Bản dịch
PE 4 — Lãnh Vực Thứ Tư: Sự Tìm Hiểu Kinh
4. Suttavicayacatutthabhūmi
Ở đấy, sự tìm hiểu Kinh là gì? Ở đấy, Kinh được khảo sát một cách kỹ lưỡng theo thứ tự trước sau với các thiện pháp, với các bất thiện pháp (rằng): “Có phải Ngài đã khởi sự bài Kinh này? –nt– Có phải nó được kết nối với các bài Kinh có ý nghĩa rõ ràng ấy hay không được kết nối?”
Theo như đức Thế Tôn chỉ bảo các ô nhiễm ở phần đầu tại đấy, (Kinh) nên được khảo sát (rằng): “Sự dứt bỏ các ô nhiễm ấy là có được chỉ bảo, hay là không được chỉ bảo?” Nếu sự dứt bỏ các ô nhiễm ấy là không được chỉ bảo bởi đức Thế Tôn, thì các thiện pháp nên được tầm cầu (tìm hiểu). Nếu trong khi tìm kiếm mà không đạt được nơi mà các bất thiện ấy đi đến sự dứt bỏ, thì các bất thiện pháp ở nơi ấy nên được tách ra, nên được thẩm xét; (đây là) Kinh liên quan đến phiền não.
Nếu các ô nhiễm, trong khi được tách ra, không cho phép (kết nối), thì ở đấy, các pháp thuộc Thánh Đạo nên được khảo sát (rằng): “Các ô nhiễm ở những lãnh vực ấy đi đến sự dứt bỏ, hay là không đi đến?” Hơn nữa, các ô nhiễm được chỉ bảo là chừng này, các Thánh pháp được chỉ bảo lại không là chừng ấy. Ở nơi các ô nhiễm đi đến sự dứt bỏ, (nếu có) các ô nhiễm nào không được kết nối với phần đối nghịch của các Thánh pháp, thì chúng nên được tách ra. Nếu trong khi được tách ra, chúng cho phép kết nối, thì ở đấy nên được thẩm xét như vầy: “Có phải hai, hay ba ô nhiễm, hay nhiều hơn nữa, đi đến sự dứt bỏ do một Thánh Đạo?” Nếu trong khi được thẩm xét như vậy, chúng cho phép kết nối, thì ở đấy nên được khảo sát (như vầy): “(Điều gì) là ý nghĩa và (điều gì) không phải là ý nghĩa của Kinh theo truyền thống, hoặc theo sự truyền thụ từ (Tam) Tạng?” Hoặc là, nếu không thể diễn giải Kinh, thì Kinh không nên bị hoài nghi. Như vậy, “giống như các pháp thiện là ở phần đầu, những cái nào là ô nhiễm, những cái ấy cần được dứt bỏ,” chúng nên được khảo sát như thế. Dầu thiện là trước, hoặc lời chỉ bảo với phần đối nghịch là trước, chúng nên được học tập không thiếu không thừa. Giống như câu nói thứ nhất: “Các Thánh pháp được chỉ bảo đối trị các ô nhiễm nào vào lúc này, các ô nhiễm ấy được dứt bỏ nhờ vào các Thánh pháp này, hay là không được dứt bỏ?” nên được suy gẫm như thế. Nếu trong khi đang khảo sát, chúng được kết nối thì chúng nên được nắm giữ. Còn không được kết nối, thì các ô nhiễm nào không phải là đối nghịch, các ô nhiễm ấy là không thể diệt trừ hoàn toàn. Và các Thánh pháp nào không phải là đối nghịch, các Thánh pháp ấy nên được tách ra. Bởi vì các Thánh pháp không đi đến sự dứt bỏ các ô nhiễm của vị Bất Lai, các Thánh pháp cũng không vận hành đưa đến sự dứt bỏ tất cả các ô nhiễm.
Giống như từ ái là thiện, luyến ái là bất thiện; nhưng thực hành ‘thiện–từ ái’ nhằm dứt bỏ bất thiện–luyến ái thì lại không hiệu quả. Oán hận đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái. Do đó, cả hai ô nhiễm cần được khảo sát.– – Và mỗi một pháp nào được chỉ ra là thiện hoặc bất thiện, pháp ấy nên được tách ra. Nếu trong khi được tách ra, chúng được kết nối, thì không có gì cần được khảo sát. “Hai ô nhiễm có thể được dứt bỏ bởi một Thánh pháp,” hoặc là “một ô nhiễm được dứt bỏ bởi hai Thánh Pháp.”
Hoặc là, thậm chí trong khi đang được khảo sát như vậy mà nó được kết nối, thì ở đấy nên được thẩm xét xem nó được kết nối như thế nào, hoặc là ở đấy nên được thẩm xét như thế nào mà không thể diễn giải được Kinh, bởi vì ở Kinh không nên bị hoài nghi. Có ô nhiễm, điều này nên được khảo sát từ cả hai phía ở các Thánh pháp đã được chỉ bảo: “Nghe nói các ô nhiễm này đã được chỉ bảo và có các Thánh pháp đã được chỉ bảo ở thể loại kệ ngôn hoặc ở thể loại veyyākaraṇa, phải chăng các ô nhiễm này được dứt bỏ nhờ vào các Thánh pháp này, hay là không được dứt bỏ? Hoặc là, phải chăng các Thánh pháp này vận hành đưa đến sự dứt bỏ các ô nhiễm này?” Mặc dầu các pháp bất thiện đi đến sự dứt bỏ nhờ vào các pháp thiện, nhưng không phải tất cả các bất thiện đi đến sự dứt bỏ bởi tất cả các Thánh pháp. Giống như từ ái là thiện, và luyến ái là bất thiện; nhưng không phải thực hành ‘thiện–từ ái, bất thiện–luyến ái’ thì luyến ái đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái; oán hận đi đến sự dứt bỏ nhờ vào từ ái. Tương tự như thế, (không phải) sau khi xác định ‘ô nhiễm’ thì (ô nhiễm) đi đến sự dứt bỏ nhờ vào Kinh, không phải sau khi xác định ‘Kinh, Pháp’ thì (Kinh, Pháp) vận hành đưa đến sự dứt bỏ mọi ô nhiễm; “nhưng (khi) Thánh pháp của Kinh là đối nghịch của phiền não, thì (phiền não) ấy đi đến sự dứt bỏ bởi (Thánh pháp) ấy.” Ở đấy, khi thiện được chỉ bảo ở Kinh hoặc ở thể