Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 4

Bản dịch

NE 4Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo

Desanāhāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là cách nào? Kệ ngôn “sự hứng thú, tình trạng bất lợi, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo. Chỉ bảo về điều gì? Về sự hứng thú, sự bất lợi, sự thoát ra, kết quả, cách thức, chỉ thị.

“Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Ta sẽ giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ.”

Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?

1. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều con người ước muốn.” Điều này là sự hứng thú.

Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?

2. “Nếu đối với người ấy, —(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với người có sự mong muốn đã sanh khởi,— các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên.” Điều này là sự bất lợi.

Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?

3. “Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, băng qua sự vướng mắc này ở thế gian.” Điều này là sự thoát ra.

Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?

4. “Người nam nào thèm muốn ruộng, đất, hoặc vàng, gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu, người nữ, thân quyến, vô số các dục, — Điều này là sự hứng thú.

Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?

5. “— Các (ô nhiễm) yếu ớt thống trị người ấy, các hiểm họa chà đạp người ấy; do việc ấy, khổ đau đi theo người ấy tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ.” Điều này là sự bất lợi.

Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?

6. “Do đó, người luôn luôn có niệm có thể xa lánh các dục, sau khi dứt bỏ chúng thì có thể vượt qua dòng nước lũ, tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia.” Điều này là sự thoát ra.

Ở đấy, điều gì là kết quả?

7. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Điều này là kết quả.

Ở đấy, điều gì là cách thức?

8. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” Điều này là cách thức.

Ở đấy, điều gì là chỉ thị?

9. “Tựa như người có mắt, trong khi đang có sự ra sức, nên tránh xa những nơi trắc trở, bậc sáng suốt, ở thế gian cuộc sống, nên tránh xa những điều ác.” [Điều này là chỉ thị.]

“Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không” là chỉ thị.

“Luôn luôn có niệm” là cách thức.

“Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết.” Điều này là kết quả.

Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo về sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, chỉ bảo về sự bất lợi và sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ, chỉ bảo về sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra cho người cần-được- dẫn-dắt.

Ở đấy, có bốn lối thực hành và bốn hạng người: hạng có tánh tham ái, chậm lụt, đi ra khỏi nhờ vào niệm quyền, với lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp, với các sự thiết lập niệm là nơi nương tựa; hạng có tánh tham ái, khôn khéo, đi ra khỏi nhờ vào định quyền, với lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc mau chóng, với các tầng thiền là nơi nương tựa; hạng có tánh tà kiến, chậm lụt, đi ra khỏi nhờ vào tấn quyền, với lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với các chánh cần làm nơi nương tựa; hạng có tánh tà kiến, khôn khéo, đi ra khỏi nhờ vào tuệ quyền, với lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với các Chân Lý làm nơi nương tựa.

Cả hai hạng có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào minh sát có chỉ tịnh đi trước với sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái. Cả hai hạng có tánh tà kiến đi ra khỏi nhờ vào chỉ tịnh có minh sát đi trước với sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.

Ở đấy, những người nào đi ra khỏi bằng các lối thực hành có chỉ tịnh đi trước, những người ấy sẽ từ bỏ bằng phương pháp xoay vần với sự hoan hỷ; những người nào đi ra khỏi bằng các lối thực hành có minh sát đi trước, những người ấy sẽ từ bỏ bằng phương pháp tiêu khiển của các sư tử.

Cách truyền đạt này đây được hình thành ở đâu? Khi đấng Đạo Sư hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng kính nào đó chỉ bảo Pháp cho ai đó, người ấy lắng nghe Pháp ấy và đạt được niềm tin; ở đấy, việc nào là sự thẩm xét, sự gắng sức, sự cân nhắc, sự khảo sát (về Pháp ấy), đây là tuệ được tạo thành do việc nghe (tuệ văn). Với sự nương vào điều đã được nghe như thế, việc nào là sự thẩm xét, sự cân nhắc, sự khảo sát, sự xem xét bằng ý, đây là tuệ được tạo thành do việc suy nghĩ (tuệ tư). Trí nào sanh lên cho người đã gắn liền sự tác ý với hai tuệ này ở phạm vi nhìn thấy hoặc ở phạm vi tu tập, đây là tuệ được tạo thành do việc tu tập (tuệ tu). Tuệ văn là nhờ vào lời nói từ người khác. Tuệ tư là do sự tác ý đúng đường lối được khởi lên bởi bản thân. Trí sanh lên nhờ vào lời nói từ người khác và do sự tác ý đúng đường lối được khởi lên bởi bản thân, đây là tuệ tu.

