Bản dịch
NE 10 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xoay Vần
Āvaṭṭahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vần là cách nào? Điều này là: “Khi có một nền tảng, ...”
1. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.”
“Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng” là nền tảng của tấn. “Hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật” là nền tảng của định. “Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy” là nền tảng của tuệ. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng” là nền tảng của tấn quyền. “Hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật” là nền tảng của định quyền. “Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy” là nền tảng của tuệ quyền.” Các nền tảng này là sự chỉ bảo.
Sự nỗ lực là dành cho các chúng sanh chưa gắn bó hoặc đang gắn bó vào sự rèn luyện. Ở đấy, những người chưa gắn bó là những người có gốc rễ xao lãng. Sự xao lãng ấy có hai loại: loại có gốc rễ tham ái và loại có gốc rễ vô minh. Ở đấy, loại có gốc rễ vô minh là: Người bị bao trùm bởi vô trí không nhận biết sự kiện có thể biết được rằng: ‘Năm uẩn là pháp sanh diệt;’ đây là loại có gốc rễ vô minh. Loại có gốc rễ tham ái có ba loại: người đang tầm cầu sự sanh lên của những của cải chưa được sanh lên thì rơi vào sự xao lãng, đối với những của cải đã được sanh lên thì rơi vào sự xao lãng với hiện tướng bảo vệ và hiện tướng hưởng thụ chúng. Đây là bốn loại xao lãng ở thế gian: một loại do vô minh, ba loại do tham ái. Ở đấy, danh thân là nền tảng của vô minh, sắc thân là nền tảng của tham ái. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Là sự bám chặt ở các hiện hữu có sắc, là sự mê muội ở các hiện hữu không có sắc. Ở đấy, sắc thân là sắc uẩn, danh thân là bốn uẩn không có sắc. Năm uẩn này có các sự chấp thủ do sự chấp thủ nào? Do tham ái và do vô minh. Ở đấy, tham ái có hai sự chấp thủ: sự chấp thủ ở dục và sự chấp thủ ở giới và phận sự. Vô minh có hai sự chấp thủ: sự chấp thủ do kiến và sự chấp thủ do ngã luận thuyết. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ này là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập.
Ở đấy, sự xao lãng có gốc rễ tham ái theo ba cách là: tầm cầu sự sanh lên của những của cải chưa được sanh lên, đối với những của cải đã được sanh lên thì thực hiện sự bảo vệ, và hiện tướng hưởng thụ (chúng). Với sự hoàn toàn thấu triệt về nó, có các sự hộ trì, có các sự đề kháng; đây là chỉ tịnh. Việc ấy là như thế nào? Khi nào biết được sự hứng thú là hứng thú, sự bất lợi là bất lợi, sự thoát ra là thoát ra, sự thoái hóa, phiền não, sự thanh lọc và lợi ích của việc xuất ly đối với các dục. Ở đấy, sự thẩm xét, sự khảo sát là minh sát. Hai pháp này, chỉ tịnh và minh sát, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Trong khi hai pháp này được tu tập, hai pháp tham ái và vô minh được dứt bỏ. Trong khi hai pháp này được dứt bỏ, bốn chấp thủ được diệt tận; do sự diệt tận của hữu, có sự diệt tận của sanh; do sự diệt tận của sanh, lão, tử, sầu-bi- khổ-ưu-não được diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.
Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập, chỉ tịnh và minh sát là Đạo, sự diệt tận của hữu là Niết Bàn. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng.”
2. “Giống như khi bộ rễ vẫn chưa bị tổn hại và còn vững chắc, cội cây, mặc dầu đã bị đốn ngã, cũng vẫn đâm chồi trở lại, cũng như vậy, khi sự tiềm ẩn của tham ái chưa bị tận diệt, khổ đau này còn sanh lên đợt này này đến đợt khác.”
Đây là sự tiềm ẩn của tham ái. Của tham ái nào? Của tham ái về hữu. Vô minh là duyên của pháp này. Bởi vì do duyên vô minh, tham ái về hữu (sanh khởi). Đây là hai ô nhiễm: tham ái và vô minh. Các cái ấy là bốn sự chấp thủ. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ ấy là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập. Hành giả bứng lên hoàn toàn sự tiềm ẩn của tham ái nhờ vào chỉ tịnh, chặn đứng vô minh là duyên cho sự tiềm ẩn của tham ái nhờ vào minh sát. Hai pháp này, chỉ tịnh và minh sát, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Ở đấy, kết quả của chỉ tịnh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, kết quả của minh sát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập, chỉ tịnh và minh sát là Đạo, và hai sự giải thoát là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Giống như khi bộ rễ vẫn chưa bị tổn hại ...”
3. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.”
Mọi điều ác gọi là ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Chúng là mười đường lối hành động bất thiện: việc sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí, tham đắm, sân hận, tà kiến. Các cái ấy là hai (loại) nghiệp: do sự cố ý và liên quan đến tâm. Ở đấy, việc sát sanh, nói đâm thọc, nói thô lỗ có sân là nguồn phát khởi; việc trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối có tham là nguồn phát khởi; việc nói nhảm nhí có si là nguồn phát khởi. Bảy hành động này là nghiệp do sự cố ý. Tham đắm là tham –gốc rễ của bất thiện, sân hận là sân – gốc rễ của bất thiện, tà kiến là con đường sai trái. Ba hành động này là nghiệp liên quan đến tâm. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Sự cố ý là nghiệp, liên quan đến tâm là nghiệp.”
Trong khi đi đến sự kết nối với (thân, khẩu), gốc rễ của bất thiện đi đến sự sai trái theo bốn cách: vì mong muốn, vì sân hận, vì si mê, vì sợ hãi. Ở đấy, người đi đến sự sai trái vì mong muốn thì tham là nguồn phát khởi, người đi đến sự sai trái vì sân hận thì sân là nguồn phát khởi, người đi đến sự sai trái vì si mê và sợ hãi thì si là nguồn phát khởi. Ở đấy, tham được dứt bỏ bởi sự bất tịnh, sân bởi từ ái, si bởi tuệ. Tương tự, tham được dứt bỏ do xả, sân do từ ái và do bi mẫn, si đi đến sự dứt bỏ, sự biến mất, do hỷ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không làm mọi điều ác.”
Mọi điều ác gọi là tám trạng thái sái quấy: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; điều này gọi là ‘mọi điều ác.’ Sự không hành động, không hành sự, không hành xử của tám trạng thái sái quấy này gọi là ‘không làm mọi điều ác.’ Khi tám trạng thái sái quấy được dứt bỏ thì tám trạng thái chân chánh được đạt đến. Sự có hành vi, hành động, hành xử của tám trạng thái chân chánh gọi là ‘thành tựu việc thiện.’ ‘Thanh lọc tâm của mình’ chỉ ra hành vi tu tập của Đạo Lộ thời quá khứ: Khi tâm được thanh lọc, năm uẩn được thanh lọc. Bởi vì, đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Với mục đích thanh tịnh tâm ý, này các tỳ khưu, Phạm hạnh đã được trú ở đức Như Lai.” Bởi vì sự thanh lọc có hai loại: sự dứt bỏ các pháp che lấp và sự thủ tiêu các pháp tiềm ẩn. Và hai phạm vi của sự thanh lọc là: phạm vi nhìn thấy và phạm vi tu tập. Ở đấy, thanh lọc cái nào nhờ vào sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; thanh lọc khỏi cái nào, cái ấy là Tập; thanh lọc nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái nào đã được thanh lọc, cái ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không làm mọi điều ác.”
4. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.”
Gọi là thiện pháp thì có hai loại: sự thu thúc các quyền và Đạo Lộ. Gọi là khổ cảnh thì có hai loại: so sánh với chư Thiên và nhân loại thì các đọa xứ là khổ cảnh, hoặc là so sánh với Niết Bàn thì tất cả các sự tái sanh là khổ cảnh. Ở đấy, việc hành trì không sứt mẻ ở giới thu thúc, Giáo Pháp này khéo được thực hành hộ trì khỏi các đọa xứ. Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Này các tỳ khưu, đây là hai cảnh giới dành cho người có giới: chư Thiên và loài người.” Và như vậy, ở thị trấn Nālandā, vị thôn trưởng Asibandhakaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, các vị Bà-la-môn là những người sống ở khu vực phía Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa các loài thủy thảo, ngâm mình trong nước, thờ phụng ngọn lửa; họ đánh thức người đã chết, người đã qua đời, làm cho tỉnh lại, đưa họ vào cõi Trời. Ngược lại, bạch Ngài, phải chăng đức Thế Tôn có khả năng làm cho tất cả thế gian, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này)?” “Vậy thì, này thôn trưởng, ở đây Ta sẽ hỏi ông chính điều ấy. Ông chấp nhận như thế nào thì hãy nói về điều ấy như thế ấy. Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Ở đây, một người sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí, tham đắm, sân hận, có tà kiến. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này)?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.”
“Này thôn trưởng, cũng giống như một người ném tảng đá lớn vào hồ nước sâu. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính tảng đá ấy (nói rằng): ‘Này bạn đá tảng, hãy nổi lên. Này bạn đá tảng, hãy trồi lên. Này bạn đá tảng, hãy trôi vào bờ.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà tảng đá lớn ấy có thể nổi lên, hoặc có thể trồi lên, hoặc có thể trôi vào bờ?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, tương tự y như thế, một người sát sanh, ―nt― có tà kiến, dù cho đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).’ Lúc đó, người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục. Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Ở đây, một người đã tránh xa việc sát sanh ―nt― có chánh kiến, rồi đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, cũng giống như người nhận chìm hũ bơ lỏng hoặc hũ dầu ăn vào hồ nước sâu rồi đập vỡ nó. Ở đó, miểng sành hoặc mảnh vỡ sẽ chìm xuống dưới, còn bơ lỏng hoặc dầu ăn sẽ nổi lên trên. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính bơ lỏng hoặc dầu ăn ấy (nói rằng): ‘Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy chìm xuống. Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy lặn xuống. Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy đi xuống phía dưới.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà bơ lỏng hoặc dầu ăn ấy có thể chìm xuống, hoặc có thể lặn xuống, hoặc có thể đi xuống phía dưới?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, tương tự y như thế, một người đã tránh xa việc sát sanh ―nt― có chánh kiến, dù cho đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục.’ Lúc đó, người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).” Giáo Pháp khéo được thực hành hộ trì khỏi các đọa xứ là như thế. Ở đấy, với tính chất sắc bén, với tính chất nổi trội của Đạo Lộ, Giáo Pháp này khéo được thực hành hộ trì khỏi tất cả các sự tái sanh. Đức Thế Tôn đã nói như vầy:
5. “Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ, có chánh tư duy là hành xứ, có chánh kiến đặt ở hàng đầu, sau khi biết được pháp sanh diệt, là người ngự trị dã dượi và buồn ngủ, vị tỳ khưu từ bỏ mọi khổ cảnh.”
Ở đấy, nhân của các khổ cảnh là: tham ái và vô minh. Các cái ấy là bốn sự chấp thủ. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ ấy là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập. Ở đấy, năm quyền có sắc là nền tảng của tham ái, ý quyền là nền tảng của vô minh. Trong khi hộ trì năm quyền có sắc, hành giả tu tập định và chế ngự tham ái. Trong khi hộ trì ý quyền, hành giả phát triển minh sát và chế ngự vô minh. Nhờ chế ngự tham ái, hai sự chấp thủ được dứt bỏ: sự chấp thủ ở dục và sự chấp thủ ở giới và phận sự. Nhờ chế ngự vô minh, hai sự chấp thủ được dứt bỏ: sự chấp thủ do kiến và sự chấp thủ do ngã luận thuyết. Khi bốn sự chấp thủ được dứt bỏ, hai pháp đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập là: chỉ tịnh và minh sát. Điều này gọi là ‘Phạm hạnh.’ Ở đấy, quả báo của Phạm hạnh là bốn quả vị Sa-môn: Quả Nhập Lưu, Quả Nhất Lai, Quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán là quả báo cao nhất; đây là bốn ‘quả báo của Phạm hạnh.’ Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập; chỉ tịnh, minh sát, và Phạm hạnh là Đạo; các quả báo của Phạm hạnh và đối tượng của nó, tức Vô Vi Giới, là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Thật vậy, thiện pháp hộ trì ...” Ở đấy, hộ trì cái nào nhờ vào sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; hộ trì khỏi cái nào, cái ấy là Tập; hộ trì nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái nào hộ trì, cái ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Khi có một nền tảng, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xoay Vần được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
29. Tattha katamo āvaṭṭo hāro? ‘‘Ekamhi padaṭṭhāne’’ti ayaṃ.
29. Therein, what is the revolving method? It is this: “In one proximate cause.”
29. Trong ấy, phương pháp trình bày tuần hoàn là gì? Đó là 'trong một nhân gần'.
‘‘Ārambhatha † nikkamatha, yuñjatha buddhasāsane;
Dhunātha maccuno senaṃ, naḷāgāraṃva kuñjaro’’ti.
“Strive! Go forth! Apply yourselves to the Buddha’s teaching! Destroy the army of Death, just as an elephant destroys a reed hut.”
“Hãy nỗ lực, hãy ra khỏi, hãy chuyên cần trong giáo pháp của Phật; hãy phá tan đạo quân của tử thần, như voi phá tan ngôi nhà bằng sậy.”
‘‘Ārambhatha nikkamathā’’ti vīriyassa padaṭṭhānaṃ. ‘‘Yuñjatha buddhasāsane’’ti samādhissa padaṭṭhānaṃ. ‘‘Dhunātha maccuno senaṃ, naḷāgāraṃva kuñjaro’’ti paññāya padaṭṭhānaṃ. ‘‘Ārambhatha nikkamathā’’ti vīriyindriyassa padaṭṭhānaṃ. ‘‘Yuñjatha buddhasāsane’’ti samādhindriyassa padaṭṭhānaṃ. ‘‘Dhunātha maccuno senaṃ, naḷāgāraṃva kuñjaro’’ti paññindriyassa padaṭṭhānaṃ. Imāni padaṭṭhānāni desanā.
