Bản dịch
NE 6 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Kết Nối
Yuttihāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự kết nối là cách nào? “Trong số tất cả các cách truyền đạt, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự kết nối. Kết nối với cái gì? Bốn y cứ chính: y cứ vào đức Phật, y cứ vào hội chúng, y cứ vào nhiều vị trưởng lão, y cứ vào một vị trưởng lão; đây là bốn y cứ chính. Các thuật ngữ và văn tự ấy nên được đối chiếu ở Kinh, nên được xem xét ở Luật, nên được xếp theo các đặc tính của pháp. Chúng nên được đối chiếu ở Kinh nào? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng. Chúng nên được xem xét ở Luật (sự trừ diệt) nào? Ở sự trừ diệt luyến ái, ở sự trừ diệt sân hận, ở sự trừ diệt si mê. Chúng nên được xếp theo các đặc tính nào của pháp? Ở sự tùy thuận sanh khởi. Nếu điều gì được xếp vào bốn Chân Lý Cao Thượng, được thấy ở sự trừ diệt các ô nhiễm, không trái nghịch với đặc tính của pháp, như vậy nó không làm sanh ra các lậu hoặc. Mỗi một điều gì được kết nối với bốn y cứ chính, được kết nối bằng cách nào, được kết nối như thế nào, mỗi một điều ấy đều nên được nắm lấy.
Người được hỏi câu hỏi nên thâm nhập, nên tìm hiểu câu hỏi theo từng đoạn kệ rằng: “Câu hỏi có bao nhiêu đoạn kệ?” Nếu tất cả các đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu bốn đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu ba đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu hai đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Nếu một đoạn kệ đề cập một ý nghĩa, thì đó là một câu hỏi. Điều ấy nên được nhận biết bởi người khảo sát (rằng): “Phải chăng các điều này có ý nghĩa khác nhau có văn tự khác nhau, hay là các điều này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự lại khác nhau? Là giống như điều gì? Giống như vị Thiên tử ấy hỏi đức Thế Tôn câu hỏi rằng:
1. “Thế gian bị hành hạ bởi điều gì, bị vây quanh bởi điều gì, bị áp chế bởi điều gì, luôn luôn bị thiêu đốt bởi điều gì?” Bốn đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là ba câu hỏi. Được nhận biết như thế nào? Bởi vì đức Thế Tôn đã trả lời vị Thiên nhân rằng:
2. “Thế gian bị hành hạ bởi sự chết, bị vây quanh bởi sự già, bị áp chế bởi mũi tên tham ái, luôn luôn bị thiêu đốt bởi ước muốn.”
Ở đấy, già và chết, đây là hai tướng trạng tạo tác của pháp hữu vi; già là trạng thái biến đổi của vật đang được tồn tại, chết là sự hoại diệt. Ở đấy, có trạng thái khác biệt về ý nghĩa của già và chết. Bởi lý do gì? Bởi vì các chúng sanh ở bào thai bị chết nhưng chúng chưa bị già, và có cái chết đối với các vị Thiên nhân nhưng thân thể của các vị ấy không già. Có thể thực hiện việc đối phó với già, tuy nhiên không thể nào thực hiện việc đối phó với chết, trừ phi là lãnh vực thần thông của những vị có thần thông. Hơn nữa, về điều đã nói rằng: “Bị áp chế bởi mũi tên tham ái,” được thấy rằng những vị đã xa lìa luyến ái cũng bị già, cũng bị chết. Nếu già chết là tương tự như tham ái, thì trong khi là như vậy, tất cả những người ở tuổi thanh niên cũng có thể là những người đã xa lìa luyến ái; và giống như tham ái là Khổ Tập, như vậy già chết cũng có thể là Khổ Tập; và tham ái có thể không là Khổ Tập bởi vì già chết không là Khổ Tập, (nhưng) tham ái là Khổ Tập; và tham ái bị tiêu diệt bởi Đạo như thế nào thì già chết cũng bị tiêu diệt bởi Đạo như vậy. Bằng cách kết nối này, nên tìm tòi với những lý do khác. Nếu việc áp dụng sự kết nối và tính chất khác biệt về ý nghĩa được thấy rõ thì cũng nên tìm tòi thêm về văn tự: có sự đồng nhất về ý nghĩa của hai pháp này: hoặc là “mũi tên” hoặc là “sự thiêu đốt,” không có tính chất khác biệt về ý nghĩa của ước muốn và tham ái bởi vì được kết nối. Trong khi chủ ý của tham ái không được thỏa mãn, có sự giận dữ và thù hằn sanh khởi theo chín sự việc gây oán thù. Bằng cách kết nối này, có tính chất khác biệt về ý nghĩa của già, của chết, và của tham ái. Hơn nữa, điều này đã được đức Thế Tôn trình bày bằng hai tên gọi “ước muốn” và “tham ái,” điều này đã được đức Thế Tôn trình bày theo tác động về đối tượng của các vật ngoại phần bằng