Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 2

Bản dịch

PE 2Lãnh Vực Thứ Nhì: Sự Hình Thành Giáo Lý

2. Sāsanapaṭṭhānadutiyabhūmi

Ở đấy, sự hình thành giáo lý là gì?

1. Kinh liên quan đến phiền não, 2. Kinh liên quan đến huân tập, 3. Kinh liên quan đến thấu triệt, 4. Kinh liên quan đến bậc Vô Học, 5. (Kinh) liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập, 6. (Kinh) liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt, 7. (Kinh) liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học, 8. (Kinh) liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt, 9. chỉ thị, 10. kết quả, 11. cách thức, 12. chỉ thị và kết quả, 13. kết quả và cách thức, 14. chỉ thị, kết quả, và cách thức, 15. sự hứng thú, 16. sự bất lợi, 17. sự thoát ra, 18. sự hứng thú và sự bất lợi, 19. sự hứng thú và sự thoát ra, 20. sự hứng thú và sự thoát ra, 21. sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra, 22. hợp thế, 23. xuất thế, 24. hợp thế và xuất thế, 25. nghiệp, 26. quả thành tựu, 27. nghiệp và quả thành tựu, 28. được diễn giải,

29. không được diễn giải, 30. được diễn giải và không được diễn giải, 31. trí (sự biết), 32. điều-có-thể-biết, 33. trí (sự biết) và điều-có-thể-biết, 34. sự thấy, 35. sự tu tập, 36. sự thấy và sự tu tập, 37. nghiệp cho quả thành tựu, 38. không phải nghiệp cho quả thành tựu, 39. không phải quả thành tựu và cũng không phải nghiệp cho quả thành tựu, 40. lời nói của Ta, 41. lời nói của vị khác, 42. lời nói của Ta và lời nói của vị khác, 43. sự xác định chúng sanh, 44. sự xác định pháp, 45. sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp, 46. sự ca tụng, 47. điều được cho phép, 48. điều bị từ khước, 49. điều được cho phép và bị từ khước, 50. sự xác định lời nói của Ta, 51. sự xác định lời nói của vị khác, 52. sự xác định lời nói của Ta và sự xác định lời nói của vị khác, 53. hành vi, 54. kết quả, 55. hành vi và kết quả.

(1). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não là Kinh nào?

01. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi sự trói buộc của xao lãng, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi theo sau già và chết, tựa như con bê bú sữa đi theo sau bò mẹ.” “Này các tỳ khưu, đây là năm pháp che lấp.”

(2). Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập là Kinh nào?

02. Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo, được tạo ra bởi tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy, ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình). Kinh thuộc Tương Ưng là: Đức Thế Tôn (đã chỉ bảo) điều này cho Mahānāma dòng Sakya ở thành Kapilavatthu của những người Sakya một cách chi tiết về phương pháp: tâm được phát triển đầy đủ với tín, giới, (văn, thí, tuệ) thì được phát triển đầy đủ theo trạng thái khác của bản thể, điều ấy được gọi là vào thời điểm cuối cùng. (?)

(3). Ở đấy, Kinh liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?

03. “Bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’ Vị được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng lũ trước đây chưa vượt qua, ngõ hầu không còn hiện hữu lại nữa.”

Ngài Ānanda hỏi bậc Đạo Sư rằng: “Bạch Ngài, các thiện giới có những mục đích gì?”

(4). Ở đấy, Kinh liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào?

04. “Tâm của người nào giống như tảng đá, đứng yên, không rung động, không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái, không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức, tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” “Bạch Ngài, đại đức Sāriputta đã va chạm vào con, đã không xin lỗi, rồi ra đi du hành,” việc giải thích của vị Sāriputta cần được thực hiện. “Bạch Ngài, đương nhiên đối với vị nào mà niệm hướng đến thân ở thân là không được thiết lập ...” nên được thực hiện với chi tiết.

(5). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập là Kinh nào?

05. “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy.” “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy” là phiền não. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra” là huân tập. “Bóng tối có sự tiến đến bóng tối …” với chi tiết. Ở đấy, bóng tối và sự tiến đến bóng tối là phiền não. Ánh sáng và sự tiến đến ánh sáng là huân tập.

(6). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?

06. Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn. Bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, sự mong muốn ở những người con, và ở những người vợ ...

07. ... các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn, có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ. Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.

“Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc ấy là không chắc chắn –nt– sự mong muốn ở những người con và ở những người vợ,” đây là phiền não. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục,” đây là thấu triệt. “Điều đã được suy tính, đã được xếp đặt, đã được tiềm ẩn, và sự hình thành của danh sắc,” với bốn thuật ngữ này là phiền não, với bốn thuật ngữ sau là thấu triệt.

(7). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào?

08. “Thế gian này bị đốt nóng,bị quấy nhiễu bởi (sáu) xúc, nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã. Dầu nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy.

09. Có sự hình thành theo một cách khác, thế gian bị dính mắc vào hữu, bị quấy nhiễu bởi hữu, lại thỏa thích hữu ấy. Thỏa thích cái nào, cái ấy là sự sợ hãi. Bị sợ hãi đối với cái nào, cái ấy là khổ.

Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu.

Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được giải thoát khỏi hữu.’

Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự thoát ra khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được thoát ra khỏi hữu,’ bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành.

Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.

Hãy nhìn xem thế gian này, số đông bị quấy nhiễu bởi vô minh, được hiện hữu, thích thú sự hiện hữu, không được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu. Bất cứ các hữu nào, ở mọi nơi, với mọi tính chất, tất cả các hữu ấy là vô thường, khổ đau, có tính chất biến hoại.”

10. “Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh, tham ái ở hữu của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu, do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, có sự lìa ái luyến và sự diệt tận không còn dư sót, Niết Bàn.

11. Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, Ma Vương đã bị chế ngự, cuộc chiến đã được chiến thắng, bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu.”

“Thế gian này bị đốt nóng” ... cho đến ... “(cái ấy là) khổ” là phiền não tham ái.

(Điều được đề cập trước đây là:) “Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la- môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được giải thoát khỏi hữu.’ Hoặc là bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự tách ly khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được tách ly khỏi hữu,’” điều này là phiền não tà kiến. Phiền não tà kiến ấy (!) và phiền não tham ái, cả hai điều này liên quan đến phiền não.

(Điều được đề cập trước đây là:) “Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu” ... cho đến ... “do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ” và “do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn,” điều này là liên quan đến thấu triệt. “Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy” ... cho đến ... “bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu,” điều này là liên quan đến bậc Vô Học. Bốn hạng người: Hạng đi xuôi dòng là phiền não, hạng có bản thân đã đứng vững và hạng đi ngược dòng là thấu triệt, hạng đứng ở đất liền là lãnh vực của bậc Vô Học.

(8). Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?

12. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt.”

“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự” là huân tập, “và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt” là thấu triệt.

“Khi các Pháp được dõi theo bởi tai, được ôn luyện bởi khẩu, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến, có năm điều lợi ích là điều mong đợi: Ở đây, đối với một người nào đó, các Pháp là được nghe nhiều, được dõi theo, được ôn luyện, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến, người ấy, trong khi gắn bó, trong khi cố gắng, trong khi tinh tấn, đạt được sự thù thắng ngay trong thời hiện tại. Nếu không đạt được sự thù thắng ngay trong thời hiện tại, thì đạt được khi là người bệnh. Nếu không đạt được khi là người bệnh, thì đạt được vào thời điểm lúc chết. Nếu không đạt được vào thời điểm lúc chết, thì đạt được khi là vị Thiên nhân. Nếu không đạt được khi có trạng thái Thiên nhân, thì do sự luyến ái với Pháp, do niềm vui với Pháp, đạt được quả vị Độc Giác.”

Ở đấy, việc ‘đạt được ngay trong thời hiện tại’ là thấu triệt, việc ‘đạt được quả vị Độc Giác trong thời vị lai’ là huân tập.

Mười sáu Kinh này (!) tồn tại, bao gồm toàn bộ Giáo Pháp. Chín thể loại Kinh được phân tích với mười sáu Kinh này, và nó được dành cho người có tuệ, không dành cho kẻ có tuệ tồi, dành cho người gắn bó, không dành cho kẻ không gắn bó, dành cho người sống không (bận rộn với) công việc.

