Bản dịch
NE 37 — Sự Hình Thành Giáo Pháp
6. Sāsanapaṭṭhāna
Ở đấy, 18 thuật ngữ căn bản có thể được thấy ở đâu? Ở sự hình thành giáo pháp. Ở đấy, cái nào là sự hình thành giáo pháp? Kinh liên quan đến phiền não, kinh liên quan đến huân tập, kinh liên quan đến thấu triệt, kinh liên quan đến bậc Vô Học, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến bậc Vô Học, kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học, kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, và liên quan đến thấu triệt, kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt, kinh liên quan đến phiền não tham ái, kinh liên quan đến phiền não tà kiến, kinh liên quan đến phiền não uế hạnh, kinh liên quan đến thanh lọc tham ái, kinh liên quan đến thanh lọc tà kiến, kinh liên quan đến thanh lọc uế hạnh.
Ở đấy, phiền não có ba loại: phiền não tham ái, phiền não tà kiến, phiền não uế hạnh. Ở đấy, phiền não tham ái được thanh tịnh nhờ vào chỉ tịnh; chỉ tịnh ấy là định uẩn. Phiền não tà kiến được thanh tịnh nhờ vào minh sát; minh sát ấy là tuệ uẩn. Phiền não uế hạnh được thanh tịnh nhờ vào thiện hạnh; thiện hạnh ấy là giới uẩn. Đối với vị đã được thiết lập ở giới, nếu có sự dính mắc ở các hữu sanh khởi (đến vị ấy), như vậy thì chỉ tịnh và minh sát của vị ấy là việc làm phước thiện được tạo ra do tu tập; nó vận hành đưa đến sự tái sanh ở cảnh giới này khác.
Bốn kinh này đã được kết hợp chung lại trở thành tám. Chính tám kinh ấy đã được kết hợp chung lại trở thành mười sáu. Với mười sáu kinh đã được chia chẻ này trở thành chín thể loại Kinh đã được chia chẻ. Thể loại gāthā nên được cân nhắc theo thể loại gāthā. Thể loại veyyākaraṇa nên được cân nhắc theo thể loại veyyākaraṇa. Thể loại sutta nên được cân nhắc theo thể loại sutta.
(1) Ở đấy, kinh nào là kinh liên quan đến phiền não?
1. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi sự trói buộc của xao lãng, tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi theo sau già và chết, tựa như con bê bú sữa đi theo sau bò mẹ.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn việc đi đến sự sai trái. Bốn việc nào? Người đi đến sự sai trái vì mong muốn, đi đến sự sai trái vì sân hận, đi đến sự sai trái vì sợ hãi, đi đến sự sai trái vì si mê. Thật vậy, này các tỳ khưu, đây là bốn việc đi đến sự sai trái. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
2. Vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê, vị nào vượt quá Giáo Pháp, danh tiếng của vị ấy bị hủy hoại, ví như mặt trăng vào lúc hạ huyền.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
3. “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo, được tạo ra bởi tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm xấu xa, do điều ấy khổ đau đi theo người ấy ví như bánh xe (đi theo) bước chân của con vật đang kéo xe.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
4. “Lúc biếng nhác và ăn nhiều, mê ngủ, nằm trăn trở, ví như con heo bự được nuôi bằng cám thừa, kẻ ngu sanh vào bào thai lượt này đến lượt khác.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
5. “Ví như chất rỉ sét đã được sanh lên từ mảnh sắt, sau khi sanh lên từ mảnh sắt nó ăn mòn chính mảnh sắt ấy, tương tự như thế các việc làm của bản thân dẫn dắt kẻ có sự thọ dụng bốn món vật dụng thiếu sự quán xétđi đến khổ cảnh.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
6. “Giống như kẻ trộm cướp, bị bắt giữ ở lối xâm nhập ngôi nhà, bị hành hạ và bị giam cầm bởi việc làm của chính mình, tương tự như thế loài người, sau khi chết đi đến thế giới khác, bị hành hạ và bị giam cầm bởi việc làm của chính mình.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
7. “Kẻ nào hãm hại các chúng sanh có sự mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, trong khi tầm cầu hạnh phúc cho bản thân, kẻ ấy không đạt được hạnh phúc sau khi chết.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
8. “Trong khi đàn bò vượt qua (sông), nếu con bò đực đi quanh co, tất cả các con bò cái sẽ đi quanh co khi con bò dẫn đường đi quanh co.
9. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành không đúng pháp, không cần phải đề cập đến những kẻ khác, toàn bộ đất nước sẽ bị lầm than nếu vị vua là kẻ không công chính.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
10. “Thật vậy, những người này, với bộ dạng vô cùng khốn khổ, bị luyến ái với những mầm tái sanh, chúng làm việc ác, chúng đi đến nơi trú ngụ dành cho nhiều người, là địa ngục avīci nhức nhối, ghê rợn.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
11. “Đúng vậy, (sự kết) trái hại chết cây chuối, (sự kết) trái hại chết cây tre, (sự kết) trái hại chết cây sậy, sự trọng vọng hại chết kẻ ngu tương tự như bào thai hại chết con lừa.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
12. “Vị tỳ khưu thiên nặng về giận dữ và gièm pha vì nguyên nhân lợi lộc, trọng vọng, không tiến triển ở chánh pháp, ví như hạt giống thối ở ruộng tốt.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
“Ở đây, này các tỳ khưu, sau khi biết rõ tâm bằng tâm như vậy, Ta nhận biết một người nào đó có tâm xấu xa theo như cách người này sinh hoạt, lối thực hành nào đã thực hành, đạo lộ nào đã đi theo, và vào lúc này người này có thể qua đời, và bị ném xuống địa ngục giống như vật đã được mang lại (và bị ném xuống). Điều ấy có nguyên nhân là gì? Này các tỳ khưu, bởi vì tâm của người này là xấu xa. Hơn nữa, này các tỳ khưu, do nhân xấu xa ở tâm, như vậy ở đây một số chúng sanh, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục. Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
13. ‘Sau khi biết được người nào đó ở đây có tâm xấu xa, đức Phật đã giải thích ý nghĩa này trong sự hiện diện của các vị tỳ khưu.
14. Và vào lúc này người này có thể từ trần, có thể sanh vào địa ngục bởi vì tâm của người này xấu xa. Bởi vì do nhân xấu xa ở tâm, các chúng sinh đi đến khổ cảnh.
15. Giống như có thể ném xuống vật đã được mang lại, tương tự y như vậy, theo cách thức như thế, khi tan rã thân xác, kẻ thiếu trí tuệ ấy sanh vào địa ngục.’
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
16. “Nếu các con sợ hãi sự khổ đau, nếu sự khổ đau là không được các con ưa thích, các con chớ làm việc ác dầu là công khai hay kín đáo.
17. Và nếu các con sẽ làm việc ác, hoặc đang làm, thì không có sự thoát ra khỏi khổ đau cho các con, cho dầu các con lánh xa và trốn chạy.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
18. “Sau khi đạt được tài sản bằng cách phi pháp và bằng lời nói dối, những kẻ ngu nghĩ rằng cả hai (tài sản) là ‘của ta,’ tài sản ấy sẽ trở thành như thế nào?
19. Các tai họa sẽ xảy ra, vật đã được đem lại của việc làm này bị tiêu hoại. Chết đi, chúng không đi đến cõi Trời; phải chăng chúng bị tổn hại chỉ có chừng ấy?” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
20. “Đào bới bản thân là thế nào? Mất mát bạn bè là thế nào? Quay lưng với chánh pháp là thế nào? Không đi đến cõi Trời là thế nào?
21. Đào bới bản thân là do tham. Kẻ tham lam mất mát bạn bè. Quay lưng với chánh pháp là do tham. Do tham không đi đến cõi Trời.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
22. “Trong khi làm nghiệp ác là việc làm có quả báo đắng cay, những kẻ ngu có trí tồi cư xử với bản thân như là (cư xử) với kẻ thù.
23. Việc nào sau khi làm mà bị hối hận, và nhận lãnh quả thành tựu của việc ấy với khuôn mặt đầy nước mắt, khóc lóc, thì việc ấy đã được làm một cách không tốt đẹp.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
24. “Với kẻ thiếu trí, đời sống sa-môn là khó thực hành, khó chịu đựng, bởi vì ở đấy có nhiều trở ngại khiến kẻ ngu chán nản.
25. Bởi vì trong khi đức Như Lai đang thuyết về ý nghĩa và Giáo Pháp, kẻ nào, ngu muội, khởi tâm xấu xa, đời sống của kẻ ấy thật là vô ích.
26. Con xứng đáng với sự khổ đau này và điều tệ hại hơn thế này nữa, bạch Ngài, là kẻ có ái luyến chưa được xa lìa, con khởi tâm xấu xa đối với các đấng Như Lai vô lượng.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
27. “Kẻ nào, ở đây là người hiểu biết, có thể đánh giá và xếp hạng bậc vô lượng? Ta nghĩ rằng kẻ đang đánh giá bậc vô lượng là kẻ thiểu tuệ, (có trí) đã bị trùm kín.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
28. “Bởi vì khi con người đã được sanh ra, có cái rìu được sanh ra ở miệng (của người ấy), với cái rìu ấy kẻ ngu cắt đứt bản thân trong khi kẻ ấy nói lời xấu xa.
29. Bởi vì, con dao đã khéo được mài bén, ví như thuốc độc cực mạnh, không làm cho kẻ gây hấn rơi vào (các đọa xứ) giống như lời nói đã được nói một cách xấu xa.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
30. “Kẻ nào khen ngợi người đáng bị chê bai, hoặc chê bai người đáng được khen ngợi, kẻ ấy tích lũy lầm lỗi bởi cái miệng, do lầm lỗi ấy không tìm thấy sự an lạc.
31. Lầm lỗi này, việc thất thoát tài sản, thậm chí toàn bộ (của cải) cùng với bản thân ở các con súc sắc, là có tầm cỡ nhỏ nhoi. Kẻ nào khởi tâm ý xấu xa đối với các bậc đã đi đến trạng thái tốt lành, chính lầm lỗi này là to lớn hơn.
32. Sau khi buông ra lời nói và ý nghĩ ác xấu, kẻ quở trách các bậc Thánh nhân đi đến địa ngục là một trăm ngàn (địa ngục) Nirabbuda với ba mươi sáu (địa ngục Nirabbuda) và năm (địa ngục) Abbuda.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
33. “Kẻ nào đeo bám vào tham ái, kẻ ấy chê bai những người khác bằng lời nói, là kẻ không có niềm tin, keo kiệt, là kẻ không hào phóng, bỏn xẻn, là kẻ đeo đuổi việc nói đâm thọc.
34. Này kẻ ăn nói thô lỗ, thiếu chân thật, không thánh thiện, kẻ đồi trụy, ác độc, kẻ làm hành động xấu xa, kẻ khốn cùng, xui xẻo, kẻ hạ căn, ngươi chớ nói nhiều ở nơi đây; ngươi là hạng người ở địa ngục.
35. Ngươi gieo rắc bụi bặm (phiền não) vào sự bất hạnh (của chính ngươi), ngươi quở trách những bậc đức độ, ngươi là kẻ làm điều sái quấy. Và sau khi thực hành nhiều uế hạnh, ngươi sẽ đi đến đọa xứ trong thời gian lâu dài.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
(2) Ở đấy, kinh nào là kinh liên quan đến huân tập?
1. “Các pháp (sở hữu tâm) có tâm là sự dẫn đầu, có tâm là chủ đạo, được tạo ra bởi tâm. Nếu (người nào) nói hay làm với tâm trong sạch, do điều ấy hạnh phúc đi theo người ấy ví như bóng có sự không lìa khỏi (hình).” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
Vị Mahānāma dòng Sakya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, thành Kapilavatthu này vừa phồn thịnh vừa giàu có, đông dân, người chen chúc, đường phố bị tắc nghẽn. Bạch Ngài, con đây, sau khi hầu cận đức Thế Tôn hoặc các vị tỳ khưu đáng được tôn kính, vào buổi chiều, trong khi đang đi vào thành Kapilavatthu, con đi ngược chiều với con voi đi rông, với con ngựa đi rông, với cỗ xe đi rông, với xe kéo đi rông, với con người đi rông. Bạch Ngài, đối với con đây, vào lúc ấy, niệm hướng đến đức Thế Tôn thật sự bị quên bẵng, niệm hướng đến Giáo Pháp bị quên bẵng, niệm hướng đến Tăng Chúng bị quên bẵng. Bạch Ngài, con đây khởi ý như vầy: ‘Nếu ta qua đời vào lúc này thì cảnh giới tái sanh của ta sẽ là gì, kiếp sống kế tiếp sẽ là gì?’”
“Này Mahānāma, ngươi chớ sợ hãi. Này Mahānāma, ngươi chớ sợ hãi. Cái chết của ngươi sẽ không tệ, sự qua đời của ngươi sẽ không tồi. Này Mahānāma, được thành tựu với bốn pháp này, vị Thánh Thinh Văn là thiên về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn, xuôi về Niết Bàn. Với bốn pháp nào? Này Mahānāma, ở đây, vị Thánh Thinh Văn được thành tựu niềm tịnh tín bất động nơi đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, –nt– Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn,’ –nt– nơi Giáo Pháp –nt– nơi Tăng Chúng –nt– được thành tựu với các giới được yêu quý bởi các bậc Thánh, không bị bể vỡ, –nt– đưa đến thiền định. Này Mahānāma, cũng giống như thân cây thì thiên về hướng đông, nghiêng về hướng đông, xuôi về hướng đông; thân cây ấy khi bị chặt đứt các rễ thì có thể ngã theo hướng nào?” “Bạch Ngài, theo hướng nó thiên về, theo hướng nó nghiêng về, theo hướng nó xuôi về.” “Này Mahāhāma, tương tự y như vậy, được thành tựu với bốn pháp này, vị Thánh Thinh Văn là thiên về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn, xuôi về Niết Bàn. Này Mahānāma, ngươi chớ sợ hãi. Này Mahānāma, ngươi chớ sợ hãi. Cái chết của ngươi sẽ không tệ, sự qua đời của ngươi sẽ không tồi.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
2. “Kẻ nào trong lúc tầm cầu hạnh phúc cho bản thân mà không hãm hại các chúng sanh có lòng mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, kẻ ấy đạt được hạnh phúc sau khi chết.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
3. “Trong khi đàn bò vượt qua (sông), nếu con bò đực đi ngay thẳng, tất cả các con bò cái sẽ đi ngay thẳng khi con bò dẫn đường đi ngay thẳng.
4. Tương tự y như thế ở loài người, nếu người được phong làm thủ lãnh thực hành đúng pháp, không cần phải đề cập đến những người khác, toàn bộ đất nước sẽ được hạnh phúc nếu đức vua là người công chính.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
“Đức Thế Tôn ngự ở thành Sāvatthi, tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu thực hiện việc làm y cho đức Thế Tôn (nghĩ rằng): ‘Với y được hoàn tất, sau ba tháng, đức Thế Tôn sẽ ra đi du hành.’ Vào lúc bấy giờ, hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa cư ngụ ở làng Sāketa vì công việc cần làm nào đó. Hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đã nghe rằng: ‘Nghe nói nhiều vị tỳ khưu thực hiện việc làm y cho đức Thế Tôn (nghĩ rằng): Với y được hoàn tất, sau ba tháng, đức Thế Tôn sẽ ra đi du hành.’ Khi ấy, hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đã cho người đứng ở đường lộ (nói rằng): ‘Này ông bạn, khi nào ông thấy đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang đi đến, thì ông hãy thông báo cho chúng tôi.’ Đứng được hai ba ngày, người ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đằng xa đang đi lại; sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa; sau khi đến đã nói với hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa điều này: ‘Thưa hai vị, đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy đang đi đến. Hai vị hãy suy nghĩ bây giờ là thời điểm của việc gì.’ Khi ấy, hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi đã từng người một đi theo sau đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời con đường lộ rồi đi đến gần gốc cây nọ, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa cũng đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, hai người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đã nói với đức Thế Tôn điều này:
‘Bạch Ngài, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘từ thành Sāvatthi sẽ ra đi du hành trong xứ Kosala,’ vào lúc ấy, chúng con có ý không hoan hỷ, có nỗi ưu phiền (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ xa chúng ta.’ Bạch Ngài, hơn nữa, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘từ thành Sāvatthi đang ra đi du hành trong xứ Kosala,’ vào lúc ấy, chúng con có ý không hoan hỷ, có nỗi ưu phiền (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn xa chúng ta.’
‘Bạch Ngài, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘sẽ ra đi du hành ở xứ Kāsi, rồi ở xứ Magadha,’ vào lúc ấy, chúng con có ý không hoan hỷ, có nỗi ưu phiền (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ xa chúng ta.’ Bạch Ngài, hơn nữa, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘đang ra đi du hành ở xứ Kāsi, rồi ở xứ Magadha,’ vào lúc ấy, chúng con có ý không hoan hỷ không phải là ít, có nỗi ưu phiền không phải là ít (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn xa chúng ta.’
Bạch Ngài, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘sẽ ra đi du hành ở xứ Magadha, rồi ở xứ Kāsi,’ vào lúc ấy, chúng con có ý hoan hỷ, có tâm vui vẻ (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ gần chúng ta.’ Bạch Ngài, hơn nữa, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘đang ra đi du hành ở xứ Magadha, rồi ở xứ Kāsi,’ vào lúc ấy, chúng con có ý hoan hỷ, có tâm vui vẻ (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn gần chúng ta.’
Bạch Ngài, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘sẽ ra đi du hành ở xứ Kosala, rồi ở thành Sāvatthi,’ vào lúc ấy, chúng con có ý hoan hỷ, có tâm vui vẻ (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ gần chúng ta.’ Bạch Ngài, hơn nữa, khi chúng con nghe đức Thế Tôn ‘ngự ở thành Sāvatthi, tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika,’ vào lúc ấy, chúng con có ý hoan hỷ không phải là ít, có tâm vui vẻ không phải là ít (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn gần chúng ta.’”
“Vì thế, ở đây, này hai người thợ mộc, cuộc sống tại gia là khó chịu, là con đường lấm bụi, đời sống xuất gia là khoảng không (bao la). Và hơn nữa, này hai người thợ mộc, vừa đủ cho việc (thực hành) không xao lãng đối với hai ngươi.” “Bạch Ngài, đối với chúng con, có sự khó chịu khác từ sự khó chịu này, còn hơn cả sự khó chịu và hơn cả cái được gọi là khó chịu.” “Này hai người thợ mộc, cái nào đối với các ngươi là có sự khó chịu khác từ sự khó chịu này, còn hơn cả sự khó chịu và hơn cả cái được gọi là khó chịu?”
“Bạch Ngài, ở đây khi đức vua Pasenadi xứ Kosala có ý muốn đi đến khu vườn giải trí, chúng con sắp đặt cho các con voi của đức vua Pasenadi xứ Kosala sẵn sàng để cưỡi và giúp cho các vương phi đáng yêu đáng mến của đức vua Pasenadi xứ Kosala ngồi xuống, một ở (con voi) phía trước, một ở (con voi) phía sau. Bạch Ngài, hơn nữa, mùi hương có hình thức như thế của các cô gái ấy đã được tô điểm với mùi hương của hàng vương giả cũng giống như của hòm hương liệu vừa mới được mở ra. Bạch Ngài, hơn nữa, sự xúc chạm về thân có hình thức như thế của các cô gái ấy, của các công nương khéo được nuôi dưỡng, cũng giống như của bông vải hoặc của bông gòn. Bạch Ngài, hơn nữa, vào lúc ấy, con voi cần được bảo vệ, các cô gái ấy cần được bảo vệ, và bản thân cũng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, bạch Ngài, chúng con thật sự không biết rõ trong khi sanh khởi tâm xấu xa đối với các cô gái ấy. Bạch Ngài, đối với chúng con, đây là sự khó chịu khác từ sự khó chịu này, còn hơn cả sự khó chịu và hơn cả cái được gọi là khó chịu.”
“Vì thế, ở đây, này hai người thợ mộc, cuộc sống tại gia là khó chịu, là con đường lấm bụi, đời sống xuất gia là khoảng không (bao la). Và hơn nữa, này hai người thợ mộc, vừa đủ cho việc (thực hành) không xao lãng đối với hai ngươi. Này hai người thợ mộc, được thành tựu với bốn pháp này, vị Thánh Thinh Văn là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự giác ngộ là đích đến. Với bốn pháp nào? Này hai người thợ mộc, ở đây, vị Thánh Thinh Văn, là vị nghe nhiều, được thành tựu niềm tịnh tín bất động nơi đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, –nt– Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn,’ –nt– nơi Giáo Pháp –nt– nơi Tăng Chúng –nt– sống tại gia với tâm đã được xa lìa bợn nhơ và bỏn xẻn, có sự xả thí được mở ra, có bàn tay được rửa sạch, ưa thích việc xả bỏ, đáp ứng sự cầu xin, ưa thích việc bố thí và san sẻ không bị hạn chế đối với các vị có giới, có pháp tốt đẹp. Này hai người thợ mộc, được thành tựu với bốn pháp này, vị Thánh Thinh Văn là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự giác ngộ là đích đến. Này hai người thợ mộc, hai ngươi quả thật đã được thành tựu niềm tịnh tín bất động nơi đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn ấy là –nt– Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn,’ –nt– nơi Giáo Pháp –nt– nơi Tăng Chúng –nt– Hơn nữa, bất cứ vật thí nào có ở nhà, toàn bộ vật ấy đều không bị hạn chế đối với các vị có giới, có pháp tốt đẹp. Này hai người thợ mộc, hai ngươi nghĩ gì về điều ấy, có bao nhiêu người ở xứ Kosala sánh bằng hai ngươi trong việc bố thí và san sẻ?” “Bạch Ngài, thật lợi ích cho chúng con! Bạch Ngài, Thật đã khéo đạt được cho chúng con về việc đức Thế Tôn biết chúng con đây như vậy!” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
5. “Sau khi để lại một bông hoa, (tôi đã trải qua) một ngàn koṭi kiếp (sống) ở chư Thiên và ở nhân loại, và tôi đã chứng hữu dư Niết Bàn.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
6. “Ở cội cây Assattha, đã được lớn mạnh, có quầng ánh sáng màu lục, tôi đã đạt được một suy tưởng hướng đến đức Phật, có niệm.
7. Từ đó đến nay là ba mươi kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh; ba Minh đã được chứng ngộ do nhờ tác động của sự suy tưởng ấy.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
8. “Vị có lòng thương tưởng, đấng diệt trừ tham ái, bậc hiền trí, con người cao cả, trước bữa ăn, đã đi vào thành Kosala để khất thực.
9. Người nam ấy, ở bàn tay có vòng hoa đội đầu được trang hoàng với mọi loài hoa, đã nhìn thấy đấng Toàn Giác dẫn đầu hội chúng tỳ khưu.
10. Vị được chư Thiên và nhân loại tôn vinh đang đi vào bằng con đường chính. Người ấy, mừng rỡ, đã khởi tâm tịnh tín và đã đi đến gần đấng Toàn Giác.
11. Người ấy, được tịnh tín, bằng hai bàn tay của mình, đã dâng lên đấng Toàn Giác vòng hoa đội đầu thơm ngát, đầy màu sắc, làm thích ý ấy.
12. Kế đó, có luồng ánh sáng với màu sắc của ngọn lửa, với ngàn hào quang, tựa như tia chớp, đã đi ra từ miệng, từ giữa đôi môi của đức Phật.
13. Sau khi thực hiện việc hướng bên phải nhiễu quanh ở đầu của đấng thân quyến mặt trời, sau khi đi quanh ba vòng, nó đã biến mất ở đỉnh đầu.
14. Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, phi thường, có sự dựng đứng lông này, vị Ānanda, sau khi đắp y một bên vai, đã nói điều này:
15. ‘Bạch đấng Đại Hiền Trí, điều gì là nguyên nhân của nụ cười? Xin Ngài giải đáp. Bạch vị Hiền Trí, sẽ có sự soi sáng Giáo Pháp, xin Ngài xua đi nỗi nghi ngờ của chúng con.’
16. Trí ấy (của đức Thế Tôn) luôn luôn vận hành ở tất cả các pháp. Ngài đã nói điều này với trưởng lão Ānanda, vị có sự phân vân vì nghi ngờ (rằng):
17. ‘Này Ānanda, người nào khởi tâm tịnh tín nơi Ta, người ấy sẽ không đi đến khổ cảnh trong tám mươi bốn kiếp.
18. Sau khi trị vì quốc độ ở cõi Trời, chốn đẹp đẽ của Thiên đình, ở giữa chư Thiên, người ấy sẽ trở thành vị vua ở xứ sở, vị chúa tể của nhân loại ở giữa loài người.
19. Người ấy, vào kiếp sống cuối cùng, sẽ xuất gia, sẽ chứng ngộ bản thể của pháp, sẽ trở thành vị Phật Độc Giác, có ái luyến đã được giũ bỏ, tên là Vaṭaṃsaka.
20. Không có sự cúng dường nào gọi là nhỏ nhoi khi tâm đã được tịnh tín ở đức Như Lai, đấng Chánh Đẳng Giác, hoặc ở vị đệ tử của Ngài.
21. Như vậy, chư Phật là không thể nghĩ bàn, các pháp của chư Phật là không thể nghĩ bàn, quả thành tựu cho những người đã được tịnh tín vào những vị không thể nghĩ bàn là không thể nghĩ bàn.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
“Ở đây, này các tỳ khưu, sau khi biết rõ tâm bằng tâm như vậy, Ta nhận biết về một người nào đó có tâm tịnh tín (theo như cách người này sinh hoạt, lối thực hành nào đã thực hành, đạo lộ nào đã đi theo,) và vào lúc này, người này có thể qua đời, (được sanh vào) cõi Trời, giống như vật đã được mang lại và bị ném đi. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Này các tỳ khưu, bởi vì tâm của người này tịnh tín. Hơn nữa, do nhân tịnh tín ở tâm, như vậy ở đây một số chúng sanh, khi tan rã thân xác và chết đi, có thể được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).” Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói rằng:
22. ‘Sau khi biết được người nào đó ở đây có tâm tịnh tín, đức Phật đã giải thích ý nghĩa này trong sự hiện diện của các vị tỳ khưu.
23. Và vào lúc này người này có thể qua đời, có thể sanh vào nhàn cảnh bởi vì tâm của người này được tịnh tín. Bởi vì do nhân tịnh tín ở tâm, các chúng sinh đi đến nhàn cảnh.
24. Giống như có thể ném xuống vật đã được mang lại, tương tự y như vậy, theo cách thức như thế, khi tan rã thân xác, người có trí tuệ ấy tái sanh vào cõi Trời.’
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
25. “Hỡi nàng tiên, nàng đã bước lên chiếc thuyền có mái bằng vàng và đứng (ở đó). Nàng lội xuống hồ nước hái hoa sen bằng bàn tay.
26. Do điều gì màu da của nàng là như thế ấy, năng lực và sự rực rỡ của nàng, và bất cứ những sự hưởng thụ nào được mong muốn bởi ý đều sanh lên cho nàng? Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, xin nàng hãy tuyên bố quả báo này là của nghiệp gì?”
27. Nàng tiên nữ ấy hoan hỷ khi được hỏi bởi vị Thiên Vương. Được hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích cho Thiên Vương Sakka. Tôi đã nghe như thế.
28. “Thiếp đã đi qua đoạn đường dài. Sau khi nhìn thấy ngôi bảo tháp thích ý của Ngài Kassapa có danh tiếng. Tại đó, thiếp đã khởi tâm tịnh tín.
29. Được tịnh tín, thiếp đã cúng dường với những đóa hoa sen bằng hai bàn tay của mình. Sự thành tựu là quả báo của chính nghiệp ấy. Những người đã làm phước thiện đạt được (quả báo) như thế ấy.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
Bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới, bài thuyết về cõi trời, bài thuyết về phước thiện, bài thuyết về quả thành tựu của phước thiện. Đây là kinh liên quan đến huân tập.
30. “Còn nữa, ở các ngôi bảo tháp bằng đất được làm dành cho các đấng duy trì Mười Lực, những người sau khi làm công việc xây dựng ở tại nơi ấy (sẽ) vui sướng ở các cõi Trời.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
31. “Là những người có vóc dáng cơ thể của Thiên Tử, tất cả đều có địa vị cao sang, các vị tẩm ướt đất với nước và dựng lên ngôi bảo tháp cho người nào vậy?”
32. “Thưa vị (Thiên nhân) có cơ thể xinh xắn, đây là bảo tháp của đức Thiện Thệ, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng duy trì Mười Lực và Giáo Pháp. Được tịnh tín vào ngôi bảo tháp, chư Thiên và nhân loại này, những người đang làm công việc xây dựng, (sẽ) được giải thoát khỏi già và chết.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
33. “Quả thật việc ấy đã là cao quý! Là việc tôi đã dâng lên ngôi bảo tháp của bậc Đại Ẩn Sĩ bốn đóa sen xanh và tràng hoa.
34. Từ đó đến nay là ba mươi kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh, tôi không đi đến nơi trừng phạt, sau khi cúng dường ngôi bảo tháp của đấng Đạo Sư.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
35. “Tôi đã cúng dường ngôi bảo tháp của vị mang ba mươi hai tướng trạng, của vị đã chiến thắng trận đấu, của đấng Bảo Hộ Thế Gian, tôi đã được vui sướng một trăm ngàn kiếp (tuổi thọ).
36. Việc phước thiện nào đã được tạo ra bởi tôi và do việc phước thiện ấy, (tôi đã đạt được) sự thành tựu cõi Trời, và các quốc độ đã được (tôi) xây dựng; tôi đã không đi đến nơi trừng phạt.
37. (Tôi có Pháp) nhãn đã được thiết lập ở Giáo Pháp của đấng Thuần Phục kẻ chưa được thuần phục, tâm tôi cũng như vậy, tôi đã đạt được toàn bộ điều ấy, tôi có tâm đã được giải thoát, có dây leo (tham ái) đã được giũ bỏ.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
38. “Bởi vì tôi đã bố thí vật cúng dường chỉ một lượng cơm của một phần tư cân hạt sāmāka đến đức Phật Độc Giác, vị có tâm đã được giải thoát, không có sự cứng cỏi (ở tâm), không còn lậu hoặc, có sự an trú không uế nhiễm, có ý không còn quyến luyến.
39. Tôi đã tin tưởng pháp tối thượng ở vị ấy. Và tôi đã chuyên chú tâm vào pháp ấy (rằng): ‘Sẽ có sự gặp gỡ của tôi với các sự an trú như vậy. Và chớ có mong mỏi vào sự hiện hữu ở bất cứ đâu.’
40. Do quả thành tựu của chính nghiệp ấy, một ngàn lần tôi đã được sanh ra giữa những người dân xứ Kuru, là các chúng sanh có tuổi thọ dài, không chấp là của ta, có sự đạt đến pháp thù thắng, không có sự đi đến (bản thể) hạ liệt.
41. Do quả thành tựu của chính nghiệp ấy, một ngàn lần tôi đã được sanh ra ở cõi Tam Thập. Tôi đã đi đến giữa các vị có danh tiếng, có thân thể đặc biệt với các tràng hoa nhiều màu sắc, các vật trang điểm, và các chất bôi thoa.
42. Do quả thành tựu của chính nghiệp ấy, tôi có tâm đã được giải thoát, không có sự cứng cỏi (ở tâm), không còn lậu hoặc. Đã có sự gặp gỡ của tôi với các vị này, với các vị đang mang thân thể cuối cùng, với các vị đã vượt qua thiện và bất thiện.
43. Đức Như Lai, đấng Chiến Thắng đã nói về sự việc hiển nhiên này: ‘Đối với người có giới, điều nào được ước muốn, (điều ấy) được thành tựu.’ Điều đã được tôi suy nghĩ bằng ý như thế nào thì được thành tựu như thế ấy; đây là kiếp sống cuối cùng (của tôi).” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
44. “Vào ba mươi mốt kiếp (trước), đấng Chiến Thắng, không dục vọng, vị có tầm nhìn không giới hạn, là đức Thế Tôn tên Sikhī. Người em trai của vị ấy là đức vua Sikhaṇḍī, vô cùng tịnh tín vào đức Phật và Giáo Pháp.
45. Khi đấng Hướng Dẫn Thế Gian viên tịch Niết Bàn, vị vua ấy đã xây dựng ngôi bảo tháp vĩ đại, to lớn, xung quanh rộng một gāvuta, dành cho bậc Đại Ẩn Sĩ, vị Thiên nhân vượt trội của chư Thiên, đấng Tối Thượng Nhân.
46. Tại nơi ấy, có người nam đã rước lại phẩm vật cúng tế, và đã mừng rỡ nâng lên bông hoa nhài rừng. Một bông hoa đã rơi khỏi (bàn tay) của người ấy vì gió. Tôi đã nhặt lấy bông hoa ấy và đã trao lại cho chính người ấy.
47. Với tâm vô cùng tịnh tín, người ấy đã nói với tôi rằng: ‘Tôi cho bông hoa này đến chính ông.’ Sau khi nhận lấy bông hoa ấy, tôi đã dâng lên, trong lúc liên tục tưởng nhớ đến đức Phật.
48. Từ đó đến nay là ba mươi kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh, tôi không đi đến nơi trừng phạt; đây là quả báo của việc cúng dường ngôi bảo tháp.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
49. Thành phố tên Kapila là khéo được phân chia, có đường lộ lớn, bị chen chúc, phồn thịnh, và giàu có, thuộc về đức vua Brahmadatta.
50. Tôi đã bán bánh kummāsa tại nơi ấy, ở kinh thành của xứ Pañcāla. Tôi đây đã nhìn thấy bậc tự mình giác ngộ, có danh tiếng, đứng ở không trung.
51. Tôi đã vui mừng, khởi tâm tịnh tín, và đã thỉnh mời bậc Tối Thượng Nhân Ariṭṭha với bữa ăn thường kỳ; việc ấy đã xảy ra tại căn nhà của tôi.
52. Và sau đó, khi tháng Kattika được đầy đủ, ngày trăng tròn đã đến, sau khi cầm lấy xấp vải đôi mới, tôi đã dâng đến vị Ariṭṭha.
53. Biết được tâm tịnh tín (của tôi), bậc Tối Thượng Nhân, vị có lòng thương tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc diệt trừ tham ái, vị hiền trí, đã nhận lãnh.
54. Sau khi làm hành động tốt đẹp được chư Phật khen ngợi ấy, tôi đã di chuyển đến chư Thiên và loài người, rồi từ nơi ấy đã chết đi.
55. Tôi đã được sanh ra ở gia đình giàu có, là con trai độc nhất của một triệu phú ở thành Bārāṇasī, và được yêu quý hơn những sinh mạng (khác).
56. Và sau đó, tôi đã đạt đến tuổi hiểu biết. Được khích lệ bởi vị Thiên tử, tôi đã bước xuống từ tòa lâu đài, và đã đi đến gặp đấng Toàn Giác.
57. Vị Gotama ấy, vì lòng thương tưởng, đã chỉ bảo tôi về Giáo Pháp, về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua đối với Khổ, –
58. – và về Đạo lộ thánh thiện tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ. Bậc Hiền Trí đã chỉ bảo về Giáo Pháp, về bốn Chân Lý Cao Thượng.
59. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, tôi đã sống, vui thích trong giáo lý. Tôi đã thấu triệt thiền chỉ tịnh, đêm và ngày không biếng nhác.
60. Các lậu hoặc nào đã hiện diện ở tôi, bên trong và bên ngoài, tất cả đã được cắt lìa và không sanh lên lại nữa.
61. Khổ đau đã được làm cho chấm dứt; đây là xác thân sau chót có sự luân hồi sanh tử, giờ đây không còn hiện hữu lại nữa.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
(3) Ở đấy, kinh liên quan đến thấu triệt là kinh nào?
1. “Bên trên, bên dưới, tất cả các nơi, vị đã được giải thoát không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’ Vị được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng chảy trước đây chưa vượt qua, do việc không còn hiện hữu lại nữa.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
“Này Ānanda, đối với vị có giới, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự không hối hận có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là sự không hối hận có thể sanh khởi đến vị có giới. Này Ānanda, đối với vị có sự không hối hận, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự hân hoan có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là sự hân hoan có thể sanh khởi đến vị có sự không hối hận.
Này Ānanda, với vị được hân hoan, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự no vui (hỷ) có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là sự no vui (hỷ) có thể sanh khởi đến vị được hân hoan.
Này Ānanda, đối với vị có ý no vui (hỷ), sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để thân của tôi có thể được khinh an?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là thân của vị có ý no vui (hỷ) có thể được khinh an. Này Ānanda, đối với vị có thân được khinh an, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để tôi có thể cảm nhận sự an lạc?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là vị có thân được khinh an có thể cảm nhận sự an lạc. Này Ānanda, đối với vị có sự an lạc, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để định có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là định có thể sanh khởi đến vị có sự an lạc.
Này Ānanda, đối với vị được định tĩnh, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để tôi có thể nhận biết đúng theo thực thể?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là vị được định tĩnh có thể nhận biết đúng theo thực thể.
Này Ānanda, với vị đang nhận biết đúng theo thực thể, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự nhàm chán có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là vị đang nhận biết đúng theo thực thể thì có thể nhàm chán.
Này Ānanda, với vị đang nhàm chán, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự xa lìa luyến ái có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là vị đang nhàm chán thì có thể xa lìa luyến ái.
Này Ānanda, với vị đang xa lìa luyến ái, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự giải thoát có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là vị đang xa lìa luyến ái có thể giải thoát.
Này Ānanda, với vị đã được giải thoát, sẽ không có ý định rằng: ‘Làm thế nào để sự biết và thấy về giải thoát có thể sanh khởi đến tôi?’ Này Ānanda, pháp tự nhiên là sự biết và thấy về giải thoát có thể sanh khởi đến vị đã được giải thoát.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
2. “Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn có nhiệt tâm đang tham thiền thì mọi điều nghi ngờ của vị này được tiêu diệt, từ đó vị ấy nhận biết rằng (mọi) việc là có nguyên nhân.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
3. “Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn có nhiệt tâm đang tham thiền thì mọi điều nghi ngờ của vị này được tiêu diệt, từ đó đã hiểu sự hoại diệt của các duyên.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
4. “Ngươi giận dữ về điều gì? Chớ giận dữ. Này Tissa, không giận dữ là tốt hơn cho ngươi. Phạm hạnh được sống, này Tissa, chỉ nhằm mục đích xóa bỏ giận dữ, ngã mạn, và gièm pha.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
5. “Khi nào Ta có thể nhìn thấy Nanda (trở thành) vị ngụ ở rừng, chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, đang duy trì (mạng sống) bằng vật góp nhặt không được biết trước, không có sự trông mong về các dục?” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
6. “Sau khi cắt đứt cái gì, ngủ an lạc? Sau khi cắt đứt cái gì, không sầu muộn? Ngài tán thành việc sát hại đối với một pháp nào, thưa ngài Gotama?”
7. “Sau khi cắt đứt giận dữ, ngủ an lạc. Sau khi cắt đứt sự giận dữ, không sầu muộn. Này Thiên nhân, sự giận dữ có độc tố là rễ, có mật ngọt là ngọn, các bậc Thánh ca ngợi việc sát hại đối với nó, bởi vì sau khi cắt đứt nó, không sầu muộn.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
8. “Nên tiêu diệt cái gì đã được bộc phát? Nên xua đi cái gì đã được sanh ra? Và bậc sáng trí nên dứt bỏ cái gì? Sự chứng ngộ cái gì là an lạc?”
9. “Nên tiêu diệt sự giận dữ đã được bộc phát. Nên xua đi sự luyến ái đã được sanh ra. Bậc sáng trí nên dứt bỏ vô minh. Sự chứng ngộ Chân Lý là an lạc.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
10. “Tựa như người bị đâm bởi cây thương, tựa như người đang bị cháy ở đầu, nhằm dứt bỏ sự ái luyến về dục, vị tỳ khưu, có niệm, nên du hành.
11. Tựa như người bị đâm bởi cây thương, tựa như người đang bị cháy ở đầu, nhằm dứt bỏ thân kiến, vị tỳ khưu, có niệm, nên du hành.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
12. “Tất cả các (của cải) tích lũy có sự tiêu hoại là chặng cuối, (tất cả) các gom góp có sự sụp đổ là chặng cuối. Sau khi đi đến sự chết dành cho tất cả (chúng sanh), mạng sống của tất cả (chúng sanh) là không trường tồn. Trong khi xem xét nỗi sợ hãi này ở sự chết, nên làm các phước thiện, (bởi vì) chúng là nguồn đem lại an lạc.
13. Tất cả các (của cải) tích lũy có sự tiêu hoại là chặng cuối, (tất cả) các gom góp có sự sụp đổ là chặng cuối. Sau khi đi đến sự chết dành cho tất cả (chúng sanh), mạng sống của tất cả (chúng sanh) là không trường tồn. Trong khi xem xét nỗi sợ hãi này ở sự chết, người có sự tầm cầu (Niết Bàn) an tịnh nên dứt bỏ vật chất thế gian.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
14. “Các bậc hiền trí ngủ an lạc. Có tâm vui thích việc tham thiền, các vị ấy không sầu muộn, này Māvidha. Vị có tuệ, khéo định tĩnh, có sự ra sức tinh tấn, có bản tánh cương quyết, vượt qua dòng lũ khó vượt qua được.
15. Đã xa lánh dục tưởng, đã vượt lên khỏi mọi sự ràng buộc, đã hoàn toàn cạn kiệt sự vui thích và hiện hữu, vị ấy không chìm xuống nơi sâu thẳm.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
16. “Trong khi có niềm tin vào Giáo Pháp của các bậc A-la-hán nhằm đạt đến Niết Bàn, nhờ vào sự mong muốn lắng nghe, người không xao lãng, khôn ngoan, đạt được trí tuệ.
17. Người có việc làm phù hợp, có trách nhiệm, năng động, kiếm được tài sản. Nhờ vào sự chân thật, người thành đạt tiếng tăm. Trong khi bố thí, người kết giao các bạn hữu. Sau khi đi đến đời khác từ đời này, người ấy chắc chắn không sầu muộn.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
18. “Trong khi Ngài là vị Sa-môn đã dứt bỏ mọi sự trói buộc, đã được giải thoát, việc Ngài chỉ dạy cho người khác là không tốt đối với ngài.”
19. “Này (Dạ Xoa) Sakka, bởi bất cứ lý do nào đó mà nảy sanh ra việc cộng trú, bậc có trí tuệ không thể không có lòng thương tưởng đối với kẻ ấy.
20. Nếu với ý tịnh tín mà chỉ dạy người khác, thì không vì việc ấy mà trở thành bị ràng buộc bởi lòng thương tưởng, bởi lòng trắc ẩn.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
21. “Luyến ái và sân hận có căn nguyên từ đâu? Ghét, thương, sự rởn lông (vì sợ hãi) sanh ra từ đâu? Phát khởi từ nơi nào, các suy tầm (về dục) khuấy rối tâm, tựa như những bé trai thả lỏng con quạ (đã bị cột chân bởi sợi chỉ dài)?”
22. “Luyến ái và sân hận có căn nguyên từ nơi (bản ngã) này. Ghét, thương, sự rởn lông (vì sợ hãi) sanh ra từ nơi (bản ngã) này. Phát khởi từ nơi (bản ngã) này, các suy tầm (về dục) khuấy rối tâm, tựa như những bé trai thả lỏng con quạ (đã bị cột chân bởi sợi chỉ dài).
23. Chúng được sinh ra từ sự thương yêu, được hình thành ở bản ngã, tựa như việc sanh ra từ thân của giống cây nigrodha. Chúng nhiều vô số, bị vướng mắc vào các dục, tựa như loài dây leo lan rộng ở khu rừng.
24. Những ai nhận biết điều ấy có căn nguyên từ đâu, những vị ấy xua đuổi nó, này Dạ-xoa, ngươi hãy lắng nghe, những vị ấy vượt qua dòng lũ này, (dòng lũ) khó vượt qua được, chưa được vượt qua trước đây, để không còn hiện hữu lại nữa.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
“Bạch đức Thế Tôn, là việc khó làm! Bạch đức Thế Tôn, là việc vô cùng khó làm!”
25. (Đức Thế Tôn nói: “Này Kāmada,) họ cũng làm việc khó làm, (là) các vị hữu học, đã được thành tựu về giới, có bản thân vững chãi. Đối với vị đã đạt đến cuộc sống không nhà, sự hài lòng (biết đủ) là nguồn đem lại an lạc.”
“Bạch đức Thế Tôn, sự hài lòng (biết đủ) là điều khó đạt!”
26. (Đức Thế Tôn nói: “Này Kāmada,) họ cũng đạt được điều khó đạt, (là) các vị vui thích ở sự vắng lặng của tâm. Ý của các vị ấy vui thích trong việc tu tập ban ngày và ban đêm.”
“Bạch đức Thế Tôn, tâm là khó tập trung!”
27. (Đức Thế Tôn nói: “Này Kāmada,) họ cũng tập trung cái (tâm) khó tập trung, (là) các vị vui thích ở sự an tịnh của các quyền. Sau khi cắt đứt mạng lưới của Thần Chết, các bậc Thánh ra đi, này Kāmada.”
“Bạch đức Thế Tôn, con đường là khó đi, không bằng phẳng!”
28. “Này Kāmada, dầu là khó đi, không bằng phẳng, các bậc Thánh cũng đi. Những kẻ không phải bậc Thánh té ngã ở con đường không bằng phẳng, có đầu chúi xuống. Con đường ấy của các bậc Thánh là bằng phẳng, bởi vì các bậc Thánh là bằng phẳng ở nơi không bằng phẳng.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
29. “Chính Jetavana này đây, nơi được hội chúng các ẩn sĩ lui tới, được đấng Pháp Vương trú ngụ, là nguồn tạo ra niềm vui cho con.
30. Hành động, sự hiểu biết, Giáo Pháp, giới, và mạng sống tối thượng, nhờ vào (Thánh Đạo tám chi phần) này nhiều người được trong sạch, không do dòng họ hoặc do tài sản.
31. Chính vì điều ấy, người sáng trí, trong khi nhìn thấy lợi ích cho bản thân, nên suy xét Giáo Pháp đúng theo đường lối, như vậy được thanh tịnh tại nơi ấy.
32. Tựa như vị Sāriputta với tuệ, với giới, và với sự an tịnh (ô nhiễm), vị tỳ khưu nào đã đi đến bờ kia, vị tỳ khưu ấy tối đa chỉ có thể giống như vị (Sāriputta) ấy.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
33. “Không nên theo đuổi quá khứ, không nên mong ước vị lai, (bởi vì) cái nào thuộc quá khứ, cái ấy đã được dứt bỏ, và cái nào thuộc vị lai, cái ấy là chưa đạt đến.
34. Vị nào (minh sát) nhìn thấy rõ pháp thuộc hiện tại ở nơi nọ, ở nơi kia, sau khi biết điều ấy, nên làm phát triển pháp (minh sát) ấy không bị tiêu hoại, không bị lay chuyển.
35. Ngay hôm nay, việc cần phải làm là sự nhiệt tâm. Người nào có thể biết cái chết ở ngày mai? Bởi vì không có sự thỏa thuận của chúng ta với Ma Vương có đội quân to lớn.
36. Vị có sự an trú như vậy, có sự nhiệt tâm, không biếng nhác cả ngày lẫn đêm, thật vậy, bậc Hiền Trí an tịnh gọi vị ấy là ‘vị có một đêm tốt lành.’” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
“Này các tỳ khưu, bốn điều này là cần được chứng ngộ. Bốn điều nào? Này các tỳ khưu, có các pháp là cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ, có các pháp là cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ, có các pháp là cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ, có các pháp là cần được hiểu biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ.
Và này các tỳ khưu, các pháp nào là cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ? Thiên nhãn vô cùng thanh tịnh, vượt trội loài người, là cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ.
Và này các tỳ khưu, các pháp nào là cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ? Tùy niệm về các kiếp sống quá khứ là cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ.
Và này các tỳ khưu, các pháp nào là cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ? Nhiều loại thần thông, sự tịch diệt (Niết Bàn) là cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ.
Và này các tỳ khưu, các pháp nào là cần được hiểu biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ? Trí về sự diệt trừ các lậu hoặc là cần được hiểu biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ.” Đây là kinh liên quan đến thấu triệt.
(4) Ở đấy, kinh liên quan đến bậc Vô Học là kinh nào?
1. “Tâm của người nào giống như tảng đá, đứng yên, không rung động, không luyến ái ở các vật đáng bị luyến ái, không bị bực tức đối với việc đáng bị bực tức, tâm của người nào được tu tập như vậy, do đâu khổ đau sẽ đến với người ấy?” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
“Lời giải thích thứ mười về cuộc du hành của đại đức Sāriputta cần được thực hiện.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
2. “Vị Bà-la-môn nào có ác pháp đã được ngăn trừ, là vị không làm tiếng ‘hum hum,’ đã thoát khỏi điều ô nhiễm, có bản thân đã được chế ngự, là vị thông thạo các bộ Vệ Đà, đã sống đời Phạm hạnh, vị ấy có thể thuyết giảng lời nói của Phạm Thiên một cách đúng đắn, đối với vị ấy không có sự tồn trữ ở bất cứ nơi nào ở trên thế gian.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
3. “Sau khi lánh xa các ác pháp, các vị nào sống thường xuyên có niệm, có các sự ràng buộc đã được cạn kiệt, đã được giác ngộ, các vị ấy quả thật là các Bà-la-môn ở thế gian.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
4. “Nơi nào nước và đất, lửa, gió không được thiết lập, nơi ấy các vì sao không lấp lánh, mặt trời không chói sáng, nơi ấy mặt trăng không chiếu sáng, nơi ấy sự tối tăm không tìm thấy.
5. Và vào lúc bậc hiền trí, vị Bà-la-môn tự mình hiểu biết bằng trí tuệ, khi ấy được giải thoát khỏi sắc, khỏi vô sắc, khỏi hạnh phúc và khổ đau.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
6. “Khi đã đi đến bờ kia đối với các pháp của chính mình, trở thành vị Bà-la-môn, thì vượt qua con yêu tinh ấy và tiếng gào thét (của nó).” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
7. “Chẳng thích thú cô nàng đi đến, không sầu muộn cô nàng bỏ đi; Sangāmaji đã thoát khỏi sự dính mắc, Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
8. “Không do nước mà trở nên trong sạch. Nhiều người tắm ở nơi này. Ở người nào có sự chân thật và có Giáo Pháp, người ấy là trong sạch, và người ấy làBà-la-môn.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
9. “Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn có nhiệt tâm đang tham thiền, trong khi đánh tan binh đội của Ma Vương, (vị ấy) tồn tại tựa như ánh mặt trời đang làm rực sángkhông gian.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
10. “Các vị hãy nhìn xem vị đang sinh hoạt, có giác quan an tịnh, đã đạt đến ba Minh, là pháp không bị hư hoại. Vị đã vượt lên trên tất cả các sự ràng buộc, không có gì, mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, (đang) sinh hoạt.
11. Nhiều vị Thiên nhân cao cả đã đi đến gần vị ấy, cung điện của đấng Brahma, vị có thuần huyết thống, có sự chối bỏ uy thế của dòng dõi. Với tâm tịnh tín, các vị Thiên nhân, tại nơi ấy, đã cúi chào (nói rằng):
12. ‘Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Chúng tôi không biết rõ về ngài đây. Ngài tham thiền, nương tựa vào người nào?’” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
13. “Thật vậy, (hai) vị tỳ khưu này là bạn bè, là những người đã gặp nhau dài lâu. Phẩm chất tốt đẹp của hai vị ấy gặp nhau ở Giáo Pháp đã được đức Phật tuyên bố.
14. Khéo được huấn luyện bởi ngài Kappina trong Giáo Pháp đã được các bậc Thánh tuyên bố, (hai vị ấy) mang thân mạng cuối cùng sau khi đã chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
15. “Niết Bàn này, sự giải thoát tất cả trói buộc, không thể nào được chứng đắc sau khi ra sức một cách lơi lỏng, với chút ít sức lực.
16. Và vị tỳ khưu trẻ này, con người tối thượng này, mang thân mạng cuối cùng, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
17. “Vị Mogharājā có vóc dáng xấu xí, có y thô xấu, luôn luôn có niệm, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, không bị ràng buộc, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc.
18. Có ba Minh, đã đạt được thần thông, và thiện xảo về tâm của người khác, vị mang thân mạng cuối cùng, sau khi chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
“Này các tỳ khưu, đức Như Lai là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, đã được giải thoát do nhàm chán đối với sắc, do xa lìa luyến ái, do sự diệt tận, do không còn chấp thủ, được gọi là ‘đấng Chánh Đẳng Giác.’ Này các tỳ khưu, còn vị tỳ khưu được giải thoát do tuệ đã được giải thoát do nhàm chán đối với sắc, do xa lìa luyến ái, do sự diệt tận, do không còn chấp thủ, được gọi là ‘vị được giải thoát do tuệ.’ Này các tỳ khưu, đức Như Lai là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, đã được giải thoát do nhàm chán đối với thọ ―nt― đối với tưởng ―nt― đối với các hành ―nt― đối với thức, do xa lìa luyến ái, do sự diệt tận, do không còn chấp thủ, được gọi là ‘đấng Chánh Đẳng Giác.’ Này các tỳ khưu, còn vị tỳ khưu được giải thoát do tuệ đã được giải thoát do nhàm chán đối với thức, do xa lìa luyến ái, do sự diệt tận, do không còn chấp thủ, được gọi là ‘vị được giải thoát do tuệ.’ Này các tỳ khưu, ở đấy, cái gì là sự khác biệt, cái gì là ý định, cái gì là việc làm khác nhau của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác so với vị tỳ khưu được giải thoát do tuệ?” Bạch Ngài, đối với chúng con, các pháp có đức Thế Tôn là gốc rễ ―nt― “Này các tỳ khưu, đức Như Lai là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, là vị làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi, là vị làm sanh ra Đạo Lộ chưa được sanh ra, là vị tuyên thuyết Đạo Lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về Đạo Lộ, là vị hiểu rõ về Đạo Lộ, là vị rành rẽ về Đạo Lộ. Và này các tỳ khưu, những người đi theo Đạo Lộ hiện nay là các đệ tử đang an trú và sau này sẽ thành tựu (Đạo Lộ ấy). Này các tỳ khưu, đây là sự khác biệt, đây là ý định, đây là việc làm khác nhau của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác so với vị tỳ khưu được giải thoát do tuệ.” Đây là kinh liên quan đến bậc Vô Học.
(5) Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập là kinh nào?
1. “Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy, mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy.” ‘Mưa rơi nhiều ở vật đã được che đậy’: là phiền não; ‘mưa không rơi nhiều ở vật đã được mở ra’: là sự huân tập; ‘vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy mưa không rơi nhiều ở vật ấy’: đây là phiền não và sự huân tập. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập.
“Tâu đại vương, bốn hạng người này đang hiện diện ở thế gian. Bốn hạng nào? Là bóng tối có sự đi đến bóng tối, là bóng tối có sự đi đến ánh sáng, là ánh sáng có sự đi đến bóng tối, là ánh sáng có sự đi đến ánh sáng.” Ở đấy, hạng người nào là ánh sáng có sự đi đến bóng tối và hạng người nào là bóng tối có sự đi đến bóng tối, đây là hai hạng người liên quan đến phiền não; hạng người nào là bóng tối có sự đi đến ánh sáng và hạng người nào là ánh sáng có sự đi đến ánh sáng, đây là hai hạng người liên quan đến huân tập. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập.
(6) Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt là kinh nào?
1. “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn. Sự mong muốn, bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ, ...” Đây là phiền não.
2. “... các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn, có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ. Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị du hành, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.” Đây là sự thấu triệt. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt.
“Này các tỳ khưu, (khi) có ý định về điều nào, toan tính về điều nào, ngấm ngầm về điều nào, thì điều ấy là cảnh cho sự tồn tại của thức. Khi cảnh có mặt, thì có sự hình thành của thức ấy. Khi thức ấy được thành lập, được lớn mạnh, thì có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa ở vị lai. Khi có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa ở vị lai, thì già, chết, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh khởi ở vị lai. Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này.
Này các tỳ khưu, nếu không có ý định, nếu không toan tính, nhưng nếu ngấm ngầm, thì điều ấy là cảnh cho sự tồn tại của thức. Khi cảnh có mặt, thì có sự hình thành của thức ấy. Khi thức ấy được thành lập, được lớn mạnh, thì có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa ở vị lai. Khi có sự sanh ra và sựhiện hữu lại nữa ở vị lai, thì sanh, già, chết, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh khởi ở vị lai. Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này.” Đây là phiền não.
Và này các tỳ khưu, khi không có ý định, không toan tính, và không ngấm ngầm, thì điều ấy không là cảnh cho sự tồn tại của thức. Khi cảnh không có mặt, thì không có sự hình thành của thức ấy. Khi thức ấy không được thành lập, không được lớn mạnh, thì không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa ở vị lai. Khi không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa ở vị lai, thì sanh, già, chết, sầu-bi-khổ-ưu-não ở vị lai được diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.” Đây là sự thấu triệt. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến thấu triệt.
(7) Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến bậc Vô Học là kinh nào?
“Này các tỳ khưu, kẻ phàm phu, không lắng nghe, nói rằng: ‘Biển, biển.’ Này các tỳ khưu, cái đó không phải là biển ở Luật của bậc Thánh. Này các tỳ khưu, cái đó là khối nước lớn, là dòng nước lớn. Mắt, này các tỳ khưu, là biển của con người; sức xô đẩy của nó được tạo thành bởi sắc.” Đây là phiền não.
“Người nào ngự trị sức xô đẩy được tạo thành bởi sắc ấy, này các tỳ khưu, người này được gọi là đã vượt qua biển của mắt, có sóng, có xoáy nước, có cá dữ, có quỷ sứ; người đã được vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền (được gọi là) vị Bà-la-môn.” Đây là bậc Vô Học.
“Tai, này các tỳ khưu, ―nt― Mũi ―nt― Lưỡi ―nt― Thân ―nt― Ý, này các tỳ khưu, là biển của con người; sức xô đẩy của nó được tạo thành bởi pháp.” Đây là phiền não.
“Người nào ngự trị sức xô đẩy được tạo thành bởi pháp ấy, này các tỳ khưu, người này được gọi là đã vượt qua biển của ý, có sóng, có xoáy nước, có cá dữ, có quỷ sứ; người đã được vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền (được gọi là) vị Bà-la-môn.” Đây là bậc Vô Học.
Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
“Người nào đã vượt qua biển có cá dữ, có quỷ sứ, có sóng và nỗi sợ hãi, khó vượt qua được này, người ấy là vị thông thạo các bộ Vệ Đà, đã sống đời Phạm hạnh, đã đi đến tận cùng thế giới, được gọi là ‘vị đã đi đến bờ kia.’” Đây là bậc Vô Học. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến bậc Vô Học.
“Này các tỳ khưu, đây là sáu lưỡi câu ở thế gian đưa đến sự bất hạnh cho chúng sanh, đưa đến tai họa cho các sinh mạng. Sáu cái nào? Này các tỳ khưu, có các sắc được nhận thức bởi mắt là đáng mong, đáng muốn, đáng mến, đáng yêu, liên hệ đến dục, gợi tình. Nếu vị tỳ khưu thích thú điều ấy, tán thưởng, bám chặt rồi tồn tại, này các tỳ khưu, vị này được gọi là vị tỳ khưu đã nuốt vào lưỡi câu của Ma Vương, đã đi đến sự bất hạnh, đã đi đến sự tổn hại, sẽ bị điều khiển theo như ước muốn bởi Ác Ma.
Này các tỳ khưu, có các thinh được nhận thức bởi tai –nt– các hương được nhận thức bởi mũi –nt– các vị được nhận thức bởi lưỡi –nt– các xúc được nhận thức bởi thân –nt– các pháp được nhận thức bởi ý là đáng mong, đáng muốn, đáng mến, đáng yêu, liên hệ đến dục, gợi tình. Nếu vị tỳ khưu thích thú điều ấy, tán thưởng, bám chặt rồi tồn tại, này các tỳ khưu, vị này được gọi là vị tỳ khưu đã nuốt vào lưỡi câu của Ma Vương, đã đi đến sự bất hạnh, đã đi đến sự tổn hại, sẽ bị điều khiển theo như ước muốn bởi Ác Ma.” Đây là phiền não.