hai tên gọi “ước muốn” và “tham ái.” Bởi vì mọi tham ái có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt. Giống như mọi ngọn lửa có cùng một tướng trạng với tướng trạng là trạng thái nóng nực, tuy nhiên nó nhận được các tên gọi tương đương theo theo tác động về nhiên liệu là: “lửa củi,” “lửa cỏ,” “lửa than đá,” “lửa phân bò,” “lửa trấu,” “lửa rác,” bởi vì mọi ngọn lửa đều có tướng trạng là trạng thái nóng nực, tương tự như vậy, mọi tham ái đều có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt, nhưng được trình bày với các tên gọi tương đương theo tác động về nhiên liệu của đối tượng là: “ước muốn,” “tham ái,” “mũi tên,” “sự thiêu đốt,” “sự cuốn trôi,” “sự vướng mắc,” “sự thương yêu,” “sự mệt nhọc,” “sự quấn lấy,” “biểu hiện của ngã mạn,” “sự trói buộc,” “sự mong mỏi,” “sự khao khát,” “sự thích thú.” Bởi vì mọi tham ái có cùng một tướng trạng với tướng trạng là sự bám chặt. Và giống như đã được đề cập ở từ đồng nghĩa:
3. “Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên (tham ái) đã được thiết lập ở nhiều yếu tố, đã khởi tham muốn, có gốc rễ và nguồn phát khởi từ sự không biết, tất cả cùng gốc rễ đã được Ta làm chấm dứt.” Điều này là đồng nghĩa với tham ái, giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này Tissa, đối với người đã xa lìa luyến ái, đã xa lìa mong muốn, đã xa lìa sự yêu thương, đã xa lìa sự khao khát, đã xa lìa sự nồng nhiệt, đã xa lìa tham ái ở sắc, (tương tự) đối với người đã xa lìa luyến ái, đã xa lìa mong muốn, đã xa lìa sự yêu thương, đã xa lìa sự khao khát, đã xa lìa sự nồng nhiệt, đã xa lìa tham ái ở thọ ―nt― ở tưởng ―nt― ở các hành ―nt― ở thức, (toàn bộ bài Kinh nên được giảng giải chi tiết).” Điều này là đồng nghĩa với tham ái, và được kết nối như vậy. Mọi phát khởi của khổ có sự tạo tác của tham ái về dục là gốc rễ, trái lại mọi phát khởi của nhàm chán có sự cần thiết của tham ái về dục là gốc rễ thì không được kết nối. Bằng cách kết nối này, nên tìm tòi với những lý do khác. Giống như đức Thế Tôn chỉ bảo về đề mục tử thi cho người có tánh luyến ái, đức Thế Tôn chỉ bảo về từ ái cho người có tánh sân hận, đức Thế Tôn chỉ bảo về pháp tùy thuận sanh khởi cho người có tánh si mê, bởi vì nếu đức Thế Tôn chỉ bảo về sự giải thoát của tâm thông qua từ ái, chỉ bảo về lối thực hành thoải mái có thắng trí chậm chạp, hoặc là lối thực hành thoải mái có thắng trí mau chóng, hoặc là sự dứt bỏ có minh sát đi trước cho người có tánh luyến ái, sự chỉ bảo không được kết nối. Như vậy, bất cứ điều gì có sự dứt bỏ phù hợp của luyến ái, có sự dứt bỏ phù hợp của sân hận, có sự dứt bỏ phù hợp của si mê, sau khi tìm hiểu mọi điều ấy bằng cách truyền đạt tìm hiểu, nên gắn bó với cách truyền đạt kết nối tùy theo phạm vi của trí. “Đối với vị đang trú tâm từ, sân hận sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “sân hận đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm bi, sự hãm hại sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “sự hãm hại đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm hỷ, bất mãn sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “bất mãn đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú tâm xả, luyến ái sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “luyến ái đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Đối với vị đang trú vô tướng, thức của vị ấy, có sự hồi tưởng về hiện tướng, vận hành bởi hiện tướng này khác” là sự chỉ bảo không được kết nối, “hiện tướng đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. “Khi (ý nghĩ) ‘Tôi là’ đã được xa lìa, tôi không nhận thấy rằng: ‘Tôi là cái này.’ Và hơn nữa, mũi tên hoài nghi và nghi hoặc rằng: ‘Tôi là ai?’ ‘Tôi là thế nào’ sẽ nắm giữ tâm của vị ấy và tồn tại” là sự chỉ bảo không được kết nối, “mũi tên hoài nghi và nghi hoặc đi đến sự dứt bỏ và biến mất” là sự chỉ bảo được kết nối. Hoặc là, giống như đối với vị đang thể nhập sơ thiền, “sự luyến ái về dục và sân hận vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối; hoặc là, “tưởng và tác ý đồng hành với vô tầm vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối.
