Bản dịch
PE 2 — Lãnh Vực Thứ Nhì: Sự Hình Thành Giáo Lý
2. Sāsanapaṭṭhānadutiyabhūmi
Ở đấy, sự hình thành giáo lý là gì?
1. Kinh liên quan đến phiền não, 2. Kinh liên quan đến huân tập, 3. Kinh liên quan đến thấu triệt, 4. Kinh liên quan đến bậc Vô Học, 5. (Kinh) liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập, 6. (Kinh) liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt, 7. (Kinh) liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học, 8. (Kinh) liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt, 9. chỉ thị, 10. kết quả, 11. cách thức, 12. chỉ thị và kết quả, 13. kết quả và cách thức, 14. chỉ thị, kết quả, và cách thức, 15. sự hứng thú, 16. sự bất lợi, 17. sự thoát ra, 18. sự hứng thú và sự bất lợi, 19. sự hứng thú và sự thoát ra, 20. sự hứng thú và sự thoát ra, 21. sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra, 22. hợp thế, 23. xuất thế, 24. hợp thế và xuất thế, 25. nghiệp, 26. quả thành tựu, 27. nghiệp và quả thành tựu, 28. được diễn giải,
29. không được diễn giải, 30. được diễn giải và không được diễn giải, 31. trí (sự biết), 32. điều-có-thể-biết, 33. trí (sự biết) và điều-có-thể-biết, 34. sự thấy, 35. sự tu tập, 36. sự thấy và sự tu tập, 37. nghiệp cho quả thành tựu, 38. không phải nghiệp cho quả thành tựu, 39. không phải quả thành tựu và cũng không phải nghiệp cho quả thành tựu, 40. lời nói của Ta, 41. lời nói của vị khác, 42. lời nói của Ta và lời nói của vị khác, 43. sự xác định chúng sanh, 44. sự xác định pháp, 45. sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp, 46. sự ca tụng, 47. điều được cho phép, 48. điều bị từ khước, 49. điều được cho phép và bị từ khước, 50. sự xác định lời nói của Ta, 51. sự xác định lời nói của vị khác, 52. sự xác định lời nói của Ta và sự xác định lời nói của vị khác, 53. hành vi, 54. kết quả, 55. hành vi và kết quả.
(1). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não là Kinh nào?
01. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi sự trói buộc của xao lãng, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi theo sau già và chết, tựa như con bê bú sữa đi theo sau bò mẹ.” “Này các tỳ khưu, đây là năm pháp che lấp.”
(2). Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập là Kinh nào?
02. Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo, được tạo ra bởi tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy, ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình). Kinh thuộc Tương Ưng là: Đức Thế Tôn (đã chỉ bảo) điều này cho Mahānāma dòng Sakya ở thành Kapilavatthu của những người Sakya một cách chi tiết về phương pháp: tâm được phát triển đầy đủ với tín, giới, (văn, thí, tuệ) thì được phát triển đầy đủ theo trạng thái khác của bản thể, điều ấy được gọi là vào thời điểm cuối cùng. (?)
(3). Ở đấy, Kinh liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?
03. “Bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’ Vị được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng lũ trước đây chưa vượt qua, ngõ hầu không còn hiện hữu lại nữa.”
Ngài Ānanda hỏi bậc Đạo Sư rằng: “Bạch Ngài, các thiện giới có những mục đích gì?”
(4). Ở đấy, Kinh liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào?
04. “Tâm của người nào giống như tảng đá, đứng yên, không rung động, không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái, không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức, tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” “Bạch Ngài, đại đức Sāriputta đã va chạm vào con, đã không xin lỗi, rồi ra đi du hành,” việc giải thích của vị Sāriputta cần được thực hiện. “Bạch Ngài, đương nhiên đối với vị nào mà niệm hướng đến thân ở thân là không được thiết lập ...” nên được thực hiện với chi tiết.
(5). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập là Kinh nào?
05. “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy.” “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy” là phiền não. “Mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra” là huân tập. “Bóng tối có sự tiến đến bóng tối …” với chi tiết. Ở đấy, bóng tối và sự tiến đến bóng tối là phiền não. Ánh sáng và sự tiến đến ánh sáng là huân tập.
(6). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?
06. Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn. Bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, sự mong muốn ở những người con, và ở những người vợ ...
07. ... các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn, có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ. Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.
“Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc ấy là không chắc chắn –nt– sự mong muốn ở những người con và ở những người vợ,” đây là phiền não. “Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục,” đây là thấu triệt. “Điều đã được suy tính, đã được xếp đặt, đã được tiềm ẩn, và sự hình thành của danh sắc,” với bốn thuật ngữ này là phiền não, với bốn thuật ngữ sau là thấu triệt.
(7). Ở đấy, Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học là Kinh nào?
08. “Thế gian này bị đốt nóng,bị quấy nhiễu bởi (sáu) xúc, nói rằng bệnh là thuộc về tự ngã. Dầu nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy.
09. Có sự hình thành theo một cách khác, thế gian bị dính mắc vào hữu, bị quấy nhiễu bởi hữu, lại thỏa thích hữu ấy. Thỏa thích cái nào, cái ấy là sự sợ hãi. Bị sợ hãi đối với cái nào, cái ấy là khổ.
Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu.
Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được giải thoát khỏi hữu.’
Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự thoát ra khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được thoát ra khỏi hữu,’ bởi vì tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành.
Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.
Hãy nhìn xem thế gian này, số đông bị quấy nhiễu bởi vô minh, được hiện hữu, thích thú sự hiện hữu, không được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu. Bất cứ các hữu nào, ở mọi nơi, với mọi tính chất, tất cả các hữu ấy là vô thường, khổ đau, có tính chất biến hoại.”
10. “Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh, tham ái ở hữu của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thỏa thích phi hữu, do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, có sự lìa ái luyến và sự diệt tận không còn dư sót, Niết Bàn.
11. Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, Ma Vương đã bị chế ngự, cuộc chiến đã được chiến thắng, bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu.”
“Thế gian này bị đốt nóng” ... cho đến ... “(cái ấy là) khổ” là phiền não tham ái.
(Điều được đề cập trước đây là:) “Bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la- môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được giải thoát khỏi hữu.’ Hoặc là bất cứ các vị Sa-môn hoặc các Bà-la-môn nào đã nói rằng sự tách ly khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó ‘không được tách ly khỏi hữu,’” điều này là phiền não tà kiến. Phiền não tà kiến ấy (!) và phiền não tham ái, cả hai điều này liên quan đến phiền não.
(Điều được đề cập trước đây là:) “Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu” ... cho đến ... “do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ” và “do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn,” điều này là liên quan đến thấu triệt. “Đối với vị tỳ khưu đã được tịch diệt ấy” ... cho đến ... “bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu,” điều này là liên quan đến bậc Vô Học. Bốn hạng người: Hạng đi xuôi dòng là phiền não, hạng có bản thân đã đứng vững và hạng đi ngược dòng là thấu triệt, hạng đứng ở đất liền là lãnh vực của bậc Vô Học.
(8). Ở đấy, Kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt là Kinh nào?
12. “Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự, và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt.”
“Phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, sự thù oán không được tích lũy đối với người đang tự chế ngự” là huân tập, “và người hiền thiện từ bỏ điều ác, do sự cạn kiệt luyến ái, sân hận, và si mê, vị ấy được tịch diệt” là thấu triệt.
“Khi các Pháp được dõi theo bởi tai, được ôn luyện bởi khẩu, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến, có năm điều lợi ích là điều mong đợi: Ở đây, đối với một người nào đó, các Pháp là được nghe nhiều, được dõi theo, được ôn luyện, được suy xét bởi ý, khéo được thấu triệt bởi (chánh) kiến, người ấy, trong khi gắn bó, trong khi cố gắng, trong khi tinh tấn, đạt được sự thù thắng ngay trong thời hiện tại. Nếu không đạt được sự thù thắng ngay trong thời hiện tại, thì đạt được khi là người bệnh. Nếu không đạt được khi là người bệnh, thì đạt được vào thời điểm lúc chết. Nếu không đạt được vào thời điểm lúc chết, thì đạt được khi là vị Thiên nhân. Nếu không đạt được khi có trạng thái Thiên nhân, thì do sự luyến ái với Pháp, do niềm vui với Pháp, đạt được quả vị Độc Giác.”
Ở đấy, việc ‘đạt được ngay trong thời hiện tại’ là thấu triệt, việc ‘đạt được quả vị Độc Giác trong thời vị lai’ là huân tập.
Mười sáu Kinh này (!) tồn tại, bao gồm toàn bộ Giáo Pháp. Chín thể loại Kinh được phân tích với mười sáu Kinh này, và nó được dành cho người có tuệ, không dành cho kẻ có tuệ tồi, dành cho người gắn bó, không dành cho kẻ không gắn bó, dành cho người sống không (bận rộn với) công việc.
Theo tự nhiên, phiền não hoạt động ở thế gian (!). Phiền não ấy có ba loại: “Phiền não tham ái, phiền não tà kiến, phiền não uế hạnh. Người vượt lên trên phiền não ấy còn ở trong các pháp phiền não, còn ở trong các pháp thuộc về thế gian.” Ở đấy, vị không thiện xảo là được thấy (rằng): Nếu vị ấy bám víu vào giới và tà kiến, thì phiền não tham ái ấy xảy đến cho vị ấy. Hơn nữa, nếu (ý nghĩ) khởi đến người này là như vầy: “Với giới này, hoặc với sự hành trì này, hoặc với sự khắc khổ này, hoặc với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó,” thì điều ấy là tà kiến của người này; phiền não tà kiến ấy xảy đến cho vị ấy.
Hơn nữa, nếu vị ấy đã được đứng vững ở giới và riêng đối với vị không bị bám víu vào giới và phận sự, đối với vị ấy, giới và phận sự đã được nắm giữ đúng đường lối làm sanh lên sự không ăn năn (lần lượt cho đến ‘sự thấy và biết về giải thoát’), và việc ấy là có cho vị ấy ngay trong thời hiện tại, hoặc vào lúc từ trần, hoặc khi vị ấy ở đời sống khác, hoặc ở các uẩn khác. Có điều được nghe như vầy: “Sự khéo thực hành đưa đến huân tập;” như thế được gọi là Kinh liên quan đến huân tập.
Ở đấy, ngay cả vị đã ổn định ở các giới cũng có tâm bị che lấp, do đó, đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp cho vị ấy nhằm dứt bỏ thân kiến; vị ấy chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn: hoặc là chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn trong thời kỳ của Giáo Pháp, hoặc là (chứng đắc) sáu thắng trí ở tại chỗ ngồi ấy. Ở đấy, có hai hạng người chứng đắc Thánh Pháp là: vị có xu hướng về niềm tin và vị có xu hướng về pháp. Ở đấy, vị có xu hướng về pháp là người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, vị có xu hướng về niềm tin là người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn có hai hạng: hạng có quyền sắc bén và hạng có quyền yếu kém. Ở đấy, người cần- được-dẫn-dắt cũng có hai hạng: hạng có quyền sắc bén và hạng có quyền yếu kém. Ở đấy, người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn có quyền yếu kém và người cần-được-dẫn-dắt có quyền sắc bén, những người này là không đồng đẳng về quyền. Ở đấy, trừ bớt những người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn và những người cần-được-dẫn-dắt, (còn lại) là những người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ; những người này là đồng đẳng về quyền. Những người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ này là ở giữa, hình thành một lãnh vực. Đây là ba hạng người: người hiểu nhanh, người hiểu chậm, và người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, (không có) hạng thứ tư, (cũng không có) hạng thứ năm. (!) Ở đấy, người hiểu nhanh, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu; Nhất Chủng là hạng Nhập Lưu thứ nhất. Ở đấy, người hiểu chậm, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu; Gia Gia là hạng Nhập Lưu thứ nhì. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, sau khi đạt được các quyền, đứng ở lãnh vực của việc thấy và chứng đắc quả vị Nhập Lưu, là hạng Tối Đa Bảy Lần; đây là hạng Nhập Lưu thứ ba. Ba hạng người này đứng ở quả vị Nhập Lưu với tính trạng khác biệt về quyền. Người hiểu nhanh là Nhất Chủng, người hiểu chậm là Gia Gia, người cần-được-dẫn-dắt là Tối Đa Bảy Lần. Đây là Kinh liên quan đến thấu triệt.
Tuy nhiên, nếu tinh tấn hơn thế nữa, thì (người ấy) chứng đắc sự hoàn thành tột cùng là Niết Bàn. Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền sắc bén gồm có hai hạng: sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai là Trung Gian Bát-Niết-bàn và Tổn Hại Bát-Niết-bàn. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền sắc bén gồm có hai hạng: sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai là Vô Hành Bát-Niết-bàn và Hữu Hành Bát-Niết-bàn. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt, trong khi chứng đắc quả vị Bất Lai, là Thượng Lưu Sắc Cứu Kính. Hạng người hiểu nhanh và hạng người hiểu chậm với sự khác biệt về quyền: hạng người hiểu nhanh có quyền sắc bén là Trung Gian Bát-Niết-bàn, [] hạng người hiểu nhanh có quyền yếu kém là Tổn Hại Bát-Niết-bàn. Hạng người hiểu chậm có quyền sắc bén là Vô Hành Bát-Niết-bàn, hạng người hiểu chậm có quyền yếu kém là Hữu Hành Bát-Niết-bàn, [] hạng người cần-được-dẫn-dắt là Thượng Lưu Sắc Cứu Kính. Như thế là năm hạng Bất Lai, thứ sáu là hạng Nhất Lai, và ba hạng Nhập Lưu; đây là chín hạng Hữu Học.
Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền sắc bén, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: hạng giải thoát cả hai phần và hạng giải thoát do tuệ. Ở đấy, người hiểu nhanh có quyền yếu kém, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: hạng trụ kiếp và hạng có bản thể thấu triệt. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền sắc bén, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la- hán, gồm có hai hạng: hạng có khả năng chú tâm và hạng có khả năng bảo vệ. Ở đấy, người hiểu chậm có quyền yếu kém, trong khi chứng đắc phẩm vị A-la-hán, gồm có hai hạng: nếu chú tâm thì không viên tịch Niết Bàn, nếu không bảo vệ thì viên tịch Niết Bàn. Ở đấy, người cần-được-dẫn-dắt đã gắn bó vào việc đeo đuổi sự tham thiền, có pháp thối giảm, hoặc là đã được cố định bởi nghiệp, hoặc là đắc đạo tột mạng. Đây là chín hạng A-la-hán.
Đây là Kinh có bốn loại: liên quan đến phiền não, ―nt― liên quan đến bậc Vô Học. Mười loại năng lực của đức Như Lai vận hành ở những hạng người này.
Mười loại (năng lực) nào? Ở đây, khi bánh xe Pháp chưa được chuyển vận bởi Chư Phật Thế Tôn, các vị Thiên tử có quyền lực lớn lao đã đi đến để yêu cầu rằng: “Xin đấng Thiện Thệ hãy chỉ bảo Giáo Pháp.” Trong khi xem xét bằng Phật nhãn vô thượng, Ngài đã nhìn thấy ba nhóm chúng sanh: nhóm được xác định có bản thể đúng đắn, nhóm được xác định có bản thể sai trái, nhóm chưa được xác định.
Ở đấy, “nhóm được xác định có bản thể đúng đắn đạt đến tà niệm,” sự kiện này không xảy ra; “có thể viên tịch Niết Bàn không cần có bậc đạo sư,” sự kiện này không xảy ra; “có thể đạt đến sự chứng đạt (về thiền),” sự kiện này có xảy ra.
Ở đấy, “nhóm được xác định có bản thể sai trái sẽ thực hành sự chứng đạt thuộc bậc Thánh,” sự kiện này không xảy ra; “sẽ thực hành sự chứng đạt sai trái không thuộc bậc Thánh,” sự kiện này có xảy ra.
Ở đấy, “nhóm chưa được xác định, trong khi thực hành đúng đắn, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể đúng đắn,” sự kiện này có xảy ra; “trong khi thực hành sai trái, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể đúng đắn,” sự kiện này không xảy ra; “trong khi thực hành đúng đắn, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể sai trái,” sự kiện này không xảy ra; “trong khi thực hành sai trái, sẽ đi đến nhóm được xác định có bản thể sai trái,” sự kiện này có xảy ra.
“Cho đến như thế, có người sẽ kết tội Ta một cách đúng pháp rằng: ‘Các pháp này đã không được Ta nhận biết rõ ràng,’ trong khi Ta là Phật Chánh Đẳng Giác đang xem xét bằng Phật nhãn vô thượng về ba điều này,” sự kiện này không xảy ra; “có người sẽ kết tội Ta một cách đúng pháp về trạng thái chưa được cạn kiệt lậu hoặc của Ta trong khi Ta cho biết Ta có luyến ái đã được xa lìa,” sự kiện này không xảy ra. “Hơn nữa, về việc chỉ bảo Giáo Pháp đến nhóm chưa được xác định này, việc ấy không cho thấy đưa đến sự cạn kiệt hoàn toàn khổ đau cho người thực hành theo nó,” sự kiện này không xảy ra; “khi được giáo huấn như thế ấy, vị Thinh Văn của Ta thuộc nhóm chưa được xác định sẽ không chứng đắc pháp thù thắng nào khác so với trước đây,” sự kiện này không xảy ra.
“Thật vậy, việc bậc Hiền Trí chỉ bảo, huấn luyện cho chư Thiên, các loài rồng, và các Dạ-xoa bằng nhiều phương thức khác nhau, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, sau khi nói một cách khẳng định về các pháp, Ngài sẽ từ cách làm này đi đến cách làm khác,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về pháp.
“Hơn nữa, việc Ngài không thể hiểu được các ngôn ngữ này ở Kinh của chúng sanh theo khía cạnh ngôn ngữ,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về ngôn ngữ.
“Hơn nữa, ngôn ngữ không giúp cho các vị Thinh Văn ưa thích sự lãnh hội nhận thức được ý nghĩa ấy,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về ý nghĩa.
“Các vị Thiên tử có uy lực lớn đã đi đến gần (đức Phật) và hỏi các câu hỏi. Ý nghĩa ấy không được phân tích trọn vẹn khi Ngài bị áp chế về thân hoặc về ý, hoặc có sự tật nguyền ở bàn tay, hoặc bị què quặt ở bàn chân, hoặc bị mù lòa,” sự kiện này không xảy ra – là tuệ phân tích về phép biện giải.
“Chính sự an tịnh nào có ở các vị ấy, chính điều ấy là không hiện hữu,” sự kiện này không xảy ra. “Chính sự không an tịnh nào không có ở các vị ấy, chính sự không an tịnh ấy sẽ có ở các vị ấy,” sự kiện này không xảy ra. Mười đường lối tạo nghiệp bất thiện đối với Tập, đối với Diệt là tương tự như vậy.
“Ma Vương, Thiên Chủ Inda, Phạm Thiên, đức Như Lai, hoặc vị Chuyển Luân, vị ấy quả thật sẽ là nữ nhân,” sự kiện này không xảy ra. “Nam nhân sẽ là đức Chuyển Luân Vương, (sẽ là) Sakka, Chúa của chư Thiên,” sự kiện này có xảy ra. Như thế, vị này có lực với hình thức như vậy, có trí với hình thức như vậy; điều này gọi là trí về sự kiện và phi sự kiện, là Như Lai lực thứ nhất. Điều ấy nên được diễn giải: theo ba nhóm (chúng sanh), theo bốn pháp tự tin, theo bốn tuệ phân tích, liên quan đến sự tùy thuận sanh khởi thuận chiều và nghịch chiều, thiện sanh khởi ở các quả thành tựu của thiện, và việc thuộc về nữ nhân và nam nhân. Đây là Như Lai lực thứ nhất.
Đức Như Lai biết như vầy: Hơn nữa, trong số ấy, (có thể là) nhóm được xác định có bản thể đúng đắn, đây không phải là lối thực hành dẫn đến mọi nơi, đây chính là lối thực hành dẫn đến Niết Bàn. Ở đấy, có thể là nhóm được xác định có bản thể sai trái; đây cũng không phải là lối thực hành dẫn đến mọi nơi, đây chính là lối thực hành dẫn đến nhân sanh khởi của hiện thân. Người này, đứng vững ở sự thực hành cách kia cách nọ, đi đến Niết Bàn, đi đến đọa xứ, đi đến chốn của chư Thiên và nhân loại. Hoặc có thể thực hành lối thực hành này nọ, có thể đi đến mọi nơi; đây là lối thực hành dẫn đến mọi nơi. Ở đây, cái biết đúng theo thực thể được gọi là trí về lối thực hành dẫn đến mọi nơi. Đây là Như Lai lực thứ nhì.
Hơn nữa, đây là lối thực hành dẫn đến mọi nơi với các khuynh hướng khác nhau, một số thiên về các dục, một số thiên về thực hành khổ hạnh, một số gắn bó với việc hành hạ bản thân, một số tin rằng sự trong sạch thông qua luân hồi, một số thiên về sự thực hành không bị chê trách. Cái biết đúng theo thực thể về việc đi đến đa dạng của các chúng sanh bị trói buộc vào tính khí này khác nhận biết việc đi đến nhiều khuynh hướng của thế gian đúng theo thực thể. Đây là Như Lai lực thứ ba.
Ở đấy, các khuynh hướng là thuộc về các chúng sanh; chúng luyện tập, tu tập, thực hành thường xuyên (các khuynh hướng ấy). (?) Đối với những kẻ có sự phụ thuộc vào nghiệp, có khuynh hướng về điều ấy, chính yếu tố ấy nâng đỡ chúng. Yếu tố ấy là điều nào? Yếu tố xuất ly, yếu tố năng lực, bất cứ tính chất đúng đắn và tính chất sai trái nào là yếu tố mà chúng hướng đến, chúng không nhận thấy thêm nữa về các điều nào khác. Sau khi chấp chặt vào chính trạng thái ấy – sanh đưa đến lão tử (?) – chúng phát biểu (rằng): “Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,” giống như điều đức Thế Tôn đã thuyết cho Thiên Chủ Sakka. Việc ấy, ở đấy, là cái biết đúng theo thực thể. Điều này được gọi là Như Lai lực thứ tư.
Ở đấy, bất cứ yếu tố nào chúng nghĩ là “tốt nhất” thì chúng khởi đầu với từng yếu tố ấy bằng thân và bằng khẩu; sự khởi đầu là thuộc về ý, sự cố ý là nghiệp; thuộc về thân thuộc về khẩu là sự khởi đầu, trạng thái thuộc về ý là ở bên trong nghiệp. Đức Như Lai nhận biết như vầy: “Nghiệp có hình thức như vậy đã được tạo ra bởi chúng sanh này có bản chất như vậy, việc ấy là thời quá khứ. Do nhân này, quả thành tựu có hình thức như vậy của việc ấy được chín muồi ở thời hiện tại, hoặc sẽ được chín muồi ở thời vị lai.” Ngài nhận biết về thời hiện tại như vầy: “Người này, có bản chất như vậy, làm hành động này do tham ái và do tà kiến. Do nhân này, quả thành tựu của việc ấy sẽ được hạ sanh không ở trong thời hiện hại, (nhưng) ở lần sanh kế, hoặc ở đời sống khác.” Ngài nhận biết (về thời vị lai) như vầy: “Người này sẽ làm hành động có hình thức như vậy ở thời vị lai. Do nhân này, quả thành tựu có hình thức như vậy của việc ấy sẽ được hạ sanh do nhân này.” Có bốn vị thế của nghiệp: vị thế của nghiệp này có lạc hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai –nt– Như thế, Ngài nhận biết về tính trạng khác biệt của quả thành tựu theo nhân theo sự kiện, về tính chất cao thấp, về tính chất thấp kém hoặc cao sang của các sự thọ trì về hành động ở quá khứ, vị lai, và hiện tại. Điều này được gọi là trí về quả thành tựu của nghiệp, là Như Lai lực thứ năm.
Cũng vậy, các chúng sanh đang nhận lãnh cho mình sự thọ trì về hành động, trong trường hợp ấy, Ngài nhận biết như vầy: “Đối với người có khuynh hướng về nghiệp, có tánh luyến ái, yếu tố xuất ly của người này đi đến sự viên mãn. Đối với người đang gắn bó vào việc theo đuổi luyến ái, sơ thiền của người ấy bị ô nhiễm. Nếu trong khi người ấy tinh tấn vượt trội trở lại, thì lối thực hành liên quan đến thù thắng của người ấy được gắn kết vào ý đã đi đến sự thanh lọc do thiền, bởi vì chỉ riêng phần liên quan đến thiền của người ấy mà nhị thiền của người đã trú vững ở sơ thiền đi đến sự thanh lọc. Và đối với người có ham muốn thể nhập tam thiền, hỷ quyền chiếm cứ tâm của người ấy và tồn tại; đối với người ấy, hỷ ấy tồn tại chỉ ra tam thiền liên quan đến không thù thắng. – – Nếu (vị ấy) nhận biết đúng theo thực thể sự thoát ra của điều ấy, tứ thiền của vị có trạng thái như thế ấy thật sự đi đến sự thanh lọc. Có các pháp liên quan đến thoái hóa của tứ thiền, và các pháp ấy phát sanh ở đâu thì nhờ chúng mà tứ thiền được thấy là sự thanh lọc. Bốn sự thể nhập với sự thể nhập theo tập tính, ba lối vào giải thoát, tám giải thoát là tương tự như vậy. Các thiền: bốn thiền. Các giải thoát: tám giải thoát và ba lối vào giải thoát. Các định: bốn định là định do mong muốn, định do tinh tấn, định do tâm, định do thẩm xét. Các sự thể nhập: bốn sự thể nhập do tập tính; như thế là các sự thể nhập về giải thoát của bốn thiền này. Phiền não có hình thức như vậy là của người có tánh luyến ái, tương tự như vậy đối với người có tánh sân hận, đối với người có tánh si mê. Sự thanh lọc có hình thức như vậy là của người có tánh luyến ái.” Như thế, ở đây, cái biết đúng theo thực thể là không phổ biến đối với tất cả chúng sanh. Điều này được gọi là Như Lai lực thứ sáu.
Ở đấy, đức Như Lai nhận biết như vầy: “Các pháp hợp thế, các pháp xuất thế đạt được tên gọi là ‘quyền’ liên quan đến sự tu tập sau khi đã nắm lấy lãnh vực chủ đạo, đạt được tên gọi là ‘lực’ sau khi đã nắm lấy ý và ý quyền đã đi đến sức mạnh, đạt được tên gọi là ‘tinh tấn’ sau khi đã nắm lấy yếu tố nỗ lực.” Như thế, trí có hình thức như vậy của Ngài đã thực hiện sự chỉ bảo Giáo Pháp rằng: “Những người này đã thành tựu những pháp này.” Khuynh hướng là biểu hiện và là phần tử thuộc về xu hướng và tập tính của những người đã thành tựu (chúng). Điều này được gọi là trí về tính trạng khác biệt về quyền, về lực, về sự tinh tấn của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, – là Như Lai lực thứ bảy.
Và ở đấy, đức Như Lai nhận biết về cảnh giới của những kẻ có sự ràng buộc và của các bậc Hữu Học ở các thế giới và ở các lãnh địa thông qua hai lực: thông qua sự nhớ lại các kiếp sống trước đây ở sự luân hồi thuộc quá khứ và thông qua Thiên nhãn về sự tử vong và sự sanh lên giờ đây thuộc hiện tại. Như thế, đây là hai lực đã được quyết đoán từ Thiên nhãn. Lực ấy ở thời quá khứ là hành xứ của Thiên nhãn, lực ấy giờ đây là hành xứ của niệm. Như thế, trí về các kiếp sống trước đây của bản thân và của những người khác với nhiều hình thức, với những biểu hiện khác nhau thuộc thời hiện tại nhờ vào Thiên nhãn. Đây là hai lực của đức Như Lai: kiếp sống trước đây là thứ tám, Thiên nhãn là thứ chín.
Còn có việc khác nữa, đức Như Lai nhận biết thiền của các bậc Thánh là sự thanh lọc liên quan đến thấu triệt rằng: “Người này, với đạo lộ này, với lối thực hành này, do sự cạn kiệt của các lậu hoặc, chứng ngộ, đạt đến, và an trú vào sự không còn lậu hoặc, sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ ngay trong thời hiện tại.” Như thế, trí về sự diệt trừ các lậu hoặc của bản thân liên quan đến bốn lãnh vực đứng chung với tà kiến cho đến của chín hạng A-la-hán (tr. 43); sự diệt trừ lậu hoặc là có giới hạn đối với các vị Hữu Học, là không giới hạn đối với các vị A-la-hán. Ở đấy, sự giải thoát của tâm là vô lậu với hai lậu hoặc: dục lậu và hữu lậu, sự giải thoát của tuệ là vô lậu với hai lậu hoặc: kiến lậu và vô minh lậu. Cái biết đúng theo thực thể về hai sự giải thoát này, điều này được gọi là trí về sự diệt trừ các lậu hoặc, – là Như Lai lực thứ mười.
Đứng vững ở mười lực này, đức Như Lai chỉ bảo Giáo Lý theo năm loại: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập, liên quan đến bậc Vô Học.
Ở đấy, vô tham là sự thoát ra của ô nhiễm tham ái, vô si là sự thoát ra của ô nhiễm tà kiến, ba thiện hạnh là sự thoát ra của ô nhiễm uế hạnh.
Điều gì là căn nguyên? Đây là ba uế hạnh về ý: tham đắm, oán hận, tà kiến.