“Này các tỳ khưu, có các sắc được nhận thức bởi mắt là đáng mong, đáng muốn, đáng mến, đáng yêu, liên hệ đến dục, gợi tình. Nếu vị tỳ khưu không thích thú điều ấy, không tán thưởng, không bám chặt rồi tồn tại, này các tỳ khưu, vị này được gọi là vị tỳ khưu đã không nuốt vào lưỡi câu của Ma Vương, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ vụn lưỡi câu, đã không đi đến sự bất hạnh, đã không đi đến sự tổn hại, sẽ không bị điều khiển theo như ước muốn bởi Ác Ma.
Này các tỳ khưu, có các thinh được nhận thức bởi tai –nt– bởi mũi –nt– bởi lưỡi –nt– bởi thân –nt– các pháp được nhận thức bởi ý là đáng mong, đáng muốn, đáng mến, đáng yêu, liên hệ đến dục, gợi tình. Nếu vị tỳ khưu không thích thú điều ấy, không tán thưởng, không bám chặt rồi tồn tại, này các tỳ khưu, vị này được gọi là vị tỳ khưu đã không nuốt vào lưỡi câu của Ma Vương, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã bẻ vụn lưỡi câu, đã không đi đến sự bất hạnh, đã không đi đến sự tổn hại, sẽ không bị điều khiển theo như ước muốn bởi Ác Ma.” Đây là bậc Vô Học. Đây là kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến bậc Vô Học.
(8) Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học là kinh nào?
1. “Thế gian này bị đốt nóng, bị quấy nhiễu bởi (sáu) xúc, khóc lóc, nói rằng của ta, dầu chúng sanh suy nghĩ theo cách này cách kia, nó hình thành theo một cách khác so với cái ấy.
2. Có sự hình thành theo một cách khác, thế gian bị dính mắc vào hữu, bị quấy nhiễu bởi hữu, lại thích thú hữu ấy. Thích thú cái nào, cái ấy là sự sợ hãi. Bị sợ hãi đối với cái nào, cái ấy là khổ.” Đây là phiền não.
“Quả vậy, Phạm hạnh này được sống nhằm lìa bỏ hữu.” Đây là sự thấu triệt.
“Bất cứ các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đã nói rằng sự giải thoát khỏi hữu nhờ vào hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó không được giải thoát khỏi hữu.
Hơn nữa, bất cứ các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đã nói rằng sự tách ly khỏi hữu nhờ vào phi hữu, Ta nói rằng tất cả các vị đó không được tách ly khỏi hữu. Bởi vì, tùy thuận vào mầm tái sanh, khổ này được hình thành.” Đây là phiền não.
“Do sự cạn kiệt của mọi chấp thủ, không có sự hình thành của khổ.” Đây là sự thấu triệt.
“Hãy nhìn xem thế gian này, số đông bị quấy nhiễu bởi vô minh, được hiện hữu, thích thú sự hiện hữu, không được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu. Bất cứ các hữu nào, ở mọi nơi, với mọi tính chất, tất cả các hữu ấy là vô thường, khổ đau, có tính chất đổi thay.” Đây là phiền não.
3. “Tương tự, đối với vị đang nhìn thấy điều này đúng theo thực thể bằng tuệ chơn chánh, hữu ái của vị ấy được dứt bỏ, vị ấy không thích thú phi hữu.
Do sự cạn kiệt của các tham ái một cách trọn vẹn, có sự lìa ái luyến và sự diệt tận không còn dư sót, Niết Bàn.” Đây là sự thấu triệt.
4. “Đối với vị tỳ khưu đã được tịch tịnh ấy, do không còn chấp thủ, sự hiện hữu lại nữa là không có, Ma Vương đã bị chế ngự; cuộc chiến đã được chiến thắng, bậc tự tại đã vượt qua khỏi tất cả các hữu.” Đây là bậc Vô Học.
Đây là kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn hạng người. Bốn hạng nào? Hạng đi xuôi dòng, hạng đi ngược dòng, hạng có bản thân ổn định, hạng đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền, vị Bà-la-môn.”
Ở đấy, hạng người đi xuôi dòng là hạng người liên quan đến phiền não. Ở đấy, hạng người đi ngược dòng và hạng có bản thân ổn định là hai hạng người liên quan đến thấu triệt. Ở đấy, hạng người đã vượt qua, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền, vị Bà-la-môn, là bậc Vô Học.
Đây là kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến thấu triệt, và liên quan đến bậc Vô Học.
(9) Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, và liên quan đến thấu triệt là kinh nào?
“Sáu dòng dõi: có hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, tạo ra pháp đen; có hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, tạo ra pháp trắng; có hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, đạt đến mục đích tột cùng là Niết Bàn không đen không trắng, có quả thành tựu không đen không trắng; có hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, tạo ra pháp đen; có hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, tạo ra pháp trắng; có hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, đạt đến mục đích tột cùng là Niết Bàn không đen không trắng, có quả thành tựu không đen không trắng.
Ở đấy, hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, tạo ra pháp đen và hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, tạo ra pháp đen là hai hạng người liên quan đến phiền não.
Ở đấy, hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, tạo ra pháp trắng và hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, tạo ra pháp trắng là hai hạng người liên quan đến huân tập.
Ở đấy, hạng người đen, thuộc dòng dõi đen, đạt đến mục đích tột cùng là Niết Bàn không đen không trắng, có quả thành tựu không đen không trắng, và hạng người trắng, thuộc dòng dõi trắng, đạt đến mục đích tột cùng là Niết Bàn không đen không trắng, có quả thành tựu không đen không trắng, là hai hạng người liên quan đến thấu triệt.” Đây là kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, và liên quan đến thấu triệt.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn loại nghiệp. Bốn loại nào? Có nghiệp đen với quả thành tựu đen, có nghiệp trắng với quả thành tựu trắng, có nghiệp đen trắng với quả thành tựu đen trắng, có nghiệp không đen không trắng với quả thành tựu không đen không trắng là nghiệp tối thượng trong các nghiệp, hạng nhất trong các nghiệp, vận hành đưa đến sự diệt trừ nghiệp.
Ở đấy, nghiệp đen với quả thành tựu đen và nghiệp đen trắng với quả thành tựu đen trắng là phiền não. Nghiệp trắng với quả thành tựu trắng là huân tập. Nghiệp không đen không trắng với quả thành tựu không đen không trắng là nghiệp tối thượng trong các nghiệp, tốt nhất trong các nghiệp, vận hành đưa đến sự diệt trừ nghiệp, điều này là thấu triệt.” Đây là kinh liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, và liên quan đến thấu triệt.
(10) Ở đấy, kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt là kinh nào?
1. “Sau khi đạt được bản thể nhân loại, có hai việc là việc nên làm và việc không nên làm. Việc nên làm tốt đẹp là các việc phước thiện hoặc là việc lìa bỏ các mối ràng buộc.”
‘Việc nên làm tốt đẹp là các việc phước thiện’ là huân tập; ‘hoặc là việc lìa bỏ các sự ràng buộc’ là thấu triệt.
2. “Sau khi làm các việc phước thiện, những người đã làm việc phước thiện đi từ cõi Trời đến cõi Trời. Những người có sự dứt bỏ các mối ràng buộc được giải thoát khỏi già và chết.”
‘Sau khi làm các việc phước thiện, những người đã làm việc phước thiện đi từ cõi Trời đến cõi Trời’ là huân tập; ‘những người có sự dứt bỏ các mối ràng buộc được giải thoát khỏi già và chết’ là thấu triệt. Đây là kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt.
“Này các tỳ khưu, đây là hai việc nỗ lực. Hai việc nào? Việc một người xả thí y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, và vật dụng là thuốc men chữa bệnh ở các vị xuất gia rời nhà sống không nhà, và việc là sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn ở các vị xuất gia rời nhà sống không nhà.”
Ở đấy, ‘việc một người xả thí y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, và vật dụng là thuốc men chữa bệnh ở các vị xuất gia rời nhà sống không nhà’ là huân tập; ‘việc là sự buông bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn ở các vị xuất gia rời nhà sống không nhà’ là thấu triệt. Đây là kinh liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt.
Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não tham ái nên được diễn giải chỉ với nhóm tham ái, với ba tham ái: với tham ái về dục, với tham ái về hữu, với tham ái về phi hữu, hoặc hơn nữa (tham ái) đã bám chặt vào bất cứ nền tảng nào thì nên diễn giải theo chính (nền tảng) ấy. Chi tiết của tham ái ấy là ba mươi sáu hành vi của mạng lưới tham ái.
Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não tà kiến nên được diễn giải chỉ với nhóm tà kiến, với đoạn kiến và thường kiến, hoặc hơn nữa chấp chặt vào bất cứ nền tảng nào do tác động của tà kiến (rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại’ thì nên diễn giải theo chính (nền tảng) ấy. Chi tiết của tà kiến là sáu mươi hai tà kiến.
Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não uế hạnh nên được diễn giải với việc làm của tư tâm sở, với ba uế hạnh: với uế hạnh về thân, với uế hạnh về khẩu, với uế hạnh về ý. Chi tiết của uế hạnh là mười đường lối hành động bất thiện.
Ở đấy, kinh liên quan đến việc thanh lọc tham ái nên được diễn giải với chỉ tịnh. Kinh liên quan đến việc thanh lọc tà kiến nên được diễn giải với minh sát. Kinh liên quan đến việc thanh lọc uế hạnh nên được diễn giải với thiện hạnh.
“Ba gốc rễ của bất thiện. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Do sự vận hành của luân hồi, tương tự như thế khi luân hồi được vận hành, (thì có) uế hạnh về thân, thiện hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, thiện hạnh về khẩu, uế hạnh về ý, thiện hạnh về ý.
Do quả thành tựu của nghiệp không trong sạch này, tướng trạng ngu này được sanh ra.” Đây là kinh liên quan đến phiền não.
“Do quả thành tựu của nghiệp trong sạch này, tướng trạng của bậc đại nhân này được sanh ra.” Đây là kinh liên quan đến huân tập.
Ở đấy, kinh liên quan đến phiền não nên được diễn giải với bốn lãnh vực của ô nhiễm: lãnh vực tiềm ẩn, lãnh vực xâm nhập, lãnh vực ràng buộc, lãnh vực chấp thủ. Đối với người có sự tiềm ẩn, sự xâm nhập được sanh ra; người bị xâm nhập thì bị ràng buộc; trong khi bị ràng buộc thì chấp thủ; do duyên chấp thủ, hữu (sanh khởi); do duyên hữu, sanh (sanh khởi); do duyên sanh, lão, tử, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh khởi; như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Tất cả các ô nhiễm đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ với bốn lãnh vực của ô nhiễm này. Đây là kinh liên quan đến phiền não.
Kinh liên quan đến huân tập nên được diễn giải với ba thiện hạnh. Kinh liên quan đến thấu triệt nên được diễn giải với bốn Chân Lý. Kinh liên quan đến bậc Vô Học nên được diễn giải với ba pháp: với các pháp của đức Phật, với các pháp của đức Phật Độc Giác, với lãnh vực của vị Thinh Văn thì nên được diễn giải ở lãnh vực của vị chứng thiền.
Ở đấy, mười tám thuật ngữ căn bản là những gì? Hợp thế, xuất thế, hợp thế và xuất thế, xác định chúng sanh, xác định pháp, xác định chúng sanh và xác định pháp, sự biết (trí), điều-có-thể-biết, sự biết và điều-có-thể-biết, sự thấy, sự tu tập, sự thấy và sự tu tập, lời nói của Ta, lời nói của vị khác, lời nói của Ta và lời nói của vị khác, điều có thể trả lời, điều không thể trả lời, điều có thể trả lời và điều không thể trả lời, nghiệp, quả thành tựu, nghiệp và quả thành tựu, thiện, bất thiện, thiện và bất thiện, điều được cho phép, điều bị từ khước, điều được cho phép và bị từ khước, và sự ca tụng.
(1) Ở đấy, cái nào là hợp thế?
1. “Ví như sữa không trở chua ngay lập tức, nghiệp ác đã làm không trổ quả liền liền, nó theo đuổi kẻ ngu, đốt nóng, ví như ngọn lửa đã được phủ tro.” Cái này là hợp thế.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn việc đi đến sự sai trái (toàn bộ) ―nt― danh tiếng của vị ấy bị hủy hoại, ví như mặt trăng vào lúc hạ huyền.” Cái này là hợp thế.
“Này các tỳ khưu, đây là tám pháp của thế gian? Tám pháp nào? Lợi lộc và không lợi lộc, không danh vọng và danh vọng, tiếng chê và lời khen, hạnh phúc và khổ đau. Này các tỳ khưu, đây là tám pháp của thế gian.” Cái này là hợp thế.
(2) Ở đấy, cái nào là xuất thế?
2. “Vị nào có các giác quan đã đi đến sự vắng lặng, giống như những con ngựa đã khéo được huấn luyện bởi người đánh xe, có ngã mạn đã được dứt bỏ, không còn lậu hoặc, ngay cả chư Thiên cũng yêu mến vị có đức hạnh như thế ấy.” Cái này là xuất thế. “Này các tỳ khưu, đây là năm quyền xuất thế gian. Năm quyền nào? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đây là năm quyền xuất thế gian.” Cái này là xuất thế.
(3) Ở đấy, cái nào là hợp thế và xuất thế?
Hai câu kệ: “Sau khi đạt được bản thể nhân loại, có hai việc là việc nên làm và việc không nên làm.” Ở đây, ‘việc nên làm tốt đẹp là các việc phước thiện’ và ‘sau khi làm các việc phước thiện, những người đã làm việc phước thiện đi từ cõi Trời đến cõi Trời’ là hợp thế. Ở đây, ‘hoặc là việc lìa bỏ các sự ràng buộc’ và ‘những người có sự dứt bỏ các mối ràng buộc được giải thoát khỏi già và chết’ là xuất thế. Cái này là hợp thế và xuất thế.
“Này các tỳ khưu, bởi vì khi có thức là yếu tố nuôi dưỡng thì có sự hình thành của danh sắc, khi có sự hình thành của danh sắc thì có sự hiện hữu lại nữa, khi có sự hiện hữu lại nữa thì có sự sanh ra, khi có sự sanh ra thì lão, tử, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh khởi; như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Này các tỳ khưu, cũng giống như cái cây lớn, tất cả các rễ của nó, những cái đâm xuống luôn cả những cái đâm ngang, đều đưa dưỡng chất lên trên. Bởi vì như vậy, này các tỳ khưu, cái cây lớn ấy, với chất ấy là yếu tố nuôi dưỡng, với chất ấy là nguồn cấp dưỡng, có thể tồn tại một thời gian lâu dài. Tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, khi có thức là yếu tố nuôi dưỡng thì có sự hình thành của danh sắc, (toàn bộ) ―nt― như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này.” Cái này là hợp thế. “Này các tỳ khưu, nếu thức không là yếu tố nuôi dưỡng thì không có sự hình thành của danh sắc, khi không có sự hình thành của danh sắc thì không có sự hiện hữu lại nữa, khi không có sự hiện hữu lại nữa thì không có sự sanh ra, khi không có sự sanh ra thì lão, tử, sầu-bi-khổ-ưu-não được diệt tận; như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này. Này các tỳ khưu, cũng giống như cái cây lớn, rồi có người đi đến, mang theo cuốc và giỏ. Người ấy chặt cây ấy ở rễ, sau khi chặt ở rễ rồi đào lên, sau khi đào lên rồi nhổ lên các rễ, thậm chí các rễ phụ và rễ con. Người ấy chặt cây ấy thành khúc, sau khi chặt thành khúc rồi chẻ ra, sau khi chẻ ra rồi làm thành từng miếng, sau khi làm thành miếng rồi phơi ở nơi có gió và nắng, sau khi phơi ở nơi có gió và nắng, rồi đốt bằng lửa, sau khi đốt bằng lửa rồi làm thành tro, sau khi làm thành tro rồi sàng sảy ở gió lớn hoặc để cho cuốn đi ở dòng nước chảy xiết.― ―Này các tỳ khưu, như vậy cái cây lớn ấy là có rễ đã bị cắt lìa, như cây thốt-nốt đã bị cụt ngọn, đã đi đến trạng thái không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai. Tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, khi thức không là yếu tố nuôi dưỡng thì không có sự hình thành của danh sắc, khi không có sự hình thành của danh sắc (toàn bộ) ―nt― như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này.” Cái này là xuất thế. Cái này là hợp thế và xuất thế.
(4) Ở đấy, cái nào là xác định chúng sanh?
3. “Sau khi đi vòng quanh tất cả các phương bằng tâm, vẫn không đạt được người đáng yêu hơn bản thân ở bất cứ đâu. Tương tự như vậy, bản thân của những người khác là đáng yêu đối với chính họ; vì thế người yêu mến bản thân không nên hãm hại người khác.” Đây là xác định chúng sanh.
4. “Tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra, tất cả sẽ ra đi sau khi buông bỏ thân xác. Sau khi biết được mọi sự mất mát ấy, bậc thiện xảo có nhiệt tâm ấy nên thực hành Phạm hạnh.” Đây là xác định chúng sanh.
“Này các tỳ khưu, cho đến trọn đời không nên rời bỏ người bạn tốt được thành tựu với bảy yếu tố, thậm chí bị tẩy chay, bị hất hủi, thậm chí bị lôi cổ đuổi ra. Với bảy yếu tố nào? Là vị đáng yêu, đáng kính, đáng trọng, là vị diễn giả, có sự nhẫn nại với lời nói, là vị thuyết giảng sâu sắc, và không xúi giục làm công việc không hợp lý. Này các tỳ khưu, không nên rời bỏ ―nt― với bảy yếu tố này. Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
5. ‘Vị đáng yêu và đáng kính, đáng trọng, vị diễn giả, và có sự nhẫn nại với lời nói, là vị thuyết giảng sâu sắc, và không xúi giục làm công việc không hợp lý. Người mong muốn bạn bè nên phục vụ người bạn ấy cho đến trọn đời.’” Đây là xác định chúng sanh.
(5) Ở đấy, cái nào là xác định pháp?
6. “Khoái lạc ngũ dục nào ở thế gian, và sự an lạc nào thuộc cõi Trời, các điều này có mười sáu phần không giá trị bằng (một phần) an lạc của sự diệt tận tham ái.” Đây là xác định pháp.
7. “Niết Bàn được chỉ bảo bởi đấng Chánh Đẳng Giác quả thật là vô cùng an lạc, không sầu muộn, xa lìa bợn nhơ, được an ổn, là nơi khổ đau được diệt tận.” Đây là xác định pháp.
(6) Ở đấy, cái nào là xác định chúng sanh và xác định pháp?
8. “Sau khi giết mẹ và cha, và hai vị vua dòng Sát-đế-lỵ, sau khi tiêu diệt vương quốc cùng quan lại tùy tùng, ...” Đây là xác định pháp.
“… vị Bà-la-môn ra đi không phiền muộn.” Đây là xác định chúng sanh. Đây là xác định chúng sanh và xác định pháp.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn nền tảng của thần thông. Bốn nền tảng nào? Nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực, ―nt― do tinh tấn ―nt― do tâm ―nt―, nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực.” Đây là xác định pháp.
“Vị ấy kết hợp tâm với thân, kết hợp thân với tâm. Sau khi tiến vào lạc tưởng và khinh tưởng ở thân, vị ấy thể nhập và an trú.” Đây là xác định chúng sanh. Đây là xác định chúng sanh và xác định pháp.
(7) Ở đấy, sự biết (trí) là gì?
9. “Trí vượt trội thế gian ấy gọi là Toàn Tri. Không có sự suy giảm đối với nó. Nó vận hành vào mọi lúc.” Đây là sự biết.
10. “Bởi vì tuệ là hạng nhất ở thế gian, cái này dẫn đến Niết Bàn, nhờ nó mà nhận biết đúng đắn sự diệt trừ hoàn toàn của sanh và tử.” Đây là sự biết.
(8) Ở đấy, điều-có-thể-biết là gì?
11. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) Ta sẽ giải bày cho ngươi về sự an tịnh, tự mình chứng ngộ, không phải do nghe nói lại; sau khi hiểu pháp ấy, vị có niệm, trong khi sống, có thể vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
12. (Tôn giả Dhotaka nói:) “Thưa bậc đại ẩn sĩ, con thích thú sự an tịnh tối thượng ấy; sau khi hiểu pháp ấy, có niệm, trong khi sống, con có thể vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
13. (Đức Thế Tôn nói: “Này Dhotaka,) bất cứ điều gì mà ngươi tự mình nhận biết, ở bên trên, bên dưới, luôn cả chiều ngang và khoảng giữa, sau khi hiểu điều này là ‘sự quyến luyến’ ở thế gian, ngươi chớ tạo ra tham ái ở hữu và phi hữu.” Đây là điều-có-thể-biết.
“Này các tỳ khưu, do không giác ngộ, do không thấu triệt bốn Chân Lý Cao Thượng mà Ta và các ngươi đã rong ruổi, đã luân chuyển một thời gian dài như thế này. Này các tỳ khưu, Chân Lý Cao Thượng về Khổ này đây đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng về nhân sanh Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng về sự diệt tận Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt. Tham ái về hữu đã được trừ tuyệt, lối dẫn đến hữu đã được cạn kiệt, giờ đây không còn sự hiện hữu lại nữa.” Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
14. “Do không nhìn thấy bốn Chân Lý Cao Thượng đúng theo thực thể, nên đã bị luân hồi một thời gian dài ở những kiếp sống này khác.
15. Những (Chân Lý) này đây đã được nhìn thấy, lối dẫn đến hữu đã được bứng lên, gốc rễ của khổ đã được trừ tuyệt, giờ đây không còn sự hiện hữu lại nữa.” Đây là điều-có-thể-biết.
(9) Ở đấy, sự biết và điều-có-thể-biết là gì?
“Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, các hành là vô thường, thức là vô thường.” Đây là điều-có-thể-biết.
“Trong khi biết như vậy, trong khi thấy như vậy, vị Thánh Thinh Văn nhìn thấy ‘sắc là vô thường,’ nhìn thấy ‘thọ là vô thường,’ nhìn thấy ‘tưởng ―nt― ‘các hành ―nt― ‘thức là vô thường.’” Đây là sự biết.
“Ta nói rằng: ‘Vị ấy được hoàn toàn giải thoát khỏi sắc, được hoàn toàn giải thoát khỏi thọ, được hoàn toàn giải thoát khỏi tưởng, được hoàn toàn giải thoát khỏi các hành, được hoàn toàn giải thoát khỏi thức, được hoàn toàn giải thoát khỏi khổ.’” Đây là sự biết và điều-có-thể-biết.
“Tất cả các hành là vô thường.” Đây là điều-có-thể-biết.
“Khi nào nhìn thấy bằng tuệ.” Đây là sự biết.
“Thì nhàm chán khổ, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” Đây là sự biết và điều-có-thể-biết. “Tất cả các hành là khổ.” ―nt― “Tất cả các pháp là vô ngã.” Đây là điều-có-thể-biết. “Khi nào nhìn thấy bằng tuệ.” Đây là sự biết. “Thì nhàm chán khổ, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” Đây là sự biết và điều-có-thể-biết.
“Này Soṇa, bất cứ những Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào nhận thấy: ‘Tôi là tốt hơn,’ hoặc nhận thấy: ‘Tôi là ngang bằng,’ hoặc nhận thấy: ‘Tôi là thua kém’ về sắc―là pháp vô thường, khổ, có trạng thái biến đổi, thì còn có lý do nào khác hơn là do không nhìn thấy đúng theo thực thể? Nhận thấy: ‘Tôi là tốt hơn,’ hoặc nhận thấy: ‘Tôi là ngang bằng,’ hoặc nhận thấy: ‘Tôi là thua kém’ về thọ―là pháp vô thường, ―nt― về tưởng―là pháp vô thường, ―nt― về các hành―là pháp vô thường, ―nt― về thức―là pháp vô thường, khổ, có trạng thái biến đổi, thì còn có lý do nào khác hơn là do không nhìn thấy đúng theo thực thể?” Đây là điều-có-thể-biết.
“Và này Soṇa, bất cứ những Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào không nhận thấy: ‘Tôi là tốt hơn,’ không nhận thấy: ‘Tôi là ngang bằng,’ không nhận thấy: ‘Tôi là thua kém’ về sắc―là pháp vô thường, khổ, có trạng thái biến đổi, thì còn có lý do nào khác hơn là do nhìn thấy đúng theo thực thể? Không nhận thấy: ‘Tôi là tốt hơn,’ không nhận thấy: ‘Tôi là ngang bằng,’ không nhận thấy: ‘Tôi là thua kém’ về thọ―là pháp vô thường, ―nt― về tưởng―là pháp vô thường, ―nt― về các hành―là pháp vô thường, ―nt― về thức―là pháp vô thường, khổ, có trạng thái biến đổi, thì còn có lý do nào khác hơn là do nhìn thấy đúng theo thực thể?” Đây là sự biết. Đây là sự biết và điều-có-thể-biết.
(10) Ở đấy, sự thấy là gì?
16. “Các vị nào hiểu rõ về bốn Chân Lý Cao Thượng đã khéo được chỉ bảo bởi vị có tuệ thâm sâu, dầu cho các vị ấy thường xuyên bị xao lãng, các vị ấy cũng không nhận lấy kiếp sống thứ tám.” Đây là sự thấy.
17. “Giống như cột trụ đá được nương vào lòng đất, sẽ không bị lay động bởi các cơn gió từ bốn phương, với sự so sánh như thế Ta nói về bậc chân nhân, là vị nào nhìn thấy rõ ràng bốn Chân Lý Cao Thượng.” Đây là sự thấy.
“Này các tỳ khưu, được thành tựu với bốn yếu tố của vị Nhập Lưu, vị Thánh Thinh Văn, trong khi mong muốn, có thể tự chính mình tuyên bố về bản thân rằng: ‘Tôi đã cạn kiệt về địa ngục, đã cạn kiệt về loài thú, đã cạn kiệt về thân phận ngạ quỷ, đã cạn kiệt về đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, tôi là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự giác ngộ là đích đến, sau khi rong ruổi, sau khi luân hồi ở cõi Trời và cõi người tối đa bảy lần, tôi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’ Với bốn yếu tố nào? Ở đây, này các tỳ khưu, niềm tin vào đức Như Lai của vị Thánh Thinh Văn là đã được gầy dựng, đã được thiết lập, đã được lớn mạnh, đã được mọc rễ, không thể bị lấy đi bởi vị Sa-môn, bởi vị Bà-la- môn, bởi Thiên nhân, bởi Ma Vương, bởi Phạm Thiên, hoặc bởi bất cứ ai ở thế gian có cùng tính chất. Hơn nữa, vị ấy đã đi đến sự hoàn thành trong Giáo Pháp rằng: ‘Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng, có thể thấy được bởi tự thân, không bị chi phối bởi thời gian, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết-bàn), và có thể được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ,’ tức là sự nghiền nát say đắm ―nt― sự diệt tận, Niết Bàn. Hơn nữa, đối với vị này, các bậc đồng Phạm hạnh, tại gia và xuất gia, là được mong, được muốn, được yêu, được mến. Hơn nữa, vị này là được thành tựu với các giới được yêu quý bởi các bậc Thánh, không bị bể vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, được tự tại, được các bậc trí ngợi khen, không bị hoen ố, đưa đến thiền định. Này các tỳ khưu, được thành tựu với bốn yếu tố này của vị Nhập Lưu, vị Thánh Thinh Văn, trong khi mong muốn, có thể tự chính mình tuyên bố về bản thân rằng: ‘Tôi đã cạn kiệt về địa ngục, đã cạn kiệt về loài thú, đã cạn kiệt về thân phận ngạ quỷ, đã cạn kiệt về đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, tôi là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, đã được chắc chắn, có sự giác ngộ là đích đến, sau khi rong ruổi, sau khi luân hồi ở cõi Trời và cõi người tối đa bảy lần, tôi sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’” Đây là sự thấy.
(11) Ở đấy, sự tu tập là gì?
18. “Vị nào có các giác quan đã khéo được tu tập, ở nội phần và ở ngoại phần, ở toàn thể thế gian, sau khi thấu triệt đời này và đời sau, vị đã được tu tập chờ đợi thời điểm, vị ấy là ‘đã được huấn luyện.’” Đây là sự tu tập.
“Này các tỳ khưu, đây là bốn cơ sở của Giáo Pháp. Bốn cơ sở nào? Không tham đắm là cơ sở của Giáo Pháp, không sân hận là cơ sở của Giáo Pháp, chánh niệm là cơ sở của Giáo Pháp, chánh định là cơ sở của Giáo Pháp. Này các tỳ khưu, đây là bốn cơ sở của Giáo Pháp.” Đây là sự tu tập.
(12) Ở đấy, sự thấy và sự tu tập là gì?
19. “Nên chặt đứt năm, nên từ bỏ năm, nên tu tập hơn nữa về năm. Là người đã vượt qua năm sự dính líu, vị tỳ khưu được gọi là ‘đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ.’”
‘Nên chặt đứt năm, nên từ bỏ năm.’ Đây là sự thấy. ‘Nên tu tập hơn nữa về năm. Là người đã vượt qua năm sự dính líu, vị tỳ khưu được gọi là đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ.’ Đây là sự tu tập. Đây là là sự thấy và sự tu tập.
“Này các tỳ khưu, đây là ba quyền. Ba quyền nào? Vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền. Và này các tỳ khưu, vị tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm nhằm chứng ngộ Chân Lý Tối Thượng về Khổ chưa được chứng ngộ, làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm nhằm chứng ngộ Chân Lý Tối Thượng về nhân sanh Khổ ―nt― về sự diệt tận Khổ ―nt― Chân Lý Tối Thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ chưa được chứng ngộ. Này các tỳ khưu, cái này là vị tri quyền.” Đây là sự thấy.
“Và này các tỳ khưu, dĩ tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Này các tỳ khưu, cái này là dĩ tri quyền.
Và này các tỳ khưu, cụ tri quyền là gì? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, do sự cạn kiệt của các lậu hoặc, nhờ vào thắng trí của mình chứng ngộ, đạt đến, và an trú vào sự không còn lậu hoặc, sự giải thoát của tâm, sự giải thoát của tuệ ngay ở đời hiện tại. Vị ấy nhận biết rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã hoàn tất, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’ Này các tỳ khưu, cái này là cụ tri quyền.” Đây là sự tu tập. Đây là là sự thấy và sự tu tập.
(13) Ở đấy, điều nào là lời nói của Ta?
20. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.” Đây là lời nói của Ta.
“Này các tỳ khưu, đây là ba tướng trạng ngu, hiện tướng ngu, dấu ấn ngu của kẻ ngu, nhờ đó, những người khác nhận ra kẻ ngu là ‘kẻ ngu.’ Ba điều nào? Này các tỳ khưu, kẻ ngu nghĩ ý nghĩ xấu xa, nói lời nói xấu xa, và làm hành động xấu xa. Này các tỳ khưu, đây là ba tướng trạng ngu, hiện tướng ngu, dấu ấn ngu của kẻ ngu.
Này các tỳ khưu, đây là ba tướng trạng trí, hiện tướng trí, dấu ấn trí của người trí, nhờ đó, những người khác nhận ra người trí là ‘người trí.’ Ba điều nào? Này các tỳ khưu, người trí nghĩ ý nghĩ tốt lành, nói lời nói tốt lành, và làm hành động tốt lành. Này các tỳ khưu, đây là ba tướng trạng trí, hiện tướng trí, dấu ấn trí của người trí.” Đây là lời nói của Ta.
(14) Ở đấy, điều nào là lời nói của vị khác?
21. “Không có gì rộng bằng trái đất, nơi sâu bằng vực Pātālā không tìm thấy, không có gì vươn cao bằng núi Meru, không có người tương đương đức Chuyển Luân Vương.” Đây là lời nói của vị khác.
“‘Này Chúa của chư Thiên, hãy xác định sự chiến thắng với lời được khéo nói.’ ‘Này Vepacitti, hãy xác định sự chiến thắng với lời được khéo nói.’ … ‘Này Vepacitti, ngài hãy nói lời kệ.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, Vepacitti, chúa các A-tu-la, đã nói lời kệ này:
22. ‘Các kẻ ngu có thể nổi giận nhiều hơn nếu không có người ngăn chặn; vì thế, bậc sáng trí nên ngăn cản kẻ ngu bằng hình phạt nặng nề.’
Này các tỳ khưu, quả thật các A-tu-la đã tùy hỷ với lời kệ được nói lên bởi Vepacitti, chúa các A-tu-la, còn chư Thiên đã im lặng. Khi ấy, này các tỳ khưu, Vepacitti, chúa các A-tu-la, đã nói với với Sakka, chúa của chư Thiên, điều này: ‘Này chúa của chư Thiên, ngài hãy nói lời kệ.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, Sakka, chúa của chư Thiên, đã nói lời kệ này:
23. ‘Sau khi biết được người khác bị nổi giận, người có niệm, được an tịnh. Ta nghĩ chính điều này là sự ngăn chặn đối với kẻ ngu.’
Này các tỳ khưu, quả thật chư Thiên đã tùy hỷ với lời kệ được nói lên bởi Sakka, chúa của chư Thiên, còn các A-tu-la đã im lặng. Khi ấy, này các tỳ khưu, Sakka, chúa của chư Thiên, đã nói với với Vepacitti, chúa các A- tu-la, điều này: ‘Này Vepacitti, ngài hãy nói lời kệ.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, Vepacitti, chúa các A-tu-la, đã nói lời kệ này:
24. ‘Này Vāsava, ta nhìn thấy chính điều này là lỗi lầm của sự nhẫn nhịn, khi kẻ ngu nghĩ về người kia rằng: ‘Người này nhẫn nhịn với ta vì sợ hãi,’ kẻ ngu si càng thêm lấn lướt, ví như con bò càng hung hăng với kẻ bỏ chạy.’ Này các tỳ khưu, quả thật các A-tu-la đã tùy hỷ với lời kệ được nói lên bởi Vepacitti, chúa các A-tu-la, còn chư Thiên đã im lặng. Khi ấy, này các tỳ khưu, Vepacitti, chúa các A-tu-la, đã nói với với Sakka, chúa của chư Thiên, điều này: ‘Này chúa của chư Thiên, ngài hãy nói lời kệ.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, Sakka, chúa của chư Thiên, đã nói các lời kệ này:
25. ‘Hãy để nó nghĩ hoặc không nghĩ theo như ước muốn (rằng): ‘Người này nhẫn nhịn với ta vì sợ hãi.’ So với lợi ích tốt nhất trong số các lợi ích của bản thân, không tìm thấy (lợi ích khác) tốt hơn nhẫn nhịn.
26. Thật vậy, người có sức mạnh nhẫn nhịn với người yếu sức, (các bậc trí) đã nói việc ấy là kham nhẫn tối cao. Người yếu sức phải thường kham nhẫn.
27. (Các bậc trí) đã nói sức mạnh ấy không phải là sức mạnh, sức mạnh ấy là sức mạnh của kẻ ngu. Đối với sức mạnh đã được chân lý bảo vệ, người chống đối lại (sức mạnh ấy) không tìm thấy.
28. Người nào nổi giận lại với kẻ đã nổi giận, với việc ấy có điều tệ hại hơn cho chính người ấy. Trong khi không nổi giận lại với kẻ đã nổi giận, (người ấy) chiến thắng cuộc chiến khó thể chiến thắng.
29. Người ấy thực hành điều lợi ích cho cả hai, cho mình và cho người khác. Sau khi biết được người khác bị nổi giận, người nào có niệm, được an tịnh.
30. Trong khi đang chữa bệnh cho cả hai, cho mình và cho người khác, những kẻ nào không rành rẽ về chân lý mới nghĩ rằng: ‘(Người này) là kẻ ngu.’ Này các tỳ khưu, quả thật chư Thiên đã tùy hỷ với các lời kệ được nói lên bởi Sakka, chúa của chư Thiên, còn các A-tu-la đã im lặng.” Đây là lời nói của vị khác.
(15) Ở đấy, điều nào là lời nói của Ta và lời nói của vị khác?
“Cái nào đã được đạt đến và cái nào sẽ được đạt đến, cả hai cái này đều bị lấm bụi (ô nhiễm) đối với người bị bệnh đang còn học tập (người có tà kiến). Những người nào có việc học tập là cốt lõi, có sự phục vụ là cốt lõi đối với giới, phận sự, sự nuôi mạng, Phạm hạnh; đây là một cực đoan (hành xác). Và những người nào có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có lỗi lầm ở các dục;’ đây là cực đoan thứ hai (hưởng dục). Như thế, cả hai cực đoan này là sự tăng trưởng của các bãi tha ma (tham ái và vô minh). Các bãi tha ma làm tăng trưởng tà kiến. Những người này không biết rõ cả hai cực đoan ấy, một số thụ động (thường kiến), một số chạy quá mức (đoạn kiến).”Đây là lời nói của vị khác.
“Và những người nào, sau khi biết rõ cả hai cực đoan ấy, đã không ở nơi ấy (đã dứt bỏ hai cực đoan), và đã không suy nghĩ về chúng (đã không bị tác động của tham ái, tà kiến, và ngã mạn). Đối với các vị ấy, không có luân hồi để mô tả.” Đây là lời nói của Ta. Lời cảm hứng này là lời nói của Ta và lời nói của vị khác.
“Đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Ngài, ở đây, trong lúc trẫm đang thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: ‘Đối với những người nào, bản thân là được yêu quý? Đối với những người nào, bản thân là không được yêu quý?’ Bạch Ngài, trẫm đây đã khởi ý điều này: ‘Những người nào thực hành uế hạnh bằng thân, thực hành uế hạnh bằng khẩu, thực hành uế hạnh bằng ý, đối với những người ấy, bản thân là không được yêu quý. Mặc dầu họ có thể nói điều gì đó như vầy: ‘Bản thân được chúng tôi yêu quý,’ thật ra đối với họ, bản thân là không được yêu quý. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Bởi vì, điều gì người không được yêu quý có thể làm cho người không được yêu quý, điều ấy họ đích thân làm cho bản thân; vì thế, đối với những người ấy, bản thân là không được yêu quý. Và những người nào thực hành thiện hạnh bằng thân, thực hành thiện hạnh bằng khẩu, thực hành thiện hạnh bằng ý, đối với những người ấy, bản thân là được yêu quý. Mặc dầu họ có thể nói điều gì đó như vầy: ‘Bản thân không được chúng tôi yêu quý,’ thật ra đối với họ, bản thân là được yêu quý. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Bởi vì, điều gì người được yêu quý có thể làm cho người được yêu quý, điều ấy họ đích thân làm cho bản thân; vì thế, đối với những người ấy, bản thân là được yêu quý.’ ‘Này đại vương, điều ấy là như vậy! Này đại vương, điều ấy là như vậy! Này đại vương, những người nào thực hành uế hạnh bằng thân, thực hành uế hạnh bằng khẩu, thực hành uế hạnh bằng ý, đối với những người ấy, bản thân là không được yêu quý. Mặc dầu họ có thể nói điều gì đó như vầy: ‘Bản thân được chúng tôi yêu quý,’ thật ra đối với họ, bản thân là không được yêu quý. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Bởi vì, này đại vương, điều gì người không được yêu quý có thể làm cho người không được yêu quý, điều ấy họ đích thân làm cho bản thân; vì thế, đối với những người ấy, bản thân là không được yêu quý. Và những người nào thực hành thiện hạnh bằng thân, thực hành thiện hạnh bằng khẩu, thực hành thiện hạnh bằng ý, đối với những người ấy, bản thân là được yêu quý. Mặc dầu họ có thể nói điều gì đó như vầy: ‘Bản thân không được chúng tôi yêu quý,’ thật ra đối với họ, bản thân là được yêu quý. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Bởi vì, này đại vương, điều gì người được yêu quý có thể làm cho người được yêu quý, điều ấy họ đích thân làm cho bản thân; vì thế, đối với những người ấy, bản thân là được yêu quý.’ Đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
31. ‘Nếu có thể biết bản thân là đáng yêu, không nên ràng buộc nó với việc ác. Bởi vì hạnh phúc không phải là điều dễ dàng đạt được bởi kẻ đã làm việc xấu.
32. Đối với người đã bị Tử Thần đuổi kịp, đang từ bỏ bản thể nhân loại, cái gì là vật sở hữu của người ấy, cầm lấy cái gì người ấy ra đi, và cái gì đi theo người này, ví như bóng không lìa khỏi (hình)?
33. Cả hai phước và tội mà con người làm ở nơi này, chính cái ấy là vật sở hữu của người ấy, cầm lấy cái ấy người ấy ra đi, và cái ấy đi theo người này, ví như bóng không lìa khỏi (hình).
34. Vì thế, nên làm việc tốt lành, là sự tích lũy cho đời sau. Các việc phước thiện là nơi nương tựa cho các sinh mạng ở đời sống khác.’” Kinh này là lời nói của vị khác. Kệ tóm lược là lời nói của Ta. Đây là lời nói của Ta và lời nói của vị khác.
(16) Ở đấy, điều nào là điều có thể trả lời? Khi câu hỏi được hỏi là: “(Có phải) cái này cần được biết rõ, cái này cần được biết toàn diện, cái này cần được dứt bỏ, cái này cần được tu tập, cái này cần được chứng ngộ, các pháp này được nắm lấy như vậy thì sanh ra kết quả này, khi chúng được nắm lấy như vậy thì đây là ý nghĩa của chúng?” Đây là điều có thể trả lời.
(Khi câu hỏi được hỏi là:) “Có phải đức Phật Thế Tôn là cao cả?” Nên diễn giải một cách trọn vẹn về tính chất cao cả của đức Phật, về tính chất đã khéo được thuyết giảng của Giáo Pháp, về tính chất đã được thực hành tốt đẹp của Hội Chúng. Nên diễn giải một cách trọn vẹn rằng: ‘Tất cả các hành là vô thường,’ ‘tất cả các hành là khổ,’ ‘tất cả các pháp là vô ngã,’ hoặc hơn nữa, về bất cứ pháp nào thuộc loại như vậy. Đây là điều có thể trả lời.
(17) Ở đấy, điều nào là điều không thể trả lời?
35. “Bạch đấng Điều Ngự Trượng Phu, chư Thiên, nhân loại, tất cả chúng sinh không thể biết về đề mục của Ngài trong khi Ngài thực hành định an tịnh không ô nhiễm, về điều được suy nghĩ bởi ý của Ngài trong khi Ngài mong muốn. Điều mà đức Thế Tôn mong muốn ấy là điều gì?” Đây là điều không thể trả lời.
“Đức Thế Tôn là chừng này về giới uẩn, về định uẩn, về tuệ uẩn, về giải thoát uẩn, về giải thoát tri kiến uẩn,về oai nghi, về năng lực, về sự tầm cầu lợi ích, về bi mẫn, về thần thông.” Đây là điều không thể trả lời.
“Này các tỳ khưu, từ sự hiện khởi ở thế gian của đức Như Lai, bậc A-la- hán, đấng Chánh Biến Tri, có sự hiện khởi của ba bảo vật: của Phật bảo, của Pháp bảo, của Tăng bảo.”
“Ba bảo vật có cái gì là sự đo lường?” Đây là điều không thể trả lời. Lãnh vực của đức Phật là không thể trả lời. Trạng thái biết về tính trạng khác biệt của con người là không thể trả lời.”
“Này các tỳ khưu, đối với các chúng sanh có sự che lấp của vô minh, có sự ràng buộc của tham ái, đang rong ruổi, đang luân hồi lúc ở địa ngục, lúc ở loài thú, lúc ở thân phận ngạ quỷ, lúc ở loài A-tu-la, lúc ở chư thiên, lúc ở loài người, thì điểm khởi đầu ở quá khứ (của chúng) không được biết đến.”
‘Cái nào là điểm khởi đầu ở quá khứ’ là điều không thể trả lời. ‘Không được biết đến’ là do sự khiếm khuyết về trí của những người nghe. Sự chỉ bảo của chư Phật Thế Tôn có hai loại: liên quan đến bản thân và liên quan đến người khác. ‘Không được biết đến’ là liên quan đến người khác; ‘không có sự hiểu biết ít ỏi đối với chư Phật Thế Tôn’ là liên quan đến bản thân. Giống như đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu nào đó về vị tỳ khưu Kokālika như vầy:
“Này tỳ khưu, cũng giống như một cỗ xe chở hạt mè ở xứ Kosala có sức chứa hai mươi khārika, [rồi từ cỗ xe đó vào cuối thời hạn của một trăm năm, của một ngàn năm, người ta lấy bớt ra một hạt mè, này tỳ khưu, theo cách thức này một cỗ xe chở hạt mè ở xứ Kosala có sức chứa hai mươi khārika ấy đi đến sự hoàn toàn cạn kiệt, hoàn toàn hết sạch là còn nhanh hơn,] còn chưa bằng một địa ngục Abbuda. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Abbuda là tương đương một địa ngục Nirabbuda. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Nirabbuda là tương đương một địa ngục Ababa. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Ababa là tương đương một địa ngục Aṭata. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Aṭata là tương đương một địa ngục Ahaha. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Ahaha là tương đương một địa ngục Kumuda. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Kumuda là tương đương một địa ngục Sogandhika. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Sogandhika là tương đương một địa ngục Uppalaka. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Uppalaka là tương đương một địa ngục Puṇḍarīka. Này tỳ khưu, hai mươi địa ngục Puṇḍarīka là tương đương một địa ngục Paduma. Này tỳ khưu, tỳ khưu Kokālika đã sanh vào địa ngục Paduma sau khi khởi tâm thù hằn với Sāriputta và Moggallāna.”
“Hoặc hơn nữa, về bất cứ điều nào mà đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Điều này là không thể đo lường, không thể tính đếm.’ Toàn bộ điều ấy là không thể trả lời.” Đây là điều không thể trả lời.
(18) Ở đấy, điều nào là điều có thể trả lời và không thể trả lời?
Vào lúc đạo sĩ lõa thể Upaka ấy đã nói với đức Thế Tôn rằng: “Này đạo hữu Gotama, ngài sẽ đi đâu?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:
36. “Ta sẽ đi đến Bārāṇasī để đánh lên tiếng trống Bất Tử, để chuyển vận bánh xe Giáo Pháp không thể bị chuyển vận nghịch lại ở thế gian.”
Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng: “Thưa ngài đạo hữu Gotama, phải chăng ngài tuyên bố là ‘đấng Chiến Thắng’?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:
37. “Này Upaka, quả vậy các bậc Chiến Thắng đã đạt đến việc đoạn tận các lậu hoặc là tương đương với Ta. Ta đã chiến thắng các ác pháp, vì thế Ta là bậc Jina.”
‘Như thế nào là đấng Chiến Thắng, bởi điều (lý do) gì trở thành đấng Chiến Thắng?’ là điều có thể trả lời. ‘Cái nào (sắc, thọ, …) là đấng Chiến Thắng?’ là điều không thể trả lời. ‘Cái nào là sự diệt trừ các lậu hoặc, là sự diệt trừ luyến ái, là sự diệt trừ sân hận, là sự diệt trừ si mê?’ là điều có thể trả lời. ‘Cho đến chừng nào là sự diệt trừ các lậu hoặc?’ là điều không thể trả lời. Đây là điều có thể trả lời và không thể trả lời.
‘Có đức Như Lai?’ là điều có thể trả lời. ‘Có sắc?’ là điều có thể trả lời. ‘Sắc là đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. ‘Đức Như Lai có sắc?’ là điều không thể trả lời. ‘Hoặc đức Như Lai ở trong sắc?’ là điều không thể trả lời. ‘Sắc ở trong đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. Tương tự như vậy, ‘Có thọ?’ ―nt― tưởng? ―nt― các hành? ―nt― ‘Có thức?’ là điều có thể trả lời. ‘Thức là đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. ‘Đức Như Lai có thức?’ là điều không thể trả lời. ‘Đức Như Lai ở trong thức?’ là điều không thể trả lời. ‘Thức ở trong đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. ‘Trừ sắc ra là đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. ‘Trừ thọ ra ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― ‘Trừ thức ra là đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. ‘Đức Như Lai này đây là không liên quan đến sắc, không liên quan đến thọ, không liên quan đến tưởng, không liên quan đến các hành, không liên quan đến thức?’ là điều không thể trả lời. Đây là điều có thể trả lời và không thể trả lời.
‘Có phải đức Thế Tôn, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (toàn bộ là tương tự như vậy) ―nt― Ngài biết được rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng?’ là điều có thể trả lời. ‘Những ai là chúng sanh, ai là đức Như Lai?’ là điều không thể trả lời. Đây là điều có thể trả lời và không thể trả lời.
‘Có đức Như Lai?’ là điều có thể trả lời. ‘Có đức Như Lai sau khi chết?’ là điều không thể trả lời. Đây là điều có thể trả lời và không thể trả lời.
(19) Ở đấy, cái nào là nghiệp?
38. “Đối với người đã bị Tử Thần đuổi kịp, đang từ bỏ bản thể nhân loại, cái gì là vật sở hữu của người ấy, cầm lấy cái gì người ấy ra đi, và cái gì đi theo người này, ví như bóng không lìa khỏi (hình)?”
39. “Cả hai phước và tội mà con người làm ở nơi này, chính cái ấy là vật sở hữu của người ấy, cầm lấy cái ấy người ấy ra đi, và cái ấy đi theo người này, ví như bóng không lìa khỏi (hình).” Đây là nghiệp.
“Và lại nữa, này các tỳ khưu, khi kẻ ngu đã leo lên ghế, hoặc đã leo lên giường, hoặc đang nằm trên mặt đất, các nghiệp ác đã làm trước đây bởi kẻ này, là các uế hạnh bằng thân, các uế hạnh bằng khẩu, các uế hạnh bằng ý, vào lúc ấy, trải lên, trùm lên, phủ lên kẻ này. Cũng giống như, này các tỳ khưu, bóng của các đỉnh núi lớn, vào buổi chiều, trải lên, trùm lên, phủ lên trái đất, tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, khi kẻ ngu đã leo lên ghế, hoặc đã leo lên giường, hoặc đang nằm trên mặt đất, các nghiệp ác đã làm trước đây bởi kẻ này, là các uế hạnh bằng thân, các uế hạnh bằng khẩu, các uế hạnh bằng ý, vào lúc ấy, trải lên, trùm lên, phủ lên kẻ này. Trong trường hợp ấy, này các tỳ khưu, có ý nghĩ như vầy khởi đến kẻ ngu: ‘Quả thật, ta đã không tạo việc lành, đã không tạo việc thiện, đã không tạo nơi nương náu sự khiếp sợ, đã làm việc ác, đã làm việc hung bạo, đã làm việc sái quấy. Và cảnh giới nào dành cho những kẻ đã không tạo việc tốt, đã không tạo việc thiện, đã không tạo nơi nương náu sự khiếp sợ, đã làm việc ác, đã làm việc hung bạo, đã làm việc sái quấy, sau khi chết, ta (sẽ) đi đến cảnh giới ấy.’ Kẻ ấy sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, đấm ngực khóc lóc, đi đến sự mê muội.
Và lại nữa, này các tỳ khưu, khi người trí đã leo lên ghế, hoặc đã leo lên giường, hoặc đang nằm trên mặt đất, các nghiệp lành đã làm trước đây bởi người này, là các thiện hạnh bằng thân, các thiện hạnh bằng khẩu, các thiện hạnh bằng ý, vào lúc ấy, trải lên, trùm lên, phủ lên người này. Cũng giống như, này các tỳ khưu, bóng của các đỉnh núi lớn, vào buổi chiều, trải lên, trùm lên, phủ lên trái đất, tương tự y như vậy, này các tỳ khưu, khi người trí đã leo lên ghế, hoặc đã leo lên giường, hoặc đang nằm trên mặt đất, các nghiệp lành đã làm trước đây bởi người này, là các thiện hạnh bằng thân, các thiện hạnh bằng khẩu, các thiện hạnh bằng ý, vào lúc ấy, trải lên, trùm lên, phủ lên người này. Trong trường hợp ấy, này các tỳ khưu, có ý nghĩ như vầy khởi đến người trí: ‘Quả thật, ta đã không làm việc ác, đã không làm việc hung bạo, đã không làm việc sái quấy, đã tạo việc lành, đã tạo việc thiện, đã tạo nơi nương náu sự khiếp sợ. Và cảnh giới nào dành cho những người đã không làm việc ác, đã không làm việc hung bạo, đã không làm việc sái quấy, đã tạo việc lành, đã tạo việc thiện, đã tạo nơi nương náu sự khiếp sợ, sau khi chết, ta (sẽ) đi đến cảnh giới ấy.’ Người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến sự mê muội (nghĩ rằng): ‘Ta đã làm phước, ta đã không làm ác. Sẽ có cảnh giới dành cho người đã không làm việc ác, đã không làm việc hung bạo, đã không làm việc sái quấy, đã tạo việc phước, đã tạo việc thiện, đã tạo nơi nương náu sự khiếp sợ, sau khi chết, ta (sẽ) đi đến cảnh giới ấy,’ như thế sự hối hận không sanh khởi. Thật vậy, này các tỳ khưu, Ta nói rằng: ‘(Sẽ có) cái chết đẹp, (sẽ có) sự qua đời đẹp dành cho người nữ, hoặc người nam, hoặc tại gia, hoặc xuất gia, không có sự hối hận.’” Đây là nghiệp.
“Này các tỳ khưu, đây là ba uế hạnh. Ba uế hạnh nào? Uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Thật vậy, này các tỳ khưu, đây là ba uế hạnh.
Này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh. Ba thiện hạnh nào? Thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý. Thật vậy, này các tỳ khưu, đây là ba thiện hạnh.” Đây là nghiệp.
(20) Ở đấy, cái nào là quả thành tựu? “Này các tỳ khưu, thật lợi ích cho các ngươi! Này các tỳ khưu, thật đã khéo đạt được cho các ngươi! Các ngươi đã đạt được cơ hội để sống đời Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, Ta nhìn thấy địa ngục tên Sáu Xúc Xứ. Ở đấy, bất cứ sắc nào nhìn thấy bằng mắt thì nhìn thấy mỗi sắc không được ước muốn, không phải sắc được ước muốn, nhìn thấy mỗi sắc không được ưa thích, không phải sắc được ưa thích, nhìn thấy mỗi sắc không hợp ý, không phải sắc hợp ý, bất cứ thinh nào nghe bằng tai ―nt― bằng mũi ―nt― bằng lưỡi ―nt― bằng thân ―nt― bất cứ pháp nào nhận biết bằng ý thì nhận biết mỗi pháp không được ước muốn, không phải pháp được ước muốn, nhận biết mỗi pháp không được ưa thích, không phải pháp được ưa thích, nhận biết mỗi pháp không hợp ý, không phải pháp hợp ý. Này các tỳ khưu, thật lợi ích cho các ngươi! Này các tỳ khưu, thật đã khéo đạt được cho các ngươi! Các ngươi đã đạt được cơ hội để sống đời Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, Ta nhìn thấy cõi Trời tên Sáu Xúc Xứ. Ở đấy, bất cứ sắc nào nhìn thấy bằng mắt thì nhìn thấy mỗi sắc được ước muốn, không phải sắc không được ước muốn, nhìn thấy mỗi sắc được ưa thích, không phải sắc không được ưa thích, nhìn thấy mỗi sắc hợp ý, không phải sắc không hợp ý, bất cứ thinh nào nghe bằng tai ―nt― bằng mũi ―nt― bằng lưỡi ―nt― bằng thân ―nt― bất cứ pháp nào nhận biết bằng ý thì nhận biết mỗi pháp được ước muốn, không phải pháp không được ước muốn, nhận biết mỗi pháp được ưa thích, không phải pháp không được ưa thích, nhận biết mỗi pháp hợp ý, không phải pháp không hợp ý. Này các tỳ khưu, thật lợi ích cho các ngươi! Này các tỳ khưu, thật đã khéo đạt được cho các ngươi! Các ngươi đã đạt được cơ hội để sống đời Phạm hạnh.” Đây là quả thành tựu.
40. “Trong khi bị nung nấu ở địa ngục với mọi hình thức, tròn đủ sáu chục ngàn năm, khi nào sẽ là sự chấm dứt (cho chúng tôi)?”
41. “Không có sự chấm dứt. Do đâu có sự chấm dứt? Sự chấm dứt không được nhìn thấy. Này các ông, bởi vì khi ấy, tội ác của tôi và của ông đã được tạo ra.” Đây là quả thành tựu.
(21) Ở đấy, cái nào là nghiệp và quả thành tựu?
42. “Bởi vì người có sự thực hành sai pháp là người bị xao lãng, bất cứ khổ cảnh nào người ấy đi đến, việc sai pháp đã được thực hành ấy hành hạ người ấy, giống như con rắn đen đã bị giữ lại bởi chính nó.”
43. “Bởi vì Chánh Pháp và Phi Chánh Pháp, cả hai không có quả thành tựu giống nhau: Phi Chánh Pháp dẫn đến địa ngục, Chánh Pháp giúp cho thành tựu nhàn cảnh.” Đây là nghiệp và quả thành tựu.
“Này các tỳ khưu, chớ sợ hãi đối với các phước thiện. Này các tỳ khưu, việc này là từ biểu trưng của sự an lạc, của điều được ước muốn, được ưa thích, đáng yêu, hợp ý, tức là ‘các phước thiện.’ Hơn nữa, này các tỳ khưu, Ta biết rõ về quả thành tựu được ước muốn, được ưa thích, đáng yêu, hợp ý, đã được kinh nghiệm trong một thời gian dài của các việc phước thiện đã được làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập tâm từ trong bảy năm, Ta đã không trở lại thế gian này trong bảy thành và hoại kiếp. Này các tỳ khưu, vào giai đoạn thành kiếp Ta đi đến cõi Quang Âm Thiên, vào giai đoạn hoại kiếp Ta sanh lên Phạm Thiên Cung trống không. Này các tỳ khưu, tại nơi ấy Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, đấng chúa tể, bậc không bị chế ngự, bậc nhìn thấy tất cả, bậc vận hành quyền lực. Này các tỳ khưu, hơn nữa, ba mươi sáu lần Ta đã là Sakka, Chúa của chư Thiên. Nhiều trăm lần Ta đã là vị Chuyển Luân Vương, bậc công minh, đấng pháp vương, bậc cai trị bốn phương, bậc chiến thắng, bậc đã đạt được sự ổn định của xứ sở, bậc có đầy đủ bảy vật báu, thì còn có lời nói gì đến vương quyền của địa phận?
Này các tỳ khưu, Ta đây đã khởi ý điều này: ‘Đối với Ta, việc này là quả báu của nghiệp nào, là quả thành tựu của nghiệp nào, nhờ vào nó hiện nay Ta có đại thần lực như vầy, có đại oai lực như vầy?’ Này các tỳ khưu, Ta đây đã khởi ý điều này: ‘Đối với Ta, việc này là quả báu của ba nghiệp, là quả thành tựu của ba nghiệp, nhờ vào nó hiện nay Ta có đại thần lực như vầy, có đại oai lực như vầy,’ tức là của sự bố thí, của sự rèn luyện, của sự chế ngự.”
Ở đấy, sự bố thí, sự rèn luyện, sự chế ngự là nghiệp. Quả thành tựu đã được kinh nghiệm do duyên của việc ấy là quả thành tựu.
Kinh Cullakammavibhaṅga, bài Kinh chỉ bảo cho thanh niên Subha Todeyya, nên được nói đến như thế. Ở đấy, các pháp nào vận hành đưa đến tình trạng đoản thọ và trường thọ, vận hành đưa đến tình trạng nhiều bệnh và ít bệnh, đưa đến tình trạng có ít quyền thế và có quyền thế lớn, đưa đến tình trạng xấu sắc và đẹp sắc, đưa đến tình trạng gia tộc thấp kém và gia tộc cao sang, đưa đến tình trạng ít tài sản và tài sản lớn, đưa đến tình trạng tuệ tồi và có tuệ, cái này là nghiệp. Ở đấy, tình trạng đoản thọ và trường thọ ―nt― tình trạng tuệ tồi và có tuệ là quả thành tựu. Đây là nghiệp và quả thành tựu.