loại veyyākaraṇa và các phiền não không được kết nối hoặc các Thánh pháp (không được kết nối), thì chúng nên được tách ra theo cấu trúc đã được diễn giải ở (bốn) y cứ chính. Ở đấy, với các ô nhiễm đã được chỉ bảo và nếu do Thánh pháp ấy trong số các Thánh pháp mà các ô nhiễm ấy đi đến sự dứt bỏ, thì ở đấy cũng nên được khảo sát thêm nữa (rằng): “Các ô nhiễm này được dứt bỏ vì lý do gì? Các Thánh pháp này đã được chỉ bảo vì lý do gì?” Hoặc là, các Thánh pháp được chỉ bảo theo bất cứ phương thức nào thì ô nhiễm này được tồn tại theo mỗi một cách thức ấy. Bởi vì, khi có một ô nhiễm, thì với chính nó có (một) Thánh pháp, không phải theo cách khác, (hoặc) được dứt bỏ theo cách khác, giống như tà kiến, luyến ái, và vô minh được dứt bỏ nhờ vào việc thấy (kiến). Và nếu là như vậy, vô minh ấy là lãnh vực của sự tu tập hoặc là pháp được dứt bỏ do sự tu tập. Chính vô minh là (sự ràng buộc) thuộc thượng phần, được dứt bỏ do thấy được Niết Bàn với sự giải thoát vô tướng, với định của ý, với sự không tác ý. Kinh có ý nghĩa, có văn tự nên được khảo sát như vậy. Những ô nhiễm nào được dứt bỏ do thấy thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức thấy, được dứt bỏ do tu tập thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức tu tập, được dứt bỏ do thọ dụng thì Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức thọ dụng, được dứt bỏ do loại trừ là tương tự, cho đến bảy lậu hoặc nên được thực hiện, cho đến phương thức nào khác.– –Bởi vì, (nếu) pháp (ô nhiễm) ấy sẽ được dứt bỏ theo cách khác và Thánh pháp được chỉ bảo theo phương thức khác, thì Thánh pháp ấy nên được tầm cầu theo cách khác. Nếu (Thánh) pháp này là dành cho vị đang tầm cầu, thì Thánh pháp ấy nên được tầm cầu theo mỗi một phương thức mà Ngài chỉ bảo, với phương thức ấy ô nhiễm được dứt bỏ; ở đấy (Thánh pháp) ấy nên được khảo sát. Nếu không được kết nối với Kinh ấy, thì Kinh đã được chọn lựa nên được thẩm xét, được kết nối thế nào thì nên được nắm giữ thế ấy, không được kết nối thì không nên được nắm giữ (nghĩ rằng): “Chắc chắn điều này đã không được thuyết bởi đức Thế Tôn, hoặc là đã được nắm giữ sai bởi vị đại đức” giống như đã được diễn giải ở (bốn) y cứ chính. Điều đã được chỉ bảo đúng theo thực thể bởi đức Thế Tôn, và pháp nào được chỉ bảo là thiện và bất thiện, thì duyên của pháp ấy nên được tầm cầu, bởi vì thiếu sót duyên, pháp không có duyên không được sanh khởi. Ở đấy, biểu hiện của việc tầm cầu là gì?
Ở đấy, Kinh này, vớihình thức như thế, có nhân, có duyên, nên được thẩm xét rằng: “Có phải đây là Pháp được nói đến?” Và duyên ấy là có ba loại: yếu kém, trung bình, vượt trội. Ở đấy, khi duyên là yếu kém thì pháp yếu kém sẽ được nắm giữ; nếu là như vậy thì duyên này là có hai loại: duyên tuần tự và duyên không bị gián đoạn. Duyên ấy là yếu kém, vì thế tính trạng khác biệt nên được tầm cầu. Điều gì là lý do? Một duyên nào đó đi đến sự hiệu quả hoặc sự đầy đủ nhờ vào những duyên khác. Ở đấy, pháp nào đã được chỉ bảo thì nhân của pháp ấy nên được tầm cầu thông qua pháp ấy hoặc thông qua lý do (của nó). Giống như duyên, hệ quả ấy của pháp ấy nên được tầm cầu thông qua nhân và thông qua duyên. Giống như (hệ quả) đã được diễn giải, vị ấy tầm cầu sự nỗ lực ở sự xác định, duyên ấy nên được tầm cầu (như thế ấy). Bởi vì không có hệ quả vượt trội đối với pháp yếu kém, hoặc pháp yếu kém đối với hệ quả vượt trội, rồi yếu kém đối với yếu kém, trung bình đối với trung bình, vượt trội đối với vượt trội được kết nối; điều ấy nên được nắm giữ. Nếu không được kết nối, thì không nên được nắm giữ. Chính điều nào đức Thế Tôn bắt đầu để chỉ bảo Giáo Pháp, thì chính điều ấy Ngài chỉ bảo ở phần giữa, chính điều ấy ở phần cuối. Giống như ở việc xác định Kinh, Ngài diễn giải Giáo Pháp ở phần đầu, chính điều ấy lại là phần cuối của nhiều Kinh. Do năng lực của chính pháp ấy, Kinh ấy trở thành thể loại kệ ngôn hay thể loại veyyākaraṇa, trở thành tiểu hay đại. Hơn nữa, giống như có hai loại: sự xác lập ‘điều phù hợp’ và sự xác lập điều chỉ bảo. Điều phù hợp đối với Giáo Pháp nên được tầm cầu. Và giống như việc thu thúc đối với năm giác quan đã được chỉ bảo bởi đức Thế Tôn với mục đích kềm chế tham ái, (điều ấy) chính là ước muốn; giống như đức Thế Tôn chỉ bảo ở Kinh Ví Dụ Người Chăn Bò, cũng như thuyết giảng với những Kinh khác, (điều ấy) chính là ước muốn, là sự suy tầm ở Trung Bộ. Đây là ‘điều phù hợp với sự chỉ bảo của đức Thế Tôn.’ Như thế, pháp ấy cũng nên được tầm cầu ở các thể văn veyyākaraṇa khác. Nhưng (pháp ấy) sẽ được thấy không phải chỉ ở một Kinh; khi có sự kết nối thì pháp ấy nên được nắm giữ.
