Bản dịch
NE 4 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo
Desanāhāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là cách nào? Kệ ngôn “sự hứng thú, tình trạng bất lợi, ...” đây là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo. Chỉ bảo về điều gì? Về sự hứng thú, sự bất lợi, sự thoát ra, kết quả, cách thức, chỉ thị.
“Này các tỳ khưu, Ta sẽ chỉ bảo cho các ngươi Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự. Ta sẽ giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ.”
Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?
1. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều con người ước muốn.” Điều này là sự hứng thú.
Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?
2. “Nếu đối với người ấy, —(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với người có sự mong muốn đã sanh khởi,— các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên.” Điều này là sự bất lợi.
Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?
3. “Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, băng qua sự vướng mắc này ở thế gian.” Điều này là sự thoát ra.
Ở đấy, điều gì là sự hứng thú?
4. “Người nam nào thèm muốn ruộng, đất, hoặc vàng, gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu, người nữ, thân quyến, vô số các dục, — Điều này là sự hứng thú.
Ở đấy, điều gì là sự bất lợi?
5. “— Các (ô nhiễm) yếu ớt thống trị người ấy, các hiểm họa chà đạp người ấy; do việc ấy, khổ đau đi theo người ấy tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ.” Điều này là sự bất lợi.
Ở đấy, điều gì là sự thoát ra?
6. “Do đó, người luôn luôn có niệm có thể xa lánh các dục, sau khi dứt bỏ chúng thì có thể vượt qua dòng nước lũ, tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia.” Điều này là sự thoát ra.
Ở đấy, điều gì là kết quả?
7. “Thật vậy, thiện pháp hộ trì người có sự thực hành thiện pháp, ví như chiếc lọng to lớn bảo vệ con người vào thời điểm của cơn mưa. Điều này là lợi ích khi thiện pháp khéo được thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến khổ cảnh.” Điều này là kết quả.
Ở đấy, điều gì là cách thức?
8. “Khi nhận thức bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ thì nhàm chán khổ, đây là con đường đưa đến sự thanh tịnh.” Điều này là cách thức.
Ở đấy, điều gì là chỉ thị?
9. “Tựa như người có mắt, trong khi đang có sự ra sức, nên tránh xa những nơi trắc trở, bậc sáng suốt, ở thế gian cuộc sống, nên tránh xa những điều ác.” [Điều này là chỉ thị.]
“Này Mogharāja, ngươi hãy xem xét thế giới là trống không” là chỉ thị.
“Luôn luôn có niệm” là cách thức.
“Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã, như vậy có thể vượt qua sự chết.” Điều này là kết quả.
Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo về sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, chỉ bảo về sự bất lợi và sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ, chỉ bảo về sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra cho người cần-được- dẫn-dắt.
Ở đấy, có bốn lối thực hành và bốn hạng người: hạng có tánh tham ái, chậm lụt, đi ra khỏi nhờ vào niệm quyền, với lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp, với các sự thiết lập niệm là nơi nương tựa; hạng có tánh tham ái, khôn khéo, đi ra khỏi nhờ vào định quyền, với lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc mau chóng, với các tầng thiền là nơi nương tựa; hạng có tánh tà kiến, chậm lụt, đi ra khỏi nhờ vào tấn quyền, với lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp, với các chánh cần làm nơi nương tựa; hạng có tánh tà kiến, khôn khéo, đi ra khỏi nhờ vào tuệ quyền, với lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc mau chóng, với các Chân Lý làm nơi nương tựa.
Cả hai hạng có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào minh sát có chỉ tịnh đi trước với sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái. Cả hai hạng có tánh tà kiến đi ra khỏi nhờ vào chỉ tịnh có minh sát đi trước với sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.
Ở đấy, những người nào đi ra khỏi bằng các lối thực hành có chỉ tịnh đi trước, những người ấy sẽ từ bỏ bằng phương pháp xoay vần với sự hoan hỷ; những người nào đi ra khỏi bằng các lối thực hành có minh sát đi trước, những người ấy sẽ từ bỏ bằng phương pháp tiêu khiển của các sư tử.
Cách truyền đạt này đây được hình thành ở đâu? Khi đấng Đạo Sư hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng kính nào đó chỉ bảo Pháp cho ai đó, người ấy lắng nghe Pháp ấy và đạt được niềm tin; ở đấy, việc nào là sự thẩm xét, sự gắng sức, sự cân nhắc, sự khảo sát (về Pháp ấy), đây là tuệ được tạo thành do việc nghe (tuệ văn). Với sự nương vào điều đã được nghe như thế, việc nào là sự thẩm xét, sự cân nhắc, sự khảo sát, sự xem xét bằng ý, đây là tuệ được tạo thành do việc suy nghĩ (tuệ tư). Trí nào sanh lên cho người đã gắn liền sự tác ý với hai tuệ này ở phạm vi nhìn thấy hoặc ở phạm vi tu tập, đây là tuệ được tạo thành do việc tu tập (tuệ tu). Tuệ văn là nhờ vào lời nói từ người khác. Tuệ tư là do sự tác ý đúng đường lối được khởi lên bởi bản thân. Trí sanh lên nhờ vào lời nói từ người khác và do sự tác ý đúng đường lối được khởi lên bởi bản thân, đây là tuệ tu.