(22) Ở đấy, cái nào là thiện?
44. “Người có sự gìn giữ lời nói, đã khéo thu thúc về tâm, không nên làm việc bất thiện bằng thân, nên làm trong sạch ba đường lối tạo nghiệp này, nên thành đạt đạo lộ đã được tuyên thuyết bởi các bậc Ẩn Sĩ.” Đây là thiện.
45. “Đối với vị nào không có việc làm quấy do thân, do khẩu, do ý, (và) đã được thu thúc ở ba nơi (thân khẩu ý), Ta gọi vị ấy là Bà-la-môn.” Đây là thiện.
“Này các tỳ khưu, đây là ba gốc rễ của thiện. Ba cái nào? Vô tham là gốc rễ của thiện, vô sân là gốc rễ của thiện, vô si là gốc rễ của thiện. Này các tỳ khưu, đây là ba gốc rễ của thiện.” Đây là thiện. “Này các tỳ khưu, minh là sự đi trước trong việc thành tựu các pháp thiện, theo sau là hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi).” Đây là thiện.
(23) Ở đấy, cái nào là bất thiện?
46. “Ví như dây leo māluva trùm lên cây sālā, người có giới tồi tệ quá mức tạo ra cho bản thân điều mà kẻ thù mong muốn gây ra cho người ấy.” Đây là bất thiện.
47. “Việc ác đã do chính ta làm, do ta tạo ra, có nguồn sanh khởi từ nơi ta. Việc ác nghiền nát kẻ kém trí tuệ, ví như kim cương nghiền nát viên ngọc ma-ni làm bằng đá.” Đây là bất thiện.
48. “Sau khi thực hành mười đường lối hành động, các pháp bất thiện được xa lìa với các pháp thiện. Này Thiên nhân, chúng là bị chê trách. những kẻ ngu bị nung nấu ở các địa ngục.” Đây là bất thiện. “Này các tỳ khưu, đây là ba gốc rễ của bất thiện. Ba cái nào? Tham là gốc rễ của bất thiện, sân là gốc rễ của bất thiện, si là gốc rễ của bất thiện. Này các tỳ khưu, đây là ba gốc rễ của bất thiện.” Đây là bất thiện.
(24) Ở đấy, cái nào là thiện và bất thiện?
49. “Gieo loại hạt giống như thế nào thì mang lại kết quả như thế ấy. Người làm lành (mang lại) điều lành, và người làm ác (mang lại) điều ác.”
Ở đấy, điều đã được nói: ‘Người làm lành (mang lại) điều lành’ là thiện; điều đã được nói: ‘Người làm ác (mang lại) điều ác’ là bất thiện. Đây là thiện và bất thiện.
50. “Chúng đi đến nhàn cảnh do nghiệp tốt đẹp, đến vùng đất bất hạnh do nghiệp không tốt đẹp, và do sự cạn kiệt của nghiệp, do tâm đã được giải thoát, chúng tịch diệt, tựa như ngọn lửa do sự cạn kiệt của nhiên liệu.”
Ở đấy, điều đã được nói: ‘Chúng đi đến nhàn cảnh do nghiệp tốt đẹp’ là thiện; điều đã được nói: ‘Đến vùng đất bất hạnh do nghiệp không tốt đẹp’ là bất thiện. Đây là thiện và bất thiện.
(25) Ở đấy, điều nào là được cho phép?
51. “Cũng giống như loài ong lấy mật rồi bay đi mà không gây tổn hại đến bông hoa, vẻ đẹp, và hương thơm (của nó), bậc hiền trí đi (khất thực) ở trong làng là tương tự như thế.” Đây là điều được cho phép.
“Này các tỳ khưu, đây là ba việc cần được làm đối với các vị tỳ khưu. Ba việc nào? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống thu thúc với sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, được thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học, được đầy đủ về thân nghiệp và khẩu nghiệp thiện, có sự nuôi mạng được trong sạch; hơn nữa là vị có sự ra sức tinh tấn, có sự kiên định, có sự ra sức vững chãi, không buông bỏ nhiệm vụ nhằm dứt bỏ các bất thiện pháp, nhằm tu tập, nhằm chứng ngộ các thiện pháp; hơn nữa là vị có tuệ, được thành tựu về tuệ hướng đến sự sanh diệt, góp phần vào sự thấu triệt cao thượng, đưa đến sự cạn kiệt hoàn toàn của khổ. Này các tỳ khưu, đây là ba việc cần được làm đối với các vị tỳ khưu.” Đây là điều được cho phép.
“Này các tỳ khưu, đây là mười pháp nên được quán xét thường xuyên bởi vị xuất gia. Mười pháp nào? ‘Ta đã đi đến tình trạng không có giai cấp’ là nên được quán xét thường xuyên bởi vị xuất gia. ―nt― Này các tỳ khưu, mười pháp này nên được quán xét thường xuyên bởi vị xuất gia.” Đây là điều được cho phép.
“Này các tỳ khưu, đây là ba việc nên làm. Ba việc nào? Thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý. Thật vậy, này các tỳ khưu, đây là ba việc nên làm.” Đây là điều được cho phép.
(26) Ở đấy, điều nào là bị từ khước?
52. “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) con cái, không có tài sản nào tương đương trâu bò, không có ánh sáng nào sánh bằng mặt trời, (trong số) các hồ nước, biển cả là hạng nhất.”
Đức Thế Tôn đã nói rằng:
53. “Không có tình thương nào sánh bằng (tình thương đối với) bản thân, không có tài sản nào sánh bằng thóc lúa, không có ánh sáng nào sánh bằng trí tuệ, (trong số) các hồ nước, mưa là hạng nhất.” Ở đây, câu kệ trước bị từ khước.
“Này các tỳ khưu, đây là ba việc không nên làm. Ba việc nào? Uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Thật vậy, này các tỳ khưu, đây là ba việc không nên làm.” Đây là điều bị từ khước.
(27) Ở đấy, điều nào là được cho phép và bị từ khước?
54. “Tại sao ở đây nhiều người bị sợ hãi? Và đạo lộ với nhiều lãnh vực đã được nói ra. Thưa vị Gotama, đấng có tuệ bao la, tôi hỏi ngài: ‘Trú ở nơi nào, không sợ hãi đời sau?’”
55. “Gìn giữ đúng đắn lời nói và ý nghĩ, không làm các việc ác bằng thân, sống ở nhà có nhiều cơm nước, có đức tin, hòa nhã, hào phóng, ân cần, trú ở bốn pháp này, trú vào Giáo Pháp, không sợ hãi đời sau.”
Ở đấy, điều đã được nói: ‘Gìn giữ đúng đắn lời nói và ý nghĩ’ là điều được cho phép; ‘không làm các việc ác bằng thân’ là điều bị từ khước; ‘sống ở nhà có nhiều cơm nước, có đức tin, hòa nhã, hào phóng, ân cần, trú ở bốn pháp này, trú vào Giáo Pháp, không sợ hãi đời sau’ là điều được cho phép. Đây là điều được cho phép và bị từ khước.
56. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.”
Ở đấy, điều đã được nói: ‘Không làm mọi điều ác’ là điều bị từ khước; điều đã được nói: ‘thành tựu việc thiện’ là điều được cho phép. Đây là điều được cho phép và bị từ khước.
“Về hành vi của thân, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Về hành vi của khẩu, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Về hành vi của ý, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ―nt― Về sự tầm cầu, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Về hành vi của thân, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Điều này quả thật được nói như thế, và điều này được nói tùy thuộc vào điều gì? Thật vậy, khi một người hành trì hành vi của thân có hình thức như thế nào mà các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp giảm thiểu, thì hành vi của thân có hình thức như thế ấy không nên được hành trì. Ở đấy, nếu có thể biết về hành vi nào của thân rằng: ‘Khi tôi hành trì hành vi này của thân, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng,’ thì hành vi của thân có hình thức như vậy nên được hành trì. Về hành vi của thân, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Điều ấy được nói như thế, và điều này được nói tùy thuộc vào điều ấy. Về hành vi của khẩu ―nt― Về sự tầm cầu, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Điều này quả thật được nói như thế, và điều này được nói tùy thuộc vào điều gì? Thật vậy, khi một người hành trì sự tầm cầu có hình thức như thế nào mà các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp giảm thiểu, thì sự tầm cầu có hình thức như thế ấy không nên được hành trì. Ở đấy, nếu có thể biết về sự tầm cầu nào rằng: ‘Khi tôi hành trì sự tầm cầu này, các bất thiện pháp giảm thiểu, các thiện pháp tăng trưởng,’ thì sự tầm cầu có hình thức như vậy nên được hành trì. Về sự tầm cầu, này Chúa của chư Thiên, Ta nói theo hai loại: ‘nên được hành trì, không nên được hành trì.’ Điều ấy được nói như thế, và điều này được nói tùy thuộc vào điều ấy. Ở đấy, điều đã được nói: ‘Nên được hành trì’ là điều được cho phép; điều đã được nói: ‘Không nên được hành trì’ là điều bị từ khước. Đây là điều được cho phép và bị từ khước.
(28) Ở đấy, điều nào là sự ca tụng?
57. “Trong số các đạo lộ, (đạo lộ) Tám Chi Phần là hạng nhất. Trong số các chân lý, bốn thuật ngữ (về bốn Thánh Đế là hạng nhất). Trong số các pháp, không luyến ái là hạng nhất. Và trong số các loài hai chân, bậc Hữu Nhãn (đức Như Lai là hạng nhất).” Đây là sự ca tụng. “Này các tỳ khưu, ba đối tượng này là tối cao. Ba đối tượng nào? Này các tỳ khưu, so sánh với các chúng sanh không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc vô sắc, hoặc có tưởng hoặc vô tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng, đức Như Lai được gọi là tối cao, được gọi là hạng nhất, được gọi là cao quý trong số ấy, tức là bậc A-la- hán, đấng Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, so sánh với sự mô tả về các pháp hữu vi hoặc vô vi, sự xa lìa luyến ái được gọi là tối cao, được gọi là hạng nhất, được gọi là cao quý trong số các pháp ấy, tức là sự nghiền nát say đắm, ―nt― sự tịch diệt, Niết Bàn.
Này các tỳ khưu, so sánh với sự mô tả về các hội chúng, sự mô tả về các tập thể, sự mô tả về các tập hợp của nhiều người, hội chúng Thinh Văn của đức Như Lai được gọi là tối cao, được gọi là hạng nhất, được gọi là cao quý trong số ấy, tức là bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả là tám) ―nt― là nơi để gieo trồng phước báu của thế gian.”
58. “Bậc Đạo Sư vượt trội tất cả thế gian, Giáo Pháp tốt lành không lỗi lầm, và Hội Chúng của đấng Nhân Sư, ba (báu vật) ấy được nổi bật.
59. Hội Chúng là tập thể các vị Sa-môn tựa như hoa sen, Giáo Pháp cao quý được trân trọng bởi những người hiểu biết, và đấng Hữu Nhãn là huấn luyện viên cao quý của loài người, ba (báu vật) ấy là vượt trội thế gian.
60. Bậc Đạo Sư là không người sánh bằng, toàn bộ Giáo Pháp là không có sự đốt nóng, và Hội Chúng cao quý là thánh thiện. ba (báu vật) ấy thật sự được nổi bật.
61. Đấng Chiến Thắng, Bình Yên, có tên là Sự Thật, vị Khuất Phục Tất Cả có Giáo Pháp về Sự Thật, không có giáo pháp nào khác vượt trội Giáo Pháp ấy, Thánh Chúng thường xuyên được các bậc tri thức tôn vinh, ba (báu vật) ấy là vượt trội thế gian.”
62. “Vị nhìn thấy sự tiêu hoại và chấm dứt của sanh, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích, nhận biết con đường độc đạo. Trong thời quá khứ các vị đã vượt qua, (trong thời vị lai) các vị sẽ vượt qua, và (trong thời hiện tại) các vị đang vượt qua dòng lũ bằng con đường này. Chúng sanh mong mỏi sự thanh tịnh (Niết Bàn) xin kính lễ Ngài, bậc như thế ấy, vị hạng nhất của chư Thiên và nhân loại.” Đây là sự ca tụng.
Ở đấy, Kinh hợp thế nên được diễn giải theo hai kinh: liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập. Còn Kinh xuất thế nên được diễn giải theo ba kinh: liên quan đến việc thấy, liên quan đến tu tập, và liên quan đến bậc Vô Học. Ở Kinh hợp thế và xuất thế: mỗi khi có bất cứ thuật ngữ nào được thấy là liên quan đến phiền não, hoặc liên quan đến huân tập, thì nên diễn giải thuật ngữ ấy là ‘hợp thế;’ mỗi khi có bất cứ thuật ngữ nào được thấy là liên quan đến việc thấy, hoặc liên quan đến tu tập, hoặc liên quan đến bậc Vô Học, thì nên diễn giải thuật ngữ ấy là ‘xuất thế.’
Kinh liên quan đến huân tập đưa đến việc loại trừ Kinh liên quan đến phiền não, Kinh liên quan đến việc thấy đưa đến việc loại trừ Kinh liên quan đến huân tập, Kinh liên quan đến việc thấy đưa đến việc buông bỏ Kinh liên quan đến huân tập, Kinh liên quan đến tu tập đưa đến việc buông bỏ Kinh liên quan đến việc thấy, Kinh liên quan đến bậc Vô Học đưa đến việc buông bỏ Kinh liên quan đến tu tập, Kinh liên quan đến bậc Vô Học với mục đích an trú lạc trong đời hiện tại.
Kinh xuất thế có sự xác định chúng sanh sẽ được diễn giải với 26 hạng người. Những hạng người ấy nên được tìm kiếm với ba loại Kinh: “liên quan đến việc thấy, liên quan đến tu tập, và liên quan đến bậc Vô Học.”
Ở đấy, Kinh liên quan đến việc thấy sẽ được diễn giải với 5 hạng người: “Với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh), với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá, với vị tái sanh tối đa bảy lần, với vị có xu hướng về niềm tin, với vị có xu hướng về Giáo Pháp.” Kinh liên quan đến việc thấy sẽ được diễn giải với 5 hạng người. Kinh liên quan đến tu tập sẽ được diễn giải với 12 hạng người: “Với vị thực hành nhằm chứng ngộ quả Nhất Lai, với vị Nhất Lai, với vị thực hành nhằm chứng ngộ quả Bất Lai, với vị Bất Lai, với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp, với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp, với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn, với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn, với vị ngược dòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh, với vị được giải thoát do tín, với vị đạt được do kiến, với vị có thân chứng.” Kinh liên quan đến tu tập sẽ được diễn giải với 12 hạng người này. Kinh liên quan đến bậc Vô Học sẽ được diễn giải với 9 hạng người: “Với vị được giải thoát do tín, với vị được giải thoát do tuệ, với vị được giải thoát do không tánh, với vị được giải thoát do vô tướng, với vị được giải thoát do vô nguyện, với vị được giải thoát nhờ vào cả hai phần, với vị đắc quả A- la-hán lúc chấm dứt mạng sống, với vị Phật Độc Giác, và vị Phật Chánh Đẳng Giác.” Kinh liên quan đến bậc Vô Học sẽ được diễn giải với 9 hạng người này. Như vậy, Kinh xuất thế có sự xác định chúng sanh sẽ được diễn giải với 26 hạng người này.
Kinh hợp thế có sự xác định chúng sanh sẽ được diễn giải với 19 hạng người. Những hạng người ấy được diễn giải và nên được tìm kiếm theo các tánh: “Một số có tánh luyến ái, một số có tánh sân hận, một số có tánh si mê, một số có tánh luyến ái và có tánh sân hận, một số có tánh luyến ái và có tánh si mê, một số có tánh sân hận và có tánh si mê, một số có tánh luyến ái và có tánh sân hận và có tánh si mê, kẻ có tánh luyến ái bị luyến ái thâm nhập, kẻ có tánh sân hận bị luyến ái thâm nhập, kẻ có tánh si mê bị luyến ái thâm nhập, kẻ có tánh luyến ái và có tánh sân hận và có tánh si mê bị luyến ái thâm nhập, kẻ có tánh sân hận bị sân hận thâm nhập, kẻ có tánh si mê bị sân hận thâm nhập, kẻ có tánh luyến ái bị sân hận thâm nhập, kẻ có tánh luyến ái và có tánh sân hận và có tánh si mê bị sân hận thâm nhập, kẻ có tánh si mê bị si mê thâm nhập, kẻ có tánh luyến ái bị si mê thâm nhập, kẻ có tánh sân hận bị si mê thâm nhập, kẻ có tánh luyến ái và có tánh sân hận và có tánh si mê bị si mê thâm nhập.” Kinh hợp thế có sự xác định chúng sanh sẽ được diễn giải với 19 hạng người này.
Kinh liên quan đến huân tập nên được diễn giải với người có giới. Những người có giới ấy có 5 hạng: “Giới tự nhiên, giới do thọ trì, niềm tịnh tín ở tâm, chỉ tịnh, và minh sát.” Kinh liên quan đến huân tập nên được diễn giải với 5 hạng người này với năm pháp này.
Kinh xuất thế có sự xác định pháp sẽ được diễn giải với ba loại Kinh: liên quan đến việc thấy, liên quan đến tu tập, và liên quan đến bậc Vô Học.
Hợp thế và xuất thế có sự xác định chúng sanh và sự xác định pháp nên được diễn giải theo cả hai. Sự biết (trí) nên được diễn giải với tuệ, với tuệ quyền, với tuệ lực, với sự học tập về thắng tuệ, với trạch pháp giác chi, với chánh kiến, với sự xét đoán, với sự phán đoán, với trí về pháp, với trí về sự suy luận, với trí về sự diệt trừ, với trí về sự không còn tái sanh, với vị tri quyền, với dĩ tri quyền, với cụ tri quyền, với nhãn, với minh, với trí giác ngộ, với sự thông thái, với sự thông minh, hoặc hơn nữa bất cứ pháp nào được nhận lấy thì nên được diễn giải với mỗi một từ biểu trưng của tuệ ấy.
Điều-có-thể-biết nên được diễn giải theo quá khứ, vị lai, và hiện tại, theo nội và ngoại phần, theo thấp kém và cao sang, theo xa và gần, theo hữu vi và vô vi, theo thiện, bất thiện, và vô ký, hoặc theo sáu đối tượng một cách tóm tắt. Sự biết và điều-có-thể-biết nên được diễn giải theo cả hai. Còn tuệ, có thể biết theo trạng thái đối tượng, bất cứ trạng thái đối tượng nào thuộc nội phần hoặc ngoại phần, tất cả điều ấy nên được diễn giải theo hữu vi và vô vi.
“Sự thấy (và) sự tu tập, lời nói của Ta (và) lời nói của vị khác, điều có thể trả lời (và) điều không thể trả lời, nghiệp (và) quả thành tựu,” trong mọi trường hợp như thế, cả hai (thuật ngữ) đã được diễn giải như thế nào ở Kinh thì nên nhận định như thế ấy rồi nên diễn giải theo điều đã được tiếp thu, hoặc hơn nữa bất cứ lời nói nào khác mà đức Thế Tôn nói, thì mọi điều ấy nên được ghi nhận theo như đã được diễn giải.
Nhân có hai loại: nghiệp và các ô nhiễm. Các ô nhiễm là Tập; ở đấy, các ô nhiễm nên được diễn giải theo Kinh liên quan đến phiền não. Tập nên được diễn giải theo Kinh liên quan đến phiền não và liên quan đến huân tập.
Ở đấy, thiện nên được diễn giải theo bốn Kinh: liên quan đến huân tập, liên quan đến việc thấy, liên quan đến tu tập, và liên quan đến bậc Vô Học. Bất thiện nên được diễn giải [theo Kinh] liên quan đến phiền não. Thiện và bất thiện nên được diễn giải theo cả hai.
Điều được cho phép nên được diễn giải theo sự cho phép của đức Thế Tôn. Điều ấy có 5 việc: “sự thu thúc, sự dứt bỏ, sự tu tập, sự chứng ngộ, và sự phù hợp với điều đã được làm thành đúng phép.” Việc nào được thấy ở các phạm vi này khác, việc ấy nên được diễn giải theo điều đã được làm thành đúng phép. Điều bị từ khước bởi đức Thế Tôn nên được diễn giải theo nguyên nhân đã bị từ khước. Điều được cho phép và bị từ khước nên được diễn giải theo cả hai.
Sự ca tụng nên được diễn giải theo sự khen ngợi. Việc ấy nên được hiểu theo 5 cách: “của đức Thế Tôn, của Giáo Pháp, của Thánh Chúng, của việc học tập các pháp của bậc Thánh, của việc thành tựu đức hạnh hiệp thế.” Sự ca tụng nên được diễn giải theo 5 cách như vậy.
Lãnh vực về quyền nên được diễn giải theo chín thuật ngữ, lãnh vực về ô nhiễm nên được diễn giải theo chín thuật ngữ. Như vậy, mười tám thuật ngữ này là: “Chín thuật ngữ thiện, chín thuật ngữ bất thiện.” Bởi vì, theo như điều đã được nói: “Mười tám thuật ngữ căn bản có thể được thấy ở đâu? Ở chương Sự Hình Thành Giáo Pháp.” Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng: “Các pháp thiện với chín thuật ngữ và các phần bất thiện với chín (thuật ngữ) được kết nối; thật vậy, mười tám thuật ngữ này là các thuật ngữ căn bản.”
Sự Hình Thành Giáo Pháp được kết thúc.
Cẩm Nang Học Phật được đầy đủ là chừng này. (Tập Kinh này) đã được thuyết bởi đại đức Mahākaccāyana, đã được đức Thế Tôn tùy hỷ, đã được trùng tụng ở lần Kết Tập gốc.
Cẩm Nang Học Phật được hoàn tất.
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
The Foundation of the Teaching
Nền Tảng Của Giáo Pháp
89. Tattha aṭṭhārasa mūlapadā kuhiṃ daṭṭhabbā? Sāsanapaṭṭhāne. Tattha katamaṃ sāsanapaṭṭhānaṃ? Saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ, nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ, saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ, vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ, taṇhāsaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, diṭṭhisaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, duccaritasaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ, taṇhāvodānabhāgiyaṃ suttaṃ, diṭṭhivodānabhāgiyaṃ suttaṃ, duccaritavodānabhāgiyaṃ suttaṃ.
89. Herein, where are the eighteen root terms to be seen? In the Foundation of the Teaching. Herein, what is the Foundation of the Teaching? A discourse pertaining to the part of defilement, a discourse pertaining to the part of latent tendencies, a discourse pertaining to the part of penetration, a discourse pertaining to the part of the adept, a discourse pertaining to the part of defilement and latent tendencies, a discourse pertaining to the part of defilement and penetration, a discourse pertaining to the part of defilement and the adept, a discourse pertaining to the part of defilement, penetration, and the adept, a discourse pertaining to the part of defilement, latent tendencies, and penetration, a discourse pertaining to the part of latent tendencies and penetration, a discourse pertaining to the part of the defilement of craving, a discourse pertaining to the part of the defilement of views, a discourse pertaining to the part of the defilement of misconduct, a discourse pertaining to the part of purification from craving, a discourse pertaining to the part of purification from views, and a discourse pertaining to the part of purification from misconduct.
89. Ở đây, mười tám thuật ngữ căn bản nên được thấy ở đâu? Trong Sāsanapaṭṭhāna (Nền Tảng Giáo Pháp). Ở đây, thế nào là Sāsanapaṭṭhāna? Kinh thuộc phần phiền não, kinh thuộc phần tiềm miên, kinh thuộc phần thâm nhập, kinh thuộc phần vô học, kinh thuộc phần phiền não và phần tiềm miên, kinh thuộc phần phiền não và phần thâm nhập, kinh thuộc phần phiền não và phần vô học, kinh thuộc phần phiền não, phần thâm nhập và phần vô học, kinh thuộc phần phiền não, phần tiềm miên và phần thâm nhập, kinh thuộc phần tiềm miên và phần thâm nhập, kinh thuộc phần phiền não do tham ái, kinh thuộc phần phiền não do tà kiến, kinh thuộc phần phiền não do ác hạnh, kinh thuộc phần thanh tịnh khỏi tham ái, kinh thuộc phần thanh tịnh khỏi tà kiến, kinh thuộc phần thanh tịnh khỏi ác hạnh.
Tattha saṃkileso tividho – taṇhāsaṃkileso diṭṭhisaṃkileso duccaritasaṃkileso. Tattha taṇhāsaṃkileso samathena visujjhati, so samatho samādhikkhandho. Diṭṭhisaṃkileso vipassanāya visujjhati, sā vipassanā paññākkhandho. Duccaritasaṃkileso sucaritena visujjhati, taṃ sucaritaṃ sīlakkhandho. Tassa sīle patiṭṭhitassa yadi āsatti uppajjati bhavesu, evaṃ sāyaṃ samathavipassanā bhāvanāmayaṃ puññakriyavatthu bhavati tatrūpapattiyā saṃvattati. Imāni cattāri suttāni, sādhāraṇāni katāni aṭṭha bhavanti, tāniyeva aṭṭha suttāni sādhāraṇāni katāni soḷasa bhavanti.
Herein, defilement is threefold: the defilement of craving, the defilement of views, and the defilement of misconduct. Herein, the defilement of craving is purified by serenity; that serenity is the aggregate of concentration. The defilement of views is purified by insight; that insight is the aggregate of wisdom. The defilement of misconduct is purified by good conduct; that good conduct is the aggregate of virtue. For one established in virtue, if attachment to states of existence arises, then this serenity and insight becomes a basis of meritorious action consisting in development that conduces to rebirth there. These four discourses, when made common, become eight. Those same eight discourses, when made common, become sixteen.
Ở đây, phiền não có ba loại – phiền não tham ái, phiền não tà kiến, phiền não ác hạnh. Trong đó, phiền não tham ái được thanh tịnh bởi chỉ, pháp chỉ ấy là định uẩn. Phiền não tà kiến được thanh tịnh bởi quán, pháp quán ấy là tuệ uẩn. Phiền não ác hạnh được thanh tịnh bởi thiện hạnh, thiện hạnh ấy là giới uẩn. Nếu sự dính mắc trong các cõi hữu sanh khởi nơi người đã an trú trong giới, như vậy, pháp chỉ-quán này trở thành phước sự vật thành tựu do tu tiến, đưa đến sự tái sanh trong các cõi hữu ấy. Bốn kinh này, khi được kết hợp chung, trở thành tám; chính tám kinh ấy khi được kết hợp chung, trở thành mười sáu.
Imehi soḷasahi suttehi bhinnehi navavidhaṃ suttaṃ bhinnaṃ bhavati. Gāthāya gāthā anuminitabbā, veyyākaraṇena veyyākaraṇaṃ anuminitabbaṃ. Suttena suttaṃ anuminitabbaṃ.
By means of these sixteen distinct discourses, the ninefold discourse becomes distinguished. A verse is to be inferred by means of a verse; an exposition is to be inferred by means of an exposition; a discourse is to be inferred by means of a discourse.
Bởi mười sáu kinh được phân chia này, kinh (giáo pháp) có chín thể loại được phân chia. Kệ nên được suy ra từ kệ, vô vấn ký nên được suy ra từ vô vấn ký. Kinh nên được suy ra từ kinh.
90. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ?
90. Herein, what is a discourse pertaining to the part of defilement?
90. Trong đó, thế nào là kinh thuộc phần phiền não?
‘‘Kāmandhā jālasañchannā, taṇhāchadanachāditā;
Pamattabandhanā † baddhā, macchāva kumināmukhe;
Jarāmaraṇamanventi, vaccho khīrapakova † mātara’’nti.
“Blinded by lust, covered by a net, veiled by the shroud of craving, bound by the bond of heedlessness, they follow after aging and death, like fish into the mouth of a fish-trap, like a suckling calf its mother.”
‘Bị mù quáng bởi dục vọng, bị che đậy bởi lưới tham, bị bao phủ bởi mái che ái dục; như cá ở miệng đó, chúng sanh đi theo già và chết, như bê con bú sữa đi theo mẹ.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
Cattārimāni, bhikkhave, agatigamanāni. Katamāni cattāri? Chandāgatiṃ † gacchati, dosāgatiṃ gacchati, mohāgatiṃ gacchati, bhayāgatiṃ gacchati. Imāni kho, bhikkhave, cattāri agatigamanāni. Idamavoca bhagavā, idaṃ vatvāna sugato, athāparaṃ etadavoca satthā –
“Bhikkhus, there are these four wrong courses. What four? One takes a wrong course because of desire, one takes a wrong course because of hatred, one takes a wrong course because of delusion, one takes a wrong course because of fear. These, bhikkhus, are the four wrong courses.” This the Blessed One said. Having said this, the Well-farer, the Teacher, further said this:
Này các Tỳ khưu, có bốn con đường sai lạc này. Bốn là những gì? Vị ấy đi vào con đường sai lạc do thiên vị, đi vào con đường sai lạc do sân hận, đi vào con đường sai lạc do si mê, đi vào con đường sai lạc do sợ hãi. Này các Tỳ khưu, đây chính là bốn con đường sai lạc. Thế Tôn đã nói điều này, Thiện Thệ sau khi nói điều này, rồi bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này –
‘‘Chandā dosā bhayā mohā, yo dhammaṃ ativattati;
Nihīyati tassa yaso, kāḷapakkheva candimā’’ti.
“Whoever transgresses the Dhamma out of desire, hatred, fear, or delusion, his fame dwindles away like the moon in the waning fortnight.”
‘Người nào do thiên vị, sân hận, sợ hãi, si mê, mà vi phạm Pháp; danh tiếng của người ấy bị suy giảm, như mặt trăng trong hắc nguyệt.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce paduṭṭhena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ dukkhamanveti, cakkaṃva vahato pada’’nti.
“Phenomena are preceded by mind, have mind as their chief, and are made of mind. If one speaks or acts with a corrupt mind, then suffering follows one, as the wheel follows the foot of the draught ox.”
‘Các pháp có tâm dẫn đầu, có tâm làm chủ, do tâm tạo ra. Nếu người nào với tâm ô nhiễm, nói hay làm, do đó, khổ đi theo người ấy, như bánh xe đi theo chân con vật kéo.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Middhī † yadā hoti mahagghaso ca, niddāyitā samparivattasāyī;
Mahāvarāhova nivāpapuṭṭho, punappunaṃ gabbhamupeti mando’’ti.
“When one is drowsy and a glutton, a lover of sleep, who lies rolling about like a great hog fed on fodder, that dullard enters the womb again and again.”
‘Khi người nào hôn trầm và ăn nhiều, ham ngủ, nằm lăn qua lộn lại; như con heo lớn được nuôi bằng thức ăn thừa, kẻ ngu si ấy lại đi vào bào thai lần nữa.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Ayasāva malaṃ samuṭṭhitaṃ, tatuṭṭhāya † tameva khādati;
Evaṃ atidhonacārinaṃ, sāni † kammāni nayanti duggati’’nti.
“Just as the rust arisen from iron, arising from it, eats away that very iron, so his own deeds lead one who is unrestrained in conduct to a bad destination.”
‘Như vết gỉ sét sanh từ sắt, sanh từ đó, lại ăn mòn chính nó; cũng vậy, người sống không quán xét, chính các nghiệp của mình dẫn đến khổ cảnh.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Coro yathā sandhimukhe gahīto, sakammunā haññati bajjhate ca;
Evaṃ ayaṃ pecca pajā parattha, sakammunā haññati bajjhate cā’’ti.
“Just as a thief caught at the breach is killed and bound on account of his own deed, so this populace, after death in the next world, is killed and bound on account of their own deeds.”
‘Như tên trộm bị bắt ở chỗ khoét vách, bị giết và bị trói bởi chính hành động của mình; cũng vậy, chúng sanh này sau khi chết, ở đời sau, bị giết và bị trói bởi chính hành động của mình.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Sukhakāmāni bhūtāni, yo daṇḍena vihiṃsati;
Attano sukhamesāno, pecca so na labhate † sukha’’nti.
“One who, seeking his own happiness, harms with a rod beings who also desire happiness, will not find happiness after death.”
‘Người nào tìm cầu hạnh phúc cho mình, lại làm hại bằng gậy gộc các chúng sanh cũng mong cầu hạnh phúc; người ấy sau khi chết không được hạnh phúc.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Gunnaṃ ce taramānānaṃ, jimhaṃ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā jimhaṃ gacchanti, nette jimhaṃ gate † sati.
“When a herd of cattle is crossing, if the lead bull goes crookedly, all of them go crookedly, when the leader has gone crookedly.
‘Nếu trong đàn bò đang lội qua sông, con đầu đàn đi cong vẹo; khi con dẫn đầu đi cong vẹo, tất cả chúng đều đi cong vẹo.
‘‘Evameva manussesu, yo hoti seṭṭhasammato;
So ce adhammaṃ carati, pageva itarā pajā;
Sabbaṃ raṭṭhaṃ dukkhaṃ seti, rājā ce hoti adhammiko’’ti.
“So too among humans, if the one who is considered the best practices unrighteousness, how much more so the other people? The whole country dwells in suffering if the king is unrighteous.”
‘Cũng vậy, trong loài người, người nào được xem là bậc tối thắng; nếu vị ấy hành phi pháp, huống chi là những người khác. Toàn thể quốc độ phải sống trong đau khổ, nếu vua là người phi pháp.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Sukiccharūpāvatime manussā, karonti pāpaṃ upadhīsu rattā;
Gacchanti te bahujanasannivāsaṃ, nirayaṃ avīciṃ kaṭukaṃ bhayānaka’’nti.
“These human beings are of a very difficult nature; attached to acquisitions, they commit evil. They go to that populous abode, the Avīci hell, bitter and terrifying.”
‘Những người này rơi vào tình trạng khốn khổ, tham đắm trong các chấp thủ, họ làm điều ác; họ đi đến địa ngục Vô Gián, nơi ở của vô số chúng sanh, cay đắng và kinh hoàng.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Phalaṃ ve † kadaliṃ hanti, phalaṃ veḷuṃ phalaṃ naḷaṃ;
Sakkāro kāpurisaṃ hanti, gabbho assatariṃ yathā’’ti.
“The fruit kills the plantain tree, the fruit kills the bamboo, the fruit kills the reed; honor destroys a base man, as a fetus destroys a she-mule.”
‘Quả thật, quả giết cây chuối, quả giết cây tre, quả giết cây sậy; sự cung kính giết kẻ hạ tiện, như bào thai giết con la mẹ.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Kodhamakkhagaru bhikkhu, lābhasakkāragāravo †;
Sukhette pūtibījaṃva, saddhamme na virūhatī’’ti.
“A bhikkhu who esteems anger and contempt, and is reverential toward gain and honor, like a rotten seed in a good field, does not grow in the good Dhamma.”
‘Vị Tỳ khưu xem trọng phẫn nộ và gièm pha, xem trọng lợi lộc và cung kính; vị ấy không tăng trưởng trong Chánh pháp, như hạt giống thối trên mảnh ruộng tốt.’
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to the part of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
91. ‘‘Idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ paduṭṭhacittaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi, (yathā kho ayaṃ puggalo iriyati, yañca paṭipadaṃ paṭipanno, yañca maggaṃ samārūḷho) †. Imamhi cāyaṃ samaye kālaṃ kareyya, yathābhataṃ nikkhitto, evaṃ niraye. Taṃ kissa hetu? Cittaṃ hissa, bhikkhave, paduṭṭhaṃ †, cetopadosahetu † kho pana, bhikkhave, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjantī’’ti. Etamatthaṃ bhagavā avoca, tatthetaṃ iti vuccati –
91. “Here, bhikkhus, with my mind I understand the mind of a certain individual who has a corrupt mind thus: ‘I know how this person conducts himself, what practice he has undertaken, and what path he has entered upon. If this person were to die at this time, he would be placed in hell just as something is deposited there.’ For what reason? Because, bhikkhus, his mind is corrupt. It is because of the corruption of the mind that some beings here, with the breakup of the body, after death, are reborn in the plane of misery, a bad destination, the state of ruin, in hell.” The Blessed One spoke this matter, and in connection with it, this was said:
91. ‘Này các Tỳ khưu, ở đây, Ta với tâm của mình, sau khi thấu suốt tâm, biết rõ một người nào đó có tâm ô nhiễm như vầy, (biết rõ người này hành xử như thế nào, đã thực hành con đường nào, đã đi vào đạo lộ nào). Nếu người này mệnh chung vào lúc này, thì cũng như vật được mang đến rồi đặt xuống, người ấy sẽ bị đặt vào địa ngục. Do nhân gì? Này các Tỳ khưu, vì tâm của người ấy ô nhiễm. Này các Tỳ khưu, chính do nhân tâm ô nhiễm mà một số chúng sanh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Thế Tôn đã nói ý nghĩa này, và ở đây, điều này được nói như sau –
‘‘Paduṭṭhacittaṃ ñatvāna, ekaccaṃ idha puggalaṃ;
Etamatthañca byākāsi, buddho † bhikkhūna santike;
“Having known that a certain person here had a corrupt mind, the Buddha declared this matter in the presence of the bhikkhus.”
Sau khi biết được tâm ô nhiễm của một người nào đó ở đời này, đức Phật đã tuyên bố ý nghĩa này trước sự hiện diện của các vị tỳ khưu.
Imamhi cāyaṃ samaye, kālaṃ kayirātha puggalo;
Nirayaṃ upapajjeyya, cittaṃ hissa padūsitaṃ;
Cetopadosahetu hi, sattā gacchanti duggatiṃ.
“If at this time that person should die, he would be reborn in hell, for his mind is defiled. For because of the mind’s defilement, beings go to a bad destination.”
Nếu người này mệnh chung vào lúc này, người ấy sẽ sanh vào địa ngục, vì tâm của người ấy đã bị ô nhiễm. Thật vậy, do nhân tâm bị ô nhiễm, chúng sanh đi đến khổ cảnh.
Yathābhataṃ nikkhipeyya, evameva tathāvidho;
Kāyassa bhedā duppañño, nirayaṃ sopapajjatī’’ti.
“Just as something brought is deposited, even so is such a person; with the breakup of the body, the one of poor wisdom is reborn in hell.”
Giống như vật gì được mang đến rồi được đặt xuống, cũng vậy, người có trí tuệ thấp kém như thế, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục.
Ayampi attho vutto bhagavatā iti me sutanti.
This matter, too, was spoken by the Blessed One: thus have I heard.
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn thuyết giảng. Như vậy tôi đã nghe.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Sace bhāyatha dukkhassa, sace vo dukkhamappiyaṃ;
Mākattha pāpakaṃ kammaṃ, āvi † vā yadi vā raho.
“If you fear suffering, if suffering is displeasing to you, do not do an evil deed, either openly or in secret.”
Nếu các ngươi sợ khổ, nếu các ngươi không ưa thích sự khổ, thì chớ làm nghiệp ác, dù ở nơi công khai hay ở nơi kín đáo.
‘‘Sace ca pāpakaṃ kammaṃ, karissatha karotha vā;
Na vo dukkhā pamutyatthi, upeccapi palāyata’’nti.
“And if you should do an evil deed, or are doing one, there is no escape from suffering for you, even if you should flee.”
Và nếu các ngươi sẽ làm hoặc đang làm nghiệp ác, thì các ngươi không thể thoát khỏi sự khổ, dù có chạy trốn đi nữa.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Adhammena dhanaṃ laddhā, musāvādena cūbhayaṃ;
Mameti bālā maññanti, taṃ kathaṃ nu bhavissati.
“Having gained wealth unrighteously, and by false speech—by both—fools think, ‘This is mine.’ How will that be for them?”
Kẻ ngu si có được của cải bằng cách phi pháp và nói dối, rồi nghĩ rằng: 'Đây là của ta.' Làm sao của cải ấy có thể là của họ được?
‘‘Antarāyā su bhavissanti, sambhatassa vinassati;
Matā saggaṃ na gacchanti, nanu ettāvatā hatā’’ti.
“Dangers will arise, what is accumulated perishes; having died, they do not go to heaven. Are they not by that much destroyed?”
Các hiểm họa chắc chắn sẽ phát sanh, của cải tích lũy sẽ bị tiêu hoại. Sau khi chết, họ không đi đến cõi trời. Chẳng phải họ đã bị hủy hoại bởi chừng ấy rồi sao?
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Kathaṃ khaṇati attānaṃ, kathaṃ mittehi jīrati;
Kathaṃ vivaṭṭate dhammā, kathaṃ saggaṃ na gacchati.
“How does one dig up oneself? How does one decline from friends? How does one turn away from the Dhamma? How does one not go to heaven?”
Làm thế nào một người tự đào xới mình? Làm thế nào một người bị bạn bè ruồng bỏ? Làm thế nào một người xa rời Chánh pháp? Làm thế nào một người không đi đến cõi trời?
‘‘Lobhā khaṇati attānaṃ, luddho mittehi jīrati;
Lobhā vivaṭṭate dhammā, lobhā saggaṃ na gacchatī’’ti.
“Through greed one digs up oneself; the greedy one declines from friends. Through greed one turns away from the Dhamma; through greed one does not go to heaven.”
Do tham lam, một người tự đào xới mình. Người tham lam bị bạn bè ruồng bỏ. Do tham lam, một người xa rời Chánh pháp. Do tham lam, một người không đi đến cõi trời.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Caranti bālā dummedhā, amitteneva attanā;
Karontā pāpakaṃ kammaṃ, yaṃ hoti kaṭukapphalaṃ †.
“Fools of poor wisdom fare on as their own enemies, doing evil deeds that have a bitter fruit.”
Những kẻ ngu si, thiếu trí tuệ, đi lang thang với tự thân như kẻ thù, làm những nghiệp ác mà kết quả là cay đắng.
‘‘Na taṃ kammaṃ kataṃ sādhu, yaṃ katvā anutappati;
Yassa assumukho rodaṃ, vipākaṃ paṭisevatī’’ti.
“That deed is not well done which, having done it, one regrets, whose result one experiences weeping, with a tear-stained face.”
Hành động nào sau khi làm xong phải hối hận, phải lãnh chịu quả báo với mặt đẫm lệ, khóc than, hành động ấy không phải là thiện.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Dukkaraṃ duttitikkhañca, abyattena ca † sāmaññaṃ;
Bahū hi tattha sambādhā, yattha bālo visīdati.
“Hard to do and hard to endure is the ascetic life for one who is unskilled; for many are the constraints there, wherein a fool sinks down.”
Đối với người không khéo léo, đời sống sa-môn thật khó làm và khó kham nhẫn. Vì ở đó có nhiều chướng ngại, nơi mà kẻ ngu si bị chìm đắm.
‘‘Yo hi atthañca dhammañca, bhāsamāne tathāgate;
Manaṃ padosaye bālo, moghaṃ kho tassa jīvitaṃ.
“When the Tathāgata is speaking on the meaning and the Dhamma, the fool who corrupts his mind—his life is indeed in vain.”
Kẻ ngu si nào làm ô nhiễm tâm mình đối với đức Như Lai khi Ngài đang thuyết giảng về ý nghĩa và Chánh pháp, đời sống của kẻ ấy thật là vô ích.
‘‘Etañcāhaṃ arahāmi, dukkhañca ito ca pāpiyataraṃ bhante;
Yo appameyyesu tathāgatesu, cittaṃ padosemi avītarāgo’’ti.
“And this I deserve, venerable sir, and suffering even worse than this; for I, not yet free from passion, corrupted my mind toward the immeasurable Tathāgatas.”
Bạch ngài, con, người chưa ly tham, đã làm ô nhiễm tâm mình đối với các bậc Như Lai vô lượng, xứng đáng chịu sự khổ này và cả sự khổ tồi tệ hơn nữa.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Appameyyaṃ paminanto, kodha vidvā vikappaye;
Appameyyaṃ pamāyinaṃ †, nivutaṃ taṃ maññe akissava’’nti.
“Who here, being wise, measuring the immeasurable, would find fault? I consider one who measures the immeasurable to be obstructed and to have nothing.”
Làm sao một người có trí lại có thể suy lường, đo đạc bậc vô lượng? Ta cho rằng kẻ đo đạc bậc vô lượng là người bị che lấp, không có trí tuệ.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Purisassa hi jātassa, kuṭhārī † jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṃ, bālo dubbhāsitaṃ bhaṇaṃ.
“Indeed, for a person who is born, an axe is born in the mouth, with which the fool, speaking what is ill-spoken, cuts himself.”
Thật vậy, khi một người được sanh ra, một cái búa cũng sanh ra trong miệng, mà kẻ ngu si, khi nói lời ác, đã tự chặt mình bằng cái búa ấy.
‘‘Na hi satthaṃ sunisitaṃ, visaṃ halāhalaṃ iva;
Evaṃ viraddhaṃ pāteti, vācā dubbhāsitā yathā’’ti.
“For a well-sharpened sword, or even deadly halāhala poison, does not cause one who has erred to fall in the way that an ill-spoken word does.”
Thật vậy, gươm bén hay thuốc độc chết người cũng không làm cho người phạm lỗi lầm bị sa đọa, như là lời ác khẩu đã được nói ra.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
92.
92.
92.
‘‘Yo nindiyaṃ pasaṃsati, taṃ vā nindati yo pasaṃsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṃ, kalinā tena sukhaṃ na vindati.
“He who praises the blameworthy or blames the praiseworthy gathers demerit with his mouth; through that demerit he finds no happiness.”
Người nào tán dương kẻ đáng chê, hoặc chê bai người đáng tán dương, người ấy tích lũy điều bất thiện qua miệng lưỡi. Do điều bất thiện ấy, người ấy không tìm thấy an lạc.
‘‘Appamatto ayaṃ kali, yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā, ayameva mahantataro † kali;
Yo sugatesu manaṃ padosaye.
“A small matter is this demerit—the loss of wealth at dice, even along with one’s very self. But this is a far greater demerit: that one corrupts one’s mind toward the Well-Gone Ones.”
Sự thua bạc, mất hết tài sản và cả bản thân, là một điều bất thiện nhỏ. Nhưng điều bất thiện lớn hơn nhiều chính là làm ô nhiễm tâm mình đối với các bậc Thiện Thệ.
‘‘Sataṃ sahassānaṃ nirabbudānaṃ, chattiṃsatī pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṃ upeti, vācaṃ manañca paṇidhāya pāpaka’’nti.
“For one hundred thousand nirabbudas, and for thirty-six nirabbudas and five abbudas, one who reviles a noble one goes to hell, having directed evil speech and mind.”
Kẻ phỉ báng bậc Thánh, do hướng tâm và lời nói đến điều ác, sẽ phải đọa vào địa ngục trong một trăm ngàn nirabbuda, ba mươi sáu nirabbuda và năm abbuda.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần phiền não.
‘‘Yo lobhaguṇe anuyutto, so vacasā † paribhāsati aññe;
Assaddho kadariyo † avadaññū, macchari pesuṇiyaṃ anuyutto.
“Whoever is constantly engaged in the quality of greed, that person reviles others with speech; is faithless, stingy, one who despises the words of the wise, is miserly, and is constantly engaged in slander.”
Người nào dính mắc vào tham ái, người ấy mắng nhiếc người khác bằng lời nói; không đức tin, keo kiệt, không biết điều, bỏn xẻn, dính mắc vào việc nói đâm thọc.
‘‘Mukhadugga vibhūta anariya, bhūnahu pāpaka dukkaṭakāri;
Purisanta kalī avajātaputta †, mā bahubhāṇidha nerayikosi.
“O foul-mouthed one, devoid of truth, ignoble one, destroyer of what is true, evil one, habitual wrongdoer! O lowest of men, you losing throw, you base son! Do not speak much here; you are one destined for hell.”
Này kẻ miệng lưỡi xấu xa, kẻ không chân thật, không phải bậc Thánh, kẻ hủy hoại điều chân thật, kẻ ác, kẻ thường làm điều ác; này kẻ hạ tiện, kẻ bất hạnh, đứa con hạ liệt, chớ có nói nhiều ở đây, ngươi là người thuộc về địa ngục.
‘‘Rajamākirasī ahitāya, sante garahasi kibbisakārī;
Bahūni duccaritāni caritvā, gacchasi kho papataṃ ciraratta’’nti.
“You who habitually commit grievous acts, you scatter the dust of defilement for what is not beneficial; you censure the peaceful ones. Having practiced many kinds of misconduct, you will indeed go to the precipice for a long time.”
Này kẻ làm điều tội lỗi, ngươi gieo rắc bụi bẩn (phiền não) để chuốc lấy bất hạnh, ngươi khiển trách các bậc Thánh; sau khi đã làm nhiều điều ác, chắc chắn ngươi sẽ đi đến nơi sa đọa trong một thời gian dài.
Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse connected with the portion of defilement.
Đây là kinh thuộc phần ô nhiễm.
Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ?
Among these, which is the discourse that is in the portion of the accumulation of merit?
Trong đó, kinh nào thuộc phần tu tập?
‘‘Manopubbaṅgamā dhammā, manoseṭṭhā manomayā;
Manasā ce pasannena, bhāsati vā karoti vā;
Tato naṃ sukhamanveti, chāyāva anapāyinī’’ti †.
“Mental phenomena are preceded by mind, have mind as their chief, and are mind-made. If one speaks or acts with a serene mind, happiness follows that person on account of that, like a shadow that does not depart.”
Các pháp lấy ý làm đầu, lấy ý làm chủ, do ý tạo ra. Nếu với ý trong sạch, nói hay làm, thì hạnh phúc sẽ đi theo người ấy, như bóng không rời hình.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the discourse that is in the portion of the accumulation of merit.
Đây là kinh thuộc phần tu tập.
93. Mahānāmo sakko bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘idaṃ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṃ † ākiṇṇamanussaṃ sambādhabyūhaṃ, so kho ahaṃ, bhante, bhagavantaṃ vā payirupāsitvā manobhāvanīye vā bhikkhū sāyanhasamayaṃ kapilavatthuṃ pavisanto bhantenapi hatthinā samāgacchāmi, bhantenapi assena samāgacchāmi, bhantenapi rathena samāgacchāmi, bhantenapi sakaṭena samāgacchāmi, bhantenapi purisena samāgacchāmi, tassa mayhaṃ, bhante, tasmiṃ samaye mussateva bhagavantaṃ ārabbha sati, mussati dhammaṃ ārabbha sati, mussati saṅghaṃ ārabbha sati. Tassa mayhaṃ, bhante, evaṃ hoti ‘imamhi cāhaṃ sāyanhasamaye kālaṃ kareyyaṃ, kā mayhaṃ † gati, ko abhisamparāyo’’’ti.
93. Mahānāma the Sakyan said this to the Blessed One: 'Venerable sir, this Kapilavatthu is prosperous and flourishing, has many people, is crowded with humans, and has narrow thoroughfares. Venerable sir, when I, after attending upon the Blessed One or upon bhikkhus who develop the mind, am entering Kapilavatthu in the evening time, I encounter an agitated elephant, an agitated horse, an agitated chariot, an agitated cart, and an agitated man. At that time, venerable sir, my mindfulness concerning the Buddha is indeed lost; my mindfulness concerning the Dhamma is lost; my mindfulness concerning the Saṅgha is indeed lost. Venerable sir, it occurs to me thus: "If I were to die at this evening time, what would be my destination? What would be my future life?"'
93. Mahānāma dòng Sakya bạch với Đức Thế Tôn như sau: 'Bạch Thế Tôn, thành Kapilavatthu này thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người qua lại tấp nập, đường sá chật chội. Bạch Thế Tôn, con, sau khi hầu cận Đức Thế Tôn hoặc các vị Tỳ-khưu đáng kính, vào buổi chiều khi đi vào thành Kapilavatthu, con gặp phải voi hung dữ, ngựa hung dữ, xe hung dữ, xe bò hung dữ, người hung dữ. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, niệm của con về Đức Phật bị thất lạc, niệm về Pháp bị thất lạc, niệm về Tăng bị thất lạc. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như thế này: 'Nếu con chết vào buổi chiều này, cảnh giới của con sẽ là gì, đời sau của con sẽ ra sao?'
‘‘Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma, apāpakaṃ te maraṇaṃ bhavissati, apāpikā † kālaṅkiriyā. Catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro. Katamehi catūhi? Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti, itipi so bhagavā arahaṃ…pe… buddho bhagavāti. Dhamme…pe… saṅghe…pe… ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi…pe… samādhisaṃvattanikehi. Seyyathāpi, mahānāma, rukkho pācīnaninno pācīnapoṇo pācīnapabbhāro, so mūlacchinno † katamena papateyyā’’ti? ‘‘Yena, bhante, ninno yena poṇo yena pabbhāro’’ti. ‘‘Evameva kho, mahānāma, imehi catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro. Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma, apāpakaṃ te maraṇaṃ bhavissati, apāpikā kālaṅkiriyā’’ti.
“Do not fear, Mahānāma, do not fear, Mahānāma! Your death will not be an evil one; your passing away will not be evil. Indeed, Mahānāma, a noble disciple endowed with four qualities is inclined towards Nibbāna, slopes towards Nibbāna, and tends towards Nibbāna. With which four? Here, Mahānāma, a noble disciple is endowed with unwavering confidence in the Buddha thus: ‘Thus indeed is the Blessed One: an Arahant… a Buddha, a Blessed One.’ He is endowed with unwavering confidence in the Dhamma… in the Saṅgha… He is endowed with virtues dear to the noble ones, which are unbroken… conducive to concentration. Just as, Mahānāma, a tree might be inclined towards the east, sloping towards the east, and tending towards the east; when it is cut at the root, in which direction would it fall?” “Venerable sir, it would fall in the direction it is inclined, in the direction it slopes, and in the direction it tends.” “Even so, Mahānāma, a noble disciple endowed with these four qualities is inclined towards Nibbāna, slopes towards Nibbāna, and tends towards Nibbāna. Do not fear, Mahānāma, do not fear, Mahānāma! Your death will not be an evil one; your passing away will not be evil.”
Này Mahānāma, đừng sợ! Này Mahānāma, đừng sợ! Cái chết của ông sẽ không xấu xa, sự mệnh chung sẽ không tồi tệ. Này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn. Bốn pháp nào? Này Mahānāma, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động nơi Đức Phật: 'Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán... (v.v.)... là Phật, là Thế Tôn.' (Vị ấy thành tựu niềm tin bất động) nơi Pháp... (v.v.)... nơi Tăng... (v.v.)... Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ưa thích, không bị sứt mẻ... (v.v.)... đưa đến định. Này Mahānāma, ví như một cái cây nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, hướng về phía đông, khi bị chặt gốc, nó sẽ ngã về phía nào?' 'Bạch Thế Tôn, nó sẽ ngã về phía nào nó nghiêng, nó xuôi, nó hướng.' 'Cũng vậy, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này thì hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn. Này Mahānāma, đừng sợ! Này Mahānāma, đừng sợ! Cái chết của ông sẽ không xấu xa, sự mệnh chung sẽ không tồi tệ.'
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the discourse that is in the portion of the accumulation of merit.
Đây là kinh thuộc phần tu tập.
‘‘Sukhakāmāni bhūtāni, yo daṇḍena na hiṃsati;
Attano sukhamesāno, pecca so labhate sukha’’nti.
“Whatever person, seeking his own happiness, does not harm with a rod beings who desire happiness, that person, after death, obtains happiness.”
Người nào tìm kiếm hạnh phúc cho chính mình mà không dùng gậy gộc làm hại các chúng sinh cũng mong cầu hạnh phúc, người ấy sau khi chết sẽ được hạnh phúc.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the discourse that is in the portion of the accumulation of merit.
Đây là kinh thuộc phần tu tập.
‘‘Gunnañce taramānānaṃ, ujuṃ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā ujuṃ gacchanti, nette ujuṃ gate sati.
“Among cattle crossing a river, if the leading bull goes straight, all of them go straight, when their leader has gone straight.
Khi đàn bò đang lội qua sông, nếu con bò đầu đàn đi thẳng, tất cả chúng đều đi thẳng, khi con đầu đàn đã đi thẳng.
‘‘Evameva manussesu, yo hoti seṭṭhasammato;
So sace † dhammaṃ carati, pageva itarā pajā;
Sabbaṃ raṭṭhaṃ sukhaṃ seti, rājā ce hoti dhammiko’’ti.
“Even so, among humans, whoever is considered the best, if that person practices the Dhamma, what need be said of the other people? The entire kingdom dwells in happiness if the king is righteous.”
Cũng vậy, trong loài người, người nào được xem là bậc tối thắng, nếu người ấy thực hành Chánh pháp, huống chi là những người khác. Toàn thể quốc gia sống trong an lạc, nếu nhà vua là người sống đúng theo Chánh pháp.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the discourse that is in the portion of the accumulation of merit.
Đây là kinh thuộc phần tu tập.
94. Bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti ‘‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī’’ti. Tena kho pana samayena isidattapurāṇā thapatayo sākete † paṭivasanti kenaci deva karaṇīyena. Assosuṃ kho isidattapurāṇā thapatayo ‘‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṃ karonti. Niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṃ pakkamissatī’’ti.
94. The Blessed One was dwelling in Sāvatthī, at Jeta’s Grove, in Anāthapiṇḍika’s monastery. At that time, many bhikkhus were making a robe for the Blessed One, thinking: “When his robe is finished, after the passing of the three months, the Blessed One will set out on a journey.” At that time, the carpenters Isidatta and Purāṇa were residing in Sāketa on some business. The carpenters Isidatta and Purāṇa heard: “It is said that many bhikkhus are making a robe for the Blessed One. When his robe is finished, after the passing of the three months, the Blessed One will set out on a journey.”
94. Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Vào lúc ấy, nhiều vị Tỳ-khưu đang làm y cho Đức Thế Tôn, (với ý nghĩ rằng): 'Sau khi y được làm xong, sau ba tháng, Đức Thế Tôn sẽ lên đường du hành.' Vào lúc ấy, các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đang cư trú tại Sāketa vì một công việc nào đó. Các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa nghe rằng: 'Nhiều vị Tỳ-khưu đang làm y cho Đức Thế Tôn. Sau khi y được làm xong, sau ba tháng, Đức Thế Tôn sẽ lên đường du hành.'
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo magge purisaṃ ṭhapesuṃ ‘‘yadā tvaṃ ambho purisa passeyyāsi bhagavantaṃ āgacchantaṃ arahantaṃ sammāsambuddhaṃ, atha amhākaṃ āroceyyāsī’’ti. Dvīhatīhaṃ ṭhito kho so puriso addasa bhagavantaṃ dūratova āgacchantaṃ, disvāna yena isidattapurāṇā thapatayo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā isidattapurāṇe thapatayo etadavoca ‘‘ayaṃ so bhante † bhagavā āgacchati arahaṃ sammāsambuddho, yassadāni kālaṃ maññathā’’ti.
Then the carpenters Isidatta and Purāṇa stationed a man on the road, saying: “Good man, when you see the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One coming, then you should inform us.” After standing there for two or three days, that man saw the Blessed One coming from afar. Having seen him, he approached the carpenters Isidatta and Purāṇa. Having approached, he said this to the carpenters Isidatta and Purāṇa: “Venerable sirs, this Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is coming. Now is the time for that which you deem fit.”
Rồi các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đặt một người trên đường, (dặn rằng): 'Này ông, khi nào ông thấy Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang đến, thì hãy báo cho chúng tôi biết.' Người ấy đứng đó hai ba ngày, rồi thấy Đức Thế Tôn đang đến từ xa. Thấy vậy, người ấy đi đến chỗ các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa, sau khi đến, nói với các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa như sau: 'Thưa các ngài, Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang đến. Bây giờ là lúc mà các ngài cho là thích hợp.'