Ở đấy, tham đắm, uế hạnh về ý, tạo lập thân nghiệp (là) lấy vật không được cho và mọi việc gắn liền với điều ấy, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói dối và mọi điều xa lìa thực thể, mọi lời nói không có thật, mọi sự gièm pha, ác ý; ‘tham đắm là gốc rễ của bất thiện.’ Nói dối, lấy vật không được cho là sự cố ý do tham đắm.
Ở đấy, oán hận, uế hạnh về ý, tạo lập thân nghiệp (là) giết hại sinh mạng và toàn bộ việc ấy (là) lôi kéo, lôi đi, trói buộc, chọn lựa, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói đâm thọc, nói thô lỗ.
Và tà kiến, uế hạnh về ý, kết nối tham đắm, oán hận, tà kiến. Bất cứ tà kiến nào của một ai đó, (ví dụ) sự xả thí sanh từ luyến ái hoặc sanh từ sân hận, toàn bộ đều được tạo ra từ tà kiến. Bởi lý do này, tà kiến tạo lập thân nghiệp (là) tà hạnh trong các dục, tạo lập khẩu nghiệp (là) nói nhảm nhí. Đây là ba uế hạnh, là các gốc rễ của bất thiện.
Tham đắm là tham, oán hận là sân, tà kiến là si; chúng tạo lập tám tính chất sai trái. Khi các điều ấy đã được nắm giữ ở ba gốc rễ của bất thiện, mười loại bất thiện đi đến sự viên mãn. Và đối với ba loại uế hạnh phiền não ấy, Kinh liên quan đến huân tập là sự thoát ra.
Ở đấy, sự diễn giải nào bị lệ thuộc vào số nhiều giống như tham, sân, và luôn cả si; ở đấy (nếu) không bị lệ thuộc thì ở đây tham là nổi trội. Bởi lý do ấy, tham được nhận biết trong số các pháp ấy. Ở đấy, cái này là si, là bất thiện, cái này là vô minh, là cái đã được chấp chặt vào sắc theo bốn cách: người đã đi đến vô minh nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc.
Ở đấy, thuật ngữ nào nói về sự đoạn diệt của thân kiến? ‘Mạng sống và thân thể là một’ là quan điểm hư vô, và quan điểm tự nhiên phát sanh ‘người khác làm, người khác cảm thọ,’ ba thuật ngữ của sáu mươi ý tưởng sau cùng (?) thuộc thân kiến liên quan đến thuyết trường tồn: ‘mạng sống và thân thể là khác,’ (quan điểm) vô hành, và khổ ấy là thuộc về người đang ước muốn: chúng được phân theo vô nhân, bản tánh không vượt trội của các nghiệp, và tất cả được ước lượng. (?) Ở đấy, các đạo sĩ lõa thể tuyên bố về 86 (?) sự trong sạch thông qua luân hồi (cho rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại.’ Giống như bốn nền tảng về thân kiến ở sắc, hai mươi nền tảng ở năm uẩn là tương tự; thân kiến liên quan đến thuyết trường tồn. Các đạo sĩ lõa thể khác và những người theo học thuyết trường tồn liên hệ, bám víu vào giới và phận sự (nghĩ rằng): ‘Với pháp này, ta sẽ trở thành vị Thiên nhân hoặc một loại Thiên nhân nào đó.’ Đây là sự bám víu vào giới và phận sự. Ở đấy, do thân kiến, người ấy nhận thấy sắc là tự ngã (rằng): ‘Mạng sống và thân thể là một,’ rồi nghi ngờ điều ấy, hoài nghi, không hướng đến, không tin tưởng về điểm khởi đầu, về điểm kết thúc, về điểm khởi đầu và điểm kết thúc ―nt―. Như thế đây là cận phiền não của người đã đứng vững ở các sự việc liên quan đến huân tập. Ở đấy, người ấy dứt bỏ mọi điều đã hoài nghi nhờ vào tín quyền, nhìn thấy sanh và diệt nhờ vào tuệ quyền, làm cho tâm được chuyên nhất nhờ vào định quyền, nỗ lực nhờ vào tấn quyền. Người ấy, với năm quyền này, là vị có xu hướng về niềm tin, được gắn chặt vào niềm tịnh tín tuyệt đối, làm sanh khởi định không bị gián đoạn. Với các quyền được trong sạch, vị có xu hướng về pháp làm sanh khởi định không bị gián đoạn với trạng thái không cần trợ duyên. Người ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ.’ Đây là Kinh liên quan đến nhận thức. Trong số năm sự ràng buộc thuộc hạ phần của người ấy, ba sự ràng buộc sẽ được dứt bỏ do thấy, hai (sự ràng buộc còn lại) được dứt bỏ tất cả một cách trọn vẹn thì đã được thực hiện bởi cá nhân. Ở đấy, ba gốc rễ của bất thiện sẽ được dứt bỏ do tu tập được đề cập ở trên làm hạ sanh sáu sự hiện hữu (3 Đạo và 3 Quả còn lại). Ở đấy, khi tham đắm và oán hận ấy đã được giảm thiểu, sáu sự hiện hữu đi đến giới hạn là sự hoàn toàn cạn kiệt; hai sự hiện hữu là còn sót lại. Tham đắm và oán hận của vị ấy là đã được hoàn toàn cạn kiệt tất cả một cách trọn vẹn. Một sự hiện hữu là còn sót lại. Và sự hiện hữu ấy được hạ sanh do tác động của ngã mạn. Mặc dầu ở đây cũng có bốn ô nhiễm khác là sắc ái, hữu ái, vô minh, phóng dật, các trạng thái ngã mạn ấy ở người này không đủ năng lực để nhấn chìm tự mãn về bản ngã, tất cả các hạng người ấy (4 Đạo và 3 Quả) đều nỗ lực về việc dứt bỏ tự mãn về bản ngã. Và khi chúng (các lậu hoặc) còn chưa cạn kiệt, điều này là vượt trội ở lãnh vực của việc thấy. Kinh liên quan đến tu tập là ở năm hạng người Hữu Học: ở ba hạng thực hành và ở hai hạng đứng vững ở Quả vị. Kinh liên quan đến bậc Vô Học là vượt lên trên điều ấy, là lãnh địa không bị áp chế ở bất cứ đâu.– – Và Kinh thứ năm này đã được chỉ bảo cho ba hạng người: cho phàm phu, cho bậc Hữu Học, cho bậc Vô Học. Kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập là dành cho phàm phu, Kinh liên quan đến nhận thức, liên quan đến tu tập là dành cho năm hạng Hữu Học, Kinh đã được diễn giải đầu tiên liên quan đến bậc Vô học là dành cho tất cả các vị A-la-hán. Hơn nữa, Kinh theo năm loại nên được tìm kiếm ở hai mươi bảy cách biểu đạt. (?) Ngài đã đạt và vượt lên trên đối với các mục tiêu của Kinh ở trong số ấy. Và Kinh ấy, với sự giản lược, được xếp chung theo năm mươi cách biểu đạt; năm mươi cách biểu đạt được diễn giải ở phần Giáo Lý (tr. 33), trong khi được giản lược, thì được xếp theo mười cách biểu đạt; khi được tồn tại với việc trình bày Chân Lý Cao Thượng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào tám cách biểu đạt. Và ở bốn Kinh phổ biến là lãnh vực phối hợp cách truyền đạt, chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp theo năm loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến tu tập, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào bốn loại Kinh: liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào ba loại Kinh: liên quan đến phàm phu, liên quan đến bậc Hữu Học, và liên quan đến bậc Vô Học. Chúng, trong khi được giản lược, thì được xếp vào hai loại Kinh: liên quan đến thấu triệt và liên quan đến sự thực hành trước đây. Giống như điều đã được đức Thế Tôn nói đến: “Trong khi nhìn thấy hai điều lợi ích, các đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chỉ bảo Giáo Pháp: Sutta, Geyya, –nt–.” Bậc Đạo Sư vận dụng năng lực trong khi liên tưởng với chút ít khó nhọc về những người đã có sự thực hành trước đây. Và các sự thực hành trước đây, trong khi được liên tưởng đến, sẽ đưa đến sự nâng đỡ cho những người tốt lành. Ở đấy, vị đang nhận thấy tính trạng khác biệt về tuệ của bản thân nên kết hợp các phần tóm tắt của Kinh theo tám cách ở mỗi một trường hợp có khả năng, sau khi đã kết hợp ở mỗi một trường hợp ấy rồi nên diễn giải ý nghĩa của Kinh. Bởi vì không chú tâm thanh lọc niệm, không ai có thể diễn giải ý nghĩa của Kinh đúng theo thực thể.
Ở đấy, đây là các kệ ngôn tóm lược của các Kinh đầu tiên: (a) Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, và năm pháp che lấp, các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, và Mahānāma dòng Sakya. (b) Bên trên, bên dưới, vị đã được giải thoát, và giới có những mục đích gì, tâm của người nào giống như tảng đá, phần mở đầu các câu hỏi về vị Upatissa. (c) Niệm hướng đến thân của vị nào, vật đã được che đậy, bóng tối có sự tiến đến bóng tối, sự trói buộc ấy là không chắc chắn, điều đã được suy nghĩ, ‘thế gian này’ là phần mở đầu. (d) Và còn có bốn hạng người, phước thiện tăng trưởng cho người bố thí, khi các Pháp được dõi theo bởi tai, đây là sự tuần tự của chúng.
(9). Ở đấy, điều gì là chỉ thị?
13. “Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, nếu khổ đau không được các ngươi ưa thích, các ngươi chớ làm việc ác dầu là công khai hay kín đáo.”
“Này Rādha, ngươi hãy là người không có sự trông mong ở sắc quá khứ.” (Câu kệ) nên được thực hiện với chi tiết.
“Này Ānanda, người có giới sẽ không phải suy tính rằng: ‘Làm thế nào để sự không ăn năn có thể sanh khởi đến tôi?’” Điều này gọi là chỉ thị.
(10). Ở đấy, điều gì là kết quả?
14. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Điều này là kết quả.
(11). Ở đấy, điều gì là cách thức?
15. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ đau, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.”
“Vị tỳ khưu thành tựu bảy yếu tố có thể làm dao động luôn cả Núi Chúa Hi Mã Lạp, thì còn có lời nói gì đến vô minh tệ hại?” (thể loại veyyākaraṇa nên được thực hiện ở Nhóm Bảy). Điều này là cách thức.
(12). Ở đấy, điều gì là chỉ thị và kết quả?
16. “Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, nếu khổ đau không được các ngươi ưa thích, các ngươi chớ làm việc ác dầu là công khai hay kín đáo.
17. Và nếu các ngươi sẽ làm việc ác, hoặc đang làm, thì không có sự thoát ra khỏi khổ đau cho các ngươi, cho dầu các ngươi lánh xa và trốn chạy.” Ở câu kệ đầu là chỉ thị, ở câu kệ sau là kết quả.
“Sau khi đặt nền tảng ở giới, hai pháp cần được tu tập: sự tu tập về tâm và sự tu tập về tuệ.” Điều này là chỉ thị, và sự xa lìa luyến ái là kết quả.
(13). Ở đấy, điều gì là kết quả và cách thức?
18. “Sau khi đặt nền tảng ở giới, người có trí tu tập tâm và tuệ. Vị tỳ khưu tinh cần, chín chắn, vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.” Ở nửa câu kệ đầu là cách thức, ở nửa câu kệ sau là kết quả.
“Nandiya dòng Sakya - ở khu vườn nhỏ Nigrodha trong thành Kapilavatthu,” y cứ theo bài Kinh từ phần gốc cho đến ở các phần sáu pháp, rồi thêm nữa ở các phần năm pháp, cho đến (câu) “họ không nhận thấy việc cần phải làm của bản thân;” điều này là cách thức. “Vị đệ tử của bậc Thánh dứt bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ,” như thế ở tất cả các phần sáu pháp và năm pháp; điều này là kết quả và cách thức.
(14). Ở đấy, điều gì là chỉ thị, kết quả, và cách thức?
19. “Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không, luôn luôn có niệm. Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết.”
‘Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không’ là chỉ thị, ‘luôn luôn có niệm’ là cách thức, ‘sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết’ là kết quả.
“Này các tỳ khưu, hãy tu tập định. Được định tĩnh, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận biết ‘sắc là vô thường.’ Trong khi thấy như vậy, vị đệ tử của bậc Thánh được hoàn toàn giải thoát khỏi sanh –nt– luôn cả những lo âu.” Ở đây, có luôn cả ba (chỉ thị, kết quả, và cách thức).
(15). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?
20. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều mà con người ước muốn.” Điều này là sự hứng thú.
“Cư xử đúng Pháp, cư xử bình đẳng, việc làm tốt lành chính là nguyên nhân, này Bà-la-môn, như vậy ở đây, một số chúng sanh, khi tan rã thân xác, tái sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).” Điều này là sự hứng thú.
(16). Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?
21. “Thật vậy, kẻ bị chết liên quan đến các dục, tựa như kẻ được thoát khỏi tất cả.” (?) Điều này là sự bất lợi.
Ở Kinh ‘Ví Dụ về Ngọn Núi’ thuộc Tương Ưng Pasenadi. Điều này là sự bất lợi.
(17). Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?
22. “Người nào lánh xa các dục tựa như các bàn chân (lánh xa) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, vượt qua hẳn sự vướng mắc này ở thế gian.” Kinh ở Tương Ưng, cây san hô có chiếc lá úa vàng, có chiếc lá rụng. Điều này là sự thoát ra.
(18). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú và sự bất lợi?
23. “Con người làm những việc nào, thì sẽ thấy những việc ấy ở bản thân. Người làm lành thấy điều lành, và người làm ác thấy điều ác.” Ở đấy, việc người làm ác gánh chịu, điều này là sự bất lợi. Việc người làm lành thọ hưởng, điều này là sự hứng thú. Câu trả lời ở nhóm tám về ‘lợi lộc và không lợi lộc, …’ ở đấy, ‘không lợi lộc, không danh vọng, chê bai, khổ đau’ là sự bất lợi; ‘lợi lộc, danh vọng, an lạc, khen ngợi’ là sự hứng thú.
(19). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú và sự thoát ra?
24. “Quả thành tựu của các việc phước thiện là an lạc, và chủ tâm được thành tựu, và (người ấy) mau chóng chứng đắc Niết Bàn, là sự an tịnh tối thượng.” Quả thành tựu của các việc phước thiện và sự thành tựu của chủ tâm; điều này là sự hứng thú. Việc (người ấy) mau chóng chứng đắc Niết Bàn, sự an tịnh tối thượng; điều này là sự thoát ra. “Đối với vị đại nhân đã được thành tựu với ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, chỉ có hai con đường: Nếu ở tại gia thì trở thành Vua Chuyển Luân” (cho đến “chinh phục và ngự trị”); điều này là sự hứng thú. “Nếu rời nhà xuất gia sống không nhà” (toàn bộ với chi tiết); đây là sự thoát ra. Điều này là sự hứng thú và sự thoát ra.
(20). Ở đấy, điều gì là sự bất lợi và sự thoát ra?
25. “Sau khi biết nỗi nguy hiểm của sự nắm giữ, nguồn sanh khởi của sanh và tử, (vị ấy) không còn nắm giữ và tịch diệt do sự diệt trừ hoàn toàn đối với sanh và tử.” Ở nửa câu kệ đầu, ‘nguồn sanh khởi của sanh và tử;’ điều này là sự bất lợi. ‘(Vị ấy) không còn nắm giữ và tịch diệt do sự diệt trừ hoàn toàn đối với sanh và tử;’ điều này là sự thoát ra. “Thật vậy, thế gian (thân xác) này bị rơi vào tình trạng khó khăn: bị sanh ra, bị già cỗi, và bị chết đi!” ... cho đến ... “khi nào sự thoát ra của khổ này, của lão tử sẽ được nhận biết?” Ở đây, việc khảo sát là sự bất lợi. ‘Vị từ bỏ sự thèm khát và xuất ly’ ... cho đến ... ‘kinh thành cổ;’ đây là sự thoát ra. Điều này là sự bất lợi và sự thoát ra.
(21). Ở đấy, điều gì là sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra?
26. “Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý, khuấy động tâm theo nhiều hình thức, –nt– Vì thế, tâu đức vua, tôi đã xuất gia, –nt– chỉ riêng hạnh Sa-môn không lỗi lầm là tốt hơn.”
‘Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý;’ điều này là sự hứng thú. ‘Khuấy động tâm theo nhiều hình thức;’ điều này là sự bất lợi. ‘Vì thế, tâu đức vua, tôi đã xuất gia, … chỉ riêng hạnh Sa-môn không lỗi lầm là tốt hơn;’ điều này là sự thoát ra. Kinh Ví Dụ Người Chài Lưới. Hoặc là, với sự mong mỏi một người lún sâu vào nghiệp sẽ được cảm thọ, nếu như thế ấy thì người ấy cũng gánh chịu từng ác nghiệp một; ở đấy, ‘với nghiệp sẽ được cảm thọ khổ và với thân không được tu tập’ ... cho đến ... ‘có tâm ý nhỏ nhoi’ chỉ ra sự bất lợi; với nghiệp sẽ được cảm thọ lạc chỉ ra sự hứng thú; việc tương tự trước đây là Mahānāma có tâm đã được tu tập, có thân đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập; điều này là sự thoát ra.
(22). Ở đấy, Kinh hợp thế là Kinh nào?
27. “Ví như sữa không trở chua (ngay lập tức), nghiệp ác đã làm không trổ quả (liền liền), nó theo đuổi kẻ ngu, thiêu đốt, ví như ngọn lửa đã được phủ tro.” Bốn việc đi đến sự thiên vị; đây là Kinh hợp thế.
(23). Ở đấy, Kinh xuất thế là Kinh nào?
28. “Vị nào có các giác quan đã đi đến sự yên lặng, giống như những con ngựa đã khéo được huấn luyện bởi người đánh xe, có ngã mạn đã được dứt bỏ, không còn lậu hoặc, ngay cả chư Thiên cũng yêu mến vị có đức hạnh như thế ấy.” “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về chánh định cao thượng;” đây là Kinh xuất thế.
(24). Ở đấy, Kinh hợp thế và xuất thế là Kinh nào?
29. “Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu, vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục.” ‘Tựa như bị chém bởi thanh gươm, tựa như đang bị thiêu đốt ở đỉnh đầu’ là hợp thế. ‘Vị tỳ khưu sống đời du sĩ, có niệm, nhằm dứt bỏ sự luyến ái ở các dục’ là xuất thế. ‘Có sự mong muốn ở đoàn thực’ là hợp thế. ‘Không có sự mong muốn’ là siêu thế. Đây là Kinh hợp thế và xuất thế.
(25). Ở đấy, điều gì là nghiệp?
30. “Kẻ nào giết hại sanh mạng, và nói lời dối trá, lấy vật không được cho ở thế gian, và đi đến với vợ của người khác, và người nam nào đam mê việc uống rượu và chất lên men …
31. Kẻ không dứt bỏ năm thù nghịch được gọi là ‘có giới tồi,’ (khi tan rã thân xác, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.”) “Này các tỳ khưu, đây là ba uế hạnh;” điều này là nghiệp.
(26). Ở đấy, điều gì là quả thành tựu?
32. “Tổng cộng tròn đủ sáu chục ngàn năm.” “Này các tỳ khưu, địa ngục tên Sáu Xúc Xứ đã được Ta nhìn thấy; cõi Trời tên Sáu Xúc Xứ đã được Ta nhìn thấy;” điều này là quả thành tựu.
(27). Ở đấy, điều gì là nghiệp và quả thành tựu?
33. “Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sau khi sanh lên từ khối sắt nó ăn mòn chính khối sắt ấy, tương tự như thế, các việc làm của bản thân dẫn dắt kẻ có sự thọ dụng bốn món vật dụng thiếu sự quán xétđi đến khổ cảnh.” ‘Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt’ ... cho đến ... ‘các việc làm của bản thân’ là nghiệp, ‘dẫn dắt … đến khổ cảnh’ là quả thành tựu. ‘Trong khi thực hành đúng đắn đối với bốn hạng người: mẹ, cha, đức Như Lai, đệ tử của đức Như lai,’ sự thực hành đúng đắn là nghiệp. Việc ‘vị ấy sanh ở chư Thiên’ là quả thảnh tựu. Điều này là nghiệp và quả thành tựu.
(28). Ở đấy, Kinh được diễn giải là Kinh nào?
34. “Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng, chiếc xe có một căm lăn bánh. Hãy nhìn vị đang đi đến, vị không phiền muộn, có dòng chảy đã bị chặt đứt, không còn sự trói buộc.” Cách thức mà Gia chủ Citta trình bày ở nơi các vị Sa- môn (thế nào) thì ý nghĩa của câu kệ này được diễn giải như vậy. Có mười một thuật ngữ ở Kinh Ví Dụ Người Chăn Bò. ‘Như vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là vị biết được sắc’ ... cho đến ... ‘là người cúng dường với sự cúng dường vượt trội.’ Mười một thuật ngữ này được giảng giải như thế nào thì ý nghĩa được diễn giải (như thế ấy).
(29). Ở đấy, Kinh không được diễn giải là Kinh nào?
35. “Sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ, đối với vị có Pháp đã được nghe, đối với vị đang xem xét. Sự không oán hận, sự chế ngự đối với các chúng sanh có mạng sống là niềm hạnh phúc ở trên đời.
36. Việc xa lìa luyến ái, sự vượt qua các dục là niềm an lạc ở trên đời. Điều gì là sự thoát ra khỏi tự mãn về bản ngã, điều ấy chính là sự an lạc tối thượng.” (Kinh) này không được diễn giải. Tám Suy Tầm của bậc Đại Nhân. (Kinh) này không được diễn giải.
(30). Ở đấy, thế nào là được diễn giải và không được diễn giải?
37. Ngài có cặp mắt trong sáng, khuôn mặt đầy đặn, cao to, đứng ngay thẳng, có sự oai vệ; ở giữa hội chúng Sa-môn, ngài chói sáng tựa như mặt trời.
‘Ngài có cặp mắt trong sáng’ ... cho đến ... ‘chói sáng tựa như mặt trời’ là được diễn giải. ‘Vị có cặp mắt trong sáng ấy là đức Thế Tôn, và trạng thái có mắt trong sáng như thế nào, trạng thái có khuôn mặt đầy đặn như thế nào, trạng thái có thân cao to như thế nào, trạng thái có thân ngay thẳng như thế nào, trạng thái có sự oai vệ như thế nào, Ngài chói sáng như thế nào?’ là không được diễn giải. Kinh văn thể loại veyyākaraṇa Ví Dụ Bọt Nước, bọt nước như thế nào thì sắc là như vậy, bong bóng như thế nào thì thọ là như vậy, … thức ví như ảo ảnh, năm uẩn được diễn giải bằng năm ví dụ. Bởi lý do gì sắc ví như bọt nước, và tất cả được nhận thức bởi mắt, hoặc cái nào bởi bốn xứ? Thọ ví như bong bóng là thế nào? Thọ ấy là loại nào, lạc, khổ, không khổ không lạc? Như vậy điều ấy là không được diễn giải. Như vậy là được diễn giải và không được diễn giải.
(31). Ở đấy, trí (sự biết) là gì?
38. “Chính tuệ là tối thượng ở thế gian, cái này dẫn đến sự thấu triệt, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử.” “Đây là ba quyền: vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền.” Cái này là trí.
(32). Ở đấy, điều-có-thể-biết là gì?
39. “Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, trong khi không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc, những người bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn.” Được thành tựu với bốn pháp, khi tan rã thân xác, họ sanh lên ở chư Thiên. Kinh Kāviya, Apaṇṇakapasādanīya, (?) thuộc tập Udāna - Phật Tự Thuyết. Đây là điều-có-thể-biết.
(33). Ở đấy, trí (sự biết) và điều-có-thể-biết là gì?
40. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ đau; đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” ‘Khi nhận thức’ là trí (sự biết). Vị thiết lập thông qua biểu hiện vô ngã về tất cả các pháp; đây là điều-có-thể-biết. ‘Bốn Chân Lý Cao Thượng,’ ở đấy, ba điều-có-thể-biết: Chân Lý về Đạo, giới uẩn, và tuệ uẩn; đây là trí (sự biết) và điều-có-thể-biết
(34). Ở đấy, sự thấy là gì?
41. “Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, đưa đến sự thanh tịnh của nhận thức. Vì thế, các ngươi hãy thực hành đạo lộ này; đạo lộ này là sự mê mờ đối với Ma Vương.”
“Được thành tựu với bốn yếu tố, vị đệ tử của bậc Thánh có thể tự chính mình tuyên bố về bản thân rằng: ‘Tôi đã cạn kiệt về địa ngục,’” ... cho đến ... “tôi là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự hoàn toàn giác ngộ là đích đến;” đây là sự thấy.
(35). Ở đấy, sự tu tập là gì?
42. “Vị nào có các giác quan đã khéo được tu tập, ở nội phần và ở ngoại phần, ở toàn thể thế gian, sau khi thấu triệt đời này và đời sau, vị đã được tu tập chờ đợi thời điểm, vị ấy là ‘đã được huấn luyện.’” “Bốn thuật ngữ của Giáo Pháp: không tham đắm, không oán hận, chánh niệm, chánh định.” Đây là sự tu tập.
(36). Ở đấy, sự thấy và sự tu tập là gì?
43. “Không chống đối bằng lời nói, bằng ý nghĩ, và bằng hành động, sau khi hiểu biết Giáo Pháp một cách đúng đắn, trong khi ước nguyện trạng thái Niết Bàn, vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.” Người mong muốn chứng ngộ quả vị Nhập Lưu nên tác ý các pháp nào? Đức Thế Tôn đã nói: ‘Năm thủ uẩn.’ Đây là sự thấy và sự tu tập.
(37). Ở đấy, các pháp bản thể của quả thành tựu là những gì? “Những việc nào mà con người làm” là sự giảng rộng. “Này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh;” đây là các pháp bản thể của quả thành tựu.
(38). Ở đấy, các pháp không phải bản thể của quả thành tựu là những gì?
44. “Sắc, điều được cảm thọ, tưởng, thức, và luôn cả sự cố ý, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta’ vị đã thấy như thế thì lìa khỏi luyến ái.” “Này các tỳ khưu, đây là năm uẩn;” đây là các pháp không phải bản thể của quả thành tựu.
(39). Ở đấy, điều gì là không phải quả thành tựu và cũng không phải là pháp bản thể của quả thành tựu?
45. “Những người nào thực hành như vậy, theo phương pháp đã được đức Phật chỉ bảo, những người ấy sẽ thực hiện sự chấm dứt của khổ, là những người thực hành lời dạy của đấng Đạo Sư.” Như thế, sự thực hành đúng đắn và sự tịch diệt, cả hai điều này là không phải quả thành tựu và cũng không phải là pháp bản thể của quả thành tựu. “Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi về Phạm hạnh và các quả báo của Phạm hạnh: Phạm hạnh là Thánh Đạo tám chi phần, các quả báo của Phạm hạnh là Quả vị Nhập Lưu cho đến phẩm vị A-la-hán.”
(40). Ở đấy, lời nói của Ta là gì?
46. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.” “Này các tỳ khưu, đây là ba lối vào giải thoát.” Đây là lời nói của Ta.
(41). Ở đấy, lời nói của vị khác là gì?
47. “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, không có tài sản nào tương đương trâu bò, không có ánh sáng nào sánh bằng mặt trời, (trong số) các hồ nước biển cả là hạng nhất.”
“Này Chúa của chư Thiên, hãy xác định sự chiến thắng với lời được khéo nói.Này các tỳ khưu, chính vị có tên Sakka, Chúa của Chư Thiên đang sống nhờ vào quả phước thiện của mình,” nên được thực hiện với chi tiết. Đây là lời nói của vị khác.
(42). Ở đấy, lời nói của Ta và lời nói của vị khác là gì?
48. “Cái nào đã được đạt đến và cái nào sẽ được đạt đến, cả hai cái này đều bị lấm bụi (ô nhiễm), những người nào có học thuyết như vậy, không có lỗi lầm ở các dục đối với những người ấy.” Đây là lời nói của vị khác.
“Và thật vậy, những vị không tiếp cận cả hai cực đoan, sự luân chuyển (tái sanh) của các vị ấy không có để mô tả.” Đây là lời nói của Ta.
49. “Người có con vui thích với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò vui thích với bầy bò. Bởi vì mầm tái sanh là niềm vui thích của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy không vui thích.” Như thế là lời nói của vị khác.
50. “Người có con sầu muộn với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò sầu muộn với bầy bò. Bởi vì mầm tái sanh là nỗi sầu muộn của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy không sầu muộn.” Như thế là lời nói của Ta. Đây là lời nói của Ta và lời nói của vị khác.
(43). Ở đấy, sự xác định chúng sanh là gì?
51. “Tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra, tất cả sẽ ra đi sau khi buông bỏ thân xác. Sau khi biết được mọi sự mất mát ấy, bậc thiện xảo có nhiệt tâm nên thực hành Phạm hạnh.”
“Này các tỳ khưu, đây là ba vị thầy: Đức Như Lai bậc A-la-hán, bậc Hữu Học, vị có đường lối thực hành.” Đây là sự xác định chúng sanh.
(44). Ở đấy, sự xác định pháp là gì?
52. “Khoái lạc ngũ dục nào ở thế gian, và sự an lạc nào thuộc cõi Trời, mười sáu phần này không giá trị bằng (một phần) an lạc của sự diệt tận tham ái.” “Này các tỳ khưu, đây là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ;” đây là sự xác định pháp.
