Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
PE 1

Bản dịch

PE 1Lãnh Vực Thứ Nhất: Bày Tỏ Về Bốn Chân Lý Cao Thượng

1. Ariyasaccappakāsanapaṭhamabhūmi

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!

Kính lễ chư vị Chánh Đẳng Giác, các bậc nhìn thấy mục đích tối hậu, và đã đạt đến sự toàn hảo của các đức tính như là: giới, v.v...

(1). Có hai nhân, hai duyên đưa đến sự sanh khởi chánh kiến cho vị Thinh Văn: lời phát biểu từ người khác có sự kết nối với Chân Lý, và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần.

(2). Ở đấy, lời phát biểu từ người khác là gì? Là lời chỉ bảo, lời giáo huấn, lời chỉ dạy, lời thuyết giảng về Chân Lý có sự phù hợp với Chân Lý từ người khác (nói). Bốn Chân Lý là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Lời chỉ bảo, sự chỉ rõ, sự khai mở, sự chia sẻ, sự làm rõ, sự bày tỏ về bốn Chân Lý này được gọi là “lời nói có sự phù hợp với Chân Lý.”

(3). Ở đấy, tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là gì? Tác ý đúng đường lối thuộc nội phần nghĩa là: tác ý đúng đường lối nào ở trong (phạm vi) Giáo Pháp như đã được chỉ bảo (và) không hướng ra đối tượng thuộc ngoại phần; điều này được gọi là tác ý đúng đường lối thuộc nội phần. Biểu hiện đúng đường lối – của việc ấy (!) – là cánh cửa, là lộ trình, là cách thức.

Giống như một người, trong khi cọ xát những nhánh củi khô, không còn nhựa, với phần trên của đồ tạo lửa khô ráo ở trên mặt đất thì có thể đưa đến việc đạt được ngọn lửa. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Đúng đường lối đưa đến việc đạt được ngọn lửa. Tương tự y như thế, đối với người này là việc vị ấy tác ý đến lời chỉ bảo Giáo Pháp không bị sai lệch về (bốn Chân Lý) Khổ– Tập–Diệt–Đạo; điều này được gọi là tác ý đúng đường lối thuộc nội phần.

(4). Giống như ba ví dụ chưa từng được nghe trước đây và trước đây chưa từng được nghe (sẽ) làm sáng tỏ. “Bất cứ người nào chưa được xa lìa sự luyến ái về các dục”… Hai ví dụ (đầu) được thực hiện không đúng đường lối, ví dụ thứ ba đúng đường lối đã được nói đến.

Ở đấy, lời phát biểu từ người khác và tác ý đúng đường lối thuộc nội phần là hai duyên. Tuệ sanh khởi do lời phát biểu từ người khác được gọi là ‘tuệ có yếu tố tạo thành do điều đã được nghe (tuệ văn).’ Tuệ sanh khởi do tác ý đúng đường lối thuộc nội phần được gọi là ‘tuệ có yếu tố tạo thành do suy nghiệm (tuệ tư).’ Hai tuệ này cần được biết, và hai duyên trước đây, đây là hai nhân, hai duyên đưa đến sự sanh khởi chánh kiến cho vị Thinh Văn.

(5). Ở đấy, ‘người không nhận thức được ý nghĩa của điều đã được chỉ bảo có sự kết nối với Chân Lý ở lời phát biểu từ người khác sẽ là người có sự cảm nhận được ý nghĩa,’ sự kiện này không xảy ra; và ‘người không có sự cảm nhận được ý nghĩa sẽ tác ý đúng đường lối,’ sự kiện này không xảy ra. Còn ‘người nhận thức được ý nghĩa của điều đã được chỉ bảo có sự kết nối với Chân Lý ở lời phát biểu từ người khác sẽ là người có sự cảm nhận được ý nghĩa,’ sự kiện này có xảy ra; và ‘người có sự cảm nhận được ý nghĩa sẽ tác ý đúng đường lối,’ sự kiện này có xảy ra. Điều này là nhân, điều này là đối tượng, điều này là cách thức cho việc đi ra khỏi (luân hồi) của vị Thinh Văn; không có cách nào khác.

(6). Và người không gắn bó với việc nhận thức ý nghĩa của Kinh, thậm chí người có sự gắn bó với lời phát biểu mà không nhận thức được ý nghĩa ởlời phát biểu từ người khác,thì cũng không thể nào chứng đắc pháp thượng nhân, sự biết và sự thấy xứng đáng bậc Thánh; vì thế, người mong muốn Niết Bàn nên tầm cầu các ý nghĩa thông qua nội dung điều đã được nghe. Ở đấy, đây là sự tuần tự trong việc tầm cầu (tìm hiểu): Mười sáu cách truyền đạt, năm phương pháp, mười tám thuật ngữ căn bản.

Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:

1. Mười sáu cách truyền đạt là sự hướng dẫn, năm phương pháp là sự tầm cầu về giáo lý, mười tám thuật ngữ căn bản đã được diễn giải bởi vị thuộc dòng họ Kaccāyana.

(7). Ở đấy, mười sáu cách truyền đạt là những gì?

Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng, tướng trạng, bốn sự dàn trận, sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, từ đồng nghĩa, sự mô tả, sự liệt kê, sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, sự xếp loại. Đây là mười sáu cách truyền đạt.

Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:

2. Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng và tướng trạng, bốn sự dàn trận và sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, –

3. – từ đồng nghĩa và sự mô tả, sự liệt kê và sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, và sự xếp loại là mười sáu (cách truyền đạt).

Ở đấy, năm phương pháp là những gì? Xoay vần với sự hoan hỷ, ba trình tự, sự tiêu khiển của các sư tử, việc định hướng, cái móc câu.

Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:

4. ‘Xoay vần với sự hoan hỷ’ là (phương pháp) thứ nhất, ‘ba trình tự’ là thứ nhì, phương pháp thứ ba ấy có tên là ‘sự tiêu khiển của các sư tử.’

5. Họ đã nói ‘việc định hướng’ là phương pháp và cách bày tỏ thứ tư, thứ năm có tên là ‘cái móc câu;’ tất cả năm phương pháp đã được đề cập.

Ở đấy, mười tám thuật ngữ căn bản là những gì? Vô minh, tham ái, tham, sân, si, tịnh tưởng, lạc tưởng, thường tưởng, ngã tưởng, chỉ tịnh, minh sát, vô tham, vô sân, vô si, bất tịnh tưởng, khổ não tưởng, vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Đây là mười tám thuật ngữ căn bản. Ở đấy, chín thuật ngữ về bất thiện là nơi tất cả bất thiện hội tụ lại, chín thuật ngữ về thiện là nơi tất cả thiện hội tụ lại.

Chín thuật ngữ về bất thiện, nơi tất cả bất thiện hội tụ lại, là các thuật ngữ nào? Là các thuật ngữ từ ‘vô minh’ ... cho đến ... ‘ngã tưởng;’ chín thuật ngữ về bất thiện này là nơi tất cả bất thiện hội tụ lại. Chín thuật ngữ về thiện, nơi tất cả thiện hội tụ lại, là các thuật ngữ nào? Là các thuật ngữ từ ‘chỉ tịnh’ ... cho đến ... ‘vô ngã tưởng;’ chín thuật ngữ về thiện này là nơi tất cả thiện hội tụ lại. Đây là mười tám thuật ngữ căn bản.

Ở đấy, đây là câu kệ tóm lược:

6. Tham ái và luôn cả vô minh, tham, sân, và tương tự như thế là si, và bốn sự trái khuấy; chín thuật ngữ (này) là lãnh vực của ô nhiễm.

7. Chỉ tịnh và minh sát, và ba gốc rễ thuộc về thiện, và luôn cả (bốn) sự thiết lập niệm; chín thuật ngữ (này) là lãnh vực của các quyền.

8. Thiện với chín thuật ngữ, tất cả bất thiện được kết nối với chín (thuật ngữ). (Cả hai nhóm) chín thuật ngữ căn bản này là mười tám thuật ngữ.

Trong số mười tám thuật ngữ căn bản này, chín thuật ngữ về bất thiện là nhân sanh Khổ (Khổ Tập), chín thuật ngữ về thiện là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Khổ Diệt). Như thế, đối với nhân sanh (Tập), Khổ là quả; đối với lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo), sự diệt tận (Diệt, Niết Bàn) là quả. Bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được đức Thế Tôn chỉ bảo ở Bārāṇasī.

Ở đấy, có vô số mẫu tự, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, cách diễn giải đối với Chân Lý Cao Thượng về Khổ đã được chỉ bảo nhằm phơi bày, bày tỏ, khai mở, phân tích, làm rõ, công bố ý nghĩa của chính điều này; tương tự như vậy đối với tất cả các Chân Lý (Tập, Diệt, Đạo). Như thế, mỗi một Chân Lý nên được tầm cầu (tìm hiểu) thông qua vô số mẫu tự, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, cách diễn giải; và điều ấy, hơn nữa, có ý nghĩa với tính chất đa dạng về ý nghĩa, có văn tự với tính chất đa dạng về văn tự.

Bởi vì, bất cứ vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào nói như vầy: “Tôi sẽ bác bỏ Khổ này và sẽ công bố Khổ khác,” đối với vị ấy, khi được hỏi về sự việc của chính lời nói ấy thì vị ấy sẽ không chứng minh được; tương tự như vậy về các Chân Lý (Tập, Diệt, Đạo).

Vào đêm đức Thế Tôn đã chứng quả Toàn Giác và vào đêm Ngài đã viên tịch Niết Bàn do không còn chấp thủ, trong khoảng thời gian này, bất cứ sutta, geyya, veyyākaraṇa, gāthā, udāna, itivuttaka,jātaka, abbhūta- dhamma, vedalla nào đã được thuyết bởi đức Thế Tôn, toàn bộ Bánh Xe Pháp ấy đã được chuyển vận. Không có bất cứ điều gì trong sự chỉ bảo Giáo Pháp của chư Phật Thế Tôn là ở ngoài Bánh Xe Pháp. Toàn bộ Kinh (lời dạy) của Ngài về các pháp của bậc Thánh cần được tầm cầu. Ở đấy, bốn Chân Lý này là vững chắc, có các phần soi sáng cho việc học hiểu.

