Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 4

Bản dịch

PE 4Lãnh Vực Thứ Tư: Sự Tìm Hiểu Kinh

4. Suttavicayacatutthabhūmi

Ở đấy, sự tìm hiểu Kinh là gì? Ở đấy, Kinh được khảo sát một cách kỹ lưỡng theo thứ tự trước sau với các thiện pháp, với các bất thiện pháp (rằng): “Có phải Ngài đã khởi sự bài Kinh này? –nt– Có phải nó được kết nối với các bài Kinh có ý nghĩa rõ ràng ấy hay không được kết nối?”

Theo như đức Thế Tôn chỉ bảo các ô nhiễm ở phần đầu tại đấy, (Kinh) nên được khảo sát (rằng): “Sự dứt bỏ các ô nhiễm ấy là có được chỉ bảo, hay là không được chỉ bảo?” Nếu sự dứt bỏ các ô nhiễm ấy là không được chỉ bảo bởi đức Thế Tôn, thì các thiện pháp nên được tầm cầu (tìm hiểu). Nếu trong khi tìm kiếm mà không đạt được nơi mà các bất thiện ấy đi đến sự dứt bỏ, thì các bất thiện pháp ở nơi ấy nên được tách ra, nên được thẩm xét; (đây là) Kinh liên quan đến phiền não.

Nếu các ô nhiễm, trong khi được tách ra, không cho phép (kết nối), thì ở đấy, các pháp thuộc Thánh Đạo nên được khảo sát (rằng): “Các ô nhiễm ở những lãnh vực ấy đi đến sự dứt bỏ, hay là không đi đến?” Hơn nữa, các ô nhiễm được chỉ bảo là chừng này, các Thánh pháp được chỉ bảo lại không là chừng ấy. Ở nơi các ô nhiễm đi đến sự dứt bỏ, (nếu có) các ô nhiễm nào không được kết nối với phần đối nghịch của các Thánh pháp, thì chúng nên được tách ra. Nếu trong khi được tách ra, chúng cho phép kết nối, thì ở đấy nên được thẩm xét như vầy: “Có phải hai, hay ba ô nhiễm, hay nhiều hơn nữa, đi đến sự dứt bỏ do một Thánh Đạo?” Nếu trong khi được thẩm xét như vậy, chúng cho phép kết nối, thì ở đấy nên được khảo sát (như vầy): “(Điều gì) là ý nghĩa và (điều gì) không phải là ý nghĩa của Kinh theo truyền thống, hoặc theo sự truyền thụ từ (Tam) Tạng?” Hoặc là, nếu không thể diễn giải Kinh, thì Kinh không nên bị hoài nghi. Như vậy, “giống như các pháp thiện là ở phần đầu, những cái nào là ô nhiễm, những cái ấy cần được dứt bỏ,” chúng nên được khảo sát như thế. Dầu thiện là trước, hoặc lời chỉ bảo với phần đối nghịch là trước, chúng nên được học tập không thiếu không thừa. Giống như câu nói thứ nhất: “Các Thánh pháp được chỉ bảo đối trị các ô nhiễm nào vào lúc này, các ô nhiễm ấy được dứt bỏ nhờ vào các Thánh pháp này, hay là không được dứt bỏ?” nên được suy gẫm như thế. Nếu trong khi đang khảo sát, chúng được kết nối thì chúng nên được nắm giữ. Còn không được kết nối, thì các ô nhiễm nào không phải là đối nghịch, các ô nhiễm ấy là không thể diệt trừ hoàn toàn. Và các Thánh pháp nào không phải là đối nghịch, các Thánh pháp ấy nên được tách ra. Bởi vì các Thánh pháp không đi đến sự dứt bỏ các ô nhiễm của vị Bất Lai, các Thánh pháp cũng không vận hành đưa đến sự dứt bỏ tất cả các ô nhiễm.