Người nào có được hai tuệ văn và tư, đây là người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn. Người nào có được tuệ văn, không có tuệ tư, đây là người hiểu- khi-được-nói-đầy-đủ. Người nào không có tuệ văn lẫn tuệ tư, đây là người cần-được-dẫn-dắt.
Việc chỉ bảo Giáo Pháp này đây chỉ bảo điều gì? Bốn Chân Lý: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Sự bất lợi và kết quả là Khổ, sự hứng thú là Tập, sự thoát ra là Diệt, cách thức và chỉ thị là Đạo. Đây là bốn Chân Lý, đây là Bánh Xe Pháp.
Giống như đức Thế Tôn đã nói: “‘Đây là Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời” (toàn bộ Bánh Xe Pháp).
Ở đấy, các thuật ngữ là không thể ước lượng, các âm từ là không thể ước lượng, các văn tự là không thể ước lượng, các biểu hiện, các ngữ pháp, các sự diễn giải là không thể ước lượng. Nhưng có sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả về ý nghĩa của chính điều ấy, như thế đây là Chân Lý Cao Thượng về Khổ.
“‘Đây là nhân sanh Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai ―nt―“‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ―nt― “‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, bánh xe Pháp vô thượng đã được Ta chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”
Ở đấy, các thuật ngữ là không thể ước lượng, các âm từ là không thể ước lượng, các văn tự là không thể ước lượng, các biểu hiện, các ngữ pháp, các sự diễn giải là không thể ước lượng. Nhưng có sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả về ý nghĩa của chính điều ấy, như thế đây là Chân Lý Cao Thượng là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.
Ở đấy, đức Thế Tôn phơi bày với các âm từ, bày tỏ với các thuật ngữ, khai mở với các văn tự, chia sẻ với các biểu hiện, làm rõ với các ngôn ngữ, giúp cho nhận biết với các sự diễn giải.
Ở đấy, đức Thế Tôn nói ngắn gọn với các âm từ và các thuật ngữ, nói đầy đủ với các văn tự và các biểu hiện, giảng giải chi tiết với các ngôn ngữ và các sự diễn giải. Ở đấy, việc nói ngắn gọn là đoạn đầu, việc nói đầy đủ là đoạn giữa, việc giảng giải chi tiết là đoạn kết.
Pháp và Luật này đây, trong khi được nói ngắn gọn, hướng dẫn người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn đầu;” trong khi được nói đầy đủ, hướng dẫn người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn giữa;” trong khi được giảng giải chi tiết, hướng dẫn người cần-được-dẫn-dắt, vì thế đã gọi người ấy là: “tốt đẹp ở đoạn kết.”
Ở đấy, sáu thuật ngữ về ý nghĩa là: sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả; đây là sáu thuật ngữ về ý nghĩa. Sáu thuật ngữ về văn tự là: âm từ, thuật ngữ, văn tự, biểu hiện, ngôn ngữ, sự diễn giải. Đây là sáu thuật ngữ về văn tự. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự.”
Trọn vẹn: vượt lên thế gian, không bị lẫn lộn với các pháp thế tục; đầy đủ: hoàn bị, không thiếu, không thừa; thanh tịnh: không còn vết nhơ, đã rời xa tất cả vết nhơ, tinh khiết, đã được thiết lập cho tất cả các pháp thù thắng. Điều này được gọi là ‘nền tảng của đức Như Lai,’ cũng là ‘nơi được Như Lai thân cận,’ cũng là ‘điều đã được đức Như Lai vạch lối,’ và cũng từ đây, Phạm hạnh này được biết đến. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Ta sẽ giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ.”
Việc chỉ bảo Giáo Pháp này dành cho những ai? Dành cho các hành giả. Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng:
“Sự hứng thú, tình trạng bất lợi, sự thoát ra, kết quả, cách thức, và chỉ thị của đức Thế Tôn cho các hành giả; sự chỉ bảo là cách truyền đạt.”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Tattha katamo desanāhāro? ‘‘Assādādīnavatā’’ti gāthā ayaṃ desanāhāro. Kiṃ desayati? Assādaṃ ādīnavaṃ nissaraṇaṃ phalaṃ upāyaṃ āṇattiṃ. Dhammaṃ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāsessāmīti.
