Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 3

Bản dịch

PE 3Lãnh Vực Thứ Ba: Sự Xác Định Kinh

3. Suttādhiṭṭhānatatiyabhūmi

Ở đấy, sự xác định Kinh là gì? Sự xác định tham, sự xác định sân, sự xác định si, sự xác định vô tham, sự xác định vô sân, sự xác định vô si, sự xác định thân nghiệp, sự xác định khẩu nghiệp, sự xác định ý nghiệp, sự xác định tín quyền, sự xác định tấn quyền, sự xác định niệm quyền, sự xác định định quyền, sự xác định tuệ quyền.

(1). Ở đấy, sự xác định tham là gì?

1. “Đối với người có sự suy tầm bị khuấy động, đối với kẻ có luyến ái mãnh liệt, đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp, tham ái gia tăng nhiều hơn nữa; kẻ ấy quả nhiên làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc.” ‘Đối với người có sự suy tầm bị khuấy động’ là sự luyến ái ở các dục. ‘Đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp’ là vật dục. ‘Tham ái tăng trưởng nhiều hơn nữa’ là tham ái về dục. ‘Kẻ ấy làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc’ là sự luyến ái. Như thế, mỗi một pháp nào được trình bày là gốc rễ, chính pháp ấy nên được cho học tập ở đây. Đức Thế Tôn không nỗ lực một pháp (khác) và chỉ bảo một pháp khác. Đối với kẻ nào có sự suy tầm về dục, Ngài suy tầm và diễn giải chính sự suy tầm ấy theo sự suy tầm về dục. ‘Đối với kẻ có luyến ái mãnh liệt,’ Ngài diễn giải nền tảng của chính sự suy tầm ấy. ‘Tham ái gia tăng nhiều hơn nữa đối với kẻ thường xem xét về cái đẹp,’ Ngài diễn giải chính sự luyến ái ấy là ‘sự tham ái về dục.’ ‘Kẻ ấy làm cho sự trói buộc trở nên bền chắc,’ Ngài diễn giải chính điều ấy là sự ràng buộc của tham ái. Nên đánh giá về các kệ ngôn như vậy, về các thể loại veyyākaraṇa như vậy. Ở đấy, đức Thế Tôn diễn giải một pháp theo ba cách: theo hệ quả, theo nguyên nhân, theo quả báo.

2. “Người bố thí trở nên đáng yêu, số đông gần gũi người ấy. Người ấy đạt được tiếng tăm, và danh vọng tăng trưởng. Người ấy đi vào tập thể với trạng thái không xấu hổ, được tự tin, là người không bỏn xẻn.” ‘Người bố thí’ bất cứ vật thí nào, đây là việc làm phước thiện có yếu tố tạo thành là vật thí. Ở đấy, nhân là điều này. ‘Số đông gần gũi người ấy. Người ấy đạt được tiếng tăm’ là tiếng đồn tốt đẹp lan truyền ở thế gian và đối với số đông người, (người ấy) trở nên đáng yêu và hợp ý, và việc người ấy qua đời không có sự ăn năn; điều này là hệ quả. Việc người ấy, khi tan rã thân xác, sanh lên ở chư Thiên, điều này là quả báo. Đây là sự xác định tham.

(2). Ở đấy, sự xác định sân là gì?

3. “Kẻ nào giết hại sanh mạng, và nói lời dối trá, lấy vật không được cho ở thế gian, và đi đến với vợ của người khác, và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men …

4. Kẻ không dứt bỏ năm thù oán được gọi là ‘có giới tồi,’ khi tan rã thân xác, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”

‘Kẻ nào giết hại sanh mạng’: kẻ xấu xa giết hại sanh mạng. ‘Và nói lời dối trá’: và nói lời dối trá do tình trạng phá hại bởi sân. ‘Và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men’: sân là căn nguyên. Và kẻ nào đam mê việc uống rượu và chất lên men, (kẻ ấy) tạo nên những người thù địch, giống như kẻ sống với vợ của người khác.

