Bản dịch
NE 36 — Nguồn Phát Khởi Phương Pháp
5. Nayasamuṭṭhāna
Ở đấy, nguồn phát khởi phương pháp là cái nào? Điểm khởi đầu ở quá khứ của vô minh và của tham ái về hữu (hữu ái) không được biết đến. Ở đấy, vô minh là sự che lấp, tham ái là sự ràng buộc. Các chúng sanh, có sự che lấp bởi vô minh, được gắn liền với vô minh, thì hành xử theo vô minh; những người ấy được gọi là ‘hạng có tánh tà kiến.’ Các chúng sanh, có sự ràng buộc bởi tham ái, được gắn liền với tham ái, thì hành xử theo tham ái; những người ấy được gọi là ‘hạng có tánh tham ái.’ Những người có tánh tà kiến, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân. Những người có tánh tham ái, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc.
Ở đấy, lý do gì mà những người có tánh tà kiến, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, lại sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, và những người có tánh tham ái, xuất gia bên ngoài Giáo Pháp, lại sống dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc? Bên ngoài Giáo Pháp không có sự xác định bốn Chân Lý, từ đâu có sự bày tỏ về bốn Chân Lý, hoặc sự thiện xảo về chỉ tịnh và minh sát, hoặc sự đạt đến lạc của sự an tịnh? Những kẻ ấy, do không biết về lạc của sự an tịnh, có tâm bị sai lệch, đã nói như vầy: “Không có lạc thông qua lạc; lạc nên được đạt đến thông qua cái gọi là khổ. Người nào thân cận các dục, người ấy làm tăng trưởng thế gian; người nào làm tăng trưởng thế gian, người ấy tạo ra nhiều phước báu.” Những kẻ ấy, có tư tưởng như vậy, có quan điểm như vậy, trong khi ước nguyện lạc thông qua khổ, có tư tưởng là có phước báu ở các dục, sống dấn thân vào sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, và dấn thân vào sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc.
Những kẻ ấy, trong khi có tư tưởng ấy, chỉ làm tăng trưởng cơn bệnh, chỉ làm tăng trưởng mụt ghẻ, chỉ làm tăng trưởng mũi tên. Những kẻ ấy, bị áp đảo bởi cơn bệnh, bị áp bức bởi mụt ghẻ, bị xuyên thấu bởi mũi tên, trong khi đang nổi lên chìm xuống ở địa ngục, ở loài thú, ở ngạ quỷ, và ở A-tu-la, trong khi kinh nghiệm sự thịnh suy, không tìm ra phương thuốc cho cơn bệnh, mụt ghẻ, và mũi tên. Ở đấy, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là phiền não, chỉ tịnh và minh sát là sự thanh lọc, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là cơn bệnh, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc diệt trừ cơn bệnh, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là mụt ghẻ, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc diệt trừ mụt ghẻ, sự gắn bó với việc hành hạ bản thân và sự gắn bó với việc say đắm về dục lạc là mũi tên, chỉ tịnh và minh sát là phương thuốc nhổ lên mũi tên.
Ở đấy, phiền não là Khổ, sự quyến luyến cái ấy tức tham ái là nhân sanh (Tập), sự diệt tận tham ái là sự diệt tận Khổ (Diệt), chỉ tịnh và minh sát là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo). Đây là bốn Chân Lý. Khổ cần được biết toàn diện, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.
Ở đấy, những người có tánh tà kiến cho rằng sắc là tự ngã, cho rằng thọ ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― thức là tự ngã; những người có tánh tham ái cho rằng tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc, cho rằng tự ngã có thọ ―nt― có tưởng ―nt― có hành ―nt― có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Đây gọi là thân kiến với hai mươi luận điểm.
Đối nghịch của điều này là chánh kiến xuất thế gian; kế tiếp là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đây là Thánh Đạo tám chi phần. Chúng là ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn. Giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát. Ở đấy, hiện thân là Khổ, nhân sanh ra hiện thân là Khổ Tập, sự diệt tận của hiện thân là sự diệt tận Khổ, lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là Đạo. Đây là bốn Chân Lý: Khổ cần được biết rõ, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.
Ở đấy, những người nào cho rằng sắc là tự ngã, cho rằng thọ ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― thức là tự ngã, những người này được gọi là ‘theo học thuyết đoạn kiến;’ những người nào cho rằng tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc, những người nào cho rằng tự ngã có thọ ―nt― có tưởng ―nt― có hành ―nt― có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức, những người này được gọi là ‘theo học thuyết thường kiến.’
Ở đấy, cả hai học thuyết về đoạn kiến và thường kiến đều là cực đoan; đây là sự vận hành của luân hồi. Đối nghịch của điều ấy là lối thực hành ở giữa, là Thánh Đạo tám chi phần; đây là sự chận đứng luân hồi. Ở đấy, sự vận hành là Khổ, sự quyến luyến điều ấy tức tham ái là nhân sanh (Tập), sự diệt tận tham ái là sự diệt tận Khổ (Diệt), Thánh Đạo tám chi phần là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ (Đạo). Đây là bốn Chân Lý. Khổ cần được biết rõ, Tập cần được dứt bỏ, Đạo cần được tu tập, Diệt cần được chứng ngộ.
Ở đấy, đoạn kiến và thường kiến theo cách ngắn gọn là thân kiến với 20 luận điểm, theo nghĩa rộng là 62 tà kiến. Đối nghịch của chúng là 43 pháp góp phần vào giác ngộ, 8 giải thoát, 10 lãnh vực của đề mục. Sáu mươi hai tà kiến là mạng lưới si mê, không có điểm khởi đầu, có sự vận hành không đứt đoạn. Bốn mươi ba pháp góp phần vào giác ngộ là kim cương của trí, là sự phá tung mạng lưới vô minh. Ở đấy, si mê là vô minh, mạng lưới là tham ái về hữu (hữu ái). Vì thế, được nói rằng: “Điểm khởi đầu ở quá khứ của vô minh và của tham ái về hữu không được biết đến.”
Ở đấy, người có tánh tà kiến đã xuất gia ở Giáo Pháp này thì có thói quen thường xuyên khổ hạnh, có sự tôn sùng sâu sắc với khổ hạnh; người có tánh tham ái đã xuất gia ở Giáo Pháp này thì có thói quen thường xuyên học tập, có sự tôn sùng sâu sắc với học tập; người có tánh tà kiến trong khi bước vào sự chắc chắn của trạng thái chân chánh thì có xu hướng về Giáo Pháp; người có tánh tham ái trong khi bước vào sự chắc chắn của trạng thái chân chánh thì có xu hướng về niềm tin; người có tánh tà kiến đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng; người có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng. Ở đấy, điều gì là lý do? Người có tánh tham ái đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn, với sự chứng đắc chậm chạp và với sự chứng đắc mau chóng, bởi vì các dục của vị ấy chưa được buông bỏ trọn vẹn. Trong khi được giải thoát khỏi các dục, vị ấy thoát ra một cách khó khăn và hiểu pháp một cách chậm chạp. Ngược lại, người có tánh tà kiến, ngay từ điểm khởi đầu là người không có sự tầm cầu các dục. Trong khi được giải thoát khỏi điều ấy, vị ấy thoát ra một cách mau chóng và hiểu pháp một cách mau chóng.
Lối thực hành khó khăn cũng có hai loại: loại có sự chứng đắc chậm chạp và loại có sự chứng đắc mau chóng. Lối thực hành thoải mái cũng có hai loại: loại có sự chứng đắc chậm chạp và loại có sự chứng đắc mau chóng. Chúng sanh cũng có hai loại: loại có quyền yếu kém, loại có quyền nhạy bén. Những người có quyền yếu kém thoát ra một cách chậm chạp và hiểu pháp một cách chậm chạp, những người có quyền nhạy bén thoát ra một cách mau chóng và hiểu pháp một cách mau chóng. Đây là bốn lối thực hành. Bất cứ những ai đã đi ra khỏi, hoặc đang đi ra khỏi, hoặc sẽ đi ra khỏi, đều do bốn lối thực hành này. Như vậy, các bậc Thánh tuyên bố đạo lộ nhóm bốn cho người không sáng trí thực hành, cho người ngu ước muốn, cho người bị chế ngự bởi luyến ái với mục đích xoay vần tham ái về hữu với sự hoan hỷ. Việc này được gọi là cơ sở của phương pháp xoay vần với sự hoan hỷ. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “(Phương pháp dẫn dắt) tham ái và vô minh bằng chỉ tịnh ...”
“Bởi vì ở những phần giải thích, các pháp thiện và bất thiện” nên được khảo sát theo hai cách: xu hướng xuôi dòng thế gian và xu hướng ngược dòng thế gian. Xuôi dòng gọi là luân hồi, ngược dòng là Niết Bàn, nghiệp và ô nhiễm là nhân của sự luân hồi. Ở đấy, nghiệp nên được diễn giải theo sở hữu tư. Điều ấy sẽ được nhìn thấy thế nào? Thông qua sự tích lũy. Tất cả các ô nhiễm nên được diễn giải thông qua các điều trái khuấy. Chúng sẽ được nhìn thấy thế nào? Ở sự chất đống ô nhiễm theo mười nguyên nhân.
