Bản dịch
PE 1 — Lãnh Vực Thứ Nhất: Bày Tỏ Về Bốn Chân Lý Cao Thượng
1. Ariyasaccappakāsanapaṭhamabhūmi
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Kính lễ chư vị Chánh Đẳng Giác, các bậc nhìn thấy mục đích tối hậu, và đã đạt đến sự toàn hảo của các đức tính như là: giới, v.v...
(1). Có hai nhân, hai duyên đưa đến sự sanh khởi chánh kiến cho vị Thinh Văn: lời phát biểu từ người khác có sự kết nối với Chân Lý, và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần.
(2). Ở đấy, lời phát biểu từ người khác là gì? Là lời chỉ bảo, lời giáo huấn, lời chỉ dạy, lời thuyết giảng về Chân Lý có sự phù hợp với Chân Lý từ người khác (nói). Bốn Chân Lý là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Lời chỉ bảo, sự chỉ rõ, sự khai mở, sự chia sẻ, sự làm rõ, sự bày tỏ về bốn Chân Lý này được gọi là “lời nói có sự phù hợp với Chân Lý.”
(3). Ở đấy, tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là gì? Tác ý đúng đường lối thuộc nội phần nghĩa là: tác ý đúng đường lối nào ở trong (phạm vi) Giáo Pháp như đã được chỉ bảo (và) không hướng ra đối tượng thuộc ngoại phần; điều này được gọi là tác ý đúng đường lối thuộc nội phần. Biểu hiện đúng đường lối – của việc ấy (!) – là cánh cửa, là lộ trình, là cách thức.
Giống như một người, trong khi cọ xát những nhánh củi khô, không còn nhựa, với phần trên của đồ tạo lửa khô ráo ở trên mặt đất thì có thể đưa đến việc đạt được ngọn lửa. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Đúng đường lối đưa đến việc đạt được ngọn lửa. Tương tự y như thế, đối với người này là việc vị ấy tác ý đến lời chỉ bảo Giáo Pháp không bị sai lệch về (bốn Chân Lý) Khổ– Tập–Diệt–Đạo; điều này được gọi là tác ý đúng đường lối thuộc nội phần.
(4). Giống như ba ví dụ chưa từng được nghe trước đây và trước đây chưa từng được nghe (sẽ) làm sáng tỏ. “Bất cứ người nào chưa được xa lìa sự luyến ái về các dục”… Hai ví dụ (đầu) được thực hiện không đúng đường lối, ví dụ thứ ba đúng đường lối đã được nói đến.
Ở đấy, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là hai duyên. Tuệ sanh khởi do lời phát biểu từ người khác được gọi là ‘tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được nghe (tuệ văn).’ Tuệ sanh khởi do tác ý đúng đường lối thuộc nội phần được gọi là ‘tuệ có yếu tố tạo thành do suy nghiệm (tuệ tư).’ Hai tuệ này cần được biết, và hai duyên trước đây, đây là hai nhân, hai duyên đưa đến sự sanh khởi chánh kiến cho vị Thinh Văn.
(5). Ở đấy, ‘người không nhận thức được ý nghĩa của điều đã được chỉ bảo có sự kết nối với Chân Lý ở lời phát biểu từ người khác sẽ là người có sự cảm nhận được ý nghĩa,’ sự kiện này không xảy ra; và ‘người không có sự cảm nhận được ý nghĩa sẽ tác ý đúng đường lối,’ sự kiện này không xảy ra. Còn ‘người nhận thức được ý nghĩa của điều đã được chỉ bảo có sự kết nối với Chân Lý ở lời phát biểu từ người khác sẽ là người có sự cảm nhận được ý nghĩa,’ sự kiện này có xảy ra; và ‘người có sự cảm nhận được ý nghĩa sẽ tác ý đúng đường lối,’ sự kiện này có xảy ra. Điều này là nhân, điều này là đối tượng, điều này là cách thức cho việc đi ra khỏi (luân hồi) của vị Thinh Văn; không có cách nào khác.
(6). Và người không gắn bó với việc nhận thức ý nghĩa của Kinh, thậm chí người có sự gắn bó với lời phát biểu mà không nhận thức được ý nghĩa ởlời phát biểu từ người khác,thì cũng không thể nào chứng đắc pháp thượng nhân, sự biết và sự thấy xứng đáng bậc Thánh; vì thế, người mong muốn Niết Bàn nên tầm cầu các ý nghĩa thông qua nội dung điều đã được nghe. Ở đấy, đây là sự tuần tự trong việc tầm cầu (tìm hiểu): Mười sáu cách truyền đạt, năm phương pháp, mười tám thuật ngữ căn bản.
Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:
1. Mười sáu cách truyền đạt là sự hướng dẫn, năm phương pháp là sự tầm cầu về giáo lý, mười tám thuật ngữ căn bản đã được diễn giải bởi vị thuộc dòng họ Kaccāyana.
(7). Ở đấy, mười sáu cách truyền đạt là những gì?
Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng, tướng trạng, bốn sự dàn trận, sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, từ đồng nghĩa, sự mô tả, sự liệt kê, sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, sự xếp loại. Đây là mười sáu cách truyền đạt.
Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:
2. Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng và tướng trạng, bốn sự dàn trận và sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, –
3. – từ đồng nghĩa và sự mô tả, sự liệt kê và sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, và sự xếp loại là mười sáu (cách truyền đạt).
Ở đấy, năm phương pháp là những gì? Xoay vần với sự hoan hỷ, ba trình tự, sự tiêu khiển của các sư tử, việc định hướng, cái móc câu.
Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:
4. ‘Xoay vần với sự hoan hỷ’ là (phương pháp) thứ nhất, ‘ba trình tự’ là thứ nhì, phương pháp thứ ba ấy có tên là ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’
5. Họ đã nói ‘việc định hướng’ là phương pháp và cách bày tỏ thứ tư, thứ năm có tên là ‘cái móc câu;’ tất cả năm phương pháp đã được đề cập.
Ở đấy, mười tám thuật ngữ căn bản là những gì? Vô minh, tham ái, tham, sân, si, tịnh tưởng, lạc tưởng, thường tưởng, ngã tưởng, chỉ tịnh, minh sát, vô tham, vô sân, vô si, bất tịnh tưởng, khổ não tưởng, vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Đây là mười tám thuật ngữ căn bản. Ở đấy, chín thuật ngữ về bất thiện là nơi tất cả bất thiện hội tụ lại, chín thuật ngữ về thiện là nơi tất cả thiện hội tụ lại.
Chín thuật ngữ về bất thiện, nơi tất cả bất thiện hội tụ lại, là các thuật ngữ nào? Là các thuật ngữ từ ‘vô minh’ ... cho đến ... ‘ngã tưởng;’ chín thuật ngữ về bất thiện này là nơi tất cả bất thiện hội tụ lại. Chín thuật ngữ về thiện, nơi tất cả thiện hội tụ lại, là các thuật ngữ nào? Là các thuật ngữ từ ‘chỉ tịnh’ ... cho đến ... ‘vô ngã tưởng;’ chín thuật ngữ về thiện này là nơi tất cả thiện hội tụ lại. Đây là mười tám thuật ngữ căn bản.
Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:
6. Tham ái và luôn cả vô minh, tham, sân, và tương tự như thế là si, và bốn sự trái khuấy; chín thuật ngữ (này) là lãnh vực của ô nhiễm.
7. Chỉ tịnh và minh sát, và ba gốc rễ thuộc về thiện, và luôn cả (bốn) sự thiết lập niệm; chín thuật ngữ (này) là lãnh vực của các quyền.
8. Thiện với chín thuật ngữ, tất cả bất thiện được kết nối với chín (thuật ngữ). (Cả hai nhóm) chín thuật ngữ căn bản này là mười tám thuật ngữ.
Trong số mười tám thuật ngữ căn bản này, chín thuật ngữ về bất thiện là nhân sanh Khổ (Khổ Tập), chín thuật ngữ về thiện là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Khổ Diệt). Như thế, đối với nhân sanh (Tập), Khổ là quả; đối với lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo), sự diệt tận (Diệt, Niết Bàn) là quả. Bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được đức Thế Tôn chỉ bảo ở Bārāṇasī.
Ở đấy, có vô số mẫu tự, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, cách diễn giải đối với Chân Lý Cao Thượng về Khổ đã được chỉ bảo nhằm phơi bày, bày tỏ, khai mở, phân tích, làm rõ, công bố ý nghĩa của chính điều này; tương tự như vậy đối với tất cả các Chân Lý (Tập, Diệt, Đạo). Như thế, mỗi một Chân Lý nên được tầm cầu (tìm hiểu) thông qua vô số mẫu tự, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, cách diễn giải; và điều ấy, hơn nữa, có ý nghĩa với tính chất đa dạng về ý nghĩa, có văn tự với tính chất đa dạng về văn tự.
Bởi vì, bất cứ vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào nói như vầy: “Tôi sẽ bác bỏ Khổ này và sẽ công bố Khổ khác,” đối với vị ấy, khi được hỏi về sự việc của chính lời nói ấy thì vị ấy sẽ không chứng minh được; tương tự như vậy về các Chân Lý (Tập, Diệt, Đạo).
Vào đêm đức Thế Tôn đã chứng quả Toàn Giác và vào đêm Ngài đã viên tịch Niết Bàn do không còn chấp thủ, trong khoảng thời gian này, bất cứ sutta, geyya, veyyākaraṇa, gāthā, udāna, itivuttaka,jātaka, abbhūta- dhamma, vedalla nào đã được thuyết bởi đức Thế Tôn, toàn bộ Bánh Xe Pháp ấy đã được chuyển vận. Không có bất cứ điều gì trong sự chỉ bảo Giáo Pháp của chư Phật Thế Tôn là ở ngoài Bánh Xe Pháp. Toàn bộ Kinh (lời dạy) của Ngài về các pháp của bậc Thánh cần được tầm cầu. Ở đấy, bốn Chân Lý này là vững chắc, có các phần soi sáng cho việc học hiểu.
Ở đấy, Khổ là gì? Sanh, già, bệnh, chết, một cách tóm tắt năm tập hợp về chấp thủ (ngũ thủ uẩn) là Khổ.
Ở đấy, đây là sự diễn giải về tướng trạng: Sanh có sự hiện khởi là tướng trạng, già có sự chín muồi là tướng trạng, bệnh có trạng thái khổ do (thọ) khổ là tướng trạng, chết có sự lìa đời là tướng trạng, sầu muộn có sự bứt rứt về việc xa lìa và biến hoại của đối tượng yêu mến là tướng trạng, bi thảm có việc nói lảm nhảm là tướng trạng, khổ đau có sự ép bức thân là tướng trạng, ưu phiền có sự ép bức tâm là tướng trạng, lo âu có sự thiêu đốt tâm là tướng trạng, sự gần gũi đối tượng không yêu mến có sự kết hợp với đối tượng không hợp ý là tướng trạng, sự xa lìa đối tượng yêu mến có sự tách rời với đối tượng hợp ý là tướng trạng, tổn thất có sự thối lui của chủ tâm là tướng trạng, năm thủ uẩn có sự không biết toàn diện là tướng trạng, già và chết có sự chín muồi và sự tử vong là tướng trạng, tử vong và tái sanh có sự tử vong và sự hiện khởi là tướng trạng, Tập có sự nối liền tái sanh và sự hạ sanh là tướng trạng, Diệt có sự từ bỏ hoàn toàn Tập là tướng trạng, Đạo có sự đoạn trừ trạng thái tiềm ẩn là tướng trạng, Khổ có bệnh tật là tướng trạng, Tập có sự sanh khởi là tướng trạng, Đạo có sự đi ra khỏi là tướng trạng, Diệt có sự an tịnh là tướng trạng, Niết Bàn Giới không còn dư sót có sự không nối liền tái sanh và sự diệt tận của hữu là tướng trạng, Khổ và Tập, Khổ và Diệt, Khổ và Đạo, Tập và Khổ, Tập và Diệt, Tập và Đạo, Diệt và Tập, Diệt và Khổ, Diệt và Đạo, Đạo và Diệt, Đạo và Tập, Đạo và Khổ.
(8). Ở đấy, có các Kinh này:
Ở đấy, sanh là gì?
01. “Việc đầu tiên (của sự tục sanh) là một đêm (hoặc một ngày) bào thai trú ở bụng mẹ. Ngay khi đã được hình thành, nó (liên tục) phát triển. Trong khi tiến triển, nó không dừng lại.”
Kinh ở Tăng Chi là: “Này Ānanda, đây là tám sự tái sanh liên quan đến bố thí;” đây là sanh.
Ở đấy, già là gì?
02. Những người đã không thực hành Phạm hạnh, đã không đạt được tài sản lúc còn trẻ, ví như những con cò già trầm tư ở hồ nước cạn, không còn cá. Năm dấu hiệu báo trước ở các vị Thiên nhân; đây là già.
Ở đấy, bệnh là gì?
03. Tự mình với việc ấy, tâu đại vương, do đâu bệ hạ cũng cảm nhận được: ‘Già là cái này’? Tâu vị Sát-đế-lỵ, có kết quả của nghiệp, thế gian quả thật không điều khiển được nghiệp. Ba hạng người bệnh; đây là bệnh.
Ở đấy, chết là gì?
04. Cũng giống như cái chậu bằng đất sét đã được làm ra bởi người thợ gốm, cái nhỏ và cái lớn, cái đã nung và cái chưa nung, tất cả có sự bể vỡ là chặng cuối; mạng sống của loài người là tương tự như vậy.
05. Hãy nhìn xem những kẻ đang chao động về vật đã được chấp là của ta, tựa như những con cá ở chỗ ít nước, ở dòng chảy bị cạn kiệt. Và sau khi nhìn thấy điều ấy, nên sống không chấp là của ta, không tạo nên sự vướng bận ở các hữu.
Kinh Udakappana; đây là chết.
Ở đấy, sầu muộn là gì?
06. Sầu muộn ở đời này, sầu muộn sau khi chết, kẻ làm ác sầu muộn ở cả hai nơi. Sau khi nhìn thấy sự ô nhiễm ở việc làm của bản thân, kẻ ấy sầu muộn, kẻ ấy sầu khổ. Ba uế hạnh (do thân khẩu ý); đây là sầu muộn.
Ở đấy, bi thảm là gì?
07. Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm, là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái. Bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn: ‘Vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi chết từ nơi đây? Ba sự hư hỏng (về giới, về tâm, về nhận thức); đây là bi thảm. Ở đấy, khổ đau là gì?
08. Đã có trăm cây cọc sắt, tất cả có cảm thọ tự chính mình, chúng bị thiêu đốt bởi chính ngọn lửa, bị bao trùm bởi đám lửa. Kinh thuộc Tương Ưng, ở các Tương Ưng Sự Thật là: “Sự bực bội ấy quả thật lớn lao;” đây là khổ đau. Ở đấy, ưu phiền là gì?
09. Kẻ ấy, bị chế ngự bởi các suy tư, trầm tư như là kẻ khốn khổ. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố của những người khác, kẻ thuộc hạng thế ấy trở nên tủi hổ. Đây là hai pháp làm cho bứt rứt; đây là ưu phiền. Ở đấy, lo âu là gì?
10. Giống như bễ lò của những người thợ rèn được thiêu đốt ở bên trong, không ở bên ngoài, cũng tương tự như vậy, trái tim của trẫm bị thiêu đốt ở bên trong, không ở bên ngoài. Ba ngọn lửa (tham, sân, si); đây là lo âu. Ở đấy, sự gần gũi đối tượng không yêu mến là gì?
11. Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sau khi sanh lên từ khối sắt nó ăn mòn chính khối sắt ấy, tương tự như thế, các việc làm của bản thân dẫn dắt kẻ có sự thọ dụng bốn món vật dụng thiếu sự quán xétđi đến khổ cảnh. Kinh thuộc Tăng Chi, ở các Nhóm Hai Pháp là: “Hai hạng người này gièm pha đức Như Lai;” đây là sự gần gũi đối tượng không yêu mến. Ở đấy, sự xa lìa đối tượng yêu mến là gì?
12. Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao, khi thức giấc, người không còn nhìn thấy, tương tự như thế, với người được yêu thương đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa. “Các vị Thiên nhân ấy, sau khi nhận ra hiện tượng lìa đời, mới chỉ dạy với ba lời nói;” đây là sự xa lìa đối tượng yêu mến. Luôn cả việc không đạt được điều ước muốn là: “Ba người con gái của Ma Vương.”
13. Nếu đối với người ấy, – (tức là) đối với người đang ham muốn, đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi, – các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên. Một cách tóm tắt năm tập hợp về chấp thủ (ngũ thủ uẩn) là Khổ.
14. Mắt, tai, và mũi, lưỡi, thân, kế đó là ý, các vật-chất-thế-gian này là ghê rợn, là nơi các phàm nhân bị dính mắc. “Này các tỳ khưu, đây là năm uẩn;” đây là Khổ.
Ở đấy, già và chết là những gì?