Ở đấy, điều đã được cho phép là gì? Bất cứ Kinh nào không được thuyết bởi đức Thế Tôn và điều ấy lại được thấy ở các Kinh; điều ấy nên được ghi nhớ như vậy. “Giống như đã được thuyết bởi vị nào đó,” như thế Kinh ấy nên được thẩm xét (rằng): “Vậy thì Kinh này là được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn, hay không được cho phép thông qua? Kinh có hình thức nào đó là được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn, và có hình thức nào đó là không được cho phép thông qua?” Việc ai đó chưa trải qua mọi mặt mà chỉ bảo về hành xứ của đấng Thập Lực, (!) thì toàn bộ Kinh ấy là không được cho phép thông qua bởi đức Thế Tôn. Cũng có vị Thinh Văn ấy biết về hành xứ của đấng Thập Lực một cách hạn chế và không hạn chế, tuy nhiên vị ấy không biết trọn vẹn về năng lực ấy, (mà chỉ biết) theo cách khác gọi là bằng cách lắng nghe. Giống như việc người Bà-la-môn được giáo huấn bởi đại đức Sāriputta, –đối với đại đức ấy, trí về tính trạng khác biệt về quyền, về lực, và tính chất cao thấp của mỗi cá nhân là không có,– và (người Bà-la-môn), trong khi không biết điều ấy, đã được đưa đi tái sanh, trong khi việc có thể làm là còn hơn thế nữa; vị ấy (đại đức Sāriputta) đã không được hài lòng bởi đức Thế Tôn. Hoặc giống như đại đức Kassapagotta, được thành tựu (trí về định) không bị gián đoạn, đã thắp sáng các ngón tay bằng sự kỳ diệu của thần thông và giáo huấn người săn thú. Trí đúng theo thực thể về nhân, về sự kiện đối với các sự thọ nhận do nghiệp của tất cả các pháp không có ở vị đại đức ấy; vì thế, đức Thế Tôn giáo huấn vị ấy, thực hiện điều ấy (rằng): “Này Kassapa, dẫu cho ngươi sẽ cầm mười cây đèn, gã cũng sẽ không nhìn thấy các sắc, bởi vì mắt của gã này không có.” Hơn nữa, giống như viên sứ giả nhắc nhở chúng sanh về lời nói của đức vua, tương tự như vậy kẻ bắt chước chỉ bảo cho những người khác câu nói mà (bản thân) không biết. Kinh được cho phép thông qua thì nên được nắm giữ, Kinh không được cho phép thông qua thì không nên được nắm giữ. Ở đấy, sự nhầm lẫn Kinh là gì? Có năm loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập, liên quan đến bậc Vô Học. Vị tiếp thu cái khác và chỉ bảo cái khác, diễn giải ý nghĩa thuộc về Kinh khác cho Kinh khác, diễn giải ý nghĩa của các sự ràng buộc thuộc hạ phần cho (các sự ràng buộc) thuộc thượng phần, diễn giải các Kinh vượt trội cho các quyền yếu kém và trung bình. Như thế, Kinh này có sự lẫn lộn theo nhân, theo hệ quả, theo quả báo, theo sự diễn giải, theo tính chất yếu kém-trung bình-vượt trội, theo ý nghĩa, và theo văn tự nữa. Sự lẫn lộn gọi là sự nhầm lẫn Kinh, sự không lẫn lộn gọi là sự tìm hiểu Kinh. Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược: Đối với những cái trước, đã được tách ra, đối với cái đúng theo thực thể, duyên, hệ quả, sự chỉ bảo, sự kết nối, việc đã được cho phép, việc tổng hợp các Kinh. Lãnh vực thứ tư - Sự Tìm Hiểu Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattha kusalehi dhammehi akusalehi dhammehi pubbāparaso sādhukaṃ upaparikkhiyati. Kiṃnu kho idaṃ suttaṃ ārabhi…pe… tehi suttehi saha adhisannaṭṭhehi yujjati udāhu na yujjatīti?
Therein, by means of wholesome states and unwholesome states, it is well examined in sequence. What, indeed, does this sutta concern? ... Does it accord with those suttas having a related meaning, or does it not accord? Thus.
Ở đây, (kinh) được xem xét kỹ lưỡng trước sau bằng các pháp thiện và các pháp bất thiện. Kinh này được bắt đầu như thế nào nhỉ? ...vân vân... Có tương ứng với các kinh ấy với ý nghĩa đối chiếu hay là không tương ứng?
Yathā bhagavā kilese ādimhi tattha deseti. Kiṃ desitaṃ? Tesaṃ kilesānaṃ pahānaṃ udāhu no desitanti upaparikkhitabbaṃ. Yadi na desitaṃ bhagavati tesaṃ kilesānaṃ pahānaṃ kusalā dhammā pariyesitabbā yattha te akusalā pahānaṃ gacchanti. Sace samannehamāno na labhati. Tattha akusalā dhammā apakaḍḍhitabbā vīmaṃsitabbā, saṃkilesabhāgiyasuttaṃ, yadi kilesā apakaḍḍhiyantā. Ye vā na denti tattha upaparikkhitabbā ariyamaggadhammā tāsu bhūmīsu kilesā pahānaṃ gacchanti, udāhu na gacchantīti. Yattakā pana kilesā desitā. Na tattakā ariyadhammā desitā. Yattha kilesā pahānaṃ gacchanti, tattha ye kilesā ariyadhammānaṃ paṭipakkhena na yujjanti, te apakaḍḍhitabbā, sace apakaḍḍhiyantā yojanaṃ deti. Tattha evaṃ vīmaṃsitabbaṃ. Dve tīṇi vā taduttari vā kilesā ekena ariyamaggena pahānaṃ gacchantīti. Sace evaṃ vīmaṃsiyantā yojanaṃ deti, tattha upaparikkhitabbaṃ. Paramparāya vā piṭakasampadānena vā suttassa attho ca nattho ca. Yaṃ vā na sakkā suttaṃ niddisituṃ neva suttaṃ vicikicchitabbaṃ. Evaṃ yathā ādimhi kusalā dhammā honti. Ye kilesā te pahīneyyāti. Te upaparikkhitabbā. Puro vā kusalo paṭipakkhena vā puro desanā, anūnā anadhikā uggahetabbā. Yathā paṭhamo uttilo yesamidāni kilesānaṃ ye ariyadhammā desitā ime kilesā imehi ariyadhammehi pahīyanti, udāhu nappahīyantīti vicinitabbā. Yadi upaparikkhiyamānā yujjanti, gahetabbā. Atha na yujjanti, ye kilesā apaṭipakkhā honti, te kilesā aparipakkhitabbā. Ye ca ariyadhammā paṭipakkhā honti, te ariyadhammā apakaḍḍhitabbā. Na hi ariyadhammā anāgāmikilesappahānaṃ gacchanti, nāpi ariyadhammā sabbakilesānaṃ pahānāya saṃvattanti. Yathā kusalā mettā akusalo rāgo na tu kusalā mettāti kāretvā akusalassa rāgassa pahānāya sambhavati byāpādo mettāya pahānaṃ gacchati. Tasmā ubho kilesā upaparikkhitabbā. Yo yo ca dhammo upadisiyati kusalo vā akusalo vā so apakaḍḍhitabbo. Sace te yujjanti apakaḍḍhiyamāno natthi upaparikkhitabbaṃ. Dve vā kilesā ekena ariyadhammena pahīneyyāti dvīhi vā ariyadhammehi eko vā kileso pahīyatīti.