Mười nguyên nhân nào? Bốn yếu tố nuôi dưỡng, bốn điều trái khuấy, bốn sự chấp thủ, bốn sự gắn bó, bốn sự trói buộc, bốn lậu hoặc, bốn dòng lũ, bốn mũi tên, bốn sự trụ vững của thức, bốn việc đi đến sự sai trái. Ở yếu tố nuôi dưỡng thứ nhất có điều trái khuấy thứ nhất, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ nhì có điều trái khuấy thứ nhì, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ ba có điều trái khuấy thứ ba, ở yếu tố nuôi dưỡng thứ tư có điều trái khuấy thứ tư. Ở điều trái khuấy thứ nhất có sự chấp thủ thứ nhất, ở điều trái khuấy thứ nhì có sự chấp thủ thứ nhì, ở điều trái khuấy thứ ba có sự chấp thủ thứ ba, ở điều trái khuấy thứ tư có sự chấp thủ thứ tư.― ―Ở sự chấp thủ thứ nhất có sự gắn bó thứ nhất, ở sự chấp thủ thứ nhì có sự gắn bó thứ nhì, ở sự chấp thủ thứ ba có sự gắn bó thứ ba, ở sự chấp thủ thứ tư có sự gắn bó thứ tư. Ở sự gắn bó thứ nhất có sự trói buộc thứ nhất, ở sự gắn bó thứ nhì có sự trói buộc thứ nhì, ở sự gắn bó thứ ba có sự trói buộc thứ ba, ở sự gắn bó thứ tư có sự trói buộc thứ tư. Ở sự trói buộc thứ nhất có lậu hoặc thứ nhất, ở sự trói buộc thứ nhì có lậu hoặc thứ nhì, ở sự trói buộc thứ ba có lậu hoặc thứ ba, ở sự trói buộc thứ tư có lậu hoặc thứ tư. Ở lậu hoặc thứ nhất có dòng lũ thứ nhất, ở lậu hoặc thứ nhì có dòng lũ thứ nhì, ở lậu hoặc thứ ba có dòng lũ thứ ba, ở lậu hoặc thứ tư có dòng lũ thứ tư. Ở dòng lũ thứ nhất có mũi tên thứ nhất, ở dòng lũ thứ nhì có mũi tên thứ nhì, ở dòng lũ thứ ba có mũi tên thứ ba, ở dòng lũ thứ tư có mũi tên thứ tư. Ở mũi tên thứ nhất có sự trụ-vững-của-thức thứ nhất, ở mũi tên thứ nhì có sự trụ-vững-của-thức thứ nhì, ở mũi tên thứ ba có sự trụ-vững-của-thức thứ ba, ở mũi tên thứ tư có sự trụ-vững-của-thức thứ tư. Ở sự trụ-vững-của-thức thứ nhất có việc đi đến sự sai trái thứ nhất, ở sự trụ-vững-của-thức thứ nhì có việc đi đến sự sai trái thứ nhì, ở sự trụ-vững-của-thức thứ ba có việc đi đến sự sai trái thứ ba, ở sự trụ- vững-của-thức thứ tư có việc đi đến sự sai trái thứ tư.
Ở đấy, đoàn thực và xúc thực là cận phiền não của người có tánh tham ái; tư niệm thực và thức thực là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ là cận phiền não của người có tánh tham ái; điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự chấp thủ về dục và sự chấp thủ về hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự chấp thủ về tà kiến và sự chấp thủ về ngã luận thuyết là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự gắn bó với dục và sự gắn bó với hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự gắn bó với tà kiến và sự gắn bó với vô minh là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, sự trói buộc thân bởi tham đắm và sự trói buộc thân bởi sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; sự trói buộc thân bởi bám víu và sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’ là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, dục lậu và hữu lậu là cận phiền não của người có tánh tham ái; tà kiến lậu và vô minh lậu là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, dòng lũ của dục và dòng lũ của hữu là cận phiền não của người có tánh tham ái; dòng lũ tà kiến và dòng lũ vô minh là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, mũi tên luyến ái và mũi tên sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; mũi tên ngã mạn và mũi tên si mê là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, việc đến gần và trụ vững của thức ở sắc và việc đến gần và trụ vững của thức ở thọ là cận phiền não của người có tánh tham ái; việc đến gần và trụ vững của thức ở tưởng và việc đến gần và trụ vững của thức ở các hành là cận phiền não của người có tánh tà kiến. Ở đấy, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn và việc đi đến sự sai trái vì sân hận là cận phiền não của người có tánh tham ái; việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi và việc đi đến sự sai trái vì si mê là cận phiền não của người có tánh tà kiến.
Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh về đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ về xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường về thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã về tư niệm thực.
Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ nhất thì chấp thủ các dục, đây gọi là sự chấp thủ về dục. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ nhì thì chấp thủ sự hiện hữu ở vị lai, đây gọi là sự chấp thủ về hữu. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ ba thì chấp thủ quan điểm có sự thích thú ở luân hồi, đây gọi là sự chấp thủ về tà kiến. Người đã trụ vững ở điều trái khuấy thứ tư thì chấp thủ cái ngã này thuộc về ai, đây gọi là sự chấp thủ về ngã luận thuyết.
(Chúng sanh,) do chấp thủ về dục, bị ràng buộc với các dục, đây gọi là sự gắn bó với dục; do chấp thủ về hữu, bị ràng buộc với các hữu, đây gọi là sự gắn bó với hữu; do chấp thủ về tà kiến, bị ràng buộc với tà kiến, đây gọi là sự gắn bó với tà kiến; do chấp thủ về ngã luận thuyết, bị ràng buộc với vô minh, đây gọi là sự gắn bó với vô minh.
Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ nhất thì trói buộc thân bởi tham đắm, đây gọi là sự trói buộc thân bởi tham đắm. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ nhì thì trói buộc thân bởi sân hận, đây gọi là sự trói buộc thân bởi sân hận. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ ba thì trói buộc thân bởi bám víu, đây gọi là sự trói buộc thân bởi bám víu. Người đã trụ vững ở sự gắn bó thứ tư thì trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ đây gọi là sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’
Đối với người ấy, các ô nhiễm bị trói buộc như vậy thì trào ra. Và từ đâu mà gọi là ‘chúng trào ra’? Từ sự tiềm ẩn hay từ sự xâm nhập? Ở đấy, dục lậu do sự trói buộc thân bởi tham đắm, hữu lậu do sự trói buộc thân bởi sân hận, tà kiến lậu do sự trói buộc thân bởi bám víu, vô minh lậu do sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý.’
Đối với người ấy, các lậu hoặc này khi đã đi đến sự lớn mạnh thì trở thành dòng lũ; như thế do sự lớn mạnh của lậu hoặc mà có sự lớn mạnh của dòng lũ. Ở đấy, do dục lậu có dòng lũ của dục, do hữu lậu có dòng lũ của hữu, do tà kiến lậu có dòng lũ tà kiến, do vô minh lậu có dòng lũ vô minh.
Đối với người ấy, bốn dòng lũ này, ―đã đi cùng với sự tiềm ẩn, đã đi sâu vào tập tính,― sau khi chạm vào trái tim rồi trụ vững; vì thế chúng được gọi là ‘các mũi tên.’ Ở đấy, do dòng lũ của dục có mũi tên luyến ái, do dòng lũ của hữu có mũi tên sân hận, do dòng lũ tà kiến có mũi tên ngã mạn, do dòng lũ vô minh có mũi tên si mê.
Đối với người ấy, thức, khi đã bị khống chế bởi bốn mũi tên này, thì trụ vững ở bốn pháp: ở sắc, ở thọ, ở tưởng, ở các hành. Ở đấy, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên luyến ái mà có sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên sân hận mà có sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên ngã mạn mà có sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, do thức có sự tiêm nhiễm của niềm vui thông qua mũi tên si mê mà có sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức.
Đối với người ấy, thức bị kềm cứng bởi bốn sự trụ vững này của thức nên đi đến sự sai trái vì bốn pháp: vì mong muốn, vì sân hận, vì sợ hãi, vì si mê. Ở đấy, người ấy đi đến sự sai trái vì mong muốn do luyến ái, đi đến sự sai trái vì sân hận do sân hận, đi đến sự sai trái vì sợ hãi do sợ hãi, đi đến sự sai trái vì si mê do si mê. Nghiệp ấy và các ô nhiễm này là như thế. Điều ấy là nhân của sự luân hồi. Tất cả các ô nhiễm nên được diễn giải theo các điều trái khuấy như vậy.
Ở đấy, đây là bốn hướng: “Đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, sự chấp thủ về dục, sự gắn bó với dục, sự trói buộc thân bởi tham đắm, dục lậu, dòng lũ của dục, mũi tên luyến ái, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn,” như thế là hướng thứ nhất.
“Xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, sự chấp thủ về hữu, sự gắn bó với hữu, sự trói buộc thân bởi sân hận, hữu lậu, dòng lũ của hữu, mũi tên sân hận, sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, việc đi đến sự sai trái vì sân hận,” như thế là hướng thứ nhì.
“Thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, sự chấp thủ về tà kiến, sự gắn bó với tà kiến, sự trói buộc thân bởi bám víu, tà kiến lậu, dòng lũ tà kiến, mũi tên ngã mạn, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi,” như thế là hướng thứ ba.
