Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 36

Bản dịch

NE 36Nguồn Phát Khởi Phương Pháp

5. Nayasamuṭṭhāna

Ở đấy, nguồn phát khởi phương pháp là cái nào? Điểm khởi đầu ở quá khứ của vô minh và của tham ái về hữu (hữu ái) không được biết đến. Ở đấy, vô minh là sự che lấp, tham ái là sự ràng buộc. Các chúng sanh, có sự che lấp bởi vô minh, được gắn liền với vô minh, thì hành xử theo vô minh; những người ấy được gọi là ‘hạng có tánh tà kiến.’ Các chúng sanh, có sự ràng buộc bởi tham ái, được gắn liền với tham ái, thì hành xử theo tham ái; những người ấy được gọi là ‘hạng có tánh tham ái.’ Những người có tánh tà kiến, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân. Những người có tánh tham ái, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc.

Ở đấy, lý do gì mà những người có tánh tà kiến, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, lại sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, và những người có tánh tham ái, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, lại sống dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc? Bên ngoài Giáo Pháp không có sự xác định bốn Chân Lý, từ đâu có sự bày tỏ về bốn Chân Lý, hoặc sự thiện xảo về chỉ tịnh và minh sát, hoặc sự đạt đến lạc của sự an tịnh? Những kẻ ấy, do không biết về lạc của sự an tịnh, có tâm bị sai lệch, đã nói như vầy: “Không có lạc thông qua lạc; lạc nên được đạt đến thông qua cái gọi là khổ. Người nào thân cận các dục, người ấy làm tăng trưởng thế gian; người nào làm tăng trưởng thế gian, người ấy tạo ra nhiều phước báu.” Những kẻ ấy, có tư tưởng như vậy, có quan điểm như vậy, trong khi ước nguyện lạc thông qua khổ, có tư tưởng là có phước báu ở các dục, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, và dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc.

Những kẻ ấy, trong khi có tư tưởng ấy, chỉ làm tăng trưởng cơn bệnh, chỉ làm tăng trưởng mụt ghẻ, chỉ làm tăng trưởng mũi tên. Những kẻ ấy, bị áp đảo bởi cơn bệnh, bị áp bức bởi mụt ghẻ, bị xuyên thấu bởi mũi tên, trong khi đang nổi lên chìm xuống ở địa ngục, ở loài thú, ở ngạ quỷ, và ở A-tu-la, trong khi kinh nghiệm sự thịnh suy, không tìm ra phương thuốc cho cơn bệnh, mụt ghẻ, và mũi tên. Ở đấy, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là phiền não, chỉ tịnh và minh sát là sự thanh lọc, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là cơn bệnh, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc diệt trừ cơn bệnh, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là mụt ghẻ, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc diệt trừ mụt ghẻ, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là mũi tên, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc nhổ lên mũi tên.

Ở đấy, phiền não là Khổ, sự quyến luyến cái ấy tức tham ái là nhân sanh (Tập), sự diệt tận tham ái là sự diệt tận Khổ (Diệt), chỉ tịnh và minh sát là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo). Đây là bốn Chân Lý. Khổ cần được biết toàn diện, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.

Ở đấy, những người có tánh tà kiến cho rằng sắc là tự ngã, cho rằng thọ ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― thức là tự ngã; những người có tánh tham ái cho rằng tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc, cho rằng tự ngã có thọ ―nt― có tưởng ―nt― có hành ―nt― có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Đây gọi là thân kiến với hai mươi luận điểm.

Đối nghịch của điều này là chánh kiến xuất thế gian; kế tiếp là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đây là Thánh Đạo tám chi phần. Chúng là ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn. Giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát. Ở đấy, hiện thân là Khổ, nhân sanh ra hiện thân là Khổ Tập, sự diệt tận của hiện thân là sự diệt tận Khổ, lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là Đạo. Đây là bốn Chân Lý: Khổ cần được biết rõ, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.

Ở đấy, những người nào cho rằng sắc là tự ngã, cho rằng thọ ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― thức là tự ngã, những người này được gọi là ‘theo học thuyết đoạn kiến;’ những người nào cho rằng tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc, những người nào cho rằng tự ngã có thọ ―nt― có tưởng ―nt― có hành ―nt― có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức, những người này được gọi là ‘theo học thuyết thường kiến.’

Ở đấy, cả hai học thuyết về đoạn kiến và thường kiến đều là cực đoan; đây là sự vận hành của luân hồi. Đối nghịch của điều ấy là lối thực hành ở giữa, là Thánh Đạo tám chi phần; đây là sự chận đứng luân hồi. Ở đấy, sự vận hành là Khổ, sự quyến luyến điều ấy tức tham ái là nhân sanh (Tập), sự diệt tận tham ái là sự diệt tận Khổ (Diệt), Thánh Đạo tám chi phần là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo). Đây là bốn Chân Lý. Khổ cần được biết rõ, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.