“Đối với vị đang thể nhập nhị thiền, tưởng và tác ý đồng hành với tầm và tứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với xả và lạc vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập tam thiền, tưởng và tác ý đồng hành với hỷ và lạc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với sự thanh tịnh của xả và niệm vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập tứ thiền, tưởng và tác ý đồng hành với xả và lạc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối. “Tưởng và tác ý đồng hành với không vô biên xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập không vô biên xứ, tưởng và tác ý đồng hành với sắc vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với thức vô biên xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập thức vô biên xứ, tưởng và tác ý đồng hành với không vô biên xứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với vô sở hữu xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập vô sở hữu xứ, tưởng và tác ý đồng hành với thức vô biên xứ vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với phi tưởng phi phi tưởng xứ vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. Đối với vị đang thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, các sự tiếp cận tưởng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo được kết nối, “tưởng và tác ý đồng hành với sự diệt tận của thọ và tưởng vận hành đi đến sự giảm thiểu” là sự chỉ bảo không được kết nối, “chúng vận hành đi đến sự nổi bật” là sự chỉ bảo được kết nối. “Tâm đã được rèn luyện đúng đắn không kham nổi nguyện vọng” là sự chỉ bảo không được kết nối, còn “Tâm đã được rèn luyện đúng đắn kham nổi nguyện vọng” là sự chỉ bảo được kết nối. Như vậy, sau khi tìm hiểu toàn bộ chín thể loại của Kinh đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của bậc Đạo Sư một cách toàn diện với cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu, nên gắn bó với cách truyền đạt bằng sự kết nối. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Trong số tất cả các cách truyền đạt, phạm vi và hành xứ của chúng ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Kết Nối được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
18. Tattha katamo yuttihāro? ‘‘Sabbesaṃ hārāna’’nti, ayaṃ yuttihāro. Kiṃ yojayati †? Cattāro mahāpadesā buddhāpadeso saṅghāpadeso sambahulattherāpadeso † ekattherāpadeso. Ime cattāro mahāpadesā, tāni padabyañjanāni sutte otārayitabbāni, vinaye sandassayitabbāni, dhammatāyaṃ upanikkhipitabbāni.
18. Therein, what is the Mode of Connection? The verse beginning, “Of all the modes…”—this is the Mode of Connection. What does it connect? The four Great Authorities: the authority of the Buddha, the authority of the Saṅgha, the authority of a number of elder monks, and the authority of a single elder monk. These are the four Great Authorities. Those terms and phrases should be applied to the Sutta, compared with the Vinaya, and deposited in the Dhamma-nature.
18. Trong đó, phương pháp Lý Luận là gì? Câu kệ ‘Sabbesaṃ hārānaṃ’ chính là phương pháp Lý Luận. Nó liên kết điều gì? Bốn Đại Chứng Cứ: chứng cứ từ Đức Phật, chứng cứ từ Tăng đoàn, chứng cứ từ nhiều vị trưởng lão, chứng cứ từ một vị trưởng lão. Đây là bốn Đại Chứng Cứ. Những câu cú và văn tự ấy nên được áp dụng vào Kinh, đối chiếu trong Luật, và đặt vào trong Pháp tánh.
Katamasmiṃ sutte otārayitabbāni? Catūsu ariyasaccesu. Katamasmiṃ vinaye sandassayitabbāni? Rāgavinaye dosavinaye mohavinaye. Katamissaṃ † dhammatāyaṃ upanikkhipitabbāni? Paṭiccasamuppāde. Yadi catūsu ariyasaccesu avatarati, kilesavinaye sandissati, dhammatañca na vilometi, evaṃ āsave na janeti. Catūhi mahāpadesehi yaṃ yaṃ yujjati, yena yena yujjati, yathā yathā yujjati, taṃ taṃ gahetabbaṃ.
To which Sutta should they be applied? To the Four Noble Truths. With which Vinaya should they be compared? With the discipline for lust, the discipline for hatred, and the discipline for delusion. In which Dhamma-nature should they be deposited? In Dependent Origination. If a teaching enters into the Four Noble Truths, is seen in the discipline of the defilements, and does not contradict the Dhamma-nature, then it does not generate the cankers. With the four Great Authorities, whatever is suitable, by whatever means it is suitable, in whatever way it is suitable, that should be accepted.
Nên được áp dụng vào Kinh nào? Vào Bốn Thánh Đế. Nên được đối chiếu trong Luật nào? Trong luật điều phục tham, luật điều phục sân, luật điều phục si. Nên được đặt vào trong Pháp tánh nào? Vào Lý Duyên Khởi. Nếu nó đi vào Bốn Thánh Đế, tương ứng với luật điều phục phiền não, và không trái ngược với Pháp tánh, thì nó không làm phát sinh các lậu hoặc. Bất cứ điều gì tương hợp với bốn Đại Chứng Cứ, bằng bất cứ lý do nào nó tương hợp, theo bất cứ cách nào nó tương hợp, thì điều đó nên được chấp nhận.
