Bản dịch
PE 3 — Lãnh Vực Thứ Ba: Sự Xác Định Kinh
3. Suttādhiṭṭhānatatiyabhūmi
Ở đấy, sự xác định Kinh là gì? Sự xác định tham, sự xác định sân, sự xác định si, sự xác định vô tham, sự xác định vô sân, sự xác định vô si, sự xác định thân nghiệp, sự xác định khẩu nghiệp, sự xác định ý nghiệp, sự xác định tín quyền, sự xác định tấn quyền, sự xác định niệm quyền, sự xác định định quyền, sự xác định tuệ quyền.
(1). Ở đấy, sự xác định tham là gì?
1. “Đối với người có sự suy tầm bị khuấy động, đối với kẻ có luyến ái mãnh liệt, đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp, tham ái gia tăng nhiều hơn nữa; kẻ ấy quả nhiên làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc.” ‘Đối với người có sự suy tầm bị khuấy động’ là sự luyến ái ở các dục. ‘Đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp’ là vật dục. ‘Tham ái tăng trưởng nhiều hơn nữa’ là tham ái về dục. ‘Kẻ ấy làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc’ là sự luyến ái. Như thế, mỗi một pháp nào được trình bày là gốc rễ, chính pháp ấy nên được cho học tập ở đây. Đức Thế Tôn không nỗ lực một pháp (khác) và chỉ bảo một pháp khác. Đối với kẻ nào có sự suy tầm về dục, Ngài suy tầm và diễn giải chính sự suy tầm ấy theo sự suy tầm về dục. ‘Đối với kẻ có luyến ái mãnh liệt,’ Ngài diễn giải nền tảng của chính sự suy tầm ấy. ‘Tham ái gia tăng nhiều hơn nữa đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp,’ Ngài diễn giải chính sự luyến ái ấy là ‘sự tham ái về dục.’ ‘Kẻ ấy làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc,’ Ngài diễn giải chính điều ấy là sự ràng buộc của tham ái. Nên đánh giá về các kệ ngôn như vậy, về các thể loại veyyākaraṇa như vậy. Ở đấy, đức Thế Tôn diễn giải một pháp theo ba cách: theo hệ quả, theo nguyên nhân, theo quả báo.
2. “Người bố thí trở nên đáng yêu, số đông gần gũi người ấy. Người ấy đạt được tiếng tăm, và danh vọng tăng trưởng. Người ấy đi vào tập thể với trạng thái không xấu hổ, được tự tin, là người không bỏn xẻn.” ‘Người bố thí’ bất cứ vật thí nào, đây là việc làm phước thiện có yếu tố tạo thành là vật thí. Ở đấy, nhân là điều này. ‘Số đông gần gũi người ấy. Người ấy đạt được tiếng tăm’ là tiếng đồn tốt đẹp lan truyền ở thế gian và đối với số đông người, (người ấy) trở nên đáng yêu và hợp ý, và việc người ấy qua đời không có sự ăn năn; điều này là hệ quả. Việc người ấy, khi tan rã thân xác, sanh lên ở chư Thiên, điều này là quả báo. Đây là sự xác định tham.
(2). Ở đấy, sự xác định sân là gì?
3. “Kẻ nào giết hại sanh mạng, và nói lời dối trá, lấy vật không được cho ở thế gian, và đi đến với vợ của người khác, và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men …
4. Kẻ không dứt bỏ năm thù oán được gọi là ‘có giới tồi,’ khi tan rã thân xác, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”
‘Kẻ nào giết hại sanh mạng’: kẻ xấu xa giết hại sanh mạng. ‘Và nói lời dối trá’: và nói lời dối trá do tình trạng phá hại bởi sân. ‘Và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men’: sân là căn nguyên. Và kẻ nào đam mê việc uống rượu và chất lên men, (kẻ ấy) tạo nên những người thù địch, giống như kẻ sống với vợ của người khác.
‘Kẻ không dứt bỏ năm thù oán’: sự vượt qua năm điều học, điều ấy là sự mô tả đối với tất cả các sự việc đã được sanh lên do sân, do chính nghiệp đã được sanh lên do sân ấy ‘được gọi là có giới tồi;’ pháp ấy cũng nên được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.
“Ba tướng trạng ngu của kẻ ngu: nói lời nói xấu xa, nghĩ ý nghĩ xấu xa, và làm hành động xấu xa.” Ở đấy, (kẻ ấy) nỗ lực một việc bằng thân và bằng khẩu, đây là việc ‘làm hành động xấu xa’ của người này; ở đấy, giống như việc (kẻ ấy) nói lời dối trá như đã được diễn giải ở trên, đây là việc ‘nói lời xấu xa’ của người này; và việc (kẻ ấy) suy tư về oán hận, uế hạnh về ý, đây là việc ‘nghĩ ý nghĩ xấu xa’ của người này. Việc kẻ ấy, được đầy đủ với ba tướng trạng ngu này, gánh chịu ba loại khổ, ưu sanh lên từ việc ấy, và kẻ ấy đi đến cuộc họp hoặc đi đến hội chúng, họ nói về câu chuyện sanh lên từ việc ấy. Khi xảy ra mười đường lối tạo nghiệp bất thiện như việc giết hại sanh mạng, v.v… kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy.
Còn có việc khác nữa, khi nhìn thấy kẻ trộm phạm lỗi với đức vua, bị đức vua bắt giữ, bị tước đoạt mạng sống, kẻ ấy suy nghĩ như sau: ‘Nếu đức vua biết luôn cả ta, đức vua có thể cho bắt luôn cả ta, rồi có thể tước đoạt mạng sống của ta.’ Kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy.
Còn có việc khác nữa, ‘kẻ ngu khi đã trèo lên ghế ngồi’ ... cho đến ... ‘cảnh giới sẽ dành cho ta sau khi giã từ nơi đây và chết đi,’ kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy. Như thế, tướng trạng ngu là nguyên nhân, ba khổ sanh lên từ việc ấy là hệ quả, do sự hoại rã của thân (kẻ ấy) sanh lên ở các địa ngục là quả báo.
Đây là sự xác định sân.
(3). Ở đấy, sự xác định si là gì?
5. “Kẻ sẽ luân hồi đến một trăm ngàn kiếp, hoặc sẽ đi đến từ bào thai (này) đến bào thai (khác) nhiều hơn thế nữa.
6. Không chấp nhận lời dạy của đức Phật, chấp thủ các hành là tự ngã, những kẻ ấy sẽ thực hiện sự chấm dứt của khổ, sự kiện này không xảy ra.”
Người này đây, đã bị rơi vào luân hồi không biết được điểm khởi đầu, bị sanh và bị chết; người này có vô minh làm nhân. Luôn cả các việc liên quan đến các hành, các việc ấy đều có vô minh làm duyên. Việc không thấy được lời dạy của đức Phật đã được diễn giải ở Kinh về vô minh. Và kẻ nào cho rằng các hành là tự ngã, kẻ ấy đi đến năm tà kiến về năm uẩn: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta;’ đây là Kinh trình bày về vô minh, trưng bày về vô minh. Như vậy, bậc Đạo Sư diễn giải các Kinh theo phương pháp, đúng pháp, theo tính chất không phổ biến, chính điều ấy nên được diễn giải ở đấy, không phải cái khác.
“Này các tỳ khưu, bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào không nhận biết rằng: ‘Đây là Khổ’” (bốn Chân Lý với chi tiết). Ở đấy, việc không nhận biết ‘đây là Khổ,’ điều này là nguyên nhân. Người không nhận biết thì tạo tác các sự tạo tác nhiều loại, điều này là hệ quả. Và người bám víu các tà kiến (cho rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,’ điều này là hệ quả. Việc (kẻ ấy) làm hạ sanh sự hiện hữu lần nữa, điều này là quả báo. Pháp này đã được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.
Hơn nữa, ở đây, một số pháp nào đó là phổ biến. Nguyên nhân đương nhiên sẽ được trình bày ở Kinh ngay từ ban đầu. Giống như điều gì? “Này các tỳ khưu, đây là bốn việc đi đến sự thiên vị.” Ở đấy, kẻ đi đến sự thiên vị vì mong muốn, đi đến sự thiên vị vì sợ hãi, đây là bất thiện căn tham. Việc do sân hận chính là sân, việc do si mê chính là si. Ba bất thiện căn này nên được khảo sát ngay từ ban đầu như vậy. Ở nơi nào một (yếu tố) có thể được diễn giải thì ở nơi đó một (yếu tố) được diễn giải. Hai (yếu tố) là tương tự, ba (yếu tố) là tương tự. Bởi vì, khi không được trình bày ở phần đầu, thì không nên được diễn giải, dầu là nguyên nhân, là hệ quả, hay là quả báo.
Và ở trường hợp này, đây là câu kệ:
7. Vị nào vượt quá Giáo Pháp vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê, danh tiếng của vị ấy bị hủy hoại, ví như mặt trăng vào lúc hạ huyền.” Ở đấy, mong muốn là tham, như đã được diễn giải ở trên.
Đây là sự xác định si.
(4). Ở đấy, sự xác định vô tham là gì?
8. “Trong khi sống có sự quan sát về bất tịnh, khéo thu thúc ở các giác quan, và biết chừng mực về vật thực, có niềm tin, có sự ra sức tinh tấn, Ma Vương quả nhiên không ngự trị người ấy, ví như cơn gió (không đè bẹp được) ngọn núi đá.” Ở đấy, việc khảo sát về bất tịnh là sự buông bỏ thông qua việc nhìn thấy sự bất lợi ở các dục. Vị khéo thu thúc ở các giác quan để không còn chấp thủ (rằng): ‘Các xứ của ta chiếu sáng’ trong việc bổ túc pháp vô tham cho chính vị ấy. ‘Và biết chừng mực về vật thực’ là sự dứt bỏ tham ái ở các vị nếm. Như thế, vô tham này được xem là nền tảng trong việc quan sát về bất tịnh; vô tham ấy là nguyên nhân. Nó được xem là hành xứ trong việc phòng vệ các giác quan, được xem là yếu tố khác trong việc chừng mực về vật thực; đây là hệ quả. ‘Ma Vương quả nhiên không ngự trị người ấy, ví như cơn gió (không đè bẹp được) ngọn núi đá’ là quả báo. Như thế, pháp nào được trình bày ở phần đầu, cũng chính pháp ấy là ở phần giữa và ở phần cuối. “Này các tỳ khưu, Ta không nhận thấy một pháp nào khác đưa đến việc không sanh khởi sự mong muốn về dục chưa được sanh khởi, hoặc đưa đến việc dứt bỏ (sự mong muốn về dục) đã được sanh khởi, như là hiện tướng của bất tịnh.” Ở đấy, (đối với vị đang quan sát) hiện tướng của bất tịnh, sự mong muốn về dục chưa sanh khởi không được sanh khởi, sự mong muốn về dục đã sanh khởi được dứt bỏ. Đây là nền tảng của vô tham. Sự luyến ái về dục không sanh khởi lại nữa làm giảm dần sự luyến ái ở sắc, đến sự luyến ái ở vô sắc; như thế là quả báo. Như thế, pháp này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. Đây là sự xác định vô tham.
(5). Ở đấy, sự xác định vô sân là gì?