Ở đấy, đoạn kiến và thường kiến theo cách ngắn gọn là thân kiến với 20 luận điểm, theo nghĩa rộng là 62 tà kiến. Đối nghịch của chúng là 43 pháp góp phần vào giác ngộ, 8 giải thoát, 10 lãnh vực của đề mục. Sáu mươi hai tà kiến là mạng lưới si mê, không có điểm khởi đầu, có sự vận hành không đứt đoạn. Bốn mươi ba pháp góp phần vào giác ngộ là kim cương của trí, là sự phá tung mạng lưới vô minh. Ở đấy, si mê là vô minh, mạng lưới là tham ái về hữu (hữu ái). Vì thế, được nói rằng: “Điểm khởi đầu ở quá khứ của vô minh và của tham ái về hữu không được biết đến.”

Ở đấy, người có tánh tà kiến đã xuất gia ở Giáo Pháp này thì có thói quen thường xuyên khổ hạnh, có sự tôn sùng sâu sắc với khổ hạnh; người có tánh tham ái đã xuất gia ở Giáo Pháp này thì có thói quen thường xuyên học tập, có sự tôn sùng sâu sắc với học tập; người có tánh tà kiến trong khi bước vào sự chắc chắn của trạng thái chân chánh thì có xu hướng về Giáo Pháp; người có tánh tham ái trong khi bước vào sự chắc chắn của trạng thái chân chánh thì có xu hướng về niềm tin; người có tánh tà kiến đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng; người có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng. Ở đấy, điều gì là lý do? Người có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng, bởi vì các dục của vị ấy chưa được buông bỏ trọn vẹn. Trong khi được giải thoát khỏi các dục, vị ấy thoát ra một cách khó khăn và hiểu pháp một cách chậm chạp. Ngược lại, người có tánh tà kiến, ngay từ điểm khởi đầu là người không có sự tầm cầu các dục. Trong khi được giải thoát khỏi điều ấy, vị ấy thoát ra một cách mau chóng và hiểu pháp một cách mau chóng.

Lối thực hành khó khăn cũng có hai loại: loại có sự chứng đắc chậm chạp và loại có sự chứng đắc mau chóng. Lối thực hành thoải mái cũng có hai loại: loại có sự chứng đắc chậm chạp và loại có sự chứng đắc mau chóng. Chúng sanh cũng có hai loại: loại có quyền yếu kém, loại có quyền nhạy bén. Những người có quyền yếu kém thoát ra một cách chậm chạp và hiểu pháp một cách chậm chạp, những người có quyền nhạy bén thoát ra một cách mau chóng và hiểu pháp một cách mau chóng. Đây là bốn lối thực hành. Bất cứ những ai đã đi ra khỏi, hoặc đang đi ra khỏi, hoặc sẽ đi ra khỏi, đều do bốn lối thực hành này. Như vậy, các bậc Thánh tuyên bố đạo lộ nhóm bốn cho người không sáng trí thực hành, cho người ngu ước muốn, cho người bị chế ngự bởi luyến ái với mục đích xoay vần tham ái về hữu với sự hoan hỷ. Việc này được gọi là cơ sở của phương pháp xoay vần với sự hoan hỷ. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “(Phương pháp dẫn dắt) tham ái và vô minh bằng chỉ tịnh ...”

“Bởi vì ở những phần giải thích, các pháp thiện và bất thiện” nên được khảo sát theo hai cách: xu hướng xuôi dòng thế gian và xu hướng ngược dòng thế gian. Xuôi dòng gọi là luân hồi, ngược dòng là Niết Bàn, nghiệp và ô nhiễm là nhân của sự luân hồi. Ở đấy, nghiệp nên được diễn giải theo sở hữu tư. Điều ấy sẽ được nhìn thấy thế nào? Thông qua sự tích lũy. Tất cả các ô nhiễm nên được diễn giải thông qua các điều trái khuấy. Chúng sẽ được nhìn thấy thế nào? Ở sự chất đống ô nhiễm theo mười nguyên nhân.