“Tư niệm thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, sự chấp thủ về ngã luận thuyết, sự gắn bó với vô minh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ vô minh lậu, dòng lũ vô minh, mũi tên si mê, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức, việc đi đến sự sai trái vì si mê,” như thế là hướng thứ tư.
Ở đấy, “đoàn thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, sự chấp thủ về dục, sự gắn bó với dục, sự trói buộc thân bởi tham đắm, dục lậu, dòng lũ của dục, mũi tên luyến ái, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh luyến ái.
Ở đấy, “xúc thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, sự chấp thủ về hữu, sự gắn bó với hữu, sự trói buộc thân bởi sân hận, hữu lậu, dòng lũ của hữu, mũi tên sân hận, sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức, việc đi đến sự sai trái vì sân hận,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh sân hận.
Ở đấy, “thức thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, sự chấp thủ về tà kiến, sự gắn bó với tà kiến, sự trói buộc thân bởi bám víu, tà kiến lậu, dòng lũ tà kiến, mũi tên ngã mạn, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh tà kiến, chậm lụt. Ở đấy, “tư niệm thực, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, sự chấp thủ về ngã luận thuyết, sự gắn bó với vô minh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý,’ vô minh lậu, dòng lũ vô minh, mũi tên si mê, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức, việc đi đến sự sai trái vì si mê,” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là các cận phiền não của người có tánh tà kiến, khôn khéo. Ở đấy, đoàn thực và xúc thực đi đến sự biết toàn diện bằng lối vào giải thoát vô nguyện, thức thực bằng không tánh, tư niệm thực bằng vô tướng. Ở đấy, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh và điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ đi đến sự dứt bỏ, sự biến mất bằng lối vào giải thoát vô nguyện, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường bằng không tánh, điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã bằng vô tướng. Ở đấy, sự chấp thủ về dục và sự chấp thủ về hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự chấp thủ về tà kiến bằng không tánh, sự chấp thủ về ngã luận thuyết bằng vô tướng. Ở đấy, sự gắn bó với dục và sự gắn bó với hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự gắn bó với tà kiến bằng không tánh, sự gắn bó với vô minh bằng vô tướng. Ở đấy, sự trói buộc thân bởi tham đắm và sự trói buộc thân bởi sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự trói buộc thân bởi bám víu bằng không tánh, sự trói buộc thân bởi chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’ bằng vô tướng. Ở đấy, dục lậu và hữu lậu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, tà kiến lậu bằng không tánh, vô minh lậu bằng vô tướng. Ở đấy, dòng lũ của dục và dòng lũ của hữu đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, dòng lũ tà kiến bằng không tánh, dòng lũ vô minh bằng vô tướng. Ở đấy, mũi tên luyến ái và mũi tên sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, mũi tên ngã mạn bằng không tánh, mũi tên si mê bằng vô tướng. Ở đấy, sự đến gần và trụ vững ở sắc của thức và sự đến gần và trụ vững ở thọ của thức đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, sự đến gần và trụ vững ở tưởng của thức bằng không tánh, sự đến gần và trụ vững ở các hành của thức bằng vô tướng. Ở đấy, việc đi đến sự sai trái vì mong muốn và việc đi đến sự sai trái vì sân hận đi đến sự dứt bỏ bằng lối vào giải thoát vô nguyện, việc đi đến sự sai trái vì sợ hãi bằng không tánh, việc đi đến sự sai trái vì si mê bằng vô tướng.
Như thế, “tất cả các pháp có xu hướng xuôi dòng thế gian dẫn dắt ra khỏi tam giới bằng ba lối vào giải thoát.” Ở đó, lối dẫn dắt ra là bốn lối thực hành, bốn sự thiết lập niệm, bốn thiền, bốn sự an trú, bốn chánh cần, bốn pháp kỳ diệu phi thường, bốn phát nguyện, bốn sự tu tập định, bốn pháp dự phần vào an lạc, bốn vô lượng.
Lối thực hành thứ nhất (và) sự thiết lập niệm thứ nhất, lối thực hành thứ nhì (và) sự thiết lập niệm thứ nhì, lối thực hành thứ ba (và) sự thiết lập niệm thứ ba, lối thực hành thứ tư (và) sự thiết lập niệm thứ tư. Sự thiết lập niệm thứ nhất (và) sơ thiền, sự thiết lập niệm thứ nhì (và) nhị thiền, sự thiết lập niệm thứ ba (và) tam thiền, sự thiết lập niệm thứ tư (và) tứ thiền. Sơ thiền (và) sự an trú thứ nhất, nhị thiền (và) sự an trú thứ nhì, tam thiền (và) sự an trú thứ ba, tứ thiền (và) sự an trú thứ tư. Sự an trú thứ nhất (và) chánh cần thứ nhất, (sự an trú) thứ nhì (và) (chánh cần) thứ nhì, (sự an trú) thứ ba (và) (chánh cần) thứ ba, sự an trú thứ tư (và) chánh cần thứ tư. Chánh cần thứ nhất (và) pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, (chánh cần) thứ nhì (và) (pháp kỳ diệu phi thường) thứ nhì, (chánh cần) thứ ba (và) (pháp kỳ diệu phi thường) thứ ba, chánh cần thứ tư (và) pháp kỳ diệu phi thường thứ tư. Pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất (và) phát nguyện thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì (và) phát nguyện thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba (và) phát nguyện thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư (và) phát nguyện thứ tư. Phát nguyện thứ nhất (và) sự tu tập định thứ nhất, phát nguyện thứ nhì (và) sự tu tập định thứ nhì, phát nguyện thứ ba (và) sự tu tập định thứ ba, phát nguyện thứ tư (và) sự tu tập định thứ tư. Sự tu tập định thứ nhất (và) pháp dự phần vào an lạc thứ nhất, sự tu tập định thứ nhì (và) pháp dự phần vào an lạc thứ nhì, sự tu tập định thứ ba (và) pháp dự phần vào an lạc thứ ba, sự tu tập định thứ tư (và) pháp dự phần vào an lạc thứ tư. Pháp dự phần vào an lạc thứ nhất (và) vô lượng thứ nhất, pháp dự phần vào an lạc thứ nhì (và) vô lượng thứ nhì, pháp dự phần vào an lạc thứ ba (và) vô lượng thứ ba, pháp dự phần vào an lạc thứ tư (và) vô lượng thứ tư.
Lối thực hành thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ nhất; lối thực hành thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ nhì; lối thực hành thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ ba; lối thực hành thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thiết lập niệm thứ tư. Sự thiết lập niệm thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sơ thiền; sự thiết lập niệm thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn nhị thiền; sự thiết lập niệm thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn tam thiền; sự thiết lập niệm thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn tứ thiền. Sơ thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ nhất; nhị thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ nhì; tam thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ ba; tứ thiền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự an trú thứ tư.― ―Sự an trú thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự không sanh khởi các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi; sự an trú thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi; sự an trú thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự sanh khởi các thiện pháp chưa được sanh khởi; sự an trú thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự duy trì, sự không lẫn lộn, sự gia tăng các thiện pháp đã được sanh khởi. Chánh cần thứ nhất được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc dứt bỏ ngã mạn; chánh cần thứ nhì được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc thủ tiêu chỗ tàng trữ; chánh cần thứ ba được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn việc dứt bỏ vô minh; chánh cần thứ tư được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự vắng lặng của hữu. Việc dứt bỏ ngã mạn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về chân thật; việc thủ tiêu chỗ tàng trữ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về xả thí; việc dứt bỏ vô minh được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về tuệ; sự vắng lặng của hữu được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn). Phát nguyện về chân thật được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do mong muốn; phát nguyện về xả thí được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do tinh tấn; phát nguyện về tuệ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do tâm; phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn) được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự tu tập định do thẩm xét. Định do mong muốn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự thu thúc các quyền; định do tinh tấn được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự khắc khổ; định do tâm được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự giác ngộ; định do thẩm xét được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh. Sự thu thúc các quyền được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn từ (tâm); sự khắc khổ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn bi (tâm); sự giác ngộ được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn hỷ (tâm); sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh được tu tập, được thực hành nhiều, làm viên mãn xả (tâm).
Ở đấy, đây là bốn hướng: “Lối thực hành thứ nhất, sự thiết lập niệm thứ nhất, sơ thiền, sự an trú thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, phát nguyện về chân thật, định do mong muốn, sự thu thúc các quyền, từ (tâm),” như thế là hướng thứ nhất. “Lối thực hành thứ nhì, sự thiết lập niệm thứ nhì, nhị thiền, sự an trú thứ nhì, chánh cần thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì, phát nguyện về xả thí, định do tinh tấn, sự khắc khổ, bi (tâm),” như thế là hướng thứ nhì. “Lối thực hành thứ ba, sự thiết lập niệm thứ ba, tam thiền, sự an trú thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba, phát nguyện về tuệ, định do tâm, sự giác ngộ, hỷ (tâm),” như thế là hướng thứ ba. “Lối thực hành thứ tư, sự thiết lập niệm thứ tư, tứ thiền, sự an trú thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn), định do thẩm xét, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh, xả (tâm),” như thế là hướng thứ tư.
Ở đấy, “lối thực hành thứ nhất, sự thiết lập niệm thứ nhất, sơ thiền, sự an trú thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất, phát nguyện về chân thật, định do mong muốn, sự thu thúc các quyền, từ (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tham ái.
