Bản dịch
NE 8 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Tướng Trạng
Lakkhaṇahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng tướng trạng là cách nào? “Khi một pháp được nói đến, ...” đây là cách truyền đạt bằng tướng trạng. Phân theo tướng trạng đối tượng nào? Các pháp nào có chung tướng trạng; khi một pháp trong số các pháp ấy được nói đến, thì các pháp còn lại được nói đến. Là giống như điều gì? Giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này các tỳ khưu, mắt là không vững chãi, ngắn ngủi, nhỏ nhoi, mảnh mai, xa lạ, khổ đau, là sự tổn hại, bị dao động, là tro bụi, là pháp tạo tác, kẻ sát thủ giữa những kẻ thù.” Khi mắt này được nói đến, thì các xứ thuộc nội phần còn lại được nói đến. Bởi lý do gì? Bởi vì tất cả sáu xứ thuộc nội phần có chung tướng trạng với ý nghĩa là kẻ sát thủ. Và giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này Rādha, ngươi hãy là người không có sự trông mong ở sắc quá khứ, ngươi chớ thích thú về sắc vị lai, ngươi hãy thực hành nhằm đưa đến sự nhàm chán, sự xa lìa luyến ái, sự diệt tận, sự xả bỏ, sự buông bỏ đối với sắc hiện tại.” Khi sắc uẩn này được nói đến, thì các uẩn còn lại được nói đến. Bởi lý do gì? Bởi vì tất cả năm uẩn có chung tướng trạng với ý nghĩa là kẻ sát thủ được nói đến ở Kinh Giáo Huấn Yamaka. Và giống như đức Thế Tôn đã nói: “Còn đối với những vị nào khéo nỗ lực, thường xuyên có niệm hướng đến thân, các vị ấy không phụng sự việc không cần làm, có sự thực hiện đều đặn các việc cần làm.” Như thế, khi niệm hướng đến thân được nói đến, thì niệm hướng đến thọ, niệm hướng đến tâm và hướng đến pháp được nói đến. Tương tự như thế, “bất cứ điều gì đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được cảm giác” được nói đến, thì điều đã được nhận thức được nói đến. Và giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này tỳ khưu, vì thế ở đây ngươi hãy sống có sự quan sát thân trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.” “Có nhiệt tâm” là tấn quyền; “có sự nhận biết rõ rệt” là tuệ quyền; “có niệm” là niệm quyền; “sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian” là định quyền; như vậy đối với vị đang sống có sự quan sát thân trên thân, bốn sự thiết lập niệm đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Bởi lý do gì? Bởi trạng thái có chung tướng trạng của bốn quyền. Khi bốn sự thiết lập niệm đang được tu tập, bốn chánh cần đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn chánh cần đang được tu tập, bốn nền tảng của thần thông đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn nền tảng của thần thông đang được tu tập, năm quyền đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi năm quyền đang được tu tập, năm lực đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi năm lực đang được tu tập, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bảy yếu tố đưa đến giác ngộ đang được tu tập, Thánh Đạo tám chi phần đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Và tất cả các pháp đi đến giác ngộ, dự phần vào giác ngộ đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Bởi lý do gì? Bởi vì tất cả các pháp đi đến giác ngộ, dự phần vào giác ngộ có chung tướng trạng với tướng trạng dẫn dắt ra khỏi. Do trạng thái có chung tướng trạng, chúng đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập.
Tương tự như vậy, các pháp bất thiện, do trạng thái có chung tướng trạng, cũng đi đến sự dứt bỏ và biến mất: Khi bốn sự thiết lập niệm đang được tu tập, các điều trái khuấy được dứt bỏ, và các yếu tố nuôi dưỡng của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với các chấp thủ, là không bị ràng buộc với các sự gắn bó, là được thoát khỏi các sự trói buộc, là không có lậu hoặc với các lậu hoặc, là đã vượt ra khỏi các dòng lũ, là có sự nhổ lên mũi tên khỏi các mũi tên, và các sự trụ vững của thức của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) không đi đến sự sai trái với các việc đi đến sự sai trái. Như vậy, các pháp bất thiện, do trạng thái có chung tướng trạng, cũng đi đến sự dứt bỏ, sự biến mất.
