là gì? Bất cứ điều gì không nên nói, hoặc sự luyến ái về sắc với việc có tên gọi là nên được dứt bỏ, (?) cho đến ‘các thức’ là nên được thực hiện với chi tiết, vô minh ấy nên được mô tả bằng ví dụ; điều này là sự xếp loại. Đối với người bị nương tựa thì có sự dao động (!); cái gì là sự nương tựa? Tham ái và tà kiến; ở đấy, tà kiến là vô minh, tham ái là các hành; ở đấy, tham ái là do duyên tà kiến, các hành này là do duyên vô minh. Ở đấy, thức là được nương tựa, thức này là do duyên các hành ... cho đến ... lão tử. Khi điều này được nói một cách tóm tắt thì tiếp cận phần còn lại theo cách khác. (?)
“Đối với người không nương tựa thì không có dao động” đối với vị ấy sự dứt bỏ tà kiến và tham ái là như vậy. Ở đấy, sự thấy, do sự diệt tận của vô minh, là thức đúng theo thực thể, sau khi tiến đến mỗi một pháp trong số các pháp gợi lên luyến ái thì (buông bỏ và) chạy theo pháp khác như ở ví dụ về con khỉ: Quả thật, đối với vị này, mong muốn và luyến ái ở các pháp nhỏ nhoi gợi lên luyến ái là không có, từ đâu có sự dao động do điều ấy? Ở các chúng sanh vượt trội, tâm được an trú, điều ấy không được hình thành, thức không có yếu tố nuôi dưỡng nên được diệt tận; do sự diệt tận của thức có sự diệt tận của danh sắc ... cho đến ... sự diệt tận của lão tử; điều này là sự sắp xếp.
Ở đấy, do tác động của luyến ái có sự dao động của tâm với sự bám giữ; khi không có sự dao động ở vị ấy, sự tiếp cận trước đây của ô nhiễm, ―ngọn lửa gồm ba loại,― trở nên tịnh lặng. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Khi không có dao dộng thì có an tịnh.” Ở đấy, điều này là sự xếp đặt. “Có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc. Khi có lạc thì tâm được định” ... cho đến ... “có sự biết và thấy rằng: ‘Đã được giải thoát.’”
Và do sự cạn kiệt của các lậu hoặc, vị ấy, có sự giải thoát, không còn tái sanh. (!) Đối với sự sanh lên của vị ấy, “khi không có đến và đi thì không là ở đây, không là ở kia, không ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của khổ,” như thế là Niết Bàn giới không còn dư sót. Điều này, được sắp xếp ở giữa bài Kinh này, là sự gắn bó ở sự tùy thuận sanh khởi và ở sự giải thoát, và điều này không được phân tích về ý nghĩa một cách chi tiết đối với điều đã được nói một cách tóm tắt ấy.” Đây được gọi là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.
Và không chỉ các pháp liên quan đến phiền não nên được sắp xếp với Kinh liên quan đến phiền não mà không có các pháp khác. Tương tự như vậy ở trường hợp liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt.
Điều này là cách truyền đạt bằng sự xếp loại. Đây là mười sáu cách truyền đạt.
Lãnh vực thứ năm - Phân Tích Cách Truyền Đạt- thuộc Peṭakopadesa của vị Mahākaccāyana vô cùng dũng cảm trú tại Jambuvana đã được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
43. Tattha katamo hāravibhaṅgo? Yattha soḷasa hārā akkharaso bhedaṃ gacchanti. Tattha ādimhi desanāhāro. Tattha ayaṃ gāthā kusalā vā akusalā vā saccāni vā saccekadeso vā. Kiṃ desitanti? Sutte vīmaṃsā desanāhāro. Yathā ariyasaccāni nikkhepo cattāri saccāni sādhāraṇāni asādhāraṇāni ca. Yāni ca aṭṭhārasa padāni dukkhato satta padāni saṅkhepena kāyikena cetasikena dukkhena, appiyasampayogena piyavippayogena ca tīhi ca saṅkhatāhi. Tattha tīṇi saṅkhatalakkhaṇāni tisso dukkhatā uppādo saṅkhatalakkhaṇaṃ, saṅkhāradukkhatāya dukkhatā ca saṅkhatalakkhaṇaṃ, vipariṇāmadukkhatāya dukkhatāti aññathatthaṃ ca saṅkhatalakkhaṇaṃ, dukkhadukkhatāya ca dukkhatā, imesaṃ tiṇṇaṃ saṅkhatalakkhaṇānaṃ tīsu vedanābhūmīsu adukkhamasukhā vedanā uppādo saṅkhatalakkhaṇaṃ, saṅkhāradukkhatāya ca dukkhatā tayo saṅkhatalakkhaṇaṃ, sukhā vedanāya ca vipariṇāmadukkhatāya ca dukkhatāti aññathattaṃ saṅkhatalakkhaṇaṃ, dukkhāvedanā dukkhadukkhatā ca dukkhatā imamhi imesu navapadesu paṭhamakesu sattasu padesu soḷasasu padesu dukkhā pariyesitabbā, ekādasa dukkhatāya ca lakkhaṇaṃ niddese niddiṭṭhaṃ. Pātubhāvalakkhaṇā jātiyā ca pātubhāvacutilakkhaṇo cutoti vitthārena pannarasapadāni kattabbāni, evaṃ sādhāraṇāni asādhāraṇāni ca sattasu dasasu padesu saññāsa tividhe ca sāsanappaṭṭhāne aṭṭhārasavidhesu ca suttādhiṭṭhānesu dasavidhesu ca suttavidheyyesu soḷasavidhesu ca hāresu ekavīsatividhāya ca pavicayavīmaṃsāyāti idaṃ desitaṃ. Yathābhūtañca desitanti, ayaṃ vuccati desanāhāro.
43. Among these, what is the analysis of the methods? It is where the sixteen methods are differentiated literally. Therein, at the beginning, is the Method of Teaching. Therein, this summary statement is present: 'Are they wholesome, or unwholesome, or the truths, or a part of the truth?' 'What is taught?' Thus, investigation into the sutta is the Method of Teaching. For example, the exposition of the Noble Truths: the four truths, which are common and uncommon. And the eighteen terms related to suffering, or seven terms in brief: bodily and mental suffering, association with the disagreeable and separation from the agreeable, and the three conditioned things. Therein, there are three characteristics of the conditioned and three kinds of suffering. Arising is a characteristic of the conditioned. For suffering due to formations, the state of suffering is also a characteristic of the conditioned. For suffering due to change, the state of suffering—that is, the state of being otherwise—is a characteristic of the conditioned. And for the suffering of pain, there is the state of suffering. For these three characteristics of the conditioned, in the three planes of feeling: for neither-painful-nor-pleasant feeling, arising is a characteristic of the conditioned, as is suffering due to formations; for pleasant feeling, suffering due to change—that is, the state of being otherwise—is a characteristic of the conditioned; painful feeling and the suffering of pain are the state of suffering in this case. In this way, in these nine terms, in the first seven terms, and in the sixteen terms, suffering is to be sought. And the characteristic of the eleven kinds of suffering is pointed out in the Niddesa. Birth has the characteristic of manifestation; death has the characteristic of the cessation of what has manifested. Thus, the fifteen terms should be elaborated. In this way, the suttas, both common and uncommon, are taught in seven and ten terms, in the foundation of the teaching with its various kinds of wisdom and mindfulness, in the eighteen kinds of bases of the suttas, in the ten kinds of arrangements of the suttas, in the sixteen kinds of methods, and in the twenty-one kinds of analytical investigation. And because it is taught in accordance with reality, this is called the Method of Teaching.
43. Trong ấy, thế nào là sự phân tích các phương pháp? Nơi mười sáu phương pháp được phân chia theo từng chữ. Trong đó, đầu tiên là phương pháp thuyết giảng. Về điều này, có kệ rằng: ‘Thiện hay bất thiện, các sự thật hay một phần của sự thật.’ Sự thẩm xét trong kinh rằng: ‘Điều gì đã được thuyết giảng?’ và việc trình bày các Thánh đế như thế nào, đó là phương pháp thuyết giảng. Bốn sự thật, chung và không chung. Và mười tám mục từ khổ, tóm tắt có bảy mục: khổ thân, khổ tâm, khổ do gặp điều không ưa, khổ do xa lìa điều ưa, và ba pháp hữu vi. Trong đó, có ba đặc tính của pháp hữu vi và ba loại khổ. Sự sanh là đặc tính của pháp hữu vi; trong khổ do hành, tính chất khổ cũng là đặc tính của pháp hữu vi; trong khổ do biến hoại, tính chất khổ tức là sự khác đi cũng là đặc tính của pháp hữu vi; và trong khổ khổ, tính chất khổ của ba đặc tính hữu vi này. Trong ba cảnh giới của thọ, đối với thọ không khổ không lạc, sự sanh là đặc tính của pháp hữu vi; và trong khổ do hành, ba đặc tính hữu vi là tính chất khổ. Đối với thọ lạc, khổ do biến hoại và tính chất khổ tức là sự khác đi là đặc tính của pháp hữu vi. Thọ khổ và khổ khổ là tính chất khổ ở đây. Như vậy, trong chín mục này, trong bảy mục đầu tiên, trong mười sáu mục, cần phải tìm kiếm các loại khổ. Và đặc tính của mười một loại khổ đã được chỉ ra trong phần chỉ dẫn. Sanh có đặc tính là sự xuất hiện. Chết có đặc tính là sự hoại diệt của sự xuất hiện. Như vậy, cần phải trình bày chi tiết mười lăm mục. Như vậy, các kinh chung và không chung đã được thuyết giảng trong bảy mục, mười mục, trong các loại nền tảng giáo pháp của trí tuệ và niệm, trong mười tám loại cơ sở của kinh, trong mười loại sự sắp xếp kinh, trong mười sáu phương pháp, và trong hai mươi mốt loại phân tích và thẩm xét. Và kinh nào được thuyết giảng đúng như thật, điều này được gọi là phương pháp thuyết giảng.
44. Tattha katamo vicayo hāro?
44. Among these, what is the Method of Investigation?
44. Trong ấy, thế nào là phương pháp phân tích?
Padaṃ pañhā ca pucchā ca, kiṃ pubbaṃ kiñca pacchimaṃ;
Anugīti sā ca vicayo, hāro vicayoti niddiṭṭho.
The term, the question, and the inquiry; what is preceding and what is following; the subsequent recitation and that investigation—this is pointed out as the Method of Investigation.
Mục từ, vấn đề, và câu hỏi; điều gì trước, điều gì sau; sự lặp lại, và sự phân tích ấy; phương pháp được chỉ ra là phương pháp phân tích.
Padanti paṭhamaṃ padaṃ. Tassa ko attho? Yaṃ bhagavā puṭṭho āyasmatā ajitena taṃ gahetabbaṃ, katipadāni puṭṭhāni yathākiṃ kenassu nivuto lokoti gāthā, imāni katipadāni cattāri iti visajjanāya pucchā. Yattakehi padehi bhagavatā visajjitāni padāni iti pucchāya ca yā padānaṃ saṅkāsanā, idaṃ vuccati padanti.
'Term' means the first term. What is its meaning? That which the Blessed One was asked by the Venerable Ajita should be taken. How many terms were asked? For example, the verse: 'By what is the world shrouded?' How many terms are these? Four. Thus, this is the inquiry for the answer. The terms with which the Blessed One answered the terms that were asked, and in the inquiry, the clarification of the terms—this is called 'terms'.
‘Mục từ’ là mục từ đầu tiên. Ý nghĩa của nó là gì? Nên lấy (ý nghĩa) mà trưởng lão Ajita đã hỏi đức Thế Tôn. Đã hỏi bao nhiêu mục từ? Ví dụ, đã hỏi kệ: ‘Thế gian bị che lấp bởi cái gì?’ Có bao nhiêu mục từ? Bốn mục từ này. Đây là câu hỏi để được giải đáp. Các mục từ (được hỏi) đã được đức Thế Tôn giải đáp bằng bao nhiêu mục từ? Như vậy, sự kết hợp của các mục từ trong câu hỏi, điều này được gọi là ‘các mục từ’.
Pañhāti imāni cattāri padāni. Kati pañhā? Eko vā dve vā taduttari vā imāni cattāri padāni eko pañho, atthānuparivatti byañjanaṃ hoti, sambahulānipi padāni ekamevatthaṃ pucchati. Imāni cattāri padāni anuparivattīni taṃ byañjanena eko pañhova hoti. Kenassu nivuto lokoti lokaṃ sandhāya pucchati, kenassu nappakāsati kissābhilepanaṃ brūsīti taṃyeva pucchati. Kiṃsu tassa mahabbhayanti taṃyeva pucchati. Evaṃ atthānuparivatti byañjanaṃ eko pañho hoti, so pañho catubbidho ekaṃsabyākaraṇīyo vibhajjabyākaraṇīyo paṭipucchābyākaraṇīyo ṭhapaniyoti. Tattha cakkhu aniccanti ekaṃsabyākaraṇīyo, yaṃ aniccaṃ taṃ dukkhanti vibhajjabyākaraṇīyo, siyā aniccaṃ na cakkhu, yānipi āyatanāni ca na cakkhu, tānipi aniccanti na cakkhuyeva, ayaṃ vibhajjabyākaraṇīyo, yaṃ cakkhu taṃ cakkhundriyaṃ neti paṭipucchābyākaraṇīyo, taṃ cakkhu tathāgatoti ṭhapaniyo. Aññatra cakkhunāti ṭhapaniyo pañho. Idaṃ pañhaṃ bhagavā kiṃ pucchito, lokassa saṃkileso pucchito. Kiṃ kāraṇaṃ? Tividho hi saṃkileso taṇhāsaṃkileso ca diṭṭhisaṃkileso ca duccaritasaṃkileso ca. Tattha avijjāya nivutoti avijjaṃ dasseti, jappāti taṇhaṃ dasseti, mahabbhayanti akusalassa kammassa vipākaṃ dasseti, sotaṃ nāma sukhavedanīyassa kammassa dukkhavedanīyo vipāko bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjatīti bhagavā visajjeti, catūhi yo padehi avijjāya nivuto lokoti…pe… evaṃ vuccati.
‘Question’ means these four terms. How many questions? One, or two, or more than that? These four terms are one question. The phrasing follows the meaning; even many terms ask about one and the same thing. These four terms follow in sequence; by phrasing, it is just one question. ‘By what is the world shrouded?’—he asks concerning the world. ‘By what does it not shine? What do you call its coating?’—he asks about that very same thing. ‘What is its great fear?’—he asks about that very same thing. Thus, the phrasing follows the meaning; it is one question. That question is fourfold: to be answered categorically, to be answered analytically, to be answered with a counter-question, and to be set aside. Therein, ‘Is the eye impermanent?’ is a question to be answered categorically. ‘Is that which is impermanent suffering?’ is a question to be answered analytically. It might be impermanent, but not the eye. And those sense bases that are not the eye are also impermanent, not just the eye. This is a question to be answered analytically. ‘Does that eye lead the eye-faculty?’ is a question to be answered with a counter-question. ‘Is that eye the Tathāgata?’ is a question to be set aside. Because it is asked about something other than the eye, this question is to be set aside. Regarding this question, what was the Blessed One asked? He was asked about the defilement of the world. What is the reason? Defilement is threefold: defilement by craving, defilement by views, and defilement by misconduct. Therein, ‘shrouded by ignorance’ shows ignorance. ‘Longing’ shows craving. ‘Great fear’ shows the result of unwholesome kamma. The Blessed One answers: ‘That for a kamma to be experienced as pleasant, its result will be experienced as painful—this case does not exist.’ The Blessed One answers with four terms: ‘The world is shrouded by ignorance…’ and so on.
Vấn đề là bốn câu này. Có bao nhiêu vấn đề? Một, hai, hay nhiều hơn. Bốn câu này là một vấn đề, (khi) văn tự tùy chuyển theo ý nghĩa, (nghĩa là) nhiều câu cũng hỏi về một ý nghĩa. Bốn câu này tùy chuyển theo văn tự đó, nên chỉ là một vấn đề. (Câu hỏi) 'Thế gian bị cái gì che đậy?' là hỏi nhắm đến thế gian. (Câu hỏi) 'Do đâu không chiếu sáng, hãy nói sự nhiễm ô là gì?' cũng hỏi về điều ấy. (Câu hỏi) 'Cái gì là nỗi sợ hãi lớn của nó?' cũng hỏi về điều ấy. Như vậy, văn tự tùy chuyển theo ý nghĩa là một vấn đề. Vấn đề ấy có bốn loại: vấn đề cần trả lời dứt khoát, vấn đề cần trả lời phân tích, vấn đề cần trả lời bằng cách hỏi lại, và vấn đề cần gác lại. Trong đó, (câu hỏi) 'Con mắt có vô thường không?' là vấn đề cần trả lời dứt khoát. (Câu hỏi) 'Cái gì vô thường, cái đó là khổ phải không?' là vấn đề cần trả lời phân tích. Có thể là vô thường, nhưng không phải con mắt. 'Những xứ nào không phải là con mắt, chúng cũng vô thường phải không?' (Câu trả lời là) 'Không chỉ con mắt (là vô thường)'. Đây là vấn đề cần trả lời phân tích. (Câu hỏi) 'Cái gì là con mắt, cái đó có phải là nhãn quyền không?' là vấn đề cần trả lời bằng cách hỏi lại. (Câu hỏi) 'Con mắt đó có phải là Như Lai không?' là vấn đề cần gác lại. (Hỏi) ngoài con mắt ra, là vấn đề cần gác lại. Vấn đề này được hỏi đến Đức Thế Tôn là gì? Sự ô nhiễm của thế gian được hỏi đến. Lý do là gì? Vì sự ô nhiễm có ba loại: ô nhiễm do tham ái, ô nhiễm do tà kiến, và ô nhiễm do ác hạnh. Trong đó, (câu) 'bị vô minh che đậy' chỉ ra vô minh. (Câu) 'do thèm khát' chỉ ra tham ái. (Câu) 'nỗi sợ hãi lớn' chỉ ra quả của nghiệp bất thiện. Đức Thế Tôn trả lời bằng bốn câu, 'Thế gian bị vô minh che đậy'... v.v... được nói như vậy.
45. Taduttari paṭipucchati, savanti sabbadhi sotāti gāthā, cattāri padāni pucchati taṃ bhagavā dvīhi padehi visajjeti.
45. Further, he asks in return with the verse, 'The streams flow everywhere.' He asks four terms, and the Blessed One answers that with two terms.
45. Hơn nữa, vị ấy hỏi lại bằng kệ ngôn: 'Các dòng chảy khắp nơi'. Vị ấy hỏi bốn câu, Đức Thế Tôn trả lời điều đó bằng hai câu.
Yāni sotāni lokasmiṃ, sati tesaṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhīyare.
Whatever streams there are in the world, mindfulness is their prevention. The restraint of the streams, I say, is by wisdom; by wisdom they are shut off.
Những dòng chảy nào trong thế gian, niệm là sự ngăn ngừa chúng. Ta nói sự phòng hộ các dòng chảy, chúng được che lấp bởi trí tuệ.
Imāni cattāri padāni dvīhi padehi visajjeti. Idaṃ padanti pucchito, tassa saṃkiliṭṭhassa lokassa vodānaṃ pucchito, sotāni cha taṇhākāyā bahulādhivacanena niddiṭṭhā bhavanti sabbehi āyatanehi. Tāni sotāni kena nivāriyantīti pariyuṭṭhānapahānaṃ pucchati, kena sotā pidhīyareti anusayasamugghātaṃ pucchati. Tattha bhagavā chasu dvāresu satiyā deseti, yo hi sampajāno viharati satidovārike ca tassa indriyāni guttāni sambhavanti. Tattha guttesu indriyesu yā yā vipassanā, sā sā tesaṃ tesaṃ sotānaṃ tassā ca avijjāya yo loko nivuto accantapahānāya saṃvattati. Evaṃ sotāni pihitānipi bhavanti tato uttari pucchati.
He answers these four lines with two lines. When asked about this term, he was asked about the purification of that defiled world. The streams are the six bodies of craving, indicated by a comprehensive term in connection with all the sense bases. By asking, 'By what are those streams restrained?' he asks about the abandoning of obsessions. By asking, 'By what are the streams blocked?' he asks about the uprooting of the underlying tendencies. Therein, the Blessed One teaches with mindfulness at the six doors; for when one dwells clearly comprehending, with mindfulness as the doorkeeper, one's sense faculties become guarded. When the faculties are guarded, whatever insight arises, that very insight leads to the complete abandoning of those very streams and of that shrouding by ignorance with which the world is shrouded. Thus the streams are also blocked. Then he asks further.