Atha kho isidattapurāṇā thapatayo yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā bhagavantaṃ piṭṭhito piṭṭhito anubandhiṃsu. Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṃ rukkhamūlaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, ekamantaṃ nisinnā kho isidattapurāṇā thapatayo bhagavantaṃ etadavocuṃ –
Then the carpenters Isidatta and Purāṇa approached the Blessed One. Having approached and paid homage to the Blessed One, they followed along behind the Blessed One. Then the Blessed One stepped off the road and approached the foot of a certain tree. Having approached, he sat down on the prepared seat. The carpenters Isidatta and Purāṇa, having paid homage to the Blessed One, sat down to one side. Seated to one side, the carpenters Isidatta and Purāṇa said this to the Blessed One:
Rồi các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn, họ đi theo sau lưng Ngài. Rồi Đức Thế Tôn rời khỏi con đường, đi đến một gốc cây. Sau khi đến, Ngài ngồi xuống chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa cũng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các người thợ mộc Isidatta và Purāṇa bạch với Đức Thế Tôn như sau –
‘‘Yadā mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṃ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṃ samaye anattamanatā hoti domanassaṃ ‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti. Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘sāvatthiyā kosalesu cārikaṃ pakkanto’ti, hoti no tasmiṃ samaye anattamanatā hoti domanassaṃ ‘dūre no bhagavā’ti…pe….
“Venerable sir, when we hear: ‘The Blessed One will set out on tour from Sāvatthī among the Kosalans,’ at that time displeasure arises in us and sadness arises, thinking, ‘The Blessed One will be far from us.’ And when, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One has set out on tour from Sāvatthī among the Kosalans,’ at that time displeasure arises in us and sadness arises, thinking, ‘The Blessed One is far from us.’…”
“Bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Thế Tôn sẽ khởi hành du hành từ Sāvatthī đến xứ Kosala’, vào lúc ấy, chúng con không hài lòng, chúng con ưu phiền rằng: ‘Thế Tôn sẽ ở xa chúng con’. Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Thế Tôn đã khởi hành du hành từ Sāvatthī đến xứ Kosala’, vào lúc ấy, chúng con không hài lòng, chúng con ưu phiền rằng: ‘Thế Tôn ở xa chúng con’... vân vân...”
‘‘Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘kāsīsu magadhesu † cārikaṃ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṃ samaye anattamanatā hoti domanassaṃ ‘dūre no bhagavā bhavissatī’ti. Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘kāsīsu magadhesu cārikaṃ pakkanto’ti, anappakā no tasmiṃ samaye anattamanatā hoti anappakaṃ domanassaṃ ‘dūre no bhagavā’ti.
“When, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One will set out on tour from the Kāsī countries to the Magadha countries,’ at that time displeasure arises in us and sadness arises, thinking, ‘The Blessed One will be far from us.’ And when, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One has set out on tour from the Kāsī countries to the Magadha countries,’ at that time no small displeasure arises in us and no small sadness arises, thinking, ‘The Blessed One is far from us.’”
“Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài sẽ khởi hành du hành từ xứ Kāsī đến xứ Magadha’, vào lúc ấy, chúng con không hài lòng, chúng con ưu phiền rằng: ‘Thế Tôn sẽ ở xa chúng con’. Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài đã khởi hành du hành từ xứ Kāsī đến xứ Magadha’, vào lúc ấy, chúng con có sự không hài lòng không ít, có sự ưu phiền không ít rằng: ‘Thế Tôn ở xa chúng con’.”
‘‘Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘magadhesu kāsīsu cārikaṃ pakkamissatī’ti, hoti no tasmiṃ samaye attamanatā hoti somanassaṃ ‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti. Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘magadhesu kāsīsu cārikaṃ pakkanto’ti, hoti no tasmiṃ samaye attamanatā hoti somanassaṃ ‘āsanne no bhagavā’ti…pe….
“When, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One will set out on tour from the Magadha countries to the Kāsī countries,’ at that time satisfaction arises in us and joy arises, thinking, ‘The Blessed One will be near us.’ And when, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One has set out on tour from the Magadha countries to the Kāsī countries,’ at that time satisfaction arises in us and joy arises, thinking, ‘The Blessed One is near us.’…”
“Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài sẽ khởi hành du hành từ xứ Magadha đến xứ Kāsī’, vào lúc ấy, chúng con hài lòng, chúng con hoan hỷ rằng: ‘Thế Tôn sẽ ở gần chúng con’. Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài đã khởi hành du hành từ xứ Magadha đến xứ Kāsī’, vào lúc ấy, chúng con hài lòng, chúng con hoan hỷ rằng: ‘Thế Tôn ở gần chúng con’... vân vân...”
‘‘Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘kosalesu sāvatthiṃ † cārikaṃ pakkamissatī’ti. Hoti no tasmiṃ samaye attamanatā hoti somanassaṃ ‘āsanne no bhagavā bhavissatī’ti.
“When, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One will set out on tour from the Kosala countries to Sāvatthī,’ at that time satisfaction arises in us and joy arises, thinking, ‘The Blessed One will be near us.’”
“Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài sẽ khởi hành du hành từ xứ Kosala đến Sāvatthī’. Vào lúc ấy, chúng con hài lòng, chúng con hoan hỷ rằng: ‘Thế Tôn sẽ ở gần chúng con’.”
‘‘Yadā pana mayaṃ bhante bhagavantaṃ suṇoma ‘sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme’ti hoti anappakā no tasmiṃ samaye attamanatā, hoti anappakaṃ somanassaṃ ‘āsanne no bhagavā’’’ti.
“And when, venerable sir, we hear: ‘The Blessed One is dwelling at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery,’ at that time no small satisfaction arises in us, and no small joy arises, thinking, ‘The Blessed One is near us.’”
“Và bạch Thế Tôn, khi nào chúng con nghe rằng: ‘Ngài đang trú tại Sāvatthī, trong Tịnh xá Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika’, vào lúc ấy, chúng con có sự hài lòng không ít, có sự hoan hỷ không ít rằng: ‘Thế Tôn ở gần chúng con’.”
‘‘Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā, alañca pana vo, thapatayo, appamādāyā’’ti. ‘‘Atthi kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā’’ti? ‘‘Katamo pana vo, thapatayo, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅkhātataro cā’’ti?
‘Therefore, carpenters, the household life is a cramped situation, a path of dust; the going forth is like the open air. It is sufficient for you, carpenters, to be diligent.’ ‘Venerable sir, is there not for us another cramped situation, more cramped and considered more cramped than this one?’ ‘What then, carpenters, is that other cramped situation for you, more cramped and considered more cramped than this one?’
“Do đó, này các người thợ mộc, đời sống tại gia là chật hẹp, là con đường của bụi bặm; sự xuất gia là khoảng trời quang đãng. Và này các người thợ mộc, thật là đủ cho các ngươi để không dể duôi”. “Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, có thật chăng một sự chật hẹp khác với sự chật hẹp này, vừa chật hẹp hơn, vừa được xem là chật hẹp hơn?”. “Này các người thợ mộc, vậy đối với các ngươi, cái nào là sự chật hẹp khác với sự chật hẹp này, vừa chật hẹp hơn, vừa được xem là chật hẹp hơn?”
‘‘Idha mayaṃ, bhante, yadā rājā pasenadi kosalo uyyānabhūmiṃ niyyātukāmo † hoti, ye te rañño pasenadissa kosalassa nāgā opavayhā, te kappetvā yā tā rañño pasenadissa kosalassa pajāpatiyo piyā manāpā, tā † ekaṃ purato ekaṃ pacchato nisīdāpema, tāsaṃ kho pana, bhante, bhaginīnaṃ evarūpo gandho hoti. Seyyathāpi nāma gandhakaraṇḍakassa tāvadeva vivariyamānassa, yathā taṃ rājakaññānaṃ † gandhena vibhūsitānaṃ. Tāsaṃ kho pana, bhante, bhaginīnaṃ evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāhapicuno vā, yathā taṃ rājakaññānaṃ sukhedhitānaṃ. Tasmiṃ kho pana, bhante, samaye nāgopi rakkhitabbo hoti. Tāpi bhaginiyo rakkhitabbā hoti. Attāpi rakkhitabbā hoti. Na kho pana mayaṃ, bhante, abhijānāma tāsu bhagīnisu pāpakaṃ cittaṃ ñappādentā, ayaṃ kho no, bhante, etamhā sambādhā añño sambādho sambādhataro ceva sambādhasaṅghātataro cāti.
‘Here, venerable sir, when King Pasenadi of Kosala wishes to go to the pleasure garden, we prepare those elephants of King Pasenadi of Kosala that are fit for the royal mount. Then we seat the beloved and dear consorts of King Pasenadi of Kosala, one in front and one behind. And these sisters, venerable sir, have a fragrance like that of a perfume casket just as it is being opened, like the scent of royal princesses adorned with perfumes. And these sisters, venerable sir, have a bodily touch like that of a tuft of cotton-wool or silk-cotton, such as is the touch of royal princesses established in comfort. At that time, venerable sir, the elephant must be guarded, these sisters must be guarded, and oneself must be guarded. Yet, venerable sir, we do not recall having aroused an evil thought towards those sisters. This, venerable sir, is for us another cramped situation, more cramped and considered more cramped than that one.’
“Bạch Thế Tôn, ở đây, khi vua Pasenadi xứ Kosala muốn đi đến vườn thượng uyển, sau khi trang bị những con voi xứng đáng để vua Pasenadi xứ Kosala cưỡi, chúng con cho những người vợ yêu quý, khả ái của vua Pasenadi xứ Kosala, một người ngồi phía trước, một người ngồi phía sau. Bạch Thế Tôn, những người chị em ấy có mùi hương như thế này: ví như mùi hương của hộp đựng nước hoa vừa mới được mở ra. Bạch Thế Tôn, những người chị em ấy có sự xúc chạm thân thể như thế này: ví như sự xúc chạm của một cuộn len hay một cuộn bông gòn, giống như sự xúc chạm của các công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc. Bạch Thế Tôn, vào lúc ấy, con voi cũng phải được canh giữ, những người chị em ấy cũng phải được canh giữ, và bản thân cũng phải được canh giữ. Bạch Thế Tôn, chúng con không hề biết là mình đã khởi lên tâm niệm xấu ác đối với những người chị em ấy. Bạch Thế Tôn, đây chính là sự chật hẹp khác với sự chật hẹp kia của chúng con, vừa chật hẹp hơn, vừa được xem là chật hẹp hơn.”
‘‘Tasmātiha, thapatayo, sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Alañca pana vo, thapatayo, appamādāya. Catūhi kho thapatayo, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
‘Therefore, carpenters, the household life is a cramped situation, a path of dust; the going forth is like the open air. It is sufficient for you, carpenters, to be diligent. Carpenters, endowed with four qualities, a noble disciple is a stream-enterer, not subject to falling into a lower realm, assured, and bound for enlightenment.’
“Do đó, này các người thợ mộc, đời sống tại gia là chật hẹp, là con đường của bụi bặm; sự xuất gia là khoảng trời quang đãng. Và này các người thợ mộc, thật là đủ cho các ngươi để không dể duôi. Này các người thợ mộc, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì trở thành bậc Dự lưu, có pháp không rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến sự giác ngộ.”
‘‘Katamehi catūhi? Idha, thapatayo, sutavā ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti itipi so bhagavā arahaṃ…pe… buddho bhagavāti, dhamme…pe… saṅghe…pe… vigatamalamaccherena cetasā agāraṃ ajjhāvasati, muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṃvibhāgarato appaṭivibhattaṃ. Imehi kho, thapatayo, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
‘With which four? Here, carpenters, a learned noble disciple is endowed with unwavering confidence in the Buddha thus: “Indeed, that Blessed One is an Arahant... the Buddha, the Blessed One.” He is endowed with unwavering confidence in the Dhamma... He is endowed with unwavering confidence in the Saṅgha... He dwells at home with a mind free from the stain of stinginess, freely generous, open-handed, delighting in relinquishing, amenable to requests, delighting in giving and sharing. Endowed with these four qualities, carpenters, a noble disciple is a stream-enterer, not subject to falling into a lower realm, assured, and bound for enlightenment.’
“Bốn pháp nào? Ở đây, này các người thợ mộc, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, thành tựu niềm tin bất động nơi Đức Phật rằng: ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán... vân vân... là Phật, là Thế Tôn’; ... nơi Pháp...; ... nơi Tăng...; vị ấy sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt, có sự xả thí rộng rãi, có bàn tay sẵn sàng cho đi, thích thú trong sự từ bỏ, sẵn sàng đáp ứng người xin, thích thú trong việc bố thí và chia sẻ. Này các người thợ mộc, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này thì trở thành bậc Dự lưu, có pháp không rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến sự giác ngộ.”
‘‘Tumhe kho, thapatayo, buddhe aveccappasādena samannāgatā itipi so bhagavā arahaṃ…pe… buddho bhagavāti, dhamme…pe… saṅghe…pe… yaṃ kho pana kiñci kule deyyadhammaṃ, sabbaṃ taṃ appaṭivibhattaṃ sīlavantehi kalyāṇadhammehi, taṃ kiṃ maññatha, thapatayo, katividhā te kosalesu manussā ye tumhākaṃ samasamā yadidaṃ dānasaṃvibhāgehī’’ti? ‘‘Lābhā no, bhante, suladdhaṃ no, bhante, yesaṃ no bhagavā evaṃ pajānātī’’ti.
‘You, carpenters, are endowed with unwavering confidence in the Buddha thus: “Indeed, that Blessed One is an Arahant... the Buddha, the Blessed One.” You are endowed with unwavering confidence in the Dhamma... You are endowed with unwavering confidence in the Saṅgha... And whatever gift-worthy thing there is in the family, all of it is shared unreservedly with the virtuous, those of good qualities. What do you think, carpenters, how many people in Kosala are your equals in this, namely, in the sharing of gifts?’ ‘It is a gain for us, venerable sir, it is well-gained by us, venerable sir, that the Blessed One knows us thus.’
“Này các người thợ mộc, các ngươi quả thật thành tựu niềm tin bất động nơi Đức Phật rằng: ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán... vân vân... là Phật, là Thế Tôn’; ... nơi Pháp...; ... nơi Tăng...; và bất cứ vật gì đáng cho trong gia đình, tất cả những thứ đó đều được chia sẻ với những người có giới hạnh, có thiện pháp. Này các người thợ mộc, các ngươi nghĩ sao, có bao nhiêu người ở xứ Kosala mà ngang bằng với các ngươi về phương diện bố thí và chia sẻ này?”. “Bạch Thế Tôn, thật là lợi ích cho chúng con! Bạch Thế Tôn, thật là được lợi ích tốt đẹp cho chúng con, khi mà Thế Tôn biết về chúng con như vậy!”
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Discourse on the Portion of Merit.
Đây là Kinh Thuộc Về Phần Công Đức.
95.
95.
95.
‘‘Ekapupphaṃ cajitvāna †, sahassaṃ kappakoṭiyo;
Deve ceva manusse ca, sesena parinibbuto’’ti.
‘Having offered a single flower, for a thousand koṭis of aeons he was reborn among devas and humans; by the remainder, he attained final Nibbāna.’
“Sau khi cúng dường một đóa hoa, trong một ngàn vạn kiếp; (tôi đã tái sanh) ở cõi trời và cõi người. Với phần (công đức) còn lại, tôi đã nhập Vô dư Niết-bàn.”
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Discourse on the Portion of Merit.
Đây là Kinh Thuộc Về Phần Công Đức.
‘‘Assatthe haritobhāse, saṃvirūḷhamhi pādape;
Ekaṃ buddhagataṃ † saññaṃ, alabhiṃtthaṃ † patissato.
‘At the Assattha tree, green in radiance, a well-grown tree, I, being mindful, obtained a singular perception directed toward the Buddha.’
“Tại cây Bồ-đề, cây cối sum suê, có màu xanh tươi; với chánh niệm, tôi đã đạt được một tưởng niệm hướng về Đức Phật.”
‘‘Ajja tiṃsaṃ tato kappā, nābhijānāmi duggatiṃ;
Tisso vijjā sacchikatā, tassā saññāya vāsanā’’ti.
‘From that aeon, this is the thirtieth; I do not recall a bad destination. The three knowledges have been realized—by the power of that perception.’
“Từ kiếp đó đến nay là ba mươi kiếp, tôi không biết đến khổ cảnh; ba minh đã được chứng ngộ, nhờ vào năng lực của tưởng niệm ấy.”
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Discourse on the Portion of Merit.
Đây là Kinh Thuộc Về Phần Công Đức.
‘‘Piṇḍāya kosalaṃ puraṃ, pāvisi aggapuggalo;
Anukampako purebhattaṃ, taṇhānighātako muni.
The Sage—the supreme person, the compassionate one, the slayer of craving—entered the city of Kosala for alms in the morning.
Bậc Mâu-ni, đấng tối thượng giữa các chúng sanh, đấng lân mẫn, đấng diệt trừ ái dục, vào buổi sáng đã đi vào thành của xứ Kosala để khất thực.
‘‘Purisassa vaṭaṃsako hatthe, sabbapupphehilaṅkato;
So addasāsi sambuddhaṃ, bhikkhusaṅghapurakkhataṃ.
In a man's hand was a head-garland, adorned with all kinds of flowers. That man saw the Perfectly Enlightened One, who was escorted by the community of monks.
Trong tay của người đàn ông có vòng hoa đội đầu được trang hoàng bằng tất cả các loại hoa. Người ấy đã nhìn thấy Đức Chánh Đẳng Giác, được chúng Tỳ-khưu vây quanh.
‘‘Pavisantaṃ rājamaggena, devamānusapūjitaṃ;
Haṭṭho cittaṃ pasādetvā, sambuddhamupasaṅkami.
Seeing Him entering by the royal road, worshipped by devas and humans, joyful and having made his mind serene, he approached the Perfectly Enlightened One.
Thấy Ngài đang đi vào bằng con đường hoàng gia, được chư thiên và nhân loại cúng dường, người ấy hoan hỷ, làm cho tâm tịnh tín, rồi đến gần Đức Chánh Đẳng Giác.
‘‘So taṃ vaṭaṃsakaṃ surabhiṃ, vaṇṇavantaṃ manoramaṃ;
Sambuddhassupanāmesi, pasanno sehi pāṇibhi.
That man, with a serene mind, offered that fragrant, beautiful, and delightful head-garland to the Perfectly Enlightened One with his own hands.
Người đàn ông ấy, với lòng tịnh tín, đã dùng đôi tay của mình dâng cúng vòng hoa đội đầu thơm ngát, sắc màu đẹp đẽ, và làm vui lòng ấy đến Đức Chánh Đẳng Giác.
‘‘Tato aggisikhā vaṇṇā, buddhassa lapanantarā;
Sahassaraṃsi vijjuriva, okkā nikkhami ānanā.
Then, from between the Buddha's lips, a radiance the color of a flame's crest issued forth from His face, like a thousand-rayed lightning flash.
Sau đó, từ gương mặt của Đức Phật, từ giữa hai vành môi, ánh sáng có màu sắc như ngọn lửa, ngàn tia sáng như tia chớp, đã phát ra.
‘‘Padakkhiṇaṃ karitvāna, sīse ādiccabandhuno;
Tikkhattuṃ parivaṭṭetvā, muddhanantaradhāyatha.
Having circumambulated the head of the Kinsman of the Sun, circling it three times, it vanished upon the crown of His head.
Sau khi phát ra, ánh sáng ấy đã đi nhiễu theo chiều bên phải trên đầu của Bậc Thân Thuộc Mặt Trời, xoay quanh ba lần, rồi biến mất trên đỉnh đầu.
‘‘Idaṃ disvā acchariyaṃ, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā, ānando etadabravi.
Seeing this wonder, unprecedented and causing the hair to stand on end, Ānanda arranged his robe over one shoulder and said this:
Sau khi thấy điều kỳ diệu, chưa từng có, làm dựng tóc gáy này, Tôn giả Ānanda vắt y qua một bên vai rồi nói lên lời này.
‘‘‘Ko hetu sitakammassa, byākarohi mahāmune;
Dhammāloko bhavissati, kaṅkhaṃ vitara no mune.
‘What is the cause for this act of smiling? Please declare it, O Great Sage. The light of the Dhamma will arise. Dispel our doubt, O Sage.’
‘Bạch Đức Đại Mâu-ni, nhân gì của việc mỉm cười? Xin hãy giải thích rõ, ánh sáng Pháp sẽ hiện khởi. Bạch Đức Mâu-ni, xin hãy xua tan nghi ngờ của chúng con.’
‘‘‘Yassa taṃ sabbadhammesu, sadā ñāṇaṃ pavattati;
Kaṅkhiṃ vematikaṃ theraṃ, ānandaṃ etadabravi.
He whose knowledge ever encompasses all phenomena spoke these words to the Elder Ānanda, who was doubting and uncertain.
Đấng mà trí tuệ luôn vận hành trong tất cả các pháp, đã nói lời này với Trưởng lão Ānanda, người có sự nghi ngờ, do dự.
‘‘‘Yo so ānanda puriso, mayi cittaṃ pasādayi;
Caturāsītikappāni, duggatiṃ na gamissati.
‘Ānanda, that person who made his mind serene towards me will not go to a woeful state for eighty-four aeons.’
‘Này Ānanda, người đàn ông nào đã làm cho tâm tịnh tín nơi ta, người ấy trong tám mươi bốn ngàn đại kiếp sẽ không đi đến khổ cảnh.’
‘‘‘Devesu devasobhaggaṃ, dibbaṃ rajjaṃ pasāsiya;
Manujesu manujindo, rājā raṭṭhe bhavissati.
‘Among the devas, having ruled a divine kingdom with divine splendor, he will be a king among humans in the land.’
‘Giữa các chư thiên, sau khi hưởng thụ sự huy hoàng và vương quốc của chư thiên, người ấy sẽ trở thành vua giữa loài người trong quốc độ.’
‘‘‘So carimaṃ pabbajitvā, sacchikatvāna † dhammataṃ;
Paccekabuddho dhutarāgo, vaṭaṃsako nāma bhavissati.
‘In his final existence, having gone forth and realized the Dhamma, he will become a Paccekabuddha named Vaṭaṃsaka, one who has shaken off passion.’
‘Trong kiếp cuối cùng, người ấy sau khi xuất gia, chứng ngộ chân lý, từ bỏ tham ái, sẽ trở thành một vị Phật Độc Giác tên là Vaṭaṃsaka.’
‘‘‘Natthi citte † pasannamhi, appakā nāma dakkhiṇā;
Tathāgate vā sambuddhe, atha vā tassa sāvake.
‘When the mind is serene, no offering is small, whether it be to the Tathāgata, the Perfectly Enlightened One, or to his disciple.’
‘Khi tâm đã tịnh tín nơi Đức Như Lai, bậc Chánh Đẳng Giác, hoặc nơi vị Thanh văn của Ngài, thì không có sự cúng dường nào gọi là nhỏ nhoi.’
‘‘‘Evaṃ acintiyā † buddhā, buddhadhammā acintiyā;
Acintiye pasannānaṃ, vipāko hoti acintiyo’’’ti.
‘Thus, inconceivable are the Buddhas, and inconceivable are the qualities of the Buddha's Dhamma. For those with serene confidence in the inconceivable, the result is also inconceivable.’
‘Như vậy, các Đức Phật là bất khả tư nghì, các Pháp của Phật là bất khả tư nghì. Đối với những người tịnh tín nơi điều bất khả tư nghì, quả báo cũng là bất khả tư nghì.’
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Discourse on the Portion of Merit.
Đây là Kinh Vāsanābhāgiya (Kinh thuộc về phần tích lũy công đức).
96. ‘‘Idhāhaṃ, bhikkhave, ekaccaṃ puggalaṃ pasannacittaṃ evaṃ cetasā ceto paricca pajānāmi ‘‘(yathā kho ayaṃ puggalo iriyati, yañca paṭipadaṃ paṭipanno, yañca maggaṃ samārūḷho) †. Imamhi cāyaṃ samaye kālaṃ kareyya, yathābhataṃ nikkhitto evaṃ sagge. Taṃ kissa hetu? Cittaṃ hissa, bhikkhave, pasannaṃ, cetopasādahetu † kho pana evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantī’’ti. Etamatthaṃ bhagavā avoca, tatthetaṃ iti vuccati –
96. Here, bhikkhus, having encompassed with my own mind the mind of a certain person with a serene mind, I know him thus: 'Just as this person comports himself, whatever practice he has undertaken, and whatever path he has embarked upon, if he were to die at this time, he would be placed in heaven just as something brought is set down.' For what reason? Because, bhikkhus, his mind is serene. Indeed, it is because of serenity of mind that some beings here, on the dissolution of the body, after death, are reborn in a good destination, the heavenly world." The Blessed One spoke this meaning, and in that connection, this is said:
96. ‘Này các Tỳ-khưu, ở đây, Ta với tâm của Ta, sau khi bao trùm tâm của một chúng sanh nào đó có tâm tịnh tín, Ta biết như vầy: (như cách chúng sanh này hành xử, con đường mà người ấy đã thực hành, và đạo lộ mà người ấy đã đi lên). Nếu chúng sanh này mệnh chung vào lúc này, người ấy sẽ được đặt vào cõi trời như vật được mang đến rồi đặt xuống. Vì nhân gì? Này các Tỳ-khưu, vì tâm của người ấy tịnh tín. Và này các Tỳ-khưu, chính do nhân tâm tịnh tín này mà một số chúng sanh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Đức Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này, và về điều đó, được nói như sau:
‘‘Pasannacittaṃ ñatvāna, ekaccaṃ idha puggalaṃ;
Etamatthañca byākāsi, buddho † bhikkhūna santike.
Having known a certain person here to have a serene mind, the Buddha declared this meaning in the presence of the bhikkhus.
‘Sau khi biết một chúng sanh nào đó ở đời này có tâm tịnh tín, Đức Phật đã tuyên thuyết rõ ý nghĩa này trước sự hiện diện của các Tỳ-khưu.’
‘‘Imamhi cāyaṃ samaye, kālaṃ kayirātha puggalo;
Saggamhi upapajjeyya, cittaṃ hissa pasāditaṃ.
If this person were to die at this time, he would be reborn in heaven, for his mind has been made serene.
‘Nếu chúng sanh này mệnh chung vào lúc này, người ấy sẽ được sanh vào cõi trời, vì tâm của người ấy đã được làm cho tịnh tín.’
‘‘Cetopasādahetu hi, sattā gacchanti suggatiṃ;
Yathābhataṃ nikkhipeyya, evamevaṃ tathāvidho;
Kāyassa bhedā sappañño, saggaṃ so upapajjatī’’ti.
Indeed, because of serenity of mind, beings go to a good destination. Just as one would set down something that has been brought, even so does a wise person of such a kind, on the dissolution of the body, get reborn in heaven.
‘Quả vậy, do nhân tâm tịnh tín, các chúng sanh đi đến thiện thú. Như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng vậy, người có trí tuệ ấy, do thân hoại, được sanh vào cõi trời.’
‘‘Ayampi attho vutto bhagavatā iti me suta’’nti.
This meaning, too, was spoken by the Blessed One: thus have I heard.
‘Ý nghĩa này cũng đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng, như vậy tôi đã nghe.’
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là Kinh Vāsanābhāgiya (Kinh thuộc về phần tích lũy công đức).
‘‘Suvaṇṇacchadanaṃ nāvaṃ, nāri āruyha tiṭṭhasi;
Ogāhasi † pokkharaṇiṃ, padmaṃ chindasi pāṇinā.
O woman, having boarded a boat with a golden canopy, you stand; you enter the lotus pond and pluck a lotus with your hand.
‘Hỡi nàng tiên nữ, nàng đang đứng trên chiếc thuyền được trang hoàng bằng vàng; nàng đi xuống hồ sen, dùng tay hái hoa sen.’
‘‘Kena te tādiso vaṇṇo, ānubhāvo juti ca te;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manasicchitā.
By what cause is your complexion like that, and your power and radiance? And by what cause do all the enjoyments you desire in your mind arise for you?
‘Do nhân gì mà dung sắc của nàng, oai lực và ánh sáng của nàng lại được như vậy? Và do nhân gì mà những tài sản nào nàng mong muốn trong tâm đều được sanh khởi?’
‘‘Pucchitā devate saṃsa, kissa kammassidaṃ phalaṃ;
Sā devatā attamanā, devarājena pucchitā.
O deity, being asked, please declare: of what kamma is this the fruit?' That deity, delighted at being questioned by the king of the devas,
‘Hỡi thiên nữ, được hỏi, nàng hãy nói, quả này là quả của nghiệp nào?’ Vị thiên nữ ấy, được Thiên Vương hỏi, với tâm hoan hỷ.
‘‘Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, sakkassa iti me sutaṃ;
Addhānaṃ paṭipannāhaṃ, disvā thūpaṃ manoramaṃ.
explained the question that was asked. To Sakka she spoke, so I have heard: 'I was travelling along a long road when I saw a delightful stūpa...'
Được hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích cho Sakka, như vậy tôi đã nghe: ‘Khi đang đi trên đường dài, con đã thấy một bảo tháp đẹp ý.’
‘‘Tattha cittaṃ pasādesiṃ, kassapassa yasassino;
Paddhapupphehi pūjesiṃ, pasannā sehi tasseva;
Kammassa phalaṃ vipāko, etādisaṃ katapuññā labhantī’’ti.
...of the glorious Kassapa. There I made my mind serene. Being serene, I worshipped with my own hands with lotus flowers. This is the fruit, the result of that very kamma. Those who have made merit obtain such a result.
‘Tại bảo tháp của Đức Phật Kassapa, bậc có danh tiếng, con đã làm cho tâm tịnh tín. Với lòng tịnh tín, con đã dùng đôi tay của mình cúng dường những bông hoa sen. Đây là quả, là quả dị thục của chính nghiệp ấy; những người đã làm phước được nhận lãnh quả như thế này.’
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là Kinh Vāsanābhāgiya (Kinh thuộc về phần tích lũy công đức).
‘‘Dānakathā sīlakathā saggakathā puññakathā puññavipākakathā’’ti;
Talk on giving, talk on virtue, talk on heaven, talk on merit, talk on the result of merit.
‘Câu chuyện về bố thí, câu chuyện về giới, câu chuyện về cõi trời, câu chuyện về phước báu, câu chuyện về quả của phước báu.’
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là Kinh Vāsanābhāgiya (Kinh thuộc về phần tích lũy công đức).
‘‘Apicāpi paṃsuthūpesu uddissakatesu dasabaladharānaṃ tatthapi kāraṃ katvā saggesu narā pamodantī’’ti.
Moreover, even at dust stūpas made in dedication to those who possess the ten powers, having performed acts of reverence there, people rejoice in the heavens.
‘Hơn nữa, ngay cả tại các bảo tháp bằng đất bụi được làm ra với ý tưởng nhớ đến các bậc mang mười lực, sau khi làm điều thiện tại đó, con người cũng được hoan hỷ trong các cõi trời.’
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse pertaining to foundational qualities.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
97.
97.
97.
‘‘Devaputtasarīravaṇṇā, sabbe subhagasaṇṭhitī;
Udakena paṃsuṃ temetvā, thūpaṃ vaḍḍhetha kassapaṃ.
All of you, who have a complexion like that of a deva's son and possess a beautiful form, having moistened the dust with water, should augment the stūpa of Kassapa.
Hỡi tất cả các người, có sắc thân giống như chư Thiên tử, có dáng vẻ xinh đẹp; hãy dùng nước làm ẩm bụi đất, rồi đắp bồi bảo tháp của đức Phật Kassapa.
‘‘Ayaṃ sugatte sugatassa thūpo, mahesino dasabaladhammadhārino;
Tasmiṃ † ime devamanujā pasannā, kāraṃ karontā jarāmaraṇā pamuccare’’ti.
O you with a beautiful body, this is the stūpa of the Sugata, the Great Seer, the bearer of the ten powers. At that stūpa, these devas and humans, being serene and performing meritorious deeds, are freed from aging and death.
Này vị có thân hình xinh đẹp, đây là bảo tháp của bậc Thiện Thệ, của bậc Đại Sĩ, người mang Pháp Thập Lực. Ở nơi bảo tháp ấy, chư Thiên và nhân loại này, với lòng tịnh tín, trong khi thực hiện các thiện sự, được giải thoát khỏi già và chết.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
‘‘Uḷāraṃ vata taṃ āsi, yāhaṃ thūpaṃ mahesino;
Uppalāni ca cattāri, mālañca abhiropayiṃ.
Great indeed was that deed of mine, in that I placed four water lilies and a garland upon the stūpa of the Great Seer.
Thật là cao thượng thay, việc mà tôi đã dâng cúng lên bảo tháp của bậc Đại Sĩ, cả bốn đóa hoa sen xanh và vòng hoa.
‘‘Ajja tiṃsaṃ tato kappā, nābhijānāmi duggatiṃ;
Vinipātaṃ na gacchāmi, thūpaṃ pūjetva † satthuno’’ti.
From that eon, this is now the thirtieth; having worshipped the Teacher’s stūpa, I do not know a bad destination and do not go to a state of woe.
Kể từ kiếp đó đến nay là kiếp thứ ba mươi, tôi không hề biết đến khổ cảnh; tôi không đi đến đọa xứ, (do quả của việc) đã cúng dường bảo tháp của bậc Đạo Sư.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
‘‘Bāttiṃsalakkhaṇadharassa, vijitavijayassa lokanāthassa;
Satasahassaṃ kappe, mudito thūpaṃ apūjesi.
I worshipped the stūpa of the Lord of the World, the bearer of the thirty-two marks, the one who has achieved victory. For one hundred thousand eons, I was delighted.
Tôi đã hoan hỷ cúng dường bảo tháp của bậc Lãnh Đạo Thế Gian, người mang ba mươi hai tướng tốt, người đã chiến thắng những gì cần chiến thắng; (nhờ đó) trong một trăm ngàn kiếp, tôi đã được vui mừng.
‘‘Yaṃ mayā pasutaṃ puññaṃ, tena ca puññena deva sobhaggaṃ;
Rajjāni ca kāritāni, anāgantuna vinipātaṃ.
Whatever merit was accumulated by me, by that merit, not going to a state of woe, both divine splendor and states of kingship were brought about.
Phước báu nào đã được tôi tích lũy, và nhờ phước báu ấy, không đi đến đọa xứ, tôi đã tạo ra được sự tốt đẹp của chư Thiên và các vương vị.
‘‘Yaṃ cakkhu adantadamakassa, sāsane paṇihitaṃ tathā;
Cittaṃ taṃ me sabbaṃ, laddhaṃ vimuttacittamhi vidhūtalato’’ti.
In the dispensation of the Tamer of the untamed, whatever eye was established, and likewise, the mind—all that has been obtained by me. I am with a liberated mind, having shaken off the creeper of craving.
Con mắt nào đã được đặt vào trong giáo pháp của bậc Điều Ngự những người chưa được điều phục, cũng như tâm đã được đặt vào như thế; tất cả những điều ấy đã được tôi thành tựu. Tôi có tâm giải thoát, đã rũ sạch dây leo ái dục.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
98.
98.
98.
‘‘Sāmākapatthodanamattameva hi, paccekabuddhamhi adāsi dakkhiṇaṃ;
Vimuttacitte akhile anāsave, araṇavihārimhi asaṅgamānase.
I gave merely a measure of cooked rice from sāmāka grain as an offering to a Paccekabuddha—one with a liberated mind, without mental barrenness, without taints, dwelling free from defilements, with a mind unattached.
Tôi đã dâng cúng vật thí chỉ bằng một suất cơm nấu từ lúa sāmāka đến bậc Độc Giác Phật, người có tâm giải thoát, không còn chướng ngại, không còn lậu hoặc, người an trú trong sự vô tranh, có tâm không dính mắc.
‘‘Tasmiñca okappayi dhammamuttamaṃ, tasmiñca dhamme paṇidhesiṃ mānasaṃ;
Evaṃ vihārīhi me saṅgamo siyā, bhave kudāsupi ca mā apekkhavā.
And in him, I placed faith in the supreme Dhamma, and in that Dhamma, I established my mind, aspiring: 'May I have association with those who dwell thus. And in any existence whatsoever, may I not be one with attachment.'
Và nơi vị ấy, tôi đã tin tưởng vào Pháp tối thượng, và nơi Pháp ấy, tôi đã đặt tâm nguyện. Mong rằng tôi được hội ngộ với những vị an trú như thế. Và trong bất cứ kiếp sống nào, mong rằng tôi không còn là người có luyến ái.
‘‘Tasseva kammassa vipākato ahaṃ, sahassakkhattuṃ kurusūpapajjatha †;
Dīghāyukesu amamesu pāṇisu, visesagāmīsu ahīnagāmisu.
By the result of that very kamma, a thousand times I was reborn among the Kurus, among beings who are long-lived, without possessiveness, who have attained distinction, and who do not decline.
Do quả báo của chính nghiệp ấy, tôi đã tái sanh một ngàn lần ở xứ Kuru, giữa những chúng sanh sống lâu, không có sở hữu, đạt được những điều đặc biệt, và không bị suy giảm (tài sản).
‘‘Tasseva kammassa vipākato ahaṃ, sahassakkhattuṃ tidasopapajjatha;
Vicitramālābharaṇānulepisu, visiṭṭhakāyūpagato yasassisu.
By the result of that very kamma, a thousand times I was reborn as a Tāvatiṃsa deva, having attained a distinguished body among the glorious devas who are adorned with varied garlands, ornaments, and unguents.
Do quả báo của chính nghiệp ấy, tôi đã tái sanh một ngàn lần làm một vị trời ở cõi Ba Mươi Ba, giữa những vị trời danh tiếng, có những vòng hoa, trang sức, và vật thoa đa dạng, và đã đạt được thân thể có hình sắc ưu việt.
‘‘Tasseva kammassa vipākato ahaṃ, vimuttacitto akhilo anāsavo;
Imehi me antimadehadhāribhi, samāgamo āsihi tāhi tāsihi.
By the result of that very kamma, I am with a liberated mind, without mental barrenness, and without taints. I have come together with these bearers of the final body.
Do quả báo của chính nghiệp ấy, tôi, với tâm giải thoát, không còn chướng ngại, không còn lậu hoặc, đã được hội ngộ với các vị này, những người mang thân cuối cùng, những người mong muốn vượt qua thiện và ác.
‘‘Paccakkhaṃ khvimaṃ avaca tathāgato jino, samijjhate sīlavato yadicchati;
Yathā yathā me manasā vicintitaṃ, tathā samiddhaṃ ayamantimo bhavo’’ti.
The Tathāgata, the Victor, declared this directly: 'Whatever a virtuous person desires, that succeeds for them.' Just as it was considered by me in my mind, so has it succeeded for me. This is my final existence.
Bậc Như Lai, bậc Chiến Thắng đã nói lời này một cách trực tiếp: 'Điều gì người có giới đức mong muốn, điều ấy được thành tựu.' Bất cứ điều gì tôi đã suy tư trong tâm, điều ấy đã được thành tựu cho tôi như vậy. Đây là kiếp sống cuối cùng.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
‘‘Ekatiṃsamhi kappamhi jino anejo, anantadassī bhagavā sikhīti;
Tassāpi rājā bhātā sikhiddhe †, buddhe ca dhamme ca abhippasanno.
In the thirty-first eon from now, the Victor arose, the passionless, the one of infinite vision, the Blessed One named Sikhī. His brother, the king, also named Sikhī, was deeply serene in the Buddha and the Dhamma.
Vào kiếp thứ ba mươi mốt tính từ đây, bậc Chiến Thắng, bậc Vô Nhiễm, bậc Toàn Giác, Thế Tôn tên là Sikhī đã xuất hiện. Vị vua, cũng là em của ngài, tên là Sikhī, đã hết lòng tịnh tín nơi đức Phật và Chánh Pháp.
‘‘Parinibbute lokavināyakamhi, thūpaṃ sakāsi vipulaṃ mahantaṃ;
Samantato gāvutikaṃ mahesino, devātidevassa naruttamassa.
When the Leader of the World had attained Parinibbāna, he made a vast and great stūpa, a gāvuta all around, for the Great Seer, the deva of devas, the supreme among men.
Khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian nhập Niết Bàn, vị ấy đã xây một bảo tháp rộng lớn, vĩ đại, chu vi ba gāvuta, cho bậc Đại Sĩ, bậc Thiên Trung Thiên, bậc Tối Thắng trong loài người.
‘‘Tasmiṃ manusso balimābhihārī, paggayha jātisumanaṃ pahaṭṭho;
Vātena pupphaṃ patitassa ekaṃ, tāhaṃ gahetvāna tasseva dāsi.
At that stūpa, a man, very joyful, was bringing offerings, holding up a jasmine flower. From his hand, one flower fell due to the wind. I, having picked up that flower, gave it back to him.
Tại nơi ấy, một người đàn ông, với lòng vui mừng, tay cầm hoa lài, đã mang đến vật cúng dường. Một đóa hoa từ tay của người ấy bị gió thổi rơi xuống. Tôi đã nhặt đóa hoa ấy lên và đưa lại cho chính người ấy.
‘‘So maṃ avocābhipasannacitto, tuyhameva etaṃ pupphaṃ dadāmi;
Tāhaṃ gahetvā abhiropayesiṃ, punappunaṃ buddhamanussaranto.
He, with a very serene mind, said to me: 'I give this flower to you alone.' I, having taken that flower, placed it upon that stūpa, again and again recollecting the Buddha.
Người ấy, với tâm vô cùng hoan hỷ, đã nói với tôi: 'Tôi xin tặng đóa hoa này cho chính bạn.' Tôi đã nhận lấy đóa hoa ấy, và trong khi liên tục tưởng niệm đến đức Phật, đã đặt nó lên trên bảo tháp ấy.
‘‘Ajja tiṃsaṃ tato kappā, nābhijānāmi duggatiṃ;
Vinipātañca na gacchāmi, thūpapūjāyidaṃ phala’’nti.
From that eon, this is now the thirtieth; I do not know a bad destination and do not go to a state of woe. This is the fruit of worshipping the stūpa.
Kể từ kiếp đó đến nay là kiếp thứ ba mươi, tôi không hề biết đến khổ cảnh; và tôi không đi đến đọa xứ. Đây là quả của việc cúng dường bảo tháp.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This is the Sutta Pertaining to a Share in Merit.
Đây là kinh thuộc về phần tích lũy phước báu.
‘‘Kapilaṃ nāma nagaraṃ, suvibhattaṃ mahāpathaṃ;
Ākiṇṇamiddhaṃ phītañca, brahmadattassa rājino.
There was a city named Kapila, belonging to King Brahmadatta, with well-divided great roads, crowded, successful, and prosperous.
(Có) thành phố tên là Kapila, của vua Brahmadatta, với những con đường lớn được phân chia hợp lý, đông đúc, thịnh vượng và phồn vinh.
‘‘Kummāsaṃ vikkiṇiṃ tattha, pañcālānaṃ puruttame;
Sohaṃ addasiṃ sambuddhaṃ, upariṭṭhaṃ yasassinaṃ.
“There, in the excellent city of the Pañcālas, I sold barley-cakes. That I saw the glorious Sambuddha, established in the sky above.”
Tại đó, trong thành phố tốt đẹp của xứ Pañcāla, tôi đã bán bánh bột lúa mạch. Tôi đã nhìn thấy bậc Chánh Giác, vị danh tiếng, đang đứng ở trên không.
‘‘Haṭṭho cittaṃ pasādetvā, nimantesiṃ naruttamaṃ;
Ariṭṭhaṃ dhuvabhattena, yaṃ me gehamhi vijjatha.
“Joyful, having made my mind serene, I invited the supreme among men, Ariṭṭha, with the constant food that was available in my home.”
Với lòng hoan hỷ, làm cho tâm tịnh tín, tôi đã thỉnh mời bậc Tối Thắng trong loài người, ngài Ariṭṭha, với vật thực thường xuyên, và với bất cứ thứ gì có trong nhà của tôi.
‘‘Tato ca kattiko puṇṇo †, puṇṇamāsī upaṭṭhitā;
Navaṃ dussayugaṃ gayha, ariṭṭhassopanāmayiṃ.
“And after that, when the Kattikā full moon arrived, having taken a new pair of cloths, I offered them to Ariṭṭha.”
Và sau đó, khi đến ngày rằm tháng Kattika, trăng tròn đã hiện ra. Khi ấy, tôi đã lấy một cặp vải mới và dâng cúng đến ngài Ariṭṭha.
‘‘Pasannacittaṃ ñatvāna, paṭiggaṇhi naruttamo;
Anukampako kāruṇiko, taṇhānighātako muni.
“The supreme among men, the compassionate, the merciful, the sage, the destroyer of craving, having known my serene mind, accepted it.”
Biết được tôi có tâm tịnh tín, bậc Tối Thắng trong loài người, bậc Mâu-ni, người có lòng thương xót, đầy bi mẫn, người diệt trừ ái dục, đã thọ nhận (cặp vải ấy).
‘‘Tāhaṃ kammaṃ karitvāna, kalyāṇaṃ buddhavaṇṇitaṃ;
Deve ceva manusse ca, sandhāvitvā tato cuto.
“I, having done that good kamma praised by the Buddhas, transmigrated among devas and humans, and then passed away from there.”
Tôi, sau khi đã làm nghiệp lành ấy, nghiệp được chư Phật tán thán, đã luân hồi giữa chư Thiên và loài người, rồi từ đó mệnh chung.
‘‘Bārāṇasiyaṃ nagare, seṭṭhissa ekaputtako;
Aḍḍhe kulasmiṃ uppajjiṃ, pāṇehi ca piyataro.
“In the city of Bārāṇasī, I was born into a prosperous family as the only son of a merchant, dearer even than life.”
Tại thành phố Bārāṇasī, là con trai duy nhất của vị trưởng giả, được yêu quý hơn cả mạng sống, tôi đã sanh ra trong một gia tộc giàu có.
‘‘Tato ca viññutaṃ patto, devaputtena codito;
Pāsādā orūhitvāna, sambuddhamupasaṅkamiṃ.
“Then, having attained maturity, urged by the messenger of death, having descended from the palace, I approached the Perfectly Enlightened One.”
Và rồi, khi đã đến tuổi trưởng thành, được vị thiên tử thúc giục, sau khi đi xuống từ cung điện, tôi đã đi đến yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác.
‘‘So me dhammamadesayi, anukampāya gotamo;
Dukkhaṃ dukkhasamuppādaṃ, dukkhassa ca atikkamaṃ.
“He, Gotama, taught me the Dhamma out of compassion: suffering, the origin of suffering, and the overcoming of suffering.”
Vị ấy, Gotama, do lòng bi mẫn đã thuyết giảng Chánh pháp cho tôi: về Khổ, về Tập khởi của Khổ, và về sự vượt qua Khổ.
‘‘Ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ, dukkhūpasamagāminaṃ;
Cattāri ariyasaccāni, muni dhammamadesayi.
“The sage taught the Dhamma: the Noble Eightfold Path leading to the calming of suffering, and the Four Noble Truths.”
Bậc Mâu-ni đã thuyết giảng Chánh pháp: Thánh đạo Tám ngành, con đường đưa đến sự tịch tịnh của khổ đau, và Bốn Thánh đế.
‘‘Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, vihariṃ sāsane rato;
Samathaṃ paṭivijjhāhaṃ, rattindivamatandito.
“Having heard his words, I dwelt delighting in the Dispensation; I penetrated tranquility, untiring day and night.”
Sau khi nghe lời dạy của ngài, tôi đã sống hoan hỷ trong giáo pháp; không mệt mỏi ngày đêm, tôi đã chứng ngộ được sự vắng lặng.
‘‘Ajjhattañca bahiddhā ca, ye me vijjiṃsu † āsavā;
Sabbe āsuṃ samucchinnā, na ca uppajjare puna.
“The taints that were in me, both internal and external, were all utterly cut off, and do not arise again.”
Những lậu hoặc nào đã có nơi tôi, cả bên trong lẫn bên ngoài, tất cả chúng đã được đoạn trừ, và không còn sanh khởi trở lại nữa.
‘‘Pariyantakataṃ dukkhaṃ, carimoyaṃ samussayo;
Jātimaraṇasaṃsāro, natthidāni punabbhavo’’ti.
“Suffering has been brought to an end, this is the final body; the wandering in birth and death is over, there is now no renewed existence.”
Khổ đau đã được chấm dứt, đây là thân thể cuối cùng; vòng luân hồi sanh tử, nay không còn tái sanh nữa.
Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of the accumulation of merit.
Đây là kinh thuộc phần tích lũy (vāsanābhāgiya).
99. Tattha katamaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ?
99. Herein, what is the discourse that partakes of penetration?
99. Trong ấy, kinh nào thuộc phần thâm nhập (nibbedhabhāgiya)?
‘‘Uddhaṃ adho sabbadhi vippamutto, ayaṃ ahasmīti † anānupassī;
Evaṃ vimutto udatāri oghaṃ, atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyā’’ti.
“Released upwards, downwards, and in every way, not contemplating ‘I am this’; thus liberated, he has crossed the flood, never crossed before, for the sake of no renewed existence.”
Được giải thoát ở trên, ở dưới, và ở khắp mọi nơi, không còn quán xét rằng 'đây là ta'; người giải thoát như vậy đã vượt qua bộc lưu chưa từng được vượt qua, vì mục đích không còn tái sanh nữa.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Sīlavato, ānanda, na cetanā † karaṇīyā ‘kinti me avippaṭisāro jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ sīlavato avippaṭisāro jāyeyya. Avippaṭisārinā, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me pāmojjaṃ jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ avippaṭisārino pāmojjaṃ jāyeyya. Pamuditena, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me pīti jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ pamuditassa pīti jāyeyya. Pītimanassa, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me kāyo passambheyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ pītimanassa kāyo passambheyya. Passaddhakāyassa ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kintāhaṃ sukhaṃ vediyeyya’nti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ passaddhakāyo sukhaṃ vediyeyya. Sukhino ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me samādhi jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ sukhino samādhi jāyeyya. Samāhitassa ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kintāhaṃ yathābhūtaṃ pajāneyya’nti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ samāhito yathābhūtaṃ pajāneyya. Yathābhūtaṃ pajānatā, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me nibbidā jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ yathābhūtaṃ pajānanto nibbindeyya. Nibbindantena, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me virāgo jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ nibbindanto virajjeyya. Virajjantena ānanda na cetanā karaṇīyā ‘kinti me vimutti jāyeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ virajjanto vimucceyya. Vimuttena, ānanda, na cetanā karaṇīyā ‘kinti me vimuttiñāṇadassanaṃ uppajjeyyā’ti. Dhammatā esā, ānanda, yaṃ vimuttassa vimuttiñāṇadassanaṃ uppajjeyyā’’ti.
“Ānanda, for one who is virtuous, there is no need to form an intention, ‘May I be free from remorse!’ It is the nature of things, Ānanda, that for a virtuous person, freedom from remorse arises. For one free from remorse, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May gladness arise in me!’ It is the nature of things, Ānanda, that for one free from remorse, gladness arises. For one who is gladdened, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May rapture arise in me!’ It is the nature of things, Ānanda, that for one who is gladdened, rapture arises. For one whose mind is filled with rapture, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May my body be tranquil!’ It is the nature of things, Ānanda, that for one whose mind is filled with rapture, the body becomes tranquil. For one with a tranquil body, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May I feel happiness!’ It is the nature of things, Ānanda, that one with a tranquil body feels happiness. For one who is happy, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May my mind become concentrated!’ It is the nature of things, Ānanda, that the mind of one who is happy becomes concentrated. For one who is concentrated, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May I know and see things as they truly are!’ It is the nature of things, Ānanda, that one who is concentrated knows and sees things as they truly are. For one who knows and sees things as they truly are, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May disenchantment arise in me!’ It is the nature of things, Ānanda, that one who knows and sees things as they truly are becomes disenchanted. For one who is disenchanted, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May dispassion arise in me!’ It is the nature of things, Ānanda, that one who is disenchanted becomes dispassionate. For one who is dispassionate, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May I be liberated!’ It is the nature of things, Ānanda, that one who is dispassionate is liberated. For one who is liberated, Ānanda, there is no need to form an intention, ‘May the knowledge and vision of liberation arise in me!’ It is the nature of things, Ānanda, that for one who is liberated, the knowledge and vision of liberation arises.”
Này Ānanda, người có giới không cần phải tác ý: 'Mong rằng sự không hối hận sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng sự không hối hận sanh khởi cho người có giới. Này Ānanda, người không hối hận không cần phải tác ý: 'Mong rằng sự hân hoan sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng sự hân hoan sanh khởi cho người không hối hận. Này Ānanda, người hân hoan không cần phải tác ý: 'Mong rằng hỷ sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng hỷ sanh khởi cho người hân hoan. Này Ānanda, người có tâm hỷ không cần phải tác ý: 'Mong rằng thân của ta sẽ được khinh an!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng thân của người có tâm hỷ được khinh an. Này Ānanda, người có thân khinh an không cần phải tác ý: 'Mong rằng ta sẽ cảm thọ lạc!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng người có thân khinh an cảm thọ lạc. Này Ānanda, người có lạc không cần phải tác ý: 'Mong rằng tâm của ta sẽ được định tĩnh!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng tâm của người có lạc được định tĩnh. Này Ānanda, người có tâm định tĩnh không cần phải tác ý: 'Mong rằng ta sẽ biết như thật!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng người có tâm định tĩnh biết như thật. Này Ānanda, người biết như thật không cần phải tác ý: 'Mong rằng sự nhàm chán sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng người biết như thật sẽ nhàm chán. Này Ānanda, người nhàm chán không cần phải tác ý: 'Mong rằng sự ly tham sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng người nhàm chán sẽ ly tham. Này Ānanda, người ly tham không cần phải tác ý: 'Mong rằng sự giải thoát sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng người ly tham được giải thoát. Này Ānanda, người đã giải thoát không cần phải tác ý: 'Mong rằng tri kiến giải thoát sẽ sanh khởi cho ta!' Này Ānanda, đó là pháp tánh rằng tri kiến giải thoát sanh khởi cho người đã giải thoát.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
100.
100.
100.
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā, ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā, yato pajānāti sahetudhamma’’nti.
“When, indeed, phenomena become manifest to the ardent, meditative brahmin, then all his doubts vanish, because he understands the phenomenon together with its cause.”
Khi các pháp hiện khởi một cách rõ ràng đến vị Bà-la-môn đang tinh cần thiền định; khi ấy, tất cả các hoài nghi của vị ấy đều tan biến, bởi vì vị ấy tuệ tri pháp cùng với nhân của nó.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā, ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā, yato khayaṃ paccayānaṃ avedī’’ti.
“When, indeed, phenomena become manifest to the ardent, meditative brahmin, then all his doubts vanish, because he has known the destruction of conditions.”
Khi các pháp hiện khởi một cách rõ ràng đến vị Bà-la-môn đang tinh cần thiền định; khi ấy, tất cả các hoài nghi của vị ấy đều tan biến, bởi vì vị ấy đã biết rõ sự đoạn diệt của các duyên.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Kiṃnu † kujjhasi mā kujjhi, akkodho tissa te varaṃ;
Kodhamānamakkhavinayatthaṃ hi, tissa brahmacariyaṃ vussatī’’ti.
“Why are you angry? Do not be angry, Tissa. Non-anger is better for you. Indeed, Tissa, the holy life is lived for the purpose of training in and dispelling anger, conceit, and contempt.”
Này Tissa, tại sao ngươi lại phẫn nộ? Chớ có phẫn nộ. Này Tissa, không phẫn nộ là điều tốt hơn cho ngươi. Này Tissa, quả thật, phạm hạnh được sống là vì mục đích điều phục sân, mạn, và sự gièm pha.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Kadāhaṃ nandaṃ passeyyaṃ, āraññaṃ † paṃsukūlikaṃ;
Aññātuñchena yāpentaṃ, kāmesu anapekkhina’’nti.
“When shall I see Nanda, a forest-dweller and a rag-robe wearer, sustaining himself by gleaning alms from unknown families, unconcerned with sensual pleasures?”
Khi nào tôi sẽ được thấy Nanda, vị sống trong rừng, mặc y phấn tảo, nuôi mạng bằng cách khất thực không phân biệt, không còn luyến ái các dục?
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Kiṃsu chetvā sukhaṃ seti, kiṃsu chetvā na socati;
Kissassu † ekadhammassa, vadhaṃ rocesi gotamāti.
“What, having cut off, does one sleep happily? What, having cut off, does one not grieve? Of the killing of what single thing, Gotama, do you approve?”
Thưa ngài Gotama, giết bỏ điều gì được ngủ an lạc? Giết bỏ điều gì không còn sầu muộn? Ngài tán thành việc giết bỏ pháp duy nhất nào?
‘‘Kodhaṃ chetvā sukhaṃ seti, kodhaṃ chetvā na socati;
Kodhassa visamūlassa, madhuraggassa brāhmaṇa;
Vadhaṃ ariyā pasaṃsanti, taṃ hi chetvā na socatī’’ti.
“Having cut off anger, one sleeps happily; having cut off anger, one does not grieve. The noble ones praise the killing of anger, which has a poisonous root and a sweet tip, O brahmin; for having cut that off, one does not grieve.”
Này Bà-la-môn, giết bỏ sân hận được ngủ an lạc, giết bỏ sân hận không còn sầu muộn. Các bậc Thánh tán thán việc giết bỏ sân hận, thứ có gốc rễ độc hại và ngọn đầu ngọt ngào; quả thật, giết bỏ nó rồi thì không còn sầu muộn.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Kiṃsu hane uppatitaṃ, kiṃsu jātaṃ vinodaye;
Kiñcassu pajahe dhīro, kissābhisamayo sukho.
“What, having arisen, should one kill? What, having been born, should one dispel? What should the wise one abandon? The realization of what is happiness?”
Nên giết bỏ điều gì đã khởi lên? Nên xua tan điều gì đã sanh ra? Bậc trí nên từ bỏ điều gì? Sự chứng ngộ điều gì là an lạc?
‘‘Kodhaṃ hane uppatitaṃ, rāgaṃ jātaṃ vinodaye;
Avijjaṃ pajahe dhīro, saccābhisamayo sukho’’ti.
“Anger, having arisen, one should kill; lust, having been born, one should dispel. The wise one should abandon ignorance. The realization of the Truths is happiness.”
Nên giết bỏ sân hận đã khởi lên, nên xua tan tham ái đã sanh ra. Bậc trí nên từ bỏ vô minh. Sự chứng ngộ các chân lý là an lạc.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This discourse partakes of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
101.
101.
101.
‘‘Sattiyā viya omaṭṭho, ḍayhamānova † matthake;
Kāmarāgappahānāya, sato bhikkhu paribbaje.
“As if struck by a spear, as if one’s head were ablaze, a mindful bhikkhu should wander forth for the abandoning of sensual lust.”
Như thể bị đâm bởi ngọn giáo, như thể đầu đang bốc cháy, vị Tỳ khưu chánh niệm nên du hành để đoạn trừ tham ái đối với các dục.
‘‘Sattiyā viya omaṭṭho, ḍayhamānova matthake;
Sakkāyadiṭṭhippahānāya, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
“As if struck by a spear, as if one’s head were ablaze, a mindful bhikkhu should wander forth for the abandoning of personality-view.”
Như thể bị đâm bởi ngọn giáo, như thể đầu đang bốc cháy, vị Tỳ khưu chánh niệm nên du hành để đoạn trừ thân kiến.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Sabbe khayantā nicayā, patanantā samussayā;
Sabbesaṃ maraṇamāgamma, sabbesaṃ jīvitamaddhuvaṃ;
Etaṃ bhayaṃ maraṇe † pekkhamāno, puññāni kayirātha sukhāvahāni.
“All accumulations have destruction as their end; all that is raised up has falling as its end. For all beings, upon reaching death, life is impermanent. Contemplating this danger that is death, one should perform meritorious deeds that bring happiness.
Tất cả các sự tích lũy đều có sự tiêu tan là tận cùng, tất cả các sự xây dựng đều có sự sụp đổ là tận cùng. Do đạt đến sự chết, mạng sống của tất cả chúng sanh là không bền vững. Trong khi nhận thấy sự nguy hiểm này ở trong sự chết, các vị nên làm các phước thiện, là những thứ mang lại an lạc.
‘‘Sabbe khayantā nicayā, patanantā samussayā;
Sabbesaṃ maraṇamāgamma, sabbesaṃ jīvitamaddhuvaṃ;
Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno, lokāmisaṃ pajahe santipekkho’’ti.
“All accumulations have destruction as their end; all that is raised up has falling as its end. For all beings, upon reaching death, life is impermanent. Contemplating this danger that is death, looking towards peace, one should abandon worldly attachments.”