Hoặc là, nơi nào sắc quyền được chỉ bảo, chính nơi ấy sắc giới, sắc uẩn, và sắc xứ được chỉ bảo. Hoặc là, nơi nào thọ lạc được chỉ bảo, nơi ấy lạc quyền, hỷ quyền, và Chân Lý Cao Thượng về Khổ Tập được chỉ bảo. Hoặc là, nơi nào thọ khổ được chỉ bảo, nơi ấy khổ quyền, ưu quyền, và Chân Lý Cao Thượng về Khổ được chỉ bảo. Hoặc là, nơi nào thọ không khổ không lạc được chỉ bảo, nơi ấy xả quyền và toàn bộ tùy thuận sanh khởi được chỉ bảo. Bởi lý do gì? Bởi vì vô minh tiềm ẩn ở thọ không khổ không lạc, vô minh duyên cho các hành, các hành duyên cho thức, thức duyên cho danh sắc, danh sắc duyên cho sáu xứ, sáu xứ duyên cho xúc, xúc duyên cho thọ, thọ duyên cho ái, ái duyên cho thủ, thủ duyên cho hữu, hữu duyên cho sanh, sanh duyên cho lão, tử, sầu-bi-khổ-ưu-não sanh khởi; như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Và pháp (duyên sinh) ấy nên được từ bỏ cùng với nhóm phiền não có luyến ái. có sân hận, có si mê; pháp ấy nên được từ bỏ bởi các pháp cao thượng đã được xa lìa luyến ái, đã được xa lìa sân hận, đã được xa lìa si mê.
Như vậy, các pháp nào có chung tướng trạng về phận sự, về tướng trạng, về tính chất tương tự, về sự hoại diệt và sự sanh lên, khi một pháp trong số các pháp ấy được nói đến, thì các pháp còn lại được nói đến. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Khi một pháp được nói đến, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Tướng Trạng được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
23. Tattha katamo lakkhaṇo hāro? ‘‘Vuttamhi ekadhamme’’ti, ayaṃ lakkhaṇo hāro. Kiṃ lakkhayati? Ye dhammā ekalakkhaṇā, tesaṃ dhammānaṃ ekasmiṃ dhamme vutte avasiṭṭhā dhammā vuttā bhavanti. Yathā kiṃ bhave? Yathāha bhagavā –
23. Herein, what is the method of characteristics? 'When one dhamma is stated,' this is the method of characteristics. What does it characterize? Those dhammas that have a single characteristic—when one of those dhammas is stated, the remaining dhammas are considered to be stated. How so? As the Blessed One has said:
23. Trong các hàra ấy, hàra về đặc tính là gì? 'Khi một pháp được nói đến', đây là hàra về đặc tính. Nó chỉ ra điều gì? Những pháp nào có cùng một đặc tính, khi một pháp trong các pháp ấy được nói đến, thì các pháp còn lại cũng được xem là đã được nói đến. Ví dụ như thế nào? Như Đức Thế Tôn đã dạy –
‘‘Cakkhuṃ, bhikkhave, anavaṭṭhitaṃ ittaraṃ parittaṃ pabhaṅgu parato dukkhaṃ byasanaṃ calanaṃ † kukkuḷaṃ saṅkhāraṃ † vadhakaṃ amittamajjhe. Imasmiṃ cakkhusmiṃ vutte avasiṭṭhāni ajjhattikāni āyatanāni vuttāni bhavanti. Kena kāraṇena? Sabbāni hi cha ajjhattikāni āyatanāni vadhakaṭṭhena ekalakkhaṇāni. Yathā cāha bhagavā –
The eye, monks, is unstable, transient, of short duration, perishable, like an enemy, suffering, a calamity, trembling, like hot embers, conditioned, a killer, and amidst enemies. When the eye is spoken of in this way, the remaining internal sense bases are considered to be spoken of. For what reason? Because all six internal sense bases have a single characteristic in the sense of being a killer. As the Blessed One has said:
'Này các Tỳ khưu, con mắt là không bền vững, là tạm bợ, là nhỏ nhoi, là hoại diệt, là kẻ khác, là khổ, là tai họa, là dao động, là than hồng, là pháp hữu vi, là kẻ sát nhân, ở giữa kẻ thù. Khi con mắt này được nói đến, các nội xứ còn lại cũng được xem là đã được nói đến. Vì lý do gì? Vì tất cả sáu nội xứ đều có cùng một đặc tính là kẻ sát nhân. Và như Đức Thế Tôn đã dạy –
‘‘Atīte, rādha, rūpe anapekkho hohi, anāgataṃ rūpaṃ mā abhinandi †, paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya cāgāya paṭinissaggāya paṭipajja. Imasmiṃ rūpakkhandhe vutte avasiṭṭhā khandhā vuttā bhavanti. Kena kāraṇena? Sabbe hi pañcakkhandhā yamakovādasutte † vadhakaṭṭhena ekalakkhaṇā vuttā. Yathā cāha bhagavā –
