Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 5

Bản dịch

NE 5Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu

Vicayahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là cách nào? Kệ ngôn “điều đã được hỏi và điều đã được trả lời, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu. Tìm hiểu điều gì? Tìm hiểu về thuật ngữ, tìm hiểu về câu hỏi, tìm hiểu về câu trả lời, tìm hiểu về sự tuần tự, tìm hiểu về sự hứng thú, tìm hiểu về sự bất lợi, tìm hiểu về sự thoát ra, tìm hiểu về kết quả, tìm hiểu về cách thức, tìm hiểu về chỉ thị, tìm hiểu về câu kệ tóm lược, tìm hiểu về tất cả chín thể loại của Kinh.

Là giống như điều gì? Giống như đại đức Ajita hỏi đức Thế Tôn câu hỏi ở Phẩm ‘Đường Đi Đến Bờ Kia’:

1. (Đại đức Ajita hỏi rằng:) “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì? Không tỏa sáng bởi điều gì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này? Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?”

Bốn đoạn kệ này đã được hỏi; đó là một câu hỏi. Tại sao? Do việc bao gồm một sự kiện. Bởi vì vị ấy đã hỏi như vầy: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì?” là hỏi về sự xác định thế giới. “Không tỏa sáng bởi điều gì?” là hỏi về sự không tỏa sáng của thế giới. “Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” là hỏi về vật làm uế nhiễm thế giới. “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” là hỏi về là sự nguy hiểm lớn lao đối với chính thế giới ấy. Thế giới có ba loại: thế giới của ô nhiễm, thế giới của hiện hữu, thế giới của các quyền.

Ở đấy, câu trả lời là:

2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế giới bị bao trùm bởi vô minh, không tỏa sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).”

Bốn đoạn kệ ấy đã được trả lời bằng bốn đoạn kệ này (theo thứ tự) thứ nhất bởi thứ nhất, thứ nhì bởi thứ nhì, thứ ba bởi thứ ba, thứ tư bởi thứ tư. Về câu hỏi: “Thế giới bị bao trùm bởi cái gì?” thì câu trả lời là: “Thế giới bị bao trùm bởi vô minh.” Thế giới bị bao trùm bởi các sự che lấp, bởi vì tất cả chúng sanh có vô minh là sự che lấp; giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này các tỳ khưu, Ta nói một cách khái quát rằng, chỉ có một sự che lấp đối với tất cả chúng sanh, đối với tất cả sanh mạng, đối với tất cả sanh linh, tức là vô minh, bởi vì tất cả chúng sanh có vô minh là sự che lấp. Và này các tỳ khưu, do sự diệt tận, do sự xả bỏ, do sự buông bỏ vô minh một cách trọn vẹn, Ta nói ‘không có sự che lấp đối với chúng sanh.’” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ nhất là thích đáng.

Về câu hỏi: “Không tỏa sáng bởi điều gì?” thì câu trả lời là: “Không tỏa sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng.” Người bị che lấp bởi các sự che lấp là người hoài nghi; cái gọi là hoài nghi nói đến sự hoài nghi. Trong khi hoài nghi, người ấy không đặt niềm tin; trong khi không đặt niềm tin, thì không khởi sự tinh tấn để dứt bỏ các bất thiện pháp, để chứng ngộ các thiện pháp; ở đây, người ấy sống gắn bó với sự xao lãng; người bị xao lãng, thì không bám víu vào các pháp trắng; trong khi các pháp trắng không được bám víu thì chúng không tỏa sáng đối với người ấy; giống như đức Thế Tôn đã nói:

3. “Những người tốt tỏa sáng từ đàng xa, ví như núi Hi-mã-lạp. Những kẻ xấu ở đây (vẫn) không được nhìn thấy, giống như những mũi tên được bắn ra vào ban đêm.”

“Chúng tỏa sáng bởi các đức tính, bởi danh thơm, và bởi tiếng tăm.” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ hai là thích đáng.

Về câu hỏi: “Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm đối với (thế giới) này?” thì câu trả lời là: “Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm.” Cái gọi là tham muốn nói đến tham ái. Tham ái làm uế nhiễm như thế nào? Giống như đức Thế Tôn đã nói:

“Người bị luyến ái không biết về mục đích, người bị luyến ái không nhìn thấy Giáo Pháp. Khi luyến ái ngự trị con người, thì luôn có sự mù quáng và tối tăm.”