For instance, the Blessed One teaches about defilements in the beginning of a sutta. It should be examined: Is the abandonment of those defilements taught, or is it not taught? If the abandonment of those defilements is not taught by the Blessed One, wholesome states should be sought wherein those unwholesome states reach abandonment. If, while searching, one does not find it, then the unwholesome states should be drawn out and the sutta pertaining to defilement should be investigated. If the defilements, being drawn out, do not yield a connection, then the states of the noble path should be examined there: in those grounds, do the defilements reach abandonment, or do they not? Thus it should be examined. However many defilements are taught, not that many noble states are taught. Where defilements reach abandonment, there those defilements that are not opposed to the noble states should be drawn out. If, being drawn out, this yields a connection, it should be investigated thus: 'Do two, three, or more defilements reach abandonment by one noble path?' If, being investigated thus, it yields a connection, it should be examined there by way of tradition or by way of the textual transmission: the natural meaning of the sutta and its verbal meaning. Or if it is not possible to point to the sutta, the Pāḷi itself should not be doubted. Thus, just as in the beginning there are wholesome states, it should be considered that those defilements should be abandoned. They should be examined. The preceding wholesome state or the preceding teaching should be grasped by way of its opposite, without deficiency or excess. Just as the first example, Uttila: for which defilements have which noble states now been taught? It should be investigated: 'Are these defilements abandoned by these noble states, or are they not abandoned?' If, upon examination, they connect, they should be accepted. If they do not connect, those defilements that are unopposed should not be examined. And those noble states that are opposed should be drawn out. For the noble states do not reach the abandonment of the defilements pertaining to a non-returner, nor do the noble states conduce to the abandonment of all defilements. For example, loving-kindness is wholesome, and lust is unwholesome. Having determined that wholesome loving-kindness is not lust, ill-will arises for the abandonment of unwholesome lust; and ill-will reaches abandonment through loving-kindness. Therefore, both defilements should be examined. Whatever state is indicated, whether wholesome or unwholesome, that state should be drawn out. If, being drawn out, they connect, there is nothing to be examined. Two defilements may be abandoned by one noble state, or one defilement is abandoned by two noble states.
Như là, Đức Thế Tôn thuyết giảng về các phiền não ở phần đầu trong kinh ấy. Điều gì được thuyết giảng? Cần phải xem xét rằng: sự đoạn trừ các phiền não ấy (được thuyết giảng) hay là không được thuyết giảng? Nếu sự đoạn trừ các phiền não ấy không được Đức Thế Tôn thuyết giảng, cần phải tìm kiếm các pháp thiện ở nơi mà các pháp bất thiện ấy đi đến sự đoạn trừ. Nếu trong khi tìm kiếm mà không tìm thấy, ở đó các pháp bất thiện cần được rút ra, cần được thẩm sát, (như) kinh thuộc phần nhiễm ô, nếu các phiền não được rút ra. Hoặc những (phiền não) nào không được đưa ra, ở đó cần phải xem xét các pháp Thánh đạo: trong các tầng (tu chứng) ấy, các phiền não có đi đến sự đoạn trừ hay là không đi đến? Tuy nhiên, bao nhiêu phiền não được thuyết giảng, thì không có bấy nhiêu pháp Thánh được thuyết giảng. Ở nơi nào các phiền não đi đến sự đoạn trừ, ở đó những phiền não nào không tương ứng với sự đối nghịch của các pháp Thánh, chúng cần được rút ra; nếu khi được rút ra mà có sự liên kết. Ở đó, cần thẩm sát như vầy: hai, ba, hoặc nhiều hơn các phiền não có đi đến sự đoạn trừ bởi một Thánh đạo hay không? Nếu khi được thẩm sát như vậy mà có sự liên kết, ở đó cần phải xem xét ý nghĩa và văn tự của kinh qua truyền thống kế thừa hoặc qua sự trao truyền Tam Tạng. Hoặc khi không thể chỉ ra (sự liên kết của) kinh, thì không nên hoài nghi về kinh. Như vậy, giống như ở phần đầu có các pháp thiện. Những phiền não nào cần được đoạn trừ, chúng cần được xem xét. Hoặc pháp thiện trước, hoặc sự đối nghịch, hoặc bài thuyết giảng trước, cần được nắm bắt không thiếu không thừa. Giống như (trường hợp) Uttila đầu tiên, cần phải thẩm sát rằng: đối với những phiền não nào mà các pháp Thánh này được thuyết giảng, các phiền não này có được đoạn trừ bởi các pháp Thánh này hay là không được đoạn trừ? Nếu khi được xem xét mà chúng tương ứng, thì cần được chấp nhận. Còn nếu không tương ứng, những phiền não nào không có đối nghịch, những phiền não ấy không cần được xem xét. Và những pháp Thánh nào là đối nghịch, những pháp Thánh ấy cần được rút ra. Vì rằng các pháp Thánh (của các tầng dưới) không đi đến sự đoạn trừ phiền não của bậc Bất Lai, và các pháp Thánh (của một tầng) cũng không dẫn đến sự đoạn trừ tất cả các phiền não. Giống như tâm từ là thiện, tham là bất thiện, nhưng không phải vì cho rằng tâm từ là thiện mà nó có thể đưa đến sự đoạn trừ tham là pháp bất thiện; (mà là) sân hận đi đến sự đoạn trừ bởi tâm từ. Do đó, cả hai (loại) phiền não cần được xem xét. Bất cứ pháp nào được chỉ dạy, dù là thiện hay bất thiện, pháp ấy cần được rút ra. Nếu chúng tương ứng khi được rút ra, thì không có gì cần phải xem xét. Hoặc hai phiền não có thể được đoạn trừ bởi một pháp Thánh, hoặc một phiền não được đoạn trừ bởi hai pháp Thánh.
Atha vā evampi upaparikkhiyamānaṃ yujjati, tattha vīmaṃsitabbaṃ vā yathā yujjati tattha vīmaṃsitabbaṃ vā, yathā nanu sakkā suttaṃ niddisituṃ, na hi sutte vicikicchitabbaṃ. Kileso maṃ ariyadhammesu desitesu ubhayato upaparikkhitabbaṃ. Kira ye vā ime kilesā desitā ye ca ariyadhammā desitā gāthāya vā byākaraṇena vā, kiṃ nu kho ime kilesā imehi ariyadhammehi pahīyanti, udāhu nappahīyanti? Ime vā ariyadhammā imesaṃ kilesānaṃ pahānāya saṃvattantīti. Kiñcāpi kusalehi dhammehi akusalā dhammā pahānaṃ gacchanti. Na tu sabbehi ariyadhammehi sabbākusalā pahānaṃ gacchanti. Yathā mettā kusalo akusalo ca rāgo na tu kusalā mettā akusalo rāgoti kāretvā mettāya rāgo pahānaṃ, byāpādo mettāya pahānaṃ gacchanti. Evaṃ kilesoti kāretvā suttena pahānaṃ gacchati. Na sutto dhammoti kāretvā sabbaṃ kilesassa pahānāya saṃvattati. Yaṃ tu suttassa ariyadhammo saṃkilesapaṭipakkho, so tena pahānaṃ gacchatīti.
