Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 5

Bản dịch

PE 5Lãnh Vực Thứ Năm: Phân Tích Cách Truyền Đạt

5. Hāravibhaṅgapañcamabhūmi

(1). Ở đấy, phân tích cách truyền đạt là gì? Ở đâu mười sáu cách truyền đạt đi đến sự chia chẻ theo âm tố, ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là ở phần đầu.

Ở đấy, đây là câu kệ:

1. ‘Các thiện hoặc các bất thiện, các Chân Lý hoặc một phần của các Chân Lý, điều gì đã được chỉ bảo?’ Sự thẩm xét về Kinh như thế là cách truyền đạt bằng sự chi bảo.

Giống như việc trình bày các Chân Lý Cao Thượng, bốn Chân Lý –phổ biến và không phổ biến– có mười tám thuật ngữ. Về Khổ, có bảy thuật ngữ, theo cách tóm tắt là khổ thuộc thân, thuộc tâm, sự gần gũi đối tượng không yêu mến, sự xa lìa đối tượng yêu mến, và ba tính chất của pháp hữu vi. Ở đấy, ba tướngtrạng của pháp hữu vi là ba trạng thái khổ: sanh là hữu vi tướng có trạng thái khổ do hành khổ, diệt là hữu vi tướng có trạng thái khổ do hoại khổ, và sự đổi khác là hữu vi tướng có trạng thái khổ do khổ khổ. Ở ba lãnh vực thuộc về thọ của ba hữu vi tướng này là: “Thọ không khổ không lạc có sanh là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do hành khổ, thọ lạc có diệt là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do hoại khổ, thọ khổ có sự đổi khác là hữu vi tướng và có trạng thái khổ do khổ khổ,” như thế các khổ nên được tìm kiếm ở mười sáu thuật ngữ: ở chín thuật ngữ này và ở bảy thuật ngữ đầu tiên, và tướng trạng của mười một trạng thái khổ được diễn giải ở tập Diễn Giải. “Tướng trạng của sự hiện khởi là sanh, và tướng trạng của sự tử vong từ sự hiện khởi là tử,” mười lăm thuật ngữ nên được thực hiện một cách chi tiết như thế.

Như vậy, “(các Chân Lý) là phổ biến và không phổ biến ở bảy, ở mười thuật ngữ, ở năm mươi loại về sự hình thành giáo lý, ở mười tám loại về sự xác định Kinh, ở mười loại về sự sắp xếp Kinh, ở mười sáu loại về cách truyền đạt, ở hai mươi mốt loại về nghiên cứu và thẩm xét,” như thế (Kinh) này đã được chỉ bảo và đã được chỉ bảo đúng theo thực thể. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.

(2). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là gì?

2. Đoạn kệ, câu hỏi, và câu chất vấn, cái gì trước và cái gì sau, câu kệ tóm lược và sự tìm hiểu, cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự tìm hiểu’.

Đoạn kệ: Trước tiên là đoạn kệ, ý nghĩa của nó là gì? Đức Thế Tôn đã được đại đức Ajita hỏi điều nào thì nên nắm lấy điều ấy. Bao nhiêu đoạn kệ đã được hỏi? Như là điều gì? Câu kệ là: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì? …” Có bao nhiêu các đoạn kệ này? “Bốn;” như thế là câu chất vấn với câu trả lời. Các đoạn kệ đã được trả lời bởi đức Thế Tôn bằng bao nhiêu đoạn kệ thì sự phô bày các đoạn kệ ở câu chất vấn là như thế. Đây gọi là “đoạn kệ.”

Câu hỏi: Bốn đoạn kệ này có bao nhiêu câu hỏi, một, hoặc hai, hoặc nhiều hơn thế? Bốn đoạn kệ này là một câu hỏi, văn tự có sự xoay quanh ý nghĩa, mặc dầu là nhiều đoạn kệ nhưng cũng chỉ hỏi về một ý nghĩa. “Bốn đoạn kệ này có sự xoay quanh,” điều ấy theo văn tự chỉ là một câu hỏi.

Thế giới bị bao trùm bởi cái gì: Vị ấy hỏi liên quan đến thế giới. “Không chói sáng bởi điều gì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” là hỏi về chính cái (thế giới) ấy. “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” là hỏi về chính cái (thế giới) ấy. Như vậy, văn tự có sự xoay quanh ý nghĩa và là một câu hỏi. Câu hỏi ấy có bốn loại: nên được giải đáp dứt khoát, nên được giải đáp sau khi phân tích, nên được giải đáp bằng câu hỏi ngược lại, nên được đình chỉ. Ở đấy, “Mắt là vô thường?” là nên được giải đáp dứt khoát; “Cái gì là vô thường, cái ấy là khổ?” là nên được giải đáp sau khi phân tích; “Giả sử có vật vô thường và không phải là mắt, thì các xứ nào không phải là mắt, chúng cũng là vô thường;’ như thế không chỉ riêng mắt (là vô thường),” đây là điều nên được giải đáp sau khi phân tích; “Cái nào là mắt, cái ấy không phải là nhãn quyền?” nên được giải đáp bằng câu hỏi ngược lại; “Mắt ấy là đức Như Lai?” là nên được đình chỉ; “Ngoại trừ mắt (là đức Như Lai)?” là câu hỏi nên được đình chỉ.

Đây là câu hỏi. Đức Thế Tôn được hỏi về điều gì? Được hỏi về phiền não của thế giới. Điều gì là lý do? Bởi vì phiền não có ba loại: phiền não do tham ái, phiền não do tà kiến, và phiền não do uế hạnh. Ở đấy, ‘bị bao trùm bởi vô minh’ chỉ ra vô minh, ‘tham muốn’ chỉ ra tham ái, ‘sự nguy hiểm lớn lao’ chỉ ra quả thành tựu của nghiệp bất thiện. Đức Thế Tôn trả lời rằng: “Điều đã được nghe là: ‘Đối với nghiệp đem lại cảm thọ lạc, sẽ có quả thành tựu đem lại cảm thọ khổ,’ sự kiện này không xảy ra.” (Câu trả lời) với bốn đoạn kệ: “Thế gian bị bao trùm bởi vô minh, …” –nt– được nói đến như vậy.

Vị ấy hỏi ngược lại hơn thế nữa. Câu kệ là: “Các dòng chảy trôi đi khắp mọi nơi, …” Vị ấy hỏi bốn đoạn kệ, đức Thế Tôn trả lời điều ấy bằng hai đoạn kệ.

2. “Các dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.”

Ngài trả lời bốn đoạn kệ này bằng hai đoạn kệ. Ngài được hỏi là: “Điều này là thế nào?” là được hỏi về sự thanh lọc đối với thế giới đã bị uế nhiễm ấy. Các dòng chảy là sáu nhóm tham ái được diễn giải với số nhiều theo tất cả các xứ. “Các dòng chảy ấy được ngăn cản bởi cái gì?” là hỏi về việc dứt bỏ sự xâm nhập. “Các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” là hỏi về việc thủ tiêu các pháp tiềm ẩn. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo việc chế ngự bằng niệm ở sáu cửa; bởi vì, vị nào sống có sự nhận biết rõ, và với niệm là người giữ cửa các giác quan của vị ấy trở nên được gìn giữ; ở đấy, khi các giác quan được gìn giữ, sự minh sát lần lượt vận hành đưa đến sự dứt bỏ tận cùng đối với các dòng chảy ấy và đối với vô minh ấy, bởi nó mà thế giới bị bao trùm. Các dòng chảy được chặn đứng là như vậy.

Sau đó, vị ấy hỏi thêm nữa (rằng):

3. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Tuệ và luôn cả niệm, thưa ngài, danh và sắc; được tôi hỏi điều này, xin ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?

Đức Thế Tôn trả lời bốn đoạn kệ này bằng một đoạn kệ.

4. Này Ajita, câu hỏi nào ngươi đã hỏi, Ta (sẽ) trả lời câu hỏi ấy cho ngươi: ‘Ở nơi nào danh và sắc được hoại diệt không dư sót?’ Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.

Vị ấy hỏi gì với câu hỏi này? Vị ấy hỏi về Niết Bàn Giới không còn dư sót. Đức Thế Tôn trả lời vị ấy về Niết Bàn Giới không còn dư sót. Ở đấy, vị ấy hỏi về phiền não với câu hỏi thứ nhất, hỏi về sự thanh lọc với câu hỏi thứ hai, hỏi về Niết Bàn Giới còn dư sót với câu hỏi thứ ba, hỏi về Niết Bàn Giới không còn dư sót với câu hỏi thứ tư. Sau đó, vị ấy hỏi ngược lại thêm nữa (rằng):

5. Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp (là các bậc A-la-hán) và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này, bậc Chín Chắn được tôi hỏi về oai nghi của những vị ấy, thưa ngài, xin ngài hãy nói lên.