15. Quả thật, mạng sống này là ít ỏi, thậm chí ít hơn một trăm tuổi cũng chết rồi. Nếu người nào vượt qua (hạn tuổi ấy) vẫn còn sống, người ấy rồi cũng chết vì già. Kinh thuộc Tương Ưng, ở Tương Ưng Pasenadi là: “Thái hậu của trẫm đã qua đời;” đây là già và chết.
Ở đấy, tử vong và tái sanh là những gì?
16. “Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác.” Đây là tử vong và tái sanh.
Sau khi biết về Khổ theo tướng trạng nhờ vào những Kinh này và những Kinh khác có tính chất tương tự đã được xếp vào chín thể loại về Kinh ấy, Chân Lý Cao Thượng về Khổ có tính chất phổ biến và có tính chất không phổ biến nên được diễn giải. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn (gāthā), hoặc thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa; đây là Khổ.
Ở đấy, Khổ Tập là gì?
17. “Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, trong khi không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc, những người bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn.” Kinh về bốn lậu hoặc; đây là nhân sanh Khổ (Khổ Tập).
Ở đấy, sự diệt tận Khổ (Khổ Diệt) là gì?
18. “Ở người nào không có xảo quyệt trú ngụ, không có ngã mạn, người nào có tham đã lìa, không sở hữu, không mong mỏi, có sự giận dữ đã được xua đi, có bản thân đã được tịch tịnh, người ấy là Bà-la-môn, người ấy là Sa-môn, người ấy là tỳ khưu.” “Này các tỳ khưu, đây là hai sự giải thoát: xa lìa luyến ái là sự giải thoát của tâm và xa lìa vô minh là sự giải thoát của tuệ;” đây là Diệt.
Ở đấy, Đạo là gì?
19. Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, đưa đến sự thanh tịnh của nhận thức. Vì thế, các ngươi hãy thực hành đạo lộ này; đạo lộ này là sự mê mờ đối với Ma Vương. “Này các tỳ khưu, đây là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ;” đây là Đạo.
Ở đấy, bốn Chân Lý Cao Thượng là những gì?
20. “Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Các pháp có nguồn sanh khởi do nhân, nhân là Tập; lời nói của đức Thế Tôn là Đạo; sự diệt tận của các pháp ấy là Diệt.
Bởi vì bất cứ những ai sống có sự quan sát đến niềm hứng thú ở các pháp đưa đến ràng buộc, thì ô nhiễm tham ái phát triển (ở những người ấy); do duyên tham ái, thủ (sanh khởi) –nt– Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Ở đấy, sự ràng buộc là Tập; các pháp đưa đến ràng buộc và sầu–bi– khổ–ưu–não sanh khởi, đây là Khổ; việc quan sát đến sự bất lợi ở các pháp đưa đến ràng buộc là Đạo; người được hoàn toàn thoát khỏi sanh, già, các bệnh tật, chết, các sầu muộn, bi thảm ... cho đến ... các lo âu, đây là Niết Bàn.
Đây là bốn Chân Lý.
Ở đấy, Niết Bàn Giới không còn dư sót là gì?
21. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đã đi đến sự chấm dứt, thì không có sự ước lượng (phỏng đoán). Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, thì điều ấy không còn có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được bứng lên, các nền tảng cho việc nói đến cũng được bứng lên.”
Kinh Godhika ở Tương Ưng Bộ.
Đây là Niết Bàn Giới không còn dư sót.
Đây là những Kinh có tính chất không phổ biến. Sau khi xác định thông qua tướng trạng của các Chân Lý ở mỗi trường hợp mà các Chân Lý đã được diễn giải, ý nghĩa ấy nên được tầm cầu thông qua vô số các văn tự. Ở đấy, có sự xoay quanh ý nghĩa với văn tự, rồi lại có sự xoay quanh văn tự với ý nghĩa, có vô số các văn tự cho mỗi một trường hợp ấy; bốn Chân Lý Cao Thượng nên được diễn giải bằng những Kinh này theo như đã được trình bày. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn, thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa (!) đã được xếp vào năm bộ (Kinh). Đây là các Kinh có tính chất không phổ biến.
Đây là các câu kệ tóm lược của những phần ấy: (a) Việc đầu tiên (của sự tục sanh) là một đêm, tám sự tái sanh liên quan đến bố thí, những người đã không thực hành Phạm hạnh, năm dấu hiệu báo trước. (b) Tự mình với việc ấy, do đâu tâu đại vương, và luôn cả ba hạng người bệnh, cũng giống như bởi người thợ gốm, Kinh Udakappana về vật đã được chấp là của ta. (c) Sầu muộn ở đời này, sầu muộn sau khi chết, và ba uế hạnh, bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, cho đến ba sự hư hỏng. (d) Đã có trăm cây cọc sắt, sự bực bội ấy còn lớn lao hơn, kẻ ấy bị chế ngự bởi các suy tư, hai pháp làm cho bứt rứt là như thế ấy. (e) Giống như bễ lò của những người thợ rèn, ba ngọn lửa đã được bày tỏ, chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sự gièm pha đức Như Lai. (f) Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao, sự chỉ dạy của các vị Thiên nhân gồm ba phần, và ba người con gái của Ma Vương, bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên. (g) Mắt, tai, và mũi, năm uẩn đã được bày tỏ, quả thật mạng sống này là ít ỏi, thái hậu của trẫm đã qua đời. (h) Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, đây là tái sanh và tử vong, bị dính mắc, bị ràng buộc ở các dục, thêm nữa là bốn lậu hoặc. (i) Ở người nào không có xảo quyệt trú ngụ, đây là hai sự giải thoát của tâm, chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, các yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được chỉ bảo. (j) Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, có sự quan sát các pháp đưa đến ràng buộc, đối với vị đã đi đến sự chấm dứt thì không có sự ước lượng, Godhika đã viên tịch Niết Bàn. Đây là mười câu kệ tóm lược của những phần ấy.
Ở đấy, các Kinh này là có tính chất phổ biến; ở những Kinh này các Chân Lý có tính chất phổ biến đã được chỉ bảo theo chiều thuận, theo chiều nghịch, và theo cả hai cách xen lẫn nhau. Ở đấy, đây là điểm khởi đầu:
22. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế giới bị bao trùm bởi vô minh, không chói sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là vật làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Ở đấy, vô minh và hoài nghi là Tập; sự nguy hiểm lớn lao là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Đoạn văn thuộc thể veyyākaraṇa (!) ở phần Các Tương Ưng về Tâm, thuộc Tương Ưng Bộ là: “Sự ràng buộc và các pháp đưa đến ràng buộc.” Ở đấy, sự ràng buộc là Tập; các pháp đưa đến ràng buộc là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập.
Ở đấy, Khổ và Diệt là gì?
23. Đối với vị tỳ khưu có tham ái ở hữu đã được trừ tuyệt, có tâm an tịnh, việc luân hồi tái sanh đã được cạn kiệt hẳn, đối với vị ấy không có sự hiện hữu lại nữa.
Ở đấy, tâm là Khổ; sự cắt đứt đối với tham ái ở hữu là Khổ Diệt. “Việc luân hồi tái sanh đã được cạn kiệt hẳn, đối với vị ấy không có sự hiện hữu lại nữa” là sự diễn giải. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Diệt.
“Này các tỳ khưu, đây là hai sự giải thoát: sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.” Ở đấy, tâm là Khổ; sự giải thoát là Diệt. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Diệt.
Ở đấy, Khổ và Đạo là gì?
24. Sau khi biết được thân này tương tự chậu đất nung, sau khi thiết lập tâm này tương tự thành trì, nên tấn công Ma Vương bằng vũ khí trí tuệ, và nên bảo vệ điều đã chiến thắng, nên có sự không ngơi nghỉ.
Ở đấy, thân tương tự chậu đất nung và tâm tương tự thành trì là Khổ; việc “nên tấn công Ma Vương bằng vũ khí trí tuệ” là Đạo. Đây là hai Chân Lý.
“Này các tỳ khưu, cái gì không thuộc về các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ cái ấy.” Ở đấy, sự dứt bỏ là Đạo; các pháp nào không thuộc về bản thân cần được dứt bỏ, từ ‘sắc’ ... cho đến ... ‘thức,’ là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Đạo.
Ở đấy, Khổ, Tập, và Đạo là gì?
25. Mọi sầu muộn hoặc than vãn, và những khổ đau ở thế gian với nhiều hình thức, những điều này phát khởi có liên quan đến đối tượng đáng yêu; khi đối tượng đáng yêu không có thì những điều này không có.
Ở đấy, những việc sầu muộn, bi thảm, và khổ não với nhiều hình thức được xuất phát từ yêu thương là Khổ; sự yêu thương là Tập; việc loại bỏ mong muốn và luyến ái, sự không hành động với đối tượng đáng yêu là Diệt. Đây là ba Chân Lý.
Du sĩ ngoại đạo Timbaruka phân biệt rằng: “Đã được tự mình tạo ra, đã được người khác tạo ra;” việc thẩm xét như thế là Khổ; lối thực hành trung đạo không đi theo hai thái cực ấy: ‘vô minh duyên cho các hành’ ... cho đến ... ‘sanh duyên cho lão tử’ là Khổ và Tập; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, lão tử là Khổ; vô minh, các hành, thamái, thủ là Tập. Như thế, “việc đã tự mình tạo ra có thể được thẩm xét” và khổ ở sự tùy thuận sanh khởi là Khổ và Tập đã được diễn giải. ‘Do sự diệt tận của vô minh (đưa đến) sự diệt tận của các hành’ ... cho đến ... ‘sự diệt tận của lãotử,’ điều này là Diệt. Đây là ba Chân Lý: Khổ, Tập, và Diệt.
Ở đấy, Khổ, Tập, và Đạo là gì?
26. “Người nào đã nhìn thấy khổ, rồi căn nguyên (của nó), làm thế nào người ấy có thể thiên về các dục? Bởi vì sau khi biết các dục là ‘sự quyến luyến ở thế gian,’ người có niệm nên học tập để loại bỏ chúng.”
Ở đấy, người nào đã nhìn thấy khổ, điều này là Khổ; từ đâu Khổ hình thành, điều này là Tập; cái đã được nhìn thấy, từ đâu nó hình thành, cho đến việc học tập để loại bỏ nó, điều này là Đạo. Đây là ba Chân Lý.
Kinh ‘Ví Dụ Người Chăn Bò’ ở Tăng Chi, Mười Một Pháp.
Ở đấy, việc biết về sắc, cái nào là sáu xứ, người ấy băng bó vết thương thế nào, cái nào là bến nước, người ấy đạt được sự vui mừng hân hoan cao quý liên hệ đến Giáo Pháp như thế nào, và nền tảng của bản ngã theo bốn cách (thiết lập niệm), điều này là Khổ; cho đến người trừ khử trứng của loài ruồi, điều này là Tập; việc biết về sắc, việc trừ khử trứng ruồi, việc băng bó vết thương, việc biết lộ trình, và sự thiện xảo ở hành xứ, điều này là Đạo. Các pháp còn lại thì có các nhân, có các duyên, có các sự nương tựa, người vắt sữa còn chừa lại (ít sữa cho bò con bú), nhiều sự cúng dường, các pháp là duyên của việc có bạn tốt, và việc biết lộ trình là nhân. Đây là ba Chân Lý.
Ở đấy, Khổ, Đạo, và Diệt là gì?
27. Với niệm hướng đến thân đã được thiết lập, đã được thu thúc ở sáu xúc xứ, vị tỳ khưu thường xuyên được định tĩnh, có thể biết được sự diệt tắt (ô nhiễm) của bản thân.
Ở đấy, niệm hướng đến thân, sáu xứ, toàn bộ điều này là Khổ; niệm hướng đến thân, sự thu thúc ở giới, định, và niệm ở nơi ấy, điều này là tuệ uẩn; tất cả giới uẩn, định uẩn, điều này là Đạo; Niết Bàn có thể được nhận biết bởi người an trú như vậy, điều này là Diệt. Đây là ba Chân Lý.
Sau khi đặt nền tảng ở giới, hai pháp cần được tu tập: chỉ tịnh và minh sát. Ở đấy, các pháp đồng sanh với tâm là Khổ; chỉ tịnh và minh sát là Đạo; sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là Diệt. Đây là ba Chân Lý.
Ở đấy, Tập và Diệt là gì?
28. Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên đã được cắm chặt vào nhiều nền tảng, các sự phát khởi có gốc rễ do vô trí, đã khởi tham muốn, tất cả đã được Ta làm cho chấm dứt, luôn cả gốc rễ. Ở đấy, “các sự phát khởi có gốc rễ do vô trí” với các điều (đã nêu) trước đó là Tập; “tất cả đã được Ta làm cho chấm dứt, luôn cả gốc rễ” là Diệt. Đây là hai Chân Lý.
“Do sự không thấu hiểu, do sự không thấu triệt bốn pháp này” nên được thực hiện với chi tiết về Giới, về Định, về Tuệ, về Giải Thoát thuộc về bậc Thánh. Ở đấy, sự không thấu hiểu, sự không thấu triệt bốn pháp này là Tập, sự thấu triệt lối dẫn dắt đến hữu là Diệt. Đây là Tập và Diệt.
Ở đấy, Tập và Đạo là gì?
29. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.” “Những dòng chảy nào,” điều này là Tập; tuệ, niệm, sự ngăn cản và sự chặn đứng, điều này là Đạo. Đây là hai Chân Lý.
Kinh Sañcetaniya: Người thợ đóng xe làm vành xe chắc chắn với thời gian sáu tháng đã được diễn giải. Ở đấy, thân nghiệp nào có sự cong queo, có sự sai sót, có sự khiếm khuyết, điều nào là trạng thái cong queo, trạng thái sai sót, trạng thái khiếm khuyết, đây là Tập; khẩu nghiệp, ý nghiệp là tương tự. Thân nghiệp nào không có sự cong queo, không có sự sai sót, không có sự khiếm khuyết, điều nào là tính chất không cong queo, tính chất không sai sót, tính chất không xấu xa, đây là Đạo; khẩu nghiệp, ý nghiệp là tương tự. Đây là hai Chân Lý: Tập và Đạo.
Ở đấy, Tập, Diệt, và Đạo là gì? “Đối với người nương tựa thì có dao động, đối với người không nương tựa thì không có dao động, khi không có dao dộng thì có an tịnh, khi có an tịnh thì không có thiên lệch, khi không có thiên lệch thì không có đến và đi, khi không có đến và đi thì không có tử và sanh, khi không có tử và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của khổ.”
Ở đấy, hai sự nương tựa là Tập; sự không nương tựa và sự không thiên lệch là Đạo; “không có đến và đi, không có tử và sanh, chính điều này là sự chấm dứt của khổ,” như thế là Diệt. Đây là ba Chân Lý.
Khi niệm ở thân không được thiết lập –nt– sự biết và thấy về giải thoát, đây là Tập. (?) Các sự giải thoát với mười một nơi nương tựa … cho đến … sự thành tựu nơi nương tựa an trú đối với vị có niệm ở thân đã được thiết lập. (?) Sự thu thúc về giới là liên quan đến hạnh ngụ ở mộ địa. (?)
‘Sự biết và thấy về giải thoát’ là Đạo; ‘sự giải thoát’ là Diệt. Đây là ba Chân Lý: Tập, Diệt, và Đạo.
Ở đấy, Diệt và Đạo là gì?
30. Với nghiệp đã được tự mình tạo ra, do đó, nhờ vào bản thân, vị đã đi đến sự tịch diệt, có sự nghi ngờ đã được vượt qua, và sau khi biết được sự không hiện hữu ở thế gian, giờ đây có sự tái sanh đã được cạn kiệt, vị ấy là tỳ khưu. ‘Với nghiệp’ là Đạo; ‘sự tái sanh đã được cạn kiệt’ là Diệt. Đây là hai Chân Lý.
“Có năm giải thoát xứ, bậc Đạo Sư thuyết giảng Giáo Pháp hoặc một vị đồng Phạm hạnh nào đó có sự hiểu biết” nên được thực hiện với chi tiết. Đối với vị có sự cảm nhận về ý nghĩa thì có sự hân hoan sanh, đối với vị được hân hoan thì có hỷ sanh, cho đến trong khi nhàm chán thì xa lìa luyến ái, điều này là Đạo; sự giải thoát là Diệt. Và năm giải thoát xứ với chi tiết là tương tự như vậy. Đây là hai Chân Lý: Diệt và Đạo.
Những Kinh này là có tính chất phổ biến. Sau khi xác định thông qua sự thấu triệt và thông qua tướng trạng với những Kinh có tính chất phổ biến này như đã được diễn giải, các Kinh khác nên được diễn giải (đầy đủ) không được bỏ bớt. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn, thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa.
Đây là mười sự triển khai liên quan các yếu tố có tính chất phổ biến và một sự diễn giải nhóm bốn có tính chất phổ biến. Và đây là phần diễn giải hỗn hợp. Một, năm, và sáu nhóm có chung thành phần là toàn bộ. Đây là hai sự tách riêng và mười (sự triển khai) trước đây. Đây là các Chân Lý theo mười hai cách triển khai.