“Strive, go forth!” is the proximate cause for energy. “Apply yourselves to the Buddha’s teaching!” is the proximate cause for concentration. “Destroy the army of Death, just as an elephant destroys a reed hut!” is the proximate cause for wisdom. “Strive, go forth!” is the proximate cause for the faculty of energy. “Apply yourselves to the Buddha’s teaching!” is the proximate cause for the faculty of concentration. “Destroy the army of Death, just as an elephant destroys a reed hut!” is the proximate cause for the faculty of wisdom. These proximate causes are a teaching.
“Hãy nỗ lực, hãy ra khỏi” là nhân gần của tinh tấn. “Hãy chuyên cần trong giáo pháp của Phật” là nhân gần của định. “Hãy phá tan đạo quân của tử thần, như voi phá tan ngôi nhà bằng sậy” là nhân gần của tuệ. “Hãy nỗ lực, hãy ra khỏi” là nhân gần của tấn quyền. “Hãy chuyên cần trong giáo pháp của Phật” là nhân gần của định quyền. “Hãy phá tan đạo quân của tử thần, như voi phá tan ngôi nhà bằng sậy” là nhân gần của tuệ quyền. Những nhân gần này là sự thuyết giảng.
Ayuñjantānaṃ vā sattānaṃ yoge, yuñjantānaṃ vā ārambho.
For beings who do not apply themselves in the practice, this undertaking of the teaching serves to generate future knowledge by way of habit-formation; for beings who do apply themselves, it is for the attainment of distinction.
Hoặc là sự thực hành cho các chúng sanh không chuyên cần, hoặc là sự khởi đầu cho các chúng sanh đang chuyên cần.
Tattha ye na yuñjanti, te pamādamūlakā na yuñjanti. So pamādo duvidho taṇhāmūlako avijjāmūlako ca. Tattha avijjāmūlako yena aññāṇena nivuto ñeyyaṭṭhānaṃ nappajānāti pañcakkhandhā uppādavayadhammāti, ayaṃ avijjāmūlako. Yo taṇhāmūlako, so tividho anuppannānaṃ bhogānaṃ uppādāya pariyesanto pamādaṃ āpajjati, uppannānaṃ bhogānaṃ ārakkhanimittaṃ paribhoganimittañca pamādaṃ āpajjati ayaṃ loke catubbidho pamādo ekavidho avijjāya tividho taṇhāya. Tattha avijjāya nāmakāyo padaṭṭhānaṃ. Taṇhāya rūpakāyo padaṭṭhānaṃ. Taṃ kissa hetu, rūpīsu bhavesu ajjhosānaṃ, arūpīsu sammoho? Tattha rūpakāyo rūpakkhandho nāmakāyo cattāro arūpino khandhā. Ime pañcakkhandhā katamena upādānena saupādānā, taṇhāya ca avijjāya ca? Tattha taṇhā dve upādānāni kāmupādānañca sīlabbatupādānañca. Avijjā dve upādānāni diṭṭhupādānañca attavādupādānañca. Imehi catūhi upādānehi ye saupādānā khandhā, idaṃ dukkhaṃ. Cattāri upādānāni, ayaṃ samudayo. Pañcakkhandhā dukkhaṃ. Tesaṃ bhagavā pariññāya pahānāya ca dhammaṃ deseti dukkhassa pariññāya samudayassa pahānāya.
Therein, those who do not apply themselves do not do so because they are rooted in heedlessness. That heedlessness is twofold: rooted in craving and rooted in ignorance. Herein, that rooted in ignorance is when, shrouded by unknowing, one does not understand the object to be known—that the five aggregates are subject to arising and passing away; this is heedlessness rooted in ignorance. That which is rooted in craving is threefold: in seeking to generate unarisen possessions, one falls into heedlessness; and for the purpose of protecting and enjoying arisen possessions, one falls into heedlessness. In this world, this heedlessness is fourfold: one kind from ignorance and three from craving. Herein, for ignorance, the name-body is the proximate cause. For craving, the form-body is the proximate cause. Why is that? Because in form existences there is attachment, and in formless existences there is delusion. Herein, the form-body is the form aggregate; the name-body is the four formless aggregates. By what clinging are these five aggregates accompanied by clinging? By craving and by ignorance. Herein, craving comprises two clingings: clinging to sensual pleasures and clinging to rules and vows. Ignorance comprises two clingings: clinging to views and clinging to the doctrine of self. The aggregates that are clung to by means of these four clingings—this is suffering. The four clingings—this is the origin. The five aggregates are suffering. The Blessed One teaches the Dhamma for their full understanding and abandonment: for the full understanding of suffering and for the abandonment of the origin.
Trong đó, những ai không chuyên cần, họ không chuyên cần vì có sự phóng dật làm gốc rễ. Sự phóng dật ấy có hai loại: có ái làm gốc rễ và có vô minh làm gốc rễ. Trong đó, (sự phóng dật) có vô minh làm gốc rễ là (sự phóng dật) mà do vô minh che lấp, người ấy không biết đối tượng cần biết rằng 'năm uẩn có pháp sanh diệt'; đây là (sự phóng dật) có vô minh làm gốc rễ. (Sự phóng dật) nào có ái làm gốc rễ, sự phóng dật ấy có ba loại: khi tìm kiếm để làm phát sinh các tài sản chưa phát sinh, người ấy rơi vào phóng dật; và người ấy rơi vào phóng dật vì lý do bảo vệ và lý do hưởng thụ các tài sản đã phát sinh. Sự phóng dật này trong thế gian có bốn loại: một loại do vô minh, ba loại do ái. Trong đó, danh thân là nhân gần của vô minh. Sắc thân là nhân gần của ái. Điều đó vì lý do gì? (Vì) có sự tham đắm trong các hữu sắc, (và) có sự si mê trong các hữu vô sắc. Trong đó, sắc thân là sắc uẩn, danh thân là bốn uẩn vô sắc. Năm uẩn này có thủ do thủ nào? (Chúng) có thủ do ái và vô minh. Trong đó, ái là hai thủ: dục thủ và giới cấm thủ. Vô minh là hai thủ: kiến thủ và ngã luận thủ. Các uẩn nào có thủ do bốn thủ này, đó là khổ. Bốn thủ, đó là tập. Năm uẩn là khổ. Đức Thế Tôn thuyết pháp để liễu tri và đoạn trừ chúng, (tức là) để liễu tri khổ và đoạn trừ tập.
30. Tattha yo tividho taṇhāmūlako pamādo anuppannānaṃ bhogānaṃ uppādāya pariyesati, uppannānaṃ bhogānaṃ ārakkhaṇañca karoti paribhoganimittañca, tassa sampaṭivedhena rakkhaṇā paṭisaṃharaṇā, ayaṃ samatho.
