Bản dịch
NE 5 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu
Vicayahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là cách nào? Kệ ngôn “điều đã được hỏi và điều đã được trả lời, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu. Tìm hiểu điều gì? Tìm hiểu về thuật ngữ, tìm hiểu về câu hỏi, tìm hiểu về câu trả lời, tìm hiểu về sự tuần tự, tìm hiểu về sự hứng thú, tìm hiểu về sự bất lợi, tìm hiểu về sự thoát ra, tìm hiểu về kết quả, tìm hiểu về cách thức, tìm hiểu về chỉ thị, tìm hiểu về câu kệ tóm lược, tìm hiểu về tất cả chín thể loại của Kinh.
Là giống như điều gì? Giống như đại đức Ajita hỏi đức Thế Tôn câu hỏi ở Phẩm ‘Đường Đi Đến Bờ Kia’:
1. (Đại đức Ajita hỏi rằng:) “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì? Không tỏa sáng bởi điều gì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này? Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?”
Bốn đoạn kệ này đã được hỏi; đó là một câu hỏi. Tại sao? Do việc bao gồm một sự kiện. Bởi vì vị ấy đã hỏi như vầy: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì?” là hỏi về sự xác định thế giới. “Không tỏa sáng bởi điều gì?” là hỏi về sự không tỏa sáng của thế giới. “Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” là hỏi về vật làm uế nhiễm thế giới. “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” là hỏi về là sự nguy hiểm lớn lao đối với chính thế giới ấy. Thế giới có ba loại: thế giới của ô nhiễm, thế giới của hiện hữu, thế giới của các quyền.
Ở đấy, câu trả lời là:
2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế giới bị bao trùm bởi vô minh, không tỏa sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).”
Bốn đoạn kệ ấy đã được trả lời bằng bốn đoạn kệ này (theo thứ tự) thứ nhất bởi thứ nhất, thứ nhì bởi thứ nhì, thứ ba bởi thứ ba, thứ tư bởi thứ tư. Về câu hỏi: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì?” thì câu trả lời là: “Thế giới bị bao trùm bởi vô minh.” Thế giới bị bao trùm bởi các sự che lấp, bởi vì tất cả chúng sanh có vô minh là sự che lấp; giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này các tỳ khưu, Ta nói một cách khái quát rằng, chỉ có một sự che lấp đối với tất cả chúng sanh, đối với tất cả sanh mạng, đối với tất cả sanh linh, tức là vô minh, bởi vì tất cả chúng sanh có vô minh là sự che lấp. Và này các tỳ khưu, do sự diệt tận, do sự xả bỏ, do sự buông bỏ vô minh một cách trọn vẹn, Ta nói ‘không có sự che lấp đối với chúng sanh.’” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ nhất là thích đáng.
Về câu hỏi: “Không tỏa sáng bởi điều gì?” thì câu trả lời là: “Không tỏa sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng.” Người bị che lấp bởi các sự che lấp là người hoài nghi; cái gọi là hoài nghi nói đến sự hoài nghi. Trong khi hoài nghi, người ấy không đặt niềm tin; trong khi không đặt niềm tin, thì không khởi sự tinh tấn để dứt bỏ các bất thiện pháp, để chứng ngộ các thiện pháp; ở đây, người ấy sống gắn bó với sự xao lãng; người bị xao lãng, thì không bám víu vào các pháp trắng; trong khi các pháp trắng không được bám víu thì chúng không tỏa sáng đối với người ấy; giống như đức Thế Tôn đã nói:
3. “Những người tốt tỏa sáng từ đàng xa, ví như núi Hi-mã-lạp. Những kẻ xấu ở đây (vẫn) không được nhìn thấy, giống như những mũi tên được bắn ra vào ban đêm.”
“Chúng tỏa sáng bởi các đức tính, bởi danh thơm, và bởi tiếng tăm.” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ hai là thích đáng.
Về câu hỏi: “Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” thì câu trả lời là: “Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm.” Cái gọi là tham muốn nói đến tham ái. Tham ái làm uế nhiễm như thế nào? Giống như đức Thế Tôn đã nói:
“Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp. Khi luyến ái ngự trị con người, thì luôn có sự mù quáng và tối tăm.”
Tham ái này đây là ở người có nhiều sự dính mắc, sau khi tạo ra “sự tham đắm như vậy,” thế giới được gọi là bị uế nhiễm bởi tham ái ấy. Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ ba là thích đáng.
Về câu hỏi: “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” thì câu trả lời là: “Khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Có hai loại khổ: thuộc thân và thuộc tâm. Cái thuộc thân là khổ, cái thuộc tâm là ưu. Bởi vì tất cả chúng sanh đều sợ khổ, không có sự sợ hãi nào sánh bằng khổ, hoặc hơn nữa, từ đâu có được cái vượt qua điều ấy? Có ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do sự biến đổi, trạng thái khổ do pháp tạo tác. Ở đấy, vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, thế giới hiếm khi được thoát khỏi trạng thái khổ do (thọ) khổ; tương tự như thế với trạng thái khổ do sự biến đổi. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Ở thế giới, cũng có những người ít bệnh và những người trường thọ. Trái lại, thế giới được thoát khỏi trạng thái khổ do pháp tạo tác (khi đạt đến) Niết Bàn giới không còn dư sót. Vì thế, Ngài đã xác định rằng trạng thái khổ do pháp tạo tác là “khổ của thế giới” và “khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ tư là thích đáng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thế giới bị bao trùm bởi vô minh.”
5. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi, cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy? Ngài hãy nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” Bốn đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là hai câu hỏi. Tại sao? Bởi vì các câu này được hỏi với nhiều sự định danh. Đối với thế giới đã đạt đến như vậy, đối với thế giới bị uế nhiễm như vậy, cái gì là sự thanh lọc, là sự xuất ra? Bởi vì Ngài đã nói như vầy: “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi.” Chúng tuôn tràn đến người không định tĩnh, có nhiều tham đắm, sân hận, xao lãng. Ở đấy, tham đắm là (nói tới) tham – gốc rễ của bất thiện, sân hận là (nói tới) sân – gốc rễ của bất thiện, xao lãng là (nói tới) si – gốc rễ của bất thiện. Khi người ấy không được định tĩnh như vậy, các tham ái tuôn tràn ở sáu xứ của người ấy: sắc ái, thinh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này các tỳ khưu, ‘tuôn tràn’ quả là sự định danh dành cho sáu xứ thuộc nội phần. Mắt tuôn tràn ở các sắc hợp ý, cưỡng lại ở các sắc không hợp ý. Tai –nt– Mũi –nt– Lưỡi –nt– Thân –nt– Ý tuôn tràn ở các pháp hợp ý, bị cưỡng lại ở các pháp không hợp ý.” Như thế, nó tuôn tràn mọi nơi và tuôn tràn theo mọi cách. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi.” “Cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy?” là hỏi về việc phá hủy sự xâm nhập; đây là sự thanh lọc. “Ngài hãy nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” là hỏi về sự thủ tiêu các pháp tiềm ẩn; đây là sự xuất ra. Ở đấy, câu trả lời là:
6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.”
Khi niệm hướng đến thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, mắt không bị quay cuồng ở các sắc hợp ý, không bị cưỡng lại ở các sắc không hợp ý; tai –nt– mũi –nt– lưỡi –nt– thân –nt– ý không bị quay cuồng ở các pháp hợp ý, không bị cưỡng lại ở các pháp không hợp ý. Bởi lý do gì? Do trạng thái đã được thu thúc và đã được ngăn ngừa của các quyền. Chúng đã được thu thúc và đã được ngăn ngừa nhờ vào cái gì? Nhờ vào sự bảo hộ của niệm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Niệm là sự ngăn cản chúng.”
Các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ nhờ vào tuệ; khi các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ thì các sự xâm nhập được dứt bỏ nhờ vào trạng thái đã được dứt bỏ của pháp tiềm ẩn ấy. Điều ấy giống như khi việc nhổ lên toàn bộ gốc rễ của thân cây đã được thực hiện thì sự tiếp tục của hoa, trái, chồi, nụ đều bị cắt lìa. Tương tự như vậy, khi các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ thì sự liên tục của sự xâm nhập bị cắt lìa, bị che lại, bị đậy lại. Bởi cái gì? Bởi tuệ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Chúng được chặn đứng bởi tuệ.”
7. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc, thưa Ngài, được tôi hỏi điều này, xin Ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”
8. “Ngươi đã hỏi câu hỏi về điều nào, này Ajita, Ta trả lời cho ngươi về điều ấy, về việc danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”
Câu hỏi này hỏi về sự tiếp nối. Hỏi về sự tiếp nối là hỏi về điều gì? Về Niết Bàn giới không còn dư sót. Ba Chân Lý là các pháp còn tạo tác, là các đối tượng của Diệt (gồm có): Khổ, Tập, Đạo; Diệt là pháp không bị tạo tác. Ở đấy, Tập được dứt bỏ ở hai phạm vi: phạm vi nhìn thấy và phạm vi tu tập. Do việc thấy, ba sự ràng buộc được dứt bỏ: thân kiến, hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự; do việc tu tập, bảy sự ràng buộc được dứt bỏ: sự mong muốn về dục, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh không còn dư sót. Mười sự ràng buộc này ở Tam Giới, liên quan đến năm phần dưới, liên quan đến năm phần trên. Ở đấy, ba sự ràng buộc: thân kiến, hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự được diệt tận sau khi xác định vị tri quyền, bảy sự ràng buộc: sự mong muốn về dục, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh không còn dư sót được diệt tận sau khi xác định dĩ tri quyền.
Hơn nữa, việc vị ấy biết rằng: “Sự tái sanh của ta đã cạn kiệt” là trí về sự diệt trừ, nhận biết rằng: “Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A- la-hán) này nữa” là trí về sự không còn tái sanh; hai trí này là cụ tri quyền; ở đấy, vị tri quyền và dĩ tri quyền được diệt tận ở người đã đạt được Quả cao nhất là phẩm vị A-la-hán.
Ở đấy, hai trí này, trí về sự diệt trừ và trí về sự không còn tái sanh, có chung một sự nhận biết, nhưng có được hai tên gọi tùy theo sự ghi nhận đối tượng: Đối với vị nhận biết rằng: “Sự tái sanh của ta đã cạn kiệt” thì nó có được tên gọi là: “Trí về sự diệt trừ,” đối với vị nhận biết rằng: “Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa” thì nó có được tên gọi là: “Trí về sự không còn tái sanh.” Việc ấy với ý nghĩa nhận biết là tuệ, với ý nghĩa không lơ là (đối tượng) theo như đã được thấy là niệm.
Ở đấy, năm thủ uẩn là danh sắc. Ở đấy, các pháp có xúc là cái thứ năm là danh, năm quyền thuộc sắc pháp là sắc, cả hai danh và sắc ấy gắn liền với thức. Trong khi hỏi đức Thế Tôn về sự diệt tận của danh sắc, đại đức Ajita đã nói ở Phẩm ‘Đường Đi Đến Bờ Kia’ như vầy:
9. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc, thưa Ngài, được tôi hỏi điều này, xin Ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”
Ở đấy, niệm và tuệ (đại diện cho) bốn quyền, niệm (đại diện cho) hai quyền: niệm quyền và định quyền, tuệ (đại diện cho) hai quyền: tuệ quyền và tấn quyền. Sự tin tưởng, sự tín nhiệm vào bốn quyền này là tín quyền.
Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tín là pháp chủ đạo, ―đây là định do mong muốn; khi tâm đã được định tĩnh, do trạng thái đè nén các ô nhiễm nhờ vào năng lực của sự suy xét hoặc nhờ vào năng lực của sự tu tập, ―đây là sự dứt bỏ. Ở đấy, các hơi thở ra và hơi thở vào, tầm và tứ, tưởng và thọ, sự ghi nhớ và sự suy tư, ―đây là các sự tạo tác. Như thế, định của sự mong muốn lúc ban đầu và sự dứt bỏ do trạng thái đè nén các ô nhiễm, cùng với các sự tạo tác này, cả hai điều ấy làm phát triển nền tảng của sự thành tựu ―gồm có định của sự mong muốn, sự tinh cần, và các sự tạo tác,― được nương tựa vào sự tách ly, được nương tựa vào sự lìa tham ái, được nương tựa vào sự diệt tận, có sự thiên hẳn về buông bỏ.
Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tấn là pháp chủ đạo, ―đây là định do tinh tấn ―nt― Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tâm là pháp chủ đạo, ―đây là định do tâm ―nt― Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với sự thẩm xét là pháp chủ đạo, ―đây là định do thẩm xét; khi tâm đã được định tĩnh, do trạng thái đè nén các ô nhiễm nhờ vào năng lực của sự suy xét hoặc nhờ vào năng lực của sự tu tập, ―đây là sự dứt bỏ. Ở đấy, các hơi thở ra và hơi thở vào, tầm và tứ, tưởng và thọ, sự ghi nhớ và sự suy tư, ―đây là các sự tạo tác. Như thế, định của sự thẩm xét lúc ban đầu và sự dứt bỏ do trạng thái đè nén các ô nhiễm, cùng với các sự tạo tác này, cả hai điều ấy làm phát triển nền tảng của sự thành tựu ―gồm có định do thẩm xét, sự tinh cần, và các sự tạo tác,― được nương tựa vào sự tách ly, được nương tựa vào sự lìa tham ái, được nương tựa vào sự diệt tận, có sự thiên hẳn về buông bỏ. Toàn bộ định có trí là gốc rễ, có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí.
10. Trước đây thế nào, sau này thế ấy; sau này thế nào, trước đây thế ấy. Ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy; ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy.
Như thế, với ý đã được mở ra, không còn bị trói buộc, vị ấy làm cho tâm trở nên xán lạn. Năm quyền tốt lành cùng hiện hữu với tâm, khi tâm đang sanh lên thì chúng sanh lên, khi tâm đang được diệt tận thì chúng được diệt tận. Danh và sắc có thức là nhân, được sanh ra có thức là duyên. Nhân của thức bị cắt đứt bởi Đạo, và thức không còn yếu tố nuôi dưỡng, không được vui thích, không được ước nguyện, không tiếp nối sanh lên nữa, nó được diệt tận. Không còn nhân, không còn duyên, danh và sắc cũng không còn làm sanh ra sự hiện hữu lại nữa. Như vậy, do sự diệt tận của thức, tuệ, niệm, và danh sắc được diệt tận. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
11. “Ngươi đã hỏi câu hỏi về điều nào, này Ajita, Ta trả lời cho ngươi về điều ấy, về việc danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”
12. “(Đại đức Ajita nói rằng:) Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp (các bậc A-la-hán) và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này, tôi hỏi bậc Chín Chắn về oai nghi của những vị ấy, thưa Ngài, xin Ngài hãy nói lên.”
Ba đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là ba câu hỏi. Tại sao? Liên quan đến bậc Hữu Học, bậc Vô Học, và việc dứt bỏ có minh sát đi trước. Bởi vì vị ấy đã nói như vầy: “Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp” là hỏi về phẩm vị A-la- hán, “và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này” là hỏi về bậc Hữu Học, “tôi hỏi bậc Chín Chắn về oai nghi của những vị ấy, thưa Ngài, xin Ngài hãy nói lên” là hỏi về việc dứt bỏ có minh sát đi trước. Ở đấy, câu trả lời là:
13. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) không nên khát khao ở các dục, không nên bị khuấy động bởi tâm, thiện xảo đối với tất cả các pháp, có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.”
Tất cả thân nghiệp của đức Thế Tôn có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; tất cả khẩu nghiệp của Ngài có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; tất cả ý nghiệp của Ngài có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời quá khứ, sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời vị lai, sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời hiện tại.
Và cái gì là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy? Việc không biết không thấy về vô thường, về khổ não, và về vô ngã; đây là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy. Giống như ở nơi này, một người có thể nhìn thấy các hình dạng của các ngôi sao, nhưng không thể biết về cách thức tính đếm; đây là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy. Trái lại, sự biết và sự thấy của đức Thế Tôn là không bị chướng ngại, bởi vì chư Phật Thế Tôn có sự biết và sự thấy không bị ngăn trở. Ở đấy, vị Hữu Học nên hộ trì tâm về hai pháp: ham muốn ở các pháp đưa đến sự luyến ái và sân hận ở các pháp đưa đến sự xâm nhập. Ở đấy, việc nào là sự ước muốn, sự mê mẩn, sự ước nguyện, sự mong cầu, sự đùa giỡn, đức Thế Tôn, trong khi ngăn chặn việc ấy, đã nói như vầy: “Không nên khát khao ở các dục.” Ngài đã nói về việc tiêu diệt sự xâm nhập rằng: “Không nên bị khuấy động bởi tâm.” Đúng y như thế, vị Hữu Học, trong khi khao khát, làm sanh khởi ô nhiễm chưa được sanh khởi và làm gia tăng ô nhiễm đã được sanh khởi. Trái lại, vị nào có tư duy không bị khuấy động, trong khi không khao khát, thì gắng sức, vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc không sanh khởi của các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc sanh khởi của các thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc duy trì, về việc không lẫn lộn, về việc gia tăng, về việc lớn mạnh, về việc tu tập, về việc làm cho đầy đủ các thiện pháp đã được sanh khởi. Và các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi là những gì? Sự suy tư về dục, suy tư về sân hận, suy tư về hãm hại; đây là các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi. Các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi là những gì? Các pháp tiềm ẩn, các gốc rễ của bất thiện; đây là các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi. Các thiện pháp chưa được sanh khởi là những gì? Các quyền (tín, tấn, ...) của vị Nhập Lưu; đây là các thiện pháp chưa được sanh khởi. Các thiện pháp đã được sanh khởi là những gì? Các quyền của vị Thứ Tám (Nhập Lưu Đạo); đây là các thiện pháp đã được sanh khởi. Ngăn chặn suy tư về dục nhờ vào niệm quyền; ngăn chặn suy tư về sân hận nhờ vào định quyền; ngăn chặn suy tư về hãm hại nhờ vào tấn quyền; không chịu đựng, dứt bỏ, xua đi, làm chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu các ác bất thiện pháp nhờ vào tuệ quyền mỗi khi nó được sanh khởi; sự tin tưởng, sự tín nhiệm ở bốn quyền (tấn, niệm, định, tuệ) này là tín quyền. Ở đấy, tín quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn yếu tố của vị Nhập Lưu. Tấn quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn chánh cần. Niệm quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm. Định quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn thiền. Tuệ quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng. Như vậy, vị Hữu Học là không xao lãng đối với tất cả các thiện pháp đã được nói đến bởi đức Thế Tôn với tâm không bị khuấy động. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không nên bị khuấy động bởi tâm.”
“Thiện xảo đối với tất cả các pháp”: cái gọi là thế giới thì có ba loại: thế giới của ô nhiễm, thế giới của hiện hữu, thế giới của các quyền. Ở đấy, do thế giới của ô nhiễm mà thế giới của hiện hữu khởi lên; nó làm sanh ra các quyền. Trong lúc các quyền đang được tu tập, thì có sự biết toàn diện về điều- có-thể-biết. Sự biết ấy nên được khảo sát theo hai cách: với sự biết toàn diện do thấy và với sự biết toàn diện do tu tập. Bởi vì, khi nào vị Hữu Học biết toàn diện về điều-có-thể-biết, khi ấy, nhờ vào tưởng và tác ý đồng hành với sự nhàm chán, điều-có-thể-biết là được biết toàn diện. Vị ấy có hai pháp đi đến sự thiện xảo: thiện xảo về việc thấy và thiện xảo về việc tu tập.
Trí ấy có thể được biết theo năm loại: sự biết rõ, sự biết toàn diện, sự dứt bỏ, sự tu tập, sự chứng ngộ. Ở đấy, sự biết rõ là gì? Trí về tướng trạng riêng biệt của các pháp, về sự phân tích pháp, và về sự phân tích ý nghĩa; đây là sự biết rõ. Ở đấy, sự biết toàn diện là gì? Sau khi biết rõ như vậy, sự biết toàn diện rằng: “Cái này là thiện, cái này là bất thiện, cái này là có tội, cái này là không có tội, cái này là đen, cái này là trắng, cái này là nên thực hành, cái này là không nên thực hành, các pháp này được nắm giữ như vậy thì làm sanh ra kết quả này, khi chúng được nắm giữ như vậy thì điều này là ý nghĩa;” đây là sự biết toàn diện. Sau khi biết toàn diện như vậy, có ba pháp còn lại: các pháp cần được dứt bỏ, các pháp cần được tu tập, và các pháp cần được chứng ngộ. Ở đấy, các pháp cần được dứt bỏ là những gì? Các pháp bất thiện. Ở đấy, các pháp cần được tu tập là những gì? Các pháp thiện. Ở đấy, các pháp cần được chứng ngộ là những gì? Pháp không tạo tác. Vị biết như vậy được gọi là vị thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về trạng thái tốt lành, thiện xảo về tình trạng quả báo, thiện xảo về sự tiến bộ, thiện xảo về sự không tiến bộ, thiện xảo về cách thức, có được sự thiện xảo lớn lao. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thiện xảo đối với tất cả các pháp.”
“Có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương”: vị ấy, với mục đích an trú lạc trong đời hiện tại, nên an trú với niệm, với sự nhận biết rõ rệt trong khi đi tới, trong khi đi lui, khi nhìn qua, khi nhìn lại, khi co tay, khi duỗi tay, trong việc mang y hai lớp, bình bát, và y phục, khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, ở hành động đại tiện tiểu tiện, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Đây là hai hành vi đã được đức Thế Tôn chấp thuận: Một của các vị đã được thanh tịnh, một của các vị đang được thanh tịnh. Những vị nào là thanh tịnh? Các vị A-la-hán. Những vị nào là đang được thanh tịnh? Các vị Hữu Học. Bởi vì các quyền của các vị A-la-hán có các phận sự đã được làm xong.
Điều cần được giác ngộ gồm có bốn: lãnh hội về sự biết toàn diện đối với Khổ, lãnh hội về sự dứt bỏ đối với Tập, lãnh hội về sự tu tập đối với Đạo, lãnh hội về sự chứng ngộ đối với Diệt; đây là bốn điều cần được giác ngộ. Vị nào biết như vậy được gọi là vị đi tới có niệm, đi lui có niệm, do sự diệt trừ luyến ái, do sự diệt trừ sân hận, do sự diệt trừ si mê. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.” Vì thế, Ngài đã nói rằng:
14. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) không nên khát khao ở các dục, không nên bị khuấy động bởi tâm, thiện xảo đối với tất cả các pháp, có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.”