Mười nguyên nhân nào? Bốn yếu tố nuôi dưỡng, bốn điều trái khuấy, bốn sự chấp thủ, bốn sự gắn bó, bốn sự trói buộc, bốn lậu hoặc, bốn dòng lũ, bốn mũi tên, bốn sự trụ vững của thức, bốn việc đi đến sự sai trái. Ở yếu tố nuôi dưỡng thứ nhất có điều trái khuấy thứ nhất, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ nhì có điều trái khuấy thứ nhì, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ ba có điều trái khuấy thứ ba, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ tư có điều trái khuấy thứ tư. Ở điều trái khuấy thứ nhất có sự chấp thủ thứ nhất, ở điều trái khuấy thứ nhì có sự chấp thủ thứ nhì, ở điều trái khuấy thứ ba có sự chấp thủ thứ ba, ở điều trái khuấy thứ tư có sự chấp thủ thứ tư.― ―Ở sự chấp thủ thứ nhất có sự gắn bó thứ nhất, ở sự chấp thủ thứ nhì có sự gắn bó thứ nhì, ở sự chấp thủ thứ ba có sự gắn bó thứ ba, ở sự chấp thủ thứ tư có sự gắn bó thứ tư. Ở sự gắn bó thứ nhất có sự trói buộc thứ nhất, ở sự gắn bó thứ nhì có sự trói buộc thứ nhì, ở sự gắn bó thứ ba có sự trói buộc thứ ba, ở sự gắn bó thứ tư có sự trói buộc thứ tư. Ở sự trói buộc thứ nhất có lậu hoặc thứ nhất, ở sự trói buộc thứ nhì có lậu hoặc thứ nhì, ở sự trói buộc thứ ba có lậu hoặc thứ ba, ở sự trói buộc thứ tư có lậu hoặc thứ tư. Ở lậu hoặc thứ nhất có dòng lũ thứ nhất, ở lậu hoặc thứ nhì có dòng lũ thứ nhì, ở lậu hoặc thứ ba có dòng lũ thứ ba, ở lậu hoặc thứ tư có dòng lũ thứ tư. Ở dòng lũ thứ nhất có mũi tên thứ nhất, ở dòng lũ thứ nhì có mũi tên thứ nhì, ở dòng lũ thứ ba có mũi tên thứ ba, ở dòng lũ thứ tư có mũi tên thứ tư. Ở mũi tên thứ nhất có sự trụ-vững-của-thức thứ nhất, ở mũi tên thứ nhì có sự trụ-vững-của-thức thứ nhì, ở mũi tên thứ ba có sự trụ-vững-của-thức thứ ba, ở mũi tên thứ tư có sự trụ-vững-của-thức thứ tư. Ở sự trụ-vững-của-thức thứ nhất có việc đi đến sự sai trái thứ nhất, ở sự trụ-vững-của-thức thứ nhì có việc đi đến sự sai trái thứ nhì, ở sự trụ-vững-của-thức thứ ba có việc đi đến sự sai trái thứ ba, ở sự trụ- vững-của-thức thứ tư có việc đi đến sự sai trái thứ tư.

Ở đấy, đoàn thực và xúc thực là cận phiền não của người có tánh tham ái; tư niệm thực và thức thực là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ là cận phiền não của người có tánh tham ái; điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự chấp thủ về dục và sự chấp thủ về hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự chấp thủ về tà kiến và sự chấp thủ về ngã luận thuyết là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự gắn bó với dục và sự gắn bó với hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự gắn bó với tà kiến và sự gắn bó với vô minh là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự trói buộc thân bởi tham đắm và sự trói buộc thân bởi sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự trói buộc thân bởi bám víu và sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’ là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, dục lậu và hữu lậu là cận phiền não của người có tánh tham ái; tà kiến lậu và vô minh lậu là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, dòng lũ của dục và dòng lũ của hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; dòng lũ tà kiến và dòng lũ vô minh là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, mũi tên luyến ái và mũi tên sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; mũi tên ngã mạn và mũi tên si mê là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, việc đến gần và trụ vững của thức ở sắc và việc đến gần và trụ vững của thức ở thọ là cận phiền não của người có tánh tham ái; việc đến gần và trụ vững của thức ở tưởng và việc đến gần và trụ vững của thức ở các hành là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn và việc đi đến sự sai trái vì sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi và việc đi đến sự sai trái vì si mê là cận phiền não của người có tánh tà kiến.

Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh về đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ về xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường về thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã về tư niệm thực.

Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ nhất thì chấp thủ các dục, đây gọi là sự chấp thủ về dục. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ nhì thì chấp thủ sự hiện hữu ở vị lai, đây gọi là sự chấp thủ về hữu. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ ba thì chấp thủ quan điểm có sự thích thú ở luân hồi, đây gọi là sự chấp thủ về tà kiến. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ tư thì chấp thủ cái ngã này thuộc về ai, đây gọi là sự chấp thủ về ngã luận thuyết.