Alternatively, even when examined in this way, it is suitable. Therein, it should be investigated as it is suitable. Or, if it is not possible to point to the sutta, there should be no doubt in the sutta. When the noble states are taught, the defilement should be examined from both sides. Indeed, regarding these defilements that are taught and these noble states that are taught, whether by verse or by prose, one should consider: 'Are these defilements abandoned by these noble states, or are they not? Or do these noble states conduce to the abandonment of these defilements?' Although unwholesome states reach abandonment through wholesome states, not all unwholesome states reach abandonment through all noble states. For example, loving-kindness is wholesome and lust is unwholesome. Having determined that wholesome loving-kindness is not unwholesome lust, it is not by loving-kindness that lust reaches abandonment; ill-will reaches abandonment through loving-kindness. Thus, having determined 'it is a defilement', it reaches abandonment through the sutta. It is not that having determined 'the sutta is the dhamma', it conduces to the abandonment of all defilement. However, whatever noble state of the sutta is the opponent of a defilement, that defilement reaches abandonment through that noble state.
Lại nữa, nếu khi được xem xét như vậy mà có sự tương ứng, ở đó cần được thẩm sát, hoặc như thế nào có sự tương ứng, ở đó cần được thẩm sát, hoặc như thế nào không thể chỉ ra kinh, thì không nên hoài nghi về kinh. Tuy nhiên, khi các pháp Thánh được thuyết giảng, phiền não cần được xem xét từ cả hai phương diện. Nghe nói rằng, những phiền não này được thuyết giảng và những pháp Thánh này được thuyết giảng, hoặc bằng kệ ngôn hoặc bằng văn xuôi, (cần hỏi rằng:) những phiền não này có được đoạn trừ bởi các pháp Thánh này hay là không được đoạn trừ? Hoặc các pháp Thánh này có dẫn đến sự đoạn trừ các phiền não này hay không? Mặc dù các pháp bất thiện đi đến sự đoạn trừ bởi các pháp thiện, nhưng không phải tất cả các pháp bất thiện đều đi đến sự đoạn trừ bởi tất cả các pháp Thánh. Giống như tâm từ là thiện và tham là bất thiện, nhưng không phải vì cho rằng tâm từ là thiện, tham là bất thiện mà tham được đoạn trừ bởi tâm từ; (mà là) sân hận đi đến sự đoạn trừ bởi tâm từ. Như vậy, sau khi xác định "đây là phiền não", nó đi đến sự đoạn trừ bởi kinh (tức là pháp Thánh được dạy trong kinh). Không phải sau khi xác định "kinh là Pháp" mà nó dẫn đến sự đoạn trừ tất cả phiền não. Nhưng pháp Thánh nào của kinh là đối nghịch với nhiễm ô, thì nhiễm ô ấy đi đến sự đoạn trừ bởi pháp Thánh ấy.
41. Tattha kusale desite sutte byākaraṇe vā saṃkilesā na yujjanti ariyadhammā vā, te mahāpadese niddisitabbāvayavena apakaḍḍhitabbā. Tattha kilesehi ca desitehi ariyadhammesu ca yadipi tena ariyadhammena te kilesā pahānaṃ gacchanti. Tatthapi uttari upaparikkhitabbaṃ. Kena kāraṇena ete kilesā pajahitabbā, kena kāraṇena ariyadhammā desitāti? Yena yena vā ākārena ariyadhammā desitā, tena tena pakārena ayaṃ kileso ṭhito. Atthi hi eko kileso, tena vā ariyadhammā na aññathā aññathā pahātabbo, yathā diṭṭhi rāgo avijjā ca dassanena pahātabbā. Sā ce evañca avijjā bhāvanāya bhūmi vā dhammā bhāvanāya pahātabbā. Sāyeva uddhaṃbhāgiyaṃ asaṅkhatadassanāya vimuttiyā animittena cetosamādhinā amanasikārena pahīyati. Evaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ upaparikkhitabbaṃ. Ye dassanena pahātabbā kilesā dassanākārena ariyadhammo desito, bhāvanāya pahātabbā bhāvanākārena ariyadhammo desito, patisevanā pahātabbā patisevanākārena ariyadhammo desito, evaṃ vinodanapahātabbā yāva satta āsavā kātabbā, yāvaññathā. Aññathā hesa dhammo pahātabbo aññenākārena ariyadhammo desito, so ariyadhammo aññathā pariyesitabbo. Yadi ayaṃ dhammo pariyesato yo ca deseti yena yenākārena, so ariyadhammo pariyesitabbo, tenākārena kileso pahīyati. So tattha upaparikkhitabbo. Atha na yujjati yadi hi tena suttena vihitaṃ suttaṃ vīmaṃsitabbaṃ. Yathā yujjati, tathā gahetabbaṃ. Yathā na yujjati, tathā na gahetabbaṃ, addhā etaṃ bhagavatā na bhāsitaṃ, āyasmatā vā duggahitaṃ, yathā mahāpadese niddisitabbaṃ, bhagavatā yathābhūtaṃ desitaṃ, yo ca dhammo desito kusalo ca akusalo ca tassa dhammassa paccayo pariyesitabbo. Na hi paccayā vinā dhammo appaccayo uppajjati. Tattha ko ākāro pariyesanāya?
41. There, in a Sutta or a Vyākaraṇa where the wholesome is taught, if defilements or noble dhammas are not suitable, they should be pointed out in the Mahāpadesa and drawn out by component. There, regarding the defilements that have been taught and the noble dhammas, if by that noble dhamma those defilements go to abandonment, even there it should be further investigated. For what reason are these defilements to be abandoned? For what reason are the noble dhammas taught? In whatever manner the noble dhammas are taught, in that same manner this defilement is established. Indeed, there is a certain defilement that is to be abandoned by that noble dhamma and not in any other way, just as wrong view, lust, and ignorance are to be abandoned by seeing. And if that same ignorance is the domain of cultivation, or if dhammas are to be abandoned by cultivation, that very state belonging to the higher parts is not abandoned through liberation by seeing the unconditioned, nor through the signless concentration of mind, nor through non-attention. Thus, it should be investigated with its meaning and phrasing. For whichever defilements are to be abandoned by seeing, the noble dhamma is taught in the manner of seeing; for those to be abandoned by cultivation, the noble dhamma is taught in the manner of cultivation; for those to be abandoned by practice, the noble dhamma is taught in the manner of practice. Thus, for those to be abandoned by dispelling, it should be done up to the taints of beings, and in other ways. For this dhamma is to be abandoned in another way; the noble dhamma is taught in another manner, so that noble dhamma is to be sought in another way. If, while seeking this dhamma, one teaches in whatever manner, that noble dhamma is to be sought, and by that manner the defilement is abandoned. That should be investigated there. If it does not accord, then the discourse established by that discourse should be examined. As it accords, so it should be accepted. As it does not accord, so it should not be accepted. Surely, this was not spoken by the Blessed One, or it was wrongly grasped by the venerable one, as should be indicated in accordance with the Mahāpadesa. It was taught by the Blessed One as it truly is. And for whatever dhamma is taught, wholesome or unwholesome, the condition for that dhamma should be sought. For a dhamma does not arise without a condition, without a cause. There, what is the manner of seeking?