5. Herein, what is the Teaching Mode? The verse beginning 'Assādādīnavatā' is the Teaching Mode. What does it teach? It teaches gratification, danger, escape, fruit, means, and injunction. It teaches in such passages as: 'Bhikkhus, I shall teach you the Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased; I shall make known the holy life that is utterly complete and purified.'
5. Ở đây, phương pháp thuyết giảng là gì? Bài kệ ‘Vị ngọt, sự nguy hiểm...’ này là phương pháp thuyết giảng. Nó thuyết giảng điều gì? Vị ngọt, sự nguy hiểm, sự thoát ly, kết quả, phương tiện, và mệnh lệnh. (Như trong câu:) ‘Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng cho các ngươi giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối; Ta sẽ tuyên bố phạm hạnh có ý nghĩa, có văn cú, hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh.’
Tattha katamo assādo?
Herein, what is gratification?
Ở đây, vị ngọt là gì?
‘‘Kāmaṃ † kāmayamānassa, tassa cetaṃ samijjhati;
Addhā pītimano hoti, laddhā macco yadicchatī’’ti.
For one who desires sensual pleasures, should this succeed for him, surely the mortal is glad at heart, having obtained what he wishes.
‘Người mong cầu dục lạc, nếu điều ấy được thành tựu cho y; chắc chắn y có tâm hoan hỷ, kẻ phải chết đã được điều mình mong muốn.’
Ayaṃ assādo.
This is gratification.
Đây là vị ngọt.
Tattha katamo ādīnavo?
Herein, what is the danger?
Ở đây, sự nguy hiểm là gì?
‘‘Tassa ce kāmayānassa, chandajātassa jantuno;
Te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppatī’’ti.
For that being who desires, in whom craving is born, if those sensual pleasures decline, he is afflicted as if pierced by a dart.
‘Nếu đối với chúng sinh đang mong cầu, đã khởi lên lòng ham muốn, những dục lạc ấy bị suy giảm, y bị đau khổ như bị mũi tên bắn trúng.’
Ayaṃ ādīnavo.
This is the danger.
Đây là sự nguy hiểm.
Tattha katamaṃ nissaraṇaṃ?
Herein, what is the escape?
Ở đây, sự thoát ly là gì?
‘‘Yo kāme parivajjeti, sappasseva padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatī’’ti.
One who shuns sensual pleasures, as with one's foot the head of a snake—that person, being mindful, overcomes this entanglement in the world.
‘Vị nào tránh xa các dục lạc, như người dùng chân tránh đầu rắn; vị ấy, có chánh niệm, vượt qua được sự dính mắc này trong đời.’
Idaṃ nissaraṇaṃ.
This is the escape.
Đây là sự thoát ly.
Tattha katamo assādo?
Herein, what is gratification?
Ở đây, vị ngọt là gì?
‘‘Khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vā, gavāssaṃ dāsaporisaṃ;
Thiyo bandhū puthū kāme, yo naro anugijjhatī’’ti.
Fields, property, gold, or cattle and horses, slaves and workers, women, relatives, and various sensual pleasures—the person who is greedy for these...
‘Người nào tham đắm ruộng, đất, hoặc vàng, bò ngựa, tôi tớ nam nữ, vợ, bà con, và nhiều dục lạc khác.’
Ayaṃ assādo.
This is gratification.
Đây là vị ngọt.
Tattha katamo ādīnavo?
Herein, what is the danger?
Ở đây, sự nguy hiểm là gì?
‘‘Abalā naṃ balīyanti, maddante naṃ parissayā;
Tato naṃ dukkhamanveti, nāvaṃ bhinnamivodaka’’nti.
Weaknesses overpower him, dangers crush him; then suffering follows him, as water a broken boat.
‘Những điều yếu ớt chế ngự y, những hiểm nguy giày vò y; từ đó, khổ đau theo sau y, như nước theo sau chiếc thuyền bị vỡ.’
Ayaṃ ādīnavo.
This is the danger.
Đây là sự nguy hiểm.
Tattha katamaṃ nissaraṇaṃ?
Herein, what is the escape?
Ở đây, sự thoát ly là gì?
‘‘Tasmā jantu sadā sato, kāmāni parivajjaye;
Te pahāya tare oghaṃ, nāvaṃ sitvāva pāragū’’ti.
Therefore, a being, ever mindful, should avoid sensual pleasures. Having abandoned them, one should cross the flood, like one who reaches the far shore by bailing out a boat.
