Bản dịch
NE 9 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận
Catubyūhahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là cách nào? Là điều này: “Ngữ pháp và chủ tâm, ...” Thông qua văn tự, nên tìm tòi về ngữ pháp, về chủ tâm, về căn nguyên, và về sự kết hợp điều trước và điều sau của Kinh.
1. Ở đấy, cái nào là thuộc về ngữ pháp? Ngôn ngữ là sự kết hợp các từ, là sự hiểu biết về tên gọi của các pháp. Bởi vì khi vị tỳ khưu biết tên gọi của ý nghĩa và biết tên gọi của pháp, rồi ứng dụng nó một cách tương xứng, vị này được gọi là thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn tự, thiện xảo về ngôn ngữ, thiện xảo về sự tuần tự trước sau, thiện xảo về chỉ bảo, thiện xảo về từ gọi ở thì quá khứ, thiện xảo về từ gọi ở thì vị lai, thiện xảo về từ gọi ở thì hiện tại, thiện xảo về từ gọi thuộc nữ tánh, thiện xảo về từ gọi thuộc nam tánh, thiện xảo về từ gọi thuộc trung tánh, thiện xảo về từ gọi ở số ít, thiện xảo về từ gọi ở số nhiều. Toàn bộ những điều liên quan ngữ pháp của xứ sở và toàn bộ ngôn ngữ của xứ sở nên được thực hiện như vậy; điều này là ngôn ngữ, là sự kết hợp các từ.
2. Ở đấy, việc nào là chủ tâm? i. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những ai có mong muốn hoàn toàn giải thoát khỏi các đọa xứ, họ sẽ trở thành những người có sự thực hành thiện pháp;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. ii. “Giống như kẻ trộm bị bắt ở nơi đột nhập, bị đánh đập và bị giam cầm bởi việc làm của mình, tương tự như vậy, người này sau khi chết ở kiếp sống khác, (cũng sẽ) bị đánh đập và bị giam cầm bởi nghiệp của mình.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Kẻ ấy sẽ gánh chịu quả thành tựu không được mong muốn, không khoan khoái của những cảm thọ khổ đã được tích lũy của những việc làm đã được thực hiện một cách cố ý;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. iii. “Kẻ nào trong lúc tầm cầu hạnh phúc cho bản thân mà hãm hại các chúng sanh có lòng mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, kẻ ấy không đạt được hạnh phúc sau khi chết.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những ai có sự tầm cầu hạnh phúc thì sẽ không tạo nghiệp ác;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. iv. “Lúc biếng nhác và ăn nhiều, mê ngủ, nằm trăn trở, ví như con heo bự được nuôi bằng cám thừa, kẻ ngu sanh vào bào thai lượt này đến lượt khác.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào có sự mong muốn (không còn) bị phiền phức với già và chết, những người ấy sẽ có sự biết chừng mực ở vật thực, có cửa vào ở các giác quan đã được gìn giữ, đã được gắn bó với sự luyện tập về tỉnh thức vào canh đầu và canh cuối của đêm, có thực hành minh sát ở các thiện pháp, và có sự tôn kính các vị đồng Phạm hạnh trưởng lão, mới tu, hoặc trung niên;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn.
v. “Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn), sự xao lãng là con đường đưa đến sự chết. Những người không xao lãng không chết, những người nào xao lãng giống như đã chết.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người có sự mong muốn tầm cầu sự tầm cầu về Bất Tử, những người ấy sẽ sống không xao lãng;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là sự chủ tâm.
3. Ở đây, điều gì là căn nguyên? Giống như người chăn bò Dhaniya ấy đã nói với đức Thế Tôn: vi. “Người có con vui thích với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò vui thích với bầy bò. Chính mầm tái sanh là niềm vui thích của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy (sẽ) không vui thích.”
Đức Thế Tôn đã nói rằng: vii. “Người có con sầu muộn với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò sầu muộn với bầy bò. Chính mầm tái sanh là nỗi sầu muộn của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy (sẽ) không sầu muộn.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói vật sở hữu bên ngoài là mầm tái sanh.”
Và giống như Ma Vương ác độc đã làm rơi tảng đá lớn từ núi Gijjhakūṭa, đức Thế Tôn đã nói rằng: viii. “Cho dù ngươi có làm dao động toàn bộ tất cả núi Gijjhakūṭa, chư Phật, các bậc đã được chân chánh giải thoát, cũng không bao giờ có sự xao động.”
ix. “Bầu trời có thể vỡ tan, trái đất có thể dao động, hoặc tất cả sinh mạng có thể kinh sợ, cho dù chúng có thể làm lay động mũi tên ở ngực, chư Phật cũng không nương náu ở các mầm tái sanh.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói thân xác là mầm tái sanh.”
Và giống như Ngài đã nói: x. “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn, (mà là) sự mong muốn, bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về tham ái ở các vật bên ngoài.”
Và giống như Ngài đã nói: xi. “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn, có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ. Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị xuất gia, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật bên ngoài.”
Và giống như Ngài đã nói: xii. “Vật bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối, có mùi hôi, thuộc về xác thân, đang rò rỉ ngày đêm, được thích thú bởi các kẻ ngu.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật thuộc nội phần.”
Và giống như Ngài đã nói: xiii. “Hãy cắt đứt lòng yêu thương đối với bản thân, ví như dùng bàn tay (ngắt đi) hoa súng trắng của mùa thu. Hãy phát triển chính Đạo Lộ Thanh Tịnh, Niết Bàn, đã được thuyết giảng bởi đấng Thiện Thệ.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật thuộc nội phần.” Điều này là căn nguyên.
4. Ở đấy, việc nào là sự kết hợp điều trước và điều sau? Giống như Ngài đã nói: xiv. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi kẻ thân quyến lơ đễnh (Ma Vương), tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi đến già và chết, tựa như con bê bú sữa mẹ.” Tham ái về dục này được nói đến. Nó được kết nối theo sự tuần tự nào?
Và giống như Ngài đã nói: xv. “Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp. Khi luyến ái ngự trị con người, thì luôn có sự mù quáng và tối tăm.”
Như thế, chính tham ái ấy được nói đến thông qua trạng thái mù quáng và trạng thái bị bao trùm. Và điều mà Ngài đã nói rằng: “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái” và điều mà Ngài đã nói rằng: “Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp,” với hai đoạn kệ này (để giải thích) sự xâm nhập, chính tham ái ấy đã được nói đến. Cái gây ra sự mù quáng là Khổ Tập và tham ái liên quan đến tái sanh.