(Ngài) trả lời bốn câu này bằng hai câu. Câu này được hỏi là gì? Sự thanh tịnh của thế gian ô nhiễm ấy được hỏi đến. Các dòng chảy, tức sáu thân ái, được chỉ ra bằng cách gọi tên theo số nhiều, bởi tất cả các xứ. (Câu hỏi) 'Các dòng chảy ấy được ngăn ngừa bởi cái gì?' là hỏi về sự đoạn trừ các phiền não triền. (Câu hỏi) 'Các dòng chảy được che lấp bởi cái gì?' là hỏi về sự nhổ bật các phiền não tùy miên. Ở đây, Đức Thế Tôn thuyết giảng về niệm ở sáu cửa. Vì vị nào sống có tỉnh giác và có niệm làm người gác cửa, các căn của vị ấy trở nên được phòng hộ. Ở đây, khi các căn được phòng hộ, tuệ quán nào (phát sinh), tuệ quán ấy dẫn đến sự đoạn trừ hoàn toàn các dòng chảy ấy và (sự đoạn trừ) vô minh mà thế gian bị che đậy bởi nó. Như vậy, các dòng chảy cũng trở nên được che lấp. Sau đó, vị ấy hỏi thêm.
Paññā ca sati ca nāmarūpassa kho tassa bhagavantaṃ puṭṭhumāgamma katthetaṃ upasammati imāni cattāri padāni bhagavā ekena padena visajjeti.
He asks the Blessed One, 'Indeed, with regard to that name-and-form, where do wisdom and mindfulness cease?' The Blessed One answers these four lines with a single line.
Vị ấy hỏi Đức Thế Tôn câu hỏi này: 'Trí tuệ và niệm, và danh sắc ấy, chúng lắng dịu ở đâu?'. Đức Thế Tôn trả lời bốn câu này bằng một câu.
Yametaṃ pañhaṃ apucchi †, ajita taṃ vadāmi te…pe…;
Viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ upasammati.
This question that you asked, Ajita, I will explain to you... With the cessation of consciousness, it is here that this ceases.
Này Ajita, câu hỏi mà ngươi đã hỏi, Ta sẽ nói cho ngươi điều đó... Do sự diệt của thức, ở đây, điều ấy lắng dịu.
Iminā pañhena kiṃ pucchati? Anupādisesanibbānadhātuṃ pucchati, taṃ bhagavā anupādisesāya nibbānadhātuyā visajjeti. Tattha paṭhamena pañhena saṃkilesaṃ pucchati. Dutiyena pañhena vodānaṃ pucchati. Tatiyena pañhena sopādisesanibbānadhātuṃ pucchati. Catutthena pañhena anupādisesanibbānadhātuṃ paṭipucchati tato uttari paṭipucchati.
What does he ask with this question? He asks about the Nibbāna-element without residue remaining. The Blessed One answers concerning the Nibbāna-element without residue remaining. Herein, with the first question he asks about defilement. With the third question he asks about the Nibbāna-element with residue remaining. With the fourth question he asks again about the Nibbāna-element without residue remaining. Then he asks further.
Bằng câu hỏi này, vị ấy hỏi điều gì? Vị ấy hỏi về Vô dư y Niết-bàn giới. Đức Thế Tôn trả lời điều đó bằng Vô dư y Niết-bàn giới. Trong đó, bằng câu hỏi thứ nhất, vị ấy hỏi về sự ô nhiễm. Bằng câu hỏi thứ hai, vị ấy hỏi về sự thanh tịnh. Bằng câu hỏi thứ ba, vị ấy hỏi về Hữu dư y Niết-bàn giới. Bằng câu hỏi thứ tư, vị ấy hỏi lại về Vô dư y Niết-bàn giới. Sau đó, vị ấy hỏi lại thêm nữa.
Ye ca saṅkhātadhammāse, ye ca sekhā † puthū idha;
Tesaṃ me nipako iriyaṃ, puṭṭho pabrūhi mārisa.
Those who have fathomed the Dhamma and the many learners here— O prudent one, being asked, please explain their conduct to me, venerable sir.
Và những vị đã liễu tri các pháp, và nhiều vị hữu học ở đây, thưa ngài, bậc trí tuệ, khi được hỏi, xin hãy nói cho tôi về hành trạng của các vị ấy.
Imāni cattāri padāni pucchati. Kati ca pana te pañhe saṅkhātadhammā ca arahantā sekkhā ca? Kiṃ pubbaṃ kiñca pacchimanti ayamattho. Tattha kataraṃ paṭhamaṃ pucchati, kataraṃ pacchā? Arahantaṃ paṭhamaṃ pucchati. Sekkhadhamme tattha kena padena saṅkhātadhammāti arahanto gahitā, puthūti sekkhā gahitā. Tesaṃ me nipakoti sādhāraṇaṃ padaṃ bhagavantaṃ pucchati. Tassa sādhāraṇāni ca asādhāraṇāni ca pañhesu pucchitabbāni. Taṃ bhagavā visajjeti. Na tathā puṭṭhaṃ, paṭhamaṃ puṭṭhaṃ, taṃ pacchā visajjeti. Yaṃ pacchā pucchitaṃ paṭhamaṃ visajjeti. Kiñca idaṃ pucchitaṃ visuddhānaṃ visujjhantānañca kā iriyāti idaṃ pucchi, taṃ kāmesu nābhigijjheyya. Manasānāvilo siyāti pariyuṭṭhānāni vitakkena ca bhagavā nivāreti, dve pana vitakkaanāvilatāya pariyuṭṭhānaṃ, yathā nīvaraṇesu niddiṭṭhaṃ. Kusalā sabbadhammesūti arahantaṃ visajjeti.
He asks these four lines. How many questions are there? They are about those who have fathomed the Dhamma—the Arahants—and the learners. 'What is first and what is last?'—this is the meaning. Therein, which does he ask about first, and which later? He asks about the Arahant first. As for the terms used, by `saṅkhātadhammā` the Arahants are understood, and by `puthū` the learners are understood. In the phrase `tesaṃ me nipako`, `nipako` is a common term addressing the Blessed One. Both common and uncommon things about them should be asked in the questions. The Blessed One answers, but not in the order asked. What was asked first, he answers later; what was asked later, he answers first. And what was this that was asked? 'What is the conduct of the purified and of those being purified?'—this is what he asked. To this, the answer begins: 'He should not be greedy for sensual pleasures; he should be untroubled in mind.' The Blessed One restrains obsessions with thought. Further, two obsessions are restrained by untroubledness of thought, as is pointed out in the section on the hindrances. By the phrase `kusalā sabbadhammesu`, he answers concerning the Arahant.
Vị ấy hỏi bốn câu này. Có bao nhiêu vấn đề trong đó? (Đó là) các vị đã liễu tri các pháp, tức các vị A-la-hán, và các vị hữu học. Ý nghĩa là: 'Vị nào trước, vị nào sau?'. Trong đó, vị nào được hỏi trước, vị nào được hỏi sau? Vị A-la-hán được hỏi trước. Các pháp hữu học ở đây, bằng câu nào (được hỏi)? Bằng (câu) 'saṅkhātadhammā', các vị A-la-hán được hiểu. Bằng (câu) 'puthū', các vị hữu học được hiểu. Bằng câu 'tesaṃ me nipako', là một câu chung, vị ấy hỏi Đức Thế Tôn. Trong các câu hỏi, những điểm chung và không chung của vị ấy cần được hỏi. Đức Thế Tôn trả lời điều đó. (Ngài) không trả lời như đã được hỏi: điều được hỏi trước, Ngài trả lời sau; điều được hỏi sau, Ngài trả lời trước. Và điều này được hỏi là gì? 'Hành trạng của các vị đã thanh tịnh và các vị đang thanh tịnh là gì?' - điều này đã được hỏi. Điều đó (được trả lời bằng câu) 'Không nên tham đắm trong các dục. Tâm không nên bị vẩn đục'. Đức Thế Tôn ngăn ngừa các phiền não triền bằng tầm. Hơn nữa, hai (cách ngăn ngừa) phiền não triền là bằng tầm và sự không vẩn đục, như đã được chỉ ra trong các triền cái. Bằng (câu) 'Thiện xảo trong tất cả các pháp', Ngài trả lời về vị A-la-hán.
Kenassu tarati oghanti gāthā, imāni cattāri padāni. Cattāroyeva pañhā. Kiṃ kāraṇaṃ, na hi ettha atthānuparivatti byañjanaṃ † yathā paṭhamaṃ ajitapañhesu, tassa na ekaṃsena bahūni visajjanāni, bahukā pañhā, ekova na cāpi, sabbe pucchati, pubbe visajjito, yathā catuttho ajitopañhe, yaṃ ettha yathābhūtaṃ pariyesanāpadabandhena visajjanāyo evaṃ yathābhūtaṃ pariyesati. Yo puna ettha yaṃ evaṃ pucchati tattha ayamākāro pucchanāyaṃ antojaṭā bahijaṭāti gāthā † pucchitavisajjanāya maggitabbā. Kathaṃ visajjitāti bhagavāti visajjeti? Sīle patiṭṭhāya naro sapaññoti gāthā. Tattha cittabhāvanāya samathā, paññābhāvanāya vipassanā. Tattha evaṃ anumīyati, ye dhammā samathena ca vipassanāya ca pahīyanti, te ime antojaṭā bahijaṭā. Tattha visajjanaṃ samathena rāgo pahīyati, vipassanāya avijjā. Ajjhattavatthuko rāgo antojaṭā, bāhiravatthuko rāgo bahijaṭā. Ajjhattavatthukā sakkāyadiṭṭhi, ayaṃ antojaṭā. Ekasaṭṭhi diṭṭhigatāni ca bāhiravatthukāni bahijaṭā, yā hi ajjhattavatthukā yā diṭṭhibhāgiyena bhavissati, ayaṃ jaṭā. Tathā saṃkhittena yā kāci ajjhattavatthukā taṇhā ca diṭṭhi ca, ayaṃ antojaṭā. Yā kāci bāhiravatthukā taṇhā ca diṭṭhi ca, ayaṃ bahijaṭā.
The verse 'By what does one cross the flood?' consists of these four lines. There are four questions. What is the reason? Here, indeed, there is no repetition of meaning in the wording as in the first questions of Ajita. Therefore, there are not many answers given definitively, but there are many questions; it is not just one, nor does he ask about all. It has been answered before, as in the fourth question of Ajita, wherein the true answers are sought through the arrangement of words; thus he seeks the truth accordingly. But here, whoever asks thus, in that questioning, the manner is: 'internal tangle, external tangle.' The verse is to be sought as a question and answer. How is it answered? The Blessed One answers with the verse: 'A man established in virtue, endowed with wisdom.' Therein, serenity is from the development of the mind, insight from the development of wisdom. From this, it is inferred: those states abandoned by serenity and insight—these are the internal tangle and external tangle. Therein, the answer is: by serenity, lust is abandoned; by insight, ignorance is abandoned. Lust based on internal objects is the internal tangle; lust based on external objects is the external tangle. Personality view based on internal objects is the internal tangle. The sixty-one kinds of wrong views based on external objects are the external tangle. Indeed, whatever view based on internal objects will be in the category of views, this is the tangle. Similarly, in brief: whatever craving and view is based on internal objects—this is the internal tangle. Whatever craving and view is based on external objects—this is the external tangle.
Kệ ngôn "Làm sao vượt qua bộc lưu?", bốn câu kệ này chỉ là bốn câu hỏi. Nguyên nhân là gì? Vì ở đây văn cú không tương ứng với ý nghĩa, giống như trong các câu hỏi của Ajita lúc ban đầu. Đối với vị ấy, không phải chỉ có một câu trả lời dứt khoát mà có nhiều câu trả lời, nhiều câu hỏi, cũng không phải chỉ có một. Vị ấy hỏi tất cả, đã được trả lời trước đây, giống như trong câu hỏi thứ tư của Ajita. Ở đây, các câu trả lời được tìm kiếm bằng cách kết hợp các từ ngữ tìm cầu đúng như thật, cũng vậy, vị ấy tìm kiếm đúng như thật. Lại nữa, ở đây, người nào hỏi như vậy, thì trong cách hỏi ấy, câu kệ "Rối trong, rối ngoài" nên được tìm kiếm câu hỏi và câu trả lời. Đức Thế Tôn đã trả lời như thế nào? Bằng câu kệ "Người có trí tuệ, an trú trong giới". Ở đây, samatha (chỉ) là do sự tu tập tâm, vipassanā (quán) là do sự tu tập tuệ. Ở đây, được suy luận như vầy: những pháp nào được đoạn trừ bằng samatha và vipassanā, những pháp ấy là rối trong, rối ngoài. Ở đây, câu trả lời là: tham ái được đoạn trừ bằng samatha, vô minh (được đoạn trừ) bằng vipassanā. Tham ái có đối tượng bên trong là rối trong, tham ái có đối tượng bên ngoài là rối ngoài. Thân kiến có đối tượng bên trong, đây là rối trong. Sáu mươi mốt tà kiến có đối tượng bên ngoài là rối ngoài. Vì kiến nào có đối tượng bên trong, thuộc phần tà kiến, sẽ là sự rối rắm này. Tương tự, nói tóm lại, bất cứ tham ái và tà kiến nào có đối tượng bên trong, đây là rối trong. Bất cứ tham ái và tà kiến nào có đối tượng bên ngoài, đây là rối ngoài.
Yathā devatā bhagavantaṃ pucchati ‘‘catucakkaṃ navadvāra’’nti gāthā †. Tattha bhagavā visajjeti ‘‘chetvā naddhiṃ varattaṃ cā’’ti gāthā, idaṃ bhagavā dukkhanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ visajjeti. Imāya visajjanāya bhagavā anumīyati kilese ettha purimāya gāthāya niddisitabbena. Taṃ hi catucakkanti cattāro vā hatthapādā. Navadvāranti nava vaṇamukhāni. Yathā catucakkanti cattāro upādānā, upādānappaccayā bhavo, upādānanirodhā bhavanirodho. Navadvāranti nava mānavidhā, mānajātikāya hi dukkhaṃ seyyenamhi paraso tīṇi tikāni puṇṇaṃ. Tikena saṃyuttaṃ hi pañcakāmaguṇiko rāgo. Tattha naddhīti taṇhā visajjīyati. Varattanti mānaṃ visajjeti, icchā lobho ca pāpakoti pañcakāmaguṇiko rāgo. Tattha visamalobho pāpakoti niddisiyati samūlataṇhanti. Aññāṇamūlakā taṇhāti aññāṇamūlakā taṇhā, taṇhāya ca diṭṭhiyā ca pahānaṃ. Ye ca puna aññepi keci catucakkayogena teneva kāraṇena ca yujjanti, saṃsāragāmino dhammā sabbe niddisitabbā. Tatthāyaṃ gāthā visajjanā pucchāya ca visajjanāya sameti †. Yaṃ yadi sandena atha saha byākaraṇena anugītiyaṃ ca so vicayoti bhagavā yattakāni padāni nikkhipati, tattakehi anugāyati.
As the deity asks the Blessed One with the verse, 'Four wheels, nine doors.' Therein, the Blessed One replies with the verse, 'Having cut the strap and the thong.' Here, the Blessed One replies regarding the path leading to the cessation of suffering. By this reply, it is inferred that the Blessed One is referring to the defilements here, which are to be indicated by the previous verse. Indeed, 'four wheels' means the four, that is, the two hands and two feet. 'Nine doors' means the nine wound-openings. Alternatively, 'four wheels' means the four kinds of clinging; conditioned by clinging, becoming comes to be; with the cessation of clinging, the cessation of becoming comes to be. 'Nine doors' means the nine kinds of conceit; indeed, for one of a conceited nature, suffering arises through superiority... the three triads are complete. Indeed, lust for the five strands of sensual pleasure is connected with the triad. Therein, by 'strap' (naddhi), craving is explained. By 'thong' (varatta), he explains conceit. 'Desire, greed, and evil' means lust, which is greed for the five strands of sensual pleasure. Therein, unrighteous greed is indicated as 'evil' and as 'craving with its root.' 'Craving rooted in ignorance' means craving that is rooted in ignorance. The abandoning of craving and wrong view. And whatever other things are connected by the application of the four wheels and for that very reason, all phenomena that lead to saṃsāra should be indicated. Therein, this reply in verse corresponds with the question and the answer. If it corresponds by way of connection, then it corresponds with the explanation and also in the repetition. And that which is 'investigation' is this: however many terms the Blessed One lays down, with that many he reiterates.
Giống như vị chư thiên hỏi Đức Thế Tôn bằng câu kệ "Bốn bánh xe, chín cửa". Ở đó, Đức Thế Tôn trả lời bằng câu kệ "Cắt đứt dây da và dây da tốt". Đức Thế Tôn trả lời về con đường đưa đến sự diệt khổ này. Bằng câu trả lời này, Đức Thế Tôn được suy luận về các phiền não ở đây, cần được chỉ ra bằng câu kệ trước. Vì rằng, "bốn bánh xe" là bốn tay chân. "Chín cửa" là chín lỗ hổng. Hoặc "bốn bánh xe" là bốn thủ; do duyên thủ nên có hữu, do thủ diệt nên hữu diệt. "Chín cửa" là chín loại mạn; vì đối với người có bản chất mạn, khổ đau (phát sinh) do (nghĩ rằng) "ta hơn người", "ta bằng người", "ta kém người", ba bộ ba này được hoàn mãn. Vì tham ái đối với năm dục trưởng dưỡng tương ưng với bộ ba. Ở đây, "dây da" (naddhi) được giải thích là tham ái. "Dây da tốt" (varatta) được giải thích là mạn; "dục và tham ác" là tham ái đối với năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, tham không đồng đều được chỉ là "ác", và (cũng được chỉ là) "tham ái có cội rễ". "Tham ái có cội rễ là vô minh" nghĩa là tham ái có cội rễ là vô minh; sự đoạn trừ tham ái và tà kiến. Lại nữa, những ai khác tương ưng với sự vận hành của bốn bánh xe và với chính nguyên nhân ấy, tất cả các pháp đưa đến luân hồi cần được chỉ ra. Ở đây, câu trả lời bằng kệ ngôn này phù hợp với câu hỏi và câu trả lời. Nếu điều gì phù hợp với văn mạch, thì nó phù hợp với sự giải thích và sự trùng tụng. Đó là sự thẩm sát (vicaya). Đức Thế Tôn đặt ra bao nhiêu từ thì Ngài trùng tụng lại bấy nhiêu từ.
46. Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato bhikkhu dūteyyaṃ gantumarahati †. Imāni aṭṭha padāni nikkhittāni. Chahi padehi bhagavā anugāyati.
46. “Bhikkhus, a bhikkhu endowed with eight qualities is fit to go on a mission.” These eight terms have been laid down. The Blessed One reiterates with six terms.
46. "Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thành tựu tám chi phần, xứng đáng đi làm sứ giả". Tám từ này đã được đặt ra. Đức Thế Tôn trùng tụng lại bằng sáu từ.
‘‘Yo ve na byathati † patvā, parisaṃ uggavādiniṃ;
Na ca hāpeti vacanaṃ, na ca chādeti sāsanaṃ.
“He who, having approached an assembly that speaks harshly, is not agitated; who neither forsakes his message nor conceals the teaching.
"Vị nào khi đến hội chúng có lời nói uy nghiêm mà không run sợ; không làm mất lời nói, và không che giấu giáo pháp.
‘‘Asandiddhiṃ ca bhaṇati, pucchito na ca kuppati;
Sa ve tādisako bhikkhu, dūteyyaṃ gantumarahatī’’ti.
“He speaks unreservedly, and when questioned, does not become angry. Such a bhikkhu is indeed fit to go on a mission.”
"Nói lời không mâu thuẫn, khi được hỏi không tức giận; vị Tỳ khưu như vậy, thật xứng đáng đi làm sứ giả."
Tattha pana bhagavā yattakāni padāni nikkhipati, tattakehi anugāyati. Sattahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato kalyāṇamitto piyo garubhāvanīyoti vitthārena, idaṃ bhagavā sattahi padehi anugāyati. Iti bahussutavā anugāyati, appatarakathaṃ padaṃ vā nikkhepo, bahussutavā nava padāni nikkhepo, appatarikā anugītiyā bahutarikā anugāyati. Ayaṃ vuccati te anugīti ca vicayo, ayaṃ vicayo nāma hāro.
Therein, the Blessed One reiterates with as many terms as he lays down. For example, the detailed statement: 'Bhikkhus, a good friend endowed with seven qualities is dear, respected, and venerable' — this the Blessed One reiterates with seven terms. Thus, a learned one reiterates. The laying down may be a shorter discourse or a single term; a learned one may lay down nine terms. By means of a lesser repetition, he reiterates more extensively. This is called both repetition and investigation. This is the mode of exegesis named 'investigation'.