Người nào có được hai tuệ văn và tư, đây là người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn. Người nào có được tuệ văn, không có tuệ tư, đây là người hiểu- khi-được-nói-đầy-đủ. Người nào không có tuệ văn lẫn tuệ tư, đây là người cần-được-dẫn-dắt.

Việc chỉ bảo Giáo Pháp này đây chỉ bảo điều gì? Bốn Chân Lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Sự bất lợi và kết quả là Khổ, sự hứng thú là Tập, sự thoát ra là Diệt, cách thức và chỉ thị là Đạo. Đây là bốn Chân Lý, đây là Bánh Xe Pháp.

Giống như đức Thế Tôn đã nói: “‘Đây là Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời” (toàn bộ Bánh Xe Pháp).

Ở đấy, các thuật ngữ là không thể ước lượng, các âm từ là không thể ước lượng, các văn tự là không thể ước lượng, các biểu hiện, các ngữ pháp, các sự diễn giải là không thể ước lượng. Nhưng có sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả về ý nghĩa của chính điều ấy, như thế đây là Chân Lý Cao Thượng về Khổ.

“‘Đây là nhân sanh Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai ―nt―“‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ―nt― “‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”

Ở đấy, các thuật ngữ là không thể ước lượng, các âm từ là không thể ước lượng, các văn tự là không thể ước lượng, các biểu hiện, các ngữ pháp, các sự diễn giải là không thể ước lượng. Nhưng có sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả về ý nghĩa của chính điều ấy, như thế đây là Chân Lý Cao Thượng là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.

Ở đấy, đức Thế Tôn phơi bày với các âm từ, bày tỏ với các thuật ngữ, khai mở với các văn tự, chia sẻ với các biểu hiện, làm rõ với các ngôn ngữ, giúp cho nhận biết với các sự diễn giải.

Ở đấy, đức Thế Tôn nói ngắn gọn với các âm từ và các thuật ngữ, nói đầy đủ với các văn tự và các biểu hiện, giảng giải chi tiết với các ngôn ngữ và các sự diễn giải. Ở đấy, việc nói ngắn gọn là đoạn đầu, việc nói đầy đủ là đoạn giữa, việc giảng giải chi tiết là đoạn kết.

Pháp và Luật này đây, trong khi được nói ngắn gọn, hướng dẫn người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn đầu;” trong khi được nói đầy đủ, hướng dẫn người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn giữa;” trong khi được giảng giải chi tiết, hướng dẫn người cần-được-dẫn-dắt, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn kết.”

Ở đấy, sáu thuật ngữ về ý nghĩa là: sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả; đây là sáu thuật ngữ về ý nghĩa. Sáu thuật ngữ về văn tự là: âm từ, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, sự diễn giải. Đây là sáu thuật ngữ về văn tự. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự.”

Trọn vẹn: vượt lên thế gian, không bị lẫn lộn với các pháp thế tục; đầy đủ: hoàn bị, không thiếu, không thừa; thanh tịnh: không còn vết nhơ, đã rời xa tất cả vết nhơ, tinh khiết, đã được thiết lập cho tất cả các pháp thù thắng. Điều này được gọi là ‘nền tảng của đức Như Lai,’ cũng là ‘nơi được Như Lai thân cận,’ cũng là ‘điều đã được đức Như Lai vạch lối,’ và cũng từ đây, Phạm hạnh này được biết đến. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Ta sẽ giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ.”

Việc chỉ bảo Giáo Pháp này dành cho những ai? Dành cho các hành giả. Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng:

“Sự hứng thú, tình trạng bất lợi, sự thoát ra, kết quả, cách thức, và chỉ thị của đức Thế Tôn cho các hành giả; sự chỉ bảo là cách truyền đạt.”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo được kết thúc.