(45). Ở đấy, sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp là gì? “Ta nói: ‘Chân Lý ấy là khó thấy, sự thấu triệt là khó thấy bởi các kẻ ngu. Đối với người biết, đối với người thấy, thì không có sự vui thích.’” ‘Chân Lý ấy là khó thấy, sự thấu triệt là khó thấy bởi các kẻ ngu’ là sự xác định pháp. ‘Đối với người biết, đối với người thấy, thì không có sự vui thích’ là sự xác định chúng sanh. Ví Dụ Khúc Gỗ giữa dòng sông Gaṅgā: bờ bên này, bờ bên kia, hoặc là không có việc trồi lên ở đất liền, không có việc chìm xuống ở giữa dòng, sự giữ lại của con người, sự giữ lại của phi nhân, và trạng thái hôi thối ở bên trong; đây là sự xác định pháp. “Hơn nữa, vị tỳ khưu như vậy sẽ nghiêng về Niết Bàn, xuôi theo Niết Bàn” là sự xác định chúng sanh. Đây là sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp.
(46). Ở đấy, sự ca tụng là gì?
53. “Trong số các đạo lộ, (đạo lộ) Tám Chi Phần là tối cao. Trong số các chân lý, bốn Lời Nói (là tối cao). Trong số các pháp, không luyến ái (Niết Bàn) là tối cao. Và trong số các loài hai chân, bậc Hữu Nhãn (là tối cao).” “Này các tỳ khưu, đây là ba chóp đỉnh: trong số các chúng sanh là đức Phật, trong số các pháp là sự lìa khỏi luyến ái, trong số các tập thể là Tăng Chúng;” đây là sự ca tụng.
(47). Ở đấy, điều được cho phép là gì?
54. “Tốt đẹp thay sự thu thúc ở thân! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở khẩu! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở ý! Tốt đẹp thay sự thu thúc ở tất cả các nơi (sáu căn)! Vị tỳ khưu thu thúc ở tất cả các nơi được thoát khỏi mọi khổ đau.” Đây là điều được cho phép bởi đức Phật. “Này các tỳ khưu, đây là ba việc nên làm: thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý.” Đây là điều được cho phép.
(48). Ở đấy, điều bị từ khước là gì? “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, …” với phần giảng giải (tr. 73). Đây là điều bị từ khước. “Này các tỳ khưu, đây là ba việc không nên làm (được chỉ bảo bởi thắng trí của bản thân). Ba điều nào? Uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý.” Đây là điều bị từ khước.
(49). Ở đấy, điều được cho phép và bị từ khước là gì?
55. “Nên làm việc tốt lành bằng thân, nên thu thúc bằng thân, sau khi từ bỏ uế hạnh về thân, nên thực hành thiện hạnh về thân.”
Ngài cho phép với đoạn kệ thứ nhất và đoạn kệ thứ tư. Điều bị từ khước là với đoạn kệ thứ ba: ‘Sau khi từ bỏ uế hạnh về thân.’ Đại Phân Tích là tiếng rống gần đây về sự nhiệt tâm. (?)
Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược: (1) Nếu các ngươi sợ hãi khổ đau, - này Rādha, ở sắc quá khứ, này Ānanda, người có giới, - thiện pháp ví như chiếc lọng bảo vệ.
(2) ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ - có thể làm dao động luôn cả Hi Mã Lạp, không có sự thoát ra khỏi khổ đau cho các ngươi, - chỉ tịnh và minh sát.
(3) Liên quan đến mong muốn về dục, - vị bị nhai nghiến bởi các suy tầm, khi bảy yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được tu tập, - vị ấy có thể gỡ ra mối rối này.
(4) Ngươi hãy xem xét thế giới là trống không, - này tỳ khưu, hãy tu tập định, đối với người ham muốn về dục, - nhàn cảnh do việc cư xử đúng Pháp.
(5) Kẻ bị hủy hoại, tựa như kẻ được giải thoát khỏi tất cả, - chúng đang nghiền nát bốn phương, người nào lánh xa các dục, - và với ví dụ cây san hô.
(6) Con người làm những việc nào, - (tám) pháp thế gian đã được bày tỏ, quả thành tựu của các việc phước thiện là an lạc, - (con đường) khác thứ ba không tìm thấy.
(7) Sau khi biết nỗi nguy hiểm của sự nắm giữ, - bị sanh ra và bị già cỗi, bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, - rồi ví dụ người chài lưới.
(8) Nghiệp ác đã làm không trổ quả (liền liền), - và nó đi đến các sự thiên vị, vị nào có các giác quan đã đi đến sự yên lặng, - tương tự y như thế năm trí (của định).
(9) Tựa như bị chém bởi thanh gươm, - và thức đã được thiết lập, kẻ nào giết hại sanh mạng, - và ba uế hạnh.
(10) Sáu chục ngàn năm, - sau khi đạt được thời điểm là điều khó đạt, ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, - vị thực hành đối với bốn hạng.
(11) Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng, - rồi ví dụ người chăn bò, sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ, - (tám) suy tầm đã khéo được chỉ ra.
(12) Sắc với ví dụ bọt nước, -cao to, ngay thẳng, có sự oai vệ, chính tuệ là tối thượng ở thế gian, - ba quyền với điều chưa được biết.
(13) Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, - và rồi đối với người xứng đáng khen ngợi, ‘tất cả các pháp là vô ngã,’ - và Chân Lý Cao Thượng đã được chỉ bảo.
(14) Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, - có thể tuyên bố: ‘Là vị Nhập Lưu,’ vị nào có các giác quan đã khéo được tu tập, - và rồi với (bốn) thuật ngữ của Giáo Pháp.
(15) Bằng lời nói và bằng ý nghĩ nữa, - năm uẩn là vô thường, những việc nào mà con người làm, - và ba thiện hạnh. (16) Sắc, điều được cảm thọ, tưởng, - năm uẩn đã được bày tỏ, những người nào thực hành như vậy, - Phạm hạnh và các quả báo.
(17) Không làm mọi điều ác, - (ba lối vào) giải thoát đã được chính Ngài chỉ bảo, không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, - của chư Thiên và của các A-tu-la.
(18) Cái nào đã được đạt đến, cả hai cực đoan, - vui thích và sầu muộn, tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra, - và (ba) vị thầy đã được trình bày.
(19) Khoái lạc ngũ dục nào ở thế gian, - và (bảy) yếu tố đưa đến giác ngộ đã được trình bày, trong số các đạo lộ, (đạo lộ) Tám Chi Phần là tối cao, - và ba đối tượng đạt đến chóp đỉnh.
(20) Tốt đẹp thay sự thu thúc ở thân, - và việc nên làm đã được chỉ bảo, không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, - và (ba) việc không nên làm đã được chỉ bảo.
(21) Nên làm việc tốt lành bằng thân, - sự huấn luyện và dục lạc ở thế gian, và (bảy) yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được chỉ bảo, - vị thế Bất Tử là khó thấy.
Lãnh vực thứ nhì - Sự Hình Thành Giáo Lý - thuộc Peṭakopadesa được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
13. Tattha katamaṃ sāsanappaṭṭhānaṃ? Saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, vāsanā bhāgiyaṃ suttaṃ, nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca, saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca, saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca, vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca. Āṇatti, phalaṃ, upāyo, āṇatti ca phalañca, phalañca upāyo ca, āṇatti ca phalañca upāyo ca. Assādo, ādīnavo, nissaraṇaṃ, assādo ca ādīnavo ca, assādo ca nissaraṇañca, ādīnavo ca nissaraṇañca, assādo ca ādīnavo ca nissaraṇañca. Lokikaṃ, lokuttaraṃ, lokikañca lokuttarañca. Kammaṃ, vipāko, kammañca vipāko ca. Niddiṭṭhaṃ, aniddiṭṭhaṃ, niddiṭṭhañca aniddiṭṭhañca. Ñāṇaṃ, ñeyyaṃ, ñāṇañca ñeyyañca. Dassanaṃ, bhāvanā, dassanañca bhāvanā ca. Vipākakammaṃ, na vipākakammaṃ, nevavipākanavipākakammaṃ. Sakavacanaṃ, paravacanaṃ, sakavacanañca paravacanañca. Sattādhiṭṭhānaṃ, dhammādhiṭṭhānaṃ, sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca. Thavo, sakavacanādhiṭṭhānaṃ, paravacanādhiṭṭhānaṃ, sakavacanādhiṭṭhānañca paravacanādhiṭṭhānañca. Kiriyaṃ, phalaṃ, kiriyañca phalañca. Anuññātaṃ, paṭikkhittaṃ, anuññātañca paṭikkhittañca. Imāni cha paṭikkhittāni.
13. Herein, what is the foundation of the teaching? A discourse partaking of defilement, a discourse partaking of the accumulation of merit, a discourse partaking of penetration, a discourse partaking of the adept; a discourse partaking of defilement and the accumulation of merit; a discourse partaking of defilement and penetration; a discourse partaking of defilement, penetration, and the adept; a discourse partaking of the accumulation of merit and penetration. Instruction, fruit, means; instruction and fruit; fruit and means; instruction, fruit, and means. Gratification, danger, escape; gratification and danger; gratification and escape; danger and escape; gratification, danger, and escape. Mundane, supramundane; mundane and supramundane. Kamma, result; kamma and result. Specified, unspecified; specified and unspecified. Knowledge, the knowable; knowledge and the knowable. Seeing, development; seeing and development. Action that is a result, action that is not a result, action that is neither a result nor not a result. One's own utterance, another's utterance; one's own and another's utterance. A being as foundation, the Dhamma as foundation; a being and the Dhamma as foundation. Praise, one's own utterance as foundation, another's utterance as foundation; one's own and another's utterance as foundation. Functional action, fruit; functional action and fruit. Permitted, forbidden; permitted and forbidden. These six are forbidden.
13. Trong đó, thế nào là nền tảng của giáo pháp? Kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tu tập, kinh thuộc phần yếm ly, kinh thuộc phần vô học, kinh vừa thuộc phần phiền não vừa thuộc phần tu tập, kinh vừa thuộc phần phiền não vừa thuộc phần yếm ly, kinh vừa thuộc phần phiền não vừa thuộc phần yếm ly vừa thuộc phần vô học, kinh vừa thuộc phần tu tập vừa thuộc phần yếm ly. Mệnh lệnh, quả, phương tiện, cả mệnh lệnh và quả, cả quả và phương tiện, cả mệnh lệnh, quả và phương tiện. Vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly, cả vị ngọt và sự nguy hại, cả vị ngọt và sự xuất ly, cả sự nguy hại và sự xuất ly, cả vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Thuộc thế gian, siêu thế, cả thuộc thế gian và siêu thế. Nghiệp, quả dị thục, cả nghiệp và quả dị thục. Được chỉ rõ, không được chỉ rõ, cả được chỉ rõ và không được chỉ rõ. Trí, đối tượng của trí, cả trí và đối tượng của trí. Kiến, tu, cả kiến và tu. Nghiệp có quả dị thục, nghiệp không có quả dị thục, nghiệp không phải có quả dị thục cũng không phải không có quả dị thục. Lời của mình, lời của người khác, cả lời của mình và lời của người khác. Y cứ vào chúng sanh, y cứ vào pháp, cả y cứ vào chúng sanh và y cứ vào pháp. Tán thán, y cứ vào lời của mình, y cứ vào lời của người khác, cả y cứ vào lời của mình và y cứ vào lời của người khác. Hành động, quả, cả hành động và quả. Được cho phép, bị cấm chế, cả được cho phép và bị cấm chế. Sáu điều này bị cấm chế.
14. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ?
14. Herein, what is a discourse that partakes of defilement?
14. Trong đó, thế nào là kinh thuộc phần phiền não?
Kāmandhā jālasañchannā, taṇhāchadanachāditā;
Pamattabandhunā baddhā, macchāva kumināmukhe;
Jarāmaraṇamanventi, vaccho khīrapakova † mātaraṃ.
Blinded by sensual desire, covered by the net of craving, shrouded by the veil of craving, bound by the Kinsman of the Heedless, Māra, they are like fish at the mouth of a fish-trap; they follow aging and death, just as a suckling calf follows its mother.
Bị mù lòa vì dục, bị lưới (ái) bao phủ, bị màn che ái dục bao trùm; bị trói buộc bởi người bà con phóng dật (tức là Ma vương), giống như cá ở miệng hom; chúng đi theo già và chết, như bê con bú sữa đi theo mẹ.
Pañcime, bhikkhave, nīvaraṇā.
Bhikkhus, there are these five hindrances.
Này các Tỳ khưu, có năm triền cái này.
Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ?
Herein, which is the discourse that partakes of latent dispositions?
Trong đó, thế nào là kinh thuộc phần tu tập?
Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī.
Mind precedes all mental states, mind is their chief, they are mind-made. If with a pure mind one speaks or acts, happiness follows one like a shadow that never departs.
Các pháp lấy ý làm đầu, lấy ý làm chủ, do ý tạo thành. Nếu người với ý trong sạch, nói lên hay làm lên, do vậy, hạnh phúc đi theo, như bóng không rời hình.
Saṃyuttake suttaṃ.
A discourse in the Saṃyutta.
Kinh trong Tương Ưng Bộ.
Mahānāmassa sakkassa idaṃ bhagavā sakyānaṃ kapilavatthumhi nagare nayavitthārena saddhāsīlaparibhāvitaṃ suttaṃ bhāvaññena paribhāvitaṃ taṃ nāma pacchime kāle.
The Blessed One taught this discourse, which develops faith and virtue, in detail to Mahānāma the Sakyan in Kapilavatthu, the city of the Sakyans. It was developed by marking its portions. That development, it is said, is for a future time.
Đức Thế Tôn đã giảng kinh này cho vương tử Thích Ca tên là Mahānāma tại thành phố Kapilavatthu của dòng họ Thích Ca một cách chi tiết, là kinh làm tăng trưởng tín và giới. Sự tu tập được thực hiện bằng cách ghi nhận từng phần. Sự tu tập ấy sẽ có trong thời vị lai.
Tattha katamaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ?
Herein, which is the discourse that partakes of penetration?
Trong đó, thế nào là kinh thuộc phần yếm ly?
Uddhaṃ adho † sabbadhi vippamutto, ayaṃ ahasmīti anānupassī;
Evaṃ vimutto udatāri oghaṃ, atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāya.
Freed above, below, and in every way, not viewing anything as ‘this I am’; thus liberated, for the sake of no renewed existence, he has crossed over the flood not crossed before.
Hoàn toàn giải thoát ở trên, ở dưới, và khắp mọi nơi, không còn quán xét 'đây là ta'. Người giải thoát như vậy, vì mục đích không còn tái sanh, đã vượt qua dòng bộc lưu chưa từng vượt qua.
Sīlāni nu kho bhavanti kimatthiyāni ānando pucchati satthāraṃ.
Ānanda asks the Teacher: 'For what purpose, indeed, are virtues?'
Tôn giả Ānanda hỏi Bậc Đạo Sư: 'Bạch Ngài, các giới có mục đích gì?'
Tattha katamaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ?
Herein, which is the discourse that partakes of the adept’s state?
Trong đó, thế nào là kinh thuộc phần vô học?
‘‘Yassa selūpamaṃ cittaṃ, ṭhitaṃ nānupakampati;
Virattaṃ rajanīyesu, kopaneyye † na kuppati;
Yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, kuto taṃ dukkhamessatī’’ti.
Whose mind is like a rock, firm and unshaken, dispassionate toward the alluring, unprovoked by the provoking—for one whose mind is thus developed, from where can suffering come?
Tâm của người nào vững chắc như tảng đá, không lay động; ly tham đối với những gì đáng tham ái, không sân hận đối với những gì đáng sân hận; tâm của người đã được tu tập như vậy, khổ đau từ đâu có thể đến được?
Sāriputto nāma bhagavā theraññataro so maṃ āsajja appaṭinissajja cārikaṃ pakkamati, sāriputtassa byākaraṇaṃ kātabbaṃ. Yassa nūna bhagavā kāyagatā sati abhāvitā assa abahulīkatā vitthārena kātabbaṃ.
The Blessed One said: 'There is a certain elder named Sāriputta. Having approached me and not relinquishing the matter, that elder sets out on his wandering. An explanation concerning Sāriputta should be given. Indeed, for anyone by whom mindfulness directed to the body has not been developed and made much of, it should be set forth in detail.'
Đức Thế Tôn nói: Có một vị trưởng lão tên là Sāriputta. Vị trưởng lão ấy đến gần ta, và không rời bỏ, đã lên đường du hành. Cần phải có lời tuyên bố về Sāriputta. Đức Thế Tôn dạy rằng: 'Đối với người nào mà niệm thân hành chưa được tu tập, chưa được thực hành nhiều, cần phải thực hành một cách chi tiết'.
15. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca?
15. Herein, which is the discourse that partakes of both defilement and latent dispositions?
15. Trong đó, thế nào là kinh vừa thuộc phần phiền não vừa thuộc phần tu tập?
Channamativassati †, vivaṭaṃ nātivassati;
Tasmā channaṃ vivaretha, evaṃ taṃ nātivassati.
It rains on what is covered; it does not rain on what is open. Therefore, one should uncover what is covered; thus, it will not rain on it.
Mưa rơi xuống chỗ có mái che, mưa không rơi xuống chỗ trống trải. Vì vậy, hãy mở tung mái che, như vậy mưa sẽ không rơi xuống đó.
Channamativassatīti saṃkileso. Vivaṭaṃ nātivassatīti vāsanā. Tamo tamaparāyanoti vitthārena. Tattha yo ca tamo yo ca tamaparāyano, ayaṃ saṃkileso. Yo ca joti yo ca jotiparāyano, ayaṃ vāsanā.
‘It rains on what is covered’ refers to the partaking of defilement. ‘It does not rain on what is open’ refers to the partaking of latent dispositions. The passage beginning ‘Darkness, bound for darkness,’ should be understood in detail. Herein, both ‘one who is darkness’ and ‘one who is bound for darkness’ refer to defilement. Both ‘one who is light’ and ‘one who is bound for light’ refer to latent dispositions.
'Mưa rơi xuống chỗ có mái che' là (kinh thuộc) phần phiền não. 'Mưa không rơi xuống chỗ trống trải' là (kinh thuộc) phần tu tập. 'Người u tối, có đích đến là u tối' (cần được hiểu) một cách chi tiết. Trong đó, 'người u tối' và 'người có đích đến là u tối', đây là phần phiền não. 'Người sáng chói' và 'người có đích đến là sáng chói', đây là phần tu tập.
Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ?
Herein, which is the discourse that partakes of both defilement and penetration?
Trong đó, thế nào là kinh vừa thuộc phần phiền não vừa thuộc phần yếm ly?
Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, yadāyasaṃ dārujapabbajañca †;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu, puttesu dāresu ca yā apekkhā.
The wise do not call that a strong bond which is made of iron, wood, or babbaja grass; but that passionate attachment to jeweled earrings, and that yearning for sons and wives—
Bậc trí không gọi sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, hay bằng cỏ babbaja là sự trói buộc bền chặt. Sự luyến ái say đắm vào bông tai ngọc ngà, và sự quyến luyến đối với con cái và vợ.
Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, yadā puttesu dāresu ca yā apekkhā, ayaṃ saṃkileso. Etampi chetvā paribbajanti dhīrā anapekkhino sabbakāme pahāyāti, ayaṃ nibbedho. Yaṃ cetayitaṃ pakappitaṃ yā ca nāmarūpassa avakkanti hoti. Imehi catūhi padehi saṃkileso. Pacchimakehi catūhi nibbedho.
The yearning for sons and wives refers to defilement. The passage, ‘Having severed this too, the wise wander forth, without longing, having abandoned all sensual pleasures,’ refers to penetration. Also: whatever is intended and conceived, and the descent of name-and-form that occurs—by these four terms, defilement is shown. By the latter four terms, penetration is shown.
Bậc trí không gọi đó là sự trói buộc bền chặt, khi có sự quyến luyến đối với con cái và vợ, đây là phần phiền não. 'Bậc trí cắt đứt cả sự trói buộc này, không còn quyến luyến, từ bỏ mọi dục lạc mà ra đi', đây là phần yếm ly. Bất cứ sự cố ý, sự toan tính nào, và sự đi vào danh và sắc nào xảy ra. Bốn câu này (chỉ) phần phiền não. Bốn câu sau (chỉ) phần yếm ly.
Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ?
Herein, which is the discourse that partakes of defilement, penetration, and the adept’s state?
Trong đó, thế nào là kinh vừa thuộc phần phiền não, vừa thuộc phần yếm ly, vừa thuộc phần vô học?
Ayaṃ loko santāpajāto, phassapareto rogaṃ † vadati attato;
Yena yena hi maññanti, tato taṃ hoti aññathā.
This world is born of torment, oppressed by contact; it speaks of affliction as its own. For in whatever way they conceive things, it becomes otherwise than that.
Thế gian này sanh ra từ phiền não, bị xúc chi phối, nó gọi bệnh tật là tự ngã. Bất cứ điều gì họ quan niệm, nó lại trở thành khác đi.
Aññathābhāvī bhavasatto loko, bhavapareto bhavamevābhinandati;
Yadabhinandati taṃ bhayaṃ, yassa bhāyati taṃ dukkhaṃ;
Bhavavippahānāya kho panidaṃ brahmacariyaṃ vussati.
This world, subject to change and attached to existence, overcome by existence, delights only in existence. What it delights in, that is fear; what it fears, that is suffering. Indeed, this holy life is lived for the sake of abandoning existence.
Thế gian có bản chất đổi khác, dính mắc vào hữu, bị hữu chi phối, lại vui thích chính trong hữu. Cái mà nó vui thích, đó là sự đáng sợ; cái mà nó sợ hãi, đó là khổ đau. Phạm hạnh này được sống chính là để đoạn tận hữu.
Ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vippamokkhamāhaṃsu, sabbete ‘‘avippamuttā bhavasmā’’ti vadāmi. Ye vā pana keci samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavena bhavassa nissaraṇamāhaṃsu, sabbete ‘‘anissaṭā bhavasmā’’ti vadāmi. Upadhiṃ hi paṭicca dukkhamidaṃ sambhoti, sabbupādānakkhayā natthi dukkhassa sambhavo, lokamimaṃ passa, puthū avijjāya paretā bhūtā bhūtaratā bhavā aparimuttā. Ye hi keci bhavā sabbadhi sabbatthatāya sabbete bhavā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammāti.
Whatever ascetics or brahmins have proclaimed release from existence by means of existence, all of them, I say, are not released from existence. And whatever ascetics or brahmins have proclaimed an escape from existence by means of non-existence, all of them, I say, have not escaped from existence. For this suffering arises in dependence on a substrate; with the utter destruction of all clinging, there is no arising of suffering. Behold this world: a populace overcome by ignorance, beings delighting in beings, are not freed from existence. Whatever kinds of existence there are, in all places and in every way, all those states of existence are impermanent, suffering, and subject to change.
Bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã nói về sự giải thoát khỏi hữu bằng hữu, Ta nói rằng tất cả những vị ấy chưa được giải thoát khỏi hữu. Lại nữa, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã nói về sự thoát ly khỏi hữu bằng phi hữu, Ta nói rằng tất cả những vị ấy chưa thoát ly khỏi hữu. Vì rằng, do duyên với y, khổ này sanh khởi; do sự đoạn tận tất cả các thủ, không có sự sanh khởi của khổ. Hãy nhìn thế gian này, phần nhiều chúng sanh bị vô minh bao phủ, thích thú với chúng sanh, chưa giải thoát khỏi các cõi hữu. Bất kỳ các cõi hữu nào, ở khắp mọi nơi, trong mọi phương diện, tất cả các cõi hữu ấy đều là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại.
‘‘Evametaṃ yathābhūtaṃ, sammappaññāya passato;
Bhavataṇhā pahīyati, vibhavaṃ nābhinandati;
Sabbaso taṇhānaṃ khayā, asesavirāganirodho nibbānaṃ.
For one who sees this thus as it really is with right wisdom, craving for existence is abandoned, and one does not delight in non-existence. Through the utter destruction of all cravings, the remainderless fading away and cessation is Nibbāna.
Đối với người thấy điều này đúng như thật bằng chánh trí tuệ, hữu ái được đoạn trừ, vị ấy không hoan hỷ trong phi hữu. Do sự đoạn tận hoàn toàn các ái, sự ly tham và đoạn diệt không còn dư sót chính là Niết-bàn.
‘‘Tassa nibbutassa bhikkhuno, anupādā punabbhavo na hoti;
Abhibhūto māro vijitasaṅgāmo, upeccagā sabbabhavāni tādī’’ti.
For that bhikkhu who is extinguished, without clinging there is no renewed existence. Māra is conquered, the battle is won; that Such-a-One has passed beyond all states of existence.
Đối với vị Tỳ-khưu đã tịch tịnh ấy, do không còn chấp thủ, không có tái sanh. Vị ấy đã chinh phục ma, đã chiến thắng trận chiến; vị như vậy đã vượt qua tất cả các cõi hữu.
Ayaṃ loko santāpajāto yāva dukkhanti yaṃ taṇhā saṃkileso.
The passage from ‘This world is born of torment’ up to ‘that is suffering’ refers to craving, which is defilement.
Kinh 'Thế gian này bị thiêu đốt... cho đến... khổ' này, cái gọi là ái, là phiền não.
Yaṃ punaggahaṇaṃ ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vimokkhamāhaṃsu, sabbete ‘‘avimuttā bhavasmā’’ti vadāmi. Ye vā pana keci samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavena bhavassa nissaraṇamāhaṃsu ‘‘anissaṭā bhavasmā’’ti vadāmi. Ayaṃ diṭṭhisaṃkileso, taṃ diṭṭhisaṃkileso ca taṇhāsaṃkileso ca, ubhayametaṃ saṃkileso. Yaṃ punaggahaṇaṃ bhavavippahānāya brahmacariyaṃ vussati, yāva sabbaso upādānakkhayā sambhavā, idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ. Tassa nibbutassa bhikkhuno yāva upaccagā sabbabhavāni tādīti idaṃ asekkhabhāgiyaṃ. Cattāro puggalā anusotagāmī saṃkileso ṭhitatto ca paṭisotagāmī ca nibbedho. Thale tiṭṭhatīti asekkhabhūmi.
Again, the passage: ‘Whatever ascetics or brahmins have proclaimed liberation from existence by means of existence… I say, have not escaped from existence’—this is the defilement of views. That defilement of views and the defilement of craving are, both of them, defilement. Again, the passage from ‘the holy life is lived for the sake of abandoning existence’ up to ‘with the utter destruction of all clinging, there is no arising’: this partakes of penetration. The passage from ‘For that bhikkhu who is extinguished’ up to ‘that Such-a-One has passed beyond all states of existence’: this partakes of the adept’s state. Regarding the four persons: the one who goes downstream refers to defilement. The one who stands firm and the one who goes upstream refer to penetration. ‘He stands on high ground’ refers to the adept’s stage.
Lại nữa, đoạn kinh: 'Bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã nói về sự giải thoát khỏi hữu bằng hữu, Ta nói rằng tất cả những vị ấy chưa được giải thoát khỏi hữu. Lại nữa, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã nói về sự thoát ly khỏi hữu bằng phi hữu, Ta nói rằng tất cả những vị ấy chưa thoát ly khỏi hữu.' Đây là kiến phiền não. Kiến phiền não ấy và ái phiền não, cả hai điều này là phiền não. Lại nữa, đoạn kinh: 'Phạm hạnh được sống để đoạn trừ hữu... cho đến... do sự đoạn tận tất cả các thủ, không có sự sanh khởi', đây là (kinh) thuộc phần giác ngộ. Đoạn kinh: 'Đối với vị Tỳ-khưu đã tịch tịnh ấy... cho đến... vị như vậy đã vượt qua tất cả các cõi hữu', đây là (kinh) thuộc phần vô học. Bốn hạng người: người đi xuôi dòng là phiền não; người đứng lại và người đi ngược dòng là giác ngộ. (Kinh) 'Vị ấy đứng trên bờ' là địa vị vô học.
16. Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ?
16. Herein, which is the discourse that partakes of both latent dispositions and penetration?
16. Trong số đó, kinh nào là kinh thuộc phần thiện căn và kinh thuộc phần giác ngộ?
‘‘Dadato † puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyati;
Kusalo ca jahāti pāpakaṃ, rāgadosamohakkhayā sanibbuto’’ti.
For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not amassed. The skillful one abandons evil; and through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished.
Đối với người bố thí, phước báu tăng trưởng; đối với người có sự chế ngự, oán thù không tích tụ. Và người thiện xảo từ bỏ điều ác; do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch tịnh.
‘‘Dadato puññaṃ pavaḍḍhati, saṃyamato veraṃ na cīyatī’’ti vāsanā. ‘‘Kusalo ca jahāti pāpakaṃ, rāgadosamohakkhayā sanibbuto’’ti nibbedho.
The passage, ‘For one who gives, merit increases; through restraint, enmity is not amassed,’ partakes of latent dispositions. The passage, ‘The skillful one abandons evil; through the destruction of lust, hatred, and delusion, one is extinguished,’ partakes of penetration.
Đoạn 'Đối với người bố thí, phước báu tăng trưởng; đối với người có sự chế ngự, oán thù không tích tụ' là (kinh) thuộc phần thiện căn. Đoạn 'Và người thiện xảo từ bỏ điều ác; do sự đoạn tận tham, sân, si, vị ấy được tịch tịnh' là (kinh) thuộc phần giác ngộ.
Sotānugatesu dhammesu vacasā paricitesu manasānupekkhitesu diṭṭhiyā suppaṭividdhesu pañcānisaṃsā pāṭikaṅkhā. Idhekaccassa bahussutā dhammā honti dhātā apamuṭṭhā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, so yuñjanto ghaṭento vāyamanto diṭṭheva dhamme visesaṃ pappoti. No ce diṭṭheva dhamme visesaṃ pappoti, gilāno pappoti. No ce gilāno pappoti, maraṇakālasamaye pappoti. No ce maraṇakālasamaye pappoti, devabhūto pāpuṇāti. No ce devabhūto pāpuṇāti, tena dhammarāgena tāya dhammanandiyā paccekabodhiṃ pāpuṇāti.