Nên được hỏi như vậy, nên được trả lời như vậy. Và kệ tóm lược của Kinh nên được so sánh về ý nghĩa và về văn tự, bởi vì văn tự mà bị xa lìa ý nghĩa sẽ là việc nói nhảm nhí. Thậm chí ý nghĩa của thuật ngữ và văn tự được sắp xếp vụng về sẽ là sự hướng dẫn sai trái. Do đó, Kinh nên được trùng tụng đầy đủ văn tự và nên được nghiên cứu: “Kinh này là gì? Là lời dạy trực tiếp (của đức Thế Tôn), là lời giảng tiếp nối (của vị Thinh Văn), có ý nghĩa đã được hướng dẫn, có ý nghĩa có thể hiểu được, liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến thấu triệt, liên quan đến bậc Vô Học? Tất cả bốn Chân Lý sẽ được nhìn thấy ở đâu của bài Kinh này? Ở đoạn đầu, ở đoạn giữa, ở đoạn kết?” Kinh nên được nghiên cứu như vậy. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Điều đã được hỏi và đã được trả lời, và kệ tụng của Kinh ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Tattha katamo vicayo hāro? ‘‘Yaṃ pucchitañca vissajjitañcā’’ti gāthā, ayaṃ vicayo hāro.
11. Herein, what is the Mode of Investigation? The verse beginning ‘What is asked and what is answered’—this is the Mode of Investigation.
11. Trong các pháp yếu ấy, Vicayahāra là gì? Kệ ngôn: ‘Điều được hỏi và điều được trả lời,’ đây là Vicayahāra.
Kiṃ vicinati? Padaṃ vicinati, pañhaṃ vicinati, visajjanaṃ † vicinati, pubbāparaṃ vicinati, assādaṃ vicinati, ādīnavaṃ vicinati, nissaraṇaṃ vicinati, phalaṃ vicinati, upāyaṃ vicinati, āṇattiṃ vicinati, anugītiṃ vicinati, sabbe nava suttante vicinati. Yathā kiṃ bhave, yathā āyasmā ajito pārāyane bhagavantaṃ pañhaṃ pucchati –
What does it investigate? It investigates the term, it investigates the question, it investigates the answer, it investigates the sequence, it investigates gratification, it investigates danger, it investigates escape, it investigates the fruit, it investigates the means, it investigates the instruction, it investigates the repetition, it investigates all the ninefold suttantas. How might this be? Just as the Venerable Ajita in the Pārāyana asks the Blessed One a question:
Thẩm sát điều gì? Thẩm sát câu cú, thẩm sát câu hỏi, thẩm sát câu trả lời, thẩm sát trước sau, thẩm sát vị ngọt, thẩm sát sự nguy hại, thẩm sát sự xuất ly, thẩm sát quả, thẩm sát phương tiện, thẩm sát mệnh lệnh, thẩm sát sự trùng tuyên, thẩm sát tất cả chín thể loại kinh. Ví như thế nào? Ví như trưởng lão Ajita trong kinh Pārāyana đã hỏi đức Thế Tôn một câu hỏi –
‘‘Kenassu † nivuto loko, [iccāyasmā ajito,]
Kenassu nappakāsati;
Kissābhilepanaṃ brūsi, kiṃ su tassa mahabbhaya’’nti.
‘By what is the world shrouded?’ [thus the Venerable Ajita asked,] ‘By what does it not shine forth? What do you say is its besmearing? What is its great fear?’
‘Thế gian bị cái gì che lấp, [trưởng lão Ajita thưa,] do đâu thế gian không chiếu sáng? Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó, cái gì là nỗi sợ hãi lớn của nó?’
Imāni cattāri padāni pucchitāni, so eko pañho. Kasmā? Ekavatthu pariggahā, evañhi āha ‘‘kenassu nivuto loko’’ti lokādhiṭṭhānaṃ pucchati, ‘‘kenassu nappakāsatī’’ti lokassa appakāsanaṃ pucchati, ‘‘kissābhilepanaṃ brūsī’’ti lokassa abhilepanaṃ pucchati, ‘‘kiṃsu tassa mahabbhaya’’nti tasseva lokassa mahābhayaṃ pucchati. Loko tividho kilesaloko bhavaloko indriyaloko.
These four lines are asked, and it is a single question. Why? Because it comprehends a single subject. For when he says, ‘By what is the world shrouded?’ he asks about the world as the basis. When he says, ‘By what does it not shine forth?’ he asks about the world’s not shining forth. When he says, ‘What do you say is its besmearing?’ he asks about the world’s besmearing. When he says, ‘What is its great fear?’ he asks about the great fear of that same world. The world is threefold: the world of defilements, the world of existence, and the world of the faculties.
Bốn câu này đã được hỏi, đó là một câu hỏi. Tại sao? Vì chúng cùng nắm giữ một đối tượng. Thật vậy, ngài đã hỏi: ‘Thế gian bị cái gì che lấp?’ là hỏi về nền tảng của thế gian. ‘Do đâu thế gian không chiếu sáng?’ là hỏi về sự không chiếu sáng của thế gian. ‘Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó?’ là hỏi về sự thoa phết của thế gian. ‘Cái gì là nỗi sợ hãi lớn của nó?’ là hỏi về nỗi sợ hãi lớn của chính thế gian ấy. Thế gian có ba loại: thế gian phiền não, thế gian hữu, và thế gian căn.
Tattha visajjanā –
Herein, the answer:
Về điều đó, câu trả lời là –
‘‘Avijjāya nivuto loko, [ajitāti bhagavā,]
Vivicchā † pamādā nappakāsati;
Jappābhilepanaṃ brūmi, dukkhamassa mahabbhaya’’nti.
‘The world is shrouded by ignorance,’ [said the Blessed One to Ajita,] ‘from doubt and heedlessness it does not shine forth; I say craving is its besmearing, suffering is its great fear.’
‘Thế gian bị vô minh che lấp, [này Ajita, đức Thế Tôn đáp,] do hoài nghi và phóng dật, nó không chiếu sáng. Ta nói sự khao khát là sự thoa phết của nó, khổ là nỗi sợ hãi lớn của nó.’
Imāni cattāri padāni imehi catūhi padehi visajjitāni paṭhamaṃ paṭhamena, dutiyaṃ dutiyena, tatiyaṃ tatiyena, catutthaṃ catutthena.
These four lines are answered by these four lines: the first by the first, the second by the second, the third by the third, and the fourth by the fourth.
Bốn câu này đã được trả lời bằng bốn câu này: câu thứ nhất bằng câu thứ nhất, câu thứ hai bằng câu thứ hai, câu thứ ba bằng câu thứ ba, câu thứ tư bằng câu thứ tư.
‘‘Kenassu nivuto loko’’ti pañhe ‘‘avijjāya nivuto loko’’ti visajjanā. Nīvaraṇehi nivuto loko, avijjānīvaraṇā hi sabbe sattā. Yathāha bhagavā ‘‘sabbasattānaṃ, bhikkhave, sabbapāṇānaṃ sabbabhūtānaṃ pariyāyato ekameva nīvaraṇaṃ vadāmi yadidaṃ avijjā, avijjānīvaraṇā hi sabbe sattā. Sabbasova, bhikkhave, avijjāya nirodhā cāgā paṭinissaggā natthi sattānaṃ nīvaraṇanti vadāmī’’ti. Tena ca paṭhamassa padassa visajjanā yuttā.
To the question, ‘By what is the world shrouded?’ the answer is, ‘The world is shrouded by ignorance.’ The world is shrouded by the hindrances, for all beings have the hindrance of ignorance. As the Blessed One said: ‘Monks, for all beings, all that breathe, all creatures, I declare one single hindrance in a figurative sense, that is, ignorance. For all beings have the hindrance of ignorance. It is, monks, with the complete cessation, giving up, and relinquishment of that same ignorance that I say there is no hindrance for beings.’ Therefore, the answer to the first line is fitting.
Đối với câu hỏi ‘Thế gian bị cái gì che lấp?’, câu trả lời là ‘Thế gian bị vô minh che lấp’. Thế gian bị các triền cái che lấp, vì tất cả chúng sanh đều có vô minh làm triền cái. Như đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, đối với tất cả chúng sanh, tất cả sinh vật, tất cả loài hữu tình, theo một cách nói, Ta tuyên bố chỉ có một triền cái, đó là vô minh. Vì tất cả chúng sanh đều có vô minh làm triền cái. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng do sự diệt tận, từ bỏ, xả ly hoàn toàn vô minh mà không còn triền cái nào cho chúng sanh.’ Do đó, câu trả lời cho câu thứ nhất là hợp lý.
‘‘Kenassu nappakāsatī’’ti pañhe ‘‘vivicchā pamādā nappakāsatī’’ti visajjanā. Yo puggalo nīvaraṇehi nivuto, so vivicchati. Vivicchā nāma vuccati vicikicchā. So vicikicchanto nābhisaddahati, na abhisaddahanto vīriyaṃ nārabhati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ sacchikiriyāya. So idhappamādamanuyutto viharati pamatto, sukke dhamme na uppādiyati, tassa te anuppādiyamānā nappakāsanti, yathāha bhagavā –
To the question, ‘By what does it not shine forth?’ the answer is, ‘From doubt and heedlessness, it does not shine forth.’ A person who is shrouded by the hindrances doubts. Vivicchā is a name for doubt. Doubting, one has no faith; having no faith, one does not arouse energy for the abandoning of unwholesome states and the realization of wholesome states. Such a person dwells here given to heedlessness. Being heedless, one does not bring forth bright states. For that person, since these states are not brought forth, they do not shine forth. As the Blessed One said:
Đối với câu hỏi ‘Do đâu thế gian không chiếu sáng?’, câu trả lời là ‘Do hoài nghi và phóng dật, nó không chiếu sáng’. Người nào bị các triền cái che lấp, người ấy hoài nghi. Hoài nghi (vivicchā) được gọi là nghi ngờ (vicikicchā). Người ấy, do nghi ngờ, nên không có tín tâm. Không có tín tâm, người ấy không khởi sự tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện và để chứng ngộ các pháp thiện. Người ấy sống ở đây, chuyên tâm vào sự phóng dật, trở nên phóng dật. (Người) phóng dật không làm phát sinh các pháp thanh tịnh. Đối với người ấy, các pháp ấy, do không được làm phát sinh, nên không chiếu sáng. Như đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Dūre santo pakāsanti †, himavantova pabbato;
Asantettha na dissanti, rattiṃ khittā † yathā sarā;
Te guṇehi pakāsanti, kittiyā ca yasena cā’’ti.
‘The good shine from afar, like the Himalaya mountain; the wicked are not seen even when near, like arrows shot in the night. They shine by their virtues, and by their fame and renown.’
‘Bậc thiện nhân dù ở xa vẫn sáng tỏ, như núi Hy-mã-lạp. Kẻ bất lương ở đây không được thấy, như mũi tên bắn vào đêm. Các vị ấy sáng tỏ nhờ đức hạnh, nhờ danh tiếng và uy tín.’
Tena ca dutiyassa padassa visajjanā yuttā.
Therefore, the answer to the second line is fitting.
Do đó, câu trả lời cho câu thứ hai là hợp lý.