19. Pañhaṃ pucchitena kati padāni pañheti padaso pariyogāhitabbaṃ vicetabbaṃ? Yadi sabbāni padāni ekaṃ atthaṃ abhivadanti, eko pañho. Atha cattāri padāni ekaṃ atthaṃ abhivadanti, eko pañho. Atha tīṇi padāni ekaṃ atthaṃ abhivadanti, eko pañho. Atha dve padāni ekaṃ atthaṃ abhivadanti, eko pañho. Atha ekaṃ padaṃ ekaṃ atthaṃ abhivadati, eko pañho. Taṃ upaparikkhamānena aññātabbaṃ kiṃ ime dhammā nānatthā nānābyañjanā, udāhu imesaṃ dhammānaṃ eko attho byañjanameva nānanti. Yathā kiṃ bhave? Yathā sā devatā bhagavantaṃ pañhaṃ pucchati.
19. By one who is asked a question, it should be thoroughly investigated and analyzed term by term as to how many terms constitute the question. If all the terms express one meaning, it is one question. If four terms express one meaning, it is one question. If three terms express one meaning, it is one question. If two terms express one meaning, it is one question. If one term expresses one meaning, it is one question. By examining it, one should know: ‘Are these dhammas of different meanings and different phrasings, or do these dhammas have one meaning and only the phrasing is different?’ For example, what might this be? Just as that deity asks the Blessed One a question:
19. Người hỏi một câu hỏi nên thẩm xét và xem xét từng từ: có bao nhiêu từ là một câu hỏi? Nếu tất cả các từ đều diễn tả một nghĩa, đó là một câu hỏi. Hoặc nếu bốn từ diễn tả một nghĩa, đó là một câu hỏi. Hoặc nếu ba từ diễn tả một nghĩa, đó là một câu hỏi. Hoặc nếu hai từ diễn tả một nghĩa, đó là một câu hỏi. Hoặc nếu một từ diễn tả một nghĩa, đó là một câu hỏi. Khi xem xét kỹ, nên biết rằng: những pháp này có nghĩa khác nhau và văn tự khác nhau, hay những pháp này có một nghĩa và chỉ có văn tự là khác nhau? Ví dụ như thế nào? Giống như vị thiên nhân kia hỏi Thế Tôn một câu hỏi.
‘‘Kenassubbhāhato † loko, kenassu parivārito;
Kena sallena otiṇṇo, kissa dhūpāyito sadā’’ti.
“By what is the world struck down? By what is it surrounded? By what arrow is it pierced? For what reason does it always smolder?”
‘Thế gian bị cái gì đánh bại, thế gian bị cái gì bao vây? Bị mũi tên nào đâm vào, và luôn bị cái gì thiêu đốt?’
Imāni cattāri padāni pucchitāni. Te tayo pañhā kathaṃ ñāyati? Bhagavā hi devatāya visajjeti.
These four lines were asked. They are three questions. How is this known? Because the Blessed One answers the deity.
Bốn câu này đã được hỏi. Chúng là ba câu hỏi. Làm sao biết được điều này? Vì Thế Tôn đã trả lời vị thiên nhân.
‘‘Maccunābbhāhato † loko, jarāya parivārito;
Taṇhāsallena otiṇṇo, icchādhūpāyito sadā’’ti.
“The world is struck down by death, surrounded by aging. It is pierced by the arrow of craving; it always smolders with desire.”
‘Thế gian bị thần chết đánh bại, bị tuổi già bao vây; bị mũi tên ái dục đâm vào, và luôn bị lòng ham muốn thiêu đốt.’
20. Tattha jarā ca maraṇañca imāni dve saṅkhatassa saṅkhatalakkhaṇāni. Jarāyaṃ ṭhitassa aññathattaṃ, maraṇaṃ vayo. Tattha jarāya ca maraṇassa ca atthato nānattaṃ. Kena kāraṇena, gabbhagatāpi hi mīyanti, na ca te jiṇṇā bhavanti. Atthi ca devānaṃ maraṇaṃ, na ca tesaṃ sarīrāni jīranti. Sakkateva jarāya paṭikammaṃ kātuṃ, na pana sakkate maraṇassa paṭikammaṃ kātuṃ aññatreva iddhimantānaṃ iddhivisayā. Yaṃ panāha taṇhāsallena otiṇṇoti dissanti vītarāgā jīrantāpi mīyantāpi. Yadi ca yathā jarāmaraṇaṃ, evaṃ taṇhāpi siyā. Evaṃ sante sabbe yobbanaṭṭhāpi vigatataṇhā siyuṃ. Yathā ca taṇhā dukkhassa samudayo, evaṃ jarāmaraṇampi siyā dukkhassa samudayo, na ca siyā taṇhā dukkhassa samudayo, na hi jarāmaraṇaṃ dukkhassa samudayo, taṇhā dukkhassa samudayo. Yathā ca taṇhā maggavajjhā, evaṃ jarāmaraṇampi siyā maggavajjhaṃ. Imāya yuttiyā aññamaññehi kāraṇehi gavesitabbaṃ. Yadi ca sandissati yuttisamārūḷhaṃ atthato ca aññattaṃ, byañjanatopi gavesitabbaṃ.