Theo tự nhiên, phiền não hoạt động ở thế gian (!). Phiền não ấy có ba loại: “Phiền não tham ái, phiền não tà kiến, phiền não uế hạnh. Người vượt lên trên phiền não ấy còn ở trong các pháp phiền não, còn ở trong các pháp thuộc về thế gian.” Ở đấy, vị không thiện xảo là được thấy (rằng): Nếu vị ấy bám víu vào giới và tà kiến, thì phiền não tham ái ấy xảy đến cho vị ấy. Hơn nữa, nếu (ý nghĩ) khởi đến người này là như vầy: “Với giới này, hoặc với sự hành trì này, hoặc với sự khắc khổ này, hoặc với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó,” thì điều ấy là tà kiến của người này; phiền não tà kiến ấy xảy đến cho vị ấy.

Hơn nữa, nếu vị ấy đã được đứng vững ở giới và riêng đối với vị không bị bám víu vào giới và phận sự, đối với vị ấy, giới và phận sự đã được nắm giữ đúng đường lối làm sanh lên sự không ăn năn (lần lượt cho đến ‘sự thấy và biết về giải thoát’), và việc ấy là có cho vị ấy ngay trong thời hiện tại, hoặc vào lúc từ trần, hoặc khi vị ấy ở đời sống khác, hoặc ở các uẩn khác. Có điều được nghe như vầy: “Sự khéo thực hành đưa đến huân tập;” như thế được gọi là Kinh liên quan đến huân tập.

Ở đấy, ngay cả vị đã ổn định ở các giới cũng có tâm bị che lấp, do đó, đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp cho vị ấy nhằm dứt bỏ thân kiến; vị ấy chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn: hoặc là chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn trong thời kỳ của Giáo Pháp, hoặc là (chứng đắc) sáu thắng trí ở tại chỗ ngồi ấy. Ở đấy, có hai hạng người chứng đắc Thánh Pháp là: vị có xu hướng về niềm tin và vị có xu hướng về pháp. Ở đấy, vị có xu hướng về pháp là người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, vị có xu hướng về niềm tin là người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn có hai hạng: hạng có quyền sắc bén và hạng có quyền yếu kém. Ở đấy, người cần- được-dẫn-dắt cũng có hai hạng: hạng có quyền sắc bén và hạng có quyền yếu kém. Ở đấy, người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn có quyền yếu kém và người cần-được-dẫn-dắt có quyền sắc bén, những người này là không đồng đẳng về quyền. Ở đấy, trừ bớt những người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn và những người cần-được-dẫn-dắt, (còn lại) là những người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ; những người này là đồng đẳng về quyền. Những người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ này là ở giữa, hình thành một lãnh vực. Đây là ba hạng người: người hiểu nhanh, người hiểu chậm, và người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, (không có) hạng thứ tư, (cũng không có) hạng thứ năm. (!) Ở đấy, người hiểu nhanh, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu; Nhất Chủng là hạng Nhập Lưu thứ nhất. Ở đấy, người hiểu chậm, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu; Gia Gia là hạng Nhập Lưu thứ nhì. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu, là hạng Tối Đa Bảy Lần; đây là hạng Nhập Lưu thứ ba. Ba hạng người này đứng ở quả vị Nhập Lưu với tính trạng khác biệt về quyền. Người hiểu nhanh là Nhất Chủng, người hiểu chậm là Gia Gia, người cần-được-dẫn-dắt là Tối Đa Bảy Lần. Đây là Kinh liên quan đến thấu triệt.

Tuy nhiên, nếu tinh tấn hơn thế nữa, thì (người ấy) chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn. Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền sắc bén gồm có hai hạng: sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai là Trung Gian Bát-Niết-bàn và Tổn Hại Bát-Niết-bàn. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền sắc bén gồm có hai hạng: sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai là Vô Hành Bát-Niết-bàn và Hữu Hành Bát-Niết-bàn. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, trong khi chứng đắc quả vị Bất Lai, là Thượng Lưu Sắc Cứu Kính. Hạng người hiểu nhanh và hạng người hiểu chậm với sự khác biệt về quyền: hạng người hiểu nhanh có quyền sắc bén là Trung Gian Bát-Niết-bàn, [] hạng người hiểu nhanh có quyền yếu kém là Tổn Hại Bát-Niết-bàn. Hạng người hiểu chậm có quyền sắc bén là Vô Hành Bát-Niết-bàn, hạng người hiểu chậm có quyền yếu kém là Hữu Hành Bát-Niết-bàn, [] hạng người cần-được-dẫn-dắt là Thượng Lưu Sắc Cứu Kính. Như thế là năm hạng Bất Lai, thứ sáu là hạng Nhất Lai, và ba hạng Nhập Lưu; đây là chín hạng Hữu Học.

Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền sắc bén, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: hạng giải thoát cả hai phần và hạng giải thoát do tuệ. Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền yếu kém, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: hạng trụ kiếp và hạng có bản thể thấu triệt. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền sắc bén, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la- hán, gồm có hai hạng: hạng có khả năng chú tâm và hạng có khả năng bảo vệ. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền yếu kém, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: nếu chú tâm thì không viên tịch Niết Bàn, nếu không bảo vệ thì viên tịch Niết Bàn. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt đã gắn bó vào việc đeo đuổi sự tham thiền, có pháp thối giảm, hoặc là đã được cố định bởi nghiệp, hoặc là đắc đạo tột mạng. Đây là chín hạng A-la-hán.

Đây là Kinh có bốn loại: liên quan đến phiền não, ―nt― liên quan đến bậc Vô Học. Mười loại năng lực của đức Như Lai vận hành ở những hạng người này.

Mười loại (năng lực) nào? Ở đây, khi bánh xe Pháp chưa được chuyển vận bởi Chư Phật Thế Tôn, các vị Thiên tử có quyền lực lớn lao đã đi đến để yêu cầu rằng: “Xin đấng Thiện Thệ hãy chỉ bảo Giáo Pháp.” Trong khi xem xét bằng Phật nhãn vô thượng, Ngài đã nhìn thấy ba nhóm chúng sanh: nhóm được xác định có bản thể đúng đắn, nhóm được xác định có bản thể sai trái, nhóm chưa được xác định.

Ở đấy, “nhóm được xác định có bản thể đúng đắn đạt đến tà niệm,” sự kiện này không xảy ra; “có thể viên tịch Niết Bàn không cần có bậc đạo sư,” sự kiện này không xảy ra; “có thể đạt đến sự chứng đạt (về thiền),” sự kiện này có xảy ra.

Ở đấy, “nhóm được xác định có bản thể sai trái sẽ thực hành sự chứng đạt thuộc bậc Thánh,” sự kiện này không xảy ra; “sẽ thực hành sự chứng đạt sai trái không thuộc bậc Thánh,” sự kiện này có xảy ra.

Ở đấy, “nhóm chưa được xác định, trong khi thực hành đúng đắn, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể đúng đắn,” sự kiện này có xảy ra; “trong khi thực hành sai trái, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể đúng đắn,” sự kiện này không xảy ra; “trong khi thực hành đúng đắn, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể sai trái,” sự kiện này không xảy ra; “trong khi thực hành sai trái, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể sai trái,” sự kiện này có xảy ra.

“Cho đến như thế, có người sẽ kết tội Ta một cách đúng pháp rằng: ‘Các pháp này đã không được Ta nhận biết rõ ràng,’ trong khi Ta là Phật Chánh Đẳng Giác đang xem xét bằng Phật nhãn vô thượng về ba điều này,” sự kiện này không xảy ra; “có người sẽ kết tội Ta một cách đúng pháp về trạng thái chưa được cạn kiệt lậu hoặc của Ta trong khi Ta cho biết Ta có luyến ái đã được xa lìa,” sự kiện này không xảy ra. “Hơn nữa, về việc chỉ bảo Giáo Pháp đến nhóm chưa được xác định này, việc ấy không cho thấy đưa đến sự cạn kiệt hoàn toàn khổ đau cho người thực hành theo nó,” sự kiện này không xảy ra; “khi được giáo huấn như thế ấy, vị Thinh Văn của Ta thuộc nhóm chưa được xác định sẽ không chứng đắc pháp thù thắng nào khác so với trước đây,” sự kiện này không xảy ra.