‘‘Kissābhilepanaṃ brūsī’’ti pañhe ‘‘jappābhilepanaṃ brūmī’’ti visajjanā. Jappā nāma vuccati taṇhā. Sā kathaṃ abhilimpati? Yathāha bhagavā –
To the question, ‘What do you say is its besmearing?’ the answer is, ‘I say craving is its besmearing.’ Jappā is a name for craving. How does it besmear? As the Blessed One said:
Đối với câu hỏi ‘Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó?’, câu trả lời là ‘Ta nói sự khao khát là sự thoa phết’. Khao khát (jappā) được gọi là ái dục (taṇhā). Nó thoa phết như thế nào? Như đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Ratto atthaṃ na jānāti, ratto dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ † tadā hoti, yaṃ rāgo sahate nara’’nti.
‘One who is impassioned does not know the meaning, one who is impassioned does not see the Dhamma. It is blinding darkness then, when passion overcomes a person.’
‘Người bị tham ái không biết lợi ích, người bị tham ái không thấy Pháp. Khi tham ái chế ngự một người, khi ấy có sự tối tăm mù mịt.’
Sāyaṃ taṇhā āsattibahulassa puggalassa ‘‘evaṃ abhijappā’’ti karitvā tattha loko abhilitto nāma bhavati, tena ca tatiyassa padassa visajjanā yuttā.
This craving torments a person of much attachment by causing intense longing. For this reason, the world is said to be smeared. And by that, the answer to the third question is appropriate.
Ái dục ấy, đối với người có nhiều dính mắc, được xem là ‘sự khao khát mãnh liệt như vậy’; do đó, thế gian được gọi là bị thoa phết. Và do đó, câu trả lời cho câu thứ ba là hợp lý.
‘‘Kiṃ su tassa mahabbhaya’’nti pañhe ‘‘dukkhamassa mahabbhaya’’nti visajjanā. Duvidhaṃ dukkhaṃ – kāyikañca cetasikañca. Yaṃ kāyikaṃ idaṃ dukkhaṃ, yaṃ cetasikaṃ idaṃ domanassaṃ. Sabbe sattā hi dukkhassa ubbijjanti, natthi bhayaṃ dukkhena samasamaṃ, kuto vā pana tassa uttaritaraṃ? Tisso dukkhatā – dukkhadukkhatā saṅkhāradukkhatā vipariṇāmadukkhatā. Tattha loko odhaso kadāci karahaci dukkhadukkhatāya muccati. Tathā vipariṇāmadukkhatāya. Taṃ kissa hetu? Honti loke appābādhāpi dīghāyukāpi. Saṅkhāradukkhatāya pana loko anupādisesāya nibbānadhātuyā muccati, tasmā saṅkhāradukkhatā dukkhaṃ lokassāti katvā dukkhamassa mahabbhayanti. Tena ca catutthassa padassa visajjanā yuttā. Tenāha bhagavā ‘‘avijjāya nivuto loko’’ti.
To the question, 'What is its great fear?' the answer is, 'Suffering is its great fear.' Suffering is twofold: bodily and mental. That which is bodily is suffering; that which is mental is displeasure. Indeed, all beings are frightened of suffering; there is no fear equal to suffering, whence could there be one greater? There are three kinds of suffering: the suffering of pain, the suffering of formations, and the suffering of change. In this regard, the world is at certain times, on some occasions, freed from the suffering of pain, and likewise from the suffering of change. For what reason? Because in the world there are those with little illness and long life. But from the suffering of formations, the world is freed by the Nibbāna-element without residue of aggregates. Therefore, having considered that the suffering of formations is the suffering for the world, it is said, 'Suffering is its great fear.' And by that, the answer to the fourth question is appropriate. Therefore, the Blessed One said, 'The world is shrouded by ignorance.'
Đối với câu hỏi ‘Cái gì là nỗi sợ hãi lớn của nó?’, câu trả lời là ‘Khổ là nỗi sợ hãi lớn của nó’. Khổ có hai loại – khổ thân và khổ tâm. Cái thuộc về thân là khổ, cái thuộc về tâm là ưu. Vì tất cả chúng sanh đều kinh sợ khổ, không có nỗi sợ nào ngang bằng với khổ, huống chi là vượt hơn? Có ba loại khổ tánh: khổ khổ tánh, hành khổ tánh, và hoại khổ tánh. Trong đó, thế gian đôi khi, lúc này lúc khác, thoát khỏi khổ khổ tánh. Tương tự, (thoát khỏi) hoại khổ tánh. Do nguyên nhân gì? Vì trong thế gian có những chúng sanh ít bệnh và sống lâu. Nhưng thế gian chỉ thoát khỏi hành khổ tánh bằng vô dư y Niết-bàn giới. Do đó, xem rằng ‘hành khổ tánh là khổ của thế gian’, (nên nói) ‘khổ là nỗi sợ hãi lớn của nó’. Và do đó, câu trả lời cho câu thứ tư là hợp lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói: ‘Thế gian bị vô minh che lấp’.
Savanti sabbadhi sotā, [iccāyasmā ajito,]
Sotānaṃ kiṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūhi, kena sotā pidhīyare †.
'Streams flow everywhere,' said the Venerable Ajita, 'What is the prevention for the streams? Declare the restraint for the streams; by what are the streams blocked?'
‘Các dòng chảy tuôn chảy khắp nơi, [trưởng lão Ajita thưa,] cái gì là sự ngăn chặn các dòng chảy? Xin hãy nói về sự phòng hộ các dòng chảy, các dòng chảy được bịt lại bằng gì?’
Imāni cattāri padāni pucchitāni. Te dve pañhā. Kasmā? Imehi batvādhivacanena pucchitā. Evaṃ samāpannassa lokassa evaṃ saṃkiliṭṭhassa kiṃ lokassa vodānaṃ vuṭṭhānamiti, evañhi āha.
These four phrases have been asked. They are two questions. Why? Because they were asked with a word indicating plurality. For a world thus overcome, thus defiled, what is its purification, its emergence? Thus indeed, it was asked.
Bốn câu này đã được hỏi. Chúng là hai câu hỏi. Tại sao? Vì chúng được hỏi bằng một từ chỉ số nhiều. Đối với thế gian đã bị chi phối như vậy, đối với thế gian đã bị ô nhiễm như vậy, cái gì là sự thanh lọc, cái gì là sự vượt thoát cho thế gian? Quả thật, ngài đã hỏi như vậy.
Savanti sabbadhi sotāti. Asamāhitassa savanti abhijjhābyāpādappamādabahulassa. Tattha yā abhijjhā ayaṃ lobho akusalamūlaṃ, yo byāpādo ayaṃ doso akusalamūlaṃ, yo pamādo ayaṃ moho akusalamūlaṃ. Tassevaṃ asamāhitassa chasu āyatanesu taṇhā savanti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā, yathāha bhagavā –
'Streams flow everywhere.' For one who is unconcentrated, the streams flow—for one who has much covetousness, ill will, and heedlessness. Herein, that which is covetousness is greed, an unwholesome root. That which is ill will is hatred, an unwholesome root. That which is heedlessness is delusion, an unwholesome root. For such an unconcentrated person, craving flows in the six sense-bases: craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tangibles, and craving for mind-objects, as the Blessed One has said:
‘Các dòng chảy trôi đi khắp nơi.’ Đối với người không định tĩnh, người có nhiều tham ái, sân hận, và phóng dật, các dòng chảy trôi đi. Trong đó, cái gì là tham ái (abhijjhā), đây là tham (lobha), một gốc rễ bất thiện. Cái gì là sân hận (byāpādo), đây là sân (doso), một gốc rễ bất thiện. Cái gì là phóng dật (pamādo), đây là si (moho), một gốc rễ bất thiện. Đối với người không định tĩnh như vậy, ái dục khởi lên ở sáu xứ: ái đối với sắc, ái đối với thanh, ái đối với hương, ái đối với vị, ái đối với xúc, ái đối với pháp. Như đức Thế Tôn đã dạy –
‘‘Savatī’’ti ca kho, bhikkhave, channetaṃ ajjhattikānaṃ āyatanānaṃ adhivacanaṃ. Cakkhu savati manāpikesu rūpesu, amanāpikesu † paṭihaññatīti. Sotaṃ…pe… ghānaṃ… jivhā… kāyo… mano savati manāpikesu dhammesu amanāpikesu paṭihaññatīti. Iti sabbā ca savati, sabbathā ca savati. Tenāha ‘‘savanti sabbadhi sotā’’ti.
'Flowing,' O bhikkhus, is indeed a designation for the six internal sense-bases. The eye flows towards agreeable forms and is repelled by disagreeable ones. The ear... the nose... the tongue... the body... the mind flows towards agreeable mind-objects and is repelled by disagreeable ones. Thus, it flows from all doors, and it flows in every way. Therefore, it is said, 'Streams flow everywhere.'
Này các Tỳ kheo, ‘chảy’ là một tên gọi cho sáu nội xứ. Mắt chảy theo các sắc khả ý, và bị xung đột bởi các sắc không khả ý. Tai... mũi... lưỡi... thân... ý chảy theo các pháp khả ý, và bị xung đột bởi các pháp không khả ý. Như vậy, nó chảy từ tất cả (các căn môn), và nó chảy trong mọi cách. Do đó, Ngài nói ‘các dòng chảy trôi đi khắp nơi’.
‘‘Sotānaṃ kiṃ nivāraṇa’’nti pariyuṭṭhānavighātaṃ pucchati, idaṃ vodānaṃ. ‘‘Sotānaṃ saṃvaraṃ brūhi, kena sotā pidhīyare’’ti anusayasamugghātaṃ pucchati, idaṃ vuṭṭhānaṃ.
By the phrase, 'What is the prevention for the streams?' he asks about the destruction of the obsessions; this is purification. By the phrase, 'Declare the restraint for the streams; by what are the streams blocked?' he asks about the uprooting of the underlying tendencies; this is emergence.
Với câu ‘Cái gì là sự ngăn chặn các dòng chảy?’, ngài hỏi về sự diệt trừ các triền cái (pariyuṭṭhāna); đây là sự thanh lọc (vodāna). Với câu ‘Hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy, do đâu các dòng chảy được bịt lại?’, ngài hỏi về sự nhổ bật các tùy miên (anusaya); đây là sự vượt thoát (vuṭṭhāna).
Tattha visajjanā –
Therein, the answer is:
Về điều đó, câu trả lời là –
‘‘Yāni sotāni lokasmiṃ, [ajitāti bhagavā,]
Sati tesaṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhīyare’’ti.
'Whatever streams there are in the world,' said the Blessed One to Ajita, 'mindfulness is their prevention. I declare the restraint of the streams; by wisdom they are blocked.'
“Đối với những dòng chảy nào trong thế gian, hỡi Ajita, [đức Thế Tôn phán,] niệm là sự ngăn chặn chúng. Ta tuyên bố sự chế ngự các dòng chảy; chúng được bịt lại bởi trí tuệ.”
Kāyagatāya satiyā bhāvitāya bahulīkatāya cakkhu nāviñchati manāpikesu rūpesu, amanāpikesu na paṭihaññati, sotaṃ…pe… ghānaṃ… jivhā… kāyo… mano nāviñchati manāpikesu dhammesu, amanāpikesu na paṭihaññati. Kena kāraṇena? Saṃvutanivāritattā indriyānaṃ. Kena te saṃvutanivāritā? Satiārakkhena. Tenāha bhagavā – ‘‘sati tesaṃ nivāraṇa’’nti.
When mindfulness directed to the body has been developed and made much of, the eye is not drawn to agreeable forms, nor is it repelled by disagreeable ones. The ear... the nose... the tongue... the body... the mind is not drawn to agreeable mind-objects, nor is it repelled by disagreeable ones. For what reason? Because the sense-faculties are restrained and prevented. By what are they restrained and prevented? By the guard of mindfulness. Therefore, the Blessed One said: 'Mindfulness is their prevention.'