Rādha, be without attachment to past form, do not delight in future form, and practice for the sake of disenchantment with and dispassion for present form. When this form aggregate is spoken of, the remaining aggregates are considered to be spoken of. For what reason? Because in the Yamakovāda Sutta, all five aggregates are taught as having a single characteristic in the sense of being a killer. As the Blessed One has said:
'Này Rādha, đối với sắc trong quá khứ, hãy không luyến tiếc; chớ có hoan hỷ sắc trong tương lai; hãy thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly sắc trong hiện tại. Khi sắc uẩn này được nói đến, các uẩn còn lại cũng được xem là đã được nói đến. Vì lý do gì? Vì trong kinh Yamakovāda, tất cả năm uẩn được nói là có cùng một đặc tính là kẻ sát nhân. Và như Đức Thế Tôn đã dạy –
‘‘Yesañca † susamāraddhā, niccaṃ kāyagatāsati;
Akiccaṃ te na sevanti, kicce sātaccakārino’’.
For those by whom mindfulness directed to the body is constantly well undertaken, they do not engage in what should not be done; in what should be done, they are constant practitioners.
'Và những ai thường xuyên nỗ lực tinh cần trong niệm thân; họ không làm theo điều không nên làm, (và) là những người kiên trì trong việc nên làm'.
Iti kāyagatāya satiyā vuttāya vuttā bhavanti vedanāgatā sati cittagatā dhammagatā ca. Tathā yaṃ kiñci diṭṭhaṃ vā sutaṃ vā mutaṃ vāti vutte vuttaṃ bhavati viññātaṃ. Yathā cāha bhagavā –
Thus, when mindfulness directed to the body is spoken of, mindfulness directed to feelings, mindfulness directed to the mind, and mindfulness directed to dhammas are also considered to be spoken of. Likewise, when it is said, 'whatever is seen, or heard, or sensed,' then what is cognized is also considered to be spoken of. As the Blessed One has said:
Như vậy, khi niệm hướng về thân được nói đến, niệm hướng về thọ, niệm hướng về tâm, và niệm hướng về pháp cũng được xem là đã được nói đến. Tương tự, khi nói 'bất cứ điều gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận', thì 'điều được biết' cũng được xem là đã được nói đến. Và như Đức Thế Tôn đã dạy –
Tasmātiha tvaṃ bhikkhu kāye kāyānupassī viharāhi ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. ‘‘Ātāpī’’ti vīriyindriyaṃ, ‘‘sampajāno’’ti paññindriyaṃ, ‘‘satimā’’ti satindriyaṃ, ‘‘vineyya loke abhijjhādomanassa’’nti samādhindriyaṃ, evaṃ kāye kāyānupassino viharato cattāro satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Kena kāraṇena, ekalakkhaṇattā catunnaṃ indriyānaṃ.
Therefore, monk, in this Dispensation, you should dwell contemplating the body in the body—ardent, clearly comprehending, and mindful—having subdued covetousness and displeasure in the world. ‘Ardent’ means the faculty of energy; ‘clearly comprehending’ means the faculty of wisdom; ‘mindful’ means the faculty of mindfulness; and ‘having subdued covetousness and displeasure in the world’ means the faculty of concentration. Thus, for one who dwells contemplating the body in the body, the four foundations of mindfulness reach the fulfillment of development. For what reason? Because of the single characteristic of the four faculties.
Do đó, này Tỳ khưu, ở đây ngươi hãy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. 'Nhiệt tâm' là cần quyền, 'tỉnh giác' là tuệ quyền, 'chánh niệm' là niệm quyền, 'nhiếp phục tham ưu ở đời' là định quyền. Như vậy, đối với người sống quán thân trên thân, bốn niệm xứ đi đến sự viên mãn trong tu tập. Vì lý do gì? Do bốn quyền có cùng một đặc tính.