Nhưng ở đây, Đức Thế Tôn đặt ra bao nhiêu từ thì Ngài trùng tụng lại bấy nhiêu từ. "Này các Tỳ khưu, người bạn tốt thành tựu bảy chi phần là người đáng mến, đáng kính, đáng tu tập", (nên được hiểu) một cách chi tiết. Đức Thế Tôn trùng tụng lại điều này bằng bảy từ. Như vậy, người đa văn trùng tụng lại, đặt ra một câu nói ngắn gọn hoặc một từ; người đa văn đặt ra chín từ, trùng tụng lại (một cách) nhiều hơn từ sự trùng tụng ít hơn. Điều này được gọi là sự trùng tụng và sự thẩm sát. Đây là phương pháp tên là Thẩm Sát (Vicaya).
Tattha katamo yuttihāro?
Therein, what is the mode of justification?
Trong các phương pháp ấy, phương pháp Hợp Lý (Yutti) là gì?
Sabbesaṃ hārānaṃ, yā bhūmī yo ca gocaro tesaṃ;
Yuttāyutti parikkhā, hāro yuttīti niddiṭṭho.
Of all the modes, whatever is their ground and whatever their range, the examination of the suitable and unsuitable is designated as the mode of justification.
Đối với tất cả các phương pháp, nền tảng nào và đối tượng nào của chúng; sự xem xét tính hợp lý và không hợp lý, phương pháp đó được chỉ ra là Hợp Lý (Yutti).
Hārānaṃ soḷasannaṃ yathā desanā yathā vicayo yo ca niddisiyati, ayaṃ niddeso. Ayaṃ pucchā suttesu na yujjatīti yā tattha vīmaṃsā, ayaṃ yutti.
Of the sixteen modes: how the teaching is, how the investigation is, and what is indicated—this is the indication. The inquiry therein as to 'this question is not suitable in the suttas'—this is justification.
Đối với mười sáu phương pháp, sự chỉ ra theo như pháp thuyết, theo như sự thẩm sát, đây là sự chỉ dẫn (niddesa). Sự thẩm tra nào ở đó (cho rằng) "câu hỏi này không phù hợp trong các kinh", đây là sự hợp lý (yutti).
Yathā hi sahetū sappaccayā sattā saṃkilissanti, atthi hetu atthi paccayo sattānaṃ saṃkilesāya, sahetū sappaccayā sattā visujjhanti, atthi hetu atthi paccayo sattānaṃ visuddhiyā. Sīlavatā, ānanda, puggalena na veyyākaraṇiyā kinti me vippaṭisāro uppādeyya…pe… abyākaraṇaṃ kattabbaṃ, ayaṃ visuddhiyā maggo. Tassa hetu ko paccayo, sīlakkhandhassa cattāri cattāri hetu ca paccayo ca. Sappurisasaṃsevo yo ca patirūpadesavāso ca, ayaṃ upādāpaccayatā sappaccayo. Yaṃ porāṇakammaṃ assa vipāko paccayo, tāya paccayāya attasammāpaṇidhi, ayaṃ hetu. Iti sīlakkhandho sahetu sappaccayoti idaṃ lokikaṃ sīlaṃ.
For just as beings are defiled with generative cause and supportive condition—there is a generative cause, there is a supportive condition for the defilement of beings; and beings are purified with generative cause and supportive condition—there is a generative cause, there is a supportive condition for the purification of beings. 'For a virtuous person, Ānanda... it should be left undeclared; this is the path to purification.' What is its generative cause, what its supportive condition? For the aggregate of virtue, there are four generative causes and four supportive conditions. Association with good people and dwelling in a suitable place—this is a supportive condition. Whatever past kamma there is, its result is a supportive condition. Conditioned by that supportive condition, there is right self-aspiration; this is the generative cause. Thus, the aggregate of virtue has a generative cause and a supportive condition. This is worldly virtue.
Vì rằng, chúng sanh bị ô nhiễm có nhân có duyên; có nhân, có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sanh. Chúng sanh được thanh tịnh có nhân có duyên; có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh. "Này Ānanda, người có giới không nên (nghĩ rằng): 'Làm sao để sự hối hận không khởi lên trong ta?'... (vân vân)... không cần phải tác ý". Đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh. Nhân của nó là gì, duyên là gì? Đối với giới uẩn, có bốn nhân và bốn duyên. Thân cận bậc chân nhân và trú ở nơi thích hợp, đây là có duyên do có tính chất là duyên y chỉ. Nghiệp quá khứ nào là quả của nó, đó là duyên; do duyên ấy, có sự hướng tâm chân chánh, đây là nhân. Như vậy, giới uẩn có nhân có duyên, đây là giới thế gian.
Yaṃ pana lokuttaraṃ sīlaṃ, tassa tīṇi indriyāni paccayo – saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ samādhindriyaṃ – ayaṃ paccayo. Satindriyañca paññindriyañca hetu. Paññāya nibbedhagāminiyā, yaṃ sīlaṃ jāyati. Sotāpannassa ca sīlaṃ tenāyaṃ hetu ayaṃ paccayo. Yaṃ puna samādhino passaddhi ca pīti ca pāmojjaṃ paccayo. Yaṃ sukhaṃ hetu tena samādhikkhandho sahetu sappaccayo. Yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ paññā. Tassa paratoghoso ajjhattaṃ ca yoniso manasikāro hetu ca paccayo ca, iti ime tayo khandhā sahetū sappaccayā evaṃ satta paññā. Sattabyākaraṇīsu ca suttesu na yujjati. Ayaṃ yuttihāro. So catūsu mahāpadesesu daṭṭhabbo.
As for supramundane virtue, three faculties are its supportive condition: the faculty of faith, the faculty of energy, and the faculty of concentration—this is the supportive condition. The faculty of mindfulness and the faculty of wisdom are the generative cause. It is the virtue that arises from wisdom leading to penetration. And for the virtue of a stream-enterer, this is the generative cause and this is the supportive condition. Furthermore, for one with concentration, tranquility, rapture, and joy are the supportive condition. Happiness is the generative cause; thus the aggregate of concentration has a generative cause and a supportive condition. That one who is concentrated understands things as they really are—this is wisdom. For that wisdom, the voice of another and internal wise attention are both generative cause and supportive condition. Thus these three aggregates have generative cause and supportive condition. In this way, there are seven wisdoms. This is not suitable in the suttas with seven declarations. This is the mode of justification. It should be seen in the four great references.
Còn giới nào là siêu thế, ba quyền là duyên của giới ấy – tín quyền, tấn quyền, định quyền – đây là duyên. Niệm quyền và tuệ quyền là nhân. Do trí tuệ đưa đến sự thấu triệt, giới nào sanh khởi. Và đối với giới của bậc Dự-lưu, do giới ấy, đây là nhân, đây là duyên. Lại nữa, đối với người có định, khinh an, hỷ và hân hoan là duyên. Lạc nào là nhân, do đó định uẩn có nhân, có duyên. Người có định biết rõ như thật điều gì, đây là trí tuệ. Đối với trí tuệ ấy, âm thanh từ người khác và như lý tác ý bên trong vừa là nhân vừa là duyên. Như vậy, ba uẩn này có nhân, có duyên. Như vậy có bảy trí tuệ. (Điều này) không tương ưng trong bảy cách trả lời và trong các kinh. Đây là phương pháp tương hợp. Phương pháp ấy cần được thấy trong bốn đại xứ.
47. Tattha katamaṃ padaṭṭhānaṃ?
47. Therein, what is the mode of proximate cause?
47. Trong ấy, thế nào là phương pháp nền tảng gần (padaṭṭhāna hāra)?
Dhammaṃ deseti jino, tassa ca dhammassa yaṃ padaṭṭhānaṃ;
Iti yāva sabbadhammā, eso hāro padaṭṭhāno.
The Victor teaches the Dhamma, and whatever is the proximate cause of that Dhamma; thus, as it applies to all phenomena, this is the mode of proximate cause.
Bậc Chiến Thắng thuyết Pháp, và nền tảng gần của Pháp ấy; Như vậy đối với tất cả các pháp, đó là phương pháp nền tảng gần.
Tattha pañcakāmaguṇā kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ. Yesaṃ kesañci kāmarāgo uppajjati uppanno vā uppajjissati vā, etesu yepi pañcasu rūpesu āyatanesu nāññatra etehi kāmarāgassa padaṭṭhānanti. Vuccate, tena pañca kāmaguṇā kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ. Pañcindriyāni rūparāgassa padaṭṭhānaṃ. Manindriyaṃ bhavarāgassa padaṭṭhānaṃ. Pañcakkhandhā sakkāyadiṭṭhiyā padaṭṭhānaṃ. Ekasaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhirāgassa padaṭṭhānaṃ. Kāmadhātu kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ. Arūpadhātu arūparāgassa padaṭṭhānaṃ. Sukhasaññā kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ. Byāpādasaññā byāpādassa padaṭṭhānaṃ. Asampajaññatā sammohassa padaṭṭhānaṃ. Nava āghātavatthūni byāpādassa padaṭṭhānaṃ. Navavidhaṃ mānaṃ † mānassa padaṭṭhānaṃ. Sukhā vedanā rāgānusayassa padaṭṭhānaṃ. Dukkhā vedanā paṭighānusayassa padaṭṭhānaṃ. Adukkhamasukhā vedanā avijjānusayassa padaṭṭhānaṃ. Attavādupādānañca musāvādo ca lobhassa padaṭṭhānaṃ. Pāṇātipāto ca pisuṇavācā ca pharusavācā ca byāpādassa padaṭṭhānaṃ. Micchattañca samphappalāpo ca mohassa padaṭṭhānaṃ. Bhavaṃ bhogañca vokāro ahaṃkārassa padaṭṭhānaṃ. Bāhirānaṃ pariggaho mamaṃkārassa padaṭṭhānaṃ. Kāyassa saṅgaṃ † diṭṭhiyā padaṭṭhānaṃ. Kāyikadoso dosassa padaṭṭhānaṃ. Kāyikakāsāvo lobhassa padaṭṭhānaṃ. Yo yo vā pana dhammo yena yena ārammaṇena uppajjati saccādhiṭṭhānena vā dhammādhiṭṭhānena vā anusayanena vā, so dhammo tassa padaṭṭhānaṃ. Tena sārammaṇena so dhammo uppajjati.
Herein, the five strands of sensual pleasure are the proximate cause for sensual lust. For whomever sensual lust arises, has arisen, or will arise, it does so in relation to these five forms, these sense bases; there is no proximate cause for sensual lust other than these. Thus it is said. Therefore, the five strands of sensual pleasure are the proximate cause for sensual lust. The five faculties are the proximate cause for lust for form. The mind faculty is the proximate cause for lust for existence. The five aggregates are the proximate cause for identity view. The sixty-one views are the proximate cause for lust for views. The sensual realm is the proximate cause for sensual lust. The formless realm is the proximate cause for lust for the formless. The perception of pleasure is the proximate cause for sensual lust. The perception of ill will is the proximate cause for ill will. Lack of clear comprehension is the proximate cause for strong delusion. The nine grounds of resentment are the proximate cause for ill will. The nine kinds of conceit are the proximate cause for conceit. Pleasant feeling is the proximate cause for the latent tendency of lust. Painful feeling is the proximate cause for the latent tendency of aversion. Neither-painful-nor-pleasant feeling is the proximate cause for the latent tendency of ignorance. Clinging to the doctrine of self and false speech are the proximate cause for greed. Killing, divisive speech, and harsh speech are the proximate cause for ill will. Wrongness and idle chatter are the proximate cause for delusion. Existence, enjoyment, and the aggregates are the proximate cause for 'I-making.' Taking possession of external things is the proximate cause for 'mine-making.' Clinging to the body is the proximate cause for wrong view. Bodily distress is the proximate cause for hatred. Bodily stain is the proximate cause for greed. Furthermore, whatever state arises from whatever object, whether by determination on truth, determination on the Dhamma, or by a latent tendency, that state has that as its proximate cause. That state arises with that object.
Ở đây, năm dục công đức là nền tảng gần của tham dục. Đối với bất cứ ai, tham dục đang sanh, đã sanh, hay sẽ sanh, (nó sanh) trong năm loại sắc xứ này; ngoài những thứ này, không có nền tảng gần nào khác cho tham dục. Do đó, được nói rằng: năm dục công đức là nền tảng gần của tham dục. Năm quyền là nền tảng gần của tham sắc. Ý quyền là nền tảng gần của tham hữu. Năm uẩn là nền tảng gần của thân kiến. Sáu mươi mốt kiến chấp là nền tảng gần của tham kiến. Dục giới là nền tảng gần của tham dục. Vô sắc giới là nền tảng gần của tham vô sắc. Lạc tưởng là nền tảng gần của tham dục. Sân tưởng là nền tảng gần của sân. Sự không tỉnh giác là nền tảng gần của si. Chín sự hiềm hận là nền tảng gần của sân. Chín loại mạn là nền tảng gần của mạn. Thọ lạc là nền tảng gần của tùy miên tham. Thọ khổ là nền tảng gần của tùy miên sân. Thọ bất khổ bất lạc là nền tảng gần của tùy miên vô minh. Chấp thủ ngã luận và nói dối là nền tảng gần của tham. Sát sanh, nói hai lưỡi, và nói lời thô ác là nền tảng gần của sân. Tà dâm và nói lời vô ích là nền tảng gần của si. Hữu, tài sản, và các uẩn là nền tảng gần của ngã mạn. Sự chiếm hữu các đối tượng bên ngoài là nền tảng gần của ngã sở mạn. Sự dính mắc vào thân là nền tảng gần của tà kiến. Sự đau khổ về thân là nền tảng gần của sân. Sự ô nhiễm của thân là nền tảng gần của tham. Lại nữa, bất cứ pháp nào sanh khởi do bất cứ đối tượng nào, hoặc do sự quyết định về chân lý, hoặc do sự quyết định về pháp, hoặc do tùy miên, thì (đối tượng, v.v...) ấy là nền tảng gần của pháp đó. Pháp ấy sanh khởi cùng với đối tượng đó.
Yathā manusso purimassa padassa padaṭṭhānaṃ alabhanto dutiyaṃ padaṃ uddharati, so pacchānupadaṃ saṃharati. Yadi pana yo na dutiyapadassa padaṭṭhānaṃ labhati, aparaṃ padaṃ uddharati. Tassa yo ceso paccayo bhavati. Evaṃ dhammo kusalo vā akusalo vā abyākato vā padaṭṭhānaṃ alabhanto na pavattati. Yathā payuttassa dhammassa yonilābho †, ayaṃ vuccati padaṭṭhāno hāro.
Just as a person, not obtaining a foothold for the first foot, lifts the second foot; he draws back the following foot. If, however, one does not obtain a foothold for the second foot, one lifts another foot. For him, this is the condition. In the same way, a wholesome, unwholesome, or indeterminate state, not obtaining a proximate cause, does not proceed. As there is the obtaining of the source for an applied phenomenon, this is called the mode of proximate cause.
Ví như một người không có được chỗ đứng cho bước chân trước, nhấc bước chân thứ hai, người ấy rút lại bước chân sau. Nếu người nào không có được chỗ đứng cho bước chân thứ hai, người ấy nhấc một bước chân khác. Đối với người ấy, cái gì là duyên thì nó trở thành như vậy. Tương tự như vậy, một pháp—thiện, bất thiện, hay vô ký—không có được nền tảng gần thì không vận hành. Giống như sự có được nguồn gốc cho một pháp đã được áp dụng, đây được gọi là phương pháp nền tảng gần.
48. Tattha katamo lakkhaṇo hāro?
48. Herein, what is the mode of characteristics?
48. Trong ấy, thế nào là phương pháp đặc tướng (lakkhaṇa hāra)?
Vuttamhi ekadhamme, ye dhammā ekalakkhaṇā tena;
Sabbe bhavanti vuttā, so hāro lakkhaṇo nāma.
When one phenomenon is stated, whatever phenomena have the same characteristic, by that all are stated; that mode is called 'characteristic'.
Khi một pháp được nói đến, các pháp nào có cùng đặc tướng; Do đó, tất cả đều được xem là đã được nói đến, phương pháp ấy tên là đặc tướng.
Yesañca susamāraddhā, niccaṃ kāyagatāsatīti gāthāya vuttāya kāyagatāsatiyā vuttā vedanāgatā cittagatā dhammagatā ca sati catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ ekena satipaṭṭhānena. Na hi cittaṃ ekasmiṃ viññāṇaṭṭhitiyā pavattati, nānāsu gatīsu pavattati, kāyagatāsatiyā vuttāya vuttā vedanāgatā cittadhammagatā ca. Na hi kāyagatāsatiyā bhāvitāya satipaṭṭhānā cattāro bhāvanāpāripūriṃ na gacchanti. Evaṃ tassadisesu dhammesu vuttesu sabbadhammā vuttā ca bhavanti.
By the verse, 'And for those who are well-aroused in effort, ever mindful of the body,' when mindfulness directed to the body is stated, mindfulness directed to feelings, mind, and dhammas are also stated by means of one of the four foundations of mindfulness. For the mind does not persist in one station of consciousness; it proceeds in various courses. When mindfulness directed to the body is stated, mindfulness directed to feelings, mind, and dhammas are also stated. For it is not the case that when mindfulness directed to the body is developed, the four foundations of mindfulness do not reach fulfillment in development; they do reach it. Thus, when such phenomena are stated, all phenomena are also stated.
Khi câu kệ ‘Những ai đã khéo bắt đầu, niệm thân luôn hiện hữu’ được nói, qua niệm thân được nói đến, niệm về thọ, niệm về tâm, và niệm về pháp cũng được nói đến, (tức là) bốn niệm xứ (được nói đến) qua một niệm xứ. Vì tâm không vận hành trong một thức trú duy nhất, nó vận hành trong nhiều chiều hướng khác nhau; khi niệm thân được nói đến, niệm về thọ và niệm về tâm-pháp cũng được nói đến. Vì khi niệm thân được tu tập, không phải là bốn niệm xứ không đi đến sự viên mãn trong tu tập. Như vậy, khi các pháp tương tự như vậy được nói đến, tất cả các pháp cũng được xem là đã được nói đến.
Sacittapariyodāpanaṃ, etaṃ buddhāna sāsananti gāthā cetasikā dhammā vuttā, citte rūpaṃ vuttaṃ. Idaṃ nāmarūpaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Tato sacittapariyodāpanā yaṃ yaṃ odapeti, taṃ dukkhaṃ. Yena odapeti, so maggo. Yato odapanā, so nirodho. Cakkhuṃ ca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ, tattha sahajātā vedanā saññā cetanā phasso manasikāro ete te dhammā ekalakkhaṇā uppādalakkhaṇena. Yo ca rūpe nibbindati, vedanāya so nibbindati, saññāsaṅkhāraviññāṇesupi so nibbindati. Iti ye ekalakkhaṇā dhammā, tesaṃ ekamhi dhamme niddiṭṭhe sabbe dhammā niddiṭṭhā honti, ayaṃ vuccati lakkhaṇo hāro.
By the verse, 'The purification of one's own mind—this is the teaching of the Buddhas,' mental concomitants are stated. When the mind is stated, form is also stated. This name-and-form is the Noble Truth of Suffering. Therefore, regarding the purification of one's own mind, that which it purifies is suffering. That by which it purifies is the path. That wherein purification is found, that is cessation. Dependent on the eye and on forms, eye-consciousness arises. Therein, co-arisen are feeling, perception, volition, contact, and attention. These phenomena have a single characteristic: the characteristic of arising. And one who is disenchanted with form is disenchanted with feeling; he is also disenchanted with perception, formations, and consciousness. Thus, for phenomena that have a single characteristic, when one phenomenon among them is pointed out, all phenomena are pointed out. This is called the mode of characteristics.
Qua câu kệ ‘Thanh lọc tâm ý mình, đó là lời chư Phật dạy’, các pháp tâm sở được nói đến; khi tâm được nói đến, sắc cũng được nói đến. Danh-sắc này là khổ thánh đế. Do đó, trong việc thanh lọc tâm ý, cái gì được thanh lọc, đó là khổ. Cái gì dùng để thanh lọc, đó là đạo. Nơi nào có sự thanh lọc, đó là diệt. Duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi; ở đó, thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý đồng sanh—những pháp này có cùng đặc tướng là đặc tướng sanh khởi. Người nào yếm ly đối với sắc, người ấy yếm ly đối với thọ, người ấy cũng yếm ly đối với tưởng, hành, và thức. Như vậy, đối với các pháp có cùng đặc tướng, khi một pháp được chỉ ra, tất cả các pháp đều được xem là đã được chỉ ra. Đây được gọi là phương pháp đặc tướng.
Tattha katamo catubyūho hāro?
Herein, what is the fourfold mode?
Trong ấy, thế nào là phương pháp tứ phân (catubyūha hāra)?
Nirutti adhippāyo ca, byañjanā desanāya ca;
Suttattho pubbāparasandhi, eso hāro catubyūho.
