Bản dịch
NE 7 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Nền tảng
Padaṭṭhānahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng nền tảng là cách nào? “Đấng Chiến Thắng chỉ bảo Giáo Pháp, ...” đây là cách truyền đạt bằng nền tảng. Chỉ bảo gì? Vô minh có sự không hoàn toàn thấu triệt chính xác về tất cả các pháp là tướng trạng, (bốn) điều trái khuấy là nền tảng của nó. Tham ái có sự bám chặt là tướng trạng, vẻ đáng yêu, vẻ khoan khoái là nền tảng của nó. Tham có sự ước nguyện là tướng trạng, (ý định) trộm cắp là nền tảng của nó. Tưởng về cái đẹp có sự nắm giữ màu sắc, cử chỉ, và đặc điểm là tướng trạng, sự không thu thúc các quyền là nền tảng của nó. Tưởng về khoái lạc có sự tiếp cận xúc có lậu hoặc là tướng trạng, sự hứng thú là nền tảng của nó. Tưởng về thường còn có sự không quan sát các pháp có đặc điểm đã được tạo tác là tướng trạng, thức là nền tảng của nó. Tưởng về tự ngã có sự không quan sát tưởng về vô thường và tưởng về khổ não là tướng trạng, danh thân là nền tảng của nó.
Minh có sự hoàn toàn thấu triệt về tất cả các pháp là tướng trạng, tất cả điều-có-thể-biết là nền tảng của nó. Chỉ tịnh có sự ngăn chặn trạng thái tán loạn của tâm là tướng trạng, sự bất tịnh (tử thi, 32 thể trược) là nền tảng của nó. Vô tham có sự ngăn chặn tầm hoạt động của ước muốn là tướng trạng, sự tránh xa việc trộm cắp là nền tảng của nó. Vô sân có không sân hận là tướng trạng, sự tránh xa việc sát sanh là nền tảng của nó. Vô si có sự không thực hành sai trái trong công việc là tướng trạng, sự thực hành đúng đắn là nền tảng của nó. Tưởng về bất tịnh có sự nắm giữ trạng thái đổi màu xanh hoặc trạng thái chảy nước vàng (của xác chết) là tướng trạng, sự nhàm chán là nền tảng của nó. Tưởng về khổ có sự biết toàn diện về xúc có lậu hoặc là tướng trạng, cảm thọ là nền tảng của nó. Tưởng về vô thường có sự quan sát các pháp có đặc điểm đã được tạo tác là tướng trạng, sinh và diệt là nền tảng của nó. Tưởng về vô ngã có sự chấp chặt đối với tất cả các pháp là tướng trạng, tưởng về các pháp là nền tảng của nó.
Năm loại dục là nền tảng của sự luyến ái về dục. Năm quyền có sắc là nền tảng của sự luyến ái về sắc. Xứ thứ sáu (ý xứ) là nền tảng của sự luyến ái về hiện hữu. Trạng thái quan sát bản thể của việc sanh ra là nền tảng của năm thủ uẩn. Trí nhớ về các kiếp sống trước là nền tảng của sự biết và sự thấy.
Tín có sự tin cậy là tướng trạng và có sự hiện diện của việc hướng đến. Sự tịnh tín có sự không bị xáo trộn là tướng trạng và có sự hiện diện của sự làm cho trong sạch. Tín có sự phó thác là tướng trạng, sự tịnh tín bất động là nền tảng của nó. Sự tịnh tín có sự không bị xáo trộn là tướng trạng, tín là nền tảng của nó. Tinh tấn có sự ra sức là tướng trạng, chánh cần là nền tảng của nó. Niệm có sự không lơ là là tướng trạng, sự thiết lập niệm là nền tảng của nó. Định có sự chuyên nhất là tướng trạng, các tầng thiền là nền tảng của nó. Tuệ có sự nhận biết rõ là tướng trạng, các Chân Lý là nền tảng của nó.