Và điều mà Ngài đã nói rằng: “Các dục,” đây là các ô nhiễm dục, và điều mà Ngài đã nói rằng: “Bị bao trùm bởi tấm lưới” giúp cho thấy sự xâm nhập bởi hành vi của chính các dục ấy; vì thế, do tác động của ô nhiễm và do tác động của sự xâm nhập, sự trói buộc tham ái được nói đến. Những người như thế ấy đi đến già và chết. Điều này đã được đức Thế Tôn chỉ ra là do năng lực (của tham ái) theo như câu kệ đã được trình bày: “Chúng đi đến già và chết.”
xvi. “Đối với vị nào, các chướng ngại và sự tồn tại (ở luân hồi) là không có, vị đã vượt lên trên sợi xích (tham ái) và thanh chắn (tà kiến), thế gian luôn cả chư Thiên không nhận biết được vị hiền trí ấy, vị đang sống không còn tham ái.”
Các chướng ngại là: tham ái, tà kiến, ngã mạn, và các hành đã được tạo tác từ đó. Sự tồn tại là pháp tiềm ẩn. Sợi xích là sự xâm nhập của tham ái, là 36 hành vi của mạng lưới tham ái. Thanh chắn là sự si mê. Vị nào vượt qua hẳn mọi pháp này, –gồm có các chướng ngại là các pháp tạo tác, sự tồn tại, sợi xích, và thanh chắn,– được gọi là “vị không còn tham ái.”
Ở đấy, các tạo tác do sự xâm nhập có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại, hoặc có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp, hoặc có thể được cảm thọ ở kiếp khác; như vậy tham ái cho quả theo ba cách: hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác. Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Người tạo nghiệp phát khởi do tham bằng thân, (hoặc) bằng lời nói, (hoặc) bằng ý, (sẽ) gánh lấy quả thành tựu của nghiệp ấy ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn. Ở đấy, sự xâm nhập là nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp, hoặc nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác. Như vậy nghiệp được chín muồi theo ba cách: hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác. Giống như Ngài đã nói: “Nếu kẻ ngu, ở đời này, là kẻ sát sanh –nt– là kẻ có tà kiến, thì (sẽ) nhận chịu quả thành tựu của nghiệp ấy hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn. Ở đấy, “sự xâm nhập có thể được dứt bỏ bởi năng lực của sự suy xét, các pháp tạo tác (có thể được dứt bỏ) bởi năng lực của sự nhận thức, 36 hành vi của tham ái có thể được dứt bỏ bởi năng lực của sự tu tập.” Như vậy, tham ái cũng được dứt bỏ theo ba cách. Trạng thái không còn tham ái là Niết Bàn giới còn dư sót, sau khi hoại rã xác thân là Niết Bàn giới không còn dư sót.
Tên gọi chướng ngại nói đến sự bó buộc. Và điều mà đức Thế Tôn đã nói rằng: “Nó tạo thành chướng ngại khởi đầu với sắc được nhận thức bởi mắt thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại.” Và điều mà đức Thế Tôn đã nói: “Này Rādha, ngươi hãy là người không có sự trông mong ở sắc quá khứ, ngươi chớ thích thú về sắc vị lai, ngươi hãy thực hành nhằm đưa đến sự nhàm chán, sự xa lìa luyến ái, sự diệt tận, sự xả bỏ, sự buông bỏ đối với sắc hiện tại.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn.
Chướng ngại, các pháp tạo tác, và các sự thích thú thuộc quá khứ–vị lai– hiện tại có chung một ý nghĩa. Tuy nhiên, việc chỉ bảo Giáo Pháp được đức Thế Tôn nói là không đo lường được bởi các thuật ngữ khác nhau, bởi các âm từ khác nhau, bởi các văn tự khác nhau. Như vậy, Kinh được diễn giải sau khi đã làm phù hợp Kinh với Kinh, sau khi đã làm kết nối điều trước và điều sau.
Và sự kết hợp điều trước và điều sau này có bốn loại: kết hợp về ý nghĩa, kết hợp về văn tự, kết hợp về sự chỉ bảo, kết hợp về sự diễn giải.
Ở đấy, kết hợp về ý nghĩa có sáu thuật ngữ: sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự quy định.
Kết hợp về văn tự có sáu thuật ngữ: âm từ, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, sự diễn giải.
Kết hợp về sự chỉ bảo: vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) đất, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) nước, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) lửa, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) gió, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa không vô biên xứ –nt– không nương tựa thức vô biên xứ –nt– không nương tựa vô sở hữu xứ –nt– không nương tựa phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa đời này, không nương tựa đời sau; cái nào là cái được thấy, cái được nghe, cái được cảm giác, cái được nhận thức, cái đã đạt được, cái được tầm cầu, cái được suy tầm, cái được suy tư, cái được suy xét bởi ý, với cái khoảng giữa của cả hai, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa luôn cả cái ấy. Vị này, ở thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người, trong khi tham thiền với tâm không nương tựa thì không bị nhận biết.
Giống như Ma Vương ác độc, trong khi tìm kiếm, vẫn không biết được, không thấy được thức của vị Godhika Kulaputta. Bởi vì vị ấy đã vượt qua chướng ngại nhờ vào sự dứt bỏ tham ái, luôn cả sự nương vào tà kiến của vị này cũng không có. Và đối với Godhika là thế nào thì đối với Vakkali là thế ấy. Trong khi tham thiền, có tâm không nương tựa, họ không bị nhận biết bởi thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. Điều này là kết hợp về sự chỉ bảo.
Ở đấy, kết hợp về sự diễn giải là gì? Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo nhóm bất thiện, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo nhóm thiện. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo ô nhiễm, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự thanh lọc. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự xoay vần của luân hồi, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự ngừng lại của luân hồi. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo tham ái và vô minh, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo chỉ tịnh và minh sát. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo vô tàm và vô quý, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo tàm và quý. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo thất niệm và sự không nhận biết rõ, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo niệm và sự nhận biết rõ. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự đúng đường lối và sự tác ý đúng đường lối. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự biếng nhác và khó dạy, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự ra sức tinh tấn và dễ dạy. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không có đức tin và sự xao lãng, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự có đức tin và sự không xao lãng. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không lắng nghe chánh pháp và sự không thu thúc, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự lắng nghe chánh pháp và sự thu thúc. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự tham đắm và sân hận, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không tham đắm và không sân hận. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo các pháp che lấp và các sự ràng buộc, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo đoạn kiến và thường kiến, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo Niết Bàn giới còn dư sót và không còn dư sót. Điều này là kết hợp về sự diễn giải. Vì thế, đại đức Mahā Kaccāyana đã nói rằng: “Ngữ pháp và chủ tâm, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
25. Tattha katamo catubyūho hāro? ‘‘Neruttamadhippāyo’’ti ayaṃ. Byañjanena suttassa neruttañca adhippāyo ca nidānañca pubbāparasandhi ca gavesitabbo. Tattha katamaṃ neruttaṃ, yā niruttipadasaṃhitā, yaṃ dhammānaṃ nāmaso ñāṇaṃ. Yadā hi bhikkhu atthassa ca nāmaṃ jānāti, dhammassa ca nāmaṃ jānāti, tathā tathā naṃ abhiniropeti. Ayañca vuccati atthakusalo dhammakusalo byañjanakusalo niruttikusalo pubbāparakusalo desanākusalo atītādhivacanakusalo anāgatādhivacanakusalo paccuppannādhivacanakusalo itthādhivacanakusalo purisādhivacanakusalo napuṃsakādhivacanakusalo ekādhivacanakusalo anekādhivacanakusalo, evaṃ sabbāni kātabbāni janapadaniruttāni sabbā ca janapadaniruttiyo. Ayaṃ niruttipadasaṃhitā.
