Bản dịch
NE 3 — Phần Diễn Giải
3. Niddesavāra
Ở đấy, Cẩm Nang Học Phật được thuật lại một cách tóm tắt:
1. “Sự hứng thú, tình trạng bất lợi, sự thoát ra, kết quả, cách thức, và chỉ thị của đức Thế Tôn cho các hành giả là cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo.
2. Điều đã được hỏi và đã được trả lời, và kệ tóm lược (ý nghĩa) của Kinh, sự nghiên cứu về Kinh; cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự tìm hiểu.’
3. Trong số tất cả các cách truyền đạt, việc tìm hiểu là chính xác hay không chính xác của phạm vi (văn tự) và hành xứ (ý nghĩa); cách truyền đạt đã được diễn giải là ‘sự kết nối.’
4. Đấng Chiến Thắng chỉ bảo Giáo Pháp và nền tảng của Giáo Pháp ấy, như thế cho đến toàn bộ Giáo Pháp; cách truyền đạt này (gọi) là nền tảng.
5. Khi một pháp được nói đến, bất cứ các pháp nào có chung tướng trạng, tất cả chúng đều được nói đến; cách truyền đạt ấy gọi là tướng trạng.
6. Ngữ pháp và chủ tâm, rồi văn tự, và căn nguyên của việc chỉ bảo, với sự tiếp nối điều trước và điều sau; cách truyền đạt này là bốn sự dàn trận.
7. Khi có một nền tảng, thì tìm kiếm nền tảng còn lại, rồi xoay vần ở phía đối nghịch; cách truyền đạt ấy gọi là sự xoay vần.
8. Cách truyền đạt này phân tích Giáo pháp, nền tảng, phạm vi, các trường hợp phổ biến và không phổ biến; cách này được biết là ‘sự phân tích.’
9. Ở pháp thiện và bất thiện đã được diễn giải, đã được tu tập, và đã được dứt bỏ, cách truyền đạt xoay vần ở phần đối nghịch gọi là sự đảo ngược.
10. Có nhiều từ đồng nghĩa cho một pháp được nói đến ở Kinh, vị hiểu rõ Kinh biết (điều ấy); cách truyền đạt ấy gọi là từ đồng nghĩa.
11. Đức Thế Tôn chỉ bảo một vấn đề thông qua các sự mô tả theo nhiều cách, kiểu cách ấy có thể nhận biết được; cách truyền đạt ấy gọi là sự mô tả.
12. Và cái nào là sự tùy thuận sanh khởi, quyền, uẩn, rồi giới và xứ, cách truyền đạt nào liệt kê những cái này, cách truyền đạt ấy gọi là sự liệt kê.
13. Về câu hỏi đã được trả lời, có sự tìm hiểu rõ ràng hay chưa rõ ràng bắt đầu từ câu kệ đã được hỏi; cách truyền đạt ấy gọi là sự làm rõ.
14. Các pháp nào đã được diễn giải theo tính trạng đồng nhất và luôn cả tính trạng khác biệt nữa, các pháp ấy không nên được phỏng đoán; cách truyền đạt ấy là sự xác định.
15. Các pháp nào sản sinh ra pháp nào do duyên, theo tuần tự, sau khi đã xác định nhân; cách truyền đạt ấy là sự thiết yếu.
16. Các pháp nào có chung gốc rễ và có cùng một ý nghĩa đã được bậc Hiền Trí bày tỏ, chúng nên được xếp loại; cách truyền đạt ấy là sự xếp loại.
17. Phương pháp dẫn dắt tham ái và vô minh bằng chỉ tịnh cùng với minh sát sau khi đã kết hợp với bốn Chân Lý, đây là phương pháp xoay vần với sự hoan hỷ.
18. Người nào dẫn dắt các pháp bất thiện bằng các gốc rễ của bất thiện và các pháp thiện bằng các gốc rễ của thiện theo thực thể, đúng theo (thực thể), không xa lìa (thực thể), các vị đã gọi phương pháp ấy là chĩa ba.