In teachings heard and followed, familiarized by speech, repeatedly contemplated by mind, and well-penetrated by view, five benefits are to be expected. Here, for a certain person, the well-learned teachings are retained, not forgotten, familiarized by speech, repeatedly contemplated by mind, and well-penetrated by view. Striving, making effort, and endeavoring, one attains distinction in this very life. If one does not attain distinction in this very life, one attains it when sick. If not when sick, then at the time of death. If not at the time of death, then having become a deva, one attains it. If, having become a deva, one does not attain it, then through that passion for the Dhamma, through that delight in the Dhamma, one attains individual enlightenment.
Đối với các pháp đã được nghe theo dòng, đã được thực hành bằng lời nói, đã được quán xét bằng ý, đã được thâm nhập bằng trí tuệ, năm lợi ích có thể được mong đợi. Ở đây, đối với một người nào đó, các pháp đã được nghe nhiều, được ghi nhớ, không quên lãng, được thực hành bằng lời nói, được quán xét bằng ý, được thâm nhập bằng trí tuệ; vị ấy, khi nỗ lực, khi cố gắng, khi tinh tấn, đạt được sự chứng đắc đặc biệt ngay trong hiện tại. Nếu không đạt được sự chứng đắc đặc biệt ngay trong hiện tại, vị ấy đạt được khi lâm bệnh. Nếu không đạt được khi lâm bệnh, vị ấy đạt được vào lúc lâm chung. Nếu không đạt được vào lúc lâm chung, vị ấy đạt được khi đã sanh làm vị trời. Nếu không đạt được khi đã sanh làm vị trời, do sự ái luyến pháp ấy, do sự hoan hỷ trong pháp ấy, vị ấy đạt được giác ngộ Độc Giác.
Tatthāyaṃ diṭṭheva dhamme pāpuṇāti, ayaṃ nibbedho. Yaṃ samparāye paccekabodhiṃ pāpuṇāti, ayaṃ vāsanā. Imāni soḷasa suttāni sabbasāsanaṃ atiggaṇhanto tiṭṭhanti. Imehi soḷasahi suttehi navavidho suttanto vibhatto bhavati. So ca paññavato no duppaññassa, yuttassa no ayuttassa, akammassa vihārissa pakatiyā loke saṃkileso carati. So saṃkileso tividho – taṇhāsaṃkileso diṭṭhisaṃkileso duccaritasaṃkileso. Tato saṃkilesato uṭṭhahanto saṃkileso dhammesu patiṭṭhahati, lokiyesu patiṭṭhahatīti. Tatthākusalo diṭṭhato sace taṃ sīlañca diṭṭhiñca parāmasati, tassa so taṇhāsaṃkileso hoti. Sace panassa evaṃ hoti ‘‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissaṃ † devaññataro vā’’ti yassa hoti micchādiṭṭhi, etassa micchādiṭṭhisaṃkileso bhavati. Sace pana sīle patiṭṭhito aparāmaṭṭhassa hi sīlavataṃ hoti, tassa taṃ sīlavato yoniso gahitaṃ avippaṭisāraṃ janeti yāva vimuttiñāṇadassanaṃ, tañca tassa diṭṭheva dhamme kālaṅkatassa vā tamhiyeva vā pana aparāpariyāyena vā, aññesu khandhesu evaṃ sutaṃ ‘‘sucaritaṃ vāsanāya saṃvattatī’’ti vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ vuccati. Tattha sīlesu ṭhitassa vinīvaraṇaṃ cittaṃ, taṃ tato sakkāyadiṭṭhippahānāya bhagavā dhammaṃ deseti. So accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti; yadi vā sāsanantare, accantaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti, yadi vā ekāsane cha abhiññe. Tattha dve puggalā ariyadhamme pāpuṇanti saddhānusārī ca dhammānusārī ca. Tattha dhammānusārī ugghaṭitaññū, saddhānusārī neyyo. Tattha ugghaṭitaññū duvidho – koci tikkhindriyo koci mudindriyo. Tattha neyyopi duvidho – koci tikkhindriyo koci mudindriyo. Tattha yo ca ugghaṭitaññū mudindriyo, yo ca neyyo tikkhindriyo, ime puggalā asamindriyā honti. Tattha ime puggalā samindriyā parihāyanti ca ugghaṭitaññuto, vipañcitaññū neyyato, ime majjhimā bhūmigatā vipañcitaññū hoti. Ime tayo puggalā.
Therein, that which states, 'one attains in this very life,' is the sutta pertaining to penetration. That which states, 'one attains individual enlightenment in a future life,' is the sutta pertaining to latent tendencies. These sixteen suttas stand, encompassing the entire teaching. By these sixteen suttas, the ninefold discourse is analyzed. And this is for one with wisdom, not for one without wisdom; for one who is engaged, not for one who is not engaged. For one who dwells without practice, defilement naturally arises in the world and proceeds. That defilement is threefold: the defilement of craving, the defilement of wrong view, and the defilement of misconduct. Arising from that defilement, defilement is established in unwholesome states; it is established in worldly things. Therein, if an unskillful one wrongly grasps that virtue and that view, for him there is the defilement of craving. But if it occurs to him thus: 'By this virtue, or this observance, or this holy life, I will become a deva or another kind of divine being,' for one who has such wrong view, for him there is the defilement of wrong view. But if, being established in virtue, one does not wrongly grasp it, for such a virtuous person, that virtue, being rightly undertaken, generates freedom from remorse up to the knowledge and vision of liberation. And for him, this occurs either in this very life, or for one who has died, in that very existence, or through a subsequent karma, in other aggregates. Thus it is said: 'Good conduct comes to fruition through latent tendencies.' This is called the sutta pertaining to latent tendencies. Therein, for one established in virtues, the mind is free from hindrances. Therefore, the Blessed One teaches the Dhamma for the abandoning of identity view. He attains the final state of Nibbāna. But if within the Dispensation he does not attain the final Nibbāna, or if in one sitting he does not attain the six direct knowledges, then two kinds of persons attain the noble Dhamma: the faith-follower and the Dhamma-follower. Therein, the Dhamma-follower is one of quick understanding; the faith-follower is one who is to be led. Therein, the one of quick understanding is of two kinds: one with sharp faculties and one with dull faculties. Therein, the one who is to be led is also of two kinds: one with sharp faculties and one with dull faculties. Therein, the one of quick understanding with dull faculties and the one who is to be led with sharp faculties—these persons are inferior to the one of quick understanding. The one of developed understanding is inferior to the one who is to be led. These, having reached a middle ground, become the one of developed understanding. These are the three persons.
Trong ấy, kinh này ‘chứng đắc ngay trong hiện tại’ là kinh thuộc về sự thâm nhập. Kinh mà ‘chứng đắc quả vị Độc Giác Phật trong đời sau’ là kinh thuộc về sự huân tập. Mười sáu bài kinh này tồn tại bao trùm toàn bộ giáo pháp. Bởi mười sáu bài kinh này, Kinh Tạng được phân chia thành chín loại. Và sự phân chia ấy là dành cho người có trí tuệ, không phải cho người kém trí tuệ; dành cho người chuyên cần, không phải cho người không chuyên cần. Đối với người sống không có sự thực hành, phiền não tự nhiên lưu chuyển trong thế gian. Phiền não ấy có ba loại: phiền não tham ái, phiền não tà kiến, phiền não ác hạnh. Phiền não khởi lên từ phiền não ấy được thiết lập trong các pháp (bất thiện), được thiết lập trong các pháp thế gian. Trong đó, nếu người bất thiện về phương diện tri kiến mà chấp thủ giới ấy và kiến ấy, thì người ấy có phiền não tham ái. Còn nếu người ấy nghĩ rằng: ‘Với giới này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào khác’, người nào có tà kiến như vậy, người ấy có phiền não tà kiến. Còn nếu người đã an trú trong giới mà không chấp thủ, đối với người có giới hạnh, giới hạnh ấy được hành trì đúng như lý sẽ làm phát sinh sự không hối hận cho đến khi có được giải thoát tri kiến. Và điều ấy đối với người ấy ngay trong hiện tại, hoặc khi đã mệnh chung, hoặc trong một thời điểm khác sau đó, trong các uẩn khác, như đã được nghe: ‘Thiện hạnh đưa đến (kết quả tốt) do sự huân tập’, đây được gọi là kinh thuộc về sự huân tập. Trong đó, đối với người an trú trong giới, tâm không có triền cái, do đó, để đoạn trừ thân kiến, Đức Thế Tôn thuyết pháp. Vị ấy chứng đắc Niết-bàn tối hậu; hoặc nếu trong giáo pháp này, vị ấy chứng đắc Niết-bàn tối hậu, hoặc nếu trong một lần ngồi mà chứng đắc sáu loại thắng trí. Trong trường hợp ấy, có hai hạng người chứng đắc Thánh pháp: Tùy Tín hành và Tùy Pháp hành. Trong đó, Tùy Pháp hành là hạng người Ưu-già-trí-đan-nhu (người có trí tuệ nhanh chóng). Tùy Tín hành là hạng người Nê-dạ (người cần được dẫn dắt). Trong đó, hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có hai loại: người có căn tánh lanh lợi và người có căn tánh chậm lụt. Trong đó, hạng Nê-dạ cũng có hai loại: người có căn tánh lanh lợi và người có căn tánh chậm lụt. Trong đó, hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh chậm lụt và hạng Nê-dạ có căn tánh lanh lợi, những hạng người này có các căn không đồng đều. Trong đó, những hạng người này có các căn đồng đều thì bị suy giảm so với hạng Ưu-già-trí-đan-nhu, và hạng người Vô-bán-chỉ-đa-nhu (người có trí tuệ rộng rãi) so với hạng Nê-dạ. Những người này, đã đạt đến trình độ trung bình, trở thành hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu. Đây là ba hạng người.
17. Tattha catutthā pana pañcamā ugghaṭitaññū vipañcitaññū neyyo ca, tattha ugghaṭitaññū puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalañca pāpuṇāti, ekabījī hoti paṭhamo sotāpanno. Tattha vipañcitaññū puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalañca pāpuṇāti, kolaṃkolo ca hoti dutiyo sotāpanno. Tattha neyyo puggalo indriyāni paṭilabhitvā dassanabhūmiyaṃ ṭhito sotāpattiphalañca pāpuṇāti, sattakkhattuparamo ca hoti, ayaṃ tatiyo sotāpanno. Ime tayo puggalā indriyavemattatāya sotāpattiphale ṭhitā.
17. Therein, the fourth and fifth persons are the one of quick understanding, the one of developed understanding, and the one who is to be led. Therein, the person of quick understanding, having obtained the faculties and being established on the plane of vision, attains the fruit of stream-entry; this first stream-enterer is a 'one-seeder'. Therein, the person of developed understanding, having obtained the faculties and being established on the plane of vision, attains the fruit of stream-entry; this second stream-enterer is a 'family-to-family' one. Therein, the person who is to be led, having obtained the faculties and being established on the plane of vision, attains the fruit of stream-entry; this third stream-enterer is one with 'seven times at most'. These three persons are established in the fruit of stream-entry due to the diversity of their faculties.
17. Trong đó, hạng thứ tư và thứ năm là Ưu-già-trí-đan-nhu, Vô-bán-chỉ-đa-nhu, và Nê-dạ. Trong đó, hạng người Ưu-già-trí-đan-nhu, sau khi có được các căn, an trú trong kiến địa và chứng đắc quả vị Nhập Lưu, vị Nhập Lưu thứ nhất này là bậc Nhất Chủng. Trong đó, hạng người Vô-bán-chỉ-đa-nhu, sau khi có được các căn, an trú trong kiến địa và chứng đắc quả vị Nhập Lưu, vị Nhập Lưu thứ hai này là bậc Gia-từ-gia. Trong đó, hạng người Nê-dạ, sau khi có được các căn, an trú trong kiến địa và chứng đắc quả vị Nhập Lưu, vị Nhập Lưu thứ ba này là bậc Tối đa bảy lần. Ba hạng người này, do sự khác biệt về các căn, đều an trú trong quả vị Nhập Lưu.
Ugghaṭitaññū ekabījī hoti, vipañcitaññū kolaṃkolo hoti, neyyo sattakkhattuparamo hoti. Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ. Sace pana taduttari vāyamati, accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ pāpuṇāti. Tattha ugghaṭitaññū puggalo yo tikkhindriyo, te dve puggalā honti – anāgāmiphalaṃ pāpuṇitvā antarāparinibbāyī ca upahaccaparinibbāyī ca. Tattha vipañcitaññū puggalo yo tikkhindriyo, te dve puggalā honti – anāgāmiphalaṃ pāpuṇanti asaṅkhāraparinibbāyī ca sasaṅkhāraparinibbāyī ca. Tattha neyyo anāgāmiphalaṃ pāpuṇanto uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti, ugghaṭitaññū ca vipañcitaññū ca, indriyanānattena ugghaṭitaññū puggalo tikkhindriyo antarāparinibbāyī hoti, ugghaṭitaññū mudindriyo uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti. Ugghaṭitaññū ca vipañcitaññū ca indriyanānattena ugghaṭitaññū puggalo tikkhindriyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, tikkhindriyo antarāparinibbāyī hoti, ugghaṭitaññū mudindriyo upahaccaparinibbāyī hoti. Vipañcitaññū tikkhindriyo asaṅkhāraparinibbāyī hoti, vipañcitaññū mudindriyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, neyyo upahaccaparinibbāyī hoti, vipañcitaññū tikkhindriyo asaṅkhāraparinibbāyī hoti. Vipañcitaññū mudindriyo sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, neyyo uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī hoti. Iti pañca anāgāmino, chaṭṭho sakadāgāmī, tayo ca sotāpannāti ime nava sekkhā.
The one of quick understanding is a one-seeder; the one of developed understanding is a 'family-to-family' one; the one who is to be led is a 'seven-times-at-most' one. This is the discourse pertaining to penetration. But if one strives further than that, one attains the final Nibbāna. Therein, by difference in faculties: the person of quick understanding with sharp faculties becomes one who attains Parinibbāna in the interval; the person of quick understanding with dull faculties becomes one who attains Parinibbāna upon landing. The person of developed understanding with sharp faculties becomes one who attains Parinibbāna without exertion; the person of developed understanding with dull faculties becomes one who attains Parinibbāna with exertion. The person who is to be led becomes one who goes upstream to the Akaniṭṭha realm. Thus, there are five non-returners, a sixth who is the once-returner, and three who are stream-enterers; these are the nine trainees.
Hạng Ưu-già-trí-đan-nhu là bậc Nhất Chủng, hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu là bậc Gia-từ-gia, hạng Nê-dạ là bậc Tối đa bảy lần. Đây là kinh thuộc về sự thâm nhập. Còn nếu nỗ lực hơn nữa, vị ấy sẽ chứng đắc Niết-bàn tối hậu. Trong đó, hạng người Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh lanh lợi, sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai, trở thành hai hạng người: bậc Trung gian Bát-Niết-bàn và bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn. Trong đó, hạng người Vô-bán-chỉ-đa-nhu có căn tánh lanh lợi, sau khi chứng đắc quả vị Bất Lai, trở thành hai hạng người: bậc Vô hành Bát-Niết-bàn và bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn. Trong đó, hạng người Nê-dạ, khi chứng đắc quả vị Bất Lai, trở thành bậc Thượng lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh. Đối với hạng Ưu-già-trí-đan-nhu và Vô-bán-chỉ-đa-nhu, do sự đa dạng của các căn: hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh lanh lợi là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn, hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh chậm lụt là bậc Thượng lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh. Đối với hạng Ưu-già-trí-đan-nhu và Vô-bán-chỉ-đa-nhu, do sự đa dạng của các căn: hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh lanh lợi là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn, người có căn tánh lanh lợi là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn, hạng Ưu-già-trí-đan-nhu có căn tánh chậm lụt là bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn. Hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu có căn tánh lanh lợi là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn, hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu có căn tánh chậm lụt là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn, hạng Nê-dạ là bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn, hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu có căn tánh lanh lợi là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn. Hạng Vô-bán-chỉ-đa-nhu có căn tánh chậm lụt là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn, hạng Nê-dạ là bậc Thượng lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh. Như vậy, có năm hạng Bất Lai, thứ sáu là hạng Nhất Lai, và ba hạng Nhập Lưu, đây là chín hạng Hữu học.
Tattha ugghaṭitaññū puggalo tikkhindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti ubhatobhāgavimutto paññāvimutto ca. Tattha ugghaṭitaññū puggalo mudindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti, ṭhitakappī † ca paṭivedhanabhāvo puggalo ca tikkhindriyo so arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti cetanābhabbo ca rakkhaṇābhabbo ca. Tattha vipañcitaññū mudindriyo arahattaṃ pāpuṇanto dve puggalā honti, sace ceteti na parinibbāyī, no ce ceteti parinibbāyīti. Sace anurakkhati na parinibbāyī, no ce anurakkhati parinibbāyīti. Tattha neyyo puggalo bhāvanānuyogamanuyutto parihānadhammo hoti kammaniyato vā samasīsi vā, ime nava arahanto idaṃ catubbidhaṃ suttaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ asekkhabhāgiyaṃ. Imesu puggalesu tathāgatassa dasavidhaṃ balaṃ pavattati.
Among them, the person of quick understanding with sharp faculties, upon attaining Arahantship, becomes two types of individuals: one liberated in both ways and one liberated by wisdom. Among them, the person of quick understanding with dull faculties, upon attaining Arahantship, becomes two types of individuals: one who is established for an aeon and one who is capable of penetration. The person of developed understanding with sharp faculties, upon attaining Arahantship, becomes two types of individuals: one who is capable through resolution and one who is capable through guarding. Among them, the person of developed understanding with dull faculties, upon attaining Arahantship, becomes two pairs of individuals: one who does not attain Parinibbāna if one resolves, but does if one does not; and one who does not attain Parinibbāna if one guards, but does if one does not. Among them, the person who is to be led, devoted to the practice of development, is of a nature to decline, or is determined by kamma, or is one of equal heading. These are the nine Arahants. This fourfold discourse pertains to defilement and pertains to the adept. Among these individuals, the Tathāgata's tenfold power operates.
Trong các hạng người ấy, hạng người ugghāṭitaññū (người liễu tri ngay khi được nghe đề mục) có lợi căn, khi chứng đắc A-la-hán, có hai hạng người là ubhatobhāgavimutta (người giải thoát cả hai phần) và paññāvimutta (người tuệ giải thoát). Trong các hạng người ấy, hạng người ugghāṭitaññū có độn căn, khi chứng đắc A-la-hán, có hai hạng người là ṭhitakappī (người an trú một kiếp) và paṭivedhanabhāvo (người có khả năng chứng ngộ). Hạng người vipañcitaññū (người liễu tri sau khi được giải thích rộng) có lợi căn, khi chứng đắc A-la-hán, có hai hạng người là cetanābhabbo (người có khả năng do tác ý) và rakkhaṇābhabbo (người có khả năng do hộ trì). Trong các hạng người ấy, hạng người vipañcitaññū có độn căn, khi chứng đắc A-la-hán, có hai hạng người là: nếu tác ý thì không nhập Niết-bàn, nếu không tác ý thì nhập Niết-bàn; nếu hộ trì thì không nhập Niết-bàn, nếu không hộ trì thì nhập Niết-bàn. Trong các hạng người ấy, hạng người neyya (người cần được dẫn dắt) chuyên tâm tu tập thiền định, là người có pháp bị thối chuyển, hoặc là người có định nghiệp, hoặc là người đồng thời giải thoát. Chín vị A-la-hán này, kinh này có bốn loại, thuộc phần phiền não và thuộc phần vô học. Đối với những hạng người này, mười loại lực của Như Lai được vận hành.
18. Katamaṃ dasavidhaṃ? Idha buddhānaṃ bhagavantānaṃ appavattite dhammacakke mahesakkhā devaputtā yācanāya abhiyātā † honti ‘‘desetu sugato dhamma’’nti. So anuttarena buddhacakkhunā volokento addasāsi sattānaṃ tayo rāsīnaṃ sammattaniyato micchattaniyato aniyato. Tattha sammattaniyato rāsi micchāsatiṃ āpajjeyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, asatthuko parinibbāyeyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, samāpattiṃ āpajjeyyāti ṭhānametaṃ vijjati. Tattha micchattaniyato rāsi ariyasamāpattiṃ paṭipajjissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, anariyamicchāpaṭipattiṃ paṭipajjissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Tattha aniyato rāsi sammāpaṭipajjamānaṃ sammattaniyatarāsiṃ gamissatīti ṭhānametaṃ vijjati, micchāpaṭipajjamāno sammattaniyatarāsiṃ gamissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Sammāpaṭipajjamānaṃ sammattaniyatarāsiṃ gamissatīti ṭhānametaṃ vijjati, micchāpaṭipajjamānaṃ micchattaniyatarāsiṃ gamissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Ime tayo anuttarena buddhacakkhunā volokentassa sammāsambuddhassa me sato ime dhammā anabhisambuddhāti ettavatā maṃ koci sahadhammena paṭicodissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, vītarāgassa te paṭijānato akhīṇāsavatāya sahadhammena koci paṭicodissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yato pana imassa aniyatassa rāsissa dhammadesanā, sā na dissati takkarassa sammādukkhakkhayāyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, tathā ovadito yaṃ pana me aniyatarāsi sāvako pubbenāparaṃ visesaṃ na sacchikarissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
18. What is the tenfold? Here, when the wheel of Dhamma has not been set in motion by the Buddhas, the Blessed Ones, mighty devaputtas approach to request, saying, 'May the Sugata teach the Dhamma.' Surveying with the unsurpassed Buddha-eye, he saw three groups of beings: those with a fixed destiny for rightness, those with a fixed destiny for wrongness, and those with an unfixed destiny. Among them, for the group with a fixed destiny for rightness, it is impossible that they would fall into wrong mindfulness; it is impossible that they would attain final Nibbāna without being honored; it is possible that they would attain a meditative absorption. Among those with a fixed destiny for wrongness, it is impossible that they would enter upon a noble attainment; it is possible that they would follow an ignoble wrong practice. Among those with an unfixed destiny, it is possible that one practicing rightly would reach the group with a fixed destiny for rightness; it is impossible that one practicing wrongly would reach the group with a fixed destiny for rightness. It is possible that one practicing rightly would reach the group with a fixed destiny for rightness; it is possible that one practicing wrongly would reach the group with a fixed destiny for wrongness. For me, the Perfectly Enlightened One surveying with the unsurpassed Buddha-eye, it is impossible that anyone could rightfully reproach me on the grounds that 'These phenomena were not fully understood by me.' It is impossible that anyone could rightfully reproach you, who declare yourself to be free from passion, on the grounds that your taints are not destroyed. Furthermore, for this group with an unfixed destiny, it is impossible that the teaching of the Dhamma, for one who acts accordingly, should not be seen as for the complete destruction of suffering. And it is impossible that a disciple of mine from the group with an unfixed destiny, having been instructed thus, should fail to realize a further, special attainment beyond a previous one.
18. Mười loại là gì? Ở đây, khi Pháp luân của các vị Phật, các đấng Thế Tôn chưa được chuyển vận, các vị trời con có đại thần lực đến thỉnh cầu rằng: 'Xin Thiện Thệ hãy thuyết Pháp'. Vị ấy với Phật nhãn vô thượng nhìn thấy ba nhóm chúng sanh: nhóm chánh định, nhóm tà định, và nhóm bất định. Trong đó, nhóm chánh định có thể rơi vào tà niệm, điều này không thể xảy ra; có thể nhập Niết-bàn mà không có thầy, điều này không thể xảy ra; có thể nhập định, điều này có thể xảy ra. Trong đó, nhóm tà định có thể thực hành thánh định, điều này không thể xảy ra; có thể thực hành tà hạnh phi thánh, điều này có thể xảy ra. Trong đó, nhóm bất định khi thực hành đúng đắn sẽ đi đến nhóm chánh định, điều này có thể xảy ra; khi thực hành sai lầm sẽ đi đến nhóm chánh định, điều này không thể xảy ra. Khi thực hành đúng đắn sẽ đi đến nhóm chánh định, điều này có thể xảy ra; khi thực hành sai lầm sẽ đi đến nhóm tà định, điều này có thể xảy ra. Ba nhóm này, khi ta là bậc Chánh Đẳng Giác nhìn bằng Phật nhãn vô thượng, có ai đó có thể chỉ trích ta một cách hợp pháp rằng 'những pháp này ta chưa giác ngộ', điều này không thể xảy ra. Có ai đó có thể chỉ trích một cách hợp pháp rằng 'ngài tự nhận đã ly tham nhưng các lậu hoặc chưa đoạn tận', điều này không thể xảy ra. Hơn nữa, bài thuyết pháp cho nhóm bất định này, mà không được xem là dẫn đến sự đoạn tận khổ đau một cách đúng đắn cho người thực hành, điều này không thể xảy ra. Vị đệ tử thuộc nhóm bất định của ta, sau khi được giáo huấn như vậy, mà không thể chứng ngộ được sự thù thắng hơn từ những gì đã đạt được trước đó, điều này không thể xảy ra.
19. Yaṃ kho muni nānappakārassa nānāniruttiyo devanāgayakkhānaṃ dameti dhamme vavatthānena vatvā kāraṇato aññaṃ pāraṃ gamissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Dhammapaṭisambhidā. Yato panimā niruttito satta satta niruttiyo nābhisambhuneyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Niruttipaṭisambhidā. Nirutti kho pana abhisamaggaratānaṃ sāvakānaṃ tamatthamaviññāpayeti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Atthapaṭisambhidā. Mahesakkhā devaputtā upasaṅkamitvā pañhe pucchiṃsu. Kāyikena vā mānasikena vā paripīḷitassa hatthakuṇīti vā pāde vā khañje dandhassa † so attho na paribhājiyatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Paṭibhānapaṭisambhidā. Yamhi taṃ tesaṃ hoti tamhi asantaṃ bhavatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yaṃ hi nāsaṃ tesaṃ na bhavati, tamhi nāsaṃ tesaṃ bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Evaṃ samudayassa nirodhāya dasa akusalakammapathā. Māro vā indo vā brahmā vā tathāgato vā cakkavattī vā so vata nāma mātugāmo bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso assa rājā cakkavattī sakko devānamindo bhavissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Itissa evarūpaṃ balaṃ evarūpaṃ ñāṇaṃ, idaṃ vuccati ṭhānāṭṭhānañāṇaṃ paṭhamaṃ tathāgatabalaṃ taṃ niddisitabbaṃ. Tīhi rāsīhi catūhi vesārajjehi catūhi paṭisambhidāhi paṭiccasamuppādassa pavattiyaṃ nivattiyaṃ bhāgiyañca. Kusalaṃ kusalavipākesu ca upapajjati yañca itthipurisānaṃ. Idaṃ paṭhamaṃ balaṃ tathāgato evaṃ jānāti.
19. Because the sage, having taught to devas, nāgas, and yakkhas the various phenomena with their various expressions by way of defining them, it is impossible that he would not, for that reason, go to the other shore. This is the analytical knowledge of Dhamma. Furthermore, it is impossible that these seven times seven expressions should not be mastered from the language. This is the analytical knowledge of language. It is impossible that the language should fail to make the meaning known to disciples who delight in complete harmony. This is the analytical knowledge of meaning. Mighty devaputtas approached and asked questions. It is impossible that for one afflicted physically or mentally—whether with a crooked hand or a lame foot, or being of dull wisdom—that meaning should not be analyzed. This is the analytical knowledge of ready wit. It is impossible that for one in whom that wisdom exists, it should be non-existent. It is impossible that for those who are not subject to destruction, destruction will occur. Thus, for the cessation of arising, there are the ten unwholesome courses of action. It is impossible that Māra, or Indra, or Brahmā, or a Tathāgata, or a wheel-turning monarch should be a woman; it is possible that a man should be a wheel-turning king or Sakka, lord of the devas. Such is his power, such is his knowledge. This is called the knowledge of possible and impossible causes, the first power of the Tathāgata. It should be pointed out in dependence on the three classes, the four grounds of self-confidence, the four analytical knowledges, the arising of dependent origination, its cessation, and the path. And it concerns wholesome actions and their results, and that which arises for men and women. This first power the Tathāgata knows thus.
19. Bậc Mâu-ni điều phục chư thiên, long vương, và dạ-xoa bằng nhiều cách thức và ngôn ngữ khác nhau, sau khi nói và xác định các pháp, mà vì lý do đó họ không đến được bờ bên kia, điều này không thể xảy ra. Đây là Pháp vô ngại giải. Hơn nữa, từ những ngôn ngữ này mà không thể phát sinh ra bảy lần bảy ngôn ngữ khác, điều này không thể xảy ra. Đây là Từ vô ngại giải. Ngôn ngữ không thể làm rõ nghĩa cho các vị đệ tử ưa thích sự hòa hợp, điều này không thể xảy ra. Đây là Nghĩa vô ngại giải. Các vị trời con có đại thần lực đến hỏi các câu hỏi. Đối với người bị khổ não về thân hay tâm, tay bị tật nguyền, chân bị què, trí tuệ chậm lụt, mà ý nghĩa đó không được phân giải, điều này không thể xảy ra. Đây là Biện tài vô ngại giải. Nơi nào có trí tuệ ấy, nơi đó nó không hiện hữu, điều này không thể xảy ra. Nơi nào không có sự hủy hoại, nơi đó sẽ có sự hủy hoại, điều này không thể xảy ra. Như vậy, để đoạn diệt sự sanh khởi, có mười ác nghiệp. Ma vương, Đế Thích, Phạm thiên, Như Lai, hay Chuyển luân vương lại có thể là một người nữ, điều này không thể xảy ra; một người nam có thể trở thành vua Chuyển luân, hoặc Đế Thích, vua của các vị trời, điều này có thể xảy ra. Như vậy, ngài có năng lực như vậy, có trí tuệ như vậy, đây được gọi là Trí về xứ và phi xứ, là lực đầu tiên của Như Lai, cần được chỉ rõ. Với ba nhóm, bốn sự vô sở úy, bốn vô ngại giải, sự sanh khởi và đoạn diệt của duyên khởi và các phần của nó. Thiện và trong các quả của thiện, những gì sanh khởi cho nam và nữ. Đây là lực đầu tiên, Như Lai biết như vậy.