Sự hướng dẫn khác: Tác ý không đúng đường lối có sự tác ý vào sự hứng thú là tướng trạng, vô minh là nền tảng của nó. Vô minh có sự mê muội về (bốn) Chân Lý là tướng trạng, nó là nền tảng của các hành. Các hành có sự làm gia tăng sự hiện hữu lại nữa là tướng trạng, chúng là nền tảng của thức. Thức có sự sanh ra liên quan đến tái sanh là tướng trạng, nó là nền tảng của danh sắc. Danh sắc có sự liên kết của danh thân và sắc thân là tướng trạng, nó là nền tảng của sáu xứ. Sáu xứ có sự khẳng định (sáu) giác quan là tướng trạng, nó là nền tảng của xúc. Xúc có sự hội hợp của mắt, cảnh sắc, và thức là tướng trạng, nó là nền tảng của thọ. Thọ có sự chấp nhận điều ước muốn hoặc không ước muốn là tướng trạng, nó là nền tảng của ái. Ái có sự bám chặt là tướng trạng, nó là nền tảng của thủ. Thủ có sự liên quan đến tái sanh, nó là nền tảng của hữu. Hữu có sự hình thành danh thân và sắc thân là tướng trạng, nó là nền tảng của sanh. Sanh có sự xuất hiện của các uẩn là tướng trạng, nó là nền tảng của già. Già có sự chín muồi của mầm tái sanh là tướng trạng, nó là nền tảng của chết. Chết có sự cắt đứt mạng quyền là tướng trạng, nó là nền tảng của sầu muộn. Sầu muộn là yếu tố tạo ra sự bực bội, nó là nền tảng của than vãn. Than vãn là yếu tố tạo ra sự nói lảm nhảm, nó là nền tảng của khổ đau. Khổ đau là sự ép bức thân, nó là nền tảng của ưu phiền. Ưu phiền là sự ép bức tâm, nó là nền tảng của lo âu. Lo âu là yếu tố tạo ra sự đốt nóng, nó là nền tảng của hữu. Các chi phần của hữu này khi được hợp nhất và sanh lên, đó là hữu, nó là nền tảng của luân hồi.
Đạo có sự dẫn dắt ra khỏi là tướng trạng, nó là nền tảng của Diệt. Việc biết về bến nước là nền tảng của việc biết được uống nước. Việc biết được uống nước là nền tảng của việc biết sự chừng mực. Việc biết sự chừng mực là nền tảng của việc biết về bản thân. Việc biết về bản thân là nền tảng của việc đã làm phước thiện trong quá khứ. Việc đã làm phước thiện trong quá khứ là nền tảng của việc cư ngụ ở địa phương thích hợp. Việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là nền tảng của việc hầu cận bậc chân nhân. Việc hầu cận bậc chân nhân là nền tảng của việc quyết định đúng đắn cho bản thân. Việc quyết định đúng đắn cho bản thân là nền tảng của các giới. Các giới là nền tảng của sự không hối hận. Sự không hối hận là nền tảng của sự hân hoan. Sự hân hoan là nền tảng của hỷ. Hỷ là nền tảng của tịnh. Tịnh là nền tảng của lạc. Lạc là nền tảng của định. Định là nền tảng của sự biết và thấy đúng theo thực thể. Sự biết và thấy đúng theo thực thể là nền tảng của nhàm chán. Nhàm chán là nền tảng của việc xa lìa tham ái. Xa lìa tham ái là nền tảng của việc giải thoát. Giải thoát là nền tảng của sự biết và sự thấy về giải thoát. Như vậy, bất cứ điều gì là sự nâng đỡ nào, bất cứ điều gì là duyên cớ, mọi điều ấy đều là nền tảng. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Đấng Chiến Thắng chỉ bảo Giáo Pháp, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Nền Tảng được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