(Chúng sanh,) do chấp thủ về dục, bị ràng buộc với các dục, đây gọi là sự gắn bó với dục; do chấp thủ về hữu, bị ràng buộc với các hữu, đây gọi là sự gắn bó với hữu; do chấp thủ về tà kiến, bị ràng buộc với tà kiến, đây gọi là sự gắn bó với tà kiến; do chấp thủ về ngã luận thuyết, bị ràng buộc với vô minh, đây gọi là sự gắn bó với vô minh.

Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ nhất thì trói buộc thân bởi tham đắm, đây gọi là sự trói buộc thân bởi tham đắm. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ nhì thì trói buộc thân bởi sân hận, đây gọi là sự trói buộc thân bởi sân hận. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ ba thì trói buộc thân bởi bám víu, đây gọi là sự trói buộc thân bởi bám víu. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ tư thì trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ đây gọi là sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’

Đối với người ấy, các ô nhiễm bị trói buộc như vậy thì trào ra. Và từ đâu mà gọi là ‘chúng trào ra’? Từ sự tiềm ẩn hay từ sự xâm nhập? Ở đấy, dục lậu do sự trói buộc thân bởi tham đắm, hữu lậu do sự trói buộc thân bởi sân hận, tà kiến lậu do sự trói buộc thân bởi bám víu, vô minh lậu do sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’

Đối với người ấy, các lậu hoặc này khi đã đi đến sự lớn mạnh thì trở thành dòng lũ; như thế do sự lớn mạnh của lậu hoặc mà có sự lớn mạnh của dòng lũ. Ở đấy, do dục lậu có dòng lũ của dục, do hữu lậu có dòng lũ của hữu, do tà kiến lậu có dòng lũ tà kiến, do vô minh lậu có dòng lũ vô minh.

Đối với người ấy, bốn dòng lũ này, ―đã đi cùng với sự tiềm ẩn, đã đi sâu vào tập tính,― sau khi chạm vào trái tim rồi trụ vững; vì thế chúng được gọi là ‘các mũi tên.’ Ở đấy, do dòng lũ của dục có mũi tên luyến ái, do dòng lũ của hữu có mũi tên sân hận, do dòng lũ tà kiến có mũi tên ngã mạn, do dòng lũ vô minh có mũi tên si mê.

Đối với người ấy, thức, khi đã bị khống chế bởi bốn mũi tên này, thì trụ vững ở bốn pháp: ở sắc, ở thọ, ở tưởng, ở các hành. Ở đấy, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên luyến ái mà có sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên sân hận mà có sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên ngã mạn mà có sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên si mê mà có sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức.

Đối với người ấy, thức bị kềm cứng bởi bốn sự trụ vững này của thức nên đi đến sự sai trái vì bốn pháp: vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê. Ở đấy, người ấy đi đến sự sai trái vì mong muốn do luyến ái, đi đến sự sai trái vì sân hận do sân hận, đi đến sự sai trái vì sợ hãi do sợ hãi, đi đến sự sai trái vì si mê do si mê. Nghiệp ấy và các ô nhiễm này là như thế. Điều ấy là nhân của sự luân hồi. Tất cả các ô nhiễm nên được diễn giải theo các điều trái khuấy như vậy.

Ở đấy, đây là bốn hướng: “Đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, sự chấp thủ về dục, sự gắn bó với dục, sự trói buộc thân bởi tham đắm, dục lậu, dòng lũ của dục, mũi tên luyến ái, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn,” như thế là hướng thứ nhất.

“Xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, sự chấp thủ về hữu, sự gắn bó với hữu, sự trói buộc thân bởi sân hận, hữu lậu, dòng lũ của hữu, mũi tên sân hận, sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, việc đi đến sự sai trái vì sân hận,” như thế là hướng thứ nhì.

“Thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, sự chấp thủ về tà kiến, sự gắn bó với tà kiến, sự trói buộc thân bởi bám víu, tà kiến lậu, dòng lũ tà kiến, mũi tên ngã mạn, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi,” như thế là hướng thứ ba.

“Tư niệm thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, sự chấp thủ về ngã luận thuyết, sự gắn bó với vô minh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ vô minh lậu, dòng lũ vô minh, mũi tên si mê, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức, việc đi đến sự sai trái vì si mê,” như thế là hướng thứ tư.

Ở đấy, “đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, sự chấp thủ về dục, sự gắn bó với dục, sự trói buộc thân bởi tham đắm, dục lậu, dòng lũ của dục, mũi tên luyến ái, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh luyến ái.

Ở đấy, “xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, sự chấp thủ về hữu, sự gắn bó với hữu, sự trói buộc thân bởi sân hận, hữu lậu, dòng lũ của hữu, mũi tên sân hận, sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, việc đi đến sự sai trái vì sân hận,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh sân hận.