30. Herein, with regard to that threefold heedlessness rooted in craving—where one seeks to generate unarisen possessions, protects arisen possessions, and which is the cause for their enjoyment—the guarding and restraining by means of thorough penetration of it, this is serenity.
30. Trong đó, sự phóng dật có ái làm gốc rễ gồm ba loại: tìm kiếm để làm phát sinh các tài sản chưa phát sinh, và thực hiện việc bảo vệ các tài sản đã phát sinh và (có sự phóng dật) vì lý do hưởng thụ. Do sự thấu triệt điều đó mà có sự phòng hộ, sự thu thúc; đây là chỉ (samatha).
So kathaṃ bhavati? Yadā jānāti kāmānaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato okārañca saṃkilesañca vodānañca nekkhamme ca ānisaṃsaṃ. Tattha yā vīmaṃsā upaparikkhā ayaṃ vipassanā. Ime dve dhammā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti samatho ca vipassanā ca. Imesu dvīsu dhammesu bhāviyamānesu dve dhammā pahīyanti taṇhā ca avijjā ca, imesu dvīsu dhammesu pahīnesu cattāri upādānāni nirujjhanti. Upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Iti purimakāni ca dve saccāni dukkhaṃ samudayo ca, samatho ca vipassanā ca maggo. Bhavanirodho nibbānaṃ imāni cattāri saccāni. Tenāha bhagavā ‘‘ārambhatha nikkamathā’’ti.
How does this come about? When one knows the gratification of sensual pleasures as gratification, their danger as danger, and the escape from them as escape; and when one knows their baseness, defilement, and purification, and the benefit in renunciation. Herein, whatever is scrutiny and investigation, this is insight. These two states, calm and insight, reach fulfillment in development. When these two states are being developed, two states are abandoned: craving and ignorance. When these two states have been abandoned, the four kinds of clinging cease. With the cessation of clinging, existence ceases. With the cessation of existence, birth ceases. With the cessation of birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus there is the cessation of this whole mass of suffering. Thus, the first two truths are suffering and its origin; calm and insight are the path; the cessation of existence is Nibbāna. These are the four truths. Therefore the Blessed One said: “Strive! Go forth!”
Pháp ấy sanh khởi như thế nào? Khi vị ấy biết rõ vị ngọt của các dục là vị ngọt, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm, sự xuất ly là sự xuất ly, sự hèn hạ, sự ô nhiễm, sự trong sạch, và phước báu trong sự xuất gia. Trong đó, sự thẩm sát, sự quán sát nào, đó là minh sát. Hai pháp này, chỉ và quán, đi đến sự viên mãn trong tu tập. Khi hai pháp này được tu tập, hai pháp được đoạn trừ: ái và vô minh. Khi hai pháp này được đoạn trừ, bốn thủ được diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sanh diệt, do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được diệt. Như vậy là sự diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Như vậy, hai đế trước là khổ và tập, chỉ và quán là đạo. Hữu diệt là niết-bàn, đây là bốn đế. Vì vậy, đức Thế Tôn đã dạy: “Hãy tinh tấn, hãy nỗ lực.”
Yathāpi mūle anupaddave daḷhe, chinnopi rukkho punareva † rūhati;
Evampi taṇhānusaye anūhate, nibbattatī dukkhamidaṃ punappunaṃ.
Just as a tree, though cut down, sprouts again if its root remains unharmed and firm, even so, when the underlying tendency to craving is not uprooted, this suffering springs up again and again.
Như cây bị đốn, vẫn mọc lại, nếu gốc rễ vững chắc, không bị hại; Cũng vậy, khổ này tái diễn mãi, nếu tùy miên ái chưa được nhổ lên.
Ayaṃ taṇhānusayo. Katamassā taṇhāya? Bhavataṇhāya. Yo etassa dhammassa paccayo ayaṃ avijjā. Avijjāpaccayā hi bhavataṇhā. Ime dve kilesā taṇhā ca avijjā ca. Tāni cattāri upādānāni tehi catūhi upādānehi ye saupādānā khandhā, idaṃ dukkhaṃ. Cattāri upādānāni ayaṃ samudayo. Pañcakkhandhā dukkhaṃ. Tesaṃ bhagavā pariññāya ca pahānāya ca dhammaṃ deseti dukkhassa pariññāya samudayassa pahānāya.
This is the underlying tendency of craving. Of which craving? Of craving for existence. The condition for this phenomenon is ignorance, for craving for existence arises dependent on ignorance. These two defilements are craving and ignorance. Those are the four kinds of clinging. Through those four kinds of clinging, there are the aggregates subject to clinging—this is suffering. The four kinds of clinging are the origin. The five aggregates are suffering. For the full understanding and abandoning of these, the Blessed One teaches the Dhamma—for the full understanding of suffering and the abandonment of its origin.
Đây là tùy miên ái. Tùy miên của ái nào? Của hữu ái. Pháp nào là duyên của pháp này, đó là vô minh. Vì do vô minh làm duyên, hữu ái sanh khởi. Hai phiền não này là ái và vô minh. Chúng là bốn thủ. Do bốn thủ ấy mà các uẩn có thủ, đây là khổ. Bốn thủ là tập. Năm uẩn là khổ. Đức Thế Tôn thuyết pháp để liễu tri và đoạn trừ chúng, để liễu tri khổ và đoạn trừ tập.
Yena taṇhānusayaṃ samūhanati †, ayaṃ samatho. Yena taṇhānusayassa paccayaṃ avijjaṃ vārayati, ayaṃ vipassanā. Ime dve dhammā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti samatho ca vipassanā ca. Tattha samathassa phalaṃ rāgavirāgā cetovimutti, vipassanāya phalaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti. Iti purimakāni ca dve saccāni dukkhaṃ samudayo ca, samatho vipassanā ca maggo, dve ca vimuttiyo nirodho. Imāni cattāri saccāni. Tenāha bhagavā ‘‘yathāpi mūle’’ti.
That by which one uproots the underlying tendency of craving, this is calm. That by which one prevents ignorance, the condition for the underlying tendency of craving, this is insight. These two states, calm and insight, reach fulfillment in development. Herein, the fruit of calm is liberation of mind through dispassion for lust; the fruit of insight is liberation by wisdom through dispassion for ignorance. Thus, the first two truths are suffering and its origin; calm and insight are the path; and the two liberations are cessation. These are the four truths. Therefore the Blessed One said the verse beginning: “Just as a tree, if its root…”
Pháp nào nhổ lên tùy miên ái, đó là chỉ. Pháp nào ngăn chặn vô minh, là duyên của tùy miên ái, đó là quán. Hai pháp này, chỉ và quán, đi đến sự viên mãn trong tu tập. Trong đó, quả của chỉ là tâm giải thoát do ly tham; quả của quán là tuệ giải thoát do ly vô minh. Như vậy, hai đế trước là khổ và tập; chỉ và quán là đạo; hai sự giải thoát là diệt. Đây là bốn đế. Vì vậy, đức Thế Tôn đã dạy: “Như cây bị đốn...”