25. Herein, what is the Fourfold Method? It is this: ‘Linguistic analysis and intention.’ Through the expression, one should investigate the linguistic analysis of the discourse, its intention, its occasion, and the connection between preceding and subsequent passages. Herein, what is linguistic analysis? It is the linguistic analysis connected with the words, which is the knowledge of the names of dhammas. For when a monk knows the name of the meaning and the name of the dhamma, he applies it accordingly. And this one is called skilled in meaning, skilled in the dhamma, skilled in expression, skilled in linguistic analysis, skilled in preceding and subsequent passages, skilled in teaching, skilled in past designations, skilled in future designations, skilled in present designations, skilled in feminine designations, skilled in masculine designations, skilled in neuter designations, skilled in singular designations, and skilled in plural designations. Thus, all provincial terms and all provincial usages are to be employed. This is linguistic analysis connected with the words.
25. Trong đó, phương pháp bốn cách sắp xếp là gì? Chính là điều này: “ngữ nguyên và chủ ý”. Cần phải tìm hiểu về kinh qua văn tự về ngữ nguyên, chủ ý, nhân duyên, và sự liên kết trước sau. Trong đó, ngữ nguyên là gì? Đó là ngữ nguyên liên quan đến từ, là sự hiểu biết các pháp qua danh xưng. Vì khi vị Tỳ khưu biết danh xưng của ý nghĩa và biết danh xưng của pháp, vị ấy trình bày danh xưng đó theo cách này hay cách khác. Và vị này được gọi là người thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn tự, thiện xảo về ngữ nguyên, thiện xảo về trước sau, thiện xảo về thuyết giảng, thiện xảo về quy ước quá khứ, thiện xảo về quy ước vị lai, thiện xảo về quy ước hiện tại, thiện xảo về quy ước nữ tính, thiện xảo về quy ước nam tính, thiện xảo về quy ước trung tính, thiện xảo về quy ước số ít, thiện xảo về quy ước số nhiều. Như vậy, tất cả các phương ngữ địa phương cần được sử dụng, và tất cả các phương ngữ địa phương. Đây là ngữ nguyên liên quan đến từ.
26. Tattha katamo adhippāyo?
26. Herein, what is intention?
26. Trong đó, chủ ý là gì?
‘‘Dhammo have rakkhati dhammacāriṃ, chattaṃ mahantaṃ yatha vassakāle †;
Esānisaṃso dhamme suciṇṇe, na duggatiṃ gacchati dhammacārī’’ti.
“Indeed, the Dhamma protects one who practices the Dhamma, like a great umbrella in the rainy season. This is the benefit of the Dhamma well-practiced: one who practices the Dhamma does not go to a woeful destination.”
“Pháp thật sự hộ trì người hành pháp, như chiếc lọng lớn che chở trong mùa mưa. Đây là quả báu của pháp được thực hành tốt đẹp, người hành pháp không đi đến ác thú.”
Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye apāyehi parimuccitukāmā bhavissanti, te dhammacārino bhavissantīti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo.
Here, what is the Blessed One’s intention? “Those who wish to be freed from the woeful states will be practitioners of the Dhamma”—this is the Blessed One’s intention here.
Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai muốn giải thoát khỏi các cõi khổ, những người ấy sẽ là người hành pháp. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây.
‘‘Coro yathā sandhimukhe gahīto, sakammunā haññati † bajjhate ca;
Evaṃ ayaṃ pecca pajā parattha, sakammunā haññati † bajjhate cā’’ti.
“Just as a thief caught at a break-in is struck and bound for his own deed, so too this populace, after passing away, in the next world, is struck and bound for its own deed.”
“Như tên trộm bị bắt tại nơi đột nhập, bị giết và bị trói bởi chính hành vi của mình; cũng vậy, chúng sanh này sau khi chết, ở đời sau, bị giết và bị trói bởi chính hành vi của mình.”
Idha bhagavato ko adhippāyo? Sañcetanikānaṃ katānaṃ kammānaṃ upacitānaṃ dukkhavedanīyānaṃ aniṭṭhaṃ asātaṃ vipākaṃ paccanubhavissatīti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo.
Here, what is the Blessed One’s intention? “One will experience the undesirable, unpleasant result of intentional, accumulated kamma that is to be felt as painful”—this is the Blessed One’s intention here.
Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? (Chúng sanh) sẽ phải trải nghiệm quả không mong muốn, không hài lòng của những nghiệp có tác ý, đã được làm, đã được tích lũy, đưa đến cảm thọ khổ. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây.
‘‘Sukhakāmāni † bhūtāni, yo daṇḍena vihiṃsati;
Attano sukhamesāno, pecca so na labhate sukha’’nti.
“Whoever, seeking their own happiness, harms with a rod beings who desire happiness, that person does not obtain happiness after death.”
“Người nào, trong khi tìm kiếm hạnh phúc cho chính mình, lại dùng gậy gộc làm hại các chúng sanh vốn mong cầu hạnh phúc, thì sau khi chết, người ấy không có được hạnh phúc.”
Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye sukhena atthikā bhavissanti, te pāpakammaṃ † na karissantīti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo.
Here, what is the Blessed One's intention? The Blessed One's intention here is that those who are desirous of happiness will not do evil kamma.
Ở đây, chủ ý của Đức Thế Tôn là gì? Những ai có nhu cầu về hạnh phúc, những người ấy sẽ không làm ác nghiệp. Đây là chủ ý của Đức Thế Tôn ở đây.
‘‘Middhī † yadā hoti mahagghaso ca, niddāyitā samparivattasāyī;
Mahāvarāhova nivāpapuṭṭho, punappunaṃ gabbhamupeti mando’’ti.
“When one is torpid, a glutton, prone to sleep, and accustomed to rolling about while sleeping, like a great hog fattened on fodder, the fool approaches the womb again and again.”