Yesaṃ pana sammattaniyato rāsi, nāyaṃ sabbatthagāminī paṭipadā, nibbānagāminīyevāyaṃ paṭipadā. Tattha siyā micchattaniyato rāsi, esāpi na sabbatthagāminī paṭipadā. Sakkāyasamudayagāminīyevāyaṃ paṭipadā hotu, ayaṃ tattha tattha paṭipattiyā ṭhito gacchati nibbānaṃ, gacchati apāyaṃ, gacchati devamanussassa. Yaṃ yaṃ vā paṭipadaṃ paṭipajjeyya sabbattha gaccheyya, ayaṃ sabbatthagāminī paṭipadā. Yaṃ ettha ñāṇaṃ yathābhūtaṃ, idaṃ vuccati sabbatthagāminī paṭipadāñāṇaṃ dutiyaṃ tathāgatabalaṃ.
For those of the class with a fixed destiny for rightness, this is not a practice that goes to all destinations; this practice goes only to Nibbāna. Here, there may be the class with a fixed destiny for wrongness; this practice also does not go to all destinations. Let this practice be one that goes only to the origin of personal identity. One who is established in this or that practice goes to Nibbāna, goes to the plane of misery, or goes to the realm of devas and humans. Whatever practice one might undertake whereby one would go to any destination, this is the practice that goes to all destinations. The knowledge herein of things as they really are—this is called the knowledge of the practice that goes to all destinations, the second power of the Tathāgata.
Đối với những ai thuộc nhóm chánh định, đây không phải là con đường dẫn đến mọi nơi, đây chính là con đường dẫn đến Niết-bàn. Trong đó, có thể có nhóm tà định, đây cũng không phải là con đường dẫn đến mọi nơi. Mong rằng đây là con đường chỉ dẫn đến sự sanh khởi của thân kiến. Người này, an trú trong các pháp hành ở nơi này nơi kia, đi đến Niết-bàn, đi đến cõi khổ, đi đến cõi trời và người. Bất cứ con đường nào mà người ấy thực hành, người ấy sẽ đi đến mọi nơi, đây là con đường dẫn đến mọi nơi. Trí tuệ như thật ở đây, được gọi là Trí về con đường dẫn đến mọi nơi, là lực thứ hai của Như Lai.
Sā kho panāyaṃ sabbatthagāminī paṭipadā nānādhimuttā keci kāmesu keci dukkarakāriyaṃ keci attakilamathānuyogamanuyuttā keci saṃsārena suddhiṃ paccenti keci anajjābhāvanāti. Tena tena caritena vinibandhānaṃ sattānaṃ yaṃ ñāṇaṃ yathābhūtaṃ nānāgataṃ lokassa anekādhimuttagataṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Idaṃ tatiyaṃ tathāgatabalaṃ.
This path leading everywhere has diverse inclinations: some are devoted to sensual pleasures, some to performing difficult deeds, some to the practice of self-mortification, some attain purification through saṃsāra, and some attain the meditation of non-possession. He knows as it actually is the knowledge of beings bound by their various tendencies, the diverse knowledge, and the knowledge of the world's various inclinations as they actually are. This is the third power of the Tathāgata.
Lại nữa, con đường thực hành đưa đến khắp nơi này có nhiều khuynh hướng khác nhau: một số (chuyên chú) trong các dục, một số trong việc thực hành khổ hạnh, một số chuyên chú vào việc hành hạ bản thân, một số đạt đến sự thanh tịnh qua vòng luân hồi, một số đạt đến sự không tái sanh. Ngài biết như thật trí tuệ về các chúng sanh bị ràng buộc bởi các hạnh kiểm khác nhau ấy, và biết như thật trí tuệ đa dạng, nhiều khuynh hướng khác nhau của thế gian. Đây là Như Lai lực thứ ba.
Tattha sattānaṃ adhimuttā bhavanti āsevanti bhāventi bahulīkaronti. Tesaṃ kammupasayānaṃ tadādhimuttānaṃ. Sā ceva dhātu saṃvahati. Katarā panesā dhātu nekkhammadhātu baladhātu kāci sampatti kāci micchattañca dhātu adhimuttā bhavanti. Aññatarā uttari na samanupassanti. Te tadevaṭṭhānaṃ mayā jarāmaraṇassa abhinivissa voharanti ‘‘idameva saccaṃ moghamañña’’nti. Yathā bhagavā sakkassa devānamindassa bhāsitaṃ. Yaṃ tattha yathābhūtaṃ ñāṇaṃ. Idaṃ vuccati catutthaṃ tathāgatabalaṃ.
Among them, beings are inclined; they resort to, develop, and repeatedly practice certain things. For those with karmic accumulations and such inclinations, that element prevails. And which element is that? It is the element of renunciation, the element of strength, some element of attainment, or some element of wrongness, to which they are inclined. They do not perceive anything further. Clinging to that very state, being intent upon aging and death, they declare, “This alone is true, other things are empty.” As the Blessed One spoke to Sakka, lord of the devas. The knowledge of things as they actually are in that regard—this is called the fourth power of the Tathāgata.
Ở đây, các chúng sanh có những khuynh hướng, họ thân cận, tu tập, làm cho sung mãn. Đối với những chúng sanh có nghiệp làm nơi nương tựa, có khuynh hướng theo nghiệp đó, chính giới ấy dẫn dắt họ. Giới ấy là gì? Giới xuất ly, giới năng lực, một số là giới thành tựu, và một số là giới tà kiến trở thành khuynh hướng. Họ không thấy điều gì cao hơn một trong các giới đó. Họ chấp thủ vào chính lập trường đó về già và chết của ta và tuyên bố: ‘Chỉ điều này là thật, cái khác là vô ích.’ Như đã được Thế Tôn nói cho Sakka, vua của các vị trời. Trí tuệ nào ở đó như thật, đây được gọi là Như Lai lực thứ tư.
Tattha yaṃyeva dhātu † seṭṭhanti taṃ taṃ kāyena ca vācāya ca ārambhanti cetasiko. Ārambho cetanā kammaṃ kāyikā vācasikā ārambho cetasikattā kammantaraṃ tathāgato evaṃ pajānāti ‘‘iminā sattena evaṃ dhātukena evarūpaṃ kammaṃ kataṃ, taṃ atītamaddhānaṃ iminā hetunā tassa evarūpo vipāko vipaccati etarahi vipaccissati vā anāgatamaddhāna’’nti. Evaṃ paccuppannamaddhānaṃ pajānāti ‘‘ayaṃ puggalo evaṃdhātuko idaṃ kammaṃ karoti’’. Taṇhāya ca diṭṭhiyā ca iminā hetunā na tassa vipāko diṭṭheyeva dhamme nibbattissati, upapajje vā’’ti aparamhi vā pariyāye evaṃ pajānāti ‘‘ayaṃ puggalo evarūpaṃ kammaṃ karissati anāgatamaddhānaṃ, iminā hetunā tassa evarūpo vipāko nibbattissati, iminā hetunā yāni cattāri kammaṭṭhānāni idaṃ kammaṭṭhānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ ca sukhavipākaṃ’’ …pe… iti ayaṃ atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ hetuso ṭhānaso vipākavemattataṃ pajānāti uccāvacā hīnapaṇītatā, idaṃ vuccati kammavipākañāṇaṃ pañcamaṃ tathāgatabalaṃ.
Here, whatever element they consider supreme, they initiate it with body and speech, and it is mental. The initiation is volition, kamma; the initiation is bodily and verbal. Because of its mental nature, the Tathāgata, who knows the distinctions of kamma, understands thus: 'By this being with such an element, such a kamma was done in the past. For this reason, for that person, such a result is ripening now or will ripen in the future.' Thus he knows the present: 'This person with such a disposition is doing this kamma. Because of this reason, which is craving and view, the result for that person will not arise in this very life, nor upon rebirth, nor on a subsequent occasion.' Thus he knows: 'This person will do such a kamma in the future. For this reason, for that person, such a result will arise. For this reason, of the four meditation subjects, this meditation subject has present happiness and a happy result in the future.' …pe… Thus he knows the diversity of results of kamma undertakings in the past, future, and present, by way of cause and condition, their high and low, inferior and superior nature. This is called the knowledge of the results of kamma, the fifth power of the Tathāgata.
Ở đây, bất cứ giới nào được xem là cao tột, họ nỗ lực thực hiện điều đó qua thân, khẩu, và ý. Sự nỗ lực là tư, là nghiệp. Sự nỗ lực qua thân, khẩu, do tính chất của tâm, Như Lai biết sự khác biệt của nghiệp như sau: ‘Chúng sanh này với giới như vậy đã tạo nghiệp như thế này trong quá khứ, do nhân này mà quả như thế này đang trổ cho vị ấy trong hiện tại, hoặc sẽ trổ trong tương lai.’ Ngài biết về hiện tại như sau: ‘Người này với giới như vậy đang làm nghiệp này.’ Do nhân là ái và kiến này, quả của nghiệp ấy sẽ không sanh khởi cho vị ấy trong chính đời này, hoặc trong đời sau, hoặc trong một thời kỳ kế tiếp. Ngài biết như sau: ‘Người này sẽ làm nghiệp như thế này trong tương lai, do nhân này mà quả như thế này sẽ sanh khởi cho vị ấy, do nhân này mà trong bốn đề mục thiền, đề mục này đem lại an lạc trong hiện tại và có quả an lạc trong tương lai.’ …v.v… Như vậy, Ngài biết sự khác biệt về quả của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, theo nhân, theo duyên, cao và thấp, hạ liệt và cao thượng. Đây được gọi là trí tuệ về quả của nghiệp, là Như Lai lực thứ năm.
Tathā sattā yaṃ vā kammasamādānaṃ samādiyantā tattha evaṃ pajānāti imassa puggalassa kammādhimuttassa rāgacaritassa nekkhammadhātūnaṃ pāripūriṃ gacchanti, tassa rāgānugate suññamānassa paṭhamaṃ jhānaṃ saṃkilissati, sace puna uttari vāyāmato jhānavodānagate mānase visesabhāgiyaṃ paṭipadaṃ anuyuñjiyati. Tassa hi jhānabhāgiyaṃyeva paṭhamajjhāne ṭhitassa dutiyaṃ jhānaṃ vodānaṃ gacchati, tatiyañca jhānaṃ samāpajjitukāmassa somanassindriyaṃ cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati, tassa sā pīti avisesabhāgiyaṃ tatiyaṃ jhānaṃ ādissa tiṭṭhati. Sace tassa nissaraṇaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Tathāgatassa catutthajjhānaṃ vodānaṃ gacchatiyeva, catutthassa jhānassa hānabhāgiyā dhammā, te ca dhammā yattha pajāyanti yehi catutthajjhānaṃ vodānaṃ dissati. Evaṃ ajjhāsayasamāpattiyā yā catasso samāpattiyo tīṇi vimokkhamukhāni aṭṭha vimokkhajhānānīti cattāri jhānāni vimokkhāti. Aṭṭha ca vimokkhā tīṇi ca vimokkhamukhāni. Samādhīti cattāro samādhī – chandasamādhi vīriyasamādhi cittasamādhi vīmaṃsāsamādhīti. Samāpattiyo catasso ajjhāsayasamāpattiyo iti imesaṃ jhānānaṃ vimokkhasamāpattīti evarūpo saṃkileso rāgacaritassa puggalassa. Evaṃ dosacaritassa. Mohacaritassa. Rāgacaritassa puggalassa evarūpaṃ vodānaṃ iti yaṃ ettha ñāṇaṃ yathābhūtaṃ asādhāraṇaṃ sabbasattehi. Idaṃ vuccati chaṭṭhaṃ tathāgatabalaṃ.
Thus, when beings undertake any undertaking of kamma, he understands thus: 'For this individual, inclined to kamma and of a lustful nature, the elements of renunciation reach fulfillment.' For one who follows after lust and is devoid of a meditation subject, the first jhāna becomes defiled. But if, through further effort, the path pertaining to distinction is undertaken with a mind purified by jhāna, then for one established in the first jhāna, which has the portion of jhāna, the second jhāna becomes purified. And for one desiring to attain the third jhāna, the faculty of mental gladness pervades the mind and remains; for him, that rapture, being of a non-distinctive portion, remains directed toward the third jhāna. If he understands the escape from it as it really is, for one who has gone thus, the fourth jhāna indeed becomes purified. There are phenomena pertaining to the decline of the fourth jhāna, and those phenomena arise where the purification of the fourth jhāna is seen. Thus, by the attainment of noble intention, there are the four attainments, the three gateways to liberation, and the eight liberating jhānas; thus the four jhānas are liberations. And there are the eight liberations and the three gateways to liberation. The concentrations are four: desire-concentration, energy-concentration, mind-concentration, and investigation-concentration. The attainments are the four attainments of noble intention. Thus, for these jhānas, there is the attainment of liberation. Such is the defilement for a person of lustful nature. So too for one of hateful nature, and for one of deluded nature. For a person of lustful nature, such is the purification. The knowledge herein, as it actually is, not shared with all beings—this is called the sixth power of the Tathāgata.
Như vậy, khi chúng sanh thực hiện bất kỳ sự tạo tác nghiệp nào, ở đó Ngài biết như sau: đối với người này có khuynh hướng về nghiệp, có tánh tham, các giới xuất ly đi đến viên mãn. Đối với vị ấy, khi đi theo tham ái, tâm trở nên trống rỗng, sơ thiền trở nên ô nhiễm. Nếu lại nỗ lực hơn nữa, với tâm hướng đến sự thanh tịnh của thiền, thực hành con đường đưa đến sự đặc biệt. Quả vậy, đối với vị ấy, khi đã an trú trong sơ thiền vốn thuộc về thiền, nhị thiền sẽ đi đến thanh tịnh. Và đối với người muốn nhập tam thiền, hỷ căn bao trùm tâm và an trú. Đối với vị ấy, hỷ đó, là phần không đặc biệt, hướng đến tam thiền mà an trú. Nếu vị ấy biết như thật sự xuất ly khỏi nó, thì đối với Như Lai, tứ thiền chắc chắn đi đến thanh tịnh. Có những pháp thuộc phần thoái thất của tứ thiền, và những pháp ấy sanh khởi ở đâu, và nhờ những pháp nào mà sự thanh tịnh của tứ thiền được thấy. Như vậy, đối với sự chứng đắc theo ý muốn, có bốn thiền chứng, ba giải thoát môn, tám giải thoát thiền, tức là bốn thiền là giải thoát. Và tám giải thoát, ba giải thoát môn. Về định, có bốn định: dục định, tinh tấn định, tâm định, thẩm định. Về thiền chứng, có bốn thiền chứng theo ý muốn. Như vậy, đối với các thiền này, có sự chứng đắc giải thoát. Sự ô nhiễm như vậy xảy ra cho người có tánh tham. Tương tự cho người có tánh sân, tánh si. Đối với người có tánh tham, sự thanh tịnh như vậy xảy ra. Như vậy, trí tuệ nào ở đây như thật, không chung cho tất cả chúng sanh, đây được gọi là Như Lai lực thứ sáu.
Tattha tathāgato evaṃ pajānāti lokikā dhammā lokuttarā dhammā bhāvanābhāgiyaṃ indriyaṃ nāmaṃ labhanti. Ādhipateyyabhūmiṃ upādāya balaṃ nāmaṃ labhanti thāmagataṃ mano manindriyaṃ taṃ upādāya. Vīriyaṃ nāmaṃ labhanti ārambhadhātuṃ upādāya. Itissa deva evarūpaṃ ñāṇaṃ imehi ca dhammehi ime puggalā samannāgatātipi dhammadesanaṃ akāsi. Ākārato ca vokārato ca āsayajjhāsayassa adhimuttisamannāgatānaṃ. Idaṃ vuccati parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyabalavīriyavemattataṃ ñāṇaṃ sattamaṃ tathāgatabalaṃ.
Therein, the Tathāgata understands thus: Worldly and supramundane phenomena, in the portion of development, acquire the name 'faculty'. Based on the ground of sovereignty, they acquire the name 'power'. The mind that has attained strength is the faculty of mind; based on that, they acquire the name 'power'. Based on the element of initiating, they acquire the name 'energy'. Thus, he has such knowledge and also taught the Dhamma that 'these individuals are endowed with these qualities'—in manner and variety, for those endowed with inclination, disposition, and resolution. This is called the knowledge of the diversity in the faculties, powers, and energies of other beings and other individuals—the seventh power of the Tathāgata.
Ở đây, Như Lai biết như sau: các pháp thế gian và xuất thế gian, thuộc về phần tu tập, được gọi là ‘căn’. Tùy thuộc vào trạng thái làm chủ, chúng được gọi là ‘lực’. Tâm đã đạt đến sức mạnh là tâm căn, tùy thuộc vào đó. Chúng được gọi là ‘tinh tấn’ tùy thuộc vào giới nỗ lực. Như vậy, Ngài có trí tuệ như thế này, và Ngài đã thuyết pháp rằng: ‘Những người này được phú bẩm với những pháp này.’ Ngài thuyết pháp cho những người có khuynh hướng, theo cách tổng quát và đặc biệt, phù hợp với ý muốn và khuynh hướng ngầm của họ. Đây được gọi là trí tuệ về sự khác biệt của căn, lực, và tinh tấn của các chúng sanh khác, các cá nhân khác, là Như Lai lực thứ bảy.
Tattha ca tathāgato lokādīsu ca bhūmīsu saṃyojanānañca sekkhānaṃ dvīhi balehi gatiṃ pajānāti, pubbenivāsānussatiyā atīte saṃsāre etarahi ca paccuppanne dibbacakkhunā cutūpapātaṃ iti imāni dve balāni dibbacakkhuto abhinīhitāni. So atītamaddhānaṃ dibbassa cakkhuno gocaro so etarahi sati gocaro iti attano ca paresaṃ ca pubbenivāsañāṇaṃ anekavidhaṃ nānappakārakaṃ paccuppannamaddhānaṃ dibbena cakkhunā imāni dve tathāgatabalāni, aṭṭhamaṃ pubbenivāso, navamaṃ dibbacakkhu.
Therein, the Tathāgata, in the worlds and other such planes, knows the destination of the fetters and of the trainees by means of two powers: through the recollection of past lives in the past saṃsāra, and in the present, he knows the passing away and rebirth with the divine eye. Thus, these two powers are brought forth from the divine eye. That past period is the domain of the divine eye; the present is the domain of mindfulness. Thus, the knowledge of the past lives of oneself and others is of many kinds and various sorts; he knows the present period with the divine eye. These are two powers of the Tathāgata: the eighth is the recollection of past lives, and the ninth is the divine eye.
Và ở đây, Như Lai, trong các thế giới và các cõi, biết được cảnh giới của những vị còn kiết sử và các bậc hữu học bằng hai lực: bằng Túc mạng minh, (Ngài biết) về vòng luân hồi trong quá khứ; và trong hiện tại, bằng Thiên nhãn, (Ngài biết) sự chết và sanh. Như vậy, hai lực này được dẫn xuất từ thiên nhãn. Thời quá khứ ấy là đối tượng của thiên nhãn, hiện tại này là đối tượng của niệm. Như vậy, trí tuệ về túc mạng của mình và của người khác có nhiều loại, nhiều cách khác nhau. (Ngài biết) thời hiện tại bằng thiên nhãn. Đây là hai Như Lai lực: thứ tám là Túc mạng minh, thứ chín là Thiên nhãn.
Puna caparaṃ tathāgato ariyapuggalānaṃ jhānaṃ vodānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ pajānāti ayaṃ puggalo iminā maggena imāya paṭipadāya āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sacchikatvā upasampajja viharatīti iti attano ca āsavānaṃ khayaṃ ñāṇaṃ diṭṭhekaṭṭhānaṃ catubhūmimupādāya yāva navannaṃ arahantānaṃ āsavakkhayo odhiso sekkhānaṃ anodhiso arahantānaṃ. Tattha cetovimutti dvīhi āsavehi anāsavā kāmāsavena ca bhavāsavena ca, paññāvimutti dvīhi āsavehi anāsavā diṭṭhāsavena ca avijjāsavena ca, imāsaṃ dvinnaṃ vimuttīnaṃ yathābhūtaṃ ñāṇaṃ, idaṃ vuccati āsavakkhaye ñāṇaṃ. Dasamaṃ tathāgatabalaṃ.
Furthermore, the Tathāgata understands the jhāna of noble individuals, its purification, and that which pertains to penetration. He knows thus: 'This individual, by this path, by this practice, through the destruction of the taints, having realized for himself the taintless liberation of mind and liberation by wisdom in this very life, dwells having attained it.' Thus he knows the knowledge of the destruction of his own taints. Based on the four planes, up to the nine types of Arahants, the destruction of taints for trainees is limited, whereas for Arahants it is unlimited. Herein, liberation of mind is taintless with regard to two taints: the taint of sensual desire and the taint of existence. Liberation by wisdom is taintless with regard to two taints: the taint of views and the taint of ignorance. The knowledge of these two liberations as they actually are is called the knowledge of the destruction of the taints. This is the tenth power of the Tathāgata.
Lại nữa, Như Lai biết rõ thiền, sự trong sạch, và phần thấu triệt của các bậc Thánh nhân rằng: ‘Vị này, với đạo lộ này, với pháp hành này, do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình chứng ngộ, thành tựu và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, ngay trong hiện tại.’ Như vậy, Ngài biết trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc. Sự đoạn tận lậu hoặc của các bậc Hữu học là có giới hạn, sự đoạn tận lậu hoặc của các bậc A-la-hán là không có giới hạn. Ở đây, tâm giải thoát thì không có lậu hoặc bởi hai lậu hoặc là dục lậu và hữu lậu; tuệ giải thoát thì không có lậu hoặc bởi hai lậu hoặc là kiến lậu và vô minh lậu. Trí tuệ như thật về hai sự giải thoát này, đây được gọi là trí về sự đoạn tận các lậu hoặc. Đây là Như Lai lực thứ mười.
20. Imesu dasasu balesu ṭhito tathāgato pañcavidhaṃ sāsanaṃ deseti saṃkilesabhāgiyaṃ vāsanābhāgiyaṃ dassanabhāgiyaṃ bhāvanābhāgiyaṃ asekkhabhāgiyaṃ. Tattha yo taṇhāsaṃkileso, imassa alobho nissaraṇaṃ. Yo diṭṭhisaṃkileso, imassa amoho nissaraṇaṃ. Yo duccaritasaṃkileso, imassa tīṇi kusalāni nissaraṇaṃ. Kiṃ nidānaṃ? Tīṇi imāni † manoduccaritāni – abhijjhā byāpādo micchādiṭṭhi. Tattha abhijjhā manoduccaritaṃ kāyakammaṃ upaṭṭhapeti, adinnādānaṃ sabbañca tadupanibbaddhaṃ vācākammaṃ upaṭṭhapeti, musāvādañca sabbavitathaṃ sabbaṃ vācamabhāvaṃ sabbamakkhaṃ palāsaṃ abhijjhā akusalamūlanti, sucarite sucaritaṃ musāvādā adinnādānā abhijjhāya cetanā, tattha byāpādo manoduccaritaṃ kāyakammaṃ upaṭṭhapeti, pāṇātipātaṃ sabbañca metaṃ ākaḍḍhanaṃ parikaḍḍhanaṃ nibbaddhaṃ rocanaṃ vācākammaṃ upaṭṭhapeti, pisuṇavācaṃ pharusavācaṃ micchādiṭṭhi manoduccaritañca abhijjhaṃ byāpādaṃ micchādiṭṭhiṃ payojeti, tassa yo koci micchādiṭṭhi cāgo rāgajo vā dosajo vā sabbaso micchādiṭṭhi sambhūto iminā kāraṇena micchādiṭṭhiṃ upaṭṭhapeti, kāmesumicchācāraṃ vacīkammaṃ upaṭṭhapeti samphappalāpaṃ. Imāni tīṇi duccaritāni akusalamūlāni.
20. Established in these ten powers, the Tathāgata teaches a fivefold dispensation: that pertaining to defilement, that pertaining to latent tendencies, that pertaining to vision, that pertaining to development, and that pertaining to the one beyond training. Herein, for the defilement of craving, the escape is non-greed. For the defilement of wrong view, the escape is non-delusion. For the defilement of misconduct, the escape is the three wholesome actions. What is the cause? There are these three kinds of mental misconduct: covetousness, ill will, and wrong view. Herein, covetousness as mental misconduct gives rise to bodily action—taking what is not given—and it gives rise to all verbal action connected with it, such as false speech, all that is untrue, all that is not true speech, all denigration, and hypocrisy; covetousness is an unwholesome root. In good conduct, good conduct is the volition of abstaining from false speech, from taking what is not given, and from covetousness. Therein, ill will as mental misconduct gives rise to bodily action—the taking of life and all such pulling, dragging, binding, and approving—and it gives rise to verbal action: divisive speech and harsh speech. Wrong view as mental misconduct employs covetousness, ill will, and wrong view. For one with wrong view, any wrong giving born of wrong view may be motivated by lust or by hatred. For this reason, wrong view gives rise to sexual misconduct and to verbal action, namely idle chatter. These three kinds of misconduct have unwholesome roots.
20. An trú trong mười lực này, Như Lai thuyết giảng giáo pháp gồm năm phần: phần nhiễm ô, phần tiềm ẩn, phần kiến, phần tu, và phần vô học. Trong đó, đối với sự nhiễm ô do tham ái, vô tham là sự xuất ly. Đối với sự nhiễm ô do tà kiến, vô si là sự xuất ly. Đối với sự nhiễm ô do ác hạnh, ba pháp thiện là sự xuất ly. Nhân duyên là gì? Có ba ý ác hạnh này – tham lam, sân hận, tà kiến. Trong đó, ý ác hạnh tham lam làm phát sinh thân nghiệp là trộm cắp, và làm phát sinh khẩu nghiệp liên quan đến nó là nói dối, cùng tất cả lời hư ngụy, lời không thật, lời che giấu, lời rỗng tuếch; tham lam là gốc rễ bất thiện. Trong thiện hạnh, thiện hạnh là tư tâm (tránh xa) nói dối, trộm cắp, tham lam. Ở đó, ý ác hạnh sân hận làm phát sinh thân nghiệp là sát sanh, và tất cả sự lôi kéo, níu giữ, trói buộc, ưa thích này; làm phát sinh khẩu nghiệp là nói lời đâm thọc, nói lời thô ác. Ý ác hạnh tà kiến làm cho tham, sân, và tà kiến khởi lên. Đối với người ấy, bất cứ sự từ bỏ tà kiến nào, dù do tham hay do sân, đều hoàn toàn phát sinh từ tà kiến; vì lý do này mà tà kiến phát sinh. Tà dâm trong các dục làm phát sinh khẩu nghiệp là nói lời phù phiếm. Ba ác hạnh này là các gốc rễ bất thiện.
Yā abhijjhā, so lobho. Yo byāpādo, so doso. Yā micchādiṭṭhi, so moho. Tāni aṭṭha micchattāni upaṭṭhapenti. Tesu gahitesu tīsu akusalamūlesu dasavidhaṃ akusalamūlaṃ pāripūriṃ gacchati, tassa tividhassa duccaritasaṃkilesassa vāsanābhāgiyañca suttaṃ nissaraṇaṃ. Tattha yo bahusito niddeso yathā lobho doso mohopi, tattha asituṃ ettha lobho ussado tena kāraṇena tesu vā dhammesu lobho paññapiyati. Tatthāyaṃ moho akusalaṃ moho ayaṃ avijjā, sā catubbidhā rūpe abhiniviṭṭhā, rūpaṃ attato samanupassati, avijjāgato rūpavantaṃ attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ. Tattha katamaṃ padaṃ sakkāyadiṭṭhiyā ucchedaṃ vadati ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti natthikadiṭṭhi adhiccasamuppannadiṭṭhi ca añño ca karoti, añño paṭisaṃvediyati. Pacchimasaṭṭhikappānaṃ tīṇi padāni sakkāyadiṭṭhiyā sassataṃ bhajanti ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti akiriyañca taṃ dukkhamicchato ahetukā ca patanti anajjhābhāvo ca kammānaṃ sabbañca mānayi †. Tattha ‘‘idameva saccaṃ moghamañña’’nti saṃsārena suddhi ājīvakā chaḷāsīti paññapenti. Yathārūpe sakkāyadiṭṭhiyā catuvatthukā, evaṃ pañcasu khandhesu vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhiyā sassataṃ bhajati. Aññājīvakā ca sassatavādike ca sīlabbataṃ bhajanti parāmasanti iminā bhavissāmi devo vā devaññataro vā, ayaṃ sīlabbataparāmāso. Tattha sakkāyadiṭṭhiyā so rūpaṃ attato samanupassati, ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’miti taṃ kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati nābhippasīdati pubbante aparante pubbantāparante…pe… iti vāsanābhāgiyesu ṭhitassa ayaṃ upakkileso.