22. Tattha katamo padaṭṭhāno hāro? ‘‘Dhammaṃ deseti jino’’ti, ayaṃ padaṭṭhāno hāro. Kiṃ deseti? Sabbadhammayāthāvaasampaṭivedhalakkhaṇā avijjā, tassā vipallāsā padaṭṭhānaṃ. Ajjhosānalakkhaṇā taṇhā, tassā piyarūpaṃ sātarūpaṃ padaṭṭhānaṃ. Patthanalakkhaṇo lobho, tassa adinnādānaṃ padaṭṭhānaṃ. Vaṇṇasaṇṭhānabyañjanaggahaṇalakkhaṇā subhasaññā, tassā indriyā saṃvaro padaṭṭhānaṃ. Sāsavaphassaupagamanalakkhaṇā sukhasaññā, tassā assādo padaṭṭhānaṃ. Saṅkhatalakkhaṇānaṃ dhammānaṃ asamanupassanalakkhaṇā niccasaññā, tassā viññāṇaṃ padaṭṭhānaṃ. Aniccasaññādukkhasaññāasamanupassanalakkhaṇā attasaññā, tassā nāmakāyo padaṭṭhānaṃ. Sabbadhammasampaṭivedhalakkhaṇā vijjā, tassā sabbaṃ neyyaṃ padaṭṭhānaṃ. Cittavikkhepapaṭisaṃharaṇalakkhaṇo samatho, tassa asubhā padaṭṭhānaṃ. Icchāvacarapaṭisaṃharaṇalakkhaṇo alobho, tassa adinnādānā veramaṇī † padaṭṭhānaṃ. Abyāpajjalakkhaṇo adoso, tassa pāṇātipātā veramaṇī padaṭṭhānaṃ. Vatthuavippaṭipattilakkhaṇo † amoho, tassa sammāpaṭipatti padaṭṭhānaṃ. Vinīlakavipubbakagahaṇalakkhaṇā asubhasaññā, tassā nibbidā padaṭṭhānaṃ. Sāsavaphassaparijānanalakkhaṇā dukkhasaññā, tassā vedanā padaṭṭhānaṃ. Saṅkhatalakkhaṇānaṃ dhammānaṃ samanupassanalakkhaṇā aniccasaññā, tassā uppādavayā padaṭṭhānaṃ. Sabbadhammaabhinivesalakkhaṇā anattasaññā, tassā dhammasaññā padaṭṭhānaṃ.
4. Herein, what is the method of proximate causes? "The Victor teaches the Dhamma"—this is the method of proximate causes. What does he teach? Ignorance, characterized by the non-penetration of all phenomena as they really are, has the four distortions as its proximate cause. Craving, characterized by devouring, has what is dear and agreeable as its proximate cause. Greed, characterized by longing, has taking what is not given as its proximate cause. The perception of beauty, characterized by grasping color, form, and signs, has non-restraint of the senses as its proximate cause. The perception of pleasure, characterized by encountering tainted contact, has gratification as its proximate cause. The perception of permanence, characterized by not properly observing conditioned phenomena, has consciousness as its proximate cause. The perception of self, characterized by not properly observing the perception of impermanence and the perception of suffering, has the mental body as its proximate cause. Knowledge, characterized by the penetration of all phenomena, has all that is to be known as its proximate cause. Serenity, characterized by restraining mental distraction, has the unattractive as its proximate cause. Non-greed, characterized by restraining desire, has abstaining from taking what is not given as its proximate cause. Non-hatred, characterized by non-ill will, has abstaining from killing living beings as its proximate cause. Non-delusion, characterized by correctly understanding the nature of things, has right practice as its proximate cause. The perception of the unattractive, characterized by grasping the blue, the festering, and the bursting, has disenchantment as its proximate cause. The perception of suffering, characterized by fully understanding tainted contact, has feeling as its proximate cause. The perception of impermanence, characterized by properly observing conditioned phenomena, has arising and passing away as its proximate cause. The perception of non-self, characterized by non-adherence to all phenomena, has the perception of phenomena as its proximate cause.
