Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 10

Bản dịch

NE 10Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xoay Vần

Āvaṭṭahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xoay vần là cách nào? Điều này là: “Khi có một nền tảng, ...”

1. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng, hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật. Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy.”

“Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng” là nền tảng của tấn. “Hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật” là nền tảng của định. “Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy” là nền tảng của tuệ. “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng” là nền tảng của tấn quyền. “Hãy gắn bó vào lời dạy của đức Phật” là nền tảng của định quyền. “Các người hãy dẹp bỏ đạo binh của Thần Chết, tựa như con voi phá bỏ căn chòi bằng lau sậy” là nền tảng của tuệ quyền.” Các nền tảng này là sự chỉ bảo.

Sự nỗ lực là dành cho các chúng sanh chưa gắn bó hoặc đang gắn bó vào sự rèn luyện. Ở đấy, những người chưa gắn bó là những người có gốc rễ xao lãng. Sự xao lãng ấy có hai loại: loại có gốc rễ tham ái và loại có gốc rễ vô minh. Ở đấy, loại có gốc rễ vô minh là: Người bị bao trùm bởi vô trí không nhận biết sự kiện có thể biết được rằng: ‘Năm uẩn là pháp sanh diệt;’ đây là loại có gốc rễ vô minh. Loại có gốc rễ tham ái có ba loại: người đang tầm cầu sự sanh lên của những của cải chưa được sanh lên thì rơi vào sự xao lãng, đối với những của cải đã được sanh lên thì rơi vào sự xao lãng với hiện tướng bảo vệ và hiện tướng hưởng thụ chúng. Đây là bốn loại xao lãng ở thế gian: một loại do vô minh, ba loại do tham ái. Ở đấy, danh thân là nền tảng của vô minh, sắc thân là nền tảng của tham ái. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Là sự bám chặt ở các hiện hữu có sắc, là sự mê muội ở các hiện hữu không có sắc. Ở đấy, sắc thân là sắc uẩn, danh thân là bốn uẩn không có sắc. Năm uẩn này có các sự chấp thủ do sự chấp thủ nào? Do tham ái và do vô minh. Ở đấy, tham ái có hai sự chấp thủ: sự chấp thủ ở dục và sự chấp thủ ở giới và phận sự. Vô minh có hai sự chấp thủ: sự chấp thủ do kiến và sự chấp thủ do ngã luận thuyết. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ này là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập.

Ở đấy, sự xao lãng có gốc rễ tham ái theo ba cách là: tầm cầu sự sanh lên của những của cải chưa được sanh lên, đối với những của cải đã được sanh lên thì thực hiện sự bảo vệ, và hiện tướng hưởng thụ (chúng). Với sự hoàn toàn thấu triệt về nó, có các sự hộ trì, có các sự đề kháng; đây là chỉ tịnh. Việc ấy là như thế nào? Khi nào biết được sự hứng thú là hứng thú, sự bất lợi là bất lợi, sự thoát ra là thoát ra, sự thoái hóa, phiền não, sự thanh lọc và lợi ích của việc xuất ly đối với các dục. Ở đấy, sự thẩm xét, sự khảo sát là minh sát. Hai pháp này, chỉ tịnh và minh sát, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Trong khi hai pháp này được tu tập, hai pháp tham ái và vô minh được dứt bỏ. Trong khi hai pháp này được dứt bỏ, bốn chấp thủ được diệt tận; do sự diệt tận của hữu, có sự diệt tận của sanh; do sự diệt tận của sanh, lão, tử, sầu-bi- khổ-ưu-não được diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.

Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập, chỉ tịnh và minh sát là Đạo, sự diệt tận của hữu là Niết Bàn. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Các người hãy nỗ lực, hãy cố gắng.”

2. “Giống như khi bộ rễ vẫn chưa bị tổn hại và còn vững chắc, cội cây, mặc dầu đã bị đốn ngã, cũng vẫn đâm chồi trở lại, cũng như vậy, khi sự tiềm ẩn của tham ái chưa bị tận diệt, khổ đau này còn sanh lên đợt này này đến đợt khác.”

Đây là sự tiềm ẩn của tham ái. Của tham ái nào? Của tham ái về hữu. Vô minh là duyên của pháp này. Bởi vì do duyên vô minh, tham ái về hữu (sanh khởi). Đây là hai ô nhiễm: tham ái và vô minh. Các cái ấy là bốn sự chấp thủ. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ ấy là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập. Hành giả bứng lên hoàn toàn sự tiềm ẩn của tham ái nhờ vào chỉ tịnh, chặn đứng vô minh là duyên cho sự tiềm ẩn của tham ái nhờ vào minh sát. Hai pháp này, chỉ tịnh và minh sát, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Ở đấy, kết quả của chỉ tịnh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, kết quả của minh sát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập, chỉ tịnh và minh sát là Đạo, và hai sự giải thoát là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Giống như khi bộ rễ vẫn chưa bị tổn hại ...”