‘Kẻ không dứt bỏ năm thù oán’: sự vượt qua năm điều học, điều ấy là sự mô tả đối với tất cả các sự việc đã được sanh lên do sân, do chính nghiệp đã được sanh lên do sân ấy ‘được gọi là có giới tồi;’ pháp ấy cũng nên được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.

“Ba tướng trạng ngu của kẻ ngu: nói lời nói xấu xa, nghĩ ý nghĩ xấu xa, và làm hành động xấu xa.” Ở đấy, (kẻ ấy) nỗ lực một việc bằng thân và bằng khẩu, đây là việc ‘làm hành động xấu xa’ của người này; ở đấy, giống như việc (kẻ ấy) nói lời dối trá như đã được diễn giải ở trên, đây là việc ‘nói lời xấu xa’ của người này; và việc (kẻ ấy) suy tư về oán hận, uế hạnh về ý, đây là việc ‘nghĩ ý nghĩ xấu xa’ của người này. Việc kẻ ấy, được đầy đủ với ba tướng trạng ngu này, gánh chịu ba loại khổ, ưu sanh lên từ việc ấy, và kẻ ấy đi đến cuộc họp hoặc đi đến hội chúng, họ nói về câu chuyện sanh lên từ việc ấy. Khi xảy ra mười đường lối tạo nghiệp bất thiện như việc giết hại sanh mạng, v.v… kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy.

Còn có việc khác nữa, khi nhìn thấy kẻ trộm phạm lỗi với đức vua, bị đức vua bắt giữ, bị tước đoạt mạng sống, kẻ ấy suy nghĩ như sau: ‘Nếu đức vua biết luôn cả ta, đức vua có thể cho bắt luôn cả ta, rồi có thể tước đoạt mạng sống của ta.’ Kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy.

Còn có việc khác nữa, ‘kẻ ngu khi đã trèo lên ghế ngồi’ ... cho đến ... ‘cảnh giới sẽ dành cho ta sau khi giã từ nơi đây và chết đi,’ kẻ ấy cảm thọ khổ, ưu có căn nguyên từ việc ấy. Như thế, tướng trạng ngu là nguyên nhân, ba khổ sanh lên từ việc ấy là hệ quả, do sự hoại rã của thân (kẻ ấy) sanh lên ở các địa ngục là quả báo.

Đây là sự xác định sân.

(3). Ở đấy, sự xác định si là gì?

5. “Kẻ sẽ luân hồi đến một trăm ngàn kiếp, hoặc sẽ đi đến từ bào thai (này) đến bào thai (khác) nhiều hơn thế nữa.

6. Không chấp nhận lời dạy của đức Phật, chấp thủ các hành là tự ngã, những kẻ ấy sẽ thực hiện sự chấm dứt của khổ, sự kiện này không xảy ra.”

Người này đây, đã bị rơi vào luân hồi không biết được điểm khởi đầu, bị sanh và bị chết; người này có vô minh làm nhân. Luôn cả các việc liên quan đến các hành, các việc ấy đều có vô minh làm duyên. Việc không thấy được lời dạy của đức Phật đã được diễn giải ở Kinh về vô minh. Và kẻ nào cho rằng các hành là tự ngã, kẻ ấy đi đến năm tà kiến về năm uẩn: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta;’ đây là Kinh trình bày về vô minh, trưng bày về vô minh. Như vậy, bậc Đạo Sư diễn giải các Kinh theo phương pháp, đúng pháp, theo tính chất không phổ biến, chính điều ấy nên được diễn giải ở đấy, không phải cái khác.