41. Ở đó, trong kinh hoặc trong luận giải, khi pháp thiện được thuyết giảng, các pháp phiền não không tương ứng, hoặc các Thánh pháp, chúng nên được chỉ ra trong Đại Tham Chiếu và được rút ra từng phần. Ở đó, đối với các phiền não đã được thuyết giảng và các Thánh pháp, nếu những phiền não ấy được đoạn trừ bởi Thánh pháp ấy, ngay cả ở đó, cũng cần phải xem xét thêm. Do nguyên nhân nào những phiền não này cần được đoạn trừ, do nguyên nhân nào các Thánh pháp được thuyết giảng? Bằng phương cách nào các Thánh pháp được thuyết giảng, bằng phương cách đó phiền não này tồn tại. Thật vậy, có một phiền não cần được đoạn trừ bởi Thánh pháp ấy chứ không phải bằng cách khác, giống như tà kiến, tham ái và vô minh cần được đoạn trừ bằng tri kiến. Và cũng vậy, vô minh ấy hoặc các pháp là đối tượng của sự tu tập cần được đoạn trừ bằng sự tu tập. Chính nó là phần thượng, được đoạn trừ bởi sự giải thoát do thấy được pháp vô vi, bởi tâm định vô tướng, bởi sự không tác ý. Như vậy, cần phải xem xét cả ý nghĩa và văn tự. Những phiền não nào cần được đoạn trừ bằng tri kiến, Thánh pháp được thuyết giảng theo phương cách của tri kiến; (những phiền não nào) cần được đoạn trừ bằng sự tu tập, Thánh pháp được thuyết giảng theo phương cách của sự tu tập; (những phiền não nào) cần được đoạn trừ bằng sự thực hành, Thánh pháp được thuyết giảng theo phương cách của sự thực hành; như vậy, (các phiền não) cần được đoạn trừ bằng sự xua tan, cho đến bảy lậu hoặc cần được thực hiện, cho đến các cách khác. Thật vậy, pháp này cần được đoạn trừ bằng cách khác, Thánh pháp được thuyết giảng bằng phương cách khác, Thánh pháp ấy cần được tìm cầu bằng cách khác. Nếu pháp này được tìm cầu, và người thuyết giảng thuyết giảng bằng phương cách nào, thì Thánh pháp ấy cần được tìm cầu, bằng phương cách đó, phiền não được đoạn trừ. Điều đó cần được xem xét ở đây. Nếu không tương ứng, nếu kinh được sắp đặt bởi kinh đó cần được điều tra. Như thế nào tương ứng, nên được chấp nhận như thế ấy. Như thế nào không tương ứng, không nên được chấp nhận như thế ấy. Chắc chắn điều này không được Đức Thế Tôn nói ra, hoặc đã được vị trưởng lão hiểu sai. (Nó) nên được chỉ ra trong Đại Tham Chiếu như thế nào, (rằng) Đức Thế Tôn đã thuyết giảng đúng như thật. Và pháp nào đã được thuyết giảng, dù là thiện hay bất thiện, nhân duyên của pháp ấy cần được tìm cầu. Vì rằng không có nhân duyên, pháp không thể sanh khởi, không có nhân duyên. Ở đó, phương cách tìm cầu là gì?
Tattha tathārūpaṃ sahetu sappaccayaṃ soyaṃ dhammo vuttoti idaṃ vīmaṃsitabbaṃ. So ca paccayo tividho – mudu majjho adhimatto. Tattha mudumhi paccaye mududhammo gahetabbo, evaṃ satyesa paccayo duvidho paraṃparāpaccayo ca samanantarapaccayo ca. So paccayo mudutena byādhimattaṃ pariyesitabbaṃ. Kiṃ kāraṇaṃ? Aññataropi paccayo aññehi paccayehi pariyattiṃ vā pāripūriṃ vā gacchati. Tattha yo dhammo desito, tassa dhammassa etena vā kāraṇena vā hetu pariyesitabbo. Yathā paccayo hetunā paccayena ca, so tassa dhammassa nissando pariyesitabbo. Yathā niddiṭṭho adhiṭṭhāne padhānaṃ pariyesati, so paccayo pariyesitabbo. Na hi mudussa dhammassa adhimatto nissando adhimattassa vā nissandassa mududhammo, atha mudussa mudu majjhāya majjho adhimattassa adhimatto yujjati, taṃ gahetabbaṃ, atha na yujjati na gahetabbaṃ. Yañca bhagavā ārabhati dhammaṃ desetuṃ, taṃyeva dhammaṃ majjhantapariyosānaṃ deseti, yathā suttādhiṭṭhāne dhammā ādimhi niddisati, taṃyeva bahu tassa suttassa pariyosānaṃ. Tassa hi dhammassa vasena taṃ suttaṃ hoti gāthā vā byākaraṇaṃ khuddakaṃ mahantaṃ vā, yathā pana duvidhā anurūpanti vā thapanā ca desanāthapanā. Rūpantipi dhammassa pariyesitabbā. Yathā ca bhagavatā pañcannaṃ indriyānaṃ saṃvaraṇaṃ desitaṃ taṇhāya niggahaṇatthaṃ icchāva hoti. Deseti yathā gopālakopame sutte aññehipi suttehi bhagavā bhāsati icchāva hoti majjhimanikāye vitakko ayaṃ bhagavato desanānurūpanti iti so dhammo aññesupi veyyākaraṇesu pariyesitabbo. Na hi ekaṃ hi sutte daṭṭhabbo. Yujjanaṃ taṃ gahetabbaṃ.