Tham ái này đây là ở người có nhiều sự dính mắc, sau khi tạo ra “sự tham đắm như vậy,” thế giới được gọi là bị uế nhiễm bởi tham ái ấy. Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ ba là thích đáng.

Về câu hỏi: “Cái gì là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới)?” thì câu trả lời là: “Khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Có hai loại khổ: thuộc thân và thuộc tâm. Cái thuộc thân là khổ, cái thuộc tâm là ưu. Bởi vì tất cả chúng sanh đều sợ khổ, không có sự sợ hãi nào sánh bằng khổ, hoặc hơn nữa, từ đâu có được cái vượt qua điều ấy? Có ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do sự biến đổi, trạng thái khổ do pháp tạo tác. Ở đấy, vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, thế giới hiếm khi được thoát khỏi trạng thái khổ do (thọ) khổ; tương tự như thế với trạng thái khổ do sự biến đổi. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Ở thế giới, cũng có những người ít bệnh và những người trường thọ. Trái lại, thế giới được thoát khỏi trạng thái khổ do pháp tạo tác (khi đạt đến) Niết Bàn giới không còn dư sót. Vì thế, Ngài đã xác định rằng trạng thái khổ do pháp tạo tác là “khổ của thế giới” và “khổ là sự nguy hiểm lớn lao đối với nó (thế giới).” Và với điều ấy, câu trả lời cho đoạn kệ thứ tư là thích đáng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thế giới bị bao trùm bởi vô minh.”

5. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi, cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy? Ngài hãy nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” Bốn đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là hai câu hỏi. Tại sao? Bởi vì các câu này được hỏi với nhiều sự định danh. Đối với thế giới đã đạt đến như vậy, đối với thế giới bị uế nhiễm như vậy, cái gì là sự thanh lọc, là sự xuất ra? Bởi vì Ngài đã nói như vầy: “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi.” Chúng tuôn tràn đến người không định tĩnh, có nhiều tham đắm, sân hận, xao lãng. Ở đấy, tham đắm là (nói tới) tham – gốc rễ của bất thiện, sân hận là (nói tới) sân – gốc rễ của bất thiện, xao lãng là (nói tới) si – gốc rễ của bất thiện. Khi người ấy không được định tĩnh như vậy, các tham ái tuôn tràn ở sáu xứ của người ấy: sắc ái, thinh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Giống như đức Thế Tôn đã nói: “Này các tỳ khưu, ‘tuôn tràn’ quả là sự định danh dành cho sáu xứ thuộc nội phần. Mắt tuôn tràn ở các sắc hợp ý, cưỡng lại ở các sắc không hợp ý. Tai –nt– Mũi –nt– Lưỡi –nt– Thân –nt– Ý tuôn tràn ở các pháp hợp ý, bị cưỡng lại ở các pháp không hợp ý.” Như thế, nó tuôn tràn mọi nơi và tuôn tràn theo mọi cách. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Các dòng chảy tuôn tràn khắp mọi nơi.” “Cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy?” là hỏi về việc phá hủy sự xâm nhập; đây là sự thanh lọc. “Ngài hãy nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?” là hỏi về sự thủ tiêu các pháp tiềm ẩn; đây là sự xuất ra. Ở đấy, câu trả lời là:

6. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự ngăn chặn các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.”

Khi niệm hướng đến thân được tu tập, được thực hành thường xuyên, mắt không bị quay cuồng ở các sắc hợp ý, không bị cưỡng lại ở các sắc không hợp ý; tai –nt– mũi –nt– lưỡi –nt– thân –nt– ý không bị quay cuồng ở các pháp hợp ý, không bị cưỡng lại ở các pháp không hợp ý. Bởi lý do gì? Do trạng thái đã được thu thúc và đã được ngăn ngừa của các quyền. Chúng đã được thu thúc và đã được ngăn ngừa nhờ vào cái gì? Nhờ vào sự bảo hộ của niệm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Niệm là sự ngăn cản chúng.”