“Thật vậy, việc bậc Hiền Trí chỉ bảo, huấn luyện cho chư Thiên, các loài rồng, và các Dạ-xoa bằng nhiều phương thức khác nhau, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, sau khi nói một cách khẳng định về các pháp, Ngài sẽ từ cách làm này đi đến cách làm khác,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về pháp.

“Hơn nữa, việc Ngài không thể hiểu được các ngôn ngữ này ở Kinh của chúng sanh theo khía cạnh ngôn ngữ,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về ngôn ngữ.

“Hơn nữa, ngôn ngữ không giúp cho các vị Thinh Văn ưa thích sự lãnh hội nhận thức được ý nghĩa ấy,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về ý nghĩa.

“Các vị Thiên tử có uy lực lớn đã đi đến gần (đức Phật) và hỏi các câu hỏi. Ý nghĩa ấy không được phân tích trọn vẹn khi Ngài bị áp chế về thân hoặc về ý, hoặc có sự tật nguyền ở bàn tay, hoặc bị què quặt ở bàn chân, hoặc bị mù lòa,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về phép biện giải.

“Chính sự an tịnh nào có ở các vị ấy, chính điều ấy là không hiện hữu,” sự kiện này không xảy ra. “Chính sự không an tịnh nào không có ở các vị ấy, chính sự không an tịnh ấy sẽ có ở các vị ấy,” sự kiện này không xảy ra. Mười đường lối tạo nghiệp bất thiện đối với Tập, đối với Diệt là tương tự như vậy.

“Ma Vương, Thiên Chủ Inda, Phạm Thiên, đức Như Lai, hoặc vị Chuyển Luân, vị ấy quả thật sẽ là nữ nhân,” sự kiện này không xảy ra. “Nam nhân sẽ là đức Chuyển Luân Vương, (sẽ là) Sakka, Chúa của chư Thiên,” sự kiện này có xảy ra. Như thế, vị này có lực với hình thức như vậy, có trí với hình thức như vậy; điều này gọi là trí về sự kiện và phi sự kiện, là Như Lai lực thứ nhất. Điều ấy nên được diễn giải: theo ba nhóm (chúng sanh), theo bốn pháp tự tin, theo bốn tuệ phân tích, liên quan đến sự tùy thuận sanh khởi thuận chiều và nghịch chiều, thiện sanh khởi ở các quả thành tựu của thiện, và việc thuộc về nữ nhân và nam nhân. Đây là Như Lai lực thứ nhất.

Đức Như Lai biết như vầy: Hơn nữa, trong số ấy, (có thể là) nhóm được xác định có bản thể đúng đắn, đây không phải là lối thực hành dẫn đến mọi nơi, đây chính là lối thực hành dẫn đến Niết Bàn. Ở đấy, có thể là nhóm được xác định có bản thể sai trái; đây cũng không phải là lối thực hành dẫn đến mọi nơi, đây chính là lối thực hành dẫn đến nhân sanh khởi của hiện thân. Người này, đứng vững ở sự thực hành cách kia cách nọ, đi đến Niết Bàn, đi đến đọa xứ, đi đến chốn của chư Thiên và nhân loại. Hoặc có thể thực hành lối thực hành này nọ, có thể đi đến mọi nơi; đây là lối thực hành dẫn đến mọi nơi. Ở đây, cái biết đúng theo thực thể được gọi là trí về lối thực hành dẫn đến mọi nơi. Đây là Như Lai lực thứ nhì.

Hơn nữa, đây là lối thực hành dẫn đến mọi nơi với các khuynh hướng khác nhau, một số thiên về các dục, một số thiên về thực hành khổ hạnh, một số gắn bó với việc hành hạ bản thân, một số tin rằng sự trong sạch thông qua luân hồi, một số thiên về sự thực hành không bị chê trách. Cái biết đúng theo thực thể về việc đi đến đa dạng của các chúng sanh bị trói buộc vào tính khí này khác nhận biết việc đi đến nhiều khuynh hướng của thế gian đúng theo thực thể. Đây là Như Lai lực thứ ba.

Ở đấy, các khuynh hướng là thuộc về các chúng sanh; chúng luyện tập, tu tập, thực hành thường xuyên (các khuynh hướng ấy). (?) Đối với những kẻ có sự phụ thuộc vào nghiệp, có khuynh hướng về điều ấy, chính yếu tố ấy nâng đỡ chúng. Yếu tố ấy là điều nào? Yếu tố xuất ly, yếu tố năng lực, bất cứ tính chất đúng đắn và tính chất sai trái nào là yếu tố mà chúng hướng đến, chúng không nhận thấy thêm nữa về các điều nào khác. Sau khi chấp chặt vào chính trạng thái ấy – sanh đưa đến lão tử (?) – chúng phát biểu (rằng): “Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,” giống như điều đức Thế Tôn đã thuyết cho Thiên Chủ Sakka. Việc ấy, ở đấy, là cái biết đúng theo thực thể. Điều này được gọi là Như Lai lực thứ tư.

Ở đấy, bất cứ yếu tố nào chúng nghĩ là “tốt nhất” thì chúng khởi đầu với từng yếu tố ấy bằng thân và bằng khẩu; sự khởi đầu là thuộc về ý, sự cố ý là nghiệp; thuộc về thân thuộc về khẩu là sự khởi đầu, trạng thái thuộc về ý là ở bên trong nghiệp. Đức Như Lai nhận biết như vầy: “Nghiệp có hình thức như vậy đã được tạo ra bởi chúng sanh này có bản chất như vậy, việc ấy là thời quá khứ. Do nhân này, quả thành tựu có hình thức như vậy của việc ấy được chín muồi ở thời hiện tại, hoặc sẽ được chín muồi ở thời vị lai.” Ngài nhận biết về thời hiện tại như vầy: “Người này, có bản chất như vậy, làm hành động này do tham ái và do tà kiến. Do nhân này, quả thành tựu của việc ấy sẽ được hạ sanh không ở trong thời hiện hại, (nhưng) ở lần sanh kế, hoặc ở đời sống khác.” Ngài nhận biết (về thời vị lai) như vầy: “Người này sẽ làm hành động có hình thức như vậy ở thời vị lai. Do nhân này, quả thành tựu có hình thức như vậy của việc ấy sẽ được hạ sanh do nhân này.” Có bốn vị thế của nghiệp: vị thế của nghiệp này có lạc hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai –nt– Như thế, Ngài nhận biết về tính trạng khác biệt của quả thành tựu theo nhân theo sự kiện, về tính chất cao thấp, về tính chất thấp kém hoặc cao sang của các sự thọ trì về hành động ở quá khứ, vị lai, và hiện tại. Điều này được gọi là trí về quả thành tựu của nghiệp, là Như Lai lực thứ năm.

Cũng vậy, các chúng sanh đang nhận lãnh cho mình sự thọ trì về hành động, trong trường hợp ấy, Ngài nhận biết như vầy: “Đối với người có khuynh hướng về nghiệp, có tánh luyến ái, yếu tố xuất ly của người này đi đến sự viên mãn. Đối với người đang gắn bó vào việc theo đuổi luyến ái, sơ thiền của người ấy bị ô nhiễm. Nếu trong khi người ấy tinh tấn vượt trội trở lại, thì lối thực hành liên quan đến thù thắng của người ấy được gắn kết vào ý đã đi đến sự thanh lọc do thiền, bởi vì chỉ riêng phần liên quan đến thiền của người ấy mà nhị thiền của người đã trú vững ở sơ thiền đi đến sự thanh lọc. Và đối với người có ham muốn thể nhập tam thiền, hỷ quyền chiếm cứ tâm của người ấy và tồn tại; đối với người ấy, hỷ ấy tồn tại chỉ ra tam thiền liên quan đến không thù thắng. – – Nếu (vị ấy) nhận biết đúng theo thực thể sự thoát ra của điều ấy, tứ thiền của vị có trạng thái như thế ấy thật sự đi đến sự thanh lọc. Có các pháp liên quan đến thoái hóa của tứ thiền, và các pháp ấy phát sanh ở đâu thì nhờ chúng mà tứ thiền được thấy là sự thanh lọc. Bốn sự thể nhập với sự thể nhập theo tập tính, ba lối vào giải thoát, tám giải thoát là tương tự như vậy. Các thiền: bốn thiền. Các giải thoát: tám giải thoát và ba lối vào giải thoát. Các định: bốn định là định do mong muốn, định do tinh tấn, định do tâm, định do thẩm xét. Các sự thể nhập: bốn sự thể nhập do tập tính; như thế là các sự thể nhập về giải thoát của bốn thiền này. Phiền não có hình thức như vậy là của người có tánh luyến ái, tương tự như vậy đối với người có tánh sân hận, đối với người có tánh si mê. Sự thanh lọc có hình thức như vậy là của người có tánh luyến ái.” Như thế, ở đây, cái biết đúng theo thực thể là không phổ biến đối với tất cả chúng sanh. Điều này được gọi là Như Lai lực thứ sáu.