Language, intention, phraseology, teaching, the meaning of the sutta, and the connection of earlier and later parts—this is the fourfold mode.
Ngữ nguyên và ý nghĩa, văn tự và thuyết giảng; Ý nghĩa kinh và sự liên kết trước-sau, đó là phương pháp tứ phân.
Tattha katamā nirutti, sā kathaṃ pariyesitabbā †? Yathā vuttaṃ bhagavatā ekādasahi aṅgehi samannāgato bhikkhu khippaṃ dhammesu mahattaṃ pāpuṇāti, atthakusalo ca hoti, dhammakusalo ca hoti, niruttikusalo ca hoti, itthādhivacanakusalo ca hoti, purisādhivacanakusalo ca, vipurisādhivacanakusalo ca, atītādhivacanakusalo ca, anāgatādhivacanakusalo ca, paccuppannādhivacanakusalo ca. Ekādhippāyena kusalo nānādhippāyena kusalo. Kimhi desitaṃ, atītānāgatapaccuppannaṃ. Itthādhivacanena purisādhivacanena vipurisādhivacanena sabbaṃ yathāsuttaṃ niddiṭṭhaṃ. Taṃ byañjanato niruttikosallato yo yaṃ suttassa suniruttidunniruttitaṃ avekkhati, idaṃ evaṃ niropayitabbaṃ. Idampi na niropayitabbaṃ. Idaṃ vuccate niruttikosallaṃ.
Herein, what is language, and how should it be investigated? As the Blessed One has said: 'A bhikkhu endowed with eleven qualities quickly attains greatness in the Dhamma: he is skilled in meaning, skilled in the Dhamma, skilled in language, skilled in terms for the feminine, skilled in terms for the masculine, skilled in terms for the non-masculine, skilled in terms for the past, skilled in terms for the future, skilled in terms for the present, skilled in single intention, and skilled in various intentions.' Wherein is it taught, regarding the past, future, and present? Through terms for the feminine, terms for the masculine, and terms for the non-masculine, everything is indicated according to the sutta. One who, by phraseology and skill in language, examines a sutta's well-expressed and poorly-expressed language, knows: 'This should be established thus,' and 'This should not be established thus.' This is called skill in language.
Trong ấy, ngữ nguyên thông đạt là gì, pháp ấy nên được tìm cầu như thế nào? Như đã được đức Thế Tôn thuyết rằng: "Vị tỳ khưu thành tựu mười một chi phần, nhanh chóng đạt đến sự vĩ đại trong các pháp, và là người thiện xảo về ý nghĩa, và là người thiện xảo về pháp, và là người thiện xảo về ngữ nguyên, và là người thiện xảo về từ ngữ chỉ nữ tính, và thiện xảo về từ ngữ chỉ nam tính, và thiện xảo về từ ngữ chỉ trung tính, và thiện xảo về từ ngữ chỉ quá khứ, và thiện xảo về từ ngữ chỉ tương lai, và thiện xảo về từ ngữ chỉ hiện tại. Thiện xảo về ý nghĩa đơn nhất, thiện xảo về các ý nghĩa khác nhau." Quá khứ, vị lai, hiện tại được thuyết giảng ở đâu? Bằng từ ngữ chỉ nữ tính, bằng từ ngữ chỉ nam tính, bằng từ ngữ chỉ trung tính, tất cả đã được chỉ rõ theo kinh. Vị nào xem xét sự phân tích từ đúng và sự phân tích từ sai của kinh ấy từ phương diện văn tự, từ sự thiện xảo ngữ nguyên, (và biết rằng) "điều này nên được thiết lập như thế này, điều này cũng không nên được thiết lập". Điều này được gọi là sự thiện xảo về ngữ nguyên.
49. Tattha katamaṃ adhippāyakosallaṃ? Yathādesitassa suttassa sabbassa vāraṃ gacchati imena bhagavatā desitabbanti. Yathā kiṃ appamādo amataṃ padaṃ, pamādo maccuno padanti gāthā. Ettha bhagavato ko adhippāyo? Ye asītimeva ākaṅkhanti te appamattā viharissanti, ayaṃ adhippāyo.
49. Herein, what is skill in intention? It is to arrive at the import of the entire sutta as it was taught, thinking: 'This was taught by the Blessed One.' For example, regarding the verse: 'Heedfulness is the path to the deathless; heedlessness, the path to death.' Herein, what is the Blessed One's intention? 'Those who desire the deathless will dwell heedfully'—this is the intention.
49. Trong ấy, sự thiện xảo về chủ ý là gì? Đến lượt của toàn bộ kinh đã được thuyết giảng (và biết rằng) "điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng". Ví như thế nào? Kệ ngôn: "Không phóng dật là con đường bất tử, phóng dật là con đường của tử thần". Ở đây, chủ ý của đức Thế Tôn là gì? "Những ai chỉ mong cầu tám mươi điều, họ sẽ sống không phóng dật". Đây là chủ ý.
Yogassa kālaṃ na nivattati yā ca, so na tattha pāpintave bhavanti;
Vedanāmaggaisinā † paveditaṃ, dhutarajāsavā dukkhā pamokkhātā.
For the yogi, let not the time pass by; that one is not found in a base state there. It has been proclaimed by the sage of the path of feeling: one who has shaken off the dust is liberated from the suffering of the taints.
Vị nào không để thời gian của sự thực hành trôi qua, vị ấy không rơi vào điều ác ở đó; đã được bậc ẩn sĩ của con đường cảm thọ tuyên thuyết, người đã rũ sạch bụi bẩn lậu hoặc, được giải thoát khỏi khổ.
Ettha bhagavato ko adhippāyo? Ye dukkhe nāssādakā †, te vīriyamārabhissanti dukkhakkhayāyāti. Ayaṃ tattha bhagavato adhippāyo. Iti gāthāya vā byākaraṇena vā desite iminā suttena sādhakā, yo evaṃ dhammānudhammaṃ paṭipajjatīti so adhippāyo, ayaṃ vuccati desanādhippāyo.
Herein, what is the Blessed One's intention? 'Those who are greatly afflicted by suffering will arouse effort for the destruction of suffering.' This is the Blessed One's intention in that teaching. Thus, when proofs are taught by verse, by exposition, or by this sutta, it is shown that whoever thus practices in accordance with the supramundane Dhamma—that one is the intended disciple. This is called the intention of the teaching.
Ở đây, chủ ý của đức Thế Tôn là gì? "Những ai không tìm thấy vị ngọt trong khổ, họ sẽ tinh tấn để đoạn tận khổ". Đây là chủ ý của đức Thế Tôn ở đó. Như vậy, khi được thuyết giảng bằng kệ ngôn hay bằng văn xuôi, với kinh này làm bằng chứng, (chủ ý là) "vị nào thực hành pháp và tùy pháp như vậy". Đó là chủ ý, điều này được gọi là chủ ý của bài thuyết giảng.
Tattha katamo pubbāparasandhi? Yaṃ gāthāyaṃ vā suttesu vā padāni asīti tāni bhavanti evaṃ vā evameti tassā gāthāya suttassa vā yāni purimāni padāni yāni ca pacchimakāni, tāni samosāretabbāni. Evaṃ so pubbāparena sandhi ñāyati. Yā ekā samāraddhā gāthā dve tīṇi vā tassa mekadese bhāsitānaṃ abhāsitāhi gāthāhi aniddiṭṭho attho bhavati tadupadhāritabbaṃ. Yaṃva sabbā † itissa pariyesamānassa pariyesanā kaṅkhā, tassa vā puggalassa paññattīnaṃ apare pariyesitabbaṃ. Idaṃ vuccate pubbāparena sandhi. Kosallanti vatthuto nidānakosallaṃ. Byañjanato niruttikosallaṃ. Desanādhippāyakosallaṃ. Pubbāparena sandhikosallaṃ. Tattha tassa gāthā pariyesitā nidānaṃ vā. Upalabbhituṃ na attho niddisitabbo vatthuto nidānakosallaṃ atthakosallaṃ imehi catūhi padehi attho pariyesiyanto yathābhūtaṃ pariyiṭṭho hoti. Atha ca sabbo vatthuto vā nidānena vā yo adhippāyo byañjano nirutti sandhi ca anuttaro eso pubbāparena evaṃ suttatthena desitabbaṃ. Ayaṃ catubyūho hāro.
Herein, what is the connection of the preceding and following? Whatever terms there are in a verse or in suttas, say eighty, they exist thus or thus. The preceding terms and the later terms of that verse or sutta should be combined. In this way, the connection of the preceding and following is known. If one, two, or three verses have been started, and in one part of them the meaning is unstated by the spoken words or unspoken verses, that should be ascertained. For a person searching for a sutta in its entirety, the particular understandings should be sought in another sutta. This is called the connection of the preceding and following. As for skillfulness: skill in the source in terms of substance, skill in etymology in terms of expression, skill in the intention of the teaching, and skill in the connection of the preceding and following should be sought. Therein, when the verses of that sutta are sought, whether the source is found or not, the meaning should be pointed out. Skill in the source in terms of substance and skill in the meaning—by these four terms, when the meaning is sought, it is thoroughly investigated as it really is. Furthermore, the entire meaning—from the substance or from the source—the intention, the expression, the etymology, and this unsurpassed connection with the preceding and following, should be explained thus according to the meaning of the sutta. This is the Catubyūha Hāra (Fourfold Array Method).
Trong ấy, sự liên kết trước sau là gì? Bất cứ câu kệ hay kinh nào có tám mươi câu, chúng là như vậy hoặc như thế này; những câu trước và những câu sau của kệ ngôn hay kinh ấy cần được kết hợp lại. Như vậy, sự liên kết trước sau được biết đến. Một, hai hoặc ba kệ ngôn đã được bắt đầu, ý nghĩa không được chỉ ra bởi các kệ ngôn chưa được nói trong một phần của nó đã được nói, điều đó cần được xem xét. Bất cứ sự tìm kiếm nào của người đang tìm kiếm tất cả, (nếu có) sự nghi ngờ, cần phải tìm kiếm các khái niệm của người đó ở nơi khác. Điều này được gọi là sự liên kết trước sau. Sự thiện xảo là: sự thiện xảo về nhân duyên từ phương diện thực tại, sự thiện xảo về ngữ nguyên từ phương diện văn tự, sự thiện xảo về chủ ý của bài thuyết giảng, sự thiện xảo về liên kết trước sau. Ở đó, kệ ngôn hoặc nhân duyên của nó được tìm kiếm. Dù tìm thấy hay không, ý nghĩa cần được chỉ ra; sự thiện xảo về nhân duyên, sự thiện xảo về ý nghĩa từ phương diện thực tại. Khi ý nghĩa được tìm kiếm bằng bốn câu này, nó được tìm kiếm đúng như thật. Hơn nữa, tất cả nên được tìm kiếm từ phương diện thực tại hoặc từ nhân duyên; bất cứ chủ ý, văn tự, ngữ nguyên và sự liên kết vô thượng nào, đó là (liên kết) trước sau, nên được thuyết giảng như vậy theo ý nghĩa của kinh. Đây là Tứ Bố Trí Hāra.
50. Tattha katamo āvaṭṭo hāro?
50. Herein, what is the Āvaṭṭa Hāra (Revolving Method)?
50. Trong ấy, Luân Chuyển Hāra là gì?
Ekamhi padaṭṭhāne, pariyesati sesakaṃ padaṭṭhānaṃ;
Āvaṭṭati paṭipakkhe, āvaṭṭo nāma so hāro.
In one foundation, one seeks the remaining foundation, its opposite. It revolves on the opposites; that method is called Āvaṭṭa (Revolving).
Trong một cận nhân, tìm kiếm cận nhân còn lại; luân chuyển đến các pháp đối nghịch, hāra ấy tên là Luân Chuyển.
Yathā kiṃ unnaḷānaṃ pamattānanti gāthāyo. Yaṃ pamādo, idaṃ kissa padaṭṭhānaṃ? Kusalānaṃ dhammānaṃ osaggassa. Kusaladhammosaggo pana kissa padaṭṭhānaṃ? Akusaladhammapaṭisevanāya. Kissa padaṭṭhānaṃ, kusaladhammapaṭisevanāya? Kissa padaṭṭhānaṃ, kilesavatthupaṭisevanāya? Iti pamādena mohapakkhiyā diṭṭhi avijjā chandarāgapakkhiyā. Tattha taṇhā ca diṭṭhi cattāro āsavā taṇhā kāmāsavo ca bhavāsavo ca diṭṭhāsavo ca avijjāsavo ca. Tattha citte atthīti diṭṭhi cetasikesu niccanti pañcasu kāmaguṇesu ajjhāvahanena kāmāsavo, upapattīsu āsatti bhavāsavo. Tattha rūpakāyo kāmāsavassa bhavāsavassa ca padaṭṭhānaṃ. Nāmakāyo diṭṭhāsavassa avijjāsavassa ca padaṭṭhānaṃ.
For what reason? As in the verses beginning, 'For the arrogant and the heedless.' Heedlessness—what is this the foundation of? Of the decline of wholesome states. And the decline of wholesome states—what is it the foundation of? Of the cultivation of unwholesome states. The cultivation of wholesome states—what is it the foundation of? Of the cultivation of the bases of defilements. Thus, through heedlessness, in the delusion faction, there is view, and in the desire-and-lust faction, there is ignorance. Herein are craving and view. The four taints are: the taint of sensual desire, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance. Herein, the view 'it exists' in the mind, and 'it is permanent' among the mental factors associated with views. The taint of sensual desire is through carrying the flavor of the object in the five strands of sensual pleasure; attachment to rebirth-destinations is the taint of existence. Herein, the physical body is the foundation for the taint of sensual desire and the taint of existence. The mental body is the foundation for the taint of views and the taint of ignorance.
Ví như thế nào? Các kệ ngôn (bắt đầu bằng) "của những kẻ kiêu mạn, phóng dật". Sự phóng dật là cận nhân của cái gì? Của sự từ bỏ các thiện pháp. Còn sự từ bỏ thiện pháp là cận nhân của cái gì? Của sự thực hành các bất thiện pháp. (Sự thực hành bất thiện pháp) là cận nhân của cái gì? Của sự thực hành các vật của phiền não. Như vậy, do phóng dật, tà kiến thuộc phe si, vô minh thuộc phe tham ái. Ở đó, ái và kiến (là gốc của) bốn lậu hoặc: ái là dục lậu và hữu lậu; (còn có) kiến lậu và vô minh lậu. Ở đó, tà kiến "có (tự ngã) trong tâm" và (tà kiến) "thường hằng" trong các tâm sở; dục lậu là sự mang lấy (hưởng thụ) năm dục trưởng dưỡng; hữu lậu là sự dính mắc trong các cõi tái sanh. Ở đó, sắc thân là cận nhân của dục lậu và hữu lậu. Danh thân là cận nhân của kiến lậu và vô minh lậu.
Tattha alliyanāya ajjhattavāhanaṃ kāmāsavassa lakkhaṇaṃ. Patthanaganthanaabhisaṅkhārakāyasaṅkhāraṇaṃ bhavāsavassa lakkhaṇaṃ, abhiniveso ca parāmāso ca diṭṭhāsavassa lakkhaṇaṃ. Appaṭivedho dhammesu asampajaññā ca avijjāsavassa lakkhaṇaṃ. Ime cattāro āsavā cattāri upādānāni. Kāmāsavo kāmupādānaṃ, bhavāsavo bhavupādānaṃ, diṭṭhāsavo diṭṭhupādānaṃ, avijjāsavo attavādupādānaṃ, imehi catūhi upādānehi pañcakkhandhā. Tattha avijjāsavo citte pahātabbo, so citte cittānupassissa pahīyati. Diṭṭhāsavo dhammesu pahātabbo, so dhammesu dhammānupassissa pahīyati. Bhavāsavo āsattiyā pahātabbo, so vedanāsu vedanānupassissa pahīyati. Kāmāsavo pañcasu kāmaguṇesu pahātabbo, so kāye kāyānupassissa pahīyati. Tattha kāyānupassanā dukkhamariyasaccaṃ bhajati. Vedanānupassanā pañcannaṃ indriyānaṃ paccayo sukhindriyassa dukkhindriyassa somanassindriyassa domanassindriyassa upekkhindriyassa, sattakilesopacāro tena samudayaṃ bhajati. Citte cittānupassanā nirodhaṃ bhajati. Dhammesu dhammānupassanā maggaṃ bhajati. Tenassa catūsu ca dassanena tasseva sabbe pahīyanti, yena niddiṭṭhā paṭhamaṃ unnaḷānaṃ pamattānaṃ tesaṃ vaḍḍhanti āsavā. Jānato hi passato āsavānaṃ khayo dukkhaṃ samudayo nirodho maggo hi akusalā dhammā. Evaṃ pariyesitabbā. Yāva tassa akusalassa gati tato paṭipakkhena akusale dhamme pariyesati tesaṃ kilesānaṃ hārena āvaṭṭati. Ayaṃ vuccate āvaṭṭo hāro. Evaṃ sukkāpi dhammā pariyesitabbā. Akusaladhamme āgamissa.
Herein, carrying the internal through clinging is the characteristic of the taint of sensual desire. The characteristic of the taint of existence is longing, binding, forming, and bodily formations. Wrongful adherence and wrongful grasping are the characteristics of the taint of views. Not penetrating the dhammas and lack of clear comprehension are the characteristics of the taint of ignorance. These four taints are the four kinds of clinging. The taint of sensual desire is clinging to sensual pleasures; the taint of existence is clinging to existence; the taint of views is clinging to views; the taint of ignorance is clinging to the doctrine of self. From these four kinds of clinging, the five aggregates arise. Herein, the taint of ignorance is to be abandoned in the mind; it is abandoned for one who contemplates mind in the mind. The taint of views is to be abandoned in the dhammas; it is abandoned for one who contemplates dhammas in the dhammas. The taint of existence is to be abandoned in attachment; it is abandoned for one who contemplates feelings in feelings. The taint of sensual desire is to be abandoned in the five strands of sensual pleasure; it is abandoned for one who contemplates the body in the body. Herein, contemplation of the body partakes of the noble truth of suffering. Contemplation of feelings is a condition for the five faculties—the faculty of pleasure, the faculty of pain, the faculty of joy, the faculty of displeasure, and the faculty of equanimity—and is the pasture of defilements for beings; therefore, it partakes of the truth of origin. Contemplation of mind in the mind partakes of the truth of cessation. Contemplation of dhammas in the dhammas partakes of the truth of the path. Because for those who delight in the round of existence and are heedless, the taints that were first pointed out increase. Therefore, by the vision of the path, all their defilements are abandoned. Indeed, for one who knows and sees these truths—suffering, origin, cessation, and path—there is the destruction of the taints. Thus, unwholesome states should be investigated. Insofar as one grasps that unwholesome state, one investigates the unwholesome states by way of their opposite and revolves by the removal of those defilements. This is called the Āvaṭṭa Hāra (Revolving Method). In the same way, pure dhammas should also be investigated, arriving at the unwholesome dhamma.
Trong đó, sự bám dính, sự mang vào bên trong là đặc tính của dục lậu. Sự mong cầu, sự trói buộc, sự tạo tác, sự hành của thân là đặc tính của hữu lậu. Sự chấp thủ và sự nắm giữ sai lầm là đặc tính của kiến lậu. Sự không thâm nhập vào các pháp và sự không tỉnh giác là đặc tính của vô minh lậu. Bốn lậu hoặc này là bốn thủ. Dục lậu là dục thủ, hữu lậu là hữu thủ, kiến lậu là kiến thủ, vô minh lậu là ngã luận thủ. Do bốn thủ này mà có năm uẩn. Trong đó, vô minh lậu cần được đoạn trừ trong tâm; nó được đoạn trừ nơi người quán tâm trong tâm. Kiến lậu cần được đoạn trừ trong các pháp; nó được đoạn trừ nơi người quán pháp trong các pháp. Hữu lậu cần được đoạn trừ trong sự dính mắc; nó được đoạn trừ nơi người quán thọ trong các thọ. Dục lậu cần được đoạn trừ trong năm dục trưởng; nó được đoạn trừ nơi người quán thân trong thân. Trong đó, quán thân hướng đến khổ thánh đế. Quán thọ là duyên cho năm quyền: lạc quyền, khổ quyền, hỷ quyền, ưu quyền, xả quyền, là nơi hoạt động của phiền não của chúng sanh; do đó, nó hướng đến tập đế. Quán tâm trong tâm hướng đến diệt đế. Quán pháp trong các pháp hướng đến đạo đế. Do đó, với tuệ kiến trong bốn (đạo), tất cả (phiền não) của vị ấy được đoạn trừ. Bởi vì các lậu hoặc, được chỉ ra trước tiên, tăng trưởng nơi những kẻ kiêu mạn, phóng dật. Quả vậy, đối với người biết, người thấy, có sự đoạn tận các lậu hoặc. Khổ, tập, diệt, đạo. Quả vậy, các pháp bất thiện cần được tìm cầu như vậy. Chừng nào còn có lối đi của pháp bất thiện ấy, từ đó, người ấy tìm cầu pháp bất thiện bằng cách đối nghịch, người ấy xoay vần bằng phương pháp (loại bỏ) các phiền não ấy. Đây được gọi là phương pháp xoay vần. Các pháp thiện cũng cần được tìm cầu như vậy. (Người ấy) sẽ đến nơi pháp bất thiện.