“Này các tỳ khưu, bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào không nhận biết rằng: ‘Đây là Khổ’” (bốn Chân Lý với chi tiết). Ở đấy, việc không nhận biết ‘đây là Khổ,’ điều này là nguyên nhân. Người không nhận biết thì tạo tác các sự tạo tác nhiều loại, điều này là hệ quả. Và người bám víu các tà kiến (cho rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,’ điều này là hệ quả. Việc (kẻ ấy) làm hạ sanh sự hiện hữu lần nữa, điều này là quả báo. Pháp này đã được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.

Hơn nữa, ở đây, một số pháp nào đó là phổ biến. Nguyên nhân đương nhiên sẽ được trình bày ở Kinh ngay từ ban đầu. Giống như điều gì? “Này các tỳ khưu, đây là bốn việc đi đến sự thiên vị.” Ở đấy, kẻ đi đến sự thiên vị vì mong muốn, đi đến sự thiên vị vì sợ hãi, đây là bất thiện căn tham. Việc do sân hận chính là sân, việc do si mê chính là si. Ba bất thiện căn này nên được khảo sát ngay từ ban đầu như vậy. Ở nơi nào một (yếu tố) có thể được diễn giải thì ở nơi đó một (yếu tố) được diễn giải. Hai (yếu tố) là tương tự, ba (yếu tố) là tương tự. Bởi vì, khi không được trình bày ở phần đầu, thì không nên được diễn giải, dầu là nguyên nhân, là hệ quả, hay là quả báo.

Và ở trường hợp này, đây là câu kệ:

7. Vị nào vượt quá Giáo Pháp vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê, danh tiếng của vị ấy bị hủy hoại, ví như mặt trăng vào lúc hạ huyền.” Ở đấy, mong muốn là tham, như đã được diễn giải ở trên.

Đây là sự xác định si.

(4). Ở đấy, sự xác định vô tham là gì?

8. “Trong khi sống có sự quan sát về bất tịnh, khéo thu thúc ở các giác quan, và biết chừng mực về vật thực, có niềm tin, có sự ra sức tinh tấn, Ma Vương quả nhiên không ngự trị người ấy, ví như cơn gió (không đè bẹp được) ngọn núi đá.” Ở đấy, việc khảo sát về bất tịnh là sự buông bỏ thông qua việc nhìn thấy sự bất lợi ở các dục. Vị khéo thu thúc ở các giác quan để không còn chấp thủ (rằng): ‘Các xứ của ta chiếu sáng’ trong việc bổ túc pháp vô tham cho chính vị ấy. ‘Và biết chừng mực về vật thực’ là sự dứt bỏ tham ái ở các vị nếm. Như thế, vô tham này được xem là nền tảng trong việc quan sát về bất tịnh; vô tham ấy là nguyên nhân. Nó được xem là hành xứ trong việc phòng vệ các giác quan, được xem là yếu tố khác trong việc chừng mực về vật thực; đây là hệ quả. ‘Ma Vương quả nhiên không ngự trị người ấy, ví như cơn gió (không đè bẹp được) ngọn núi đá’ là quả báo. Như thế, pháp nào được trình bày ở phần đầu, cũng chính pháp ấy là ở phần giữa và ở phần cuối. “Này các tỳ khưu, Ta không nhận thấy một pháp nào khác đưa đến việc không sanh khởi sự mong muốn về dục chưa được sanh khởi, hoặc đưa đến việc dứt bỏ (sự mong muốn về dục) đã được sanh khởi, như là hiện tướng của bất tịnh.” Ở đấy, (đối với vị đang quan sát) hiện tướng của bất tịnh, sự mong muốn về dục chưa sanh khởi không được sanh khởi, sự mong muốn về dục đã sanh khởi được dứt bỏ. Đây là nền tảng của vô tham. Sự luyến ái về dục không sanh khởi lại nữa làm giảm dần sự luyến ái ở sắc, đến sự luyến ái ở vô sắc; như thế là quả báo. Như thế, pháp này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. Đây là sự xác định vô tham.

(5). Ở đấy, sự xác định vô sân là gì?