Therein, it should be examined thus: 'This dhamma is said to be of such a nature, with a root-cause and with a condition.' And that condition is threefold: mild, moderate, and intense. Therein, with a mild condition, a mild dhamma should be taken. This being so, this condition is twofold: an indirect condition and a contiguous condition. By means of the mild, the intense condition should be sought. What is the reason? A certain condition goes to maturity or to fulfillment by means of other conditions. Therein, for whatever dhamma is taught, for that dhamma the root-cause should be sought by this or by a reason. Just as a condition is sought by a root-cause, and a root-cause by a condition, so the result of that dhamma should be sought. Just as what has been pointed out seeks the principal in the foundation, so that condition should be sought. For an intense result is not for a mild dhamma, nor is a mild dhamma for an intense result. Rather, mild for mild, moderate for moderate, and intense for intense is suitable; that should be accepted. If it is not suitable, it should not be accepted. And whatever dhamma the Blessed One begins to teach, he teaches that very dhamma to the middle and the end. Just as in the foundation of a sutta he points out the dhammas at the beginning, that very thing is the conclusion of that long sutta. For by means of that dhamma, that sutta—be it a verse or an exposition, short or long—comes to be. Just as there are two kinds: the 'suitable establishment' and the 'teaching establishment'. The form of the dhamma should also be sought. And just as the restraint of the five faculties was taught by the Blessed One for the purpose of suppressing craving, so there is desire. He teaches, as in the Sutta with the simile of the cowherd. And in other suttas the Blessed One speaks, and there is desire. In the Majjhima Nikāya, the thought arises, 'This is in accordance with the Blessed One's teaching.' Therefore, that dhamma should be sought in other expositions as well. For it should not be seen in just one sutta. What is suitable, that should be accepted.
Ở đó, điều này cần được điều tra: 'Pháp này được nói là có nhân, có duyên, và tương ứng như vậy.' Và duyên ấy có ba loại: hạ, trung, và thượng. Ở đó, trong duyên hạ, pháp hạ cần được chấp nhận. Khi như vậy, duyên này có hai loại: duyên gián tiếp và duyên vô gián. Duyên thượng cần được tìm cầu từ duyên hạ. Nguyên nhân là gì? Một duyên nào đó đạt đến sự viên mãn hoặc sự hoàn thiện nhờ các duyên khác. Ở đó, pháp nào được thuyết giảng, nhân của pháp ấy cần được tìm cầu bằng nguyên nhân này. Duyên cần được tìm cầu bằng nhân, và nhân cần được tìm cầu bằng duyên. Kết quả của pháp ấy cần được tìm cầu. Như người đã được chỉ dẫn tìm kiếm sự nỗ lực trong quyết tâm, duyên ấy cần được tìm cầu. Vì rằng pháp thượng không phải là kết quả của pháp hạ, và pháp hạ không phải là kết quả của pháp thượng. Nhưng nếu hạ tương ứng với hạ, trung với trung, thượng với thượng, điều đó nên được chấp nhận. Nếu không tương ứng, không nên được chấp nhận. Và pháp nào Đức Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng, chính pháp ấy Ngài thuyết giảng từ giữa đến cuối. Giống như trong nền tảng của kinh, các pháp được chỉ ra ở phần đầu, chính điều đó là phần kết của nhiều kinh. Thật vậy, tùy theo pháp ấy mà kinh đó là kệ ngôn hay luận giải, ngắn hay dài. Hơn nữa, có hai loại thiết lập: thiết lập tương ứng và thiết lập giáo pháp. Hình thức của pháp cũng cần được tìm cầu. Và như Đức Thế Tôn đã thuyết giảng sự phòng hộ năm căn để chế ngự tham ái, đó là ý muốn. Như Ngài thuyết giảng trong kinh ví dụ người chăn bò, và trong các kinh khác Đức Thế Tôn cũng nói, đó là ý muốn trong Trung Bộ Kinh. (Nên có) sự suy xét rằng: 'Điều này phù hợp với lời dạy của Đức Thế Tôn.' Do đó, pháp ấy cần được tìm cầu trong các luận giải khác. Thật vậy, không nên chỉ thấy (pháp) trong một kinh duy nhất. Cái gì tương ứng, cái đó nên được chấp nhận.
42. Tattha katamaṃ anuññātaṃ? Yaṃ kiñci suttaṃ bhagavatā na bhāsitaṃ tañca suttesuyeva ndissati, evametaṃ dhāretabbaṃ. Yathā asukena bhāsitanti, taṃ suttaṃ vīmaṃsitabbaṃ. Kiṃ nu kho imaṃ suttaṃ anuññātaṃ khamaṃ bhagavato udāhu nānuññātaṃ khamaṃ, kiñci rūpañca suttaṃ bhagavato anuññātaṃ khamaṃ kiñci rūpañca nānuññātaṃ khamaṃ? Yaṃ sabbaso anotāretvā dasabalo gocaraṃ deseti, taṃ sabbaṃ suttaṃ bhagavato nānuññātaṃ khamaṃ. Atthipi so sāvako dasabalānaṃ gocaraṃ jānāti odhiso anodhiso, taṃ pana balaṃ sabbaso na jānāti aññathā nāma savanena, yathā āyasmatā sāriputtena yena brāhmaṇo ovadito, tassa āyasmato natthi indriyabalavemattañāṇaṃ, tena puggalaparo † parañca taṃ ajānanto sati uttarikaraṇīye uppādito, so bhagavatā apasādito. Yathāva āyasmā mahākassapo bhāgineyyaṃ ovadati anantariyasamannāgato iddhipāṭihīrena aṅguliyo adīpetvā yaṃ sabbesaṃ dhammānaṃ kammasamādānānaṃ hetuso ṭhānaso yathābhūtaṃ ñāṇaṃ, tassa āyasmato saṃvijjate, tena naṃ ovadati, taṃ bhagavā karoti.
42. Among these, which is the approved sutta? Whatever discourse was not spoken by the Blessed One, yet appears in the Suttas, it should be held thus: 'This was spoken by so-and-so.' That discourse should be investigated: 'Is this discourse suitable for the Blessed One's approval, or is it not suitable for approval? Is a discourse of a certain nature suitable for the Blessed One's approval, or is a discourse of a certain nature not suitable for approval?' Whatever discourse is taught concerning the domain of the Ten-Powered One without fully penetrating it, all that discourse is not suitable for the Blessed One's approval. There is a disciple who knows the domain of the Ten-Powered Ones partially and completely, but he does not know that power in every way; he is said to know it by another means, that is, by hearing. This is like when the venerable Sāriputta admonished the brahmin Jayana; that venerable one did not possess the knowledge of the distinction in faculties and powers. Therefore, not knowing that the Buddha is supreme among individuals and not knowing that supremacy, when there was a further task to be done, he gave an admonishment that was generated. He was reproached by the Blessed One. Or it is like when the venerable Mahākassapa admonishes his nephew. Being endowed with the immediately following attainment, without making his fingers shine by a miracle of psychic power, that knowledge which is of all things and of the undertakings of kamma, as it really is, as to cause, as to condition—that knowledge exists for that venerable one. With that, he admonishes him. The Blessed One does that.