“Khi một người trở nên hôn trầm, ăn nhiều, ngủ nhiều, nằm lăn qua lộn lại, như con heo lớn được nuôi bằng thức ăn thừa, người ngu si ấy lại đi vào bào thai lần này đến lần khác.”
Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye jarāmaraṇena aṭṭiyitukāmā bhavissanti, te bhavissanti bhojane mattaññuno indriyesu guttadvārā pubbarattāpararattaṃ jāgariyānuyogamanuyuttā vipassakā kusalesu dhammesu sagāravā ca sabrahmacārīsu theresu navesu majjhimesūti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo.
Here, what is the Blessed One's intention? Those who wish to be weary of aging and death will be moderate in eating, with guarded sense-doors, devoted to the practice of wakefulness in the first and last watches of the night, discerning in wholesome dhammas, and respectful towards their companions in the holy life—whether elders, new ones, or of middle standing. This is the Blessed One's intention here.
Ở đây, ý chỉ của đức Thế Tôn là gì? Những ai muốn nhàm chán sự già và chết, họ sẽ là những người biết tiết độ trong ăn uống, hộ trì các căn, chuyên tâm thực hành sự tỉnh thức trong canh đầu và canh cuối của đêm, là những người thực hành minh sát trong các thiện pháp, và có lòng tôn kính đối với các vị đồng phạm hạnh, cả trưởng lão, tân tỳ khưu, và trung tỳ khưu. Đây là ý chỉ của đức Thế Tôn ở đây.
‘‘Appamādo amatapadaṃ †, pamādo maccuno padaṃ;
Appamattā na mīyanti, ye pamattā yathā matā’’ti.
“Heedfulness is the state of the Deathless, heedlessness is the state of death. The heedful do not die; the heedless are as if already dead.”
Không phóng dật là con đường bất tử, phóng dật là con đường của tử thần. Người không phóng dật thì không chết, kẻ phóng dật thì như đã chết.
Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye amatapariyesanaṃ pariyesitukāmā bhavissanti, te appamattā viharissantīti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo. Ayaṃ adhippāyo.
Here, what is the Blessed One's intention? The Blessed One's intention here is that those who wish to undertake the search for the Deathless will dwell heedfully. This is the intention.
Ở đây, ý chỉ của đức Thế Tôn là gì? Những ai muốn tìm cầu pháp bất tử, họ sẽ sống không phóng dật. Đây là ý chỉ của đức Thế Tôn ở đây. Đây là ý chỉ.
27. Tattha katamaṃ nidānaṃ? Yathā so dhaniyo gopālako bhagavantaṃ āha –
27. Herein, what is the occasion? Just as that cowherd Dhaniya said to the Blessed One:
27. Trong ấy, nhân duyên là gì? Như khi người chăn bò Dhaniya ấy đã bạch với đức Thế Tôn rằng –
‘‘Nandati puttehi puttimā, gomā † gohi tatheva nandati;
Upadhī hi narassa nandanā, na hi so nandati yo nirūpadhī’’ti.
“One with sons delights in sons; one with cattle likewise delights in cattle. Indeed, the bases for clinging are a person's delight; one who is without bases for clinging does not delight.”
Người có con vui với con, người có bò cũng vui với bò như vậy. Quả vậy, các sở hữu là niềm vui của con người, người không có sở hữu thì không có niềm vui.
Bhagavā āha –
The Blessed One said:
Đức Thế Tôn nói –
‘‘Socati puttehi puttimā, gopiko † gohi tatheva socati;
Upadhī hi narassa socanā, na hi so socati yo nirūpadhī’’ti.
“One with sons sorrows because of sons; one with cattle likewise sorrows because of cattle. Indeed, the bases for clinging are a person's sorrow; one who is without bases for clinging does not sorrow.”
Người có con sầu muộn vì con, người có bò cũng sầu muộn vì bò như vậy. Quả vậy, các sở hữu là nỗi sầu muộn của con người, người không có sở hữu thì không sầu muộn.
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā bāhiraṃ pariggahaṃ upadhi āhā’’ti. Yathā ca māro pāpimā gijjhakūṭā pabbatā puthusilaṃ pātesi, bhagavā āha –
By this matter, by this occasion, it is thus known: “Here, the Blessed One called external acquisitions a basis for clinging.” And just as Māra the Evil One hurled a great rock from Gijjhakūṭa mountain, the Blessed One said:
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói sở hữu bên ngoài là upadhi (sở thủ).' Và như khi Ác ma Māra đã xô một tảng đá lớn từ núi Gijjhakūṭa, đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Sacepi kevalaṃ sabbaṃ, gijjhakūṭaṃ calessasi †;
Neva sammāvimuttānaṃ, buddhānaṃ atthi iñjitaṃ.
“Even if you were to shake the entire Gijjhakūṭa mountain, for the perfectly liberated Buddhas, there is no agitation.”
Dầu cho ngươi có làm rung chuyển toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đối với các bậc Chánh Giác, những vị đã chơn chánh giải thoát, không hề có sự dao động.
Nabhaṃ phaleyyappathavī caleyya, sabbeva pāṇā uda santaseyyuṃ;
Sallampi ce urasi kampayeyyuṃ †, upadhīsu tāṇaṃ na karonti buddhā’’ti.
“Even if the sky were to split, the earth to quake, and all beings indeed were to be terrified; even if a dart were to tremble in the breast, the Buddhas do not make a protection in the bases for clinging.”
Bầu trời có thể vỡ, đất có thể rung chuyển, tất cả chúng sanh có thể kinh hoàng, mũi tên có thể đâm vào ngực, các bậc Chánh Giác không tạo ra sự bảo vệ trong các upadhi (các uẩn).
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā kāyaṃ upadhiṃ āhā’’ti. Yathā cāha –
By this matter, by this cause, it is thus known: 'Here the Blessed One spoke of the body as a basis for clinging.' And as he said:
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói thân này là upadhi.' Và như Ngài đã nói –
‘‘Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, yadāyasaṃ dārujapabbajañca †;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu, puttesu dāresu ca yā apekkhā’’ti.
“The wise do not call that a strong bond which is made of iron, wood, or babbaja grass. The passionate attachment and longing for jeweled earrings, for sons, and for wives—
Bậc trí không nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, hay bằng cỏ babbaja là bền chặt; mà sự quyến luyến say đắm mãnh liệt đối với ngọc báu, hoa tai, đối với con cái và vợ chồng.
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā bāhiresu vatthūsu taṇhaṃ āhā’’ti. Yathā cāha –
By this matter, by this cause, it is thus known: 'Here the Blessed One spoke of craving for external objects.' And as he said:
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về ái dục đối với các đối tượng bên ngoài.' Và như Ngài đã nói –
‘‘Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā, ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ;
Etampi chetvāna paribbajanti, anapekkhino kāmasukhaṃ pahāyā’’ti.