Giống như từ ái là thiện, luyến ái là bất thiện; nhưng thực hành ‘thiện–từ ái’ nhằm dứt bỏ bất thiện–luyến ái thì lại không hiệu quả. Oán hận đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái. Do đó, cả hai ô nhiễm cần được khảo sát.– – Và mỗi một pháp nào được chỉ ra là thiện hoặc bất thiện, pháp ấy nên được tách ra. Nếu trong khi được tách ra, chúng được kết nối, thì không có gì cần được khảo sát. “Hai ô nhiễm có thể được dứt bỏ bởi một Thánh pháp,” hoặc là “một ô nhiễm được dứt bỏ bởi hai Thánh Pháp.”

Hoặc là, thậm chí trong khi đang được khảo sát như vậy mà nó được kết nối, thì ở đấy nên được thẩm xét xem nó được kết nối như thế nào, hoặc là ở đấy nên được thẩm xét như thế nào mà không thể diễn giải được Kinh, bởi vì ở Kinh không nên bị hoài nghi. Có ô nhiễm, điều này nên được khảo sát từ cả hai phía ở các Thánh pháp đã được chỉ bảo: “Nghe nói các ô nhiễm này đã được chỉ bảo và có các Thánh pháp đã được chỉ bảo ở thể loại kệ ngôn hoặc ở thể loại veyyākaraṇa, phải chăng các ô nhiễm này được dứt bỏ nhờ vào các Thánh pháp này, hay là không được dứt bỏ? Hoặc là, phải chăng các Thánh pháp này vận hành đưa đến sự dứt bỏ các ô nhiễm này?” Mặc dầu các pháp bất thiện đi đến sự dứt bỏ nhờ vào các pháp thiện, nhưng không phải tất cả các bất thiện đi đến sự dứt bỏ bởi tất cả các Thánh pháp. Giống như từ ái là thiện, và luyến ái là bất thiện; nhưng không phải thực hành ‘thiện–từ ái, bất thiện–luyến ái’ thì luyến ái đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái; oán hận đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái. Tương tự như thế, (không phải) sau khi xác định ‘ô nhiễm’ thì (ô nhiễm) đi đến sự dứt bỏ nhờ vào Kinh, không phải sau khi xác định ‘Kinh, Pháp’ thì (Kinh, Pháp) vận hành đưa đến sự dứt bỏ mọi ô nhiễm; “nhưng (khi) Thánh pháp của Kinh là đối nghịch của phiền não, thì (phiền não) ấy đi đến sự dứt bỏ bởi (Thánh pháp) ấy.” Ở đấy, khi thiện được chỉ bảo ở Kinh hoặc ở thể loại veyyākaraṇa và các phiền não không được kết nối hoặc các Thánh pháp (không được kết nối), thì chúng nên được tách ra theo cấu trúc đã được diễn giải ở (bốn) y cứ chính. Ở đấy, với các ô nhiễm đã được chỉ bảo và nếu do Thánh pháp ấy trong số các Thánh pháp mà các ô nhiễm ấy đi đến sự dứt bỏ, thì ở đấy cũng nên được khảo sát thêm nữa (rằng): “Các ô nhiễm này được dứt bỏ vì lý do gì? Các Thánh pháp này đã được chỉ bảo vì lý do gì?” Hoặc là, các Thánh pháp được chỉ bảo theo bất cứ phương thức nào thì ô nhiễm này được tồn tại theo mỗi một cách thức ấy. Bởi vì, khi có một ô nhiễm, thì với chính nó có (một) Thánh pháp, không phải theo cách khác, (hoặc) được dứt bỏ theo cách khác, giống như tà kiến, luyến ái, và vô minh được dứt bỏ nhờ vào việc thấy (kiến). Và nếu là như vậy, vô minh ấy là lãnh vực của sự tu tập hoặc là pháp được dứt bỏ do sự tu tập. Chính vô minh là (sự ràng buộc) thuộc thượng phần, được dứt bỏ do thấy được Niết Bàn với sự giải thoát vô tướng, với định của ý, với sự không tác ý. Kinh có ý nghĩa, có văn tự nên được khảo sát như vậy. Những ô nhiễm nào được dứt bỏ do thấy thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức thấy, được dứt bỏ do tu tập thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức tu tập, được dứt bỏ do thọ dụng thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức thọ dụng, được dứt bỏ do loại trừ là tương tự, cho đến bảy lậu hoặc nên được thực hiện, cho đến phương thức nào khác.– –Bởi vì, (nếu) pháp (ô nhiễm) ấy sẽ được dứt bỏ theo cách khác và Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức khác, thì Thánh pháp ấy nên được tầm cầu theo cách khác. Nếu (Thánh) pháp này là dành cho vị đang tầm cầu, thì Thánh pháp ấy nên được tầm cầu theo mỗi một phương thức mà Ngài chỉ bảo, với phương thức ấy ô nhiễm được dứt bỏ; ở đấy (Thánh pháp) ấy nên được khảo sát. Nếu không được kết nối với Kinh ấy, thì Kinh đã được chọn lựa nên được thẩm xét, được kết nối thế nào thì nên được nắm giữ thế ấy, không được kết nối thì không nên được nắm giữ (nghĩ rằng): “Chắc chắn điều này đã không được thuyết bởi đức Thế Tôn, hoặc là đã được nắm giữ sai bởi vị đại đức” giống như đã được diễn giải ở (bốn) y cứ chính. Điều đã được chỉ bảo đúng theo thực thể bởi đức Thế Tôn, và pháp nào được chỉ bảo là thiện và bất thiện, thì duyên của pháp ấy nên được tầm cầu, bởi vì thiếu sót duyên, pháp không có duyên không được sanh khởi. Ở đấy, biểu hiện của việc tầm cầu là gì?