‘Vì vậy, chúng sinh hãy luôn chánh niệm, nên tránh xa các dục lạc; từ bỏ chúng, hãy vượt qua bộc lưu, như người tát nước khỏi thuyền để đến bờ kia.’
Idaṃ nissaraṇaṃ.
This is the escape.
Đây là sự thoát ly.
Tattha katamaṃ phalaṃ?
Herein, what is the fruit?
Ở đây, kết quả là gì?
‘‘Dhammo have rakkhati dhammacāriṃ, chattaṃ mahantaṃ yatha vassakāle;
Esānisaṃso dhamme suciṇṇe, na duggatiṃ gacchati dhammacārī’’ti.
The Dhamma, indeed, protects one who lives by the Dhamma, like a great umbrella in the rainy season. This is the benefit of Dhamma well-practiced: one who lives by the Dhamma does not go to a woeful state.
‘Pháp quả thật hộ trì người hành pháp, như chiếc lọng lớn trong mùa mưa. Đây là lợi ích của pháp được thực hành tốt: người hành pháp không đi đến ác thú.’
Idaṃ phalaṃ.
This is the fruit.
Đây là kết quả.
Tattha katamo upāyo?
Therein, what is the means?
Ở đây, phương tiện là gì?
‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti…pe…
‘‘Sabbe saṅkhārā † dukkhā’’ti…pe…
‘‘Sabbe dhammā anattā’’ti, yadā paññāya passati;
Atha nibbindati dukkhe, esa maggo visuddhiyā’’ti.
“‘All formations are impermanent,’ thus… ‘All formations are suffering,’ thus… ‘All phenomena are not-self,’ thus. When one sees this with wisdom, then one becomes disenchanted with suffering; this is the path to purification.”
‘Khi thấy bằng trí tuệ rằng: ‘Tất cả các hành là vô thường’... ‘Tất cả các hành là khổ’... ‘Tất cả các pháp là vô ngã’; bấy giờ y nhàm chán trong khổ, đó là con đường dẫn đến thanh tịnh.’
Ayaṃ upāyo.
This is the means.
Đây là phương tiện.
Tattha katamā āṇatti?
Therein, what is the command?
Ở đây, mệnh lệnh là gì?
‘‘Cakkhumā † visamānīva, vijjamāne parakkame;
Paṇḍito jīvalokasmiṃ, pāpāni parivajjaye’’ti.
“Just as a person with sight, when there is the effort of travelling, avoids uneven regions of ground, so in the world of beings, a wise person should avoid evil things.”
‘Như người có mắt, khi có thể nỗ lực, tránh những nơi không bằng phẳng; bậc trí trong thế gian chúng sinh, nên tránh xa các điều ác.’
Ayaṃ āṇatti.
This is the command.
Đây là mệnh lệnh.
‘‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu,
Mogharājā’ti āṇatti, ‘sadā sato’ti upāyo;
‘Attānudiṭṭhiṃ ūhacca †, evaṃ maccutaro siyā’’’.
“‘Mogharāja, look upon the world as empty’—this is the command. ‘Always be mindful’—this is the means. ‘Having uprooted the personality-view, thus one would cross beyond death.’”
‘Này Mogharāja, hãy nhìn đời là trống không’ là mệnh lệnh, ‘luôn chánh niệm’ là phương tiện. ‘Sau khi nhổ lên thân kiến, như vậy có thể vượt qua cái chết.’
Idaṃ phalaṃ.
This is the fruit.
Đây là quả.
6. Tattha bhagavā ugghaṭitaññussa puggalassa nissaraṇaṃ desayati, vipañcitaññussa puggalassa ādīnavañca nissaraṇañca desayati, neyyassa puggalassa assādañca ādīnavañca nissaraṇañca desayati.
6. Therein, the Blessed One teaches the escape to the person of quick understanding; to the person of elaborated understanding, he teaches the danger and the escape; to the person who needs guidance, he teaches the gratification, the danger, and the escape.
6. Trong ấy, đức Thế Tôn thuyết giảng về sự xuất ly cho hạng người ugghaṭitaññu, thuyết giảng về sự nguy hại và sự xuất ly cho hạng người vipañcitaññu, thuyết giảng về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly cho hạng người neyya.
Tattha catasso paṭipadā, cattāro puggalā. Taṇhācarito mando satindriyena dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya niyyāti satipaṭṭhānehi nissayehi. Taṇhācarito udatto † samādhindriyena dukkhāya paṭipadāya khippābhiññāya niyyāti jhānehi nissayehi. Diṭṭhicarito mando vīriyindriyena sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya niyyāti sammappadhānehi nissayehi. Diṭṭhicarito udatto paññindriyena sukhāya paṭipadāya khippābhiññāya niyyāti saccehi nissayehi.