Các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ nhờ vào tuệ; khi các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ thì các sự xâm nhập được dứt bỏ nhờ vào trạng thái đã được dứt bỏ của pháp tiềm ẩn ấy. Điều ấy giống như khi việc nhổ lên toàn bộ gốc rễ của thân cây đã được thực hiện thì sự tiếp tục của hoa, trái, chồi, nụ đều bị cắt lìa. Tương tự như vậy, khi các pháp tiềm ẩn được dứt bỏ thì sự liên tục của sự xâm nhập bị cắt lìa, bị che lại, bị đậy lại. Bởi cái gì? Bởi tuệ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Chúng được chặn đứng bởi tuệ.”

7. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc, thưa Ngài, được tôi hỏi điều này, xin Ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”

8. “Ngươi đã hỏi câu hỏi về điều nào, này Ajita, Ta trả lời cho ngươi về điều ấy, về việc danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”

Câu hỏi này hỏi về sự tiếp nối. Hỏi về sự tiếp nối là hỏi về điều gì? Về Niết Bàn giới không còn dư sót. Ba Chân Lý là các pháp còn tạo tác, là các đối tượng của Diệt (gồm có): Khổ, Tập, Đạo; Diệt là pháp không bị tạo tác. Ở đấy, Tập được dứt bỏ ở hai phạm vi: phạm vi nhìn thấy và phạm vi tu tập. Do việc thấy, ba sự ràng buộc được dứt bỏ: thân kiến, hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự; do việc tu tập, bảy sự ràng buộc được dứt bỏ: sự mong muốn về dục, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh không còn dư sót. Mười sự ràng buộc này ở Tam Giới, liên quan đến năm phần dưới, liên quan đến năm phần trên. Ở đấy, ba sự ràng buộc: thân kiến, hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự được diệt tận sau khi xác định vị tri quyền, bảy sự ràng buộc: sự mong muốn về dục, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, và vô minh không còn dư sót được diệt tận sau khi xác định dĩ tri quyền.

Hơn nữa, việc vị ấy biết rằng: “Sự tái sanh của ta đã cạn kiệt” là trí về sự diệt trừ, nhận biết rằng: “Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A- la-hán) này nữa” là trí về sự không còn tái sanh; hai trí này là cụ tri quyền; ở đấy, vị tri quyền và dĩ tri quyền được diệt tận ở người đã đạt được Quả cao nhất là phẩm vị A-la-hán.

Ở đấy, hai trí này, trí về sự diệt trừ và trí về sự không còn tái sanh, có chung một sự nhận biết, nhưng có được hai tên gọi tùy theo sự ghi nhận đối tượng: Đối với vị nhận biết rằng: “Sự tái sanh của ta đã cạn kiệt” thì nó có được tên gọi là: “Trí về sự diệt trừ,” đối với vị nhận biết rằng: “Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa” thì nó có được tên gọi là: “Trí về sự không còn tái sanh.” Việc ấy với ý nghĩa nhận biết là tuệ, với ý nghĩa không lơ là (đối tượng) theo như đã được thấy là niệm.

Ở đấy, năm thủ uẩn là danh sắc. Ở đấy, các pháp có xúc là cái thứ năm là danh, năm quyền thuộc sắc pháp là sắc, cả hai danh và sắc ấy gắn liền với thức. Trong khi hỏi đức Thế Tôn về sự diệt tận của danh sắc, đại đức Ajita đã nói ở Phẩm ‘Đường Đi Đến Bờ Kia’ như vầy:

9. (Đại đức Ajita nói rằng:) “Tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc, thưa Ngài, được tôi hỏi điều này, xin Ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”

Ở đấy, niệm và tuệ (đại diện cho) bốn quyền, niệm (đại diện cho) hai quyền: niệm quyền và định quyền, tuệ (đại diện cho) hai quyền: tuệ quyền và tấn quyền. Sự tin tưởng, sự tín nhiệm vào bốn quyền này là tín quyền.

Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tín là pháp chủ đạo, ―đây là định do mong muốn; khi tâm đã được định tĩnh, do trạng thái đè nén các ô nhiễm nhờ vào năng lực của sự suy xét hoặc nhờ vào năng lực của sự tu tập, ―đây là sự dứt bỏ. Ở đấy, các hơi thở ra và hơi thở vào, tầm và tứ, tưởng và thọ, sự ghi nhớ và sự suy tư, ―đây là các sự tạo tác. Như thế, định của sự mong muốn lúc ban đầu và sự dứt bỏ do trạng thái đè nén các ô nhiễm, cùng với các sự tạo tác này, cả hai điều ấy làm phát triển nền tảng của sự thành tựu ―gồm có định của sự mong muốn, sự tinh cần, và các sự tạo tác,― được nương tựa vào sự tách ly, được nương tựa vào sự lìa tham ái, được nương tựa vào sự diệt tận, có sự thiên hẳn về buông bỏ.

Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tấn là pháp chủ đạo, ―đây là định do tinh tấn ―nt― Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với tâm là pháp chủ đạo, ―đây là định do tâm ―nt― Ở đấy, trạng thái chuyên nhất của tâm với sự thẩm xét là pháp chủ đạo, ―đây là định do thẩm xét; khi tâm đã được định tĩnh, do trạng thái đè nén các ô nhiễm nhờ vào năng lực của sự suy xét hoặc nhờ vào năng lực của sự tu tập, ―đây là sự dứt bỏ. Ở đấy, các hơi thở ra và hơi thở vào, tầm và tứ, tưởng và thọ, sự ghi nhớ và sự suy tư, ―đây là các sự tạo tác. Như thế, định của sự thẩm xét lúc ban đầu và sự dứt bỏ do trạng thái đè nén các ô nhiễm, cùng với các sự tạo tác này, cả hai điều ấy làm phát triển nền tảng của sự thành tựu ―gồm có định do thẩm xét, sự tinh cần, và các sự tạo tác,― được nương tựa vào sự tách ly, được nương tựa vào sự lìa tham ái, được nương tựa vào sự diệt tận, có sự thiên hẳn về buông bỏ. Toàn bộ định có trí là gốc rễ, có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí.

10. Trước đây thế nào, sau này thế ấy; sau này thế nào, trước đây thế ấy. Ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy; ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy.

Như thế, với ý đã được mở ra, không còn bị trói buộc, vị ấy làm cho tâm trở nên xán lạn. Năm quyền tốt lành cùng hiện hữu với tâm, khi tâm đang sanh lên thì chúng sanh lên, khi tâm đang được diệt tận thì chúng được diệt tận. Danh và sắc có thức là nhân, được sanh ra có thức là duyên. Nhân của thức bị cắt đứt bởi Đạo, và thức không còn yếu tố nuôi dưỡng, không được vui thích, không được ước nguyện, không tiếp nối sanh lên nữa, nó được diệt tận. Không còn nhân, không còn duyên, danh và sắc cũng không còn làm sanh ra sự hiện hữu lại nữa. Như vậy, do sự diệt tận của thức, tuệ, niệm, và danh sắc được diệt tận. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:

11. “Ngươi đã hỏi câu hỏi về điều nào, này Ajita, Ta trả lời cho ngươi về điều ấy, về việc danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự diệt tận của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”

12. “(Đại đức Ajita nói rằng:) Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp (các bậc A-la-hán) và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này, tôi hỏi bậc Chín Chắn về oai nghi của những vị ấy, thưa Ngài, xin Ngài hãy nói lên.”

Ba đoạn kệ này đã được hỏi. Chúng là ba câu hỏi. Tại sao? Liên quan đến bậc Hữu Học, bậc Vô Học, và việc dứt bỏ có minh sát đi trước. Bởi vì vị ấy đã nói như vầy: “Những vị nào đã hiểu rõ Giáo Pháp” là hỏi về phẩm vị A-la- hán, “và những vị nào là các bậc Hữu Học đông đảo ở nơi này” là hỏi về bậc Hữu Học, “tôi hỏi bậc Chín Chắn về oai nghi của những vị ấy, thưa Ngài, xin Ngài hãy nói lên” là hỏi về việc dứt bỏ có minh sát đi trước. Ở đấy, câu trả lời là:

13. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) không nên khát khao ở các dục, không nên bị khuấy động bởi tâm, thiện xảo đối với tất cả các pháp, có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.”

Tất cả thân nghiệp của đức Thế Tôn có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; tất cả khẩu nghiệp của Ngài có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; tất cả ý nghiệp của Ngài có trí là sự dẫn đầu, có sự xoay vần theo trí; sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời quá khứ, sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời vị lai, sự biết và sự thấy của Ngài không bị chướng ngại về thời hiện tại.