9. “Nếu người có tâm không xấu xa khởi tâm từ đến chỉ một sinh mạng, do việc ấy trở nên tốt lành, thì bậc Thánh tạo ra phước thiện vô số, trong khi có tâm thương tưởng đến tất cả các sinh mạng.” ‘Nếu người có tâm không xấu xa khởi tâm từ đến chỉ một sinh mạng’: đây là vô sân, là sự hứng thú với việc diệt trừ (sân). ‘Do việc ấy trở nên tốt lành’: người gắn bó với pháp tốt lành ấy đi đến sự nhận định về pháp là: ‘tốt lành,’ (!) giống như tuệ do sự nhận biết, sáng trí do sự thông thái. ‘Bậc Thánh tạo ra phước thiện vô số’: quả thành tựu của việc (phước thiện) ấy là thuộc về hợp thế, không thuộc về xuất thế. Ở đấy, việc khởi tâm từ –là nguyên nhân, việc (người ấy) trở nên tốt lành –là hệ quả, cho đến việc (người ấy) tạo ra nhiều phước thiện ở lãnh vực không oán hận –là quả báo. Như thế, vô sân được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. “Mười một lợi ích do sự giải thoát của tâm thông qua từ ái.” Ở đấy, sự giải thoát của tâm thông qua từ ái, việc này ở các pháp của bậc Thánh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái có nền tảng thuộc hợp thế —là nguyên nhân; việc có sự an lạc ở tương lai, hợp ý đối với nhiều người, mười một pháp này là hệ quả. Và vị chưa hoàn thành (phẩm vị A-la-hán) sanh lên ở tập thể Phạm Thiên —là quả báo. Đây là sự xác định vô sân.
(6). Ở đấy, sự xác định vô si là gì?
10. “Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, cái này dẫn đến sự thấu triệt, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử.”
‘Chính tuệ là tối thượng’ là nền tảng. ‘Dẫn đến sự thấu triệt’: nó thấu triệt đúng theo thực thể trong việc đưa đến Niết Bàn. ‘Nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử’ là vô si. ‘Tuệ’ là nguyên nhân, cái mà (vị ấy) nhận biết là hệ quả, ‘sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử’ là quả báo. Như thế, vô si được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.
Này các tỳ khưu, đây là ba quyền: Vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền. Ở đấy, vị tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm nhằm lãnh hội Chân Lý Tối Thượng về Khổ chưa được lãnh hội. (Nên được thực hiện như vậy đối với bốn Chân Lý Cao Thượng.) Ở đấy, dĩ tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Chân Lý Cao Thượng về Khổ,’ (cho đến các pháp,) đây là dĩ tri quyền. Do sự diệt trừ các lậu hoặc, là bậc Vô Lậu, đây được gọi là cụ tri quyền. Tương tự, tuệ là nguyên nhân. Việc vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, việc vị ấy nhận biết, điều này là hệ quả. Do điều ấy, có sự diệt trừ toàn bộ các lậu hoặc, điều này là nguyên nhân. Trí về sự diệt trừ được sanh khởi, và trí về sự không còn tái sanh, điều này là hệ quả. Phẩm vị A-la-hán là quả báo. Ở đấy, ‘Sự (tái) sanh của ta đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm’ là trí về sự diệt trừ. ‘Ta nhận biết rằng:Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa’ là trí về sự không còn tái sanh. Các quyền này là như thế. Vô si được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo. Các pháp không phổ biến này đã được diễn giải.
Ở đấy, các thiện căn phổ biến là những gì? “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về thiện và gốc rễ của thiện.” Ở đấy, cái gì là gốc rễ của thiện? Vô tham, vô sân, vô si. Ở đấy, cái gì là thiện? Tám trạng thái chân chánh, chánh kiến ... cho đến ... chánh định. Ở đấy, các gốc rễ của thiện là nguyên nhân. Và vô tham làm sanh khởi ba hành động: (chánh) tư duy, (chánh) tinh tấn, và (chánh) định; điều này là hệ quả của vô tham. Ở đấy, vô sân là nguyên nhân. Nó thành lập ba pháp: chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng; điều này là hệ quả. Ở đấy, vô si là nguyên nhân. Nó thiết lập hai pháp: việc nhìn thấy không bị sai lệch và việc không nói nhảm; điều này là hệ quả. Quả báo của Phạm hạnh này là hai sự giải thoát: sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh; điều này là quả báo. Như thế, ba thiện căn này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. Các thiện phổ biến nên được thấu triệt như vậy ở nơi có hai (căn thiện), ở nơi có ba (căn thiện).
Và ở trường hợp này, đây là câu kệ:
11. “Bậc Hiền Trí đã buông bỏ sự tạo tác dẫn đến hữu, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được. Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh, Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã, tựa như phá tan tấm áo giáp.”
‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được’: cái được tạo tác đo lường được và cái được tạo tác không đo lường được. Ở đấy, những cái được tạo tác đo lường được là hai pháp: sự hứng thú và sự bất lợi, chúng là được đo lường: ‘Sự hứng thú ở các dục là chừng này, sự bất lợi của cái này là chừng này, (còn) đây là sự thoát ra,’ vị nhận biết về Niết Bàn là như thế.
Cái không đo lường được là không thể đo lường bởi hai lý do: ‘Cái ấy là chừng này, cái ấy là không có cái khác,’ vì thế, là cái không đo lường được, rồi đã tạo ra ‘Niết Bàn là bảo vật’ với bản chất kỳ diệu là pháp không đo lường được. Ở đấy, nguồn sanh khởi của thiện là sự biết và sự thấy; đây là vô si. Ở đấy, sự buông bỏ đối với các sự tạo tác dẫn đến hữu là đã được biết; điều này là vô tham. Việc ‘vui thích ở nội tâm, được định tĩnh’ là sự ngăn chặn trạng thái tán loạn; điều này là vô sân. Như thế, đây là ba gốc rễ của thiện. ‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được,’ điều này là vô si. Sự hội tụ của các sự tạo tác dẫn đến hữu là tham, sự hứng thú đối với các chánh định, điều này là nguyên nhân. Việc ‘vui thích ở nội tâm,’ việc phá vỡ vỏ trứng vô minh, điều này là hệ quả. Đó là sự vận hành. Ba thiện căn này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo.
‘Cho đến chừng này, đây là sự vận hành và sự đình chỉ. Nó vận hành bởi các bất thiện căn, nó đình chỉ bởi các thiện căn;’ như thế tất cả bất thiện đi đến sự hội tụ với ba (căn) này. Cái ấy (ô nhiễm) có thể được diễn giải theo ngôn từ ở Giáo Pháp là: ‘tham ái,’ hoặc ‘giận dữ,’ hoặc ‘không nhận biết rõ,’ hoặc ‘tiềm ẩn,’ hoặc ‘gièm pha,’ hoặc ‘ác ý,’ hoặc ‘thất niệm,’ hoặc ‘ganh tỵ,’ hoặc ‘bỏn xẻn,’ hoặc ‘sự không biết,’ và chúng nên được diễn giải theo ba nền tảng ấy. Hai ngôn từ này (bất thiện căn và thiện căn) là thuật ngữ của Giáo Pháp đã được diễn giải không phải là ô nhiễm; cái đi đến sự liên kết, sự hội tụ ở chín thuật ngữ này là ô nhiễm, (ô nhiễm này) không phải là tham, không phải là sân, và không phải là si. Giống như các bất thiện căn, các thiện (căn) nên được diễn giải theo cách đối nghịch như vậy. Đây là sự xác định vô si.
(7). Ở đấy, sự xác định thân nghiệp là gì?
12. “Nên làm việc tốt lành bằng thân, nên thu thúc bằng thân, sau khi từ bỏ uế hạnh về thân, nên thực hành thiện hạnh về thân.” “Này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh về thân: tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa tà hạnh ở các dục;” đây là sự xác định thân nghiệp.
(8). Ở đấy, sự xác định khẩu nghiệp là gì?
13. “Các bậc đức độ đã nói: Lời khéo nói là tối thượng. Nên nói lời chính đáng, không phải sái quấy; điều ấy là thứ nhì. Nên nói lời khả ái, không phải không khả ái; điều ấy là thứ ba. Nên nói lời chân thật, không giả dối; điều ấy là thứ tư.” “Và đây là bốn thiện hạnh về khẩu.” Đây là sự xác định khẩu nghiệp.
(9). Ở đấy, sự xác định ý nghiệp là gì?
14. “Nên làm việc tốt lành bằng ý, nên thu thúc về ý, sau khi từ bỏ uế hạnh về ý, nên thực hành thiện hạnh về ý.” “Đây là ba thiện hạnh về ý: không tham đắm, không oán hận, chánh kiến.” Đây là sự xác định ý nghiệp. Đây là các Kinh không phổ biến.
Ở đấy, các Kinh phổ biến là những gì?
15. “Người có sự gìn giữ lời nói, đã khéo thu thúc về ý, và không nên làm việc bất thiện bằng thân, nên làm trong sạch ba đường lối tạo nghiệp này, nên thành đạt đạo lộ đã được tuyên thuyết bởi các bậc Ẩn Sĩ.”
“Này các tỳ khưu, đây là ba sự thanh tịnh: thanh tịnh của thân nghiệp, thanh tịnh của khẩu nghiệp, thanh tịnh của ý nghiệp. Ở đấy, thanh tịnh của thân nghiệp là gì? Tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa tà hạnh ở các dục. Ở đấy, thanh tịnh của khẩu nghiệp là gì? Tránh xa việc nói dối, –nt– tránh xa việc nói nhảm nhí. Ở đấy, thanh tịnh của ý nghiệp là gì? Không tham đắm, không oán hận, chánh kiến.” Đây là Kinh phổ biến.
Các Kinh phổ biến và các Kinh không phổ biến nên được thấu triệt như thế. Sau khi thấu triệt, ý nghĩa của Kinh nên được diễn giải thông qua khẩu và thông qua thân.
(10). Ở đấy, sự xác định tín quyền là gì?
16. “Người nào có niềm tin không bị dao động, đã khéo được thiết lập ở đức Như Lai, và giới của người nào là tốt đẹp, được các bậc Thánh yêu thích, được ca ngợi.
17. Người nào có sự tịnh tín ở Tăng Chúng và có sự nhận thức được ngay thẳng, các vị đã nói về người ấy rằng: ‘Không bị nghèo khó,’ mạng sống của người ấy không phải là rỗng không.
18. Đức tin quả thật là niềm vui, sự thành đạt của chúng tôi là: ‘Vị ấy có đức tin,’ ‘có thể là trọn vẹn’ đối với đức Thế Tôn, sự tịnh tín đối với Giáo Pháp là có hình thức như thế ấy.” Đây là sự xác định tín quyền.
(11). Ở đấy, sự xác định tấn quyền là gì?
19. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.” “Này các tỳ khưu, đây là bốn chánh cần.” Đây là sự xác định tấn quyền.
(12). Ở đấy, sự xác định niệm quyền là gì?
20. “Điều tốt lành luôn luôn thuộc về người có niệm, người có niệm thành đạt hạnh phúc. Đối với người có niệm (sẽ) mỗi ngày một tốt hơn, (nhưng người ấy) không hoàn toàn thoát khỏi sự thù hận.”
“Bốn sự thiết lập niệm” nên được thực hiện với chi tiết. Đây là sự xác định niệm quyền.
(13). Ở đấy, sự xác định định quyền là gì?
21. “Bạch đấng Điều Ngự Trượng Phu, chư Thiên, nhân loại, tất cả chúng sinh không thể biết về các đề mục của Ngài trong khi Ngài thực hành định an tịnh không ô nhiễm, về điều được suy nghĩ bởi ý của Ngài trong khi Ngài mong muốn. ‘Điều mà đức Thế Tôn mong muốn ấy là điều gì?’”