Tất cả các sự tích lũy đều có sự tiêu tan là tận cùng, tất cả các sự xây dựng đều có sự sụp đổ là tận cùng. Do đạt đến sự chết, mạng sống của tất cả chúng sanh là không bền vững. Trong khi nhận thấy sự nguy hiểm này ở trong sự chết, trong khi nhìn đến sự tịch tịnh, vị ấy nên từ bỏ các mồi nhử của thế gian.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
‘‘Sukhaṃ sayanti munayo, na te socanti māvidha;
Yesaṃ jhānarataṃ cittaṃ, paññavā susamāhito;
Āraddhavīriyo pahitatto, oghaṃ tarati duttaraṃ.
“Sages sleep happily; they do not grieve. The wise one whose mind delights in jhāna, being well-concentrated, with energy exerted and mind sent forth, crosses the flood that is difficult to cross.
Các bậc ẩn sĩ ngủ một cách an lạc, các vị ấy không sầu muộn ở đây. Những vị có tâm thích thú trong thiền, bậc trí tuệ, có định tâm vững chắc; Bậc ẩn sĩ có tinh tấn đã được khởi xướng, có tâm đã được hướng đến, vượt qua bộc lưu khó vượt qua.
‘‘Virato kāmasaññāya, sabbasaṃyojanātīto †;
Nandibhavaparikkhīṇo †, so gambhīre na sīdatī’’ti.
“Abstaining from sensual perception, having gone beyond all fetters, with delight in existence exhausted, that sage does not sink in the deep.”
Vị đã từ bỏ tưởng về dục, đã vượt qua tất cả các kiết sử, đã đoạn tận tham ái trong sự tái sanh, vị ẩn sĩ ấy không bị chìm đắm trong (biển cả sanh tử) sâu thẳm.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
‘‘Saddahāno arahataṃ, dhammaṃ nibbānapattiyā;
Sussūsaṃ labhate paññaṃ, appamatto vicakkhaṇo.
“Having faith in the Dhamma of the Arahants for the attainment of Nibbāna, being eager to listen, heedful, and discerning, one obtains wisdom.
Người có tín tâm vào Pháp của các bậc A-la-hán để chứng đắc Niết-bàn, người lắng nghe kỹ lưỡng, không dể duôi, có sự suy xét, đạt được trí tuệ.
Patirūpakārī dhuravā, uṭṭhātā vindate dhanaṃ;
Saccena kittiṃ pappoti, dadaṃ mittāni ganthati;
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, evaṃ † pecca na socatī’’ti.
“One who acts fittingly, is diligent, and energetic finds wealth; through truth, one obtains renown; by giving, one binds friends. Thus, having passed away from this world to the next, one does not grieve.”
Người thường làm điều thích hợp, người mang gánh nặng, người siêng năng, tìm được tài sản. Bằng sự thật, vị ấy đạt được danh tiếng; người cho đi, kết giao được bạn bè. Như vậy, sau khi từ đời này ra đi, vị ấy không sầu muộn.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
‘‘Sabbaganthapahīnassa, vippamuttassa te sato;
Samaṇassa na taṃ sādhu, yadaññamanusāsasīti.
“For a contemplative who has abandoned all ties and is completely liberated, it is not good that you admonish another with a corrupt mind.”
Đối với vị Sa-môn đã từ bỏ tất cả các trói buộc, đã được giải thoát, có chánh niệm, việc mà ông giáo huấn người khác là không tốt.
‘‘Yena kenaci vaṇṇena, saṃvāso sakka jāyati;
Na taṃ arahati sappañño, manasā anukampituṃ †.
“O Sakka, by whatever reason an association arises, a wise person ought to have compassion in mind for that person.
Này Sakka, bằng bất cứ lý do nào mà sự chung sống sanh khởi, người có trí tuệ không nên không có lòng thương xót trong tâm đối với người ấy.
‘‘Manasā ce pasannena, yadaññamanusāsati;
Na tena hoti saṃyutto, yānukampā anuddayā’’ti.
“If with a serene mind one instructs another, one is not bound by that act; rather, one is connected through compassion and loving-kindness.”
Nếu với tâm trong sạch mà vị ấy giáo huấn người khác, vị ấy không bị trói buộc bởi điều đó, vì đó là lòng bi mẫn và thương xót.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
102.
102.
102.
‘‘Rāgo ca doso ca kutonidānā, aratī ratī † lomahaṃso kutojā;
Kuto samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajanti.
“From what do lust and hatred have their source? Discontent, delight, and horripilation—from what are they born? Arising from where do thoughts of the mind release the wholesome mind, like boys releasing a crow?
Tham và sân có nguyên nhân từ đâu? Sự không hoan hỷ, sự hoan hỷ, và sự dựng tóc gáy sanh từ đâu? Các tầm của tâm sanh khởi từ đâu rồi phóng đi tâm, như những đứa trẻ thả con quạ?
‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā, aratī ratī lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajanti.
“Lust and hatred have their source from here; discontent, delight, and horripilation are born from here. Arising from here, thoughts of the mind release the wholesome mind, like boys releasing a crow.
Tham và sân có nguyên nhân từ đây. Sự không hoan hỷ, sự hoan hỷ, và sự dựng tóc gáy sanh từ đây. Các tầm của tâm sanh khởi từ đây rồi phóng đi tâm, như những đứa trẻ thả con quạ.
‘‘Snehajā attasambhūtā, nigrodhasseva khandhajā;
Puthu visattā kāmesu, māluvāva vitatā vane.
“Born of craving, self-originated, like the shoots from a banyan's trunk; widely attached to sensual pleasures, like a māluvā creeper spread in the forest.
Chúng sanh từ ái luyến, sanh từ tự thân, như những gì sanh từ thân cây đa. Chúng dính mắc nhiều vào các dục, như dây leo māluvā lan rộng trong rừng.
‘‘Ye naṃ pajānanti yatonidānaṃ, te naṃ vinodenti suṇohi yakkha;
Te duttaraṃ oghamimaṃ taranti, atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyā’’ti.
“Those who understand it and from what it originates, they dispel it, listen, O yakkha. They cross this flood so hard to cross, never crossed before, for the sake of no-more-becoming.”
Này Dạ-xoa, hãy lắng nghe. Những ai biết rõ nó có nguyên nhân từ đâu, những người ấy loại trừ nó. Họ vượt qua bộc lưu này, khó vượt qua, chưa từng được vượt qua trước đây, để không còn tái sanh.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
‘‘Dukkaraṃ bhagavā sudukkaraṃ bhagavā’’ti;
“It is difficult, Blessed One, very difficult, Blessed One.”
Bạch Thế Tôn, thật khó làm! Bạch Thế Tôn, thật vô cùng khó làm!
‘‘Dukkaraṃ vāpi karonti, [kāmadāti bhagavā]
Sekkhā sīlasamāhitā;
Ṭhitattā anagāriyupetassa, tuṭṭhi hoti sukhāvahā’’ti.
“Though it is difficult, the trainees endowed with virtue and concentration do it. For one with a steadfast nature, endowed with the homeless life, contentment brings happiness.”
Dù là việc khó làm, các bậc hữu học có giới và định, có tâm vững vàng, vẫn làm được. Đối với người sống đời không gia đình, sự tri túc mang lại an lạc.
‘‘Dullabhā † bhagavā yadidaṃ tuṭṭhī’’ti;
‘‘Dullabhaṃ vāpi labhanti, [kāmadāti bhagavā]
Cittavūpasame ratā;
Yesaṃ divā ca ratto ca, bhāvanāya rato mano’’ti.
“Blessed One, this contentment is difficult to obtain.” “Though difficult to obtain, they obtain it, delighting in the calming of the mind—they whose minds by day and by night delight in meditation.”
Bạch Thế Tôn, sự tri túc này thật khó đạt được! Dù là khó đạt được, họ vẫn đạt được, những vị thích thú trong sự an tịnh của tâm, những vị có tâm thích thú trong sự tu tập cả ngày lẫn đêm.
‘‘Dussamādahaṃ bhagavā yadidaṃ citta’’nti;
‘‘Dussamādahaṃ vāpi samādahanti, [kāmadāti bhagavā]
Indriyūpasame ratā;
Te chetvā maccuno jālaṃ, ariyā gacchanti kāmadā’’ti.
“Blessed One, this mind is difficult to concentrate.” “Though difficult to concentrate, they concentrate it, delighting in the calming of the faculties. Having cut the net of Death, the noble ones go, O Kāmada.”
Bạch Thế Tôn, tâm này thật khó định tĩnh! Dù là khó định tĩnh, họ vẫn định tĩnh được, những vị thích thú trong sự an tịnh của các căn. Này Kāmadā, các bậc Thánh ấy, sau khi cắt đứt lưới của thần chết, ra đi.
‘‘Duggamo bhagavā visamo maggo’’ti;
‘‘Duggame visame vāpi, ariyā gacchanti kāmada †;
Anariyā visame magge, papatanti avaṃsirā;
Ariyānaṃ samo maggo, ariyā hi visame samā’’ti.
“The path, Blessed One, is difficult and uneven.” “Though difficult and uneven, the noble ones travel it, O Kāmada. The non-noble fall headlong on the uneven path. For the noble ones, that path is even; indeed, the noble ones are even amidst the uneven.”
Bạch Thế Tôn, con đường khó đi, không bằng phẳng! Này Kāmadā, dù trên con đường khó đi, không bằng phẳng, các bậc Thánh vẫn đi. Những người không phải bậc Thánh trên con đường không bằng phẳng thì ngã nhào, đầu chúi xuống. Đối với các bậc Thánh, con đường ấy bằng phẳng; vì rằng các bậc Thánh thì bằng phẳng trong nơi không bằng phẳng.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
103.
103.
103.
‘‘Idaṃ hi † taṃ jetavanaṃ, isisaṅghanisevitaṃ;
Āvutthaṃ dhammarājena, pītisañjananaṃ mama.
“This is indeed that Jetavana, frequented by the community of sages, dwelt in by the King of Dhamma, bringing forth joy in me.
Đây chính là khu vườn Jetavana ấy, được hội chúng các bậc ẩn sĩ thường lui tới, được Pháp Vương trú ngụ, là nơi làm phát sanh hỷ lạc cho tôi.
‘‘Kammaṃ vijjā ca dhammo ca, sīlaṃ jīvitamuttamaṃ;
Etena maccā sujjhanti, na gottena dhanena vā.
“Action, knowledge, and Dhamma, virtue, and the supreme life—by these are mortals purified, not by clan or by wealth.
Nghiệp, minh và pháp, giới và đời sống tối thượng; nhờ vào những điều này mà chúng sanh được thanh tịnh, không phải nhờ vào dòng dõi hay tài sản.
‘‘Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Yoniso vicine dhammaṃ, evaṃ tattha visujjhati.
“Therefore, a wise person, seeing their own welfare, should properly investigate the Dhamma; thus is one purified therein.
Do vậy, người hiền trí, trong khi thấy rõ lợi ích của mình, nên như lý tác ý suy xét Pháp; như vậy, vị ấy được thanh tịnh ở nơi đó.
‘‘Sāriputtova paññāya, sīlena upasamena ca;
Yopi pāraṅgato bhikkhu, etāvaparamo siyā’’ti.
“Like Sāriputta in wisdom, virtue, and calm—whichever bhikkhu has gone to the far shore would be thus supreme.”
Về trí tuệ, về giới, và về sự an tịnh, giống như ngài Sāriputta. Vị Tỳ-khưu nào đã đến bờ bên kia, vị ấy chỉ có thể tối đa là dường ấy.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là bài kinh thuộc về phần thấu triệt.
‘‘Atītaṃ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṃ;
Yadatītaṃ pahīnaṃ † taṃ, appattañca anāgataṃ.
“One should not pursue the past, nor long for the future. For that which is past is abandoned, and the future is not yet attained.
Không nên truy tìm quá khứ, không nên mong đợi tương lai. Cái gì đã là quá khứ, cái đó đã được từ bỏ; và tương lai thì chưa đến.
‘‘Paccuppannañca yo dhammaṃ, tattha tattha vipassati;
Asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, taṃ vidvā manubrūhaye.
“Whoever sees with insight whatever dhamma is present, right there and then, as something unshaken and unperturbed—that insight a wise person should cultivate.
Vị nào quán thấy pháp hiện tại, ngay tại nơi ấy; không bị lay chuyển, không bị rúng động, người có trí nên làm cho tuệ quán ấy được tăng trưởng.
‘‘Ajjeva kiccamātappaṃ †, ko jaññā maraṇaṃ suve;
Na hi no saṅgaraṃ tena, mahāsenena maccunā.
“Today itself the task of ardency should be done. Who knows if death will come tomorrow? For indeed, there is no agreement for us with that King of Death and his great army.
Nên tinh cần ngay hôm nay, ai biết được cái chết ngày mai? Chắc chắn chúng ta không có hẹn ước gì với thần chết cùng với đại quân của nó.
‘‘Evaṃ vihāriṃ ātāpiṃ, ahorattamatanditaṃ;
Taṃ ve ‘‘bhaddekaratto’’ti, santo ācikkhate munī’’ti.
“One who dwells thus ardently, untiring day and night—that one, truly, the peaceful sage declares to be ‘one with an excellent night.’”
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không mệt mỏi ngày đêm, bậc thánh nhân tịch tịnh thật vậy gọi người ấy là ‘người có một đêm tốt lành’.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
‘‘Cattārimāni, bhikkhave, sacchikātabbāni. Katamāni cattāri? Atthi, bhikkhave, dhammā cakkhunā paññāya ca sacchikātabbā, atthi dhammā satiyā paññāya ca sacchikātabbā, atthi dhammā kāyena paññāya ca sacchikātabbā, atthi dhammā paññāya veditabbā, paññāya ca sacchikātabbā.
“Monks, these four things are to be realized. What four? There are, monks, dhammas to be realized by the eye and by wisdom; there are dhammas to be realized by mindfulness and by wisdom; there are dhammas to be realized by the mental body and by wisdom; there are dhammas to be known by wisdom and to be realized by wisdom.
Này các Tỳ khưu, có bốn điều này cần được chứng ngộ. Bốn điều là gì? Này các Tỳ khưu, có những pháp cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ, có những pháp cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ, có những pháp cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ, có những pháp cần được biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ.
‘‘Katame ca, bhikkhave, dhammā cakkhunā paññāya ca sacchikātabbā? Dibbacakkhu suvisuddhaṃ atikkantamānusakaṃ cakkhunā paññāya ca sacchikātabbaṃ.
“And what, monks, are the dhammas to be realized by the eye and by wisdom? The divine eye, especially purified and surpassing the human, is to be realized by the eye and by wisdom.
Và này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ? Thiên nhãn hoàn toàn thanh tịnh, vượt khỏi mắt người thường, cần được chứng ngộ bằng mắt và bằng tuệ.
‘‘Katame ca, bhikkhave, dhammā satiyā paññāya ca sacchikātabbā? Pubbenivāsānussati satiyā paññāya ca sacchikātabbā.
“And what, monks, are the dhammas to be realized by mindfulness and by wisdom? The recollection of past lives is to be realized by mindfulness and by wisdom.
Và này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ? Túc mạng tùy niệm cần được chứng ngộ bằng niệm và bằng tuệ.
‘‘Katame ca, bhikkhave, dhammā kāyena paññāya ca sacchikātabbā? Iddhividhā nirodhā kāyena paññāya ca sacchikātabbā.
“And what, monks, are the dhammas to be realized by the mental body and by wisdom? The various kinds of psychic powers and the attainment of cessation are to be realized by the mental body and by wisdom.
Và này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ? Các loại thần thông và Diệt thọ tưởng định cần được chứng ngộ bằng thân và bằng tuệ.
‘‘Katame ca, bhikkhave, dhammā paññāya veditabbā, paññāya sacchikātabbā? Āsavānaṃ khaye ñāṇaṃ paññāya veditabbaṃ, paññāya ca sacchikātabba’’nti.
And what, monks, are the dhammas to be known by wisdom and to be realized by wisdom? The knowledge in the destruction of the taints is to be known by wisdom and to be realized by wisdom.
Và này các Tỳ khưu, những pháp nào cần được biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ? Trí về sự đoạn tận các lậu hoặc cần được biết bằng tuệ và cần được chứng ngộ bằng tuệ.
Idaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of penetration.
Đây là kinh thuộc phần thâm nhập.
104. Tattha katamaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ?
104. Among these, which is the discourse belonging to the portion of the one beyond training?
104. Trong ấy, kinh nào là kinh thuộc phần Vô học?
‘‘Yassa selūpamaṃ cittaṃ, ṭhitaṃ nānupakampati;
Virattaṃ rajanīyesu, kopaneyye na kuppati;
Yassevaṃ bhāvitaṃ cittaṃ, kuto naṃ † dukkhamessatī’’ti.
Whose mind is like a solid rock, established, unshaken; dispassionate towards things that entice, and unangered by things that provoke anger. For one whose mind is thus developed, from where will suffering come?
Tâm của vị nào vững chắc như tảng đá, không rung động; ly tham đối với các pháp đáng tham ái, không sân hận đối với các pháp đáng sân hận; tâm của vị nào được tu tập như vậy, khổ đau từ đâu sẽ đến với vị ấy?
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
Āyasmato ca sāriputtassa cārikādasamaṃ veyyākaraṇaṃ kātabbanti.
And the tenth exposition on wandering of the Venerable Sāriputta is to be made.
Nên thực hiện bài ký thuyết thứ mười về du hành của Tôn giả Sāriputta.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Yo brāhmaṇo bāhitapāpadhammo, nihuṃhuṅko † nikkasāvo yatatto;
Vedantagū vūsitabrahmacariyo, dhammena so brahmavādaṃ vadeyya;
Yassussadā natthi kuhiñci loke’’ti.
That brahmin who has discarded evil qualities, is free from arrogance, free from stains, and self-controlled; who has reached the end of knowledge and has lived the holy life—he may rightly speak the brahmin's claim, for whom there are no attachments anywhere in the world.
Vị Bà-la-môn nào đã loại trừ các ác pháp, không kiêu mạn, không cấu uế, tự chế ngự; đã đạt đến cứu cánh của trí tuệ, đã sống đời phạm hạnh, vị ấy có thể nói lời nói của Bà-la-môn một cách đúng pháp; vị nào không có sự kiêu căng bất cứ nơi đâu trong đời.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Bāhitvā pāpake dhamme, ye caranti sadā satā;
Khīṇasaṃyojanā buddhā, te ve lokasmi † brāhmaṇā’’ti.
Those awakened ones who, having discarded evil qualities, fare ever mindfully, their fetters destroyed—they, truly, are brahmins in the world.
Những vị nào sau khi đã loại trừ các ác pháp, luôn hành xử với chánh niệm; những bậc giác ngộ đã đoạn tận các kiết sử, chính những vị ấy trên đời là những vị Bà-la-môn.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Yattha āpo ca pathavī, tejo vāyo na gādhati;
Na tattha sukkā jotanti, ādicco nappakāsati;
Na tattha candimā bhāti, tamo tattha na vijjati.
Where water and earth, fire and air do not gain a footing; there the stars do not shine, the sun does not appear; there the moon does not gleam, and darkness is not found.
Nơi nào nước, đất, lửa, gió không tồn tại; nơi ấy các vì sao không chiếu sáng, mặt trời không tỏa sáng; nơi ấy mặt trăng không soi rọi, bóng tối nơi ấy không hiện hữu.
‘‘Yadā ca attanāvedi †, muni monena brāhmaṇo;
Atha rūpā arūpā ca, sukhadukkhā pamuccatī’’ti.
And when the sage, the brahmin, has known for himself through sagely knowledge, then from form and the formless, from pleasure and pain, he is freed.
Và khi nào vị Bà-la-môn, bậc ẩn sĩ, tự mình biết được bằng trí tuệ; khi ấy, vị ấy được giải thoát khỏi sắc và vô sắc, khỏi lạc và khổ.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Yadā sakesu † dhammesu, pāragū hoti brāhmaṇo;
Atha etaṃ pisācañca, pakkulañcātivattatī’’ti.
When a brahmin, in his own dhammas, becomes one who has gone to the far shore, then he transcends this demon and this impurity.
Khi nào vị Bà-la-môn đạt đến bờ kia trong các pháp của chính mình; khi ấy, vị ấy vượt qua con quỷ này và sự ô uế này.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Nābhinandati āyantiṃ †, pakkamantiṃ na socati;
Saṅgā saṅgāmajiṃ muttaṃ, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa’’nti.
He does not delight in what comes, nor sorrow over what departs; freed from attachment, a conqueror of the battle—him I call a brahmin.
Không hoan hỷ khi đến, không sầu muộn khi đi; người đã giải thoát khỏi sự chấp thủ, người đã chiến thắng trận chiến, Ta gọi người ấy là Bà-la-môn.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Na udakena sucī † hoti, bahvettha nhāyatī † jano;
Yamhi saccañca dhammo ca, so sucī so ca brāhmaṇo’’ti.
One does not become pure by water, though many people bathe here; he in whom there is truth and Dhamma, he is pure, and he is a brahmin.
Không phải thanh tịnh bằng nước, dù nhiều người tắm ở đây; người nào có sự thật và chánh pháp, người ấy là thanh tịnh, và người ấy là Bà-la-môn.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā, ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Vidhūpayaṃ tiṭṭhati mārasenaṃ, sūriyova obhāsayamantalikkha’’nti.
When, indeed, the dhammas become manifest to the ardent, meditating brahmin, he stands destroying Māra's army, like the sun illuminating the sky.
Khi nào các pháp hiện khởi đối với vị Bà-la-môn đang nhiệt tâm thiền định; vị ấy đứng vững, xua tan đội quân của Ma vương, như mặt trời chiếu sáng bầu trời.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc phần Vô học.
‘‘Santindriyaṃ passatha iriyamānaṃ, tevijjapattaṃ apahānadhammaṃ;
Sabbāni yogāni upātivatto, akiñcano iriyati paṃsukūliko.
Look at him moving with calmed senses, one who has attained the three knowledges, possessing a nature that is not to be abandoned. Having overcome all yokes, without defiling cares, he moves about wearing a rag-robe.
Hãy nhìn xem vị đang đi đứng, có các căn tịch tịnh, đã đạt được tam minh, có pháp bất thối chuyển. Vị ấy đã vượt qua tất cả các ách phược, không còn phiền não, mặc y phấn tảo mà đi đứng.
‘‘Taṃ devatā sambahulā uḷārā, brahmavimānaṃ upasaṅkamitvā;
Ājāniyaṃ jātibalaṃ nisedhaṃ, nidha namassanti pasannacittā.
Many noble deities, having approached the Brahma-mansion, with serene minds pay homage here to that thoroughbred man who rejects the power of birth.
Nhiều vị chư thiên cao quý, sau khi đi đến cung trời Phạm thiên, với tâm tịnh tín đã đảnh lễ ở đây vị thiện thệ ấy, người đã ngăn trừ sức mạnh của dòng dõi.
‘‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama;
Yassa te nābhijānāma, kiṃ tvaṃ nissāya jhāyasī’’ti.
Homage to you, O thoroughbred of men! Homage to you, O highest of men! We do not know this of you: relying on what do you meditate?
Kính lễ ngài, bậc thiện thệ! Kính lễ ngài, bậc tối thượng nhân! Về ngài, chúng tôi không biết được, ngài y cứ vào điều gì mà thiền định?
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc về phần Vô học.
‘‘Sahāyā vatime bhikkhū, cirarattaṃ sametikā;
Sameti nesaṃ saddhammo, dhamme buddhappavedite’’.
Indeed, these monks are companions, associated for a long time. The good Dhamma unites them in the Dhamma proclaimed by the Buddha.
Các vị Tỳ khưu này thật là những người bạn, đã hội họp với nhau từ lâu. Chánh pháp của các vị ấy hòa hợp trong Pháp do đức Phật tuyên thuyết.
‘‘Suvinītā kappinena, dhamme ariyappavedite;
Dhārenti antimaṃ dehaṃ, jetvā māraṃ savāhini’’nti †.
Well-trained by Kappina in the Dhamma proclaimed by the Noble Ones, having conquered Māra with his army, they bear their final body.
Được khéo huấn luyện bởi ngài Kappina trong Pháp do bậc Thánh tuyên thuyết, sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quân đội, các vị ấy mang thân cuối cùng.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc về phần Vô học.
‘‘Nayidaṃ sithilamārabbha, nayidaṃ appena thāmasā;
Nibbānaṃ adhigantabbaṃ, sabbadukkhappamocanaṃ †.
This Nibbāna, the release from all bonds, is not to be attained by undertaking it with slack effort; it is not to be attained with little strength.
Niết-bàn, sự giải thoát khỏi mọi khổ đau, không thể đạt được bằng sự tinh tấn lơi lỏng này, không phải bằng sức lực nhỏ bé này.
‘‘Ayañca daharo bhikkhu, ayamuttamapuriso;
Dhāreti antimaṃ dehaṃ, jetvā māraṃ savāhini’’nti.
This young monk, this highest of men, having conquered Māra with his army, bears the final body.
Và vị Tỳ khưu trẻ tuổi này, vị tối thượng nhân này, sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quân đội, đang mang thân cuối cùng.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc về phần Vô học.
‘‘Dubbaṇṇako lūkhacīvaro, mogharājā sadā sato;
Khīṇāsavo visaṃyutto, katakicco anāsavo.
Of unattractive complexion, wearing coarse robes, Mogharājā is always mindful. His taints are destroyed, he is disjoined, his task is done, and he is without taints.
Ngài Mogharājā có dung sắc xấu xí, mặc y thô xấu, luôn luôn chánh niệm; đã tận trừ các lậu hoặc, đã được giải thoát, việc cần làm đã làm xong, không còn lậu hoặc.
‘‘Tevijjo iddhippatto ca, cetopariyakovido †;
Dhāreti antimaṃ dehaṃ, jetvā māraṃ savāhini’’nti.
Possessing the three knowledges, having attained psychic power, and skilled in the knowledge of others' minds, having conquered Māra with his army, he bears the final body.
Là bậc tam minh, đã đạt được thần thông, và thông suốt tha tâm trí; sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quân đội, vị ấy mang thân cuối cùng.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc về phần Vô học.
105. ‘‘Tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto sammāsambuddhoti vuccati. Bhikkhupi, bhikkhave, paññāvimutto rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto paññāvimuttoti vuccati.
105. Monks, the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, through disenchantment, dispassion, and cessation towards form, is liberated without clinging; he is called the Perfectly Self-Enlightened One. A monk, too, monks, who is liberated by wisdom, through disenchantment, dispassion, and cessation towards form, is liberated without clinging; he is called 'liberated by wisdom'.
105. Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc mà giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tuệ giải thoát cũng do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc mà giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc tuệ giải thoát.
‘‘Tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho vedanāya…pe… saññāya…pe… saṅkhārānaṃ…pe… viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto sammāsambuddhoti vuccati. Bhikkhupi, bhikkhave, paññāvimutto viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto paññāvimuttoti vuccati.
Monks, the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, through disenchantment, dispassion, and cessation towards feeling… perception… formations… consciousness, is liberated without clinging; he is called the Perfectly Self-Enlightened One. A monk, too, monks, who is liberated by wisdom, through disenchantment, dispassion, and cessation towards consciousness, is liberated without clinging; he is called 'liberated by wisdom'.
Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do nhàm chán... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức mà giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tuệ giải thoát cũng do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức mà giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc tuệ giải thoát.
‘‘Tatra kho, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso † kiṃ nānākaraṇaṃ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa paññāvimuttena bhikkhunāti? Bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā…pe…
In that case, monks, what is the distinction, what is the special quality, what is the difference between the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, and a monk who is liberated by wisdom? 'Venerable sir, our teachings have the Blessed One as their root...'
Vậy thì, này các Tỳ khưu, có sự đặc biệt gì, có sự khác biệt gì, có sự sai khác gì giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và vị Tỳ khưu tuệ giải thoát? Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản... (v.v)...
‘‘Tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido, maggānugā ca, bhikkhave, etarahi sāvakā viharanti pacchāsamannāgatā. Ayaṃ kho, bhikkhave, viseso, ayaṃ adhippayāso, idaṃ nānākaraṇaṃ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa paññāvimuttena bhikkhunā’’ti.
Monks, the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, is the producer of the unarisen path, the generator of the ungenerated path, the declarer of the undeclared path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the one skilled in the path. And now, monks, his disciples dwell following the path, endowed with it afterwards. This, monks, is the distinction, this is the special quality, this is the difference between the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, and a monk who is liberated by wisdom.
Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là người làm cho sanh khởi con đường chưa sanh khởi, là người làm cho phát sanh con đường chưa phát sanh, là người tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết, là người biết đạo, người thấy rõ đạo, người thiện xảo về đạo. Này các Tỳ khưu, hiện nay các vị Thinh văn là những người đi theo con đường, thành tựu sau đó. Này các Tỳ khưu, đây chính là sự đặc biệt, đây là sự khác biệt, đây là sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và vị Tỳ khưu tuệ giải thoát.
Idaṃ asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ.
This is a discourse belonging to the portion of the one beyond training.
Đây là kinh thuộc về phần Vô học.
106. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca suttaṃ?
106. Among these, which is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of latent tendencies?
106. Trong ấy, kinh nào thuộc về phần phiền não và thuộc về phần tu tập?
‘‘Channamativassati †, vivaṭaṃ nātivassati;
Tasmā channaṃ vivaretha, evaṃ taṃ nātivassatī’’ti.
The rain wets one who is covered; it does not wet one who is uncovered. Therefore, uncover that which is covered; thus, the rain will not wet that one.
Mưa làm ướt vật được che đậy, không làm ướt vật được mở ra. Vì vậy, hãy mở ra vật được che đậy, như vậy nó sẽ không bị mưa làm ướt.
‘‘Channamativassatī’’ti saṃkileso, ‘‘vivaṭaṃ nātivassatī’’ti vāsanā, ‘‘tasmā channaṃ vivaretha, evaṃ taṃ nātivassatī’’ti ayaṃ saṃkileso ca vāsanā ca. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca suttaṃ.
‘The rain wets one who is covered’ refers to defilement. ‘It does not wet one who is uncovered’ refers to latent tendency. ‘Therefore, uncover that which is covered; thus, the rain will not wet that one’ refers to both defilement and latent tendency. This is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of latent tendencies.
Câu 'Mưa làm ướt vật được che đậy' là phiền não, câu 'không làm ướt vật được mở ra' là tu tập, câu 'Vì vậy, hãy mở ra vật được che đậy, như vậy nó sẽ không bị mưa làm ướt' là phiền não và tu tập. Đây là kinh thuộc về phần phiền não và thuộc về phần tu tập.
‘‘Cattārome, mahārāja †, puggalā santo saṃvijjamānā lokasmiṃ. Katame cattāro? Tamo tamaparāyaṇo tamo jotiparāyaṇo joti tamaparāyaṇo joti jotiparāyaṇo’’ti. Tattha yo ca puggalo joti tamaparāyaṇo yo ca puggalo tamo tamaparāyaṇo, ime dve puggalā saṃkilesabhāgiyā, yo ca puggalo tamo jotiparāyaṇo yo ca puggalo joti jotiparāyaṇo, ime dve puggalā vāsanābhāgiyā. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca suttaṃ.
Great king, these four persons are found existing in the world. Which four? The one who goes from darkness to darkness, the one who goes from darkness to light, the one who goes from light to darkness, and the one who goes from light to light. Among these, the person who goes from light to darkness and the person who goes from darkness to darkness—these two persons are of the portion of defilement. The person who goes from darkness to light and the person who goes from light to light—these two persons are of the portion of merit-making. This is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of merit-making.
Tâu Đại vương, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng nào? Người từ bóng tối đi vào bóng tối, người từ bóng tối đi ra ánh sáng, người từ ánh sáng đi vào bóng tối, người từ ánh sáng đi ra ánh sáng. Trong ấy, người từ ánh sáng đi vào bóng tối và người từ bóng tối đi vào bóng tối, hai hạng người này thuộc về phần phiền não; người từ bóng tối đi ra ánh sáng và người từ ánh sáng đi ra ánh sáng, hai hạng người này thuộc về phần tu tập. Đây là kinh thuộc về phần phiền não và thuộc về phần tu tập.
Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ?
Among these, which is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of disenchantment?
Trong ấy, kinh nào thuộc về phần phiền não và thuộc về phần yểm ly?
‘‘Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, yadāyasaṃ dārujapabbajañca †;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu, puttesu dāresu ca yā apekkhā’’ti;
Ayaṃ saṃkileso.
The wise do not call that a strong bond which is made of iron, wood, or pabbaja grass. But that intense attachment and longing for jewels and earrings, for sons and wives—this is defilement.
Các bậc trí không nói sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, hay bằng dây gai là bền chặt; nhưng sự tham ái luyến ái nào đối với ngọc ngà, bông tai, đối với con cái và vợ chồng (mới là bền chặt). Đây là phiền não.
‘‘Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ;
Etampi chetvāna paribbajanti, anapekkhino kāmasukhaṃ pahāyā’’ti.
This, the wise say, is a strong bond: that which drags one down, is loose, and hard to escape. Having cut even this bond, they go forth without longing, having abandoned sensual pleasure.
Các bậc trí nói sự trói buộc ấy là bền chặt, nó kéo xuống thấp, có vẻ lỏng lẻo nhưng khó thoát ra. Sau khi cắt đứt cả sự trói buộc này, họ ra đi, không còn luyến ái, từ bỏ lạc thú của các dục.
Ayaṃ nibbedho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
This is disenchantment. This is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of disenchantment.
Đây là sự yểm ly. Đây là kinh thuộc về phần phiền não và thuộc về phần yểm ly.
107. ‘‘Yañca, bhikkhave, ceteti, yañca pakappeti, yañca anuseti. Ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā, ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti, tasmiṃ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe āyatiṃ † punabbhavābhinibbatti hoti, āyatiṃ punabbhavābhinibbattiyā sati āyatiṃ † jātijarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
107. Monks, whatever one intends, whatever one plans, and whatever lies latent—this becomes a support for the establishing of consciousness. When that support exists, there is a footing for consciousness. When that consciousness is established and has grown, in the future there is the production of renewed existence. When there is the production of renewed existence in the future, then in the future birth, aging, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair arise. Thus there is an origin of this whole mass of suffering.
107. Này các Tỳ khưu, điều gì mà người ta tư duy, điều gì mà người ta hoạch định, và điều gì mà người ta tùy miên, cái ấy trở thành đối tượng cho sự an trú của thức. Khi có đối tượng, có sự an trú của thức. Khi thức ấy được an trú và tăng trưởng, sự tái sanh trong tương lai xảy ra. Khi có sự tái sanh trong tương lai, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não trong tương lai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
‘‘No ce, bhikkhave, ceteti, no ce pakappeti, atha ce anuseti. Ārammaṇametaṃ hoti viññāṇassa ṭhitiyā, ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa † hoti, tasmiṃ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe āyatiṃ punabbhavābhinibbatti hoti, āyatiṃ punabbhavābhinibbattiyā sati āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī’’ti. Ayaṃ saṃkileso.
Monks, if one does not intend and does not plan, but something still lies latent, this becomes a support for the establishing of consciousness. When that support exists, there is a footing for consciousness. When that consciousness is established and has grown, in the future there is the production of renewed existence. When there is the production of renewed existence in the future, then in the future birth, aging, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair arise. Thus there is an origin of this whole mass of suffering. This is defilement.
Này các Tỳ khưu, nếu người ta không tư duy, không hoạch định, nhưng vẫn còn tùy miên, cái ấy trở thành đối tượng cho sự an trú của thức. Khi có đối tượng, có sự an trú của thức. Khi thức ấy được an trú và tăng trưởng, sự tái sanh trong tương lai xảy ra. Khi có sự tái sanh trong tương lai, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não trong tương lai sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Đây là phiền não.
‘‘Yato ca kho, bhikkhave, no ceva † ceteti, no ca pakappeti, no ca anuseti. Ārammaṇametaṃ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā, ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti, tasmiṃ appatiṭṭhite viññāṇe avirūḷhe āyatiṃ punabbhavābhinibbatti na hoti, āyatiṃ punabbhavābhinibbattiyā asati āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti, ayaṃ nibbedho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
But when, monks, one neither intends, nor plans, nor does anything lie latent, this does not become a support for the establishing of consciousness. When there is no support, there is no footing for consciousness. When that consciousness is not established and has not grown, there is no production of renewed existence in the future. When there is no production of renewed existence in the future, future birth, aging, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus there is the cessation of this whole mass of suffering. This is disenchantment. This is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of disenchantment.
“Này các tỳ khưu, và bởi vì không có sự tác ý, không có sự toan tính, và không có tùy miên. Điều này không trở thành đối tượng cho sự an trú của thức; khi không có đối tượng, không có sự an trú của thức; khi thức ấy không an trú, không tăng trưởng, sự tái sanh trong tương lai không xảy ra; khi sự tái sanh trong tương lai không có, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não trong tương lai được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.” Đây là phần yếm ly. Đây là bài kinh thuộc phần ô nhiễm và thuộc phần yếm ly.
108. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ?
108. Therein, which is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of the one beyond training?
108. Trong số ấy, bài kinh nào thuộc phần ô nhiễm và thuộc phần vô học?
‘‘‘Samuddo samuddo’ti kho, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati, neso, bhikkhave, ariyassa vinaye samuddo, mahā eso bhikkhave, udakarāsi mahāudakaṇṇavo. Cakkhu, bhikkhave, purisassa samuddo, tassa rūpamayo vego. Ayaṃ saṃkileso.
Monks, the uninstructed worldling speaks of ‘the ocean, the ocean.’ But that, monks, is not the ocean in the discipline of the Noble One; that is a great mass of water, a great expanse of water. The eye, monks, is a person’s ocean; its momentum is made of forms. This is defilement.
“‘Biển cả, biển cả’, này các tỳ khưu, kẻ phàm phu vô văn nói như vậy, nhưng này các tỳ khưu, trong giới luật của bậc Thánh, đó không phải là biển cả; này các tỳ khưu, đó là khối nước lớn, là đại dương lớn. Này các tỳ khưu, con mắt là biển cả của người nam, dòng chảy của nó được tạo thành từ các sắc. Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Yo taṃ rūpamayaṃ vegaṃ sahati ayaṃ vuccati, bhikkhave, atari † cakkhusamuddaṃ saūmiṃ sāvaṭṭaṃ sagahaṃ † sarakkhasaṃ tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’’ti. Ayaṃ asekkho.
The monk who withstands that momentum made of forms is said, monks, to have crossed the ocean of the eye—with its waves, its whirlpools, its crocodiles, and its demons. Having crossed over, gone to the far shore, he stands on dry land as a brahmin. This is the one beyond training.
“Vị nào chịu đựng được dòng chảy được tạo thành từ các sắc ấy, này các tỳ khưu, vị ấy được gọi là đã vượt qua biển mắt với sóng, với xoáy nước, với cá sấu, với dạ xoa; đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn.” Đây là phần vô học.
‘‘‘Sotaṃ, bhikkhave…pe… ghānaṃ…pe… jivhā…pe… kāyo…pe… mano, bhikkhave, purisassa samuddo tassa dhammamayo vegoti. Ayaṃ saṃkileso.
The ear, monks… the nose… the tongue… the body… The mind, monks, is a person’s ocean; its momentum is made of mental objects. This is defilement.
“‘Này các tỳ khưu, tai... ... mũi... ... lưỡi... ... thân... ... Này các tỳ khưu, ý là biển cả của người nam, dòng chảy của nó được tạo thành từ các pháp. Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Yo taṃ dhammamayaṃ vegaṃ sahati, ayaṃ vuccati, bhikkhave, atari manosamuddaṃ saūmiṃ sāvaṭṭaṃ sagahaṃ sarakkhasaṃ tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’’ti. Ayaṃ asekkho. Idamavoca bhagavā, idaṃ vatvāna sugato, athāparaṃ etadavoca satthā –
The monk who withstands that momentum made of mental objects is said, monks, to have crossed the ocean of the mind—with its waves, its whirlpools, its crocodiles, and its demons. Having crossed over, gone to the far shore, he stands on dry land as a brahmin. This is the one beyond training. This the Blessed One said. Having said this, the Sugata, the Teacher, further said this:
“Vị nào chịu đựng được dòng chảy được tạo thành từ các pháp ấy, này các tỳ khưu, vị ấy được gọi là đã vượt qua biển ý với sóng, với xoáy nước, với cá sấu, với dạ xoa; đã vượt qua, đã đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn.” Đây là phần vô học. Thế Tôn đã nói điều này, sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
‘‘Yo imaṃ samuddaṃ sagahaṃ sarakkhasaṃ,
Saūmiṃ sāvaṭṭaṃ sabhayaṃ duttaraṃ accatari;
Sa vedantagū vusitabrahmacariyo, lokantagū pāragatoti vuccatī’’ti.
He who has crossed over this ocean—with its crocodiles and its demons, with its waves, its whirlpools, dangerous and hard to cross; he who has reached the end of knowledge, who has lived the holy life, who has gone to the world’s end, is called ‘one gone to the far shore.’
“Vị nào đã vượt qua biển này, với cá sấu, với dạ xoa, với sóng, với xoáy nước, với hiểm nguy, khó vượt qua; vị ấy là người đã đạt đến tận cùng của tri kiến, đã sống đời phạm hạnh, đã đạt đến tận cùng của thế gian, được gọi là người đã đến bờ bên kia.”
Ayaṃ asekkho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ.
This is the one beyond training. This is the discourse that pertains to the portion of defilement and to the portion of the one beyond training.
Đây là phần vô học. Đây là bài kinh thuộc phần ô nhiễm và thuộc phần vô học.
‘‘Chayime, bhikkhave, baḷisā lokasmiṃ anayāya sattānaṃ byābādhāya † pāṇīnaṃ. Katame cha? Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati, ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilitabaḷiso † mārassa anayaṃ āpanno, byasanaṃ āpanno, yathākāmaṃ karaṇīyo pāpimato.
Monks, there are these six hooks in the world for the misfortune of beings, for the affliction of living creatures. What six? There are, monks, forms cognizable by the eye that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual desire, and enticing. If a monk delights in them, speaks in praise of them, and remains attached to them, this, monks, is called a monk who has swallowed Māra’s hook, who has met with misfortune, who has met with disaster, one with whom the Evil One can do as he wishes.
“Này các tỳ khưu, có sáu lưỡi câu này trong thế gian dẫn đến bất hạnh cho các chúng sanh, dẫn đến tai họa cho các loài hữu tình. Sáu là gì? Này các tỳ khưu, có những sắc do mắt nhận biết, khả ý, đáng yêu, hấp dẫn, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, có thể làm phát sanh tham ái. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, tham đắm và an trú vào đó, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã nuốt lưỡi câu của Ma vương, đã gặp bất hạnh, đã gặp tai họa, bị kẻ Ác làm theo ý muốn.
‘‘Santi, bhikkhave, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā…pe… jivhāviññeyyā rasā…pe… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā…pe… manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu gilitabaḷiso mārassa anayaṃ āpanno, byasanaṃ āpanno, yathākāmaṃ karaṇīyo † pāpimato’’ti. Ayaṃ saṃkileso.
There are, Bhikkhus, sounds cognizable by the ear… smells cognizable by the nose… tastes cognizable by the tongue… tangibles cognizable by the body… mental objects cognizable by the mind that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual desire, and enticing. If a bhikkhu delights in them, speaks in praise of them, and remains having swallowed them, this, Bhikkhus, is called a bhikkhu who has swallowed Māra’s hook, who has met with misfortune, who has met with disaster, one with whom the Evil One can do as he wishes. This is defilement.
“Này các tỳ khưu, có những âm thanh do tai nhận biết... có những mùi hương do mũi nhận biết... có những vị do lưỡi nhận biết... có những vật xúc chạm do thân nhận biết... có những pháp do ý nhận biết, khả ý, đáng yêu, hấp dẫn, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, có thể làm phát sanh tham ái. Nếu vị tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, tham đắm và an trú vào đó. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đã nuốt lưỡi câu của Ma vương, đã gặp bất hạnh, đã gặp tai họa, bị kẻ Ác làm theo ý muốn.” Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Santi ca, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu na gilitabaḷiso mārassa, abhedi baḷisaṃ, paribhedi baḷisaṃ, na anayaṃ āpanno, na byasanaṃ āpanno, na yathākāmaṃ karaṇīyo pāpimato.
And there are, Bhikkhus, forms cognizable by the eye that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual desire, and enticing. If a bhikkhu does not delight in them, does not speak in praise of them, and does not remain having swallowed them, this, Bhikkhus, is called a bhikkhu who has not swallowed Māra’s hook, who has broken the hook, who has shattered the hook, who has not met with misfortune, who has not met with disaster, not one with whom the Evil One can do as he wishes.
“Và này các tỳ khưu, có những sắc do mắt nhận biết, khả ý, đáng yêu, hấp dẫn, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, có thể làm phát sanh tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không tham đắm và an trú vào đó, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người không nuốt lưỡi câu của Ma vương, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã phá vỡ lưỡi câu, không gặp bất hạnh, không gặp tai họa, không bị kẻ Ác làm theo ý muốn.
‘‘Santi ca, bhikkhave, sotaviññeyyā saddā…pe… manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati, nājjhosāya tiṭṭhati. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhu na gilitabaḷiso mārassa, abhedi baḷisaṃ, paribhedi baḷisaṃ, na anayaṃ āpanno, na byasanaṃ āpanno, na yathākāmaṃ karaṇīyo pāpimato’’ti. Ayaṃ asekkho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ.
And there are, Bhikkhus, sounds cognizable by the ear… mental objects cognizable by the mind that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual desire, and enticing. If a bhikkhu does not delight in them, does not speak in praise of them, and does not remain having swallowed them, this, Bhikkhus, is called a bhikkhu who has not swallowed Māra’s hook, who has broken the hook, who has shattered the hook, who has not met with misfortune, who has not met with disaster, not one with whom the Evil One can do as he wishes. This is the one beyond training. This is the discourse pertaining to defilement and to the one beyond training.
“Và này các tỳ khưu, có những âm thanh do tai nhận biết... có những pháp do ý nhận biết, khả ý, đáng yêu, hấp dẫn, có hình tướng đáng ưa, liên hệ đến dục, có thể làm phát sanh tham ái. Nếu vị tỳ khưu không hoan hỷ, không tán dương, không tham đắm và an trú vào đó. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người không nuốt lưỡi câu của Ma vương, đã bẻ gãy lưỡi câu, đã phá vỡ lưỡi câu, không gặp bất hạnh, không gặp tai họa, không bị kẻ Ác làm theo ý muốn.” Đây là phần vô học. Đây là bài kinh thuộc phần ô nhiễm và thuộc phần vô học.
109. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ?
109. Therein, which is the discourse pertaining to defilement, to penetration, and to the one beyond training?
109. Trong số ấy, bài kinh nào thuộc phần ô nhiễm, thuộc phần yếm ly, và thuộc phần vô học?
‘‘Ayaṃ loko santāpajāto, phassapareto rogaṃ vadati attato †;
Yena yena hi maññati †, tato taṃ hoti aññathā.
This world is born of affliction, overcome by contact; it speaks of illness as self. For in whatever way it conceives things, it becomes otherwise than that.
“Thế gian này bị thiêu đốt, bị xúc chi phối, nó nói về bệnh tật như là tự ngã; bởi vì bất cứ điều gì nó quan niệm, điều đó lại trở thành khác đi.
‘‘Aññathābhāvī bhavasatto loko, bhavapareto bhavamevābhinandati;
Yadabhinandati taṃ bhayaṃ;
Yassa bhāyati taṃ dukkha’’nti; Ayaṃ saṃkileso.
Subject to change, attached to existence, the world is overcome by existence and delights only in existence. What it delights in, that is a danger; what it fears, that is suffering. This is defilement.
“Thế gian có bản chất đổi khác, dính mắc vào hữu, bị hữu chi phối, nó chỉ hoan hỷ trong chính hữu; điều gì nó hoan hỷ, đó là sự sợ hãi; điều gì nó sợ hãi, đó là khổ.” Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Bhavavippahānāya kho panidaṃ brahmacariyaṃ vussatī’’ti; Ayaṃ nibbedho;
Now, this holy life is lived for the abandoning of existence. This is penetration.
“Và phạm hạnh này được sống để từ bỏ hữu.” Đây là phần yếm ly;
‘‘Ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā bhavena bhavassa vippamokkhamāhaṃsu, sabbe te ‘avippamuttā bhavasmā’ti vadāmi. Ye vā pana keci samaṇā vā brāhmaṇā vā vibhavena bhavassa nissaraṇamāhaṃsu, sabbe te ‘anissaṭā bhavasmā’ti vadāmi. Upadhiṃ † hi paṭicca dukkhamidaṃ sambhotī’’ti. Ayaṃ saṃkileso.
Whatever ascetics or brahmins have declared liberation from existence by means of existence, all of them, I say, are not liberated from existence. And whatever ascetics or brahmins have declared an escape from existence by means of non-existence, all of them, I say, have not escaped from existence. For this suffering arises in dependence on acquisitions. This is defilement.
“Bất kỳ sa môn hay bà la môn nào tuyên bố sự giải thoát khỏi hữu bằng chính hữu, Ta nói rằng tất cả họ đều không được giải thoát khỏi hữu. Và bất kỳ sa môn hay bà la môn nào tuyên bố sự thoát ly khỏi hữu bằng phi hữu, Ta nói rằng tất cả họ đều không thoát ly khỏi hữu. Bởi vì khổ này sanh khởi do duyên nơi các chấp thủ.” Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Sabbupādānakkhayā natthi dukkhassa sambhavo’’ti. Ayaṃ nibbedho.
With the destruction of all clinging, there is no arising of suffering. This is penetration.
“Do sự đoạn tận tất cả các thủ, không có sự sanh khởi của khổ.” Đây là phần yếm ly.
‘‘Lokamimaṃ passa, puthū avijjāya paretā bhūtā bhūtaratā, bhavā aparimuttā, ye hi keci bhavā sabbadhi sabbatthatāya, sabbe te bhavā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’’ti. Ayaṃ saṃkileso.
Behold this world! Individually, beings are overcome by ignorance, delighting in other beings, not liberated from existence. For whatever kinds of existence there are, in all places and in every respect, all those states of existence are impermanent, suffering, and subject to change. This is defilement.
“Hãy nhìn thế gian này, nhiều chúng sanh bị vô minh chi phối, vui thích trong các chúng sanh, không được giải thoát khỏi hữu. Bất kỳ các hữu nào có mặt ở khắp mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, tất cả các hữu ấy đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại.” Đây là phần ô nhiễm.
‘‘Evametaṃ yathābhūtaṃ, sammappaññāya passato;
Bhavataṇhā pahīyati, vibhavaṃ nābhinandati;
Sabbaso taṇhānaṃ khayā, asesavirāganirodho nibbāna’’nti;
Ayaṃ nibbedho.
For one who sees this thus as it truly is with right wisdom, craving for existence is abandoned and one does not delight in annihilationism. Through the utter destruction of craving, the remainderless fading away and cessation is Nibbāna. This is penetration.
“Đối với người thấy sự việc này đúng như thật bằng chánh trí tuệ, hữu ái được đoạn tận, vị ấy không hoan hỷ trong phi hữu. Do sự đoạn tận hoàn toàn các ái dục, sự ly tham và đoạn diệt không còn dư sót chính là Niết-bàn.” Đây là sự thông suốt.
‘‘Tassa nibbutassa bhikkhuno, anupādā punabbhavo na hoti;
Abhibhūto māro vijitasaṅgāmo, upaccagā sabbabhavāni tādī’’ti.
For that bhikkhu who is quenched, due to non-clinging, new existence does not arise. Māra is vanquished, the battle is won; he has passed beyond all existences, one of such a nature.
“Đối với vị tỳ khưu đã tịch tịnh ấy, do không còn chấp thủ nên không có tái sanh. Ma vương đã bị chinh phục, trận chiến đã được chiến thắng, vị ấy đã vượt qua tất cả các cõi hữu, là bậc như vậy.”
Ayaṃ asekkho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ.
This is the one beyond training. This is the discourse pertaining to defilement, pertaining to penetration, and pertaining to the one beyond training.
Đây là bậc Vô học. Đây là bài kinh thuộc phần phiền não, thuộc phần thông suốt, và thuộc phần Vô học.
‘‘Cattārome, bhikkhave †, puggalā. Katame cattāro? Anusotagāmī paṭisotagāmī ṭhitatto tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo’’ti. Tattha yoyaṃ puggalo anusotagāmī, ayaṃ puggalo saṃkilesabhāgiyo. Tattha yoyaṃ puggalo paṭisotagāmī yo ca ṭhitatto, ime dve puggalā nibbedhabhāgiyā. Tattha yoyaṃ puggalo tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇo, ayaṃ asekkho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca asekkhabhāgiyañca suttaṃ.
Bhikkhus, there are these four persons. What four? The one who goes with the stream; the one who goes against the stream; the one who stands firm; and the one who, having crossed over and gone to the far shore, stands on high ground, a brahmin. Therein, that person who goes with the stream is in the category of defilement. Therein, the person who goes against the stream and the one who stands firm—these two persons are in the category of penetration. Therein, that person who, having crossed over and gone to the far shore, stands on high ground, a brahmin, is the one beyond training. This is the discourse pertaining to defilement, pertaining to penetration, and pertaining to the one beyond training.
“Này các Tỳ khưu, có bốn hạng người này. Bốn hạng nào? Người đi xuôi dòng, người đi ngược dòng, người đứng lại, và người đã qua bờ bên kia, đứng trên đất liền, là bậc Bà-la-môn.” Trong ấy, hạng người đi xuôi dòng, hạng người này thuộc phần phiền não. Trong ấy, hạng người đi ngược dòng và người đứng lại, hai hạng người này thuộc phần thông suốt. Trong ấy, hạng người đã qua bờ bên kia, đứng trên đất liền, là bậc Bà-la-môn, vị này là bậc Vô học. Đây là bài kinh thuộc phần phiền não, thuộc phần thông suốt, và thuộc phần Vô học.
110. Tattha katamaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ?
110. Therein, which is the discourse pertaining to defilement, pertaining to the development of merit, and pertaining to penetration?
110. Trong các bài kinh ấy, bài kinh nào thuộc phần phiền não, thuộc phần tu tập, và thuộc phần thông suốt?
Chaḷābhijātiko atthi puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati, atthi puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati, atthi puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ accantadiṭṭhaṃ † nibbānaṃ ārādheti, atthi puggalo sukko sukkābhijātiko kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati, atthi puggalo sukko sukkābhijātiko sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati, atthi puggalo sukko sukkābhijātiko akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ accantadiṭṭhaṃ nibbānaṃ ārādheti.
There are six kinds of birth. There is a person who is dark, of a dark birth, who generates dark qualities. There is a person who is dark, of a dark birth, who generates bright qualities. There is a person who is dark, of a dark birth, who accomplishes the truly seen Nibbāna, which is neither dark nor bright and has a neither-dark-nor-bright result. There is a person who is bright, of a bright birth, who generates dark qualities. There is a person who is bright, of a bright birth, who generates bright qualities. There is a person who is bright, of a bright birth, who accomplishes the truly seen Nibbāna, which is neither dark nor bright and has a neither-dark-nor-bright result.
Có sáu hạng người theo sanh loại: Có hạng người đen sanh trong gia đình đen, sanh ra pháp đen. Có hạng người đen sanh trong gia đình đen, sanh ra pháp trắng. Có hạng người đen sanh trong gia đình đen, thành tựu Niết-bàn không đen không trắng, có quả không đen không trắng, được thấy rốt ráo. Có hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, sanh ra pháp đen. Có hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, sanh ra pháp trắng. Có hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, thành tựu Niết-bàn không đen không trắng, có quả không đen không trắng, được thấy rốt ráo.
Tattha yo ca puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati, yo ca puggalo sukko sukkābhijātiko kaṇhaṃ dhammaṃ abhijāyati, ime dve puggalā saṃkilesabhāgiyā.
Therein, the person who is dark, of a dark birth, and generates dark qualities, and the person who is bright, of a bright birth, and generates dark qualities—these two persons are in the category of defilement.
Trong ấy, hạng người đen sanh trong gia đình đen, sanh ra pháp đen, và hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, sanh ra pháp đen, hai hạng người này thuộc phần phiền não.
Tattha yo ca puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati, yo ca puggalo sukko sukkābhijātiko sukkaṃ dhammaṃ abhijāyati, ime dve puggalā vāsanābhāgiyā.
Therein, the person who is dark, of a dark birth, and generates bright qualities, and the person who is bright, of a bright birth, and generates bright qualities—these two persons are in the category of the development of merit.
Trong ấy, hạng người đen sanh trong gia đình đen, sanh ra pháp trắng, và hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, sanh ra pháp trắng, hai hạng người này thuộc phần tu tập.
Tattha yo ca puggalo kaṇho kaṇhābhijātiko akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ accantadiṭṭhaṃ nibbānaṃ ārādheti, yo ca puggalo sukko sukkābhijātiko akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ accantadiṭṭhaṃ nibbānaṃ ārādheti, ime dve puggalā nibbedhabhāgiyā, idaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
Therein, the person who is dark, of a dark birth, who accomplishes the truly seen Nibbāna, which is neither dark nor bright and has a neither-dark-nor-bright result; and the person who is bright, of a bright birth, who accomplishes the truly seen Nibbāna, which is neither dark nor bright and has a neither-dark-nor-bright result—these two persons are in the category of penetration. This is the discourse pertaining to defilement, pertaining to the development of merit, and pertaining to penetration.
Trong ấy, hạng người đen sanh trong gia đình đen, thành tựu Niết-bàn không đen không trắng, có quả không đen không trắng, được thấy rốt ráo, và hạng người trắng sanh trong gia đình trắng, thành tựu Niết-bàn không đen không trắng, có quả không đen không trắng, được thấy rốt ráo, hai hạng người này thuộc phần thông suốt. Đây là bài kinh thuộc phần phiền não, thuộc phần tu tập, và thuộc phần thông suốt.
‘‘Cattārimāni, bhikkhave †, kammāni. Katamāni cattāri? Atthi kammaṃ kaṇhaṃ kaṇhavipākaṃ, atthi kammaṃ sukkaṃ sukkavipākaṃ, atthi kammaṃ kaṇhasukkaṃ kaṇhasukkavipākaṃ, atthi kammaṃ akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ kammuttamaṃ kammaseṭṭhaṃ kammakkhayāya saṃvattati’’.
Bhikkhus, there are these four kammas. What four? There is kamma that is dark with a dark result; there is kamma that is bright with a bright result; there is kamma that is dark-and-bright with a dark-and-bright result; and there is kamma that is neither-dark-nor-bright with a neither-dark-nor-bright result, the supreme kamma, the most excellent kamma, which conduces to the destruction of kamma.
“Này các Tỳ khưu, có bốn loại nghiệp này. Bốn loại nào? Có nghiệp đen, quả đen; có nghiệp trắng, quả trắng; có nghiệp đen trắng, quả đen trắng; có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, là nghiệp tối thượng, nghiệp cao tột, đưa đến sự đoạn tận nghiệp.”
Tattha yañca kammaṃ kaṇhaṃ kaṇhavipākaṃ, yañca kammaṃ kaṇhasukkaṃ kaṇhasukkavipākaṃ, ayaṃ saṃkileso. Yañca kammaṃ sukkaṃ sukkavipākaṃ, ayaṃ vāsanā. Yañca kammaṃ akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ kammuttamaṃ kammaseṭṭhaṃ kammakkhayāya saṃvattati, ayaṃ nibbedho. Idaṃ saṃkilesabhāgiyañca vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
Therein, whichever kamma is dark with a dark result, and whichever kamma is dark-and-bright with a dark-and-bright result—this is defilement. Whichever kamma is bright with a bright result—this is the development of merit. Whichever kamma is neither-dark-nor-bright with a neither-dark-nor-bright result, the supreme kamma, the most excellent kamma, which conduces to the destruction of kamma—this is penetration. This is the discourse pertaining to defilement, pertaining to the development of merit, and pertaining to penetration.