‘‘Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodāpanaṃ †, etaṃ buddhāna sāsana’’nti.
“The non-doing of all evil, the undertaking of what is wholesome, the purification of one’s own mind—this is the teaching of the Buddhas.”
“Không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời Phật dạy.”
Sabbapāpaṃ nāma tīṇi duccaritāni kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ, te dasa akusalakammapathā pāṇātipāto adinnādānaṃ kāmesumicchācāro musāvādo pisuṇā vācā pharusā vācā samphappalāpo abhijjhā byāpādo micchādiṭṭhi, tāni dve kammāni cetanā cetasikañca. Tattha yo ca pāṇātipāto yā ca pisuṇā vācā yā ca pharusā vācā, idaṃ dosasamuṭṭhānaṃ. Yañca adinnādānaṃ yo ca kāmesumicchācāro yo ca musāvādo, idaṃ lobhasamuṭṭhānaṃ, yo samphappalāpo, idaṃ mohasamuṭṭhānaṃ. Imāni satta kāraṇāni cetanākammaṃ. Yā abhijjhā, ayaṃ lobho akusalamūlaṃ. Yo byāpādo, ayaṃ doso akusalamūlaṃ. Yā micchādiṭṭhi, ayaṃ micchāmaggo. Imāni tīṇi kāraṇāni cetasikakammaṃ. Tenāha ‘‘cetanākammaṃ cetasikakamma’’nti.
All evil means the threefold misconduct: bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. These are the ten unwholesome courses of action: killing living beings, taking what is not given, sexual misconduct, false speech, divisive speech, harsh speech, idle chatter, covetousness, ill will, and wrong view. These are two kinds of action: volitional action (cetanā) and action of mental concomitants (cetasika). Therein, killing, divisive speech, and harsh speech arise from aversion. Taking what is not given, sexual misconduct, and false speech arise from greed. Idle chatter arises from delusion. These seven causes are volitional action. Covetousness is the unwholesome root of greed. Ill will is the unwholesome root of aversion. Wrong view is the wrong path. These three causes are action of mental concomitants. Therefore, it is said, “volitional action and action of mental concomitants.”
Tất cả điều ác là ba ác hạnh: thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh. Chúng là mười bất thiện nghiệp đạo: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đôi chiều, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, sân hận, tà kiến. Chúng là hai nghiệp: tư và tâm sở. Trong đó, sát sanh, nói đôi chiều, và nói lời thô ác, đây là do sân sanh khởi. Trộm cắp, tà dâm, và nói dối, đây là do tham sanh khởi. Nói lời vô ích, đây là do si sanh khởi. Bảy nhân này là tư nghiệp. Tham lam, đây là tham, là bất thiện căn. Sân hận, đây là sân, là bất thiện căn. Tà kiến, đây là tà đạo. Ba nhân này là tâm sở nghiệp. Vì vậy, nói rằng: “tư nghiệp và tâm sở nghiệp”.
Akusalamūlaṃ payogaṃ gacchantaṃ catubbidhaṃ agatiṃ gacchati chandā dosā bhayā mohā. Tattha yaṃ chandā agatiṃ gacchati, idaṃ lobhasamuṭṭhānaṃ. Yaṃ dosā agatiṃ gacchati, idaṃ dosasamuṭṭhānaṃ. Yaṃ bhayā ca mohā ca agatiṃ gacchati, idaṃ mohasamuṭṭhānaṃ. Tattha lobho asubhāya pahīyati. Doso mettāya. Moho paññāya. Tathā lobho upekkhāya pahīyati. Doso mettāya ca karuṇāya ca. Moho muditāya pahānaṃ abbhatthaṃ gacchati. Tenāha bhagavā ‘‘sabbapāpassa akaraṇa’’nti.
When an unwholesome root reaches the point of exertion, one follows the fourfold wrong course—through desire, hatred, fear, or delusion. Therein, following the wrong course through desire arises from greed. Following the wrong course through hatred arises from hatred. Following the wrong course through fear and delusion arises from delusion. Therein, greed is abandoned by contemplation of the unattractive. Hatred is abandoned by loving-kindness. Delusion is abandoned by wisdom. Similarly, greed is abandoned by equanimity. Hatred is abandoned by loving-kindness and compassion. The abandonment of delusion is well accomplished by sympathetic joy. Therefore, the Blessed One said, “the non-doing of all evil.”
Bất thiện căn khi đi đến hành động, đi vào bốn đường tà: do dục, do sân, do sợ, do si. Trong đó, đi vào đường tà do dục, đây là do tham sanh khởi. Đi vào đường tà do sân, đây là do sân sanh khởi. Đi vào đường tà do sợ và do si, đây là do si sanh khởi. Trong đó, tham được đoạn trừ bằng bất tịnh. Sân được đoạn trừ bằng từ. Si được đoạn trừ bằng tuệ. Tương tự, tham được đoạn trừ bằng xả. Sân được đoạn trừ bằng từ và bi. Si được đoạn trừ bằng hỷ. Vì vậy, đức Thế Tôn đã dạy: “Không làm các điều ác.”
31. Sabbapāpaṃ nāma aṭṭha micchattāni micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo micchāvācā micchākammanto micchāājīvo micchāvāyāmo micchāsati micchāsamādhi, idaṃ vuccati sabbapāpaṃ. Imesaṃ aṭṭhannaṃ micchattānaṃ yā akiriyā akaraṇaṃ anajjhācāro, idaṃ vuccati sabbapāpassa akaraṇaṃ.
31. All evil means the eight wrongnesses: wrong view, wrong intention, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong concentration. This is called all evil. The non-action, the non-doing, the non-practice of these eight wrongnesses—this is called the non-doing of all evil.
31. Tất cả điều ác là tám tà hạnh: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Đây được gọi là tất cả điều ác. Đối với tám tà hạnh này, sự không làm, sự không thực hành, sự không vi phạm, đây được gọi là không làm tất cả điều ác.
Aṭṭhasu micchattesu pahīnesu aṭṭha sammattāni sampajjanti. Aṭṭhannaṃ sammattānaṃ yā kiriyā karaṇaṃ sampādanaṃ, ayaṃ vuccati kusalassa upasampadā. Sacittapariyodāpananti atītassa maggassa bhāvanākiriyaṃ dassayati, citte pariyodāpite † pañcakkhandhā pariyodāpitā bhavanti, evañhi bhagavā āha ‘‘cetovisuddhatthaṃ, bhikkhave, tathāgate brahmacariyaṃ vussatī’’ti. Duvidhā hi pariyodāpanā nīvaraṇappahānañca anusayasamugghāto ca. Dve pariyodāpanabhūmiyo dassanabhūmi ca, bhāvanābhūmi ca, tattha yaṃ paṭivedhena pariyodāpeti, idaṃ dukkhaṃ. Yato pariyodāpeti, ayaṃ samudayo. Yena pariyodāpeti, ayaṃ maggo. Yaṃ pariyodāpitaṃ, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni. Tenāha bhagavā ‘‘sabbapāpassa akaraṇa’’nti.