“Lối thực hành thứ nhì, sự thiết lập niệm thứ nhì, nhị thiền, sự an trú thứ nhì, chánh cần thứ nhì, pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì, phát nguyện về xả thí, định do tinh tấn, sự khắc khổ, bi (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh sân hận.
“Lối thực hành thứ ba, sự thiết lập niệm thứ ba, tam thiền, sự an trú thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp kỳ diệu phi thường thứ ba, phát nguyện về tuệ, định do tâm, sự giác ngộ, hỷ (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tà kiến, chậm lụt.
“Lối thực hành thứ tư, sự thiết lập niệm thứ tư, tứ thiền, sự an trú thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp kỳ diệu phi thường thứ tư, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn), định do thẩm xét, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh, xả (tâm),” như thế mười Kinh này có cùng một ý nghĩa nhưng văn tự thì khác nhau. Đây là phương thuốc cho người có tánh tà kiến, khôn khéo.
Ở đấy, lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng là lối vào giải thoát vô nguyện, lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp là lối vào giải thoát không tánh, lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, sự thiết lập niệm với trạng thái quan sát thân trên thân và sự thiết lập niệm với trạng thái quan sát thọ trên các thọ là lối vào giải thoát vô nguyện, với trạng thái quan sát tâm trên tâm là lối vào giải thoát không tánh, với trạng thái quan sát pháp trên các pháp là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, sơ thiền và nhị thiền là lối vào giải thoát vô nguyện, tam thiền là (lối vào giải thoát) không tánh, tứ thiền là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, sự an trú thứ nhất và sự an trú thứ nhì là lối vào giải thoát vô nguyện, sự an trú thứ ba là (lối vào giải thoát) không tánh, sự an trú thứ tư là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, chánh cần thứ nhất và chánh cần thứ nhì là lối vào giải thoát vô nguyện, chánh cần thứ ba là (lối vào giải thoát) không tánh, chánh cần thứ tư là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, sự dứt bỏ ngã mạn và sự thủ tiêu chỗ tàng trữ là lối vào giải thoát vô nguyện, sự dứt bỏ vô minh là (lối vào giải thoát) không tánh, sự vắng lặng của hữu là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, phát nguyện về chân thật và phát nguyện về xả thí là lối vào giải thoát vô nguyện, phát nguyện về tuệ là (lối vào giải thoát) không tánh, phát nguyện về an tịnh (Niết Bàn) là lối vào giải thoát vô tướng.
Ở đấy, định do mong muốn và định do tinh tấn là lối vào giải thoát vô nguyện, định do tâm là (lối vào giải thoát) không tánh, định do thẩm xét là lối vào giải thoát vô tướng. Ở đấy, sự thu thúc các quyền và sự khắc khổ là lối vào giải thoát vô nguyện, sự giác ngộ là (lối vào giải thoát) không tánh, sự xả bỏ tất cả các mầm tái sanh là lối vào giải thoát vô tướng. Ở đấy, từ (tâm) và bi (tâm) là lối vào giải thoát vô nguyện, hỷ (tâm) là (lối vào giải thoát) không tánh, xả (tâm) là lối vào giải thoát vô tướng. Sự tiêu khiển của các vị ấy: Bốn yếu tố nuôi dưỡng, đối nghịch của chúng là bốn lối thực hành. Bốn điều trái khuấy, đối nghịch của chúng là bốn sự thiết lập niệm. Bốn sự chấp thủ, đối nghịch của chúng là bốn thiền. Bốn sự gắn bó, đối nghịch của chúng là bốn sự an trú. Bốn sự trói buộc, đối nghịch của chúng là bốn chánh cần. Bốn lậu hoặc, đối nghịch của chúng là bốn pháp kỳ diệu phi thường. Bốn dòng lũ, đối nghịch của chúng là bốn phát nguyện. Bốn mũi tên, đối nghịch của chúng là bốn sự tu tập định. Bốn sự trụ vững của thức, đối nghịch của chúng là bốn pháp dự phần vào an lạc. Bốn việc đi đến sự sai trái, đối nghịch của chúng là bốn vô lượng. Các sư tử: là chư Phật, chư Phật Độc Giác, và chư Thinh Văn có tham sân si đã được diệt trừ. Sự tiêu khiển của các vị ấy là sự tu tập, sự chứng ngộ, và sự làm chấm dứt. Sự tiêu khiển là sự phát nguyện các quyền, sự tiêu khiển là sự không phát nguyện những điều trái nghịch. Các quyền là hành xứ của chánh pháp, những điều trái nghịch là hành xứ của các ô nhiễm. Điều này được gọi là phạm vi của phương pháp tiêu khiển của các sư tử và của phương pháp định hướng. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Người nào dẫn dắt các ô nhiễm do những điều trái khuấy ...” và “Bởi vì ở những phần giải thích, các pháp thiện và bất thiện ...” Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Đối với bốn hạng người ấy, đây là phiền não: “Bốn yếu tố nuôi dưỡng, bốn điều trái khuấy, bốn sự chấp thủ, bốn sự gắn bó, bốn sự trói buộc, bốn lậu hoặc, bốn dòng lũ, bốn mũi tên, bốn sự trụ vững của thức, bốn việc đi đến sự sai trái.” Đối với bốn hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Bốn lối thực hành, bốn sự thiết lập niệm, bốn thiền, bốn sự an trú, bốn chánh cần, bốn pháp kỳ diệu phi thường, bốn phát nguyện, bốn sự tu tập định, bốn pháp dự phần vào an lạc, bốn vô lượng.” Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Ở đấy, người đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí mau chóng, đây là người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn; người nào ở vào trường hợp phổ biến (đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí mau chóng và lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp), đây là người hiểu-khi-được-nói- đầy-đủ; người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp, đây là người cần-được-dẫn-dắt.
Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh cho người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, về minh sát cho người cần-được-dẫn-dắt, về chỉ tịnh và minh sát cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ. Ở đấy, đức thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, sắc bén cho người cần-được-dẫn-dắt, mềm mỏng và sắc bén cho người hiểu-khi-được- nói-đầy-đủ. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo pháp một cách tóm tắt cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, một cách tóm tắt và chi tiết cho người hiểu- khi-được-nói-đầy-đủ, một cách chi tiết cho người cần-được-dẫn-dắt. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói-ngắn-gọn, trình bày về sự bất lợi và sự thoát ra cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, trình bày về sự hứng thú, sự bất lợi, và sự thoát ra cho người cần-được-dẫn- dắt. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tuệ cho người hiểu- khi-được-nói-ngắn-gọn, về thắng tâm cho người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, về thắng giới cho người cần-được-dẫn-dắt.
Ở đấy, những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành khó khăn với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người; những người nào đi ra khỏi nhờ vào lối thực hành thoải mái với thắng trí chậm chạp và với thắng trí mau chóng, đây là hai hạng người. Như thế, quả thật đã là bốn rồi trở thành ba (hạng người): “Người hiểu-khi-được-nói- ngắn-gọn, người hiểu-khi-được-nói-đầy-đủ, người cần-được-dẫn-dắt.”
Đối với ba hạng người ấy, đây là phiền não: “Ba gốc rễ của bất thiện: tham là gốc rễ của bất thiện, sân là gốc rễ của bất thiện, si là gốc rễ của bất thiện; ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý; ba suy tư bất thiện: suy tư về dục, suy tư về sân hận, suy tư về hãm hại; ba tưởng bất thiện: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; ba tưởng bị sai lệch: thường tưởng, lạc tưởng, ngã tưởng; ba thọ: thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc; ba trạng thái khổ: trạng thái khổ do (thọ) khổ, trạng thái khổ do pháp tạo tác, trạng thái khổ do sự biến đổi; ba ngọn lửa: lửa luyến ái, lửa sân hận, lửa si mê; ba mũi tên: mũi tên luyến ái, mũi tên sân hận, mũi tên si mê; ba cục rối: cục rối luyến ái, cục rối sân hận, cục rối si mê; ba sự khảo sát về bất thiện: thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, ý nghiệp bất thiện; ba sự hư hỏng: hư hỏng về giới, hư hỏng về quan điểm, hư hỏng về hạnh kiểm.”
Đối với ba hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Ba gốc rễ của thiện: vô tham là gốc rễ của thiện, vô sân là gốc rễ của thiện, vô si là gốc rễ của thiện; ba thiện hạnh: thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý; ba suy tư thiện: suy tư về xuất ly, suy tư về vô sân, suy tư về vô hại; ba định: định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ; ba tưởng thiện: tưởng về xuất ly, tưởng về vô sân, tưởng về vô hại; ba tưởng không bị sai lệch: tưởng về vô thường, tưởng về khổ não, tưởng về vô ngã; ba sự khảo sát thiện: thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, ý nghiệp thiện; ba sự trong sạch: trong sạch về thân, trong sạch về khẩu, trong sạch về ý; ba sự thành tựu: thành tựu về giới, thành tựu về định, thành tựu về tuệ; ba sự học tập: học tập về thắng giới, học tập về thắng tâm, học tập về thắng tuệ; ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn; ba lối vào giải thoát: không tánh, vô tướng, vô nguyện.” Như thế, quả thật đã là bốn rồi trở thành ba; đã là ba rồi trở thành hai (hạng người): người có tánh tham ái và người có tánh tà kiến.