“Này các tỳ khưu, đây là ba định: có tầm có tứ, không tầm có tứ, không tầm không tứ.” Đây là sự xác định định quyền.
(14). Ở đấy, sự xác định tuệ quyền là gì?
22. “Bởi vì tuệ là tối thượng ở thế gian, …” với chi tiết. “Này các tỳ khưu, đây là ba tuệ: tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được nghe (tuệ văn), tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được suy tính (tuệ tư), tuệ có yếu tố tạo thành do việc tu tập (tuệ tu).”
Đây là Kinh có sự xác định tuệ quyền. Đây là các Kinh có sự xác định quyền không phổ biến.
Ở đấy, các Kinh có sự xác định quyền phổ biến là những gì?
22. “Vị chưa xa lìa sự luyến ái ở các dục, vị có năm quyền còn yếu kém: tín, niệm, tấn, chỉ tịnh, và minh sát, (kẻ nào) công kích vị tỳ khưu như thế ấy, trước tiên bị tổn hại (chính bản thân).”
‘Đây là năm quyền’: Quyền, bắt đầu với tín quyền, nên được nhìn thấy. Kinh về ba niềm tịnh tín tuyệt đối nên được thực hiện với chi tiết. Đây là các Kinh có sự xác định các quyền phổ biến. Kinh ấy nên được diễn giải theo mỗi một sự xác định có sự kết nối với thiện hoặc bất thiện. Không có pháp nào khác cần được diễn giải. Ở đấy, thiện là phổ biến, thậm chí không phải là thiện thì là bất thiện, giống như có các thiện căn phổ biến và có các bất thiện căn phổ biến: vị dứt bỏ sự suy tầm về dục đã được sanh khởi –nt– bốn chánh cần, thiện và bất thiện.
Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược:
1. Người bị khuấy động có sự suy tầm,người bố thí trở nên đáng yêu, kẻ nào giết hại sanh mạng, ba tướng trạng của kẻ ngu.
2. Một trăm ngàn, và các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào, và do bốn sự thiên vị: vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê,
3. Trong khi sống có sự quan sát về bất tịnh, hiện tướng của bất tịnh là tương tự, nếu chỉ một sinh mạng được yêu quý, và luôn cả tâm từ đã khéo được tu tập.
4. Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, ba quyền là: Vị tri …, các gốc rễ của thiện và bất thiện, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được.
5. Nên làm việc tốt lành bằng thân, và ba thiện hạnh, các vị đã nói: Lời khéo nói là tối thượng, và (bốn) thiện hạnh về khẩu.
6. Nên làm việc tốt lành bằng ý, và các thiện hạnh về ý, người có sự gìn giữ lời nói, (đã khéo thu thúc) về ý, và ba sự thanh tịnh.
7. Người nào có niềm tin ở đức Như Lai, và ở sự sanh khởi đã được chỉ bảo, các người hãy nỗ lực hãy cố gắng, và trạng thái bốn chánh cần.
8. Điều tốt lành luôn luôn thuộc về người có niệm, sự tu tập về thiết lập niệm, điều không thể biết về điều Ngài đang mong muốn, và luôn cả ba loại định.
9. Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, ba tuệ đã được bày tỏ, vị chưa xa lìa sự luyến ái ở các dục, năm quyền bắt đầu với tín quyền.
Lãnh vực thứ ba - Sự Xác Định Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tattha katamaṃ lobhādhiṭṭhānaṃ?
Herein, what is the establishment of greed?
Trong đó, nền tảng tham là gì?
Vitakkamathitassa † jantuno, tibbarāgassa subhānupassino;
Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati, esa kho gāḷhaṃ karoti bandhanaṃ.
For a being tormented by thoughts, of intense passion, contemplating the beautiful, craving grows all the more; this one indeed makes the bondage strong.
Đối với chúng sanh bị khuấy động bởi tầm, có tham ái mãnh liệt, thường quán thấy tịnh tướng; Ái dục lại càng tăng trưởng, chính người này làm cho sự trói buộc trở nên kiên cố.
Vitakkamathitassāti kāmarāgo. Subhānupassinoti kāmarāgavatthu. Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhatīti kāmataṇhā. Esa gāḷhaṃ karoti bandhananti rāgaṃ, iti yo yo dhammo mūlanikkhitto, so yevettha dhammo uggāvahitabbo †. Na bhagavā ekaṃ dhammaṃ ārabbha aññaṃ dhammaṃ deseti. Yassa vitakketi kāmavitakko tameva vitakkaṃ kāmavitakkena niddisīyati. Tibbarāgassāti tasseva vitakkassa vatthuṃ niddisati. Subhānupassino bhiyyo taṇhā pavaḍḍhatīti tameva rāgaṃ kāmataṇhāti niddisati. Esa gāḷhaṃ karoti bandhananti tameva taṇhāsaṃyojanaṃ niddisati. Evaṃ gāthāsu anuminitabbaṃ. Evaṃ saveyyākaraṇesu.
"Tormented by thoughts" refers to sensual passion. "Contemplating the beautiful" refers to the object of sensual passion. "Craving grows all the more" refers to sensual craving. "This one makes the bondage strong" refers to passion. Thus, whatever phenomenon is established as the root, that very phenomenon should be discerned here. The Blessed One does not teach one phenomenon based on another phenomenon. For one who thinks a sensual thought, that very thought is indicated by 'sensual thought.' "Of intense passion" indicates the object of that very thought. "For one contemplating the beautiful, craving grows all the more" indicates that very passion as 'sensual craving.' "This one makes the bondage strong" indicates that very fetter of craving. Thus it should be inferred in the verses. Likewise in the prose explanations.
“Bị khuấy động bởi tầm” là dục tham. “Thường quán thấy tịnh tướng” là đối tượng của dục tham. “Ái dục lại càng tăng trưởng” là dục ái. “Chính người này làm cho sự trói buộc trở nên kiên cố” là tham ái. Như vậy, pháp nào được đặt làm gốc, chính pháp ấy nên được rút ra ở đây. Đức Thế Tôn không thuyết một pháp khác khi đề cập đến một pháp. Vị nào khởi lên dục tầm, chính tầm ấy được chỉ rõ bằng dục tầm. “Có tham ái mãnh liệt” chỉ rõ đối tượng của chính tầm ấy. “Đối với người thường quán thấy tịnh tướng, ái dục lại càng tăng trưởng” chỉ rõ chính tham ái ấy là dục ái. “Chính người này làm cho sự trói buộc trở nên kiên cố” chỉ rõ chính kiết sử ái dục ấy. Nên suy luận như vậy trong các câu kệ. Cũng như vậy trong các đoạn văn xuôi.
Tattha bhagavā ekaṃ dhammaṃ tividhaṃ niddisati, nissandato hetuto phalato.
Therein the Blessed One indicates one phenomenon in three ways: by way of consequence, by way of cause, and by way of fruit.
Ở đây, Đức Thế Tôn trình bày một pháp theo ba phương diện: theo hệ quả, theo nhân, và theo quả.
Dadaṃ piyo † hoti bhajanti naṃ bahū, kittiñca pappoti yaso ca vaḍḍhati;
Amaṅkubhūto parisaṃ vigāhati, visārado hoti naro amaccharī.
One who gives is dear, many associate with him; he obtains fame, and his renown increases. Unabashed, he enters an assembly; a man without stinginess becomes confident.
Người hay cho thì được yêu mến, nhiều người quý trọng, đạt được danh tiếng và uy tín tăng trưởng; không rụt rè, người ấy đi vào hội chúng, người không keo kiệt trở nên tự tin.
Dadanti yaṃ yaṃ dānaṃ, idaṃ dānamayikaṃ puññakriyaṃ. Tattha hetu. Yaṃ cetaṃ. Bhajanti naṃ bahū, kittinti yo ca kalyāṇo kittisaddo loke abbhuggacchati, yaṃ bahukassa janassa piyo bhavati manāpo ca. Yañca avippaṭisārī kālaṅkaroti ayaṃ nissando. Yaṃ kāyassa bhedā devesu upapajjatīti idaṃ phalaṃ. Idaṃ lobhādhiṭṭhānaṃ.
Whatever gift they give, this is the meritorious action consisting of giving. Herein, that is the cause. That many people associate with him, that the good sound of his fame rises up in the world, that he becomes dear and pleasing to many people, and that he passes away without remorse—this is the consequence. That after the breaking up of the body, he is reborn among the gods—this is the fruit. This is the establishment of non-greed.
Bất cứ sự bố thí nào được thực hiện, đây là phước sự thành tựu do bố thí. Trong đó, đây là nhân. Việc nhiều người quý trọng, tiếng tăm tốt đẹp vang xa trong đời, được nhiều người yêu mến và hài lòng. Việc mệnh chung không hối tiếc, đây là hệ quả. Việc sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào cõi trời, đây là quả. Đây là nền tảng của vô tham.
33. Tattha katamaṃ dosādhiṭṭhānaṃ?
33. Herein, what is the establishment of hatred?
33. Trong đó, thế nào là nền tảng của sân?
Yo pāṇamatipāteti, musāvādañca bhāsati;
Loke adinnaṃ ādiyati, paradārañca gacchati;
Surāmerayapānañca, yo naro anuyuñjati †.
Whoever destroys a living being, and speaks falsehood; takes what is not given in the world, and goes to another's wife; and whatever man is devoted to the drinking of liquor and spirits—
Người nào sát sanh, nói dối, lấy của không cho trong đời, đi đến vợ người, và người nào ham mê uống rượu và các chất say.
Appahāya pañca verāni, dussīlo iti vuccati;
Kāyassa bhedā duppañño, nirayaṃ sopapajjati.
Not having abandoned these five enmities, he is called 'immoral'; on the breaking up of the body, the foolish one is reborn in hell.
Không từ bỏ năm điều oán thù, người ấy được gọi là người ác giới; sau khi thân hoại, người thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.
Yo pāṇamatipātetīti duṭṭho pāṇamatipāteti. Musāvādañca bhāsatīti dosopaghātāya musāvādañca bhāsati. Surāmerayapānañca, yo naro anuyuñjatīti doso nidānaṃ. Yo ca surāmerayapānaṃ anuyuñjati yathāparadāravihārī † amittā janayanti.
"Whoever destroys a living being": being malicious, he destroys a living being. "And speaks falsehood": he speaks falsehood to cause injury. "And whatever man is devoted to the drinking of liquor and spirits": aversion is the source. And for him who is devoted to drinking liquor and spirits, dwelling in delight, enemies are generated.
‘Người nào sát sanh’ nghĩa là người có sân hận thì sát sanh. ‘Và nói dối’ nghĩa là nói dối để làm hại. ‘Và người nào ham mê uống rượu và các chất say’ nghĩa là sân là nguyên nhân. Người nào ham mê uống rượu và các chất say, cũng như người sống với vợ người khác, thì kẻ thù sanh khởi.
Pañca verāni appahāyāti pañcannaṃ bhikkhāpadānaṃ samatikkamanaṃ sabbesaṃ dosajānaṃ sā paṇṇatti, teneva dosajanitena kammena dussīlo iti vuccati sopi dhammo hetunā niddisitabbo, nissandena phalena ca.
"Not having abandoned the five enmities" means the transgression of the five training rules. It is the transgression of all things born of aversion; that is the designation. By that very action born of aversion, one is called 'immoral'. That state, too, should be indicated by its cause, its consequence, and its fruit.