3. “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.”

Mọi điều ác gọi là ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Chúng là mười đường lối hành động bất thiện: việc sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí, tham đắm, sân hận, tà kiến. Các cái ấy là hai (loại) nghiệp: do sự cố ý và liên quan đến tâm. Ở đấy, việc sát sanh, nói đâm thọc, nói thô lỗ có sân là nguồn phát khởi; việc trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối có tham là nguồn phát khởi; việc nói nhảm nhí có si là nguồn phát khởi. Bảy hành động này là nghiệp do sự cố ý. Tham đắm là tham –gốc rễ của bất thiện, sân hận là sân – gốc rễ của bất thiện, tà kiến là con đường sai trái. Ba hành động này là nghiệp liên quan đến tâm. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Sự cố ý là nghiệp, liên quan đến tâm là nghiệp.”

Trong khi đi đến sự kết nối với (thân, khẩu), gốc rễ của bất thiện đi đến sự sai trái theo bốn cách: vì mong muốn, vì sân hận, vì si mê, vì sợ hãi. Ở đấy, người đi đến sự sai trái vì mong muốn thì tham là nguồn phát khởi, người đi đến sự sai trái vì sân hận thì sân là nguồn phát khởi, người đi đến sự sai trái vì si mê và sợ hãi thì si là nguồn phát khởi. Ở đấy, tham được dứt bỏ bởi sự bất tịnh, sân bởi từ ái, si bởi tuệ. Tương tự, tham được dứt bỏ do xả, sân do từ ái và do bi mẫn, si đi đến sự dứt bỏ, sự biến mất, do hỷ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không làm mọi điều ác.”

Mọi điều ác gọi là tám trạng thái sái quấy: tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định; điều này gọi là ‘mọi điều ác.’ Sự không hành động, không hành sự, không hành xử của tám trạng thái sái quấy này gọi là ‘không làm mọi điều ác.’ Khi tám trạng thái sái quấy được dứt bỏ thì tám trạng thái chân chánh được đạt đến. Sự có hành vi, hành động, hành xử của tám trạng thái chân chánh gọi là ‘thành tựu việc thiện.’ ‘Thanh lọc tâm của mình’ chỉ ra hành vi tu tập của Đạo Lộ thời quá khứ: Khi tâm được thanh lọc, năm uẩn được thanh lọc. Bởi vì, đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Với mục đích thanh tịnh tâm ý, này các tỳ khưu, Phạm hạnh đã được trú ở đức Như Lai.” Bởi vì sự thanh lọc có hai loại: sự dứt bỏ các pháp che lấp và sự thủ tiêu các pháp tiềm ẩn. Và hai phạm vi của sự thanh lọc là: phạm vi nhìn thấy và phạm vi tu tập. Ở đấy, thanh lọc cái nào nhờ vào sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; thanh lọc khỏi cái nào, cái ấy là Tập; thanh lọc nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái nào đã được thanh lọc, cái ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không làm mọi điều ác.”

4. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.”

Gọi là thiện pháp thì có hai loại: sự thu thúc các quyền và Đạo Lộ. Gọi là khổ cảnh thì có hai loại: so sánh với chư Thiên và nhân loại thì các đọa xứ là khổ cảnh, hoặc là so sánh với Niết Bàn thì tất cả các sự tái sanh là khổ cảnh. Ở đấy, việc hành trì không sứt mẻ ở giới thu thúc, Giáo Pháp này khéo được thực hành hộ trì khỏi các đọa xứ. Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Này các tỳ khưu, đây là hai cảnh giới dành cho người có giới: chư Thiên và loài người.” Và như vậy, ở thị trấn Nālandā, vị thôn trưởng Asibandhakaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, các vị Bà-la-môn là những người sống ở khu vực phía Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa các loài thủy thảo, ngâm mình trong nước, thờ phụng ngọn lửa; họ đánh thức người đã chết, người đã qua đời, làm cho tỉnh lại, đưa họ vào cõi Trời. Ngược lại, bạch Ngài, phải chăng đức Thế Tôn có khả năng làm cho tất cả thế gian, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này)?” “Vậy thì, này thôn trưởng, ở đây Ta sẽ hỏi ông chính điều ấy. Ông chấp nhận như thế nào thì hãy nói về điều ấy như thế ấy. Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Ở đây, một người sát sanh, trộm cắp, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí, tham đắm, sân hận, có tà kiến. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này)?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.”