22. Trong số đó, phương pháp Nhân Cận là gì? ‘Bậc Chiến Thắng thuyết Pháp,’ đây là phương pháp Nhân Cận. Ngài thuyết gì? Vô minh có đặc tính không thông suốt như thật tất cả các pháp, nhân cận của nó là các điên đảo. Tham ái có đặc tính nuốt chửng, nhân cận của nó là sắc khả ái, sắc khả ý. Tham có đặc tính mong cầu, nhân cận của nó là sự lấy của không cho. Tịnh tưởng có đặc tính nắm bắt màu sắc, hình dáng, và tướng mạo, nhân cận của nó là sự không phòng hộ các căn. Lạc tưởng có đặc tính đi đến xúc hữu lậu, nhân cận của nó là sự hưởng thụ. Thường tưởng có đặc tính không quán xét các pháp có đặc tính hữu vi, nhân cận của nó là thức. Ngã tưởng có đặc tính không quán xét tưởng về vô thường và tưởng về khổ, nhân cận của nó là danh thân. Minh có đặc tính thông suốt tất cả các pháp, nhân cận của nó là tất cả những gì cần được biết. Chỉ có đặc tính dẹp trừ sự phóng dật của tâm, nhân cận của nó là (quán) bất tịnh. Vô tham có đặc tính dẹp trừ sự buông thả theo dục vọng, nhân cận của nó là sự từ bỏ lấy của không cho. Vô sân có đặc tính không sân hận, nhân cận của nó là sự từ bỏ sát sanh. Vô si có đặc tính không sai lầm về thực tại, nhân cận của nó là sự thực hành chân chánh. Tưởng về bất tịnh, nhân cận của nó là sự nhàm chán. Tưởng về khổ có đặc tính liễu tri xúc hữu lậu, nhân cận của nó là khổ. Tưởng về vô thường có đặc tính quán xét các pháp có đặc tính hữu vi, nhân cận của nó là sự sanh diệt. Tưởng về vô ngã có đặc tính không chấp thủ tất cả các pháp, nhân cận của nó là tưởng về các pháp.
Pañca kāmaguṇā kāmarāgassa padaṭṭhānaṃ, pañcindriyāni rūpīni rūparāgassa padaṭṭhānaṃ, chaṭṭhāyatanaṃ bhavarāgassa padaṭṭhānaṃ, nibbattabhavānupassitā pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ padaṭṭhānaṃ, pubbenivāsānussatiñāṇadassanassa padaṭṭhānaṃ. Okappanalakkhaṇā saddhā adhimuttipaccupaṭṭhānā ca, anāvilalakkhaṇo pasādo sampasīdanapaccupaṭṭhāno ca. Abhipatthiyanalakkhaṇā saddhā, tassā aveccapasādo padaṭṭhānaṃ. Anāvilalakkhaṇo pasādo, tassa saddhā padaṭṭhānaṃ. Ārambhalakkhaṇaṃ vīriyaṃ, tassa sammappadhānaṃ padaṭṭhānaṃ. Apilāpanalakkhaṇā sati, tassā satipaṭṭhānaṃ padaṭṭhānaṃ. Ekaggalakkhaṇo samādhi, tassa jhānāni padaṭṭhānaṃ. Pajānanalakkhaṇā paññā, tassā saccāni padaṭṭhānaṃ.
The five strands of sensual pleasure are the proximate cause of sensual desire. The five physical sense faculties are the proximate cause of desire for form. The sixth sense base is the proximate cause of desire for existence. Delight in the process of coming into being is the proximate cause of the five clinging-aggregates. The state of having made merit in the past is the proximate cause of knowledge and vision. Faith has the characteristic of conviction and has resolve as its manifestation. Confidence has the characteristic of clarity and has serene confidence as its manifestation. Faith has the characteristic of aspiration, and unwavering confidence is its proximate cause. Confidence has the characteristic of clarity, and faith is its proximate cause. Energy has the characteristic of exertion, and right exertion is its proximate cause. Mindfulness has the characteristic of non-wavering, and the establishments of mindfulness are its proximate cause. Concentration has the characteristic of one-pointedness, and the jhānas are its proximate cause. Wisdom has the characteristic of discerning, and the truths are its proximate cause.