Tất cả Kinh không chỉ có bấy nhiêu. Vị không xao lãng, sau khi tìm kiếm thể loại veyyākaraṇa (!) ấy hoặc gāthā (kệ ngôn) rồi, có thể diễn giải mà không phải liệt kê theo mười hai sự triển khai này.
Ở đấy, đây là sự tóm tắt: Toàn bộ Khổ đi đến sự hội tụ với bảy thuật ngữ. Với bảy thuật ngữ nào? Sự gần gũi đối tượng không yêu mến và sự xa lìa đối tượng yêu mến; toàn bộ Khổ nên được diễn giải với hai thuật ngữ này. Khổ có hai nơi nương tựa: thân và tâm; vì thế, được nói rằng: “Khổ thuộc thân và thuộc tâm.” Không có trường hợp khổ ấy là không thuộc thân hoặc không thuộc tâm; tất cả khổ nên được diễn giải theo hai [khổ]: thuộc thân và thuộc tâm. (Tất cả khổ) được tổng hợp theo ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do pháp tạo tác, trạng thái khổ do sự biến hoại; như thế, tất cả khổ ấy được tổng hợp theo ba trạng thái khổ. Và như vậy đây là ba loại khổ, hai loại khổ: thuộc thân và thuộc tâm, hai loại nữa là: sự gần gũi đối tượng không yêu mến và sự xa lìa đối tượng yêu mến; đây là khổ theo bảy loại.
Ở đấy, Tập có ba loại, không có loại thứ tư, không có loại thứ năm.
Ba loại nào? Tham ái, tà kiến, và nghiệp.
Ở đấy, chính tham ái là nhân sanh của hữu, nghiệp là trạng thái hạ liệt hay cao quý của người đã được hạ sanh như thế; điều này là Tập. Như thế, trạng thái hạ liệt và trạng thái cao quý ở các kiếp sống và ở các cảnh giới tái sanh cũng đã được tổng hợp theo ba trạng thái khổ; thân có sự nhận thức của người đã được gắn liền với tham ái ở hữu và đã bị bao trùm bởi vô minh được hình thành bởi hai gốc rễ (tham ái và vô minh), nó cũng đã được tổng hợp theo ba trạng thái khổ.
Tương tự như thế, tà kiến có thể được đưa đến từ sự trái khuấy; nó có thể được diễn giải theo bảy cách; một sự trái khuấy được diễn giải theo ba (cái bị trái khuấy) và bốn nền tảng của sự trái khuấy.
Ở đấy, một sự trái khuấy là gì? Sự nắm lấy điều sai lệch là sự liệt kê theo cách đối nghịch, giống như người nắm lấy điều sai lệch (nghĩ là): “thường”ở vô thường. Bốn sự trái khuấy là tương tự như vậy. Sự trái khuấy chỉ là một, và cái bị trái khuấy là (ba) gồm có: tưởng, tâm, và kiến (sự nhận biết, sự nhận thức, và sự nhận thấy).
Bốn nền tảng của sự trái khuấy là những gì? Thân, thọ, tâm, pháp.
Đối với vị bị rơi vào sự trái khuấy như vậy, bất thiện tăng trưởng. Ở đấy, sự trái khuấy của tưởng làm tăng trưởng bất thiện căn sân, sự trái khuấy của tâm làm tăng trưởng bất thiện căn tham, sự trái khuấy của kiến làm tăng trưởng bất thiện căn si. Ở đấy, quả của bất thiện căn sân là ba sự tà vạy: tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng; quả của bất thiện căn tham là ba sự tà vạy: tà tư duy, tà tinh tấn, tà định; quả của bất thiện căn si là hai sự tà vạy: tà kiến và tà niệm. Như vậy, bất thiện có nhân, có duyên: sự trái khuấy là duyên, các bất thiện căn là nhân; chính các pháp này theo cách đối nghịch là không thiếu không thừa, chúng nên được diễn giải theo hai duyên ở Diệt và ở Đạo liên quan đến sự trái khuấy từ những phần khác theo cách đối nghịch.
Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược:
(a) Thế giới bị bao trùm bởi vô minh, và tâm có sự ràng buộc, tham ái ở hữu đã được trừ tuyệt, và đây chính là hai cách giải thoát.
(b) Thân này tương tự chậu đất nung, cái gì không thuộc về các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ, mọi sầu muộn và than vãn, Timbaruka và việc đã được tự mình tạo ra.
(c) Khổ và kiến đã được sanh lên, và Kinh ‘Ví dụ người chăn bò,’ niệm đã được hướng đến thân, Ngài đã thuyết (!), chỉ tịnh và minh sát.
(d) Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, sự không thấu hiểu về bốn pháp này, những dòng chảy hiện diện ở thế gian, người thợ đóng xe làm vành xe chắc chắn.
(e) Đối với người nương tựa thì có dao động, niệm ở thân không được thiết lập, do hành động đã được tự mình tạo ra, và với các giải thoát xứ.
Lãnh vực thứ nhất - Sự Bày Tỏ về Bốn Chân Lý Cao Thượng - thuộc Peṭakopadesa do Ngài Mahākaccāyana thuyết giảng được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Tạng Thích (Peṭakopadesa) / Tam Tạng Chỉ Nam. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
The Peṭakopadesa Pāḷi
Kinh Peṭakopadesa (Tạng Thuyết Minh)
1. The First Ground for Expounding the Noble Truths
1. Chương thứ nhất làm sáng tỏ các Thánh đế
Namo sammāsambuddhānaṃ paramatthadassīnaṃ
Homage to the Perfectly Enlightened Ones, who are accustomed to seeing the supreme meaning,
Kính lễ các bậc Chánh Đẳng Giác, những vị thấy được nghĩa tối thượng,
Sīlādiguṇapāramippattānaṃ.
who have reached the pinnacle of virtues beginning with morality.
Những vị đã đạt đến sự toàn hảo về các đức hạnh như giới, v.v...
1. Duve hetū duve paccayā sāvakassa sammādiṭṭhiyā uppādāya – parato ca ghoso saccānusandhi, ajjhattañca yoniso manasikāro. Tattha katamo parato ghoso? Yā parato desanā ovādo anusāsanī saccakathā saccānulomo. Cattāri saccāni – dukkhaṃ samudayo nirodho maggo. Imesaṃ catunnaṃ saccānaṃ yā desanā sandassanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkiriyā † pakāsanā – ayaṃ vuccati saccānulomo ghosoti.
1. There are two causes, two conditions for the arising of right view in a disciple: the external voice connected with the truths, and internal wise attention. Herein, what is the external voice? Whatever teaching, advice, instruction, talk on truth, or discourse in conformity with truth is from another. The four truths are: suffering, its origin, its cessation, and the path. Whatever teaching, showing, explaining, analyzing, making plain, and expounding of these four truths there is—this is called the voice in conformity with truth.
1. Có hai nhân, hai duyên cho sự phát sinh chánh kiến của vị thinh văn – đó là tiếng nói từ người khác liên quan đến các sự thật, và sự tác ý như lý ở nội tâm. Trong ấy, thế nào là tiếng nói từ người khác? Lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy, lời nói về sự thật, sự thuận theo sự thật từ người khác. Có bốn sự thật – khổ, tập, diệt, đạo. Sự thuyết giảng, sự chỉ rõ, sự giải thích, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ, sự làm cho sáng tỏ về bốn sự thật này – đây được gọi là tiếng nói thuận theo sự thật.
2. Tattha katamo ajjhattaṃ yoniso manasikāro?
2. Herein, what is internal wise attention?
2. Trong ấy, thế nào là sự tác ý như lý ở nội tâm?
Ajjhattaṃ yoniso manasikāro nāma yo yathādesite dhamme bahiddhā ārammaṇaṃ anabhinīharitvā yoniso manasikāro – ayaṃ vuccati yoniso manasikāro.
Internal wise attention is this: when the Dhamma has been taught, one does not direct the mind outwards to an external object but gives wise attention; this is called wise attention.
Sự tác ý như lý ở nội tâm có nghĩa là: khi pháp được thuyết giảng, không hướng tâm đến đối tượng bên ngoài, sự tác ý như lý đó – đây được gọi là sự tác ý như lý.
Taṃākāro yoniso dvāro vidhi upāyo. Yathā puriso sukkhe kaṭṭhe vigatasnehe sukkhāya uttarāraṇiyā thale abhimanthamānaṃ bhabbo jotissa adhigamāya. Taṃ kissa hetu. Yoniso aggissa adhigamāya. Evamevassa yamidaṃ dukkhasamudayanirodhamaggānaṃ aviparītadhammadesanaṃ manasikaroti – ayaṃ vuccati yoniso manasikāro.
That is the manner, the proper way, the door, the method, the means. Just as a man, rubbing dry, sapless wood with a dry upper fire-stick on high ground, is capable of obtaining fire. For what reason? Because it is the proper way to obtain fire. In the same way, when one gives attention to the unerring teaching of the Dhamma concerning suffering, its origin, its cessation, and the path—this is called wise attention.
Trạng thái ấy là như lý, là cửa ngõ, là phương pháp, là phương tiện. Giống như một người đàn ông, khi cọ xát khúc gỗ khô, không còn nhựa, bằng que cọ khô trên mặt đất khô, có khả năng tạo ra lửa. Vì sao vậy? Vì đó là cách đúng đắn để tạo ra lửa. Cũng vậy, khi người ấy tác ý đến lời thuyết giảng không sai lạc về khổ, tập, diệt, đạo – đây được gọi là sự tác ý như lý.
Yathā tisso upamā pubbe assutā ca assutapubbā ca paṭibhanti. Yo hi koci kāmesu avītarāgoti…pe… duve upamā ayoniso kātabbā pacchimesu vuttaṃ. Tattha yo ca parato ghoso yo ca ajjhattaṃ yoniso manasikāro – ime dve paccayā. Parato ghosena yā uppajjati paññā – ayaṃ vuccati sutamayī paññā. Yā ajjhattaṃ yoniso manasikārena uppajjati paññā – ayaṃ vuccati cintāmayī paññāti. Imā dve paññā veditabbā. Purimakā ca dve paccayā. Ime dve hetū dve paccayā sāvakassa sammādiṭṭhiyā uppādāya.
Just as three similes appear, unheard before and never heard before. For one who is not free from lust for sensual pleasures… two similes appear; it is stated in the latter cases that this is to be done unwisely. Herein, the external voice and internal wise attention—these are two conditions. The wisdom that arises from the external voice is called wisdom based on hearing. The wisdom that arises from internal wise attention is called wisdom based on reflection. These two types of wisdom should be known, as well as the two preceding conditions. These two are the causes, and these two are the conditions, for the arising of right view in a disciple.
Giống như ba ví dụ trước đây chưa từng được nghe, và chưa từng được nghe trước đây, đã hiện ra. 'Bất cứ ai chưa ly tham trong các dục...' v.v... hai ví dụ về việc cần phải làm một cách không như lý đã được nói ở phần sau. Trong đó, tiếng nói từ người khác và sự tác ý như lý ở nội tâm – đây là hai duyên. Trí tuệ phát sinh do tiếng nói từ người khác – đây được gọi là văn tuệ. Trí tuệ phát sinh do sự tác ý như lý ở nội tâm – đây được gọi là tư tuệ. Hai trí tuệ này cần được biết. Và hai duyên trước đó. Đây là hai nhân, hai duyên cho sự phát sinh chánh kiến của vị thinh văn.
3. Tattha parato ghosassa saccānusandhissa desitassa atthaṃ avijānanto atthappaṭisaṃvedī bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Na ca atthappaṭisaṃvedī yoniso manasikarissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Parato ghosassa saccānusandhissa desitassa atthaṃ vijānanto atthappaṭisaṃvedī bhavissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Atthappaṭisaṃvedī ca yoniso manasikarissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Esa hetu etaṃ ārammaṇaṃ eso upāyo sāvakassa niyyānassa, natthañño. Soyaṃ na ca suttassa atthavijānanāya saha yutto nāpi ghosānuyogena parato ghosassa atthaṃ avijānantena sakkā uttarimanussadhammaṃ alamariyañāṇadassanaṃ adhigantuṃ, tasmā nibbāyitukāmena sutamayena atthā pariyesitabbā. Tattha pariyesanāya ayaṃ anupubbī bhavati soḷasa hārā, pañca nayā, aṭṭhārasa mūlapadāni.
3. In this regard, it is impossible that one who does not understand the meaning of the external voice connected with truth, as taught, will be an experient of the meaning. And it is impossible that one who is not an experient of the meaning will attend wisely. But it is possible that one who understands the meaning of the external voice connected with truth, as taught, will be an experient of the meaning. And it is possible that one who is an experient of the meaning will attend wisely. This is the cause, this is the support, this is the means for a disciple’s deliverance; there is no other. For this one, if not endowed with understanding the meaning of the suttas, nor with application to the teaching, and not understanding the meaning of the external voice, it is not possible to attain the superior human state, the noble knowledge and vision sufficient to destroy the defilements. Therefore, one who wishes for Nibbāna should investigate the meanings with the wisdom based on hearing. In this investigation, this is the gradual sequence: sixteen methods of extraction, five guidelines, and eighteen root-terms.
3. Trong đó, người không biết nghĩa của tiếng nói từ người khác liên quan đến các sự thật đã được thuyết giảng mà sẽ trở thành người cảm nhận được nghĩa, trường hợp này không xảy ra. Và người không cảm nhận được nghĩa mà sẽ tác ý như lý, trường hợp này không xảy ra. Người biết nghĩa của tiếng nói từ người khác liên quan đến các sự thật đã được thuyết giảng sẽ trở thành người cảm nhận được nghĩa, trường hợp này có xảy ra. Và người cảm nhận được nghĩa sẽ tác ý như lý, trường hợp này có xảy ra. Đây là nhân, đây là đối tượng, đây là phương tiện cho sự xuất ly của vị thinh văn, không có cái nào khác. Người ấy, nếu không gắn liền với việc biết nghĩa của kinh, cũng không gắn liền với việc thực hành theo lời giảng, do không biết nghĩa của tiếng nói từ người khác, thì không thể chứng đắc được pháp thượng nhân, là tri kiến thánh có khả năng đoạn trừ phiền não. Do đó, người muốn tịch tịnh nên tìm cầu các ý nghĩa bằng văn tuệ. Trong đó, trình tự của việc tìm cầu này là: mười sáu phương pháp, năm cách thức, mười tám thuật ngữ gốc.
Tatthāyaṃ uddānagāthā
Herein is the summary verse:
Về điều này, có kệ tóm lược như sau:
Soḷasahārā nettī, pañcanayā sāsanassa pariyeṭṭhi;
Aṭṭhārasamūlapadā, kaccāyanagottaniddiṭṭhā.
The Netti, a guide for the investigation of the Teaching, possessing sixteen Hāras, five methods, and eighteen root-terms, was set forth by him of the Kaccāyana clan.
Phương pháp Netti có mười sáu phương pháp (hārā), năm cách thức (nayā) để tìm cầu (ý nghĩa) của giáo pháp; và mười tám thuật ngữ gốc, đã được chỉ dạy bởi ngài thuộc dòng dõi Kaccāyana.
4. Tattha katame soḷasahārā?
4. Herein, what are the sixteen Hāras?
4. Trong đó, mười sáu phương pháp là những gì?
Desanā vicayo yutti padaṭṭhānaṃ lakkhaṇaṃ catubyūho āvaṭṭo vibhatti parivattano vevacano paññatti otaraṇo sodhano adhiṭṭhāno parikkhāro samāropano – ime soḷasa hārā.
Exposition, Investigation, Suitability, Basis, Characteristic, Fourfold Arrangement, Turning, Distinction, Transformation, Synonym, Designation, Introduction, Purification, Determination, Provision, and Superimposition—these are the sixteen Hāras.
Thuyết giảng (Desanā), khảo sát (vicayo), tương hợp (yutti), nền tảng (padaṭṭhāna), đặc tính (lakkhaṇa), bốn cách sắp xếp (catubyūho), xoay chuyển (āvaṭṭo), phân loại (vibhatti), chuyển đổi (parivattano), đồng nghĩa (vevacano), chế định (paññatti), áp dụng (otaraṇo), thanh lọc (sodhano), quyết định (adhiṭṭhāno), trang bị (parikkhāro), quy kết (samāropano) – đây là mười sáu phương pháp.
Tattha uddānagāthā
Herein is the summary verse:
Về điều này, có kệ tóm lược:
Desanā vicayo yutti, padaṭṭhāno ca lakkhaṇo †;
Catubyūho ca āvaṭṭo, vibhatti parivattano.
Exposition, Investigation, Suitability, Basis, and Characteristic; Fourfold Arrangement, Turning, Distinction, and Transformation.
Thuyết giảng, khảo sát, tương hợp, nền tảng và đặc tính; bốn cách sắp xếp và xoay chuyển, phân loại, chuyển đổi.
Vevacano ca paññatti, otaraṇo ca sodhano;
Adhiṭṭhāno parikkhāro, samāropano soḷaso – †;
Synonym and Designation, Introduction and Purification; Determination, Provision, and Superimposition. Thus, the Hāras are sixteen.