24. Catūsu satipaṭṭhānesu bhāviyamānesu cattāro sammappadhānā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, catūsu sammappadhānesu bhāviyamānesu cattāro iddhipādā bhāviyamānesu pañcindriyāni bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, catūsu iddhipādesu bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, pañcasu indriyesu bhāviyamānesu pañca balāni bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, pañcasu balesu bhāviyamānesu satta bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, sattasu bojjhaṅgesu bhāviyamānesu ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṃ gacchati, sabbeva † bodhaṅgamā dhammā bodhipakkhiyā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Kena kāraṇena, sabbe hi bodhaṅgamā bodhipakkhiyā neyyānikalakkhaṇena ekalakkhaṇā, te ekalakkhaṇattā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti.
24. When the four foundations of mindfulness are being developed, the four right strivings reach the fulfillment of development. When the four right strivings are being developed, the four bases of power reach the fulfillment of development. When the four bases of power are being developed, the five faculties reach the fulfillment of development. When the five faculties are being developed, the five powers reach the fulfillment of development. When the five powers are being developed, the seven factors of enlightenment reach the fulfillment of development. When the seven factors of enlightenment are being developed, the Noble Eightfold Path reaches the fulfillment of development. All dhammas that lead to awakening, being constituents of awakening, reach the fulfillment of development. For what reason? Because all dhammas that lead to awakening, being constituents of awakening, have one characteristic—the characteristic of leading out. Because of that one characteristic, they reach the fulfillment of development.
24. Khi bốn niệm xứ được tu tập, bốn chánh cần đi đến sự viên mãn của sự tu tập; khi bốn chánh cần được tu tập, bốn như ý túc đi đến sự viên mãn của sự tu tập; khi bốn như ý túc được tu tập, năm quyền đi đến sự viên mãn của sự tu tập; khi năm quyền được tu tập, năm lực đi đến sự viên mãn của sự tu tập; khi năm lực được tu tập, bảy giác chi đi đến sự viên mãn của sự tu tập; khi bảy giác chi được tu tập, Thánh đạo Tám ngành đi đến sự viên mãn của sự tu tập; tất cả các pháp giác chi, trợ Bồ-đề đều đi đến sự viên mãn của sự tu tập. Do nguyên nhân nào? Vì tất cả các pháp giác chi, trợ Bồ-đề đều có cùng một đặc tính là đặc tính đưa đến sự thoát ly, do có cùng một đặc tính ấy nên chúng đi đến sự viên mãn của sự tu tập.
Evaṃ akusalāpi dhammā ekalakkhaṇattā pahānaṃ abbhatthaṃ gacchanti. Catūsu satipaṭṭhānesu bhāviyamānesu vipallāsā pahīyanti, āhārā cassa pariññaṃ gacchanti, upādānehi anupādāno bhavati, yogehi ca visaṃyutto bhavati, ganthehi ca vippayutto bhavati, āsavehi ca anāsavo bhavati, oghehi ca nitthiṇṇo bhavati, sallehi ca visallo bhavati, viññāṇaṭṭhitiyo cassa pariññaṃ gacchanti, agatigamanehi na agatiṃ gacchati, evaṃ akusalāpi dhammā ekalakkhaṇattā pahānaṃ abbhatthaṃ gacchanti.
In this way, unwholesome dhammas, because of their single characteristic, go to abandonment and disappearance. When the four foundations of mindfulness are being developed, the distortions are abandoned; the nutriments are fully understood by him; with regard to clinging, one becomes non-clinging; one becomes disjoined from the yokes; one becomes dissociated from the bonds; with regard to the taints, one becomes taintless; one has crossed over the floods; with regard to the darts, one becomes dart-free; the stations of consciousness are fully understood by him; and one does not go the wrong way through the wrong ways of going. Thus, unwholesome dhammas, because of their single characteristic, go to abandonment and disappearance.
Cũng vậy, các pháp bất thiện do có cùng một đặc tính nên đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt. Khi bốn niệm xứ được tu tập, các điên đảo bị đoạn trừ, và bốn món ăn của vị ấy đi đến sự liễu tri, vị ấy trở nên không còn chấp thủ bởi các thủ, và không còn bị ràng buộc bởi các bộc phược, và không còn bị trói buộc bởi các triền phược, và không còn lậu hoặc bởi các lậu hoặc, và vượt thoát khỏi các bộc lưu, và không còn mũi tên phiền não, và các thức trú của vị ấy đi đến sự liễu tri, vị ấy không đi vào đường không nên đi bởi các thiên vị. Cũng vậy, các pháp bất thiện do có cùng một đặc tính nên đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt.