When the eight wrongnesses are abandoned, the eight rightnesses are accomplished. The action, the doing, the accomplishment of these eight rightnesses, this is called the undertaking of the wholesome. 'The purification of one’s own mind' points to the cultivation and practice of the path obtained by the past Buddha Vipassī. When the mind is purified, the five aggregates become purified. For thus the Blessed One has said: “For the purification of the mind, monks, the holy life is lived under the Tathāgata.” Indeed, purification is twofold: the abandoning of the hindrances and the eradication of the underlying tendencies. There are two grounds of purification: the ground of vision and the ground of cultivation. Therein, that which one purifies through penetration—this is suffering. That from which one purifies—this is the origin. That by which one purifies—this is the path. That which is purified—this is cessation. These are the four truths. Therefore, the Blessed One said: “the non-doing of all evil.”
Khi tám tà hạnh được đoạn trừ, tám chánh hạnh được thành tựu. Sự làm, sự thực hành, sự thành tựu tám chánh hạnh này, đây được gọi là thành tựu các hạnh lành. “Giữ tâm ý trong sạch” là chỉ sự tu tập và thực hành đạo quá khứ. Khi tâm được trong sạch, năm uẩn trở nên trong sạch. Vì đức Thế Tôn đã dạy như vậy: “Này các Tỳ kheo, phạm hạnh được sống trong Như Lai là vì tâm thanh tịnh.” Sự trong sạch có hai loại: đoạn trừ triền cái và nhổ lên tùy miên. Có hai địa của sự trong sạch: kiến địa và tu địa. Trong đó, cái được làm cho trong sạch bằng sự chứng ngộ, đó là khổ. Cái từ đó được làm cho trong sạch, đó là tập. Cái nhờ đó được làm cho trong sạch, đó là đạo. Cái đã được làm cho trong sạch, đó là diệt. Đây là bốn đế. Vì vậy, đức Thế Tôn đã dạy: “Không làm các điều ác.”
‘‘Dhammo have rakkhati dhammacāriṃ, chattaṃ mahantaṃ yatha vassakāle;
Esānisaṃso dhamme suciṇṇe, na duggatiṃ gacchati dhammacārī’’ti.
The Dhamma truly protects one who practices the Dhamma, like a great umbrella in the rainy season; this is the benefit of the Dhamma well practiced: a practitioner of the Dhamma does not go to a bad destination.
“Pháp quả thật hộ trì người thực hành Pháp, như cây dù lớn che chở trong mùa mưa. Đây là quả báu của Pháp được thực hành tốt đẹp: người thực hành Pháp không đi đến ác thú.”
Dhammo nāma duvidho indriyasaṃvaro maggo ca. Duggati nāma duvidhā devamanusse vā upanidhāya apāyā duggati, nibbānaṃ vā upanidhāya sabbā upapattiyo duggati. Tattha yā saṃvarasīle akhaṇḍakāritā, ayaṃ dhammo suciṇṇo apāyehi rakkhati. Evaṃ bhagavā āha – dvemā, bhikkhave, sīlavato gatiyo devā ca manussā ca. Evañca nāḷandāyaṃ nigame asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca –
The Dhamma is twofold: restraint of the faculties and the path. A bad destination is twofold: in comparison to devas and humans, the planes of deprivation are a bad destination; and in comparison to Nibbāna, all rebirths are a bad destination. Therein, the unbroken practice of the virtue of restraint is the well-practiced Dhamma that protects from the planes of deprivation. Thus the Blessed One said: “Monks, there are two destinations for the virtuous: devas and humans.” And thus in the market town of Nāḷandā, the village headman Asibandhakaputta said this to the Blessed One:
Pháp có hai loại: sự thu thúc các căn và Đạo. Ác thú có hai loại: so với cõi trời và người thì các cõi khổ là ác thú; so với Niết-bàn thì tất cả các cảnh giới tái sanh là ác thú. Trong đó, sự thực hành không gián đoạn trong giới thu thúc, Pháp này được thực hành tốt đẹp sẽ hộ trì khỏi các cõi khổ. Thế Tôn đã nói như vầy: “Này các Tỳ khưu, có hai cảnh giới cho người có giới: cõi trời và cõi người.” Và tại thị trấn Nāḷandā, trưởng làng Asibandhakaputta đã bạch với Thế Tôn điều này:
‘‘Brāhmaṇā, bhante, pacchābhūmakā kāmaṇḍalukā sevālamālikā udakorohakā aggiparicārakā, te mataṃ kālaṅkataṃ uyyāpenti nāma, saññāpenti nāma, saggaṃ nāma okkāmenti †. Bhagavā pana, bhante, arahaṃ sammāsambuddho pahoti tathā kātuṃ, yathā sabbo loko kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā’’ti.
“Venerable sir, the brahmins of the western lands, who carry water pots, wear garlands of moss, descend into the water, and attend to the fire—they, it is said, send up the deceased, cause them to arrive well, and lead them into heaven. But, venerable sir, is the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, able to act in such a way that the entire world, with the breakup of the body, after death, would be reborn in a good destination, a heavenly world?”
“Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn ở phương Tây, những người mang bình nước, đeo vòng hoa rong rêu, tắm gội trong nước, và thờ lửa, họ được cho là có thể đưa người đã chết, đã mệnh chung lên, được cho là dẫn dắt, được cho là đưa vào cõi trời. Bạch Thế Tôn, còn Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, có thể làm như vậy, để cho tất cả chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung được sanh về thiện thú, thiên giới không ạ?”
‘‘Tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya, tathā naṃ byākareyyāsīti.
“Well then, headman, in that case I will question you in return on this very matter. You should explain it as you see fit.”
“Này trưởng làng, nếu vậy, trong vấn đề này Ta sẽ hỏi lại chính ông. Ông thấy thế nào hợp lý thì hãy trả lời như vậy.”
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko, tamenaṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatū’ti. Taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetuvā pañjalikaṃ † anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā’’ti. ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
“What do you think, headman? Suppose there were a man here who is a killer of living beings, one who takes what is not given, one who engages in sexual misconduct, a speaker of falsehoods, a speaker of divisive speech, a speaker of harsh speech, a speaker of frivolous talk, one who is covetous, one with a mind of ill will, and one with wrong view. Then a great crowd of people were to gather and come together to entreat him, praise him, and, with joined palms, venerate him by following behind, saying, ‘May this man, with the breakup of the body, after death, be reborn in a good destination, a heavenly world!’ What do you think, headman? Would that man, because of the entreaty, the praise, or the veneration by following behind with joined palms of that great crowd of people, with the breakup of the body, after death, be reborn in a good destination, a heavenly world?” “No, venerable sir.”
“Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào? Giả sử ở đây có một người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham lam, có tâm sân, có tà kiến. Rồi một đám đông dân chúng tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau người ấy rằng: ‘Mong cho người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về thiện thú, thiên giới.’ Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào, liệu người ấy do nhân duyên cầu xin, tán thán, hay chắp tay đi theo sau của đám đông dân chúng mà sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về thiện thú, thiên giới không?” “Bạch Thế Tôn, không thể được như vậy.”
‘‘Seyyathāpi, gāmaṇi, puriso mahatiṃ puthusilaṃ gambhīre udakarahade † pakkhipeyya, tamenaṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘ummujja, bho, puthusile, uplava bho puthusile, thalamuplava, bho puthusile’ti. Taṃ kiṃ maññasi gāmaṇi, api nu sā mahatī puthusilā mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikaṃ anuparisakkanahetu vā ummujjeyya vā uplaveyya vā thalaṃ vā uplaveyyā’’ti. ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātī…pe… micchādiṭṭhiko, kiñcāpi naṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatū’ti. Atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyya.
“Just as, headman, if a man were to throw a large, thick stone slab into a deep pool of water, and a great crowd of people were to gather and come together to entreat it, praise it, and, with joined palms, venerate it by following behind, saying, ‘Emerge, O thick stone slab! Float up, O thick stone slab! Ascend to the shore, O thick stone slab!’ What do you think, headman? Would that large, thick stone slab emerge, float up, or ascend to the shore because of the entreaty, praise, or veneration by following behind with joined palms of that great crowd of people?” “No, venerable sir.” “Even so, headman, whatever man is a killer of living beings... one with wrong view, even if a great crowd of people were to gather and come together to entreat him, praise him, and, with joined palms, venerate him by following behind, saying, ‘May this man, with the breakup of the body, after death, be reborn in a good destination, in a heavenly world!’ Nevertheless, that man, with the breakup of the body, after death, would be reborn in a state of loss, a bad destination, a place of ruin, in hell.”
“Này trưởng làng, ví như một người ném một tảng đá lớn vào một hồ nước sâu. Rồi một đám đông dân chúng tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau rằng: ‘Này tảng đá, hãy trồi lên! Này tảng đá, hãy nổi lên! Này tảng đá, hãy trôi vào bờ!’ Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào, liệu tảng đá lớn ấy do nhân duyên cầu xin, tán thán, hay chắp tay đi theo sau của đám đông dân chúng mà trồi lên, nổi lên, hay trôi vào bờ không?” “Bạch Thế Tôn, không thể được như vậy.” “Cũng vậy, này trưởng làng, người nào sát sanh… (vân vân)… có tà kiến, cho dù đám đông dân chúng có tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau rằng: ‘Mong cho người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về thiện thú, thiên giới,’ tuy nhiên, người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhiko, tamenaṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’ti. Taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikaṃ anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyyā’’ti. ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
“What do you think, headman? Suppose there were a man here who abstains from the destruction of life, abstains from taking what is not given, abstains from misconduct in sensual pleasures, abstains from false speech, abstains from divisive speech, abstains from harsh speech, abstains from frivolous talk, is not covetous, has a mind without ill will, and is of right view. Then a great crowd of people were to gather and come together to entreat him, praise him, and, with joined palms, venerate him by following behind, saying, ‘May this man, with the breakup of the body, after death, be reborn in a state of loss, a bad destination, a place of ruin, in hell!’ What do you think, headman? Would that man, because of the entreaty, praise, or veneration by following behind with joined palms of that great crowd of people, with the breakup of the body, after death, be reborn in a state of loss, a bad destination, a place of ruin, in hell?” “No, venerable sir.”
“Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào? Giả sử ở đây có một người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời đâm thọc, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích, không tham lam, có tâm không sân, có chánh kiến. Rồi một đám đông dân chúng tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau người ấy rằng: ‘Mong cho người này, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’ Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào, liệu người ấy do nhân duyên cầu xin, tán thán, hay chắp tay đi theo sau của đám đông dân chúng mà sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?” “Bạch Thế Tôn, không thể được như vậy.”
‘‘Seyyathāpi, gāmaṇi, puriso sappikumbhaṃ vā telakumbhaṃ vā gambhīre † udakarahade ogāhetvā bhindeyya. Tatra yāssa sakkharā vā kaṭhalā †, sā adhogāmī assa. Yañca khvassa tatra sappi vā telaṃ vā, taṃ uddhaṃgāmi assa. Tamenaṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘osīda, bho sappitela, saṃsīda, bho sappitela, adho gaccha †‘bho sappitelā’ti. Taṃ kiṃ maññasi gāmaṇi, api nu taṃ sappitelaṃ mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikaṃ anuparisakkanahetu vā ‘osīdeyya vā saṃsīdeyya vā adho vā gaccheyyā’ti. ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
“Just as, headman, a man might take a pot of ghee or a pot of oil and, having plunged it into a deep pool of water, break it. There, whatever gravel or pot-shards there were would go downward. But whatever ghee or oil was there would rise upward. Then a great crowd of people might gather and come together to entreat it, praise it, and, with joined palms, venerate it by following behind, saying, ‘Sink down, O ghee and oil! Submerge well, O ghee and oil! Go downward, O ghee and oil!’ What do you think, headman? Would that ghee and oil sink down, submerge well, or go downward because of the entreaty, praise, or veneration by following behind with joined palms of that great crowd of people?” “No, venerable sir.”
“Này trưởng làng, ví như một người dìm một hũ bơ hay một hũ dầu xuống hồ nước sâu rồi đập vỡ. Ở đó, những gì là sỏi đá hay mảnh vỡ, chúng sẽ chìm xuống. Và những gì ở đó là bơ hay dầu, chúng sẽ nổi lên. Rồi một đám đông dân chúng tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau rằng: ‘Này bơ và dầu, hãy chìm xuống! Này bơ và dầu, hãy lắng xuống! Này bơ và dầu, hãy đi xuống!’ Này trưởng làng, ông nghĩ thế nào, liệu bơ và dầu ấy do nhân duyên cầu xin, tán thán, hay chắp tay đi theo sau của đám đông dân chúng mà chìm xuống, lắng xuống, hay đi xuống không?” “Bạch Thế Tôn, không thể được như vậy.”