“This the wise call a strong bond: dragging down, slack, and hard to escape. Having cut even this, the wise wander forth, without longing, having abandoned sensual pleasure.”
Bậc trí nói rằng sự trói buộc ấy mới là bền chặt, nó kéo xuống, lỏng lẻo, nhưng khó thoát ra. Cắt đứt được cả sự trói buộc ấy, họ ra đi, không còn luyến tiếc, từ bỏ dục lạc.
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā bāhiravatthukāya taṇhāya pahānaṃ āhā’’ti. Yathā cāha –
By this matter, by this cause, it is thus known: 'Here the Blessed One spoke of the abandoning of craving related to external objects.' And as he said:
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự đoạn trừ ái dục đối với các đối tượng bên ngoài.' Và như Ngài đã nói –
‘‘Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ, duggandhaṃ dehanissitaṃ;
Paggharantaṃ divā rattiṃ, bālānaṃ abhinandita’’nti.
“Afflicted, impure, putrid, foul-smelling, and dependent on the body; oozing day and night, it is delighted in by fools.”
(Thân này) bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối, có mùi hôi, nương vào thân, rỉ chảy ngày đêm, được kẻ ngu si ưa thích.
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā ajjhattikavatthukāya taṇhāya pahānaṃ āhā’’ti. Yathā cāha –
By this matter, by this cause, it is thus known: 'Here the Blessed One spoke of the abandoning of craving related to internal objects.' And as he said:
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự đoạn trừ ái dục đối với các đối tượng bên trong.' Và như Ngài đã nói –
‘‘Ucchinda † sinehamattano, kumudaṃ sāradikaṃva pāṇinā;
Santimaggameva brūhaya, nibbānaṃ sugatena desita’’nti.
“Cut off your own affection, as one plucks an autumn water lily with the hand. Cultivate only the path to peace; Nibbāna has been taught by the Sugata.”
Hãy cắt đứt ái luyến của tự thân, như tay ngắt đóa hoa súng mùa thu. Hãy tu tập chính con đường an tịnh, Niết-bàn đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng.
Iminā vatthunā iminā nidānena evaṃ ñāyati ‘‘idha bhagavā ajjhattikavatthukāya taṇhāya pahānaṃ āhā’’ti. Idaṃ nidānaṃ.
By this matter, by this cause, it is thus known: 'Here the Blessed One spoke of the abandoning of craving related to internal objects.' This is the cause.
Do sự việc này, do nhân duyên này, được hiểu như vầy: 'Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự đoạn trừ ái dục đối với các đối tượng bên trong.' Đây là nhân duyên.
Tattha katamo pubbāparasandhi. Yathāha –
Therein, what is the connection between the preceding and the subsequent? As it was said:
Trong ấy, sự liên kết trước sau là gì? Như Ngài đã nói –
‘‘Kāmandhā jālasañchannā, taṇhāchadanachāditā;
Pamattabandhanā † baddhā †, macchāva kumināmukhe;
Jarāmaraṇamanventi, vaccho khīrapakova mātara’’nti.
“Blinded by sensual desire, covered by a net, concealed by the covering of craving, bound by the bond of heedlessness, they are like fish in the mouth of a fish-trap. They follow aging and death, just as a suckling calf follows its mother.”
Mù quáng vì dục, bị lưới bao phủ, bị mái che ái dục che đậy; bị trói buộc bởi sự phóng dật, như cá trong miệng đó. Chúng đi theo già và chết, như bê con còn bú sữa đi theo mẹ.
Ayaṃ kāmataṇhā vuttā. Sā katamena pubbāparena yujjati? Yathāha –
This sensual craving has been spoken of. With what preceding and subsequent teaching does it connect? As it was said:
Dục ái này đã được nói đến. Nó liên kết với (lời dạy) trước sau nào? Như Ngài đã nói –
‘‘Ratto atthaṃ na jānāti, ratto dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ rāgo sahate nara’’nti.
“One who is impassioned does not know the goal; one who is impassioned does not see the Dhamma. Then there is blinding darkness, when passion overcomes a person.”
Người tham ái không biết lợi ích, người tham ái không thấy pháp. Khi tham ái chế ngự một người, khi ấy có bóng tối mịt mù.
Iti andhatāya ca sañchannatāya ca sāyeva taṇhā abhilapitā. Yañcāha kāmandhā jālasañchannā, taṇhāchadanachāditāti. Yañcāha ratto atthaṃ na jānāti, ratto dhammaṃ na passatīti, imehi padehi pariyuṭṭhānehi sāyeva taṇhā abhilapitā. Yaṃ andhakāraṃ, ayaṃ dukkhasamudayo, yā ca taṇhā ponobhavikā, yañcāha kāmāti ime kilesakāmā. Yañcāha jālasañchannāti tesaṃ yeva kāmānaṃ payogena pariyuṭṭhānaṃ dasseti, tasmā kilesavasena ca pariyuṭṭhānavasena ca taṇhābandhanaṃ vuttaṃ. Ye edisikā, te jarāmaraṇaṃ anventi, ayaṃ bhagavatā yathānikkhittagāthābalena dassitā jarāmaraṇamanventīti.
Thus, in terms of blindness and being covered over, that same craving is described. And what was said: 'Blinded by sensual desire, covered by a net, concealed by the covering of craving.' And what was said: 'One who is impassioned does not know the goal, one who is impassioned does not see the Dhamma'—by these terms of obsession, that same craving is described. What is darkness, this is the origin of suffering. And there is the craving that leads to renewed existence. And what is called 'sensual pleasure'—these are defiling sensual pleasures. And what was said, 'covered by a net,' shows obsession through the application of those very sensual pleasures. Therefore, the bondage of craving is spoken of in terms of defilements and in terms of obsession. Those who are of such a nature follow aging and death. This was shown by the Blessed One by the power of the verse as it was set forth: 'they follow aging and death.'
Như vậy, chính ái dục ấy đã được nói đến qua (trạng thái) mù quáng và bị bao phủ. Và điều Ngài đã nói: 'Mù quáng vì dục, bị lưới bao phủ, bị mái che ái dục che đậy.' Và điều Ngài đã nói: 'Người tham ái không biết lợi ích, người tham ái không thấy pháp,' chính ái dục ấy đã được nói đến qua những từ ngữ và những phiền não này. Cái gọi là bóng tối, đây là tập đế của khổ; và ái dục đưa đến tái sanh, và điều Ngài nói là 'dục', đây là các dục phiền não. Và điều Ngài nói 'bị lưới bao phủ' là chỉ ra phiền não do sự thực hành chính những dục ấy. Do đó, sự trói buộc của ái dục được nói đến theo phương diện phiền não và theo phương diện sự ám ảnh của phiền não. Những ai như vậy, họ đi theo già và chết. Điều này đã được đức Thế Tôn chỉ ra bằng sức mạnh của bài kệ đã được trình bày: 'Chúng đi theo già và chết.'