Therein, there are four practices and four persons. The dull person of craving temperament is led out by means of the faculty of mindfulness, with the difficult practice and slow direct knowledge, through the supports of the establishments of mindfulness. The sharp person of craving temperament is led out by means of the faculty of concentration, with the difficult practice and quick direct knowledge, through the supports of the jhānas. The dull person of speculative temperament is led out by means of the faculty of energy, with the easy practice and slow direct knowledge, through the supports of the right strivings. The sharp person of speculative temperament is led out by means of the faculty of wisdom, with the easy practice and quick direct knowledge, through the supports of the truths.
Trong ấy, có bốn pháp hành và bốn hạng người. Hạng người có tánh tham ái, chậm lụt, nhờ niệm quyền, với pháp hành khó khăn, với thắng trí chậm chạp, được xuất ly nhờ các pháp hỗ trợ là Tứ Niệm Xứ. Hạng người có tánh tham ái, lanh lợi, nhờ định quyền, với pháp hành khó khăn, với thắng trí nhanh chóng, được xuất ly nhờ các pháp hỗ trợ là các thiền. Hạng người có tánh tà kiến, chậm lụt, nhờ tấn quyền, với pháp hành dễ dàng, với thắng trí chậm chạp, được xuất ly nhờ các pháp hỗ trợ là Tứ Chánh Cần. Hạng người có tánh tà kiến, lanh lợi, nhờ tuệ quyền, với pháp hành dễ dàng, với thắng trí nhanh chóng, được xuất ly nhờ các pháp hỗ trợ là các chân lý.
Ubho taṇhācaritā samathapubbaṅgamāya vipassanā niyyanti rāgavirāgāya cetovimuttiyā. Ubho diṭṭhicaritā vipassanāpubbaṅgame samathena niyyanti avijjāvirāgāya paññāvimuttiyā.
Both persons of craving temperament are led out by insight that has serenity as its forerunner, for the fading away of lust through the liberation of mind. Both persons of speculative temperament are led out by serenity that has insight as its forerunner, for the fading away of ignorance through the liberation by wisdom.
Cả hai hạng người có tánh tham ái được xuất ly nhờ tuệ quán có chỉ tịnh đi trước, hướng đến tâm giải thoát do ly tham. Cả hai hạng người có tánh tà kiến được xuất ly nhờ chỉ tịnh có tuệ quán đi trước, hướng đến tuệ giải thoát do ly vô minh.
Tattha ye samathapubbaṅgamāhi paṭipadāhi niyyanti, te nandiyāvaṭṭena nayena hātabbā, ye vipassanāpubbaṅgamāhi paṭipadāhi niyyanti, te sīhavikkīḷitena nayena hātabbā.
Therein, those who are led out by practices that have serenity as their forerunner are to be guided by the method called Nandiyāvaṭṭa. Those who are led out by practices that have insight as their forerunner are to be guided by the method called Sīhavikkīḷita.
Trong ấy, những vị nào xuất ly bằng các pháp hành có chỉ tịnh đi trước, các vị ấy cần được dẫn dắt bằng phương pháp Nandiyāvaṭṭa. Những vị nào xuất ly bằng các pháp hành có tuệ quán đi trước, các vị ấy cần được dẫn dắt bằng phương pháp Sīhavikkīḷita.
7. Svāyaṃ hāro kattha sambhavati, yassa satthā vā dhammaṃ desayati aññataro vā garuṭṭhānīyo sabrahmacārī, so taṃ dhammaṃ sutvā saddhaṃ paṭilabhati. Tattha yā vīmaṃsā ussāhanā tulanā upaparikkhā, ayaṃ sutamayī paññā. Tathā sutena nissayena yā vīmaṃsā tulanā upaparikkhā manasānupekkhaṇā, ayaṃ cintāmayī paññā. Imāhi dvīhi paññāhi manasikārasampayuttassa yaṃ ñāṇaṃ uppajjati dassanabhūmiyaṃ vā bhāvanābhūmiyaṃ vā, ayaṃ bhāvanāmayī paññā.
7. Where does this method of exposition occur? It occurs for a person to whom the Teacher or another respected fellow practitioner teaches the Dhamma, and that person, having heard that Dhamma, obtains faith. Therein, whatever investigation, exertion, weighing, and examination there is, this is wisdom based on learning. Likewise, with the support of what has been heard, whatever investigation, weighing, examination, and repeated mental consideration there is, this is wisdom based on reflection. For one endowed with attention, through these two kinds of wisdom, whatever knowledge arises in the plane of vision or in the plane of development, this is wisdom based on development.