Vị ấy hỏi bốn đoạn kệ này. Hơn nữa, các vị ấy ở câu hỏi là bao nhiêu? Là các bậc A-la-hán đã hiểu rõ Giáo Pháp và các bậc Hữu Học. “Cái gì trước và cái gì sau?” Đây là ý nghĩa. Ở đấy, vị ấy hỏi cái nào trước, cái nào sau? Vị ấy hỏi về bậc A-la-hán trước, về các bậc có pháp Hữu Học (sau). Ở đấy, với thuật ngữ thứ nhất: “những vị đã hiểu rõ Giáo Pháp” thì các bậc A-la-hán được đề cập, “đông đảo” thì các bậc Hữu Học được đề cập. “Bậc Chín Chắn được tôi hỏi về (oai nghi của) những vị ấy” là hỏi đức Thế Tôn về thuật ngữ phổ biến (cho cả hai hạng). Ở đấy, các (thuật ngữ) phổ biến và không phổ biến được hỏi ở các câu hỏi. Đức Thế Tôn trả lời điều ấy. Không như (thứ tự) điều đã được hỏi, điều đã được hỏi trước Ngài trả lời sau, điều đã được hỏi sau Ngài trả lời trước. Và điều đã được hỏi này là điều gì? “Oai nghi của các vị đã được thanh tịnh và của các vị đang được thanh tịnh là gì?” Điều này đã được hỏi như thế. “Không nên khát khao ở các dục, không nên bị vẩn đục ở tâm,” đức Thế Tôn ngăn cản các sự xâm nhập ở tầm là như thế. Hơn nữa, hai sự suy tầm (suy tầm về oán hận, suy tầm về hãm hại) là sự xâm nhập do trạng thái vẩn đục giống như đã được diễn giải ở các pháp che lấp. “Thiện xảo đối với tất cả các pháp,” Ngài đã trả lời về các bậc A-la-hán là như thế.

Câu kệ là: “Làm thế nào vượt qua cơn lũ? …” Bốn đoạn kệ này chính là bốn câu hỏi. Điều gì là lý do? Bởi vì ở đây, văn tự không có sự xoay quanh ý nghĩa giống như câu thứ nhất ở các câu hỏi của Ajita. Nhiều (câu trả lời) không trả lời một cách dứt khoát cho vị ấy được, không phải là nhiều câu hỏi, cũng không phải chỉ là một (sự việc), mà vị ấy hỏi toàn bộ. Giống như câu thứ tư đã được trả lời ở phần trước cho câu hỏi của Ajita, sự tìm kiếm đúng theo thực thể ở đây là nhờ vào sự liên kết của các đoạn kệ, vị tìm kiếm các câu trả lời đúng theo thực thể là như vậy. Ở đây, người nào hỏi sự việc như vậy lần nữa, ở đấy, đây là phương thức trong việc chất vấn.

“Mối rối bên trong, mối rối bên ngoài, …” câu kệ như thế cần được vạch lối cho câu trả lời về điều đã được hỏi: “Đã được trả lời như thế nào?” Chính đức Thế Tôn đã trả lời, câu kệ là: “Sau khi đứng vững ở giới, người có tuệ ...” Ở đấy, nhờ vào sự tu tập của tâm là chỉ tịnh, nhờ vào sự tu tập của tuệ là minh sát. Ở đấy, vị ấy suy luận như vầy: “Các pháp nào được dứt bỏ nhờ vào chỉ tịnh và nhờ vào minh sát, chúng là các mối rối bên trong và mối rối bên ngoài.” Ở đấy, câu trả lời là: luyến ái được dứt bỏ nhờ vào chỉ tịnh, vô minh nhờ vào minh sát. Luyến ái có chỗ dựa ở nội phần là mối rối bên trong, có chỗ dựa ở ngoại phần là mối rối bên ngoài; thân kiến có chỗ dựa ở nội phần là mối rối bên trong, và sáu mươi mốt tà kiến có chỗ dựa ở ngoại phần là mối rối bên ngoài. Bởi vì cái nào được hình thành với bản thể có chỗ dựa ở nội phần, v.v… thì sẽ là mối rối, cũng vậy, một cách tóm tắt, bất cứ tham ái và tà kiến nào có chỗ dựa ở nội phần (thì sẽ) là mối rối bên trong, bất cứ tham ái và tà kiến nào có chỗ dựa ở ngoại phần (thì sẽ) là mối rối bên ngoài.

Giống như vị Thiên nhân hỏi đức Thế Tôn, câu kệ là: “Bốn bánh xe, chín cánh cửa. ...” Ở đấy, đức Thế Tôn trả lời, câu kệ là: “Sau khi cắt đứt dây cương (thù hằn) và đai da (tham ái) ...” đức Thế Tôn trả lời điều này về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Với câu trả lời này, đức Thế Tôn kết luận rằng các ô nhiễm ở đây nên được diễn giải ở câu kệ thứ nhất. Bởi vì, ‘bốn bánh xe’ ấy hoặc là bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi), ‘chín cánh cửa’ là chín vết thương (khiếu); (hoặc là) giống như ‘bốn bánh xe’ là bốn thủ, –do duyên thủ, hữu (sanh khởi); do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu,– ‘chín cánh cửa’ là chín loại ngã mạn, bởi vì cái khổ ‘tôi là tốt hơn’ có sự xuất phát từ ngã mạn.

Mặt khác, ba nhóm ba (ngã mạn) là được đầy đủ. Chính việc được gắn liền với nhóm ba là sự luyến ái có liên quan đến năm loại dục. Ở đấy, ‘dây cương’ được trả lời là tham ái, Ngài trả lời ‘đai da’ là ngã mạn, ‘ước muốn và tham lam xấu xa’ là luyến ái liên quan đến năm loại dục. Ở đấy, ‘tham lam không đúng đắn, xấu xa’ được diễn giải là ‘tham ái với gốc rễ.’ ‘Sau khi đã nhổ lên tham ái có gốc rễ ở sự không biết rõ’ là sự dứt bỏ tham ái và tà kiến. Hơn nữa, bất cứ các pháp đưa đến luân hồi nào khác được kết nối với bốn bánh xe bởi chính lý do ấy, tất cả cần được diễn giải. Ở đấy, câu kệ này tương đương với câu trả lời. Nếu là ‘sự tìm hiểu’ ở câu kệ tóm lược với sự cô đọng thì nhờ vào thể văn veyyākaraṇa đi cùng; đức Thế Tôn trình bày bao nhiêu thuật ngữ thì Ngài đọc kệ tóm lược với chừng ấy thuật ngữ.

“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu tám yếu tố xứng đáng để đi làm sứ giả.” Tám thuật ngữ này đã được trình bày. Đức Thế Tôn đọc kệ tóm lược với sáu thuật ngữ.

6. “Nếu vị nào không run sợ sau khi đi đến nơi hội chúng có sự tranh cãi ồn ào, là vị không bỏ dở lời nói, và không che giấu lời giảng dạy,―

7. ―vị nói có sự mạch lạc, và khi bị chất vấn không nổi sân; vị tỳ khưu như thế ấy quả xứng đáng để đi làm sứ giả.”

Ở đấy, hơn nữa, đức Thế Tôn trình bày bao nhiêu thuật ngữ thì Ngài đọc kệ tóm lược với chừng ấy thuật ngữ.

“Này các tỳ khưu, người bạn tốt thành tựu bảy yếu tố là vị đáng mến, đáng kính, đáng trọng” (nên được trình bày) với chi tiết. Đức Thế Tôn đọc kệ tóm lược về điều này với bảy thuật ngữ. Như thế, (có trường hợp) bậc đa văn đọc kệ tóm lược có nhiều (thuật ngữ) hơn hoặc bài giảng có sự trình bày thuật ngữ ít hơn, (có trường hợp) bậc đa văn đọc kệ tóm lược với bài kệ tóm lược có ít (thuật ngữ) hơn và sự trình bày có các thuật ngữ mới nhiều hơn. (?)

Đây được gọi là câu kệ tóm lược và sự tìm hiểu. Cách truyền đạt này có tên là sự tìm hiểu.

(3). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự kết nối là gì?

8. Trong số tất cả các cách truyền đạt, việc tìm hiểu về sự chính xác hay không chính xác của lãnh vực (văn tự) và hành xứ (ý nghĩa), cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự kết nối.’