Ở đấy, đức Như Lai nhận biết như vầy: “Các pháp hợp thế, các pháp xuất thế đạt được tên gọi là ‘quyền’ liên quan đến sự tu tập sau khi đã nắm lấy lãnh vực chủ đạo, đạt được tên gọi là ‘lực’ sau khi đã nắm lấy ý và ý quyền đã đi đến sức mạnh, đạt được tên gọi là ‘tinh tấn’ sau khi đã nắm lấy yếu tố nỗ lực.” Như thế, trí có hình thức như vậy của Ngài đã thực hiện sự chỉ bảo Giáo Pháp rằng: “Những người này đã thành tựu những pháp này.” Khuynh hướng là biểu hiện và là phần tử thuộc về xu hướng và tập tính của những người đã thành tựu (chúng). Điều này được gọi là trí về tính trạng khác biệt về quyền, về lực, về sự tinh tấn của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, – là Như Lai lực thứ bảy.

Và ở đấy, đức Như Lai nhận biết về cảnh giới của những kẻ có sự ràng buộc và của các bậc Hữu Học ở các thế giới và ở các lãnh địa thông qua hai lực: thông qua sự nhớ lại các kiếp sống trước đây ở sự luân hồi thuộc quá khứ và thông qua Thiên nhãn về sự tử vong và sự sanh lên giờ đây thuộc hiện tại. Như thế, đây là hai lực đã được quyết đoán từ Thiên nhãn. Lực ấy ở thời quá khứ là hành xứ của Thiên nhãn, lực ấy giờ đây là hành xứ của niệm. Như thế, trí về các kiếp sống trước đây của bản thân và của những người khác với nhiều hình thức, với những biểu hiện khác nhau thuộc thời hiện tại nhờ vào Thiên nhãn. Đây là hai lực của đức Như Lai: kiếp sống trước đây là thứ tám, Thiên nhãn là thứ chín.

Còn có việc khác nữa, đức Như Lai nhận biết thiền của các bậc Thánh là sự thanh lọc liên quan đến thấu triệt rằng: “Người này, với đạo lộ này, với lối thực hành này, do sự cạn kiệt của các lậu hoặc, chứng ngộ, đạt đến, và an trú vào sự không còn lậu hoặc, sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ ngay trong thời hiện tại.” Như thế, trí về sự diệt trừ các lậu hoặc của bản thân liên quan đến bốn lãnh vực đứng chung với tà kiến cho đến của chín hạng A-la-hán (tr. 43); sự diệt trừ lậu hoặc là có giới hạn đối với các vị Hữu Học, là không giới hạn đối với các vị A-la-hán. Ở đấy, sự giải thoát của tâm là vô lậu với hai lậu hoặc: dục lậu và hữu lậu, sự giải thoát của tuệ là vô lậu với hai lậu hoặc: kiến lậu và vô minh lậu. Cái biết đúng theo thực thể về hai sự giải thoát này, điều này được gọi là trí về sự diệt trừ các lậu hoặc, – là Như Lai lực thứ mười.

Đứng vững ở mười lực này, đức Như Lai chỉ bảo Giáo Lý theo năm loại: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập, liên quan đến bậc Vô Học.

Ở đấy, vô tham là sự thoát ra của ô nhiễm tham ái, vô si là sự thoát ra của ô nhiễm tà kiến, ba thiện hạnh là sự thoát ra của ô nhiễm uế hạnh.

Điều gì là căn nguyên? Đây là ba uế hạnh về ý: tham đắm, oán hận, tà kiến.

Ở đấy, tham đắm, uế hạnh về ý, tạo lập thân nghiệp (là) lấy vật không được cho và mọi việc gắn liền với điều ấy, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói dối và mọi điều xa lìa thực thể, mọi lời nói không có thật, mọi sự gièm pha, ác ý; ‘tham đắm là gốc rễ của bất thiện.’ Nói dối, lấy vật không được cho là sự cố ý do tham đắm.

Ở đấy, oán hận, uế hạnh về ý, tạo lập thân nghiệp (là) giết hại sinh mạng và toàn bộ việc ấy (là) lôi kéo, lôi đi, trói buộc, chọn lựa, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói đâm thọc, nói thô lỗ.

Và tà kiến, uế hạnh về ý, kết nối tham đắm, oán hận, tà kiến. Bất cứ tà kiến nào của một ai đó, (ví dụ) sự xả thí sanh từ luyến ái hoặc sanh từ sân hận, toàn bộ đều được tạo ra từ tà kiến. Bởi lý do này, tà kiến tạo lập thân nghiệp (là) tà hạnh trong các dục, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói nhảm nhí. Đây là ba uế hạnh, là các gốc rễ của bất thiện.

Tham đắm là tham, oán hận là sân, tà kiến là si; chúng tạo lập tám tính chất sai trái. Khi các điều ấy đã được nắm giữ ở ba gốc rễ của bất thiện, mười loại bất thiện đi đến sự viên mãn. Và đối với ba loại uế hạnh phiền não ấy, Kinh liên quan đến huân tập là sự thoát ra.

Ở đấy, sự diễn giải nào bị lệ thuộc vào số nhiều giống như tham, sân, và luôn cả si; ở đấy (nếu) không bị lệ thuộc thì ở đây tham là nổi trội. Bởi lý do ấy, tham được nhận biết trong số các pháp ấy. Ở đấy, cái này là si, là bất thiện, cái này là vô minh, là cái đã được chấp chặt vào sắc theo bốn cách: người đã đi đến vô minh nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc.