Tattha āvaṭṭassa hārassa ayaṃ bhūmi sati upaṭṭhānā ca vipallāsā ca cattāri ñāṇāni sakkāyasamuppādāyagāminī ca paṭipadā sakkāyanirodhagāminī paṭipadā.
Herein, for the Āvaṭṭa Hāra (Revolving Method), this is the ground: the establishments of mindfulness, the distortions, the four knowledges, the practice that is the path leading to the arising of identity, and the practice that is the path leading to the cessation of identity, Nibbāna.
Trong đó, đây là nền tảng của phương pháp xoay vần: các niệm xứ, các điên đảo, bốn trí, con đường đưa đến sự phát sanh của thân kiến, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến.
51. Tattha katamo vibhatti hāro? Yaṃ kiñci vibhajjabyākaraṇīyaṃ vuccati vibhatti hāro. Yathā kiṃ āgantvā ca puna puggalo hoti, no vāgataṃ na paribhāsati † paripucchatāya pañhāya atiyanaṃ ekassa kiñci – ayaṃ vuccate vibhatti hāro.
51. Herein, what is the Vibhatti Hāra (Analysis Method)? Whatever is to be explained by analyzing is called the Vibhatti Hāra. For what reason? For instance: 'Again, a person has come and has not come.' When a question is asked, one states this. This is not in the least an answer according to the wish of one person. This is called the Vibhatti Hāra.
51. Trong đó, phương pháp phân tích là gì? Bất cứ điều gì cần được trả lời bằng cách phân tích thì được gọi là phương pháp phân tích. Ví như thế nào? Lại nữa, có người đã đến, và cũng có người chưa đến. Khi được hỏi câu hỏi, người ấy không nói một cách đơn giản theo ý của một người. Đây được gọi là phương pháp phân tích.
Tattha katamo parivattano hāro. Yaṃ kiñci paṭipakkhaniddeso, ayaṃ vuccati parivattano hāro. Yathā vuttaṃ bhagavatā sammādiṭṭhikassa purisapuggalassa micchādiṭṭhi nijjiṇṇā hotīti vitthārena sabbāni maggaṅgāni. Ayaṃ vuccate parivattano hāro.
Herein, what is the mode of reversal? Whatever indication by way of an opposite there is, this is called the mode of reversal. Just as it was said by the Blessed One: 'For a person, a superior individual, with right view, wrong view is worn out.' [This is to be applied] in detail to all the path factors. This is called the mode of reversal.
Trong đó, phương pháp chuyển đổi là gì? Bất cứ sự chỉ dẫn nào bằng cách đối nghịch, đây được gọi là phương pháp chuyển đổi. Ví như điều đã được Đức Thế Tôn nói: 'Đối với bậc chánh nhân có chánh kiến, tà kiến đã được tiêu trừ'. (Điều này cần được hiểu) một cách chi tiết đối với tất cả các chi đạo. Đây được gọi là phương pháp chuyển đổi.
Tattha katamo vevacano hāro?
Herein, what is the mode of synonyms?
Trong đó, phương pháp đồng nghĩa là gì?
Vevacanehi anekehi, ekaṃ dhammaṃ pakāsitaṃ;
Sutte yo jānāti suttavidū, vevacano nāma so hāro.
By many synonyms, a single teaching is clarified. He who knows this in the discourse is a knower of the discourses; that mode is named 'synonyms'.
Bằng nhiều từ đồng nghĩa, một pháp được làm cho sáng tỏ; người nào biết (điều này) trong kinh là người thông hiểu kinh, phương pháp ấy tên là đồng nghĩa.
Yathā āyasmā sāriputto ekamhi vatthumhi vevacanena nānāvuttena bhagavatā pasaṃsito ‘‘mahāpañño sāriputto hāsapañño javanapañño’’ti idaṃ paññāya vevacanaṃ. Yathā ca maggavibhaṅge niyyānattho ekamekaṃ maggaṅgaṃ vevacanehi niddiṭṭhaṃ. Evaṃ avijjāya vevacanā. Ekaṃ akusalamūlaṃ tadeva santaṃ tesu tesu janapadesu tena tena pajānanti. Na hi anena tadevapi ālapiyanti aññaṃ bhajati. Sabbakāmajahassa bhikkhunoti kāmā ālapitā. Yassa nitthiṇṇo saṅkoti teyeva kāme saṅkāti ālapati. Suṇamānassa puretaraṃ rajjanti teyeva kāme rajjanti ālapati. Evaṃ suttamhi yo dhammo desiyati tassa pariyeṭṭhi ‘‘katamassa dhammassa idaṃ nāmaṃ katamassa idaṃ vevacana’’nti. Sabbaññū hi yesaṃ yesaṃ yā nirutti hoti, yathāgāmi tena tena desetīti tassa vevacanaṃ pariyesitabbaṃ. Ayaṃ vevacano hāro.
Just as the venerable Sāriputta was praised by the Blessed One with various synonyms regarding one subject: 'Sāriputta is of great wisdom, of joyful wisdom, of swift wisdom'—this is a synonym for wisdom. And just as in the Analysis of the Path, the meaning of release is indicated with synonyms for each and every path factor, so too are there synonyms for ignorance. One unwholesome root, existing as such in various regions, they know by this or that name. For by this [populace], that very thing is spoken of; it does not become something else. In the phrase 'for the bhikkhu who has abandoned all sensual pleasures,' 'sensual pleasures' is the term spoken. For one for whom doubt is not crossed over, he calls those very sensual pleasures 'doubt.' For one who is listening, [regarding the phrase] 'they are impassioned before,' he calls those very sensual pleasures 'that wherein they are impassioned.' Thus, when a teaching is taught in a discourse, its investigation is: 'Of which teaching is this the name? Of which word is this a synonym?' Indeed, the Omniscient Ones, for whichever things whichever expression there is, teach with that particular expression in accordance with the listener's capacity. Therefore, its synonym should be sought. This is the mode of synonyms.
Ví như Tôn giả Xá-lợi-phất, trong một trường hợp, đã được Đức Thế Tôn tán thán bằng những từ đồng nghĩa khác nhau đã được nói: 'Xá-lợi-phất có trí tuệ lớn, có trí tuệ vui vẻ, có trí tuệ nhanh nhạy'. Đây là những từ đồng nghĩa của trí tuệ. Và ví như trong kinh Phân Tích về Đạo, với ý nghĩa xuất ly, mỗi một chi đạo được chỉ ra bằng những từ đồng nghĩa. Cũng vậy, có những từ đồng nghĩa của vô minh. Một gốc bất thiện, chính nó hiện hữu, trong các xứ sở đó đó, họ nhận biết bằng tên gọi đó đó. Quả vậy, người này không dùng tên gọi khác khi gọi chính vật ấy. Trong câu 'vị Tỳ-khưu đã từ bỏ mọi dục vọng', 'dục' được gọi đến. Trong câu 'người đã vượt qua nghi ngờ', người ấy gọi chính những dục ấy là 'nghi ngờ'. Trong câu 'họ tham đắm trước khi nghe', người ấy gọi chính những dục ấy là 'tham đắm'. Như vậy, đối với pháp nào được thuyết trong kinh, sự tìm cầu về nó là: 'Đây là tên của pháp nào? Đây là từ đồng nghĩa của (từ) nào?'. Quả vậy, bậc Toàn Giác, đối với những (từ) nào có cách diễn đạt nào, Ngài thuyết bằng cách diễn đạt đó đó tùy theo sự lĩnh hội (của người nghe). Do đó, cần phải tìm cầu từ đồng nghĩa của nó. Đây là phương pháp đồng nghĩa.
52. Tattha katamo paññatti hāro? Cattāri ariyasaccānīti suttaṃ niddisati, nikkhepapaññatti. Yā samudayapaññatti. Kabaḷīkāre āhāre atthi chando atthi rāgo yāva patiṭṭhitaṃ. Tattha viññāṇaṃ pabhavapaññattiṃ paññapeti. Kabaḷīkāre āhāre natthi chando…pe… samugghāti paññatti.
52. Herein, what is the mode of designation? The discourse that indicates 'the Four Noble Truths' is the designation by summary. Whatever is the designation of origin: 'In physical nutriment, there is desire, there is lust,' as long as consciousness is established. Therein, consciousness makes known the designation of decline. 'In physical nutriment, there is no desire...' and so on... this is the uprooting of the designation.
52. Trong đó, phương pháp chế định là gì? (Khi) chỉ ra kinh 'Bốn Thánh Đế', (đó là) chế định tóm tắt. Chế định nào là chế định về tập. Trong đoàn thực, có dục, có tham, cho đến khi (thức) được an lập. Ở đó, thức chế định sự chế định về nguồn gốc (sanh khởi). Trong đoàn thực, không có dục... vân vân... nhổ bật sự chế định.
Tassa kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccatīti pahānapaññattiṃ paññapeti. Taṇhā yassa purakkhatā paññā parivattati gāthā manāpapaññattiṃ paññapeti. Evaṃ pana manāpapaññattīti ekadhammaṃ bhagavā paññapeti. Na hi taṇhā dukkhasamudayoti kāretvā sabbattha taṇhāsamudayo niddisitabbo. Yathā uppannaṃ kāmavitakkaṃ nādhivāseti vinodeti pajahatīti paṭikkhepapaññatti. Evaṃ sabbesaṃ dhammānaṃ kusalānañca akusalānañca yañcassa dhammakkhettaṃ bhavati, so ceva dhammo tattha pavattati. Tadavasiṭṭhā dhammā tassānuvattakā honti. Sā duvidhā paññatti – parādhīnapaññatti ca sādhīnapaññatti ca. Katamā sādhīnapaññatti? Samādhiṃ, bhikkhave †, bhāvetha, samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Rūpaṃ anicca’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ sādhīnapaññatti parādhīnapaññatti ca, sā paññatti paññāya ca sīlassa ca, yathā cattāri jhānāni bhāvetha. Tassa atthi samādhindriyaṃ mudūni cattāri indriyāni tāni catuparādhīnāni, tīṇi aveccappasādeti parādhīnaṃ samādhindriyaṃ cattāri indriyāni parādhīnāti catūsu ariyasaccesu aparādhīnaṃ paññindriyaṃ satipaṭṭhānesu sammappadhānesu vīriyindriyaṃ. Iti sake padaṭṭhāne sake khettasādhīno so dhammo, so ca tattha paññāpetabbo. Tassa paṭipakkhā nighāto niddisitabbo. Etthāyaṃ anekākārapaññatti kena kāraṇena ayaṃ dhammo paññattoti. Ayaṃ vuccate paññatti.
'His mind is liberated from the taint of sensual pleasure, his mind is liberated from the taint of existence, his mind is liberated from the taint of ignorance'—this makes known the designation of abandonment. The verse 'For whom craving is placed before, wisdom turns away' makes known the designation of the agreeable. Thus, the Blessed One makes known one teaching as the designation of the agreeable. For it is not that, having determined 'craving is the origin of suffering,' craving must be indicated as the origin everywhere. Just as 'He does not tolerate an arisen thought of sensual pleasure but dispels and abandons it' is the designation of rejection. Thus, for all phenomena, wholesome and unwholesome, whatever is its field of phenomena, that very phenomenon operates there. The remaining phenomena are its followers. That designation is twofold: dependent designation and independent designation. What is independent designation? 'Monks, develop concentration. A concentrated monk, monks, understands things as they really are.' 'He understands as it really is: "Form is impermanent"'—this is an independent designation. And dependent designation: that designation is of wisdom and of virtue. Just as: 'Develop the four jhānas.' For him, there is the faculty of concentration; the four [other] faculties are weak. Those four are dependent. The three [faculties] are dependent in relation to unshakable confidence. The faculty of concentration and the four [other] faculties are dependent in the four noble truths. The faculty of wisdom is independent. In the foundations of mindfulness and the right strivings, the faculty of energy [is independent]. Thus, in its own basis, that phenomenon is independent in its own field. And it should be designated there. The destruction of its opposing states should be indicated. Herein, this designation is of many kinds: 'For what reason is this phenomenon designated?' This is called the mode of designation.
Đối với vị ấy, tâm cũng giải thoát khỏi dục lậu, tâm cũng giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng giải thoát khỏi vô minh lậu, như vậy là chế định về sự đoạn trừ. Kệ ngôn: ‘Ái được đặt trước, tuệ xoay chuyển theo’ là chế định về điều khả ý. Như vậy, Đức Thế Tôn chế định một pháp là chế định về điều khả ý. Không phải vì ái là tập khởi của khổ mà ở mọi nơi, tập khởi của ái cần được chỉ rõ. Ví như, không dung chứa, loại trừ, từ bỏ dục tầm đã sanh khởi, đó là chế định về sự bác bỏ. Như vậy, đối với tất cả các pháp thiện và bất thiện, lĩnh vực pháp nào của vị ấy có mặt, thì chính pháp ấy tồn tại ở đó. Các pháp còn lại là những pháp tùy thuộc vào pháp ấy. Chế định ấy có hai loại: chế định phụ thuộc và chế định độc lập. Thế nào là chế định độc lập? Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu có định, biết như thật. ‘Sắc là vô thường’ biết như thật, đây là chế định độc lập. Và chế định phụ thuộc, chế định ấy là của tuệ và của giới, ví như hãy tu tập bốn thiền. Vị ấy có định quyền, bốn quyền mềm yếu, chúng phụ thuộc vào bốn (thánh đế), ba (quyền) phụ thuộc vào sự bất động tín, định quyền phụ thuộc, bốn quyền phụ thuộc vào bốn Thánh đế, tuệ quyền không phụ thuộc; tấn quyền trong các niệm xứ và các chánh cần cũng không phụ thuộc. Như vậy, trong cơ sở của mình, pháp ấy độc lập trong lĩnh vực của mình, và pháp ấy cần được chế định ở đó. Sự tiêu diệt các pháp đối nghịch của nó cần được chỉ rõ. Ở đây, chế định nhiều hình thức này: ‘Do nguyên nhân nào pháp này được chế định?’ Đây được gọi là chế định.
53. Tattha katamo otaraṇo hāro? Chasu dhammesu otāretabbaṃ. Katamesu chasu? Khandhesu dhātūsu āyatanesu indriyesu saccesu paṭiccasamuppādesu. Natthi taṃ suttaṃ vā gāthā vā byākaraṇaṃ vā. Imesu channaṃ dhammānaṃ aññatarasmiṃ na sandissati. Ettāvatā esa sabbā desanā yā tā khandhā vā dhātuyo vā āyatanāni vā saccāni vā paṭiccasamuppādo vā, tattha pañcannaṃ khandhānaṃ vedanākkhandho rāgadosamohānaṃ padaṭṭhānaṃ. Tattha tisso vedanāyo tassa sukhāya vedanāya somanasso savicāro, dukkhāya vedanāya domanasso savicāro, adukkhamasukhāya vedanāya upekkho savicāro. Yaṃ puna tattha vedayitaṃ idaṃ dukkhasaccaṃ, khandhesu saṅkhārakkhandho tattha kāyo pamattaṃ saupavattati, tañca saṅkhāragato dvidhā ca bhavaṅgotaraṇaṃ kammaṃ tīṇi ca saṅkhārāni puññābhisaṅkhārā vā apuññā vā āneñjā vā hetu sabbasarāgassa no vītarāgassa, dosassa abhisaṅkhārāni ca avītarāgo ceteti ca pakappeti ca, vītarāgo pana ceteti ca no abhisaṅkharoti, yaṃ uṇhaṃ vajiraṃ kaṭṭhe vā rukkhe vā aññattha vā patantaṃ bhindati ca ḍahati ca, evaṃ sarāgacetanā ceteti ca abhisaṅkharoti ca. Yathā sataṃ vajiraṃ na bhindati na ca ḍahati, evaṃ vītarāgacetanā ceteti na ca abhisaṅkharoti. Tattha pañcannaṃ khandhānaṃ eko khandho anindriyasarīraṃ saññākkhandho.
53. Herein, what is the mode of entry? It should be entered into six things. Into which six? Into the aggregates, the elements, the sense bases, the faculties, the truths, and dependent origination. There is no discourse, verse, or exposition that is not found in one or another of these six things. To this extent, this is the entire teaching: that is, the aggregates, elements, sense bases, truths, or dependent origination. Therein, among the five aggregates, the feeling aggregate is the proximate cause for lust, hatred, and delusion. Therein are three feelings: with a pleasant feeling there is joy accompanied by examination; with a painful feeling there is displeasure accompanied by examination; with a neither-painful-nor-pleasant feeling there is equanimity accompanied by examination. Furthermore, whatever is felt therein, this is the truth of suffering; among the aggregates, it is the formations aggregate. Therein, the body [of formations] approaches one who is heedless. And that which has gone to formations is twofold: kamma that causes entry into the life-continuum, and the three formations—meritorious formations, demeritorious formations, or imperturbable formations—are a cause for one with lust, not for one free from lust. And for hatred, there are constructions. One who is not free from lust both intends and constructs. But one who is free from lust intends but does not construct. Just as a hot thunderbolt falling on wood or a tree or elsewhere both splits and burns it, so too volition with lust both intends and constructs. Just as a cool thunderbolt neither splits nor burns, so too volition free from lust intends but does not construct. Therein, among the five aggregates, one aggregate [is formations]; the body not connected with a faculty is the perception aggregate.
53. Trong đó, phương pháp dẫn nhập là gì? Cần phải được dẫn nhập vào sáu pháp. Sáu pháp nào? Trong các uẩn, các giới, các xứ, các quyền, các đế, các duyên khởi. Không có kinh, kệ, hay ký thuyết nào mà không được tìm thấy trong một trong sáu pháp này. Trong chừng mực ấy, đây là toàn bộ giáo pháp, dù là các uẩn, các giới, các xứ, các đế, hay duyên khởi. Trong đó, trong năm uẩn, thọ uẩn là cơ sở của tham, sân, si. Trong đó, có ba thọ: đối với lạc thọ, có hỷ đi kèm với tứ; đối với khổ thọ, có ưu đi kèm với tứ; đối với thọ bất khổ bất lạc, có xả đi kèm với tứ. Lại nữa, cái được cảm thọ ở đó, đây là khổ đế; trong các uẩn, là hành uẩn. Ở đó, thân thể tiếp cận người phóng dật, và điều đó thuộc về hành, có hai cách và nghiệp dẫn vào kiếp hữu phần, và ba hành: phước hành, phi phước hành, hoặc bất động hành, là nhân đối với người có tham, không phải đối với người ly tham. Và các hành của sân, người chưa ly tham vừa tác ý vừa tạo tác; còn người ly tham thì tác ý nhưng không tạo tác. Giống như một tia sét nóng rơi vào khúc gỗ, cây cối hay nơi nào khác, vừa làm vỡ vừa thiêu đốt; cũng vậy, tư tâm có tham vừa tác ý vừa tạo tác. Giống như một tia sét lạnh không làm vỡ và không thiêu đốt, cũng vậy, tư tâm ly tham tác ý nhưng không tạo tác. Trong đó, trong năm uẩn, một uẩn là thân không thuộc quyền, là tưởng uẩn.
Tattha dhātūnaṃ aṭṭhārasa dhātuyo. Tattha yā rūpī dasa dhātuyo, tāsu desiyamānāsu rūpakkhandho niddisitabbo, dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Yepi ca cha viññāṇakāyā manodhātusattamā, tattha viññāṇakkhandho ca niddisitabbo, dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Dhammadhātu pana dhammasamosaraṇā, so dhammo hetunā ca nissandena ca phalena ca kiccena ca vevacanena ca yena yena upalabbhati, tena tena niddisitabbo. Yadi vā kusalā yadi vā akusalā yadi vā abyākatā yadi vā asaṅkhatā. Dvādasannaṃ āyatanānaṃ dasa āyatanāni rūpāni taṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ niddisitabbaṃ. Rūpakkhandho ca manāyatanañca viññāṇakkhandhena niddisitabbaṃ, dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Dhammāyatanaṃ nānādhammasamosaraṇaṃ. Tattha ye dhammā indriyānaṃ indriyesu niddisitabbā, ye anindriyānaṃ anindriyesu niddisitabbā. Pariyāyato ca otāretabbā. Yathā sā dhammadhātu tathā dhammāyatanaṃ pariyesitabbaṃ. Yāyeva hi dhammadhātu tadeva dhammāyatanaṃ anūnaṃ anadhikaṃ.