19. Người nào dẫn dắt các ô nhiễm do những điều trái khuấy và các diệu pháp do các quyền, các bậc biết rõ phương pháp đã gọi phương pháp ấy là sự tiêu khiển của các sư tử.
20. Bởi vì các pháp thiện và bất thiện đã được đề cập tại chỗ này chỗ nọ ở những phần giải thích, nên dùng tâm xem xét kỹ lưỡng (các pháp ấy); các ngài đã gọi việc xem xét ấy là việc định hướng.
21. Sau khi xem xét tất cả các pháp thiện và bất thiện bằng việc định hướng, rồi lấy ra và gom chung lại; phương pháp này gọi là cái móc câu.
22. Trước tiên nên xem xét kỹ lưỡng mười sáu cách truyền đạt, rồi đến các phương hướng từ việc định hướng, và sau khi gom lại bằng móc câu, nên diễn giải bài Kinh theo ba phương pháp.
23. Âm từ, thuật ngữ, văn tự, ngôn ngữ, sự diễn giải là y hệt như thế, biểu hiện thứ sáu là lời nói; tất cả chừng ấy là văn tự.
24. Sự phơi bày, sự bày tỏ, sự khai mở, sự chia sẻ, việc làm rõ, sự mô tả, ý nghĩa và hành động được diễn giải thông qua sáu thuật ngữ này.
25. Ba phương pháp là đầy đủ và sáu thuật ngữ về ý nghĩa được kể ra; ý nghĩa về lời dạy của đức Thế Tôn được kết hợp chung theo chín thuật ngữ này.
26. Chín thuật ngữ về ý nghĩa, hai mươi bốn sự tầm cầu về văn tự, sau khi kết hợp chung cả hai, chừng này cẩm nang là ba mươi ba.”
Phần Diễn Giải được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Tattha saṅkhepato netti kittitā.
4. Therein, the Netti has been concisely declared.
4. Ở đó, Pháp Cú Đạo đã được tuyên thuyết một cách tóm tắt.
Hārasaṅkhepo
Summary of the Guides
Tóm Tắt các Phương Thức Dẫn Giải
1.
1.
1.
Assādādīnavatā, nissaraṇampi ca phalaṃ upāyo ca;
Āṇattī ca bhagavato, yogīnaṃ desanāhāro.
Gratification and danger, escape, fruit, and means, and the command of the Blessed One for the benefit of yogis—this is the Exposition guide.
Vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, quả và phương tiện; và mệnh lệnh của Đức Thế Tôn vì lợi ích của các hành giả, (đó là) Desanāhāra (phương pháp trình bày).
2.
2.
2.
Yaṃ pucchitañca vissajjitañca, suttassa yā ca anugīti;
Suttassa yo pavicayo, hāro vicayoti niddiṭṭho.
What was asked and what was answered, the corresponding recitation of the sutta, and the investigation of the sutta—this guide is designated as Investigation.
Câu hỏi và câu trả lời nào, sự lặp lại nào của kinh; sự thẩm sát nào về kinh và về từ, (đó) được gọi là Vicayahāra (phương pháp thẩm sát).
3.
3.
3.
Sabbesaṃ hārānaṃ, yā bhūmī yo ca gocaro tesaṃ;
Yuttāyuttaparikkhā, hāro yuttīti niddiṭṭho.
Of all the guides, whatever is their ground and whatever their range, the examination of the suitable and unsuitable—this guide is designated as Reasoning.
Nền tảng nào và phạm vi nào của tất cả các phương pháp; sự khảo sát về sự thích hợp và không thích hợp của chúng, (phương pháp đó) được gọi là Yuttihāra (phương pháp hợp lý).
4.
4.
4.
Dhammaṃ deseti jino, tassa ca dhammassa yaṃ padaṭṭhānaṃ;
Iti yāva sabbadhammā, eso hāro padaṭṭhāno.
The Victor teaches the Dhamma, and whatever is the proximate cause of that Dhamma; thus it is for all phenomena. This is the Proximate Cause guide.