‘‘Yassa papañcā ṭhitī ca natthi, sandānaṃ palighañca † vītivatto;
Taṃ nittaṇhaṃ muniṃ carantaṃ, na vijānāti sadevakopi loko’’ti.
“For whom proliferation and persistence exist not, who has overcome the tether and the cross-bar; that craving-free sage, wandering, the world with its devas does not know.”
Vị nào không còn hý luận và trạng thái dừng lại, đã vượt qua dây trói và thanh chắn, vị Mâu-ni không còn ái dục, đang đi lại ấy, thế gian cùng với chư thiên không thể biết được.
Papañcā nāma taṇhādiṭṭhimānā, tadabhisaṅkhatā ca saṅkhārā. Ṭhiti nāma anusayā. Sandānaṃ nāma taṇhāya pariyuṭṭhānaṃ, yāni chattiṃsataṇhāya jāliniyā vicaritāni. Paligho nāma moho. Ye ca papañcā saṅkhārā yā ca ṭhiti yaṃ sandānañca yaṃ palighañca yo etaṃ sabbaṃ samatikkanto, ayaṃ vuccati nittaṇho iti.
‘Proliferations’ means craving, views, and conceit, and the formations conditioned by them. ‘Persistence’ means the underlying tendencies. ‘Tether’ means the obsession of craving, which are the thirty-six courses of the web of craving. ‘Cross-bar’ means delusion. Whoever has transcended all this—the proliferating formations, the persistence, the tether, and the cross-bar—is called ‘craving-free’.
'Hý luận' (papañca) là ái, tà kiến, và ngã mạn, và các hành do chúng tạo tác. 'Trạng thái dừng lại' (ṭhiti) là các tùy miên. 'Dây trói' (sandāna) là sự ám ảnh của ái dục, tức là ba mươi sáu dòng ái dục vận hành như lưới. 'Thanh chắn' (paligha) là si. Vị nào đã vượt qua tất cả những điều này: các hành hý luận, trạng thái dừng lại, dây trói, và thanh chắn, vị ấy được gọi là 'người không còn ái dục'.
28. Tattha pariyuṭṭhānasaṅkhārā diṭṭhadhammavedanīyā vā upapajjavedanīyā vā aparāpariyavedanīyā vā, evaṃ taṇhā tividhaṃ phalaṃ deti diṭṭhe vā dhamme upapajje vā apare vā pariyāye. Evaṃ bhagavā āha ‘‘yaṃ lobhapakataṃ kammaṃ karoti kāyena vā vācāya vā manasā vā, tassa vipākaṃ anubhoti diṭṭhe vā dhamme upapajje vā apare vā pariyāye’’ti. Idaṃ bhagavato pubbāparena yujjati. Tattha pariyuṭṭhānaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ vā kammaṃ upapajjavedanīyaṃ vā kammaṃ aparāpariyāyavedanīyaṃ † vā kammaṃ, evaṃ kammaṃ tidhā vipaccati diṭṭhe vā dhamme upapajje vā apare vā pariyāye. Yathāha –
28. Therein, the formations of obsession are to be experienced either in the present life, or in the next life, or in a subsequent life. Thus craving gives fruit of three kinds, in the present life, or in the next life, or in a subsequent life. Thus the Blessed One said: 'Whatever kamma produced by greed one does by body, speech, or mind, one experiences its result either in the present life, or in the next life, or in a subsequent life.' This accords with the preceding and subsequent statements of the Blessed One. Therein, obsession is kamma to be experienced in the present life, or kamma to be experienced in the next life, or kamma to be experienced in a subsequent life. Thus kamma ripens in three ways: in the present life, or in the next life, or in a subsequent life. As it was said:
28. Ở đây, các pháp hành phiền não hoặc là được cảm thọ trong hiện tại, hoặc là được cảm thọ trong đời sau, hoặc là được cảm thọ trong các đời sau nữa; như vậy, ái cho quả theo ba cách: hoặc trong hiện tại, hoặc trong đời sau, hoặc trong các đời sau nữa. Như vậy, đức Thế Tôn đã dạy: ‘Nghiệp nào được làm do tham, được thực hiện bằng thân, hoặc bằng khẩu, hoặc bằng ý, người ấy cảm thọ quả của nghiệp ấy hoặc trong hiện tại, hoặc trong đời sau, hoặc trong các đời sau nữa.’ Lời dạy này của đức Thế Tôn phù hợp với trước và sau. Ở đây, phiền não hoặc là nghiệp được cảm thọ trong hiện tại, hoặc là nghiệp được cảm thọ trong đời sau, hoặc là nghiệp được cảm thọ trong các đời sau nữa; như vậy, nghiệp chín muồi theo ba cách: hoặc trong hiện tại, hoặc trong đời sau, hoặc trong các đời sau nữa. Như đã được nói:
‘‘Yañce bālo idha pāṇātipātī hoti…pe… micchādiṭṭhi hoti, tassa diṭṭhe vā dhamme vipākaṃ paṭisaṃvedeti upapajje vā apare vā pariyāye’’ti. Idaṃ bhagavato pubbāparena yujjati. Tattha pariyuṭṭhānaṃ paṭisaṅkhānabalena pahātabbaṃ, saṅkhārā dassanabalena, chattiṃsa taṇhāvicaritāni bhāvanābalena pahātabbānīti evaṃ taṇhāpi tidhā pahīyati. Yā nittaṇhātā ayaṃ saupādisesā nibbānadhātu. Bhedā kāyassa ayaṃ anupādisesā nibbānadhātu.
If a fool in this world destroys life... holds wrong view, he experiences the result of that kamma either in the present life, or in the next life, or in a subsequent life.' This accords with the preceding and subsequent statements of the Blessed One. Therein, obsession is to be abandoned by the power of reflective wisdom, formations are to be abandoned by the power of seeing, and the thirty-six courses of craving are to be abandoned by the power of development. Thus craving, too, is abandoned in three ways. The state of being without craving is the Nibbāna-element with residue remaining. With the breakup of the body, this is the Nibbāna-element without residue remaining.
‘Nếu kẻ ngu ở đời này là người sát sanh... cho đến... là người có tà kiến, người ấy cảm thọ quả của nghiệp ấy hoặc trong hiện tại, hoặc trong đời sau, hoặc trong các đời sau nữa.’ Lời dạy này của đức Thế Tôn phù hợp với trước và sau. Ở đây, phiền não cần được đoạn trừ bằng sức mạnh của sự thẩm sát, các pháp hành (cần được đoạn trừ) bằng sức mạnh của sự thấy biết, ba mươi sáu hành xứ của ái cần được đoạn trừ bằng sức mạnh của sự tu tập; như vậy, ái cũng được đoạn trừ theo ba cách. Trạng thái không còn ái, đây là hữu dư y Niết-bàn giới. Sau khi thân hoại, đây là vô dư y Niết-bàn giới.