Ở đấy, Khổ là gì? Sanh, già, bệnh, chết, một cách tóm tắt năm tập hợp về chấp thủ (ngũ thủ uẩn) là Khổ.

Ở đấy, đây là sự diễn giải về tướng trạng: Sanh có sự hiện khởi là tướng trạng, già có sự chín muồi là tướng trạng, bệnh có trạng thái khổ do (thọ) khổ là tướng trạng, chết có sự lìa đời là tướng trạng, sầu muộn có sự bứt rứt về việc xa lìa và biến hoại của đối tượng yêu mến là tướng trạng, bi thảm có việc nói lảm nhảm là tướng trạng, khổ đau có sự ép bức thân là tướng trạng, ưu phiền có sự ép bức tâm là tướng trạng, lo âu có sự thiêu đốt tâm là tướng trạng, sự gần gũi đối tượng không yêu mến có sự kết hợp với đối tượng không hợp ý là tướng trạng, sự xa lìa đối tượng yêu mến có sự tách rời với đối tượng hợp ý là tướng trạng, tổn thất có sự thối lui của chủ tâm là tướng trạng, năm thủ uẩn có sự không biết toàn diện là tướng trạng, già và chết có sự chín muồi và sự tử vong là tướng trạng, tử vong và tái sanh có sự tử vong và sự hiện khởi là tướng trạng, Tập có sự nối liền tái sanh và sự hạ sanh là tướng trạng, Diệt có sự từ bỏ hoàn toàn Tập là tướng trạng, Đạo có sự đoạn trừ trạng thái tiềm ẩn là tướng trạng, Khổ có bệnh tật là tướng trạng, Tập có sự sanh khởi là tướng trạng, Đạo có sự đi ra khỏi là tướng trạng, Diệt có sự an tịnh là tướng trạng, Niết Bàn Giới không còn dư sót có sự không nối liền tái sanh và sự diệt tận của hữu là tướng trạng, Khổ và Tập, Khổ và Diệt, Khổ và Đạo, Tập và Khổ, Tập và Diệt, Tập và Đạo, Diệt và Tập, Diệt và Khổ, Diệt và Đạo, Đạo và Diệt, Đạo và Tập, Đạo và Khổ.

(8). Ở đấy, có các Kinh này:

Ở đấy, sanh là gì?

01. “Việc đầu tiên (của sự tục sanh) là một đêm (hoặc một ngày) bào thai trú ở bụng mẹ. Ngay khi đã được hình thành, nó (liên tục) phát triển. Trong khi tiến triển, nó không dừng lại.”

Kinh ở Tăng Chi là: “Này Ānanda, đây là tám sự tái sanh liên quan đến bố thí;” đây là sanh.

Ở đấy, già là gì?

02. Những người đã không thực hành Phạm hạnh, đã không đạt được tài sản lúc còn trẻ, ví như những con cò già trầm tư ở hồ nước cạn, không còn cá. Năm dấu hiệu báo trước ở các vị Thiên nhân; đây là già.

Ở đấy, bệnh là gì?

03. Tự mình với việc ấy, tâu đại vương, do đâu bệ hạ cũng cảm nhận được: ‘Già là cái này’? Tâu vị Sát-đế-lỵ, có kết quả của nghiệp, thế gian quả thật không điều khiển được nghiệp. Ba hạng người bệnh; đây là bệnh.

Ở đấy, chết là gì?

04. Cũng giống như cái chậu bằng đất sét đã được làm ra bởi người thợ gốm, cái nhỏ và cái lớn, cái đã nung và cái chưa nung, tất cả có sự bể vỡ là chặng cuối; mạng sống của loài người là tương tự như vậy.

05. Hãy nhìn xem những kẻ đang chao động về vật đã được chấp là của ta, tựa như những con cá ở chỗ ít nước, ở dòng chảy bị cạn kiệt. Và sau khi nhìn thấy điều ấy, nên sống không chấp là của ta, không tạo nên sự vướng bận ở các hữu.

Kinh Udakappana; đây là chết.

Ở đấy, sầu muộn là gì?

06. Sầu muộn ở đời này, sầu muộn sau khi chết, kẻ làm ác sầu muộn ở cả hai nơi. Sau khi nhìn thấy sự ô nhiễm ở việc làm của bản thân, kẻ ấy sầu muộn, kẻ ấy sầu khổ. Ba uế hạnh (do thân khẩu ý); đây là sầu muộn.

Ở đấy, bi thảm là gì?

07. Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm, là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái. Bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn: ‘Vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi chết từ nơi đây? Ba sự hư hỏng (về giới, về tâm, về nhận thức); đây là bi thảm. Ở đấy, khổ đau là gì?

08. Đã có trăm cây cọc sắt, tất cả có cảm thọ tự chính mình, chúng bị thiêu đốt bởi chính ngọn lửa, bị bao trùm bởi đám lửa. Kinh thuộc Tương Ưng, ở các Tương Ưng Sự Thật là: “Sự bực bội ấy quả thật lớn lao;” đây là khổ đau. Ở đấy, ưu phiền là gì?