Năm dục trưởng dưỡng là nhân cận của dục ái. Năm căn có sắc là nhân cận của sắc ái. Xứ thứ sáu là nhân cận của hữu ái. Sự quán xét đời sống hiện hữu là nhân cận của năm thủ uẩn. Việc tạo phước trong quá khứ là nhân cận của trí kiến. Tín có đặc tính tin tưởng và có sự quyết đoán là hiện trạng; tịnh tín có đặc tính không vẩn đục và có sự trong sạch là hiện trạng. Tín có đặc tính mong mỏi, nhân cận của nó là niềm tin bất động. Tịnh tín có đặc tính không vẩn đục, nhân cận của nó là tín. Tấn có đặc tính khởi sự, nhân cận của nó là chánh cần. Niệm có đặc tính không trôi nổi, nhân cận của nó là niệm xứ. Định có đặc tính nhất tâm, nhân cận của nó là các thiền. Tuệ có đặc tính biết rõ, nhân cận của nó là các sự thật.
Aparo nayo, assādamanasikāralakkhaṇo ayonisomanasikāro, tassa avijjā padaṭṭhānaṃ. Saccasammohanalakkhaṇā avijjā, sā saṅkhārānaṃ padaṭṭhānaṃ. Punabbhavavirohaṇalakkhaṇā saṅkhārā, te † viññāṇassa padaṭṭhānaṃ. Opapaccayikanibbattilakkhaṇaṃ viññāṇaṃ, taṃ nāmarūpassa padaṭṭhānaṃ. Nāmakāyarūpakāyasaṅghātalakkhaṇaṃ nāmarūpaṃ, taṃ chaḷāyatanassa padaṭṭhānaṃ. Indriyavavatthānalakkhaṇaṃ chaḷāyatanaṃ, taṃ phassassa padaṭṭhānaṃ. Cakkhurūpaviññāṇasannipātalakkhaṇo phasso, so vedanāya padaṭṭhānaṃ. Iṭṭhāniṭṭhaanubhavanalakkhaṇā vedanā, sā taṇhāya padaṭṭhānaṃ. Ajjhosānalakkhaṇā taṇhā, sā upādānassa padaṭṭhānaṃ. Opapaccayikaṃ upādānaṃ, taṃ bhavassa padaṭṭhānaṃ. Nāmakāyarūpakāyasambhavanalakkhaṇo bhavo, so jātiyā padaṭṭhānaṃ. Khandhapātubhavanalakkhaṇā jāti, sā jarāya padaṭṭhānaṃ. Upadhiparipākalakkhaṇā jarā, sā maraṇassa padaṭṭhānaṃ. Jīvitindriyupacchedalakkhaṇaṃ maraṇaṃ, taṃ sokassa padaṭṭhānaṃ. Ussukkakārako soko, so paridevassa padaṭṭhānaṃ. Lālappakārako paridevo, so dukkhassa padaṭṭhānaṃ. Kāyasaṃpīḷanaṃ dukkhaṃ, taṃ domanassassa padaṭṭhānaṃ. Cittasaṃpīḷanaṃ domanassaṃ, taṃ upāyāsassa padaṭṭhānaṃ. Odahanakārako upāyāso, so bhavassa padaṭṭhānaṃ. Imāni bhavaṅgāni yadā samaggāni nibbattāni bhavanti so bhavo, taṃ saṃsārassa padaṭṭhānaṃ. Niyyānikalakkhaṇo maggo, so nirodhassa padaṭṭhānaṃ.