Khi niệm thân được tu tập, được làm cho sung mãn, mắt không bị lôi cuốn bởi các sắc khả ý, không bị xung đột bởi các sắc không khả ý; tai... mũi... lưỡi... thân... ý không bị lôi cuốn bởi các pháp khả ý, không bị xung đột bởi các pháp không khả ý. Do nguyên nhân gì? Do các căn đã được chế ngự và ngăn chặn. Do đâu chúng được chế ngự và ngăn chặn? Do sự phòng hộ của niệm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói – ‘niệm là sự ngăn chặn chúng’.
Paññāya anusayā pahīyanti, anusayesu pahīnesu pariyuṭṭhānā pahīyanti. Kissa †, anusayassa pahīnattā? Taṃ yathā khandhavantassa rukkhassa anavasesamūluddharaṇe kate pupphaphalapallavaṅkurasantati samucchinnā bhavati. Evaṃ anusayesu pahīnesu pariyuṭṭhānasantati samucchinnā bhavati pidahitā paṭicchannā. Kena? Paññāya. Tenāha bhagavā ‘‘paññāyete pidhīyare’’ti.
By wisdom, the underlying tendencies are abandoned. When the underlying tendencies are abandoned, the obsessions are abandoned. Why? Because the underlying tendency has been abandoned. It is like a tree with a trunk: when its roots are completely uprooted, the continuity of its flowers, fruits, leaves, and shoots is utterly cut off. So too, when the underlying tendencies are abandoned, the continuity of the obsessions is utterly cut off, blocked, and concealed. By what? By wisdom. Therefore, the Blessed One said: 'By wisdom they are blocked.'
Do trí tuệ, các tùy miên (anusaya) được đoạn trừ. Khi các tùy miên được đoạn trừ, các triền cái (pariyuṭṭhāna) được đoạn trừ. Tại sao? Do sự đoạn trừ của tùy miên. Ví như khi một cái cây có thân bị nhổ bật tận gốc rễ không còn sót, thì dòng tương tục của hoa, quả, lá, mầm cũng bị cắt đứt. Cũng vậy, khi các tùy miên được đoạn trừ, dòng tương tục của triền cái bị cắt đứt, bị bịt lại, bị che đậy. Do đâu? Do trí tuệ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói ‘do trí tuệ mà chúng được bịt lại’.
‘‘Paññā ceva sati ca, [iccāyasmā ajito,]
Nāmarūpañca mārisa;
Etaṃ me puṭṭho pabrūhi, katthetaṃ uparujjhatī’’ti.
'Wisdom and mindfulness,' said the Venerable Ajita, 'and name-and-form, O Mārisa; being asked this by me, please explain: where does this cease without remainder?'
“Thưa ngài, [Trưởng lão Ajita thưa,] trí tuệ và niệm, cùng với danh và sắc; con đã hỏi điều này, xin hãy giải thích cho con: nơi đâu chúng được đoạn diệt?”
‘‘Yametaṃ pañhaṃ apucchi †, ajita taṃ vadāmi te;
Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;
Viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ uparujjhatī’’ti.
'This question that you have asked, Ajita, I will answer for you: where name-and-form cease without remainder—with the cessation of consciousness, it is here that this ceases without remainder.'
“Này Ajita, câu hỏi mà ngươi đã hỏi, Ta sẽ trả lời cho ngươi. Nơi mà danh và sắc đoạn diệt không còn dư tàn; với sự diệt của thức, chính nơi đây chúng được đoạn diệt.”
Ayaṃ pañhe † anusandhiṃ pucchati. Anusandhiṃ pucchanto kiṃ pucchati? Anupādisesaṃ nibbānadhātuṃ. Tīṇi ca saccāni saṅkhatāni nirodhadhammāni dukkhaṃ samudayo maggo, nirodho asaṅkhato. Tattha samudayo dvīsu bhūmīsu pahīyati dassanabhūmiyā ca bhāvanābhūmiyā ca. Dassanena tīṇi saṃyojanāni pahīyanti sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāso, bhāvanāya satta saṃyojanāni pahīyanti kāmacchando byāpādo rūparāgo arūparāgo māno uddhaccaṃ avijjāvasesā †. Tedhātuke imāni dasa saṃyojanāni pañcorambhāgiyāni pañcuddhambhāgiyāni.
This question asks about the connection. In asking about the connection, what does one ask? One asks about the Nibbāna-element without residue. The three truths—suffering, its origin, and the path—are conditioned, subject to cessation. The truth of cessation is unconditioned. Therein, the origin is abandoned in two stages: the stage of seeing and the stage of development. By seeing, three fetters are abandoned: identity-view, doubt, and grasping at precepts and practices. By development, seven fetters are abandoned: sensual desire, ill will, craving for form, craving for the formless, conceit, restlessness, and the remainder of ignorance. In the three realms, these ten fetters are the five lower fetters and the five higher fetters.
Vị này hỏi về sự liên kết trong câu hỏi. Khi hỏi về sự liên kết, vị ấy hỏi về điều gì? Về Vô dư y Niết-bàn giới (anupādisesa nibbānadhātu). Ba chân đế là pháp hữu vi (saṅkhata) và có tính chất đoạn diệt: khổ, tập, đạo; còn diệt đế là pháp vô vi (asaṅkhata). Trong đó, tập đế được đoạn trừ ở hai giai đoạn: giai đoạn kiến đạo (dassanabhūmi) và giai đoạn tu đạo (bhāvanābhūmi). Do kiến đạo, ba kiết sử được đoạn trừ: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Do tu đạo, bảy kiết sử được đoạn trừ: tham dục, sân hận, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, và phần còn lại của vô minh. Trong ba cõi, có mười kiết sử này: năm hạ phần kiết sử và năm thượng phần kiết sử.
12. Tattha tīṇi saṃyojanāni sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāso anaññātaññassāmītindriyaṃ adhiṭṭhāya nirujjhanti. Satta saṃyojanāni kāmacchando byāpādo rūparāgo arūparāgo māno uddhaccaṃ avijjāvasesā aññindriyaṃ adhiṭṭhāya nirujjhanti. Yaṃ pana evaṃ jānāti ‘‘khīṇā me jātī’’ti, idaṃ khaye ñāṇaṃ. ‘‘Nāparaṃ itthattāyā’’ti pajānāti, idaṃ anuppāde ñāṇaṃ. Imāni dve ñāṇāni aññātāvindriyaṃ. Tattha yañca anaññātaññassāmītindriyaṃ yañca aññindriyaṃ, imāni aggaphalaṃ arahattaṃ pāpuṇantassa nirujjhanti, tattha yañca khaye ñāṇaṃ yañca anuppāde ñāṇaṃ, imāni dve ñāṇāni ekapaññā.
12. Herein, the three fetters—personality-view, doubt, and adherence to rites and rituals—cease, being established in the faculty of 'I shall know the unknown.' The seven fetters—sensual desire, ill will, craving for form, craving for the formless, conceit, restlessness, and the remainder of ignorance—cease, being established in the faculty of final knowledge. When one knows thus, 'My birth is destroyed,' this is the knowledge of destruction. When one understands, 'There is nothing further for this state of being,' this is the knowledge of non-arising. These two knowledges are the faculty of one who has finally known. Herein, both the faculty of 'I shall know the unknown' and the faculty of final knowledge cease for one who attains the supreme fruit, Arahantship. Therein, both the knowledge of destruction and the knowledge of non-arising are one wisdom.
12. Trong đó, ba kiết sử – thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ – được đoạn diệt khi an trú vào Vị Tri Cụ Tri Căn (anaññātaññassāmītindriya). Bảy kiết sử – tham dục, sân hận, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, và phần còn lại của vô minh – được đoạn diệt khi an trú vào Cụ Tri Căn (aññindriya). Khi một người biết rằng: ‘Sanh của ta đã tận’, đây là Tận trí (khaye ñāṇa). Khi người ấy biết rằng: ‘Không còn trở lại trạng thái này nữa’, đây là Vô sanh trí (anuppāde ñāṇa). Hai trí này là Dĩ Tri Căn (aññātāvindriya). Trong đó, cả Vị Tri Cụ Tri Căn và Cụ Tri Căn, cả hai đều đoạn diệt đối với vị đạt được quả vị cao nhất, quả A-la-hán. Trong đó, cả Tận trí và Vô sanh trí, hai trí này là một trí tuệ duy nhất.
Api ca ārammaṇasaṅketena dve nāmāni labbhanti, ‘‘khīṇā me jātī’’ti pajānantassa khaye ñāṇanti nāmaṃ labhati, ‘‘nāparaṃ itthattāyā’’ti pajānantassa anuppāde ñāṇanti nāmaṃ labhati. Sā pajānanaṭṭhena paññā, yathādiṭṭhaṃ apilāpanaṭṭhena sati.
Moreover, by the designation of the object, two names are obtained: for one who understands, 'My birth is destroyed,' the name 'knowledge of destruction' is obtained; for one who understands, 'There is nothing further for this state of being,' the name 'knowledge of non-arising' is obtained. That is wisdom in the sense of thorough understanding; it is mindfulness in the sense of not allowing what has been seen to be forgotten.
Hơn nữa, do sự quy ước về đối tượng mà có được hai tên gọi. Đối với người biết ‘Sanh của ta đã tận’, trí tuệ ấy được gọi là Tận trí. Đối với người biết ‘Không còn trở lại trạng thái này nữa’, trí tuệ ấy được gọi là Vô sanh trí. Nó là trí tuệ (paññā) theo nghĩa là tuệ tri, và là niệm (sati) theo nghĩa là không quên những gì đã được thấy.
13. Tattha ye pañcupādānakkhandhā, idaṃ nāmarūpaṃ. Tattha ye phassapañcamakā dhammā, idaṃ nāmaṃ. Yāni pañcindriyāni rūpāni, idaṃ rūpaṃ. Tadubhayaṃ nāmarūpaṃ viññāṇasampayuttaṃ tassa nirodhaṃ bhagavantaṃ pucchanto āyasmā ajito pārāyane evamāha –
13. Herein, whatever are the five aggregates of clinging, this is name-and-form. Herein, whatever phenomena have contact as the fifth, this is name. Whatever five faculties are material, this is form. That pair, name-and-form, is associated with consciousness. Asking the Blessed One about its cessation, the Venerable Ajita spoke thus in the Pārāyana:
13. Trong đó, năm thủ uẩn chính là danh sắc. Trong đó, các pháp có xúc là thứ năm, đó là danh. Năm căn là sắc, đó là sắc. Cả hai, danh và sắc, đều tương ưng với thức. Khi hỏi đức Thế Tôn về sự đoạn diệt của chúng, Trưởng lão Ajita đã nói trong phẩm Pārāyana như sau –
‘‘Paññā ceva sati ca, nāmarūpañca mārisa;
Etaṃ me puṭṭho pabrūhi, katthetaṃ uparujjhatī’’ti.
“Wisdom and mindfulness, and name-and-form, O venerable sir; this I ask of you, declare where this ceases.”
“Thưa ngài, trí tuệ và niệm, cùng với danh và sắc; con đã hỏi điều này, xin hãy giải thích cho con: nơi đâu chúng được đoạn diệt?”