Ở đấy, “thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, sự chấp thủ về tà kiến, sự gắn bó với tà kiến, sự trói buộc thân bởi bám víu, tà kiến lậu, dòng lũ tà kiến, mũi tên ngã mạn, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh tà kiến, chậm lụt. Ở đấy, “tư niệm thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, sự chấp thủ về ngã luận thuyết, sự gắn bó với vô minh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ vô minh lậu, dòng lũ vô minh, mũi tên si mê, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức, việc đi đến sự sai trái vì si mê,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh tà kiến, khôn khéo. Ở đấy, đoàn thực và xúc thực đi đến sự biết toàn diện bằng lối vào giải thoát vô nguyện, thức thực bằng không tánh, tư niệm thực bằng vô tướng. Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ đi đến sự dứt bỏ, sự biến mất bằng lối vào giải thoát vô nguyện, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường bằng không tánh, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã bằng vô tướng. Ở đấy, sự chấp thủ về dục và sự chấp thủ về hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự chấp thủ về tà kiến bằng không tánh, sự chấp thủ về ngã luận thuyết bằng vô tướng. Ở đấy, sự gắn bó với dục và sự gắn bó với hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự gắn bó với tà kiến bằng không tánh, sự gắn bó với vô minh bằng vô tướng. Ở đấy, sự trói buộc thân bởi tham đắm và sự trói buộc thân bởi sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự trói buộc thân bởi bám víu bằng không tánh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’ bằng vô tướng. Ở đấy, dục lậu và hữu lậu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, tà kiến lậu bằng không tánh, vô minh lậu bằng vô tướng. Ở đấy, dòng lũ của dục và dòng lũ của hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, dòng lũ tà kiến bằng không tánh, dòng lũ vô minh bằng vô tướng. Ở đấy, mũi tên luyến ái và mũi tên sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, mũi tên ngã mạn bằng không tánh, mũi tên si mê bằng vô tướng. Ở đấy, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức và sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức bằng không tánh, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức bằng vô tướng. Ở đấy, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn và việc đi đến sự sai trái vì sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi bằng không tánh, việc đi đến sự sai trái vì si mê bằng vô tướng.

Như thế, “tất cả các pháp có xu hướng xuôi dòng thế gian dẫn dắt ra khỏi tam giới bằng ba lối vào giải thoát.” Ở đó, lối dẫn dắt ra là bốn lối thực hành, bốn sự thiết lập niệm, bốn thiền, bốn sự an trú, bốn chánh cần, bốn pháp kỳ diệu phi thường, bốn phát nguyện, bốn sự tu tập định, bốn pháp dự phần vào an lạc, bốn vô lượng.

Lối thực hành thứ nhất (và) sự thiết lập niệm thứ nhất, lối thực hành thứ nhì (và) sự thiết lập niệm thứ nhì, lối thực hành thứ ba (và) sự thiết lập niệm thứ ba, lối thực hành thứ tư (và) sự thiết lập niệm thứ tư. Sự thiết lập niệm thứ nhất (và) sơ thiền, sự thiết lập niệm thứ nhì (và) nhị thiền, sự thiết lập niệm thứ ba (và) tam thiền, sự thiết lập niệm thứ tư (và) tứ thiền. Sơ thiền (và) sự an trú thứ nhất, nhị thiền (và) sự an trú thứ nhì, tam thiền (và) sự an trú thứ ba, tứ thiền (và) sự an trú thứ tư. Sự an trú thứ nhất (và) chánh cần thứ nhất, (sự an trú) thứ nhì (và) (chánh cần) thứ nhì, (sự an trú) thứ ba (và) (chánh cần) thứ ba, sự an trú thứ tư (và) chánh cần thứ tư. Chánh cần thứ nhất (và) pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, (chánh cần) thứ nhì (và) (pháp kỳ diệu phi thường) thứ nhì, (chánh cần) thứ ba (và) (pháp kỳ diệu phi thường) thứ ba, chánh cần thứ tư (và) pháp kỳ diệu phi thường thứ tư. Pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất (và) phát nguyện thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì (và) phát nguyện thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba (và) phát nguyện thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư (và) phát nguyện thứ tư. Phát nguyện thứ nhất (và) sự tu tập định thứ nhất, phát nguyện thứ nhì (và) sự tu tập định thứ nhì, phát nguyện thứ ba (và) sự tu tập định thứ ba, phát nguyện thứ tư (và) sự tu tập định thứ tư. Sự tu tập định thứ nhất (và) pháp dự phần vào an lạc thứ nhất, sự tu tập định thứ nhì (và) pháp dự phần vào an lạc thứ nhì, sự tu tập định thứ ba (và) pháp dự phần vào an lạc thứ ba, sự tu tập định thứ tư (và) pháp dự phần vào an lạc thứ tư. Pháp dự phần vào an lạc thứ nhất (và) vô lượng thứ nhất, pháp dự phần vào an lạc thứ nhì (và) vô lượng thứ nhì, pháp dự phần vào an lạc thứ ba (và) vô lượng thứ ba, pháp dự phần vào an lạc thứ tư (và) vô lượng thứ tư.