What is covetousness, that is greed. What is ill will, that is hatred. What is wrong view, that is delusion. These give rise to the eight wrongnesses. When these three unwholesome roots are grasped, the tenfold unwholesome course of action reaches completion. For that threefold defilement of misconduct, the discourse pertaining to latent tendencies is the escape. Herein, the much-relied-upon explanation is that just as there are greed, hatred, and delusion, so too here, with regard to clinging, greed is abundant; for that reason, greed is designated in those states. Herein, this delusion is unwholesome delusion; this is ignorance. It is fourfold, being fixated on form: one regards form as self; being overcome by ignorance, one regards self as possessing form, or form as in the self, or the self as in form. Herein, which statement of personality view speaks of annihilation? It is the view ‘that which is the life-principle, that is the body,’ as well as the nihilistic view, the view of accidental origination, and that one person acts while another experiences. For the last sixty eons, three statements of personality view adhere to eternalism: ‘The life-principle is one thing, the body another,’ as well as inactionism; and for one who desires suffering, the view of causelessness arises, as does the non-existence of kamma, and all this is conceived. Herein, holding ‘This alone is true, anything else is worthless,’ eighty-six Ājīvakas proclaim purification through saṃsāra. Just as personality view has four grounds in regard to form, so in regard to the five aggregates it has twenty grounds. Personality view adheres to eternalism. Other Ājīvakas and eternalists adhere to and grasp at rites and vows, thinking, ‘By this I will become a god or one of the gods.’ This is the grasping at rites and vows. Herein, with personality view, one regards form as self. Holding ‘That which is the life-principle, that is the body,’ one is doubtful and perplexed, one is not resolved and has no confidence concerning the past, the future, and the past and future… Thus, for one established in what pertains to latent tendencies, this is the defilement.
Cái gì là tham lam, đó là tham. Cái gì là sân hận, đó là sân. Cái gì là tà kiến, đó là si. Chúng làm phát sinh tám tà tánh. Khi ba gốc rễ bất thiện này được nắm giữ, mười loại gốc rễ bất thiện đi đến viên mãn. Đối với sự nhiễm ô do ba ác hạnh ấy, kinh thuộc phần tiềm ẩn là sự xuất ly. Ở đây, có sự chỉ dẫn rằng tham, sân, và cả si đều được dựa vào nhiều; ở đây, để không dựa vào, tham là nổi trội, vì lý do đó, trong các pháp ấy, tham được chế định. Ở đây, si này là si bất thiện, đây là vô minh. Vô minh ấy có bốn cách chấp thủ vào sắc: thấy sắc là tự ngã; người bị vô minh chi phối (thấy) tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Ở đây, câu nào nói về đoạn kiến trong thân kiến? (Đó là câu) ‘sinh mạng chính là thân thể,’ là đoạn kiến và ngẫu nhiên sinh kiến, và (quan niệm) người này làm, người khác cảm thọ. Ba câu của sáu mươi kiếp sau cùng trong thân kiến đi theo thường kiến: ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác,’ và vô hành kiến. Đối với người mong muốn khổ ấy, vô nhân kiến cũng rơi vào, và sự không có kết quả của các nghiệp, và tất cả kiêu mạn. Ở đây, (với quan niệm) ‘chỉ có cái này là thật, cái khác là rỗng tuếch,’ tám mươi sáu phái Lõa thể tuyên bố sự thanh tịnh qua vòng luân hồi. Như thân kiến có bốn đối tượng trong sắc, cũng vậy, có hai mươi đối tượng trong năm uẩn. Thân kiến đi theo thường kiến. Các phái Lõa thể khác và các phái thường kiến đi theo và chấp thủ giới cấm: ‘với (giới cấm) này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một vị trời nào đó,’ đây là giới cấm thủ. Ở đây, với thân kiến, người ấy thấy sắc là tự ngã, (với kiến) ‘sinh mạng chính là thân thể,’ người ấy hoài nghi, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng về điều đó, ở quá khứ, ở vị lai, ở cả quá khứ và vị lai... Như vậy, đây là phiền não của người an trú trong các (pháp) thuộc phần tiềm ẩn.
21. Tattha saddhindriyena sabbaṃ vicikicchitaṃ pajahati, paññindriyena udayabbayaṃ passati, samādhindriyena cittaṃ ekodi karoti vīriyindriyena ārabhati. So imehi pañcahi indriyehi saddhānusārī aveccappasāde nirato anantariyaṃ samādhiṃ uppādeti. Indriyehi suddhehi dhammānusārī appaccayatāya anantariyaṃ samādhiṃ uppādeti. So ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti. Saccāni idaṃ dassanabhāgiyaṃ suttaṃ. Tassa pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ tīṇi saṃyojanāni dassanapahātabbāni sabbena sabbaṃ pahīnāni dve puggalakatāni. Tattha tīṇi akusalamūlāni bhāvanāpahātabbāni uparikkhittāni cha bhave nibbattenti. Tattha tesu abhijjhāya ca byāpādesu tanukatesu cha bhavā parikkhayā mariyādaṃ gacchanti, dve bhavā avasiṭṭhā. Tassa abhijjhā ca byāpādo ca sabbena sabbaṃ parikkhīṇā honti. Eko bhavo avasiṭṭho hoti. So ca mānavasena nibbatteti. Kiñcāpi ettha aññepi cattāro kilesā rūparāgo bhavarāgo avijjā uddhaccaṃ ketusmimānabhūtā nappaṭibalā asmimānaṃ vinivattetuṃ, sabbepi te asmimānassa pahānaṃ ārabhate. Khīṇesu na ca tesu idamuttaridassanabhūmiyaṃ pañcasu sekkhapuggalesu tīsu ca paṭippannakesu dvīsu ca phalaṭṭhesu bhāvanābhāgiyaṃ suttaṃ. Taduttari asekkhabhāgiyasuttaṃ, katthaci bhūmi nipīḷiyati. Idañca pañcamaṃ suttaṃ. Tiṇṇaṃ puggalānaṃ desitaṃ puthujjanassa sekkhassa asekkhassa saṃkilesabhāgiyaṃ vāsanābhāgiyaṃ. Puthujjanassa dassanabhāgiyaṃ. Bhāvanābhāgiyaṃ pañcannaṃ sekkhānaṃ. Yaṃ paṭhamaniddiṭṭhaṃ asekkhabhāgiyaṃ sabbesaṃ arahantānaṃ. Sā pana pañcavidhā sattavīsaākāre † pariyesitabbaṃ. Etesu tassa gatīnaṃ tato uttari. Tañca kho saṅkhepena paññāsāya ākārehi sampatati, ye paññāsa ākārā sāsane niddiṭṭhā, te saṅkhipiyantā dasahi ākārehi patanti. Ye ariyasaccaṃ nikkhepena ṭhite saṅkhipiyattā aṭṭhasu ākāresu patanti. Catūsu ca sādhāraṇesu suttesu yā hārasampātassa bhūmi, te saṅkhipiyantā pañcasu suttesu patanti. Saṃkilesabhāgiye vāsanābhāgiye bhāvanābhāgiye nibbedhabhāgiye asekkhabhāgiye ca. Te saṅkhipiyantā catūsu suttesu patanti. Saṃkilesabhāgiye vāsanābhāgiye nibbedhabhāgiye asekkhabhāgiye ca. Te saṅkhipiyamānā tīsu suttesu patanti, puthujjanabhāgiye sekkhabhāgiye asekkhabhāgiye ca. Te saṅkhipiyantā dvīsu suttesu patanti nibbedhabhāgiye ca pubbayogabhāgiye ca. Yathā vuttaṃ bhagavatā dve atthavase sampassamānā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā dhammaṃ desenti suttaṃ geyyaṃ…pe… satthā pubbayogasamannāgate appakasirena maññamānā vasiyanti pubbayogā ca bhavissanti santānaṃ maññamānādharāya. Tattha paññāvemattataṃ attano samanupassamānena aṭṭhavidhe suttasaṅkhepe, yattha yattha sakkoti, tattha tattha yojetabbaṃ. Tattha tattha yojetvā suttassa attho niddisitabbo. Na hi sati vedanā mano dhāretvā sakkā yena kenaci suttassa attho yathābhūtaṃ niddisituṃ.
21. Herein, with the faculty of faith one abandons all doubt; with the faculty of wisdom one sees arising and passing away; with the faculty of concentration one makes the mind one-pointed; with the faculty of energy one makes an effort. That person, with these five faculties, being a faith-follower, delighting in unwavering confidence, generates immediate concentration. With purified faculties, the Dhamma-follower, due to the absence of a condition, generates immediate concentration. That noble person knows as it really is: 'This is suffering.' The Truths. This is the discourse pertaining to the portion on vision. For that person, of the five lower fetters, three fetters are to be abandoned by vision; they are completely abandoned. Two are dealt with by the two individuals. Herein, the three unwholesome roots are to be abandoned by development; being cast up, they produce six kinds of existence. Herein, among those, when covetousness and ill will are attenuated, the six kinds of existence are exhausted and reach their limit; two kinds of existence remain. For that person, covetousness and ill will are completely exhausted; one existence remains. And that is produced by way of conceit. Although here the other four defilements—lust for form, lust for existence, ignorance, and restlessness—being like banners of conceit, are not able to turn back the conceit 'I am,' all of them undertake the abandoning of the conceit 'I am.' When those defilements are exhausted, this does not arise further. In the plane of vision, among the five trainees—the three who are practitioners and the two established in the fruit—is the discourse pertaining to the portion on development. Beyond that is the discourse pertaining to the portion on the adept; in some places, the plane is suppressed. And this is the fifth discourse. Taught for three individuals—the worldling, the trainee, and the adept—are the portion on defilement and the portion on latent tendencies. For the worldling, there is the portion on vision. The portion on development is for the five trainees. What was first pointed out, the portion on the adept, is for all arahants. That fivefold discourse should be sought in twenty-seven modes. Among these, the courses of that discourse are beyond that. And that, in brief, amounts to fifty modes. Those fifty modes pointed out in the Dispensation, when condensed, fall into ten modes. Those, when established by the deposition of the Noble Truths, being condensed, fall into eight modes. And in the four common suttas, which are the plane for the conveyance of the method, when they are condensed, they fall into five suttas: the portion on defilement, the portion on latent tendencies, the portion on development, the portion on penetration, and the portion on the adept. When they are condensed, they fall into four suttas: the portion on defilement, the portion on latent tendencies, the portion on penetration, and the portion on the adept. Being condensed, they fall into three suttas: the portion on the worldling, the portion on the trainee, and the portion on the adept. When they are condensed, they fall into two suttas: the portion on penetration and the portion on previous practice. As was said by the Blessed One: 'Seeing two benefits, Tathāgatas, Arahants, Perfectly Self-Enlightened Ones teach the Dhamma—suttas, mixed prose and verse…' The Teacher, considering those endowed with previous practice, abides with little difficulty, thinking: 'There will be those with previous practice, for the sake of bearing the thought that the disciples are ready.' Herein, one who sees for oneself the diversity of wisdom should apply it in the eightfold summary of the suttas, wherever one is able. Having applied it here and there, the meaning of the sutta should be pointed out. For when there is feeling, it is not possible for anyone whose mind is carried away to point out the meaning of the sutta as it really is.
21. Trong đó, với tín quyền, vị ấy từ bỏ tất cả sự hoài nghi; với tuệ quyền, vị ấy thấy sự sanh diệt; với định quyền, vị ấy làm cho tâm chuyên nhất; với tấn quyền, vị ấy nỗ lực. Vị ấy, với năm quyền này, là người tùy tín, thường hoan hỷ trong sự tịnh tín bất động, làm phát sanh định vô gián. Với các quyền thanh tịnh, người tùy pháp, do không duyên cớ, làm phát sanh định vô gián. Vị ấy biết như thật rằng: "Đây là khổ". Các chân lý, đây là kinh thuộc phần kiến. Đối với vị ấy, trong năm hạ phần kiết sử, ba kiết sử cần được đoạn trừ bằng kiến, đã được đoạn trừ hoàn toàn, được thực hiện bởi hai hạng người. Trong đó, ba bất thiện căn cần được đoạn trừ bằng tu tập, được ném lên trên, làm phát sanh sáu kiếp sống. Trong đó, khi tham ái và sân hận đã được làm cho mỏng manh, sáu kiếp sống đi đến giới hạn do sự tận diệt, còn lại hai kiếp sống. Đối với vị ấy, tham ái và sân hận đã hoàn toàn tận diệt. Còn lại một kiếp sống. Và kiếp sống ấy được tạo ra do ngã mạn. Mặc dù ở đây, bốn phiền não khác là sắc ái, hữu ái, vô minh, trạo cử, tuy đã trở thành ngã mạn như ngọn cờ, nhưng không có khả năng làm lắng dịu ngã mạn "ta là". Tất cả chúng đều bắt đầu việc đoạn trừ ngã mạn "ta là". Khi chúng đã được đoạn trừ, không còn gì cao hơn nữa. Trong địa vị kiến, trong năm hạng hữu học, ba vị đang thực hành và hai vị trú quả, đây là kinh thuộc phần tu tập. Cao hơn nữa là kinh thuộc phần vô học, ở một nơi nào đó, địa vị bị ép xuống. Và đây là kinh thứ năm. Được thuyết cho ba hạng người: phàm phu, hữu học, vô học, là kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tập quán. Đối với phàm phu là kinh thuộc phần kiến. Kinh thuộc phần tu tập là của năm hạng hữu học. Kinh thuộc phần vô học đã được chỉ ra đầu tiên là của tất cả các vị A-la-hán. Kinh ấy có năm loại, cần được tìm kiếm trong hai mươi bảy phương diện. Trong những phương diện này, sự đi đến của kinh ấy còn cao hơn nữa. Và kinh ấy, một cách tóm tắt, rơi vào năm mươi phương diện. Năm mươi phương diện nào đã được chỉ ra trong giáo pháp, khi được tóm tắt, chúng rơi vào mười phương diện. Những phương diện nào, khi Thánh đế được đặt xuống, do được tóm tắt, rơi vào tám phương diện. Và trong bốn kinh thông thường, nơi nào là địa vị của sự tương ứng các phương pháp, khi được tóm tắt, chúng rơi vào năm kinh: kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tập quán, kinh thuộc phần tu tập, kinh thuộc phần thâm nhập, và kinh thuộc phần vô học. Khi được tóm tắt, chúng rơi vào bốn kinh: kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tập quán, kinh thuộc phần thâm nhập, và kinh thuộc phần vô học. Khi đang được tóm tắt, chúng rơi vào ba kinh: kinh thuộc phần phàm phu, kinh thuộc phần hữu học, và kinh thuộc phần vô học. Khi được tóm tắt, chúng rơi vào hai kinh: kinh thuộc phần thâm nhập và kinh thuộc phần tiền duyên. Như đã được đức Thế Tôn nói: "Thấy rõ hai lợi ích, các đấng Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thuyết pháp, kinh, kệ... Bậc Đạo Sư, đối với những người có tiền duyên, không khó nhọc, xem như đã sẵn sàng, thường trú. Và các tiền duyên sẽ có để duy trì sự xem như đã sẵn sàng của chúng sanh." Trong đó, người thấy rõ sự khác biệt về trí tuệ của mình, trong tám loại tóm tắt kinh, nơi nào có thể, nơi đó nên được áp dụng. Sau khi áp dụng ở nơi này nơi kia, ý nghĩa của kinh nên được chỉ ra. Vì khi có cảm thọ, không thể giữ tâm lại, không thể chỉ ra ý nghĩa của kinh như thật bằng bất cứ cách nào.
Tattha purimakānaṃ suttānaṃ imā uddānagāthā
Herein, these are the summary verses for the preceding discourses:
Trong đó, đây là các kệ tóm tắt của các bài kinh trước.
Kāmandhā jālasañchannā, pañca nīvaraṇāni ca;
Manopubbaṅgamā dhammā, mahānāmo ca sākiyo.
Blinded by sensual desire, covered by a net, and the five hindrances; mind precedes mental states, and Mahānāma the Sakyan.
Mù lòa vì dục, bị lưới tham che phủ, và năm triền cái; các pháp lấy ý làm đầu, và Mahānāma dòng Sākya.
Uddhaṃ adho vippamutto, yañca sīlakimatthiyā;
Yassa selūpamaṃ cittaṃ, upatissa pucchādikā.
Freed above and below, and for what purpose is virtue; whose mind is like a rock, the questions of Upatissa, and so on.
Kinh về người giải thoát trên dưới, kinh về giới có lợi ích gì; kinh về người có tâm như đá tảng, và các kinh bắt đầu bằng câu hỏi của Upatissa.
Yassa kāyagatāsati, channaṃ tamoparāyaṇo;
Na taṃ daḷhaṃ cetasikaṃ, ayaṃ lokotiādikaṃ.
One who has mindfulness directed to the body; for Channa, delusion is the destination; that fetter is not strong; the mental; 'this is the world,' and so on.
Kinh về người có niệm thân, kinh về sáu pháp có si làm nơi nương tựa; kinh về sự trói buộc không bền vững, kinh về tâm sở, và các kinh bắt đầu bằng "thế gian này".
Cattāro ceva puggalā, dadato puññaṃ pavaḍḍhitaṃ;
Sotānugatadhammesu, imā tesaṃ uddānagāthā.
The four individuals, merit increases for the giver; in the teachings followed by the ear, these are their summary verses.
Bốn hạng người, phước của người bố thí tăng trưởng; trong các pháp đi theo dòng nghe, đây là các kệ tóm tắt của chúng.
22. Tattha katamā āṇatti?
22. Herein, what is the injunction?
22. Trong đó, mệnh lệnh là gì?
Sace bhāyatha † dukkhassa, sace vo dukkhamappiyaṃ;
Mākattha pāpakaṃ kammaṃ, āvi vā yadi vā raho.
If you fear suffering, if suffering is displeasing to you, do no evil deed, whether openly or in secret.
Nếu các ngươi sợ khổ, nếu khổ không phải là điều các ngươi yêu thích; chớ làm nghiệp ác, dù ở nơi công khai hay nơi kín đáo.
‘‘Atīte, rādha, rūpe anapekkho hohī’’ti vitthārena kātabbā. ‘‘Sīlavantena, ānanda, puggalena sadā karaṇīyā kintime avippaṭisāro assā’’ti. Ayaṃ vuccati āṇatti.
'Rādha, be unconcerned about past form,' should be elaborated. 'A virtuous person, Ānanda, should always act, considering: "How might I have non-remorse?"' This is called the injunction.
"Này Rādha, hãy không luyến tiếc sắc trong quá khứ", nên được trình bày chi tiết. "Này Ānanda, người có giới nên luôn làm (việc thiện) với ý nghĩ: 'Làm sao để ta không hối hận?'". Đây được gọi là mệnh lệnh.
Tattha katamaṃ phalaṃ?
Herein, what is the fruit?
Trong đó, quả là gì?
Dhammo have rakkhati dhammacāriṃ, chattaṃ mahantaṃ yatha vassakāle;
Esānisaṃso dhamme suciṇṇe, na duggatiṃ gacchati dhammacārī.
The Dhamma truly protects the one who practices the Dhamma, as a great umbrella in the rainy season. This is the benefit in the Dhamma well-practiced: the one who practices the Dhamma does not go to a bad destination.
Pháp thật sự bảo hộ người hành pháp, như chiếc lọng lớn trong mùa mưa; đây là lợi ích của pháp được thực hành tốt, người hành pháp không đi đến ác thú.
Idaṃ phalaṃ.
This is the fruit.
Đây là quả.
Tattha katamo upāyo?
Herein, what is the means?
Trong đó, phương tiện là gì?
‘‘Sabbe dhammā † anattā’’ti, yadā paññāya passati;
Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.
When one sees with wisdom that 'all phenomena are non-self,' then one becomes disenchanted with suffering; this is the path to purity.
"Tất cả các pháp là vô ngã", khi thấy bằng trí tuệ; bấy giờ nhàm chán trong khổ, đó là con đường thanh tịnh.
‘‘Sattahaṅgehi samannāgato kho, bhikkhu, api himavantaṃ pabbatarājānaṃ cāleyya, ko pana vādo chavaṃ avijjaṃ sattakesu’’ veyyākaraṇaṃ kātabbaṃ. Ayaṃ upāyo.
'A bhikkhu endowed with seven factors, indeed, could even shake Himavant, the king of mountains; what then is to be said of destroying vile ignorance with the seven factors?' An exposition should be made. This is the means.
"Này Tỳ khưu, người đầy đủ bảy chi phần, thật vậy, có thể làm rung chuyển cả vua núi Himavanta, huống chi là vô minh thấp hèn (bị phá hủy) bởi bảy (đạo quả)", nên được giải thích. Đây là phương tiện.
Tattha katamā āṇatti ca phalañca?
Herein, what are the injunction and the fruit?
Trong đó, mệnh lệnh và quả là gì?
Sace bhāyatha dukkhassa, sace vo dukkhamappiyaṃ;
Mākattha pāpakaṃ kammaṃ, āvi vā yadi vā raho.
If you fear suffering, if suffering is displeasing to you, do no evil deed, whether openly or in secret.
Nếu các ngươi sợ khổ, nếu khổ không phải là điều các ngươi yêu thích; chớ làm nghiệp ác, dù ở nơi công khai hay nơi kín đáo.
Sace hi pāpakaṃ kammaṃ, karotha vā karissatha;
Na vo dukkhā pamokkhātthi, upaccāpi palāyataṃ †.
For if you do an evil deed, or if you will do one, there is no escape from suffering for you, even if you flee by flying away.
Vì nếu các ngươi làm hoặc sẽ làm nghiệp ác; các ngươi sẽ không thoát khỏi khổ, dù có chạy trốn đến đâu.
Purimikāya gāthāya āṇatti pacchimikāya phalaṃ. Sīle patiṭṭhāya dve dhammā bhāvetabbā yā ca cittabhāvanā yā ca paññābhāvanā yā ca āṇatti rāgavirāgā ca phalaṃ.
In the former verse is the injunction; in the latter, the fruit. Established in virtue, two things are to be developed: the development of mind and the development of wisdom. This is the injunction; dispassion for lust is the fruit.
Với kệ ngôn trước là mệnh lệnh, với kệ ngôn sau là kết quả. An trú trong giới, hai pháp cần được tu tập: sự tu tập về tâm và sự tu tập về tuệ. Đây là mệnh lệnh, và sự ly tham là kết quả.
Tattha katamaṃ phalañca upāyo ca?
Herein, what are the fruit and the means?
Trong ấy, thế nào là kết quả và thế nào là phương tiện?
Sīle patiṭṭhāya † naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ;
Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ vijaṭaye jaṭaṃ.
A wise person established in virtue, Developing the mind and wisdom, An ardent and prudent bhikkhu, Can disentangle this tangle.
Người có trí tuệ, an trú trong giới, tu tập tâm và tuệ; vị tỳ khưu nhiệt tâm, thận trọng, vị ấy có thể gỡ rối mớ bòng bong này.
Purimikāya aḍḍhagāthāya upāyo, pacchimikāya aḍḍhagāthāya phalaṃ. Nandiyo † sakko isivutthapuririkāmaekarakkhe † suttaṃ mūlato upādāya yāva chasu dhammesu. Uttari pañcasu dhammesu yācayogo † karaṇīyo, ayaṃ upāyo. Asahagatassa kāmāsavāpi cittaṃ muccatīti. Sabbāsu chasu tīsu. Ayaṃ upāyo ca phalañca.
In the first half-verse is the means; in the second half-verse, the fruit. Regarding the discourse on Nandiya, Sakka, Isivutta, Pūraṇa, Kāma, and Ekārakkha: from the root up to the six things, application is to be made. Further, in the five things, application is to be made—this is the means. 'The mind of one unassociated is freed even from the canker of sensual desire.' Thus it should be understood in all, in the six, and in the three. This is the means and the fruit.
Với nửa kệ ngôn trước là phương tiện, với nửa kệ ngôn sau là kết quả. Kinh Nandiya được Sakka tán thán, do vị ẩn sĩ mong muốn có đoàn tùy tùng thuyết cho một dạ xoa, kể từ đầu cho đến sáu pháp. Hơn nữa, trong năm pháp, sự nỗ lực cần được thực hiện, đây là phương tiện. (Câu:) ‘Tâm của người không bị đồng hành (với phiền não) cũng được giải thoát khỏi lậu hoặc của dục.’ (Nên hiểu) trong tất cả, trong sáu, trong ba. Đây là cả phương tiện và kết quả.
Tattha katamā āṇatti ca phalañca upāyo ca?
Herein, what are the injunction, the fruit, and the means?
Trong ấy, thế nào là mệnh lệnh, thế nào là kết quả, và thế nào là phương tiện?
Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ uhacca †, evaṃ maccutaro siyā.
Look upon the world as empty, Mogharāja, ever mindful. Having uprooted the view of self, in this way one may cross beyond death.
Này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm, nhìn thế gian là trống không; nhổ bỏ tự thân kiến, như vậy có thể vượt qua tử thần.
‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharājā’’ti āṇatti. ‘‘Sadā sato’’ti upāyo. ‘‘Attānudiṭṭhiṃ uhacca, evaṃ maccutaro siyā’’ti phalaṃ. Samādhiṃ, bhikkhave, bhāvetha, samāhito, bhikkhave, bhikkhu rūpaṃ aniccanti pajānāti. Evaṃ passaṃ ariyasāvako parimuccati jātiyāpi…pe… upāyāsehipi idha tīṇipi’’.
‘Look upon the world as empty, Mogharāja,’ is the injunction. ‘Ever mindful,’ is the means. ‘Having uprooted the view of self, in this way one may cross beyond death,’ is the fruit. ‘Bhikkhus, develop concentration. A bhikkhu who is concentrated knows form as impermanent. Seeing thus, a noble disciple is freed from birth… from despair.’ Herein are all three.
Câu ‘Này Mogharāja, hãy nhìn thế gian là trống không’ là mệnh lệnh. Câu ‘luôn chánh niệm’ là phương tiện. Câu ‘nhổ bỏ tự thân kiến, như vậy có thể vượt qua tử thần’ là kết quả. ‘Này các tỳ khưu, hãy tu tập định. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có định, biết rõ sắc là vô thường.’ ‘Thấy như vậy, vị thánh đệ tử được giải thoát khỏi sanh... cho đến... khỏi các não hại.’ Ở đây có cả ba (pháp).
23. Tattha katamo assādo?
23. Herein, what is the gratification?
23. Trong ấy, thế nào là vị ngọt?
Kāmaṃ kāmayamānassa, tassa cetaṃ samijjhati. Ayaṃ assādo.
For one desiring sensual pleasures, should that be fulfilled for him: this is the gratification.
Đối với người đang mong cầu dục lạc, nếu điều ấy được thành tựu. Đây là vị ngọt.
‘‘Dhammacariyā samacariyā kusalacariyā hetūhi, brāhmaṇa, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti’’. Ayaṃ assādo.
‘Brahmin, it is for the reason of righteous conduct, harmonious conduct, and skillful conduct that some beings here, with the breakup of the body, are reborn in a good destination, a heavenly world.’ This is the gratification.
‘Này Bà-la-môn, do các nhân là pháp hành, bình đẳng hành, thiện hành, như vậy ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, thiên giới.’ Đây là vị ngọt.
Tattha katamo ādīnavo?
Herein, what is the danger?
Trong ấy, thế nào là sự nguy hại?
Kāmesu ve haññate sabbā mucceva – ayaṃ ādīnavo. Pasenadisaṃyuttake sutte pabbatopamā – ayaṃ ādīnavo.
‘By sensual pleasures, indeed, one is afflicted…’ This is the danger. In a sutta in the Saṃyutta connected with Pasenadi, there is the simile of the mountain. This is the danger.
Chắc chắn, do các dục lạc mà bị tổn hại và hoàn toàn bị trói buộc – đây là sự nguy hại. Trong kinh thuộc Tương Ưng Pasenadi, ví dụ ngọn núi – đây là sự nguy hại.
Tattha katamaṃ nissaraṇaṃ?
Herein, what is the escape?
Trong ấy, thế nào là sự xuất ly?
Yo kāme parivajjeti, sappasseva padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattati.
One who avoids sensual pleasures as one would the head of a snake with one's foot—that person, mindful, transcends this attachment in the world.
Người nào tránh xa các dục lạc, như (tránh) đầu con rắn bằng chân; người ấy, bậc chánh niệm ở đời, vượt qua được sự dính mắc này.
Saṃyuttake suttaṃ pāricchattako paṇḍupalāso sannipalāso – idaṃ nissaraṇaṃ.
In the Saṃyutta Nikāya there is a sutta about the Pāricchattaka tree with its yellowing leaves and fallen leaves. This is the escape.
Trong Tương Ưng Bộ, kinh về cây Pāricchattaka có lá úa vàng, lá rụng – đây là sự xuất ly.
Tattha katamo assādo ca ādīnavo ca?
Herein, what are the gratification and the danger?
Trong ấy, thế nào là vị ngọt và sự nguy hại?
Yāni † karoti puriso, tāni attani passati;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpakaṃ.
Whatever a person does, that he sees in himself; the doer of good sees good, and the doer of evil, evil.
Những nghiệp nào người ta làm, những nghiệp ấy người ấy thấy nơi tự thân; người làm lành (thấy) điều lành, và người làm ác (thấy) điều ác.
Tattha yaṃ pāpakārī paccanubhoti ayaṃ assādo. Lābhālābhaaṭṭhakesu byākaraṇaṃ, tattha alābho ayaso nindā dukkhaṃ, ayaṃ ādīnavo. Lābho yaso sukhaṃ pasaṃsā, ayaṃ assādo.