Đấng Chiến Thắng thuyết Pháp, và nền tảng trực tiếp nào của Pháp ấy; như vậy, đối với tất cả các pháp (được đề cập), đây là Padaṭṭhānahāra (phương pháp nền tảng trực tiếp).
5.
5.
5.
Vuttamhi ekadhamme, ye dhammā ekalakkhaṇā keci;
Vuttā bhavanti sabbe, so hāro lakkhaṇo nāma.
When one phenomenon is stated, whatever phenomena share a single characteristic are thereby stated. That guide is named Characteristic.
Khi một pháp được nói đến, những pháp nào có cùng một đặc tính; tất cả (những pháp ấy) được xem là đã được nói đến, phương pháp đó tên là Lakkhaṇa (phương pháp đặc tính).
6.
6.
6.
Neruttamadhippāyo, byañjanamatha desanānidānañca;
Pubbāparānusandhī, eso hāro catubyūho.
Etymology, intention, the reason for the teaching, and the sequential connection of preceding and subsequent—this is the Fourfold Array guide.
Ngữ nguyên, chủ ý, văn tự và nhân duyên của bài thuyết giảng; sự kết nối trước sau, đây là Catubyūhahāra (phương pháp bốn phương diện).
7.
7.
7.
Ekamhi padaṭṭhāne, pariyesati sesakaṃ padaṭṭhānaṃ;
Āvaṭṭati paṭipakkhe, āvaṭṭo nāma so hāro.
Regarding one proximate cause, one seeks the remaining proximate cause; it revolves to the opposite side. That guide is named Turning.
(Khi có) một nền tảng trực tiếp, (phương pháp này) tìm kiếm nền tảng trực tiếp còn lại; và quay về phía đối nghịch, phương pháp đó tên là Āvaṭṭa (phương pháp quay vòng).
8.
8.
8.
Dhammañca padaṭṭhānaṃ, bhūmiñca vibhajjate ayaṃ hāro;
Sādhāraṇe asādhāraṇe ca neyyo vibhattīti.
This guide distinguishes the teaching, the proximate cause, and the ground; it is to be known as ‘Distinction’ regarding the common and the uncommon.
Phương pháp này phân chia Pháp, nền tảng trực tiếp, và cõi; (cả) pháp chung và pháp riêng, nên được biết là Vibhatti (phương pháp phân loại).
9.
9.
9.
Kusalākusale dhamme, niddiṭṭhe bhāvite pahīne ca;
Parivattati paṭipakkhe, hāro parivattano nāma.
When wholesome and unwholesome states are specified, cultivated, or abandoned, it converts to the opposite side; this guide is named Conversion.
Khi các pháp thiện và bất thiện được chỉ rõ, đã được tu tập và đã được đoạn trừ; (phương pháp) chuyển sang phía đối nghịch, tên là Parivattana (phương pháp chuyển đổi).
10.
10.
10.
Vevacanāni bahūni tu, sutte vuttāni ekadhammassa;
Yo jānāti suttavidū, vevacano nāma so hāro.
Many synonyms for a single phenomenon are stated in the sutta; one who is skilled in the suttas knows them. That guide is named Synonym.
Nhiều từ đồng nghĩa của một pháp được nói trong kinh; người thông thạo kinh biết (điều này), phương pháp đó tên là Vevacana (phương pháp từ đồng nghĩa).
11.
11.
11.
Ekaṃ bhagavā dhammaṃ, paññattīhi vividhāhi deseti;
So ākāro ñeyyo, paññattī nāma hāroti.
The Blessed One teaches one phenomenon with various designations; that manner should beknown as the mode named Designation.
Đức Thế Tôn thuyết giảng một pháp bằng nhiều chế định khác nhau; cách thức đó nên được biết là phương pháp tên là Paññatti (phương pháp chế định).
12.
12.
12.
Yo ca paṭiccuppādo, indriyakhandhā ca dhātu āyatanā;
Etehi otarati yo, otaraṇo nāma so hāro.
Dependent origination, faculties, aggregates, elements, and sense bases—that which descends by means of these, that mode is named Descent.