Trong ấy, nghiệp đen có quả đen và nghiệp đen trắng có quả đen trắng, đây là phiền não. Nghiệp trắng có quả trắng, đây là sự tu tập. Nghiệp không đen không trắng, có quả không đen không trắng, là nghiệp tối thượng, nghiệp cao tột, đưa đến sự đoạn tận nghiệp, đây là sự thông suốt. Đây là bài kinh thuộc phần phiền não, thuộc phần tu tập, và thuộc phần thông suốt.
111. Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyañca, nibbedhabhāgiyañca suttaṃ?
111. Therein, which is the discourse pertaining to the development of merit and pertaining to penetration?
111. Trong các bài kinh ấy, bài kinh nào thuộc phần tu tập và thuộc phần thông suốt?
‘‘Laddhāna mānusattaṃ dve, kiccaṃ akiccameva ca;
Sukiccaṃ ceva puññāni, saṃyojanavippahānaṃ vā’’ti.
Having obtained the human state, there are two duties: what is to be done and what is not to be done. What is to be done is either what is well-done and meritorious, or the abandoning of the fetters.
“Đã được sanh làm người, có hai việc: việc nên làm và việc không nên làm. Việc tốt nên làm là các phước thiện, hoặc là sự đoạn trừ các kiết sử.”
‘‘Sukiccaṃ ceva puññānī’’ti vāsanā. ‘‘Saṃyojanavippahānaṃ vā’’ti nibbedho.
‘What is well-done and meritorious’—this is the development of merit. ‘Or the abandoning of the fetters’—this is penetration.
“Câu ‘Việc tốt nên làm là các phước thiện’ là sự tu tập. Câu ‘hoặc là sự đoạn trừ các kiết sử’ là sự thông suốt.”
‘‘Puññāni karitvāna, saggā saggaṃ vajanti katapuññā;
Saṃyojanappahānā, jarāmaraṇā vippamuccantī’’ti.
Having done meritorious deeds, those who have made merit go from one heavenly realm to another; those who have abandoned the fetters are freed from aging and death.
“Sau khi làm các phước thiện, những người đã tạo phước đi từ cõi trời này đến cõi trời khác. Những người đã đoạn trừ các kiết sử được giải thoát khỏi già và chết.”
‘‘Puññāni karitvāna, saggā saggaṃ vajanti katapuññā’’ti vāsanā. ‘‘Saṃyojanappahānā jarāmaraṇā vippamuccantī’’ti nibbedho. Idaṃ vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
‘Having done meritorious deeds, those who have made merit go from one heavenly realm to another’—this is the development of merit. ‘Those who have abandoned the fetters are freed from aging and death’—this is penetration. This is the discourse pertaining to the development of merit and pertaining to penetration.
“Câu ‘Sau khi làm các phước thiện, những người đã tạo phước đi từ cõi trời này đến cõi trời khác’ là sự tu tập. Câu ‘Những người đã đoạn trừ các kiết sử được giải thoát khỏi già và chết’ là sự thông suốt. Đây là bài kinh thuộc phần tu tập và thuộc phần thông suốt.”
‘‘Dvemāni, bhikkhave, padhānāni †. Katamāni dve? Yo ca agārasmā anagāriyaṃ pabbajitesu cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ pariccajati, yo ca agārasmā anagāriyaṃ pabbajitesu sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbāna’’nti. Tattha yo agārasmā anagāriyaṃ pabbajitesu cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ pariccajati, ayaṃ vāsanā.
Bhikkhus, there are these two strivings. What two? There is one who, having gone forth from the household life into homelessness, gives up robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick; and there is, for those who have gone forth from the household life into homelessness, the relinquishment of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. Therein, for one who, having gone forth from the household life into homelessness, gives up robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick—this is the development of merit.
“Này các Tỳ khưu, có hai sự tinh tấn này. Hai sự nào? Sự từ bỏ y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh cho những người đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình; và Niết-bàn là sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt đối với những người đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.” Trong ấy, sự từ bỏ y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh cho những người đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đây là sự tu tập.
Yo agārasmā anagāriyaṃ pabbajitesu sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ, ayaṃ nibbedho. Idaṃ vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca suttaṃ.
For those who have gone forth from the household life into homelessness, the relinquishment of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna—this is penetration. This is the discourse pertaining to the development of merit and pertaining to penetration.
Niết-bàn là sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt đối với những người đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đây là sự thông suốt. Đây là bài kinh thuộc phần tu tập và thuộc phần thông suốt.
Tattha taṇhāsaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ taṇhāpakkheneva niddisitabbaṃ tīhi taṇhāhi – kāmataṇhāya bhavataṇhāya vibhavataṇhāya. Yena yena vā pana vatthunā ajjhositā, tena teneva niddisitabbaṃ, tassā vitthāro chattiṃsataṇhājāliniyāvicaritāni.
Therein, the discourse pertaining to the defilement of craving should be indicated only from the side of craving, by the three cravings: craving for sensual pleasures, craving for existence, and craving for non-existence. Or, by whatever object one is attached, it should be indicated by that very object. Its expansion, the thirty-six courses of craving, should be indicated.
Trong ấy, bài kinh thuộc phần phiền não do ái dục nên được trình bày theo phương diện của ái dục, với ba loại ái dục: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Hoặc nên được trình bày theo bất cứ đối tượng nào mà người ấy bị tham đắm, phần giải rộng của nó là ba mươi sáu dòng chảy của ái dục.
Tattha diṭṭhisaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ diṭṭhipakkheneva niddisitabbaṃ ucchedasassatena, yena yena vā pana vatthunā diṭṭhivasena abhinivisati ‘‘idameva saccaṃ moghamañña’’nti, tena teneva niddisitabbaṃ, tassā vitthāro dvāsaṭṭhidiṭṭhigatāni.
Therein, the discourse pertaining to the defilement of views should be pointed out by way of views, that is, by annihilationism and eternalism. Or, by whatever object one adheres to by way of views, thinking, “This alone is true, anything else is worthless,” it should be pointed out by that very object. Its detailed exposition consists of the sixty-two views.
Trong ấy, kinh thuộc phần tà kiến nhiễm ô nên được trình bày chỉ bằng phương diện tà kiến, bằng (tà kiến) đoạn diệt và thường hằng. Hay là, bằng bất cứ đối tượng nào mà người ấy chấp chặt do năng lực của tà kiến rằng: ‘Chỉ điều này là thật, điều khác là vô ích,’ thì nên được trình bày chỉ bằng chính những đối tượng ấy. Sự trình bày chi tiết của nó là sáu mươi hai tà kiến.
Tattha duccaritasaṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ cetanāya cetasikakammena niddisitabbaṃ tīhi duccaritehi – kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, tassa vitthāro dasaakusalakammapathā.
Therein, the discourse pertaining to the defilement of misconduct should be pointed out by intention, by mental kamma, and by the three kinds of misconduct—bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. Its detailed exposition consists of the ten unwholesome courses of kamma.
Trong ấy, kinh thuộc phần ác hạnh nhiễm ô nên được trình bày bằng tư, bằng nghiệp tâm sở, bằng ba ác hạnh – thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh. Sự trình bày chi tiết của nó là mười con đường nghiệp bất thiện.
Tattha taṇhāvodānabhāgiyaṃ suttaṃ samathena niddisitabbaṃ, diṭṭhivodānabhāgiyaṃ suttaṃ vipassanā niddisitabbaṃ, duccaritavodānabhāgiyaṃ suttaṃ sucaritena niddisitabbaṃ. Tīṇi akusalamūlāni. Taṃ kissa hetu? Saṃsārassa nibbattiyā. Tathā nibbatte saṃsāre kāyaduccaritaṃ kāyasucaritaṃ vacīduccaritaṃ vacīsucaritaṃ manoduccaritaṃ manosucaritaṃ iminā asubhena kammavipākena idaṃ bālalakkhaṇaṃ nibbattatīti. Idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
Therein, the discourse pertaining to the purification from craving should be pointed out by serenity; the discourse pertaining to the purification from views should be pointed out by insight; and the discourse pertaining to the purification from misconduct should be pointed out by good conduct. There are three unwholesome roots. For what reason? For the production of saṃsāra. In saṃsāra so produced, there is bodily misconduct and bodily good conduct, verbal misconduct and verbal good conduct, mental misconduct and mental good conduct. Through this unwholesome kamma-result, this characteristic of a fool is produced. This is the discourse pertaining to defilement.
Trong ấy, kinh thuộc phần thanh lọc ái nên được trình bày bằng chỉ, kinh thuộc phần thanh lọc tà kiến nên được trình bày bằng quán, kinh thuộc phần thanh lọc ác hạnh nên được trình bày bằng thiện hạnh. (Có) ba gốc bất thiện. Điều đó vì nhân gì? Vì sự phát sinh của vòng luân hồi. Trong vòng luân hồi đã phát sinh như vậy, (có) thân ác hạnh, thân thiện hạnh, khẩu ác hạnh, khẩu thiện hạnh, ý ác hạnh, ý thiện hạnh. Do quả của nghiệp bất thiện này mà đặc điểm của kẻ ngu này phát sinh. Đây là kinh thuộc phần nhiễm ô.
Iminā subhena kammavipākena idaṃ mahāpurisalakkhaṇaṃ nibbattatīti. Idaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ.
Through this wholesome kamma-result, this characteristic of a great man is produced. This is the discourse pertaining to the development of merit.
Do quả của nghiệp thiện này mà đặc điểm của bậc đại nhân này phát sinh. Đây là kinh thuộc phần tu tập ba-la-mật.
Tattha saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ catūhi kilesabhūmīhi niddisitabbaṃ – anusayabhūmiyā pariyuṭṭhānabhūmiyā saṃyojanabhūmiyā upādānabhūmiyā. Sānusayassa pariyuṭṭhānaṃ jāyati, pariyuṭṭhito saṃyujjati, saṃyujjanto upādiyati, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Imāhi catūhi kilesabhūmīhi sabbe kilesā saṅgahaṃ samosaraṇaṃ gacchanti, idaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ suttaṃ.
Therein, the discourse pertaining to defilement should be pointed out by the four grounds of defilement: the ground of latent tendencies, the ground of obsession, the ground of fetters, and the ground of clinging. For one with latent tendencies, obsession arises; being obsessed, one becomes fettered; being fettered, one clings; conditioned by clinging, existence comes to be; conditioned by existence, birth comes to be; conditioned by birth, aging and death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair come to be. Such is the origin of this whole mass of suffering. In these four grounds of defilement, all defilements are included and converge. This is the discourse pertaining to defilement.
Trong ấy, kinh thuộc phần nhiễm ô nên được trình bày bằng bốn cảnh giới phiền não – cảnh giới tùy miên, cảnh giới triền phược, cảnh giới kiết sử, và cảnh giới thủ. Đối với người còn tùy miên, triền phược khởi lên; khi bị triền phược, người ấy bị trói buộc; khi bị trói buộc, người ấy chấp thủ; do duyên thủ có hữu; do duyên hữu có sanh; do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do bốn cảnh giới phiền não này, tất cả phiền não đi đến sự thu nhiếp, sự tụ hội. Đây là kinh thuộc phần nhiễm ô.
Vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ tīhi sucaritehi niddisitabbaṃ, nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ catūhi saccehi niddisitabbaṃ, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ tīhi dhammehi niddisitabbaṃ – buddhadhammehi paccekabuddhadhammehi sāvakabhūmiyā. Jhāyivisaye niddisitabbanti.
The discourse pertaining to the development of merit should be pointed out by the three kinds of good conduct; the discourse pertaining to penetration should be pointed out by the four truths; the discourse pertaining to the adept should be pointed out by three qualities: the qualities of a Buddha, the qualities of a Paccekabuddha, and the ground of a disciple. It should be pointed out in the sphere of one who practices jhāna.
Kinh thuộc phần tu tập ba-la-mật nên được trình bày bằng ba thiện hạnh, kinh thuộc phần thông đạt nên được trình bày bằng bốn sự thật, kinh thuộc phần vô học nên được trình bày bằng ba pháp – các pháp của Phật, các pháp của Phật Độc Giác, và trong cảnh giới của Thinh Văn. Nên được trình bày trong đối tượng của người nhập thiền.
112. Tattha katame aṭṭhārasa mūlapadā? Lokiyaṃ lokuttaraṃ lokiyañca lokuttarañca, sattādhiṭṭhānaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca, ñāṇaṃ ñeyyaṃ ñāṇañca ñeyyañca, dassanaṃ bhāvanā dassanañca bhāvanā ca, sakavacanaṃ paravacanaṃ sakavacanañca paravacanañca, visajjanīyaṃ avisajjanīyaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca, kammaṃ vipāko kammañca vipāko ca, kusalaṃ akusalaṃ kusalañca akusalañca, anuññātaṃ paṭikkhittaṃ anuññātañca paṭikkhittañca, thavo cāti.
112. Herein, what are the eighteen root terms? The mundane; the supramundane; and both the mundane and supramundane. That which is founded on a being; that which is founded on phenomena; and that which is founded on both a being and phenomena. Knowledge; the knowable; and both knowledge and the knowable. Vision; development; and both vision and development. One’s own speech; another’s speech; and both one’s own speech and another’s speech. That which should be answered; that which should not be answered; and that which is both to be answered and not to be answered. Kamma; result; and both kamma and result. The wholesome; the unwholesome; and both the wholesome and unwholesome. The permitted; the prohibited; and both the permitted and prohibited. And praise.
112. Trong ấy, mười tám mục từ gốc là những gì? Hiệp thế, siêu thế, và cả hiệp thế lẫn siêu thế; y cứ chúng sanh, y cứ pháp, và cả y cứ chúng sanh lẫn y cứ pháp; trí, đối tượng của trí, và cả trí lẫn đối tượng của trí; kiến, tu, và cả kiến lẫn tu; lời của mình, lời của người khác, và cả lời của mình lẫn lời của người khác; cần được trả lời, không cần được trả lời, và cả cần được trả lời lẫn không cần được trả lời; nghiệp, quả, và cả nghiệp lẫn quả; thiện, bất thiện, và cả thiện lẫn bất thiện; được cho phép, bị cấm, và cả được cho phép lẫn bị cấm; và tán thán.
Tattha katamaṃ lokiyaṃ?
Herein, what is the mundane?
Trong ấy, (kinh) hiệp thế là gì?
‘‘Na hi pāpaṃ kataṃ kammaṃ, sajjukhīraṃva muccati;
Ḍahantaṃ † bālamanveti, bhasmacchannova † pāvakoti.
“An evil deed that has been done does not immediately curdle, like fresh milk; burning, it follows the fool, like a fire covered by ashes.”
‘Nghiệp ác đã làm không đông lại ngay, như sữa tươi vừa vắt; nó đi theo kẻ ngu, thiêu đốt họ, như lửa được tro che phủ.’
Idaṃ lokiyaṃ.
This is the mundane.
Đây là (kinh) hiệp thế.
‘‘Cattārimāni, bhikkhave, agatigamanāni sabbaṃ…pe… nihīyate tassa yaso kāḷapakkheva candimā’’ti. Idaṃ lokiyaṃ.
“Monks, there are these four wrong courses of action… his fame dwindles like the moon in the dark fortnight.” This is the mundane.
‘Này các Tỳ khưu, có bốn con đường sai lạc này. (toàn bộ kinh... vân vân...) ...danh tiếng của người ấy bị suy giảm, như mặt trăng trong hạ huyền.’ Đây là (kinh) hiệp thế.
‘‘Aṭṭhime, bhikkhave, lokadhammā †. Katame aṭṭha? Lābho alābho, yaso ayaso, nindā pasaṃsā, sukhaṃ dukkhaṃ. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha lokadhammā’’ti. Idaṃ lokiyaṃ.
“Monks, there are these eight worldly conditions. Which eight? Gain and loss, fame and disrepute, censure and praise, pleasure and pain. These, monks, are the eight worldly conditions.” This is the mundane.
‘Này các Tỳ khưu, có tám pháp thế gian này. Tám pháp nào? Được và không được, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ. Này các Tỳ khưu, đây chính là tám pháp thế gian.’ Đây là (kinh) hiệp thế.
Tattha katamaṃ lokuttaraṃ?
Herein, what is the supramundane?
Trong ấy, (kinh) siêu thế là gì?
‘‘Yassindriyāni samathaṅgatāni †; Assā yathā sārathinā sudantā;
Pahīnamānassa anāsavassa, devāpi tassa pihayanti tādino’’ti.
“One whose faculties have attained to calm, like horses well-tamed by a charioteer, who has abandoned conceit and is without taints—even the gods envy such a steadfast one.”
‘Người nào có các căn được lắng dịu, như ngựa hay được người đánh xe điều phục khéo; người đã đoạn trừ ngã mạn, không còn lậu hoặc, chư thiên cũng ái mộ vị như vậy.’
Idaṃ lokuttaraṃ.
This is the supramundane.
Đây là (kinh) siêu thế.
‘‘Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni lokuttarāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṃ vīriyindriyaṃ satindriyaṃ samādhindriyaṃ paññindriyaṃ. Imāni kho, bhikkhave, pañcindriyāni lokuttarānī’’ti. Idaṃ lokuttaraṃ.
“Monks, there are these five supramundane faculties. Which five? The faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. These, monks, are the five supramundane faculties.” This is the supramundane.
‘Này các Tỳ khưu, có năm căn siêu thế này. Năm căn nào? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỳ khưu, đây chính là năm căn siêu thế.’ Đây là (kinh) siêu thế.
Tattha katamaṃ lokiyañca lokuttarañca?
Herein, what is that which is both mundane and supramundane?
Trong ấy, (kinh) vừa hiệp thế vừa siêu thế là gì?
‘‘Laddhāna mānusattaṃ dve, kiccaṃ akiccameva cā’’ti dve gāthā. Yaṃ iha ‘‘sukiccaṃ ceva puññānī’’ti ca ‘‘puññāni karitvāna, saggā saggaṃ vajanti katapuññā’’ti ca. Idaṃ lokiyaṃ.
The two verses beginning, “Having obtained human existence, there are two things: what should be done and what should not be done.” Herein, that which states, “what is well-done and meritorious,” and “having performed meritorious deeds, those who have done merit go from heaven to heaven,” is the mundane.
Hai kệ ngôn (bắt đầu bằng): ‘Laddhāna mānusattaṃ dve, kiccaṃ akiccameva cā’. Ở đây, (phần nói rằng): ‘việc thiện nên làm là các phước’ và ‘làm các phước, những người đã làm phước đi từ cõi trời này đến cõi trời khác’. Đây là (phần) hiệp thế.
Yaṃ iha ‘‘saṃyojanavippahānaṃ vā’’ti ca ‘‘saṃyojanappahānā, jarāmaraṇā vippamuccantī’’ti ca, idaṃ lokuttaraṃ. Idaṃ lokiyañca lokuttarañca.
Herein, that which states, “the abandoning of fetters,” and “through the abandoning of fetters, they are liberated from aging and death,” is the supramundane. This is that which is both mundane and supramundane.
Ở đây, (phần nói rằng): ‘hay là sự đoạn trừ kiết sử’ và ‘do đoạn trừ kiết sử, họ được giải thoát khỏi già và chết’, đây là (phần) siêu thế. Đây là (kinh) vừa hiệp thế vừa siêu thế.
‘‘Viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre sati nāmarūpassa avakkanti hoti, nāmarūpassa avakkantiyā sati punabbhavo hoti, punabbhave sati jāti hoti, jātiyā sati jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Seyyathāpi, bhikkhave †, mahārukkho, tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni yāni ca tiriyaṃ gamāni, sabbāni tāni uddhaṃ ojaṃ abhiharanti. Evaṃ hi so, bhikkhave, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya. Evameva kho, bhikkhave, viññāṇe āhāre sati nāmarūpassa avakkanti hoti sabbaṃ…pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī’’ti. Idaṃ lokiyaṃ.
“Monks, when consciousness as nutriment exists, there is a descent of name-and-form. When there is a descent of name-and-form, there is renewed existence. When there is renewed existence, there is birth. When there is birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair come to be. Such is the origin of this whole mass of suffering. Suppose, monks, there were a great tree, and all its roots—those that go downwards and those that go sideways—were to draw the sap upwards. Thus, monks, that great tree, with that as its nutriment and sustenance, would stand for a long, long time. In the same way, monks, when consciousness as nutriment exists, there is a descent of name-and-form… such is the origin of this whole mass of suffering.” This is the mundane.
‘Này các Tỳ khưu, khi có thức thực, sự nhập vào của danh sắc xảy ra; khi có sự nhập vào của danh sắc, tái sanh xảy ra; khi có tái sanh, sanh xảy ra; khi có sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Này các Tỳ khưu, ví như có một cây lớn; những rễ nào của nó đi xuống dưới và những rễ nào đi ngang, tất cả chúng đều hút dưỡng chất lên trên. Này các Tỳ khưu, như vậy, cây lớn ấy, với thức ăn đó, với sự nuôi dưỡng đó, có thể tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi có thức thực, sự nhập vào của danh sắc xảy ra (toàn bộ... vân vân...) ...như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.’ Đây là (kinh) hiệp thế.
‘‘Viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre asati nāmarūpassa avakkanti na hoti, nāmarūpassa avakkantiyā asati punabbhavo na hoti, punabbhave asati jāti na hoti, jātiyā asati jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṃ † ādāya, so taṃ rukkhaṃ mūle chindeyya, mūle † chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya antamaso usīranāḷimattānipi. So taṃ rukkhaṃ khaṇḍākhaṇḍikaṃ chindeyya, khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā † phāleyya, phāletvā sakalikaṃ sakalikaṃ kareyya, sakalikaṃ sakalikaṃ karitvā vātātape visoseyya, vātātape visosetvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahetvā masiṃ kareyya, masiṃ karitvā mahāvāte vā ophuneyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya, evaṃ hi so, bhikkhave, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato anabhāvaṃkato † āyatiṃ anuppādadhammo. Evameva kho, bhikkhave, viññāṇe āhāre asati nāmarūpassa avakkanti na hoti, nāmarūpassa avakkantiyā asati sabbaṃ…pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Idaṃ lokuttaraṃ. Idaṃ lokiyañca lokuttarañca.
“Monks, when consciousness as nutriment is absent, there is no descent of name-and-form. Without the descent of name-and-form, there is no renewed existence. Without renewed existence, there is no birth. Without birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus is the cessation of this entire mass of suffering. Suppose, monks, there were a great tree, and a man were to come with a spade and a basket. He would cut that tree at its root, dig around it, and pull out the roots, even down to the fibers of usīra grass. He would then cut that tree into pieces, split the pieces, reduce them to slivers, dry them in the wind and sun, burn them in a fire, reduce them to ashes, and scatter the ashes in a strong wind or let them be carried away by a swift river. In this way, monks, that great tree would be cut off at the root, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and be of a nature not to arise again in the future. In the same way, monks, when consciousness as nutriment is absent, there is no descent of name-and-form... thus is the cessation of this entire mass of suffering.” This is the supramundane. This is that which is both mundane and supramundane.
Này các tỳ khưu, nếu không có thức thực, danh sắc sẽ không nhập thai; khi danh sắc không nhập thai, sẽ không có tái sanh; khi không có tái sanh, sẽ không có sanh; khi không có sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ được đoạn diệt. Như vậy, toàn bộ khối khổ này sẽ được đoạn diệt. Này các tỳ khưu, ví như có một cây đại thọ, rồi một người mang cuốc và giỏ đến, người ấy chặt cây đó ở gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đào lên, sau khi đào lên, người ấy nhổ rễ lên, cho đến cả những rễ nhỏ như rễ cỏ hương bài. Người ấy chặt cây đó thành từng khúc, sau khi chặt thành từng khúc, người ấy chẻ ra, sau khi chẻ ra, người ấy làm thành từng mảnh nhỏ, sau khi làm thành từng mảnh nhỏ, người ấy phơi khô trong gió và nắng, sau khi phơi khô trong gió và nắng, người ấy đốt bằng lửa, sau khi đốt bằng lửa, người ấy làm thành tro, sau khi làm thành tro, người ấy sàng trong gió lớn, hoặc thả trôi trong dòng sông chảy xiết. Này các tỳ khưu, như vậy, cây đại thọ đó sẽ bị nhổ tận gốc, trở thành như gốc cây thốt nốt, không thể tồn tại, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các tỳ khưu, khi không có thức thực, danh sắc sẽ không nhập thai; khi danh sắc không nhập thai... (tất cả)... như vậy, toàn bộ khối khổ này sẽ được đoạn diệt. Đây là (kinh) siêu thế. Đây là (kinh) vừa thế gian vừa siêu thế.
113. Tattha katamaṃ sattādhiṭṭhānaṃ?
113. Herein, what is that which is founded on beings?
113. Trong số đó, kinh nào là kinh Quyết định về chúng sanh (Sattādhiṭṭhāna)?
‘‘Sabbā disā anuparigamma cetasā, nevajjhagā piyataramattanā kvaci;
Evaṃ piyo puthu attā paresaṃ, tasmā na hiṃse paramattakāmo’’ti †.
“Having traversed all directions with the mind, one finds nowhere anyone dearer than oneself. In the same way, for others, their own self is dear. Therefore, one who desires their own welfare should not harm another.”
Sau khi đi khắp mọi phương hướng bằng tâm, không tìm thấy ở đâu một ai thân thương hơn chính mình. Cũng vậy, đối với những người khác, mỗi người đều yêu quý chính mình. Do đó, người mong cầu lợi ích cho mình không nên làm hại người khác.
Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ.
This is that which is founded on beings.
Đây là kinh Quyết định về chúng sanh.
‘‘Ye keci bhūtā bhavissanti ye vāpi †, sabbe gamissanti pahāya dehaṃ;
Taṃ sabbajāniṃ kusalo viditvā, ātāpiyo † brahmacariyaṃ careyyā’’ti.
“Whatever beings have been, or whoever will be, all will depart, having abandoned the body. The skilled one, knowing this in its entirety, being ardent, should live the holy life.”
Bất cứ chúng sanh nào đã tồn tại, hoặc những chúng sanh nào sẽ tồn tại, tất cả đều sẽ ra đi, từ bỏ thân xác. Người khôn ngoan, tinh cần, biết rõ tất cả điều đó, nên thực hành phạm hạnh.
Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ.
This is that which is founded on beings.
Đây là kinh Quyết định về chúng sanh.
‘‘Sattahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṃ kalyāṇamittaṃ api viveciyamānena paṇāmiyamānena gale pisanamajjamānena † yāvajīvaṃ na vijahitabbaṃ. Katamehi sattahi? Piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca vattā ca vacanakkhamo ca gambhīrañca kathaṃ kattā hoti, no ca aṭṭhāne † niyojeti. Imehi kho, bhikkhave, sattahi…pe… na vijahitabbaṃ. Idamavoca bhagavā, idaṃ vatvāna sugato. Athāparaṃ etadavoca satthā –
Monks, a good friend endowed with seven qualities should not be abandoned for life, even if one is being shunned, driven out, or throttled at the neck. What seven? They are dear and agreeable, respectable, worthy of reverence, an admonisher, patient with speech, able to speak on profound matters, and do not engage one in what is inappropriate. Monks, endowed with these seven qualities... should not be abandoned. This is what the Blessed One said. Having said this, the Sugata, the Teacher, further said:
Này các tỳ khưu, người bạn lành hội đủ bảy yếu tố, dù bị xa lánh, bị xua đuổi, bị bóp cổ, cũng không nên từ bỏ cho đến trọn đời. Bảy yếu tố nào? Là người đáng mến và đáng ưa thích, đáng kính, đáng tôn trọng, là người biết nói, biết lắng nghe, là người có thể nói những lời sâu sắc, và không xúi giục vào những điều không thích hợp. Này các tỳ khưu, do bảy yếu tố này... (v.v.)... không nên từ bỏ. Thế Tôn đã nói điều này, Thiện Thệ sau khi nói điều này, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
‘‘Piyo garu bhāvanīyo, vattā ca vacanakkhamo;
Gambhīrañca kathaṃ kattā, na caṭṭhāne niyojako;
Taṃ mittaṃ mittakāmena, yāvajīvampi seviya’’nti.
Dear, respectable, worthy of reverence, an admonisher and patient with words; one who speaks on profound matters, and does not engage one in what is inappropriate; such a friend, by one desiring friendship, should be associated with for life.
Người bạn đáng mến, đáng kính, đáng tôn trọng, biết nói và biết lắng nghe, có thể nói những lời sâu sắc, và không xúi giục vào điều không thích hợp; người mong có bạn tốt nên kết giao với người bạn như vậy, dù cho đến trọn đời.
Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ.
This is the discourse with beings as its foundation.
Đây là kinh Quyết định về chúng sanh.
Tattha katamaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ?
Among these, which is the discourse with the Dhamma as its foundation?
Trong số đó, kinh nào là kinh Quyết định về Pháp (Dhammādhiṭṭhāna)?
‘‘Yañca kāmasukhaṃ loke, yañcidaṃ diviyaṃ sukhaṃ;
Taṇhakkhayasukhassete †, kalaṃ nāgghanti soḷasi’’nti.
Whatever sensual pleasure there is in the world, and whatever divine pleasure there is—these are not worth a sixteenth part of the happiness of the destruction of craving.
Bất cứ lạc thú nào của dục vọng trong thế gian, và bất cứ lạc thú nào ở cõi trời, những lạc thú ấy không bằng một phần mười sáu của lạc thú do sự đoạn tận ái dục.
Idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ.
This is the discourse with the Dhamma as its foundation.
Đây là kinh Quyết định về Pháp.
‘‘Susukhaṃ † vata nibbānaṃ, sammāsambuddhadesitaṃ;
Asokaṃ virajaṃ khemaṃ, yattha dukkhaṃ nirujjhatī’’ti.
Truly, Nibbāna is most blissful, as taught by the Perfectly Enlightened One; sorrowless, stainless, secure, where suffering ceases.
Thật an lạc thay, Niết Bàn, do bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thuyết giảng; không sầu, không bụi, an ổn, nơi mà khổ đau được đoạn diệt.
Idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ.
This is the discourse with the Dhamma as its foundation.
Đây là kinh Quyết định về Pháp.
Tattha katamaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca
Among these, which is the discourse that is founded on both beings and the Dhamma?
Trong số đó, kinh nào là kinh vừa Quyết định về chúng sanh vừa Quyết định về Pháp?
‘‘Mātaraṃ pitaraṃ hantvā, rājāno dve ca khattiye;
Raṭṭhaṃ sānucaraṃ hantvā’’ti idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ.
‘Having slain mother and father, and two warrior kings; having destroyed a kingdom with its retinue’—this is the discourse with the Dhamma as its foundation.
‘Giết mẹ và cha, hai vị vua dòng Sát-đế-lỵ, và vương quốc cùng với tùy tùng.’ Đây là kinh Quyết định về Pháp.
‘‘Anīgho yāti brāhmaṇo’’ti; Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ;
Idaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca.
‘The brāhmaṇa goes without anguish’—this is the discourse with beings as its foundation. This is the discourse that is founded on both beings and the Dhamma.
‘Vị Bà-la-môn đi đến không còn phiền não.’ Đây là kinh Quyết định về chúng sanh. Đây là kinh vừa Quyết định về chúng sanh vừa Quyết định về Pháp.
‘‘Cattārome, bhikkhave, iddhipādā †. Katame cattāro? Chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo, vīriya…pe… citta. Vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo’’ti. Idaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ.
Monks, there are these four bases of spiritual power. What four? The basis of spiritual power that possesses concentration due to desire along with the volitional formations of striving; …energy… mind… the basis of spiritual power that possesses concentration due to investigation along with the volitional formations of striving. This is the discourse with the Dhamma as its foundation.
Này các tỳ khưu, có bốn thần túc này. Bốn loại nào? Thần túc bao gồm định do dục và các hành tinh tấn, ... nghị lực... tâm... thần túc bao gồm định do thẩm sát và các hành tinh tấn. Đây là kinh Quyết định về Pháp.
So kāyepi cittaṃ samodahati, cittepi kāyaṃ samodahati, kāye sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā upasampajja viharati. Idaṃ sattādhiṭṭhānaṃ, idaṃ sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca.
He places his mind well in the body, and places his body well in the mind. Having entered into and attained the perception of pleasure and the perception of lightness in the body, he dwells. This is the discourse with beings as its foundation. This is the discourse that is founded on both beings and the Dhamma.
Vị ấy đặt tâm vào thân, và đặt thân vào tâm, sau khi nhập và đạt đến tưởng về lạc và tưởng về khinh an trong thân, vị ấy an trú. Đây là kinh Quyết định về chúng sanh, đây là kinh vừa Quyết định về chúng sanh vừa Quyết định về Pháp.
114. Tattha katamaṃ ñāṇaṃ?
114. Among these, which is the discourse on knowledge?
114. Trong số đó, kinh nào là kinh Trí (Ñāṇa)?
‘‘Yaṃ taṃ lokuttaraṃ ñāṇaṃ, sabbaññū yena vuccati;
Na tassa parihānatthi, sabbakāle pavattatī’’ti.
That knowledge which is supramundane, by which one is called 'all-knowing'; there is no decline from it, it proceeds at all times.
Trí tuệ siêu thế ấy, nhờ đó mà được gọi là bậc Toàn Giác; trí tuệ ấy không bị suy giảm, luôn hiện hữu trong mọi thời.
Idaṃ ñāṇaṃ.
This is the discourse on knowledge.
Đây là kinh Trí.
‘‘Paññā hi seṭṭhā lokasmiṃ, yāyaṃ nibbānagāminī †;
Yāya sammā pajānāti, jātimaraṇasaṅkhaya’’nti.
Wisdom is truly the best in the world, that which leads to Nibbāna; through it one rightly and distinctly knows the destruction of birth and death.
Trí tuệ là cao quý nhất trong thế gian, trí tuệ này dẫn đến Niết Bàn; nhờ đó mà người ta hiểu rõ sự đoạn tận của sanh và tử.
Idaṃ ñāṇaṃ.
This is the discourse on knowledge.
Đây là kinh Trí.
Tattha katamaṃ ñeyyaṃ?
Among these, which is the discourse on the knowable?
Trong số đó, kinh nào là kinh Đối tượng của trí (Ñeyya)?
‘‘Kittayissāmi te † santiṃ, [dhotakāti bhagavā,]
Diṭṭhe dhamme anītihaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ.
‘I will declare to you peace,’ said the Blessed One to Dhotaka, ‘visible in this very life, not based on hearsay; having known which, a mindful one, journeying on, may cross over attachment in the world.’
(Thế Tôn nói với Dhotaka): Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về sự an tịnh, không dựa vào truyền thuyết, ngay trong hiện tại; biết được điều đó, người có chánh niệm hành trì, sẽ vượt qua sự dính mắc trong thế gian.
‘‘Tañcāhaṃ abhinandāmi, mahesi santimuttamaṃ;
Yaṃ viditvā sato caraṃ, tare loke visattikaṃ.
‘And I delight in that, O great sage, the supreme peace; having known which, a mindful one, journeying on, may cross over attachment in the world.’
Và ta, bậc Đại Sĩ, hoan hỷ với sự an tịnh tối thượng ấy; biết được điều đó, người có chánh niệm hành trì, sẽ vượt qua sự dính mắc trong thế gian.
‘‘Yaṃ kiñci sampajānāsi, [dhotakāti bhagavā]
Uddhaṃ adho tiriyañcāpi majjhe;
Etaṃ viditvā saṅgoti loke,
Bhavābhavāya mākāsi taṇha’’nti.
‘Whatever you clearly comprehend,’ said the Blessed One to Dhotaka, ‘above, below, across, and in between; having known this as attachment in the world, do not create craving for any state of existence.’
(Thế Tôn nói với Dhotaka): Bất cứ điều gì ngươi nhận biết, ở trên, ở dưới, và ở giữa theo chiều ngang; biết rằng đó là sự dính mắc trong thế gian, đừng tạo ra ái dục để tái sanh trong các cõi.
Idaṃ ñeyyaṃ.
This is the discourse on the knowable.
Đây là kinh Đối tượng của trí.
‘‘Catunnaṃ, bhikkhave, ariyasaccānaṃ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṃ dīghamaddhānaṃ sandhāvitaṃ saṃsaritaṃ mamañceva tumhākañca…pe… tayidaṃ, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ anubuddhaṃ paṭividdhaṃ, dukkhasamudayaṃ † ariyasaccaṃ anubuddhaṃ paṭividdhaṃ, dukkhanirodhaṃ † ariyasaccaṃ anubuddhaṃ paṭividdhaṃ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ anubuddhaṃ paṭividdhaṃ. Ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo’’ti. Idamavoca bhagavā, idaṃ vatvāna sugato, athāparaṃ etadavoca satthā –
Monks, because of not awakening to and not penetrating the four noble truths, for this long duration, I as well as you have run on and wandered through. Monks, that noble truth of suffering has been awakened to and penetrated; the noble truth of the origin of suffering has been awakened to and penetrated; the noble truth of the cessation of suffering has been awakened to and penetrated; the noble truth of the path leading to the cessation of suffering has been awakened to and penetrated. Craving for existence has been cut off, the guide to existence is destroyed, now there is no renewed existence. This is what the Blessed One said. Having said this, the Sugata, the Teacher, further said:
Này các tỳ khưu, chính vì không giác ngộ, không thâm nhập bốn Thánh đế mà ta và các ngươi đã phải lang thang, luân hồi trong một thời gian dài như vậy... (v.v.)... Này các tỳ khưu, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Sự diệt Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập; Thánh đế về Con đường đưa đến Sự diệt Khổ đã được giác ngộ, đã được thâm nhập. Ái dục hữu đã bị cắt đứt, dây dẫn đến tái sanh đã bị đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa. Thế Tôn đã nói điều này, Thiện Thệ sau khi nói điều này, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
‘‘Catunnaṃ ariyasaccānaṃ, yathābhūtaṃ adassanā;
Saṃsitaṃ † dīghamaddhānaṃ, tāsu tāsveva jātisu.
Because of not seeing the four Noble Truths as they truly are, for a long period of time, one has wandered in those very births.
‘Do không thấy đúng như thật về bốn Thánh đế, nên đã luân hồi trong thời gian dài, trong những kiếp sống ấy, chính những kiếp sống ấy.
‘‘Tāni etāni diṭṭhāni, bhavanetti samūhatā;
Ucchinnaṃ mūlaṃ dukkhassa, natthi dāni punabbhavo’’ti.
These truths have been seen, the guide to existence has been uprooted, the root of suffering is cut off; now there is no renewed existence.
‘Những Thánh đế ấy đã được thấy, dây dẫn đến hữu đã được nhổ sạch. Gốc rễ của khổ đã được cắt đứt, nay không còn tái sanh nữa.’
Idaṃ ñeyyaṃ.
This is the discourse on the knowable.
Đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
Tattha katamaṃ ñāṇañca ñeyyañca? Rūpaṃ aniccaṃ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṃ aniccanti. Idaṃ ñeyyaṃ.
Among these, which is the discourse on both Knowledge and the Knowable? ‘Form is impermanent, feeling is impermanent, perception is impermanent, formations are impermanent, consciousness is impermanent.’ This is the discourse on the Knowable.
Trong ấy, thế nào là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết)? ‘Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, các hành là vô thường, thức là vô thường.’ Đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
Evaṃ jānaṃ evaṃ passaṃ ariyasāvako ‘‘rūpaṃ anicca’’nti passati, ‘‘vedanā aniccā’’ti passati, ‘‘saññaṃ…pe… saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ anicca’’nti passatīti. Idaṃ ñāṇaṃ.
Knowing thus and seeing thus, the noble disciple sees: ‘Form is impermanent.’ He sees: ‘Feeling is impermanent.’ He sees: ‘Perception… formations… consciousness is impermanent.’ This is the discourse on Knowledge.
Biết như vậy, thấy như vậy, vị Thánh đệ tử thấy rằng: ‘Sắc là vô thường,’ thấy rằng: ‘Thọ là vô thường,’ thấy rằng: ‘Tưởng… các hành… thức là vô thường.’ Đây là (kinh) Ñāṇa (Trí).
So parimuccati rūpena, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati dukkhasmāti vadāmīti. Idaṃ ñāṇañca ñeyyañca.
He is liberated from form, liberated from feeling, liberated from perception, liberated from formations, liberated from consciousness; he is liberated from suffering, I declare. This is the discourse on both Knowledge and the Knowable.
Vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi khổ, Ta nói vậy. Đây là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti idaṃ ñeyyaṃ. ‘‘Yadā paññāya passatī’’ti idaṃ ñāṇaṃ. ‘‘Atha nibbindati dukkhe esa maggo visuddhiyā’’ti idaṃ ñāṇañca ñeyyañca.
‘All conditioned things are impermanent’—this is the Knowable. ‘When one sees with wisdom’—this is Knowledge. ‘Then one becomes disenchanted with suffering; this is the path to purification’—this is both Knowledge and the Knowable.
‘Tất cả các hành là vô thường,’ đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết). ‘Khi thấy bằng trí tuệ,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí). ‘Bấy giờ nhàm chán trong khổ đau, đó là con đường đến thanh tịnh,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti idaṃ ñeyyaṃ. ‘‘Yadā paññāya passatī’’ti idaṃ ñāṇaṃ. ‘‘Atha nibbindati dukkhe esa maggo visuddhiyā’’ti idaṃ ñāṇañca ñeyyañca.
‘All conditioned things are suffering’—this is the Knowable. ‘When one sees with wisdom’—this is Knowledge. ‘Then one becomes disenchanted with suffering; this is the path to purification’—this is both Knowledge and the Knowable.
‘Tất cả các hành là khổ,’ đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết). ‘Khi thấy bằng trí tuệ,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí). ‘Bấy giờ nhàm chán trong khổ đau, đó là con đường đến thanh tịnh,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
‘‘Sabbe dhammā anattā’’ti idaṃ ñeyyaṃ. ‘‘Yadā paññāya passatī’’ti idaṃ ñāṇaṃ. ‘‘Atha nibbindati dukkhe esa maggo visuddhiyā’’ti idaṃ ñāṇañca ñeyyañca.
‘All phenomena are not-self’—this is the Knowable. ‘When one sees with wisdom’—this is Knowledge. ‘Then one becomes disenchanted with suffering; this is the path to purification’—this is both Knowledge and the Knowable.
‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết). ‘Khi thấy bằng trí tuệ,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí). ‘Bấy giờ nhàm chán trong khổ đau, đó là con đường đến thanh tịnh,’ đây là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
‘‘Ye hi keci, soṇa †, samaṇā vā brāhmaṇā vā aniccena rūpena dukkhena vipariṇāmadhammena ‘seyyohamasmī’ti vā samanupassanti, ‘sadisohamasmī’ti vā samanupassanti, ‘hīnohamasmī’ti vā samanupassanti. Kimaññatra yathābhūtassa adassanā. Aniccāya vedanāya…pe… aniccāya saññāya…pe… aniccehi saṅkhārehi…pe… aniccena viññāṇena dukkhena vipariṇāmadhammena ‘seyyohamasmī’ti vā samanupassanti, ‘sadisohamasmī’ti vā samanupassanti, ‘hīnohamasmī’ti vā samanupassanti, kimaññatra yathābhūtassa adassanā’’ti. Idaṃ ñeyyaṃ.
Soṇa, whatever ascetics or brahmins, with respect to impermanent, painful form that is subject to change, repeatedly regard themselves thus: ‘I am superior,’ or ‘I am equal,’ or ‘I am inferior’—what else could this be due to, other than not seeing it as it truly is? With respect to impermanent feeling… with respect to impermanent perception… with respect to impermanent formations… with respect to impermanent, painful consciousness that is subject to change, they repeatedly regard themselves thus: ‘I am superior,’ or ‘I am equal,’ or ‘I am inferior’—what else could this be due to, other than not seeing it as it truly is? This is the Knowable.
‘Này Soṇa, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với sắc là pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, mà lại xem xét rằng: ‘Ta hơn,’ hoặc xem xét rằng: ‘Ta bằng,’ hoặc xem xét rằng: ‘Ta thua.’ Điều gì khác hơn là do không thấy đúng như thật? Đối với thọ vô thường… đối với tưởng vô thường… đối với các hành vô thường… đối với thức là pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, mà lại xem xét rằng: ‘Ta hơn,’ hoặc xem xét rằng: ‘Ta bằng,’ hoặc xem xét rằng: ‘Ta thua,’ điều gì khác hơn là do không thấy đúng như thật?’ Đây là (kinh) Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
‘‘Ye ca kho keci, soṇa, samaṇā vā brāhmaṇā vā aniccena rūpena dukkhena vipariṇāmadhammena ‘seyyohamasmī’tipi na samanupassanti, ‘sadisohamasmī’tipi na samanupassanti, ‘hīnohamasmī’tipi na samanupassanti, kimaññatra yathābhūtassa dassanā. Aniccāya vedanāya…pe… aniccāya saññāya…pe… aniccehi saṅkhārehi…pe… aniccena viññāṇena dukkhena vipariṇāmadhammena ‘seyyohamasmī’tipi na samanupassanti, ‘sadisohamasmī’tipi na samanupassanti, ‘hīnohamasmī’tipi na samanupassanti, kimaññatra yathābhūtassa dassanāti. Idaṃ ñāṇaṃ.
Soṇa, whatever ascetics or brahmins, with respect to impermanent, painful form that is subject to change, do not repeatedly regard themselves thus: ‘I am superior,’ or ‘I am equal,’ or ‘I am inferior’—what else could this be due to, other than seeing it as it truly is? With respect to impermanent feeling… with respect to impermanent perception… with respect to impermanent formations… with respect to impermanent, painful consciousness that is subject to change, they do not repeatedly regard themselves thus: ‘I am superior,’ or ‘I am equal,’ or ‘I am inferior’—what else could this be due to, other than seeing it as it truly is? This is Knowledge.
‘Và này Soṇa, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, đối với sắc là pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, mà không xem xét rằng: ‘Ta hơn,’ cũng không xem xét rằng: ‘Ta bằng,’ cũng không xem xét rằng: ‘Ta thua,’ điều gì khác hơn là do thấy đúng như thật? Đối với thọ vô thường… đối với tưởng vô thường… đối với các hành vô thường… đối với thức là pháp vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, mà không xem xét rằng: ‘Ta hơn,’ cũng không xem xét rằng: ‘Ta bằng,’ cũng không xem xét rằng: ‘Ta thua,’ điều gì khác hơn là do thấy đúng như thật? Đây là (kinh) Ñāṇa (Trí).
Idaṃ ñāṇañca ñeyyañca.
This is both Knowledge and the Knowable.
Đây là (kinh) Ñāṇa (Trí) và Ñeyya (Pháp Cần Được Biết).
Tattha katamaṃ dassanaṃ?
Therein, which is the Seeing?
Trong ấy, thế nào là (kinh) Dassana (Kiến)?
115.
115.
115.
‘‘Ye ariyasaccāni vibhāvayanti, gambhīrapaññena sudesitāni;
Kiñcāpi te honti bhusaṃ pamattā †, na te bhavaṃ aṭṭhamamādiyantī’’ti.
Those noble individuals who make clear to themselves the Noble Truths, well-expounded by the one of profound wisdom—even though they may be exceedingly heedless, they do not take up an eighth existence.
‘Những ai làm sáng tỏ các Thánh đế, đã được vị có trí tuệ thâm sâu khéo giảng; dầu cho các vị ấy có phóng dật đến đâu, các vị ấy cũng không nhận lấy kiếp sống thứ tám.’
Idaṃ dassanaṃ.
This is the Seeing.
Đây là (kinh) Dassana (Kiến).
‘‘Yathindakhīlo pathavissito siyā, catubbhi vātehi asampakampiyo;
Tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi, yo ariyasaccāni avecca passatī’’ti.
Just as an Inda-pillar, set in the earth, would be unshakable by the four winds; I declare that good person, who sees the Noble Truths having penetrated them, to be of such a likeness.
‘Như cột trụ cổng thành, được chôn sâu vào đất, không bị lay chuyển bởi bốn ngọn gió; Ta nói bậc chân nhân cũng tương tự như vậy, người đã thâm nhập và thấy được các Thánh đế.’
Idaṃ dassanaṃ.
This is the Seeing.
Đây là (kinh) Dassana (Kiến).
‘‘Catūhi, bhikkhave, sotāpattiyaṅgehi samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṃ byākareyya ‘khīṇanirayomhi, khīṇatiracchānayoni, khīṇapettivisayo, khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo, sattakkhattuparamaṃ † deve ca manusse ca sandhāvitvā saṃsaritvā dukkhassantaṃ karissāmī’ti. Katamehi catūhi? Idha, bhikkhave, ariyasāvakassa tathāgate saddhā niviṭṭhā patiṭṭhitā virūḷhā mūlajātā asaṃhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṃ saha dhammena, dhamme kho pana niṭṭhaṃ gato hoti, svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhi, yadidaṃ madanimmadano…pe… nirodho nibbānaṃ, saha dhammiyā kho panassa honti iṭṭhā kantā piyā manāpā gihī ceva pabbajitā ca. Ariyakantehi kho pana sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasaṭṭhehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṃvattanikehi. Imehi kho, bhikkhave, catūhi sotāpattiyaṅgehi samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṃ byākareyya ‘khīṇanirayomhi, khīṇatiracchānayoni, khīṇapettivisayo, khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo, sattakkhattuparamaṃ deve ca manusse ca sandhāvitvā saṃsaritvā dukkhassantaṃ karissāmī’’’ti.
Monks, a noble disciple endowed with the four factors of stream-entry may, if they wish, declare of themselves: ‘Hell is exhausted for me, the animal realm is exhausted, the realm of ghosts is exhausted, the plane of misery, the bad destination, the lower world is exhausted. I am a stream-enterer, not subject to fall, certain, heading for full enlightenment. Having transmigrated and wandered through at most seven existences among devas and humans, I shall make an end of suffering.’ With which four? Here, monks, a noble disciple has faith in the Tathāgata that is settled, established, with roots grown and planted, unshakable by any ascetic or brahmin, by a deva, Māra, or Brahmā, or by anyone in the world in accordance with the Dhamma. Furthermore, he has come to a final conclusion about the Dhamma: ‘The Dhamma is well-expounded by the Blessed One, directly visible, timeless, inviting one to come and see, leading onward, to be personally experienced by the wise.’ That is, the subduing of intoxication… cessation, Nibbāna. Furthermore, his companions in the holy life, both householders and the ordained, are dear, pleasing, beloved, and delightful to him. Furthermore, he is endowed with virtues dear to the noble ones—unbroken, unblemished, unspotted, unblotched, liberating, praised by the wise, ungrasped, and conducive to concentration. Endowed with these four factors of stream-entry, monks, a noble disciple may, if they wish, declare of themselves: ‘Hell is exhausted for me, the animal realm is exhausted, the realm of ghosts is exhausted, the plane of misery, the bad destination, the lower world is exhausted. I am a stream-enterer, not subject to fall, certain, heading for full enlightenment. Having transmigrated and wandered through at most seven existences among devas and humans, I shall make an end of suffering.’”
‘Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn chi phần của bậc Dự lưu, nếu mong muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đã đoạn tận bàng sanh, đã đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ, tối đa là bảy lần nữa, sau khi lưu chuyển, luân hồi trong cõi trời và cõi người, ta sẽ chấm dứt khổ đau.’ Do bốn chi phần nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có đức tin nơi Như Lai đã được an trí, thiết lập, tăng trưởng, bén rễ, không thể bị lay chuyển bởi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ ai ở trên đời một cách hợp pháp; và đối với Pháp, vị ấy đã đi đến kết luận rằng: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu,’ và rằng Niết-bàn này là sự dập tắt kiêu mạn… sự đoạn diệt; và đối với vị ấy, những người đồng phạm hạnh, cả tại gia lẫn xuất gia, là những người khả ái, khả ý, thân thương, và đáng mến. Và vị ấy thành tựu các giới được bậc Thánh ái mộ, không bị sứt mẻ, không bị đứt đoạn, không bị tỳ vết, không bị ô nhiễm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định. Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn chi phần của bậc Dự lưu này, nếu mong muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đã đoạn tận bàng sanh, đã đoạn tận cảnh giới ngạ quỷ, đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ, tối đa là bảy lần nữa, sau khi lưu chuyển, luân hồi trong cõi trời và cõi người, ta sẽ chấm dứt khổ đau.’
Idaṃ dassanaṃ.
This is the Seeing.
Đây là (kinh) Dassana (Kiến).
Tattha katamā bhāvanā?
Therein, which is the Cultivation?
Trong ấy, thế nào là (kinh) Bhāvanā (Tu Tập)?
‘‘Yassindriyāni bhāvitāni †, ajjhattaṃ bahiddhā ca sabbaloke;
Nibbijjha imaṃ parañca lokaṃ, kālaṃ kaṅkhati bhāvito sadanto’’ti.
One whose faculties are well-cultivated—internally, externally, and in the whole world—having penetrated this world and the next, with self cultivated and well-restrained, awaits the time.
‘Người nào có các căn đã được tu tập, ở bên trong, bên ngoài, và trong toàn thể thế gian; đã thâm nhập thế gian này và thế gian khác, đã tu tập, đã khéo chế ngự, người ấy chờ đợi thời điểm.’
Ayaṃ bhāvanā.
This is the Cultivation.
Đây là (kinh) Bhāvanā (Tu Tập).
‘‘Cattārimāni, bhikkhave, dhammapadāni †. Katamāni cattāri? Anabhijjhā dhammapadaṃ, abyāpādo dhammapadaṃ, sammāsati dhammapadaṃ, sammāsamādhi dhammapadaṃ, imāni kho, bhikkhave, cattāri dhammapadānī’’ti. Ayaṃ bhāvanā.
Monks, there are these four principles of the Dhamma. Which four? Non-covetousness as a principle of the Dhamma, non-ill will as a principle of the Dhamma, right mindfulness as a principle of the Dhamma, and right concentration as a principle of the Dhamma. These, monks, are the four principles of the Dhamma. This is the Cultivation.
Này các tỳ khưu, có bốn pháp cú này. Thế nào là bốn? Pháp cú không tham lam, pháp cú không sân hận, pháp cú chánh niệm, pháp cú chánh định. Này các tỳ khưu, đây chính là bốn pháp cú. Đây là (kinh) Tu Tập.
Tattha katamaṃ dassanañca bhāvanā ca? ‘‘Pañca chinde pañca jahe’’ti idaṃ dassanaṃ. ‘‘Pañca cuttari bhāvaye. Pañca saṅgātigo bhikkhu, oghatiṇṇoti vuccatī’’ti ayaṃ bhāvanā. Idaṃ dassanañca bhāvanā ca.
Therein, which is the Seeing and the Cultivation? ‘One should cut off five, one should abandon five’—this is the Seeing. ‘One should further cultivate five. A monk who has overcome the five attachments is called one who has crossed the flood’—this is the Cultivation. This is both the Seeing and the Cultivation.
Trong ấy, thế nào là Kiến và Tu? 'Năm nên đoạn trừ, năm nên từ bỏ', đây là Kiến. 'Năm nên tu tập thêm nữa. Vị tỳ khưu vượt qua năm trói buộc, được gọi là người đã vượt bộc lưu', đây là Tu. Đây là Kiến và Tu.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, indriyāni †. Katamāni tīṇi, anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ. Katamañca, bhikkhave, anaññātaññassāmītindriyaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu anabhisametassa dukkhassa ariyasaccassa abhisamayāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati, anabhisametassa dukkhasamudayassa ariyasaccassa…pe… dukkhanirodhassa…pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa abhisamayāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. Idaṃ, bhikkhave, anaññātaññassāmītindriya’’nti. Idaṃ dassanaṃ.
Monks, there are these three faculties. Which three? The faculty of ‘I shall know what has not yet been known,’ the faculty of final knowledge, and the faculty of one who has known. And what, monks, is the faculty of ‘I shall know what has not yet been known’? Here, monks, a monk, for the realization of the noble truth of suffering that has not yet been realized, generates desire, strives, arouses energy, exerts his mind, and makes an effort. For the realization of the noble truth of the origin of suffering that has not yet been realized… for the cessation of suffering… for the realization of the noble truth of the path leading to the cessation of suffering that has not yet been realized, he generates desire, strives, arouses energy, exerts his mind, and makes an effort. This, monks, is the faculty of ‘I shall know what has not yet been known.’ This is the Seeing.
Này các tỳ khưu, có ba quyền này. Thế nào là ba? Vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tri quyền? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đối với Thánh đế về Khổ chưa được liễu tri, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, sách tấn tâm, chuyên cần để liễu tri; đối với Thánh đế về Khổ tập... (như trên)... đối với Khổ diệt... (như trên)... đối với Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt chưa được liễu tri, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, sách tấn tâm, chuyên cần để liễu tri. Này các tỳ khưu, đây gọi là vị tri quyền. Đây là Kiến.
‘‘Katamañca, bhikkhave, aññindriyaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṃ dukkha’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti…pe… ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Idaṃ, bhikkhave, aññindriyaṃ.
“And what, monks, is the faculty of final knowledge? Here, monks, a bhikkhu understands as it really is: ‘This is suffering’; he understands as it really is: ‘This is the origin of suffering’; … he understands as it really is: ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ This, monks, is the faculty of final knowledge.”
Và này các tỳ khưu, thế nào là dĩ tri quyền? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu tuệ tri như thật: 'Đây là Khổ', tuệ tri như thật: 'Đây là Khổ tập', ... (như trên)... tuệ tri như thật: 'Đây là con đường đưa đến Khổ diệt'. Này các tỳ khưu, đây gọi là dĩ tri quyền.
‘‘Katamañca, bhikkhave, aññātāvindriyaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ itthattāyāti pajānāti. Idaṃ, bhikkhave, aññātāvindriya’’nti. Ayaṃ bhāvanā.
“And what, monks, is the faculty of one who has known? Here, monks, a bhikkhu, through the destruction of the taints, having realized for himself with direct knowledge in this very life the taintless liberation of mind and liberation by wisdom, abides having attained it. He knows: ‘Birth is destroyed, the spiritual life has been lived, what had to be done has been done, there is no more of this state of being.’ This, monks, is the faculty of one who has known.” This is the Bhāvanā Sutta.
Và này các tỳ khưu, thế nào là cụ tri quyền? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tuệ tri rằng: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'. Này các tỳ khưu, đây gọi là cụ tri quyền. Đây là Tu.
Idaṃ dassanañca bhāvanā ca.
This is both the Dassana Sutta and the Bhāvanā Sutta.
Đây là Kiến và Tu.
116. Tattha katamaṃ sakavacanaṃ?
116. Herein, which is the Sakavacana Sutta?
116. Trong ấy, thế nào là lời của chính mình?
‘‘Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodāpanaṃ, etaṃ buddhāna sāsana’’nti.
“The non-doing of all evil, the undertaking of the wholesome, the purification of one’s own mind—this is the teaching of the Buddhas.”
Không làm mọi điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy.
Idaṃ sakavacanaṃ.
This is the Sakavacana Sutta.
Đây là lời của chính mình.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, bālassa bālalakkhaṇāni bālanimittāni bālāpadānāni, yehi bālaṃ bāloti pare sañjānanti. Katamāni tīṇi? Bālo, bhikkhave, duccintitacintī ca hoti, dubbhāsitabhāsī ca hoti, dukkaṭakammakārī † ca hoti. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi bālassa bālalakkhaṇāni bālanimittāni bālāpadānāni.
“Monks, there are these three characteristics of a fool, signs of a fool, and foundations of a fool, by which others recognize a fool as a fool. What three? A fool, monks, is one who thinks ill-conceived thoughts, one who speaks ill-spoken speech, and one who performs ill-done deeds. These, monks, are the three characteristics of a fool, signs of a fool, and foundations of a fool.”
Này các tỳ khưu, có ba đặc điểm của kẻ ngu, tướng trạng của kẻ ngu, nền tảng của kẻ ngu này, do đó người khác nhận biết kẻ ngu là 'kẻ ngu'. Thế nào là ba? Này các tỳ khưu, kẻ ngu có tư duy xấu ác, có lời nói xấu ác, và có hành động xấu ác. Này các tỳ khưu, đây chính là ba đặc điểm của kẻ ngu, tướng trạng của kẻ ngu, nền tảng của kẻ ngu.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, paṇḍitassa paṇḍitalakkhaṇāni paṇḍitanimittāni paṇḍitāpadānāni, yehi paṇḍitaṃ paṇḍitoti pare sañjānanti. Katamāni tīṇi? Paṇḍito, bhikkhave, sucintitacintī ca hoti, subhāsitabhāsī ca hoti, sukatakammakārī ca hoti. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi paṇḍitassa paṇḍitalakkhaṇāni paṇḍitanimittāni paṇḍitāpadānānī’’ti.
