Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 6

Bản dịch

NE 6Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Kết Nối

Yuttihāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự kết nối là cách nào? “Trong số tất cả các cách truyền đạt, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối. Kết nối với cái gì? Bốn y cứ chính: y cứ vào đức Phật, y cứ vào hội chúng, y cứ vào nhiều vị trưởng lão, y cứ vào một vị trưởng lão; đây là bốn y cứ chính. Các thuật ngữ và văn tự ấy nên được đối chiếu ở Kinh, nên được xem xét ở Luật, nên được xếp theo các đặc tính của pháp. Chúng nên được đối chiếu ở Kinh nào? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng. Chúng nên được xem xét ở Luật (sự trừ diệt) nào? Ở sự trừ diệt luyến ái, ở sự trừ diệt sân hận, ở sự trừ diệt si mê. Chúng nên được xếp theo các đặc tính nào của pháp? Ở sự tùy thuận sanh khởi. Nếu điều gì được xếp vào bốn Chân Lý Cao Thượng, được thấy ở sự trừ diệt các ô nhiễm, không trái nghịch với đặc tính của pháp, như vậy nó không làm sanh ra các lậu hoặc. Mỗi một điều gì được kết nối với bốn y cứ chính, được kết nối bằng cách nào, được kết nối như thế nào, mỗi một điều ấy đều nên được nắm lấy.

Người được hỏi câu hỏi nên thâm nhập, nên tìm hiểu câu hỏi theo từng đoạn kệ rằng: “Câu hỏi có bao nhiêu đoạn kệ?” Nếu tất cả các đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu bốn đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu ba đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu hai đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu một đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Điều ấy nên được nhận biết bởi người khảo sát (rằng): “Phải chăng các điều này có ý nghĩa khác nhau có văn tự khác nhau, hay là các điều này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự lại khác nhau? Là giống như điều gì? Giống như vị Thiên tử ấy hỏi đức Thế Tôn câu hỏi rằng:

1. “Thế gian bị hành hạ bởi điều gì, bị vây quanh bởi điều gì, bị áp chế bởi điều gì, luôn luôn bị thiêu đốt bởi điều gì?” Bốn đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là ba câu hỏi. Được nhận biết như thế nào? Bởi vì đức Thế Tôn đã trả lời vị Thiên nhân rằng:

2. “Thế gian bị hành hạ bởi sự chết, bị vây quanh bởi sự già, bị áp chế bởi mũi tên tham ái, luôn luôn bị thiêu đốt bởi ước muốn.”

Ở đấy, già và chết, đây là hai tướng trạng tạo tác của pháp hữu vi; già là trạng thái biến đổi của vật đang được tồn tại, chết là sự hoại diệt. Ở đấy, có trạng thái khác biệt về ý nghĩa của già và chết. Bởi lý do gì? Bởi vì các chúng sanh ở bào thai bị chết nhưng chúng chưa bị già, và có cái chết đối với các vị Thiên nhân nhưng thân thể của các vị ấy không già. Có thể thực hiện việc đối phó với già, tuy nhiên không thể nào thực hiện việc đối phó với chết, trừ phi là lãnh vực thần thông của những vị có thần thông. Hơn nữa, về điều đã nói rằng: “Bị áp chế bởi mũi tên tham ái,” được thấy rằng những vị đã xa lìa luyến ái cũng bị già, cũng bị chết. Nếu già chết là tương tự như tham ái, thì trong khi là như vậy, tất cả những người ở tuổi thanh niên cũng có thể là những người đã xa lìa luyến ái; và giống như tham ái là Khổ Tập, như vậy già chết cũng có thể là Khổ Tập; và tham ái có thể không là Khổ Tập bởi vì già chết không là Khổ Tập, (nhưng) tham ái là Khổ Tập; và tham ái bị tiêu diệt bởi Đạo như thế nào thì già chết cũng bị tiêu diệt bởi Đạo như vậy. Bằng cách kết nối này, nên tìm tòi với những lý do khác. Nếu việc áp dụng sự kết nối và tính chất khác biệt về ý nghĩa được thấy rõ thì cũng nên tìm tòi thêm về văn tự: có sự đồng nhất về ý nghĩa của hai pháp này: hoặc là “mũi tên” hoặc là “sự thiêu đốt,” không có tính chất khác biệt về ý nghĩa của ước muốn và tham ái bởi vì được kết nối. Trong khi chủ ý của tham ái không được thỏa mãn, có sự giận dữ và thù hằn sanh khởi theo chín sự việc gây oán thù. Bằng cách kết nối này, có tính chất khác biệt về ý nghĩa của già, của chết, và của tham ái. Hơn nữa, điều này đã được đức Thế Tôn trình bày bằng hai tên gọi “ước muốn” và “tham ái,” điều này đã được đức Thế Tôn trình bày theo tác động về đối tượng của các vật ngoại phần bằng hai tên gọi “ước muốn” và “tham ái.” Bởi vì mọi tham ái có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt. Giống như mọi ngọn lửa có cùng một tướng trạng với tướng trạng là trạng thái nóng nực, tuy nhiên nó nhận được các tên gọi tương đương theo theo tác động về nhiên liệu là: “lửa củi,” “lửa cỏ,” “lửa than đá,” “lửa phân bò,” “lửa trấu,” “lửa rác,” bởi vì mọi ngọn lửa đều có tướng trạng là trạng thái nóng nực, tương tự như vậy, mọi tham ái đều có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt, nhưng được trình bày với các tên gọi tương đương theo tác động về nhiên liệu của đối tượng là: “ước muốn,” “tham ái,” “mũi tên,” “sự thiêu đốt,” “sự cuốn trôi,” “sự vướng mắc,” “sự thương yêu,” “sự mệt nhọc,” “sự quấn lấy,” “biểu hiện của ngã mạn,” “sự trói buộc,” “sự mong mỏi,” “sự khao khát,” “sự thích thú.” Bởi vì mọi tham ái có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt. Và giống như đã được đề cập ở từ đồng nghĩa:

3. “Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên (tham ái) đã được thiết lập ở nhiều yếu tố, đã khởi tham muốn, có gốc rễ và nguồn phát khởi từ sự không biết, tất cả cùng gốc rễ đã được Ta làm chấm dứt.” Điều này là đồng nghĩa với tham ái, giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này Tissa, đối với người đã xa lìa luyến ái, đã xa lìa mong muốn, đã xa lìa sự yêu thương, đã xa lìa sự khao khát, đã xa lìa sự nồng nhiệt, đã xa lìa tham ái ở sắc, (tương tự) đối với người đã xa lìa luyến ái, đã xa lìa mong muốn, đã xa lìa sự yêu thương, đã xa lìa sự khao khát, đã xa lìa sự nồng nhiệt, đã xa lìa tham ái ở thọ ―nt― ở tưởng ―nt― ở các hành ―nt― ở thức, (toàn bộ bài Kinh nên được giảng giải chi tiết).” Điều này là đồng nghĩa với tham ái, và được kết nối như vậy. Mọi phát khởi của khổ có sự tạo tác của tham ái về dục là gốc rễ, trái lại mọi phát khởi của nhàm chán có sự cần thiết của tham ái về dục là gốc rễ thì không được kết nối. Bằng cách kết nối này, nên tìm tòi với những lý do khác. Giống như đức Thế Tôn chỉ bảo về đề mục tử thi cho người có tánh luyến ái, đức Thế Tôn chỉ bảo về từ ái cho người có tánh sân hận, đức Thế Tôn chỉ bảo về pháp tùy thuận sanh khởi cho người có tánh si mê, bởi vì nếu đức Thế Tôn chỉ bảo về sự giải thoát của tâm thông qua từ ái, chỉ bảo về lối thực hành thoải mái có thắng trí chậm chạp, hoặc là lối thực hành thoải mái có thắng trí mau chóng, hoặc là sự dứt bỏ có minh sát đi trước cho người có tánh luyến ái, sự chỉ bảo không được kết nối. Như vậy, bất cứ điều gì có sự dứt bỏ phù hợp của luyến ái, có sự dứt bỏ phù hợp của sân hận, có sự dứt bỏ phù hợp của si mê, sau khi tìm hiểu mọi điều ấy bằng cách truyền đạt tìm hiểu, nên gắn bó với cách truyền đạt kết nối tùy theo phạm vi của trí. “Đối với vị đang trú tâm từ, sân hận sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “sân hận đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm bi, sự hãm hại sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “sự hãm hại đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm hỷ, bất mãn sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “bất mãn đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm xả, luyến ái sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “luyến ái đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú vô tướng, thức của vị ấy, có sự hồi tưởng về hiện tướng, vận hành bởi hiện tướng này khác” là sự chỉ bảo không được kết nối, “hiện tướng đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Khi (ý nghĩ) ‘Tôi là’ đã được xa lìa, tôi không nhận thấy rằng: ‘Tôi là cái này.’ Và hơn nữa, mũi tên hoài nghi và nghi hoặc rằng: ‘Tôi là ai?’ ‘Tôi là thế nào’ sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “mũi tên hoài nghi và nghi hoặc đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. Hoặc là, giống như đối với vị đang thể nhập sơ thiền, “sự luyến ái về dục và sân hận vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối; hoặc là, “tưởng và tác ý đồng hành với vô tầm vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối.

“Đối với vị đang thể nhập nhị thiền, tưởng và tác ý đồng hành với tầm và tứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với xả và lạc vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập tam thiền, tưởng và tác ý đồng hành với hỷ và lạc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với sự thanh tịnh của xả và niệm vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập tứ thiền, tưởng và tác ý đồng hành với xả và lạc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối. “Tưởng và tác ý đồng hành với không vô biên xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập không vô biên xứ, tưởng và tác ý đồng hành với sắc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với thức vô biên xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập thức vô biên xứ, tưởng và tác ý đồng hành với không vô biên xứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với vô sở hữu xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập vô sở hữu xứ, tưởng và tác ý đồng hành với thức vô biên xứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với phi tưởng phi phi tưởng xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, các sự tiếp cận tưởng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với sự diệt tận của thọ và tưởng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. “Tâm đã được rèn luyện đúng đắn không kham nổi nguyện vọng” là sự chỉ bảo không được kết nối, còn “Tâm đã được rèn luyện đúng đắn kham nổi nguyện vọng” là sự chỉ bảo được kết nối. Như vậy, sau khi tìm hiểu toàn bộ chín thể loại của Kinh đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của bậc Đạo Sư một cách toàn diện với cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu, nên gắn bó với cách truyền đạt bằng sự kết nối. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Trong số tất cả các cách truyền đạt, phạm vi và hành xứ của chúng ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Kết Nối được kết thúc.