20. Therein, aging and death—these two are characteristics of the conditioned. Aging is the alteration of that which is established; death is decay. Therein, aging and death have a difference in meaning. For what reason? For even those in the womb die, but they do not become old. And there is death for the devas, but their bodies do not age. It is possible to apply a remedy to aging, but it is not possible to apply a remedy to death, except for those with psychic power within the range of their power. As for what was said, ‘pierced by the arrow of craving’—those free from lust are seen aging and dying. And if craving were just like aging and death, then all those in their youth would be free from craving. And just as craving is the origin of suffering, so too would aging and death be the origin of suffering. But aging and death are not the origin of suffering; craving is the origin of suffering. And just as craving is to be eliminated by the path, so too would aging and death be eliminated by the path. By this logic, the difference should be investigated through various other reasons. And if the difference in meaning is seen to be well-established in logic, the difference in phrasing should also be investigated.
20. Trong đó, già và chết, hai điều này là đặc tính của pháp hữu vi. Sự khác đi của cái đang tồn tại là già, sự hoại diệt là chết. Trong đó, già và chết có ý nghĩa khác nhau. Vì lý do gì? Vì ngay cả những chúng sinh trong bào thai cũng chết, mà chúng chưa già. Chư thiên cũng có cái chết, nhưng thân thể của họ không già đi. Có thể chữa trị được tuổi già, nhưng không thể chữa trị được cái chết, ngoại trừ phạm vi thần thông của những người có thần thông. Về câu ‘bị mũi tên ái dục đâm vào’, người ta thấy những vị đã đoạn tận tham ái vẫn già đi và chết đi. Nếu ái dục cũng giống như già và chết, thì tất cả những người đang ở tuổi thanh xuân đều sẽ không còn ái dục. Và như ái dục là nguyên nhân của khổ, thì già và chết cũng sẽ là nguyên nhân của khổ. Nhưng già và chết không phải là nguyên nhân của khổ, mà ái dục mới là nguyên nhân của khổ. Và như ái dục bị đoạn trừ bởi đạo, thì già và chết cũng sẽ bị đoạn trừ bởi đạo. Bằng lý luận này và các lý do khác, nên tìm kiếm sự khác biệt. Nếu sự khác biệt về nghĩa được xác lập và phù hợp với lý luận, thì cũng nên tìm kiếm sự khác biệt về văn tự.
Salloti vā dhūpāyananti vā imesaṃ dhammānaṃ atthato ekattaṃ. Na hi yujjati icchāya ca taṇhāya ca atthato aññattaṃ. Taṇhāya adhippāye aparipūramāne navasu āghātavatthūsu kodho ca upanāho ca uppajjati. Imāya yuttiyā jarāya ca maraṇassa ca taṇhāya ca atthato aññattaṃ.
Whether called 'a dart' or 'fuming,' these phenomena are one in meaning. For it is not fitting that desire and craving should differ in meaning. When the aim of craving is unfulfilled, anger and hostility arise in the nine grounds for resentment. By this reasoning, it is fitting that aging, death, and craving differ in meaning.
Dù là ‘mũi tên’ hay ‘sự thiêu đốt’, những pháp này có cùng một ý nghĩa. Vì không hợp lý khi cho rằng ham muốn (icchā) và ái dục (taṇhā) có ý nghĩa khác nhau. Khi ý muốn của ái dục không được thỏa mãn, sân hận và oán thù phát sinh trong chín căn cứ của sự phẫn nộ. Bằng lý luận này, (chứng tỏ rằng) già, chết, và ái dục có ý nghĩa khác nhau.
Yaṃ panidaṃ bhagavatā dvīhi nāmehi abhilapitaṃ icchātipi taṇhātipi, idaṃ bhagavatā bāhirānaṃ vatthūnaṃ ārammaṇavasena dvīhi nāmehi abhilapitaṃ icchātipi taṇhātipi, sabbā hi taṇhā ajjhosānalakkhaṇena ekalakkhaṇā. Yathā sabbo aggi uṇhattalakkhaṇena ekalakkhaṇo, api ca upādānavasena aññamaññāni nāmāni labhati, kaṭṭhaggītipi tiṇaggītipi sakalikaggītipi gomayaggītipi thusaggītipi saṅkāraggītipi, sabbo hi aggi uṇhattalakkhaṇova. Evaṃ sabbā taṇhā ajjhosānalakkhaṇena ekalakkhaṇā, api tu ārammaṇaupādānavasena aññamaññehi nāmehi abhilapitā icchāitipi taṇhāitipi salloitipi dhūpāyanāitipi saritāitipi visattikāitipi sinehoitipi kilamathoitipi latāitipi maññanāitipi bandhoitipi āsāitipi pipāsāitipi abhinandanāitipi, iti sabbā taṇhā ajjhosānalakkhaṇena ekalakkhaṇā. Yathā ca vevacane vuttā.