‘Không từ bỏ năm điều oán thù’ nghĩa là sự vi phạm năm học giới, sự vi phạm tất cả các pháp sanh từ sân, đó là định danh. Do chính nghiệp sanh từ sân ấy mà người đó được gọi là ‘người ác giới’. Pháp ấy cũng cần được chỉ ra theo nhân, theo hệ quả, và theo quả.
Tīṇi bālassa bālalakkhaṇāni – dubbhāsitabhāsī † ca hoti, duccintitacintī ca dukkaṭakammakārī ca. Tattha yaṃ kāyena ca vācāya ca parakkamati, idamassa dukkaṭakammakārī. Tāyaṃ yathā ca musāvādaṃ bhāsati yathā pubbaniddiṭṭhaṃ, idamassa dubbhāsitā. Yañca saṅkappeti manoduccaritaṃ byāpādaṃ, idamassa duccintitacintitā. Yaṃ so imehi tīhi bālalakkhaṇehi samannāgato tīṇi tajjāni dukkhāni domanassāni anubhavati, so ca hoti sabhaggato vā parisaggato vā tajjaṃ kathaṃ kathanti. Yadā bhavati so ca pāṇātipātādidasaakusalakammapathā, so tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedetīti. Puna caparaṃ yadā passati coraṃ rājāparādhikaṃ raññā gahitaṃ jīvitā voropetaṃ, tassevaṃ bhavati sace mamampi rājā jāneyya mamampi rājā gāhāpetvā jīvitā voropeyyāti, so tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Puna caparaṃ bālo yadā bhavati āsanā samārūḷho yāva yā me gati bhavissati ito pecca paraṃ maraṇāti so tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti iti bālalakkhaṇaṃ hetu. Tīṇi tajjāni dukkhāni nissando. Kāyassa bhedā nirayesu upapajjati, idaṃ phalaṃ. Idaṃ dosādhiṭṭhānaṃ.
Three are the characteristics of a fool: he speaks badly, thinks badly, and acts badly. Herein, what he undertakes by body and speech, this is his 'acting badly.' As he speaks falsehood as previously indicated, this is his 'speaking badly.' And what he plans—mental misconduct, ill will—this is his 'thinking badly.' Because he is endowed with these three characteristics of a fool, he experiences three corresponding sufferings and sorrows. Whether he has gone to an assembly or a gathering, they speak corresponding talk. When he has the ten unwholesome courses of action, beginning with killing living beings, as his cause, he experiences suffering and sorrow. Furthermore, when he sees a thief, a royal offender, seized by the king and deprived of life, it occurs to him: 'If the king were to know of me, he would have me seized and deprived of life too.' From that cause, he experiences suffering and sorrow. Furthermore, when the fool is on his deathbed, he thinks, 'What will my destination be after death, having passed on from here?' From that cause, he experiences suffering and sorrow. Thus, the characteristics of a fool are the cause. The three corresponding sufferings are the consequence. After the breaking up of the body, he is reborn in the hells—this is the fruit. This is the establishment of aversion.
Có ba đặc điểm của kẻ ngu: nói lời ác, suy nghĩ điều ác, và làm việc ác. Trong đó, việc cố gắng bằng thân và khẩu, đây là việc làm ác của kẻ ấy. Việc nói dối như đã chỉ ra trước đây, đây là lời nói ác của kẻ ấy. Việc toan tính tà hạnh về ý là sân, đây là suy nghĩ điều ác của kẻ ấy. Do được trang bị ba đặc điểm của kẻ ngu này, kẻ ấy trải qua ba loại khổ và ưu tương ứng. Khi kẻ ấy đến hội đồng hay hội chúng, họ nói những lời tương ứng. Khi có mười con đường nghiệp bất thiện như sát sanh v.v..., do đó kẻ ấy cảm nhận khổ và ưu. Lại nữa, khi kẻ ấy thấy một tên trộm phạm tội với vua, bị vua bắt và xử tử, kẻ ấy nghĩ rằng: ‘Nếu vua biết ta, vua cũng sẽ cho bắt ta và xử tử.’ Do đó, kẻ ấy cảm nhận khổ và ưu. Lại nữa, khi kẻ ngu ngồi trên ghế, (nghĩ rằng): ‘Sau khi chết, từ đây đi tái sanh, cảnh giới của ta sẽ ra sao?’ Do đó, kẻ ấy cảm nhận khổ và ưu. Như vậy, đặc điểm của kẻ ngu là nhân. Ba loại khổ tương ứng là hệ quả. Sau khi thân hoại, sanh vào các địa ngục, đây là quả. Đây là nền tảng của sân.
34. Tattha katamaṃ mohādhiṭṭhānaṃ?
34. Herein, what is the establishment of delusion?
34. Trong đó, thế nào là nền tảng của si?
Satañceva sahassānaṃ, kappānaṃ saṃsarissati;
Athavā pi tato bhiyyo, gabbhā gabbhaṃ gamissatha.
For hundreds and for thousands of aeons, one will wander on; or even more than that, from womb to womb you will go.
Trăm ngàn kiếp sẽ luân hồi, hoặc còn nhiều hơn thế nữa, các ngươi sẽ đi từ bụng mẹ này sang bụng mẹ khác.
Anupādāya buddhavacanaṃ, saṅkhāre attato upādāya;
Dukkhassantaṃ karissanti, ṭhānametaṃ na vijjati.
Without grasping the Buddha's word, but grasping formations as self, that they will make an end of suffering—this situation is not possible.
Không chấp thủ lời Phật dạy, mà chấp thủ các hành là tự ngã, rồi có thể chấm dứt khổ, điều đó không thể có.
Yo yaṃ anamataggasaṃsāraṃ samāpanno jāyate ca mīyate ca, ayaṃ avijjāhetukā. Yānipi ca saṅkhārānaṃ payojanāni, tānipi avijjāpaccayāni, yaṃ adassanaṃ buddhavacanassa, ayaṃ avijjāsutteyeva niddiṭṭhaṃ. Yo ca saṅkhāre attato harati pañcakkhandhe pañca diṭṭhiyo upagacchati. ‘‘Etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’’ti idaṃ suttaṃ avijjāya nikkhittaṃ, avijjāya nikkhipitaṃ. Evaṃ satthā sutte nayena † dhammena niddisati. Asādhāraṇena taṃyeva tattha niddisitabbaṃ. Na aññaṃ.
Whoever, having entered this beginningless saṃsāra, is born and dies—this has ignorance as its cause. And whatever results of formations there are, they too are conditioned by ignorance. The non-seeing of the Buddha's word is ignorance; this is indicated in the Sutta itself. And whoever construes formations as self arrives at five views regarding the five aggregates: 'This is mine, this I am, this is my self.' This teaching is established in ignorance, laid down in ignorance. Thus the Teacher indicates in the sutta by method and by principle. That very thing should be indicated there by what is specific to it, not anything else.
Người nào đã đạt đến vòng luân hồi vô thủy này, sanh ra và chết đi, điều này có vô minh làm nhân. Và bất cứ lợi ích nào của các hành, chúng cũng có vô minh làm duyên. Việc không thấy lời Phật dạy, đây là vô minh được chỉ ra trong kinh. Người nào xem các hành là tự ngã, đi đến năm loại tà kiến trong năm uẩn: ‘Cái này là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’, kinh này được đặt trong vô minh, được xếp vào vô minh. Như vậy, bậc Đạo Sư chỉ ra trong kinh bằng phương pháp và pháp. Bằng (phương pháp) không phổ thông, chỉ nên chỉ ra chính điều đó ở đây, không phải điều khác.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘‘idaṃ dukkha’’nti nappajānanti cattāri saccāni vitthārena, yaṃ tattha appajānanā, idaṃ dukkhaṃ, ayaṃ hetu. Appajānanto vividhe saṅkhāre abhisaṅkharoti, ayaṃ nissando. Yañca diṭṭhigatāni parāmasati ‘‘idameva saccaṃ moghamañña’’nti ayaṃ nissando. Yaṃ punabbhavaṃ nibbatteti, idaṃ phalaṃ. Ayampi dhammo saniddiṭṭho hetuto ca phalato ca nissandato ca.
O monks, whatever ascetics or brahmins do not know 'This is suffering' and the four truths in detail—in that teaching, whatever non-understanding there is, this is suffering, and this is the cause. Not knowing, one fabricates various formations; this is the consequence. And that one grasps at views, thinking, 'Only this is true, the other is empty'; this is the consequence. That which causes another existence to arise, this is the fruit. This teaching is also well-explained by way of cause, by way of fruit, and by way of consequence.
Này các Tỳ kheo, bất cứ Sa môn hay Bà la môn nào không biết ‘đây là khổ’ (và ba sự thật còn lại) một cách chi tiết bốn sự thật, sự không biết ở đây, đây là khổ, đây là nhân. Do không biết, người ấy tạo tác các hành đa dạng, đây là hệ quả. Và việc chấp thủ các tà kiến rằng ‘chỉ có điều này là thật, điều khác là vô ích’, đây là hệ quả. Việc tạo ra tái sanh, đây là quả. Pháp này cũng được chỉ ra rõ ràng theo nhân, quả và hệ quả.
Ettha pana keci dhammā sādhāraṇā bhavanti. Hetu khalu āditoyeva sutte nikkhipissanti. Yathā kiṃ bhave cattārimāni, bhikkhave, agatigamanāni. Tattha yañca chandāgatiṃ gacchati yañca bhayāgatiṃ gacchati, ayaṃ lobho akusalamūlaṃ. Yaṃ dosā, ayaṃ dosoyeva. Yaṃ mohā, ayaṃ mohoyeva. Evaṃ imāni tīṇi akusalamūlāni āditoyeva upaparikkhitabbāni. Yattha ekaṃ niddisitabbaṃ, tattha ekaṃ niddisīyati. Tathā dve yathā tīṇi, na hi ādīhi anikkhitte hetu vā nissando vā phalaṃ vā niddisitabbaṃ.
However, in this teaching, some phenomena are common. Indeed, the cause will be set forth in the sutta from the very beginning. How so? 'O monks, in existence, there are these four wrong courses. In that regard, whatever going to the wrong course of desire there is, and whatever going to the wrong course of fear there is, this is the unwholesome root of greed. Whatever is from hatred, this is hatred itself. Whatever is from delusion, this is delusion itself.' Thus, these three unwholesome roots should be investigated from the very beginning. Where one should be pointed out, one is pointed out. Just as three are, so too are two. Indeed, if it is not set forth from the beginning, neither the cause, nor the consequence, nor the fruit should be pointed out.
Tuy nhiên, ở đây một số pháp là phổ thông. Nhân chắc chắn sẽ được đặt ngay từ đầu trong kinh. Ví như: Này các Tỳ kheo, có bốn con đường sai lạc này trong đời. Trong đó, việc đi theo con đường sai lạc do tham muốn và việc đi theo con đường sai lạc do sợ hãi, đây là tham, là gốc bất thiện. Việc (đi sai lạc) do sân, đây chính là sân. Việc (đi sai lạc) do si, đây chính là si. Như vậy, ba gốc bất thiện này cần được xem xét ngay từ đầu. Nơi nào cần chỉ ra một, thì một được chỉ ra. Tương tự, hai cũng như ba. Vì nếu không được đặt ở đầu, thì nhân, hệ quả, hay quả không nên được chỉ ra.
Ayañcettha gāthā –
And this is the verse herein:
Và đây là bài kệ trong đó –
Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṃ ativattati;
Nihīyati † tassa yaso, kāḷapakkheva candimā.
Whoever transgresses the Dhamma through desire, hatred, fear, or delusion, for that person, fame and retinue decline, like the moon in the waning fortnight.