Tattha sati ca paññā ca cattāri indriyāni, sati dve indriyāni satindriyañca samādhindriyañca, paññā dve indriyāni paññindriyañca vīriyindriyañca. Yā imesu catūsu indriyesu saddahanā okappanā, idaṃ saddhindriyaṃ. Tattha yā saddhādhipateyyā cittekaggatā, ayaṃ chandasamādhi. Samāhite citte kilesānaṃ vikkhambhanatāya paṭisaṅkhānabalena vā bhāvanābalena vā, idaṃ pahānaṃ. Tattha ye assāsapassāsā vitakkavicārā saññāvedayitā sarasaṅkappā, ime saṅkhārā. Iti purimako ca chandasamādhi, kilesavikkhambhanatāya ca pahānaṃ ime ca saṅkhārā, tadubhayaṃ chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Tattha yā vīriyādhipateyyā cittekaggatā, ayaṃ vīriyasamādhi…pe… tattha yā cittādhipateyyā cittekaggatā, ayaṃ cittasamādhi…pe… tattha yā vīmaṃsādhipateyyā cittekaggatā, ayaṃ vīmaṃsāsamādhi. Samāhite citte kilesānaṃ vikkhambhanatāya paṭisaṅkhānabalena vā bhāvanābalena vā, idaṃ pahānaṃ. Tattha ye assāsapassāsā vitakkavicārā saññāvedayitā sarasaṅkappā, ime saṅkhārā. Iti purimako ca vīmaṃsāsamādhi, kilesavikkhambhanatāya ca pahānaṃ ime ca saṅkhārā, tadubhayaṃ vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ.
Herein, mindfulness and wisdom are four faculties. Mindfulness is two faculties: the faculty of mindfulness and the faculty of concentration. Wisdom is two faculties: the faculty of wisdom and the faculty of energy. Whatever faith and conviction there is in these four faculties, this is the faculty of faith. Herein, whatever one-pointedness of mind is dominated by zeal, this is concentration due to zeal. When the mind is concentrated, by the power of reflection or by the power of development, this is abandonment by way of suppression of the defilements. Herein, whatever in-breaths and out-breaths, initial and sustained thought, perception and feeling, and intentions with a single purpose there are, these are formations. Thus, the preceding concentration due to zeal, the abandonment by way of suppressing defilements, and these formations—this pair develops the basis of spiritual power endowed with concentration dominated by zeal and with formations of striving, which is reliant on seclusion, reliant on dispassion, reliant on cessation, and matures into relinquishment. Herein, whatever one-pointedness of mind is dominated by energy, this is concentration due to energy… and so on… Herein, whatever one-pointedness of mind is dominated by consciousness, this is concentration due to consciousness… and so on… Herein, whatever one-pointedness of mind is dominated by investigation, this is concentration due to investigation. When the mind is concentrated, by the power of reflection or by the power of development, this is abandonment by way of suppression of the defilements. Herein, whatever in-breaths and out-breaths, initial and sustained thought, perception and feeling, and intentions with a single purpose there are, these are formations. Thus, the preceding concentration due to investigation, the abandonment by way of suppressing defilements, and these formations—this pair develops the basis of spiritual power endowed with concentration dominated by investigation and with formations of striving, which is reliant on seclusion, reliant on dispassion, reliant on cessation, and matures into relinquishment.
Ở đây, niệm và tuệ là bốn quyền; niệm là hai quyền: niệm quyền và định quyền; tuệ là hai quyền: tuệ quyền và tấn quyền. Sự tin tưởng, sự quyết tín ở trong bốn quyền này, đây là tín quyền. Ở đây, sự nhất tâm có dục làm chủ, đây là dục định. Khi tâm được định tĩnh, do sự trấn áp các phiền não bằng năng lực của sự thẩm sát hoặc bằng năng lực của sự tu tập, đây là sự từ bỏ. Ở đây, các hơi thở vô hơi thở ra, tầm và tứ, tưởng và thọ, các tư duy đồng sanh, đây là các hành. Như vậy, vị ấy tu tập thần túc thông được thành tựu bởi dục định và tinh tấn hành, là dục định có trước, và sự từ bỏ do trấn áp các phiền não, và các hành này, cả hai điều ấy, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Ở đây, sự nhất tâm có tinh tấn làm chủ, đây là tấn định... Tt... Ở đây, sự nhất tâm có tâm làm chủ, đây là tâm định... Tt... Ở đây, sự nhất tâm có thẩm sát làm chủ, đây là thẩm sát định. Khi tâm được định tĩnh, do sự trấn áp các phiền não bằng năng lực của sự thẩm sát hoặc bằng năng lực của sự tu tập, đây là sự từ bỏ. Ở đây, các hơi thở vô hơi thở ra, tầm và tứ, tưởng và thọ, các tư duy đồng sanh, đây là các hành. Như vậy, vị ấy tu tập thần túc thông được thành tựu bởi thẩm sát định và tinh tấn hành, là thẩm sát định có trước, và sự từ bỏ do trấn áp các phiền não, và các hành này, cả hai điều ấy, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly.
14. Sabbo samādhi ñāṇamūlako ñāṇapubbaṅgamo ñāṇānuparivatti.
14. All concentration has knowledge as its root, has knowledge as its forerunner, and follows in accordance with knowledge.
14. Tất cả định có trí tuệ làm gốc rễ, có trí tuệ đi trước, tùy chuyển theo trí tuệ.
Yathā pure tathā pacchā, yathā pacchā tathā pure;
Yathā divā tathā rattiṃ †, yathā rattiṃ tathā divā.
As before, so after; as after, so before. As by day, so by night; as by night, so by day.
Như trước, vậy sau; như sau, vậy trước. Như ngày, vậy đêm; như đêm, vậy ngày.
Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. Pañcindriyāni kusalāni cittasahabhūni citte uppajjamāne uppajjanti, citte nirujjhamāne nirujjhanti. Nāmarūpañca viññāṇahetukaṃ viññāṇapaccayā nibbattaṃ, tassa maggena hetu upacchinno, viññāṇaṃ anāhāraṃ anabhinanditaṃ appaṭisandhikaṃ taṃ nirujjhati. Nāmarūpamapi ahetu appaccayaṃ punabbhavaṃ na nibbattayati †. Evaṃ viññāṇassa nirodhā paññā ca sati ca nāmarūpañca nirujjhati. Tenāha bhagavā –
Thus, with an open and unenveloped mind, one develops a mind imbued with radiance. The five wholesome faculties, being co-nascent with the mind, arise when the mind arises and cease when the mind ceases. And name-and-form, having consciousness as its cause and produced from consciousness as its condition, has its cause cut off by the path. Consciousness—being without nutriment, not delighted in, and not productive of rebirth-linking—ceases. Name-and-form also, being without cause and without condition, does not produce a new existence. Thus, with the cessation of consciousness, wisdom, mindfulness, and name-and-form cease. Therefore the Blessed One said:
Như vậy, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng với tâm trí rộng mở, không bị bao trùm. Năm quyền thiện cùng sanh với tâm, khi tâm sanh thì chúng sanh, khi tâm diệt thì chúng diệt. Danh và sắc có thức làm nhân, do thức làm duyên mà được sanh ra. Nhân của thức ấy đã được đoạn trừ bởi đạo. Thức không có vật thực, không được hoan hỷ, không có tái sanh, thức ấy diệt. Danh và sắc cũng vậy, không có nhân, không có duyên, không tạo ra sự tái hữu. Như vậy, do sự diệt của thức mà tuệ, niệm, danh và sắc cũng diệt. Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yametaṃ pañhaṃ apucchi, ajita taṃ vadāmi te;
Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;
Viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ uparujjhatī’’ti.
“This question you have asked, Ajita, I will declare to you: where name and form cease without remainder. With the cessation of consciousness, it is here that this ceases.”
Này Ajita, câu hỏi mà ngươi đã hỏi, Ta sẽ nói cho ngươi điều ấy; Nơi nào danh và sắc, được đoạn diệt không còn dư sót; Do sự diệt của thức, chính tại đây chúng được đoạn diệt.
‘‘Ye ca † saṅkhātadhammāse, [iccāyasmā ajito]
Ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṃ me nipako iriyaṃ, puṭṭho pabrūhi mārisā’’ti.
“Those who have comprehended the dhammas, [said the Venerable Ajita,] and the many trainees here; of them, O wise one, I ask of their conduct; being asked, please declare it, venerable sir.”
Và những vị đã thẩm sát các pháp, [Trưởng lão Ajita thưa] và những vị hữu học còn nhiều ở đây; bậc Trí tuệ, khi được con hỏi, xin hãy nói cho con về hạnh kiểm của các vị ấy, thưa Ngài.
15. Imāni tīṇi padāni pucchitāni, te tayo pañhā. Kissa? Sekhāsekhavipassanāpubbaṅgamappahānayogena, evañhi āha. ‘‘Ye ca saṅkhātadhammāse’’ti arahattaṃ pucchati, ‘‘ye ca sekhā puthū idhā’’ti sekhaṃ pucchati, ‘‘tesaṃ me nipako iriyaṃ, puṭṭho pabrūhi mārisā’’ti vipassanāpubbaṅgamaṃ pahānaṃ pucchati.
15. These three phrases were asked; they are three questions. Why? Because of the connection with the abandonment preceded by the insight of trainees and non-trainees, for thus he spoke. By “Those who have comprehended the dhammas,” he asks about Arahantship. By “and the many trainees here,” he asks about the trainee. By “of them, O wise one, I ask of their conduct; being asked, please declare it, venerable sir,” he asks about the abandonment that is preceded by insight.
15. Ba câu này đã được hỏi, chúng là ba câu hỏi. Vì sao? Do sự liên kết với sự từ bỏ có minh sát đi trước của bậc hữu học và vô học, vì ngài đã nói như vậy. Với câu ‘Và những vị đã thẩm sát các pháp,’ ngài hỏi về A-la-hán quả. Với câu ‘và những vị hữu học còn nhiều ở đây,’ ngài hỏi về bậc hữu học. Với câu ‘bậc Trí tuệ, khi được con hỏi, xin hãy nói cho con về hạnh kiểm của các vị ấy, thưa Ngài,’ ngài hỏi về sự từ bỏ có minh sát đi trước.
Tattha visajjanā –
Herein is the answer:
Đây là lời giải đáp:
‘‘Kāmesu nābhigijjheyya, [ajitāti bhagavā]
Manasānāvilo siyā;
Kusalo sabbadhammānaṃ, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
“One should not be greedy for sensual pleasures, [said the Blessed One to Ajita,] one should be untroubled in mind. Skilled in all dhammas, a mindful bhikkhu should wander.”
Không nên tham đắm trong các dục, [Thế Tôn dạy Ajita] tâm không nên bị vẩn đục; thiện xảo trong tất cả các pháp, vị Tỳ khưu có chánh niệm nên du hành.
Bhagavato sabbaṃ kāyakammaṃ ñāṇapubbaṅgamaṃ ñāṇānuparivatti, sabbaṃ vacīkammaṃ ñāṇapubbaṅgamaṃ ñāṇānuparivatti, sabbaṃ manokammaṃ ñāṇapubbaṅgamaṃ ñāṇānuparivatti. Atīte aṃse appaṭihatañāṇadassanaṃ, anāgate aṃse appaṭihatañāṇadassanaṃ, paccuppanne aṃse appaṭihatañāṇadassanaṃ.