That which the Blessed One has designated by two names—‘desire’ and ‘craving’—is so designated by the Blessed One with reference to external objects as their basis. For all craving has the single characteristic of devouring its object. Just as all fire has the single characteristic of heat, yet it acquires different names depending on the fuel—such as wood-fire, grass-fire, splinter-fire, cow-dung-fire, husk-fire, or rubbish-fire—for all fire has only the characteristic of heat. So too, all craving has the single characteristic of devouring its object. Yet, depending on the object as its basis, it is spoken of by various names: as desire, craving, a dart, fuming, a current, a spreading poison, affection, weariness, a creeper, conceiving, a bond, hope, thirst, and great delight. Thus, all craving has the single characteristic of devouring its object. And as it is said in the section on synonyms.
Điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng bằng hai tên gọi là dục (icchā) và ái (taṇhā). Điều này được đức Thế Tôn thuyết giảng bằng hai tên gọi là dục và ái tùy theo đối tượng là các vật bên ngoài. Thật vậy, tất cả ái đều có cùng một đặc tính là đặc tính nuốt chửng. Giống như tất cả lửa đều có cùng một đặc tính là đặc tính nóng, nhưng tùy theo vật liệu cháy mà nó có những tên gọi khác nhau, như lửa củi, lửa cỏ, lửa dăm bào, lửa phân bò, lửa trấu, lửa rác; thật vậy, tất cả lửa đều có đặc tính nóng. Cũng vậy, tất cả ái đều có cùng một đặc tính là đặc tính nuốt chửng, nhưng tùy theo đối tượng làm chỗ bám víu mà nó được gọi bằng những tên khác nhau: là dục (icchā), ái (taṇhā), mũi tên (salla), sự hun đốt (dhūpāyanā), dòng sông (saritā), sự lan tỏa (visattikā), tình thương (sineha), sự mệt mỏi (kilamatha), dây leo (latā), sự tưởng (maññanā), sự trói buộc (bandha), hy vọng (āsā), khát khao (pipāsā), sự vui thích (abhinandanā). Như vậy, tất cả ái đều có cùng một đặc tính là đặc tính nuốt chửng. Và như đã được nói trong phần đồng nghĩa.
‘‘Āsā ca pihā abhinandanā ca, anekadhātūsu sarā patiṭṭhitā;
Aññāṇamūlappabhavā pajappitā, sabbā mayā byantikatā samūlakā’’ti †.
"Hope and longing and delight, currents established in manifold elements; arisen from ignorance as their root, proliferated—all these have been brought to an end by me, together with their roots."
Sự mong mỏi, sự khao khát, và sự vui thích, những dòng sông an trú trong nhiều giới, phát sinh từ gốc rễ là vô minh, được gọi tên khác nhau; tất cả đã được ta đoạn trừ cùng với gốc rễ.
Taṇhāyetaṃ vevacanaṃ. Yathāha bhagavā – rūpe tissa avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa. Evaṃ vedanāya saññāya saṅkhāresu viññāṇe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa sabbaṃ suttaṃ vitthāretabbaṃ. Taṇhāyetaṃ vevacanaṃ. Evaṃ yujjati.
This is a synonym for craving. As the Blessed One has said: “Tissa, for one whose passion for form is not gone, whose desire is not gone, whose affection is not gone, whose thirst is not gone, whose fever is not gone...” The same applies to feeling, perception, formations, and consciousness—the entire sutta should be elaborated. This is a synonym for craving. Thus it is fitting.
Đây là những từ đồng nghĩa của ái. Như đức Thế Tôn đã nói: 'Này Tissa, đối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não trong sắc.' Tương tự đối với thọ, tưởng, các hành, và thức, đối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não. Toàn bộ bài kinh nên được triển khai rộng ra. Đây là những từ đồng nghĩa của ái. Như vậy là hợp lý.
21. Sabbo dukkhūpacāro kāmataṇhāsaṅkhāramūlako, na pana yujjati sabbo nibbidūpacāro kāmataṇhāparikkhāramūlako. Imāya yuttiyā aññamaññehi kāraṇehi gavesitabbaṃ.
21. All the sphere of suffering is rooted in sensual craving and formations, but it is not fitting that all the sphere of disenchantment is rooted in the requisites of sensual craving. By this reasoning, it should be investigated through various other causes.
21. Mọi sự khởi lên của khổ đều có gốc rễ là hành động do dục ái, nhưng không hợp lý (khi nói rằng) mọi sự khởi lên của yếm ly đều có gốc rễ là các vật phụ thuộc của dục ái. Bằng sự hợp lý này, cần phải tìm hiểu với những lý do khác nhau.
Yathā hi † bhagavā rāgacaritassa puggalassa asubhaṃ desayati, dosacaritassa bhagavā puggalassa mettaṃ desayati. Mohacaritassa bhagavā puggalassa paṭiccasamuppādaṃ desayati. Yadi hi bhagavā rāgacaritassa puggalassa mettaṃ cetovimuttiṃ deseyya. Sukhaṃ vā paṭipadaṃ dandhābhiññaṃ sukhaṃ vā paṭipadaṃ khippābhiññaṃ vipassanāpubbaṅgamaṃ vā pahānaṃ deseyya, na yujjati desanā. Evaṃ yaṃ kiñci rāgassa anulomappahānaṃ dosassa anulomappahānaṃ mohassa anulomappahānaṃ. Sabbaṃ taṃ vicayena hārena vicinitvā yuttihārena yojetabbaṃ. Yāvatikā ñāṇassa bhūmi.