Và cái gì là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy? Việc không biết không thấy về vô thường, về khổ não, và về vô ngã; đây là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy. Giống như ở nơi này, một người có thể nhìn thấy các hình dạng của các ngôi sao, nhưng không thể biết về cách thức tính đếm; đây là chướng ngại đối với sự biết và sự thấy. Trái lại, sự biết và sự thấy của đức Thế Tôn là không bị chướng ngại, bởi vì chư Phật Thế Tôn có sự biết và sự thấy không bị ngăn trở. Ở đấy, vị Hữu Học nên hộ trì tâm về hai pháp: ham muốn ở các pháp đưa đến sự luyến ái và sân hận ở các pháp đưa đến sự xâm nhập. Ở đấy, việc nào là sự ước muốn, sự mê mẩn, sự ước nguyện, sự mong cầu, sự đùa giỡn, đức Thế Tôn, trong khi ngăn chặn việc ấy, đã nói như vầy: “Không nên khát khao ở các dục.” Ngài đã nói về việc tiêu diệt sự xâm nhập rằng: “Không nên bị khuấy động bởi tâm.” Đúng y như thế, vị Hữu Học, trong khi khao khát, làm sanh khởi ô nhiễm chưa được sanh khởi và làm gia tăng ô nhiễm đã được sanh khởi. Trái lại, vị nào có tư duy không bị khuấy động, trong khi không khao khát, thì gắng sức, vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc không sanh khởi của các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc sanh khởi của các thiện pháp chưa được sanh khởi; vị ấy làm sanh khởi sự mong muốn, rồi gắng sức, khởi sự tinh tấn, nắm chặt và xác định tâm về việc duy trì, về việc không lẫn lộn, về việc gia tăng, về việc lớn mạnh, về việc tu tập, về việc làm cho đầy đủ các thiện pháp đã được sanh khởi. Và các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi là những gì? Sự suy tư về dục, suy tư về sân hận, suy tư về hãm hại; đây là các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi. Các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi là những gì? Các pháp tiềm ẩn, các gốc rễ của bất thiện; đây là các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi. Các thiện pháp chưa được sanh khởi là những gì? Các quyền (tín, tấn, ...) của vị Nhập Lưu; đây là các thiện pháp chưa được sanh khởi. Các thiện pháp đã được sanh khởi là những gì? Các quyền của vị Thứ Tám (Nhập Lưu Đạo); đây là các thiện pháp đã được sanh khởi. Ngăn chặn suy tư về dục nhờ vào niệm quyền; ngăn chặn suy tư về sân hận nhờ vào định quyền; ngăn chặn suy tư về hãm hại nhờ vào tấn quyền; không chịu đựng, dứt bỏ, xua đi, làm chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu các ác bất thiện pháp nhờ vào tuệ quyền mỗi khi nó được sanh khởi; sự tin tưởng, sự tín nhiệm ở bốn quyền (tấn, niệm, định, tuệ) này là tín quyền. Ở đấy, tín quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn yếu tố của vị Nhập Lưu. Tấn quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn chánh cần. Niệm quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm. Định quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn thiền. Tuệ quyền có thể được thấy ở đâu? Ở bốn Chân Lý Cao Thượng. Như vậy, vị Hữu Học là không xao lãng đối với tất cả các thiện pháp đã được nói đến bởi đức Thế Tôn với tâm không bị khuấy động. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Không nên bị khuấy động bởi tâm.”

“Thiện xảo đối với tất cả các pháp”: cái gọi là thế giới thì có ba loại: thế giới của ô nhiễm, thế giới của hiện hữu, thế giới của các quyền. Ở đấy, do thế giới của ô nhiễm mà thế giới của hiện hữu khởi lên; nó làm sanh ra các quyền. Trong lúc các quyền đang được tu tập, thì có sự biết toàn diện về điều- có-thể-biết. Sự biết ấy nên được khảo sát theo hai cách: với sự biết toàn diện do thấy và với sự biết toàn diện do tu tập. Bởi vì, khi nào vị Hữu Học biết toàn diện về điều-có-thể-biết, khi ấy, nhờ vào tưởng và tác ý đồng hành với sự nhàm chán, điều-có-thể-biết là được biết toàn diện. Vị ấy có hai pháp đi đến sự thiện xảo: thiện xảo về việc thấy và thiện xảo về việc tu tập.