09. Kẻ ấy, bị chế ngự bởi các suy tư, trầm tư như là kẻ khốn khổ. Sau khi lắng nghe lời tuyên bố của những người khác, kẻ thuộc hạng thế ấy trở nên tủi hổ. Đây là hai pháp làm cho bứt rứt; đây là ưu phiền. Ở đấy, lo âu là gì?

10. Giống như bễ lò của những người thợ rèn được thiêu đốt ở bên trong, không ở bên ngoài, cũng tương tự như vậy, trái tim của trẫm bị thiêu đốt ở bên trong, không ở bên ngoài. Ba ngọn lửa (tham, sân, si); đây là lo âu. Ở đấy, sự gần gũi đối tượng không yêu mến là gì?

11. Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sau khi sanh lên từ khối sắt nó ăn mòn chính khối sắt ấy, tương tự như thế, các việc làm của bản thân dẫn dắt kẻ có sự thọ dụng bốn món vật dụng thiếu sự quán xétđi đến khổ cảnh. Kinh thuộc Tăng Chi, ở các Nhóm Hai Pháp là: “Hai hạng người này gièm pha đức Như Lai;” đây là sự gần gũi đối tượng không yêu mến. Ở đấy, sự xa lìa đối tượng yêu mến là gì?

12. Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao, khi thức giấc, người không còn nhìn thấy, tương tự như thế, với người được yêu thương đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa. “Các vị Thiên nhân ấy, sau khi nhận ra hiện tượng lìa đời, mới chỉ dạy với ba lời nói;” đây là sự xa lìa đối tượng yêu mến. Luôn cả việc không đạt được điều ước muốn là: “Ba người con gái của Ma Vương.”

13. Nếu đối với người ấy, – (tức là) đối với người đang ham muốn, đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi, – các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên. Một cách tóm tắt năm tập hợp về chấp thủ (ngũ thủ uẩn) là Khổ.

14. Mắt, tai, và mũi, lưỡi, thân, kế đó là ý, các vật-chất-thế-gian này là ghê rợn, là nơi các phàm nhân bị dính mắc. “Này các tỳ khưu, đây là năm uẩn;” đây là Khổ.

Ở đấy, già và chết là những gì?

15. Quả thật, mạng sống này là ít ỏi, thậm chí ít hơn một trăm tuổi cũng chết rồi. Nếu người nào vượt qua (hạn tuổi ấy) vẫn còn sống, người ấy rồi cũng chết vì già. Kinh thuộc Tương Ưng, ở Tương Ưng Pasenadi là: “Thái hậu của trẫm đã qua đời;” đây là già và chết.

Ở đấy, tử vong và tái sanh là những gì?

16. “Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác.” Đây là tử vong và tái sanh.

Sau khi biết về Khổ theo tướng trạng nhờ vào những Kinh này và những Kinh khác có tính chất tương tự đã được xếp vào chín thể loại về Kinh ấy, Chân Lý Cao Thượng về Khổ có tính chất phổ biến và có tính chất không phổ biến nên được diễn giải. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn (gāthā), hoặc thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa; đây là Khổ.

Ở đấy, Khổ Tập là gì?

17. “Bị dính mắc vào các dục, bị dính mắc bởi sự quyến luyến các dục, trong khi không nhìn thấy tội lỗi ở sự ràng buộc, những người bị dính mắc với các sự ràng buộc và các sự quyến luyến chắc chắn không thể vượt qua dòng lũ bao la rộng lớn.” Kinh về bốn lậu hoặc; đây là nhân sanh Khổ (Khổ Tập).

Ở đấy, sự diệt tận Khổ (Khổ Diệt) là gì?

18. “Ở người nào không có xảo quyệt trú ngụ, không có ngã mạn, người nào có tham đã lìa, không sở hữu, không mong mỏi, có sự giận dữ đã được xua đi, có bản thân đã được tịch tịnh, người ấy là Bà-la-môn, người ấy là Sa-môn, người ấy là tỳ khưu.” “Này các tỳ khưu, đây là hai sự giải thoát: xa lìa luyến ái là sự giải thoát của tâm và xa lìa vô minh là sự giải thoát của tuệ;” đây là Diệt.

Ở đấy, Đạo là gì?

19. Chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, đưa đến sự thanh tịnh của nhận thức. Vì thế, các ngươi hãy thực hành đạo lộ này; đạo lộ này là sự mê mờ đối với Ma Vương. “Này các tỳ khưu, đây là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ;” đây là Đạo.

Ở đấy, bốn Chân Lý Cao Thượng là những gì?

20. “Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”

Các pháp có nguồn sanh khởi do nhân, nhân là Tập; lời nói của đức Thế Tôn là Đạo; sự diệt tận của các pháp ấy là Diệt.

Bởi vì bất cứ những ai sống có sự quan sát đến niềm hứng thú ở các pháp đưa đến ràng buộc, thì ô nhiễm tham ái phát triển (ở những người ấy); do duyên tham ái, thủ (sanh khởi) –nt– Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Ở đấy, sự ràng buộc là Tập; các pháp đưa đến ràng buộc và sầu–bi– khổ–ưu–não sanh khởi, đây là Khổ; việc quan sát đến sự bất lợi ở các pháp đưa đến ràng buộc là Đạo; người được hoàn toàn thoát khỏi sanh, già, các bệnh tật, chết, các sầu muộn, bi thảm ... cho đến ... các lo âu, đây là Niết Bàn.