Trong số mười sáu cách truyền đạt, điều nào được diễn giải dựa theo sự chỉ bảo, dựa theo sự tìm hiểu, đây là sự diễn giải. (!) “Câu hỏi này có được kết nối ở các Kinh hay không?”, việc thẩm sát như thế về điều ấy là sự kết nối.

Bởi vì giống như với nhân, với duyên, các chúng sanh bị ô nhiễm; có nhân, có duyên ở việc ô nhiễm của các chúng sanh; với nhân, với duyên, các chúng sanh được thanh tịnh; có nhân, có duyên ở việc thanh tịnh của các chúng sanh.

“Này Ānanda, người có giới sẽ không có suy tính rằng: ‘Làm thế nào để sự không ăn năn có thể sanh khởi đến tôi?’” –nt– thể loại veyyākaraṇa nên được thực hiện. Đây là đạo lộ đưa đến sự thanh tịnh. Đối với việc ấy, cái gì là nhân, cái gì là duyên cho giới uẩn? Có bốn nhân và duyên: việc thân cận bậc chân nhân và việc cư ngụ ở địa phương thích hợp; đây là duyên với tính chất duyên phụ trợ (?). Quả thành tựu của nghiệp cũ là duyên, do tính chất duyên ấy có sự quyết định đúng đắn cho bản thân; đây là nhân. Như thế, ‘giới uẩn là có nhân, có duyên.’ Đây là giới hợp thế.

Trái lại, giới xuất thế có ba quyền là duyên: tín quyền, tấn quyền, định quyền; đây là duyên. Niệm quyền và tuệ quyền là nhân. Nhờ vào tuệ dẫn đến sự thấu triệt, giới được sanh ra là giới của vị Nhập Lưu; vì thế, đây là nhân, đây là duyên.

Lại nữa, tịnh, hỷ, và hân hoan của định là duyên, lạc là nhân; vì thế, định uẩn là với nhân, với duyên. Được định tĩnh, hành giả nhận biết đúng theo thực thể; đây là tuệ. Đối với (tuệ) ấy, tiếng nói của người khác và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là nhân và là duyên. Như thế, ba uẩn này là với nhân, với duyên. Tuệ của chúng sanh là như vậy. Và nó không được kết nối ở các Kinh có sự giải thích về chúng sanh. Đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối; điều ấy nên được xem ở phần bốn y cứ chính.

(4). Ở đấy, cách truyền đạt bằng nền tảng là gì?

9. Đấng Chiến Thắng chỉ bảo Giáo Pháp và nền tảng của Giáo Pháp ấy, như thế cho đến toàn bộ Giáo Pháp; cách truyền đạt này (gọi) là nền tảng.

Ở đấy, năm loại dục là nền tảng của sự luyến ái về dục. Điều được nói rằng: ‘Sự luyến ái về dục ―đang sanh lên, đã sanh lên, hoặc sẽ sanh lên cho bất cứ những ai― là ở chính năm (ngoại) xứ này: đầu tiên là sắc (thinh, hương, vị, xúc). Nền tảng của sự luyến ái về dục là không ở ngoài năm (ngoại) xứ này;’ vì thế, năm loại dục là nền tảng của sự luyến ái về dục, năm quyền là nền tảng của sự luyến ái về sắc, ý quyền là nền tảng của sự luyến ái về hiện hữu, năm uẩn là nền tảng của thân kiến, 61 tà kiến là nền tảng của sự luyến ái về tà kiến, dục giới là nền tảng của sự luyến ái về dục, sắc giới là nền tảng của sự luyến ái về sắc, vô sắc giới là nền tảng của sự luyến ái về vô sắc, lạc tưởng là nền tảng của sự luyến ái về dục, oán hận tưởng là nền tảng của oán hận, trạng thái không nhận biết rõ rệt là nền tảng của sự mê muội, chín sự việc xung đột là nền tảng của oán hận, chín loại ngã mạn là nền tảng của sự cao ngạo, cảm thọ lạc là nền tảng của sự tiềm ẩn về luyến ái, cảm thọ khổ là nền tảng của sự tiềm ẩn về bất bình, cảm thọ không khổ không lạc là nền tảng của sự tiềm ẩn về vô minh, sự chấp thủ về ngã luận thuyết và nói dối là nền tảng của tham, việc giết hại sinh mạng, lời nói đâm thọc, lời nói thô lỗ là nền tảng của oán hận, tính chất sai trái và lời nói nhảm nhí là nền tảng của si mê, trạng thái hình thành trong khi đang hiện hữu và đang thụ hưởng (?) là nền tảng của việc tạo thành ‘tôi,’ việc sở hữu các vật ngoại thân là nền tảng của việc tạo thành ‘của tôi,’ sự quyến luyến đối với thân là nền tảng của tà kiến, khuyết tật thuộc về thân là nền tảng của sân hận, việc tô điểm ở thân là nền tảng của tham. Hoặc hơn nữa, mỗi pháp được sanh lên với mỗi biểu hiện (khác nhau) tùy theo sự xác định chúng sanh hoặc tùy theo sự xác định pháp hoặc tùy theo sự tiềm ẩn, pháp ấy là nền tảng của (biểu hiện) ấy. Pháp ấy được sanh lên với biểu hiện ấy.

Giống như người nam trong khi đạt được nền tảng cho bàn chân trước thì nâng lên bàn chân thứ hai. Sau đó, người ấy bước đi bàn chân kế tiếp. Ngược lại, nếu không đạt được nền tảng cho bàn chân thứ hai thì người ấy không nâng lên bàn chân kia; việc này là điều kiện cho việc kia. Tương tự như vậy, pháp thiện hoặc bất thiện hoặc vô ký, trong khi không đạt được nền tảng, thì không vận hành, giống như đối với pháp đã được kết hợp đúng đường lối. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng nền tảng.

(5). Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là gì?

10. Khi một pháp được nói đến, các pháp nào có chung tướng trạng với nó, tất cả chúng đều được nói đến; cách truyền đạt ấy gọi là tướng trạng.

Ở câu kệ: ‘Còn đối với những vị nào khéo nỗ lực, thường xuyên có niệm hướng đến thân,’ khi niệm hướng đến thân được nói đến thì niệm hướng đến thọ, hướng đến tâm, và hướng đến pháp được nói đến, (nghĩa là) với một sự thiết lập niệm trong số bốn sự thiết lập niệm. Bởi vì tâm vận hành không phải ở sự tồn tại của một thức, nó vận hành theo nhiều đường lối khác nhau: khi niệm hướng đến thân được nói đến thì (niệm) hướng đến thọ, và hướng đến tâm, đến pháp được nói đến. Bởi vì khi niệm hướng đến thân không được tu tập thì bốn sự thiết lập niệm không đi đến sự viên mãn nhờ vào tu tập. Tương tự như vậy, khi các pháp tương tự với pháp ấy được nói đến thì tất cả các pháp được nói đến.

Câu kệ là: ‘Thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật,’ các pháp thuộc về tâm được nói đến, khi tâm (được nói đến) thì sắc được nói đến; đây là danh sắc, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ.’ Kế đó, từ sự thanh lọc tâm của mình, cái mà hành giả thanh lọc bằng sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; thanh lọc khỏi cái nào, cái ấy là Tập; thanh lọc nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái mà đã được thanh lọc, cái ấy là Diệt.

‘Tùy thuộc vào mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh lên.’ Ở đấy, thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý là đồng sanh, các pháp này đây có chung tướng trạng với tướng trạng của sự sanh lên. Và người nào nhàm chán về sắc, người ấy nhàm chán về thọ, người ấy cũng nhàm chán về tưởng, hành, thức. Như thế, các pháp nào có chung tướng trạng, khi một pháp trong số đó được diễn giải, tất cả các pháp là được diễn giải. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng tướng trạng.

(6). Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là gì?

11. Ngôn ngữ, và chủ tâm, rồi văn tự trong việc chỉ bảo, ý nghĩa của Kinh là sự kết nối theo tuần tự; cách truyền đạt này là bốn sự dàn trận.