Ở đấy, thuật ngữ nào nói về sự đoạn diệt của thân kiến? ‘Mạng sống và thân thể là một’ là quan điểm hư vô, và quan điểm tự nhiên phát sanh ‘người khác làm, người khác cảm thọ,’ ba thuật ngữ của sáu mươi ý tưởng sau cùng (?) thuộc thân kiến liên quan đến thuyết trường tồn: ‘mạng sống và thân thể là khác,’ (quan điểm) vô hành, và khổ ấy là thuộc về người đang ước muốn: chúng được phân theo vô nhân, bản tánh không vượt trội của các nghiệp, và tất cả được ước lượng. (?) Ở đấy, các đạo sĩ lõa thể tuyên bố về 86 (?) sự trong sạch thông qua luân hồi (cho rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại.’ Giống như bốn nền tảng về thân kiến ở sắc, hai mươi nền tảng ở năm uẩn là tương tự; thân kiến liên quan đến thuyết trường tồn. Các đạo sĩ lõa thể khác và những người theo học thuyết trường tồn liên hệ, bám víu vào giới và phận sự (nghĩ rằng): ‘Với pháp này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó.’ Đây là sự bám víu vào giới và phận sự. Ở đấy, do thân kiến, người ấy nhận thấy sắc là tự ngã (rằng): ‘Mạng sống và thân thể là một,’ rồi nghi ngờ điều ấy, hoài nghi, không hướng đến, không tin tưởng về điểm khởi đầu, về điểm kết thúc, về điểm khởi đầu và điểm kết thúc ―nt―. Như thế đây là cận phiền não của người đã đứng vững ở các sự việc liên quan đến huân tập. Ở đấy, người ấy dứt bỏ mọi điều đã hoài nghi nhờ vào tín quyền, nhìn thấy sanh và diệt nhờ vào tuệ quyền, làm cho tâm được chuyên nhất nhờ vào định quyền, nỗ lực nhờ vào tấn quyền. Người ấy, với năm quyền này, là vị có xu hướng về niềm tin, được gắn chặt vào niềm tịnh tín tuyệt đối, làm sanh khởi định không bị gián đoạn. Với các quyền được trong sạch, vị có xu hướng về pháp làm sanh khởi định không bị gián đoạn với trạng thái không cần trợ duyên. Người ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ.’ Đây là Kinh liên quan đến nhận thức. Trong số năm sự ràng buộc thuộc hạ phần của người ấy, ba sự ràng buộc sẽ được dứt bỏ do thấy, hai (sự ràng buộc còn lại) được dứt bỏ tất cả một cách trọn vẹn thì đã được thực hiện bởi cá nhân. Ở đấy, ba gốc rễ của bất thiện sẽ được dứt bỏ do tu tập được đề cập ở trên làm hạ sanh sáu sự hiện hữu (3 Đạo và 3 Quả còn lại). Ở đấy, khi tham đắm và oán hận ấy đã được giảm thiểu, sáu sự hiện hữu đi đến giới hạn là sự hoàn toàn cạn kiệt; hai sự hiện hữu là còn sót lại. Tham đắm và oán hận của vị ấy là đã được hoàn toàn cạn kiệt tất cả một cách trọn vẹn. Một sự hiện hữu là còn sót lại. Và sự hiện hữu ấy được hạ sanh do tác động của ngã mạn. Mặc dầu ở đây cũng có bốn ô nhiễm khác là sắc ái, hữu ái, vô minh, phóng dật, các trạng thái ngã mạn ấy ở người này không đủ năng lực để nhấn chìm tự mãn về bản ngã, tất cả các hạng người ấy (4 Đạo và 3 Quả) đều nỗ lực về việc dứt bỏ tự mãn về bản ngã. Và khi chúng (các lậu hoặc) còn chưa cạn kiệt, điều này là vượt trội ở lãnh vực của việc thấy. Kinh liên quan đến tu tập là ở năm hạng người Hữu Học: ở ba hạng thực hành và ở hai hạng đứng vững ở Quả vị. Kinh liên quan đến bậc Vô Học là vượt lên trên điều ấy, là lãnh địa không bị áp chế ở bất cứ đâu.– – Và Kinh thứ năm này đã được chỉ bảo cho ba hạng người: cho phàm phu, cho bậc Hữu Học, cho bậc Vô Học. Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập là dành cho phàm phu, Kinh liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập là dành cho năm hạng Hữu Học, Kinh đã được diễn giải đầu tiên liên quan đến bậc Vô học là dành cho tất cả các vị A-la-hán. Hơn nữa, Kinh theo năm loại nên được tìm kiếm ở hai mươi bảy cách biểu đạt. (?) Ngài đã đạt và vượt lên trên đối với các mục tiêu của Kinh ở trong số ấy. Và Kinh ấy, với sự giản lược, được xếp chung theo năm mươi cách biểu đạt; năm mươi cách biểu đạt được diễn giải ở phần Giáo Lý (tr. 33), trong khi được giản lược, thì được xếp theo mười cách biểu đạt; khi được tồn tại với việc trình bày Chân Lý Cao Thượng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào tám cách biểu đạt. Và ở bốn Kinh phổ biến là lãnh vực phối hợp cách truyền đạt, chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp theo năm loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến tu tập, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào bốn loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào ba loại Kinh: liên quan đến phàm phu, liên quan đến bậc Hữu Học, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào hai loại Kinh: liên quan đến thấu triệt và liên quan đến sự thực hành trước đây. Giống như điều đã được đức Thế Tôn nói đến: “Trong khi nhìn thấy hai điều lợi ích, các đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ bảo Giáo Pháp: Sutta, Geyya, –nt–.” Bậc Đạo Sư vận dụng năng lực trong khi liên tưởng với chút ít khó nhọc về những người đã có sự thực hành trước đây. Và các sự thực hành trước đây, trong khi được liên tưởng đến, sẽ đưa đến sự nâng đỡ cho những người tốt lành. Ở đấy, vị đang nhận thấy tính trạng khác biệt về tuệ của bản thân nên kết hợp các phần tóm tắt của Kinh theo tám cách ở mỗi một trường hợp có khả năng, sau khi đã kết hợp ở mỗi một trường hợp ấy rồi nên diễn giải ý nghĩa của Kinh. Bởi vì không chú tâm thanh lọc niệm, không ai có thể diễn giải ý nghĩa của Kinh đúng theo thực thể.

Ở đấy, đây là các kệ ngôn tóm lược của các Kinh đầu tiên: (a) Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, và năm pháp che lấp, các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, và Mahānāma dòng Sakya. (b) Bên trên, bên dưới, vị đã được giải thoát, và giới có những mục đích gì, tâm của người nào giống như tảng đá, phần mở đầu các câu hỏi về vị Upatissa. (c) Niệm hướng đến thân của vị nào, vật đã được che đậy, bóng tối có sự tiến đến bóng tối, sự trói buộc ấy là không chắc chắn, điều đã được suy nghĩ, ‘thế gian này’ là phần mở đầu. (d) Và còn có bốn hạng người, phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, khi các Pháp được dõi theo bởi tai, đây là sự tuần tự của chúng.

(9). Ở đấy, điều gì là chỉ thị?

13. “Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, nếu khổ đau không được các ngươi ưa thích, các ngươi chớ làm việc ác dầu là công khai hay kín đáo.”

“Này Rādha, ngươi hãy là người không có sự trông mong ở sắc quá khứ.” (Câu kệ) nên được thực hiện với chi tiết.

“Này Ānanda, người có giới sẽ không phải suy tính rằng: ‘Làm thế nào để sự không ăn năn có thể sanh khởi đến tôi?’” Điều này gọi là chỉ thị.

(10). Ở đấy, điều gì là kết quả?

14. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Điều này là kết quả.

(11). Ở đấy, điều gì là cách thức?

15. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ đau, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.”

“Vị tỳ khưu thành tựu bảy yếu tố có thể làm dao động luôn cả Núi Chúa Hi Mã Lạp, thì còn có lời nói gì đến vô minh tệ hại?” (thể loại veyyākaraṇa nên được thực hiện ở Nhóm Bảy). Điều này là cách thức.

(12). Ở đấy, điều gì là chỉ thị và kết quả?

16. “Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, nếu khổ đau không được các ngươi ưa thích, các ngươi chớ làm việc ác dầu là công khai hay kín đáo.

17. Và nếu các ngươi sẽ làm việc ác, hoặc đang làm, thì không có sự thoát ra khỏi khổ đau cho các ngươi, cho dầu các ngươi lánh xa và trốn chạy.” Ở câu kệ đầu là chỉ thị, ở câu kệ sau là kết quả.

“Sau khi đặt nền tảng ở giới, hai pháp cần được tu tập: sự tu tập về tâm và sự tu tập về tuệ.” Điều này là chỉ thị, và sự xa lìa luyến ái là kết quả.

(13). Ở đấy, điều gì là kết quả và cách thức?

18. “Sau khi đặt nền tảng ở giới, người có trí tu tập tâm và tuệ. Vị tỳ khưu tinh cần, chín chắn, vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.” Ở nửa câu kệ đầu là cách thức, ở nửa câu kệ sau là kết quả.

“Nandiya dòng Sakya - ở khu vườn nhỏ Nigrodha trong thành Kapilavatthu,” y cứ theo bài Kinh từ phần gốc cho đến ở các phần sáu pháp, rồi thêm nữa ở các phần năm pháp, cho đến (câu) “họ không nhận thấy việc cần phải làm của bản thân;” điều này là cách thức. “Vị đệ tử của bậc Thánh dứt bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ,” như thế ở tất cả các phần sáu pháp và năm pháp; điều này là kết quả và cách thức.

(14). Ở đấy, điều gì là chỉ thị, kết quả, và cách thức?