Herein, what the evildoer experiences is the gratification. In the explanation of the eight worldly conditions concerning gain and loss, there loss, disgrace, blame, and pain are the danger; gain, fame, pleasure, and praise are the gratification.
Trong ấy, điều mà người làm ác trải nghiệm, đây là vị ngọt. Sự giải thích trong tám pháp thế gian: trong đó, không được lợi, không danh thơm, bị chê bai, đau khổ, đây là sự nguy hại. Được lợi, có danh thơm, hạnh phúc, được tán dương, đây là vị ngọt.
Tattha katamaṃ assādo ca nissaraṇañca?
Herein, what are the gratification and the escape?
Trong ấy, thế nào là vị ngọt và sự xuất ly?
‘‘Sukho vipāko puññānaṃ, adhippāyo ca ijjhati;
Khippañca paramaṃ santiṃ, nibbānamadhigacchatī’’ti.
‘Happy is the result of meritorious deeds, and one's intention succeeds; one quickly attains the supreme peace, Nibbāna.’
‘Quả của các phước là an lạc, và ý nguyện được thành tựu; và nhanh chóng đạt đến sự tịch tịnh tối thượng, là Níp-bàn.’
Yo ca vipāko puññānaṃ yā ca adhippāyassa ijjhanā, ayaṃ assādo. Yaṃ khippañca paramaṃ santiṃ nibbānamadhigacchati, idaṃ nissaraṇaṃ.
The result of meritorious deeds and the fulfillment of one's intention, this is the gratification. That one swiftly attains the supreme peace, Nibbāna, this is the escape.
Bất cứ điều gì là quả của các phước và sự thành tựu của ý nguyện, đây là vị ngọt. Việc nhanh chóng đạt đến sự tịch tịnh tối thượng, là Níp-bàn, đây là sự xuất ly.
Bāttiṃsāya ceva mahāpurisalakkhaṇehi samannāgatassa mahāpurisassa dveyeva gatiyo honti, sace agāraṃ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī yāva abhivijinitvā ajjhāvasati ayaṃ assādo. Sace agārasmā anagāriyaṃ pabbajati sabbena oghena † nissaraṇaṃ ayaṃ assādo ca nissaraṇañca.
For a Great Man endowed with the thirty-two marks of a Great Man, there are only two possible destinies. If he lives the household life, he becomes a wheel-turning monarch; having conquered, he dwells—this is the gratification. If he goes forth from the household life into homelessness, there is escape from the entire flood—this is both the gratification and the escape.
Đối với bậc đại nhân sở hữu ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, chỉ có hai con đường. Nếu sống tại gia, vị ấy trở thành vua chuyển luân... cho đến... sau khi chinh phục, vị ấy an trú. Đây là vị ngọt. Nếu từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, (vị ấy) thoát khỏi tất cả bộc lưu. Đây là cả vị ngọt và sự xuất ly.
Tattha katamo ādīnavo ca nissaraṇañca?
Herein, what are the danger and the escape?
Trong ấy, thế nào là sự nguy hại và sự xuất ly?
Ādānassa † bhayaṃ ñatvā, jātimaraṇasambhavaṃ;
Anādātuṃ nibbattati, jātimaraṇasaṅkhayā.
Having known the fear in grasping, the source of birth and death, one is not reborn so as not to grasp, for the destruction of birth and death.
Biết sự nguy hiểm của việc chấp thủ, là sự phát sinh của sanh và tử; người ấy không tái sanh để chấp thủ, vì sự đoạn tận của sanh và tử.
Purimikāya aḍḍhagāthāya jātimaraṇasambhavo ādīnavo. Anādātuṃ nibbattati jātimaraṇasaṅkhayāti nissaraṇaṃ.
By the first half-verse, ‘the source of birth and death’ is the danger. ‘Is not reborn so as not to grasp, for the destruction of birth and death’ is the escape.
Với nửa kệ ngôn trước, sự phát sinh của sanh và tử là sự nguy hại. Câu ‘người ấy không tái sanh để chấp thủ, vì sự đoạn tận của sanh và tử’ là sự xuất ly.
Kicchaṃ vatāyaṃ loko āpanno yamidaṃ jāyate ca mīyate ca. Yāva kudassunāmassa dukkhassa anto bhavissati parato vāti ettha yā uparikkhā, ayaṃ ādīnavo. Yo gedhaṃ ñatvā abhinikkhamati yāva purāṇakāya rājadhāniyā, idaṃ nissaraṇaṃ. Ayaṃ ādīnavo ca nissaraṇañca.
‘Indeed, this world has fallen into difficulty, in that it is born and dies.’ The investigation into ‘When indeed will there be an end to this suffering hereafter?’—this is the danger. Whoever, having understood greed, goes forth as far as the ancient royal city of the body—this is the escape. This is the danger and the escape.
Thật vậy, thế gian này đã rơi vào khổ não, nghĩa là có sanh và có tử. Cho đến câu: ‘Khi nào sẽ có sự chấm dứt khổ đau này, hay là sau này?’ Sự thẩm sát ở đây, đây là sự nguy hại. Người nào biết được lòng tham... cho đến... nơi kinh thành cũ, rồi xuất ly, đây là sự xuất ly. Đây là cả sự nguy hại và sự xuất ly.
Tattha katamo assādo ca ādīnavo ca nissaraṇañca?
Herein, what are the gratification, the danger, and the escape?
Trong ấy, thế nào là vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly?
Kāmā hi citrā vividhā † manoramā, virūparūpehi mathenti cittaṃ;
Tasmā ahaṃ † pabbajitomhi rāja, apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyo.
Sensual pleasures are indeed colorful, varied, and delightful; in diverse forms they churn the mind. Therefore, O king, I have gone forth; the ascetic life is surely the safer, better way.
Vì các dục lạc thật đa dạng, nhiều loại, và làm vui thích; với những hình thức khác nhau, chúng khuấy động tâm. Vì thế, tâu đại vương, tôi đã xuất gia; chắc chắn rằng chỉ có đời sống sa-môn là cao thượng hơn.
Yaṃ ‘‘kāmā hi citrā vividhā manoramā’’ti ayaṃ assādo. Yaṃ ‘‘virūparūpehi mathenti citta’’nti ayaṃ ādīnavo. Yaṃ ahaṃ agārasmā pabbajitomhi rāja apaṇṇakaṃ sāmaññameva seyyoti idaṃ nissaraṇaṃ.
The words, ‘Sensual pleasures are indeed colorful, varied, and delightful,’ are the gratification. The words, ‘in diverse forms they churn the mind,’ are the danger. The words, ‘I have gone forth from the household life, O king; the ascetic life is surely the safer, better way,’ are the escape.
Câu ‘Vì các dục lạc thật đa dạng, nhiều loại, và làm vui thích’ là vị ngọt. Câu ‘với những hình thức khác nhau, chúng khuấy động tâm’ là sự nguy hại. Câu ‘tôi đã xuất gia từ bỏ gia đình, tâu đại vương, chắc chắn rằng chỉ có đời sống sa-môn là cao thượng hơn’ là sự xuất ly.
Balavaṃ bālopamasuttaṃ yaṃ āsāya vā vedanīyaṃ kammaṃ gāhati, tathā cepi yaṃ yaṃ pāpakammaṃ anubhoti, tattha dukkhavedanīyena kammena abhāvitakāyena ca yāva parittacetaso ca ādīnavaṃ dasseti sukhavedanīyena kammena assādeti. Yaṃ purāsadiso hoti. Bhāvitacitto bhāvitakāyo bhāvitapañño mahānāmo aparittacetaso, idaṃ nissaraṇaṃ.
In the powerful Simile of the Fool sutta, one who, out of hope, undertakes a kamma to be experienced, and so experiences whatever evil kamma, thereby, with a kamma to be experienced as painful, with an undeveloped body and a limited mind, shows the danger. With a kamma to be experienced as pleasant, he savors the gratification. He is like the man before. One with a developed mind, developed wisdom, of great name, with an unlimited mind—this is the escape.
Kinh Ví Dụ Người Ngu Mạnh Mẽ: Do ái dục mà người ấy nắm giữ nghiệp cần phải cảm thọ, và cũng như vậy, người ấy trải nghiệm bất cứ ác nghiệp nào. Ở đó, sự nguy hại được chỉ ra qua nghiệp có cảm thọ khổ, qua thân không được tu tập, cho đến tâm bị giới hạn; và người ấy thưởng thức vị ngọt qua nghiệp có cảm thọ lạc. Điều này giống như trước. (Trường hợp của) Mahānāma có tâm được tu tập, tuệ được tu tập, tâm không bị giới hạn, đây là sự xuất ly.
24. Tattha katamaṃ lokikaṃ suttaṃ?
24. Herein, what is a worldly discourse?
24. Trong các kinh ấy, kinh nào là kinh thế gian?
Na hi pāpaṃ kataṃ kammaṃ, sajjukhīraṃva muccati;
Ḍahantaṃ bālamanveti, bhasmacchannova † pāvako.
An evil deed that has been done does not curdle at once like freshly drawn milk; burning, it follows the fool like a fire covered by ashes.
Nghiệp ác đã được tạo tác không cho quả ngay lập tức, giống như sữa tươi không đông lại liền. Nó đi theo thiêu đốt kẻ ngu, giống như ngọn lửa được tro che đậy.
Cattāri agatigamanāni, idaṃ lokikaṃ suttaṃ.
The four wrong courses of action—this is a worldly discourse.
Bốn sự đi đến chỗ không nên đi. Đây là kinh thế gian.
Tattha katamaṃ lokuttaraṃ suttaṃ?
Herein, what is a supramundane discourse?
Trong các kinh ấy, kinh nào là kinh siêu thế?
‘‘Yassindriyāni samathaṅgatāni †, assā yathā sārathinā sudantā;
Pahīnamānassa anāsavassa, devāpi tassa pihayanti tādino’’ti.
‘One whose faculties have gone to tranquility, like horses well-tamed by a charioteer; who has abandoned conceit and is without taints—even the devas yearn for one so steadfast.’
Vị nào có các căn đã đạt đến sự an tịnh, giống như những con ngựa đã được người đánh xe khéo điều phục; chư Thiên cũng ái mộ vị ấy, bậc đã đoạn trừ ngã mạn, không còn lậu hoặc, và bất động.
‘‘Ariyaṃ vo, bhikkhave, sammāsamādhiṃ desessāmī’’ti idaṃ lokuttaraṃ suttaṃ.
‘Bhikkhus, I will teach you noble right concentration.’ This is a supramundane discourse.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi về chánh định bậc Thánh.” Đây là kinh siêu thế.
Tattha katamaṃ lokikaṃ lokuttarañca suttaṃ?
Herein, what is a discourse that is both worldly and supramundane?
Trong các kinh ấy, kinh nào là kinh thế gian và siêu thế?
Sattiyā viya omaṭṭho, dayhamānova matthake;
Kāmarāgappahānāya, sato bhikkhu paribbaje.
As though pierced by a spear, or with his head on fire, a mindful bhikkhu should strive for the abandoning of sensual lust.
Giống như bị đâm bởi ngọn giáo, hay như bị cháy trên đầu, vị Tỳ khưu chánh niệm nên tinh cần để đoạn trừ tham dục.
‘‘Sattiyā viya omaṭṭho, dayhamānova matthake’’ti lokikaṃ;
‘‘Kāmarāgappahānāya, sato bhikkhu paribbaje’’ti lokuttaraṃ;
‘As though pierced by a spear, or with his head on fire,’ is worldly; ‘A mindful bhikkhu should strive for the abandoning of sensual lust,’ is supramundane.
“Giống như bị đâm bởi ngọn giáo, hay như bị cháy trên đầu” là (kinh) thế gian; “để đoạn trừ tham dục, vị Tỳ khưu chánh niệm nên tinh cần” là (kinh) siêu thế.
Kabaḷīkāre āhāre atthi chandoti lokikaṃ. Natthi chandoti lokuttaraṃ suttaṃ.
‘In physical food, there is desire,’ is worldly. ‘There is no desire,’ is a supramundane discourse.
“Có sự ham muốn trong đoàn thực” là (kinh) thế gian. “Không có sự ham muốn” là kinh siêu thế.
Tattha katamaṃ kammaṃ?
Herein, what is kamma?
Trong ấy, thế nào là nghiệp?
Yo pāṇamatipāteti, musāvādañca bhāsati;
Loke adinnaṃ ādiyati †, paradārañca gacchati.
One who destroys life, and speaks false speech; who takes what is not given in the world, and goes to another’s wife;
Người nào sát sanh, và nói dối, lấy của không cho ở đời, và đi đến vợ người khác.
Surāmerayapānañca, yo naro anuyuñjati;
Appahāya pañca verāni, dussīlo iti vuccati.
And whatever person engages in the drinking of fermented and distilled intoxicants, not having abandoned the five enmities, is called immoral.
Người nào chuyên tâm uống rượu men và rượu nấu, không từ bỏ năm điều oán thù này, được gọi là người ác giới.
Tīṇimāni, bhikkhave, duccaritāni. Idaṃ kammaṃ.
Bhikkhus, there are these three kinds of misconduct. This is kamma.
Này các Tỳ khưu, có ba ác hạnh này. Đây là nghiệp.
Tattha katamo vipāko?
Herein, what is the result?
Trong ấy, thế nào là quả?
Saṭṭhivassasahassāni, yathārūpī vipaccagā.
For sixty thousand years, one experiences the result accordingly.
Sáu mươi ngàn năm, người có bản chất như vậy đã trải qua quả báo.
‘‘Diṭṭhā mayā, bhikkhave †, cha phassāyatanikā nāma nirayā. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, cha phassāyatanikā nāma saggā’’. Ayaṃ vipāko.
‘Bhikkhus, I have seen hells named ‘Pertaining to the Six Sense Bases.’ Bhikkhus, I have seen heavens named ‘Pertaining to the Six Sense Bases.’’ This is the result.
“Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy các địa ngục tên là ‘thuộc sáu xứ xúc’. Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy các cõi trời tên là ‘thuộc sáu xứ xúc’.” Đây là quả.
Tattha katamaṃ kammañca vipāko ca?
Herein, what is kamma and result?
Trong ấy, thế nào là nghiệp và quả?
Ayasāva malaṃ samuṭṭhitaṃ, tatuṭṭhāya tameva khādati;
Evaṃ atidhonacārinaṃ, sāni kammāni nayanti duggatiṃ.
Just as rust arisen from iron itself eats that very iron from which it arose, so their own deeds lead those of excessive conduct to a bad destination.
Giống như rỉ sét sanh từ sắt, sanh từ đó rồi ăn mòn lại chính nó; cũng vậy, chính nghiệp của người sống phóng túng dẫn người ấy đến ác thú.
Ayasāva malaṃ samuṭṭhitaṃ, yāva sāni kammānīti idaṃ kammaṃ. Nayanti duggatinti vipāko.
The passage from ‘Just as rust arisen from iron’ up to ‘their own deeds’ is kamma. The passage ‘lead to a bad destination’ is the result.
“Giống như rỉ sét sanh từ sắt” cho đến “chính nghiệp của người ấy” là nghiệp. “Dẫn đến ác thú” là quả.
Catūsu sammāpaṭipajjamāno mātari pitari tathāgate tathāgatasāvake yā sammāpaṭipatti, idaṃ kammaṃ. Yaṃ devesu upapajjati, ayaṃ vipāko. Idaṃ kammañca vipāko ca.
Whatever right practice there is for one who practices rightly towards four—mother, father, the Tathāgata, and a disciple of the Tathāgata—this is kamma. That one is reborn among the devas—this is the result. This is kamma and result.
Sự thực hành đúng đắn đối với bốn hạng người: mẹ, cha, Như Lai, và đệ tử của Như Lai, sự thực hành đúng đắn nào như vậy, đây là nghiệp. Việc sanh vào cõi chư Thiên, đây là quả. Đây là nghiệp và quả.
25. Tattha katamaṃ niddiṭṭhaṃ suttaṃ?
Herein, what is a discourse with an indicated meaning?
25. Trong các kinh ấy, kinh nào là kinh có nghĩa được chỉ rõ?
Nelaṅgo setapacchādo, ekāro vattatī † ratho;
Anīghaṃ passa āyantaṃ, chinnasotaṃ abandhanaṃ;
Yaṃ vā cittaṃ samaṇesu, cittāgahapati dissati.
With faultless limbs and a white awning, the one-axled chariot proceeds. See, O householder Citta, him coming, untroubled, with the stream cut off, unbound. Whatever mind is among ascetics, that is seen.
Cỗ xe không tỳ vết, mui trắng, một bánh xe đang lăn bánh. Hãy nhìn người đang đến, không phiền não, đã cắt đứt dòng chảy, không bị trói buộc. Tâm nào được thấy giữa các Sa-môn, này gia chủ Citta.
Evaṃ imāya gāthāya niddiṭṭho attho.
25. Thus the meaning is indicated by this verse.
Như vậy, ý nghĩa đã được chỉ rõ qua bài kệ này.
Gopālakopame ekādasa padāni. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaññū hoti. Yā ca atirekapūjāya pūjetā hotīti. Imāni ekādasa padāni yathābhāsitāni niddiṭṭho attho.
In the simile of the cowherd, there are eleven points. Thus, bhikkhus, a bhikkhu is a knower of form. And there is honoring with surpassing honor. The meaning of these eleven points is indicated as they were spoken.
Trong ví dụ người chăn bò có mười một điểm. “Này các Tỳ khưu, như vậy Tỳ khưu là người biết rõ sắc.” và “Sự cúng dường nào là sự cúng dường đặc biệt.” Mười một điểm này như đã được thuyết giảng, ý nghĩa đã được chỉ rõ.
Tattha katamo aniddiṭṭho attho?
Herein, what is the unindicated meaning?
Trong ấy, thế nào là ý nghĩa không được chỉ rõ?
Sukho viveko tuṭṭhassa, sutadhammassa passato;
Abyāpajjaṃ † sukhaṃ loke, pāṇabhūtesu saṃyamoti.
Seclusion is happiness for the contented, for one who has heard the Dhamma and sees. Harmlessness is happiness in the world, and restraint towards living beings.
Viễn ly là lạc cho người biết đủ, đã nghe pháp và thấy pháp. Vô sân là lạc ở đời, (cùng với) sự chế ngự đối với các loài hữu tình.
Sukhā virāgatā loke, kāmānaṃ samatikkamo;
Asmimānassa yo vinayo, etaṃ ve paramaṃ sukhanti.
Dispassion in the world is happiness; the overcoming of sensual pleasures is happiness. The subduing of the conceit ‘I am’—this is indeed the supreme happiness.
Ly tham là lạc ở đời, (cùng với) sự vượt qua các dục. Sự nhiếp phục ngã mạn nào, đó thật là lạc tối thượng.
Idaṃ aniddiṭṭhaṃ. Aṭṭha mahāpurisavitakkā. Idaṃ aniddiṭṭhaṃ.
This is unindicated. The eight thoughts of a great person. This is unindicated.
Đây là (kinh có nghĩa) không được chỉ rõ. Tám đại nhân tầm. Đây là (kinh có nghĩa) không được chỉ rõ.
Tattha katamaṃ niddiṭṭhañca aniddiṭṭhañca?
Herein, what is the indicated and the unindicated?
Trong các kinh ấy, kinh nào là kinh có nghĩa được chỉ rõ và không được chỉ rõ?
Pasannanetto † sumukho, brahā uju patāpavā;
Majjhe samaṇasaṅghassa, ādiccova virocasi.
With clear eyes, a fair face, majestic, upright, and glorious; amidst the assembly of ascetics, you shine like the sun.
Với đôi mắt trong sáng, khuôn mặt đẹp, thân hình to lớn, ngay thẳng, đầy oai lực; Ngài tỏa sáng giữa chúng Tăng, tựa như mặt trời.
Pasannanetto yāva ādiccova virocasīti niddiṭṭho. Pasannanetto yo bhagavā kathañca pana pasannanettatā, kathaṃ sumukhatā, kathaṃ brahakāyatā, kathaṃ ujukatā, kathaṃ patāpavatā, kathaṃ virocatāti aniddiṭṭho. Pheṇapiṇḍopamaṃ veyyākaraṇaṃ yathā pheṇapiṇḍo evaṃ rūpaṃ yathā pubbuḷo evaṃ vedanā māyā viññāṇaṃ pañcakkhandhā pañcahi upamāhi niddiṭṭhā. Kena kāraṇena pheṇapiṇḍopamaṃ rūpaṃ sabbañca cakkhuviññeyyaṃ yaṃ vā catūhi āyatanehi? Kathaṃ vedanā pubbuḷūpamā? Katarā ca sā vedanā sukhā dukkhā adukkhamasukhā? Evamesā aniddiṭṭhā. Evaṃ niddiṭṭhañca aniddiṭṭhañca.
The passage from 'With clear eyes' up to 'you shine like the sun' is the indicated. But how is the Blessed One 'clear-eyed'? How is he 'fair-faced'? How is he 'great-bodied'? How is he 'upright'? How is he 'glorious'? How does he 'shine'? This is the unindicated. The exposition of the simile of the lump of foam: just as a lump of foam, so is form; just as a water bubble, so is feeling; like an illusion, so is consciousness—the five aggregates are indicated with five similes. For what reason is form like a lump of foam, and all that is cognizable by the eye, or by the four sense bases? How is feeling like a water bubble? And which feeling is it—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant? Thus this is unindicated. Thus, there is the indicated and the unindicated.
Đoạn kệ từ 'Pasannanetto' cho đến 'ādiccova virocasi' được gọi là Niddiṭṭha (đã được chỉ rõ). Vị Thế Tôn có đôi mắt trong sáng. Nhưng thế nào là trạng thái mắt trong sáng, thế nào là trạng thái mặt đẹp, thế nào là trạng thái thân hình to lớn, thế nào là trạng thái ngay thẳng, thế nào là trạng thái oai lực, thế nào là trạng thái tỏa sáng? (Những điều này) được gọi là Aniddiṭṭha (chưa được chỉ rõ). Sự giải thích về ví dụ bọt nước: Sắc cũng giống như bọt nước, thọ cũng giống như bong bóng nước, thức (giống như) ảo thuật. Năm uẩn được chỉ rõ bằng năm ví dụ. Do nguyên nhân nào sắc được ví như bọt nước? (Vì) tất cả (sắc) được nhận biết bởi nhãn thức, hoặc được nhận biết bởi bốn xứ? Thế nào thọ được ví như bong bóng nước? Và thọ ấy là gì? Là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc? Như vậy, điều này là chưa được chỉ rõ. Như vậy, có cả phần đã được chỉ rõ và phần chưa được chỉ rõ.
26. Tattha katamaṃ ñāṇaṃ?
Herein, what is knowledge?
26. Trong ấy, thế nào là kinh Trí Tuệ (Ñāṇa)?
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, yāyaṃ nibbedhagāminī;
Yāya † sammā pajānāti, jātimaraṇasaṅkhayaṃ.
Wisdom is indeed the best in the world, that which leads to penetration; by which one rightly understands the exhaustion of birth and death.
Trí tuệ thật là tối thắng ở trên đời, trí tuệ này dẫn đến sự thông suốt. Nhờ trí tuệ ấy, người ta liễu tri một cách chân chánh sự đoạn tận của sanh và tử.
Tīṇimāni indriyāni anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ, idaṃ ñāṇaṃ.
26. These three are the faculties: the faculty of 'I shall know the unknown,' the faculty of final knowledge, and the faculty of one who has final knowledge. This is knowledge.
Có ba quyền này: vị tri đương tri quyền, dĩ tri quyền, và cụ tri quyền. Đây là kinh Trí Tuệ (Ñāṇa).
Tattha katamaṃ neyyaṃ?
Herein, what is the inferable?
Trong ấy, thế nào là kinh Cần Dẫn Dắt (Neyya)?
Kāmesu † sattā kāmasaṅgasattā, saṃyojane vajjamapassamānā;
Na hi jātu saṃyojanasaṅgasattā, oghaṃ tareyyuṃ vipulaṃ mahantaṃ.
Attached to sensual pleasures, clinging to the attachment of passion, not seeing the fault in the fetter; indeed, beings clinging to the attachment of the fetter will never cross the vast and great flood.
Chúng sanh bị đắm trước trong các dục, bị trói buộc bởi sự tham đắm các dục, không thấy sự nguy hại trong các kiết sử. Những chúng sanh bị trói buộc bởi sự tham đắm các kiết sử chắc chắn không bao giờ có thể vượt qua được dòng bộc lưu rộng lớn, mênh mông.
Catūhi aṅgehi samannāgatā kāyassa bhedā devesu uppajjanti. Udāne kāpiyaṃ suttaṃ apaṇṇakapasādanīyaṃ – idaṃ neyyaṃ.
Those endowed with four factors, upon the breakup of the body, are reborn among the devas. The Kāpiya Sutta in the Udāna, which inspires confidence in the incontrovertible—this is the inferable.
Những ai đầy đủ bốn chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi trời. Kinh Kāpiya trong tập Udāna (Phật Tự Thuyết) về niềm tin không lay chuyển – đây là kinh Cần Dẫn Dắt (Neyya).
Tattha katamaṃ ñāṇañca neyyañca?
Herein, what is both knowledge and the inferable?
Trong ấy, thế nào là kinh Trí Tuệ và Cần Dẫn Dắt (Ñāṇa và Neyya)?
Sabbe dhammā anattāti, yadā paññāya passati;
Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā.
When one sees with wisdom, 'All phenomena are not-self,' then one becomes weary of suffering—this is the path to purity.
Khi nào với trí tuệ thấy rằng: 'Tất cả các pháp là vô ngã', bấy giờ liền nhàm chán trong đau khổ. Đây là con đường dẫn đến thanh tịnh.
Yadā passatīti ñāṇaṃ. Yo sabbadhamme anattākārena upaṭṭhapeti idaṃ neyyaṃ.
‘When one sees with wisdom’ is knowledge. That one establishes all phenomena in the aspect of not-self—this is the inferable.
Câu 'Khi nào thấy' là Trí Tuệ (Ñāṇa). Người nào làm cho tất cả các pháp hiện khởi với tướng trạng vô ngã, đây là Cần Dẫn Dắt (Neyya).
Cattāri ariyasaccāni, tattha tīṇi neyyāni maggasaccaṃ sīlakkhandho ca paññākkhandho ca, idaṃ ñāṇañca neyyañca.
There are four Noble Truths. Among them, three are inferable. The Truth of the Path, which is the aggregate of virtue and the aggregate of wisdom, is both knowledge and inferable.
Có bốn Thánh đế. Trong đó, ba (đế) là Cần Dẫn Dắt (Neyya). Đạo đế, giới uẩn và tuệ uẩn, đây là Trí Tuệ và Cần Dẫn Dắt (Ñāṇa và Neyya).
27. Tattha katamaṃ dassanaṃ?
Herein, what is vision?
27. Trong ấy, thế nào là kinh Kiến (Dassana)?
Eseva maggo † natthañño, dassanassa visuddhiyā;
Etañhi tumhe paṭipajjatha, mārassetaṃ pamohanaṃ.
This is the very path, there is no other for the purification of vision. You should undertake this path, for this is the bewilderment of Māra.
Đây chính là con đường, không có con đường nào khác, để thanh tịnh tri kiến. Các ngươi hãy thực hành theo con đường này, đó là sự nhiễu loạn đối với Ma vương.
Catūhi aṅgehi samannāgato ariyasāvako attanāva † attānaṃ byākareyya ‘‘khīṇanirayomhi yāva sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’’ti. Idaṃ dassanaṃ.
27. A noble disciple endowed with four factors may declare of himself: 'I am one for whom hell is destroyed... I am a stream-enterer, not subject to states of woe, assured, with enlightenment as my destination.' This is vision.
Vị Thánh đệ tử đầy đủ bốn chi phần có thể tự mình tuyên bố về chính mình rằng: 'Ta đã đoạn tận địa ngục... ta là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ'. Đây là kinh Kiến (Dassana).
Tattha katamā bhāvanā?
Herein, what is development?
Trong ấy, thế nào là kinh Tu (Bhāvanā)?
Yassindriyāni subhāvitāni, ajjhattaṃ bahiddhā ca sabbaloke;
So puggalo mati ca rūpasaññī, sumohagatā na jānāti †.
One whose faculties are well-developed, internally and externally and in the whole world; that person, wise and perceiving form, being utterly deluded, does not know.
Người nào có các quyền được khéo tu tập, ở trong, ở ngoài, và trong toàn thể thế gian; người ấy, người có trí và có tưởng về sắc, do si mê sâu dày nên không biết.
Cattāri dhammapadāni – anabhijjhā abyāpādo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ bhāvanā.
These four portions of the Dhamma are: non-covetousness, non-ill will, right mindfulness, and right concentration. This is the Sutta on Development.
Bốn pháp cú: không tham lam, không sân hận, chánh niệm, chánh định. Đây là kinh Tu (Bhāvanā).
Tattha katamaṃ dassanañca bhāvanā ca?
Among these, which is the Sutta on Vision and the Sutta on Development?
Trong ấy, thế nào là kinh Kiến và Tu (Dassana và Bhāvanā)?
Vacasā manasātha kammunā ca, aviruddho sammā viditvā † dhammaṃ;
Nibbānapadābhipatthayāno, sammā so loke paribbajeyya.
Unconflicting in speech, mind, and action, having rightly known the Dhamma, aspiring for the state of Nibbāna, such a one should fare rightly in the world.
Không chống trái bằng lời nói, ý nghĩ, hay hành động, sau khi đã biết rõ Chánh pháp, mong cầu địa vị Niết-bàn, người ấy nên sống đúng đắn ở trên đời.
