Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 9

Bản dịch

NE 9Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận

Catubyūhahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là cách nào? Là điều này: “Ngữ pháp và chủ tâm, ...” Thông qua văn tự, nên tìm tòi về ngữ pháp, về chủ tâm, về căn nguyên, và về sự kết hợp điều trước và điều sau của Kinh.

1. Ở đấy, cái nào là thuộc về ngữ pháp? Ngôn ngữ là sự kết hợp các từ, là sự hiểu biết về tên gọi của các pháp. Bởi vì khi vị tỳ khưu biết tên gọi của ý nghĩa và biết tên gọi của pháp, rồi ứng dụng nó một cách tương xứng, vị này được gọi là thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về văn tự, thiện xảo về ngôn ngữ, thiện xảo về sự tuần tự trước sau, thiện xảo về chỉ bảo, thiện xảo về từ gọi ở thì quá khứ, thiện xảo về từ gọi ở thì vị lai, thiện xảo về từ gọi ở thì hiện tại, thiện xảo về từ gọi thuộc nữ tánh, thiện xảo về từ gọi thuộc nam tánh, thiện xảo về từ gọi thuộc trung tánh, thiện xảo về từ gọi ở số ít, thiện xảo về từ gọi ở số nhiều. Toàn bộ những điều liên quan ngữ pháp của xứ sở và toàn bộ ngôn ngữ của xứ sở nên được thực hiện như vậy; điều này là ngôn ngữ, là sự kết hợp các từ.

2. Ở đấy, việc nào là chủ tâm? i. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những ai có mong muốn hoàn toàn giải thoát khỏi các đọa xứ, họ sẽ trở thành những người có sự thực hành thiện pháp;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. ii. “Giống như kẻ trộm bị bắt ở nơi đột nhập, bị đánh đập và bị giam cầm bởi việc làm của mình, tương tự như vậy, người này sau khi chết ở kiếp sống khác, (cũng sẽ) bị đánh đập và bị giam cầm bởi nghiệp của mình.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Kẻ ấy sẽ gánh chịu quả thành tựu không được mong muốn, không khoan khoái của những cảm thọ khổ đã được tích lũy của những việc làm đã được thực hiện một cách cố ý;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. iii. “Kẻ nào trong lúc tầm cầu hạnh phúc cho bản thân mà hãm hại các chúng sanh có lòng mong mỏi hạnh phúc bằng gậy gộc, kẻ ấy không đạt được hạnh phúc sau khi chết.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những ai có sự tầm cầu hạnh phúc thì sẽ không tạo nghiệp ác;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. iv. “Lúc biếng nhác và ăn nhiều, mê ngủ, nằm trăn trở, ví như con heo bự được nuôi bằng cám thừa, kẻ ngu sanh vào bào thai lượt này đến lượt khác.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người nào có sự mong muốn (không còn) bị phiền phức với già và chết, những người ấy sẽ có sự biết chừng mực ở vật thực, có cửa vào ở các giác quan đã được gìn giữ, đã được gắn bó với sự luyện tập về tỉnh thức vào canh đầu và canh cuối của đêm, có thực hành minh sát ở các thiện pháp, và có sự tôn kính các vị đồng Phạm hạnh trưởng lão, mới tu, hoặc trung niên;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn.

v. “Sự không xao lãng là đạo lộ Bất Tử (Niết Bàn), sự xao lãng là con đường đưa đến sự chết. Những người không xao lãng không chết, những người nào xao lãng giống như đã chết.” Ở đây, điều gì là chủ tâm của đức Thế Tôn? “Những người có sự mong muốn tầm cầu sự tầm cầu về Bất Tử, những người ấy sẽ sống không xao lãng;” ở đây, điều này là chủ tâm của đức Thế Tôn. Đây là sự chủ tâm.

3. Ở đây, điều gì là căn nguyên? Giống như người chăn bò Dhaniya ấy đã nói với đức Thế Tôn: vi. “Người có con vui thích với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò vui thích với bầy bò. Chính mầm tái sanh là niềm vui thích của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy (sẽ) không vui thích.”

Đức Thế Tôn đã nói rằng: vii. “Người có con sầu muộn với những đứa con, tương tự y như thế, người chủ bầy bò sầu muộn với bầy bò. Chính mầm tái sanh là nỗi sầu muộn của con người, người nào không có mầm tái sanh, người ấy (sẽ) không sầu muộn.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói vật sở hữu bên ngoài là mầm tái sanh.”

Và giống như Ma Vương ác độc đã làm rơi tảng đá lớn từ núi Gijjhakūṭa, đức Thế Tôn đã nói rằng: viii. “Cho dù ngươi có làm dao động toàn bộ tất cả núi Gijjhakūṭa, chư Phật, các bậc đã được chân chánh giải thoát, cũng không bao giờ có sự xao động.”

ix. “Bầu trời có thể vỡ tan, trái đất có thể dao động, hoặc tất cả sinh mạng có thể kinh sợ, cho dù chúng có thể làm lay động mũi tên ở ngực, chư Phật cũng không nương náu ở các mầm tái sanh.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói thân xác là mầm tái sanh.”