Do tham muốn, sân hận, sợ hãi, si mê, người nào vi phạm pháp, danh tiếng của người ấy suy giảm, như mặt trăng trong hạ huyền.
Kattha chandā ca ayaṃ lobho yathā niddiṭṭhaṃ pubbe. Idaṃ mohādhiṭṭhānaṃ.
Therein, there is desire, and this is greed, as was pointed out before. This is the establishment of delusion.
Trong đó, tham muốn chính là tham, như đã được chỉ ra trước đây. Đây là nền tảng của si.
35. Tattha katamaṃ alobhādhiṭṭhānaṃ?
35. Therein, what is the establishment of non-greed?
35. Trong đó, thế nào là nền tảng của vô tham?
‘‘Asubhānupassiṃ † viharantaṃ, indriyesu susaṃvutaṃ;
Bhojanamhi ca mattaññuṃ, saddhaṃ āraddhavīriyaṃ;
Taṃ ve nappasahati māro, vāto selaṃva pabbata’’nti.
Dwelling contemplating the unattractive, well-restrained in the senses, knowing the measure in food, having faith, with aroused energy—Māra indeed cannot oppress that one, just as the wind cannot oppress a rocky mountain.
“Vị sống quán bất tịnh, khéo phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ẩm thực, có đức tin, tinh tấn nỗ lực. Ma vương thật không thể nhiếp phục được vị ấy, giống như gió không thể lay chuyển được núi đá.”
Tattha yā asubhāya upaparikkhā, ayaṃ kāmesu ādīnavadassanena pariccāgo. Indriyesu susaṃvuto tasseva alobhassa pāripūriyaṃ mama āyatanasocitaṃ anupādāya. Bhojanamhi ca mattaññunti rasataṇhāpahānaṃ. Iti ayaṃ alobho asubhānupassitāya vatthuto dhārayati, so alobho hetu. Indriyesu guttadvāratāya gocarato dhārayati, bhojanemattaññutāya parato dhārayati, ayaṃ nissando. Taṃ ve nappasahati māro, vāto selaṃ va pabbatanti, idaṃ phalaṃ. Iti yoyeva dhammo ādimhi nikkhitto, soyeva majjhe ceva avasāne ca.
Therein, whatever investigation there is by way of the unattractive, this is the abandonment of sensual pleasures through seeing the danger in them. Being well-restrained in the senses is for the fulfillment of that very non-greed, for the sake of not clinging to what is accumulated by way of the sense bases. And 'knowing the measure in food' is for the abandonment of craving for tastes. Thus, this non-greed, through contemplation of the unattractive, upholds by way of the object; that non-greed is the cause. Through having guarded doors in the senses, it upholds by way of the sense-field; through knowing the measure in food, it upholds from danger; this is the consequence. 'Māra indeed cannot overcome him, as the wind a rocky mountain'—this is the fruit. Thus, the very same teaching that was set forth at the beginning is also set forth in the middle and at the end.
Ở đây, sự thẩm sát về bất tịnh nào, đây là sự từ bỏ do thấy được sự nguy hại trong các dục. Sự khéo phòng hộ trong các căn là vì sự viên mãn của chính vô tham ấy, không chấp thủ vào sự tích tập theo xứ của ta. Và biết tiết độ trong ẩm thực là sự đoạn trừ ái về vị. Như vậy, vô tham này được duy trì về phương diện vật bởi sự quán bất tịnh, vô tham ấy là nhân. Do có các cửa được hộ trì trong các căn nên được duy trì về phương diện hành xứ, do biết tiết độ trong ẩm thực nên được duy trì khỏi sự nguy hiểm, đây là hệ quả. ‘Ma vương thật không thể nhiếp phục được vị ấy, giống như gió không thể lay chuyển được núi đá’, đây là quả. Như vậy, pháp nào đã được trình bày ở phần đầu, chính pháp ấy cũng ở phần giữa và ở phần cuối.
Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekadhammampi samanupassāmi asamuppannassa kāmacchandassa anuppādāya uppannassa vā pahānāya, yathayidaṃ † asubhanimittaṃ. Tattha asubhanimittaṃ manasikarontassa anuppanno ceva kāmacchando na uppajjati, uppanno ca kāmacchando pahīyati. Idaṃ alobhassa vatthu. Yaṃ puna anuppanno kāmarāgo pariyādiyati rūparāgaṃ arūparāgaṃ, iti phalaṃ. Iti ayampi ca dhammo niddiṭṭho hetuto ca nissandato ca phalato ca. Idaṃ alobhādhiṭṭhānaṃ.
Monks, I do not see even one other thing for the non-arising of unarisen sensual desire or for the abandoning of that which has arisen, as there is this sign of the unattractive. For one who gives attention to the sign of the unattractive, unarisen sensual desire does not arise, and arisen sensual desire is abandoned. This is the basis for non-greed. Furthermore, the overcoming of unarisen sensual lust, lust for form, and lust for the formless—this is the fruit. Thus, this teaching is also pointed out by way of cause, by way of consequence, and by way of fruit.
Này các Tỳ khưu, Ta không thấy một pháp nào khác để cho dục tham chưa sanh không sanh khởi, hoặc đã sanh được đoạn trừ, như là tướng bất tịnh này. Ở đây, đối với người tác ý đến tướng bất tịnh, dục tham chưa sanh sẽ không sanh khởi, và dục tham đã sanh được đoạn trừ. Đây là vật của vô tham. Lại nữa, việc chế ngự được dục tham, sắc tham, và vô sắc tham, như vậy là quả. Như vậy, pháp này cũng đã được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện hệ quả, và về phương diện quả. Đây là sự quyết định trên cơ sở vô tham.
Tattha katamaṃ adosādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the basis of non-hatred?
Ở đây, thế nào là sự quyết định trên cơ sở vô sân?
Ekampi ce pāṇamaduṭṭhacitto, mettāyati kusalo † tena hoti;
Sabbe ca pāṇe manasānukampaṃ †, pahūtamariyo pakaroti puññaṃ.
If with a mind free from malice one generates loving-kindness toward even one being, by that one becomes skilled. And the noble one, having compassion in mind for all beings, makes abundant merit.
Nếu với tâm không sân hận, vị ấy rải tâm từ đến một chúng sanh, do đó vị ấy trở thành thiện xảo. Và với tâm thương xót tất cả chúng sanh, vị Thánh tạo ra phước đức dồi dào.
Ekampi ce pāṇamaduṭṭhacitto mettāyatīti ayaṃ adoso. Nigghātena assādo, kusalo tena hotīti tena kusalena dhammena saṃyutto dhammapaññattiṃ gacchati. Kusaloti yathā paññāya pañño paṇḍiccena paṇḍito. Pahūtamariyo pakaroti puññanti tassāyeva vipāko ayaṃ lokiyassa, na hi lokuttarassa. Tattha yā mettāyanā, ayaṃ hetu. Yaṃ kusalo bhavati ayaṃ nissando. Yāva abyāpajjo bhūmiyaṃ bahupuññaṃ pasavati, idaṃ phalaṃ. Iti adoso niddiṭṭho hetuto ca nissandato ca phalato ca.
'If with a mind free from malice one generates loving-kindness toward even one being'—this is non-hatred. Delight is in non-destruction. As for 'by that one becomes skilled,' being conjoined with that wholesome quality, one reaches the designation of Dhamma. 'Skilled' is as one is wise through wisdom, or learned through learning. As for 'The noble one makes abundant merit,' this is the result of that worldly state only; it is not of the supramundane. Therein, whatever loving-kindness there is, this is the cause. That one becomes skilled, this is the consequence. That much merit is produced up to the sphere of non-affliction, this is the fruit. Thus, non-hatred is pointed out by way of cause, by way of consequence, and by way of fruit.
‘Nếu với tâm không sân hận, vị ấy rải tâm từ đến một chúng sanh’, đây là vô sân. Sự thỏa thích là do không sát hại. ‘Do đó vị ấy trở thành thiện xảo’ nghĩa là do liên hệ với pháp thiện xảo ấy nên đạt đến sự chế định về pháp. ‘Thiện xảo’ là bậc trí tuệ tương ứng với trí tuệ, là bậc hiền trí do sự thông thái. ‘Vị Thánh tạo ra phước đức dồi dào’, đây là quả dị thục của pháp thế gian ấy, không phải của pháp siêu thế. Ở đây, sự thực hành tâm từ nào, đây là nhân. Việc trở thành thiện xảo, đây là hệ quả. Cho đến cõi vô sân, nhiều phước đức sanh khởi, đây là quả. Như vậy, vô sân đã được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện hệ quả, và về phương diện quả.
Ekādasānisaṃsā mettāya cetovimuttiyā. Tattha yā mettācetovimutti, ayaṃ ariyadhammesu rāgavirāgā cetovimutti, lokikāya bhūmikā hetu, yaṃ sukhaṃ āyatiṃ manāpo hoti manussānaṃ, ime ekādasa dhammā nissando. Yañca akatāvī brahmakāye upapajjati. Idaṃ phalaṃ. Idaṃ adosādhiṭṭhānaṃ.
There are eleven benefits of the liberation of mind through loving-kindness. Therein, whatever liberation of mind through loving-kindness there is, this, among the noble qualities, is the liberation of mind through dispassion for lust. The worldly plane is the cause. That happiness which in the future is pleasing to humans—these eleven qualities are the consequence. And that one, even if the task is uncompleted, is reborn in the Brahma-world. This is the fruit. This is the basis of non-hatred.
Có mười một lợi ích của tâm giải thoát do tâm từ. Ở đây, tâm giải thoát do tâm từ nào, đây là tâm giải thoát do ly tham trong các Thánh pháp. Cõi thế gian là nhân. Sự an lạc nào trong tương lai làm hài lòng loài người, mười một pháp này là hệ quả. Và vị ấy sanh vào cõi Phạm thiên mà không cần phải làm gì thêm. Đây là quả. Đây là sự quyết định trên cơ sở vô sân.
36. Tattha katamaṃ amohādhiṭṭhānaṃ?
36. Therein, what is the basis of non-delusion?
36. Ở đây, thế nào là sự quyết định trên cơ sở vô si?
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, yāyaṃ nibbedhagāminī †;
Yāya sammā pajānāti, jātimaraṇasaṅkhayaṃ.
Wisdom indeed is supreme in the world, that which leads to penetration; by which one rightly knows the destruction of birth and death.
Thật vậy, trí tuệ là tối thắng ở trên đời, trí tuệ này dẫn đến sự thông suốt; nhờ đó người ta liễu tri một cách chân chánh sự đoạn tận của sanh và tử.
Paññā hi seṭṭhāti vatthuṃ. Nibbedhagāminīti nibbānagāminiyaṃ yathābhūtaṃ paṭivijjhati. Sammā pajānāti, jātimaraṇasaṅkhayanti amoho. Paññāti hetu. Yaṃ pajānāti ayaṃ nissando. Yo jātimaraṇasaṅkhayo, idaṃ phalaṃ. Iti amoho niddiṭṭho hetunā ca nissandena ca phalena ca.
'Wisdom indeed is supreme' is the basis. 'Leading to penetration' means one penetrates as it really is that which leads to Nibbāna. 'One rightly knows the destruction of birth and death' is non-delusion. Wisdom is the cause. That which one knows is the consequence. Whatever destruction of birth and death there is, this is the fruit. Thus, non-delusion is pointed out by way of cause, by way of consequence, and by way of fruit.