Lối thực hành thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ nhất; lối thực hành thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ nhì; lối thực hành thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ ba; lối thực hành thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ tư. Sự thiết lập niệm thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sơ thiền; sự thiết lập niệm thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn nhị thiền; sự thiết lập niệm thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn tam thiền; sự thiết lập niệm thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn tứ thiền. Sơ thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ nhất; nhị thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ nhì; tam thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ ba; tứ thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ tư.― ―Sự an trú thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự không sanh khởi các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi; sự an trú thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi; sự an trú thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự sanh khởi các thiện pháp chưa được sanh khởi; sự an trú thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự duy trì, sự không lẫn lộn, sự gia tăng các thiện pháp đã được sanh khởi. Chánh cần thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc dứt bỏ ngã mạn; chánh cần thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc thủ tiêu chỗ tàng trữ; chánh cần thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc dứt bỏ vô minh; chánh cần thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự vắng lặng của hữu. Việc dứt bỏ ngã mạn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về chân thật; việc thủ tiêu chỗ tàng trữ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về xả thí; việc dứt bỏ vô minh được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về tuệ; sự vắng lặng của hữu được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn). Phát nguyện về chân thật được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do mong muốn; phát nguyện về xả thí được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do tinh tấn; phát nguyện về tuệ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do tâm; phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn) được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do thẩm xét. Định do mong muốn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thu thúc các quyền; định do tinh tấn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự khắc khổ; định do tâm được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự giác ngộ; định do thẩm xét được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh. Sự thu thúc các quyền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn từ (tâm); sự khắc khổ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn bi (tâm); sự giác ngộ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn hỷ (tâm); sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn xả (tâm).

Ở đấy, đây là bốn hướng: “Lối thực hành thứ nhất, sự thiết lập niệm thứ nhất, sơ thiền, sự an trú thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, phát nguyện về chân thật, định do mong muốn, sự thu thúc các quyền, từ (tâm),” như thế là hướng thứ nhất. “Lối thực hành thứ nhì, sự thiết lập niệm thứ nhì, nhị thiền, sự an trú thứ nhì, chánh cần thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì, phát nguyện về xả thí, định do tinh tấn, sự khắc khổ, bi (tâm),” như thế là hướng thứ nhì. “Lối thực hành thứ ba, sự thiết lập niệm thứ ba, tam thiền, sự an trú thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba, phát nguyện về tuệ, định do tâm, sự giác ngộ, hỷ (tâm),” như thế là hướng thứ ba. “Lối thực hành thứ tư, sự thiết lập niệm thứ tư, tứ thiền, sự an trú thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn), định do thẩm xét, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh, xả (tâm),” như thế là hướng thứ tư.

Ở đấy, “lối thực hành thứ nhất, sự thiết lập niệm thứ nhất, sơ thiền, sự an trú thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, phát nguyện về chân thật, định do mong muốn, sự thu thúc các quyền, từ (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tham ái.

“Lối thực hành thứ nhì, sự thiết lập niệm thứ nhì, nhị thiền, sự an trú thứ nhì, chánh cần thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì, phát nguyện về xả thí, định do tinh tấn, sự khắc khổ, bi (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh sân hận.

“Lối thực hành thứ ba, sự thiết lập niệm thứ ba, tam thiền, sự an trú thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba, phát nguyện về tuệ, định do tâm, sự giác ngộ, hỷ (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tà kiến, chậm lụt.

“Lối thực hành thứ tư, sự thiết lập niệm thứ tư, tứ thiền, sự an trú thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn), định do thẩm xét, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh, xả (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tà kiến, khôn khéo.