7. Phương pháp này phát sinh ở đâu? Nó phát sinh nơi người nào mà bậc Đạo Sư thuyết pháp cho, hoặc một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào đó thuyết pháp cho, và người ấy sau khi nghe pháp liền có được đức tin. Trong trường hợp ấy, sự thẩm sát, sự nỗ lực, sự cân nhắc, sự quán xét nào có mặt, đây được gọi là văn tuệ. Tương tự, nhờ sự hỗ trợ của việc đã nghe, sự thẩm sát, sự cân nhắc, sự quán xét, sự chuyên chú quán sát bằng tâm ý nào có mặt, đây được gọi là tư tuệ. Nhờ hai loại tuệ này, đối với người có sự tác ý đúng đắn, trí tuệ nào phát sinh ở kiến địa hoặc ở tu địa, đây được gọi là tu tuệ.
8. Paratoghosā sutamayī paññā. Paccattasamuṭṭhitā yoniso manasikārā cintāmayī paññā. Yaṃ parato ca ghosena paccattasamuṭṭhitena ca yonisomanasikārena ñāṇaṃ uppajjati, ayaṃ bhāvanāmayī paññā. Yassa imā dve paññā atthi sutamayī cintāmayī ca, ayaṃ ugghaṭitaññū. Yassa sutamayī paññā atthi, cintāmayī natthi, ayaṃ vipañcitaññū †. Yassa neva sutamayī paññā atthi na cintāmayī, ayaṃ neyyo.
8. Wisdom based on learning comes from the voice of another. Wisdom based on reflection comes from wise attention originating in oneself. Whatever knowledge arises from the voice of another and from wise attention originating in oneself, this is wisdom based on development. A person for whom these two kinds of wisdom exist—that based on learning and that based on reflection—is one of quick understanding. A person for whom wisdom based on learning exists, but wisdom based on reflection does not, is one of elaborated understanding. A person for whom neither wisdom based on learning nor wisdom based on reflection exists, is one who needs guidance.
8. Trí tuệ phát sinh từ âm thanh của người khác là văn tuệ. Trí tuệ phát sinh từ bên trong do như lý tác ý là tư tuệ. Trí tuệ nào phát sinh nhờ âm thanh của người khác và nhờ như lý tác ý phát sinh từ bên trong, đây là tu tuệ. Người nào có cả hai loại tuệ này, là văn tuệ và tư tuệ, người ấy là hạng ugghaṭitaññu. Người nào có văn tuệ nhưng không có tư tuệ, người ấy là hạng vipañcitaññu. Người nào không có văn tuệ cũng không có tư tuệ, người ấy là hạng neyya.
9. Sāyaṃ dhammadesanā kiṃ desayati? Cattāri saccāni dukkhaṃ samudayaṃ nirodhaṃ maggaṃ. Ādīnavo ca phalañca dukkhaṃ, assādo samudayo, nissaraṇaṃ nirodho, upāyo āṇatti ca maggo. Imāni cattāri saccāni. Idaṃ dhammacakkaṃ.
9. What does this teaching of the Dhamma explain? The four truths: suffering, its origin, its cessation, and the path. Danger and fruit are suffering. Gratification is the origin. Escape is cessation. The means and the command are the path. These are the four truths. This is the Dhammacakka.
9. Bài pháp thoại ấy thuyết giảng điều gì? Thuyết giảng về Bốn Chân Lý: khổ, tập, diệt, đạo. Sự nguy hại và quả là khổ đế; vị ngọt là tập đế; sự xuất ly là diệt đế; phương tiện và mệnh lệnh là đạo đế. Đây là Bốn Chân Lý. Đây là Kinh Chuyển Pháp Luân.
Yathāha bhagavā – ‘‘idaṃ dukkha’’nti me, bhikkhave, bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṃ, sabbaṃ dhammacakkaṃ.
As the Blessed One said: ‘“This is suffering,” thus, O monks, by me at Bārāṇasī in the Deer Park at Isipatana, the unsurpassed Wheel of Dhamma was set in motion, not to be turned back by any ascetic or brahmin or deva or Māra or Brahmā or by anyone in the world.’ The entire Dhammacakka.
Như đức Thế Tôn đã thuyết: ‘Này các Tỳ khưu, «Đây là khổ» — bởi Ta, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Lộc Uyển, bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận, không thể bị ai trong đời đảo ngược, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, hay Phạm thiên.’ (Và cứ thế cho) toàn bộ Kinh Chuyển Pháp Luân.
Tattha aparimāṇā padā, aparimāṇā akkharā, aparimāṇā byañjanā, aparimāṇā ākārā neruttā niddesā. Etasseva atthassa saṅkāsanā pakāsanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ † paññatti, itipidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ.