Đồng nghĩa và chế định, áp dụng và thanh lọc; quyết định, trang bị, và quy kết là thứ mười sáu.
5. Tattha katame pañca nayā?
5. Herein, what are the five methods?
5. Trong đó, năm cách thức là những gì?
Nandiyāvaṭṭo tipukkhalo sīhavikkīḷito disālocano aṅkusoti.
Nandiyāvaṭṭa, Tipukkhala, Sīhavikkīḷita, Disālocana, and Aṅkusa—these are the five methods.
Nandiyāvaṭṭa (Xoay về hỷ), Tipukkhala (Ba đỉnh), Sīhavikkīḷita (Sư tử hí), Disālocana (Quan sát các phương), và Aṅkusa (Cái móc).
Tattha uddānagāthā
Herein is the summary verse:
Về điều này, có kệ tóm lược:
Paṭhamo nandiyāvaṭṭo, dutiyo ca tipukkhalo;
Sīhavikkīḷito nāma, tatiyo hoti so nayo.
The first is Nandiyāvaṭṭa, and the second is Tipukkhala; that third method is named Sīhavikkīḷita.
Thứ nhất là Nandiyāvaṭṭa, thứ hai là Tipukkhala; cách thức thứ ba được gọi là Sīhavikkīḷita.
Disālocanamāhaṃsu, catuttho nayalañjako;
Pañcamo aṅkuso nāma †, sabbe pañca nayā gatā.
They call the fourth, the mark of the method, Disālocana; the fifth they call Aṅkusa. All five methods are to be known.
Họ gọi cách thức chỉ dẫn thứ tư là Disālocana; thứ năm tên là Aṅkusa. Tất cả năm cách thức đã được biết.
6. Tattha katamāni aṭṭhārasa mūlapadāni?
6. Herein, what are the eighteen root-terms?
6. Trong đó, mười tám thuật ngữ gốc là những gì?
Avijjā taṇhā lobho doso moho subhasaññā sukhasaññā niccasaññā attasaññā samatho vipassanā alobho adoso amoho asubhasaññā dukkhasaññā aniccasaññā anattasaññā, imāni aṭṭhārasa mūlapadāni. Tattha nava padāni akusalāni yattha sabbaṃ akusalaṃ samosarati. Nava padāni kusalāni yattha sabbaṃ kusalaṃ samosarati.
Ignorance, craving, greed, hatred, delusion, perception of beauty, perception of pleasure, perception of permanence, perception of self, tranquility, insight, non-greed, non-hatred, non-delusion, perception of foulness, perception of suffering, perception of impermanence, perception of non-self—these are the eighteen root-terms. Therein, nine terms are unwholesome, wherein all that is unwholesome converges. Nine terms are wholesome, wherein all that is wholesome converges.
Vô minh, ái, tham, sân, si, tưởng về tịnh, tưởng về lạc, tưởng về thường, tưởng về ngã, chỉ, quán, vô tham, vô sân, vô si, tưởng về bất tịnh, tưởng về khổ, tưởng về vô thường, tưởng về vô ngã, đây là mười tám thuật ngữ gốc. Trong đó, có chín thuật ngữ bất thiện, nơi tất cả (pháp) bất thiện hội tụ. Có chín thuật ngữ thiện, nơi tất cả (pháp) thiện hội tụ.
Katamāni nava padāni akusalāni yattha sabbaṃ akusalaṃ samosarati?
What are the nine unwholesome terms wherein all that is unwholesome converges?
Chín thuật ngữ bất thiện, nơi tất cả (pháp) bất thiện hội tụ, là những gì?
Avijjā yāva attasaññā, imāni nava padāni akusalāni, yattha sabbaṃ akusalaṃ samosarati.
From Ignorance up to the perception of self, these nine terms are unwholesome, wherein all that is unwholesome converges.
Từ vô minh cho đến tưởng về ngã, đây là chín thuật ngữ bất thiện, nơi tất cả (pháp) bất thiện hội tụ.
Katamāni nava padāni kusalāni yattha sabbaṃ kusalaṃ samosarati?
What are the nine wholesome terms wherein all that is wholesome converges?
Chín thuật ngữ thiện, nơi tất cả (pháp) thiện hội tụ, là những gì?
Samatho yāva anattasaññā, imāni nava padāni kusalāni yattha sabbaṃ kusalaṃ samosarati. Imāni aṭṭhārasa mūlapadāni.
From Tranquility up to the perception of non-self, these nine terms are wholesome, wherein all that is wholesome converges. These are the eighteen root-terms.
Từ chỉ cho đến tưởng về vô ngã, đây là chín thuật ngữ thiện, nơi tất cả (pháp) thiện hội tụ. Đây là mười tám thuật ngữ gốc.
Tattha imā uddānagāthā
Herein are these summary verses:
Trong ấy, đây là các kệ tóm lược.
Taṇhā ca avijjā lobho, doso tatheva moho ca;
Cattāro ca vipallāsā, kilesabhūmi nava padāni.
Craving and ignorance, greed, hatred, and likewise delusion, and the four distortions—these nine terms are the plane of defilements.
Ái, vô minh, tham, sân, và si cũng như thế; và bốn điên đảo, chín pháp này là cảnh giới phiền não.
Ye ca satipaṭṭhānā samatho, vipassanā kusalamūlaṃ;
Etaṃ sabbaṃ kusalaṃ, indriyabhūmi navapadāni.
The foundations of mindfulness, tranquility, insight, and the wholesome roots—all this is wholesome. These nine terms are the plane of the faculties.
Và những niệm xứ, chỉ, quán, thiện căn nào; tất cả điều này là thiện, chín pháp này là cảnh giới của các quyền.
Sabbaṃ kusalaṃ navahi padehi yujjati, navahi ceva akusalaṃ;
Ekake nava mūlapadāni, ubhayato aṭṭhārasa mūlapadāni.
All that is wholesome is connected with nine terms, and all that is unwholesome is likewise connected with nine. In each group there are nine root-terms; from both, there are eighteen root-terms.
Tất cả thiện được liên kết với chín pháp, và tất cả bất thiện cũng với chín pháp; trong mỗi bên có chín pháp căn bản, ở cả hai bên có mười tám pháp căn bản.
Imesaṃ aṭṭhārasannaṃ mūlapadānaṃ yāni nava padāni akusalāni, ayaṃ dukkhasamudayo; yāni nava padāni kusalāni, ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā. Iti samudayassa dukkhaṃ phalaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nirodhaṃ phalaṃ. Imāni cattāri ariyasaccāni bhagavatā bārāṇasiyaṃ desitāni.
Of these eighteen root-terms, the nine terms that are unwholesome are the origin of suffering; the nine terms that are wholesome are the path leading to the cessation of suffering. Thus, suffering is the fruit of the origin, and cessation is the fruit of the path leading to the cessation of suffering. These Four Noble Truths were taught by the Blessed One in Bārāṇasī.
Trong mười tám pháp căn bản này, chín pháp nào là bất thiện, đây là Tập đế; chín pháp nào là thiện, đây là Đạo đế đưa đến sự diệt khổ. Như vậy, quả của Tập đế là Khổ đế, quả của Đạo đế đưa đến sự diệt khổ là Diệt đế. Bốn Thánh đế này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng tại Bārāṇasī.
7. Tattha dukkhassa ariyasaccassa aparimāṇāni akkharāni padāni byañjanāni ākārāni niruttiyo niddesā desitā etassevatthassa saṅkāsanāya pakāsanāya vivaraṇāya vibhajanāya uttānīkammatāya paññāpanāyāti yā evaṃ sabbesaṃ saccānaṃ. Iti ekamekaṃ saccaṃ aparimāṇehi akkharapadabyañjanaākāraniruttiniddesehi pariyesitabbaṃ, tañca byañjanaṃ atthaputhuttena pana attheva byañjanaputhuttena.
7. Herein, for the Noble Truth of Suffering, immeasurable letters, terms, phrases, modes, etymologies, and expositions have been taught for the purpose of clarifying, revealing, explaining, analyzing, making manifest, and making known this very meaning. Thus it is for all the truths. Therefore, each single truth is to be investigated through these immeasurable letters, terms, phrases, modes, etymologies, and expositions. And that phrasing is to be investigated through the diversity of the meaning, and the meaning through the diversity of the phrasing.
7. Trong đó, đối với Thánh đế về Khổ, vô lượng chữ, câu, văn, thể, từ nguyên, và chỉ dẫn đã được thuyết giảng để làm sáng tỏ, để tuyên bố, để giải thích, để phân tích, để làm rõ ràng, để làm cho biết về chính ý nghĩa này. Như vậy đối với tất cả các đế. Do đó, mỗi một đế nên được tìm hiểu qua vô lượng chữ, câu, văn, thể, từ nguyên, và chỉ dẫn; và văn cú ấy qua sự phong phú của ý nghĩa, và ý nghĩa qua sự phong phú của văn cú.
Yo hi koci samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṃ vadeyya ‘‘ahaṃ idaṃ dukkhaṃ paccakkhāya aññaṃ dukkhaṃ paññapessāmī’’ti tassa taṃ vācāvatthukamevassa pucchito ca na sampāyissati. Evaṃ saccāni. Yañca rattiṃ bhagavā abhisambuddho, yañca rattiṃ anupādāya parinibbuto, etthantare yaṃ kiñci bhagavatā bhāsitaṃ suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ, sabbaṃ taṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ. Na kiñci buddhānaṃ bhagavantānaṃ dhammadesanāya dhammacakkato bahiddhā, tassa sabbaṃ suttaṃ ariyadhammesu pariyesitabbaṃ. Tattha pariggaṇhanāya ālokasabhāni cattāri ariyasaccāni thāvarāni imāni.
Should any ascetic or brahmin say thus: ‘Having rejected this suffering, I will make known another suffering,’ his statement would be a mere matter of words, and when questioned, he would not succeed. Such are the truths. Between the night the Blessed One was fully enlightened and the night he attained final Nibbāna without remainder, whatever the Blessed One spoke—whether discourses, mixed prose and verse, explanations, verses, inspired sayings, ‘thus it was said’ discourses, birth stories, accounts of wondrous phenomena, or analytical teachings—all that was the turning of the Wheel of Dhamma. Nothing in the teaching of the Blessed Buddhas lies outside the Wheel of Dhamma; therefore, every discourse should be investigated within the Noble Truths. For their comprehension, these Four Noble Truths are stable and luminous by nature.
Bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói rằng: 'Sau khi từ bỏ khổ này, tôi sẽ tuyên bố một khổ khác', lời nói của người ấy sẽ chỉ là lời nói suông, và khi được hỏi, người ấy sẽ không thể giải thích được. Như vậy là các đế. Bất cứ điều gì đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng trong khoảng thời gian giữa đêm Ngài giác ngộ và đêm Ngài nhập Vô dư y Niết-bàn, dù là Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, hay Phương quảng, tất cả đều là sự chuyển Pháp luân. Không có gì trong lời dạy của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, nằm ngoài Pháp luân. Do đó, tất cả kinh điển nên được tìm hiểu trong các Thánh pháp. Trong đó, để liễu tri, bốn Thánh đế này là những ánh sáng, là thường hằng.
Tattha katamaṃ dukkhaṃ? Jāti jarā byādhi maraṇaṃ saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Tatthāyaṃ lakkhaṇaniddeso, pātubhāvalakkhaṇā jāti, paripākalakkhaṇā jarā, dukkhadukkhatālakkhaṇo byādhi, cutilakkhaṇaṃ maraṇaṃ, piyavippayogavipariṇāmaparitāpanalakkhaṇo soko, lālappanalakkhaṇo paridevo, kāyasampīḷanalakkhaṇaṃ dukkhaṃ, cittasampīḷanalakkhaṇaṃ domanassaṃ, kilesaparidahanalakkhaṇo upāyāso, amanāpasamodhānalakkhaṇo appiyasampayogo, manāpavinābhāvalakkhaṇo piyavippayogo, adhippāyavivattanalakkhaṇo alābho, apariññālakkhaṇā pañcupādānakkhandhā, paripākacutilakkhaṇaṃ jarāmaraṇaṃ, pātubhāvacutilakkhaṇaṃ cutopapatti, paṭisandhinibbattanalakkhaṇo samudayo, samudayaparijahanalakkhaṇo nirodho, anusayasamucchedalakkhaṇo maggo. Byādhilakkhaṇaṃ dukkhaṃ, sañjānanalakkhaṇo samudayo, niyyānikalakkhaṇo maggo, santilakkhaṇo nirodho. Appaṭisandhibhāvanirodhalakkhaṇā anupādisesā nibbānadhātu, dukkhañca samudayo ca, dukkhañca nirodho ca, dukkhañca maggo ca, samudayo ca dukkhañca, samudayo ca nirodho ca, samudayo ca maggo ca, nirodho ca samudayo ca, nirodho ca dukkhañca, nirodho ca maggo ca, maggo ca nirodho ca, maggo ca samudayo ca, maggo ca dukkhañca.
Among these, what is suffering? Birth, aging, sickness, death—and in brief, the five aggregates of clinging—are suffering. Herein is the exposition of characteristics: birth has the characteristic of manifestation; aging has the characteristic of ripening; sickness has the characteristic of extreme suffering; death has the characteristic of passing away; sorrow has the characteristic of anxiety due to separation from the beloved and alteration; lamentation has the characteristic of wailing; suffering has the characteristic of oppressing the body; mental pain has the characteristic of oppressing the mind; despair has the characteristic of being burned by defilements; association with the unloved has the characteristic of associating with the disagreeable; separation from the beloved has the characteristic of being parted from the agreeable; not getting what one wants has the characteristic of the turning away of one's wish; the five aggregates of clinging have the characteristic of not being fully understood; aging and death have the characteristic of ripening and passing away; passing away and rebirth have the characteristic of manifestation and passing away; the origin has the characteristic of generating rebirth; cessation has the characteristic of abandoning the origin; the path has the characteristic of cutting off the latent tendencies. Suffering has the characteristic of affliction; the origin has the characteristic of generating; the path has the characteristic of leading out; cessation has the characteristic of peace. The Nibbāna element with no residue remaining has the characteristic of the cessation of the state of rebirth. And suffering and the origin, and suffering and cessation, and suffering and the path, and the origin and suffering, and the origin and cessation, and the origin and the path, and cessation and the origin, and cessation and suffering, and cessation and the path, and the path and cessation, and the path and the origin, and the path and suffering.
Trong đó, thế nào là khổ? Sanh, già, bệnh, chết; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Trong đó, đây là sự chỉ dẫn về đặc tính: sanh có đặc tính là sự biểu hiện; già có đặc tính là sự chín muồi; bệnh có đặc tính là khổ của khổ; chết có đặc tính là sự hoại diệt; sầu có đặc tính là sự phiền muộn do chia ly người thân và do biến đổi; bi có đặc tính là sự than khóc; khổ có đặc tính là sự bức bách của thân; ưu có đặc tính là sự bức bách của tâm; não có đặc tính là sự thiêu đốt bởi phiền não; oán tắng hội có đặc tính là sự gặp gỡ điều không vừa ý; ái biệt ly có đặc tính là sự xa lìa điều vừa ý; cầu bất đắc có đặc tính là sự không đạt được ý muốn; năm thủ uẩn có đặc tính là không được liễu tri; già-chết có đặc tính là sự chín muồi và hoại diệt; tử-sanh có đặc tính là sự biểu hiện và hoại diệt; Tập có đặc tính là sự tạo ra tái sanh; Diệt có đặc tính là sự đoạn trừ Tập; Đạo có đặc tính là sự cắt đứt tùy miên. Khổ có đặc tính là bệnh hoạn; Tập có đặc tính là sự nhận biết; Đạo có đặc tính là sự xuất ly; Diệt có đặc tính là sự tịch tịnh. Vô dư y Niết-bàn giới có đặc tính là sự chấm dứt tình trạng không còn tái sanh. Và khổ và tập, và khổ và diệt, và khổ và đạo, và tập và khổ, và tập và diệt, và tập và đạo, và diệt và tập, và diệt và khổ, và diệt và đạo, và đạo và diệt, và đạo và tập, và đạo và khổ.
8. Tatthimāni suttāni.
8. Herein are these suttas.
8. Trong đó, đây là các kinh.
‘‘Yamekarattiṃ † paṭhamaṃ, gabbhe vasati māṇavo;
Abbhuṭṭhitova so yāti, sa gacchaṃ na nivattatī’’ti.
For whichever one night a being first dwells in the womb, that being goes forth like the rising sun; going, he does not turn back.
“Chúng sanh nào, đêm đầu tiên trú trong bụng mẹ; chúng sanh ấy đi tới như mặt trời mọc, người đang đi ấy không quay trở lại.”
Aṭṭhimā, ānanda, dānupapattiyo ekuttarike suttaṃ – ayaṃ jāti.
Ānanda, there are these rebirths resulting from giving, in a sutta of the Ekuttarika—this is birth.
Này Ānanda, có những sự sanh khởi do bố thí này trong kinh Tăng Nhất – đây là sanh.
Tattha katamā jarā?
Among these, what is aging?
Trong đó, thế nào là già?