Đối với hai hạng người ấy, đây là phiền não: “Tham ái và vô minh, không hổ thẹn (tội lỗi) và không ghê sợ (tội lỗi), thất niệm và không nhận biết rõ, không tác ý đúng đường lối, biếng nhác và khó dạy, việc tạo thành ‘tôi’ và việc tạo thành ‘của tôi,’ không có đức tin và xao lãng, không lắng nghe chánh pháp và không thu thúc, tham đắm và sân hận, pháp che lấp và sự ràng buộc, giận dữ và thù hằn, gièm pha và ác ý, ganh tỵ và bỏn xẻn, xảo trá và lừa gạt, thường kiến và đoạn kiến.”
Đối với hai hạng người ấy, đây là sự thanh lọc: “Chỉ tịnh và minh sát, hổ thẹn (tội lỗi) và ghê sợ (tội lỗi), niệm và nhận biết rõ, tác ý đúng đường lối, sự ra sức tinh tấn và dễ dạy, trí về pháp và trí về lỗi lầm, trí về sự diệt trừ và trí về sự không còn tái sanh, có đức tin và không xao lãng, lắng nghe chánh pháp và thu thúc, không tham đắm và không sân hận, sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái và sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh, sự chứng ngộ, trạng thái không ước muốn và sự hài lòng (biết đủ), không giận dữ và không thù hằn, không gièm pha và không ác ý, sự dứt bỏ ganh tỵ và sự dứt bỏ bỏn xẻn, minh và giải thoát, giải thoát với đối tượng hữu vi và giải thoát với đối tượng vô vi (Niết Bàn), Niết Bàn giới còn dư sót và Niết Bàn giới không còn dư sót.” Điều này được gọi là phạm vi của phương pháp chĩa ba và của phương pháp móc câu. Vì thế, Ngài đã nói rằng: “Người nào dẫn dắt các bất thiện với các gốc rễ của chúng ...” và “Sau khi nhìn thấy bằng việc xem hướng ...”
Nguồn Phát Khởi Phương Pháp được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
The Origin of the Methods
Sự Phát Sanh Của Phương Pháp
79. Tattha katamaṃ nayasamuṭṭhānaṃ? Pubbā koṭi na paññāyati avijjāyaca bhavataṇhāya ca, tattha avijjānīvaraṇaṃ taṇhāsaṃyojanaṃ. Avijjānīvaraṇā sattā avijjāsaṃyuttā † avijjāpakkhena vicaranti, te vuccanti diṭṭhicaritāti. Taṇhāsaṃyojanā sattā taṇhāsaṃyuttā taṇhāpakkhena vicaranti, te vuccanti taṇhācaritāti. Diṭṭhicaritā ito bahiddhā pabbajitā attakilamathānuyogamanuyuttā viharanti. Taṇhācaritā ito bahiddhā pabbajitā kāmesu kāmasukhallikānuyogamanuyuttā viharanti.
79. Herein, what is the origin of the methods? A former point of ignorance and craving for existence is not discerned. Therein, ignorance is a hindrance and craving is a fetter. Beings hindered by ignorance, yoked to ignorance, proceed on the side of ignorance; they are called ‘those of view-temperament.’ Beings fettered by craving, yoked to craving, proceed on the side of craving; they are called ‘those of craving-temperament.’ Those of view-temperament, having gone forth outside this Dispensation, dwell dedicated to the practice of self-mortification. Those of craving-temperament, having gone forth outside this Dispensation, dwell dedicated to the practice of indulgence in sensual pleasures.
79. Trong ấy, sự phát sanh của phương pháp là gì? Điểm khởi đầu của vô minh và hữu ái không được biết đến. Trong đó, vô minh là triền cái, ái là kiết sử. Chúng sanh bị vô minh che lấp, tương ưng với vô minh, đi theo phe của vô minh, họ được gọi là người có tà kiến hành. Chúng sanh bị ái trói buộc, tương ưng với ái, đi theo phe của ái, họ được gọi là người có ái hành. Người có tà kiến hành xuất gia ngoài giáo pháp này, sống thực hành khổ hạnh ép xác. Người có ái hành xuất gia ngoài giáo pháp này, sống thực hành sự thụ hưởng dục lạc trong các dục.
Tattha kiṃkāraṇaṃ yaṃ diṭṭhicaritā ito bahiddhā pabbajitā attakilamathānuyogamanuyuttā viharanti, taṇhācaritā ito bahiddhā pabbajitā kāmesu kāmasukhallikānuyogamanuyuttā viharanti? Ito bahiddhā natthi saccavavatthānaṃ, kuto catusaccappakāsanā vā samathavipassanākosallaṃ vā upasamasukhappatti vā! Te upasamasukhassa anabhiññā viparītacetā evamāhaṃsu ‘‘natthi sukhena sukhaṃ, dukkhena nāma sukhaṃ adhigantabba’’nti. Yo kāme paṭisevati, so lokaṃ vaḍḍhayati, yo lokaṃ vaḍḍhayati, so bahuṃ puññaṃ pasavatīti te evaṃsaññī evaṃdiṭṭhī dukkhena sukhaṃ patthayamānā kāmesu puññasaññī attakilamathānuyogamanuyuttā ca viharanti kāmasukhallikānuyogamanuyuttā ca, te tadabhiññā santā rogameva vaḍḍhayanti, gaṇḍameva vaḍḍhayanti, sallameva vaḍḍhayanti, te rogābhitunnā gaṇḍapaṭipīḷitā sallānuviddhā nirayatiracchānayonipetāsuresu ummujjanimujjāni karontā ugghātanigghātaṃ paccanubhontā rogagaṇḍasallabhesajjaṃ na vindanti. Tattha attakilamathānuyogo kāmasukhallikānuyogo ca saṃkileso, samathavipassanā vodānaṃ. Attakilamathānuyogo kāmasukhallikānuyogo ca rogo, samathavipassanā roganigghātakabhesajjaṃ. Attakilamathānuyogo kāmasukhallikānuyogo ca gaṇḍo, samathavipassanā gaṇḍanigghātakabhesajjaṃ. Attakilamathānuyogo kāmasukhallikānuyogo ca sallo, samathavipassanā salluddharaṇabhesajjaṃ.
Herein, what is the reason that those of a speculative temperament, having gone forth outside this Dispensation, dwell dedicated to the practice of self-mortification, and those of a craving temperament, having gone forth outside this Dispensation, dwell dedicated to the practice of indulgence in sensual pleasures? Outside this Dispensation, there is no determination of the truths. How could there be an exposition of the Four Truths, or skill in serenity and insight, or the attainment of the happiness of peace? They, not directly knowing the happiness of peace, with perverted minds, have said thus: “There is no happiness through happiness; happiness is to be attained through suffering.” And: “Whoever indulges in sensual pleasures makes the world grow; whoever makes the world grow generates much merit.” They, having such a perception and such a view, desiring happiness through suffering and perceiving merit in sensual pleasures, dwell dedicated to the practice of self-mortification and dedicated to the practice of indulgence in sensual pleasures. They, having such notions, only increase disease, only increase boils, only increase darts. They, afflicted by disease, oppressed by boils, and pierced by darts, sinking and emerging, experiencing exaltation and debasement, do not find the medicine for the disease, the boil, and the dart. Herein, the practice of self-mortification and the practice of indulgence in sensual pleasures are defilement; serenity and insight are purification. The practice of self-mortification and the practice of indulgence in sensual pleasures are a disease; serenity and insight are the medicine that cures the disease. The practice of self-mortification and the practice of indulgence in sensual pleasures are a boil; serenity and insight are the medicine that destroys the boil. The practice of self-mortification and the practice of indulgence in sensual pleasures are a dart; serenity and insight are the medicine that extracts the dart.
Ở đây, do nguyên nhân gì mà những người có tà kiến tánh, sau khi xuất gia ở ngoài (giáo pháp này), sống chuyên tâm thực hành khổ hạnh ép xác; còn những người có ái tánh, sau khi xuất gia ở ngoài (giáo pháp này), sống chuyên tâm thực hành thụ hưởng dục lạc trong các dục? Ở ngoài (giáo pháp này) không có sự xác định chân lý, làm sao có sự tuyên thuyết Tứ đế, hay sự thiện xảo về chỉ và quán, hay sự chứng đắc an lạc tịch tịnh! Họ vì không biết đến an lạc tịch tịnh, tâm bị điên đảo, nên đã nói như vầy: ‘Không có lạc do lạc, lạc phải được thành tựu do khổ’. ‘Người nào thụ hưởng các dục, người ấy làm cho thế gian tăng trưởng; người nào làm cho thế gian tăng trưởng, người ấy sanh nhiều phước đức’. Họ có tưởng như vậy, có thấy như vậy, mong cầu lạc bằng khổ, có tưởng phước đức trong các dục, nên sống chuyên tâm thực hành khổ hạnh ép xác và chuyên tâm thực hành thụ hưởng dục lạc. Họ, với sự hiểu biết như thế, chỉ làm tăng trưởng bệnh tật, chỉ làm tăng trưởng ung nhọt, chỉ làm tăng trưởng mũi tên. Họ bị bệnh tật hành hạ, bị ung nhọt áp bức, bị mũi tên xuyên thấu, ở trong các cõi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, a-tu-la, cứ trồi lên hụp xuống, trải qua thăng trầm, không tìm thấy được thuốc chữa bệnh tật, ung nhọt, và mũi tên. Ở đây, sự thực hành khổ hạnh ép xác và sự thực hành thụ hưởng dục lạc là nhiễm ô, chỉ và quán là thanh tịnh. Sự thực hành khổ hạnh ép xác và sự thực hành thụ hưởng dục lạc là bệnh tật, chỉ và quán là thuốc chữa bệnh. Sự thực hành khổ hạnh ép xác và sự thực hành thụ hưởng dục lạc là ung nhọt, chỉ và quán là thuốc chữa ung nhọt. Sự thực hành khổ hạnh ép xác và sự thực hành thụ hưởng dục lạc là mũi tên, chỉ và quán là thuốc nhổ mũi tên.