Ở đấy, cái gì là ngôn ngữ? Ngôn ngữ nên được tầm cầu (tìm hiểu) thế nào? Giống như điều đã được đức Thế Tôn nói: ‘Có được mười một yếu tố, vị tỳ khưu nắm được tính chất quan trọng ở các pháp một cách mau chóng: là vị thiện xảo về ý nghĩa, là vị thiện xảo về pháp, là vị thiện xảo về văn tự, là vị thiện xảo về ngôn ngữ, là vị thiện xảo về từ vựng thuộc nữ tánh, thiện xảo về từ vựng thuộc nam tánh, thiện xảo về từ vựng thuộc trung tánh, thiện xảo về từ vựng ở thì quá khứ, thiện xảo về từ vựng ở thì vị lai, và thiện xảo về từ vựng ở thì hiện tại, thiện xảo với một chủ tâm, thiện xảo với nhiều chủ tâm.’ Điều gì được chỉ bảo? Là thuộc quá khứ, tương lai, hay hiện tại? Với từ vựng thuộc nữ tánh, với từ vựng thuộc nam tánh, [với từ vựng thuộc trung tánh]? Có phải tất cả được diễn giải đúng theo Kinh? Xem xét là đúng hay sai về ngôn ngữ của Kinh theo văn tự, theo sự thiện xảo về ngôn ngữ (rằng): ‘Điều này nên được ứng dụng như vậy, điều này không nên được ứng dụng như vậy.’ Đây được gọi là thiện xảo về ngôn ngữ.

Ở đấy, sự thiện xảo về chủ tâm là gì? Đối với toàn bộ Kinh như đã được chỉ bảo, (vị ấy) đi đến sự chọn lựa rằng: ‘Đã được đức Thế Tôn chỉ bảo với (chủ tâm) này.’ Giống như điều gì?

Câu kệ là: “Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn), sự xao lãng là con đường đưa đến sự chết.”

Ở đấy, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Những người nào mong muốn Bất Tử, những người ấy sẽ sống không xao lãng.’ Đây là sự chủ tâm.

12. (Vị ấy không đình chỉ thời điểm của sự nỗ lực, (không đình chỉ) cảm thọ và Đạo Lộ đã được bậc ẩn sĩ tuyên thuyết, ở đấy, vị ấy không trở thành xấu xa, là vị đã được giải thoát khỏi khổ, có bụi bặm và lậu hoặc đã được giũ bỏ.)

Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? ‘Những ai không hứng thú với Khổ, những người ấy sẽ khởi sự tinh tấn nhằm diệt trừ Khổ.’ Ở đấy, đây là chủ tâm của đức Thế Tôn. Khi kệ ngôn hoặc thể văn veyyākaraṇa được chỉ bảo như thế, từ sự hoàn thành với Kinh này, người nào như vậy là ‘người thực hành đúng pháp và thuận pháp,’ (?)điều ấy là chủ tâm. Điều này được gọi là chủ tâm trong việc chỉ bảo.

Ở đấy, sự kết nối theo tuần tự là gì? Trường hợp các thuật ngữ ở kệ ngôn hoặc ở Kinh là không được gắn bó nhau như vầy hoặc đúng y như vầy, thì các thuật ngữ trước và sau của kệ ngôn ấy hoặc của Kinh nên được làm cho phối hợp với nhau. Việc kết nối theo tuần tự ấy được biết đến như vậy. Khi một câu kệ nào đó, hai hoặc ba, đã được khởi đầu, mà ý nghĩa là chưa được diễn giải bởi những câu kệ chưa được nói trong số những câu đã được nói thuộc một phần của nó, điều nào cần được nói điều ấy cần được cân nhắc. Như thế, đối với người đang tìm kiếm này, (nếu có) sự nghi ngờ ở việc tìm kiếm, thì đối với người ấy (điều sẽ được nói) nên được tìm kiếm ở những nơi khác thuộc những phần đã được mô tả. Đây được gọi là sự kết nối theo tuần tự.

‘Thiện xảo’ là thiện xảo về căn nguyên từ sự việc, thiện xảo về ngôn ngữ từ văn tự, thiện xảo về chủ tâm của việc chỉ bảo, thiện xảo về sự kết nối theo tuần tự. Ở đấy, câu kệ của việc ấy được tìm kiếm để tìm ra căn nguyên. Không phải ý nghĩa là sẽ được diễn giải từ sự việc; thiện xảo về căn nguyên là thiện xảo về ý nghĩa. Ý nghĩa đang được tìm kiếm từ bốn đoạn kệ này là (ý nghĩa) được tìm kiếm đúng theo thực thể. Và tất cả, hoặc là từ sự việc hoặc là do căn nguyên, điều nào là chủ tâm, văn tự, ngôn ngữ, và sự kết nối, điều ấy là không vượt lên trên so với sự tuần tự. Điều cần được chỉ bảo theo ý nghĩa của Kinh là như vậy. Điều này là cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận.

(7). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vầnlà gì?

13. Khi có một nền tảng, thì tìm kiếm nền tảng còn lại, rồi xoay vần ở phía đối nghịch; cách truyền đạt ấy gọi là sự xoay vần.

Giống như điều gì? Câu kệ là: “… đối với những kẻ cao ngạo, bị xao lãng …” Điều này là nền tảng của việc gì? Của việc buông thả đối với các thiện pháp. Vậy buông thả thiện pháp là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận bất thiện pháp. (Không xao lãng) là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận thiện pháp. (Xao lãng) là nền tảng của việc gì? Của việc thân cận căn cứ địa của ô nhiễm. Như thế, do xao lãng, tà kiến là thuộc phe si mê, vô minh là thuộc phe mong muốn và luyến ái. Ở đấy, tham ái và tà kiến là bốn lậu hoặc: tham ái là dục lậu và hữu lậu, tà kiến là tà kiến lậu và vô minh lậu. Ở đấy, (nghĩ rằng): ‘có ở tâm’ và ‘thường còn ở các sở hữu tâm’ là tà kiến, với sự lôi cuốn ở năm loại dục là dục lậu, sự dính mắc ở các việc tái sanh là hữu lậu. Ở đấy, sắc thân là nền tảng của dục lậu và hữu lậu, danh thân là nền tảng của tà kiến lậu và vô minh lậu.

Ở đấy, sự lôi cuốn của việc dính mắc là tướng trạng của dục lậu, sự hình thành liên quan đến việc tạo tác do sự trói buộc từ ước nguyện là tướng trạng của hữu lậu, sự chấp chặt và sự bám víu là tướng trạng của tà kiến lậu, sự không thấu triệt và sự không nhận biết rõ về các pháp là tướng trạng của vô minh lậu.

Bốn lậu hoặc này là bốn sự chấp thủ: dục lậu là sự chấp thủ về dục, hữu lậu là sự chấp thủ về hiện hữu, tà kiến lậu là sự chấp thủ về tà kiến, vô minh lậu là sự chấp thủ về ngã luận thuyết; năm uẩn là do bốn sự chấp thủ này.

Ở đấy, vô minh lậu sẽ được dứt bỏ ở tâm; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát tâm trên tâm. Tà kiến lậu sẽ được dứt bỏ ở các pháp; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát pháp trên các pháp. Hữu lậu sẽ được dứt bỏ ở sự dính mắc; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát thọ trên các thọ. Dục lậu sẽ được dứt bỏ ở năm loại dục; nó được dứt bỏ ở vị có sự quan sát thân trên thân.

Ở đấy, việc quan sát thân liên quan đến Chân Lý Cao Thượng về Khổ, việc quan sát thọ là duyên cho năm quyền: ―lạc quyền, khổ quyền, hỷ quyền, ưu quyền, xả quyền, ―l à sự tiếp cận ô nhiễm của chúng sanh, do đó liên quan đến Tập; việc quan sát tâm trên tâm liên quan đến Diệt; việc quan sát pháp trên các pháp liên quan đến Đạo.

Và do việc thấy ấy của vị này về bốn (Chân Lý), tất cả (lậu hoặc) của chính vị ấy được dứt bỏ như đã được diễn giải trước đây: ‘Đối với những kẻ cao ngạo, bị xao lãng, các lậu hoặc của những kẻ ấy tăng trưởng;’ bởi vì có sự diệt trừ các lậu hoặc đối với vị biết, đối với vị thấy (rằng): ‘Khổ, Tập, Diệt, Đạo.’ Các bất thiện pháp nên được tìm kiếm như vậy, luôn cả đường lối của pháp bất thiện ấy. Do đó, một người tìm kiếm các pháp bất thiện theo cách đối nghịch rồi xoay vần theo cách truyền đạt đối với các ô nhiễm ấy. Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự xoay vần.

Các pháp trắng cũng nên được tìm kiếm như vậy sau khi xoay vần các pháp bất thiện. Ở đấy, đây là lãnh vực của cách truyền đạt xoay vần: (bốn) thiết lập niệm, (bốn) sự trái khuấy và bốn trí, sự thực hành đưa đến sự sanh khởi của hiện thân và sự thực hành đưa đến sự diệt tận của hiện thân.

(8). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tíchlà gì? Bất cứ điều gì nên được giải đáp sau khi phân tích được gọi là cách truyền đạt bằng sự phân tích. Giống như điều gì? Và sau khi đi đến làm người lần nữa, là vị không mắng nhiếc việc đi đến của chúng tôi. Khi việc chất vấn đã được phát khởi, người này có một chủ tâm nào đó. (?) Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự phân tích.