‘Thật vậy, trí tuệ là tối thắng’ là vật. ‘Dẫn đến sự thông suốt’ nghĩa là thâm nhập như thật vào con đường dẫn đến Niết-bàn. ‘Liễu tri một cách chân chánh sự đoạn tận của sanh và tử’ là vô si. Trí tuệ là nhân. Việc liễu tri là hệ quả. Sự đoạn tận của sanh và tử nào, đây là quả. Như vậy, vô si đã được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện hệ quả, và về phương diện quả.
Tīṇimāni, bhikkhave †, indriyāni anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ. Tattha katamaṃ anaññātaññassāmītindriyaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu anabhisametassa dukkhassa ariyasaccassa abhisamayāya chandaṃ janeti vāyamati, vīriyaṃ ārabhati, cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evaṃ catunnaṃ ariyasaccānaṃ kātabbaṃ. Tattha katamaṃ aññindriyaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘‘idaṃ dukkhaṃ ariyasacca’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, yā ca maggo, idaṃ aññindriyaṃ. Āsavakkhayā anāsavo hoti, idaṃ vuccati aññātāvindriyaṃ. Tathāyaṃ paññā, ayaṃ hetu. Yaṃ chandaṃ janeti vāyamati, yā pajānāti, ayaṃ nissando. Yena sabbaso āsavānaṃ khayā hetu, yaṃ khaye ñāṇamuppajjati, anuppāde ñāṇañca, ayaṃ nissando. Yaṃ arahattaṃ, idaṃ phalaṃ. Tattha khīṇā me jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyanti, idaṃ khaye ñāṇaṃ. Nāparaṃ itthattāyāti pajānāmīti idaṃ anuppāde ñāṇaṃ. Iti imāni indriyāni amoho niddiṭṭho hetunā ca nissandena ca phalena ca. Imāni asādhāraṇāni niddiṭṭhāni.
Monks, there are these three faculties: the faculty of 'I will come to know the unknown,' the faculty of knowing, and the faculty of one who has known. Therein, what is the faculty of 'I will come to know the unknown'? Here, monks, a monk generates desire, strives, arouses energy, exerts and applies his mind for the full comprehension of the noble truth of suffering that he has not yet fully comprehended. Thus it should be done for the four noble truths. Therein, what is the faculty of knowing? Here, monks, a monk understands as it really is: 'This is the noble truth of suffering,' and so on up to the path; this is the faculty of knowing. With the destruction of the taints, he becomes taint-free—this is called the faculty of one who has known. Likewise, this wisdom is the cause. That one generates desire, strives, and understands—this is the consequence. That by which there is the complete destruction of the taints is the cause; the knowledge that arises in destruction and the knowledge of non-arising—this is the consequence. That which is Arahantship—this is the fruit. Therein, 'Destroyed is my birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done'—this is the knowledge of destruction. 'I understand that there is no more for this state of being'—this is the knowledge of non-arising. Thus, non-delusion, in the form of these three faculties, is pointed out by way of cause, consequence, and fruit. These unique qualities have been pointed out.
Này các Tỳ khưu, có ba quyền này: vị tri đương tri quyền, dĩ tri quyền, và cụ tri quyền. Ở đây, thế nào là vị tri đương tri quyền? Này các Tỳ khưu, ở đây vị Tỳ khưu đối với Thánh đế về khổ chưa được liễu ngộ, vị ấy sanh khởi ước muốn, cố gắng, nỗ lực tinh tấn, sách tấn tâm, và quyết tâm để liễu ngộ. Cần phải làm như vậy đối với bốn Thánh đế. Ở đây, thế nào là dĩ tri quyền? Này các Tỳ khưu, ở đây vị Tỳ khưu liễu tri như thật rằng: ‘Đây là Thánh đế về khổ’, và con đường nào, đây là dĩ tri quyền. Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy trở thành vô lậu, đây được gọi là cụ tri quyền. Như vậy, trí tuệ này là nhân. Việc sanh khởi ước muốn, cố gắng, việc liễu tri, đây là hệ quả. Nhờ đó, sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc là nhân; trí sanh khởi trong sự đoạn tận, và trí vô sanh, đây là hệ quả. Quả A-la-hán nào, đây là quả. Ở đây, ‘Sanh của ta đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong’, đây là tận trí. ‘Ta biết rằng không còn trở lại trạng thái này nữa’, đây là vô sanh trí. Như vậy, các quyền này, vô si đã được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện hệ quả, và về phương diện quả. Những điều không phổ thông này đã được chỉ rõ.
Tattha katamāni kusalamūlāni sādhāraṇāni? Kusalañca vo, bhikkhave, desessāmi kusalamūlañceva. Tattha katamaṃ kusalamūlaṃ? Alobho adoso amoho. Tattha katamaṃ kusalaṃ? Aṭṭha sammattāni sammādiṭṭhi yāva sammāsamādhi. Tattha yāni kusalamūlāni, ayaṃ hetu. Yañca alobho tīṇi kammāni samuṭṭhāpeti saṅkappaṃ vāyāmaṃ samādhiñca, ayaṃ alobhassa nissando. Tattha yo adoso, ayaṃ hetu. Yaṃ tayo dhamme paṭṭhapeti sammāvācaṃ sammākammantaṃ sammāājīvañca, ayaṃ nissando. Tattha yo amoho hetu, yaṃ dve dhamme upaṭṭhapeti aviparītadassanampi ca anabhilāpanaṃ, ayaṃ nissando. Imassa brahmacariyassa yaṃ phalaṃ, tā dve vimuttiyo rāgavirāgā cetovimutti avijjā virāgā ca paññāvimutti, idaṃ phalaṃ. Iti imāni tīṇi kusalamūlāni niddiṭṭhāni hetuto ca nissandato ca phalato ca. Evaṃ sādhāraṇāni kusalāni paṭivijjhitabbāni.
Therein, what are the common wholesome roots? I will teach you, monks, what is wholesome and what are the wholesome roots. Therein, what are the wholesome roots? Non-greed, non-hatred, and non-delusion. Therein, what is wholesome? The eight rightnesses: right view up to right concentration. Therein, the wholesome roots are the cause. That non-greed gives rise to three factors—right intention, right effort, and right concentration—this is the consequence of non-greed. Therein, non-hatred is the cause. That it establishes three factors—right speech, right action, and right livelihood—this is the consequence. Therein, non-delusion is the cause. That it establishes two things—unperverted vision and restraint in speech—this is the consequence. The fruit of this holy life is the two liberations: liberation of mind through the fading away of lust and liberation by wisdom through the fading away of ignorance—this is the fruit. Thus, these three wholesome roots have been pointed out by way of cause, consequence, and fruit. In this way, the common wholesome qualities are to be penetrated.
Trong đó, những căn bản thiện nào là tương quan? Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông về thiện và cả căn bản thiện. Trong đó, căn bản thiện là gì? Vô tham, vô sân, vô si. Trong đó, thiện là gì? Tám chánh tánh, từ chánh kiến cho đến chánh định. Trong đó, những gì là căn bản thiện, đây là nhân. Và vô tham làm khởi sanh ba nghiệp: chánh tư duy, chánh tinh tấn, và chánh định, đây là quả nối tiếp của vô tham. Trong đó, cái gì là vô sân, đây là nhân. Cái mà làm phát sanh ba pháp: chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng, đây là quả nối tiếp. Trong đó, cái gì là vô si là nhân, cái mà làm phát sanh hai pháp: thấy không sai lạc và không tán dương, đây là quả nối tiếp. Quả của phạm hạnh này là hai sự giải thoát: tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh, đây là quả. Như vậy, ba căn bản thiện này được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện quả nối tiếp, và về phương diện quả. Như thế, các pháp thiện tương quan cần phải được liễu tri.
Yattha duve yattha tīṇi. Ayañcettha gāthā.
Where there are two, where there are three. And this is the verse on this matter.
Nơi nào có hai, nơi nào có ba. Và đây là kệ ngôn ở đây.
‘‘Tulamatulañca sambhavaṃ, bhavasaṅkhāramavassaji muni;
Ajjhattarato samāhito, abhindi kavacamivattasambhava’’nti.
The sage abandoned the measurable, the immeasurable, the origin, and the formations of existence; delighting within, composed, he shattered the self-arisen defilement like armor.
‘Cái có thể đo lường, không thể đo lường, và sự sanh khởi, bậc Mâu-ni đã từ bỏ hành hữu; vị ấy hoan hỷ trong nội tâm, có định tĩnh, đã phá vỡ sự sanh khởi của tự ngã như phá vỡ áo giáp.’
Tulamatulañca sambhavanti tulasaṅkhataṃ atulasaṅkhataṃ. Tattha ye saṅkhatā tulaṃ, te dve dhammā assādo ca ādīnavo ca tulitā bhavanti. Ettako kāmesu assādo. Ettako ādīnavo imassa, idaṃ nissaraṇanti iti nibbānaṃ pajānāti. Dvīhi kāraṇehi atulaṃ na ca sakkā tulayituṃ. Ettakaṃ etaṃ netaṃ paramatthīti tena atulaṃ. Atha pāpuṇā ratanaṃ karitvā acchariyabhāvena atulaṃ. Tattha kusalassa ca abhisambhavā jānanā passanā, ayaṃ amoho. Yaṃ tattha ñātā osiraṇā bhavasaṅkhārānaṃ, ayaṃ alobho. Yaṃ ajjhattarato samāhitoti vikkhepapaṭisaṃharaṇā, ayaṃ adoso. Iti imāni tīṇi kusalamūlāni. Tulamatulasambhavanti ayaṃ amoho. Yo bhavasaṅkhārānaṃ samosaraṇaṃ lobho sammāsamādhīnaṃ assādo, ayaṃ hetu. Yaṃ ajjhattarato avijjaṇḍakosaṃ sambhedo, ayaṃ nissando. Sā pavatti imāni tīṇi niddiṭṭhāni kusalamūlāni hetuto ca nissandato ca phalato ca.
'The measurable, the immeasurable, and the origin' means the measured conditioned and the unmeasured conditioned. Therein, those that are conditioned are 'measurable'; these two phenomena, gratification and danger, are measured. 'This much is the gratification in sensual pleasures. This much is the danger. This is the escape'—thus one understands Nibbāna. For two reasons the immeasurable cannot be measured. 'It is of such a measure; there is nothing higher than this'—for this reason, it is immeasurable. Then, for those who have attained it, having made it a jewel, by its marvelous nature it is immeasurable. Therein, the knowing and seeing of the arising of the wholesome, this is non-delusion. That which is known there as non-adherence to the formations of existence, this is non-greed. Regarding 'delighting within, composed,' that which is the restraining of distraction, this is non-hatred. Thus, these are the three wholesome roots. 'The measurable, the immeasurable, and the origin'—this is non-delusion. The greed that is the convergence for the formations of existence, and the gratification in right concentrations—this is the cause. For one delighting within, the shattering of the eggshell of ignorance, this is the consequence. That is the process. These three wholesome roots have been pointed out by way of cause, consequence, and fruit.