Tattha saṃkileso dukkhaṃ, tadabhisaṅgo taṇhā samudayo, taṇhānirodho dukkhanirodho, samathavipassanā dukkhanirodhagāminī paṭipadā, imāni cattāri saccāni. Dukkhaṃ pariññeyyaṃ, samudayo pahātabbo, maggo bhāvetabbo, nirodho sacchikātabbo.
Herein, defilement is suffering; craving, which is attachment to that, is the origin; the cessation of craving is the cessation of suffering; serenity and insight are the path leading to the cessation of suffering. These are the Four Truths. Suffering is to be fully understood, the origin is to be abandoned, the path is to be developed, and cessation is to be realized.
Ở đây, nhiễm ô là khổ, sự dính mắc vào đó là ái, (đó là) tập. Sự đoạn diệt ái là sự đoạn diệt khổ. Chỉ và quán là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Đây là bốn chân lý. Khổ cần được liễu tri, tập cần được đoạn tận, đạo cần được tu tập, diệt cần được chứng ngộ.
80. Tattha diṭṭhicaritā rūpaṃ attato upagacchanti. Vedanaṃ…pe… saññaṃ…pe… saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ attato upagacchanti. Taṇhācaritā rūpavantaṃ attānaṃ upagacchanti. Attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ, vedanāvantaṃ…pe… saññāvantaṃ…pe… saṅkhāravantaṃ…pe… viññāṇavantaṃ attānaṃ upagacchanti, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ, ayaṃ vuccati vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi.
80. Herein, those of a speculative temperament regard form as self. They regard feeling… perception… formations… consciousness as self. Those of a craving temperament regard a self as possessing form, or form as in the self, or the self as in form. They regard a self as possessing feeling… perception… formations… consciousness, or consciousness as in the self, or the self as in consciousness. This is called the identity view with twenty bases.
80. Ở đây, những người có tà kiến tánh chấp thủ sắc là tự ngã. (Chấp thủ) thọ... (chấp thủ) tưởng... (chấp thủ) các hành... (chấp thủ) thức là tự ngã. Những người có ái tánh chấp thủ tự ngã có sắc. Hoặc (chấp thủ) sắc ở trong tự ngã, hoặc (chấp thủ) tự ngã ở trong sắc. (Chấp thủ) tự ngã có thọ... (chấp thủ) tự ngã có tưởng... (chấp thủ) tự ngã có các hành... (chấp thủ) tự ngã có thức, hoặc (chấp thủ) thức ở trong tự ngã, hoặc (chấp thủ) tự ngã ở trong thức. Đây được gọi là thân kiến có hai mươi đối tượng.
Tassā paṭipakkho lokuttarā sammādiṭṭhi, anvāyikā sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi, ayaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Te tayo khandhā sīlakkhandho samādhikkhandho paññākkhandho. Sīlakkhandho samādhikkhandho ca samatho, paññākkhandho vipassanā. Tattha sakkāyo dukkhaṃ, sakkāyasamudayo dukkhasamudayo, sakkāyanirodho dukkhanirodho, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo dukkhanirodhagāminī paṭipadā, imāni cattāri saccāni. Dukkhaṃ pariññeyyaṃ, samudayo pahātabbo, maggo bhāvetabbo, nirodho sacchikātabbo.
Its opposite is the supramundane right view, and its corollaries: right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration. This is the Noble Eightfold Path. These are the three aggregates: the aggregate of virtue, the aggregate of concentration, and the aggregate of wisdom. The aggregate of virtue and the aggregate of concentration are serenity; the aggregate of wisdom is insight. Herein, the existing body is suffering; the origin of the existing body is the origin of suffering; the cessation of the existing body is the cessation of suffering; the Noble Eightfold Path is the practice leading to the cessation of suffering. These are the Four Noble Truths. Suffering is to be fully understood, the origin is to be abandoned, the path is to be developed, and cessation is to be realized.
Đối nghịch với nó là chánh kiến siêu thế, và theo sau là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là thánh đạo tám ngành. Chúng là ba uẩn: giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn. Giới uẩn và định uẩn là chỉ, tuệ uẩn là quán. Ở đây, thân là khổ, nguyên nhân của thân là nguyên nhân của khổ, sự đoạn diệt thân là sự đoạn diệt khổ, thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Đây là bốn chân lý. Khổ cần được liễu tri, tập cần được đoạn tận, đạo cần được tu tập, diệt cần được chứng ngộ.
Tattha ye rūpaṃ attato upagacchanti. Vedanaṃ…pe… saññaṃ…pe… saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ attato upagacchanti. Ime vuccanti ‘‘ucchedavādino’’ti. Ye rūpavantaṃ attānaṃ upagacchanti. Attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ. Ye vedanāvantaṃ…pe… ye saññāvantaṃ…pe… ye saṅkhāravantaṃ…pe… ye viññāṇavantaṃ attānaṃ upagacchanti, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. Ime vuccanti ‘‘sassatavādino’’ti, tattha ucchedasassatavādā ubho antā, ayaṃ saṃsārapavatti. Tassa paṭipakkho majjhimā paṭipadā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, ayaṃ saṃsāranivatti. Tattha pavatti dukkhaṃ, tadabhisaṅgo taṇhā samudayo, taṇhānirodho dukkhanirodho, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo dukkhanirodhagāminī paṭipadā, imāni cattāri saccāni. Dukkhaṃ pariññeyyaṃ, samudayo pahātabbo, maggo bhāvetabbo, nirodho sacchikātabbo.
Herein, those who regard form as self, feeling as self, perception as self, formations as self, or consciousness as self—these are called 'annihilationists.' Those who regard the self as possessing form, or form as in the self, or the self as in form; or those who regard the self as possessing feeling... perception... formations... or consciousness, or consciousness as in the self, or the self as in consciousness—these are called 'eternalists.' Herein, the views of annihilation and eternalism are the two extremes; this is the continuance of saṃsāra. Its opposite is the middle path, the Noble Eightfold Path; this is the cessation of saṃsāra. Herein, continuance is suffering; clinging to that—craving—is the origin; the cessation of craving is the cessation of suffering; the Noble Eightfold Path is the practice leading to the cessation of suffering. These are the Four Noble Truths. Suffering is to be fully understood, the origin is to be abandoned, the path is to be developed, and cessation is to be realized.
Ở đây, những ai chấp thủ sắc là tự ngã... (chấp thủ) thọ... (chấp thủ) tưởng... (chấp thủ) các hành... (chấp thủ) thức là tự ngã, những người này được gọi là ‘những người theo đoạn kiến’. Những ai chấp thủ tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; những ai (chấp thủ) tự ngã có thọ... những ai (chấp thủ) tự ngã có tưởng... những ai (chấp thủ) tự ngã có các hành... những ai (chấp thủ) tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức, những người này được gọi là ‘những người theo thường kiến’. Ở đây, đoạn kiến và thường kiến là hai cực đoan, đây là sự lưu chuyển của luân hồi. Đối nghịch với nó là trung đạo, là thánh đạo tám ngành, đây là sự chấm dứt của luân hồi. Ở đây, sự lưu chuyển là khổ, sự dính mắc vào đó là ái, (đó là) tập. Sự đoạn diệt ái là sự đoạn diệt khổ. Thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Đây là bốn chân lý. Khổ cần được liễu tri, tập cần được đoạn tận, đạo cần được tu tập, diệt cần được chứng ngộ.
Tattha ucchedasassataṃ samāsato vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, vitthārato dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni, tesaṃ paṭipakkho tecattālīsaṃ bodhipakkhiyā dhammā aṭṭha vimokkhā dasa kasiṇāyatanāni. Dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni mohajālaṃ anādianidhanappavattaṃ. Tecattālīsaṃ † bodhipakkhiyā dhammā ñāṇavajiraṃ mohajālappadālanaṃ. Tattha moho avijjā, jālaṃ bhavataṇhā, tena vuccati ‘‘pubbā koṭi na paññāyati avijjāya ca bhavataṇhāya cā’’ti.
Herein, the view of annihilation and eternalism, in brief, is the identity view with twenty bases; in detail, it is the sixty-two speculative views. Their opposite are the forty-three requisites of enlightenment, the eight liberations, and the ten kasiṇa spheres. The sixty-two speculative views are a net of delusion, continuing without beginning or end. The forty-three requisites of enlightenment are the diamond-bolt of wisdom that tears apart the net of delusion. Herein, delusion is ignorance, and the net is craving for existence. Therefore it is said: 'A first point of ignorance and craving for existence is not discerned.'