Therein are immeasurable terms, immeasurable letters, immeasurable phrases, immeasurable aspects, etymologies, and detailed expositions. Of this very meaning, the indication, declaration, disclosure, analysis, making plain, and designation are immeasurable. Thus, this is the noble truth of suffering.
Trong ấy, có vô lượng câu, vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thể loại, vô lượng từ nguyên, vô lượng giải thích. Về chính ý nghĩa này, có sự trình bày tóm tắt, sự trình bày khởi đầu, sự giải thích, sự phân tích, sự làm cho rõ ràng, sự định danh. Như vậy, đây là Thánh đế về Khổ.
‘‘Ayaṃ dukkhasamudayo’’ti me, bhikkhave, bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti me, bhikkhave…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti me, bhikkhave, bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṃ.
“‘This is the origin of suffering,’ thus, by me, O monks, at Bārāṇasī in the Deer Park at Isipatana, the unsurpassed Wheel of Dhamma was set in motion… ‘This is the cessation of suffering,’ thus, by me, O monks… ‘This is the practice leading to the cessation of suffering,’ thus, by me, O monks, at Bārāṇasī in the Deer Park at Isipatana, the unsurpassed Wheel of Dhamma was set in motion, not to be turned back by any ascetic or brahmin or deva or Māra or Brahmā or by anyone in the world.”
‘Này các Tỳ khưu, «Đây là sự tập khởi của khổ» — bởi Ta, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Lộc Uyển, bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận... (vân vân)... ‘Này các Tỳ khưu, «Đây là sự đoạn diệt của khổ»... (vân vân)... ‘Này các Tỳ khưu, «Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ» — bởi Ta, tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong Lộc Uyển, bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận, không thể bị ai trong đời đảo ngược, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma vương, hay Phạm thiên.’
Tattha aparimāṇā padā, aparimāṇā akkharā, aparimāṇā byañjanā, aparimāṇā ākārā neruttā niddesā. Etasseva atthassa saṅkāsanā pakāsanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ paññatti itipidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ.
Therein are immeasurable terms, immeasurable letters, immeasurable phrases, immeasurable aspects, etymologies, and detailed expositions. Of this very meaning, the indication, declaration, disclosure, analysis, making plain, and designation are immeasurable. Thus, this is the noble truth of the practice leading to the cessation of suffering.
Trong ấy, có vô lượng câu, vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thể loại, vô lượng từ nguyên, vô lượng giải thích. Về chính ý nghĩa này, có sự trình bày tóm tắt, sự trình bày khởi đầu, sự giải thích, sự phân tích, sự làm cho rõ ràng, sự định danh. Như vậy, đây là Thánh đế về con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ.
Tattha bhagavā akkharehi saṅkāseti, padehi pakāseti, byañjanehi vivarati, ākārehi vibhajati, niruttīhi uttānīkaroti †, niddesehi paññapeti. Tattha bhagavā akkharehi ca padehi ca ugghaṭeti †, byañjanehi ca ākārehi ca vipañcayati, niruttīhi ca niddesehi ca vitthāreti. Tattha ugghaṭanā † ādi, vipañcanā majjhe, vitthāraṇā pariyosānaṃ. Soyaṃ dhammavinayo ugghaṭīyanto ugghaṭitaññūpuggalaṃ vineti, tena naṃ āhu ‘‘ādikalyāṇo’’ti. Vipañcīyanto vipañcitaññūpuggalaṃ vineti, tena naṃ āhu ‘‘majjhekalyāṇo’’ti. Vitthārīyanto neyyaṃ puggalaṃ vineti, tena naṃ āhu ‘‘pariyosānakalyāṇo’’ti.
Therein, the Blessed One indicates with letters, illuminates with terms, reveals with phrases, analyzes with modes, makes plain with etymologies, and sets forth with expositions. Therein, the Blessed One expounds concisely with letters and terms, elaborates moderately with phrases and modes, and expounds in detail with etymologies and expositions. Therein, the concise exposition is the beginning, the moderate elaboration is the middle, and the detailed exposition is the end. This Dhamma-Vinaya, when expounded concisely, trains the person of quick understanding; therefore, it is said to be ‘good in the beginning.’ When elaborated moderately, it trains the person who understands through elaboration; therefore, it is said to be ‘good in the middle.’ When expounded in detail, it trains the person who needs to be led; therefore, it is said to be ‘good in the end.’