(9). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự đảo ngượclà gì? Bất cứ sự diễn giải đối nghịch nào, điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược. Giống như điều đã được nói bởi đức Thế Tôn: “Đối với người có chánh kiến, tà kiến bị kiệt quệ,” như thế với chi tiết về tất cả các chi phần của Đạo. Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự đảo ngược.

(10). Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩalà gì?

14. “Vị hiểu rõ các Kinh là người biết một pháp ở Kinh được trình bày bằng nhiều từ đồng nghĩa; cách truyền đạt ấy có tên là từ đồng nghĩa.”

Giống như đại đức Sāriputta đã được đức Thế Tôn ca ngợi về một sự việc bằng từ đồng nghĩa với cách nói khác nhau: “Sāriputta có tuệ vĩ đại, có tuệ vi tiếu, có tuệ tốc hành;” đây là từ đồng nghĩa của tuệ.

Và giống như ý nghĩa ‘đi ra khỏi’ ở Maggavibhaṅga (Chương Đạo Phân Tích), mỗi một chi phần của Đạo được diễn giải bằng các từ đồng nghĩa. Các từ đồng nghĩa của vô minh là tương tự như vậy. Trong khi chính nó chỉ là một bất thiện căn, nhưng người ta nhận biết nó bằng tên này tên nọ ở những xứ sở này khác, nhưng không phải vì nó ‘được gọi’ bằng tên này (tên nọ) mà nó lại liên quan đến cái khác. ‘Đối với vị tỳ khưu từ bỏ tất cả các dục,’ các dục được nói đến. ‘Đối với người nào, bãi lầy đã được vượt qua khỏi,’ Ngài gọi chính các dục ấy là ‘bãi lầy.’ ‘Đối với vị đang giũ bỏ bụi bặm (ô nhiễm) đã được tạo ra trước đây,’ Ngài gọi chính các dục ấy là ‘bụi bặm;’ tương tự như vậy ở Kinh, pháp nào được chỉ bảo thì có sự tìm kiếm đối với pháp ấy (rằng): ‘Tên gọi này là của pháp nào, từ đồng nghĩa này là của pháp nào?’ Bởi vì ‘ngôn ngữ của những nhóm người này khác, đấng Toàn Tri chỉ bảo theo từng loại ngôn ngữ ấy tùy theo người đi đến,’ như thế từ đồng nghĩa của nó nên được tìm kiếm. Đây là cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa.

(11). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự mô tảlà gì? Ngài diễn giải Kinh về ‘bốn Chân Lý Cao Thượng’ bằng việc mô tả thông qua sự trình bày. Sự mô tả về nhân sanh là: “Này các tỳ khưu, nếu ở đoàn thực mà có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái, thì nơi ấy thức được thiết lập –nt–,” như thế Ngài mô tả về nguồn phát khởi. “Nếu ở đoàn thực mà không có sự luyến ái, –nt–,” như thế Ngài mô tả về sự thủ tiêu.

“Đối với vị ấy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu,” như thế Ngài mô tả về sự dứt bỏ. Câu kệ là: “Bị vây hãm bởi tham ái, tuệ của người này di chuyển vòng quanh,” như thế Ngài mô tả về sự hợp ý. Hơn nữa, tương tự như ‘sự mô tả về sự hợp ý,’ như thế đức Thế Tôn mô tả về một pháp. Không phải vì sau khi đã xác định tham ái là ‘nhân sanh Khổ’ mà nhân sanh tham ái có thể được diễn giải trong mọi trường hợp. Giống như sự mô tả đối nghịch rằng: ‘Hành giả không chấp nhận, dứt bỏ, loại trừ dục tầm đã được sanh khởi.’

Tương tự như vậy đối với tất cả các pháp thiện và bất thiện. Và nơi nào là địa bàn của pháp này thì chính pháp ấy vận hành ở nơi ấy, các pháp còn lại của nó là những yếu tố vận hành theo nó. Sự mô tả ấy có hai loại: sự mô tả dựa vào cái khác và sự mô tả dựa vào chính nó. Sự mô tả dựa vào chính nó là gì? “Này các tỳ khưu, hãy tu tập về định. Này các tỳ khưu, được định tĩnh, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể. Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là vô thường;’” đây là sự mô tả dựa vào chính nó (thuộc về định) và sự mô tả dựa vào cái khác, sự mô tả ấy là thuộc về tuệ và thuộc về giới.

Giống như “hãy tu tập bốn thiền,” thuộc về vị ấy là có định quyền, bốn quyền (còn lại) là cùn lụt, chúng là dựa vào cái khác; với ba niềm tịnh tín tuyệt đối (vào đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Chúng), định quyền là dựa vào cái khác; ở bốn Chân Lý Cao Thượng, bốn quyền là dựa vào cái khác, tuệ quyền là không dựa vào cái khác; ở các thiết lập niệm (niệm quyền); ở các chánh cần, tấn quyền (là không dựa vào cái khác). Như thế, ở nền tảng của chính nó, pháp ấy là dựa vào chính nó ở địa bàn của chính nó, và nó nên được mô tả ở tại nơi ấy. Việc tiêu diệt từ phía đối nghịch của nó nên được diễn giải. Ở đây, việc này là sự mô tả theo nhiều biểu hiện (tìm hiểu rằng): ‘Bởi lý do gì mà pháp này được mô tả?’ Việc này được gọi là cách truyền đạt bằng sự mô tả.

(12). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự liệt kêlà gì? Nên liệt kê ở sáu pháp. Ở sáu pháp nào? Ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ, ở các quyền, ở các Chân Lý, ở các sự tùy thuận sanh khởi. Không có trường hợp thể loại Kinh ấy, hoặc gāthā ấy, hoặc veyyākaraṇa (!) ấy lại không chỉ ra ở một pháp nào đó trong số sáu pháp này. Toàn bộ các sự chỉ bảo này là chừng ấy, hoặc là các uẩn, hoặc là các giới, hoặc là các xứ, hoặc là các quyền, hoặc là các Chân Lý, hoặc là các sự tùy thuận sanh khởi.

Ở đấy, thọ uẩn thuộc năm uẩn là nền tảng của luyến ái, sân hận, và si mê. Ở đấy, có ba thọ: ở đấy, hỷ tâm có sự tương quan với thọ lạc, ưu tâm có sự tương quan với thọ khổ, hành xả có sự tương quan với thọ không khổ không lạc.

Lại nữa, ở đấy cái được cảm thọ là Chân Lý về Khổ, là hành uẩn trong số các uẩn. Ở đấy, thân vận hành tiến đến sự bị xao lãng (!); việc đi đến hành (sự tạo tác) ấy là có hai loại, và sự liệt kê ở hữu phần là nghiệp. Và có ba hành: –hoặc là phúc hành, hoặc là phi phúc hành, hoặc là bất động hành– là nhân; tất cả là đối với người có luyến ái, không phải đối với người đã xa lìa luyến ái, đối với sân hận (cũng thế): người chưa xa lìa luyến ái suy tính và xếp đặt các sự tạo tác; trái lại, vị đã xa lìa luyến ái suy tính và không tạo tác. Việc tia sét nóng bỏng, trong lúc giáng xuống ở khúc gỗ, ở thân cây, hoặc ở nơi nào khác, phá vỡ và đốt cháy (nơi ấy), tương tự như vậy người có sự luyến ái suy tính với sự cố ý và tạo tác; giống như tia sét lạnh không phá vỡ và không đốt cháy, tương tự như vậy người đã xa lìa luyến ái suy tính với sự cố ý và không tạo tác. Ở đấy, một uẩn trong năm uẩn –không thuộc thân thể (vật lý) với các giác quan– là tưởng uẩn.

Ở đấy, thuộc về các giới thì có 18 giới. Ở đấy, có sắc là mười giới; trong khi chúng được chỉ bảo thì sắc uẩn nên được diễn giải, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Và sáu nhóm thức với ý giới là thứ bảy; ở đấy, thức uẩn nên được diễn giải, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Trái lại, pháp giới là sự hội tụ của các pháp; pháp ấy được đạt đến bởi điều nào: –bởi nguyên nhân, bởi hệ quả, bởi quả báo, bởi phận sự, và bởi từ đồng nghĩa,– thì nên được diễn giải theo mỗi một điều ấy: (!) hoặc là thiện, hoặc là bất thiện, hoặc là vô ký, hoặc là không tạo tác. Trong số mười hai xứ, mười xứ là có sắc, Chân Lý Cao Thượng về Khổ ấy nên được diễn giải (theo) sắc uẩn; (!) và ý xứ nên được diễn giải theo thức uẩn, là Chân Lý Cao Thượng về Khổ. Pháp xứ là sự hội tụ của các pháp khác nhau.