All of the Blessed One’s bodily actions have knowledge as their forerunner and follow in accordance with knowledge. All of his verbal actions have knowledge as their forerunner and follow in accordance with knowledge. All of his mental actions have knowledge as their forerunner and follow in accordance with knowledge. Regarding the past, his knowledge and vision are unhindered. Regarding the future, his knowledge and vision are unhindered. Regarding the present, his knowledge and vision are unhindered.
Đối với đức Thế Tôn, tất cả thân nghiệp đều có trí tuệ đi trước, tùy chuyển theo trí tuệ; tất cả khẩu nghiệp đều có trí tuệ đi trước, tùy chuyển theo trí tuệ; tất cả ý nghiệp đều có trí tuệ đi trước, tùy chuyển theo trí tuệ. Trong quá khứ, tri kiến của Ngài không bị ngăn ngại; trong tương lai, tri kiến của Ngài không bị ngăn ngại; trong hiện tại, tri kiến của Ngài không bị ngăn ngại.
Ko ca ñāṇadassanassa paṭighāto? Yaṃ anicce dukkhe anattani ca aññāṇaṃ adassanaṃ, ayaṃ ñāṇadassanassa paṭighāto. Yathā idha puriso tārakarūpāni passeyya, no ca gaṇanasaṅketena jāneyya, ayaṃ ñāṇadassanassa paṭighāto.
And what is the obstruction to knowledge and vision? Whatever ignorance and non-seeing there is regarding the impermanent, suffering, and non-self, this is the obstruction to knowledge and vision. Just as a person here might see the forms of stars, but not know them by count and designation, this is the obstruction to knowledge and vision.
Và thế nào là sự ngăn ngại đối với tri kiến? Sự vô minh, sự không thấy biết về vô thường, khổ, và vô ngã, đây là sự ngăn ngại đối với tri kiến. Giống như một người ở đây có thể thấy hình dạng các vì sao, nhưng không biết chúng qua số đếm và ký hiệu, đây là sự ngăn ngại đối với tri kiến.
Bhagavato pana appaṭihatañāṇadassanaṃ, anāvaraṇañāṇadassanā hi buddhā bhagavanto. Tattha sekhena dvīsu dhammesu cittaṃ rakkhitabbaṃ gedhā ca rajanīyesu dhammesu, dosā ca pariyuṭṭhānīyesu. Tattha yā icchā mucchā patthanā piyāyanā kīḷanā, taṃ bhagavā nivārento evamāha ‘‘kāmesu nābhigijjheyyā’’ti.
But the Blessed One's knowledge and vision is unobstructed; indeed, the Buddhas, the Blessed Ones, possess knowledge and vision that is without covering. In this regard, a trainee should guard the mind in two phenomena: from craving for delightful things, and from aversion in states that are grounds for resentment. Herein, whatever wanting, infatuation, longing, fondness, or amusement there may be—the Blessed One, preventing it, spoke thus: 'One should not be greedy for sensual pleasures.'
Nhưng tri kiến của đức Thế Tôn thì không bị ngăn ngại, vì các đức Phật, các đức Thế Tôn có tri kiến không bị che lấp. Ở đây, bậc hữu học nên hộ trì tâm trong hai loại pháp: (tránh) tham lam trong các pháp đáng tham ái, và (tránh) sân hận trong các pháp gây phiền não. Ở đây, sự mong muốn, sự say đắm, sự ước vọng, sự yêu mến, sự vui đùa nào, đức Thế Tôn, trong khi ngăn cản điều đó, đã nói như vầy: ‘Không nên tham đắm trong các dục’.
‘‘Manasānāvilo siyā’’ti pariyuṭṭhānavighātaṃ āha. Tathā hi sekho abhigijjhanto asamuppannañca kilesaṃ uppādeti, uppannañca kilesaṃ phātiṃ karoti. Yo pana anāvilasaṅkappo anabhigijjhanto vāyamati, so anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. So uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. So anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. So uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati.
'Let one not be troubled in mind,' thus he spoke of the destruction of obsession. For indeed, a trainee who is greedy gives rise to unarisen defilements and makes arisen defilements increase. But one whose resolve is untroubled, not being greedy, strives. He generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind, and strives for the non-arising of unarisen evil, unwholesome states. He generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind, and strives for the abandoning of arisen evil, unwholesome states. He generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind, and strives for the arising of unarisen wholesome states. He generates desire, makes an effort, arouses energy, exerts his mind, and strives for the maintenance, non-disappearance, increase, expansion, development, and fulfillment of arisen wholesome states.
Bằng câu "Với tâm không vẩn đục", Ngài nói về sự phá hủy triền cái. Thật vậy, vị hữu học do tham đắm nên làm phát sanh phiền não chưa sanh, và làm cho phiền não đã sanh được tăng trưởng. Vị nào có chánh tư duy không bị vẩn đục, không tham đắm, nỗ lực, vị ấy sanh khởi ý muốn, nỗ lực, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, quyết tâm để cho các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi. Vị ấy sanh khởi ý muốn, nỗ lực, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, quyết tâm để đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh. Vị ấy sanh khởi ý muốn, nỗ lực, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, quyết tâm để làm sanh khởi các pháp thiện chưa sanh. Vị ấy sanh khởi ý muốn, nỗ lực, khởi sự tinh tấn, nâng đỡ tâm, quyết tâm để cho các pháp thiện đã sanh được an trú, không bị quên lãng, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn.
16. Katame † anuppannā pāpakā akusalā dhammā? Kāmavitakko byāpādavitakko vihiṃsāvitakko, ime anuppannā pāpakā akusalā dhammā. Katame uppannā pāpakā akusalā dhammā? Anusayā akusalamūlāni, ime uppannā pāpakā akusalā dhammā. Katame anuppannā kusalā dhammā? Yāni sotāpannassa indriyāni, ime anuppannā kusalā dhammā. Katame uppannā kusalā dhammā? Yāni aṭṭhamakassa indriyāni, ime uppannā kusalā dhammā.
16. What are the unarisen evil, unwholesome states? Sensual thought, thought of ill will, and thought of cruelty—these are the unarisen evil, unwholesome states. What are the arisen evil, unwholesome states? The underlying tendencies and the unwholesome roots—these are the arisen evil, unwholesome states. What are the unarisen wholesome states? The faculties of a stream-enterer—these are the unarisen wholesome states. What are the arisen wholesome states? The faculties of the eighth person [the one on the path to stream-entry]—these are the arisen wholesome states.
16. Những pháp ác bất thiện chưa sanh là những gì? Dục tầm, sân tầm, hại tầm, đây là những pháp ác bất thiện chưa sanh. Những pháp ác bất thiện đã sanh là những gì? Các tùy miên, các căn bất thiện, đây là những pháp ác bất thiện đã sanh. Những pháp thiện chưa sanh là những gì? Những quyền của vị Dự lưu, đây là những pháp thiện chưa sanh. Những pháp thiện đã sanh là những gì? Những quyền của vị thứ tám (bậc Dự lưu hướng), đây là những pháp thiện đã sanh.
Yena kāmavitakkaṃ vāreti, idaṃ satindriyaṃ. Yena byāpādavitakkaṃ vāreti, idaṃ samādhindriyaṃ. Yena vihiṃsāvitakkaṃ vāreti, idaṃ vīriyindriyaṃ.
By which one prevents sensual thought, this is the faculty of mindfulness. By which one prevents thought of ill will, this is the faculty of concentration. By which one prevents thought of cruelty, this is the faculty of energy.
Nhờ quyền nào mà ngăn ngừa dục tầm, đó là niệm quyền. Nhờ quyền nào mà ngăn ngừa sân tầm, đó là định quyền. Nhờ quyền nào mà ngăn ngừa hại tầm, đó là tấn quyền.
Yena uppannuppanne pāpake akusale dhamme pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gameti nādhivāseti, idaṃ paññindriyaṃ. Yā imesu catūsu indriyesu saddahanā okappanā, idaṃ saddhindriyaṃ.
By which one abandons, dispels, brings to an end, leads to non-existence, and does not tolerate whatever evil, unwholesome states have arisen—this is the faculty of wisdom. Whatever believing and confidence there is in these four faculties—this is the faculty of faith.
Nhờ quyền nào mà từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu, không dung chứa các pháp ác bất thiện đã sanh và đang sanh, đó là tuệ quyền. Sự tin tưởng, sự tin chắc vào bốn quyền này, đó là tín quyền.
Tattha saddhindriyaṃ kattha daṭṭhabbaṃ? Catūsu sotāpattiyaṅgesu. Vīriyindriyaṃ kattha daṭṭhabbaṃ? Catūsu sammappadhānesu. Satindriyaṃ kattha daṭṭhabbaṃ? Catūsu satipaṭṭhānesu. Samādhindriyaṃ kattha daṭṭhabbaṃ? Catūsu jhānesu. Paññindriyaṃ kattha daṭṭhabbaṃ? Catūsu ariyasaccesu. Evaṃ sekho sabbehi kusalehi dhammehi appamatto vutto bhagavatā anāvilatāya manasā. Tenāha bhagavā ‘‘manasānāvilosiyā’’ti.
Herein, where is the faculty of faith to be seen? In the four factors of stream-entry. Where is the faculty of energy to be seen? In the four right exertions. Where is the faculty of mindfulness to be seen? In the four foundations of mindfulness. Where is the faculty of concentration to be seen? In the four jhānas. Where is the faculty of wisdom to be seen? In the four noble truths. Thus, the trainee, being heedful in all wholesome states, is spoken of by the Blessed One as having an untroubled mind. Therefore, the Blessed One said, 'Let one not be troubled in mind.'
Trong đó, tín quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn chi phần của Dự lưu. Tấn quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn chánh cần. Niệm quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn niệm xứ. Định quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn thiền. Tuệ quyền nên được thấy ở đâu? Trong bốn Thánh đế. Như vậy, vị hữu học không dể duôi với tất cả các pháp thiện đã được Đức Thế Tôn nói là có tâm không vẩn đục. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: "Với tâm không vẩn đục".
17. ‘‘Kusalo sabbadhammāna’’nti loko nāma tividho kilesaloko bhavaloko indriyaloko. Tattha kilesalokena bhavaloko samudāgacchati, so indriyāni nibbatteti, indriyesu bhāviyamānesu neyyassa pariññā bhavati. Sā duvidhena upaparikkhitabbā dassanapariññāya ca bhāvanāpariññāya ca. Yadā hi sekho ñeyyaṃ parijānāti, tadā nibbidāsahagatehi saññāmanasikārehi neyyaṃ pariññātaṃ bhavati. Tassa dve dhammā kosallaṃ gacchanti – dassanakosallañca bhāvanākosallañca.
17. 'Skilled in all phenomena'—the world, so-called, is threefold: the world of defilements, the world of existence, and the world of the faculties. Herein, the world of existence arises through the world of defilements; that produces the faculties. When the faculties are being developed, there is full understanding of the knowable. That should be investigated in two ways: by full understanding through seeing and by full understanding through development. For when a trainee fully understands the knowable, then through perceptions and mental applications accompanied by disenchantment, the knowable becomes fully understood. For him, two states attain skillfulness: skillfulness in seeing and skillfulness in development.
17. Trong câu "Thiện xảo trong tất cả các pháp", thế gian có ba loại: phiền não thế gian, hữu thế gian, và quyền thế gian. Trong đó, do phiền não thế gian mà hữu thế gian sanh khởi; vị ấy làm phát sanh các quyền; khi các quyền được tu tập, sự liễu tri đối với pháp cần biết sanh khởi. Sự liễu tri ấy cần được xem xét theo hai cách: kiến liễu tri và tu liễu tri. Khi vị hữu học liễu tri pháp cần biết, khi ấy pháp cần biết được liễu tri bằng tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán. Hai pháp của vị ấy đạt đến sự thiện xảo: kiến thiện xảo và tu thiện xảo.