For just as the Blessed One teaches the unattractive to a person with a lustful temperament, teaches loving-kindness to a person with a hateful temperament, and teaches dependent origination to a person with a deluded temperament; if the Blessed One were to teach the liberation of mind through loving-kindness to a person with a lustful temperament, or the pleasant practice with slow attainment of knowledge, or the pleasant practice with quick attainment of knowledge, or abandonment preceded by insight, that teaching would not be fitting. Thus, whatever is suitable for the abandonment of lust, suitable for the abandonment of hate, all that should be investigated by the method of investigation and connected by the method of logic, to the full extent of the sphere of knowledge.
Giống như đức Thế Tôn thuyết về bất tịnh cho người có tham tánh, đức Thế Tôn thuyết về tâm từ cho người có sân tánh. Đức Thế Tôn thuyết về duyên khởi cho người có si tánh. Thật vậy, nếu đức Thế Tôn thuyết về từ tâm giải thoát cho người có tham tánh, hoặc thuyết về lạc đạo và độn thắng trí, hoặc lạc đạo và tốc thắng trí, hoặc sự đoạn trừ có minh sát dẫn đầu, thì bài pháp đó không hợp lý. Như vậy, bất cứ điều gì là sự đoạn trừ thuận theo tham, sự đoạn trừ thuận theo sân, sự đoạn trừ thuận theo si, tất cả những điều đó cần được xem xét bằng phương pháp trạch pháp và kết hợp bằng phương pháp hợp lý. Chừng nào còn là địa hạt của trí tuệ.
Mettāvihārissa sato byāpādo cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti na yujjati desanā, byāpādo pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā. Karuṇāvihārissa sato vihesā cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti na yujjati desanā, vihesā pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā. Muditā vihārissa sato arati cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti na yujjati desanā, arati pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā. Upekkhāvihārissa sato rāgo cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti na yujjati desanā, rāgo pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā. Animittavihārissa sato nimittānusārī tena teneva viññāṇaṃ pavattatīti na yujjati desanā, nimittaṃ pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā. Asmīti vigataṃ ayamahamasmīti na samanupassāmi. Atha ca pana me kismīti kathasmīti vicikicchā kathaṃkathāsallaṃ cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti na yujjati desanā, vicikicchā kathaṃkathāsallaṃ pahānaṃ abbhatthaṃ gacchatīti yujjati desanā.
For one abiding in loving-kindness, the teaching that ill will will overwhelm the mind is not fitting; the teaching that ill will is abandoned and goes to cessation is fitting. For one abiding in compassion, the teaching that cruelty will overwhelm the mind is not fitting; the teaching that cruelty is abandoned and goes to cessation is fitting. For one abiding in sympathetic joy, the teaching that discontent will overwhelm the mind is not fitting; the teaching that discontent is abandoned and goes to cessation is fitting. For one abiding in equanimity, the teaching that lust will overwhelm the mind is not fitting; the teaching that lust is abandoned and goes to cessation is fitting. For one abiding in the signless, the teaching that consciousness will proceed following after this or that sign is not fitting; the teaching that the sign is abandoned and goes to cessation is fitting. ‘The conceit “I am” is gone; I do not perceive “I am this.”’ Yet, the teaching that for me doubt, the dart of uncertainty, will overwhelm the mind is not fitting; the teaching that doubt, the dart of uncertainty, is abandoned and goes to cessation is fitting.
Đối với người đang an trú trong tâm từ, (nói rằng) sân sẽ chiếm lĩnh tâm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) sân đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang an trú trong tâm bi, (nói rằng) sự hãm hại sẽ chiếm lĩnh tâm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) sự hãm hại đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang an trú trong tâm hỷ, (nói rằng) sự bất mãn sẽ chiếm lĩnh tâm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) sự bất mãn đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang an trú trong tâm xả, (nói rằng) tham sẽ chiếm lĩnh tâm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) tham đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang an trú trong vô tướng, (nói rằng) thức đi theo tướng sẽ khởi lên do chính những tướng đó, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) tướng đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý. (Quan niệm) 'Tôi là' đã được loại bỏ, tôi không thấy 'Đây là tôi'. Tuy nhiên, (nói rằng) mũi tên hoài nghi 'Tôi là gì? Tôi là thế nào?' sẽ chiếm lĩnh tâm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) mũi tên hoài nghi 'thế này hay thế kia' đi đến sự đoạn trừ, sự chấm dứt, bài pháp này hợp lý.