“Monks, there are these three characteristics of a wise person, signs of a wise person, and foundations of a wise person, by which others recognize a wise person as wise. What three? A wise person, monks, is one who thinks well-conceived thoughts, one who speaks well-spoken speech, and one who performs well-done deeds. These, monks, are the three characteristics of a wise person, signs of a wise person, and foundations of a wise person.”
Này các tỳ khưu, có ba đặc điểm của người trí, tướng trạng của người trí, nền tảng của người trí này, do đó người khác nhận biết người trí là 'người trí'. Thế nào là ba? Này các tỳ khưu, người trí có tư duy tốt đẹp, có lời nói tốt đẹp, và có hành động tốt đẹp. Này các tỳ khưu, đây chính là ba đặc điểm của người trí, tướng trạng của người trí, nền tảng của người trí.
Idaṃ sakavacanaṃ.
This is the Sakavacana Sutta.
Đây là lời của chính mình.
Tattha katamaṃ paravacanaṃ?
Herein, which is the Paravacana Sutta?
Trong ấy, thế nào là lời của người khác?
‘‘Pathavīsamo natthi vitthato, ninno pātālasamo na vijjati;
Merusamo natthi unnato, cakkavattisadiso natthi poriso’’ti.
“There is nothing as extensive as the earth; there is no low place like the nether world; there is no high place like Mount Meru; there is no person like a wheel-turning monarch.”
Về bề rộng, không gì bằng đất; về chỗ trũng, không gì bằng địa ngục; về chiều cao, không gì bằng núi Meru; về con người, không ai bằng vua Chuyển luân.
Idaṃ paravacanaṃ.
This is the Paravacana Sutta.
Đây là lời của người khác.
‘‘‘Hotu, devānaminda, subhāsitena jayoti. Hotu, vepacitti subhāsitena jayoti. Bhaṇa, vepacitti, gātha’nti. Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṃ gāthaṃ abhāsi –
“‘Let there be victory through what is well-spoken, O lord of devas.’ ‘Let there be victory through what is well-spoken, O Vepacitti.’ ‘Speak a verse, Vepacitti.’ Then, monks, Vepacitti, lord of the asuras, spoke this verse:
'Này Thiên chủ, mong rằng chiến thắng sẽ thuộc về lời thiện thuyết. Này Vepacitti, mong rằng chiến thắng sẽ thuộc về lời thiện thuyết. Này Vepacitti, hãy nói kệ đi'. Rồi này các tỳ khưu, Vepacitti, vua a-tu-la, đã nói lên bài kệ này:
‘‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṃ †, no cassa paṭisedhako;
Tasmā bhusena daṇḍena, dhīro bālaṃ nisedhaye’’ti.
“Fools would become even more unruly if there were no one to restrain them; therefore, the wise one should restrain the fool with severe punishment.”
Kẻ ngu sẽ càng thêm chống đối, nếu không có người ngăn cản; vì vậy, bậc trí dùng hình phạt nặng, để ngăn cản kẻ ngu.
‘‘Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṃsu, devā tuṇhī ahesuṃ. Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca ‘bhaṇa, devānaminda, gātha’nti. Evaṃ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imaṃ gāthaṃ abhāsi –
“When this verse was spoken by Vepacitti, lord of the asuras, monks, the asuras rejoiced, but the devas were silent. Then, monks, Vepacitti, lord of the asuras, said this to Sakka, lord of the devas: ‘Speak a verse, O lord of devas.’ When this was said, monks, Sakka, lord of the devas, spoke this verse:”
Này các tỳ khưu, khi bài kệ được Vepacitti, vua a-tu-la, nói lên, các a-tu-la đã hoan hỷ, còn chư thiên thì im lặng. Rồi này các tỳ khưu, Vepacitti, vua a-tu-la, đã nói với Sakka, thiên chủ, rằng: 'Này Thiên chủ, hãy nói kệ đi'. Khi được nói vậy, này các tỳ khưu, Sakka, thiên chủ, đã nói lên bài kệ này:
‘‘Etadeva ahaṃ maññe, bālassa paṭisedhanaṃ;
Paraṃ saṅkupitaṃ ñatvā, yo sato upasammatī’’ti.
“This I consider to be the restraint of a fool: that one who, knowing another is enraged, mindfully becomes calm.”
Ta xem chính điều này, là sự ngăn cản kẻ ngu: khi biết người khác giận, ai chánh niệm giữ yên lặng.
‘‘Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāya devā anumodiṃsu, asurā tuṇhī ahesuṃ. Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vepacittiṃ asurindaṃ etadavoca ‘bhaṇa, vepacitti, gātha’nti. Evaṃ vutte, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṃ gāthaṃ abhāsi –
“When this verse was spoken by Sakka, lord of the devas, monks, the devas rejoiced, but the asuras were silent. Then, monks, Sakka, lord of the devas, said this to Vepacitti, lord of the asuras: ‘Speak a verse, Vepacitti.’ When this was said, monks, Vepacitti, lord of the asuras, spoke this verse:”
Này các tỳ khưu, khi bài kệ được Sakka, thiên chủ, nói lên, chư thiên đã hoan hỷ, còn các a-tu-la thì im lặng. Rồi này các tỳ khưu, Sakka, thiên chủ, đã nói với Vepacitti, vua a-tu-la, rằng: 'Này Vepacitti, hãy nói kệ đi'. Khi được nói vậy, này các tỳ khưu, Vepacitti, vua a-tu-la, đã nói lên bài kệ này:
‘‘Etadeva titikkhāya, vajjaṃ passāmi vāsava;
Yadā naṃ maññati † bālo, bhayā myāyaṃ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho, gova bhiyyo palāyina’’nti.
“This very fault I see in forbearance, Vāsava: when the fool thinks, ‘He endures me out of fear,’ that dull-witted one oppresses him all the more, just as a cow does to one that flees.”
Này Vāsava, ta thấy lỗi này trong sự nhẫn nại: khi kẻ ngu nghĩ rằng: 'Người này nhẫn nại ta vì sợ hãi'; kẻ ngu si ấy càng lấn tới, như bò lấn con bò đang chạy trốn.
‘‘Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṃsu, devā tuṇhī ahesuṃ. Atha kho vepacitti asurindo sakkaṃ devānamindaṃ etadavoca ‘bhaṇa, devānaminda, gātha’nti. Evaṃ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imā gāthāyo abhāsi –
“When this verse was spoken by Vepacitti, lord of the asuras, monks, the asuras rejoiced, but the devas were silent. Then Vepacitti, lord of the asuras, said this to Sakka, lord of the devas: ‘Speak a verse, O lord of the devas.’ When this was said, monks, Sakka, lord of the devas, spoke these verses:”
Này các tỳ khưu, khi bài kệ được Vepacitti, vua a-tu-la, nói lên, các a-tu-la đã hoan hỷ, còn chư thiên thì im lặng. Rồi Vepacitti, vua a-tu-la, đã nói với Sakka, thiên chủ, rằng: 'Này Thiên chủ, hãy nói kệ đi'. Khi được nói vậy, này các tỳ khưu, Sakka, thiên chủ, đã nói lên những bài kệ này:
‘‘Kāmaṃ maññatu vā mā vā, bhayā myāyaṃ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā, khantā bhiyyo na vijjati.
“Let him think as he may, or not, ‘He endures me out of fear.’ Benefits have one’s own welfare as supreme; nothing is found better than patience.”
Cứ để nó nghĩ hay không, 'Người này nhẫn nại ta vì sợ hãi'; lợi ích lấy tự lợi làm tối thượng, không gì hơn được sự nhẫn nại.
‘‘Yo have balavā santo, dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṃ khantiṃ, niccaṃ khamati dubbalo.
“One who, being strong, endures the weak—that they call the supreme patience. The weak one must always endure.”
Người có sức mạnh mà nhẫn nại kẻ yếu, đó gọi là sự nhẫn nại tối thượng; kẻ yếu thì phải luôn luôn nhẫn nại.
‘‘Abalaṃ taṃ balaṃ āhu, yassa bālabalaṃ balaṃ;
Balassa dhammaguttassa, paṭivattā na vijjati.
“That strength they call weakness, which is the strength of a fool. For the strong one, guarded by the Dhamma, an adversary is not found.”
Sức mạnh nào là sức mạnh của kẻ ngu, sức mạnh ấy được gọi là vô lực. Đối với người có sức mạnh, được Pháp bảo hộ, không có ai có thể chống lại.
‘‘Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṃ paṭikujjhati;
Kuddhaṃ appaṭikujjhanto, saṅgāmaṃ jeti dujjayaṃ.
“He who gets angry in return at one who is angry, becomes the more wicked one because of that. By not getting angry in return at one who is angry, one wins a battle that is hard to win.”
Người nào nổi giận lại với người đang giận, do đó, người ấy trở nên xấu xa hơn. Người không nổi giận lại với người đang giận, là chiến thắng một trận chiến khó thắng.
‘‘Ubhinnamatthaṃ carati, attano ca parassa ca;
Paraṃ saṅkupitaṃ ñatvā, yo sato upasammati.
“He acts for the welfare of both, for himself and for the other, who, knowing that the other is angry, mindfully becomes calm.”
Người nào biết người khác đang nổi giận, rồi chánh niệm giữ được bình tĩnh, người ấy thực hành lợi ích cho cả hai, cho chính mình và cho người khác.
‘‘Ubhinnaṃ tikicchantānaṃ, attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti, ye dhammassa akovidā’’ti.
“He who is treating the welfare of both, of himself and of the other—people who are unskilled in the Dhamma consider him a fool.”
Những người không thông thạo Chánh Pháp, cho rằng người đang chữa lành cho cả hai, cho chính mình và cho người khác, là kẻ ngu.
‘‘Bhāsitāsu kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāsu devā anumodiṃsu, asurā tuṇhī ahesu’’nti. Idaṃ paravacanaṃ.
“Monks, when these verses were spoken by Sakka, lord of the devas, the devas rejoiced, but the asuras became silent.” This is the Paravacana Sutta.
Này các Tỳ khưu, khi những câu kệ này được Sakka, vua của các vị trời, nói lên, các vị trời đã hoan hỷ, còn các a-tu-la thì im lặng. Đây là lời của người khác.
117. Tattha katamaṃ sakavacanañca paravacanañca?
117. Therein, which is the Sutta that is both the word of oneself and the word of another?
117. Trong ấy, thế nào là lời của chính mình và lời của người khác?
Yañca pattaṃ yañca pattabbaṃ ubhayametaṃ rajānukiṇṇaṃ āturassānusikkhato. Ye ca sikkhāsārā sīlaṃ vataṃ jīvitaṃ brahmacariyaṃ upaṭṭhānasārā, ayameko anto. Ye ca evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ‘‘natthi kāmesu doso’’ti, ayaṃ dutiyo anto. Iccete ubho antā kaṭasivaḍḍhanā kaṭasiyo diṭṭhiṃ vaḍḍhenti. Ete ubho ante anabhiññāya olīyanti eke atidhāvanti eketi. Idaṃ paravacanaṃ.
Both what has been attained and what is to be attained, these two are strewn with dust for one who follows the example of the afflicted. And those who take training as the essence—virtue, observances, livelihood, the holy life—and take attendance as the essence, this is one extreme. And those who hold such a doctrine and such a view, that ‘there is no fault in sensual pleasures,’ this is the second extreme. Thus, these two extremes increase the charnel ground; they increase wrong view. Not having directly known these two extremes, some shrink back, and some overshoot. This is the Paravacana Sutta.
Cái đã đạt được và cái sẽ đạt được, cả hai điều này đều bị nhiễm ô bởi bụi bẩn đối với người bị bệnh hoạn, người đang bắt chước. Và những ai xem học giới là cốt lõi, xem giới, hạnh, mạng sống, phạm hạnh là sự phụng sự cốt lõi, đây là một cực đoan. Và những ai có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Không có lỗi trong các dục', đây là cực đoan thứ hai. Như vậy, cả hai cực đoan này làm tăng trưởng nghĩa địa, các nghĩa địa làm tăng trưởng tà kiến. Do không thắng tri hai cực đoan này, một số người bị thụt lùi, một số người lại vượt quá. Đây là lời của người khác.
Ye ca kho te ubho ante abhiññāya tatra ca na ahesuṃ, tena ca amaññiṃsu, vaṭṭaṃ tesaṃ natthi paññāpanāyāti. Idaṃ sakavacanaṃ. Ayaṃ udāno sakavacanañca paravacanañca.
But those who, having directly known those two extremes, were not established in them and did not conceive through them, for them there is no cycle of rebirth to be designated. This is the word of oneself. This inspired utterance is a Sutta that is both the word of oneself and the word of another.
Còn những ai, sau khi đã thắng tri hai cực đoan ấy, đã không hiện hữu trong ấy, và đã không tưởng tri bởi cái ấy, đối với họ, không có vòng luân hồi để có thể được trình bày. Đây là lời của chính mình. Lời cảm hứng này là lời của chính mình và lời của người khác.
Rājā pasenadi † kosalo bhagavantaṃ etadavoca – idha mayhaṃ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi ‘‘kesaṃ nu kho piyo attā, kesaṃ appiyo attā’’ti. Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi ‘‘ye ca kho keci kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ caranti, manasā duccaritaṃ caranti, tesaṃ appiyo attā. Kiñcāpi te evaṃ vadeyyuṃ ‘piyo no attā’ti, atha kho tesaṃ appiyo attā. Taṃ kissa hetu? Yaṃ hi appiyo appiyassa kareyya, taṃ te attanāva attano karonti, tasmā tesaṃ appiyo attā. Ye ca kho keci kāyena sucaritaṃ caranti, vācāya sucaritaṃ caranti, manasā sucaritaṃ caranti, tesaṃ piyo attā. Kiñcāpi te evaṃ vadeyyuṃ ‘appiyo no attā’ti, atha kho tesaṃ piyo attā. Taṃ kissa hetu? Yaṃ hi piyo piyassa kareyya. Taṃ te attanāva attano karonti. Tasmā tesaṃ piyo attā’’ti.
King Pasenadi of Kosala said this to the Blessed One: “Here, venerable sir, while I was alone in a secluded place, this reflection arose in my mind: ‘To whom is the self dear, and to whom is the self not dear?’ Then, venerable sir, it occurred to me: ‘Those who engage in misconduct by body, speech, and mind—their self is not dear to them. Even if they were to say, “Our self is dear to us,” yet their self is not dear to them. For what reason? Because what one who is not dear would do to another who is not dear, that they do to themselves by themselves. Therefore, their self is not dear to them. But those who engage in good conduct by body, speech, and mind—their self is dear to them. Even if they were to say, “Our self is not dear to us,” yet their self is dear to them. For what reason? Because what a loved one would do to a loved one, that they do to themselves by themselves. Therefore, their self is dear to them.’”
Vua Pasenadi nước Kosala bạch với Đức Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, ở đây, khi con đang ở nơi kín đáo, độc cư, một suy tầm như vầy đã khởi lên trong tâm con: 'Đối với ai, tự ngã là đáng yêu? Đối với ai, tự ngã là không đáng yêu?'. Bạch Thế Tôn, đối với con, ý nghĩ này đã khởi lên: 'Những ai làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý, đối với họ, tự ngã là không đáng yêu. Mặc dù họ có thể nói rằng: 'Tự ngã của chúng tôi là đáng yêu', nhưng thực ra tự ngã của họ là không đáng yêu. Vì sao vậy? Vì điều gì mà một người không đáng yêu làm cho một người không đáng yêu, chính họ tự làm điều đó cho chính mình. Do đó, tự ngã của họ là không đáng yêu. Còn những ai làm thiện hạnh bằng thân, làm thiện hạnh bằng lời, làm thiện hạnh bằng ý, đối với họ, tự ngã là đáng yêu. Mặc dù họ có thể nói rằng: 'Tự ngã của chúng tôi là không đáng yêu', nhưng thực ra tự ngã của họ là đáng yêu. Vì sao vậy? Vì điều gì mà một người đáng yêu làm cho một người đáng yêu, chính họ tự làm điều đó cho chính mình. Do đó, tự ngã của họ là đáng yêu'.
‘‘Evametaṃ, mahārāja, evametaṃ, mahārāja, ye hi keci, mahārāja, kāyena duccaritaṃ caranti, vācāya duccaritaṃ caranti, manasā duccaritaṃ caranti tasmā tesaṃ appiyo attā. Kiñcāpi te evaṃ vadeyyuṃ ‘piyo no attā’ti, atha kho tesaṃ appiyo attā. Taṃ kissa hetu? Yaṃ hi, mahārāja, appiyo appiyassa kareyya, taṃ te attanāva attano karonti, tasmā tesaṃ appiyo attā. Ye ca kho keci mahārāja kāyena sucaritaṃ caranti, vācāya sucaritaṃ caranti, manasā sucaritaṃ caranti, tesaṃ piyo attā. Kiñcāpi te evaṃ vadeyyuṃ ‘appiyo no attā’ti, atha kho tesaṃ piyo attā. Taṃ kissa hetu? Yaṃ hi, mahārāja, piyo piyassa kareyya, taṃ te attanāva attano karonti, tasmā tesaṃ piyo attāti. Idamavoca bhagavā…pe… satthā –
“So it is, great king! So it is, great king! Those, great king, who engage in misconduct by body, speech, and mind—their self is not dear to them. Even if they were to say, ‘Our self is dear to us,’ yet their self is not dear to them. For what reason? Because, great king, what one who is not dear would do to another who is not dear, that they do to themselves by themselves. Therefore, their self is not dear to them. But those, great king, who engage in good conduct by body, speech, and mind—their self is dear to them. Even if they were to say, ‘Our self is not dear to us,’ yet their self is dear to them. For what reason? Because, great king, what a loved one would do to a loved one, that they do to themselves by themselves. Therefore, their self is dear to them.” This the Blessed One said… the Teacher:
– Đúng vậy, Đại vương, đúng vậy, Đại vương! Này Đại vương, những ai làm ác hạnh bằng thân, làm ác hạnh bằng lời, làm ác hạnh bằng ý, đối với họ, tự ngã là không đáng yêu. Mặc dù họ có thể nói rằng: 'Tự ngã của chúng tôi là đáng yêu', nhưng thực ra tự ngã của họ là không đáng yêu. Vì sao vậy? Này Đại vương, vì điều gì mà một người không đáng yêu làm cho một người không đáng yêu, chính họ tự làm điều đó cho chính mình. Do đó, tự ngã của họ là không đáng yêu. Còn những ai, này Đại vương, làm thiện hạnh bằng thân, làm thiện hạnh bằng lời, làm thiện hạnh bằng ý, đối với họ, tự ngã là đáng yêu. Mặc dù họ có thể nói rằng: 'Tự ngã của chúng tôi là không đáng yêu', nhưng thực ra tự ngã của họ là đáng yêu. Vì sao vậy? Này Đại vương, vì điều gì mà một người đáng yêu làm cho một người đáng yêu, chính họ tự làm điều đó cho chính mình. Do đó, tự ngã của họ là đáng yêu. Đức Thế Tôn đã nói như vậy... bậc Đạo Sư –
‘‘Attānañce piyaṃ jaññā, na naṃ pāpena saṃyuje;
Na hi taṃ sulabhaṃ hoti, sukhaṃ dukkaṭakārinā.
“If one should know the self to be dear, one should not yoke it with evil; for happiness is not easily obtained by one who does evil deeds.”
Nếu biết tự ngã là đáng yêu, thì không nên kết hợp nó với điều ác. Vì rằng hạnh phúc không dễ dàng có được bởi người làm điều ác.
‘‘Antakenādhipannassa †, jahato mānusaṃ bhavaṃ;
Kiṃ hi tassa sakaṃ hoti, kiñca ādāya gacchati;
Kiñcassa anugaṃ hoti, chāyāva anapāyinī.
“For one overcome by the Ender, who is abandoning human existence, what indeed is his own? What does he take when he goes? And what follows him, like a shadow that never departs?”
Đối với người bị Thần Chết chinh phục, đang từ bỏ kiếp người, cái gì là của riêng người ấy? Và người ấy mang theo được gì? Và cái gì đi theo người ấy, như bóng không rời hình?
‘‘Ubho puññañca pāpañca, yaṃ macco kurute idha;
Tañhi tassa sakaṃ hoti, taṃva ādāya gacchati;
Taṃvassa anugaṃ hoti, chāyāva anapāyinī.
“Both the merit and the evil that a mortal does here—that indeed is his own; that he takes when he goes. That follows him, like a shadow that never departs.”
Cả phước và tội, mà người phải chết làm ở đời này, chính cái đó là của riêng người ấy, người ấy mang theo chính cái đó. Chính cái đó đi theo người ấy, như bóng không rời hình.
‘‘Tasmā kareyya kalyāṇaṃ, nicayaṃ samparāyikaṃ;
Puññāni paralokasmiṃ, patiṭṭhā honti pāṇina’’nti.
“Therefore, one should do good, accumulating it for the future life. Merits are the support for living beings in the next world.”
Do đó, hãy làm điều thiện, tích lũy cho đời sau. Các phước báu ở đời sau là chỗ nương tựa cho chúng sanh.
Idaṃ suttaṃ paravacanaṃ. Anugīti sakavacanaṃ. Idaṃ sakavacanañca paravacanañca.
This sutta is the word of another. The subsequent verse is the word of oneself. This is a Sutta that is both the word of oneself and the word of another.
Kinh này là lời của người khác. Phần kệ tụng theo sau là lời của chính mình. Đây là lời của chính mình và lời của người khác.
118. Tattha katamaṃ visajjanīyaṃ?
118. Therein, which is the Sutta to be answered?
118. Trong ấy, thế nào là (kinh) cần được giải đáp?
Pañhe pucchite idaṃ abhiññeyyaṃ, idaṃ pariññeyyaṃ, idaṃ pahātabbaṃ, idaṃ bhāvetabbaṃ, idaṃ sacchikātabbaṃ, ime dhammā evaṃgahitā idaṃ phalaṃ nibbattayanti. Tesaṃ evaṃgahitānaṃ ayamattho iti idaṃ visajjanīyaṃ. ‘‘Uḷāro buddho bhagavā’’ti buddhauḷārataṃ dhammasvākkhātataṃ saṅghasuppaṭipattiñca ekaṃseneva niddise. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti ekaṃseneva niddise. Yaṃ vā panaññampi evaṃ jātiyaṃ. Idaṃ visajjanīyaṃ.
When a question is asked: ‘This is to be directly known, this is to be fully understood, this is to be abandoned, this is to be developed, this is to be realized.’ These dhammas, thus undertaken, produce this result. For those thus undertaken, this is the meaning. This is a Sutta to be answered. ‘Sublime is the Buddha, the Blessed One’—thus one should point out definitively the sublimity of the Buddha, the well-expounded nature of the Dhamma, and the good practice of the Sangha. ‘All conditioned formations are impermanent,’ ‘All conditioned formations are suffering,’ ‘All dhammas are not-self’—thus one should point out definitively. Or whatever else is of such a kind. This is a Sutta to be answered.
Khi câu hỏi được đặt ra: 'Điều này cần được thắng tri, điều này cần được liễu tri, điều này cần được đoạn tận, điều này cần được tu tập, điều này cần được chứng ngộ, các pháp này khi được nắm giữ như vậy sẽ sinh ra quả này. Đối với những pháp được nắm giữ như vậy, đây là ý nghĩa', như vậy, đây là (kinh) cần được giải đáp. 'Đức Phật, Thế Tôn là cao thượng', nên chỉ rõ một cách dứt khoát sự cao thượng của Đức Phật, Pháp được khéo thuyết, Tăng chúng khéo hành. 'Tất cả các hành là vô thường', 'tất cả các hành là khổ', 'tất cả các pháp là vô ngã', nên chỉ rõ một cách dứt khoát. Hoặc bất cứ kinh nào khác có tính chất như vậy. Đây là (kinh) cần được giải đáp.
Tattha katamaṃ avisajjanīyaṃ?
Therein, which is the Sutta not to be answered?
Trong ấy, thế nào là (kinh) không cần được giải đáp?
‘‘Ākaṅkhato te naradammasārathi †, devā manussā manasā vicintitaṃ;
Sabbe na jaññā kasiṇāpi pāṇino, santaṃ samādhiṃ araṇaṃ nisevato;
Kintaṃ bhagavā ākaṅkhatī’’ti.
“O Tamer of men to be tamed, that which is specially conceived in the mind of you who desires—all devas, humans, and all living beings cannot know it. Of you who attends to the peaceful, passionless concentration—what is that which you, Blessed One, desire?”
Hỡi bậc Ngự pháp trượng phu, điều mà Ngài mong muốn, suy tư trong tâm, tất cả chư thiên, nhân loại, và toàn thể chúng sanh đều không thể biết được, (của Ngài) người đang an trú trong định tĩnh lặng, vô phiền não. Đức Thế Tôn mong muốn điều gì vậy?
Idaṃ avisajjanīyaṃ.
This is a Sutta not to be answered.
Đây là (kinh) không cần được giải đáp.
Ettako bhagavā sīlakkhandhe samādhikkhandhe paññākkhandhe vimuttikkhandhe vimuttiñāṇadassanakkhandhe iriyāyaṃ pabhāve hitesitāyaṃ karuṇāyaṃ iddhiyanti. Idaṃ avisajjanīyaṃ.
The Blessed One is of such a measure in the aggregate of virtue, the aggregate of concentration, the aggregate of wisdom, the aggregate of liberation, the aggregate of the knowledge and vision of liberation, in deportment, in power, in seeking the welfare of others, in compassion, and in psychic power. This is a Sutta not to be answered.
Đức Thế Tôn là chừng ấy trong giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn, trong oai nghi, trong uy lực, trong lòng tìm cầu lợi ích, trong lòng bi, trong thần thông. Đây là (kinh) không cần được giải đáp.
‘‘Tathāgatassa, bhikkhave, arahato sammāsambuddhassa loke uppādā tiṇṇaṃ ratanānaṃ uppādo buddharatanassa dhammaratanassa saṅgharatanassa’’. Kiṃ pamāṇāni tīṇi ratanānīti? Idaṃ avisajjanīyaṃ.
“With the arising of the Tathāgata, bhikkhus, the Arahant, the Sammāsambuddha in the world, there is the arising of the three jewels: the Buddha jewel, the Dhamma jewel, and the Saṅgha jewel.” The question, ‘What is the measure of the three jewels?’ is not to be answered.
“Này các Tỳ khưu, do sự xuất hiện ở đời của bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nên có sự xuất hiện của ba báu vật: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo.” Ba báu vật có mức độ như thế nào? Đây là điều không nên trả lời.
Buddhavisayo avisajjanīyo. Puggalaparoparaññutā avisajjanīyā. ‘‘Pubbā, bhikkhave, koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sakiṃ nirayaṃ sakiṃ tiracchānayoniṃ sakiṃ pettivisayaṃ sakiṃ asurayoniṃ sakiṃ deve sakiṃ manusse sandhāvitaṃ saṃsaritaṃ’’. Katamā pubbā koṭīti avisajjanīyaṃ. Na paññāyatīti sāvakānaṃ ñāṇavekallena. Duvidhā buddhānaṃ bhagavantānaṃ desanā attūpanāyikā ca parūpanāyikā ca. Na paññāyatīti parūpanāyikā. Natthi buddhānaṃ bhagavantānaṃ avijānanāti † attūpanāyikā. Yathā bhagavā kokālikaṃ bhikkhuṃ ārabbha aññataraṃ bhikkhuṃ evamāha –
The sphere of a Buddha is not to be answered. The question concerning the knowledge of the succession of individuals is not to be answered. “Bhikkhus, the prior end is not discerned of beings hindered by ignorance and fettered by craving, who have run on and wandered through—sometimes to hell, sometimes to the animal realm, sometimes to the realm of ghosts, sometimes to the realm of asuras, sometimes among the devas, sometimes among humans.” The question, “What is that prior end?” is not to be answered. ‘It is not discerned’ means it is not apparent to the disciples due to a deficiency in knowledge. The teaching of the Blessed Buddhas is twofold: that which is presented in relation to themselves, and that which is presented in relation to others. ‘It is not discerned’ is a teaching presented in relation to others. ‘There is no unknowing for the Blessed Buddhas’ is a teaching presented in relation to themselves. As the Blessed One, concerning the bhikkhu Kokālika, said to a certain bhikkhu:
Phạm vi của chư Phật là không nên trả lời. Sự thông suốt về tâm tánh cao thấp của các cá nhân là không nên trả lời. “Này các Tỳ khưu, khởi điểm ban đầu của các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái kiết sử trói buộc, đã trải qua luân hồi, lang thang, khi thì trong địa ngục, khi thì trong loài súc sanh, khi thì trong cõi ngạ quỷ, khi thì trong loài a-tu-la, khi thì trong cõi trời, khi thì trong cõi người, là không thể nhận biết được.” Khởi điểm ban đầu là gì? Đây là điều không nên trả lời. ‘Không thể nhận biết được’ là do trí tuệ của các vị Thanh văn còn thiếu sót. Lời dạy của chư Phật, các bậc Thế Tôn, có hai loại: tự thân chứng nghiệm và chỉ dạy cho người khác. ‘Không thể nhận biết được’ là chỉ dạy cho người khác. ‘Không có gì mà chư Phật, các bậc Thế Tôn, không biết’ là tự thân chứng nghiệm. Giống như khi Thế Tôn, nhân đề cập đến Tỳ khưu Kokālika, đã nói với một Tỳ khưu khác như sau:
‘‘Seyyathāpi, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho…pe… na tveva eko abbudo nirayo. Seyyathāpi bhikkhu, vīsati abbudā nirayā, evameko nirabbudo nirayo †. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā, evameko ababo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā, evameko aṭaṭo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā, evameko ahaho nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā, evameko kumudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā, evameko sogandhiko nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā, evameko uppalako nirayo †. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalakā nirayā, evameko puṇḍarīko nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarīkā nirayā, evameko padumo nirayo. Padume pana, bhikkhu, niraye kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṃ āghātetvā’’ti. Yaṃ vā pana kiñci bhagavā āha ‘‘ayaṃ appameyyo asaṅkhyeyo’’ti. Sabbaṃ taṃ avisajjanīyaṃ. Idaṃ avisajjanīyaṃ.
“Just as, bhikkhu, a Kosalan cartload of twenty khāris of sesame seeds would be exhausted by removing one seed every hundred years, but not so one Abbuda hell. Just as, bhikkhu, twenty Abbuda hells, so is one Nirabbuda hell. Just as, bhikkhu, twenty Nirabbuda hells, so is one Ababa hell. Just as, bhikkhu, twenty Ababa hells, so is one Aṭaṭa hell. Just as, bhikkhu, twenty Aṭaṭa hells, so is one Ahaha hell. Just as, bhikkhu, twenty Ahaha hells, so is one Kumuda hell. Just as, bhikkhu, twenty Kumuda hells, so is one Sogandhika hell. Just as, bhikkhu, twenty Sogandhika hells, so is one Uppalaka hell. Just as, bhikkhu, twenty Uppalaka hells, so is one Puṇḍarīka hell. Just as, bhikkhu, twenty Puṇḍarīka hells, so is one Paduma hell. It was in the Paduma hell, bhikkhu, that the bhikkhu Kokālika was reborn, having directed a mind of hate towards Sāriputta and Moggallāna.” And whatever the Blessed One has said, such as, ‘This is immeasurable, incalculable,’ all that is a matter not to be answered. This is the Sutta Not to be Answered.
“Này Tỳ khưu, ví như có một cỗ xe chở mè của xứ Kosala, chứa hai mươi khāri… thì một địa ngục Abbuda vẫn chưa hết. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Abbuda, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Nirabbuda. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Nirabbuda, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Ababa. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Ababa, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Aṭaṭa. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Aṭaṭa, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Ahaha. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Ahaha, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Kumuda. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Kumuda, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Sogandhika. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Sogandhika, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Uppalaka. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Uppalaka, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Puṇḍarīka. Này Tỳ khưu, ví như có hai mươi địa ngục Puṇḍarīka, thì cũng chỉ bằng một địa ngục Paduma. Này Tỳ khưu, Tỳ khưu Kokālika, do khởi tâm sân hận đối với Sāriputta và Moggallāna, đã sanh vào địa ngục Paduma.” Bất cứ điều gì Thế Tôn đã nói là ‘vô lượng, không thể đếm được’, tất cả những điều đó đều không nên trả lời. Đây là điều không nên trả lời.
119. Tattha katamaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca, yadā so upako ājīvako bhagavantaṃ āha ‘‘kuhiṃ, āvuso gotama, gamissasī’’ti. Bhagavā āha –
119. Among these, which is the sutta that is both to be answered and not to be answered? It is when the Ājīvaka Upaka said to the Blessed One, “Where, friend Gotama, will you go?” The Blessed One said:
119. Trong số đó, thế nào là vừa nên trả lời vừa không nên trả lời? Đó là khi du sĩ lõa thể Upaka hỏi Thế Tôn: ‘Thưa hiền giả Gotama, ngài sẽ đi đâu?’ Thế Tôn đã trả lời:
‘‘Bārāṇasiṃ gamissāmi, ahaṃ taṃ amatadundubhiṃ;
Dhammacakkaṃ pavattetuṃ, loke appaṭivattiya’’nti.
“I will go to Bārāṇasī to set in motion the Wheel of Dhamma, which cannot be turned back by another in the world, that drum of the Deathless.”
“Ta sẽ đi đến Bārāṇasī, để gióng lên tiếng trống bất tử; Để chuyển bánh xe Pháp, không ai ở đời có thể xoay chuyển lại.”
Upako ājīvako āha ‘‘‘jino’ti kho āvuso, bho gotama, paṭijānāsī’’ti. Bhagavā āha –
The Ājīvaka Upaka said, “Friend Gotama, do you then claim to be a ‘victor’?” The Blessed One said:
Du sĩ lõa thể Upaka nói: “‘Là người chiến thắng’ phải không, thưa hiền giả Gotama, ngài tự nhận như vậy sao?” Thế Tôn đã trả lời:
‘‘Mādisā ve jinā † honti, ye pattā āsavakkhayaṃ;
Jitā me pāpakā dhammā, tasmāhaṃ upakā jino’’ti.
“Victors are indeed those like me, who have attained the destruction of the taints. I have conquered evil qualities; therefore, Upaka, I am a victor.”
“Những bậc như ta thật là người chiến thắng, những vị đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc; Ta đã chiến thắng các pháp ác, vì thế, này Upaka, ta là người chiến thắng.”
Kathaṃ jino kena jinoti visajjanīyaṃ. Katamo jinoti avisajjanīyaṃ. Katamo āsavakkhayo, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayoti visajjanīyaṃ. Kittako āsavakkhayoti avisajjanīyaṃ. Idaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca.
The question, “In what way is one a victor? By what means is one a victor?” is to be answered. The question, “Which is the victor?” is not to be answered. The question, “What is the destruction of the taints: the destruction of lust, the destruction of hatred, the destruction of delusion?” is to be answered. The question, “What is the extent of the destruction of the taints?” is not to be answered. This is the sutta that is both to be answered and not to be answered.
‘Làm thế nào là người chiến thắng, do đâu mà chiến thắng?’ là điều nên trả lời. ‘Ai là người chiến thắng?’ là điều không nên trả lời. ‘Sự đoạn tận các lậu hoặc là gì? Là sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si’ là điều nên trả lời. ‘Sự đoạn tận các lậu hoặc có mức độ bao nhiêu?’ là điều không nên trả lời. Đây là điều vừa nên trả lời vừa không nên trả lời.
Atthi tathāgatoti visajjanīyaṃ. Atthi rūpanti visajjanīyaṃ. Rūpaṃ tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Rūpavā tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Rūpe tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Tathāgate rūpanti avisajjanīyaṃ. Evaṃ atthi vedanā…pe… saññā…pe… saṅkhārā…pe… atthi viññāṇanti visajjanīyaṃ. Viññāṇaṃ tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Viññāṇavā tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Viññāṇe tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Tathāgate viññāṇanti avisajjanīyaṃ. Aññatra rūpena tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Aññatra vedanāya…pe… saññāya…pe… saṅkhārehi…pe… viññāṇena tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Ayaṃ so tathāgato arūpako…pe… avedanako…pe… asaññako…pe… asaṅkhārako…pe… aviññāṇakoti avisajjanīyaṃ. Idaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca.
The question, ‘Does a being exist?’ is to be answered. The question, ‘Does form exist?’ is to be answered. The question, ‘Is a being form?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being possessed of form?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being in form?’ is not to be answered. The question, ‘Is form in a being?’ is not to be answered. Similarly, the question, ‘Does feeling exist?’… ‘Does perception exist?’… ‘Do volitional formations exist?’… ‘Does consciousness exist?’ is to be answered. The question, ‘Is a being consciousness?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being possessed of consciousness?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being in consciousness?’ is not to be answered. The question, ‘Is consciousness in a being?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being other than form?’ is not to be answered. The question, ‘Is a being other than feeling… other than perception… other than volitional formations… other than consciousness?’ is not to be answered. The question, ‘Is this being without form… without feeling… without perception… without volitional formations… without consciousness?’ is not to be answered. This is the sutta that is both to be answered and not to be answered.
‘Có Như Lai không?’ là điều nên trả lời. ‘Có sắc không?’ là điều nên trả lời. ‘Sắc là Như Lai chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai có sắc chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai ở trong sắc chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Sắc ở trong Như Lai chăng?’ là điều không nên trả lời. Tương tự, ‘Có thọ không?’... ‘Có tưởng không?’... ‘Có các hành không?’... ‘Có thức không?’ là điều nên trả lời. ‘Thức là Như Lai chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai có thức chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai ở trong thức chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Thức ở trong Như Lai chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai khác với sắc chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai khác với thọ chăng?’... ‘khác với tưởng chăng?’... ‘khác với các hành chăng?’... ‘khác với thức chăng?’ là điều không nên trả lời. ‘Như Lai này không có sắc... không có thọ... không có tưởng... không có các hành... không có thức chăng?’ là điều không nên trả lời. Đây là điều vừa nên trả lời vừa không nên trả lời.
Passati bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte cavamāne upapajjamāne evaṃ sabbaṃ…pe… yathākammūpage satte pajānātīti visajjanīyaṃ. Katame sattā, katamo tathāgatoti avisajjanīyaṃ. Idaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca.
The question, ‘Does the Blessed One, with the divine eye, purified and surpassing the human, see beings passing away and being reborn… and does he know beings who fare according to their kamma?’ is to be answered. The question, ‘Which dhammas are “beings”? Which dhamma is “a being”?’ is not to be answered. This is the sutta that is both to be answered and not to be answered.
‘Thế Tôn có thấy các chúng sanh, khi chết, khi sanh, bằng thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân... và biết rõ chúng sanh tùy theo nghiệp của họ không?’ là điều nên trả lời. ‘Chúng sanh là gì, Như Lai là gì?’ là điều không nên trả lời. Đây là điều vừa nên trả lời vừa không nên trả lời.
Atthi tathāgatoti visajjanīyaṃ. Atthi tathāgato paraṃ maraṇāti avisajjanīyaṃ. Idaṃ visajjanīyañca avisajjanīyañca.
The question, ‘Does a being exist?’ is to be answered. The question, ‘Does a being exist after death?’ is not to be answered. This is the sutta that is both to be answered and not to be answered.
‘Có Như Lai không?’ là điều nên trả lời. ‘Sau khi chết, Như Lai có tồn tại không?’ là điều không nên trả lời. Đây là điều vừa nên trả lời vừa không nên trả lời.
120. Tattha katamaṃ kammaṃ?
120. Among these, which is the Kamma Sutta?
120. Trong số đó, thế nào là kinh Nghiệp?
‘‘Antakenādhipannassa, jahato mānusaṃ bhavaṃ;
Kiṃ hi tassa sakaṃ hoti, kiñca ādāya gacchati;
Kiñcassa anugaṃ hoti, chāyāva anapāyinī.
“For one overcome by the End-maker, giving up the human state, what is truly his own? What does he take with him? What follows him like an inseparable shadow?”
“Khi bị thần chết khuất phục, từ bỏ kiếp người; Cái gì là của riêng người ấy, người ấy mang theo được gì; Và cái gì đi theo người ấy, như bóng không rời hình?”
‘‘Ubho puññañca pāpañca, yaṃ macco kurute idha;
Tañhi tassa sakaṃ hoti, taṃva † ādāya gacchati;
Taṃvassa anugaṃ hoti, chāyāva anapāyinī’’ti.
“Both the merit and the demerit that a mortal does here—that is truly his own. That he takes with him. That follows him, like a shadow that never departs.”
“Cả phước và tội, mà người đời làm ở đây; Chính đó là của riêng người ấy, người ấy mang theo chính nó; Chính nó đi theo người ấy, như bóng không rời hình.”
Idaṃ kammaṃ.
This is the Kamma Sutta.
Đây là kinh Nghiệp.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bālaṃ pīṭhasamārūḷhaṃ vā mañcasamārūḷhaṃ vā chamāyaṃ † vā semānaṃ yānissa pubbe pāpakāni kammāni katāni kāyena duccaritāni vācāya duccaritāni manasā duccaritāni, tānissa tamhi samaye olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Seyyathāpi, bhikkhave, mahataṃ pabbatakūṭānaṃ chāyā sāyanhasamayaṃ pathaviyaṃ olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Evameva kho, bhikkhave, bālaṃ pīṭhasamārūḷhaṃ vā mañcasamārūḷhaṃ vā chamāyaṃ vā semānaṃ yānissa pubbe pāpakāni kammāni katāni kāyena duccaritāni vācāya duccaritāni manasā duccaritāni, tānissa tamhi samaye olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Tatra, bhikkhave, bālassa evaṃ hoti ‘akataṃ vata me kalyāṇaṃ, akataṃ kusalaṃ, akataṃ bhīruttāṇaṃ. Kataṃ pāpaṃ, kataṃ luddaṃ, kataṃ kibbisaṃ, yāvatā bho akatakalyāṇānaṃ akatakusalānaṃ akatabhīruttāṇānaṃ katapāpānaṃ kataluddānaṃ katakibbisānaṃ gati, taṃ gatiṃ pecca gacchāmī’ti, so socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjatī’’ti.
“Furthermore, monks, when a fool is on a stool, on a couch, or lying on the ground, whatever evil deeds he has previously done—misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind—at that time they hang over him, hang down heavily upon him, and press down upon him. Just as, monks, in the evening, the shadows of great mountain peaks hang over, hang down heavily upon, and press down upon the earth, so too, monks, when a fool is on a stool, on a couch, or lying on the ground, whatever evil deeds he has previously done—misconduct by body, misconduct by speech, misconduct by mind—at that time they hang over him, hang down heavily upon him, and press down upon him. Then, monks, it occurs to the fool: ‘Indeed, I have not done what is good, I have not done what is wholesome, I have not made a protection from fear. I have done what is evil, I have done what is cruel, I have done what is wicked. To whatever destination those go who have not done what is good, not done what is wholesome, not made a protection from fear, but have done what is evil, done what is cruel, and done what is wicked, to that destination I will go after death.’ He sorrows, becomes weary, laments, beats his breast and wails, and falls into bewilderment.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa, đối với kẻ ngu đang ngồi trên ghế, hoặc đang ngồi trên giường, hoặc đang nằm trên đất, những ác nghiệp nào đã được người ấy làm từ trước, những thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, vào lúc ấy, những nghiệp ấy bao trùm, bao phủ, che lấp người đó. Này các Tỳ khưu, ví như bóng của những đỉnh núi lớn vào buổi chiều bao trùm, bao phủ, che lấp mặt đất. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với kẻ ngu đang ngồi trên ghế, hoặc đang ngồi trên giường, hoặc đang nằm trên đất, những ác nghiệp nào đã được người ấy làm từ trước, những thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, vào lúc ấy, những nghiệp ấy bao trùm, bao phủ, che lấp người đó. Này các Tỳ khưu, khi ấy, kẻ ngu suy nghĩ như vầy: ‘Than ôi, ta đã không làm điều thiện, ta đã không làm điều lành, ta đã không tạo ra sự che chở khỏi sợ hãi. Ta đã làm điều ác, ta đã làm điều tàn bạo, ta đã làm điều tội lỗi. Này các bạn, cảnh giới nào dành cho những người không làm điều thiện, không làm điều lành, không tạo ra sự che chở khỏi sợ hãi, đã làm điều ác, đã làm điều tàn bạo, đã làm điều tội lỗi, sau khi chết, ta sẽ đi đến cảnh giới ấy’. Người ấy sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực kêu la, rơi vào mê loạn.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, paṇḍitaṃ pīṭhasamārūḷhaṃ vā mañcasamārūḷhaṃ vā chamāyaṃ vā semānaṃ yānissa pubbe kalyāṇāni kammāni katāni kāyena sucaritāni vācāya sucaritāni manasā sucaritāni, tānissa tamhi samaye olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Seyyathāpi, bhikkhave, mahataṃ pabbatakūṭānaṃ chāyā sāyanhasamayaṃ pathaviyaṃ olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Evameva kho, bhikkhave, paṇḍitaṃ pīṭhasamārūḷhaṃ vā mañcasamārūḷhaṃ vā chamāyaṃ vā semānaṃ yānissa pubbe kalyāṇāni kammāni katāni kāyena sucaritāni vācāya sucaritāni manasā sucaritāni, tānissa tamhi samaye olambanti ajjholambanti abhippalambanti. Tatra, bhikkhave, paṇḍitassa ‘evaṃ hoti akataṃ vata me pāpaṃ, akataṃ luddaṃ, akataṃ kibbisaṃ. Kataṃ kalyāṇaṃ, kataṃ kusalaṃ, kataṃ bhīruttāṇaṃ, yāvatā bho akatapāpānaṃ akataluddānaṃ akatakibbisānaṃ katakalyāṇānaṃ katakusalānaṃ katabhīruttāṇānaṃ gati, taṃ gatiṃ pecca gacchāmī’ti, so na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjati, ‘kataṃ me puññaṃ, akataṃ pāpaṃ, yā bhavissati gati akatapāpassa akataluddassa akatakibbisassa katapuññassa katakusalassa katabhīruttāṇassa, taṃ pecca bhave gatiṃ paccanubhavissāmī’ti vippaṭisāro na jāyati. Avippaṭisārino kho, bhikkhave, itthiyā vā purisassa vā gihino vā pabbajitassa vā bhaddakaṃ maraṇaṃ bhaddikā kālaṅkiriyāti vadāmī’’ti. Idaṃ kammaṃ.
Furthermore, monks, when a wise person is on a stool, on a couch, or lying on the ground, whatever good deeds he has previously done—good conduct by body, good conduct by speech, good conduct by mind—at that time they hang over him, hang down heavily upon him, and hang down towards him. Just as, monks, in the evening, the shadows of great mountain peaks hang over, hang down heavily upon, and hang down towards the earth, so too, monks, when a wise person is on a stool, on a couch, or lying on the ground, whatever good deeds he has previously done—good conduct by body, good conduct by speech, good conduct by mind—at that time they hang over him, hang down heavily upon him, and hang down towards him. Then, monks, it occurs to the wise person: ‘Indeed, I have not done what is evil, I have not done what is cruel, I have not done what is wicked. I have done what is good, I have done what is wholesome, I have made a protection from fear. To whatever destination those go who have not done what is evil, not done what is cruel, not done what is wicked, but have done what is good, done what is wholesome, and made a protection from fear, to that destination I will go after death.’ He does not sorrow, does not become weary, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into bewilderment. ‘I have done merit, I have not done evil. Whatever destination there will be for one who has done no evil, no cruelty, no wickedness, but has done merit, done what is wholesome, and made a protection from fear, that destination I will experience in the next life.’ No remorse arises. Monks, for one without remorse—be it a woman or a man, a householder or one gone forth—I say there is an auspicious death, an auspicious passing away.” This is the Kamma Sutta.
Này các Tỳ khưu, lại nữa, đối với người trí đang ngồi trên ghế, hoặc đang ngồi trên giường, hoặc đang nằm trên đất, những thiện nghiệp nào đã được người ấy làm từ trước, những thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, vào lúc ấy, những nghiệp ấy bao trùm, bao phủ, che lấp người đó. Này các Tỳ khưu, ví như bóng của những đỉnh núi lớn vào buổi chiều bao trùm, bao phủ, che lấp mặt đất. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với người trí đang ngồi trên ghế, hoặc đang ngồi trên giường, hoặc đang nằm trên đất, những thiện nghiệp nào đã được người ấy làm từ trước, những thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, vào lúc ấy, những nghiệp ấy bao trùm, bao phủ, che lấp người đó. Này các Tỳ khưu, khi ấy, người trí suy nghĩ như vầy: ‘Than ôi, ta đã không làm điều ác, ta đã không làm điều tàn bạo, ta đã không làm điều tội lỗi. Ta đã làm điều thiện, ta đã làm điều lành, ta đã tạo ra sự che chở khỏi sợ hãi. Này các bạn, cảnh giới nào dành cho những người không làm điều ác, không làm điều tàn bạo, không làm điều tội lỗi, đã làm điều thiện, đã làm điều lành, đã tạo ra sự che chở khỏi sợ hãi, sau khi chết, ta sẽ đi đến cảnh giới ấy’. Người ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào mê loạn. (Vị ấy nghĩ): ‘Ta đã làm phước, không làm điều ác, cảnh giới nào sẽ có cho người không làm ác, không làm điều tàn bạo, không làm điều tội lỗi, đã làm phước, đã làm điều lành, đã tạo ra sự che chở khỏi sợ hãi, sau khi chết, ta sẽ trải nghiệm cảnh giới ấy trong đời sau’, do đó sự hối hận không sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đối với người không hối hận, dù là nữ nhân hay nam nhân, dù là tại gia hay xuất gia, Ta nói rằng có cái chết tốt đẹp, có sự mệnh chung tốt đẹp. Đây là kinh Nghiệp.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, duccaritāni. Katamāni tīṇi, kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi duccaritāni. Tīṇimāni, bhikkhave, sucaritāni. Katamāni tīṇi? Kāyasucaritaṃ vacīsucaritaṃ manosucaritaṃ. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi sucaritāni. Idaṃ kammaṃ.
Monks, there are these three kinds of misconduct. What three? Misconduct by body, misconduct by speech, and misconduct by mind. These, monks, are the three kinds of misconduct. Monks, there are these three kinds of good conduct. What three? Good conduct by body, good conduct by speech, and good conduct by mind. These, monks, are the three kinds of good conduct. This is the Kamma Sutta.
Này các Tỳ khưu, có ba ác hành này. Ba là gì? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba ác hành. Này các Tỳ khưu, có ba thiện hành này. Ba là gì? Thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba thiện hành. Đây là kinh Nghiệp.
Tattha katamo vipāko?
Among these, which is the Vipāka Sutta?
Trong số đó, kinh Dị thục là gì?
‘‘Lābhā vo, bhikkhave, suladdhaṃ vo, bhikkhave, khaṇo vo, bhikkhave, paṭiladdho brahmacariyavāsāya. Diṭṭhā mayā, bhikkhave, cha phassāyatanikā nāma nirayā. Tattha yaṃ kiñci cakkhunā rūpaṃ passati aniṭṭharūpaṃyeva passati, no iṭṭharūpaṃ. Akantarūpaṃyeva passati, no kantarūpaṃ. Amanāparūpaṃyeva passati, no manāparūpaṃ.
It is a gain for you, monks! It is well-gained by you, monks, that this opportunity has been obtained for living the holy life. Monks, I have seen the hells named ‘of the six sense bases.’ There, whatever form one sees with the eye, one sees only an undesirable form, not a desirable one; one sees only a disagreeable form, not an agreeable one; one sees only an unpleasing form, not a pleasing one.
Này các Tỳ khưu, thật là lợi ích cho các ngươi! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã khéo được! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã có được cơ hội để sống đời phạm hạnh! Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy các địa ngục tên là Sáu Xứ Xúc. Tại đó, bất cứ sắc nào mắt thấy, chỉ thấy sắc không đáng mong muốn, không thấy sắc đáng mong muốn; chỉ thấy sắc không đáng ưa thích, không thấy sắc đáng ưa thích; chỉ thấy sắc không đẹp ý, không thấy sắc đẹp ý.
Yaṃ kiñci sotena saddaṃ suṇāti…pe… ghānena…pe… jivhāya…pe… kāyena…pe… yaṃ kiñci manasā dhammaṃ vijānāti aniṭṭhadhammaṃyeva vijānāti, no iṭṭhadhammaṃ. Akantadhammaṃyeva vijānāti, no kantadhammaṃ. Amanāpadhammaṃyeva vijānāti, no manāpadhammaṃ. Lābhā vo, bhikkhave, suladdhaṃ vo, bhikkhave, khaṇo vo, bhikkhave, paṭiladdho brahmacariyavāsāya.
Whatever sound one hears with the ear… whatever scent one smells with the nose… whatever taste one savors with the tongue… whatever tangible object one feels with the body… whatever mental object one cognizes with the mind, one cognizes only an undesirable mental object, not a desirable one; one cognizes only a disagreeable mental object, not an agreeable one; one cognizes only an unpleasing mental object, not a pleasing one. It is a gain for you, monks! It is well-gained by you, monks, that this opportunity has been obtained for living the holy life.
Bất cứ âm thanh nào tai nghe... (v.v.)... mũi... (v.v.)... lưỡi... (v.v.)... thân... (v.v.)... bất cứ pháp nào ý biết, chỉ biết pháp không đáng mong muốn, không biết pháp đáng mong muốn; chỉ biết pháp không đáng ưa thích, không biết pháp đáng ưa thích; chỉ biết pháp không đẹp ý, không biết pháp đẹp ý. Này các Tỳ khưu, thật là lợi ích cho các ngươi! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã khéo được! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã có được cơ hội để sống đời phạm hạnh!
‘‘Diṭṭhā mayā, bhikkhave, cha phassāyatanikā nāma saggā. Tattha yaṃ kiñci cakkhunā rūpaṃ passati iṭṭharūpaṃyeva passati, no aniṭṭharūpaṃ. Kantarūpaṃyeva passati, no akantarūpaṃ. Manāparūpaṃyeva passati, no amanāparūpaṃ. Yaṃ kiñci sotena saddaṃ suṇāti…pe… ghānena …pe… jivhāya…pe… kāyena…pe… manasā dhammaṃ vijānāti iṭṭhadhammaṃyeva vijānāti, no aniṭṭhadhammaṃ. Kantadhammaṃyeva vijānāti, no akantadhammaṃ. Manāpadhammaṃyeva vijānāti, no amanāpadhammaṃ. Lābhā vo, bhikkhave, suladdhaṃ vo, bhikkhave, khaṇo vo, bhikkhave, paṭiladdho brahmacariyavāsāyā’’ti. Ayaṃ vipāko.
Monks, I have seen the heavens named ‘of the six sense bases.’ There, whatever form one sees with the eye, one sees only a desirable form, not an undesirable one; one sees only an agreeable form, not a disagreeable one; one sees only a pleasing form, not an unpleasing one. Whatever sound one hears with the ear… whatever scent one smells with the nose… whatever taste one savors with the tongue… whatever tangible object one feels with the body… whatever mental object one cognizes with the mind, one cognizes only a desirable mental object, not an undesirable one; one cognizes only an agreeable mental object, not a disagreeable one; one cognizes only a pleasing mental object, not an unpleasing one. It is a gain for you, monks! It is well-gained by you, monks, that this opportunity has been obtained for living the holy life.” This is the Vipāka Sutta.
Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy các cõi trời tên là Sáu Xứ Xúc. Tại đó, bất cứ sắc nào mắt thấy, chỉ thấy sắc đáng mong muốn, không thấy sắc không đáng mong muốn; chỉ thấy sắc đáng ưa thích, không thấy sắc không đáng ưa thích; chỉ thấy sắc đẹp ý, không thấy sắc không đẹp ý. Bất cứ âm thanh nào tai nghe... (v.v.)... mũi... (v.v.)... lưỡi... (v.v.)... thân... (v.v.)... ý biết pháp, chỉ biết pháp đáng mong muốn, không biết pháp không đáng mong muốn; chỉ biết pháp đáng ưa thích, không biết pháp không đáng ưa thích; chỉ biết pháp đẹp ý, không biết pháp không đẹp ý. Này các Tỳ khưu, thật là lợi ích cho các ngươi! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã khéo được! Này các Tỳ khưu, các ngươi đã có được cơ hội để sống đời phạm hạnh! Đây là kinh Dị thục.
‘‘Saṭṭhivassasahassāni, paripuṇṇāni sabbaso;
Niraye paccamānānaṃ †, kadā anto bhavissati.
Sixty thousand years have been fully completed in every way for those being cooked in hell; when will there be an end?
Sáu mươi ngàn năm đã trọn vẹn hoàn toàn; đối với những chúng sanh bị nấu trong địa ngục, khi nào sẽ có sự kết thúc?
‘‘Natthi anto kuto anto, na anto paṭidissati †;
Tadā hi pakataṃ pāpaṃ, tuyhaṃ mayhañca mārisā’’ti.
There is no end. From where would there be an end? No end is seen. For at that time, sirs, evil was done by you and by me.
Không có sự kết thúc, làm sao có sự kết thúc? Không thấy có sự kết thúc. Này các bạn, bởi vì khi ấy ác nghiệp đã được làm bởi các ngươi và bởi ta.
Ayaṃ vipāko.
This is the Vipāka Sutta.
Đây là (kinh) Dị thục.
121. Tattha katamaṃ kammañca vipāko ca?
121. Among these, which is the Kamma and Vipāka Sutta?
121. Trong ấy, thế nào là (kinh) vừa là Nghiệp vừa là Dị thục?
‘‘Adhammacārī hi naro pamatto, yahiṃ yahiṃ gacchati duggatiṃ yo;
So naṃ adhammo carito hanāti, sayaṃ gahīto yathā kaṇhasappo.
A heedless person who practices unrighteousness, to whatever woeful state they go, in that very state, that practiced unrighteousness kills them, like a cobra caught by oneself.
“Người nào sống phi pháp, phóng dật, đi đến bất cứ khổ cảnh nào, thì tại nơi ấy, phi pháp đã được thực hành ấy sẽ giết chết người ấy, giống như con rắn hổ mang bị chính mình bắt lấy.
‘‘Na hi † dhammo adhammo ca, ubho samavipākino;
Adhammo nirayaṃ neti, dhammo pāpeti suggati’’nti.
For Dhamma and Adhamma do not both have the same result. Adhamma leads to hell; Dhamma causes one to reach a happy destination.
“Chắc chắn Chánh pháp và Phi pháp, cả hai không có quả báo giống nhau. Phi pháp dẫn đến địa ngục, Chánh pháp đưa đến thiện thú.”
Idaṃ kammañca vipāko ca.
This is the Kamma and Vipāka Sutta.
Đây là (kinh) vừa là Nghiệp vừa là Dị thục.