Another method: Unwise attention has the characteristic of attending with gratification, and ignorance is its proximate cause. Ignorance has the characteristic of delusion regarding the truths, and it is the proximate cause of volitional formations. Volitional formations have the characteristic of generating renewed existence, and they are the proximate cause of consciousness. Consciousness has the characteristic of arising through rebirth, and it is the proximate cause of name-and-form. Name-and-form has the characteristic of being the combination of the mental body and the physical body, and it is the proximate cause of the six sense bases. The six sense bases have the characteristic of defining the sense faculties, and they are the proximate cause of contact. Contact has the characteristic of the confluence of eye, form, and eye-consciousness, and it is the proximate cause of feeling. Feeling has the characteristic of experiencing the desirable and undesirable, and it is the proximate cause of craving. Craving has the characteristic of devouring, and it is the proximate cause of clinging. Clinging is the proximate cause of existence. Existence has the characteristic of the coming into being of the mental body and the physical body, and it is the proximate cause of birth. Birth has the characteristic of the appearance of the aggregates, and it is the proximate cause of aging. Aging has the characteristic of the ripening of the substratum of existence, and it is the proximate cause of death. Death has the characteristic of the cutting off of the life faculty, and it is the proximate cause of sorrow. Sorrow is that which causes anxiety, and it is the proximate cause of lamentation. Lamentation is that which causes wailing, and it is the proximate cause of suffering. Suffering is the affliction of the body, and it is the proximate cause of grief. Grief is the affliction of the mind, and it is the proximate cause of despair. Despair is that which causes intense burning, and it is the proximate cause of existence. When these factors of existence are concordant and have arisen, that is existence, and it is the proximate cause of saṃsāra. The path has the characteristic of leading out, and it is the proximate cause of cessation.
Một phương pháp khác: Tác ý không như lý có đặc tính là tác ý đến sự khoái lạc, vô minh là nhân gần của nó. Vô minh có đặc tính là mê mờ về các chân lý, nó là nhân gần của các hành. Các hành có đặc tính là làm nảy mầm trong đời sống mới, chúng là nhân gần của thức. Thức có đặc tính là sự sinh khởi của hóa sanh, nó là nhân gần của danh sắc. Danh sắc có đặc tính là sự kết hợp của thân danh và thân sắc, nó là nhân gần của sáu xứ. Sáu xứ có đặc tính là sự phân định các quyền, nó là nhân gần của xúc. Xúc có đặc tính là sự hội hợp của nhãn, sắc và nhãn thức, nó là nhân gần của thọ. Thọ có đặc tính là sự cảm nghiệm điều khả ý và không khả ý, nó là nhân gần của ái. Ái có đặc tính là sự nuốt chửng, nó là nhân gần của thủ. Thủ là hóa sanh, nó là nhân gần của hữu. Hữu có đặc tính là sự phát sinh của thân danh và thân sắc, nó là nhân gần của sanh. Sanh có đặc tính là sự xuất hiện của các uẩn, nó là nhân gần của già. Già có đặc tính là sự chín muồi của các chấp thủ, nó là nhân gần của chết. Chết có đặc tính là sự đoạn tuyệt của mạng quyền, nó là nhân gần của sầu. Sầu là cái tạo ra sự lo âu, nó là nhân gần của bi. Bi là cái tạo ra sự than khóc, nó là nhân gần của khổ. Khổ là sự bức bách của thân, nó là nhân gần của ưu. Ưu là sự bức bách của tâm, nó là nhân gần của não. Não là cái tạo ra sự thiêu đốt, nó là nhân gần của hữu. Khi các chi phần của hữu này hòa hợp và được thành tựu, đó là hữu, nó là nhân gần của luân hồi. Đạo có đặc tính là sự xuất ly, nó là nhân gần của sự diệt.