Pháp Duyên khởi, các quyền và uẩn, các giới và xứ; phương pháp nào đi vào bằng những pháp này, phương pháp đó tên là Otaraṇa (phương pháp đi vào).
13.
13.
13.
Vissajjitamhi pañhe, gāthāyaṃ pucchitāyamārabbha;
Suddhāsuddhaparikkhā, hāro so sodhano nāma.
When a question has been answered, beginning with what was asked in a verse, the examination of the pure and impure—that mode is named Purification.
Khi câu hỏi được trả lời, liên quan đến câu kệ đã được hỏi; sự khảo sát về sự thanh tịnh và không thanh tịnh, phương pháp đó tên là Sodhana (phương pháp thanh lọc).
14.
14.
14.
Ekattatāya dhammā, yepi ca vemattatāya niddiṭṭhā;
Tena vikappayitabbā, eso hāro adhiṭṭhāno.
Phenomena that are pointed out by way of sameness and also by way of difference should be determined accordingly. This is the Determination Mode.
Những pháp được chỉ rõ do tính đồng nhất và cũng do tính dị biệt; chúng nên được phân biệt bởi phương pháp ấy, đây là Adhiṭṭhānahāra (phương pháp quyết định).
15.
15.
15.
Ye dhammā yaṃ dhammaṃ, janayantippaccayā paramparato;
Hetumavakaḍḍhayitvā, eso hāro parikkhāro.
Whatever phenomena generate a certain phenomenon from a condition, in succession, having drawn out the cause—this is the Requisite Mode.
Những pháp nào làm phát sinh pháp nào do duyên một cách tuần tự; sau khi rút ra nhân (của chúng), đây là Parikkhārahāra (phương pháp trợ duyên).
16.
16.
16.
Ye dhammā yaṃ mūlā, ye cekatthā pakāsitā muninā;
Te samaropayitabbā, esa samāropano hāro.
Whatever phenomena have a certain root, and those declared by the Sage to have a single meaning—they should be superimposed. This is the Superimposition Mode.
Những pháp nào là gốc rễ của pháp nào, và những (từ) nào có cùng một nghĩa được bậc Mâu-ni tuyên thuyết; chúng nên được thiết lập, đây là Samāropanahāra (phương pháp thiết lập).
Nayasaṅkhepo
Synopsis of the Methods
Tóm tắt các phương pháp (Naya).
17.
17.
17.
Taṇhañca avijjampi ca, samathena vipassanā yo neti;
Saccehi yojayitvā, ayaṃ nayo nandiyāvaṭṭo.
That which leads craving and ignorance, as well as tranquility and insight, having connected them with the truths—this is the Rightward Spiral method.
(Phương pháp) nào dẫn dắt tham ái và vô minh, (cũng như) chỉ và quán, sau khi kết hợp với các sự thật; đây là phương pháp Nandiyāvaṭṭa (Xoáy ốc hỷ lạc).
18.
18.
18.
Yo akusale samūlehi, neti kusale ca kusalamūlehi;
Bhūtaṃ tathaṃ avitathaṃ, tipukkhalaṃ taṃ nayaṃ āhu.
That which leads the unwholesome with its roots, and the wholesome with the wholesome roots, making it actual, true, and not otherwise—they call that the Trefoil method.
(Phương pháp) nào dẫn dắt các pháp bất thiện cùng với gốc rễ của chúng, và các pháp thiện cùng với gốc rễ thiện, (làm cho nó) chân thật, đúng đắn, không sai lệch; họ gọi đó là phương pháp Tipukkhala (Ba đóa sen).
19.
19.
19.
Yo neti vipallāsehi, kilese indriyehi saddhamme;
Etaṃ nayaṃ nayavidū, sīhavikkīḷitaṃ āhu.
That which leads by means of perversions in the case of defilements, and by means of the faculties in the case of the good Dhamma—this method those skilled in methods call the Lion's Sport.
Phương pháp nào dẫn dắt (đoạn trừ) phiền não bằng (cách phân tích) các điên đảo, (và dẫn đến) Diệu pháp bằng (cách phân tích) các quyền; những người thông thạo phương pháp gọi đây là phương pháp Sīhavikkīḷita (Sư tử hí lộng).