Và giống như Ngài đã nói: x. “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc làm bằng sắt, bằng gỗ, và bằng dây gai là không chắc chắn, (mà là) sự mong muốn, bị luyến ái dính mắc ở các bông tai gắn ngọc ma-ni, ở những người con, và ở những người vợ.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về tham ái ở các vật bên ngoài.”

Và giống như Ngài đã nói: xi. “Các bậc sáng trí đã nói rằng sự trói buộc này là chắc chắn, có sự trì xuống, dẻo dai, khó tháo gỡ. Sau khi cắt đứt luôn cả sự trói buộc này, các vị xuất gia, không có mong cầu, sau khi đã dứt bỏ khoái lạc của các dục.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật bên ngoài.”

Và giống như Ngài đã nói: xii. “Vật bệnh hoạn, không trong sạch, hôi thối, có mùi hôi, thuộc về xác thân, đang rò rỉ ngày đêm, được thích thú bởi các kẻ ngu.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật thuộc nội phần.”

Và giống như Ngài đã nói: xiii. “Hãy cắt đứt lòng yêu thương đối với bản thân, ví như dùng bàn tay (ngắt đi) hoa súng trắng của mùa thu. Hãy phát triển chính Đạo Lộ Thanh Tịnh, Niết Bàn, đã được thuyết giảng bởi đấng Thiện Thệ.” Với câu chuyện này, với căn nguyên này, điều được biết là như vầy: “Ở đây, đức Thế Tôn đã nói về sự dứt bỏ tham ái đối với các vật thuộc nội phần.” Điều này là căn nguyên.

4. Ở đấy, việc nào là sự kết hợp điều trước và điều sau? Giống như Ngài đã nói: xiv. “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái, bị trói buộc bởi kẻ thân quyến lơ đễnh (Ma Vương), tựa như những con cá ở nơi cửa miệng của tấm lưới, chúng đi đến già và chết, tựa như con bê bú sữa mẹ.” Tham ái về dục này được nói đến. Nó được kết nối theo sự tuần tự nào?

Và giống như Ngài đã nói: xv. “Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp. Khi luyến ái ngự trị con người, thì luôn có sự mù quáng và tối tăm.”

Như thế, chính tham ái ấy được nói đến thông qua trạng thái mù quáng và trạng thái bị bao trùm. Và điều mà Ngài đã nói rằng: “Bị mù quáng bởi dục vọng, bị bao trùm bởi tấm lưới, bị che đậy bởi tấm choàng tham ái” và điều mà Ngài đã nói rằng: “Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp,” với hai đoạn kệ này (để giải thích) sự xâm nhập, chính tham ái ấy đã được nói đến. Cái gây ra sự mù quáng là Khổ Tập và tham ái liên quan đến tái sanh.

Và điều mà Ngài đã nói rằng: “Các dục,” đây là các ô nhiễm dục, và điều mà Ngài đã nói rằng: “Bị bao trùm bởi tấm lưới” giúp cho thấy sự xâm nhập bởi hành vi của chính các dục ấy; vì thế, do tác động của ô nhiễm và do tác động của sự xâm nhập, sự trói buộc tham ái được nói đến. Những người như thế ấy đi đến già và chết. Điều này đã được đức Thế Tôn chỉ ra là do năng lực (của tham ái) theo như câu kệ đã được trình bày: “Chúng đi đến già và chết.”

xvi. “Đối với vị nào, các chướng ngại và sự tồn tại (ở luân hồi) là không có, vị đã vượt lên trên sợi xích (tham ái) và thanh chắn (tà kiến), thế gian luôn cả chư Thiên không nhận biết được vị hiền trí ấy, vị đang sống không còn tham ái.”

Các chướng ngại là: tham ái, tà kiến, ngã mạn, và các hành đã được tạo tác từ đó. Sự tồn tại là pháp tiềm ẩn. Sợi xích là sự xâm nhập của tham ái, là 36 hành vi của mạng lưới tham ái. Thanh chắn là sự si mê. Vị nào vượt qua hẳn mọi pháp này, –gồm có các chướng ngại là các pháp tạo tác, sự tồn tại, sợi xích, và thanh chắn,– được gọi là “vị không còn tham ái.”

Ở đấy, các tạo tác do sự xâm nhập có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại, hoặc có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp, hoặc có thể được cảm thọ ở kiếp khác; như vậy tham ái cho quả theo ba cách: hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác. Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Người tạo nghiệp phát khởi do tham bằng thân, (hoặc) bằng lời nói, (hoặc) bằng ý, (sẽ) gánh lấy quả thành tựu của nghiệp ấy ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn. Ở đấy, sự xâm nhập là nghiệp có thể được cảm thọ trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp có thể được cảm thọ vào kiếp kế tiếp, hoặc nghiệp có thể được cảm thọ ở kiếp khác. Như vậy nghiệp được chín muồi theo ba cách: hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác. Giống như Ngài đã nói: “Nếu kẻ ngu, ở đời này, là kẻ sát sanh –nt– là kẻ có tà kiến, thì (sẽ) nhận chịu quả thành tựu của nghiệp ấy hoặc ở kiếp hiện tại, hoặc vào kiếp kế tiếp, hoặc ở kiếp khác.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn. Ở đấy, “sự xâm nhập có thể được dứt bỏ bởi năng lực của sự suy xét, các pháp tạo tác (có thể được dứt bỏ) bởi năng lực của sự nhận thức, 36 hành vi của tham ái có thể được dứt bỏ bởi năng lực của sự tu tập.” Như vậy, tham ái cũng được dứt bỏ theo ba cách. Trạng thái không còn tham ái là Niết Bàn giới còn dư sót, sau khi hoại rã xác thân là Niết Bàn giới không còn dư sót.