Ở đấy, lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng là lối vào giải thoát vô nguyện, lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp là lối vào giải thoát không tánh, lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, sự thiết lập niệm với trạng thái quan sát thân trên thân và sự thiết lập niệm với trạng thái quan sát thọ trên các thọ là lối vào giải thoát vô nguyện, với trạng thái quan sát tâm trên tâm là lối vào giải thoát không tánh, với trạng thái quan sát pháp trên các pháp là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, sơ thiền và nhị thiền là lối vào giải thoát vô nguyện, tam thiền là (lối vào giải thoát) không tánh, tứ thiền là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, sự an trú thứ nhất và sự an trú thứ nhì là lối vào giải thoát vô nguyện, sự an trú thứ ba là (lối vào giải thoát) không tánh, sự an trú thứ tư là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, chánh cần thứ nhất và chánh cần thứ nhì là lối vào giải thoát vô nguyện, chánh cần thứ ba là (lối vào giải thoát) không tánh, chánh cần thứ tư là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, sự dứt bỏ ngã mạn và sự thủ tiêu chỗ tàng trữ là lối vào giải thoát vô nguyện, sự dứt bỏ vô minh là (lối vào giải thoát) không tánh, sự vắng lặng của hữu là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, phát nguyện về chân thật và phát nguyện về xả thí là lối vào giải thoát vô nguyện, phát nguyện về tuệ là (lối vào giải thoát) không tánh, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn) là lối vào giải thoát vô tướng.

Ở đấy, định do mong muốn và định do tinh tấn là lối vào giải thoát vô nguyện, định do tâm là (lối vào giải thoát) không tánh, định do thẩm xét là lối vào giải thoát vô tướng. Ở đấy, sự thu thúc các quyền và sự khắc khổ là lối vào giải thoát vô nguyện, sự giác ngộ là (lối vào giải thoát) không tánh, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh là lối vào giải thoát vô tướng. Ở đấy, từ (tâm) và bi (tâm) là lối vào giải thoát vô nguyện, hỷ (tâm) là (lối vào giải thoát) không tánh, xả (tâm) là lối vào giải thoát vô tướng. Sự tiêu khiển của các vị ấy: Bốn yếu tố nuôi dưỡng, đối nghịch của chúng là bốn lối thực hành. Bốn điều trái khuấy, đối nghịch của chúng là bốn sự thiết lập niệm. Bốn sự chấp thủ, đối nghịch của chúng là bốn thiền. Bốn sự gắn bó, đối nghịch của chúng là bốn sự an trú. Bốn sự trói buộc, đối nghịch của chúng là bốn chánh cần. Bốn lậu hoặc, đối nghịch của chúng là bốn pháp kỳ diệu phi thường. Bốn dòng lũ, đối nghịch của chúng là bốn phát nguyện. Bốn mũi tên, đối nghịch của chúng là bốn sự tu tập định. Bốn sự trụ vững của thức, đối nghịch của chúng là bốn pháp dự phần vào an lạc. Bốn việc đi đến sự sai trái, đối nghịch của chúng là bốn vô lượng. Các sư tử: là chư Phật, chư Phật Độc Giác, và chư Thinh Văn có tham sân si đã được diệt trừ. Sự tiêu khiển của các vị ấy là sự tu tập, sự chứng ngộ, và sự làm chấm dứt. Sự tiêu khiển là sự phát nguyện các quyền, sự tiêu khiển là sự không phát nguyện những điều trái nghịch. Các quyền là hành xứ của chánh pháp, những điều trái nghịch là hành xứ của các ô nhiễm. Điều này được gọi là phạm vi của phương pháp tiêu khiển của các sư tử và của phương pháp định hướng. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Người nào dẫn dắt các ô nhiễm do những điều trái khuấy ...” và “Bởi vì ở những phần giải thích, các pháp thiện và bất thiện ...” Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Đối với bốn hạng người ấy, đây là phiền não: “Bốn yếu tố nuôi dưỡng, bốn điều trái khuấy, bốn sự chấp thủ, bốn sự gắn bó, bốn sự trói buộc, bốn lậu hoặc, bốn dòng lũ, bốn mũi tên, bốn sự trụ vững của thức, bốn việc đi đến sự sai trái.” Đối với bốn hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Bốn lối thực hành, bốn sự thiết lập niệm, bốn thiền, bốn sự an trú, bốn chánh cần, bốn pháp kỳ diệu phi thường, bốn phát nguyện, bốn sự tu tập định, bốn pháp dự phần vào an lạc, bốn vô lượng.” Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Ở đấy, người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng, đây là người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn; người nào ở vào trường hợp phổ biến (đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng và lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp), đây là người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ; người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp, đây là người cần-được-dẫn-dắt.

Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh cho người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, về minh sát cho người cần-được-dẫn-dắt, về chỉ tịnh và minh sát cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ. Ở đấy, đức thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, sắc bén cho người cần-được-dẫn-dắt, mềm mỏng và sắc bén cho người hiểu-khi-được- nói-đầy-đủ. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo pháp một cách tóm tắt cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, một cách tóm tắt và chi tiết cho người hiểu- khi-được-nói-đầy-đủ, một cách chi tiết cho người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, trình bày về sự bất lợi và sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, trình bày về sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra cho người cần-được-dẫn- dắt. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tuệ cho người hiểu- khi-được-nói-ngắn-gọn, về thắng tâm cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, về thắng giới cho người cần-được-dẫn-dắt.

Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Như thế, quả thật đã là bốn rồi trở thành ba (hạng người): “Người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, người cần-được-dẫn-dắt.”

Đối với ba hạng người ấy, đây là phiền não: “Ba gốc rễ của bất thiện: tham là gốc rễ của bất thiện, sân là gốc rễ của bất thiện, si là gốc rễ của bất thiện; ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý; ba suy tư bất thiện: suy tư về dục, suy tư về sân hận, suy tư về hãm hại; ba tưởng bất thiện: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; ba tưởng bị sai lệch: thường tưởng, lạc tưởng, ngã tưởng; ba thọ: thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc; ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do pháp tạo tác, trạng thái khổ do sự biến đổi; ba ngọn lửa: lửa luyến ái, lửa sân hận, lửa si mê; ba mũi tên: mũi tên luyến ái, mũi tên sân hận, mũi tên si mê; ba cục rối: cục rối luyến ái, cục rối sân hận, cục rối si mê; ba sự khảo sát về bất thiện: thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, ý nghiệp bất thiện; ba sự hư hỏng: hư hỏng về giới, hư hỏng về quan điểm, hư hỏng về hạnh kiểm.”

Đối với ba hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Ba gốc rễ của thiện: vô tham là gốc rễ của thiện, vô sân là gốc rễ của thiện, vô si là gốc rễ của thiện; ba thiện hạnh: thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý; ba suy tư thiện: suy tư về xuất ly, suy tư về vô sân, suy tư về vô hại; ba định: định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ; ba tưởng thiện: tưởng về xuất ly, tưởng về vô sân, tưởng về vô hại; ba tưởng không bị sai lệch: tưởng về vô thường, tưởng về khổ não, tưởng về vô ngã; ba sự khảo sát thiện: thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, ý nghiệp thiện; ba sự trong sạch: trong sạch về thân, trong sạch về khẩu, trong sạch về ý; ba sự thành tựu: thành tựu về giới, thành tựu về định, thành tựu về tuệ; ba sự học tập: học tập về thắng giới, học tập về thắng tâm, học tập về thắng tuệ; ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn; ba lối vào giải thoát: không tánh, vô tướng, vô nguyện.” Như thế, quả thật đã là bốn rồi trở thành ba; đã là ba rồi trở thành hai (hạng người): người có tánh tham ái và người có tánh tà kiến.

Đối với hai hạng người ấy, đây là phiền não: “Tham ái và vô minh, không hổ thẹn (tội lỗi) và không ghê sợ (tội lỗi), thất niệm và không nhận biết rõ, không tác ý đúng đường lối, biếng nhác và khó dạy, việc tạo thành ‘tôi’ và việc tạo thành ‘của tôi,’ không có đức tin và xao lãng, không lắng nghe chánh pháp và không thu thúc, tham đắm và sân hận, pháp che lấp và sự ràng buộc, giận dữ và thù hằn, gièm pha và ác ý, ganh tỵ và bỏn xẻn, xảo trá và lừa gạt, thường kiến và đoạn kiến.”

Đối với hai hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Chỉ tịnh và minh sát, hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi), niệm và nhận biết rõ, tác ý đúng đường lối, sự ra sức tinh tấn và dễ dạy, trí về pháp và trí về lỗi lầm, trí về sự diệt trừ và trí về sự không còn tái sanh, có đức tin và không xao lãng, lắng nghe chánh pháp và thu thúc, không tham đắm và không sân hận, sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh, sự chứng ngộ, trạng thái không ước muốn và sự hài lòng (biết đủ), không giận dữ và không thù hằn, không gièm pha và không ác ý, sự dứt bỏ ganh tỵ và sự dứt bỏ bỏn xẻn, minh và giải thoát, giải thoát với đối tượng hữu vi và giải thoát với đối tượng vô vi (Niết Bàn), Niết Bàn giới còn dư sót và Niết Bàn giới không còn dư sót.” Điều này được gọi là phạm vi của phương pháp chĩa ba và của phương pháp móc câu. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Người nào dẫn dắt các bất thiện với các gốc rễ của chúng ...” và “Sau khi nhìn thấy bằng việc xem hướng ...”

Nguồn Phát Khởi Phương Pháp được kết thúc.