Yathā vā pana paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa sato kāmarāgabyāpādā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Vitakkasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa sato vitakkavicārasahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Upekkhāsukhasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa sato pītisukhasahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā, upekkhāsatipārisuddhisahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sato upekkhāsahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Ākāsānañcāyatanasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā.
Or, for a person who has entered the first jhāna, it is not a suitable teaching that sensual lust and ill will conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by initial thought conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. For a person who has entered the second jhāna, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by initial and sustained thought conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by equanimity and pleasure conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. For a person who has entered the third jhāna, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by rapture and pleasure conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the purity of mindfulness due to equanimity conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. For a person who has entered the fourth jhāna, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by equanimity conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions that have the sphere of infinite space as their object conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state.
Hoặc nữa, đối với người đang nhập Sơ thiền, (nói rằng) dục tham và sân dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với tầm dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang nhập Nhị thiền, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với tầm và tứ dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với xả và lạc dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang nhập Tam thiền, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với hỷ và lạc dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với sự thanh tịnh của niệm do xả dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này hợp lý. Đối với người đang nhập Tứ thiền, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với xả dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi cùng với Không vô biên xứ dẫn đến sự suy giảm, bài pháp này không hợp lý; (nói rằng) chúng dẫn đến sự thù thắng, bài pháp này hợp lý.
Ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa sato rūpasahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Viññāṇañcāyatanasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa sato ākāsānañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Ākiñcaññāyatanasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā.
For a person who has entered the sphere of infinite space, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the form jhāna conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the sphere of infinite consciousness conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. For a person who has entered the sphere of infinite consciousness, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the sphere of infinite space conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the sphere of nothingness conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state.
Đối với người đã nhập Không Vô Biên Xứ, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với sắc đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng hợp lý. Đối với người đã nhập Thức Vô Biên Xứ, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Không Vô Biên Xứ đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Vô Sở Hữu Xứ đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng hợp lý.
Ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa sato viññāṇañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Nevasaññānāsaññāyatanasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa sato saññūpacārā visesāya saṃvattantīti na yujjati desanā, hānāya saṃvattantīti yujjati desanā. Saññāvedayitanirodhasahagatā vā saññāmanasikārā hānāya saṃvattantīti na yujjati desanā, visesāya saṃvattantīti yujjati desanā. Kallatāparicitaṃ cittaṃ na ca abhinīhāraṃ khamatīti na yujjati desanā, kallatāparicitaṃ cittaṃ atha ca abhinīhāraṃ khamatīti yujjati desanā.
For a person who has entered the sphere of nothingness, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the sphere of infinite consciousness conduce to a higher state; it is a suitable teaching that they conduce to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions accompanied by the sphere of neither-perception-nor-non-perception conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. For a person who has entered the sphere of neither-perception-nor-non-perception, it is not a suitable teaching that the functioning of perception conduces to a higher state; it is a suitable teaching that it conduces to decline. Or, it is not a suitable teaching that perceptions and attentions arising through preliminary work for one who resolves to enter the attainment of the cessation of perception and feeling conduce to decline; it is a suitable teaching that they conduce to a higher state. It is not a suitable teaching that a mind practiced and made proficient is not capable of the manifestation of supernormal powers; it is a suitable teaching that a mind practiced and made proficient is, in fact, capable of the manifestation of supernormal powers.
Đối với người đã nhập Vô Sở Hữu Xứ, (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng hợp lý. Đối với người đã nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, (nói rằng) các hành tướng của tưởng đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng hợp lý. Hoặc (nói rằng) các tưởng và tác ý đi kèm với Diệt Thọ Tưởng Định đưa đến sự thoái giảm là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) chúng đưa đến sự thù thắng là lời thuyết giảng hợp lý. (Nói rằng) tâm đã được rèn luyện thuần thục mà không thể hướng đến thắng trí là lời thuyết giảng không hợp lý; (nói rằng) tâm đã được rèn luyện thuần thục lại có thể hướng đến thắng trí là lời thuyết giảng hợp lý.
Evaṃ sabbe navasuttantā yathādhammaṃ yathāvinayaṃ yathāsatthusāsanaṃ sabbato vicayena hārena vicinitvā yuttihārena yojetabbāti. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘sabbesaṃ hārānaṃ yā bhūmi yo ca gocaro tesa’’nti.
Thus, all the nine-limbed suttantas should be investigated from all sides with the method of analysis, in accordance with the Dhamma, the Vinaya, and the Teacher's Dispensation, and then connected with the method of reasoning. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: ‘That which is the ground and that which is the range of all the methods…’
Như vậy, tất cả chín loại kinh điển cần được thẩm sát từ mọi phương diện bằng phương pháp Thẩm Sát, đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư, rồi được liên kết bằng phương pháp Hợp Lý. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyana đã nói: ‘Đối với tất cả các phương pháp, đâu là nền tảng và đâu là đối tượng của chúng’.
Niyutto yutti hāro.
The method of reasoning is concluded.
Phương pháp Hợp Lý đã được trình bày.