Yattha vā pana rūpindriyaṃ desitaṃ, desitā tattheva rūpadhātu rūpakkhandho rūpañcāyatanaṃ. Yattha vā pana sukhā vedanā desitā, desitaṃ tattha sukhindriyaṃ somanassindriyaṃ dukkhasamudayo ca ariyasaccaṃ. Yattha vā pana dukkhā vedanā desitā, desitaṃ tattha dukkhindriyaṃ domanassindriyaṃ dukkhañca ariyasaccaṃ. Yattha vā pana adukkhamasukhā vedanā desitā, desitaṃ tattha upekkhindriyaṃ sabbo ca paṭiccasamuppādo. Kena kāraṇena, adukkhamasukhāya hi vedanāya avijjā anuseti. Avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. So ca sarāgasadosasamohasaṃkilesapakkhena hātabbo, vītarāgavītadosavītamohaariyadhammehi hātabbo.
Wherever, moreover, the material faculty is taught, there too are taught the material element, the material aggregate, and the material sense base. Wherever, moreover, pleasant feeling is taught, there are taught the faculty of pleasure, the faculty of mental pleasure, and the noble truth of the origin of suffering. Wherever, moreover, painful feeling is taught, there are taught the faculty of pain, the faculty of mental pain, and the noble truth of suffering. Wherever, moreover, neither-painful-nor-pleasant feeling is taught, there are taught the faculty of equanimity and the entire dependent origination. For what reason? Because ignorance lies latent in neither-painful-nor-pleasant feeling. With ignorance as condition, formations come to be; with formations as condition, consciousness comes to be; with consciousness as condition, name-and-form comes to be; with name-and-form as condition, the six sense bases come to be; with the six sense bases as condition, contact comes to be; with contact as condition, feeling comes to be; with feeling as condition, craving comes to be; with craving as condition, clinging comes to be; with clinging as condition, becoming comes to be; with becoming as condition, birth comes to be; with birth as condition, aging, death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair come to be. Thus is the origin of this whole mass of suffering. And that is to be taken up from the side of defilement with passion, aversion, and delusion; it is to be taken up through the noble dhammas free from passion, aversion, and delusion.
Lại nữa, ở nơi nào sắc quyền được thuyết giảng, ở chính nơi đó sắc giới, sắc uẩn, và sắc xứ cũng được thuyết giảng. Lại nữa, ở nơi nào lạc thọ được thuyết giảng, ở nơi đó lạc quyền, hỷ quyền, và Thánh đế về Tập khởi của khổ cũng được thuyết giảng. Lại nữa, ở nơi nào khổ thọ được thuyết giảng, ở nơi đó khổ quyền, ưu quyền, và Thánh đế về Khổ cũng được thuyết giảng. Lại nữa, ở nơi nào thọ không khổ không lạc được thuyết giảng, ở nơi đó xả quyền và toàn bộ Duyên khởi được thuyết giảng. Do nguyên nhân nào? Vì vô minh ngủ ngầm trong thọ không khổ không lạc. Do vô minh duyên hành, do hành duyên thức, do thức duyên danh sắc, do danh sắc duyên sáu xứ, do sáu xứ duyên xúc, do xúc duyên thọ, do thọ duyên ái, do ái duyên thủ, do thủ duyên hữu, do hữu duyên sanh, do sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Và điều ấy cần được hiểu theo phương diện ô nhiễm có tham, có sân, có si; cần được hiểu bằng các Thánh pháp ly tham, ly sân, ly si.
Evaṃ ye dhammā ekalakkhaṇā kiccato ca lakkhaṇato ca sāmaññato ca cutūpapātato ca, tesaṃ dhammānaṃ ekasmiṃ dhamme vutte avasiṭṭhā dhammā vuttā bhavanti. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘vuttamhi ekadhamme’’ti.
Thus, for those dhammas that share a single characteristic—in terms of function, characteristic, commonality, and passing away and arising—when one such dhamma is stated, the remaining dhammas are thereby stated. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said, “When one dhamma is stated.”
Như vậy, những pháp nào có cùng đặc tính về phương diện phận sự, về phương diện trạng thái, về phương diện tướng chung, và về phương diện sanh diệt, thì trong những pháp ấy, khi một pháp được nói đến, các pháp còn lại cũng được xem là đã được nói đến. Do đó, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên đã nói: “khi một pháp được nói đến”.
Niyutto lakkhaṇo hāro.
The Method of Characteristics is concluded.
Phương pháp về đặc tính đã được trình bày xong.