Papañco nāma vuccati anubandho. Yañcāha bhagavā ‘‘papañceti atītānāgatapaccuppannaṃ cakkhuviññeyyaṃ rūpaṃ ārabbhā’’ti. Yañcāha bhagavā – ‘‘atīte, rādha, rūpe anapekkho hohi, anāgataṃ rūpaṃ mā abhinandi, paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭinissaggāya paṭipajjā’’ti. Idaṃ bhagavato pubbāparena yujjati. Yo cāpi papañco ye ca saṅkhārā yā ca atītānāgatapaccuppannassa abhinandanā, idaṃ ekatthaṃ. Api ca aññamaññehi padehi aññamaññehi akkharehi aññamaññehi byañjanehi aparimāṇā dhammadesanā vuttā bhagavatā. Evaṃ suttena suttaṃ saṃsandayitvā pubbāparena saddhiṃ yojayitvā suttaṃ niddiṭṭhaṃ bhavati.
That which binds is called proliferation. And the Blessed One said: 'One proliferates concerning forms cognizable by the eye, whether past, future, or present.' And the Blessed One also said: 'Rādha, be unconcerned with past form, do not delight in future form, and practice for the disenchantment, dispassion, cessation, and relinquishment of present form.' This word of the Blessed One is consistent with what precedes and follows. And whatever is proliferation, whatever are formations, and whatever is delight in the past, future, and present—this is one in meaning. Moreover, by different terms, different syllables, and different expressions, the Dhamma teaching has been stated by the Blessed One. Thus, by correlating sutta with sutta and connecting it with what precedes and follows, the sutta is expounded.
Sự trói buộc được gọi là hý luận. Và đức Thế Tôn đã dạy: ‘Người ấy hý luận về sắc pháp trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, được nhận biết bởi nhãn thức.’ Và đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Rādha, hãy không luyến tiếc sắc trong quá khứ, chớ hoan hỷ sắc trong vị lai, hãy thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ sắc trong hiện tại.’ Lời dạy này của đức Thế Tôn phù hợp với trước và sau. Bất cứ hý luận nào, bất cứ pháp hành nào, và bất cứ sự hoan hỷ nào đối với (sắc) trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, những điều này là một. Hơn nữa, giáo pháp vô lượng đã được đức Thế Tôn thuyết giảng bằng những từ khác nhau, những chữ khác nhau, những câu khác nhau. Như vậy, kinh được chỉ rõ bằng cách kết nối kinh này với kinh khác, bằng cách liên kết với (lời dạy) trước và sau.
So cāyaṃ † pubbāparo sandhi catubbidho atthasandhi byañjanasandhi desanāsandhi niddesasandhīti.
And this connection of the preceding and the following is fourfold: connection of meaning, connection of expression, connection of discourse, and connection of exposition.
Sự kết nối trước và sau này có bốn loại: sự kết nối về nghĩa, sự kết nối về văn tự, sự kết nối về pháp thoại, và sự kết nối về sự chỉ dẫn.
Tattha atthasandhi chappadāni saṅkāsanā pakāsanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammatā paññattīti.
Therein, the connection of meaning has six terms: indication, clarification, exposition, analysis, making plain, and designation.
Trong đó, sự kết nối về nghĩa có sáu phần: sự tóm tắt, sự tuyên bố, sự giải thích, sự phân tích, sự làm cho rõ ràng, và sự chế định.
Byañjanasandhi chappadāni akkharaṃ padaṃ byañjanaṃ ākāro nirutti niddesoti.
The connection of expression has six terms: letter, term, phrase, aspect, linguistic analysis, and exposition.
Sự kết nối về văn tự có sáu phần: chữ cái, từ, câu, hình thức, ngữ nguyên, và sự chỉ dẫn.
Desanāsandhi na ca pathaviṃ nissāya jhāyati jhāyī jhāyati ca. Na ca āpaṃ nissāya jhāyati jhāyī jhāyati ca, na ca tejaṃ nissāya jhāyati jhāyī jhāyati ca, na ca vāyuṃ nissāya jhāyati jhāyī jhāyati ca. Na ca ākāsānañcāyatanaṃ nissāya…pe… na ca viññāṇañcāyatanaṃ nissāya…pe… na ca ākiñcaññāyatanaṃ nissāya…pe… na ca nevasaññānāsaññāyatanaṃ nissāya…pe… na ca imaṃ lokaṃ nissāya…pe… na ca paralokaṃ nissāya jhāyati jhāyī jhāyati ca. Yamidaṃ ubhayamantarena diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ vitakkitaṃ vicāritaṃ manasānucintitaṃ, tampi nissāya na jhāyati jhāyī jhāyati ca. Ayaṃ sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anissitena cittena na ñāyati jhāyanto.
The connection of discourse: A meditator does not meditate relying on the earth element, and yet one meditates. A meditator does not meditate relying on the water element, and yet one meditates. A meditator does not meditate relying on the fire element, and yet one meditates. A meditator does not meditate relying on the air element, and yet one meditates. One does not meditate relying on the base of infinite space... nor on the base of infinite consciousness... nor on the base of nothingness... nor on the base of neither-perception-nor-non-perception... nor on this world... A meditator does not meditate relying on the other world, and yet one meditates. And whatever, apart from these two, is seen, heard, sensed, cognized, attained, sought after, pondered, considered, and reflected upon by the mind—relying on that too, a meditator does not meditate, and yet one meditates. This one, while meditating with an unreliant mind, is not known by the world with its devas, its Māras, and its Brahmās, by this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans.
Sự kết nối về pháp thoại: Vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào đất; và (vẫn) thiền định. Vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào nước; và (vẫn) thiền định, vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào lửa; và (vẫn) thiền định, vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào gió; và (vẫn) thiền định. Không y cứ vào Không vô biên xứ... cho đến... không y cứ vào Thức vô biên xứ... cho đến... không y cứ vào Vô sở hữu xứ... cho đến... không y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ... cho đến... không y cứ vào thế giới này... cho đến... Vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào thế giới bên kia; và (vẫn) thiền định. Bất cứ những gì ở giữa hai (thế giới) này, được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tầm tứ, được suy xét, được tâm tư duy, vị thiền giả thiền định, nhưng không y cứ vào đó; và (vẫn) thiền định. Vị ấy, trong khi thiền định, không thể được biết đến bởi thế gian cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, bởi chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, với tâm không y cứ.