Đây là bốn Chân Lý.

Ở đấy, Niết Bàn Giới không còn dư sót là gì?

21. (Đức Thế Tôn nói: “Này Upasīva,) đối với vị đã đi đến sự chấm dứt, thì không có sự ước lượng (phỏng đoán). Với điều nào người ta có thể nói về vị ấy, thì điều ấy không còn có đối với vị ấy. Khi tất cả các pháp đã được bứng lên, các nền tảng cho việc nói đến cũng được bứng lên.”

Kinh Godhika ở Tương Ưng Bộ.

Đây là Niết Bàn Giới không còn dư sót.

Đây là những Kinh có tính chất không phổ biến. Sau khi xác định thông qua tướng trạng của các Chân Lý ở mỗi trường hợp mà các Chân Lý đã được diễn giải, ý nghĩa ấy nên được tầm cầu thông qua vô số các văn tự. Ở đấy, có sự xoay quanh ý nghĩa với văn tự, rồi lại có sự xoay quanh văn tự với ý nghĩa, có vô số các văn tự cho mỗi một trường hợp ấy; bốn Chân Lý Cao Thượng nên được diễn giải bằng những Kinh này theo như đã được trình bày. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn, thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa (!) đã được xếp vào năm bộ (Kinh). Đây là các Kinh có tính chất không phổ biến.

Đây là các câu kệ tóm lược của những phần ấy: (a) Việc đầu tiên (của sự tục sanh) là một đêm, tám sự tái sanh liên quan đến bố thí, những người đã không thực hành Phạm hạnh, năm dấu hiệu báo trước. (b) Tự mình với việc ấy, do đâu tâu đại vương, và luôn cả ba hạng người bệnh, cũng giống như bởi người thợ gốm, Kinh Udakappana về vật đã được chấp là của ta. (c) Sầu muộn ở đời này, sầu muộn sau khi chết, và ba uế hạnh, bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, cho đến ba sự hư hỏng. (d) Đã có trăm cây cọc sắt, sự bực bội ấy còn lớn lao hơn, kẻ ấy bị chế ngự bởi các suy tư, hai pháp làm cho bứt rứt là như thế ấy. (e) Giống như bễ lò của những người thợ rèn, ba ngọn lửa đã được bày tỏ, chất rỉ sét đã được sanh lên từ khối sắt, sự gièm pha đức Như Lai. (f) Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao, sự chỉ dạy của các vị Thiên nhân gồm ba phần, và ba người con gái của Ma Vương, bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên. (g) Mắt, tai, và mũi, năm uẩn đã được bày tỏ, quả thật mạng sống này là ít ỏi, thái hậu của trẫm đã qua đời. (h) Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, đây là tái sanh và tử vong, bị dính mắc, bị ràng buộc ở các dục, thêm nữa là bốn lậu hoặc. (i) Ở người nào không có xảo quyệt trú ngụ, đây là hai sự giải thoát của tâm, chính cái này là đạo lộ, không có cái (đạo lộ) khác, các yếu tố đưa đến giác ngộ đã khéo được chỉ bảo. (j) Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, có sự quan sát các pháp đưa đến ràng buộc, đối với vị đã đi đến sự chấm dứt thì không có sự ước lượng, Godhika đã viên tịch Niết Bàn. Đây là mười câu kệ tóm lược của những phần ấy.

Ở đấy, các Kinh này là có tính chất phổ biến; ở những Kinh này các Chân Lý có tính chất phổ biến đã được chỉ bảo theo chiều thuận, theo chiều nghịch, và theo cả hai cách xen lẫn nhau. Ở đấy, đây là điểm khởi đầu:

22. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế giới bị bao trùm bởi vô minh, không chói sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là vật làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Ở đấy, vô minh và hoài nghi là Tập; sự nguy hiểm lớn lao là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập. Đoạn văn thuộc thể veyyākaraṇa (!) ở phần Các Tương Ưng về Tâm, thuộc Tương Ưng Bộ là: “Sự ràng buộc và các pháp đưa đến ràng buộc.” Ở đấy, sự ràng buộc là Tập; các pháp đưa đến ràng buộc là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Tập.

Ở đấy, Khổ và Diệt là gì?

23. Đối với vị tỳ khưu có tham ái ở hữu đã được trừ tuyệt, có tâm an tịnh, việc luân hồi tái sanh đã được cạn kiệt hẳn, đối với vị ấy không có sự hiện hữu lại nữa.

Ở đấy, tâm là Khổ; sự cắt đứt đối với tham ái ở hữu là Khổ Diệt. “Việc luân hồi tái sanh đã được cạn kiệt hẳn, đối với vị ấy không có sự hiện hữu lại nữa” là sự diễn giải. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Diệt.

“Này các tỳ khưu, đây là hai sự giải thoát: sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.” Ở đấy, tâm là Khổ; sự giải thoát là Diệt. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Diệt.

Ở đấy, Khổ và Đạo là gì?