‘‘Evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātā paṭivirato…pe… sammādiṭṭhiko, kiñcāpi naṃ mahājanakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’’’ti. Atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyya. Iti dhammo suciṇṇo apāyehi rakkhati. Tattha yā maggassa tikkhatā adhimattatā, ayaṃ dhammo suciṇṇo sabbāhi upapattīhi rakkhati. Evaṃ bhagavā āha –
“Even so, headman, whatever man abstains from the destruction of life... and is of right view, even if a great crowd of people were to gather and come together to entreat him, praise him, and, with joined palms, venerate him by following behind, saying, ‘May this man, with the breakup of the body, after death, be reborn in a state of loss, a bad destination, a place of ruin, in hell!’—nevertheless, that man, with the breakup of the body, after death, would be reborn in a good destination, in a heavenly world. Thus, the well-practiced Dhamma protects one from the states of loss. Therein, whatever is the sharpness and exceeding sharpness of the path, this well-practiced Dhamma protects one from all rebirths. Thus the Blessed One has said:
“Cũng vậy, này trưởng làng, người nào từ bỏ sát sanh… (vân vân)… có chánh kiến, cho dù đám đông dân chúng có tụ tập, hội họp lại, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo sau rằng: ‘Mong cho người này, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục,’ tuy nhiên, người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh về thiện thú, thiên giới. Như vậy, Pháp được thực hành tốt đẹp sẽ hộ trì khỏi các cõi khổ. Trong đó, sự sắc bén, sự vượt trội của Đạo, Pháp này được thực hành tốt đẹp sẽ hộ trì khỏi tất cả các cảnh giới tái sanh. Thế Tôn đã nói như vầy:”
‘‘Tasmā rakkhitacittassa †, sammāsaṅkappagocaro;
Sammādiṭṭhipurekkhāro, ñatvāna udayabbayaṃ;
Thinamiddhābhibhū bhikkhu, sabbā duggatiyo jahe’’ti.
“Therefore, with a guarded mind, having right thought as his resort, with right view placed at the forefront, having known arising and passing away, a bhikkhu who has overcome sloth and torpor should abandon all bad destinations.”
Do đó, vị tỳ khưu nên có tâm được hộ trì, với chánh tư duy làm hành xứ, với chánh kiến đi trước, sau khi biết được sự sanh diệt, chinh phục được hôn trầm thụy miên, nên từ bỏ tất cả các ác thú.
32. Tattha duggatīnaṃ hetu taṇhā ca avijjā ca, tāni cattāri upādānāni, tehi catūhi upādānehi ye saupādānā khandhā, idaṃ dukkhaṃ. Cattāri upādānāni, ayaṃ samudayo. Pañcakkhandhā dukkhaṃ, tesaṃ bhagavā pariññāya ca pahānāya ca dhammaṃ deseti dukkhassa pariññāya samudayassa pahānāya. Tattha taṇhāya pañcindriyāni rūpīni padaṭṭhānaṃ. Avijjāya manindriyaṃ padaṭṭhānaṃ. Pañcindriyāni rūpīni rakkhanto samādhiṃ bhāvayati, taṇhañca niggaṇhāti. Manindriyaṃ rakkhanto vipassanaṃ bhāvayati, avijjañca niggaṇhāti. Taṇhāniggahena dve upādānāni pahīyanti kāmupādānañca sīlabbatupādānañca. Avijjāniggahena dve upādānāni pahīyanti diṭṭhupādānañca attavādupādānañca. Catūsu upādānesu pahīnesu dve dhammā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti samatho ca vipassanā ca. Idaṃ vuccati brahmacariyanti.
32. Herein, the cause of bad destinations is craving and ignorance. These are the four kinds of clinging. Those aggregates that are accompanied by clinging through these four kinds of clinging—this is suffering. The four kinds of clinging—this is the origin. The five aggregates are suffering. The Blessed One teaches the Dhamma for their full understanding and abandonment, for the full understanding of suffering and for the abandonment of the origin. Herein, the five physical faculties are the proximate cause for craving. The mind faculty is the proximate cause for ignorance. Guarding the five physical faculties, one develops concentration and restrains craving. Guarding the mind faculty, one develops insight and restrains ignorance. By restraining craving, two kinds of clinging are abandoned: clinging to sensual pleasures and clinging to rites and rituals. By restraining ignorance, two kinds of clinging are abandoned: clinging to views and clinging to the doctrine of self. When the four kinds of clinging are abandoned, two qualities reach the fulfillment of development: serenity and insight. This is called the holy life.
32. Trong đó, nguyên nhân của các ác thú là ái và vô minh, chúng là bốn thủ. Các uẩn có thủ do bốn thủ ấy, đây là khổ. Bốn thủ, đây là tập. Năm uẩn là khổ, Đức Thế Tôn thuyết pháp để liễu tri và đoạn tận chúng, để liễu tri khổ và đoạn tận tập. Trong đó, năm sắc căn là nhân cần thiết của ái. Mạng căn là nhân cần thiết của vô minh. Người hộ trì năm sắc căn thì tu tập định và chế ngự ái. Người hộ trì mạng căn thì tu tập tuệ và chế ngự vô minh. Do chế ngự ái, hai thủ được đoạn tận: dục thủ và giới cấm thủ. Do chế ngự vô minh, hai thủ được đoạn tận: kiến thủ và ngã luận thủ. Khi bốn thủ được đoạn tận, hai pháp đạt đến sự viên mãn của tu tập: chỉ và quán. Điều này được gọi là phạm hạnh.
Tattha brahmacariyassa phalaṃ cattāri sāmaññaphalāni sotāpattiphalaṃ sakadāgāmiphalaṃ anāgāmiphalaṃ arahattaṃ † aggaphalaṃ. Imāni cattāri brahmacariyassa phalāni †. Iti purimakāni ca dve saccāni dukkhaṃ samudayo ca. Samatho ca vipassanā ca brahmacariyañca maggo, brahmacariyassa phalāni ca tadārammaṇā ca asaṅkhatādhātu nirodho. Imāni cattāri saccāni. Tenāha bhagavā ‘‘dhammo have rakkhatī’’ti.
Herein, the fruit of the holy life is the four fruits of recluseship: the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, and Arahantship, the supreme fruit. These are the four fruits of the holy life. Thus, the preceding two truths are suffering and the origin. Serenity, insight, and the holy life are the path. The fruits of the holy life, their object, and the unconditioned element are cessation. These are the four truths. Therefore, the Blessed One said: ‘Indeed, the Dhamma protects.’”
Trong đó, quả của phạm hạnh là bốn sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả là quả tối thượng. Bốn quả này là quả của phạm hạnh. Như vậy, hai đế trước là khổ và tập. Chỉ, quán và phạm hạnh là đạo. Các quả của phạm hạnh và đối tượng của chúng là vô vi giới, (đó là) diệt. Đây là bốn đế. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: 'Pháp thật sự hộ trì'.
Tattha yaṃ paṭivedhena rakkhati, idaṃ dukkhaṃ. Yato rakkhati, ayaṃ samudayo. Yena rakkhati, ayaṃ maggo. Yaṃ rakkhati, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘ekamhi padaṭṭhāne’’ti.
Herein, that which one guards through penetration, this is suffering. That from which one is protected, this is the origin. That by which one is protected, this is the path. That which protects, this is cessation. These are the four truths. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: ‘In one proximate cause.’”
Trong đó, cái được hộ trì bằng sự thông suốt, đó là khổ. Cái mà từ đó được hộ trì, đó là tập. Cái mà nhờ đó hộ trì, đó là đạo. Cái được hộ trì (là Niết-bàn), đó là diệt. Đây là bốn đế. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: 'trong một nhân cần thiết'.
Niyutto āvaṭṭo hāro.
The method of recurrence has been set forth.
Āvaṭṭa hāra (phương pháp luân chuyển) đã được áp dụng.