‘Cái có thể đo lường, không thể đo lường, và sự sanh khởi’ nghĩa là pháp hữu vi và pháp vô vi. Trong đó, những pháp hữu vi là ‘cái có thể đo lường’, hai pháp ấy là vị ngọt và sự nguy hại, chúng được cân lường. Vị ngọt trong các dục là chừng này. Sự nguy hại của nó là chừng này, đây là sự xuất ly, như vậy vị ấy biết rõ Niết-bàn. ‘Không thể đo lường’ vì hai lý do, không thể cân lường được. ‘Nó là chừng này, không có gì cao hơn nó’, do đó là ‘không thể đo lường’. Lại nữa, những người đã đạt đến, xem đó là bảo vật, do tính chất kỳ diệu nên là ‘không thể đo lường’. Trong đó, sự sanh khởi, sự biết, sự thấy của thiện, đây là vô si. Cái gì ở đó là sự biết, sự không dính mắc vào các hành hữu, đây là vô tham. Cái gì là ‘hoan hỷ trong nội tâm, có định tĩnh’ là sự nhiếp phục tán loạn, đây là vô sân. Như vậy, đây là ba căn bản thiện. ‘Cái có thể đo lường, không thể đo lường, và sự sanh khởi’ là vô si. Cái gì là sự quy tụ của các hành hữu, là tham, là vị ngọt của các chánh định, đây là nhân. Cái gì là ‘hoan hỷ trong nội tâm’, là sự phá vỡ vỏ trứng vô minh, đây là quả nối tiếp. Sự diễn tiến ấy, ba căn bản thiện này được chỉ rõ về phương diện nhân, về phương diện quả nối tiếp, và về phương diện quả.
Ettāvatā esā pavatti ca nivatti ca akusalamūlehi pavattati, kusalamūlehi nivattatīti imehi ca tīhi sabbaṃ akusalamūlaṃ samosaraṇaṃ gacchati. So dhamme vā vacanato niddiṭṭho taṇhāti vā kodhoti vā asampajaññanti vā anusayoti vā makkhoti vā paḷāsoti vā assatīti vā issāti vā macchariyanti vā aññāṇanti vā, tehi ye ca vatthūhi niddisitabbaṃ. Yassimāni dve vacanāni dhammapadāni niddiṭṭhāni na so atthi kilesā, yo imesu navasu padesu samodhānaṃ samosaraṇaṃ gacchati. Ayaṃ kileso, na ca lobho, na ca doso, na ca moho.
To this extent, this process of continuation and cessation occurs: it continues because of unwholesome roots and ceases because of wholesome roots. And through these three, all unwholesome roots go to convergence. That is pointed out in the Dhamma as taught, as 'craving,' or 'anger,' or 'non-comprehension,' or 'latent tendency,' or 'contempt,' or 'malice,' or 'unmindfulness,' or 'envy,' or 'stinginess,' or 'ignorance'; and by the things by which they are to be described. For whom these two words, these Dhamma-phrases, are pointed out, there is no defilement that goes to combination and convergence in these nine instances. This is the defilement, and it is not greed, not hatred, and not delusion.
Cho đến chừng ấy, có sự diễn tiến và sự chấm dứt này: do các căn bản bất thiện mà diễn tiến, do các căn bản thiện mà chấm dứt. Và do ba pháp này, tất cả căn bản bất thiện đi đến sự quy tụ. Nó được chỉ rõ trong Pháp hoặc theo lời dạy là: hoặc là ái, hoặc là sân, hoặc là không tỉnh giác, hoặc là tùy miên, hoặc là công lao phế, hoặc là cạnh tranh, hoặc là vô niệm, hoặc là tật đố, hoặc là xan tham, hoặc là vô trí; cần phải được chỉ rõ bằng những từ ngữ ấy. Hai lời nói này được chỉ rõ là các pháp cú, không có phiền não nào mà không đi đến sự hợp nhất, sự quy tụ trong chín mục này. Đây là phiền não, nhưng không phải là tham, không phải là sân, không phải là si.
Yathā akusalamūlāni, evaṃ kusalāni paṭikkhepena niddisitabbāni.
Just as the unwholesome roots are to be pointed out, so too the wholesome roots should be pointed out by way of contrast.
Như các căn bản bất thiện, cũng vậy, các pháp thiện cần được chỉ rõ bằng cách đối lập.
Idaṃ amohādhiṭṭhānaṃ.
This is the foundation of non-delusion.
Đây là sự quyết định về vô si.
37. Tattha katamaṃ kāyakammādhiṭṭhānaṃ?
37. Therein, what is the foundation of bodily action?
37. Trong đó, sự quyết định về thân nghiệp là gì?
Kāyena kusalaṃ kare, assa kāyena saṃvuto;
Kāyaduccaritaṃ hitvā, kāyena sucaritaṃ care.
With the body, one should do what is wholesome; one should be restrained with the body. Having abandoned bodily misconduct, with the body one should practice good conduct.
Hãy làm điều thiện bằng thân, hãy có sự thu thúc bằng thân; từ bỏ thân ác hạnh, hãy thực hành thiện hạnh bằng thân.
Tīṇimāni, bhikkhave, sucaritāni †. Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, idaṃ kāyakammādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these three good courses of conduct: abstaining from the destruction of life, abstaining from taking what is not given, abstaining from sexual misconduct. This is the foundation of bodily action.
Này các Tỳ khưu, có ba thiện hạnh này: từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Đây là sự quyết định về thân nghiệp.
Tattha katamaṃ vācākammādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of verbal action?
Trong đó, sự quyết định về khẩu nghiệp là gì?
Subhāsitaṃ † uttamamāhu santo, dhammaṃ bhaṇe nādhammaṃ taṃ dutiyaṃ;
Piyaṃ bhaṇe nāppiyaṃ taṃ tatiyaṃ, saccaṃ bhaṇe nālikaṃ taṃ catutthaṃ.
The good say that well-spoken speech is supreme. One should speak the Dhamma, not what is not Dhamma—that is the second. One should speak what is pleasant, not what is unpleasant—that is the third. One should speak the truth, not what is false—that is the fourth.
Bậc thiện nhân nói lời khéo nói là tối thượng; hãy nói điều đúng Pháp, không nói điều phi Pháp, đó là điều thứ hai; hãy nói lời ái ngữ, không nói lời không ái ngữ, đó là điều thứ ba; hãy nói lời chân thật, không nói lời dối trá, đó là điều thứ tư.
Cattārimāni ca vacīsucaritāni idaṃ vācākammādhiṭṭhānaṃ.
These four are verbal good conducts. This is the foundation of verbal action.
Và bốn khẩu thiện hạnh này, đây là sự quyết định về khẩu nghiệp.
Tattha katamaṃ manokammādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of mental action?
Trong đó, sự quyết định về ý nghiệp là gì?
Manena kusalaṃ kammaṃ, manasā saṃvuto bhave;
Manoduccaritaṃ hitvā, manasā sucaritaṃ care.
With the mind, one should do wholesome action; one should be restrained with the mind. Having abandoned mental misconduct, with the mind one should practice good conduct.
Nghiệp thiện bằng ý, hãy có sự thu thúc bằng ý; từ bỏ ý ác hạnh, hãy thực hành thiện hạnh bằng ý.
Tīṇimāni manosucaritāni, anabhijjhā, abyāpādo, sammādiṭṭhi, idaṃ manokammādhiṭṭhānaṃ. Imāni asādhāraṇāni suttāni.
These three are the good conduct of mind: non-covetousness, non-ill will, and right view. This is the foundation of mental action. These are the uncommon discourses.
Có ba ý thiện hạnh này: vô tham, vô sân, chánh kiến. Đây là sự quyết định về ý nghiệp. Đây là các kinh không tương quan.
Tattha katamāni sādhāraṇāni suttāni?
Therein, what are the common discourses?
Trong đó, những kinh tương quan là gì?
Vācānurakkhī manasā susaṃvuto, kāyena ca nākusalaṃ kayirā †;
Ete tayo kammapathe visodhaye, ārādhaye maggamisippaveditaṃ.
Guarding speech, well-restrained by mind, and with the body one should do no unwholesome deed. One should purify these three paths of action and delight in the path proclaimed by the Sage.
Hãy hộ trì lời nói, khéo thu thúc bằng ý, và không làm điều bất thiện bằng thân; hãy thanh lọc ba nghiệp lộ này, hãy thành tựu con đường do bậc ẩn sĩ tuyên thuyết.
Tisso imā, bhikkhave, pārisuddhiyo – kāyakammapārisuddhi, vācākammapārisuddhi, manokammapārisuddhi.
Monks, there are these three purities: purity of bodily action, purity of verbal action, and purity of mental action.
Này các Tỳ khưu, có ba sự thanh tịnh này: sự thanh tịnh của thân nghiệp, sự thanh tịnh của khẩu nghiệp, sự thanh tịnh của ý nghiệp.
Tattha katamā kāyakammapārisuddhi? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī. Tattha katamā vacīkammapārisuddhi? Musāvādā veramaṇī…pe… samphappalāpā veramaṇī. Tattha katamā manokammapārisuddhi? Anabhijjhā abyāpādo sammādiṭṭhi. Idaṃ sādhāraṇasuttaṃ.
Therein, what is purity of bodily action? Abstaining from the destruction of life, abstaining from taking what is not given, abstaining from sexual misconduct. Therein, what is purity of verbal action? Abstaining from false speech... abstaining from idle chatter. Therein, what is purity of mental action? Non-covetousness, non-ill will, and right view. This is the common discourse.
Trong đó, sự thanh tịnh của thân nghiệp là gì? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Trong đó, sự thanh tịnh của khẩu nghiệp là gì? Từ bỏ nói dối... cho đến... từ bỏ nói lời phù phiếm. Trong đó, sự thanh tịnh của ý nghiệp là gì? Vô tham, vô sân, chánh kiến. Đây là kinh tương quan.
Iti sādhāraṇāni ca suttāni asādhāraṇāni ca suttāni paṭivijjhitabbāni. Paṭivijjhitvā vācāya kāyena ca suttassa attho niddisitabbo.
Thus, the common discourses and the uncommon discourses should be thoroughly penetrated. Having penetrated them, the meaning of the discourse should be pointed out by speech and by body.
Như vậy, các kinh tương quan và các kinh không tương quan cần phải được liễu tri. Sau khi đã liễu tri, ý nghĩa của kinh cần được chỉ rõ bằng lời nói và bằng thân.
38. Tattha katamaṃ saddhindriyādhiṭṭhānaṃ?
38. Therein, what is the foundation of the faculty of faith?
38. Trong đó, sự quyết định về tín quyền là gì?
Yassa saddhā † tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā;
Sīlañca yassa kalyāṇaṃ, ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ.
Whose faith in the Tathāgata is unwavering, well-established; and whose virtue is excellent, beloved by the noble ones, and praised.
Người nào có niềm tin nơi Như Lai, không lay chuyển, khéo an trú; và người nào có giới đức tốt đẹp, được bậc Thánh ưa thích, được tán thán.
Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṃ;
Adaliddoti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvitaṃ.
He who has serene confidence in the Saṅgha, and whose view has become straight; they call him not poor, his life is not fruitless.
Người nào có sự tịnh tín nơi Tăng đoàn, và có tri kiến ngay thẳng; vị ấy được gọi là người không nghèo khó, đời sống của vị ấy không vô ích.
Saddhā ve nandikā ārādhiko, no tassa saddhoti;
Sabbaṃ siyāti bhagavantaṃ, tathārūpo dhammasampasādo.
Thus, such serene confidence in the Dhamma is confidence in the Blessed One.
Người có đức tin thật đáng được ưa thích, nhưng đức tin của người ấy thì không đáng được ưa thích; tất cả có thể là như vậy. Sự trong sạch tin tưởng nơi Chánh pháp có tính chất như thế ấy chính là sự tin tưởng nơi Đức Thế Tôn.
Idaṃ saddhindriyādhiṭṭhānaṃ.
This is the foundation of the faculty of faith.
Đây là sự quyết định về tín quyền.