19. “Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không, luôn luôn có niệm. Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết.”

‘Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không’ là chỉ thị, ‘luôn luôn có niệm’ là cách thức, ‘sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết’ là kết quả.

“Này các tỳ khưu, hãy tu tập định. Được định tĩnh, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận biết ‘sắc là vô thường.’ Trong khi thấy như vậy, vị đệ tử của bậc Thánh được hoàn toàn giải thoát khỏi sanh –nt– luôn cả những lo âu.” Ở đây, có luôn cả ba (chỉ thị, kết quả, và cách thức).

(15). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?

20. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều mà con người ước muốn.” Điều này là sự hứng thú.

“Cư xử đúng Pháp, cư xử bình đẳng, việc làm tốt lành chính là nguyên nhân, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh, khi tan rã thân xác, tái sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).” Điều này là sự hứng thú.

(16). Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?

21. “Thật vậy, kẻ bị chết liên quan đến các dục, tựa như kẻ được thoát khỏi tất cả.” (?) Điều này là sự bất lợi.

Ở Kinh ‘Ví Dụ về Ngọn Núi’ thuộc Tương Ưng Pasenadi. Điều này là sự bất lợi.

(17). Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?

22. “Người nào lánh xa các dục tựa như các bàn chân (lánh xa) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, vượt qua hẳn sự vướng mắc này ở thế gian.” Kinh ở Tương Ưng, cây san hô có chiếc lá úa vàng, có chiếc lá rụng. Điều này là sự thoát ra.

(18). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú và sự bất lợi?

23. “Con người làm những việc nào, thì sẽ thấy những việc ấy ở bản thân. Người làm lành thấy điều lành, và người làm ác thấy điều ác.” Ở đấy, việc người làm ác gánh chịu, điều này là sự bất lợi. Việc người làm lành thọ hưởng, điều này là sự hứng thú. Câu trả lời ở nhóm tám về ‘lợi lộc và không lợi lộc, …’ ở đấy, ‘không lợi lộc, không danh vọng, chê bai, khổ đau’ là sự bất lợi; ‘lợi lộc, danh vọng, an lạc, khen ngợi’ là sự hứng thú.

(19). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú và sự thoát ra?

24. “Quả thành tựu của các việc phước thiện là an lạc, và chủ tâm được thành tựu, và (người ấy) mau chóng chứng đắc Niết Bàn, là sự an tịnh tối thượng.” Quả thành tựu của các việc phước thiện và sự thành tựu của chủ tâm; điều này là sự hứng thú. Việc (người ấy) mau chóng chứng đắc Niết Bàn, sự an tịnh tối thượng; điều này là sự thoát ra. “Đối với vị đại nhân đã được thành tựu với ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, chỉ có hai con đường: Nếu ở tại gia thì trở thành Vua Chuyển Luân” (cho đến “chinh phục và ngự trị”); điều này là sự hứng thú. “Nếu rời nhà xuất gia sống không nhà” (toàn bộ với chi tiết); đây là sự thoát ra. Điều này là sự hứng thú và sự thoát ra.

(20). Ở đấy, điều gì là sự bất lợi và sự thoát ra?

25. “Sau khi biết nỗi nguy hiểm của sự nắm giữ, nguồn sanh khởi của sanh và tử, (vị ấy) không còn nắm giữ và tịch diệt do sự diệt trừ hoàn toàn đối với sanh và tử.” Ở nửa câu kệ đầu, ‘nguồn sanh khởi của sanh và tử;’ điều này là sự bất lợi. ‘(Vị ấy) không còn nắm giữ và tịch diệt do sự diệt trừ hoàn toàn đối với sanh và tử;’ điều này là sự thoát ra. “Thật vậy, thế gian (thân xác) này bị rơi vào tình trạng khó khăn: bị sanh ra, bị già cỗi, và bị chết đi!” ... cho đến ... “khi nào sự thoát ra của khổ này, của lão tử sẽ được nhận biết?” Ở đây, việc khảo sát là sự bất lợi. ‘Vị từ bỏ sự thèm khát và xuất ly’ ... cho đến ... ‘kinh thành cổ;’ đây là sự thoát ra. Điều này là sự bất lợi và sự thoát ra.

(21). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra?

26. “Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý, khuấy động tâm theo nhiều hình thức, –nt– Vì thế, tâu đức vua, tôi đã xuất gia, –nt– chỉ riêng hạnh Sa-môn không lỗi lầm là tốt hơn.”

‘Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý;’ điều này là sự hứng thú. ‘Khuấy động tâm theo nhiều hình thức;’ điều này là sự bất lợi. ‘Vì thế, tâu đức vua, tôi đã xuất gia, … chỉ riêng hạnh Sa-môn không lỗi lầm là tốt hơn;’ điều này là sự thoát ra. Kinh Ví Dụ Người Chài Lưới. Hoặc là, với sự mong mỏi một người lún sâu vào nghiệp sẽ được cảm thọ, nếu như thế ấy thì người ấy cũng gánh chịu từng ác nghiệp một; ở đấy, ‘với nghiệp sẽ được cảm thọ khổ và với thân không được tu tập’ ... cho đến ... ‘có tâm ý nhỏ nhoi’ chỉ ra sự bất lợi; với nghiệp sẽ được cảm thọ lạc chỉ ra sự hứng thú; việc tương tự trước đây là Mahānāma có tâm đã được tu tập, có thân đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập; điều này là sự thoát ra.

(22). Ở đấy, Kinh hợp thế là Kinh nào?

27. “Ví như sữa không trở chua (ngay lập tức), nghiệp ác đã làm không trổ quả (liền liền), nó theo đuổi kẻ ngu, thiêu đốt, ví như ngọn lửa đã được phủ tro.” Bốn việc đi đến sự thiên vị; đây là Kinh hợp thế.

(23). Ở đấy, Kinh xuất thế là Kinh nào?

28. “Vị nào có các giác quan đã đi đến sự yên lặng, giống như những con ngựa đã khéo được huấn luyện bởi người đánh xe, có ngã mạn đã được dứt bỏ, không còn lậu hoặc, ngay cả chư Thiên cũng yêu mến vị có đức hạnh như thế ấy.” “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về chánh định cao thượng;” đây là Kinh xuất thế.

(24). Ở đấy, Kinh hợp thế và xuất thế là Kinh nào?

29. “Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.” ‘Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu’ là hợp thế. ‘Vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục’ là xuất thế. ‘Có sự mong muốn ở đoàn thực’ là hợp thế. ‘Không có sự mong muốn’ là siêu thế. Đây là Kinh hợp thế và xuất thế.

(25). Ở đấy, điều gì là nghiệp?

30. “Kẻ nào giết hại sanh mạng, và nói lời dối trá, lấy vật không được cho ở thế gian, và đi đến với vợ của người khác, và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men …

31. Kẻ không dứt bỏ năm thù nghịch được gọi là ‘có giới tồi,’ (khi tan rã thân xác, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”) “Này các tỳ khưu, đây là ba uế hạnh;” điều này là nghiệp.

(26). Ở đấy, điều gì là quả thành tựu?

32. “Tổng cộng tròn đủ sáu chục ngàn năm.” “Này các tỳ khưu, địa ngục tên Sáu Xúc Xứ đã được Ta nhìn thấy; cõi Trời tên Sáu Xúc Xứ đã được Ta nhìn thấy;” điều này là quả thành tựu.

(27). Ở đấy, điều gì là nghiệp và quả thành tựu?

33. “Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sau khi sanh lên từ khối sắt nó ăn mòn chính khối sắt ấy, tương tự như thế, các việc làm của bản thân dẫn dắt kẻ có sự thọ dụng bốn món vật dụng thiếu sự quán xétđi đến khổ cảnh.” ‘Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt’ ... cho đến ... ‘các việc làm của bản thân’ là nghiệp, ‘dẫn dắt … đến khổ cảnh’ là quả thành tựu. ‘Trong khi thực hành đúng đắn đối với bốn hạng người: mẹ, cha, đức Như Lai, đệ tử của đức Như lai,’ sự thực hành đúng đắn là nghiệp. Việc ‘vị ấy sanh ở chư Thiên’ là quả thảnh tựu. Điều này là nghiệp và quả thành tựu.