24. Sau khi biết được thân này tương tự chậu đất nung, sau khi thiết lập tâm này tương tự thành trì, nên tấn công Ma Vương bằng vũ khí trí tuệ, và nên bảo vệ điều đã chiến thắng, nên có sự không ngơi nghỉ.

Ở đấy, thân tương tự chậu đất nung và tâm tương tự thành trì là Khổ; việc “nên tấn công Ma Vương bằng vũ khí trí tuệ” là Đạo. Đây là hai Chân Lý.

“Này các tỳ khưu, cái gì không thuộc về các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ cái ấy.” Ở đấy, sự dứt bỏ là Đạo; các pháp nào không thuộc về bản thân cần được dứt bỏ, từ ‘sắc’ ... cho đến ... ‘thức,’ là Khổ. Đây là hai Chân Lý: Khổ và Đạo.

Ở đấy, Khổ, Tập, và Đạo là gì?

25. Mọi sầu muộn hoặc than vãn, và những khổ đau ở thế gian với nhiều hình thức, những điều này phát khởi có liên quan đến đối tượng đáng yêu; khi đối tượng đáng yêu không có thì những điều này không có.

Ở đấy, những việc sầu muộn, bi thảm, và khổ não với nhiều hình thức được xuất phát từ yêu thương là Khổ; sự yêu thương là Tập; việc loại bỏ mong muốn và luyến ái, sự không hành động với đối tượng đáng yêu là Diệt. Đây là ba Chân Lý.

Du sĩ ngoại đạo Timbaruka phân biệt rằng: “Đã được tự mình tạo ra, đã được người khác tạo ra;” việc thẩm xét như thế là Khổ; lối thực hành trung đạo không đi theo hai thái cực ấy: ‘vô minh duyên cho các hành’ ... cho đến ... ‘sanh duyên cho lão tử’ là Khổ và Tập; thức, danh sắc, sáu xứ, xúc, thọ, hữu, sanh, lão tử là Khổ; vô minh, các hành, thamái, thủ là Tập. Như thế, “việc đã tự mình tạo ra có thể được thẩm xét” và khổ ở sự tùy thuận sanh khởi là Khổ và Tập đã được diễn giải. ‘Do sự diệt tận của vô minh (đưa đến) sự diệt tận của các hành’ ... cho đến ... ‘sự diệt tận của lãotử,’ điều này là Diệt. Đây là ba Chân Lý: Khổ, Tập, và Diệt.

Ở đấy, Khổ, Tập, và Đạo là gì?

26. “Người nào đã nhìn thấy khổ, rồi căn nguyên (của nó), làm thế nào người ấy có thể thiên về các dục? Bởi vì sau khi biết các dục là ‘sự quyến luyến ở thế gian,’ người có niệm nên học tập để loại bỏ chúng.”

Ở đấy, người nào đã nhìn thấy khổ, điều này là Khổ; từ đâu Khổ hình thành, điều này là Tập; cái đã được nhìn thấy, từ đâu nó hình thành, cho đến việc học tập để loại bỏ nó, điều này là Đạo. Đây là ba Chân Lý.

Kinh ‘Ví Dụ Người Chăn Bò’ ở Tăng Chi, Mười Một Pháp.

Ở đấy, việc biết về sắc, cái nào là sáu xứ, người ấy băng bó vết thương thế nào, cái nào là bến nước, người ấy đạt được sự vui mừng hân hoan cao quý liên hệ đến Giáo Pháp như thế nào, và nền tảng của bản ngã theo bốn cách (thiết lập niệm), điều này là Khổ; cho đến người trừ khử trứng của loài ruồi, điều này là Tập; việc biết về sắc, việc trừ khử trứng ruồi, việc băng bó vết thương, việc biết lộ trình, và sự thiện xảo ở hành xứ, điều này là Đạo. Các pháp còn lại thì có các nhân, có các duyên, có các sự nương tựa, người vắt sữa còn chừa lại (ít sữa cho bò con bú), nhiều sự cúng dường, các pháp là duyên của việc có bạn tốt, và việc biết lộ trình là nhân. Đây là ba Chân Lý.

Ở đấy, Khổ, Đạo, và Diệt là gì?

27. Với niệm hướng đến thân đã được thiết lập, đã được thu thúc ở sáu xúc xứ, vị tỳ khưu thường xuyên được định tĩnh, có thể biết được sự diệt tắt (ô nhiễm) của bản thân.

Ở đấy, niệm hướng đến thân, sáu xứ, toàn bộ điều này là Khổ; niệm hướng đến thân, sự thu thúc ở giới, định, và niệm ở nơi ấy, điều này là tuệ uẩn; tất cả giới uẩn, định uẩn, điều này là Đạo; Niết Bàn có thể được nhận biết bởi người an trú như vậy, điều này là Diệt. Đây là ba Chân Lý.

Sau khi đặt nền tảng ở giới, hai pháp cần được tu tập: chỉ tịnh và minh sát. Ở đấy, các pháp đồng sanh với tâm là Khổ; chỉ tịnh và minh sát là Đạo; sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là Diệt. Đây là ba Chân Lý.

Ở đấy, Tập và Diệt là gì?

28. Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên đã được cắm chặt vào nhiều nền tảng, các sự phát khởi có gốc rễ do vô trí, đã khởi tham muốn, tất cả đã được Ta làm cho chấm dứt, luôn cả gốc rễ. Ở đấy, “các sự phát khởi có gốc rễ do vô trí” với các điều (đã nêu) trước đó là Tập; “tất cả đã được Ta làm cho chấm dứt, luôn cả gốc rễ” là Diệt. Đây là hai Chân Lý.

“Do sự không thấu hiểu, do sự không thấu triệt bốn pháp này” nên được thực hiện với chi tiết về Giới, về Định, về Tuệ, về Giải Thoát thuộc về bậc Thánh. Ở đấy, sự không thấu hiểu, sự không thấu triệt bốn pháp này là Tập, sự thấu triệt lối dẫn dắt đến hữu là Diệt. Đây là Tập và Diệt.

Ở đấy, Tập và Đạo là gì?

29. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.” “Những dòng chảy nào,” điều này là Tập; tuệ, niệm, sự ngăn cản và sự chặn đứng, điều này là Đạo. Đây là hai Chân Lý.

Kinh Sañcetaniya: Người thợ đóng xe làm vành xe chắc chắn với thời gian sáu tháng đã được diễn giải. Ở đấy, thân nghiệp nào có sự cong queo, có sự sai sót, có sự khiếm khuyết, điều nào là trạng thái cong queo, trạng thái sai sót, trạng thái khiếm khuyết, đây là Tập; khẩu nghiệp, ý nghiệp là tương tự. Thân nghiệp nào không có sự cong queo, không có sự sai sót, không có sự khiếm khuyết, điều nào là tính chất không cong queo, tính chất không sai sót, tính chất không xấu xa, đây là Đạo; khẩu nghiệp, ý nghiệp là tương tự. Đây là hai Chân Lý: Tập và Đạo.

Ở đấy, Tập, Diệt, và Đạo là gì? “Đối với người nương tựa thì có dao động, đối với người không nương tựa thì không có dao động, khi không có dao dộng thì có an tịnh, khi có an tịnh thì không có thiên lệch, khi không có thiên lệch thì không có đến và đi, khi không có đến và đi thì không có tử và sanh, khi không có tử và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của khổ.”

Ở đấy, hai sự nương tựa là Tập; sự không nương tựa và sự không thiên lệch là Đạo; “không có đến và đi, không có tử và sanh, chính điều này là sự chấm dứt của khổ,” như thế là Diệt. Đây là ba Chân Lý.

Khi niệm ở thân không được thiết lập –nt– sự biết và thấy về giải thoát, đây là Tập. (?) Các sự giải thoát với mười một nơi nương tựa … cho đến … sự thành tựu nơi nương tựa an trú đối với vị có niệm ở thân đã được thiết lập. (?) Sự thu thúc về giới là liên quan đến hạnh ngụ ở mộ địa. (?)

‘Sự biết và thấy về giải thoát’ là Đạo; ‘sự giải thoát’ là Diệt. Đây là ba Chân Lý: Tập, Diệt, và Đạo.

Ở đấy, Diệt và Đạo là gì?

30. Với nghiệp đã được tự mình tạo ra, do đó, nhờ vào bản thân, vị đã đi đến sự tịch diệt, có sự nghi ngờ đã được vượt qua, và sau khi biết được sự không hiện hữu ở thế gian, giờ đây có sự tái sanh đã được cạn kiệt, vị ấy là tỳ khưu. ‘Với nghiệp’ là Đạo; ‘sự tái sanh đã được cạn kiệt’ là Diệt. Đây là hai Chân Lý.

“Có năm giải thoát xứ, bậc Đạo Sư thuyết giảng Giáo Pháp hoặc một vị đồng Phạm hạnh nào đó có sự hiểu biết” nên được thực hiện với chi tiết. Đối với vị có sự cảm nhận về ý nghĩa thì có sự hân hoan sanh, đối với vị được hân hoan thì có hỷ sanh, cho đến trong khi nhàm chán thì xa lìa luyến ái, điều này là Đạo; sự giải thoát là Diệt. Và năm giải thoát xứ với chi tiết là tương tự như vậy. Đây là hai Chân Lý: Diệt và Đạo.

Những Kinh này là có tính chất phổ biến. Sau khi xác định thông qua sự thấu triệt và thông qua tướng trạng với những Kinh có tính chất phổ biến này như đã được diễn giải, các Kinh khác nên được diễn giải (đầy đủ) không được bỏ bớt. Thể loại kệ ngôn nên được đánh giá theo các kệ ngôn, thể loại veyyākaraṇa nên được đánh giá theo các veyyākaraṇa.

Đây là mười sự triển khai liên quan các yếu tố có tính chất phổ biến và một sự diễn giải nhóm bốn có tính chất phổ biến. Và đây là phần diễn giải hỗn hợp. Một, năm, và sáu nhóm có chung thành phần là toàn bộ. Đây là hai sự tách riêng và mười (sự triển khai) trước đây. Đây là các Chân Lý theo mười hai cách triển khai.