9. “Nếu người có tâm không xấu xa khởi tâm từ đến chỉ một sinh mạng, do việc ấy trở nên tốt lành, thì bậc Thánh tạo ra phước thiện vô số, trong khi có tâm thương tưởng đến tất cả các sinh mạng.” ‘Nếu người có tâm không xấu xa khởi tâm từ đến chỉ một sinh mạng’: đây là vô sân, là sự hứng thú với việc diệt trừ (sân). ‘Do việc ấy trở nên tốt lành’: người gắn bó với pháp tốt lành ấy đi đến sự nhận định về pháp là: ‘tốt lành,’ (!) giống như tuệ do sự nhận biết, sáng trí do sự thông thái. ‘Bậc Thánh tạo ra phước thiện vô số’: quả thành tựu của việc (phước thiện) ấy là thuộc về hợp thế, không thuộc về xuất thế. Ở đấy, việc khởi tâm từ –là nguyên nhân, việc (người ấy) trở nên tốt lành –là hệ quả, cho đến việc (người ấy) tạo ra nhiều phước thiện ở lãnh vực không oán hận –là quả báo. Như thế, vô sân được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. “Mười một lợi ích do sự giải thoát của tâm thông qua từ ái.” Ở đấy, sự giải thoát của tâm thông qua từ ái, việc này ở các pháp của bậc Thánh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái có nền tảng thuộc hợp thế —là nguyên nhân; việc có sự an lạc ở tương lai, hợp ý đối với nhiều người, mười một pháp này là hệ quả. Và vị chưa hoàn thành (phẩm vị A-la-hán) sanh lên ở tập thể Phạm Thiên —là quả báo. Đây là sự xác định vô sân.

(6). Ở đấy, sự xác định vô si là gì?

10. “Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, cái này dẫn đến sự thấu triệt, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử.”

‘Chính tuệ là tối thượng’ là nền tảng. ‘Dẫn đến sự thấu triệt’: nó thấu triệt đúng theo thực thể trong việc đưa đến Niết Bàn. ‘Nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử’ là vô si. ‘Tuệ’ là nguyên nhân, cái mà (vị ấy) nhận biết là hệ quả, ‘sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử’ là quả báo. Như thế, vô si được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo.

Này các tỳ khưu, đây là ba quyền: Vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền. Ở đấy, vị tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm nhằm lãnh hội Chân Lý Tối Thượng về Khổ chưa được lãnh hội. (Nên được thực hiện như vậy đối với bốn Chân Lý Cao Thượng.) Ở đấy, dĩ tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Chân Lý Cao Thượng về Khổ,’ (cho đến các pháp,) đây là dĩ tri quyền. Do sự diệt trừ các lậu hoặc, là bậc Vô Lậu, đây được gọi là cụ tri quyền. Tương tự, tuệ là nguyên nhân. Việc vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, việc vị ấy nhận biết, điều này là hệ quả. Do điều ấy, có sự diệt trừ toàn bộ các lậu hoặc, điều này là nguyên nhân. Trí về sự diệt trừ được sanh khởi, và trí về sự không còn tái sanh, điều này là hệ quả. Phẩm vị A-la-hán là quả báo. Ở đấy, ‘Sự (tái) sanh của ta đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm’ là trí về sự diệt trừ. ‘Ta nhận biết rằng:Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa’ là trí về sự không còn tái sanh. Các quyền này là như thế. Vô si được diễn giải theo nguyên nhân, theo hệ quả, và theo quả báo. Các pháp không phổ biến này đã được diễn giải.