Trí ấy có thể được biết theo năm loại: sự biết rõ, sự biết toàn diện, sự dứt bỏ, sự tu tập, sự chứng ngộ. Ở đấy, sự biết rõ là gì? Trí về tướng trạng riêng biệt của các pháp, về sự phân tích pháp, và về sự phân tích ý nghĩa; đây là sự biết rõ. Ở đấy, sự biết toàn diện là gì? Sau khi biết rõ như vậy, sự biết toàn diện rằng: “Cái này là thiện, cái này là bất thiện, cái này là có tội, cái này là không có tội, cái này là đen, cái này là trắng, cái này là nên thực hành, cái này là không nên thực hành, các pháp này được nắm giữ như vậy thì làm sanh ra kết quả này, khi chúng được nắm giữ như vậy thì điều này là ý nghĩa;” đây là sự biết toàn diện. Sau khi biết toàn diện như vậy, có ba pháp còn lại: các pháp cần được dứt bỏ, các pháp cần được tu tập, và các pháp cần được chứng ngộ. Ở đấy, các pháp cần được dứt bỏ là những gì? Các pháp bất thiện. Ở đấy, các pháp cần được tu tập là những gì? Các pháp thiện. Ở đấy, các pháp cần được chứng ngộ là những gì? Pháp không tạo tác. Vị biết như vậy được gọi là vị thiện xảo về ý nghĩa, thiện xảo về pháp, thiện xảo về trạng thái tốt lành, thiện xảo về tình trạng quả báo, thiện xảo về sự tiến bộ, thiện xảo về sự không tiến bộ, thiện xảo về cách thức, có được sự thiện xảo lớn lao. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thiện xảo đối với tất cả các pháp.”

“Có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương”: vị ấy, với mục đích an trú lạc trong đời hiện tại, nên an trú với niệm, với sự nhận biết rõ rệt trong khi đi tới, trong khi đi lui, khi nhìn qua, khi nhìn lại, khi co tay, khi duỗi tay, trong việc mang y hai lớp, bình bát, và y phục, khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, ở hành động đại tiện tiểu tiện, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi ngủ, khi thức, khi nói, khi im lặng. Đây là hai hành vi đã được đức Thế Tôn chấp thuận: Một của các vị đã được thanh tịnh, một của các vị đang được thanh tịnh. Những vị nào là thanh tịnh? Các vị A-la-hán. Những vị nào là đang được thanh tịnh? Các vị Hữu Học. Bởi vì các quyền của các vị A-la-hán có các phận sự đã được làm xong.

Điều cần được giác ngộ gồm có bốn: lãnh hội về sự biết toàn diện đối với Khổ, lãnh hội về sự dứt bỏ đối với Tập, lãnh hội về sự tu tập đối với Đạo, lãnh hội về sự chứng ngộ đối với Diệt; đây là bốn điều cần được giác ngộ. Vị nào biết như vậy được gọi là vị đi tới có niệm, đi lui có niệm, do sự diệt trừ luyến ái, do sự diệt trừ sân hận, do sự diệt trừ si mê. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.” Vì thế, Ngài đã nói rằng:

14. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) không nên khát khao ở các dục, không nên bị khuấy động bởi tâm, thiện xảo đối với tất cả các pháp, có niệm, vị tỳ khưu ra đi du phương.”

Nên được hỏi như vậy, nên được trả lời như vậy. Và kệ tóm lược của Kinh nên được so sánh về ý nghĩa và về văn tự, bởi vì văn tự mà bị xa lìa ý nghĩa sẽ là việc nói nhảm nhí. Thậm chí ý nghĩa của thuật ngữ và văn tự được sắp xếp vụng về sẽ là sự hướng dẫn sai trái. Do đó, Kinh nên được trùng tụng đầy đủ văn tự và nên được nghiên cứu: “Kinh này là gì? Là lời dạy trực tiếp (của đức Thế Tôn), là lời giảng tiếp nối (của vị Thinh Văn), có ý nghĩa đã được hướng dẫn, có ý nghĩa có thể hiểu được, liên quan đến phiền não, liên quan đến huân tập, liên quan đến thấu triệt, liên quan đến bậc Vô Học? Tất cả bốn Chân Lý sẽ được nhìn thấy ở đâu của bài Kinh này? Ở đoạn đầu, ở đoạn giữa, ở đoạn kết?” Kinh nên được nghiên cứu như vậy. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Điều đã được hỏi và đã được trả lời, và kệ tụng của Kinh ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu được kết thúc.