Ở đấy, các pháp nào thuộc về các quyền thì nên được diễn giải liên quan đến các quyền, các pháp nào không thuộc về các quyền thì nên được diễn giải không liên quan đến các quyền, và nên được liệt kê theo thứ lớp. Pháp giới là như thế nào thì pháp xứ nên được tìm kiếm như thế ấy. Bởi vì cái nào là pháp giới thì chính cái ấy là pháp xứ, không kém không hơn.

Ở đấy, sự tùy thuận sanh khởi có ba loại, có bốn loại, có hai loại. Ở đấy, ba loại tùy thuận sanh khởi là: nhân, quả, hệ quả. Vô minh, các hành, ái, thủ là nhân; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, và thọ là duyên; hữu là quả thành tựu; sanh, tử là hệ quả.

Bốn loại là thế nào? Nhân, duyên, quả thành tựu, và hệ quả. Vô minh, ái, các hành, và thủ là nhân; thức là duyên cho danh sắc, danh sắc sanh lên. Đối với cái đã được sanh lên như thế, sáu xứ, xúc, và thọ là duyên; hữu là quả thành tựu; sanh, lão, và tử là hệ quả.

Sự tùy thuận sanh khởi có hai loại là thế nào? Vô minh, các hành, ái, thủ là Tập; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, (lão,) và tử là Khổ. Trái lại, do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành, v.v… các điều này, theo sự đối nghịch với nó, là hai Chân Lý (Diệt, Đạo). Vì thế, sự tùy thuận sanh khởi được diễn giải theo kiểu cách nào thì nên được diễn giải theo mỗi một kiểu cách ấy.

Hai mươi hai quyền thì cũng như vậy: Mười hai quyền là các nhãn quyền, từ nhãn quyền ... cho đến ... ưu quyền; đây là Khổ. Nam quyền là nền tảng của tà kiến và của tham ái. Từ khi người nam có thể thực hiện điều ấy như vầy đối với các người nữ, rồi bị luyến ái ở nội phần; đây là việc tạo thành ‘tôi.’ Người nam, bị luyến ái như thế với điều ấy, rồi tầm cầu ở bên ngoài; đây là việc tạo thành ‘của tôi.’ Người nữ là tương tự như vậy. Ở đấy, lạc quyền và hỷ quyền là những yếu tố vận hành theo nam quyền. Các pháp tham lam của người ấy, khi được đầy đủ về chủ tâm, chúng làm phát triển các gốc rễ của (bất) thiện. Nếu chủ tâm này của người ấy không đi đến sự viên mãn, thì khổ quyền và ưu quyền vận hành đối với người ấy, và bất thiện căn sân phát triển. Trái lại, nếu người ấy tu tập về hành xả và là người vận hành theo xả quyền, thì thiện căn vô si phát triển. Như thế, bảy quyền có liên quan đến cơ sở của ô nhiễm là không lợi ích, thấp kém (gồm có): các thọ của tất cả (lạc, khổ, hỷ, ưu, xả), nữ quyền, nam quyền.

Ở đấy, tám quyền là tín quyền ... cho đến ... cụ tri quyền, đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Trong số mười quyền (?), năm quyền (!) là nền tảng của sự luyến ái về dục, ý quyền là nền tảng của sự luyến ái về hữu, năm quyền (!) là nền tảng của sự luyến ái về sắc, nữ quyền và nam quyền là nền tảng của sự mô tả về chúng sanh. Ở đấy, với quyền nào mà thể loại sutta (Kinh) hoặc gāthā (kệ) có thể liệt kê, thì nên được diễn giải theo mỗi một quyền ấy. Như vậy là ở các uẩn, ở các giới, ở các xứ, ở các Chân Lý, ở các sự tùy thuận sanh khởi. Đây là cách truyền đạt bằng sự liệt kê.

(13). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự làm rõlà gì? Ba câu kệ được nói với một phần mở đầu; ở đấy, đối với một câu kệ đã được nói và phần còn lại chưa được nói, thì ý nghĩa ấy không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Bởi vì cho đến khi ý nghĩa ấy chưa được nói, phần chưa được nói ấy không thể diễn giải. Giống như điều gì? Câu kệ là: ‘Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn).’ Một câu kệ này không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Đối với câu kệ mở đầu này, còn có phần chưa được nói.

15. “Sau khi biết rõ điều ấy ở sự không xao lãng, các bậc sáng suốt vui thích ở sự không xao lãng, thích thú trong hành xứ của các bậc Thánh.”

Đây là điều chưa được nói. Ý nghĩa của câu kệ đã được nói này không nên được diễn giải. Điều gì là lý do? Ở đấy, có phần còn lại. Câu kệ: “Các vị ấy, có thiền chứng, kiên trì, thường xuyên có sự nỗ lực vững chãi, …” Như vậy, khi nào các câu kệ này được trình bày, khi ấy ý nghĩa nên được diễn giải.

Như vậy, ở các Kinh hoặc ở các veyyākaraṇa (!) chưa từng được nghe trước đây, một phần trình bày đã được nói ra. Việc thẩm xét, việc cân nhắc rằng: “Cái này có việc cần làm: (Có phải) Kinh này đã được nói? Từ đồng nghĩa của nó đã được diễn giải hay chưa (được diễn giải)?” Ở đấy, việc thẩm xét được gọi là cách truyền đạt bằng sự làm rõ.

(14). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xác định là gì? Là tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt. Ở đấy, sự mô tả việc đã làm, sự mô tả việc sẽ làm, tính trạng đồng nhất, và tính trạng khác biệt ấy theo như sự mô tả, các điều này là tính trạng khác biệt thông qua từ đồng nghĩa. Cái ‘nhận biết’ là tuệ, và tuệ là sự mô tả với ý nghĩa chủ đạo. Tuệ lực với ý nghĩa không bị lay động là được mô tả theo ý nghĩa không bị hạ thấp. Được hình thành từ điều ấy với năng lực tự thân ở các đối tượng, chính niệm ấy tưởng nhớ đến Ba Ngôi Báu: tưởng nhớ đến Phật, tưởng nhớ đến Pháp, tưởng nhớ đến Tăng Chúng với trạng thái tưởng nhớ đến không bị sai lệch. Chánh kiến với việc nghiên cứu các pháp là trạch pháp giác chi, là ‘thắng trí’ từ sự quyết đoán. Một cách ngắn gọn, các Đạo là những gì? Nguyên chất là có tính trạng đồng nhất do trạng thái không bị xáo trộn. Giống như (nước) được gắn bó với nóng là nước nóng, được gắn bó với lạnh là nước lạnh, nước buốt, nước băng; đây là tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt.

Lại nữa, có pháp được tổng hợp từ các pháp khác nhau nhưng lại có tính trạng đồng nhất; sắc (pháp) là như thế nào thì bốn (đất-nước-lửa-gió) nên được nhìn thấy như vậy. Và ‘sắc’ ấy là có tính trạng đồng nhất, ‘nguyên tố đất, nguyên tố nước, lửa, gió’ là có tính trạng khác biệt. Tất cả bốn nguyên tố là như vậy. ‘Sắc’ là có tính trạng đồng nhất, ‘nguyên tố đất, nguyên tố nước, lửa, gió’ là có tính trạng khác biệt. ‘Nguyên tố đất’ theo tướng trạng là có tính trạng đồng nhất, do các nguyên tố đã được trộn lẫn là có tính trạng khác biệt. ‘Bất cứ cái gì có tướng trạng thô cứng, mọi thứ ấy là nguyên tố đất’ là có tính trạng đồng nhất; ‘tóc, lông, móng, răng, da ngoài, da trong’ là có tính trạng khác biệt. Tất cả bốn nguyên tố là như vậy. ‘Sắc’ là (có tính trạng) đồng nhất, ‘thinh, hương, vị, xúc’ là tính trạng khác biệt.