‘‘Mā, bhikkhave, puññānaṃ bhāyittha, sukhassetaṃ, bhikkhave, adhivacanaṃ iṭṭhassa kantassa piyassa manāpassa yadidaṃ puññāni. Abhijānāmi kho panāhaṃ, bhikkhave, dīgharattaṃ katānaṃ puññānaṃ iṭṭhaṃ † kantaṃ piyaṃ manāpaṃ vipākaṃ paccanubhūtaṃ, satta vassāni mettacittaṃ bhāvetvā satta saṃvaṭṭavivaṭṭakappe na imaṃ † lokaṃ punarāgamāsiṃ. Saṃvaṭṭamāne sudāhaṃ, bhikkhave, kappe ābhassarūpago homi. Vivaṭṭamāne kappe suññaṃ brahmavimānaṃ upapajjāmi. Tatra sudāhaṃ †, bhikkhave, brahmā homi mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī. Chattiṃsakkhattuṃ kho panāhaṃ, bhikkhave, sakko ahosiṃ devānamindo, anekasatakkhattuṃ rājā ahosiṃ cakkavattī † dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato, ko pana vādo padesarajjassa? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi ‘kissa nu kho me idaṃ kammassa phalaṃ, kissa kammassa vipāko, yenāhaṃ etarahi evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo’ti. Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi ‘tiṇṇaṃ kho me idaṃ kammānaṃ phalaṃ, tiṇṇaṃ kammānaṃ vipāko. Yenāhaṃ etarahi evaṃmahiddhiko evaṃmahānubhāvo’ti. Seyyathidaṃ, dānassa damassa saṃyamassā’’ti. Tattha yañca dānaṃ yo ca damo yo ca saṃyamo, idaṃ kammaṃ. Yo tappaccayā vipāko paccanubhūto, ayaṃ vipāko. Tathā cūḷakammavibhaṅgo vattabbo.
“Do not, bhikkhus, be afraid of meritorious deeds. For ‘meritorious deeds,’ bhikkhus, is a designation for happiness, for what is wished for, lovely, pleasing, and agreeable. I know well, bhikkhus, that for a long time I experienced the wished-for, lovely, pleasing, and agreeable result of meritorious deeds performed over a long time. Having developed a mind of loving-kindness for seven years, for seven eons of contraction and expansion I did not return to this world. When the eon was contracting, bhikkhus, I went to the Ābhassara realm. When the eon was expanding, I arose in an empty Brahma-mansion. There, bhikkhus, I was Brahmā, the Great Brahmā, the conqueror, the unconquered, the all-seeing, the wielder of power. Thirty-six times, bhikkhus, I was Sakka, the ruler of the devas. Many hundreds of times I was a wheel-turning monarch, a righteous king of Dhamma, ruler of the four quarters, victorious, having attained stability in the country, and endowed with the seven treasures—what to say of a provincial kingship? To me, bhikkhus, this thought occurred: ‘Of what kamma is this the fruit for me, of what kamma is this the result, that I am now of such great power, of such great might?’ To me, bhikkhus, this thought occurred: ‘This is the fruit of three kammas for me, the result of three kammas, that I am now of such great power, of such great might.’ Namely, of giving, of taming, and of restraint. Herein, that which is giving, taming, and restraint—this is kamma. The result experienced on account of that—this is vipāka. Similarly, the Cūḷakammavibhaṅga Sutta is spoken of.”
“Này các Tỳ khưu, chớ sợ hãi các phước thiện. Này các Tỳ khưu, đây là tên gọi của hạnh phúc, của điều mong muốn, đáng ưa, đáng thích, đáng hài lòng, tức là các phước thiện. Này các Tỳ khưu, Ta biết rõ rằng Ta đã trải nghiệm quả báo mong muốn, đáng ưa, đáng thích, đáng hài lòng của các phước thiện đã được làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập tâm từ trong bảy năm, Ta đã không trở lại thế gian này trong bảy kiếp thành và hoại. Này các Tỳ khưu, khi kiếp hoại, Ta sanh vào cõi Quang Âm. Khi kiếp thành, Ta sanh vào cung điện Phạm thiên trống không. Này các Tỳ khưu, tại nơi ấy, Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng chinh phục, không bị chinh phục, người thấy rõ mọi việc, người có quyền lực. Này các Tỳ khưu, Ta đã là Sakka, vua của các vị trời, ba mươi sáu lần. Ta đã là vua Chuyển luân vương, vị vua đúng pháp, vua của chánh pháp, chinh phục bốn phương, người có được sự ổn định trong xứ sở, người sở hữu bảy báu vật, không biết bao nhiêu trăm lần. Huống nữa là ngôi vua chư hầu? Này các Tỳ khưu, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Quả này của ta là do nghiệp nào, là dị thục của nghiệp nào, mà nay ta có đại thần lực, đại oai lực như vậy?’ Này các Tỳ khưu, Ta đã suy nghĩ thế này: ‘Quả này của ta là do ba nghiệp, là dị thục của ba nghiệp, mà nay ta có đại thần lực, đại oai lực như vậy. Đó là: bố thí, điều phục, và phòng hộ.’ Trong ấy, sự bố thí, sự điều phục, và sự phòng hộ, đây là nghiệp. Quả báo được trải nghiệm do duyên ấy, đây là dị thục. Tương tự, kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt cũng nên được nói đến.
Yaṃ subhassa māṇavassa todeyyaputtassa desitaṃ. Tattha ye dhammā appāyukadīghāyukatāya saṃvattanti bahvābādhaappābādhatāya appesakkhamahesakkhatāya dubbaṇṇasuvaṇṇatāya nīcakulikauccakulikatāya appabhogamahābhogatāya duppaññapaññavantatāya ca saṃvattanti, idaṃ kammaṃ. Yā tattha appāyukadīghāyukatā…pe… duppaññapaññavantatā, ayaṃ vipāko. Idaṃ kammañca vipāko ca.
That which was taught to the young man Subha, son of Todeyya. Therein, those dhammas that lead to being short-lived or long-lived, to having many illnesses or few illnesses, to having little power or great power, to being ugly or beautiful, to being of low birth or high birth, to having little wealth or great wealth, and to being unwise or wise—this is kamma. Therein, that which is being short-lived or long-lived… (and so on)... that which is being unwise or wise—this is vipāka. This sutta is about both kamma and its result.
Kinh đã được thuyết cho thanh niên Subha, con của Todeyya. Trong ấy, những pháp nào dẫn đến đoản thọ và trường thọ, nhiều bệnh và ít bệnh, ít uy thế và nhiều uy thế, xấu xí và xinh đẹp, sanh trong gia đình hạ tiện và gia đình cao quý, ít tài sản và nhiều tài sản, và ngu dốt và có trí tuệ, đây là nghiệp. Trong ấy, sự đoản thọ và trường thọ... cho đến... sự ngu dốt và có trí tuệ, đây là dị thục. Đây là (kinh) vừa là Nghiệp vừa là Dị thục.
122. Tattha katamaṃ kusalaṃ?
122. Among these, which is the Sutta on the Wholesome?
122. Trong ấy, thế nào là (kinh) Thiện?
‘‘Vācānurakkhī manasā susaṃvuto, kāyena ca nākusalaṃ kayirā †;
Ete tayo kammapathe visodhaye, ārādhaye maggamisippavedita’’nti.
“Guarding one's speech, well-restrained in mind, and with the body one should do nothing unwholesome; one should purify these three paths of action and thereby accomplish the path proclaimed by the seers.”
“Hãy phòng hộ lời nói, khéo thu thúc ý, và không làm điều bất thiện bằng thân. Hãy thanh lọc ba nghiệp lộ này, và có thể thành tựu con đường do bậc ẩn sĩ tuyên thuyết.”
Idaṃ kusalaṃ.
This is the Sutta on the Wholesome.
Đây là (kinh) Thiện.
‘‘Yassa kāyena vācāya, manasā natthi dukkaṭaṃ;
Saṃvutaṃ tīhi ṭhānehi, tamahaṃ brūmi brāhmaṇa’’nti.
“One for whom there is no misdeed by body, speech, or mind, who is restrained in these three respects—that one I call a brahmin.”
“Người nào không có hành vi xấu ác qua thân, khẩu, ý, được thu thúc ở ba nơi ấy, Ta gọi người ấy là Bà-la-môn.”
Idaṃ kusalaṃ.
This is the Sutta on the Wholesome.
Đây là (kinh) Thiện.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, kusalamūlāni. Katamāni tīṇi? Alobho kusalamūlaṃ, adoso kusalamūlaṃ, amoho kusalamūlaṃ. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi kusalamūlāni. Idaṃ kusalaṃ. ‘‘Vijjā, bhikkhave †, pubbaṅgamā kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā anudeva † hirī ottappañcā’’ti. Idaṃ kusalaṃ.
“Bhikkhus, there are these three wholesome roots. What three? Non-greed is a wholesome root, non-hatred is a wholesome root, and non-delusion is a wholesome root. These, bhikkhus, are the three wholesome roots. This is the Sutta on the Wholesome. Bhikkhus, for the attainment of wholesome states, knowledge is the forerunner, and it is immediately followed by shame and fear of wrongdoing. This is the Sutta on the Wholesome.”
“Này các Tỳ khưu, có ba thiện căn này. Thế nào là ba? Vô tham là thiện căn, vô sân là thiện căn, vô si là thiện căn. Này các Tỳ khưu, đây là ba thiện căn. Đây là (kinh) Thiện. “Này các Tỳ khưu, minh đi trước trong việc đạt được các pháp thiện, và tàm và quý đi theo sau.” Đây là (kinh) Thiện.
Tattha katamaṃ akusalaṃ?
Among these, which is the Sutta on the Unwholesome?
Trong ấy, thế nào là (kinh) Bất thiện?
‘‘Yassa accanta dussīlyaṃ, māluvā sālamivotthataṃ;
Karoti so tathattānaṃ, yathā naṃ icchatī diso’’ti.
“One whose utter immorality has overgrown them, like a māluvā creeper overgrowing a sāla tree, does to themself just what an enemy would wish for them.”
“Người nào có sự vô giới cực độ bao trùm, như dây leo māluvā bao trùm cây sāla, người ấy tự làm cho mình điều mà kẻ thù mong muốn cho y.”
Idaṃ akusalaṃ.
This is the Sutta on the Unwholesome.
Đây là (kinh) Bất thiện.
‘‘Attanā hi kataṃ pāpaṃ, attajaṃ attasambhavaṃ;
Abhimatthati † dummedhaṃ, vajiraṃvasmamayaṃ maṇi’’nti.
“Evil done by oneself, born of oneself, arising from oneself, crushes the one of little wisdom, just as a diamond crushes a gem made of rock.”
“Tội lỗi do chính mình làm, tự mình sanh ra, tự mình phát khởi, sẽ nghiền nát kẻ ngu si, như kim cương nghiền nát viên ngọc làm bằng đá.”
Idaṃ akusalaṃ.
This is the Sutta on the Unwholesome.
Đây là (kinh) Bất thiện.
‘‘Dasa kammapathe niseviya, akusalākusalehi vivajjitā;
Garahā ca bhavanti devate, bālamatī nirayesu paccare’’ti.
“O devatā, having engaged in the ten unwholesome paths of action, the unwise are avoided by the wise and are censured; those of foolish intellect are cooked in the hells.”
“Thưa thiên nữ, sau khi thực hành mười nghiệp lộ, những người bất thiện bị người thiện lánh xa, họ bị khiển trách, và những kẻ ngu si bị nấu trong các địa ngục.”
Idaṃ akusalaṃ.
This is the Sutta on the Unwholesome.
Đây là (kinh) Bất thiện.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, akusalamūlāni †, katamāni tīṇi? Lobho akusalamūlaṃ, doso akusalamūlaṃ, moho akusalamūlaṃ. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi akusalamūlāni’’. Idaṃ akusalaṃ.
“Bhikkhus, there are these three unwholesome roots. What three? Greed is an unwholesome root, hatred is an unwholesome root, and delusion is an unwholesome root. These, bhikkhus, are the three unwholesome roots. This is the Sutta on the Unwholesome.”
“Này các Tỳ khưu, có ba bất thiện căn này. Thế nào là ba? Tham là bất thiện căn, sân là bất thiện căn, si là bất thiện căn. Này các Tỳ khưu, đây là ba bất thiện căn.” Đây là (kinh) Bất thiện.
Tattha katamaṃ kusalañca akusalañca?
Among these, which is the Sutta on the Wholesome and the Unwholesome?
Trong ấy, thế nào là (kinh) vừa Thiện vừa Bất thiện?
‘‘Yādisaṃ † vapate bījaṃ, tādisaṃ harate phalaṃ;
Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpaka’’nti.
“Whatever kind of seed one sows, that same kind of fruit one reaps. A doer of good reaps good, and a doer of evil reaps evil.”
“Gieo hạt giống nào, gặt quả ấy. Người làm lành gặt quả lành, người làm ác gặt quả ác.”
Tattha yaṃ āha ‘‘kalyāṇakārī kalyāṇa’’nti, idaṃ kusalaṃ. Yaṃ āha ‘‘pāpakārī ca pāpaka’’nti, idaṃ akusalaṃ. Idaṃ kusalañca akusalañca.
Herein, that which is stated, ‘A doer of good reaps good,’ this is the Wholesome part. That which is stated, ‘And a doer of evil reaps evil,’ this is the Unwholesome part. This is the Sutta on the Wholesome and the Unwholesome.
Trong ấy, lời nói ‘người làm lành gặt quả lành’ là Thiện. Lời nói ‘người làm ác gặt quả ác’ là Bất thiện. Đây là (kinh) vừa Thiện vừa Bất thiện.
‘‘Subhena kammena vajanti suggatiṃ, apāyabhūmiṃ asubhena kammunā;
Khayā ca kammassa vimuttacetaso, nibbanti te jotirivindhanakkhayā’’.
“By beautiful kamma they go to a happy destination; by unbeautiful kamma they go to the plane of misery. And through the destruction of kamma, those with liberated minds are extinguished, like a flame when its fuel is exhausted.”
“Do nghiệp tốt, chúng sanh đi đến thiện thú; do nghiệp xấu, (họ đi) đến cõi khổ. Và do sự đoạn tận của nghiệp, với tâm giải thoát, họ tịch diệt như ngọn lửa tắt khi hết nhiên liệu.”
Tattha yaṃ āha ‘‘subhena kammena vajanti suggati’’nti, idaṃ kusalaṃ. Yaṃ āha ‘‘apāyabhūmiṃ asubhena kammunā’’ti, idaṃ akusalaṃ. Idaṃ kusalañca akusalañca.
Herein, that which is stated, ‘By beautiful kamma they go to a happy destination,’ this is the Wholesome part. That which is stated, ‘to the plane of misery by unbeautiful kamma,’ this is the Unwholesome part. This is the Sutta on the Wholesome and the Unwholesome.
Trong ấy, lời nói ‘do nghiệp tốt, chúng sanh đi đến thiện thú’ là Thiện. Lời nói ‘(họ đi) đến cõi khổ do nghiệp xấu’ là Bất thiện. Đây là (kinh) vừa Thiện vừa Bất thiện.
123. Tattha katamaṃ anuññātaṃ?
123. Among these, which is the Sutta on the Permitted?
123. Trong ấy, thế nào là (kinh) Cho phép?
‘‘Yathāpi bhamaro pupphaṃ, vaṇṇagandhamaheṭhayaṃ †;
Paleti † rasamādāya, evaṃ gāme munī care’’ti.
“Just as a bee, without harming the flower's color and scent, flies away taking its nectar, so should a sage move through a village.”
“Như con ong lấy mật rồi bay đi, không làm hại đến sắc và hương của đóa hoa, cũng vậy, bậc ẩn sĩ nên đi trong làng.”
Idaṃ anuññātaṃ.
This is the Sutta on the Permitted.
Đây là (kinh) Cho phép.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, bhikkhūnaṃ karaṇīyāni. Katamāni tīṇi, idha, bhikkhave, bhikkhu pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu, kāyakammavacīkammena samannāgato kusalena parisuddhājīvo. Āraddhavīriyo kho pana hoti thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanāya sacchikiriyāya. Paññavā kho pana hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Imāni kho, bhikkhave, bhikkhūnaṃ tīṇi karaṇīyānī’’ti. Idaṃ anuññātaṃ.
“Bhikkhus, there are these three duties for bhikkhus. What three? Here, bhikkhus, a bhikkhu dwells restrained by the restraint of the Pātimokkha, possessed of good conduct and proper resort, seeing danger in the slightest faults. He undertakes and trains in the training rules. He is endowed with wholesome bodily and verbal kamma, and has a pure livelihood. Furthermore, he is one who has aroused energy, is strong, of firm exertion, and has not laid down the burden for the abandoning of unwholesome states and for the development and realization of wholesome states. Furthermore, he is wise, endowed with the noble, penetrative wisdom that comprehends arising and passing away, and leads to the complete destruction of suffering. These, bhikkhus, are the three duties for bhikkhus.” This is the Sutta on the Permitted.
“Này các Tỳ khưu, có ba việc này là những việc cần làm của các Tỳ khưu. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong các học giới, có thân nghiệp và khẩu nghiệp thiện lành, mạng sống trong sạch. Lại nữa, vị ấy có tinh tấn đã được khởi xướng, có sức mạnh, có nỗ lực kiên cố, không từ bỏ gánh nặng để đoạn trừ các pháp bất thiện, để tu tập và chứng ngộ các pháp thiện. Lại nữa, vị ấy có trí tuệ, được trang bị trí tuệ về sự sinh diệt, thánh thiện, có khả năng xuyên thấu, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba việc cần làm của các Tỳ khưu.” Đây là (kinh) được chấp thuận.
‘‘Dasayime †, bhikkhave, dhammā pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbā. Katame dasa? ‘Vevaṇṇiyamhi ajjhupagato’ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ…pe… ime kho bhikkhave dasa dhammā pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbā’’ti. Idaṃ anuññātaṃ.
“Monks, these ten things should be frequently reflected upon by one who has gone forth. What ten? ‘I have attained a different appearance’—this should be frequently reflected upon by one who has gone forth… These, monks, are the ten things that should be frequently reflected upon by one who has gone forth.” This is the Anuññāta Sutta.
“Này các Tỳ khưu, có mười pháp này người xuất gia cần phải thường xuyên quán xét. Thế nào là mười? ‘Ta đã đạt đến trạng thái khác biệt (về hình sắc)’ là điều người xuất gia cần phải thường xuyên quán xét… cho đến… Này các Tỳ khưu, đây chính là mười pháp người xuất gia cần phải thường xuyên quán xét.” Đây là (kinh) được chấp thuận.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, karaṇīyāni. Katamāni tīṇi? Kāyasucaritaṃ vacīsucaritaṃ manosucaritanti. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi karaṇīyānī’’ti. Idaṃ anuññātaṃ.
“Monks, there are these three things to be done. What three? Good bodily conduct, good verbal conduct, and good mental conduct. These, monks, are the three things to be done.” This is the Anuññāta Sutta.
“Này các Tỳ khưu, có ba việc này là những việc cần làm. Thế nào là ba? Thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba việc cần làm.” Đây là (kinh) được chấp thuận.
Tattha katamaṃ paṭikkhittaṃ?
Among these, which is the Paṭikkhitta Sutta?
Trong số ấy, kinh nào là kinh bị bác bỏ?
‘‘Natthi puttasamaṃ pemaṃ, natthi gosamitaṃ † dhanaṃ;
Natthi sūriyasamā † ābhā, samuddaparamā sarā’’ti.
“There is no love equal to that for a son; there is no wealth equal to cattle; there is no radiance equal to the sun; the ocean is the greatest of lakes.”
“Không có tình thương nào bằng tình thương con, không có tài sản nào bằng bò; không có ánh sáng nào bằng mặt trời, biển cả là hồ nước tối thượng.”
Bhagavā āha –
The Blessed One said:
Đức Thế Tôn nói –
‘‘Natthi attasamaṃ pemaṃ, natthi dhaññasamaṃ dhanaṃ;
Natthi paññāsamā ābhā, vuṭṭhiveparamā sarā’’ti.
“There is no love equal to oneself; there is no wealth equal to grain; there is no radiance equal to wisdom; rain is indeed the supreme lake.”
“Không có tình thương nào bằng thương mình, không có tài sản nào bằng lúa gạo; không có ánh sáng nào bằng trí tuệ, mưa thật sự là hồ nước tối thượng.”
Ettha yaṃ purimakaṃ, idaṃ paṭikkhittaṃ.
Herein, the former sutta is the Paṭikkhitta Sutta.
Trong hai kinh này, kinh trước là kinh bị bác bỏ.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhaveऋ akaraṇīyāni. Katamāni tīṇi? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritanti. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi akaraṇīyānī’’ti. Idaṃ paṭikkhittaṃ.
“Monks, there are these three things not to be done. What three? Bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. These, monks, are the three things not to be done.” This is the Paṭikkhitta Sutta.
“Này các Tỳ khưu, có ba việc này là những việc không nên làm. Thế nào là ba? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba việc không nên làm.” Đây là (kinh) bị bác bỏ.
124. Tattha katamaṃ anuññātañca paṭikkhittañca?
124. Among these, which is the sutta that is both Anuññāta and Paṭikkhitta?
124. Trong số ấy, kinh nào là kinh vừa được chấp thuận vừa bị bác bỏ?
‘‘Kiṃsūdha bhītā janatā anekā, maggo canekāyatano pavutto †;
Pucchāmi taṃ gotama bhūripañña, kismiṃ ṭhito paralokaṃ na bhāyeti.
“Why are the many people here afraid? And the path with many grounds has been declared. I ask you, Gotama of vast wisdom: established in what does one not fear the next world?”
“Vì sao ở đây nhiều chúng sanh sợ hãi, và con đường với nhiều duyên cớ đã được nói đến? Con xin hỏi Ngài, Gotama bậc trí tuệ rộng lớn, người an trú vào đâu thì không sợ hãi đời sau.”
‘‘Vācaṃ manañca paṇidhāya sammā, kāyena pāpāni akubbamāno;
Bahvannapānaṃ gharamāvasanto, saddho mudū saṃvibhāgī vadaññū;
Etesu dhammesu ṭhito catūsu, dhamme ṭhito paralokaṃ na bhāye’’ti.
“Having rightly directed speech and mind, not doing evil deeds with the body; dwelling in a home with much food and drink, being faithful, gentle, one who shares, and understanding; established in these four qualities, established in the Dhamma, one does not fear the next world.”
“Hướng lời nói và ý một cách chân chánh, không làm các điều ác bằng thân; sống trong nhà có nhiều cơm nước, có đức tin, nhu hòa, biết chia sẻ, rộng lượng; người an trú trong bốn pháp này, an trú trong pháp, sẽ không sợ hãi đời sau.”
Tattha yaṃ āha ‘‘vācaṃ manañca paṇidhāya sammā’’ti, idaṃ anuññātaṃ. ‘‘Kāyena pāpāni akubbamāno’’ti, idaṃ paṭikkhittaṃ. ‘‘Bahvannapānaṃ gharamāvasanto, saddho mudū saṃvibhāgī vadaññū. Etesu dhammesu ṭhito catūsu, dhamme ṭhito paralokaṃ na bhāye’’ti, idaṃ anuññātaṃ. Idaṃ anuññātañca paṭikkhittañca.
Therein, what was said, ‘Having rightly directed speech and mind,’ this is Anuññāta. What was said, ‘not doing evil deeds with the body,’ this is Paṭikkhitta. What was said, ‘dwelling in a home with much food and drink, being faithful, gentle, one who shares, and understanding; established in these four qualities, established in the Dhamma, one does not fear the next world,’ this is Anuññāta. This sutta is both Anuññāta and Paṭikkhitta.
Trong đó, lời nói rằng ‘hướng lời nói và ý một cách chân chánh’ là được chấp thuận. Lời nói ‘không làm các điều ác bằng thân’ là bị bác bỏ. Lời nói ‘sống trong nhà có nhiều cơm nước, có đức tin, nhu hòa, biết chia sẻ, rộng lượng; người an trú trong bốn pháp này, an trú trong pháp, sẽ không sợ hãi đời sau’ là được chấp thuận. Đây là (kinh) vừa được chấp thuận vừa bị bác bỏ.
‘‘Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodāpanaṃ, etaṃ buddhānasāsanaṃ’’.
“The non-doing of all evil, the accomplishment of the wholesome, the purification of one's own mind—this is the teaching of the Buddhas.”
“Không làm mọi điều ác, thành tựu các điều thiện, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời dạy của các vị Phật.”
Tattha yaṃ āha ‘‘sabbapāpassa akaraṇa’’nti, idaṃ paṭikkhittaṃ, yaṃ āha ‘‘kusalassa upasampadā’’ti, idaṃ anuññātaṃ. Idaṃ anuññātañca paṭikkhittañca.
Therein, what was said, ‘the non-doing of all evil,’ this is Paṭikkhitta. What was said, ‘the accomplishment of the wholesome,’ this is Anuññāta. This sutta is both Anuññāta and Paṭikkhitta.
Trong đó, lời nói ‘không làm mọi điều ác’ là bị bác bỏ, lời nói ‘thành tựu các điều thiện’ là được chấp thuận. Đây là (kinh) vừa được chấp thuận vừa bị bác bỏ.
‘‘Kāyasamācārampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampi. Vacīsamācārampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampi. Manosamācārampāhaṃ devānaminda, duvidhena vadāmi…pe… pariyesanampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampi’’.
“King of devas, I declare bodily conduct to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced. King of devas, I declare verbal conduct to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced. King of devas, I declare mental conduct to be of two kinds… King of devas, I declare seeking to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced.”
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng khẩu hành có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành. Này Thiên chủ, Ta nói rằng ý hành có hai loại… cho đến… Này Thiên chủ, Ta nói rằng sự tìm cầu có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành.”
‘‘Kāyasamācārampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī’’ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ. Yathārūpañca kho kāyasamācāraṃ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo. Tattha yaṃ jaññā kāyasamācāraṃ ‘‘imaṃ † kho me kāyasamācāraṃ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’’ti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo. ‘‘Kāyasamācārampāhaṃ devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī’’ti iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttaṃ. ‘‘Vacīsamācāraṃ…pe… ‘‘pariyesanampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī’’ti iti kho panetaṃ vuttaṃ, kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ. Yathārūpañca kho pariyesanaṃ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpā pariyesanā na sevitabbā. Tattha yaṃ jaññā pariyesanaṃ ‘‘imaṃ kho me pariyesanaṃ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’’ti, evarūpā pariyesanā sevitabbā. ‘‘Pariyesanampāhaṃ, devānaminda, duvidhena vadāmi sevitabbampi asevitabbampī’’ti iti yaṃ taṃ vuttaṃ, idametaṃ paṭicca vuttaṃ.
“‘King of devas, I declare bodily conduct to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced.’ This was said, and in reference to what was it said? When, by practicing a certain kind of bodily conduct, unwholesome states increase and wholesome states decline, that kind of bodily conduct should not be practiced. But when one would know of a bodily conduct, ‘By practicing this bodily conduct, my unwholesome states decline and my wholesome states increase,’ that kind of bodily conduct should be practiced. ‘King of devas, I declare bodily conduct to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced’—it was in reference to this that this was said. ‘Verbal conduct... ‘King of devas, I declare seeking to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced.’ This was said, and in reference to what was it said? When, by practicing a certain kind of seeking, unwholesome states increase and wholesome states decline, that kind of seeking should not be practiced. But when one would know of a seeking, ‘By practicing this seeking, my unwholesome states decline and my wholesome states increase,’ that kind of seeking should be practiced. ‘King of devas, I declare seeking to be of two kinds: that which should be practiced and that which should not be practiced’—it was in reference to this that this was said.”
“Này Thiên chủ, Ta nói rằng ‘thân hành có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành’. Lời này đã được nói ra, và do duyên vào đâu mà được nói? Khi thực hành một loại thân hành nào đó mà các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, thì loại thân hành như vậy không nên thực hành. Ở đây, người ấy nên biết về thân hành rằng: ‘Khi ta thực hành thân hành này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì loại thân hành như vậy nên được thực hành. Lời Ta nói rằng ‘Này Thiên chủ, Ta nói rằng thân hành có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành’ là do duyên vào điều này mà được nói. ‘Khẩu hành… cho đến… ‘Này Thiên chủ, Ta nói rằng sự tìm cầu có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành’. Lời này đã được nói ra, và do duyên vào đâu mà được nói? Khi thực hành một loại tìm cầu nào đó mà các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, thì loại tìm cầu như vậy không nên thực hành. Ở đây, người ấy nên biết về sự tìm cầu rằng: ‘Khi ta thực hành sự tìm cầu này, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng’, thì loại tìm cầu như vậy nên được thực hành. Lời Ta nói rằng ‘Này Thiên chủ, Ta nói rằng sự tìm cầu có hai loại: loại nên thực hành và loại không nên thực hành’ là do duyên vào điều này mà được nói.”
Tattha yaṃ āha ‘‘sevitabbampī’’ti, idaṃ anuññātaṃ. Yaṃ āha ‘‘na sevitabbampī’’ti, idaṃ paṭikkhittaṃ. Idaṃ anuññātañca paṭikkhittañca.
Therein, what was said, ‘should be practiced,’ this is Anuññāta. What was said, ‘should not be practiced,’ this is Paṭikkhitta. This sutta is both Anuññāta and Paṭikkhitta.
Trong đó, lời nói ‘nên thực hành’ là được chấp thuận. Lời nói ‘không nên thực hành’ là bị bác bỏ. Đây là (kinh) vừa được chấp thuận vừa bị bác bỏ.
170. Tattha katamo thavo?
170. Among these, which is the Thava Sutta?
170. Trong số ấy, kinh nào là kinh tán thán?
‘‘Maggānaṭṭhaṅgiko † seṭṭho, saccānaṃ caturo padā;
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ, dvipadānañca cakkhumā’’ti.
“Of paths, the Eightfold is the best; of truths, the Four Statements are best; of states, dispassion is the best; and of two-footed beings, the One with Vision is the best.”
“Trong các con đường, Bát Chánh Đạo là tối thượng; trong các sự thật, bốn câu kệ là tối thượng; trong các pháp, ly tham là tối thượng; và trong các loài hai chân, bậc có mắt là tối thượng.”
Ayaṃ thavo.
This is the Thava Sutta.
Đây là (kinh) tán thán.
‘‘Tīṇimāni, bhikkhave, aggāni. Katamāni tīṇi? Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṃ aggamakkhāyati seṭṭhamakkhāyati pavaramakkhāyati, yadidaṃ arahaṃ sammāsambuddho. Yāvatā, bhikkhave, dhammānaṃ † paṇṇattisaṅkhatānaṃ vā asaṅkhatānaṃ vā, virāgo tesaṃ dhammānaṃ aggamakkhāyati seṭṭhamakkhāyati pavaramakkhāyati, yadidaṃ madanimmadano…pe… nirodho nibbānaṃ. Yāvatā, bhikkhave, saṅghānaṃ paṇṇatti gaṇānaṃ paṇṇatti mahājanasannipātānaṃ paṇṇatti, tathāgatasāvakasaṅgho tesaṃ aggamakkhāyati seṭṭhamakkhāyati pavaramakkhāyati, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā…pe… puññakkhettaṃ lokassāti.
Monks, these are the three foremost things. What three? Monks, among whatever beings there are—whether footless, two-footed, four-footed, or many-footed; whether with form or formless; whether with perception, without perception, or neither with perception nor without perception—the Tathāgata, that is, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is declared the foremost, the best, the supreme among them. Monks, among whatever phenomena there are, conditioned or unconditioned, dispassion—that is, the subduing of intoxication... the cessation, Nibbāna—is declared the foremost, the best, the supreme among them. Monks, among whatever designated communities, groups, or great gatherings of people there are, the Saṅgha of the Tathāgata’s disciples—that is, the four pairs of persons, the eight individuals... a field of merit for the world—is declared the foremost, the best, the supreme among them.
“Này các Tỳ khưu, có ba điều tối thượng này. Ba điều nào? Này các Tỳ khưu, trong tất cả chúng sanh, hoặc không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc không có sắc, hoặc có tưởng, hoặc không có tưởng, hoặc không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, Như Lai được gọi là tối thượng trong số ấy, được gọi là ưu việt, được gọi là cao cả, tức là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, trong tất cả các pháp, hoặc là pháp hữu vi hoặc là pháp vô vi, sự ly tham được gọi là tối thượng trong các pháp ấy, được gọi là ưu việt, được gọi là cao cả, tức là sự dập tắt mọi say đắm... sự đoạn diệt, Niết-bàn. Này các Tỳ khưu, trong tất cả các chúng Tăng, các hội chúng, các đoàn thể đông người, Tăng chúng đệ tử của Như Lai được gọi là tối thượng trong số ấy, được gọi là ưu việt, được gọi là cao cả, tức là bốn đôi tám vị... là ruộng phước của thế gian.”
‘‘Sabbalokuttaro satthā, dhammo ca kusalakkhato †;
Gaṇo ca narasīhassa, tāni tīṇi vississare.
The Teacher, supreme over all the world; and the Dhamma, faultlessly proclaimed; and the community of the Lion of men—these three are pre-eminent.
“Bậc Đạo Sư siêu việt tất cả thế gian, và Giáo pháp được khéo thuyết giảng; và hội chúng của bậc Nhân Sư, ba điều ấy là đặc biệt thù thắng.”
‘‘Samaṇapadumasañcayo gaṇo, dhammavaro ca vidūnaṃ sakkato;
Naravaradamako ca cakkhumā, tāni tīṇi lokassa uttari.
The community, a collection of ascetics like Paduma lotuses; and the excellent Dhamma, honored by the wise; and the Tamer of excellent men, the One with Vision—these three are supreme in the world.
“Hội chúng là tập hợp các vị Sa-môn như hoa sen, và Pháp bảo cao thượng được các bậc hiền trí tôn kính; và bậc Điều Ngự những người cao quý, bậc có mắt, ba điều ấy là tối thượng trong thế gian.”
‘‘Satthā ca appaṭisamo, dhammo ca sabbo nirupadāho;
Ariyo ca gaṇavaro, tāni khalu vississare tīṇi.
The Teacher is incomparable; and the Dhamma, entirely without affliction; and the noble, excellent community—indeed, these three are pre-eminent.
“Bậc Đạo Sư không ai sánh bằng, và Giáo pháp hoàn toàn không có phiền não; và hội chúng Thánh giả cao thượng, quả thật ba điều ấy là đặc biệt thù thắng.”
‘‘Saccanāmo jino khemo sabbābhibhū, saccadhammo natthañño tassa uttari;
Ariyasaṅgho niccaṃ viññūnaṃ pūjito, tāni tīṇi lokassa uttari.
The one whose name is Truth, the Victor, the Secure, the All-Conqueror; the true Dhamma, there is no other higher than it; the Noble Saṅgha, always honored by the wise—these three are supreme in the world.
“Bậc có danh hiệu là Chân Thật, bậc Chiến Thắng, bậc An Ổn, bậc Chế Ngự tất cả, Chân Pháp, không có pháp nào khác cao hơn pháp ấy; Thánh Tăng luôn được các bậc hiền trí cúng dường, ba điều ấy là tối thượng trong thế gian.”
‘‘Ekāyanaṃ jātikhayantadassī, maggaṃ pajānāti hitānukampī;
Etena maggena tariṃsu pubbe, tarissanti ye ca † taranti oghaṃ.
The Seer of the end of birth, compassionate for the welfare of beings, knows the one-way path. By this path, they crossed the flood in the past, and by it they will cross and are crossing now.
“Bậc thấy sự đoạn tận của sanh, bậc thương xót vì lợi ích, biết rõ con đường độc nhất. Nhờ con đường này, các vị xưa đã vượt qua, và những vị sẽ vượt qua, và những vị đang vượt qua bộc lưu.”
‘‘Taṃ tādisaṃ devamanussaseṭṭhaṃ;
Sattā namassanti visuddhipekkhā’’ti.
To such a one, foremost among devas and humans, beings pay homage, seeking purity.
“Vị ấy, bậc như vậy, bậc tối thắng trong chư Thiên và loài người; các chúng sanh mong cầu sự thanh tịnh đảnh lễ.”
Ayaṃ thavoti.
This is the Praise.
Đây là bài tán thán.
Tattha lokiyaṃ suttaṃ dvīhi suttehi niddisitabbaṃ saṃkilesabhāgiyena ca vāsanābhāgiyena ca. Lokuttaraṃpi suttaṃ tīhi suttehi niddisitabbaṃ dassanabhāgiyena ca bhāvanābhāgiyena ca asekkhabhāgiyena ca. Lokiyañca lokuttarañca. Yasmiṃ sutte yaṃ yaṃ padaṃ dissati saṃkilesabhāgiyaṃ vā vāsanābhāgiyaṃ vā, tena tena lokiyanti niddisitabbaṃ, dassanabhāgiyaṃ vā bhāvanābhāgiyaṃ vā asekkhabhāgiyaṃ vā yaṃ yaṃ padaṃ dissati tena tena lokuttaranti niddisitabbaṃ.
Therein, a mundane sutta should be indicated by two suttas: that pertaining to defilement and that pertaining to latent tendencies. A supramundane sutta, too, should be indicated by three suttas: that pertaining to vision, that pertaining to development, and that pertaining to the one beyond training. Both the mundane and the supramundane. In whatever sutta, whatever part is seen—be it pertaining to defilement or pertaining to latent tendencies—by that part it should be indicated as 'mundane'. Whatever part is seen—be it pertaining to vision, pertaining to development, or pertaining to the one beyond training—by that part it should be indicated as 'supramundane'.
Trong đó, kinh thuộc về thế gian nên được chỉ rõ bằng hai kinh: kinh thuộc phần ô nhiễm và kinh thuộc phần tiềm tàng. Kinh thuộc về siêu thế cũng nên được chỉ rõ bằng ba kinh: kinh thuộc phần kiến đạo, kinh thuộc phần tu tập, và kinh thuộc phần vô học. (Kinh) vừa thuộc thế gian vừa thuộc siêu thế. Trong kinh nào, thấy có phần nào thuộc ô nhiễm hoặc thuộc tiềm tàng, thì do phần đó nên được chỉ rõ là thuộc thế gian; thấy có phần nào thuộc kiến đạo, hoặc thuộc tu tập, hoặc thuộc vô học, thì do phần đó nên được chỉ rõ là thuộc siêu thế.
Vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ saṃkilesabhāgiyassa suttassa nigghātāya, dassanabhāgiyaṃ suttaṃ vāsanābhāgiyassa suttassa nigghātāya, bhāvanābhāgiyaṃ suttaṃ dassanabhāgiyassa suttassa paṭinissaggāya, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ bhāvanābhāgiyassa suttassa paṭinissaggāya, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ diṭṭhadhammasukhavihāratthaṃ.
A sutta pertaining to latent tendencies is for the removal of a sutta pertaining to defilement. A sutta pertaining to vision is for the removal of a sutta pertaining to latent tendencies. A sutta pertaining to development is for the relinquishment of a sutta pertaining to vision. A sutta pertaining to the one beyond training is for the relinquishment of a sutta pertaining to development. A sutta pertaining to the one beyond training is for the purpose of dwelling happily in the present life.
Kinh thuộc phần tiềm tàng là để chế ngự kinh thuộc phần ô nhiễm, kinh thuộc phần kiến đạo là để chế ngự kinh thuộc phần tiềm tàng, kinh thuộc phần tu tập là để từ bỏ kinh thuộc phần kiến đạo, kinh thuộc phần vô học là để từ bỏ kinh thuộc phần tu tập, kinh thuộc phần vô học là vì mục đích hiện tại lạc trú.
Lokuttaraṃ suttaṃ sattādhiṭṭhānaṃ chabbīsatiyā puggalehi niddisitabbaṃ, te tīhi suttehi samanvesitabbā dassanabhāgiyena bhāvanābhāgiyena asekkhabhāgiyena cāti.
The supramundane sutta, which has beings as its foundation, should be indicated by twenty-six individuals. They are to be sought for by means of three suttas: that pertaining to vision, that pertaining to development, and that pertaining to the one beyond training.
Kinh siêu thế có chúng sanh làm nền tảng nên được chỉ rõ bằng hai mươi sáu hạng người, các vị ấy nên được tìm hiểu kỹ lưỡng qua ba kinh: kinh thuộc phần kiến đạo, kinh thuộc phần tu tập, và kinh thuộc phần vô học.
Tattha dassanabhāgiyaṃ suttaṃ pañcahi puggalehi niddisitabbaṃ ekabījinā kolaṃkolena sattakkhattuparamena saddhānusārinā dhammānusārinā cāti, dassanabhāgiyaṃ suttaṃ imehi pañcahi puggalehi niddisitabbaṃ. Bhāvanābhāgiyaṃ suttaṃ dvādasahi puggalehi niddisitabbaṃ sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipannena, sakadāgāminā, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipannena, anāgāminā, antarā parinibbāyinā, upahacca parinibbāyinā, asaṅkhāraparinibbāyinā, sasaṅkhāraparinibbāyinā, uddhaṃsotena akaniṭṭhagāminā, saddhāvimuttena, diṭṭhippattena, kāyasakkhinā cāti, bhāvanābhāgiyaṃ suttaṃ imehi dvādasahi puggalehi niddisitabbaṃ. Asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ navahi puggalehi niddisitabbaṃ saddhāvimuttena, paññāvimuttena, suññatavimuttena, animittavimuttena, appaṇihitavimuttena, ubhatobhāgavimuttena samasīsinā paccekabuddhasammāsambuddhehi cāti, asekkhabhāgiyaṃ suttaṃ imehi navahi puggalehi niddisitabbaṃ. Evaṃ lokuttaraṃ suttaṃ sattādhiṭṭhānaṃ imehi chabbīsatiyā puggalehi niddisitabbaṃ.
Therein, a sutta pertaining to vision should be indicated by five individuals: the one-seeder, the family-to-family, the seven-times-at-most, the faith-follower, and the Dhamma-follower. A sutta pertaining to vision should be indicated by these five individuals. A sutta pertaining to development should be indicated by twelve individuals: one practicing for the realization of the fruit of once-returning, the once-returner, one practicing for the realization of the fruit of non-returning, the non-returner, the one who attains final Nibbāna in the interval, the one who attains final Nibbāna upon arising, the one who attains final Nibbāna without exertion, the one who attains final Nibbāna with exertion, the one bound upstream heading for the Akaniṭṭha realm, the one liberated by faith, the one who has attained to view, and the bodily witness. A sutta pertaining to development should be indicated by these twelve individuals. A sutta pertaining to the one beyond training should be indicated by nine individuals: the one liberated by faith, the one liberated by wisdom, the one liberated through emptiness, the one liberated through the signless, the one liberated through the desireless, the one liberated in both ways, the one who has attained equipoise, the Paccekabuddha, and the Perfectly Enlightened One. A sutta pertaining to the one beyond training should be indicated by these nine individuals. Thus, the supramundane sutta, which has beings as its foundation, should be indicated by these twenty-six individuals.
Trong đó, kinh thuộc phần kiến đạo nên được chỉ rõ bằng năm hạng người: vị Nhất Chủng, vị Gia Tộc Chuyển Tộc, vị Thất Lai Tối Đa, vị Tùy Tín Hành, và vị Tùy Pháp Hành; kinh thuộc phần kiến đạo nên được chỉ rõ bằng năm hạng người này. Kinh thuộc phần tu tập nên được chỉ rõ bằng mười hai hạng người: vị thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, vị Nhất Lai, vị thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, vị Bất Lai, vị Trung Gian Bát-niết-bàn, vị Tổn Giảm Bát-niết-bàn, vị Vô Hành Bát-niết-bàn, vị Hữu Hành Bát-niết-bàn, vị Thượng Lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh, vị Tín Giải Thoát, vị Kiến Đáo, và vị Thân Chứng; kinh thuộc phần tu tập nên được chỉ rõ bằng mười hai hạng người này. Kinh thuộc phần vô học nên được chỉ rõ bằng chín hạng người: vị Tín Giải Thoát, vị Tuệ Giải Thoát, vị Không Giải Thoát, vị Vô Tướng Giải Thoát, vị Vô Nguyện Giải Thoát, vị Câu Phần Giải Thoát, vị Đồng Đẳng, vị Độc Giác Phật và vị Chánh Đẳng Giác; kinh thuộc phần vô học nên được chỉ rõ bằng chín hạng người này. Như vậy, kinh siêu thế có chúng sanh làm nền tảng nên được chỉ rõ bằng hai mươi sáu hạng người này.
Lokiyaṃ suttaṃ sattādhiṭṭhānaṃ ekūnavīsatiyā puggalehi niddisitabbaṃ. Te caritehi niddiṭṭhā samanvesitabbā keci rāgacaritā, keci dosacaritā, keci mohacaritā, keci rāgacaritā ca dosacaritā ca, keci rāgacaritā ca mohacaritā ca, keci dosacaritā ca mohacaritā ca, keci rāgacaritā ca dosacaritā ca mohacaritā ca, rāgamukhe ṭhito rāgacarito, rāgamukhe ṭhito dosacarito, rāgamukhe ṭhito mohacarito, rāgamukhe ṭhito rāgacarito ca dosacarito ca mohacarito ca, dosamukhe ṭhito dosacarito, dosamukhe ṭhito mohacarito, dosamukhe ṭhito rāgacarito, dosamukhe ṭhito rāgacarito ca dosacarito ca mohacarito ca, mohamukhe ṭhito mohacarito, mohamukhe ṭhito rāgacarito mohamukhe ṭhito dosacarito, mohamukhe ṭhito rāgacarito ca dosacarito ca mohacarito cāti, lokiyaṃ suttaṃ sattādhiṭṭhānaṃ imehi ekūnavīsatiyā puggalehi niddisitabbaṃ.
The worldly discourse, which has beings as its basis, should be indicated by means of nineteen individuals. They, indicated by their temperaments, should be sought out. Some are of a lustful temperament, some are of a hateful temperament, some are of a deluded temperament, some are of a lustful and hateful temperament, some are of a lustful and deluded temperament, some are of a hateful and deluded temperament, some are of a lustful, hateful, and deluded temperament. One established in the sphere of lust is of a lustful temperament; one established in the sphere of lust is of a hateful temperament; one established in the sphere of lust is of a deluded temperament; one established in the sphere of lust is of a lustful, hateful, and deluded temperament. One established in the sphere of hate is of a hateful temperament; one established in the sphere of hate is of a deluded temperament; one established in the sphere of hate is of a lustful temperament; one established in the sphere of hate is of a lustful, hateful, and deluded temperament. One established in the sphere of delusion is of a deluded temperament; one established in the sphere of delusion is of a lustful temperament; one established in the sphere of delusion is of a hateful temperament; one established in the sphere of delusion is of a lustful, hateful, and deluded temperament. Thus, the worldly discourse, which has beings as its basis, should be indicated by means of these nineteen individuals.
Kinh thế gian có nền tảng là chúng sanh nên được trình bày bởi mười chín hạng người. Các vị ấy được trình bày theo tánh hạnh, nên được tìm hiểu. Một số là người có tánh tham, một số là người có tánh sân, một số là người có tánh si, một số là người có tánh tham và tánh sân, một số là người có tánh tham và tánh si, một số là người có tánh sân và tánh si, một số là người có tánh tham, tánh sân và tánh si. Người có tánh tham đứng ở cửa ngõ của tham, người có tánh sân đứng ở cửa ngõ của tham, người có tánh si đứng ở cửa ngõ của tham, người có tánh tham, tánh sân và tánh si đứng ở cửa ngõ của tham. Người có tánh sân đứng ở cửa ngõ của sân, người có tánh si đứng ở cửa ngõ của sân, người có tánh tham đứng ở cửa ngõ của sân, người có tánh tham, tánh sân và tánh si đứng ở cửa ngõ của sân. Người có tánh si đứng ở cửa ngõ của si, người có tánh tham đứng ở cửa ngõ của si, người có tánh sân đứng ở cửa ngõ của si, người có tánh tham, tánh sân và tánh si đứng ở cửa ngõ của si. Kinh thế gian có nền tảng là chúng sanh nên được trình bày bởi mười chín hạng người này.
Vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ sīlavantehi niddisitabbaṃ, te sīlavanto pañca puggalā pakatisīlaṃ samādānasīlaṃ cittappasādo samatho vipassanā cāti, vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ imehi pañcahi puggalehi niddisitabbaṃ.
The discourse pertaining to latent tendencies should be indicated by means of the virtuous. These virtuous individuals are five: one with natural virtue, one with undertaken virtue, one with faith, one with tranquility, and one with insight. The discourse pertaining to latent tendencies should be indicated by means of these five individuals.
Kinh Vāsanābhāgiya nên được trình bày bởi những người có giới. Những người có giới ấy là năm hạng người: (người có) giới tự nhiên, (người có) giới do thọ trì, (người có) tâm tịnh tín, (người có) chỉ, và (người có) quán. Kinh Vāsanābhāgiya nên được trình bày bởi năm hạng người này.
Lokuttaraṃ suttaṃ dhammādhiṭṭhānaṃ tīhi suttehi niddisitabbaṃ dassanabhāgiyena bhāvanābhāgiyena asekkhabhāgiyena ca.
The supramundane discourse, which has Dhamma as its basis, should be indicated by means of three discourses: that pertaining to vision, that pertaining to development, and that pertaining to the adept.
Kinh siêu thế có nền tảng là pháp nên được trình bày bởi ba kinh: bởi kinh Dassanabhāgiya, bởi kinh Bhāvanābhāgiya, và bởi kinh Asekkhabhāgiya.
Lokiyañca lokuttarañca sattādhiṭṭhānañca dhammādhiṭṭhānañca ubhayena niddisitabbaṃ, ñāṇaṃ paññāya niddisitabbaṃ paññindriyena paññābalena adhipaññāsikkhāya dhammavicayasambojjhaṅgena sammādiṭṭhiyā tīraṇāya santīraṇāya dhamme ñāṇena anvaye ñāṇena khaye ñāṇena anuppāde ñāṇena anaññātaññassāmītindriyena aññindriyena aññātāvindriyena cakkhunā vijjāya buddhiyā bhūriyā medhāya, yaṃ yaṃ vā pana labbhati, tena tena paññādhivacanena niddisitabbaṃ.
Both the worldly and the supramundane, that which has beings as its basis and that which has Dhamma as its basis, should be indicated by means of both. Knowledge should be indicated by means of wisdom: by the faculty of wisdom, the power of wisdom, the training in higher wisdom, the enlightenment factor of investigation of phenomena, right view, by judgment, by thorough investigation, by knowledge of phenomena, by inferential knowledge, by knowledge of destruction, by knowledge of non-arising, by the faculty of 'I shall know what has not yet been known,' by the faculty of final knowledge, by the faculty of one who knows, by the eye, by knowledge, by intelligence, by discernment, by sagacity. Or whatever other designation for wisdom is found, by that very designation it should be indicated.
(Kinh) thế gian và siêu thế, có nền tảng là chúng sanh và có nền tảng là pháp, nên được trình bày bởi cả hai. Trí nên được trình bày bởi tuệ: bởi tuệ quyền, bởi tuệ lực, bởi tăng thượng tuệ học, bởi trạch pháp giác chi, bởi chánh kiến, bởi sự thẩm sát, bởi sự thẩm xét, bởi pháp trí, bởi tùy trí, bởi tận trí, bởi vô sanh trí, bởi vị tri đương tri quyền, bởi dĩ tri quyền, bởi cụ tri quyền, bởi mắt (trí tuệ), bởi minh, bởi giác, bởi tuệ rộng, bởi tuệ nhanh; hoặc bất cứ danh từ nào của tuệ có được, nên được trình bày bởi danh từ ấy của tuệ.
Ñeyyaṃ atītānāgatapaccuppannehi ajjhattikabāhirehi hīnappaṇītehi dūrasantikehi saṅkhatāsaṅkhatehi kusalākusalābyākatehi saṅkhepato vā chahi ārammaṇehi niddisitabbaṃ. Ñāṇañca ñeyyañca tadubhayena niddisitabbaṃ, paññāpi ārammaṇabhūtā ñeyyaṃ, yaṃ kiñci ārammaṇabhūtaṃ ajjhattikaṃ vā bāhiraṃ vā, sabbaṃ taṃ saṅkhatena asaṅkhatena ca niddisitabbaṃ.
The knowable should be indicated by means of the past, future, and present; the internal and external; the inferior and superior; the far and near; the conditioned and unconditioned; the wholesome, unwholesome, and indeterminate. Or, in brief, it should be indicated by means of six objects. Both knowledge and the knowable should be indicated by means of both. Wisdom, too, having become an object, is the knowable. Whatever is an object, whether internal or external, all that should be indicated as conditioned and unconditioned.
Đối tượng của trí nên được trình bày bởi (các pháp) quá khứ, vị lai, và hiện tại; bởi (các pháp) nội và ngoại; bởi (các pháp) hạ liệt và cao thượng; bởi (các pháp) xa và gần; bởi (các pháp) hữu vi và vô vi; bởi (các pháp) thiện, bất thiện, và vô ký; hoặc một cách tóm tắt, bởi sáu đối tượng. Trí và đối tượng của trí nên được trình bày bởi cả hai phương diện ấy. Tuệ trở thành đối tượng cũng được gọi là đối tượng của trí. Bất cứ điều gì trở thành đối tượng, dù là nội hay ngoại, tất cả những điều ấy nên được trình bày bởi (pháp) hữu vi và vô vi.
Dassanaṃ bhāvanā † sakavacanaṃ paravacanaṃ visajjanīyaṃ avisajjanīyaṃ kammaṃ vipākoti sabbattha tadubhayaṃ sutte yathā niddiṭṭhaṃ, tathā upadhārayitvā labbhamānato niddisitabbaṃ, yaṃ vā pana kiñci bhagavā aññataravacanaṃ bhāsati, sabbaṃ taṃ yathāniddiṭṭhaṃ dhārayitabbaṃ.
Vision, development, one's own word, another's word, what is to be answered, what is not to be answered, kamma, and result—in all such suttas, that pair (the conditioned and the unconditioned) should be indicated according to what is found, having investigated it as it is indicated. Furthermore, whatever other teaching the Blessed One utters, all of that should be retained as it has been indicated.
(Kinh) Kiến, Tu, Tự ngôn, Tha ngôn, Cần giải đáp, Không cần giải đáp, Nghiệp, Quả; trong tất cả các kinh, cả hai phương diện ấy (hữu vi và vô vi) nên được trình bày theo cách có thể đạt được sau khi đã xem xét như đã được trình bày. Hoặc bất cứ lời dạy nào khác mà Đức Thế Tôn thuyết giảng, tất cả những lời dạy ấy nên được ghi nhớ như đã được trình bày.
Duvidho hetu yañca kammaṃ ye ca kilesā, samudayo kilesā. Tattha kilesā saṃkilesabhāgiyena suttena niddisitabbā. Samudayo saṃkilesabhāgiyena ca vāsanābhāgiyena ca suttena niddisitabbo. Tattha kusalaṃ catūhi suttehi niddisitabbaṃ vāsanābhāgiyena dassanabhāgiyena bhāvanābhāgiyena asekkhabhāgiyena ca. Akusalaṃ saṃkilesabhāgiyena suttena niddisitabbaṃ. Kusalañca akusalañca tadubhayena † niddisitabbaṃ. Anuññātaṃ bhagavato anuññātāya niddisitabbaṃ, taṃ pañcavidhaṃ saṃvaro pahānaṃ bhāvanā sacchikiriyā kappiyānulomoti, yaṃ dissati tāsu tāsu bhūmīsu, taṃ kappiyānulomena niddisitabbaṃ. Paṭikkhittaṃ bhagavatā paṭikkhittakāraṇena niddisitabbaṃ. Anuññātañca paṭikkhittañca tadubhayena niddisitabbaṃ. Thavo pasaṃsāya niddisitabbo. So pañcavidhena veditabbo bhagavato dhammassa ariyasaṅghassa ariyadhammānaṃ sikkhāya lokiyaguṇasampattiyāti. Evaṃ thavo pañcavidhena niddisitabbo.
The cause is twofold: that which is kamma and that which are defilements. The origin is the defilements. Therein, the defilements should be indicated by the discourse pertaining to defilement. The origin should be indicated by the discourse pertaining to defilement and by that pertaining to latent tendencies. Therein, the wholesome should be indicated by four discourses: that pertaining to latent tendencies, that pertaining to vision, that pertaining to development, and that pertaining to the adept. The unwholesome should be indicated by the discourse pertaining to defilement. Both the wholesome and the unwholesome should be indicated by means of both. What is permitted should be indicated by the Blessed One's permission, and that is fivefold: restraint, abandonment, development, realization, and conformity with what is allowable. Whatever is seen in those various planes, that should be indicated by conformity with what is allowable. What is prohibited by the Blessed One should be indicated by the reason for the prohibition. Both what is permitted and what is prohibited should be indicated by means of both. Praise should be indicated by means of commendation. It is to be understood as fivefold: praise of the Blessed One, of the Dhamma, of the Noble Sangha, of the Noble Dhammas, and of the training endowed with worldly virtues. Thus, praise should be indicated in five ways.
Nhân có hai loại: nghiệp và các phiền não. Tập khởi là các phiền não. Trong đó, các phiền não nên được trình bày bởi kinh Saṃkilesabhāgiya. Tập khởi nên được trình bày bởi kinh Saṃkilesabhāgiya và kinh Vāsanābhāgiya. Trong đó, pháp thiện nên được trình bày bởi bốn kinh: Vāsanābhāgiya, Dassanabhāgiya, Bhāvanābhāgiya, và Asekkhabhāgiya. Pháp bất thiện nên được trình bày bởi kinh Saṃkilesabhāgiya. Pháp thiện và pháp bất thiện nên được trình bày bởi cả hai phương diện ấy. (Kinh) Cho phép nên được trình bày bởi sự cho phép của Đức Thế Tôn. Điều đó có năm loại: phòng hộ, đoạn trừ, tu tập, chứng ngộ, và tùy thuận sự thích hợp. Điều gì được thấy trong các cảnh giới ấy, điều đó nên được trình bày bởi sự tùy thuận thích hợp. (Kinh) Ngăn cấm nên được trình bày bởi lý do ngăn cấm của Đức Thế Tôn. (Kinh) Cho phép và Ngăn cấm nên được trình bày bởi cả hai phương diện ấy. (Kinh) Tán thán nên được trình bày bởi sự tán thán. Điều đó nên được hiểu theo năm loại: tán thán Đức Thế Tôn, Pháp, Thánh Tăng, các Thánh pháp, học giới và sự thành tựu các phẩm chất thế gian. Như vậy, (kinh) Tán thán nên được trình bày theo năm loại.
Indriyabhūmi navahi padehi niddisitabbā, kilesabhūmi navahi padehi niddisitabbā, evametāni aṭṭhārasa padāni honti nava padāni kusalāni nava padāni akusalānīti, tathāhi vuttaṃ ‘‘aṭṭhārasa mūlapadā kuhiṃ daṭṭhabbā, sāsanappaṭṭhāne’’ti. Tenāha āyasmā mahākaccāyano –
The sphere of faculties should be indicated by means of nine terms; the sphere of defilements should be indicated by means of nine terms. Thus, these are eighteen terms: nine terms are wholesome, nine terms are unwholesome. As it is said: 'Where should the eighteen root terms be seen? In the Foundation of the Dispensation.' Thus spoke the Venerable Mahākaccāyana:
Cảnh giới của các quyền nên được trình bày bởi chín đề mục, cảnh giới của các phiền não nên được trình bày bởi chín đề mục. Như vậy, có mười tám đề mục này: chín đề mục thiện và chín đề mục bất thiện. Vì quả thật đã được nói rằng: "Mười tám đề mục gốc rễ nên được thấy ở đâu? (Trong) Nền tảng của giáo pháp." Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói:
‘‘Navahi ca padehi kusalā, navahi ca yujjanti akusalappakkhā;
Ete khalu mūlapadā, bhavanti aṭṭhārasa padānī’’ti.
“The wholesome are connected with nine terms, and with nine are connected the unwholesome portions; these indeed are the root terms, they become eighteen terms.”
"Các pháp thiện (liên quan) đến chín đề mục, và phe bất thiện cũng liên quan đến chín (đề mục); quả thật, những đề mục gốc rễ này trở thành mười tám đề mục."
The Foundation of the Dispensation is set forth.
Nền tảng của giáo pháp đã được liên kết (với các kinh).
Ettāvatā samattā netti yā āyasmatā mahākaccāyanena bhāsitā bhagavatā anumoditā mūlasaṅgītiyaṃ saṅgītāti.
Thus far is the Netti completed, which was spoken by the Venerable Mahākaccāyana, approved by the Blessed One, and recited at the First Council.
Đến đây, bộ Nettī, bộ mà đã được Tôn giả Mahākaccāyana thuyết giảng, đã được Đức Thế Tôn tùy hỷ, đã được các vị Trưởng lão kết tập trong lần kết tập đầu tiên, đã được hoàn tất.