Tất cả Kinh không chỉ có bấy nhiêu. Vị không xao lãng, sau khi tìm kiếm thể loại veyyākaraṇa (!) ấy hoặc gāthā (kệ ngôn) rồi, có thể diễn giải mà không phải liệt kê theo mười hai sự triển khai này.

Ở đấy, đây là sự tóm tắt: Toàn bộ Khổ đi đến sự hội tụ với bảy thuật ngữ. Với bảy thuật ngữ nào? Sự gần gũi đối tượng không yêu mến và sự xa lìa đối tượng yêu mến; toàn bộ Khổ nên được diễn giải với hai thuật ngữ này. Khổ có hai nơi nương tựa: thân và tâm; vì thế, được nói rằng: “Khổ thuộc thân và thuộc tâm.” Không có trường hợp khổ ấy là không thuộc thân hoặc không thuộc tâm; tất cả khổ nên được diễn giải theo hai [khổ]: thuộc thân và thuộc tâm. (Tất cả khổ) được tổng hợp theo ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do pháp tạo tác, trạng thái khổ do sự biến hoại; như thế, tất cả khổ ấy được tổng hợp theo ba trạng thái khổ. Và như vậy đây là ba loại khổ, hai loại khổ: thuộc thân và thuộc tâm, hai loại nữa là: sự gần gũi đối tượng không yêu mến và sự xa lìa đối tượng yêu mến; đây là khổ theo bảy loại.

Ở đấy, Tập có ba loại, không có loại thứ tư, không có loại thứ năm.

Ba loại nào? Tham ái, tà kiến, và nghiệp.

Ở đấy, chính tham ái là nhân sanh của hữu, nghiệp là trạng thái hạ liệt hay cao quý của người đã được hạ sanh như thế; điều này là Tập. Như thế, trạng thái hạ liệt và trạng thái cao quý ở các kiếp sống và ở các cảnh giới tái sanh cũng đã được tổng hợp theo ba trạng thái khổ; thân có sự nhận thức của người đã được gắn liền với tham ái ở hữu và đã bị bao trùm bởi vô minh được hình thành bởi hai gốc rễ (tham ái và vô minh), nó cũng đã được tổng hợp theo ba trạng thái khổ.

Tương tự như thế, tà kiến có thể được đưa đến từ sự trái khuấy; nó có thể được diễn giải theo bảy cách; một sự trái khuấy được diễn giải theo ba (cái bị trái khuấy) và bốn nền tảng của sự trái khuấy.

Ở đấy, một sự trái khuấy là gì? Sự nắm lấy điều sai lệch là sự liệt kê theo cách đối nghịch, giống như người nắm lấy điều sai lệch (nghĩ là): “thường”ở vô thường. Bốn sự trái khuấy là tương tự như vậy. Sự trái khuấy chỉ là một, và cái bị trái khuấy là (ba) gồm có: tưởng, tâm, và kiến (sự nhận biết, sự nhận thức, và sự nhận thấy).

Bốn nền tảng của sự trái khuấy là những gì? Thân, thọ, tâm, pháp.

Đối với vị bị rơi vào sự trái khuấy như vậy, bất thiện tăng trưởng. Ở đấy, sự trái khuấy của tưởng làm tăng trưởng bất thiện căn sân, sự trái khuấy của tâm làm tăng trưởng bất thiện căn tham, sự trái khuấy của kiến làm tăng trưởng bất thiện căn si. Ở đấy, quả của bất thiện căn sân là ba sự tà vạy: tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng; quả của bất thiện căn tham là ba sự tà vạy: tà tư duy, tà tinh tấn, tà định; quả của bất thiện căn si là hai sự tà vạy: tà kiến và tà niệm. Như vậy, bất thiện có nhân, có duyên: sự trái khuấy là duyên, các bất thiện căn là nhân; chính các pháp này theo cách đối nghịch là không thiếu không thừa, chúng nên được diễn giải theo hai duyên ở Diệt và ở Đạo liên quan đến sự trái khuấy từ những phần khác theo cách đối nghịch.

Ở đấy, đây là các câu kệ tóm lược:

(a) Thế giới bị bao trùm bởi vô minh, và tâm có sự ràng buộc, tham ái ở hữu đã được trừ tuyệt, và đây chính là hai cách giải thoát.

(b) Thân này tương tự chậu đất nung, cái gì không thuộc về các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ, mọi sầu muộn và than vãn, Timbaruka và việc đã được tự mình tạo ra.

(c) Khổ và kiến đã được sanh lên, và Kinh ‘Ví dụ người chăn bò,’ niệm đã được hướng đến thân, Ngài đã thuyết (!), chỉ tịnh và minh sát.

(d) Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, sự không thấu hiểu về bốn pháp này, những dòng chảy hiện diện ở thế gian, người thợ đóng xe làm vành xe chắc chắn.

(e) Đối với người nương tựa thì có dao động, niệm ở thân không được thiết lập, do hành động đã được tự mình tạo ra, và với các giải thoát xứ.

Lãnh vực thứ nhất - Sự Bày Tỏ về Bốn Chân Lý Cao Thượng - thuộc Peṭakopadesa do Ngài Mahākaccāyana thuyết giảng được đầy đủ.