(28). Ở đấy, Kinh được diễn giải là Kinh nào?

34. “Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng, chiếc xe có một căm lăn bánh. Hãy nhìn vị đang đi đến, vị không phiền muộn, có dòng chảy đã bị chặt đứt, không còn sự trói buộc.” Cách thức mà Gia chủ Citta trình bày ở nơi các vị Sa- môn (thế nào) thì ý nghĩa của câu kệ này được diễn giải như vậy. Có mười một thuật ngữ ở Kinh Ví Dụ Người Chăn Bò. ‘Như vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là vị biết được sắc’ ... cho đến ... ‘là người cúng dường với sự cúng dường vượt trội.’ Mười một thuật ngữ này được giảng giải như thế nào thì ý nghĩa được diễn giải (như thế ấy).

(29). Ở đấy, Kinh không được diễn giải là Kinh nào?

35. “Sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ, đối với vị có Pháp đã được nghe, đối với vị đang xem xét. Sự không oán hận, sự chế ngự đối với các chúng sanh có mạng sống là niềm hạnh phúc ở trên đời.

36. Việc xa lìa luyến ái, sự vượt qua các dục là niềm an lạc ở trên đời. Điều gì là sự thoát ra khỏi tự mãn về bản ngã, điều ấy chính là sự an lạc tối thượng.” (Kinh) này không được diễn giải. Tám Suy Tầm của bậc Đại Nhân. (Kinh) này không được diễn giải.

(30). Ở đấy, thế nào là được diễn giải và không được diễn giải?

37. Ngài có cặp mắt trong sáng, khuôn mặt đầy đặn, cao to, đứng ngay thẳng, có sự oai vệ; ở giữa hội chúng Sa-môn, ngài chói sáng tựa như mặt trời.

‘Ngài có cặp mắt trong sáng’ ... cho đến ... ‘chói sáng tựa như mặt trời’ là được diễn giải. ‘Vị có cặp mắt trong sáng ấy là đức Thế Tôn, và trạng thái có mắt trong sáng như thế nào, trạng thái có khuôn mặt đầy đặn như thế nào, trạng thái có thân cao to như thế nào, trạng thái có thân ngay thẳng như thế nào, trạng thái có sự oai vệ như thế nào, Ngài chói sáng như thế nào?’ là không được diễn giải. Kinh văn thể loại veyyākaraṇa Ví Dụ Bọt Nước, bọt nước như thế nào thì sắc là như vậy, bong bóng như thế nào thì thọ là như vậy, … thức ví như ảo ảnh, năm uẩn được diễn giải bằng năm ví dụ. Bởi lý do gì sắc ví như bọt nước, và tất cả được nhận thức bởi mắt, hoặc cái nào bởi bốn xứ? Thọ ví như bong bóng là thế nào? Thọ ấy là loại nào, lạc, khổ, không khổ không lạc? Như vậy điều ấy là không được diễn giải. Như vậy là được diễn giải và không được diễn giải.

(31). Ở đấy, trí (sự biết) là gì?

38. “Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, cái này dẫn đến sự thấu triệt, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử.” “Đây là ba quyền: vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền.” Cái này là trí.

(32). Ở đấy, điều-có-thể-biết là gì?

39. “Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, trong khi không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc, những người bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn.” Được thành tựu với bốn pháp, khi tan rã thân xác, họ sanh lên ở chư Thiên. Kinh Kāviya, Apaṇṇakapasādanīya, (?) thuộc tập Udāna - Phật Tự Thuyết. Đây là điều-có-thể-biết.

(33). Ở đấy, trí (sự biết) và điều-có-thể-biết là gì?

40. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ đau; đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” ‘Khi nhận thức’ là trí (sự biết). Vị thiết lập thông qua biểu hiện vô ngã về tất cả các pháp; đây là điều-có-thể-biết. ‘Bốn Chân Lý Cao Thượng,’ ở đấy, ba điều-có-thể-biết: Chân Lý về Đạo, giới uẩn, và tuệ uẩn; đây là trí (sự biết) và điều-có-thể-biết

(34). Ở đấy, sự thấy là gì?

41. “Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, đưa đến sự thanh tịnh của nhận thức. Vì thế, các ngươi hãy thực hành đạo lộ này; đạo lộ này là sự mê mờ đối với Ma Vương.”

“Được thành tựu với bốn yếu tố, vị đệ tử của bậc Thánh có thể tự chính mình tuyên bố về bản thân rằng: ‘Tôi đã cạn kiệt về địa ngục,’” ... cho đến ... “tôi là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự hoàn toàn giác ngộ là đích đến;” đây là sự thấy.

(35). Ở đấy, sự tu tập là gì?

42. “Vị nào có các giác quan đã khéo được tu tập, ở nội phần và ở ngoại phần, ở toàn thể thế gian, sau khi thấu triệt đời này và đời sau, vị đã được tu tập chờ đợi thời điểm, vị ấy là ‘đã được huấn luyện.’” “Bốn thuật ngữ của Giáo Pháp: không tham đắm, không oán hận, chánh niệm, chánh định.” Đây là sự tu tập.

(36). Ở đấy, sự thấy và sự tu tập là gì?

43. “Không chống đối bằng lời nói, bằng ý nghĩ, và bằng hành động, sau khi hiểu biết Giáo Pháp một cách đúng đắn, trong khi ước nguyện trạng thái Niết Bàn, vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.” Người mong muốn chứng ngộ quả vị Nhập Lưu nên tác ý các pháp nào? Đức Thế Tôn đã nói: ‘Năm thủ uẩn.’ Đây là sự thấy và sự tu tập.

(37). Ở đấy, các pháp bản thể của quả thành tựu là những gì? “Những việc nào mà con người làm” là sự giảng rộng. “Này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh;” đây là các pháp bản thể của quả thành tựu.

(38). Ở đấy, các pháp không phải bản thể của quả thành tựu là những gì?

44. “Sắc, điều được cảm thọ, tưởng, thức, và luôn cả sự cố ý, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta’ vị đã thấy như thế thì lìa khỏi luyến ái.” “Này các tỳ khưu, đây là năm uẩn;” đây là các pháp không phải bản thể của quả thành tựu.

(39). Ở đấy, điều gì là không phải quả thành tựu và cũng không phải là pháp bản thể của quả thành tựu?

45. “Những người nào thực hành như vậy, theo phương pháp đã được đức Phật chỉ bảo, những người ấy sẽ thực hiện sự chấm dứt của khổ, là những người thực hành lời dạy của đấng Đạo Sư.” Như thế, sự thực hành đúng đắn và sự tịch diệt, cả hai điều này là không phải quả thành tựu và cũng không phải là pháp bản thể của quả thành tựu. “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về Phạm hạnh và các quả báo của Phạm hạnh: Phạm hạnh là Thánh Đạo tám chi phần, các quả báo của Phạm hạnh là Quả vị Nhập Lưu cho đến phẩm vị A-la-hán.”

(40). Ở đấy, lời nói của Ta là gì?

46. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.” “Này các tỳ khưu, đây là ba lối vào giải thoát.” Đây là lời nói của Ta.

(41). Ở đấy, lời nói của vị khác là gì?

47. “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, không có tài sản nào tương đương trâu bò, không có ánh sáng nào sánh bằng mặt trời, (trong số) các hồ nước biển cả là hạng nhất.”

“Này Chúa của chư Thiên, hãy xác định sự chiến thắng với lời được khéo nói.Này các tỳ khưu, chính vị có tên Sakka, Chúa của Chư Thiên đang sống nhờ vào quả phước thiện của mình,” nên được thực hiện với chi tiết. Đây là lời nói của vị khác.

(42). Ở đấy, lời nói của Ta và lời nói của vị khác là gì?

48. “Cái nào đã được đạt đến và cái nào sẽ được đạt đến, cả hai cái này đều bị lấm bụi (ô nhiễm), những người nào có học thuyết như vậy, không có lỗi lầm ở các dục đối với những người ấy.” Đây là lời nói của vị khác.

“Và thật vậy, những vị không tiếp cận cả hai cực đoan, sự luân chuyển (tái sanh) của các vị ấy không có để mô tả.” Đây là lời nói của Ta.