Tên gọi chướng ngại nói đến sự bó buộc. Và điều mà đức Thế Tôn đã nói rằng: “Nó tạo thành chướng ngại khởi đầu với sắc được nhận thức bởi mắt thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại.” Và điều mà đức Thế Tôn đã nói: “Này Rādha, ngươi hãy là người không có sự trông mong ở sắc quá khứ, ngươi chớ thích thú về sắc vị lai, ngươi hãy thực hành nhằm đưa đến sự nhàm chán, sự xa lìa luyến ái, sự diệt tận, sự xả bỏ, sự buông bỏ đối với sắc hiện tại.” Điều này được kết nối theo sự tuần tự đối với đức Thế Tôn.

Chướng ngại, các pháp tạo tác, và các sự thích thú thuộc quá khứ–vị lai– hiện tại có chung một ý nghĩa. Tuy nhiên, việc chỉ bảo Giáo Pháp được đức Thế Tôn nói là không đo lường được bởi các thuật ngữ khác nhau, bởi các âm từ khác nhau, bởi các văn tự khác nhau. Như vậy, Kinh được diễn giải sau khi đã làm phù hợp Kinh với Kinh, sau khi đã làm kết nối điều trước và điều sau.

Và sự kết hợp điều trước và điều sau này có bốn loại: kết hợp về ý nghĩa, kết hợp về văn tự, kết hợp về sự chỉ bảo, kết hợp về sự diễn giải.

Ở đấy, kết hợp về ý nghĩa có sáu thuật ngữ: sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự quy định.

Kết hợp về văn tự có sáu thuật ngữ: âm từ, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, sự diễn giải.

Kết hợp về sự chỉ bảo: vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) đất, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) nước, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) lửa, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa (đề mục) gió, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa không vô biên xứ –nt– không nương tựa thức vô biên xứ –nt– không nương tựa vô sở hữu xứ –nt– không nương tựa phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa đời này, không nương tựa đời sau; cái nào là cái được thấy, cái được nghe, cái được cảm giác, cái được nhận thức, cái đã đạt được, cái được tầm cầu, cái được suy tầm, cái được suy tư, cái được suy xét bởi ý, với cái khoảng giữa của cả hai, vị có thiền chứng tham thiền và tham thiền không nương tựa luôn cả cái ấy. Vị này, ở thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người, trong khi tham thiền với tâm không nương tựa thì không bị nhận biết.

Giống như Ma Vương ác độc, trong khi tìm kiếm, vẫn không biết được, không thấy được thức của vị Godhika Kulaputta. Bởi vì vị ấy đã vượt qua chướng ngại nhờ vào sự dứt bỏ tham ái, luôn cả sự nương vào tà kiến của vị này cũng không có. Và đối với Godhika là thế nào thì đối với Vakkali là thế ấy. Trong khi tham thiền, có tâm không nương tựa, họ không bị nhận biết bởi thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. Điều này là kết hợp về sự chỉ bảo.

Ở đấy, kết hợp về sự diễn giải là gì? Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo nhóm bất thiện, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo nhóm thiện. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo ô nhiễm, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự thanh lọc. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự xoay vần của luân hồi, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự ngừng lại của luân hồi. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo tham ái và vô minh, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo chỉ tịnh và minh sát. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo vô tàm và vô quý, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo tàm và quý. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo thất niệm và sự không nhận biết rõ, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo niệm và sự nhận biết rõ. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không đúng đường lối và sự tác ý không đúng đường lối, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự đúng đường lối và sự tác ý đúng đường lối. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự biếng nhác và khó dạy, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự ra sức tinh tấn và dễ dạy. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không có đức tin và sự xao lãng, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự có đức tin và sự không xao lãng. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không lắng nghe chánh pháp và sự không thu thúc, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự lắng nghe chánh pháp và sự thu thúc. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo sự tham đắm và sân hận, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự không tham đắm và không sân hận. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo các pháp che lấp và các sự ràng buộc, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Những kẻ có tâm bị nương tựa nên được diễn giải theo đoạn kiến và thường kiến, những vị có tâm không bị nương tựa nên được diễn giải theo Niết Bàn giới còn dư sót và không còn dư sót. Điều này là kết hợp về sự diễn giải. Vì thế, đại đức Mahā Kaccāyana đã nói rằng: “Ngữ pháp và chủ tâm, ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận được kết thúc.