Ở đấy, các thiện căn phổ biến là những gì? “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về thiện và gốc rễ của thiện.” Ở đấy, cái gì là gốc rễ của thiện? Vô tham, vô sân, vô si. Ở đấy, cái gì là thiện? Tám trạng thái chân chánh, chánh kiến ... cho đến ... chánh định. Ở đấy, các gốc rễ của thiện là nguyên nhân. Và vô tham làm sanh khởi ba hành động: (chánh) tư duy, (chánh) tinh tấn, và (chánh) định; điều này là hệ quả của vô tham. Ở đấy, vô sân là nguyên nhân. Nó thành lập ba pháp: chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng; điều này là hệ quả. Ở đấy, vô si là nguyên nhân. Nó thiết lập hai pháp: việc nhìn thấy không bị sai lệch và việc không nói nhảm; điều này là hệ quả. Quả báo của Phạm hạnh này là hai sự giải thoát: sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh; điều này là quả báo. Như thế, ba thiện căn này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo. Các thiện phổ biến nên được thấu triệt như vậy ở nơi có hai (căn thiện), ở nơi có ba (căn thiện).

Và ở trường hợp này, đây là câu kệ:

11. “Bậc Hiền Trí đã buông bỏ sự tạo tác dẫn đến hữu, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được. Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh, Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã, tựa như phá tan tấm áo giáp.”

‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được’: cái được tạo tác đo lường được và cái được tạo tác không đo lường được. Ở đấy, những cái được tạo tác đo lường được là hai pháp: sự hứng thú và sự bất lợi, chúng là được đo lường: ‘Sự hứng thú ở các dục là chừng này, sự bất lợi của cái này là chừng này, (còn) đây là sự thoát ra,’ vị nhận biết về Niết Bàn là như thế.

Cái không đo lường được là không thể đo lường bởi hai lý do: ‘Cái ấy là chừng này, cái ấy là không có cái khác,’ vì thế, là cái không đo lường được, rồi đã tạo ra ‘Niết Bàn là bảo vật’ với bản chất kỳ diệu là pháp không đo lường được. Ở đấy, nguồn sanh khởi của thiện là sự biết và sự thấy; đây là vô si. Ở đấy, sự buông bỏ đối với các sự tạo tác dẫn đến hữu là đã được biết; điều này là vô tham. Việc ‘vui thích ở nội tâm, được định tĩnh’ là sự ngăn chặn trạng thái tán loạn; điều này là vô sân. Như thế, đây là ba gốc rễ của thiện. ‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được,’ điều này là vô si. Sự hội tụ của các sự tạo tác dẫn đến hữu là tham, sự hứng thú đối với các chánh định, điều này là nguyên nhân. Việc ‘vui thích ở nội tâm,’ việc phá vỡ vỏ trứng vô minh, điều này là hệ quả. Đó là sự vận hành. Ba thiện căn này được diễn giải là nguyên nhân, là hệ quả, và là quả báo.

‘Cho đến chừng này, đây là sự vận hành và sự đình chỉ. Nó vận hành bởi các bất thiện căn, nó đình chỉ bởi các thiện căn;’ như thế tất cả bất thiện đi đến sự hội tụ với ba (căn) này. Cái ấy (ô nhiễm) có thể được diễn giải theo ngôn từ ở Giáo Pháp là: ‘tham ái,’ hoặc ‘giận dữ,’ hoặc ‘không nhận biết rõ,’ hoặc ‘tiềm ẩn,’ hoặc ‘gièm pha,’ hoặc ‘ác ý,’ hoặc ‘thất niệm,’ hoặc ‘ganh tỵ,’ hoặc ‘bỏn xẻn,’ hoặc ‘sự không biết,’ và chúng nên được diễn giải theo ba nền tảng ấy. Hai ngôn từ này (bất thiện căn và thiện căn) là thuật ngữ của Giáo Pháp đã được diễn giải không phải là ô nhiễm; cái đi đến sự liên kết, sự hội tụ ở chín thuật ngữ này là ô nhiễm, (ô nhiễm này) không phải là tham, không phải là sân, và không phải là si. Giống như các bất thiện căn, các thiện (căn) nên được diễn giải theo cách đối nghịch như vậy. Đây là sự xác định vô si.

(7). Ở đấy, sự xác định thân nghiệp là gì?