Taṃ ñāṇaṃ pañcavidhena veditabbaṃः abhiññā pariññā pahānaṃ bhāvanā sacchikiriyā. Tattha katamā abhiññā? Yaṃ dhammānaṃ salakkhaṇe ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā ca atthapaṭisambhidā ca, ayaṃ abhiññā.
That knowledge should be understood in five ways: direct knowledge, full understanding, abandoning, development, and realization. Herein, what is direct knowledge? It is the knowledge of the individual characteristics of phenomena, which is the analytical knowledge of phenomena and the analytical knowledge of meaning. This is direct knowledge.
Trí tuệ ấy nên được biết theo năm cách: thắng trí, liễu tri, đoạn tận, tu tập, và chứng ngộ. Trong đó, thắng trí là gì? Trí tuệ về tự tướng của các pháp, tức là Pháp vô ngại giải và Nghĩa vô ngại giải, đây là thắng trí.
Tattha katamā pariññā? Evaṃ abhijānitvā yā parijānanā ‘‘idaṃ kusalaṃ, idaṃ akusalaṃ, idaṃ sāvajjaṃ, idaṃ anavajjaṃ, idaṃ kaṇhaṃ, idaṃ sukkaṃ, idaṃ sevitabbaṃ, idaṃ na sevitabbaṃ, ime dhammā evaṃgahitā, idaṃ phalaṃ nibbattenti †, tesaṃ evaṃgahitānaṃ ayaṃ attho’’ti, ayaṃ pariññā.
Herein, what is full understanding? Having known thus, it is the full understanding that: 'This is wholesome, this is unwholesome; this is blameworthy, this is blameless; this is dark, this is bright; this should be cultivated, this should not be cultivated. These phenomena, when grasped thus, produce this fruit. For those grasped thus, this is the meaning.' This is full understanding.
Trong đó, liễu tri là gì? Sau khi đã biết như vậy, sự liễu tri rằng: "Đây là thiện, đây là bất thiện, đây là có tội, đây là vô tội, đây là đen, đây là trắng, điều này nên thực hành, điều này không nên thực hành, các pháp này được hiểu như vậy sẽ tạo ra quả này, đối với những pháp được hiểu như vậy đây là ý nghĩa", đây là liễu tri.
Evaṃ parijānitvā tayo dhammā avasiṭṭhā bhavanti pahātabbā bhāvetabbā sacchikātabbā ca. Tattha katame dhammā pahātabbā? Ye akusalā. Tattha katame dhammā bhāvetabbā? Ye kusalā. Tattha katame dhammā sacchikātabbā? Yaṃ asaṅkhataṃ. Yo evaṃ jānāti ayaṃ vuccati atthakusalo dhammakusalo kalyāṇatākusalo phalatākusalo, āyakusalo apāyakusalo upāyakusalo mahatā kosallena samannāgatoti, tenāha bhagavā ‘‘kusalo sabbadhammāna’’nti.
Having fully understood thus, three things remain: to be abandoned, to be developed, and to be realized. Herein, what things are to be abandoned? Those that are unwholesome. Herein, what things are to be developed? Those that are wholesome. Herein, what things are to be realized? That which is unconditioned. One who knows thus is called: skilled in the meaning, skilled in the teaching, skilled in what is good, skilled in the fruit, skilled in benefit and its absence, skilled in the means; he is said to be endowed with great skill. Therefore, the Blessed One said, 'skilled in all phenomena'.
Sau khi liễu tri như vậy, còn lại ba pháp: pháp cần đoạn tận, pháp cần tu tập, và pháp cần chứng ngộ. Trong đó, những pháp cần đoạn tận là gì? Là những pháp bất thiện. Trong đó, những pháp cần tu tập là gì? Là những pháp thiện. Trong đó, những pháp cần chứng ngộ là gì? Là pháp vô vi. Người nào biết như vậy, vị ấy được gọi là người thiện xảo về nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về sự tốt đẹp, thiện xảo về quả, thiện xảo về lợi ích, thiện xảo về bất lợi, thiện xảo về phương tiện, là người có sự thiện xảo to lớn. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: "Thiện xảo trong tất cả các pháp".
‘‘Sato bhikkhu paribbaje’’ti tena diṭṭhadhammasukhavihāratthaṃ abhikkante paṭikkante ālokite vilokite samiñjite † pasārite saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe asite pīte khāyite sāyite uccārapassāvakamme gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhibhāve satena sampajānena vihātabbaṃ. Imā dve cariyā anuññātā bhagavatā ekā visuddhānaṃ, ekā visujjhantānaṃ. Ke visuddhā? Arahanto. Ke visujjhantā? Sekkhā. Katakiccāni hi arahato indriyāni. Yaṃ bojjhaṃ, taṃ catubbidhaṃ dukkhassa pariññābhisamayena samudayassa pahānābhisamayena maggassa bhāvanābhisamayena nirodhassa sacchikiriyābhisamayena, idaṃ catubbidhaṃ bojjhaṃ yo evaṃ jānāti, ayaṃ vuccati sato abhikkamati sato paṭikkamati khayā rāgassa khayā dosassa khayā mohassa. Tenāha bhagavā ‘‘sato bhikkhu paribbaje’’ti, tenāha –
“A mindful monk should wander”: By that monk, for the purpose of dwelling happily in the present existence, in going forward, in returning, in looking ahead, in looking around, in bending, in stretching, in carrying the double-robe, bowl, and robes, in eating, in drinking, in chewing, in tasting, in the act of defecating and urinating, in going, in standing, in sitting, in sleeping, in waking, in speaking, and in being silent, one should dwell mindfully and with clear comprehension. These two modes of conduct were permitted by the Blessed One: one for the purified, and one for those who are being purified. Who are the purified? Arahants. Who are those being purified? Trainees. Indeed, for an Arahant, the faculties have their task accomplished. That which is to be understood is fourfold: through the breakthrough of comprehending suffering, through the breakthrough of abandoning the origin, through the breakthrough of developing the path, and through the breakthrough of realizing cessation. Whoever knows this fourfold matter to be understood is called one who goes forward mindfully and one who returns mindfully, due to the destruction of lust, the destruction of hatred, and the destruction of delusion. Therefore, the Blessed One said, “A mindful monk should wander.” Therefore, he said:
Về câu "Tỳ khưu chánh niệm du hành", vị tỳ khưu ấy vì mục đích an trú lạc trong hiện tại, phải an trú với chánh niệm và tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui, khi nhìn thẳng, khi nhìn nghiêng, khi co tay, khi duỗi tay, khi mang y tăng-già-lê, bát và y, khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, khi đại tiện, tiểu tiện, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Hai hạnh này đã được Đức Thế Tôn cho phép: một cho những vị đã thanh tịnh, một cho những vị đang thanh tịnh. Ai là những vị đã thanh tịnh? Các vị A-la-hán. Ai là những vị đang thanh tịnh? Các vị hữu học. Vì rằng các quyền của vị A-la-hán đã làm xong việc cần làm. Điều cần giác ngộ có bốn loại: giác ngộ bằng cách liễu tri khổ, giác ngộ bằng cách đoạn tận tập, giác ngộ bằng cách tu tập đạo, giác ngộ bằng cách chứng ngộ diệt. Người nào biết bốn loại điều cần giác ngộ này như vậy, vị ấy được gọi là người đi tới với chánh niệm, đi lui với chánh niệm, do sự đoạn tận tham, do sự đoạn tận sân. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: "Tỳ khưu chánh niệm du hành", do đó Ngài nói –
‘‘Kāmesu nābhigijjheyya, [ajitāti bhagavā]
Manasānāvilo siyā;
Kusalo sabbadhammānaṃ, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
“O Ajita,” said the Blessed One, “one should not be greedy for sensual pleasures; one should be unclouded in mind. Skilled in all dhammas, a mindful bhikkhu should wander.”
Thế Tôn dạy: ‘Này Ajita, không nên tham đắm trong các dục, tâm không nên bị vẩn đục. Vị tỳ-khưu thành thạo trong tất cả các pháp, có chánh niệm, nên du hành.’
Evaṃ pucchitabbaṃ, evaṃ visajjitabbaṃ. Suttassa ca anugīti atthato ca byañjanato ca samānetabbā †. Atthāpagataṃ hi byañjanaṃ samphappalāpaṃ bhavati. Dunnikkhittassa padabyañjanassa atthopi dunnayo bhavati, tasmā atthabyañjanūpetaṃ saṅgāyitabbaṃ. Suttañca pavicinitabbaṃ. Kiṃ idaṃ suttaṃ āhacca vacanaṃ anusandhivacanaṃ nītatthaṃ neyyatthaṃ saṃkilesabhāgiyaṃ nibbedhabhāgiyaṃ asekkhabhāgiyaṃ? Kuhiṃ imassa suttassa sabbāni saccāni passitabbāni, ādimajjhapariyosāneti? Evaṃ suttaṃ pavicetabbaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano – ‘‘yaṃ pucchitañca vissajjitañca, suttassa yā ca anugītī’’ti.
Thus should a question be asked, and thus should an answer be given. And the conforming recitation of the sutta should be brought into agreement with both the meaning and the phrasing. Indeed, phrasing devoid of meaning becomes useless talk. Of a poorly composed phrase, the meaning is also difficult to grasp. Therefore, a sutta endowed with meaning and phrasing should be recited well. And the sutta should be investigated: What is this sutta? Is it a direct statement, a statement requiring connection, of explicit meaning, of meaning to be inferred, partaking of defilement, partaking of penetration, or pertaining to the non-trainee? Where in this sutta are all the truths to be seen—in the beginning, middle, and end? Thus should the sutta be investigated. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: “What was asked and what was answered, and the conforming recitation of the sutta.”
Nên hỏi như vậy, nên trả lời như vậy. Và phần tụng theo của kinh nên được làm cho tương ứng cả về nghĩa lẫn văn tự. Vì văn tự mà không có nghĩa thì trở thành lời nói vô ích. Nghĩa của câu cú và văn tự được đặt sai cũng trở nên khó hiểu, do đó, nên trùng tụng (kinh) có đầy đủ cả nghĩa và văn tự. Và nên thẩm xét kinh. Kinh này là gì? Lời nói trực tiếp (āhacca vacanaṃ)? Lời nói có liên kết (anusandhivacanaṃ)? Kinh có nghĩa liễu nghĩa (nītatthaṃ)? Kinh có nghĩa bất liễu nghĩa (neyyatthaṃ)? Kinh thuộc phần phiền não (saṃkilesabhāgiyaṃ)? Kinh thuộc phần thấu triệt (nibbedhabhāgiyaṃ)? Kinh thuộc phần vô học (asekkhabhāgiyaṃ)? Ở đâu trong kinh này, tất cả các chân lý nên được thấy? Ở phần đầu, phần giữa, và phần cuối. Nên thẩm xét kinh như vậy. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyana đã nói: ‘Điều đã được hỏi và điều đã được trả lời, và phần tụng theo của kinh.’
Niyutto vicayo hāro.
The Mode of Analysis is concluded.
Phương pháp Thẩm Xét (Vicaya Hāra) đã được trình bày.