20.
20.
20.
Veyyākaraṇesu hi ye, kusalākusalā tahiṃ tahiṃ vuttā;
Manasā volokayate, taṃ khu disālocanaṃ āhu.
Indeed, in the expositions, whatever wholesome and unwholesome states are stated here and there, one surveys them with the mind. That, indeed, they call the Survey of Directions.
Các pháp thiện và bất thiện nào được nói đến trong các bài giảng ở chỗ này chỗ kia; (phương pháp) quan sát (chúng) bằng tâm ý, họ gọi đó là Disālocana (Quan sát các phương).
21.
21.
21.
Oloketvā disalocanena, ukkhipiya yaṃ samāneti;
Sabbe kusalākusale, ayaṃ nayo aṅkuso nāma.
Having surveyed with the Survey of Directions and having extracted them, that which brings together all wholesome and unwholesome states—this method is named the Goad.
Sau khi quan sát bằng (phương pháp) Disālocana, (phương pháp) nào rút ra và tập hợp tất cả các pháp thiện và bất thiện; đây là phương pháp tên là Aṅkusa (Cái móc câu).
22.
22.
22.
Soḷasa hārā paṭhamaṃ, disalocanato † disā viloketvā;
Saṅkhipiya aṅkusena hi, nayehi tīhi niddise suttaṃ.
Firstly, the sixteen modes are to be applied. Having surveyed the directions by means of the Survey of Directions, and having condensed with the Goad, one should expound the discourse by the three methods.
Trước tiên là mười sáu phương pháp; sau khi xem xét các phương từ Disālocana, và tóm tắt bằng Aṅkusa, nên chỉ rõ kinh bằng ba phương pháp (Naya).
Dvādasapada
The Twelve Terms
Mười hai từ.
23.
23.
23.
Akkharaṃ padaṃ byañjanaṃ, nirutti tatheva niddeso;
Ākārachaṭṭhavacanaṃ, ettāva byañjanaṃ sabbaṃ.
Letter, word, phrase, linguistic analysis, and likewise exposition; with 'mode' as the sixth term—all this is the extent of 'expression'.
Âm tiết, từ, câu, ngữ nguyên, cũng như sự giải thích; lời nói có phân đoạn là thứ sáu, tất cả văn tự chỉ có chừng ấy.
24.
24.
24.
Saṅkāsanā pakāsanā, vivaraṇā vibhajanuttānīkammapaññatti;
Etehi chahi padehi, attho kammañca niddiṭṭhaṃ.
Indication, exposition, elucidation, analysis, disclosure, and designation; by these six terms, both the meaning and the action are indicated.
Sự trình bày tóm tắt, sự trình bày ban đầu, sự giải thích chi tiết, sự phân tích, sự làm cho rõ ràng, sự chế định; bằng sáu từ này, ý nghĩa và hành động được chỉ rõ.
25.
25.
25.
Tīṇi ca nayā anūnā, atthassa ca chappadāni gaṇitāni;
Navahi padehi bhagavato, vacanassattho samāyutto.
The three methods, being complete, and the six terms of the meaning have been enumerated; by these nine terms, the meaning of the Blessed One's speech is constituted.
Ba phương pháp không thiếu sót và sáu từ của ý nghĩa đã được kể ra; ý nghĩa lời dạy của Đức Thế Tôn tương ứng với chín từ (này).
26.
26.
26.
Atthassa navappadāni, byañjanapariyeṭṭhiyā catubbīsa;
Ubhayaṃ saṅkalayitvā †, tettiṃsā ettikā nettīti.
Nine terms for the meaning, twenty-four for the investigation of phrasing; having combined both, thirty-three—this is the extent of the guide.
Chín từ của ý nghĩa, hai mươi bốn (từ) để tìm kiếm văn tự; sau khi gộp cả hai lại, có ba mươi ba, chừng ấy là Nettī (Ngữ pháp chỉ đạo).