12. “Nên làm việc tốt lành bằng thân, nên thu thúc bằng thân, sau khi từ bỏ uế hạnh về thân, nên thực hành thiện hạnh về thân.” “Này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh về thân: tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa tà hạnh ở các dục;” đây là sự xác định thân nghiệp.

(8). Ở đấy, sự xác định khẩu nghiệp là gì?

13. “Các bậc đức độ đã nói: Lời khéo nói là tối thượng. Nên nói lời chính đáng, không phải sái quấy; điều ấy là thứ nhì. Nên nói lời khả ái, không phải không khả ái; điều ấy là thứ ba. Nên nói lời chân thật, không giả dối; điều ấy là thứ tư.” “Và đây là bốn thiện hạnh về khẩu.” Đây là sự xác định khẩu nghiệp.

(9). Ở đấy, sự xác định ý nghiệp là gì?

14. “Nên làm việc tốt lành bằng ý, nên thu thúc về ý, sau khi từ bỏ uế hạnh về ý, nên thực hành thiện hạnh về ý.” “Đây là ba thiện hạnh về ý: không tham đắm, không oán hận, chánh kiến.” Đây là sự xác định ý nghiệp. Đây là các Kinh không phổ biến.

Ở đấy, các Kinh phổ biến là những gì?

15. “Người có sự gìn giữ lời nói, đã khéo thu thúc về ý, và không nên làm việc bất thiện bằng thân, nên làm trong sạch ba đường lối tạo nghiệp này, nên thành đạt đạo lộ đã được tuyên thuyết bởi các bậc Ẩn Sĩ.”

“Này các tỳ khưu, đây là ba sự thanh tịnh: thanh tịnh của thân nghiệp, thanh tịnh của khẩu nghiệp, thanh tịnh của ý nghiệp. Ở đấy, thanh tịnh của thân nghiệp là gì? Tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc lấy vật không được cho, tránh xa tà hạnh ở các dục. Ở đấy, thanh tịnh của khẩu nghiệp là gì? Tránh xa việc nói dối, –nt– tránh xa việc nói nhảm nhí. Ở đấy, thanh tịnh của ý nghiệp là gì? Không tham đắm, không oán hận, chánh kiến.” Đây là Kinh phổ biến.

Các Kinh phổ biến và các Kinh không phổ biến nên được thấu triệt như thế. Sau khi thấu triệt, ý nghĩa của Kinh nên được diễn giải thông qua khẩu và thông qua thân.

(10). Ở đấy, sự xác định tín quyền là gì?

16. “Người nào có niềm tin không bị dao động, đã khéo được thiết lập ở đức Như Lai, và giới của người nào là tốt đẹp, được các bậc Thánh yêu thích, được ca ngợi.

17. Người nào có sự tịnh tín ở Tăng Chúng và có sự nhận thức được ngay thẳng, các vị đã nói về người ấy rằng: ‘Không bị nghèo khó,’ mạng sống của người ấy không phải là rỗng không.

18. Đức tin quả thật là niềm vui, sự thành đạt của chúng tôi là: ‘Vị ấy có đức tin,’ ‘có thể là trọn vẹn’ đối với đức Thế Tôn, sự tịnh tín đối với Giáo Pháp là có hình thức như thế ấy.” Đây là sự xác định tín quyền.

(11). Ở đấy, sự xác định tấn quyền là gì?

19. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.” “Này các tỳ khưu, đây là bốn chánh cần.” Đây là sự xác định tấn quyền.

(12). Ở đấy, sự xác định niệm quyền là gì?

20. “Điều tốt lành luôn luôn thuộc về người có niệm, người có niệm thành đạt hạnh phúc. Đối với người có niệm (sẽ) mỗi ngày một tốt hơn, (nhưng người ấy) không hoàn toàn thoát khỏi sự thù hận.”

“Bốn sự thiết lập niệm” nên được thực hiện với chi tiết. Đây là sự xác định niệm quyền.