Acaritvā † brahmacariyaṃ, aladdhā yobbane dhanaṃ;
Jiṇṇakoñcāva jhāyanti, khīṇamaccheva pallale.
Not having practiced the noble life, not having obtained wealth in their youth, they brood like old herons by a muddy pool where the fish are depleted.
Không thực hành phạm hạnh, không có được tài sản khi còn trẻ; họ mòn mỏi như những con diệc già trong ao cạn không còn cá.
Pañca pubbanimittāni devesu – ayaṃ jarā.
There are five portents among the devas—this is aging.
Năm tiền tướng ở chư thiên – đây là già.
Tattha katamo byādhi?
Among these, what is sickness?
Trong đó, thế nào là bệnh?
Sāmaṃ tena kuto rāja, tuvampi jarāyanti vedesi;
Khattiya kammassa phalo, loko na hi kammaṃ panayati.
O king, is this aging not made by oneself? You too know aging. O khattiya, the world is the fruit of kamma; truly, kamma cannot be removed.
Tâu đại vương, làm sao điều đó lại do chính mình tạo ra? Ngài cũng biết rằng mình đang già đi. Thưa bậc Sát-đế-lỵ, thế gian là quả của nghiệp, quả thật không ai có thể loại bỏ được nghiệp.
Tayo gilānā – ayaṃ byādhi.
There are three kinds of sick persons—this is sickness.
Ba loại người bệnh – đây là bệnh.
Tattha katamaṃ maraṇaṃ?
Among these, what is death?
Trong đó, thế nào là chết?
Yathāpi † kumbhakārassa, kataṃ mattikabhājanaṃ;
Khuddakañca mahantañca, yaṃ pakkaṃ yañca āmakaṃ;
Sabbaṃ bhedanapariyantaṃ, evaṃ maccāna jīvitaṃ.
Just as a potter's earthenware vessel that has been made, whether small or large, whether baked or unbaked, all have breaking as their end, so too the life of mortals has death as its end.
Như đồ gốm do người thợ gốm làm ra, dù nhỏ hay lớn, dù nung hay chưa nung, tất cả đều có sự vỡ làm kết cuộc; cũng vậy, mạng sống của chúng sanh.
Mamāyite passatha phandamāne †, maccheva appodake khīṇasote;
Etampi disvā amamo careyya, bhavesu āsattimakubbamāno.
See them trembling, attached to what is 'mine,' like fish in a depleted stream with little water; having seen this too, one should fare without possessiveness, not making an attachment to existences.
Hãy nhìn những chúng sanh đang run rẩy trong sự ái luyến, như cá trong vũng nước cạn, dòng đã khô. Thấy điều này, người ấy nên sống không ái luyến, không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu.
Udakappanasuttaṃ – idaṃ maraṇaṃ.
The Udakappana Sutta—this is death.
Kinh Udakappana – đây là chết.
Tattha katamo soko?
Among these, what is sorrow?
Trong đó, thế nào là sầu?
Idha socati pecca socati, pāpakārī ubhayattha socati;
So socati so vihaññati, disvā kammakiliṭṭhamattano †.
Here he grieves, hereafter he grieves; the evil-doer grieves in both places. He grieves, he is vexed, seeing the defilement of his own deeds.
Người làm ác sầu muộn ở đời này, sầu muộn ở đời sau, người làm ác sầu muộn ở cả hai nơi. Người ấy sầu muộn, người ấy đau khổ, khi thấy nghiệp ô uế của chính mình.
Tīṇi duccaritāni – ayaṃ soko.
There are three kinds of misconduct—this is sorrow.
Ba ác hạnh – đây là sầu.
Tattha katamo paridevo?
Among these, what is lamentation?
Trong đó, thế nào là bi?
Kāmesu † giddhā pasutā pamūḷhā, avadāniyā te visame niviṭṭhā;
Dukkhūpanītā paridevayanti, kiṃsu bhavissāma ito cutāse.
Greedy for sensual pleasures, intent on them, deluded, blameworthy, they are settled in the uneven. Led to suffering, they lament, 'What will we become when we pass away from here?'
Những ai tham đắm, say mê, si muội trong các dục, không trong sạch, họ chìm đắm trong sự bất bình đẳng. Bị khổ đau dẫn dắt, họ than khóc khi chết đi từ đây: 'Chúng ta sẽ ra sao đây?'
Tisso vipattiyo – ayaṃ paridevo.
There are three kinds of misfortune—this is lamentation.
Ba loại hoạn nạn – đây là bi.
Tattha katamaṃ dukkhaṃ?
Among these, what is bodily suffering?
Trong đó, thế nào là khổ?
Sataṃ āsi ayosaṅkū †, sabbe paccattavedanā;
Jalitā jātavedāva, accisaṅghasamākulā.
There were a hundred iron stakes, all individually experienced; blazing like a fire, crowded with masses of flames.
Có một trăm cọc sắt, tất cả đều là những cảm thọ riêng biệt; bốc cháy như ngọn lửa, tràn ngập những khối lửa.
Mahā vata so pariḷāho † saṃyuttake suttaṃ saccasaṃyuttesu – idaṃ dukkhaṃ.
Great indeed is that torment; a sutta in the Saṃyutta Nikāya, in the Saccasaṃyutta—this is suffering.
Thật vậy, sự thiêu đốt ấy thật lớn lao. Kinh trong Tương Ưng Bộ, trong các Tương Ưng về Sự Thật – đây là khổ.
Tattha katamaṃ domanassaṃ?
Among these, what is mental pain?
Trong ấy, ưu là gì?
Saṅkappehi pareto † so, kapaṇo viya jhāyati;
Sutvā paresaṃ nigghosaṃ, maṅku hoti tathāvidho.
Afflicted by thoughts, he broods like a wretched person; hearing the clamor of others, such a one becomes dejected.
Người ấy bị các tầm tà ác áp bức, suy tư sầu muộn như người cô độc; nghe tiếng la hét của người khác, người như vậy trở nên bối rối.
Dveme tapanīyā dhammā – idaṃ domanassaṃ.
These are two states that cause torment—this is mental pain.
Hai pháp này làm cho nóng nảy – đây là ưu.
Tattha katamo upāyāso?
Among these, what is despair?
Trong ấy, não là gì?
Kammārānaṃ yathā ukkā, anto ḍayhati no bahi;
Evaṃ ḍayhati me hadayaṃ, sutvā nibbattamambujaṃ.
Just as a blacksmith's forge burns within but not without, so my heart burns on hearing of the Peaceful One.
Như ngọn đuốc của thợ rèn, cháy bên trong, không cháy bên ngoài; cũng vậy, tim ta bị thiêu đốt, khi nghe về người có tâm tịch tịnh.
Tayo aggī – ayaṃ upāyāso.
There are three fires—this is despair.
Ba ngọn lửa – đây là não.
Tattha katamo appiyasampayogo?
Among these, what is association with the unloved?
Trong ấy, oán tắng hội là gì?
Ayasāva † malaṃ samuṭṭhitaṃ, tatuṭṭhāya tameva khādati;
Evaṃ atidhonacārinaṃ, sāni kammāni nayanti duggatiṃ.
Just as rust arises from iron, and arising from it, eats that very iron, so do one's own deeds lead one who habitually does much evil to a woeful state.
Như rỉ sét sinh ra từ sắt, sinh ra từ đó, lại ăn mòn chính nó; cũng vậy, các nghiệp của chính mình dẫn người có hành vi quá ác đến khổ cảnh.
Dveme tathāgataṃ abbhācikkhanti, ekuttarike suttaṃ dukesu – ayaṃ appiyasampayogo.
These two misrepresent the Tathāgata. A sutta in the Ekuttarika, in the Book of Twos. This is association with the unloved.
Hai hạng người này phỉ báng Như Lai, kinh trong Tăng Nhất Bộ, phẩm Hai Pháp – đây là oán tắng hội.
Tattha katamo piyavippayogo?
Therein, what is separation from the loved?
Trong ấy, ái biệt ly là gì?
Supinena yathāpi saṅgataṃ, paṭibuddho puriso na passati;
Evampi piyāyitaṃ † janaṃ, petaṃ kālaṅkataṃ † na passati.
Just as an awakened man does not see one he has met in a dream, even so, one does not see a cherished person who is dead and departed.
Như cuộc gặp gỡ trong giấc mơ, người thức dậy không còn thấy nữa; cũng vậy, người thân yêu đã chết, đã qua đời, không còn thấy nữa.
Te devā cavanadhammaṃ viditvā tīhi vācāhi anusāsanti. Ayaṃ piyavippayogo.
Those devas, knowing they are of a nature to pass away, admonish with three utterances. This is separation from the loved.
Các vị trời ấy, biết được pháp phải mệnh chung, đã giáo huấn bằng ba lời nói. Đây là ái biệt ly.
Yampicchaṃ na labhati, tisso māradhītaro;
Tassa ce kāmayānassa †, chandajātassa jantuno;
Te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppati.
The three daughters of Māra do not obtain what they desire. If, for that being who is longing for sensual pleasures and in whom desire has arisen, those sensual pleasures diminish, he is afflicted like one pierced by an arrow.
Điều gì mong muốn mà không đạt được, (như) ba cô con gái của Ma vương; đối với chúng sinh ấy đang khao khát, đã khởi lên lòng ham muốn, nếu các dục ấy suy giảm, nó đau khổ như bị mũi tên bắn trúng.
Saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
In brief, the five aggregates subject to clinging are suffering.
Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Cakkhu sotañca ghānañca, jivhā kāyo tato manaṃ;
Ete lokāmisā ghorā, yattha sattā puthujjanā.
The eye, the ear, and the nose, the tongue, the body, and then the mind—these are the world's terrible baits, wherein ordinary people are attached.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và sau đó là ý; những thứ này là mồi của thế gian, thật đáng sợ, nơi mà phàm phu bị dính mắc.
Pañcime bhikkhave khandhā – idaṃ dukkhaṃ.
Bhikkhus, these are the five aggregates. This is suffering.
Này các Tỳ khưu, có năm uẩn này – đây là khổ.
Tattha katamā jarā ca maraṇañca?
Therein, what are aging and death?
Trong ấy, già và chết là gì?
Appaṃ vata jīvitaṃ idaṃ, oraṃ vassasatāpi mīyate †;
Atha vāpi akicchaṃ jīvitaṃ, atha kho so jarasāpi mīyate.
Indeed, this life is short; one dies even within a hundred years. Moreover, life is wearisome; indeed, one also dies of old age.
Thật vậy, mạng sống này ngắn ngủi, chết trước cả trăm năm; hơn nữa, mạng sống thật khó khăn, và rồi, người ta cũng chết vì già.
Saṃyuttake pasenadisaṃyuttake suttaṃ ayyikā me kālaṅkatā – ayaṃ jarā ca maraṇañca.
In the Saṃyutta Nikāya, in the Pasenadikosala Saṃyutta, there is a sutta: 'My grandmother has died.' This is aging and death.
Kinh trong Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Vua Pasenadi: ‘Bà của tôi đã qua đời’ – đây là già và chết.
Tattha katamā cuti ca upapatti ca?
Therein, what are passing away and arising?
Trong ấy, tử và sanh là gì?
‘‘Sabbe sattā marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ;
Yathākammaṃ gamissanti, attakammaphalūpagā’’ti †. –
All beings will die, for life indeed has death as its end. Experiencing the fruit of their own kamma, they will go according to their kamma.
‘Tất cả chúng sanh sẽ phải chết, vì mạng sống có cái chết là cùng tận; họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của nghiệp do chính mình tạo ra’.
Ayaṃ cuti ca upapatti ca.
This is passing away and arising.
Đây là tử và sanh.
Imehi suttehi ekasadisehi ca aññehi navavidhaṃ suttaṃ taṃ anupaviṭṭhehi lakkhaṇato dukkhaṃ ñatvā sādhāraṇañca asādhāraṇañca dukkhaṃ ariyasaccaṃ niddisitabbaṃ. Gāthāhi gāthā anuminitabbā, byākaraṇehi vā byākaraṇaṃ – idaṃ dukkhaṃ.
Through these suttas, and other similar ones, and through the suttas included in the ninefold scripture, having known suffering by its characteristic, the Noble Truth of Suffering, both common and uncommon, should be indicated. A verse should be inferred from verses, and an explanation from explanations. This is the Truth of Suffering.
Bằng những kinh này, những kinh tương tự và những kinh khác, kinh chín loại cần được chỉ ra. Sau khi đã biết khổ về phương diện đặc tính qua những kinh đã được bao gồm trong đó, cần phải chỉ rõ Khổ Thánh Đế chung và không chung. Cần suy diễn kệ ngôn từ các kệ ngôn, hoặc suy diễn lời giải thích từ các lời giải thích – đây là khổ.
9. Tattha katamo dukkhasamudayo?
9. Therein, what is the origin of suffering?
9. Trong ấy, Khổ Tập là gì?
Kāmesu sattā kāmasaṅgasattā †, saṃyojane vajjamapassamānā;
Na hi jātu saṃyojanasaṅgasattā, oghaṃ tareyyuṃ vipulaṃ mahantaṃ.
Attached to sensual pleasures, clinging to sensual attachments, not seeing the fault in the fetter; indeed, those attached by the fetter of clinging will never be able to cross the vast, wide flood.
Chúng sanh dính mắc vào các dục, bị trói buộc bởi sự tham đắm các dục, không thấy lỗi lầm trong sự trói buộc; chắc chắn những chúng sanh bị trói buộc bởi kiết sử không bao giờ có thể vượt qua được dòng bộc lưu rộng lớn mênh mông.
Cattāro āsavā suttaṃ – ayaṃ dukkhasamudayo.
The four taints. A sutta. This is the origin of suffering.
Kinh Bốn Lậu Hoặc – đây là Khổ Tập.
Tattha katamo dukkhanirodho?
Therein, what is the cessation of suffering?
Trong ấy, Khổ Diệt là gì?
Yamhi na māyā vasatī na māno,
Yo vītalobho amamo nirāso,
Panuṇṇakodho † abhinibbutatto;
So brāhmaṇo so samaṇo sa bhikkhu.
He in whom deceit and conceit do not dwell, who is without greed, without possessiveness, without craving, who has dispelled anger and is fully extinguished; he is a brahmin, he is an ascetic, he is a bhikkhu.
Nơi người nào không có lừa dối, không có ngã mạn, người đã ly tham, không còn chấp ngã, không còn hy vọng, đã trừ bỏ sân hận, tự thân đã tịch tịnh; vị ấy là Bà-la-môn, vị ấy là Sa-môn, vị ấy là Tỳ-khưu.
Dvemā vimuttiyo, rāgavirāgā ca cetovimutti; avijjāvirāgā ca paññāvimutti – ayaṃ nirodho.
These are the two liberations: the liberation of mind through the fading away of passion, and the liberation by wisdom through the fading away of ignorance. This is cessation.
Có hai sự giải thoát này: tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh – đây là sự diệt.
Tattha katamo maggo?
Therein, what is the Path?
Trong ấy, đạo đế là gì?
Eseva maggo natthañño, dassanassa visuddhiyā;
Ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, mārassetaṃ pamohanaṃ.
This is the very path, there is no other for the purification of vision. The Noble Eightfold Path is the bewilderment of Māra.
Chính đây là con đường, không có con đường nào khác, để thanh tịnh tri kiến. Thánh đạo tám ngành, đây là sự mê hoặc đối với Ma vương.
Sattime, bhikkhave, bojjhaṅgā – ayaṃ maggo.
Bhikkhus, these are the seven factors of enlightenment. This is the Path.
Này các Tỳ khưu, có bảy giác chi này – đây là đạo đế.
Tattha katamāni cattāri ariyasaccāni?
Therein, what are the Four Noble Truths?
Trong ấy, bốn Thánh đế là gì?
‘‘Ye dhammā † hetuppabhavā, tesaṃ hetuṃ tathāgato āha;
Tesañca yo nirodho, evaṃvādī mahāsamaṇo’’ti.
Of those things that arise from a cause, the Tathāgata has told the cause, and also their cessation. Such is the teaching of the Great Ascetic.
“Các pháp nào sanh khởi từ nguyên nhân, Như Lai đã thuyết giảng nguyên nhân của chúng; và sự đoạn diệt của chúng, bậc Đại Sa-môn có thuyết như vậy.”
Hetuppabhavā dhammā dukkhaṃ, hetusamudayo, yaṃ bhagavato vacanaṃ. Ayaṃ dhammo yo nirodho, ye hi keci saṃyojaniyesu dhammesu assadānupassino viharanti. Kilesā taṇhā pavaḍḍhati, taṇhāpaccayā upādānaṃ…pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Tattha yaṃ saṃyojanaṃ – ayaṃ samudayo. Ye saṃyojaniyā dhammā ye ca sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti – idaṃ dukkhaṃ. Yā saṃyojaniyesu dhammesu ādīnavānupassanā – ayaṃ maggo. Parimuccati jātiyā jarāya byādhīhi maraṇehi sokehi paridevehi yāva upāyāsehi – idaṃ nibbānaṃ. Imāni cattāri saccāni.