Herein, of the elements, there are eighteen elements. Herein, whichever ten elements are material, when they are being taught, the aggregate of form should be pointed out as the noble truth of suffering. And whichever six consciousness-bodies and the seventh, the mind-element, are present, therein the consciousness aggregate should be pointed out as the noble truth of suffering. The dhamma-element, however, is a confluence of dhammas. That dhamma, by whatever means it is obtained—by cause, by consequence, by result, by function, or by synonym—by that means it should be pointed out: whether wholesome, or unwholesome, or indeterminate, or unconditioned. Of the twelve sense-bases, ten sense-bases are material; that should be pointed out as the noble truth of suffering. The aggregate of form should also be pointed out as the noble truth of suffering, and the mind-base should be pointed out by means of the consciousness aggregate as the noble truth of suffering. The dhamma-base is a confluence of various dhammas. Therein, whichever dhammas belong to the faculties should be pointed out among the faculties; whichever belong to the non-faculties should be pointed out among the non-faculties. And they should be applied by way of the discourse. Just as that dhamma-element should be investigated, so too the dhamma-base should be investigated. Indeed, whatever is the dhamma-element, that itself is the dhamma-base, neither less nor more.
Trong đó, về các giới, có mười tám giới. Trong đó, mười giới thuộc sắc, khi chúng được thuyết giảng, sắc uẩn cần được chỉ rõ, là khổ thánh đế. Sáu thân thức và ý giới là thứ bảy, ở đó thức uẩn cần được chỉ rõ, là khổ thánh đế. Còn pháp giới là sự tập hợp của các pháp, pháp ấy cần được chỉ rõ bằng nhân, bằng hệ quả, bằng quả, bằng phận sự, bằng từ đồng nghĩa, bằng bất cứ cách nào nó được tìm thấy. Hoặc là thiện, hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký, hoặc là vô vi. Trong mười hai xứ, mười xứ là sắc, điều đó cần được chỉ rõ là khổ thánh đế. Sắc uẩn cũng cần được chỉ rõ; và ý xứ cần được chỉ rõ thông qua thức uẩn, là khổ thánh đế. Pháp xứ là sự tập hợp của nhiều pháp khác nhau. Ở đó, những pháp nào thuộc quyền cần được chỉ rõ trong các quyền, những pháp nào không thuộc quyền cần được chỉ rõ trong các pháp không thuộc quyền. Và cần được dẫn nhập theo phương pháp. Như pháp giới thế nào, pháp xứ cũng cần được tìm hiểu như vậy. Vì pháp giới chính là pháp xứ, không thiếu không thừa.
Tattha paṭiccasamuppādo atthi tividho, atthi catubbidho, atthi duvidho. Tattha tividho paṭiccasamuppādo hetuphalanissando. Avijjā saṅkhārā taṇhā upādānaṃ ca ayaṃ hetu, viññāṇaṃ nāmarūpaṃ saḷāyatanaṃ phasso vedanā ca ayaṃ paccayo, yo bhavo ayaṃ vipāko, yā jāti maraṇaṃ ayaṃ nissando.
Herein, dependent origination exists as threefold, exists as fourfold, and exists as twofold. Herein, the threefold dependent origination is generative cause, primary result, and consequential result. Ignorance, formations, craving, and clinging—this is the generative cause. Consciousness, name-and-form, the six sense-bases, contact, and feeling—this is the supporting condition. Whatever becoming there is, this is the primary result. Whatever birth and death there are, this is the consequential result.
Trong đó, duyên khởi có loại ba chi phần, có loại bốn chi phần, có loại hai chi phần. Trong đó, duyên khởi ba chi phần là nhân-quả-hệ quả. Vô minh, hành, ái, và thủ, đây là nhân; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, và thọ, đây là duyên; hữu nào có, đây là dị thục quả; sanh và tử nào có, đây là hệ quả.
Kathaṃ catubbidho hetu paccayo vipāko nissando ca? Avijjā ca taṇhāsaṅkhārā ca upādānaṃ ca – ayaṃ hetu. Viññāṇaṃ nāmarūpassa paccayo. Nāmarūpaṃ upapajjati, tathā upapannassa saḷāyatanaṃ phasso vedanā ca – ayaṃ paccayo. Yo bhavo ayaṃ vipāko. Yā jāti yā ca jarāmaraṇaṃ – ayaṃ nissando.
How is dependent origination fourfold? It is generative cause, supporting condition, primary result, and consequential result. Ignorance, craving, formations, and clinging—this is the generative cause. Consciousness is a condition for name-and-form. Name-and-form arises. Likewise, for the arisen name-and-form, the six sense-bases, contact, and feeling are conditions. This is the supporting condition. Whatever becoming there is, this is the primary result. Whatever birth, and aging and death there are, this is the consequential result.
Thế nào là bốn chi phần: nhân, duyên, dị thục quả, và hệ quả? Vô minh, ái, hành, và thủ – đây là nhân. Thức là duyên cho danh sắc. Danh sắc sanh khởi, cũng vậy đối với danh sắc đã sanh khởi, sáu xứ, xúc, và thọ – đây là duyên. Hữu nào có, đây là dị thục quả. Sanh nào có và lão tử nào có – đây là hệ quả.
Kathaṃ duvidho paṭiccasamuppādo? Avijjā saṅkhārā taṇhā upādānaṃ – ayaṃ samudayo. Viññāṇaṃ nāmarūpaṃ saḷāyatanaṃ phasso vedanā bhavo jāti maraṇañca – idaṃ dukkhaṃ. Yaṃ pana avijjānirodhā saṅkhāranirodho imāni tappaṭipakkhena dve saccāni. Tasmā paṭiccasamuppādo yena ākārena niddiṭṭho, tena tena niddisitabbo.
How is dependent origination twofold? Ignorance, formations, craving, and clinging—this is the origin. Consciousness, name-and-form, the six sense-bases, contact, feeling, becoming, birth, and death—this is suffering. But, from the cessation of ignorance, there is the cessation of formations. These [cessations], by being the opposite [of origin and suffering], constitute the [other] two truths. Therefore, in whatever manner dependent origination is pointed out, in that manner it should be pointed out.
Pháp duyên khởi có hai loại như thế nào? Vô minh, các hành, ái, thủ – đây là tập đế. Thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, và già chết – đây là khổ đế. Lại nữa, sự diệt của các hành do vô minh diệt, những điều này, do đối nghịch với những điều kia, là hai sự thật (hai đế). Do đó, pháp duyên khởi đã được chỉ ra theo phương diện nào, thì nên được chỉ ra theo phương diện ấy.
Tathā bāvīsati indriyāni. Dvādasa indriyāni cakkhundriyāni cakkhundriyaṃ yena domanassindriyaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Purisindriyaṃ ca diṭṭhiyā ca taṇhāpadaṭṭhānaṃ. Yato puriso purisakānaṃ taṃ evaṃ kātabbatā. Atha ajjhattaṃ sārajjati. Ayaṃ ahaṃkāro taṃ yasā sāratto bahiddhā pariyesati, ayaṃ mamaṃkāro evaṃ itthī, tattha sukhindriyaṃ ca somanassindriyaṃ ca purisindriyassānuvattakā honti. Tassa adhippāyaparipuṇṇā lobhadhammā kusalamūle pavaḍḍhenti. Tassa ce ayamadhippāyo na pāripūriṃ gacchati. Tassa dukkhindriyaṃ ca domanassindriyaṃ ca vattati. Doso ca akusalamūlaṃ pavaḍḍhati. Sace pana upekkhā bhāveti upekkhindriyassa anuvattakāmā bhavati. Amoho ca kusalamūlaṃ pavaḍḍhati. Iti satta indriyāni kilesavatthumupādāya ananvemāni avamāni sabbassa vedanā itthindriyaṃ purisindriyaṃ. Tattha aṭṭha indriyāni saddhindriyaṃ yāva aññātāvino indriyaṃ, ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā. Dasannaṃ paññindriyānaṃ kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ. Manindriyaṃ bhavarāgassa padaṭṭhānaṃ. Paññindriyāni rūparāgassa padaṭṭhānaṃ. Itthindriyaṃ ca purisindriyaṃ ca satta paññattiyā padaṭṭhānaṃ. Tattha yena yena indriyena yuttaṃ vā gāthāya otāretuṃ sakkoti, tena tena niddisitabbo. Evaṃ khandhesu dhātūsu āyatanesu saccesu paṭiccasamuppādesu ayaṃ otaraṇo hāro.
Likewise, there are twenty-two faculties. The twelve faculties from the eye-faculty up to the displeasure-faculty—this is suffering. The masculinity faculty and view are the proximate cause of craving. When a man is among men, it should be done thus. Then he is attached internally; this is 'I-making'. Attached to fame, he seeks externally; this is 'mine-making'. Likewise for a woman. Therein, the pleasure faculty and the joy faculty are followers of the masculinity faculty. When his intention is fulfilled, states of greed increase the unwholesome roots. If this intention of his does not reach fulfillment, for him the pain faculty and the displeasure faculty operate. And hatred increases the unwholesome root. But if he develops equanimity, it becomes a follower of the equanimity faculty. And non-delusion increases the wholesome root. Thus, seven faculties arise depending on the basis of defilement; they are not inferior or superior. The femininity faculty and the masculinity faculty arise for everyone depending on feeling. Therein, there are eight faculties, from the faith faculty up to the faculty of one who has final knowledge; this is the path leading to the cessation of suffering. The five sense faculties are the proximate cause of sensual lust. The mind faculty is the proximate cause of lust for existence. The five sense faculties are the proximate cause of lust for form. The femininity faculty and the masculinity faculty are the proximate cause for the seven designations. Therein, by whichever faculty it is connected, if one is able to apply it in a verse, by that faculty it should be pointed out. Thus, in the aggregates, elements, sense-bases, truths, and dependent origination, this is the application method.
Tương tự, có hai mươi hai quyền. Mười hai quyền, từ nhãn quyền cho đến ưu quyền, đây là khổ đế. Nam quyền là nền tảng gần của tà kiến và ái. Bởi vì người nam đối với những người nam khác, việc phải làm là như vậy. Rồi y đam mê nơi nội tâm. Đây là ngã mạn. Người ấy đam mê danh vọng, tìm kiếm ở bên ngoài, đây là ngã sở mạn. Tương tự đối với người nữ. Trong đó, lạc quyền và hỷ quyền là những thứ đi theo nam quyền. Các pháp tham làm viên mãn ý muốn của người ấy, làm tăng trưởng các gốc thiện. Nếu ý muốn này của người ấy không được viên mãn, thì khổ quyền và ưu quyền khởi lên nơi người ấy. Sân cũng làm tăng trưởng gốc bất thiện. Lại nữa, nếu tu tập xả, người ấy có mong muốn đi theo xả quyền. Vô si cũng làm tăng trưởng gốc thiện. Như vậy, bảy quyền này sanh khởi do nương vào vật của phiền não, không hơn không kém. Nữ quyền và nam quyền sanh khởi do nương vào thọ của tất cả. Trong đó, tám quyền, từ tín quyền cho đến cụ tri quyền, đây là đạo đế đưa đến sự diệt khổ. Trong mười quyền, năm giác quyền là nền tảng gần của dục ái. Ý quyền là nền tảng gần của hữu ái. Tuệ quyền là nền tảng gần của sắc ái. Nữ quyền và nam quyền là nền tảng gần của bảy chế định. Trong đó, có thể dùng quyền nào thích hợp để đưa vào kệ tụng, thì nên chỉ ra bằng quyền ấy. Tương tự, (nên chỉ ra) trong các uẩn, các giới, các xứ, các đế, các pháp duyên khởi. Đây là Otaraṇa hāra (pháp dẫn nhập).
54. Tattha katamo sodhano hāro? Yo gāthā ekena ārambho bhāsissanti. Tattha ekissā bhāsitāya avasiṭṭhāsu bhāsitāsu so attho na niddisitabbo. Kiṃ kāraṇaṃ? Na hi tāva so attho bhāsito, so abhāsito na sakkā niddisituṃ. Yathā kiṃ appamādo amataṃ padanti gāthā ayamekā gāthā niddisitabbā. Kiṃ kāraṇaṃ, atthikkhātāva imassa ārambhassa anabhāsitaṃ?
54. Herein, what is the clarification method? It is when a verse is uttered from a single beginning. Therein, when one part has been spoken, that meaning cannot yet be pointed out from the remaining parts. What is the reason? For that meaning has not yet been spoken; what is unspoken cannot be pointed out. For example? The verse, 'Heedfulness is the path to the Deathless.' This one verse should be pointed out. What is the reason? There is what is declared, but of this beginning, something is unspoken.
54. Trong đó, Sodhana hāra (pháp thanh lọc) là gì? (Là phương pháp) mà (vị thầy) sẽ thuyết một kệ tụng với một sự khởi đầu. Trong đó, khi một (phần) đã được thuyết, ý nghĩa ấy không nên được chỉ ra trong những (phần) còn lại đã được thuyết. Vì sao? Vì ý nghĩa ấy chưa được thuyết, và điều chưa được thuyết thì không thể chỉ ra được. Ví dụ như thế nào? Kệ tụng: "Không phóng dật là con đường bất tử". Một kệ này nên được chỉ ra. Vì sao? Có (một phần) đã được giải thích, nhưng (phần) chưa được thuyết của sự khởi đầu này (vẫn còn).
Evaṃ † visesato ñatvā, appamādamhi paṇḍitā;
Appamāde pamodanti, ariyānaṃ gocare ratāti.
Having known this distinction in particular, the wise in heedfulness rejoice in heedfulness, delighting in the domain of the noble ones.
Biết rõ điều đặc biệt này như vậy, bậc trí ở trong sự không phóng dật; các vị ấy vui thích trong sự không phóng dật, ưa thích cảnh giới của các bậc Thánh.
Idaṃ abhāsitaṃ. Imissāpi gāthāya bhāsitāya attho niddisitabbo. Kiṃ kāraṇaṃ, atthi tattha avasiṭṭhaṃ? Te jhāyino † sātatikā, niccaṃ daḷhaparakkamāti gāthā, evaṃ imā gāthāyo upadhāritā yadā bhavanti, tadā attho niddisitabbo. Evaṃ assutapubbesu suttesu byākaraṇesu vā ekuddeso bhāsito. Yā vīmaṃsā tulanā idaṃ atthi kiccaṃ, idaṃ suttaṃ bhāsitaṃ tassa vevacanaṃ niddiṭṭhaṃ vā na vāti. Tattha yā vīmaṃsā, ayaṃ vuccate sodhano hāro.
This is the unspoken. When this verse is spoken, its meaning should be pointed out. What is the reason? Is there a remainder therein? There is the verse: 'Those who are meditative, persevering, ever striving with firm effort.' Thus, when these verses are considered, then the meaning should be pointed out. Thus, in suttas or explanations not heard before, a single indication is spoken. Whatever investigation and comparison there is, this is the task: was this discourse spoken? Was its synonym indicated or not? Therein, whatever investigation there is, this is called the clarification method.
Đây là điều chưa được thuyết. Ý nghĩa của kệ tụng này đã được thuyết cũng nên được chỉ ra. Vì sao? Vì có phần còn lại ở đó. Kệ tụng: "Các vị ấy là những người thiền định, liên tục, luôn có sự tinh tấn vững chắc". Như vậy, khi những kệ tụng này được thọ trì, lúc đó ý nghĩa nên được chỉ ra. Tương tự, trong các kinh hoặc các bài ký chưa từng được nghe trước đây, một đề mục chung đã được thuyết. Sự thẩm sát, sự so sánh nào, đây là phận sự. (Phận sự là thẩm sát rằng:) "Kinh này đã được thuyết, từ đồng nghĩa của nó đã được chỉ ra hay chưa?". Trong đó, sự thẩm sát ấy được gọi là Sodhana hāra (pháp thanh lọc).
55. Tattha katamo adhiṭṭhāno hāro? Ekattatā ca vemattatā ca. Tattha kitapaññatti ca kiccapaññatti ca. Sā ekattatā ca vemattatā ca yathā paññatti ekavevacanena vemattatā pajānātīti paññā, sā ca ādhipateyyaṭṭhena paññatti. Yaṃ anomattiyaṭṭhena paññattanti. Taṃ anomattiyaṭṭhena paññābalaṃ. Tanubhūtā gocarattavasā sevasati tīsu ratanesu anussati buddhānussati dhammānussati saṅghānussati aviparītānussaraṇatāya. Sammādiṭṭhi dhammānaṃ pavicayena dhammavicayasambojjhaṅgo abhinīhārato abhiññāti. Saṅkhepena maggā kā vatthu avikopanatāya ekattā, yathā uṇhena saṃsaṭṭhaṃ uṇhodakaṃ, sītena saṃsaṭṭhaṃ sītodakaṃ khārodakaṃ guḷhodakanti, idaṃ ekattatā vemattatā ca.
55. Herein, what is the Adhiṭṭhāna mode? Sameness and difference. Therein, there is designation of what and designation of function. That sameness and difference, in accordance with the designation, is that one knows difference by a single expression; therefore, it is wisdom (paññā). And that wisdom, in the sense of sovereignty, is designation (paññatti). That which is designated in the sense of not being inferior, that, in the sense of not being inferior, is the power of wisdom (paññābala). There is recollection of the three jewels: recollection of the Buddha, recollection of the Dhamma, recollection of the Saṅgha, which occurs by the power of its domain due to non-perverted, repeated recollection. Right view, through the investigation of dhammas, is the enlightenment factor of investigation of dhammas. It is higher knowledge (abhiññā) because of directing towards it. In brief, the paths are a unity because the substance is not broken. How so? For example, cold water mixed with hot water becomes hot water; hot water mixed with cold water becomes cold water; salt water; sweet water. This is sameness and difference.
55. Trong đó, Adhiṭṭhāna hāra (pháp quyết định) là gì? (Là) tính đồng nhất và tính dị biệt. Trong đó, có chế định... và chế định phận sự. Tính đồng nhất và tính dị biệt ấy, cũng như chế định, (là) trí tuệ vì biết được tính dị biệt bằng một từ đồng nghĩa. Và nó là chế định theo nghĩa làm chủ. Cái được chế định theo nghĩa không thấp kém, đó là tuệ lực theo nghĩa không thấp kém. Tùy niệm trong tam bảo: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm. Do sự tùy niệm không sai lạc, (đó là) niệm. Chánh kiến, do sự thẩm sát các pháp, là trạch pháp giác chi. Do sự hướng đến, (đó là) thắng trí. Tóm lại, các đạo, do vật không bị phá vỡ, là đồng nhất. Ví như nước lạnh trộn với nước nóng là nước nóng, nước nóng trộn với nước lạnh là nước lạnh, nước mặn, nước ngọt. Đây là tính đồng nhất và tính dị biệt.
Atthi puna dhammo nānādhammasaṅghato ekato yathārūpaṃ cattāro vāretabbā, tañca rūpanti ekattatā. Pathavīdhātu āpo tejo vāyodhātūti vemattatā. Evaṃ sabbā catasso dhātuyo rūpanti ekattatā, pathavīdhātu āpo tejo vāyodhātūti vemattatā. Pathavīdhātūti lakkhaṇato ekattatā, saṃkiṇṇavatthuto vemattatā. Yaṃ kiñci kakkhaḷalakkhaṇaṃ, sabbaṃ taṃ pathavīdhātūti ekattatā. Kesā lomā nakhā dantā chavi cammanti vemattatā. Evaṃ sabbaṃ catasso dhātuyo rūpanti ekattaṃ. Saddā gandhā rasā phoṭṭhabbāti vemattatā.
Again, there is a dhamma where, from a collection of various dhammas, taken together as appropriate, four are to be excluded, and that is material form (rūpa); this is sameness. The earth element, water element, fire element, and air element; this is difference. Thus, all four elements are called material form; this is sameness. The earth element, water element, fire element, and air element; this is difference. The earth element, in terms of characteristic, is sameness; in terms of mixed substance, it is difference. Whatever has the characteristic of hardness, all of that is the earth element; this is sameness. Hair of the head, hair of the body, nails, teeth, thin skin, thick skin; this is difference. Thus, the entire body, the four elements, is material form; this is sameness. Sounds, smells, tastes, and tangible objects; this is difference.
Lại nữa, có pháp là sự tập hợp của nhiều pháp khác nhau, hợp lại một cách tương xứng thành bốn (đại), và đó là sắc – đây là tính đồng nhất. Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại – đây là tính dị biệt. Như vậy, tất cả bốn đại là sắc – đây là tính đồng nhất. Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại – đây là tính dị biệt. Địa đại, về phương diện đặc tính, là đồng nhất; về phương diện vật hỗn hợp, là dị biệt. Bất cứ cái gì có đặc tính cứng, tất cả cái đó là địa đại – đây là tính đồng nhất. Tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dày – đây là tính dị biệt. Như vậy, tất cả (các phần của thân) là bốn đại, là sắc – đây là tính đồng nhất. Âm thanh, mùi, vị, vật xúc chạm – đây là tính dị biệt.