Ở đây, đoạn kiến và thường kiến, nói tóm tắt, là thân kiến có hai mươi đối tượng; nói chi tiết, là sáu mươi hai tà kiến. Đối nghịch với chúng là bốn mươi ba pháp trợ Bồ-đề, tám giải thoát, và mười biến xứ. Sáu mươi hai tà kiến là lưới si mê, vận hành không có khởi đầu, không có kết thúc. Bốn mươi ba pháp trợ Bồ-đề là kim cương trí tuệ, phá tan lưới si mê. Ở đây, si là vô minh, lưới là hữu ái. Do đó có nói rằng: ‘Không thể thấy được điểm khởi đầu của vô minh và hữu ái’.
81. Tattha diṭṭhicarito asmiṃ sāsane pabbajito sallekhānusantatavutti bhavati sallekhe tibbagāravo. Taṇhācarito asmiṃ sāsane pabbajito sikkhānusantatavutti bhavati sikkhāya tibbagāravo. Diṭṭhicarito sammattaniyāmaṃ okkamanto dhammānusārī bhavati. Taṇhācarito sammattaniyāmaṃ okkamanto saddhānusārī bhavati, diṭṭhicarito sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyāti. Taṇhācarito dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyāti.
81. Herein, a person of view-temperament who has gone forth in this dispensation has a continuous practice of effacement and has great reverence for effacement. A person of craving-temperament who has gone forth in this dispensation has a continuous practice of the training and has great reverence for the training. A person of view-temperament, on entering the fixed course of rightness, becomes a Dhamma-follower. A person of craving-temperament, on entering the fixed course of rightness, becomes a faith-follower. A person of view-temperament is liberated by the pleasant practice with either slow or quick direct knowledge. A person of craving-temperament is liberated by the painful practice with either slow or quick direct knowledge.
81. Trong các hạng người ấy, người có tà kiến hành đã xuất gia trong giáo pháp này thì có hạnh sống liên tục khổ hạnh, vì có sự tôn trọng mãnh liệt đối với khổ hạnh. Người có ái hành đã xuất gia trong giáo pháp này thì có hạnh sống liên tục trong học giới, vì có sự tôn trọng mãnh liệt đối với học giới. Người có tà kiến hành khi đi vào chánh tánh quyết định thì trở thành vị Tùy pháp hành. Người có ái hành khi đi vào chánh tánh quyết định thì trở thành vị Tùy tín hành. Người có tà kiến hành thoát ra bằng con đường thực hành an lạc, bằng thắng trí chậm chạp và bằng thắng trí nhanh chóng. Người có ái hành thoát ra bằng con đường thực hành khổ sở, bằng thắng trí chậm chạp và bằng thắng trí nhanh chóng.
Tattha kiṃkāraṇaṃ, yaṃ taṇhācarito dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyāti, tassa hi kāmā apariccattā bhavanti, so kāmehi viveciyamāno dukkhena paṭinissarati dandhañca dhammaṃ ājānāti? Yo panāyaṃ diṭṭhicarito ayaṃ āditoyeva kāmehi anatthiko bhavati. So tato viveciyamāno khippañca paṭinissarati, khippañca dhammaṃ ājānāti. Dukkhāpi paṭipadā duvidhā dandhābhiññā ca khippābhiññā ca. Sukhāpi paṭipadā duvidhā dandhābhiññā ca khippābhiññā ca. Sattāpi duvidhā mudindriyāpi tikkhindriyāpi. Ye mudindriyā, te dandhañca paṭinissaranti dandhañca dhammaṃ ājānanti. Ye tikkhindriyā, te khippañca paṭinissaranti, khippañca dhammaṃ ājānanti, imā catasso paṭipadā. Ye hi keci niyyiṃsu vā niyyanti vā niyyissanti vā, te imāhi eva catūhi paṭipadāhi. Evaṃ ariyā catukkamaggaṃ paññāpenti abudhajanasevitāya bālakantāya rattavāsiniyā nandiyā bhavataṇhāya avaṭṭanatthaṃ †. Ayaṃ vuccati nandiyāvaṭṭassa nayassa bhūmīti, tenāha ‘‘taṇhañca avijjampi ca samathenā’’ti.
Herein, what is the reason that a person of craving-temperament is liberated by a painful practice with either slow or quick direct knowledge? For him, sensual pleasures are not relinquished. Thus, when being separated from sensual pleasures, he is liberated with difficulty and understands the Dhamma slowly. But this person of view-temperament, from the very beginning, has no desire for sensual pleasures. When separated from them, he is liberated quickly and understands the Dhamma quickly. The painful practice is also twofold: with slow direct knowledge and with quick direct knowledge. The pleasant practice is also twofold: with slow direct knowledge and with quick direct knowledge. Beings are also twofold: those with dull faculties and those with sharp faculties. Those with dull faculties are liberated slowly and understand the Dhamma slowly. Those with sharp faculties are liberated quickly and understand the Dhamma quickly. These are the four practices. Whoever has been liberated, is being liberated, or will be liberated—they are liberated by these four practices alone. Thus, the noble ones declare the fourfold path for the sake of not revolving in craving for existence—which is delight, frequented by the unwise, desired by the foolish, and dwelling in the attached. This is called the ground for the method of the turning of delight. Therefore, He said: 'By calming both craving and ignorance.'
Trong đó, nguyên nhân là gì, mà người có ái hành thoát ra bằng con đường thực hành khổ sở, bằng thắng trí chậm chạp và bằng thắng trí nhanh chóng? Vì rằng các dục của người ấy chưa được từ bỏ, do đó người ấy khi được tách khỏi các dục thì từ bỏ một cách khó khăn và biết pháp một cách chậm chạp. Còn người có tà kiến hành này, vị này ngay từ đầu đã không có mong muốn đối với các dục. Người ấy khi được tách khỏi điều đó thì từ bỏ một cách nhanh chóng và biết pháp một cách nhanh chóng. Con đường thực hành khổ sở cũng có hai loại: thắng trí chậm chạp và thắng trí nhanh chóng. Con đường thực hành an lạc cũng có hai loại: thắng trí chậm chạp và thắng trí nhanh chóng. Chúng sanh cũng có hai loại: người có căn mềm yếu và người có căn sắc bén. Những người có căn mềm yếu, họ từ bỏ một cách chậm chạp và biết pháp một cách chậm chạp. Những người có căn sắc bén, họ từ bỏ một cách nhanh chóng và biết pháp một cách nhanh chóng. Đây là bốn con đường thực hành. Bất cứ ai đã thoát ra, đang thoát ra, hay sẽ thoát ra, họ (đã, đang, sẽ) thoát ra chính bằng bốn con đường thực hành này. Như vậy, các bậc Thánh chế định bốn con đường để không quay lại với ái hữu (nandī) vốn được kẻ vô trí thực hành, được kẻ ngu ưa thích, trú ngụ nơi người bị tham ái chi phối. Đây được gọi là nền tảng của phương pháp vòng xoáy ái luyến, do đó Ngài nói: ‘bằng sự lắng dịu cả ái và vô minh’.
82. Veyyākaraṇesu hi ye kusalākusalāti te duvidhā upaparikkhitabbā – lokavaṭṭānusārī ca lokavivaṭṭānusārī ca. Vaṭṭaṃ nāma saṃsāro. Vivaṭṭaṃ nibbānaṃ. Kammakilesā hetu saṃsārassa. Tattha kammaṃ cetanā cetasikañca niddisitabbaṃ. Taṃ kathaṃ daṭṭhabbaṃ? Upacayena sabbepi kilesā catūhi vipallāsehi niddisitabbā. Te kattha daṭṭhabbā? Dasa vatthuke kilesapuñje. Katamāni dasa vatthūni? Cattāro āhārā, cattāro vipallāsā, cattāri upādānāni, cattāro yogā, cattāro ganthā, cattāro āsavā, cattāro oghā, cattāro sallā, catasso viññāṇaṭṭhitiyo cattāri agatigamanāni. Paṭhame āhāre paṭhamo vipallāso, dutiye āhāre dutiyo vipallāso, tatiye āhāre tatiyo vipallāso, catutthe āhāre catuttho vipallāso. Paṭhame vipallāse paṭhamaṃ upādānaṃ. Dutiye vipallāse dutiyaṃ upādānaṃ, tatiye vipallāse tatiyaṃ upādānaṃ, catutthe vipallāse catutthaṃ upādānaṃ. Paṭhame upādāne paṭhamo yogo, dutiye upādāne dutiyo yogo, tatiye upādāne tatiyo yogo, catutthe upādāne catuttho yogo. Paṭhame yoge paṭhamo gantho, dutiye yoge dutiyo gantho, tatiye yoge tatiyo gantho, catutthe yoge catuttho gantho, paṭhame ganthe paṭhamo āsavo, dutiye ganthe dutiyo āsavo, tatiye ganthe tatiyo āsavo, catutthe ganthe catuttho āsavo. Paṭhame āsave paṭhamo ogho, dutiye āsave dutiyo ogho, tatiye āsave tatiyo ogho, catutthe āsave catuttho ogho. Paṭhame oghe paṭhamo sallo, dutiye oghe dutiyo sallo, tatiye oghe tatiyo sallo, catutthe oghe catuttho sallo. Paṭhame salle paṭhamā viññāṇaṭṭhiti, dutiye salle dutiyā viññāṇaṭṭhiti, tatiye salle tatiyā viññāṇaṭṭhiti, catutthe salle catutthī † viññāṇaṭṭhiti, paṭhamāyaṃ viññāṇaṭṭhitiyaṃ paṭhamaṃ agatigamanaṃ. Dutiyāyaṃ viññāṇaṭṭhitiyaṃ dutiyaṃ agatigamanaṃ. Tatiyāyaṃ viññāṇaṭṭhitiyaṃ tatiyaṃ agatigamanaṃ, catutthiyaṃ † viññāṇaṭṭhitiyaṃ catutthaṃ agatigamanaṃ.