Titthaññutā pītaññutāya padaṭṭhānaṃ, pītaññutā pattaññutāya † padaṭṭhānaṃ, pattaññutā attaññutāya padaṭṭhānaṃ, attaññutā pubbekatapuññatāya padaṭṭhānaṃ, pubbekatapuññatā patirūpadesavāsassa padaṭṭhānaṃ, patirūpadesavāso sappurisūpanissayassa padaṭṭhānaṃ, sappurisūpanissayo attasammāpaṇidhānassa padaṭṭhānaṃ, attasammāpaṇidhānaṃ sīlānaṃ padaṭṭhānaṃ, sīlāni avippaṭisārassa padaṭṭhānaṃ, avippaṭisāro pāmojjassa padaṭṭhānaṃ, pāmojjaṃ pītiyā padaṭṭhānaṃ, pīti passaddhiyā padaṭṭhānaṃ, passaddhi sukhassa padaṭṭhānaṃ, sukhaṃ samādhissa padaṭṭhānaṃ, samādhi yathābhūtañāṇadassanassa padaṭṭhānaṃ, yathābhūtañāṇadassanaṃ nibbidāya padaṭṭhānaṃ, nibbidā virāgassa padaṭṭhānaṃ, virāgo vimuttiyā padaṭṭhānaṃ. Vimutti vimuttiñāṇadassanassa padaṭṭhānaṃ. Evaṃ yo koci upanissayo yo koci paccayo, sabbo so padaṭṭhānaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘dhammaṃ deseti jino’’ti.
Knowing through association with a learned good friend is the proximate cause for knowing the joy connected with the Dhamma. Knowing the joy connected with the Dhamma is the proximate cause for knowing the measure of the meditation subject. Knowing the measure of the meditation subject is the proximate cause for knowing one's own endowment with the factors for striving. Knowing one's own endowment with the factors for striving is the proximate cause for knowing of previously made merit. Knowing of previously made merit is the proximate cause of dwelling in a suitable region. Dwelling in a suitable region is the proximate cause of relying upon a good person. Relying upon a good person is the proximate cause of rightly directing oneself. Rightly directing oneself is the proximate cause of virtues. Virtues are the proximate cause of gladness of heart. Gladness of heart is the proximate cause of tender joy. Tender joy is the proximate cause of mature joy. Mature joy is the proximate cause of tranquility. Tranquility is the proximate cause of happiness. Happiness is the proximate cause of concentration. Concentration is the proximate cause of the knowledge and vision of things as they are. The knowledge and vision of things as they are is the proximate cause of disenchantment. Disenchantment is the proximate cause of the path. The path is the proximate cause of liberation. Liberation is the proximate cause of the knowledge and vision of reviewing. Thus, whatever strong cause or whatever remaining cause there may be, all that is a proximate cause. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said, 'The Victor teaches the Dhamma.'
Sự biết các bến đỗ là nhân gần của sự biết điều đã thấm nhuần, sự biết điều đã thấm nhuần là nhân gần của sự biết điều đã đạt được, sự biết điều đã đạt được là nhân gần của sự biết mình, sự biết mình là nhân gần của việc có công đức đã làm từ trước, việc có công đức đã làm từ trước là nhân gần của việc sống ở nơi thích hợp, việc sống ở nơi thích hợp là nhân gần của việc thân cận bậc chân nhân, việc thân cận bậc chân nhân là nhân gần của việc tự mình hướng đến điều chân chánh, việc tự mình hướng đến điều chân chánh là nhân gần của các giới, các giới là nhân gần của sự không hối hận, sự không hối hận là nhân gần của sự hân hoan, sự hân hoan là nhân gần của hỷ, hỷ là nhân gần của khinh an, khinh an là nhân gần của lạc, lạc là nhân gần của định, định là nhân gần của tri kiến như thật, tri kiến như thật là nhân gần của sự nhàm chán, sự nhàm chán là nhân gần của sự ly tham, sự ly tham là nhân gần của giải thoát. Giải thoát là nhân gần của tri kiến giải thoát. Như vậy, bất cứ cận y duyên nào, bất cứ duyên nào, tất cả đều là nhân gần. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: 'Bậc Chiến Thắng thuyết Pháp'.
Niyutto padaṭṭhāno hāro.
The method of proximate causes is concluded.
Hàra về nhân gần đã được trình bày.