Atthi puna dhammo vemattatā añño nāmaṃ labhati. Yathā kāyānupassanāya navasaññā vinīlakasaññā uddhumātakasaññā, ayaṃ asubhasaññā, yā ekattatā ārammaṇato vemattato, sā evaṃ saññāvedanāsu ādīnavaṃ samanupassato tathādhiṭṭhānaṃ samādhindriyaṃ ca sāyeva dhammesu tattha saññābhāvanā vīriyindriyaṃ ca dhammesu dhammānupassanā citte attasaññaṃ pajahato paññindriyaṃ ca citte cittānupassanā. (Iti) † yo koci ñāṇapacāro sabbaso paññāya gocaro paññā, ayaṃ vemattatā, yathā kāmarāgo bhavarāgo diṭṭhirāgoti vemattatā taṇhāya. Iti yaṃ ekattatāya ca vemattatāya ca ñāṇaṃ vīmaṃsanā tulanā. Ayaṃ adhiṭṭhāno hāro.
Again, a dhamma is difference; another obtains a name. For example, in the contemplation of the body, one obtains the nine perceptions, such as the perception of a bluish corpse and the perception of a bloated corpse. This is the perception of foulness. Whatever sameness there is from the difference of object, for one who thus sees the danger in perceptions and feelings, that determination is the faculty of concentration. That very cultivation of perception in dhammas is the faculty of energy; and contemplation of dhammas in dhammas. For one abandoning the perception of self in the mind, it is the faculty of wisdom; and contemplation of mind in mind. Thus, whatever range of knowledge is entirely the domain of wisdom, there is wisdom. This is difference. For example, sensual craving, craving for existence, and craving for views—this is the difference of craving. Thus, whatever knowledge, investigation, and comparison there is regarding sameness and difference, this is the Adhiṭṭhāna mode.
Lại nữa, có pháp dị biệt nhận được tên gọi khác. Ví như trong pháp quán thân có chín tưởng: tưởng xanh bầm, tưởng sình trương, đây là bất tịnh tưởng. Sự đồng nhất nào có được từ sự khác biệt về đối tượng, sự đồng nhất ấy, đối với người thấy rõ sự nguy hại trong tưởng và thọ, sự quyết định như vậy là định quyền. Và chính điều ấy trong các pháp, ở đó sự tu tập tưởng là tấn quyền. Và quán pháp trong các pháp, do từ bỏ ngã tưởng trong tâm, là tuệ quyền. Và quán tâm trong tâm. (Như vậy) bất cứ hành xứ nào của trí, hoàn toàn là đối tượng của tuệ, là tuệ, đây là sự dị biệt. Ví như dục ái, hữu ái, kiến ái, đó là sự dị biệt của ái. Như vậy, trí, sự thẩm sát, sự so sánh nào có trong sự đồng nhất và trong sự dị biệt, đây là Adhiṭṭhānahāra (phương pháp quyết định).
56. Tattha katamo parikkhāro hāro? Sahetu sappaccayaṃ vodānañca saṃkileso ca, yaṃ tadubhayaṃ pariyeṭṭhi, sa parikkhāro hāro. Iti dhammānaṃ sahetukānaṃ hetu pariyesitabbo, sappaccayānaṃ paccayo pariyesitabbo.
56. Herein, what is the Parikkhāra mode? There is purification and defilement, together with its generative cause and its supporting condition. The thorough investigation of both of these is the Parikkhāra mode. Thus, for dhammas that have a generative cause, the generative cause should be sought; for dhammas that have a supporting condition, the supporting condition should be sought.
56. Trong ấy, Parikkhārahāra (phương pháp khảo sát) là gì? Có sự thanh tịnh và sự ô nhiễm cùng với nhân và duyên; sự tìm cầu cả hai điều ấy, đó là Parikkhārahāra. Như vậy, đối với các pháp có nhân, cần phải tìm cầu nhân; đối với các pháp có duyên, cần phải tìm cầu duyên.
Tattha kiṃ nānākaraṇaṃ, hetussa ca paccayassa ca? Sabhāvo hetu, parabhāvo paccayo. Parabhāvassa paccayo hetupi, sabhāvassa hetuyā parabhāvassa kassaci paccayo avutto hetu, vutto paccayo. Ajjhattiko hetu, bāhiro paccayo. Sabhāvo hetu, parabhāvo paccayo. Nibbattako hetu, paṭiggāhako † paccayo. Nevāsiko hetu, āgantuko paccayo. Asādhāraṇo hetu, sādhāraṇo paccayo. Ekoyeva hetu, aparāparo paccayo.
Herein, what is the distinction between a generative cause (hetu) and a supporting condition (paccaya)? Intrinsic nature is the generative cause; another's nature is the supporting condition. A supporting condition pertains to another's nature, and a generative cause to one's own nature. For a generative cause, another's nature may in some cases be a supporting condition; it is not called a generative cause, but is called a supporting condition. Internal is the generative cause; external is the supporting condition. Intrinsic nature is the generative cause; another's nature is the supporting condition. The producer is the generative cause; that which receives is the supporting condition. The resident is the generative cause; the visitor is the supporting condition. The uncommon is the generative cause; the common is the supporting condition. The generative cause is only one; the supporting condition is successive.
Trong đó, sự khác biệt giữa nhân và duyên là gì? Tự tánh là nhân, tha tánh là duyên. Duyên là tha tánh, nhân cũng là tự tánh. Trong một số trường hợp, nhân là tha tánh. Duyên không được gọi là nhân, mà được gọi là duyên. Nội phần là nhân, ngoại phần là duyên. Tự tánh là nhân, tha tánh là duyên. Cái làm phát sinh là nhân, cái tiếp nhận là duyên. Cái thường trú là nhân, cái khách lai là duyên. Cái không chung là nhân, cái chung là duyên. Nhân chỉ có một, duyên thì nối tiếp.
Hetussa upakaraṇaṃ samudānetabbo. Samudānaṃ hetu, tattha duvidho hetu. Duvidho paccayo – samanantarapaccayo ca paramparapaccayo ca. Hetupi duvidho – samanantarahetu ca paramparahetu ca. Tattha katamo paramparapaccayo? Avijjā nāmarūpassa paramparapaccayo, viññāṇaṃ samanantarapaccayatāya paccayo. Yadi ādimhi avijjānirodho bhavati nāmarūpassa nirodhopi. Tattha samanantaraṃ kiṃ kāraṇaṃ paramparapaccayo samanantarapaccayo samuddānito, ayaṃ paccayato. Tattha katamo paramparahetu? Vijānantassa paramparahetutāya hetu, aññākāro samanantarahetutāya hetu. Yassa hi yaṃ samanantaraṃ nibbattati, so tassa hetupi jātinirodhā bahi ākāranirodho, ākāranirodhā daṇḍanirodho, daṇḍanirodhā khaṇḍanirodho. Evaṃ hetupi dvidhā so tāhi passitabbo.
The assistance of the generative cause should be brought forth. This is the collected cause. Herein, the generative cause is twofold. The supporting condition is twofold: the immediately contiguous condition and the remote condition. The generative cause is also twofold: the immediately contiguous cause and the remote cause. Herein, what is the remote condition? Ignorance is a remote condition for name-and-form, while consciousness is a condition by way of being an immediately contiguous condition. If at the beginning the cessation of ignorance occurs, the cessation of name-and-form also occurs. Herein, what is the immediate reason? The remote condition and the immediately contiguous condition are brought forth. This pertains to the supporting condition. Herein, what is the remote generative cause? For one who knows, there is a cause by way of being a remote generative cause; in another mode, there is a cause by way of being an immediately contiguous generative cause. Indeed, for whatever person something arises immediately contiguously, that is also a generative cause for that person. From the cessation of birth, there is the cessation of the external mode; from the cessation of the mode, there is the cessation of the staff; from the cessation of the staff, there is the cessation of the fragment. Thus, that generative cause should be seen by them in two ways.
Sự hỗ trợ của nhân cần được nêu ra. Đây là nhân được nêu ra. Ở đây, nhân có hai loại. Duyên có hai loại: vô gián duyên và kế tục duyên. Nhân cũng có hai loại: vô gián nhân và kế tục nhân. Trong đó, kế tục duyên là gì? Vô minh là kế tục duyên của danh sắc, thức là duyên theo cách vô gián duyên. Nếu lúc đầu vô minh diệt thì sự diệt của danh sắc cũng xảy ra. Ở đó, nguyên nhân vô gián là gì? Kế tục duyên, vô gián duyên được nêu ra, đây là từ duyên. Trong đó, kế tục nhân là gì? Đối với người biết, nhân là theo cách kế tục nhân; một cách khác, nhân là theo cách vô gián nhân. Vì đối với cái nào mà cái gì phát sinh một cách vô gián, cái đó cũng là nhân của cái ấy. Do sự diệt của sinh, sự diệt của hình tướng bên ngoài xảy ra; do sự diệt của hình tướng, sự diệt của gậy xảy ra; do sự diệt của gậy, sự diệt của mảnh vỡ xảy ra. Như vậy, nhân cũng cần được thấy theo hai cách bởi những vị ấy.
Paṭiccasamuppādo yathā avijjāpaccayo tassa puna kiṃpaccayo, ayoniso manasikāro. So kassa paccayo saṅkhārānaṃ, iti paccayo ca samuppannaṃ ca tassa ko hetu avijjāyeva. Tathā hi purimā koṭi na paññāyati. Tattha avijjānusayo avijjāpariyuṭṭhānassa hetu purimā hetu pacchā paccayo, sāpi avijjāsaṅkhārānaṃ paccayo catūhi kāraṇehi sahajātapaccayatāya samanantarapaccayatāya abhisandanapaccayatāya patiṭṭhānapaccayatāya.
As in Dependent Origination: ignorance is a condition. What, again, is the condition for that? Unwise attention. Of what is that a condition? Of formations. Thus, for that which is both condition and arisen from a condition, what is the generative cause? Ignorance itself. For that reason, a first point is not discerned. Therein, the underlying tendency of ignorance is the generative cause for the obsession of ignorance. The prior generative cause is a later supporting condition. That prior generative cause is also a condition for the formations of ignorance for four reasons: by way of co-nascence condition, by way of immediately contiguous condition, by way of overflowing condition, and by way of foundation condition.
Ví như trong Thập Nhị Nhân Duyên, vô minh là duyên. Lại nữa, cái gì là duyên của nó? Phi như lý tác ý. Nó là duyên của cái gì? Của các hành. Như vậy, vừa là duyên vừa là cái đồng sinh khởi, nhân của nó là gì? Chính là vô minh. Quả vậy, điểm khởi đầu không được biết đến. Ở đó, vô minh tùy miên là nhân của vô minh triền. Nhân trước, sau là duyên. Vô minh ấy cũng là duyên của các hành do bốn nguyên nhân: do là câu sinh duyên, do là vô gián duyên, do là tương tục duyên, do là y chỉ duyên.
57. Kathaṃ sahajātapaccayatāya avijjāsaṅkhārānaṃ paccayo? Yaṃ cittaṃ rāgapariyuṭṭhaṃ, tattha avijjāpariyuṭṭhānena sabbaṃ paññāya gocaraṃ hanti. Tattha saṅkhārā tipaccayaṭṭhikā addhābhūmikāramahattassa † ayaṃ avijjāsahasamuppannaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullatamāpajjantī catūhi kāraṇehi paññā pahīyati. Katamehi catūhi? Anusayo pariyuṭṭhānaṃ saṃyojanaṃ upādānaṃ. Tattha anusayo pariyuṭṭhānaṃ jāti pariyuṭṭhitā saṃyujjati saṃyuttā upādiyati upādānapaccayā bhavo. Evaṃ te saṅkhārā tividhā uppannā bhūmigatā nāsaññattha ayaṃ maggena vinītattāyāti † te thāmagatā apativinītātipi te saṅkhārāti vuccati, evaṃ sahetusamuppannaṭṭhena atthi meva paccayā saṅkhārānaṃ paccayo niddiṭṭhaṃ apanetvā kusalaṃ akusalaṃ kusalo ca akusalo ca pakkhipitabbo, vipākadhammā apanetvā vacanīyaṃ avacanīyaṃ vacanīyañca avacanīyañca pakkhipitabbaṃ, bhavaapevirittā, sabbasuttaṃ parikkhipitabbaṃ.
57. How is ignorance a condition for formations by way of co-nascent condition? Whatever mind is assailed by lust, therein, through the obsession of ignorance, it destroys the entire range of wisdom. Therein, due to the state of having many modes established in the three conditions, these formations, arisen together with ignorance, attain growth, development, and abundance. Wisdom diminishes due to four causes. What are the four? Latent tendency, obsession, fetter, and clinging. Therein, for those who have obsessions, the latent tendency is conjoined with the state of assailing by nature. Being so conjoined, one clings. Conditioned by clinging, becoming arises. Thus, those formations, having arisen and reached a certain state, are of three kinds; they are not elsewhere. This is for the purpose of being disciplined by the path. And also, those formations, having become strong, are not disciplined again. Therefore, they are called 'formations'. Thus, by the meaning of being arisen with a cause, there is indeed a condition for formations. [Note:] Having removed what is indicated as wholesome and unwholesome, 'wholesome' and 'unwholesome' should be inserted. Having removed resultant states, 'meaning' and 'word', and both 'meaning' and 'word' should be inserted. The entire discourse should be encompassed up to the cessation of existence.
57. Làm thế nào vô minh là duyên của các hành theo cách câu sinh duyên? Tâm nào bị tham xâm chiếm, ở đó, do vô minh triền, nó phá hủy tất cả đối tượng của tuệ. Ở đó, các hành này đồng sinh với vô minh, đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, sung mãn. Do bốn nguyên nhân, tuệ bị suy giảm. Bốn điều nào? Tùy miên, triền, kiết sử, thủ. Ở đó, tùy miên, triền, bị xâm chiếm bởi chủng loại, nó tương ưng; do tương ưng, nó chấp thủ; do thủ làm duyên, hữu sinh khởi. Như vậy, các hành ấy sinh khởi theo ba cách, đã đi vào cảnh giới, không ở nơi nào khác. Điều này là để được phân biệt bởi đạo; chúng đã trở nên mạnh mẽ, không được điều phục, vì vậy chúng được gọi là hành. Như vậy, theo nghĩa đồng sinh khởi có nhân, có duyên, là duyên cho các hành. Cần loại bỏ thiện và bất thiện đã được chỉ ra, và thêm vào thiện và bất thiện. Cần loại bỏ các pháp dị thục, và thêm vào cái có thể nói và cái không thể nói. Toàn bộ kinh cần được bao quát cho đến khi thoát khỏi hữu.
Dasa tathāgatabalāni cattāri vesārajjāni puññāni anaññākataṃ avijjā samanantarapaccayatāya saṅkhārānaṃ paccayo yena cittena saha samuppannā avijjā tassa cittassa samanantaracittaṃ samuppannanti, tassa yaṃ samanantaracittaṃ samuppannanti, tassa pacchimassa cittassa purimacittaṃ hetupaccayatāya paccayo, tena avijjā hetu tena cittena upādānaṃ anokāsakatā ñāṇaṃ na uppajjanti. Yā tassa appamādā dhātu abhijjhābhisanditā tahiṃ vipallāsā uppajjanti ‘‘asubhe subha’’nti ‘‘dukkhe sukha’’nti, tattha saṅkhārā uppajjanti rattā duṭṭhā mūlassa cetanā rāgapariyuṭṭhānena byāpādapariyuṭṭhānena avijjāpariyuṭṭhānena diṭṭhivipallāso vatthuniddese niddisitabbo, yaṃ viparītacitto vijānāti ayaṃ cittavipallāso, yā viparītasaññā upaggaṇhāti ayaṃ saññāvipallāso. Yaṃ viparītadiṭṭhi abhinivisati ayaṃ diṭṭhivipallāso. Aṭṭha micchattāni vaḍḍhanti, tīṇi akusalāni ayoniso manasikāre uppannaṃ viññāṇañca vijjañca karonti. Iti pubbāparante akusalānātaritaro saṅkhārā vuddhiṃ vepullataṃ gacchanti. Te ca mahatā ca appaṭividitā ponobhavikā † saṅkhārā bhavanti. Iti evaṃ avijjā sahajātapaccayatāya saṅkhārānaṃ paccayo samanantarapaccayatāya ca.
The ten powers of the Tathāgata and the four kinds of fearlessness are pure; they are not made by another cause. Ignorance is a condition for formations by way of immediate condition. With whatever mind ignorance has arisen, for that mind an immediately succeeding mind arises. Thus, for that mind, whichever immediately succeeding mind has arisen, for that later mind, the preceding mind is a condition by way of root condition. Therefore, ignorance is a cause. Through that mind, clinging creates a state of no opportunity, and knowledge does not arise. Whichever element of heedlessness there is, being inclined towards covetousness, therein perversions arise: 'in the unattractive, it is attractive'; 'in suffering, it is happiness'. Therein, formations arise—the volition of the root, impassioned and corrupted—through obsession with lust, through obsession with ill will, and through obsession with ignorance. The perversion of view should be indicated in the Vatthuniddesa. That one with a perverted mind knows—this is the perversion of mind. That one with perverted perception grasps—this is the perversion of perception. That one with a perverted view adheres—this is the perversion of view. The eight wrongnesses increase. The three unwholesome states, through unwise attention, produce arisen consciousness and knowledge. Thus, in the former and latter ends, formations that do not cross beyond the unwholesome attain growth and abundance. And those formations, being for the most part unpenetrated, lead to renewed existence. Thus, ignorance is a condition for formations by way of co-nascent condition and by way of immediate condition.
Mười lực Như Lai, bốn vô sở úy là các pháp thiện, không do nhân khác tạo ra. Vô minh là duyên cho các hành theo cách vô gián duyên. Vô minh đồng sanh với tâm nào, tâm vô gián của tâm ấy sanh khởi. Tâm vô gián nào của tâm ấy sanh khởi, tâm trước là duyên cho tâm sau theo cách nhân duyên. Do đó, vô minh là nhân. Do tâm ấy, thủ không có cơ hội, trí không sanh khởi. Giới bất phóng dật nào của người ấy bị tham dục chi phối, nơi đó các điên đảo sanh khởi: ‘trong cái bất tịnh có sự tịnh’, ‘trong cái khổ có sự lạc’. Nơi đó, các hành sanh khởi, bị tham ái, sân hận, tư của căn do tham tùy miên, sân tùy miên, vô minh tùy miên. Kiến điên đảo nên được chỉ ra trong phần chỉ rõ vật. Việc người có tâm điên đảo biết điều gì, đây là tâm điên đảo. Tưởng điên đảo nào nắm giữ, đây là tưởng điên đảo. Kiến điên đảo nào chấp chặt, đây là kiến điên đảo. Tám tà tánh tăng trưởng. Ba bất thiện trong tác ý không như lý làm sanh khởi cả thức và minh đã sanh. Như vậy, ở trước và sau, các hành không vượt qua được bất thiện đi đến sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Và những hành tái sanh ấy phần lớn không được thấu triệt hiện hữu. Như vậy, vô minh là duyên cho các hành theo cách câu sanh duyên và theo cách vô gián duyên.
58. Kathaṃ abhisandanākārena avijjā saṅkhārānaṃ paccayo? Sā avijjā te saṅkhāre abhisanneti parippharati. Seyyathāpi nāma uppalaṃ vā padumaṃ vā taṃ udake vaḍḍhaṃ assa, sītena vārinā abhisannaṃ parisandanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ āpajjati. Evaṃ abhisandanaṭṭhena avijjā saṅkhārānaṃ paccayo.
58. How is ignorance a condition for formations in the manner of saturation? That ignorance moistens and pervades those formations. Just as, for example, a blue lotus or a red lotus might grow in the water; when moistened and sprinkled with cool water, it attains growth, development, and abundance. Similarly, by the meaning of saturation, ignorance is a condition for the formations.
58. Làm thế nào vô minh là duyên cho các hành theo phương diện thấm nhuần? Vô minh ấy làm thấm ướt, làm lan khắp các hành ấy. Ví như hoa sen xanh hay hoa sen hồng ấy lớn lên trong nước, được thấm ướt, được tưới tắm bằng nước mát, nó đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Cũng vậy, vô minh là duyên cho các hành theo nghĩa thấm nhuần.