Lại nữa, có pháp do tính trạng khác biệt mà có tên khác, giống như chín tưởng về quan sát thân: tưởng về xác chết đã đổi màu xanh, hoặc tưởng về tử thi đã bị trương sình; đây là tưởng bất tịnh, nó có tính trạng đồng nhất, theo cảnh tượng là có tính trạng khác biệt.– –Tưởng ấy như vậy của người đang nhận thấy sự bất lợi ở các cảm thọ là định quyền với sự xác định như thế ấy. Chính sự tu tập tưởng ở các pháp tại nơi ấy là tấn quyền, và sự quan sát pháp ở các pháp của người đang dứt bỏ tưởng của tâm ở tâm là tuệ quyền và là sự quan sát tâm ở tâm. Như thế, bất cứ sự tiếp cận nào với trí, trong mọi trường hợp, là hành xứ của tuệ, là tuệ; đây là tính trạng khác biệt, giống như ‘sự luyến ái về dục, sự luyến ái về hữu, sự luyến ái về tà kiến’ là tính trạng khác biệt của tham ái. Như thế, trí (sự biết), sự thẩm xét, sự cân nhắc về tính trạng đồng nhất và tính trạng khác biệt là cách truyền đạt bằng sự xác định.

(15). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự thiết yếulà gì? Sự thanh lọc và phiền não là có nhân, có duyên; việc tìm kiếm cả hai điều ấy là cách truyền đạt bằng sự thiết yếu. Như thế, đối với các pháp –có nhân thì nhân nên được tìm kiếm, –có duyên thì duyên nên được tìm kiếm.

Ở đấy, cái gì là sự khác biệt của nhân và của duyên? Nhân có tính chất tự thân, duyên có tính chất từ cái khác; đối với tính chất từ cái khác duyên cũng là nhân, nhân là thuộc về tính chất tự thân, duyên là thuộc về tính chất từ bất cứ cái nào khác. Chưa được nói đến là nhân, đã được nói đến là duyên. Thuộc về nội tại là nhân, ngoại lai là duyên. Tính chất tự thân là nhân, tính chất từ cái khác là duyên. Liên quan việc sanh ra là nhân, liên quan việc trợ giúp là duyên. Nhân là chủ, duyên là khách. Không phổ biến là nhân, phổ biến là duyên. Nhân chỉ có một, duyên có cái này cái khác.

Sự hỗ trợ đối với nhân cần được thu thập, sự thu thập là nhân. Ở đấy nhân có hai loại, duyên có hai loại: duyên không bị gián đoạn và duyên tuần tự; nhân cũng có hai loại: nhân không bị gián đoạn và nhân có sự tuần tự. Ở đấy, duyên tuần tự là gì? Vô minh là duyên tuần tự đối với danh sắc. Thức là duyên với tính chất duyên không bị gián đoạn. Nếu ở phần đầu có sự diệt tận của vô minh thì cũng có sự diệt tận của danh sắc; ở đấy, sự không gián đoạn là với lý do gì? Duyên tuần tự, duyên không bị gián đoạn được thu thập, điều này là duyên. Ở đấy, nhân có sự tuần tự là gì? Đối với người đang nhận thức, nhân (của người ấy) là với tính chất của nhân có sự tuần tự, một biểu hiện khác là nhân với tính chất của nhân không bị gián đoạn; bởi vì đối với cái này mà cái kia được sanh ra không bị gián đoạn thì cái này cũng là nhân cho cái kia. Do sự diệt tận của sanh, có sự diệt tận của biểu hiện ở ngoại phần; do sự diệt tận của biểu hiện, có sự diệt tận của hình phạt; do sự diệt tận của hình phạt, có sự diệt tận của đổ vỡ. (?) Như vậy, nhân cũng có hai loại; nhân nên được thấy theo hai cách ấy.

Giống như sự tùy thuận sanh khởi, vô minh là duyên, vậy thì cái gì là duyên của nó? Sự tác ý không đúng đường lối. Nó là duyên của cái gì? Của các hành; như thế là duyên và được sanh khởi. Ở đấy, cái gì là nhân? Chính vô minh. Bởi vì như thế ấy, điểm khởi đầu trước đây không được biết đến. Ở đấy, sự tiềm ẩn của vô minh là nhân cho sự xâm nhập của vô minh, trước đây là nhân, sau đó là duyên, vô minh ấy cũng là duyên cho các hành với bốn lý do: với tính chất duyên đồng sanh, với tính chất duyên không gián đoạn, với tính chất duyên thẩm thấu, với tính chất duyên nâng đỡ.

Vô minh là duyên của các hành với tính chất duyên đồng sanh là thế nào? Khi tâm bị xâm nhập bởi luyến ái, ở đấy, do sự xâm nhập của vô minh, nó tiêu diệt mọi hành xứ của tuệ. Ở đấy, ‘các hành’ là phụ thuộc vào duyên thuộc về ba cõi (?), vô minh này, với sự đồng sanh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, tình trạng lớn mạnh; tuệ bị dứt bỏ bởi bốn lý do. Bởi bốn lý do gì? Sự tiềm ẩn, sự xâm nhập, sự ràng buộc, sự chấp thủ. Ở đấy, sự tiềm ẩn làm sanh ra sự xâm nhập, khi bị xâm nhập thì bị ràng buộc, khi bị ràng buộc thì bị chấp thủ, do duyên chấp thủ hữu (sanh khởi). (Được nói rằng: “Như vậy, các hành ấy, có ba loại, được sanh lên, đã đạt đến nền tảng, không dừng lại ở tưởng; điều này đưa đến trạng thái được dẫn dắt theo đạo lộ, chúng đi đến vững mạnh, các hành ấy không bị dẫn dắt ngược lại.” Như vậy, do duyên với ý nghĩa đã được sanh lên do nhân, thật sự có duyên cho các hành (sanh khởi). Sau khi tách riêng thiện và bất thiện đã được diễn giải, thiện và bất thiện cần được đề cập. Về các pháp là quả thành tựu, sau khi tách riêng điều nên nói và điều không nên nói, điều nên nói và điều không nên nói cần được đề cập …) toàn bộ bài Kinh nên được xem xét toàn diện. (?)

Mười lực của đức Như Lai (và) bốn pháp tự tin là các phước thiện, là việc đã không được thực hiện bởi những kẻ khác. Vô minh là duyên cho các hành với tính chất duyên không gián đoạn. “Vô minh sanh khởi với tâm nào, thì tâm không bị gián đoạn sanh khởi đối với tâm ấy,” việc “tâm không bị gián đoạn sanh khởi” đối với nó, (nghĩa là) đối với tâm kế tiếp ấy, tâm trước đó là duyên với tính chất nhân duyên. Vì thế, (có) vô minh là nhân, (cho nên) trí có sự gắn bó với tâm ấy, không được tạo cơ hội, nên không được sanh lên. Yếu tố không xao lãng của nó bị trôi đi bởi tham đắm, nơi ấy các sự trái khuấy sanh lên (nghĩ rằng): ‘tịnh’ ở bất tịnh, ‘lạc’ ở khổ. Ở đấy, các hành – trong khi sanh lên ở người bị luyến ái, bị xấu xa, bị mê muội– là các sự cố ý do sự xâm nhập của luyến ái, do sự xâm nhập của oán hận, do sự xâm nhập của vô minh; sự trái khuấy của kiến sẽ được diễn giải ở phần diễn giải về sự việc. Tâm bị sai lệch nhận biết điều gì, đây là sự trái khuấy của tâm. Tưởng bị sai lệch nắm giữ điều gì, đây là sự trái khuấy của tưởng. Kiến bị sai lệch chấp chặt điều gì, đây là sự trái khuấy của kiến.

Tám sự sai trái tăng trưởng, ba bất thiện ở sự tác ý không đúng đường lối làm cho thức và vô minh (!) sanh lên. Như thế, cuối cùng theo sự tuần tự, các hành bất thiện, loại này hay loại khác, đi đến sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Và các hành ấy trở nên lớn mạnh và không được thấu triệt, liên quan đến tái sanh. Như vậy, vô minh là duyên cho các hành với tính chất duyên đồng sanh và với tính chất duyên không gián đoạn.

Vô minh là duyên cho các hành với biểu hiện thẩm thấu là thế nào? Vô minh ấy làm thấm ướt, thấm đẫm các hành ấy. Cũng giống như loài sen xanh, hoặc sen trắng, có thể lớn mạnh ở hồ nước, được thấm ướt bởi nước lạnh, chúng đạt đến sự ướt đẫm, sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Vô minh là duyên cho các hành với biểu hiện thẩm thấu là tương tự như vậy.