Phenomena that arise from a cause are the Truth of Suffering. The cause is the Truth of the Origin; this is the word of the Blessed One. This Dhamma which is the Truth of Cessation exists. For whosoever dwells seeing gratification in things that are objects of the fetters, for them, defiling craving increases. Due to craving as a condition, clinging increases... thus is the arising of this whole mass of suffering. Therein, whatever is a fetter, this is the Truth of the Origin. Whatever phenomena are objects of the fetters, and whatever sorrow, lamentation, pain, grief, and despair arise, this is the Truth of Suffering. The repeated contemplation of the danger in things that are objects of the fetters, this is the Truth of the Path. One is freed from birth, from old age, from sickness, from death, from sorrow, from lamentation, down to despair; this is Nibbāna. These are the Four Truths.
Các pháp sanh từ nguyên nhân là khổ, nguyên nhân là tập, đó là lời của Đức Thế Tôn. Pháp này là sự đoạn diệt. Vì rằng, bất cứ ai sống quán thấy vị ngọt trong các pháp thuộc về kiết sử, phiền não và ái dục của họ tăng trưởng. Do ái làm duyên, thủ sanh khởi... v.v... như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Trong ấy, cái gì là kiết sử – đây là tập đế. Các pháp nào là đối tượng của kiết sử và các sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi – đây là khổ đế. Sự quán thấy hiểm họa trong các pháp thuộc về kiết sử – đây là đạo đế. Được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, cho đến não – đây là Niết-bàn. Đây là bốn chân lý.
Tattha katamā anupādisesā nibbānadhātu?
Therein, what is the Nibbāna-element without residue remaining?
Trong ấy, vô dư y Niết-bàn giới là gì?
Atthaṅgatassa na pamāṇamatthi, taṃ hi vā natthi yena naṃ paññapeyya;
Sabbasaṅgānaṃ samūhatattā vidū, sitā vādasatassu † sabbe.
For one who has gone to cessation, there is no measure; that by which one might speak of him does not exist. When all attachments have been uprooted, all paths of speech are also removed.
Đối với người đã tịch diệt, không có thước đo nào; không có cái đó để người ta có thể mô tả vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được nhổ sạch, tất cả các lối nói cũng bị loại trừ.
Saṃyuttake godhikasaṃyuttaṃ.
In the Saṃyutta Nikāya, the Godhika Saṃyutta.
Trong Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Godhika.
Imāni asādhāraṇāni suttāni. Yahiṃ yahiṃ saccāni niddiṭṭhāni, tahiṃ tahiṃ saccalakkhaṇato otāretvā † aparimāṇehi byañjanehi so attho pariyesitabbo. Tattha atthānuparivatti byañjanena puna byañjanānuparivatti atthena tassa ekamekassa aparimāṇāni byañjanāni imehi suttehi yathānikkhittehi cattāri ariyasaccāni niddisitabbāni. Pañcanikāye anupaviṭṭhāhi gāthāhi gāthā anuminitabbā, byākaraṇena byākaraṇaṃ. Imāni asādhāraṇāni suttāni.
These are uncommon discourses. Wherever the truths are indicated, there that meaning should be sought with countless expressions, having brought it down by way of the characteristics of the truths. Therein, the following of the meaning by the expression, and again, the following of the expression by the meaning, should be sought. By these discourses, just as they have been laid down, for each one of those truths, countless expressions and the four noble truths should be indicated. In the five Nikāyas, verse should be inferred by verses that have been included; explanation by explanation. These are uncommon discourses.
Đây là những kinh không phổ thông. Bất cứ nơi nào các chân lý được chỉ ra, ở nơi đó ý nghĩa ấy cần được tìm kiếm bằng cách áp dụng theo đặc tính của chân lý với vô lượng văn tự. Trong đó, cần tìm kiếm sự đi theo ý nghĩa bằng văn tự, và lại nữa, sự đi theo văn tự bằng ý nghĩa. Bốn Thánh đế cần được chỉ ra cho mỗi một chân lý ấy với vô lượng văn tự bằng những kinh này như đã được trình bày. Các kệ tụng nên được suy diễn bằng các kệ tụng đã được đưa vào trong năm bộ Nikāya, và sự giải thích bằng sự giải thích. Đây là những kinh không phổ thông.
Tesaṃ imā uddānagāthā
These are their summary verses:
Đây là các kệ tóm lược của chúng.
Yamekarattiṃ paṭhamaṃ, aṭṭha dānūpapattiyo;
Pañca pubbanimittāni, khīṇamacchaṃva pallalaṃ.
One night first, eight arisings from giving; five former signs, like a muddy pond with its fish exhausted.
Kinh Một Đêm Đầu Tiên, tám sự sanh khởi của bố thí, năm điềm báo trước, như ao hồ cạn cá.
Sāmaṃ tena kuto rāja, tayo devā gilānakā;
Yathāpi kumbhakārassa, yathā nadidakappanaṃ.
From a neighboring king, whence danger? Three devas are sick; just as a potter's, like a river without water.
Tự mình, do đó, từ đâu, vua, ba vị trời bệnh hoạn, cũng như của người thợ gốm, như sông không nước.
Idha socati pecca socati, tīṇi duccaritāni ca;
Kāmesu giddhā pasutā, yāva tisso vipattiyo.
Here one grieves, hereafter one grieves; and the three kinds of misconduct; insofar as they are greedy and engrossed in sensual pleasures, to that extent there are three misfortunes.
Đời này sầu, đời sau sầu, và ba ác hạnh; tham đắm, chuyên chú vào các dục, cho đến ba tai họa.
Sataṃ āsi † ayosaṅkū, pariḷāho mahattaro;
Saṅkappehi pareto so, tattha tapaniyehi ca.
A hundred-year life like an iron stake, a greater torment; overcome by wrong thoughts, and likewise by torments.
Trăm cọc sắt, sự thiêu đốt lớn hơn; người ấy bị các tầm tư chinh phục, và ở đó bởi những sự thiêu đốt.
Kammārānaṃ yathā ukkā, tayo aggī pakāsitā;
Ayato malamuppannaṃ, abbhakkhānaṃ tathāgate.
As with a blacksmith's furnace, three fires are declared; just as rust arises from iron, so does slander against the Tathāgata.
Như lò rèn của thợ sắt, ba ngọn lửa được tuyên bố; cấu uế sanh từ sắt, sự vu khống đối với Như Lai.
Tividhaṃ devānusāsanti, supinena saṅgamo yathā;
Tisso ceva māradhītā, sallaviddhova ruppati.
The devas instruct in three ways; like a meeting in a dream; the three daughters of Māra indeed; one is afflicted as if pierced by an arrow.
Chư thiên giáo huấn ba điều, như sự gặp gỡ trong giấc mộng; ba ma nữ, như người bị trúng tên, bị đau đớn.
Cakkhu sotañca ghānañca, pañcakkhandhā pakāsitā;
Appaṃ vata jīvitaṃ idaṃ, ayyikā me mahallikā.
Eye, and ear, and nose; the five aggregates are declared; indeed, this life is short; my grandmother is old.
Mắt, tai và mũi, năm uẩn được tuyên bố; thật ngắn thay mạng sống này, bà của tôi đã già.
Sabbe sattā marissanti, upapatti cuticayaṃ;
Kāmesu sattā pasutā, āsavehi catūhi ca.
All beings will die; there is rebirth and passing away. Beings are attached and engrossed in sensual pleasures, and by the four taints.
Tất cả chúng sanh sẽ chết, sự sanh và sự diệt; chúng sanh đắm say trong các dục, và bởi bốn lậu hoặc.
Yamhi na māyā vasati, dvemā cetovimuttiyo;
Eseva maggo natthañño, bojjhaṅgā ca sudesitā.
In whom deceit does not dwell; these two are the liberations of mind. This is the only path, there is no other; and the factors of enlightenment are well-taught.
Nơi người không có ảo thuật, hai tâm giải thoát này; chính đây là con đường, không có con đường nào khác, và các giác chi được khéo thuyết.
Atthaṅgatassa na pamāṇamatthi, godhiko parinibbuto;
Ye dhammā hetuppabhavā, saṃyojanānupassino.
For one who has gone to rest, there is no measure; Godhika has attained Parinibbāna; those phenomena that arise from a cause; of one who repeatedly contemplates the fetters.
Đối với người đã tịch diệt, không có thước đo nào; Godhika đã nhập diệt; các pháp nào sanh từ nguyên nhân, người quán thấy các kiết sử.
Imā dasa tesaṃ uddānagāthā.
These are the ten summary verses for them.
Đây là mười kệ tóm lược của chúng.
10. Tatthimāni sādhāraṇāni suttāni yesu suttesu sādhāraṇāni saccāni desitāni anulomampi paṭilomampi vomissakampi. Tattha ayaṃ ādi.
10. Herein are these common discourses in which the common truths are taught, both in direct order, in reverse order, and mixed. Therein, this is the beginning.
10. Trong ấy, đây là những kinh phổ thông, trong những kinh này các chân lý phổ thông được thuyết giảng, cả theo chiều thuận, chiều nghịch, và cả hỗn hợp. Trong ấy, đây là phần bắt đầu.
Avijjāya nivuto loko, [ajitāti bhagavā]
Vivicchā pamādā nappakāsati;
Jappābhilepanaṃ † brūmi, dukkhamassa mahabbhayaṃ.
The world is shrouded by ignorance; it does not shine forth because of doubt and heedlessness. I call craving a smearing; suffering is its great danger.
Thế gian bị vô minh che lấp; do nghi hoặc và phóng dật, nó không tỏa sáng. Ta nói rằng ái dục là lớp trát của nó, khổ đau là nỗi sợ hãi lớn của nó.
Tattha yā avijjā ca vivicchā ca, ayaṃ samudayo. Yaṃ mahabbhayaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Imāni dve saccāni – dukkhañca samudayo ca. ‘‘Saṃyojanaṃ saṃyojaniyā ca dhammā’’ti saṃyuttake cittasaṃyuttakesu byākaraṇaṃ. Tattha yaṃ saṃyojanaṃ, ayaṃ samudayo. Ye saṃyojaniyā dhammā, idaṃ dukkhaṃ. Imāni dve saccāni – dukkhañca samudayo ca.
Herein, that which is ignorance and doubt—this is the origin. That which is the great danger—this is suffering. These are the two truths: suffering and its origin. The explanation of “the fetter and the things that are fetters” is in the Saṃyutta Nikāya, in the Discourses Connected with the Mind. Herein, that which is the fetter—this is the origin. Those things which are fetters—this is suffering. These are the two truths: suffering and its origin.
Trong ấy, cái gì là vô minh và nghi hoặc, đây là tập đế. Cái gì là nỗi sợ hãi lớn, đây là khổ đế. Đây là hai chân lý – khổ và tập. “Kiết sử và các pháp thuộc về kiết sử” là sự giải thích trong Tương Ưng Tâm thuộc Tương Ưng Bộ. Trong ấy, cái gì là kiết sử, đây là tập đế. Các pháp nào thuộc về kiết sử, đây là khổ đế. Đây là hai chân lý – khổ và tập.
Tattha katamaṃ dukkhañca nirodho ca?
Herein, what are suffering and cessation?
Trong ấy, khổ và diệt là gì?
Ucchinnabhavataṇhassa, netticchinnassa † bhikkhuno;
Vikkhīṇo jātisaṃsāro, natthi dāni punabbhavo.
For the bhikkhu whose craving for existence is cut off, whose guide-rope is severed, the round of births is exhausted; now there is no future existence.
Đối với vị Tỳ khưu đã cắt đứt hữu ái, đã chặt đứt dây dẫn, vòng luân hồi sanh tử đã được tận diệt, nay không còn tái sanh nữa.
Yaṃ cittaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Yo bhavataṇhāya upacchedo, ayaṃ dukkhanirodho. Vikkhīṇo jātisaṃsāro, natthi dāni punabbhavoti niddeso. Imāni dve saccāni – dukkhañca nirodho ca. Dvemā, bhikkhave, vimuttiyo; rāgavirāgā ca cetovimutti, avijjāvirāgā ca paññāvimutti. Yaṃ cittaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Yā vimutti, ayaṃ nirodho. Imāni dve saccāni – dukkhañca nirodho ca.
Whatever mind there is, this is suffering. The cutting off of craving for existence—this is the cessation of suffering. The exposition is: ‘The round of births is exhausted; now there is no future existence.’ These are the two truths: suffering and cessation. Bhikkhus, there are these two liberations: liberation of mind through dispassion for lust, and liberation by wisdom through dispassion for ignorance. Whatever mind there is, this is suffering. Whatever liberation there is, this is cessation. These are the two truths: suffering and cessation.
Cái gì là tâm, đây là khổ. Sự đoạn trừ hữu ái, đây là khổ diệt. “Vòng luân hồi sanh tử đã được tận diệt, nay không còn tái sanh nữa” là lời chỉ dẫn. Đây là hai chân lý – khổ và diệt. Này các Tỳ khưu, có hai sự giải thoát này: tâm giải thoát do ly tham, và tuệ giải thoát do ly vô minh. Cái gì là tâm, đây là khổ. Cái gì là giải thoát, đây là diệt. Đây là hai chân lý – khổ và diệt.
Tattha katamaṃ dukkhañca maggo ca?
Herein, what are suffering and the path?
Trong ấy, khổ và đạo là gì?
Kumbhūpamaṃ † kāyamimaṃ viditvā, nagarūpamaṃ cittamidaṃ ṭhapetvā;
Yodhetha māraṃ paññāvudhena, jitañca rakkhe anivesano siyā.
Knowing this body to be like a pot, establishing this mind like a city, one should fight Māra with the weapon of wisdom. One should guard what has been won and be without attachment.
Biết thân này như cái nồi đất, thiết lập tâm này như thành trì; hãy chiến đấu với Ma vương bằng vũ khí trí tuệ. Hãy bảo vệ những gì đã chiến thắng, và hãy sống không nương tựa.
Tattha yañca kumbhūpamo kāyo yañca nagarūpamaṃ cittaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Yaṃ paññāvudhena māraṃ yodhethāti ayaṃ maggo. Imāni dve saccāni. Yaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ, taṃ pajahitabbaṃ. Yā saṃyojanā, ayaṃ maggo. Ye te dhammā anattaniyā pahātabbā, rūpaṃ yāva viññāṇaṃ, idaṃ dukkhañca maggo ca.
Herein, the body like a pot and the mind like a city—this is suffering. That ‘one should fight Māra with the weapon of wisdom’—this is the path. These are the two truths. Bhikkhus, what is not yours should be abandoned. Whatever is the fetter, this is the path. Those phenomena that are not-self and should be abandoned—from form up to consciousness—this is suffering and the path.
Ở đây, thân nào ví như cái nồi và tâm nào ví như thành trì, đây là khổ. (Câu) 'Hãy chiến đấu với ma bằng vũ khí trí tuệ', đây là đạo. Đây là hai sự thật. Này các Tỳ khưu, cái gì không phải của các ông, cái đó cần phải từ bỏ. Các kiết sử nào, đây là đạo. Các pháp nào không phải là tự ngã, cần phải từ bỏ, từ sắc cho đến thức, đây là khổ và là đạo.
Tattha katamaṃ dukkhañca samudayo ca nirodho ca?
Herein, what are suffering, its origin, and its cessation?
Trong đó, thế nào là khổ, là tập, và là diệt?
Ye keci sokā paridevitā vā, dukkhā ca † lokasmimanekarūpā;
Piyaṃ paṭiccappabhavanti ete, piye asante na bhavanti ete.
Whatever sorrows, lamentations, or manifold sufferings there are in the world, these arise in dependence on what is dear. When what is dear does not exist, these do not arise.
Bất cứ sầu bi nào, hay các loại khổ đau đa dạng trong thế gian; chúng sanh khởi do duyên ái luyến, khi không có ái luyến, chúng không hiện hữu.
Ye sokaparidevā, yaṃ ca anekarūpaṃ dukkhaṃ, yaṃ pemato bhavati, idaṃ dukkhaṃ. Yaṃ pemaṃ, ayaṃ samudayo. Yo tattha chandarāgavinayo piyassa akiriyā, ayaṃ nirodho. Imāni tīṇi saccāni. Timbaruko paribbājako pacceti ‘‘sayaṃkataṃ paraṃkata’’nti. Yathesā vīmaṃsā, idaṃ dukkhaṃ. Yā ete dve ante anupagamma majjhimā paṭipadā avijjāpaccayā saṅkhārā yāva jātipaccayā jarāmaraṇaṃ, idampi dukkhañca samudayo ca. Viññāṇaṃ nāmarūpaṃ saḷāyatanaṃ phasso vedanā bhavo jāti jarāmaraṇaṃ, idaṃ dukkhaṃ. Avijjā saṅkhārā taṇhā upādānaṃ, ayaṃ samudayo. Iti idaṃ sayaṃkataṃ vīmaṃseyyāti † yañca paṭiccasamuppāde dukkhaṃ, idaṃ eso samudayo niddiṭṭho. Avijjānirodhā saṅkhāranirodho ca yāva ca jarāmaraṇanirodhoti ayaṃ nirodho. Imāni tīṇi saccāni dukkhañca samudayo ca nirodho ca.