Yathā māro pāpimā godhikassa kulaputtassa † viññāṇaṃ samanvesanto na jānāti na passati. So hi papañcātīto taṇhāpahānena diṭṭhinissayopissa natthi. Yathā ca godhikassa, evaṃ vakkalissa sadevakena lokena samārakena sabrahmakena sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anissitacittā na ñāyanti jhāyamānā. Ayaṃ desanāsandhi.
Just as Māra the Evil One, searching for the consciousness of the clansman Godhika, neither knows nor sees it. For he has gone beyond proliferation, and by the abandonment of craving, he has no reliance on views. Just as with Godhika, so too with Vakkali—those with unreliant minds, while meditating, are not discerned by the world with its devas, its Māras, and its Brahmās, by this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans. This is the connection of discourse.
Giống như ác ma Māra, khi tìm kiếm thức của thiện nam tử Godhika, đã không biết, không thấy. Vị ấy quả thật đã vượt qua hý luận; do đoạn trừ ái, vị ấy cũng không có sự y cứ vào tà kiến. Giống như trường hợp của Godhika, cũng vậy đối với Vakkali, thế gian cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, không thể biết được những vị có tâm không y cứ, đang thiền định. Đây là sự kết nối về pháp thoại.
Tattha katamā niddesasandhi? Nissitacittā akusalapakkhena niddisitabbā, anissitacittā kusalapakkhena niddisitabbā. Nissitacittā kilesena niddisitabbā, anissitacittā vodānena niddisitabbā. Nissitacittā saṃsārappavattiyā niddisitabbā, anissitacittā saṃsāranivattiyā niddisitabbā. Nissitacittā taṇhāya ca avijjāya ca niddisitabbā, anissitacittā samathena ca vipassanāya ca niddisitabbā. Nissitacittā ahirikena ca anottappena ca niddisitabbā, anissitacittā hiriyā ca ottappena ca niddisitabbā. Nissitacittā asatiyā ca asampajaññena ca niddisitabbā, anissitacittā satiyā ca sampajaññena ca niddisitabbā. Nissitacittā ayoniyā ca ayonisomanasikārena ca niddisitabbā, anissitacittā yoniyā ca yonisomanasikārena ca niddisitabbā. Nissitacittā kosajjena ca dovacassena ca niddisitabbā, anissitacittā vīriyārambhena ca sovacassena ca niddisitabbā. Nissitacittā assaddhiyena ca pamādena ca niddisitabbā, anissitacittā saddhāya ca appamādena ca niddisitabbā. Nissitacittā asaddhammassavanena ca asaṃvaraṇena ca niddisitabbā, anissitacittā saddhammassavanena ca saṃvarena ca niddisitabbā. Nissitacittā abhijjhāya ca byāpādena ca niddisitabbā, anissitacittā anabhijjhāya ca abyāpādena ca niddisitabbā. Nissitacittā nīvaraṇehi ca saṃyojaniyehi ca niddisitabbā, anissitacittā rāgavirāgāya ca cetovimuttiyā avijjāvirāgāya ca paññāvimuttiyā niddisitabbā. Nissitacittā ucchedadiṭṭhiyā ca sassatadiṭṭhiyā ca niddisitabbā, anissitacittā saupādisesāya ca anupādisesāya ca nibbānadhātuyā niddisitabbā. Ayaṃ niddesasandhi. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘neruttamadhippāyo’’ti.
Therein, what is the connection of exposition? Those with a reliant mind should be expounded by way of the unwholesome side; those with an unreliant mind should be expounded by way of the wholesome side. Those with a reliant mind should be expounded by way of defilement; those with an unreliant mind should be expounded by way of purification. Those with a reliant mind should be expounded by way of the continuation of saṃsāra; those with an unreliant mind should be expounded by way of the cessation of saṃsāra. Those with a reliant mind should be expounded by way of craving and ignorance; those with an unreliant mind should be expounded by way of serenity and insight. Those with a reliant mind should be expounded by way of lack of moral shame and lack of moral dread; those with an unreliant mind should be expounded by way of moral shame and moral dread. Those with a reliant mind should be expounded by way of lack of mindfulness and lack of clear comprehension; those with an unreliant mind should be expounded by way of mindfulness and clear comprehension. Those with a reliant mind should be expounded by way of improper means and unwise attention; those with an unreliant mind should be expounded by way of proper means and wise attention. Those with a reliant mind should be expounded by way of laziness and being difficult to admonish; those with an unreliant mind should be expounded by way of arousing energy and being easy to admonish. Those with a reliant mind should be expounded by way of lack of faith and heedlessness; those with an unreliant mind should be expounded by way of faith and heedfulness. Those with a reliant mind should be expounded by way of listening to the false Dhamma and lack of restraint; those with an unreliant mind should be expounded by way of listening to the true Dhamma and restraint. Those with a reliant mind should be expounded by way of covetousness and ill will; those with an unreliant mind should be expounded by way of non-covetousness and non-ill will. Those with a reliant mind should be expounded by way of the hindrances and the fetters; those with an unreliant mind should be expounded by way of the mind-liberation through the fading of lust and the wisdom-liberation through the fading of ignorance. Those with a reliant mind should be expounded by way of the annihilationist view and the eternalist view; those with an unreliant mind should be expounded by way of the Nibbāna-element with residue remaining and the Nibbāna-element without residue remaining. This is the connection of exposition. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: 'The intention is conveyed through linguistic expression.'
Trong ấy, sự liên kết chỉ định là gì? (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi phương diện bất thiện, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi phương diện thiện. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi phiền não, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi sự trong sạch. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi sự luân chuyển trong vòng luân hồi, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi sự chấm dứt luân hồi. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi ái và vô minh, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi chỉ và quán. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi vô tàm và vô quý, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi tàm và quý. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi thất niệm và bất tri, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi niệm và tỉnh giác. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi phi lý và phi lý tác ý, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi như lý và như lý tác ý. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi lười biếng và khó dạy, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi tinh tấn và dễ dạy. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi bất tín và phóng dật, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi tín và không phóng dật. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi nghe phi diệu pháp và không phòng hộ, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi nghe diệu pháp và phòng hộ. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi tham lam và sân hận, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi không tham lam và không sân hận. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi các triền cái và các pháp kiết sử, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh. (Những người) có tâm nương tựa nên được chỉ định bởi đoạn kiến và thường kiến, (những người) có tâm không nương tựa nên được chỉ định bởi hữu dư y niết-bàn giới và vô dư y niết-bàn giới. Đây là sự liên kết chỉ định. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyana đã nói: 'Đó là ý nghĩa của từ ngữ học'.
Niyutto catubyūho hāro.
The method of four arrays has been set forth.
Phương pháp trình bày bốn thành phần đã được kết hợp.