Vô minh là duyên cho các hành với ý nghĩa nâng đỡ là thế nào? Các hành ấy, nương vào vô minh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Cũng giống như loài sen xanh, hoặc sen trắng, nương vào đất, sau khi thiết lập ở đất, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh, các hành ấy nương vào vô minh, được thiết lập ở vô minh, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh. Vô minh là duyên cho các hành với ý nghĩa nâng đỡ là như vậy. Lại nữa, hữu được sanh ra ở sự nối liền tái sanh do quả thành tựu của nghiệp đồng hành với luyến ái. Toàn bộ việc đã được chấp chặt ấy đối với nghiệp do tác động của vô trí được gọi là “các hành liên quan đến tái sanh;” do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, trong năm hạng người: các vị Hữu Học, các vị đã đạt đến sự thể nhập vô tưởng, các vị đã đi đến sự hiện hữu, các hạng thấp sanh do chính việc đi vào bên trong, hoặc hơn nữa, bất cứ các hạng nào khác chưa đạt đến sự hình thành, họ không nghĩ đến và không ước nguyện, đối với các hạng ấy do duyên gì có các hành? Lại nữa, đối với các hạng ấy, do còn luyến ái, các hành, các chấp thủ, với quả thành tựu đã được chín muồi chưa được bứng lên, với duyên chưa được cắt lìa, vẫn còn lưu lại ở tâm; đối với các hạng ấy có việc đi đến lần nữa. (!) Do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, vô minh không phải là các chấp thủ, cũng không phải là các hành của những người ấy. (!) Thêm nữa, đối với những người ấy còn có bảy tiềm ẩn chưa được bứng lên, chưa được cắt lìa; điều ấy là cảnh cho việc hình thành của thức, do duyên thức danh sắc (sanh khởi). Do duyên vô minh, có các hành còn là như vậy. Lại nữa, vô minh là bất cứ nghiệp nào có sự đi đến việc tích trữ, toàn bộ việc ấy bị tạo tác do tác động của vô minh và bị bám víu do tác động của tham ái. Và do tác động của sự vô trí, ở đấy, (con người) không biết đến ngay cả sự bất lợi; chính điều ấy trở thành hạt giống của thức. Chính vô minh ấy trở thành tham ái và yêu mến. Chính vô minh ấy trở thành sự mê muội. Cũng như vậy, các hành do duyên vô minh cần được nói đến. Như thế, vô minh là duyên cho các hành với những biểu hiện này. Ở đấy, do vô minh là nhân, với tác ý không đúng đường lối là duyên; ở đấy, có sự không gián đoạn, ở đấy, sự liên tục này là kết quả, là sự sanh ra; ở đấy, sự tiếp nối này là sự hiện hữu lại nữa, là sự không gián đoạn với ý nghĩa không thủ tiêu; đây là sự tiềm ẩn. Giống như lá cờ hoặc tấm vải choàng (hai người hoặc một người có sức mạnh trong các việc vắt ráo, hoặc ở những nơi không có gió, tất nhiên không thể làm cho khô rang trong các việc vắt ráo. Ở đấy, yếu tố nước có thể được làm khô ráo khỏi sự ẩm ướt một cách tuần tự nhờ vào yếu tố sức nóng. Lại nữa, nếu đem vật ấy để ở ngoài trời, nó có thể đi đến sự ẩm ướt nhiều hơn nữa bởi hạt sương, bởi vì không nhờ vào yếu tố lửa thì nó không thể đi đến sự khô ráo hoàn toàn. Tương tự y như thế, sự chứng đạt dẫu là tận cùng đỉnh điểm của hữu cũng không vận hành đưa đến sự thủ tiêu đối tượng tương ứng. Bởi vì các hành giả ấy nương vào, bám chặt, và không đi đến sự dứt bỏ tham ái thông qua tham ái).

Ở đấy, việc không thủ tiêu ấy là sự tiềm ẩn của vô minh và là sự vướng bận của tâm; đây là sự xâm nhập. Việc không thấu triệt đúng theo thực thể của thức là vô minh lậu; vô minh trở thành hạt giống của thức. Cái gì là hạt giống, cái ấy là nhân; nó không bị trừ tuyệt. Trong khi không bị trừ tuyệt nó kết nối lại. Trong khi đang kết nối lại, nó không đi đến sự thủ tiêu. Không bị thủ tiêu, nó che khuất tâm. Tâm bị che khuất không nhận biết đúng theo thực thể.

Như thế đối với thức, ý nghĩa của việc có lậu hoặc là ý nghĩa của vô minh, ý nghĩa của nhân là ý nghĩa của sự không gián đoạn, ý nghĩa của việc không đình chỉ là ý nghĩa về kết quả, ý nghĩa của sự tiếp nối là ý nghĩa của sự hiện hữu lại nữa, ý nghĩa của sự không thủ tiêu là ý nghĩa của sự tiềm ẩn, ý nghĩa của sự vướng bận là ý nghĩa của sự xâm nhập, ý nghĩa của sự không hoàn toàn thấu triệt là ý nghĩa của vô minh. Đề tài về vô minh được diễn giải là bấy nhiêu đây. Điều này được gọi là cách truyền đạt bằng sự thiết yếu.

(16). Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loạilà gì? Về điều được-nói-ngắn-gọn ấy, hơn nữa nên nói chi tiết về điều ấy ngay khi nó còn đang hiện diện. Nên hiểu biết về đường lối chi tiết; điều này là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.

Ở đấy, diễn giải về tên gọi là nói ngắn gọn, diễn giải về sự việc là từ đồng nghĩa, trạng thái sự việc là nói chi tiết. Giống như điều gì? Này tỳ khưu, cái nào là đã được sanh ra thì (cái ấy) nên được dứt bỏ. Đây là sự nói ngắn gọn.

Ở đấy, sự xếp loại là gì? Bất cứ điều gì không nên nói, hoặc sự luyến ái về sắc với việc có tên gọi là nên được dứt bỏ, (?) cho đến ‘các thức’ là nên được thực hiện với chi tiết, vô minh ấy nên được mô tả bằng ví dụ; điều này là sự xếp loại. Đối với người bị nương tựa thì có sự dao động (!); cái gì là sự nương tựa? Tham ái và tà kiến; ở đấy, tà kiến là vô minh, tham ái là các hành; ở đấy, tham ái là do duyên tà kiến, các hành này là do duyên vô minh. Ở đấy, thức là được nương tựa, thức này là do duyên các hành ... cho đến ... lão tử. Khi điều này được nói một cách tóm tắt thì tiếp cận phần còn lại theo cách khác. (?)

“Đối với người không nương tựa thì không có dao động” đối với vị ấy sự dứt bỏ tà kiến và tham ái là như vậy. Ở đấy, sự thấy, do sự diệt tận của vô minh, là thức đúng theo thực thể, sau khi tiến đến mỗi một pháp trong số các pháp gợi lên luyến ái thì (buông bỏ và) chạy theo pháp khác như ở ví dụ về con khỉ: Quả thật, đối với vị này, mong muốn và luyến ái ở các pháp nhỏ nhoi gợi lên luyến ái là không có, từ đâu có sự dao động do điều ấy? Ở các chúng sanh vượt trội, tâm được an trú, điều ấy không được hình thành, thức không có yếu tố nuôi dưỡng nên được diệt tận; do sự diệt tận của thức có sự diệt tận của danh sắc ... cho đến ... sự diệt tận của lão tử; điều này là sự sắp xếp.

Ở đấy, do tác động của luyến ái có sự dao động của tâm với sự bám giữ; khi không có sự dao động ở vị ấy, sự tiếp cận trước đây của ô nhiễm, ―ngọn lửa gồm ba loại,― trở nên tịnh lặng. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Khi không có dao dộng thì có an tịnh.” Ở đấy, điều này là sự xếp đặt. “Có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc. Khi có lạc thì tâm được định” ... cho đến ... “có sự biết và thấy rằng: ‘Đã được giải thoát.’”

Và do sự cạn kiệt của các lậu hoặc, vị ấy, có sự giải thoát, không còn tái sanh. (!) Đối với sự sanh lên của vị ấy, “khi không có đến và đi thì không là ở đây, không là ở kia, không ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của khổ,” như thế là Niết Bàn giới không còn dư sót. Điều này, được sắp xếp ở giữa bài Kinh này, là sự gắn bó ở sự tùy thuận sanh khởi và ở sự giải thoát, và điều này không được phân tích về ý nghĩa một cách chi tiết đối với điều đã được nói một cách tóm tắt ấy.” Đây được gọi là cách truyền đạt bằng sự xếp loại.

Và không chỉ các pháp liên quan đến phiền não nên được sắp xếp với Kinh liên quan đến phiền não mà không có các pháp khác. Tương tự như vậy ở trường hợp liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt.

Điều này là cách truyền đạt bằng sự xếp loại. Đây là mười sáu cách truyền đạt.

Lãnh vực thứ năm - Phân Tích Cách Truyền Đạt- thuộc Peṭakopadesa của vị Mahākaccāyana vô cùng dũng cảm trú tại Jambuvana đã được đầy đủ.