(13). Ở đấy, sự xác định định quyền là gì?

21. “Bạch đấng Điều Ngự Trượng Phu, chư Thiên, nhân loại, tất cả chúng sinh không thể biết về các đề mục của Ngài trong khi Ngài thực hành định an tịnh không ô nhiễm, về điều được suy nghĩ bởi ý của Ngài trong khi Ngài mong muốn. ‘Điều mà đức Thế Tôn mong muốn ấy là điều gì?’”

“Này các tỳ khưu, đây là ba định: có tầm có tứ, không tầm có tứ, không tầm không tứ.” Đây là sự xác định định quyền.

(14). Ở đấy, sự xác định tuệ quyền là gì?

22. “Bởi vì tuệ là tối thượng ở thế gian, …” với chi tiết. “Này các tỳ khưu, đây là ba tuệ: tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được nghe (tuệ văn), tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được suy tính (tuệ tư), tuệ có yếu tố tạo thành do việc tu tập (tuệ tu).”

Đây là Kinh có sự xác định tuệ quyền. Đây là các Kinh có sự xác định quyền không phổ biến.

Ở đấy, các Kinh có sự xác định quyền phổ biến là những gì?

22. “Vị chưa xa lìa sự luyến ái ở các dục, vị có năm quyền còn yếu kém: tín, niệm, tấn, chỉ tịnh, và minh sát, (kẻ nào) công kích vị tỳ khưu như thế ấy, trước tiên bị tổn hại (chính bản thân).”

‘Đây là năm quyền’: Quyền, bắt đầu với tín quyền, nên được nhìn thấy. Kinh về ba niềm tịnh tín tuyệt đối nên được thực hiện với chi tiết. Đây là các Kinh có sự xác định các quyền phổ biến. Kinh ấy nên được diễn giải theo mỗi một sự xác định có sự kết nối với thiện hoặc bất thiện. Không có pháp nào khác cần được diễn giải. Ở đấy, thiện là phổ biến, thậm chí không phải là thiện thì là bất thiện, giống như có các thiện căn phổ biến và có các bất thiện căn phổ biến: vị dứt bỏ sự suy tầm về dục đã được sanh khởi –nt– bốn chánh cần, thiện và bất thiện.

Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược:

1. Người bị khuấy động có sự suy tầm,người bố thí trở nên đáng yêu, kẻ nào giết hại sanh mạng, ba tướng trạng của kẻ ngu.

2. Một trăm ngàn, và các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào, và do bốn sự thiên vị: vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê,

3. Trong khi sống có sự quan sát về bất tịnh, hiện tướng của bất tịnh là tương tự, nếu chỉ một sinh mạng được yêu quý, và luôn cả tâm từ đã khéo được tu tập.

4. Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, ba quyền là: Vị tri …, các gốc rễ của thiện và bất thiện, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được.

5. Nên làm việc tốt lành bằng thân, và ba thiện hạnh, các vị đã nói: Lời khéo nói là tối thượng, và (bốn) thiện hạnh về khẩu.

6. Nên làm việc tốt lành bằng ý, và các thiện hạnh về ý, người có sự gìn giữ lời nói, (đã khéo thu thúc) về ý, và ba sự thanh tịnh.

7. Người nào có niềm tin ở đức Như Lai, và ở sự sanh khởi đã được chỉ bảo, các người hãy nỗ lực hãy cố gắng, và trạng thái bốn chánh cần.

8. Điều tốt lành luôn luôn thuộc về người có niệm, sự tu tập về thiết lập niệm, điều không thể biết về điều Ngài đang mong muốn, và luôn cả ba loại định.

9. Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, ba tuệ đã được bày tỏ, vị chưa xa lìa sự luyến ái ở các dục, năm quyền bắt đầu với tín quyền.

Lãnh vực thứ ba - Sự Xác Định Kinh - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.