Ở đấy, Kinh này, vớihình thức như thế, có nhân, có duyên, nên được thẩm xét rằng: “Có phải đây là Pháp được nói đến?” Và duyên ấy là có ba loại: yếu kém, trung bình, vượt trội. Ở đấy, khi duyên là yếu kém thì pháp yếu kém sẽ được nắm giữ; nếu là như vậy thì duyên này là có hai loại: duyên tuần tự và duyên không bị gián đoạn. Duyên ấy là yếu kém, vì thế tính trạng khác biệt nên được tầm cầu. Điều gì là lý do? Một duyên nào đó đi đến sự hiệu quả hoặc sự đầy đủ nhờ vào những duyên khác. Ở đấy, pháp nào đã được chỉ bảo thì nhân của pháp ấy nên được tầm cầu thông qua pháp ấy hoặc thông qua lý do (của nó). Giống như duyên, hệ quả ấy của pháp ấy nên được tầm cầu thông qua nhân và thông qua duyên. Giống như (hệ quả) đã được diễn giải, vị ấy tầm cầu sự nỗ lực ở sự xác định, duyên ấy nên được tầm cầu (như thế ấy). Bởi vì không có hệ quả vượt trội đối với pháp yếu kém, hoặc pháp yếu kém đối với hệ quả vượt trội, rồi yếu kém đối với yếu kém, trung bình đối với trung bình, vượt trội đối với vượt trội được kết nối; điều ấy nên được nắm giữ. Nếu không được kết nối, thì không nên được nắm giữ. Chính điều nào đức Thế Tôn bắt đầu để chỉ bảo Giáo Pháp, thì chính điều ấy Ngài chỉ bảo ở phần giữa, chính điều ấy ở phần cuối. Giống như ở việc xác định Kinh, Ngài diễn giải Giáo Pháp ở phần đầu, chính điều ấy lại là phần cuối của nhiều Kinh. Do năng lực của chính pháp ấy, Kinh ấy trở thành thể loại kệ ngôn hay thể loại veyyākaraṇa, trở thành tiểu hay đại. Hơn nữa, giống như có hai loại: sự xác lập ‘điều phù hợp’ và sự xác lập điều chỉ bảo. Điều phù hợp đối với Giáo Pháp nên được tầm cầu. Và giống như việc thu thúc đối với năm giác quan đã được chỉ bảo bởi đức Thế Tôn với mục đích kềm chế tham ái, (điều ấy) chính là ước muốn; giống như đức Thế Tôn chỉ bảo ở Kinh Ví Dụ Người Chăn Bò, cũng như thuyết giảng với những Kinh khác, (điều ấy) chính là ước muốn, là sự suy tầm ở Trung Bộ. Đây là ‘điều phù hợp với sự chỉ bảo của đức Thế Tôn.’ Như thế, pháp ấy cũng nên được tầm cầu ở các thể văn veyyākaraṇa khác. Nhưng (pháp ấy) sẽ được thấy không phải chỉ ở một Kinh; khi có sự kết nối thì pháp ấy nên được nắm giữ.