Sotāpattiphalaṃ sacchikātukāmena katame dhammā manasikātabbā, bhagavā āha pañcupādānakkhandhā. Idaṃ dassanañca bhāvanā ca.
By one who desires to realize the fruit of stream-entry, what dhammas should be attended to? The Blessed One said: The five aggregates subject to clinging. This is both the Sutta on Vision and the Sutta on Development.
Người muốn chứng ngộ quả Dự lưu nên tác ý những pháp nào? Đức Thế Tôn dạy: năm thủ uẩn. Đây là kinh Kiến và Tu (Dassana và Bhāvanā).
28. Tattha katame vipākadhammadhammā?
28. Among these, which are the dhammas that are resultant states?
28. Trong ấy, thế nào là các pháp có quả dị thục (Vipākadhammadhammā)?
Yāni karoti purisoti vitthāro. Tīṇimāni, bhikkhave, sucaritāni. Ime vipākadhammadhammā.
The detailed explanation of 'Whatever a person does' should be understood. Monks, these are the three kinds of good conduct. These are the dhammas that are resultant states.
Câu 'Những gì người ấy làm' (nên được hiểu) một cách chi tiết. Này các Tỳ khưu, có ba thiện hạnh này. Đây là các pháp có quả dị thục.
Tattha katame navipākadhammadhammā?
Among these, which are the dhammas that are not results but are conditions for results?
Trong ấy, thế nào là các pháp không phải là pháp có quả dị thục (Navipākadhammadhammā)?
Rūpaṃ vedayitaṃ saññā, viññāṇaṃ yā ceva cetanā;
Nesohamasmi na meso attā, iti diṭṭho virajjati.
Form, feeling, perception, consciousness, and whatever volition there is: ‘This I am not, this is not my self.’ One who has seen thus becomes dispassionate.
Sắc, thọ, tưởng, thức, và cả tư tác nào; người thấy rằng: 'Đây không phải là tôi, đây không phải là tự ngã của tôi', liền được ly tham.
Pañcime, bhikkhave, khandhā – ime navipākadhammadhammā.
Monks, these five are the aggregates. These are the dhammas that are not results but are conditions for results.
Này các Tỳ khưu, có năm uẩn này – đây là các pháp không phải là pháp có quả dị thục.
Tattha katamo nevavipāko navipākadhammadhammo?
Among these, which is the dhamma that is neither a result nor a condition for a result?
Trong ấy, thế nào là pháp không phải quả và cũng không phải là pháp có quả dị thục (Nevavipāko navipākadhammadhammo)?
‘‘Ye evaṃ paṭipajjanti, nayaṃ buddhena desitaṃ;
Te dukkhassantaṃ karissanti, satthusāsanakārakā’’ti.
‘Those who practice thus according to the method taught by the Buddha, they, followers of the Teacher’s instruction, will make an end of suffering.’
Những ai thực hành như vậy, theo phương pháp do Đức Phật thuyết giảng, những người thực hành theo lời dạy của Bậc Đạo Sư ấy, sẽ chấm dứt đau khổ.
Iti yā ca sammāpaṭipatti yo ca nirodho, ubhayametaṃ nevavipāko navipākadhammo. Brahmacariyaṃ vo, bhikkhave, desessāmi, brahmacariyaphalāni ca brahmacariyañca ariyo aṭṭhaṅgiko maggo brahmacariyaphalāni sotāpattiphalaṃ yāva arahattaṃ.
Thus, both right practice and cessation—these two are neither a result nor a condition for a result. Monks, I will teach you the holy life and the fruits of the holy life. The holy life is the Noble Eightfold Path, and the fruits of the holy life are the fruit of stream-entry up to Arahantship.
Như vậy, sự thực hành chân chánh và sự đoạn diệt, cả hai điều này là pháp không phải quả và cũng không phải là pháp có quả dị thục. Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về phạm hạnh và các quả của phạm hạnh. Thánh đạo tám ngành là phạm hạnh. Các quả của phạm hạnh là quả Dự lưu cho đến quả A-la-hán.
29. Tattha katamaṃ sakavacanaṃ?
29. Among these, which is the Sutta on the Buddha's Own Words?
29. Trong ấy, thế nào là kinh Lời Dạy Của Chính Mình (Sakavacana)?
Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodapanaṃ, etaṃ buddhāna sāsanaṃ.
The non-doing of all evil, the undertaking of the wholesome, the purification of one’s own mind—this is the teaching of the Buddhas.
Không làm mọi điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời dạy của Chư Phật.
Tīṇimāni, bhikkhave, vimokkhamukhāni. Idaṃ sakavacanaṃ.
Monks, these are the three gateways to liberation. This is the Sutta on the Buddha's Own Words.
Này các Tỳ khưu, có ba pháp môn giải thoát này. Đây là lời của chính đức Phật.
Tattha katamaṃ paravacanaṃ?
Among these, which is the Sutta on the Words of Others?
Trong ấy, thế nào là lời của người khác?
Natthi puttasamaṃ pemaṃ, natthi goṇasamitaṃ dhanaṃ;
Natthi sūriyasamā ābhā, samuddaparamā sarā.
There is no love like that for a son; there is no wealth like cattle; there is no radiance like the sun; among lakes, the ocean is supreme.
Không có tình thương nào bằng con, không có tài sản nào bằng bò; không có ánh sáng nào bằng mặt trời, biển cả là tối thượng trong các hồ.
Hetunā mārisā kosiyā subhāsitena saṅgāmavijayo sopi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṃ phalaṃ paribhuñjamānoti vitthārena kātabbaṃ. Idaṃ paravacanaṃ.
Sirs of the Kosiya clan, by reason of well-spoken words, there was victory in battle. Monks, Sakka, king of the devas, enjoys the fruit of his own deeds. Thus it should be elaborated. This is the Sutta on the Words of Others.
Này các bạn, nhờ vào lời thiện thuyết mà Kosiya đã chiến thắng trong trận chiến; này các Tỳ khưu, Thiên chủ Sakka đang hưởng quả phước của mình, nên được hiểu một cách rộng rãi. Đây là lời của người khác.
Tattha katamaṃ sakavacanañca paravacanañca?
Among these, which is the sutta that contains both the Buddha's Own Words and the Words of Others?
Trong ấy, thế nào là (kinh) vừa là lời của chính đức Phật, vừa là lời của người khác?
‘‘Yaṃ pattaṃ yañca pattabbaṃ, ubhayametaṃ rajānukiṇṇaṃ;
Ye evaṃvādino natthi, tesaṃ kāmesu doso’’ti.
‘That which is attained and that which is to be attained, both are strewn with defilement. Those who say thus do not exist; for them, there is aversion towards sensual pleasures.’ This is the Words of Others.
‘Cái đã đạt được và cái cần phải đạt được, cả hai điều này đều bị vẩn đục bởi phiền não; những ai có tà kiến như vậy là không có, đối với họ có sự sân hận trong các dục.’
Idaṃ paravacanaṃ. Ye ca kho te ubho ante anupagamma vaṭṭaṃ tesaṃ natthi paññāpanāya. Idaṃ sakavacanaṃ.
This is the Words of Others. But for those who do not approach either of those two extremes, there is no designation of the round of existence. This is the Buddha's Own Words.
Đây là lời của người khác. Còn những ai không đi đến hai cực đoan ấy, đối với họ, không có sự định rõ về vòng luân hồi. Đây là lời của chính đức Phật.
‘‘Nandati puttehi puttimā, gomā gohi † tatheva nandati;
Upadhī hi narassa nandanā, na hi so nandati yo nirūpadhī’’ti – paravacanaṃ.
‘One with sons delights in sons; likewise, one with cattle delights in cattle. For attachments are a person’s delight; one who is without attachments does not delight.’ This is the Words of Others.
‘Người có con vui với con, người có bò cũng vui với bò; thật vậy, chấp thủ là niềm vui của người đời, người không chấp thủ thì không vui.’ – Đây là lời của người khác.
‘‘Socati puttehi puttimā, gomā gohi tatheva socati;
Upadhī hi narassa socanā, na hi so socati yo nirūpadhī’’ti – sakavacanaṃ.
‘One with sons grieves on account of sons; likewise, one with cattle grieves on account of cattle. For attachments are a person’s grief; one who is without attachments does not grieve.’ This is the Buddha's Own Words.
‘Người có con sầu vì con, người có bò cũng sầu vì bò; thật vậy, chấp thủ là nỗi sầu của người đời, người không chấp thủ thì không sầu.’ – Đây là lời của chính đức Phật.
Idaṃ sakavacanaṃ paravacanañca.
This contains both the Buddha's Own Words and the Words of Others.
Đây là (kinh) vừa là lời của chính đức Phật, vừa là lời của người khác.
30. Tattha katamaṃ sattādhiṭṭhānaṃ?
30. Among these, which is the Sutta Established on Beings?
30. Trong ấy, thế nào là kinh dựa trên chúng sanh?
Ye keci bhūtā bhavissanti ye vāpi, sabbe gamissanti pahāya dehaṃ;
Taṃ sabbajāniṃ kusalo viditvā, dhamme † ṭhito brahmacariyaṃ careyya.
Whatever beings exist or will come to be, all will depart, having abandoned the body. The skillful one, knowing this complete loss, established in the Dhamma, should lead the holy life.
Những chúng sanh nào đã có hoặc sẽ có, tất cả đều sẽ ra đi, từ bỏ thân này; người trí biết rõ sự mất mát hoàn toàn ấy, an trú trong Pháp, hãy thực hành phạm hạnh.
Tayome, bhikkhave, satthāro, tathāgato arahaṃ sekkho paṭipado. Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these three teachers: the Tathāgata, the Arahant, and the trainee on the path. This is the Sutta Established on Beings.
Này các Tỳ khưu, có ba bậc Đạo sư này: Như Lai, bậc A-la-hán, và bậc hữu học đang trên đường tu tập. Đây là kinh dựa trên chúng sanh.
Tattha katamaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ?
Among these, which is the Sutta Established on the Dhamma?
Trong ấy, thế nào là kinh dựa trên Pháp?
Yañca kāmasukhaṃ † loke, yañcidaṃ diviyaṃ sukhaṃ;
Taṇhakkhayasukhassete, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ.
Whatever sensual pleasure there is in the world, and whatever divine pleasure, these are not worth a sixteenth part of the happiness of the destruction of craving.
Lạc thú của các dục ở thế gian, và lạc thú ở cõi trời, so với hạnh phúc của sự đoạn tận ái dục, không bằng một phần mười sáu.
Sattime, bhikkhave, bojjhaṅgā, idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these seven factors of enlightenment. This is the Sutta Established on the Dhamma.
Này các Tỳ khưu, có bảy giác chi này, đây là kinh dựa trên Pháp.
Tattha katamaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca? Duddasamantaṃ saccaṃ duddaso paṭivedho bālehi, jānato passato natthi nandīti vadāmi. Duddasamantaṃ saccaṃ duddaso paṭivedho bālehīti dhammādhiṭṭhānaṃ. Jānato passato natthi nandīti sattādhiṭṭhānaṃ. Dārukkhandhopamaṃ gaṅgāya tīriyā orimañca tīraṃ pārimañca tīraṃ thale vā † na ca ussīdanaṃ, majjhe ca na saṃsīdanaṃ manussaggāho ca amanussaggāho ca antopūtibhāvo ca, idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ. Evaṃ pana bhikkhu nibbānaninno bhavissati nibbānaparāyaṇoti sattādhiṭṭhānaṃ. Idaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca.
Among these, which is the sutta that is both Established on Beings and Established on the Dhamma? ‘For the foolish, the ultimate truth is hard to see, its penetration is hard to see. For one who knows and sees, there is no delight,’ thus I say. The part, ‘For the foolish, the ultimate truth is hard to see, its penetration is hard to see,’ is Established on the Dhamma. The part, ‘For one who knows and sees, there is no delight,’ is Established on Beings. The simile of the log floating down the river Ganges: it does not get cast up on the near shore or the far shore, nor does it run aground on high ground, nor does it sink in the middle, nor is it seized by humans or non-humans, nor does it become rotten within—this is Established on the Dhamma. The part, ‘In this way, a monk will be inclined towards Nibbāna, with Nibbāna as his destination,’ is Established on Beings. This is both Established on Beings and Established on the Dhamma.
Trong ấy, thế nào là kinh vừa dựa trên chúng sanh, vừa dựa trên Pháp? ‘Kẻ ngu khó thấy được chân lý tối hậu, khó chứng ngộ được; Ta nói rằng, đối với người biết, người thấy, không có hỷ lạc.’ ‘Kẻ ngu khó thấy được chân lý tối hậu, khó chứng ngộ được’ – đây là kinh dựa trên Pháp. ‘Đối với người biết, người thấy, không có hỷ lạc’ – đây là kinh dựa trên chúng sanh. Ví như khúc gỗ trôi trên sông Hằng, không tấp vào bờ bên này, không tấp vào bờ bên kia, không mắc cạn, không chìm xuống giữa dòng, không bị người vớt, không bị phi nhân vớt, và không bị mục rữa bên trong – đây là kinh dựa trên Pháp. Cũng vậy, vị Tỳ khưu sẽ hướng về Niết Bàn, sẽ có Niết Bàn làm đích đến – đây là kinh dựa trên chúng sanh. Đây là kinh vừa dựa trên chúng sanh, vừa dựa trên Pháp.
Tattha katamo thavo?
Among these, which is the Sutta on Praise?
Trong ấy, thế nào là kinh tán thán?
Maggānaṭṭhaṅgiko seṭṭho, saccānaṃ caturo padā;
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ, dvipadānañca cakkhumā.
Among paths, the Eightfold is best; among truths, the four statements; among states, dispassion is best; and among bipeds, the One with Vision.
Trong các con đường, Bát Chánh Đạo là tối thượng; trong các sự thật, Bốn Chân Đế là tối thượng; trong các pháp, ly tham là tối thượng; và trong các loài hai chân, bậc có mắt là tối thượng.
Tīṇimāni, bhikkhave, aggāni – buddho sattānaṃ, virāgo dhammānaṃ, saṅgho gaṇānaṃ. Ayaṃ thavo.
Monks, there are these three foremost things: among beings, the Buddha is foremost; among states, dispassion is foremost; among assemblies, the Saṅgha is foremost. This is the Sutta on Praise.
Này các Tỳ khưu, có ba điều tối thượng này: Đức Phật là tối thượng trong các chúng sanh, ly tham là tối thượng trong các pháp, Tăng đoàn là tối thượng trong các hội chúng. Đây là kinh tán thán.
31. Tattha katamaṃ anuññātaṃ?
31. Among these, which is the Sutta on What is Permitted?
31. Trong ấy, thế nào là kinh cho phép?
Kāyena † saṃvaro sādhu, sādhu vācāya saṃvaro;
Manasā saṃvaro sādhu, sādhu sabbattha saṃvuto;
Sabbattha saṃvuto bhikkhu, sabbadukkhā pamuccati.
Restraint by the body is good; good is restraint by speech. Restraint by the mind is good; good is restraint in every way. A bhikkhu restrained in every way is freed from all suffering.
Lành thay, phòng hộ thân, lành thay, phòng hộ lời; lành thay, phòng hộ ý, lành thay, phòng hộ mọi nơi; vị Tỳ khưu phòng hộ mọi nơi, được giải thoát mọi khổ đau.
Idaṃ bhagavatā anuññātaṃ.
This has been permitted by the Blessed One.
Điều này đã được Đức Thế Tôn cho phép.
Tīṇimāni, bhikkhave, karaṇīyāni – kāyasucaritaṃ vacīsucaritaṃ manosucaritaṃ. Idaṃ anuññātaṃ.
Monks, there are these three things to be done: good bodily conduct, good verbal conduct, and good mental conduct. This is the Sutta on What is Permitted.
Này các Tỳ khưu, có ba điều này nên làm: thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Đây là kinh cho phép.
Tattha katamaṃ paṭikkhittaṃ?
Among these, which is the Sutta on What is Rejected?
Trong ấy, thế nào là kinh ngăn cấm?
Natthi puttasamaṃ pemaṃ. Vitthāro idaṃ paṭikkhittaṃ.
‘There is no love like that for a son.’ The detailed explanation should be understood. This is the Sutta on What is Rejected.
Không có tình thương nào bằng con. Nên hiểu rộng ra, đây là kinh ngăn cấm.
Tīṇimāni, bhikkhave, akaraṇīyāni sayaṃ abhiññāya desitāni. Katamāni tīṇi? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ. Idaṃ paṭikkhittaṃ.
Monks, these are three things not to be done, taught by myself after having directly known them through supreme knowledge. What three? Bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. This is called the Paṭikkhitta Sutta.
Này các Tỳ khưu, có ba điều không nên làm này, đã được (Ta) thuyết giảng sau khi tự mình thắng tri. Ba điều ấy là gì? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Đây là kinh ngăn cấm.
Tattha katamaṃ anuññātañca paṭikkhittañca?
Therein, what is the sutta that is both permitted and forbidden?
Trong ấy, thế nào là kinh vừa cho phép vừa ngăn cấm?
Kāyena kusalaṃ kare, assa kāyena saṃvuto;
Kāyaduccaritaṃ hitvā, kāyasucaritaṃ care.
One should do what is wholesome with the body; one should be restrained with the body. Having abandoned bodily misconduct, one should practice good bodily conduct.
Hãy dùng thân làm điều thiện, hãy dùng thân để phòng hộ; từ bỏ thân ác hành, hãy thực hành thân thiện hành.
Dvīhi paṭhamapadehi catutthena ca padena anujānāti. Kāyaduccaritaṃ hitvāti tatiyena padena paṭikkhittanti. Mahāvibhaṅgo aciratapānādo.
He permits with the first two phrases and with the fourth phrase. By the third phrase, 'Having abandoned bodily misconduct,' it is rejected. The Mahāvibhaṅga; the Aciratapānāda.
Với hai câu đầu và câu thứ tư là cho phép. Với câu thứ ba ‘từ bỏ thân làm ác’ là ngăn cấm. (Trích) Đại Phân Tích, bắt đầu từ Aciravata.
Tatthimā uddānagāthā
Therein, these are the summary verses:
Trong ấy, đây là những kệ tóm lược.
Sace bhāyasi dukkhassa, mābhinandi anāgataṃ;
Vassakāle yathā chattaṃ, kusalāni kamatthake.
If one fears suffering; do not delight in the future; the sutta with the simile of an umbrella in the rainy season; wholesome deeds; the teaching that is just in sequence.
Nếu ngươi sợ khổ, chớ hoan hỷ vị lai; Giống như cây dù trong mùa mưa, các pháp thiện, và (kinh) về nghiệp là của riêng.
Sabbe dhammā anattāti, samāgataṃ vicālaye;
Na vo dukkhā pamokkhātthi, samatho ca vipassanā.
The sutta teaching 'All phenomena are not-self'; one should investigate the coming together; the sutta teaching 'There is no release from suffering for you,' etc.; tranquility and insight.
(Kinh) Tất cả các pháp là vô ngã, nên thẩm xét sự hội họp; (Kinh) Các ngươi không thể thoát khỏi khổ, và (kinh về) chỉ và quán.
Kāmacchandaṃ upādāya, yo so vitakkehi khajjati;
Subhāvitatte bojjhaṅge, so imaṃ vijaṭaye jaṭaṃ.
Clinging to sensual desire; whoever is consumed by thoughts; with the enlightenment factors well-developed; that being should clear away this tangle which is craving.
Do chấp thủ dục tham, người bị các tầm nuốt chửng; (Kinh) về giác chi được khéo tu tập, người ấy nên gỡ rối đám rối này.
Suññato lokaṃ avekkhassu, samādhibhāvi bhāvase;
Kāmaṃ kāmayamānassa, dhammacariyāya sugatiṃ.
Look upon the world as empty; one should manifestly develop concentration; the sutta teaching on desiring sensual pleasures; the sutta on attaining a good destination by practicing the Dhamma.
Hãy nhìn thế gian là trống không, hãy tu tập định; (Kinh) cho người mong cầu dục lạc, (kinh) cõi lành do hành pháp.
Haññate sabbā mucceva, nippoṭhento catuddisā;
Yo kāme parivajjeti, pārichattopameva ca.
Afflicted by dangers crushing from the four directions; one should overcome them all; whoever avoids sensual pleasures; and the sutta with the simile of the Pārichatta tree.
Bị sát hại, bị nghiền nát từ bốn phương; Người nào tránh xa các dục, và (kinh) ví dụ cây san hô.
Yāni karoti puriso, lokadhammā pakāsitā;
Sukho vipāko puññānaṃ, tatiyaṃ aññaṃ na vijjati.
Whatever deeds a man does; the worldly conditions are shown; the result of meritorious deeds is happiness; other than the third, none is found.
Những gì người làm, các pháp thế gian được trình bày; Quả của phước là an lạc, không có (quả) nào khác ngoài quả thứ ba.
Ādānassa bhayaṃ ñatvā, jāyate jīyatepi ca;
Kāmā hi citrā vividhā, atha loṇasallopamaṃ.
Knowing the danger for one who does not give; one is born and also grows old; for wondrous sensual pleasures are of many different kinds; furthermore, the sutta taught with the simile of salt.
Biết sự nguy hiểm của việc không bố thí, (chúng sanh) sinh ra và cũng già đi; Các dục vọng thật đa dạng và nhiều loại, và rồi (kinh) ví dụ cục muối.
Na hi pāpaṃ kataṃ kammaṃ, agatīhi ca gacchati;
Yassindriyāni samathaṅgatāni, tatheva pañcañāṇiko.
An evil deed that is done is not good; one also goes by the wrong paths; the one whose faculties have reached tranquility; likewise, the five of the Ñāṇika Sutta.
Nghiệp ác đã làm thật không tốt, và đi đến các ác thú; Vị nào có các căn đã được lắng dịu, cũng vậy là năm (pháp) và (kinh) người có trí tuệ.
Sattiyā viya omaṭṭho, viññāṇañca patiṭṭhitā;
Yo pāṇamatipāteti, tīṇi duccaritāni ca.
The sutta taught as 'like being pierced by a spear'; and consciousness is established; whoever destroys the life of beings; and the three kinds of misconduct.
(Kinh) Như bị đâm bởi ngọn giáo, và thức được an trú; Người nào sát sanh, và ba ác hạnh.
Saṭṭhivassasahassāni, khaṇaṃ laddhāna dullabhaṃ;
Ayasāva malaṃ samuṭṭhitaṃ, catūsu paṭipattisu.
For sixty thousand years; having obtained the rare moment; rust arisen from iron; in the four practices.
Sáu mươi ngàn năm, đã được khoảnh khắc khó được; (Kinh) như vết gỉ sét sinh từ sắt, (kinh) về bốn sự thực hành.
Nelaṅgo setapacchādo, atha gopālakopamaṃ;
Sukho viveko tuṭṭhassa, vitakkā ca sudesitā.
Having good features, with a white covering; furthermore, the simile of the cowherd; for the contented person, happiness is seclusion; and thoughts are well-expounded.
(Kinh) người có chi phần tốt đẹp và tấm choàng trắng, và rồi (kinh) ví dụ người chăn bò; Sự viễn ly là an lạc cho người biết đủ, và các tầm được khéo thuyết giảng.
Pheṇapiṇḍopamaṃ rūpaṃ, brahā uju patāpavā;
Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, anaññā tīṇi indriyāni.
The sutta teaching that form is like a lump of foam; great, upright, and majestic; in the world, wisdom indeed is supreme; the three faculties beginning with 'I shall come to know the unknown'.
(Kinh) sắc ví như bọt nước, (kinh) Phạm thiên, thẳng thắn, và oai lực; Trí tuệ là tối thắng trong thế gian, và ba quyền khác.
Kāmesu sattā kāmasaṅgasattā, atha vaṇṇo rahassavā;
Sabbe dhammā anattāti, ariyasaccañca desitaṃ.
The sutta on beings attached to sensual pleasures, stuck by the attachment of passion; furthermore, that which is worthy of praise; the sutta teaching that all phenomena are not-self; and the Noble Truth is taught.
(Kinh) chúng sanh đắm trước trong các dục, dính mắc vào ái dục; và rồi (kinh) về sự tán thán và bí mật; (Kinh) tất cả các pháp là vô ngã, và Thánh đế được thuyết giảng.
Eseva maggo natthañño, sotāpannoti byākare;
Yassindriyāni subhāvitāni, atha dhammapadehi ca.
The sutta teaching 'This is the path, there is no other'; one should declare as 'a stream-enterer'; the one for whom the faculties are well-developed; furthermore, by the collections of Dhamma.
(Kinh) Đây là con đường, không có con đường nào khác, nên tuyên bố là bậc Dự lưu; Vị nào có các căn được khéo tu tập, và rồi (kinh) về các pháp cú.
Vacasā manasā ceva, pañcakkhandhā aniccato;
Yāni karoti puriso, tīṇi sucaritāni ca.
By speech and by mind; the five aggregates as impermanent; whatever deeds a man does; and the three kinds of good conduct.
Bằng lời nói và bằng ý, (kinh) năm uẩn là vô thường; Những gì người làm, và ba thiện hạnh.
Rūpaṃ vedayitaṃ saññā, pañcakkhandhā pakāsitā;
Yo evaṃ paṭipajjati, brahmā ceva phalāni ca.
Form, feeling, perception; the five aggregates are shown; whoever practices thus is both the noble practice and its fruits.
Sắc, thọ, tưởng, năm uẩn được trình bày; Người nào thực hành như vậy, (là) Phạm hạnh và các quả.
Sabbapāpassa akaraṇaṃ, vimokkhā taṃ hi desitā;
Natthi puttasamaṃ pemaṃ, devānaṃ asurāna ca.
The non-doing of all evil; that liberation indeed is taught; there is no love equal to the love for a son; of devas and asuras as well.
Không làm mọi điều ác, giải thoát ấy được thuyết giảng; Không có tình thương nào bằng tình thương con, (kinh về) chư thiên và a-tu-la.
Yaṃ pattaṃ yañca pattabbaṃ, nandati socati niccaṃ;
Ye keci bhūtā bhavissanti, satthāro ca pakāsitā.
The sutta teaching 'what has been attained and what is to be attained'; one constantly rejoices and sorrows; whatever beings will be; and the teachers are shown.
(Kinh) Điều đã đạt và điều sẽ đạt, thường hoan hỷ và sầu muộn; Bất cứ chúng sanh nào sẽ có, và các bậc đạo sư được trình bày.
Yañca kāmasukhaṃ loke, bojjhaṅgā ca sudesitā;
Maggānaṭṭhaṅgiko seṭṭho, tayo ca aggapattiyo.
The sutta on whatever sensual pleasure there is in the world; and the enlightenment factors are well taught; among paths, the Eightfold is supreme; and the attainments of the highest are three.
Và lạc thú của dục trong thế gian, và các giác chi được khéo thuyết giảng; Trong các con đường, Bát chi đạo là tối thắng, và ba sự chứng đắc cao nhất.
Kāyena saṃvaro sādhu, karaṇīyañca desitaṃ;
Natthi attasamaṃ pemaṃ, ariyā tīṇi ca desitā.
Restraint by way of the body is good; and what should be done is taught; there is no love equal to the love for oneself; and the three Noble Ones are taught.
Sự phòng hộ bằng thân là tốt lành, và điều cần làm được thuyết giảng; Không có tình thương nào bằng tình thương thân, và ba bậc Thánh được thuyết giảng.
Kāyena kusalaṃ abhirato, vinayañca kāmasukhaṃ loke;
Bojjhaṅgā ca sudesitā, duddasaṃ anataṃ ceva parāparaṃ ca;
Delighting in the wholesome by way of the body; and the removal of sensual pleasure in the world; and the enlightenment factors are well taught; the unconditioned, which is greatly longed for, is difficult to see.
Hoan hỷ trong thiện pháp bằng thân, và sự điều phục lạc thú của dục trong thế gian; Các giác chi được khéo thuyết giảng, và (pháp) vô tận, bờ kia bờ này, thật khó thấy.
In the Peṭakopadesa, the second ground, named 'The Establishment of the Teaching', is completed.
Trong Peṭakopadesa, địa thứ hai tên là Sāsanapaṭṭhāna đã hoàn tất.
3. The Third Ground: The Establishment of a Being
Địa thứ ba, Nền tảng của Kinh.
32. Tattha katamaṃ suttādhiṭṭhānaṃ?
32. Herein, what is the establishment of a being?
3. Trong đó, nền tảng của Kinh là gì?
Lobhādhiṭṭhānaṃ dosādhiṭṭhānaṃ mohādhiṭṭhānaṃ alobhādhiṭṭhānaṃ adosādhiṭṭhānaṃ amohādhiṭṭhānaṃ kāyakammādhiṭṭhānaṃ vācākammādhiṭṭhānaṃ manokammādhiṭṭhānaṃ saddhindriyādhiṭṭhānaṃ vīriyindriyādhiṭṭhānaṃ satindriyādhiṭṭhānaṃ samādhindriyādhiṭṭhānaṃ paññindriyādhiṭṭhānaṃ.
The establishment of greed, the establishment of hatred, the establishment of delusion, the establishment of non-greed, the establishment of non-hatred, the establishment of non-delusion, the establishment of bodily action, the establishment of verbal action, the establishment of mental action, the establishment of the faculty of faith, the establishment of the faculty of energy, the establishment of the faculty of mindfulness, the establishment of the faculty of concentration, the establishment of the faculty of wisdom.
32. Nền tảng tham, nền tảng sân, nền tảng si, nền tảng vô tham, nền tảng vô sân, nền tảng vô si, nền tảng thân nghiệp, nền tảng khẩu nghiệp, nền tảng ý nghiệp, nền tảng tín quyền, nền tảng tấn quyền, nền tảng niệm quyền, nền tảng định quyền, nền tảng tuệ quyền.