Whatever sorrow, lamentation, and manifold suffering arises from affection—this is suffering. Whatever affection there is—this is the origin. The removal of desire and lust for what is dear, its non-arising—this is cessation. These are the three truths. The wanderer Timbaruka investigates: ‘Is it self-made or other-made?’ As this investigation shows, this is suffering. Not approaching either of these two extremes is the middle path: with ignorance as a condition, formations arise; up to, with birth as a condition, aging and death arise. This is both suffering and its origin. Consciousness, name-and-form, the six sense bases, contact, feeling, existence, birth, aging and death—this is suffering. Ignorance, formations, craving, and clinging—this is the origin. Thus, this should be investigated as ‘self-made.’ And whatever suffering there is in dependent origination, this is pointed out as the origin. Through the cessation of ignorance, the cessation of formations occurs, up to the cessation of aging and death—this is cessation. These are the three truths: suffering, its origin, and its cessation.
Những sầu bi nào, và khổ đau đa dạng nào, cái gì sanh khởi từ ái luyến, đây là khổ. Cái gì là ái luyến, đây là tập. Sự nhiếp phục dục tham ở đó, sự không làm của ái luyến, đây là diệt. Đây là ba sự thật. Du sĩ Timbaruka tin rằng 'tự mình làm, người khác làm'. Sự thẩm sát như thế nào, đây là khổ. Con đường trung đạo nào không đi đến hai cực đoan này: do duyên vô minh có các hành, cho đến do duyên sanh có già chết, đây cũng là khổ và là tập. Thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, già chết, đây là khổ. Vô minh, hành, ái, thủ, đây là tập. Như vậy, nên thẩm sát 'cái này tự mình làm', và khổ nào trong duyên khởi, đây được chỉ rõ là tập. Do vô minh diệt nên hành diệt, cho đến già chết diệt, đây là diệt. Đây là ba sự thật: khổ, tập, và diệt.
11. Tattha katamaṃ dukkhañca samudayo ca maggo ca?
11. Herein, what are suffering, its origin, and the path?
11. Trong đó, thế nào là khổ, là tập, và là đạo?
‘‘Yo dukkhamaddakkhi † yatonidānaṃ, kāmesu so jantu kathaṃ nameyya;
Kāmā hi loke saṅgāti ñatvā, tesaṃ satīmā vinayāya sikkhe’’ti.
The being who has seen suffering and its origin—how could that being incline towards sensual pleasures? Knowing that sensual pleasures are an entanglement in the world, the mindful one should train for their removal.
Người nào đã thấy khổ và nhân sanh của nó, chúng sanh ấy làm sao có thể hướng về các dục? Vì biết rằng các dục là sự dính mắc trong đời, người có chánh niệm hãy học tập để nhiếp phục chúng.
Yo dukkhamaddakkhi, idaṃ dukkhaṃ. Yato bhavati, ayaṃ samudayo. Sandiṭṭhaṃ yato bhavati yāva tassa vinayāya sikkhā, ayaṃ maggo. Imāni tīṇi saccāni.
The phrase ‘one who has seen suffering’ refers to suffering. That from which it arises is the origin. The training for the removal of that from which the visible result arises—this is the path. These are the three truths.
(Câu) 'Người nào đã thấy khổ', đây là khổ. (Câu) 'Do đâu nó sanh khởi', đây là tập. (Câu) 'Do đâu có quả hiện tại cho đến sự học tập để nhiếp phục nó', đây là đạo. Đây là ba sự thật.
Ekādasaṅguttaresu gopālakopamasuttaṃ.
The Gopālakopama Sutta in the Ekādasaṅguttara.
Trong Tăng Chi Bộ, chương Mười một pháp, kinh Ví Dụ Người Chăn Bò.
Tattha yāva rūpasaññuttā yañca saḷāyatanaṃ yathā vaṇaṃ paṭicchādeti yañca titthaṃ yathā ca labhati dhammūpasañhitaṃ uḷāraṃ pītipāmojjaṃ catubbidhaṃ ca attabhāvato ca vatthu, idaṃ dukkhaṃ. Yāva āsāṭikaṃ hāretā † hoti, ayaṃ samudayo. Rūpasaññuttā āsāṭakaharaṇaṃ † vaṇapaṭicchādanaṃ vīthiññutā gocarakusalañca, ayaṃ maggo. Avasesā dhammā atthi hetū atthi paccayā atthi nissayā sāvasesadohitā anekapūjā ca kalyāṇamittatappaccayā dhammā vīthiññutā ca hetu, imāni tīṇi saccāni.
Herein, that which is associated with form, the sixfold sense base, the covering of a wound, the ford, the fourfold sublime joy and gladness connected with the Dhamma that is obtained, and the physical basis for individuality—this is suffering. Insofar as one does not remove the flies' eggs, this is the origin. Being associated with form, removing the flies' eggs, dressing the wound, knowing the path, and being skilled in the pasture—this is the path. As for the remaining phenomena: there is a cause, there are conditions, there are supports. The beneficial result with a remainder, the result from many offerings, and knowledge of the Dhamma conditioned by noble friendship are the cause. These are the three truths.
Ở đây, cho đến khi có sự liên kết với sắc, và sáu xứ nào, như cách che đậy vết thương, và bến nước nào, và như cách đạt được hỷ lạc cao thượng liên quan đến pháp, và bốn loại vật chất từ tự thân, đây là khổ. Cho đến khi có sự mang đi lòng khao khát, đây là tập. Sự liên kết với sắc, sự mang đi lòng khao khát, sự che đậy vết thương, sự biết rõ đường đi, và sự thiện xảo về cảnh giới, đây là đạo. Các pháp còn lại: có nhân, có duyên, có y chỉ, có sự vắt sữa còn sót lại, có nhiều sự cúng dường, và các pháp do thiện hữu tri thức làm duyên, và sự biết rõ đường đi là nhân, đây là ba sự thật.
Tattha katamaṃ dukkhañca maggo ca nirodho ca?
Herein, what are suffering, the path, and cessation?
Trong đó, thế nào là khổ, là đạo, và là diệt?
Sati kāyagatā upaṭṭhitā, chasu phassāyatanesu saṃvuto †;
Satataṃ bhikkhu samāhito, jaññā † nibbānamattano.
When mindfulness directed to the body is established, and one is restrained in the six bases for contact, the bhikkhu, ever concentrated, would know Nibbāna for himself.
Niệm về thân được an lập, có sự thu thúc trong sáu xúc xứ; Tỳ khưu thường xuyên có định tĩnh, nên biết Niết-bàn cho tự thân.
Tattha yā ca kāyagatā sati yañca saḷāyatanaṃ yattha sabbañcetaṃ dukkhaṃ. Yā ca kāyagatā sati yo ca sīlasaṃvaro yo ca samādhi yattha yā sati, ayaṃ paññākkhandho. Sabbampi sīlakkhandho samādhikkhandho, ayaṃ maggo. Evaṃvihārinā ñātabbaṃ nibbānaṃ. Ayaṃ nirodho, imāni tīṇi saccāni. Sīle patiṭṭhāya dve dhammā bhāvetabbā samatho ca vipassanā ca. Tattha yaṃ cittasahajātā dhammā, idaṃ dukkhaṃ. Yo ca samatho yā ca vipassanā, ayaṃ maggo. Rāgavirāgā ca cetovimutti, avijjāvirāgā ca paññāvimutti, ayaṃ nirodho. Imāni tīṇi saccāni.
Herein, wherein there is mindfulness directed to the body and the sixfold sense base, all that is the truth of suffering. Wherein there is mindfulness directed to the body, restraint of virtue, concentration, and mindfulness, this is the aggregate of wisdom. All this is the aggregate of virtue and the aggregate of concentration; this is the path. For one dwelling thus, Nibbāna is to be known. This is the truth of cessation. These are the three truths. Established in virtue, two phenomena are to be developed: serenity and insight. Herein, phenomena that are co-nascent with the mind, this is the truth of suffering. Both serenity and insight, this is the path. Through dispassion for lust there is liberation of mind, and through dispassion for ignorance there is liberation by wisdom; this is the truth of cessation. These are the three truths.
Ở đây, niệm về thân nào và sáu xứ nào, tất cả những thứ đó là khổ. Niệm về thân nào, sự thu thúc trong giới nào, định nào, niệm nào, đây là tuệ uẩn. Toàn bộ giới uẩn, định uẩn, đây là đạo. Người sống như vậy nên biết Niết-bàn. Đây là diệt, đây là ba sự thật. An trú trong giới, hai pháp cần được tu tập là chỉ và quán. Ở đây, các pháp nào đồng sanh với tâm, đây là khổ. Chỉ nào và quán nào, đây là đạo. Do ly tham có tâm giải thoát, do ly vô minh có tuệ giải thoát, đây là diệt. Đây là ba sự thật.
Tattha katamo samudayo ca nirodho ca?
Herein, what are the origin and the cessation?
Trong đó, thế nào là tập và là diệt?
Āsā ca pīhā abhinandanā ca, anekadhātūsu sarā patiṭṭhitā;
Aññāṇamūlappabhavā pajappitā, sabbā mayā byantikatā samūlikā.
Hopes, longings, and delights, streams established in the many elements; aspirations originating from the root of ignorance—all have been terminated by me, together with their root.
Mong cầu, khao khát và hoan hỷ, được an trú trong nhiều giới khác nhau; sanh khởi từ gốc rễ vô minh, được tưởng tượng ra, tất cả đã được ta đoạn trừ cùng với gốc rễ.
Aññāṇamūlappabhavāti purimakehi samudayo. Sabbā mayā byantikatā samūlikāti nirodho. Imāni dve saccāni. Catunnaṃ dhammānaṃ ananubodhā appaṭivedhā vitthārena kātabbaṃ. Ariyassa sīlassa samādhino paññāya vimuttiyā. Tattha yo imesaṃ catunnaṃ dhammānaṃ ananubodhā appaṭivedhā, ayaṃ samudayo. Paṭivedho bhavanettiyā, ayaṃ nirodho. Ayaṃ samudayo ca nirodho ca.
By 'originating from the root of ignorance' from the preceding words, the origin is stated. By 'all have been terminated by me, together with their root', cessation is stated. These are the two truths. Because of not awakening to and not penetrating four phenomena, this should be explained in detail: noble virtue, concentration, wisdom, and liberation. Herein, whatever non-awakening to and non-penetration of these four phenomena exists, this is the origin. Penetration of the guide to existence, this is cessation. This is the origin and the cessation.
Bằng những từ trước 'sanh khởi từ gốc rễ vô minh', đây là tập. Bằng câu 'tất cả đã được ta đoạn trừ cùng với gốc rễ', đây là diệt. Đây là hai sự thật. Do không giác ngộ, không chứng ngộ bốn pháp, cần phải làm cho rộng khắp: giới của bậc Thánh, định, tuệ, và giải thoát. Ở đây, sự không giác ngộ, không chứng ngộ bốn pháp này, đây là tập. Sự chứng ngộ đối với dây dẫn đến hữu, đây là diệt. Đây là tập và là diệt.
Tattha katamo samudayo ca maggo ca?
Herein, what are the origin and the path?
Trong đó, thế nào là tập và là đạo?
Yāni † sotāni lokasmiṃ, [ajitāti bhagavā]
Sati tesaṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhīyare.
(The Blessed One said:) ‘Whatever streams there are in the world, Ajita, mindfulness is their check. I speak of the restraint of the streams; by wisdom they are closed off.’
Những dòng chảy nào trong thế gian, [này Ajita, Thế Tôn nói] niệm là sự ngăn chặn chúng. Ta nói sự thu thúc các dòng chảy, chúng được che lấp bằng trí tuệ.
Yāni sotānīti ayaṃ samudayo. Yā ca paññā yā ca sati nivāraṇaṃ pidhānañca, ayaṃ maggo. Imāni dve saccāni. Sañcetaniyaṃ suttaṃ daḷhanemiyānākāro chahi māsehi niddiṭṭho. Tattha yaṃ kāyaṃ kāyakammaṃ savaṅkaṃ sadosaṃ sakasāvaṃ yā savaṅkatā sadosatā sakasāvatā, ayaṃ samudayo. Evaṃ vacīkammaṃ manokammaṃ avaṅkaṃ adosaṃ akasāvaṃ, yā avaṅkatā adosatā akasāvatā, ayaṃ maggo. Evaṃ vacīkammaṃ manokammaṃ. Imāni dve saccāni samudayo ca maggo ca.
‘Whatever streams’—this is the origin. Both the wisdom and the mindfulness that are a check and a cover—this is the path. These are the two truths. The Sañcetaniya Sutta. The manner of King Daḷhanemi's journey to the deva realm was pointed out over six months. Herein, whatever bodily action is crooked, has fault, and has the stain of defilements; and that state of being crooked, state of having fault, and state of having the stain of defilements—this is the origin. Similarly, verbal action and mental action are not crooked, without fault, and without the stain of defilements; and that state of not being crooked, of being without fault, and of being without the stain of defilements—this is the path. Similarly for verbal action and mental action. These are the two truths: the origin and the path.
(Câu) 'Những dòng chảy nào', đây là tập. Trí tuệ nào và niệm nào là sự ngăn chặn và che lấp, đây là đạo. Đây là hai sự thật. Kinh Sañcetaniya, cách thức đi của vua Daḷhanemi được chỉ rõ trong sáu tháng. Ở đây, thân nghiệp nào cong vẹo, có sân, có cấu uế; sự cong vẹo, sự có sân, sự có cấu uế nào, đây là tập. Tương tự là khẩu nghiệp, ý nghiệp. (Thân nghiệp) không cong vẹo, không có sân, không có cấu uế; sự không cong vẹo, sự không có sân, sự không có cấu uế nào, đây là đạo. Tương tự là khẩu nghiệp, ý nghiệp. Đây là hai sự thật: tập và đạo.
Tattha katamo samudayo ca nirodho ca maggo ca?
Herein, what are the origin, the cessation, and the path?
Trong đó, thế nào là tập, là diệt, và là đạo?
‘‘Nissitassa calitaṃ, anissitassa calitaṃ natthi, calite asati passaddhi, passaddhiyā sati nati na hoti, natiyā asati † āgatigati na hoti, āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti, cutūpapāte asati nevidha na huraṃ na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassā’’ti.
For one who is dependent, there is wavering. For one who is not dependent, there is no wavering. When there is no wavering, there is tranquility. When there is tranquility, there is no inclination. When there is no inclination, there is no coming and going. When there is no coming and going, there is no death and rebirth. When there is no death and rebirth, there is neither here nor beyond nor in between. This itself is the end of suffering.
Đối với người có nương tựa thì có dao động, đối với người không nương tựa thì không có dao động. Khi không có dao động thì có an tịnh, khi có an tịnh thì không có sự thiên về. Khi không có sự thiên về thì không có đến và đi, khi không có đến và đi thì không có tử và sanh, khi không có tử và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có khoảng giữa hai đời. Đây chính là sự chấm dứt của khổ đau.
Tattha dve nissayā, ayaṃ samudayo. Yo ca anissayo, yā ca anati, ayaṃ maggo. Yā āgatigati na hoti cutūpapāto ca yo esevanto dukkhassāti, ayaṃ nirodho. Imāni tīṇi saccāni. Anupaṭṭhitakāyagatā sati…pe… yaṃ vimuttiñāṇadassanaṃ, ayaṃ samudayo. Ekārasaupanissayā vimuttiyo yāva upanissayaupasampadā upaṭṭhitakāyagatāsatissa viharati. Sīlasaṃvaro sosāniyo hoti, yañca vimuttiñāṇadassanaṃ, ayaṃ maggo. Yā ca vimutti, ayaṃ nirodho. Imāni tīṇi saccāni. Samudayo ca nirodho ca maggo ca.
Herein, there are two dependencies; this is the origin. Non-dependence and non-inclination; this is the path. That there is no coming and going, and no death and rebirth, which is the end of suffering; this is cessation. These are the three truths. Unestablished mindfulness directed to the body... up to the knowledge and vision of liberation; this is the origin. For one dwelling with established mindfulness directed to the body, there are liberations with eleven supports, up to the attainment of the support. Restraint in virtue is that support. And the knowledge and vision of liberation; this is the path. And liberation itself; this is cessation. These are the three truths: the origin, the cessation, and the path.
Ở đây, hai sự nương tựa, đây là Tập đế. Sự không nương tựa nào, và sự không thiên về nào, đây là Đạo đế. Sự không có đến và đi, và sự không có tử và sanh nào, đây chính là sự chấm dứt của khổ đau, đây là Diệt đế. Đây là ba Thánh đế. Niệm thân không hiện khởi... cho đến... giải thoát tri kiến nào, đây là Tập đế. Mười một sự giải thoát có cận y cho đến sự thành tựu cận y trú ngụ nơi người có niệm thân hiện khởi. Sự thu thúc trong giới là nền tảng, và giải thoát tri kiến nào, đây là Đạo đế. Và sự giải thoát nào, đây là Diệt đế. Đây là ba Thánh đế: Tập đế, Diệt đế, và Đạo đế.