Kathaṃ patiṭṭhahanaṭṭhena avijjā saṅkhārānaṃ paccayo? Te saṅkhārā avijjāyaṃ nissāya vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ āpajjanti. Seyyathāpi nāma uppalaṃ vā padumaṃ vā pathaviṃ nissāya pathaviṃ patiṭṭhāya vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ āpajjati. Ete saṅkhārā avijjāyaṃ patiṭṭhitā avijjāyaṃ nissāya vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullataṃ gacchanti. Evaṃ patiṭṭhahanaṭṭhena avijjā saṅkhārānaṃ paccayo.
How is ignorance a condition for formations by the meaning of being a foundation? Those formations, relying on ignorance, attain growth, development, and abundance. Just as, for example, a blue lotus or a red lotus, relying on the earth, established on the earth, attains growth, development, and abundance. These formations, established in ignorance, relying on ignorance, go to growth, development, and abundance. Thus, by the meaning of being a foundation, ignorance is a condition for the formations.
Làm thế nào vô minh là duyên cho các hành theo nghĩa làm chỗ nương tựa? Các hành ấy nương vào vô minh mà đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Ví như hoa sen xanh hay hoa sen hồng nương vào đất, đứng vững trên đất mà đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Các hành này đứng vững trong vô minh, nương vào vô minh mà đi đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Như vậy, vô minh là duyên cho các hành theo nghĩa làm chỗ nương tựa.
Puna rāgasahagatassa kammassa vipākena paṭisandhimhi bhavo nibbattati, taṃ kammassa † sabbaṃ abhiniviṭṭhaṃ aññāṇavasena ponobhavikā saṅkhārāti vuccanti, evampi avijjāpaccayā saṅkhārā atthi. Puna pañcasu ye ca sekkhā puggalā, ye ca asaññisamāpattiṃ samāpannā, ye ca bhavagatā, ye ca antogatāyeva saṃsedajā, ye ca vā pana añño hi koci anāgāmibhūtā na cetenti na ca patthenti, tesaṃ kiṃ paccayā saṅkhārā. Puna rāgā atthi tesaṃ saṅkhārāni upādānāni cittamanussarantiyeva avipakkavipākasamūhatā asamucchinnapaccayā tesaṃ puna ca gato bhavati. Evampi hi avijjāpaccayā saṅkhārā. Puna sā te na upādānā napi saṅkhārā atthi, puna tesaṃ satta anusayā asamūhatā asamucchinnā tadārammaṇaṃ bhavati. Viññāṇassa patiṭṭhāya viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ. Evampi avijjāpaccayā saṅkhārā. Puna sā yaṃ kiñci kammaṃ ācayagāmi sabbaṃ taṃ avijjāvasena abhisaṅkhariyati taṇhāvasena ca allīyati aññāṇavasena ca tattha ādīnavampi na jānāti. Tadeva viññāṇabījaṃ bhavati, sāyeva taṇhāsineho bhavati. Sāyeva avijjā sammohoti. Evampi avijjāpaccayā saṅkhārā vattabbā. Iti imehi ākārehi avijjā saṅkhārānaṃ paccayo.
Again, through the result of kamma accompanied by lust, becoming arises at rebirth-linking. All that adherence to kamma, by the power of not knowing, is called 'formations leading to renewed existence'. In this way also, there are formations conditioned by ignorance. Again, among certain individuals: whichever individuals are trainees; whichever have entered the attainment of non-perception; whichever moisture-born beings are included within; and whatever other non-returners there may be—they do not intend, they do not aspire. For them, what conditions and formations could there be? Again, there are lusts. Their formations and clingings constantly recollect only the mind. Because the unripened result is uneradicated and the condition is unbroken, for them there is indeed a going again to a new existence. In this way also, there are formations conditioned by ignorance. Again, for them, through clinging with delight, there are no formations. Again, for them, because the seven latent tendencies are uneradicated and uncut, a state having that as its object arises. For the establishment of consciousness, conditioned by consciousness, name-and-form arises. In this way also, there are formations conditioned by ignorance. Again, whatever kamma there is that leads to accumulation, all of it is conditioned by the power of that ignorance. And by the power of craving, one clings to it. And by the power of not knowing, one does not know the danger therein. That very thing becomes the seed of consciousness. That very craving becomes the moisture. That very ignorance becomes delusion. In this way also, formations should be said to be conditioned by ignorance. Thus, in these ways, ignorance is a condition for the formations.
Lại nữa, do quả của nghiệp đi kèm với tham, hữu được sanh ra trong sự tái sanh. Tất cả sự chấp chặt ấy của nghiệp do bởi vô trí được gọi là các hành tái sanh. Như vậy cũng có các hành do vô minh làm duyên. Lại nữa, trong năm hạng, những vị hữu học, những vị đã nhập Vô tưởng định, những vị đã đến cõi hữu, những vị thấp sanh ở bên trong, và bất cứ vị nào khác đã trở thành bậc Bất lai, họ không tác ý, không mong cầu, các hành của họ do duyên gì? Lại nữa, các tham ái vẫn có, các hành, các thủ của họ chỉ tùy niệm tâm. Do quả chưa chín chưa được nhổ lên, do duyên chưa bị đoạn trừ, sự đi đến cõi hữu khác của họ lại xảy ra. Như vậy cũng có các hành do vô minh làm duyên. Lại nữa, đối với họ, không có thủ, cũng không có hành. Lại nữa, bảy tùy miên của họ chưa được nhổ lên, chưa bị đoạn trừ, nên có đối tượng ấy. Do thức có chỗ nương, do thức làm duyên mà có danh sắc. Như vậy cũng có các hành do vô minh làm duyên. Lại nữa, bất cứ nghiệp nào dẫn đến sự tích tập, tất cả nghiệp ấy được tạo tác do bởi vô minh, và dính mắc do bởi ái, và do bởi vô trí mà không biết cả sự nguy hại ở nơi đó. Chính cái đó trở thành hạt giống thức. Chính ái ấy trở thành chất dính. Chính vô minh ấy trở thành sự si mê. Như vậy cũng có các hành do vô minh làm duyên cần được nói đến. Như vậy, do những phương diện này, vô minh là duyên cho các hành.
Tattha avijjāya hetu ayoniso manasikāro paccayo hoti. Tattha abhicchedo ayaṃ tattha tatiyaṃ balaṃ † nivatti, ayaṃ paṭisandhi. Tattha punabbhavo yo avecchedo asamugghātanaṭṭhena ayaṃ anusayo. Yathā paṭākaṃ vā sāṭakaṃ vā dve janā pīḷesu ca ekā vā balaṃ vā assa nivāṭassesu, na pana pīḷesu soseyya. Tattha yaṃ sinehā āpodhātu anupullanā sosetabbā. Uṇhadhātumāgamma sace puna taṃ ākāse nikkhipeyya taṃ ussāvena yebhuyyataraṃ sinehamāpajjeyya, na hi anāgamma tejodhātuṃ parisesaṃ gaccheyya. Evameva bhavaggaparamāpi samāpatti na anurūpassa samugghātāya saṃvattati. Te hi ālayanti sammasanti, na ca taṇhāya taṇhāpahānaṃ gacchanti. Tattha so asamugghāto. Avijjāya anusayo ca cittassa sampalibodho, idaṃ pariyuṭṭhānaṃ. Yathābhūtaṃ viññāṇassa appaṭivedho ayaṃ avijjāāsavo avijjāviññāṇabījaṃ bhavati. Yaṃ bījaṃ so hetu na samucchijjati, asamucchijjanto paṭisandehati. Paṭisandahanto na samugghātaṃ gacchati. Asamugghātaṃ cittaṃ pariyonahati, pariyonaddhacitto yathābhūtaṃ nappajānāti, iti saññāṇassa sāsavattho, avijjattho, hetuattho, avacchedattho, anivattiattho, phalattho paṭisandhiattho, punabbhavattho, asamugghātattho, anusayattho, pariyuṭṭhānattho, apaṭivedhanattho. Ettāvatā avijjāya khettaṃ niddiṭṭhaṃ bhavati. Ayaṃ vuccate parikkhāro nāma hāro.
In that context, ignorance is the cause; improper attention is the supporting condition. Therein, there is the cutting off. This third power ceases. This is rebirth-linking. Therein, that which is non-severance—renewed existence, by reason of not being uprooted by the path—this is a latent tendency. Just as if two people were to wring a banner or a cloth that should be wrung with water, there might be a single fold or crease; but by wringing, it would not become dry. Therein, the water element with its moisture must be made to dry by becoming stiff. Relying on the heat element, if one were to again cast it into the open air, that cloth would for the most part become wet with dew. Indeed, without relying on the fire element, it would not become completely dry. In the very same way, even the attainment that is the peak of existence does not lead to the complete uprooting of the corresponding craving. For they cling and contemplate; they do not, through craving, attain the abandonment of craving. Therein, that is the non-uprooting. The latent tendency of ignorance is an obstruction to the mind; this is obsession. The non-penetration of consciousness as it truly is—this is the taint of ignorance. Ignorance becomes the seed of consciousness. That seed, which is the cause, is not cut off. Not being cut off, it connects for rebirth. Connecting for rebirth, one does not reach complete uprooting. Not being uprooted, it envelops the mind. One with an enveloped mind does not know things as they truly are. Thus, for knowledge, there is the meaning 'with taints,' the meaning 'ignorance,' the meaning 'cause,' the meaning 'non-severance,' the meaning 'non-cessation,' the meaning 'fruit,' the meaning 'rebirth-linking,' the meaning 'renewed existence,' the meaning 'non-uprooting,' the meaning 'latent tendency,' the meaning 'obsession,' and the meaning 'non-penetration.' To this extent, the field of ignorance has been pointed out. This is called the mode named 'requisite'.
Ở đó, vô minh là nhân, tác ý không như lý là duyên. Ở đó, có sự đoạn tuyệt này, sức mạnh thứ ba đã chìm xuống ở đó, đây là sự tái sanh. Ở đó, sự không đoạn tuyệt nào là sự tái hữu do ý nghĩa không bị nhổ bật gốc rễ, đây là tùy miên. Ví như hai người vắt tấm vải hoặc tấm áo, và có thể có một nếp gấp. Khi vắt những tấm vải ướt, nó không thể khô được. Ở đó, do chất dính của thủy đại mà nó phải được làm khô. Nếu sau khi dựa vào hỏa đại, người ấy lại ném nó ra ngoài không trung, nó sẽ trở nên ẩm ướt hơn phần lớn bởi sương. Thật vậy, cũng như không dựa vào hỏa đại thì không thể đạt đến sự khô hoàn toàn, cũng thế, ngay cả thiền chứng cao nhất là cõi hữu tưởng cũng không dẫn đến sự nhổ bật gốc rễ của ái tương ứng. Thật vậy, họ chấp thủ, họ nắm giữ, và họ không đạt đến sự đoạn trừ ái dục bằng ái dục. Ở đó, có sự không nhổ bật gốc rễ ấy. Và tùy miên của vô minh là sự trói buộc của tâm, đây là triền cái. Sự không thâm nhập thức như thật, đây là lậu hoặc vô minh. Vô minh trở thành hạt giống của thức. Hạt giống nào là nhân không bị cắt đứt, do không bị cắt đứt nên nó tái sanh. Khi tái sanh, nó không đạt đến sự nhổ bật gốc rễ. Do không nhổ bật gốc rễ, tâm bị bao phủ. Với tâm bị bao phủ, người ấy không biết như thật. Như vậy, đối với thức, có ý nghĩa hữu lậu, ý nghĩa vô minh, ý nghĩa nhân, ý nghĩa không đoạn tuyệt, ý nghĩa không quay lại, ý nghĩa quả, ý nghĩa tái sanh, ý nghĩa tái hữu, ý nghĩa không nhổ bật gốc rễ, ý nghĩa tùy miên, ý nghĩa triền cái, ý nghĩa không thâm nhập. Đến chừng ấy, lĩnh vực của vô minh đã được chỉ rõ. Đây được gọi là phương pháp luận giải thích (parikkhārahāra).
59. Tattha katamo samāropano hāro? Ugghaṭitamhi tamhi santañceva ca naṃ vitthāraṃ pana vattabbaṃ. Vitthāravidhaṃ cittaññā ayaṃ samāropano hāro. Tattha nāmaniddeso upaghaṭakā † vatthuniddeso vevacanaṃ vatthubhūto vitthāro. Yathā kiṃ, yā bhikkhūnaṃ vattato † pahātabbo, ayaṃ upaghaṭanā.
59. Herein, what is the mode of application? For one who understands from a concise statement, a teaching that exists should be spoken of in detail. One should know the mind that understands the detailed method. This is the mode of application. Therein, the exposition of the name and the exposition of the supporting object are a synonym. The exposition that has become the subject matter is the detailed exposition. For example: that which should be abandoned by monks in accordance with their duty—this is the support.
59. Ở đó, phương pháp luận áp đặt (samāropanahāra) là gì? Đối với người có trí tuệ khai mở, lời dạy rộng rãi và hiện hữu nên được nói ra. Nên biết tâm có nhiều loại rộng rãi. Đây là phương pháp luận áp đặt. Ở đó, sự chỉ định tên, sự chỉ định đối tượng gây hại, được gọi là từ đồng nghĩa. Sự chỉ định đã trở thành đối tượng được gọi là sự rộng rãi. Ví như thế nào? Điều gì nên được các Tỳ khưu từ bỏ theo phận sự, đây là sự áp đặt.
Tattha katamo samāropano? Kiñci na vattabbaṃ, rūparāgaṃ vā nāmavantapahātabbaṃ †. Yāva viññāṇanti vitthārena kātabbāni. Avijjā tā opammena paññāpetabbā, ayaṃ samāropano. Nissitacittassa ca mattiko ca nissayo taṇhā ca diṭṭhi ca. Tattha diṭṭhi avijjā taṇhā saṅkhārā. Tattha diṭṭhipaccayā taṇhā ime avijjāpaccayā saṅkhārā. Tattha nissitaṃ viññāṇaṃ idaṃ saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ yāva jarāmaraṇaṃ, idaṃ saṃkhittena bhāsite avasiṭṭhaṃ paropayati.
Herein, what is application? Nothing need be said. Lust for form, or that which has a name, should be abandoned. Up to consciousness, these should be done in detail. Ignorance is to be made known by way of a simile; this is application. For the dependent mind, the measure, craving, and view are its support. Therein are view, ignorance, craving, and formations. Therein, conditioned by view, craving arises; conditioned by ignorance, these formations arise. Therein, there is dependent consciousness. This consciousness, conditioned by formations, arises up to aging and death. When this is spoken of in brief, it applies the remainder.
Ở đó, sự áp đặt là gì? Không có gì để nói, sắc ái nên được từ bỏ như là phần cuối của danh. Cho đến thức, chúng nên được thực hiện một cách rộng rãi. Có việc làm cho biết về vô minh bằng ví dụ, đây là sự áp đặt. Đối với tâm nương tựa, có giới hạn, ái và tà kiến là nơi nương tựa. Ở đó, có tà kiến, vô minh, ái, và các hành. Ở đó, do tà kiến làm duyên, ái sanh khởi. Do vô minh làm duyên, các hành này sanh khởi. Ở đó, thức nương tựa, thức này do hành làm duyên, sanh khởi cho đến già và chết. Khi điều này được nói một cách tóm tắt, phần còn lại được áp đặt.
Anissitassa † calitaṃ natthīti tassa evaṃ diṭṭhiyā taṇhāya ca pahānaṃ tattha diṭṭhiavijjānirodhāya bhūtaṃ viññāṇaṃ sarāgaṭṭhāniyesu dhammesu taṃ taṃ dhammaṃ upecca aññaṃ dhammaṃ dhāvati makkaṭopamatāya, atha khvassa parittesu dhammesu sarāgaṭṭhāniyesu chandarāgo natthi kuto tato calanā, adhimattesu sattesu cittaṃ nivessayati taṃ apatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ anāhāraṃ nirujjhati viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho yāva jarāmaraṇanirodho. Ayaṃ samāropano.
For one who is non-dependent, there is no agitation; thus for that one there is the abandoning of view and craving. Therein, for the sake of the cessation of view and ignorance, the consciousness that has arisen, not approaching this or that state among states that are a basis for passion, runs to another state; it runs as in the simile of the monkey. However, for that person, there is no desire and lust for limited states that are a basis for passion. Whence, then, could there be agitation? It directs the mind towards beings of excessive defilements. That unestablished consciousness, being without nutriment, ceases. From the cessation of consciousness, there is the cessation of name-and-form, up to the cessation of aging and death. This is application.
Đối với tâm không nương tựa, không có sự dao động. Như vậy, có sự đoạn trừ tà kiến và ái. Ở đó, do sự diệt của tà kiến và vô minh, thức đã sanh khởi, trong các pháp là nơi của ái, nó không bám vào pháp này hay pháp kia mà chạy đến pháp khác, nó chạy đi như ví dụ con khỉ. Nhưng đối với người ấy, trong các pháp nhỏ bé là nơi của ái, không có dục ái. Do đó, làm sao có sự dao động? Đối với chúng sanh vượt trội, tâm được làm cho sanh khởi nương tựa. Thức không có chỗ đứng, không có vật thực, nó diệt. Do thức diệt, danh sắc diệt, cho đến già và chết diệt. Đây là sự áp đặt.
Tattha rāgavasena viññāṇassa calitaṃ sapariggaho, tasmiṃ calite asati yo parikilesopacāro tividho aggi paṭippassaddho bhavati. Tenāha calite asante passaddhi hoti. Tattha yaṃ samāropanā passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Yāva vimuttitamiti ñāṇadassanaṃ bhavati. So āsavānaṃ khayā ca vimutti no upapajjati. Tassa upapattissa āgatigatiyā asantiyā nevidha na huraṃ na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassāti anupādisesā nibbānadhātu. Idamassa suttassa majjhe samāropitaṃ paṭiccasamuppāde ca vimuttiyaṃ ca yogo na ca etaṃ tassa saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ vibhajjanti. Ayaṃ vuccate samāropano hāro. Na ca saṃkilesabhāgiyena suttena saṃkilesabhāgiyo ye ca dhammā samāropayitabbā nāññe. Evaṃ vāsanābhāgiye nibbedhabhāgiye, ayaṃ samāropano hāro. Ime soḷasa hārā.
Therein, the agitation of consciousness due to lust is accompanied by grasping. When that agitation is absent, the threefold fire, which is the course of defilement, becomes calmed. Therefore it is said: 'When there is no agitation, there is tranquility.' Therein, this is the application: one with a tranquil body experiences pleasure; for one who is happy, the mind becomes concentrated. Knowledge and vision arises, up to the reviewing of liberation. That person, through the destruction of the taints and liberation, is not reborn. For that one who has thus attained, there being no coming or going, there is not here, not hereafter, not in between the two. 'This is the end of suffering' is the Nibbāna-element with no residue remaining. This is applied in the middle of this sutta. There should be a connection in dependent origination and in liberation, yet they do not analyze in detail the meaning of that which was spoken in brief. This is called the mode of application. And by means of a sutta connected with defilement, those states which are connected with defilement are to be applied, and not others. Likewise, in the case of suttas connected with stored-up impressions and with penetration, they are not to be applied. This is the mode of application. These are the sixteen modes.
Ở đó, sự dao động của thức do năng lực của ái là có sự nắm giữ. Khi sự dao động ấy không có, sự sanh khởi của phiền não, ba ngọn lửa, được dập tắt. Do đó, Ngài nói: 'Khi không có dao động, có sự an tịnh.' Ở đó, đây là sự áp đặt: người có thân an tịnh cảm thọ lạc. Đối với người có lạc, tâm được định. Cho đến 'trong giải thoát', như vậy, có trí và kiến. Vị ấy, do sự đoạn tận các lậu hoặc, đạt đến giải thoát. Đối với sự sanh khởi của vị ấy, không có đến và đi, không có ở đây, không có ở đời sau, không có ở giữa cả hai. Đây là sự chấm dứt khổ, là vô dư y Niết-bàn giới. Điều này được áp đặt vào giữa kinh này. Sự liên kết trong duyên khởi và trong giải thoát nên được thực hiện. Và họ không phân tích chi tiết ý nghĩa của điều đã được nói một cách tóm tắt. Đây được gọi là phương pháp luận áp đặt. Bằng kinh về phần ô nhiễm, các pháp nào thuộc phần ô nhiễm không nên được áp đặt cho các pháp khác. Tương tự, trong kinh về phần tập quán, trong kinh về phần thâm nhập, chúng không nên được áp đặt. Đây là phương pháp luận áp đặt. Đây là mười sáu phương pháp luận.
Suvīrassa mahākaccāyanassa jambuvanavāsino peṭakopadese
In the Peṭakopadesa of Mahākaccāyana, the great hero, the dweller in the Jambu grove.
Trong Tạng Luận Thuyết (Peṭakopadesa) của Đại đức Mahākaccāyana, bậc dũng mãnh, trú tại Jambuvanā.