42. Trong ấy, thế nào là kinh được chấp thuận? Bất cứ kinh nào không do đức Thế Tôn thuyết giảng và kinh ấy chỉ được thấy trong các kinh điển, nên thọ trì kinh ấy như thế này. Cần phải thẩm xét kinh ấy rằng: ‘Kinh này đã được người tên là... thuyết giảng như thế nào?’ Kinh này có thích hợp với sự chấp thuận của đức Thế Tôn chăng, hay là không thích hợp với sự chấp thuận? Một vài kinh có hình thức thích hợp với sự chấp thuận của đức Thế Tôn, và một vài kinh có hình thức không thích hợp với sự chấp thuận. Bất cứ kinh nào mà bậc Thập Lực thuyết giảng về cảnh giới (trí tuệ) mà không hoàn toàn đi xuống (tà kiến), tất cả kinh ấy không thích hợp với sự chấp thuận của đức Thế Tôn. Có vị thinh văn biết cảnh giới của các bậc Thập Lực một cách có giới hạn hoặc không có giới hạn, nhưng vị thinh văn ấy không biết hoàn toàn về năng lực ấy; được gọi là biết do nghe từ người khác. Giống như trưởng lão Sāriputta đã giáo huấn bà-la-môn Jayana, vị trưởng lão ấy không có trí tuệ đặc biệt về quyền và lực, do đó, không biết rằng đức Phật là bậc tối thượng hơn các cá nhân khác và sự tối thượng ấy, khi có phận sự cao hơn cần phải làm, đã được phát sinh, vị ấy đã bị đức Thế Tôn khiển trách. Hoặc giống như trưởng lão Mahākassapa giáo huấn người cháu, người đã thành tựu định vô gián, không hiển thị các ngón tay bằng thần thông biến hóa, trí tuệ nào biết đúng như thật về nguyên nhân và cơ sở của tất cả các pháp và các sự thọ trì nghiệp, trí tuệ ấy hiện hữu nơi vị trưởng lão ấy, do đó ngài giáo huấn người cháu ấy, đức Thế Tôn xem như là (chính Ngài) đã làm việc ấy.
‘‘Sacepi dasa pajjote, dhārayissasi kassapa;
Neva dakkhati rūpāni, cakkhu tassa na vijjatī’’ti.
“Even if you should hold ten lamps, Kassapa, he will still not see forms, for the eye is not present in him.”
Này Kassapa, nếu ngươi có thể mang mười ngọn đèn, người ấy không có mắt, do đó không thể thấy các sắc.
Api ca kho yathā dūto rājavacanena sattamanusāsati, evaṃ sesānugo aññātakaṃ ghosaṃ paresaṃ deseti. Anuññātakhamasuttaṃ gahetabbaṃ. Ananuññātakhamaṃ na gahetabbaṃ.
Furthermore, just as a messenger instructs the people by the king's word, so too does one teach the known doctrine to others, in accordance with their faculties. A sutta that is suitable for approval should be accepted. One that is not suitable for approval should not be accepted.
Hơn nữa, giống như sứ giả giáo huấn chúng sanh bằng lời của vua, cũng vậy, những người còn lại tùy theo căn cơ mà thuyết giảng lời dạy đã được biết cho người khác. Nên thọ trì kinh thích hợp với sự chấp thuận. Không nên thọ trì kinh không thích hợp với sự chấp thuận.
Tattha katamo suttasaṅkaro? Pañcavidhaṃ suttaṃ, saṃkilesabhāgiyaṃ vāsanābhāgiyaṃ dassanabhāgiyaṃ bhāvanābhāgiyaṃ asekkhabhāgiyaṃ. Aññaṃ ārādheyya aññaṃ deseti aññassa ca suttassa atthaṃ aññamhi sutte niddisati. Suttassa vā hi anekākāraṃ atthaṃ niddisati. Ariyadhammasādhane atthaṃ vivarati. Vāsanābhāgiyassa atthaṃ dassanabhāgiyesu niddisati. Orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ atthaṃ uddhaṃbhāgiyesu niddisati. Mudumajjhānaṃ indriyānaṃ adhimattesu suttesu niddisati. Iti ayaṃ suttaṃ sambhedaṃ hetunā ca nissandena ca phalena ca niddesena ca mudumajjhādhimattatāyapi ca atthena ca byañjanena ca yo sambhedo, ayaṃ vuccati suttasaṅkaro. Yo asambhedo, ayaṃ vuccati suttavicayo.
Among these, what is the confusion of suttas? The sutta is of five kinds: pertaining to defilement, pertaining to habitual tendencies, pertaining to vision, pertaining to development, and pertaining to one beyond training. One might accomplish one thing and teach another, and indicate the meaning of one sutta in another sutta. Or indeed, one might indicate the meaning of a sutta in many ways. One explains the meaning in the accomplishment of the noble Dhamma. One indicates the meaning of what pertains to habitual tendencies in suttas pertaining to vision. One indicates the meaning of the lower fetters in suttas pertaining to the higher fetters. One indicates the meaning concerning the soft and medium faculties in suttas for those with keen faculties. Thus, whatever confusion there is of this sutta—by cause, by consequence, by fruit, by exposition, by the state of being soft, medium, and keen, and by meaning and by phrasing—this is called the confusion of suttas. Whatever is not a confusion, this is called the investigation of suttas.
Trong ấy, thế nào là sự hỗn tạp của kinh? Kinh có năm loại: kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tập khí, kinh thuộc phần kiến, kinh thuộc phần tu, và kinh thuộc phần vô học. Mong muốn điều khác, lại thuyết giảng điều khác, và chỉ ra ý nghĩa của một kinh trong một kinh khác. Hoặc chỉ ra ý nghĩa có nhiều hình thức của kinh. Mở bày ý nghĩa trong việc thành tựu thánh pháp. Chỉ ra ý nghĩa của kinh thuộc phần tập khí trong các kinh thuộc phần kiến. Chỉ ra ý nghĩa của các kiết sử thuộc hạ phần trong các kinh thuộc thượng phần. Chỉ ra (ý nghĩa) của các căn mềm và trung bình trong các kinh (dành cho người có) căn bén nhạy. Như vậy, sự hỗn tạp nào của kinh có do nhân, do hệ quả, do quả, do sự chỉ dẫn, do (căn) mềm-trung-bén, do ý nghĩa, và do văn tự, sự hỗn tạp này được gọi là sự hỗn tạp của kinh (suttasaṅkara). Sự không hỗn tạp nào, sự ấy được gọi là sự phân tích kinh (suttavicaya).
Tatthāyaṃ uddānagāthā
Therein, this is the summary verse:
Đây là kệ tóm lược về các vấn đề ấy:
Purimānaṃ akkhaṇḍaṃ, yathābhūtassa paccayo;
Nissando vāsanāsaddhi, anuññā suttasaṅkaro.
The unbroken sequence of the preceding, the condition for what is in accordance with reality, the consequence, the fivefold division of suttas, the approved sutta, and the confusion of suttas.
Kinh không gián đoạn của các kinh trước, nhân của sự như thật, hệ quả, (năm kinh) cùng với phần tập khí, sự chấp thuận, và sự hỗn tạp của kinh.
Therassa mahākaccāyanassa
Of the Elder Mahākaccāyana.
(Tác phẩm) của trưởng lão Mahākaccāyana.