Tattha katamaṃ vīriyādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of energy?
Trong ấy, thế nào là sự quyết định về tấn?
Ārambhatha † nikkamatha, yuñjatha buddhasāsane;
Dhunātha maccuno senaṃ, naḷāgāraṃva kuñjaro.
Strive on! Go forth! Apply yourselves to the Buddha's teaching! Shake off the army of Death, as an elephant does a house of reeds.
Hãy khởi sự, hãy ra đi, hãy chuyên cần trong giáo pháp của Đức Phật; hãy rũ sạch quân đội của thần chết, như voi phá nát ngôi nhà bằng sậy.
Cattārome, bhikkhave, sammappadhānā, idaṃ vīriyādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these four right exertions. This is the foundation of energy.
Này các Tỳ khưu, có bốn chánh cần này. Đây là sự quyết định về tấn.
Tattha katamaṃ satindriyādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of the faculty of mindfulness?
Trong ấy, thế nào là sự quyết định về niệm quyền?
Satīmato sadā bhaddaṃ, bhaddamatthu satīmato;
Satīmato sadā † seyyo, satīmā sukhamedhati.
For the mindful one there is always good fortune; may there be good fortune for the mindful one. For the mindful one there is always betterment; the mindful one prospers in happiness.
Người có niệm luôn được tốt lành, mong rằng sự tốt lành đến với người có niệm. Người có niệm luôn được tốt hơn, người có niệm tăng trưởng trong an lạc.
Cattāro satipaṭṭhānā vitthārena kātabbā, idaṃ satindriyādhiṭṭhānaṃ.
The four foundations of mindfulness should be undertaken in detail; this is the foundation of the faculty of mindfulness.
Bốn niệm xứ cần được thực hành một cách rộng rãi. Đây là sự quyết định về niệm quyền.
Tattha katamaṃ samādhindriyādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of the faculty of concentration?
Trong ấy, thế nào là sự quyết định về định quyền?
Ākaṅkhato te naradammasārathi, devā manussā manasā vicintitaṃ;
Sabbena jaññā kasiṇāpi pāṇino, santaṃ samādhiṃ araṇaṃ nisevato.
O Charioteer of men to be tamed, one who practices peaceful, passionless concentration would know completely all beings, and that which is pondered in the minds of gods and humans who long for you.
Hỡi bậc Điều ngự trượng phu, chư thiên và loài người mong mỏi điều được Ngài suy tư trong tâm. Người thực hành định tĩnh lặng, không phiền não, có thể biết được toàn bộ chúng sanh.
Tayome, bhikkhave, samādhī – savitakko savicāro, avitakko vicāramatto, avitakko avicāro. Idaṃ samādhindriyādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these three concentrations: that with initial application and sustained application, that without initial application but with only sustained application, and that without initial application and without sustained application. This is the foundation of the faculty of concentration.
Này các Tỳ khưu, có ba loại định này – định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, và định không tầm không tứ. Đây là sự quyết định về định quyền.
Tattha katamaṃ paññindriyādhiṭṭhānaṃ?
Therein, what is the foundation of the faculty of wisdom?
Trong ấy, thế nào là sự quyết định về tuệ quyền?
Paññā hi seṭṭhā lokasminti vitthārena.
'Indeed, wisdom is best in the world.' This should be understood in detail.
Trí tuệ thật là tối thắng ở trong đời, (cần được biết) một cách rộng rãi.
Tisso imā, bhikkhave, paññā – sutamayī, cintāmayī, bhāvanāmayī, idaṃ paññindriyādhiṭṭhānaṃ suttaṃ, imāni indriyādhiṭṭhānāni asādhāraṇāni suttāni.
Bhikkhus, there are these three kinds of wisdom: wisdom consisting of learning, wisdom consisting of thinking, and wisdom consisting of development. This is the discourse on the basis of the wisdom faculty. These bases of the faculties are uncommon discourses.
Này các Tỳ khưu, có ba loại trí tuệ này – văn tuệ, tư tuệ, và tu tuệ. Đây là kinh về sự quyết định của tuệ quyền. Những kinh về sự quyết định của các quyền này là những kinh không phổ thông.
39. Tattha katamāni sādhāraṇāni indriyādhiṭṭhānāni suttāni?
39. Therein, which are the common discourses on the bases of the faculties?
39. Trong ấy, những kinh nào là những kinh phổ thông về sự quyết định của các quyền?
Avītarāgo † kāmesu, yassa pañcindriyā mudū;
Saddhā sati ca vīriyaṃ, samatho ca vipassanā;
Tādisaṃ bhikkhumāsajja, pubbeva upahaññati.
A bhikkhu who is not free from passion for sensual pleasures, whose five faculties are weak—faith, mindfulness, energy, tranquility, and insight—is harmed beforehand when assailed.
Người chưa ly tham trong các dục, người có năm quyền yếu ớt; tín, niệm, và tấn, chỉ và quán; khi tiếp cận vị Tỳ khưu như vậy, vị ấy liền bị tổn hại.
Pañcimāni indriyāni. Saddhindriyādiindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Tīsu aveccappasāde vitthārena suttaṃ kātabbaṃ. Imāni sādhāraṇāni indriyādhiṭṭhānāni suttāni. Yaṃ yassa sambandhaṃ kusalassa vā akusalassa vā tena tena adhiṭṭhānena taṃ suttaṃ niddisitabbaṃ, natthañño dhammo niddisitabbo. Tattha sādhāraṇaṃ kusalaṃ nāpi kusalaṃ akusalaṃ yathā sādhāraṇāni ca kusalamūlāni sādhāraṇāni ca akusalamūlāni uppannaṃ kāmavitakkaṃ pajahati…pe… cattāro sammappadhānā kusalaṃ akusalañca.
These are the five faculties. The faculties beginning with the faith faculty should be understood. A discourse should be made in detail on unwavering confidence in the three Jewels. These are the common discourses which are the bases of the faculties. Whichever discourse is connected with a wholesome or unwholesome state, that discourse should be pointed out by means of that particular basis; no other phenomenon should be pointed out. Herein, a common wholesome state is not called wholesome, it is called unwholesome. Just as there are common wholesome roots and common unwholesome roots, one abandons arisen sensual thought... the four right exertions, wholesome and unwholesome.
Có năm quyền này. Cần phải thấy các quyền bắt đầu từ tín quyền. Kinh về niềm tin bất động nơi Tam bảo cần được trình bày rộng rãi. Đây là những kinh phổ thông về sự quyết định của các quyền. Bất cứ kinh nào liên quan đến thiện hay bất thiện, kinh đó cần được chỉ rõ bằng sự quyết định tương ứng, không có pháp nào khác cần được chỉ rõ. Trong đó, thiện pháp phổ thông không phải là thiện cũng không phải là bất thiện, cũng như có các thiện căn phổ thông và các bất thiện căn phổ thông. Vị ấy từ bỏ tầm về dục đã sanh khởi... (vân vân)... bốn chánh cần, thiện và bất thiện.
Tatthimā uddānagāthā
Therein, these are the summary verses:
Trong ấy, đây là các kệ tóm lược.
Vitakko hi mamatthiko †, dadaṃ piyo naro iti;
Yo pāṇamatipāteti, tīṇi tassa bālalakkhaṇaṃ.
[The suttas on:] thoughts and a possessive person; 'giving, a person becomes dear'; one who destroys life; and his three characteristics of a fool.
Kinh về tầm và sự ích kỷ, kinh về người cho là người đáng mến; kinh về người sát sanh, kinh về ba tướng của kẻ ngu.
Satañceva sahassānaṃ, ye ca samaṇabrāhmaṇā;
Chandā dosā bhayā mohā, catūhi agatīhi ca.
[The suttas on:] a hundred and a thousand; 'Whatever ascetics and brahmins'; and the four wrong courses: desire, aversion, fear, and delusion.
Kinh về một trăm và một ngàn, kinh về các Sa-môn và Bà-la-môn; kinh về dục, sân, sợ, si, và kinh về bốn thiên vị.
Asubhānupassiṃ viharantaṃ, nimittesu asubhā ca;
Ekampi ce piyaṃ pāṇaṃ, mittā sace subhāsitā.
[The suttas on:] one dwelling contemplating the foul; the foul in signs; 'If even one being is dear'; and 'If friends have well-spoken words'.
Kinh về người sống quán bất tịnh, và kinh về tướng bất tịnh; kinh về dù chỉ một chúng sanh thân yêu, kinh về nếu bạn bè nói lời thiện.
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, anuññā tīṇi indriyāni;
Kusalākusalamūlāni ca, tulamatulañca sambhavaṃ.
[The suttas on:] 'Wisdom is indeed the best in the world'; the three faculties beginning with 'I shall come to know the unknown'; the wholesome and unwholesome roots; and the measurable, the immeasurable, and arising.
Kinh về trí tuệ là tối thắng trong đời, kinh về ba quyền (tối thượng); kinh về các thiện và bất thiện căn, kinh về sự sanh khởi của người có thể so sánh và không thể so sánh.
Kāyena kusalaṃ kare, tīṇi sucaritāni ca;
Subhāsitaṃ uttamamāhu, santo vacīsucaritāni ca.
[The suttas on:] performing wholesome deeds with the body; the three kinds of good conduct; 'The good declare well-spoken words to be supreme'; and good conduct in speech.
Kinh về làm điều thiện bằng thân, và kinh về ba thiện hạnh; kinh về bậc thiện nhân nói lời thiện là tối thượng, và kinh về khẩu thiện hạnh.
Kāyena ca kusalaṃ kayirā, manoduccaritāni ca;
Kāyānurakkhī ca sadā, tisso ca pārisuddhiyo.
[The suttas on:] 'One should do wholesome deeds with the body'; misconduct of the mind; always guarding the body; and the three kinds of purity.
Kinh về nên làm điều thiện bằng thân, và kinh về ý ác hạnh; kinh về luôn luôn hộ trì thân, và kinh về ba sự thanh tịnh.
Yassa saddhā tathāgate, samuppāde ca desito;
Ārambhatha nikkamatha, yā ca sammappadhānatā.
[The suttas on:] one who has faith in the Tathāgata and its arising; 'Strive! Go forth!'; and the suttas taught up to the right exertions.
Kinh về người có đức tin nơi Như Lai, và kinh được thuyết về sự sanh khởi; kinh về hãy khởi sự, hãy ra đi, và kinh về chánh cần.
Satīmato sadā bhaddaṃ, satipaṭṭhānabhāvanā;
Ākaṅkhato ca anaññāṇaṃ, ye ca tīṇi samādhayo.
[The suttas on:] 'For the mindful, it is always good'; the development of the establishments of mindfulness; one who desires; the faculty of 'I shall come to know the unknown'; and the three kinds of concentration.
Kinh về người có niệm luôn được tốt lành, kinh về sự tu tập niệm xứ; kinh về sự mong mỏi và tri kiến cao nhất, và kinh về ba loại định.
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, tisso paññā pakāsitā;
Avītarāgo kāmesu, tatheva pañcindriyā.
[The suttas on:] 'Wisdom is indeed the best in the world'; the three kinds of wisdom are proclaimed; one not free from passion for sensual pleasures; and likewise, the five faculties.
Kinh về trí tuệ là tối thắng trong đời, kinh về ba loại trí tuệ được tuyên bố; kinh về người chưa ly tham trong các dục, và cũng vậy là kinh về năm quyền.
Iti therassa mahākaccāyanassa
Thus, of the Elder Mahākaccāyana.
Như vậy là (lời) của trưởng lão Mahākaccāyana.