12. Tattha katamo nirodho ca maggo ca?
12. Herein, what are the cessation and the path?
12. Trong đó, Diệt đế và Đạo đế là gì?
Sayaṃ katena saccena, tena attanā abhinibbānagato vitiṇṇakaṅkho;
Vibhavañca ñatvā lokasmiṃ, tāva khīṇapunabbhavo sa bhikkhu.
By that truth realized by oneself, he has gone toward Nibbāna, having crossed over doubt. Having understood non-becoming in the world, that bhikkhu is one for whom renewed existence is exhausted.
Với chân lý do chính mình thực hiện, tự thân vị ấy đã hướng đến Niết-bàn, đã vượt qua hoài nghi; và đã biết rõ phi hữu trong thế gian, khi ấy vị Tỳ khưu đó đã đoạn tận tái sanh.
Yaṃ saccena, ayaṃ maggo. Yaṃ khīṇapunabbhavo, ayaṃ nirodho. Imāni dve saccāni. Pañca vimuttāyatanāni satthā vā dhammaṃ desesi aññataro vā viññū sabrahmacārīti vitthārena kātabbā. Tassa atthappaṭisaṃvedissa pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, yāva nibbindanto virajjati, ayaṃ maggo. Yā vimutti, ayaṃ nirodho. Evaṃ pañca vimuttāyatanāni vitthārena. Imāni dve saccāni nirodho ca maggo ca.
That which is ‘by the truth’; this is the path. That which is ‘one for whom renewed existence is exhausted’; this is cessation. These are the two truths. The five occasions for liberation are to be elaborated in detail: ‘The Teacher teaches the Dhamma, or some other wise spiritual companion...’ For one who experiences the meaning, gladness arises. For one who is glad, rapture arises... up to: becoming disenchanted, he becomes dispassionate—this is the path. That which is liberation; this is cessation. Thus the five occasions for liberation are elaborated in detail. These are the two truths: the cessation and the path.
Câu ‘với chân lý’, đây là Đạo đế. Câu ‘đã đoạn tận tái sanh’, đây là Diệt đế. Đây là hai Thánh đế. Năm xứ giải thoát: ‘Bậc Đạo Sư thuyết pháp hoặc một vị đồng phạm hạnh có trí khác thuyết pháp’ nên được trình bày chi tiết. Đối với người thấu hiểu ý nghĩa, hân hoan sanh khởi; đối với người hân hoan, hỷ sanh khởi; cho đến khi nhàm chán, vị ấy ly tham, đây là Đạo đế. Sự giải thoát nào, đây là Diệt đế. Như vậy, năm xứ giải thoát nên được trình bày chi tiết. Đây là hai Thánh đế: Diệt đế và Đạo đế.
Imāni sādhāraṇāni suttāni. Imehi sādhāraṇehi suttehi yathānikkhittehi paṭivedhato ca lakkhaṇato ca otāretvā aññāni suttāni niddisitabbāni aparihāyantena. Gāthāhi gāthā anuminitabbā, byākaraṇehi byākaraṇaṃ. Ime ca sādhāraṇā dasa parivaḍḍhakā eko ca catukko niddeso sādhāraṇo. Ayañca pakiṇṇakaniddeso. Ekaṃ pañca cha ca savekadeso sabbaṃ. Ime dve parivajjanā purimakā ca dasa. Ime dvādasa parivaḍḍhakā saccāni. Ettāvatā sabbaṃ suttaṃ natthi, taṃ byākaraṇaṃ vā gāthā viya. Imehi dvādasahi parivaḍḍhakehi na otarituṃ appamattena pariyesitvā niddisitabbā.
These suttas are general. By means of these general suttas, as they are laid down, other suttas should be indicated without omission, applying them by way of penetration and by way of characteristic. Verses should be inferred by means of verses, and an explanation by means of explanations. These ten general suttas are enlargements, and the one tetrad exposition is general. And this is the miscellaneous exposition. Thus, with a partial exposition, all of that miscellaneous exposition is the fifth and sixth. Excluding these two, and the former ten, these twelve are enlargements of the truths. To this extent, there is no entire sutta. That, like an explanation or a verse, should not be indicated by applying these twelve enlargements after searching with little effort.
Đây là các kinh chung. Từ những kinh chung đã được trình bày này, nên áp dụng về phương diện liễu tri và đặc tính để chỉ ra các kinh khác một cách không thiếu sót. Nên suy diễn kệ tụng từ các kệ tụng, giải thuyết từ các giải thuyết. Mười kinh chung này là những phần phát triển, và một chỉ dẫn về bộ bốn là chung. Và đây là chỉ dẫn tạp loại. Một, năm, và sáu, với một phần là tất cả. Loại trừ hai phần này, cùng với mười phần trước. Mười hai phần này là những phần phát triển của các chân lý. Trong chừng mực này, không phải tất cả kinh điển, dù là giải thuyết hay kệ tụng, đều có thể được áp dụng từ mười hai phần phát triển này; nên tìm kiếm với sự không dể duôi và không nên chỉ ra (một cách tùy tiện).
Tatthāyaṃ saṅkhepo. Sabbaṃ dukkhaṃ sattahi padehi samosaraṇaṃ gacchati. Katarehi sattahi? Appiyasampayogo ca piyavippayogo ca, imehi dvīhi padehi sabbaṃ dukkhaṃ niddisitabbaṃ. Tassa dve nissayā – kāyo ca cittañca. Tena vuccati ‘‘kāyikaṃ dukkhaṃ cetasikañce’’ti, natthi taṃ dukkhaṃ na kāyikaṃ vā na cetasikaṃ, sabbaṃ dukkhaṃ dvīhi dukkhehi niddisitabbaṃ kāyikena ca cetasikena ca. Tīhi dukkhatāhi saṅgahitaṃ dukkhadukkhatāya saṅkhāradukkhatāya vipariṇāmadukkhatāya. Iti taṃ sabbaṃ dukkhaṃ tīhi dukkhatāhi saṅgahitaṃ. Iti idañca dukkhaṃ tividhaṃ. Duvidhaṃ dukkhaṃ kāyikañca cetasikañca. Duvidhaṃ appiyasampayogo ca piyavippayogo ca. Idaṃ sattavidhaṃ dukkhaṃ.
Herein, this is the summary. All suffering converges into seven terms. By which seven? Association with the unloved and separation from the loved—by these two terms all suffering is to be indicated. It has two bases: the body and the mind. Hence it is said, ‘bodily suffering and mental suffering.’ There is no suffering that is not either bodily or mental; all suffering is to be indicated by two kinds of suffering: bodily and mental. It is comprised by the three kinds of suffering: suffering as pain, suffering due to formations, and suffering due to change. Thus all that suffering is comprised by the three kinds of suffering. Thus this suffering is threefold. Suffering is twofold: bodily and mental; and twofold: association with the unloved and separation from the loved. This is the sevenfold suffering.
Ở đây, đây là phần tóm tắt. Tất cả khổ quy tụ về bảy mục. Bảy mục nào? Gặp điều không ưa và lìa điều ưa, tất cả khổ nên được chỉ ra bằng hai mục này. Khổ ấy có hai nền tảng: thân và tâm. Do đó được gọi là ‘khổ thuộc thân và khổ thuộc tâm’. Không có khổ nào mà không thuộc thân hoặc không thuộc tâm. Tất cả khổ nên được chỉ ra bằng hai loại khổ: khổ thuộc thân và khổ thuộc tâm. (Khổ) được bao gồm trong ba khổ tánh: khổ khổ tánh, hành khổ tánh, và hoại khổ tánh. Như vậy, tất cả khổ ấy được bao gồm trong ba khổ tánh. Như vậy, khổ này có ba loại. Khổ có hai loại: thuộc thân và thuộc tâm. (Khổ) có hai loại: gặp điều không ưa và lìa điều ưa. Đây là khổ có bảy loại.
Tattha tividho samudayo acatuttho apañcamo. Katamo tividho? Taṇhā ca diṭṭhi ca kammaṃ. Tattha taṇhā ca bhavasamudayo kammaṃ. Tathā † nibbattassa hīnapaṇītatā †, ayaṃ samudayo. Iti yāpi bhavagatīsu hīnatā ca paṇītatā ca, yāpi tīhi dukkhatāhi saṅgahitā, yopi dvīhi mūlehi samudānīto avijjāya nivutassa bhavataṇhāsaṃyuttassa saviññāṇako kāyo, sopi tīhi dukkhatāhi saṅgahito.
Herein, the origin is threefold, not a fourth, not a fifth. Which three? Craving, view, and kamma. Herein, craving and kamma are the origin of existence. Likewise, the inferiority and superiority of one who is reborn—this is the origin. Thus, whatever inferiority and superiority there is in the destinations of existence, whatever is comprised by the three kinds of suffering, and whatever body with consciousness there is, brought forth by the two roots for one who is enveloped by ignorance and yoked to craving for existence—that too is comprised by the three kinds of suffering.
Ở đây, Tập đế có ba loại, không phải thứ tư, không phải thứ năm. Ba loại nào? Ái, kiến, và nghiệp. Trong đó, ái và nghiệp là nguyên nhân sanh khởi của hữu. Tương tự, sự thấp kém và cao thượng của người đã sanh, đây là Tập đế. Như vậy, sự thấp kém và cao thượng nào trong các cõi hữu, sự bao gồm nào bởi ba khổ tánh, và thân có thức nào được mang lại bởi hai gốc rễ của người bị vô minh che lấp, tương ưng với hữu ái, thân ấy cũng được bao gồm bởi ba khổ tánh.
Tathā vipallāsato diṭṭhibhavagantabbā. Sā sattavidhā niddisitabbā. Eko vipallāso tīṇi niddisīyati, cattāri vipallāsavatthūni. Tattha katamo eko vipallāso? Yo viparītaggāho paṭikkhepena, otaraṇaṃ yathā ‘‘anicce nicca’’miti viparītaṃ gaṇhāti. Evaṃ cattāro vipallāsā. Ayameko vipallāsīyati saññā cittaṃ diṭṭhi. Katamāni cattāri vipallāsavatthūni? Kāyo vedanā cittaṃ dhammā. Evaṃ vipallāsagatassa akusalañca pavaḍḍheti. Tattha saññāvipallāso dosaṃ akusalamūlaṃ pavaḍḍheti. Cittavipallāso lobhaṃ akusalamūlaṃ pavaḍḍheti. Diṭṭhivipallāso mohaṃ akusalamūlaṃ pavaḍḍheti. Tattha dosassa akusalamūlassa tīṇi micchattāni phalaṃ – micchāvācā micchākammanto micchāājīvo; lobhassa akusalamūlassa tīṇi micchattāni phalaṃ – micchāsaṅkappo micchāvāyāmo micchāsamādhi; mohassa akusalamūlassa dve micchattāni phalaṃ – micchādiṭṭhi ca micchāsati ca. Evaṃ akusalaṃ sahetu sappaccayaṃ vipallāsā ca paccayo, akusalamūlāni sahetū eteyeva paṭipakkhena anūnā anadhikā dvīhi paccayehi niddisitabbā. Nirodhe ca magge ca vipallāsamupādāya parato † paṭipakkhena catasso.
Likewise, from distortion, wrong view should be understood. It should be indicated as sevenfold. One distortion is indicated as threefold, with four objects of distortion. Herein, what is the one distortion? Whatever inverted grasp there is, it is indicated by way of rejection; as when one grasps the inverted, applying 'permanent' to the impermanent. Thus, there are four distortions. This one distortion occurs through perception, mind, and view. What are the four objects of distortion? Body, feeling, mind, and phenomena. Thus, for one who has gone to distortion, the unwholesome increases. Herein, the distortion of perception increases hatred, an unwholesome root. The distortion of mind increases greed, an unwholesome root. The distortion of view increases delusion, an unwholesome root. Herein, for the unwholesome root of hatred, three wrongnesses are the fruit: wrong speech, wrong action, and wrong livelihood. For the unwholesome root of greed, three wrongnesses are the fruit: wrong thought, wrong effort, and wrong concentration. For the unwholesome root of delusion, two wrongnesses are the fruit: wrong view and wrong mindfulness. Thus the unwholesome is with cause and with condition; the distortions are a condition, and the unwholesome roots have their causes. These very things, neither deficiently nor excessively, should be indicated by way of their opposites with two conditions. In the case of cessation and the path, based on distortion, it is to be indicated later by way of opposition.
Tương tự, tà kiến nên được hiểu là do sự điên đảo. Nó nên được chỉ ra theo bảy cách. Một điên đảo được chỉ ra thành ba, trên bốn đối tượng của điên đảo. Trong đó, một điên đảo là gì? Là sự chấp thủ sai lầm, được chỉ ra bằng cách phủ định, sự đi vào như là chấp thủ sai lầm rằng ‘trong vô thường có thường’. Như vậy có bốn điên đảo. Một điên đảo này bị điên đảo bởi tưởng, tâm, và kiến. Bốn đối tượng của điên đảo là gì? Thân, thọ, tâm, và pháp. Như vậy, đối với người đã đi vào điên đảo, bất thiện cũng tăng trưởng. Trong đó, tưởng điên đảo làm tăng trưởng sân là gốc bất thiện. Tâm điên đảo làm tăng trưởng tham là gốc bất thiện. Kiến điên đảo làm tăng trưởng si là gốc bất thiện. Trong đó, đối với sân là gốc bất thiện, có ba tà tánh là quả: tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng; đối với tham là gốc bất thiện, có ba tà tánh là quả: tà tư duy, tà tinh tấn, tà định; đối với si là gốc bất thiện, có hai tà tánh là quả: tà kiến và tà niệm. Như vậy, bất thiện có nhân, có duyên; các điên đảo là duyên, các gốc bất thiện là nhân. Chính những điều này, không thiếu không thừa, nên được chỉ ra bằng cách đối lập với hai duyên. Trong Diệt đế và Đạo đế, do nương vào điên đảo, về sau nên chỉ ra bằng cách đối lập.
Tatthimā uddānagāthā
Therein, these are the summary verses:
Ở đây, đây là các kệ tóm lược:
Avijjāya nivuto loko, cittaṃ saṃyojanampi;
Sā pacchinnabhavataṇhā, dvemā ceva vimuttiyo.
The world is shrouded by ignorance; the mind also has its fetter. She has severed the craving for becoming; these indeed are the two liberations.
Thế gian bị vô minh che lấp, tâm cũng là sự trói buộc; Vị ấy đã đoạn tận hữu ái, và đây chính là hai sự giải thoát.
Kumbhūpamaṃ kāyamimaṃ, yaṃ na tumhākaṃ taṃ pajaha †;
Ye keci sokaparidevā, timbaruko ca sayaṃkataṃ.
This body is like a pot; abandon that which is not yours. Whatever sorrow and lamentation, the self-made, and intense suffering.
Thân này ví như cái nồi. Cái gì không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó. Bất cứ sầu bi nào, và khổ đau dữ dội là do tự mình làm.
Dukkhaṃ diṭṭhi ca uppannaṃ, yañca gopālakopamaṃ;
Sati kāyagatā māhu, samatho ca vipassanā.
Suffering and view that has arisen, and the simile of the cowherd; mindfulness directed to the body, they say, is serenity and insight.
Khổ và tà kiến nào đã sanh khởi, và cái gì ví như người chăn bò. Niệm thân hành, họ gọi là cả chỉ lẫn quán.
Āsā pihā ca abhinandanā ca, catunnamananubodhanā;
Yāni sotāni lokasmiṃ, daḷhaṃ nemiyānākāro.
Hope, yearning, and delight; not awakening to the four; whatever streams are in the world; the firm rim, the maker of the vehicle.
Sự mong mỏi, sự ước ao, và sự vui thích, và do không giác ngộ bốn pháp. Những dòng chảy nào có trong thế gian, người làm xe làm vành xe một cách chắc chắn.
Yaṃ nissitassa calitaṃ, anupaṭṭhitakāyagatāsati;
Sayaṃ katena saccena, vimuttāyatanehi ca.
Whatever agitation there is for one who is dependent; one with unestablished mindfulness directed to the body; by the self-made truth, and by the spheres of liberation.
Sự dao động của người còn nương tựa, người không an trú niệm thân hành. Do chân lý tự mình thực hiện, và do các giải thoát xứ.
Peṭakopadese mahākaccāyanena bhāsite paṭhamabhūmi ariyasaccappakāsanā nātaṃ jīvatā bhagavatā mādisena samuddanena tathāgatenāti.
In the Peṭakopadesa spoken by Mahākaccāyana, the first section is named the Exposition of the Noble Truths. It was well-proclaimed by the Blessed One, the Tathāgata, who has relinquished life, and is now spoken by one like me.
Trong bộ Peṭakopadesa do trưởng lão Mahākaccāyana thuyết giảng, địa thứ nhất tên là Minh Giải về Thánh Đế đã được hoàn tất. Bộ luận này đã được Đức Thế Tôn, bậc Như Lai, tuyên thuyết một cách tốt đẹp, và được người như ta trình bày.