Trong ấy, đức Thế Tôn trình bày tóm tắt bằng các chữ, trình bày khởi đầu bằng các câu, giải thích bằng các văn, phân tích bằng các thể loại, làm cho rõ ràng bằng các từ nguyên, định danh bằng các giải thích. Trong ấy, đức Thế Tôn tóm lược bằng các chữ và các câu; Ngài trình bày rộng bằng các văn và các thể loại; Ngài trình bày chi tiết bằng các từ nguyên và các giải thích. Trong đó, sự tóm lược là phần đầu, sự trình bày rộng là phần giữa, sự trình bày chi tiết là phần cuối. Giáo pháp và giới luật này, khi được tóm lược, sẽ giáo huấn hạng người ugghaṭitaññu, do đó người ta nói về nó là ‘toàn thiện ở phần đầu’. Khi được trình bày rộng, nó giáo huấn hạng người vipañcitaññu, do đó người ta nói về nó là ‘toàn thiện ở phần giữa’. Khi được trình bày chi tiết, nó giáo huấn hạng người neyya, do đó người ta nói về nó là ‘toàn thiện ở phần cuối’.
10. Tattha chappadāni attho saṅkāsanā pakāsanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ paññatti, imāni chappadāni attho. Chappadāni byañjanaṃ akkharaṃ padaṃ byañjanaṃ ākāro nirutti niddeso, imāni chappadāni byañjanaṃ. Tenāha bhagavā ‘‘dhammaṃ vo, bhikkhave, desessāmi ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjana’’nti.
10. Therein, six terms are the meaning: indication, illumination, revelation, analysis, making plain, and setting forth. These six terms are the meaning. Six terms are the phrasing: letter, term, phrase, mode, etymology, and exposition. These six terms are the phrasing. Therefore, the Blessed One said: ‘I will teach you the Dhamma, monks, good in the beginning, good in the middle, and good in the end, complete with meaning and phrasing.’
10. Trong ấy, có sáu thuật ngữ là ý nghĩa: sự trình bày tóm tắt, sự trình bày khởi đầu, sự giải thích, sự phân tích, sự làm cho rõ ràng, sự định danh; sáu thuật ngữ này là ý nghĩa. Có sáu thuật ngữ là văn tự: chữ, câu, văn, thể loại, từ nguyên, giải thích; sáu thuật ngữ này là văn tự. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết cho các ngươi giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự.’
Kevalanti lokuttaraṃ, na missaṃ lokiyehi dhammehi. Paripuṇṇanti paripūraṃ anūnaṃ anatirekaṃ. Parisuddhanti nimmalaṃ sabbamalāpagataṃ pariyodātaṃ upaṭṭhitaṃ sabbavisesānaṃ, idaṃ vuccati tathāgatapadaṃitipi tathāgatanisevitaṃitipi tathāgatārañjitaṃitipi, atocetaṃ brahmacariyaṃ paññāyati. Tenāha bhagavā ‘‘kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāsessāmī’’ti.
‘Exclusive’ means supramundane, not mixed with worldly states. ‘Perfectly full’ means complete, without deficiency or excess. ‘Pure’ means stainless, free from all defilements, bright, clarified, possessed of all special qualities. This is called the Tathāgata’s state, thus it is frequented by the Tathāgata, thus it is delighted in by the Tathāgata. And by this, the holy life is made known. Therefore, the Blessed One said: ‘I will proclaim the holy life that is exclusive, perfectly full, and pure.’
Toàn vẹn nghĩa là siêu thế, không pha trộn với các pháp thế gian. Viên mãn nghĩa là đầy đủ, không thiếu không thừa. Thanh tịnh nghĩa là không tỳ vết, đã loại trừ mọi cấu uế, trong sạch, là nền tảng cho tất cả các pháp đặc biệt. Điều này được gọi là dấu chân của Như Lai, cũng là được Như Lai thực hành, cũng là được Như Lai ưa thích; do đó, phạm hạnh này được biết đến. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói: ‘Ta sẽ tuyên thuyết phạm hạnh toàn vẹn, viên mãn, thanh tịnh.’
Kesaṃ ayaṃ dhammadesanā, yogīnaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano –
For whom is this Dhamma teaching? For yogis. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said:
Pháp thoại này dành cho ai? Dành cho các hành giả. Vì thế, trưởng lão Mahākaccāyano đã nói –
‘‘Assādādīnavatā, nissaraṇampi ca phalaṃ upāyo ca;
Āṇattī ca bhagavato, yogīnaṃ desanāhāro’’ti.
Gratification and danger, escape, and also the fruit and the means, and the instruction of the Blessed One: for yogis, this is the Exposition of the Teaching.
‘Vị ngọt và sự nguy hại, cả sự xuất ly, quả, và phương tiện; và mệnh lệnh của đức Thế Tôn, (đó là) Desanāhāra (pháp yếu về thuyết giảng) cho các hành giả.’
Niyutto desanāhāro.
The Exposition of the Teaching is concluded.
Phần Desanāhāra đã được trình bày.