“Này thôn trưởng, cũng giống như một người ném tảng đá lớn vào hồ nước sâu. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính tảng đá ấy (nói rằng): ‘Này bạn đá tảng, hãy nổi lên. Này bạn đá tảng, hãy trồi lên. Này bạn đá tảng, hãy trôi vào bờ.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà tảng đá lớn ấy có thể nổi lên, hoặc có thể trồi lên, hoặc có thể trôi vào bờ?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, tương tự y như thế, một người sát sanh, ―nt― có tà kiến, dù cho đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).’ Lúc đó, người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục. Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Ở đây, một người đã tránh xa việc sát sanh ―nt― có chánh kiến, rồi đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, cũng giống như người nhận chìm hũ bơ lỏng hoặc hũ dầu ăn vào hồ nước sâu rồi đập vỡ nó. Ở đó, miểng sành hoặc mảnh vỡ sẽ chìm xuống dưới, còn bơ lỏng hoặc dầu ăn sẽ nổi lên trên. Đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh chính bơ lỏng hoặc dầu ăn ấy (nói rằng): ‘Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy chìm xuống. Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy lặn xuống. Này bạn bơ lỏng và dầu ăn, hãy đi xuống phía dưới.’ Này thôn trưởng, ông nghĩ gì về điều ấy? Phải chăng do nhân khẩn cầu, hoặc do nhân ca ngợi, hoặc do nhân chắp tay đi vòng quanh của đám đông dân chúng mà bơ lỏng hoặc dầu ăn ấy có thể chìm xuống, hoặc có thể lặn xuống, hoặc có thể đi xuống phía dưới?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này thôn trưởng, tương tự y như thế, một người đã tránh xa việc sát sanh ―nt― có chánh kiến, dù cho đám đông dân chúng tụ hội, tụ tập lại, khẩn cầu, ca ngợi, chắp tay đi vòng quanh kẻ ấy (nói rằng): ‘Mong sao người này, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục.’ Lúc đó, người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này).” Giáo Pháp khéo được thực hành hộ trì khỏi các đọa xứ là như thế. Ở đấy, với tính chất sắc bén, với tính chất nổi trội của Đạo Lộ, Giáo Pháp này khéo được thực hành hộ trì khỏi tất cả các sự tái sanh. Đức Thế Tôn đã nói như vầy:

5. “Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ, có chánh tư duy là hành xứ, có chánh kiến đặt ở hàng đầu, sau khi biết được pháp sanh diệt, là người ngự trị dã dượi và buồn ngủ, vị tỳ khưu từ bỏ mọi khổ cảnh.”

Ở đấy, nhân của các khổ cảnh là: tham ái và vô minh. Các cái ấy là bốn sự chấp thủ. Các uẩn có sự chấp thủ với bốn sự chấp thủ ấy là Khổ. Bốn sự chấp thủ là Tập. Năm uẩn là Khổ. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp để biết toàn diện về chúng và để dứt bỏ chúng, để biết toàn diện về Khổ, để dứt bỏ Tập. Ở đấy, năm quyền có sắc là nền tảng của tham ái, ý quyền là nền tảng của vô minh. Trong khi hộ trì năm quyền có sắc, hành giả tu tập định và chế ngự tham ái. Trong khi hộ trì ý quyền, hành giả phát triển minh sát và chế ngự vô minh. Nhờ chế ngự tham ái, hai sự chấp thủ được dứt bỏ: sự chấp thủ ở dục và sự chấp thủ ở giới và phận sự. Nhờ chế ngự vô minh, hai sự chấp thủ được dứt bỏ: sự chấp thủ do kiến và sự chấp thủ do ngã luận thuyết. Khi bốn sự chấp thủ được dứt bỏ, hai pháp đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập là: chỉ tịnh và minh sát. Điều này gọi là ‘Phạm hạnh.’ Ở đấy, quả báo của Phạm hạnh là bốn quả vị Sa-môn: Quả Nhập Lưu, Quả Nhất Lai, Quả Bất Lai, phẩm vị A-la-hán là quả báo cao nhất; đây là bốn ‘quả báo của Phạm hạnh.’ Như thế, hai Chân Lý đầu là Khổ và Tập; chỉ tịnh, minh sát, và Phạm hạnh là Đạo; các quả báo của Phạm hạnh và đối tượng của nó, tức Vô Vi Giới, là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Thật vậy, thiện pháp hộ trì ...” Ở đấy, hộ trì cái nào nhờ vào sự thấu triệt, cái ấy là Khổ; hộ trì khỏi cái nào, cái ấy là Tập; hộ trì nhờ vào cái nào, cái ấy là Đạo; cái nào hộ trì, cái ấy là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Khi có một nền tảng, ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xoay Vần được kết thúc.