Ở đấy, điều đã được cho phép là gì? Bất cứ Kinh nào không được thuyết bởi đức Thế Tôn và điều ấy lại được thấy ở các Kinh; điều ấy nên được ghi nhớ như vậy. “Giống như đã được thuyết bởi vị nào đó,” như thế Kinh ấy nên được thẩm xét (rằng): “Vậy thì Kinh này là được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn, hay không được cho phép thông qua? Kinh có hình thức nào đó là được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn, và có hình thức nào đó là không được cho phép thông qua?” Việc ai đó chưa trải qua mọi mặt mà chỉ bảo về hành xứ của đấng Thập Lực, (!) thì toàn bộ Kinh ấy là không được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn. Cũng có vị Thinh Văn ấy biết về hành xứ của đấng Thập Lực một cách hạn chế và không hạn chế, tuy nhiên vị ấy không biết trọn vẹn về năng lực ấy, (mà chỉ biết) theo cách khác gọi là bằng cách lắng nghe. Giống như việc người Bà-la-môn được giáo huấn bởi đại đức Sāriputta, –đối với đại đức ấy, trí về tính trạng khác biệt về quyền, về lực, và tính chất cao thấp của mỗi cá nhân là không có,– và (người Bà-la-môn), trong khi không biết điều ấy, đã được đưa đi tái sanh, trong khi việc có thể làm là còn hơn thế nữa; vị ấy (đại đức Sāriputta) đã không được hài lòng bởi đức Thế Tôn. Hoặc giống như đại đức Kassapagotta, được thành tựu (trí về định) không bị gián đoạn, đã thắp sáng các ngón tay bằng sự kỳ diệu của thần thông và giáo huấn người săn thú. Trí đúng theo thực thể về nhân, về sự kiện đối với các sự thọ nhận do nghiệp của tất cả các pháp không có ở vị đại đức ấy; vì thế, đức Thế Tôn giáo huấn vị ấy, thực hiện điều ấy (rằng): “Này Kassapa, dẫu cho ngươi sẽ cầm mười cây đèn, gã cũng sẽ không nhìn thấy các sắc, bởi vì mắt của gã này không có.” Hơn nữa, giống như viên sứ giả nhắc nhở chúng sanh về lời nói của đức vua, tương tự như vậy kẻ bắt chước chỉ bảo cho những người khác câu nói mà (bản thân) không biết. Kinh được cho phép thông qua thì nên được nắm giữ, Kinh không được cho phép thông qua thì không nên được nắm giữ. Ở đấy, sự nhầm lẫn Kinh là gì? Có năm loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập, liên quan đến bậc Vô Học. Vị tiếp thu cái khác và chỉ bảo cái khác, diễn giải ý nghĩa thuộc về Kinh khác cho Kinh khác, diễn giải ý nghĩa của các sự ràng buộc thuộc hạ phần cho (các sự ràng buộc) thuộc thượng phần, diễn giải các Kinh vượt trội cho các quyền yếu kém và trung bình. Như thế, Kinh này có sự lẫn lộn theo nhân, theo hệ quả, theo quả báo, theo sự diễn giải, theo tính chất yếu kém-trung bình-vượt trội, theo ý nghĩa, và theo văn tự nữa. Sự lẫn lộn gọi là sự nhầm lẫn Kinh, sự không lẫn lộn gọi là sự tìm hiểu Kinh. Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược: Đối với những cái trước, đã được tách ra, đối với cái đúng theo thực thể, duyên, hệ quả, sự chỉ bảo, sự kết nối, việc đã được cho phép, việc tổng hợp các Kinh. Lãnh vực thứ tư - Sự Tìm Hiểu Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.