49. “Người có con vui thích với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò vui thích với bầy bò. Bởi vì mầm tái sanh là niềm vui thích của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy không vui thích.” Như thế là lời nói của vị khác.

50. “Người có con sầu muộn với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò sầu muộn với bầy bò. Bởi vì mầm tái sanh là nỗi sầu muộn của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy không sầu muộn.” Như thế là lời nói của Ta. Đây là lời nói của Ta và lời nói của vị khác.

(43). Ở đấy, sự xác định chúng sanh là gì?

51. “Tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra, tất cả sẽ ra đi sau khi buông bỏ thân xác. Sau khi biết được mọi sự mất mát ấy, bậc thiện xảo có nhiệt tâm nên thực hành Phạm hạnh.”

“Này các tỳ khưu, đây là ba vị thầy: Đức Như Lai bậc A-la-hán, bậc Hữu Học, vị có đường lối thực hành.” Đây là sự xác định chúng sanh.

(44). Ở đấy, sự xác định pháp là gì?

52. “Khoái lạc ngũ dục nào ở thế gian, và sự an lạc nào thuộc cõi Trời, mười sáu phần này không giá trị bằng (một phần) an lạc của sự diệt tận tham ái.” “Này các tỳ khưu, đây là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ;” đây là sự xác định pháp.

(45). Ở đấy, sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp là gì? “Ta nói: ‘Chân Lý ấy là khó thấy, sự thấu triệt là khó thấy bởi các kẻ ngu. Đối với người biết, đối với người thấy, thì không có sự vui thích.’” ‘Chân Lý ấy là khó thấy, sự thấu triệt là khó thấy bởi các kẻ ngu’ là sự xác định pháp. ‘Đối với người biết, đối với người thấy, thì không có sự vui thích’ là sự xác định chúng sanh. Ví Dụ Khúc Gỗ giữa dòng sông Gaṅgā: bờ bên này, bờ bên kia, hoặc là không có việc trồi lên ở đất liền, không có việc chìm xuống ở giữa dòng, sự giữ lại của con người, sự giữ lại của phi nhân, và trạng thái hôi thối ở bên trong; đây là sự xác định pháp. “Hơn nữa, vị tỳ khưu như vậy sẽ nghiêng về Niết Bàn, xuôi theo Niết Bàn” là sự xác định chúng sanh. Đây là sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp.

(46). Ở đấy, sự ca tụng là gì?

53. “Trong số các đạo lộ, (đạo lộ) Tám Chi Phần là tối cao. Trong số các chân lý, bốn Lời Nói (là tối cao). Trong số các pháp, không luyến ái (Niết Bàn) là tối cao. Và trong số các loài hai chân, bậc Hữu Nhãn (là tối cao).” “Này các tỳ khưu, đây là ba chóp đỉnh: trong số các chúng sanh là đức Phật, trong số các pháp là sự lìa khỏi luyến ái, trong số các tập thể là Tăng Chúng;” đây là sự ca tụng.

(47). Ở đấy, điều được cho phép là gì?

54. “Tốt đẹp thay sự thu thúc ở thân! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở khẩu! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở ý! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở tất cả các nơi (sáu căn)! Vị tỳ khưu thu thúc ở tất cả các nơi được thoát khỏi mọi khổ đau.” Đây là điều được cho phép bởi đức Phật. “Này các tỳ khưu, đây là ba việc nên làm: thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý.” Đây là điều được cho phép.

(48). Ở đấy, điều bị từ khước là gì? “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, …” với phần giảng giải (tr. 73). Đây là điều bị từ khước. “Này các tỳ khưu, đây là ba việc không nên làm (được chỉ bảo bởi thắng trí của bản thân). Ba điều nào? Uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý.” Đây là điều bị từ khước.

(49). Ở đấy, điều được cho phép và bị từ khước là gì?

55. “Nên làm việc tốt lành bằng thân, nên thu thúc bằng thân, sau khi từ bỏ uế hạnh về thân, nên thực hành thiện hạnh về thân.”

Ngài cho phép với đoạn kệ thứ nhất và đoạn kệ thứ tư. Điều bị từ khước là với đoạn kệ thứ ba: ‘Sau khi từ bỏ uế hạnh về thân.’ Đại Phân Tích là tiếng rống gần đây về sự nhiệt tâm. (?)

Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược: (1) Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, - này Rādha, ở sắc quá khứ, này Ānanda, người có giới, - thiện pháp ví như chiếc lọng bảo vệ.

(2) ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ - có thể làm dao động luôn cả Hi Mã Lạp, không có sự thoát ra khỏi khổ đau cho các ngươi, - chỉ tịnh và minh sát.

(3) Liên quan đến mong muốn về dục, - vị bị nhai nghiến bởi các suy tầm, khi bảy yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được tu tập, - vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.

(4) Ngươi hãy xem xét thế giới là trống không, - này tỳ khưu, hãy tu tập định, đối với người ham muốn về dục, - nhàn cảnh do việc cư xử đúng Pháp.

(5) Kẻ bị hủy hoại, tựa như kẻ được giải thoát khỏi tất cả, - chúng đang nghiền nát bốn phương, người nào lánh xa các dục, - và với ví dụ cây san hô.

(6) Con người làm những việc nào, - (tám) pháp thế gian đã được bày tỏ, quả thành tựu của các việc phước thiện là an lạc, - (con đường) khác thứ ba không tìm thấy.

(7) Sau khi biết nỗi nguy hiểm của sự nắm giữ, - bị sanh ra và bị già cỗi, bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, - rồi ví dụ người chài lưới.

(8) Nghiệp ác đã làm không trổ quả (liền liền), - và nó đi đến các sự thiên vị, vị nào có các giác quan đã đi đến sự yên lặng, - tương tự y như thế năm trí (của định).

(9) Tựa như bị chém bởi thanh gươm, - và thức đã được thiết lập, kẻ nào giết hại sanh mạng, - và ba uế hạnh.

(10) Sáu chục ngàn năm, - sau khi đạt được thời điểm là điều khó đạt, ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, - vị thực hành đối với bốn hạng.

(11) Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng, - rồi ví dụ người chăn bò, sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ, - (tám) suy tầm đã khéo được chỉ ra.

(12) Sắc với ví dụ bọt nước, -cao to, ngay thẳng, có sự oai vệ, chính tuệ là tối thượng ở thế gian, - ba quyền với điều chưa được biết.

(13) Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, - và rồi đối với người xứng đáng khen ngợi, ‘tất cả các pháp là vô ngã,’ - và Chân Lý Cao Thượng đã được chỉ bảo.

(14) Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, - có thể tuyên bố: ‘Là vị Nhập Lưu,’ vị nào có các giác quan đã khéo được tu tập, - và rồi với (bốn) thuật ngữ của Giáo Pháp.

(15) Bằng lời nói và bằng ý nghĩ nữa, - năm uẩn là vô thường, những việc nào mà con người làm, - và ba thiện hạnh. (16) Sắc, điều được cảm thọ, tưởng, - năm uẩn đã được bày tỏ, những người nào thực hành như vậy, - Phạm hạnh và các quả báo.

(17) Không làm mọi điều ác, - (ba lối vào) giải thoát đã được chính Ngài chỉ bảo, không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, - của chư Thiên và của các A-tu-la.

(18) Cái nào đã được đạt đến, cả hai cực đoan, - vui thích và sầu muộn, tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra, - và (ba) vị thầy đã được trình bày.

(19) Khoái lạc ngũ dục nào ở thế gian, - và (bảy) yếu tố đưa đến giác ngộ đã được trình bày, trong số các đạo lộ, (đạo lộ) Tám Chi Phần là tối cao, - và ba đối tượng đạt đến chóp đỉnh.

(20) Tốt đẹp thay sự thu thúc ở thân, - và việc nên làm đã được chỉ bảo, không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, - và (ba) việc không nên làm đã được chỉ bảo.

(21) Nên làm việc tốt lành bằng thân, - sự huấn luyện và dục lạc ở thế gian, và (bảy) yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được chỉ bảo, - vị thế Bất Tử là khó thấy.

Lãnh vực thứ nhì - Sự Hình Thành Giáo Lý - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.