82. In expositions, those which are skillful and unskillful should be examined in two ways: those that follow the round of the world and those that follow the turning away from the world. The round is called saṃsāra. The turning away is Nibbāna. Kamma and defilements are the cause of saṃsāra. There, kamma should be designated as volition and mental concomitants. This should be seen by way of accumulation. All defilements should be designated through the four distortions. Where should they be seen? In the ten-factored mass of defilements. What are the ten factors? The four nutriments, the four distortions, the four clingings, the four yokes, the four ties, the four taints, the four floods, the four darts, the four stations of consciousness, and the four wrong courses. In the first nutriment is the first distortion, in the second nutriment is the second distortion, in the third nutriment is the third distortion, in the fourth nutriment is the fourth distortion. In the first distortion is the first clinging. In the second distortion is the second clinging, in the third distortion is the third clinging, in the fourth distortion is the fourth clinging. In the first clinging is the first yoke, in the second clinging is the second yoke, in the third clinging is the third yoke, in the fourth clinging is the fourth yoke. In the first yoke is the first tie, in the second yoke is the second tie, in the third yoke is the third tie, in the fourth yoke is the fourth tie. In the first tie is the first taint, in the second tie is the second taint, in the third tie is the third taint, in the fourth tie is the fourth taint. In the first taint is the first flood, in the second taint is the second flood, in the third taint is the third flood, in the fourth taint is the fourth flood. In the first flood is the first dart, in the second flood is the second dart, in the third flood is the third dart, in the fourth flood is the fourth dart. In the first dart is the first station of consciousness, in the second dart is the second station of consciousness, in the third dart is the third station of consciousness, in the fourth dart is the fourth station of consciousness. In the first station of consciousness is the first wrong course. In the second station of consciousness is the second wrong course. In the third station of consciousness is the third wrong course, in the fourth station of consciousness is the fourth wrong course.
82. Trong các bài ký thuyết, những pháp nào là thiện và bất thiện, chúng nên được xem xét theo hai cách: (1) pháp đi theo vòng luân hồi của thế gian và (2) pháp đi theo sự thoát khỏi vòng luân hồi của thế gian. Vòng luân hồi (vaṭṭa) gọi là saṃsāra. Thoát khỏi luân hồi (vivaṭṭa) là Niết-bàn. Nghiệp và phiền não là nguyên nhân của saṃsāra. Trong đó, nghiệp nên được chỉ ra là tư và tâm sở. Điều đó nên được thấy như thế nào? Bằng sự tích lũy. Tất cả phiền não nên được chỉ ra bằng bốn điên đảo. Chúng nên được thấy ở đâu? Trong khối phiền não có mười vật. Mười vật là gì? Bốn món ăn, bốn điên đảo, bốn thủ, bốn ách, bốn triền, bốn lậu, bốn bộc lưu, bốn mũi tên, bốn thức trú, bốn thiên vị. Trong món ăn thứ nhất có điên đảo thứ nhất, trong món ăn thứ hai có điên đảo thứ hai, trong món ăn thứ ba có điên đảo thứ ba, trong món ăn thứ tư có điên đảo thứ tư. Trong điên đảo thứ nhất có thủ thứ nhất. Trong điên đảo thứ hai có thủ thứ hai, trong điên đảo thứ ba có thủ thứ ba, trong điên đảo thứ tư có thủ thứ tư. Trong thủ thứ nhất có ách thứ nhất, trong thủ thứ hai có ách thứ hai, trong thủ thứ ba có ách thứ ba, trong thủ thứ tư có ách thứ tư. Trong ách thứ nhất có triền thứ nhất, trong ách thứ hai có triền thứ hai, trong ách thứ ba có triền thứ ba, trong ách thứ tư có triền thứ tư. Trong triền thứ nhất có lậu thứ nhất, trong triền thứ hai có lậu thứ hai, trong triền thứ ba có lậu thứ ba, trong triền thứ tư có lậu thứ tư. Trong lậu thứ nhất có bộc lưu thứ nhất, trong lậu thứ hai có bộc lưu thứ hai, trong lậu thứ ba có bộc lưu thứ ba, trong lậu thứ tư có bộc lưu thứ tư. Trong bộc lưu thứ nhất có mũi tên thứ nhất, trong bộc lưu thứ hai có mũi tên thứ hai, trong bộc lưu thứ ba có mũi tên thứ ba, trong bộc lưu thứ tư có mũi tên thứ tư. Trong mũi tên thứ nhất có thức trú thứ nhất, trong mũi tên thứ hai có thức trú thứ hai, trong mũi tên thứ ba có thức trú thứ ba, trong mũi tên thứ tư có thức trú thứ tư. Trong thức trú thứ nhất có thiên vị thứ nhất. Trong thức trú thứ hai có thiên vị thứ hai. Trong thức trú thứ ba có thiên vị thứ ba, trong thức trú thứ tư có thiên vị thứ tư.
83. Tattha yo ca kabaḷīkāro āhāro phasso āhāro, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca manosañcetanāhāro yo ca viññāṇāhāro, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso, yo ca ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāso, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca ‘‘anicce nicca’’nti vipallāso, yo ca ‘‘anattani attā’’ti vipallāso, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yañca kāmupādānaṃ yañca bhavupādānaṃ, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yañca diṭṭhupādānaṃ yañca attavādupādānaṃ, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca kāmayogo, yo ca bhavayogo, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca diṭṭhiyogo, yo ca avijjāyogo, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca abhijjhākāyagantho, yo ca byāpādo kāyagantho, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca parāmāsakāyagantho, yo ca idaṃsaccābhinivesakāyagantho, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca kāmāsavo, yo ca bhavāsavo, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca diṭṭhāsavo, yo ca avijjāsavo, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca kāmogho, yo ca bhavogho, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca diṭṭhogho, yo ca avijjogho, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yo ca rāgasallo, yo ca dosasallo, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yo ca mānasallo, yo ca mohasallo, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yā ca rūpūpagā viññāṇaṭṭhiti, yā ca vedanūpagā viññāṇaṭṭhiti, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yā ca saññūpagā viññāṇaṭṭhiti, yā ca saṅkhārūpagā viññāṇaṭṭhiti, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā. Tattha yañca chandā agatigamanaṃ yañca dosā agatigamanaṃ, ime taṇhācaritassa puggalassa upakkilesā. Yañca bhayā agatigamanaṃ, yañca mohā agatigamanaṃ, ime diṭṭhicaritassa puggalassa upakkilesā.
83. Herein, the nutriment of morsel food and the nutriment of contact are corruptions for a person of craving-nature. The nutriment of mental volition and the nutriment of consciousness are corruptions for a person of view-nature. Herein, the distortion of perceiving the unattractive as attractive, and the distortion of perceiving suffering as happiness, are corruptions for a person of craving-nature. The distortion of perceiving the impermanent as permanent, and the distortion of perceiving non-self as self, are corruptions for a person of view-nature. Herein, clinging to sensual pleasures and clinging to existence are corruptions for a person of craving-nature. Clinging to views and clinging to the doctrine of self are corruptions for a person of view-nature. Herein, the yoke of sensual desire and the yoke of existence are corruptions for a person of craving-nature. The yoke of views and the yoke of ignorance are corruptions for a person of view-nature. Herein, the bodily tie of covetousness and the bodily tie of ill will are corruptions for a person of craving-nature. The bodily tie of dogmatic adherence and the bodily tie of insistence on 'this alone is truth' are corruptions for a person of view-nature. Herein, the taint of sensual desire and the taint of existence are corruptions for a person of craving-nature. The taint of views and the taint of ignorance are corruptions for a person of view-nature. Herein, the flood of sensual desire and the flood of existence are corruptions for a person of craving-nature. The flood of views and the flood of ignorance are corruptions for a person of view-nature. Herein, the dart of lust and the dart of hatred are corruptions for a person of craving-nature. The dart of conceit and the dart of delusion are corruptions for a person of view-nature. Herein, the station of consciousness sustained by form and the station of consciousness sustained by feeling are corruptions for a person of craving-nature. The station of consciousness sustained by perception and the station of consciousness sustained by formations are corruptions for a person of view-nature. Herein, the wrong course due to desire and the wrong course due to hatred are corruptions for a person of craving-nature. The wrong course due to fear and the wrong course due to delusion are corruptions for a person of view-nature.
83. Trong đó, đoàn thực và xúc thực, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn ý tư thực và thức thực, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, sự điên đảo 'trong cái bất tịnh là tịnh', và sự điên đảo 'trong cái khổ là lạc', những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn sự điên đảo 'trong cái vô thường là thường', và sự điên đảo 'trong cái vô ngã là ngã', những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, dục thủ và hữu thủ, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn kiến thủ và ngã luận thủ, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, dục ách và hữu ách, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn kiến ách và vô minh ách, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, tham thân hệ và sân thân hệ, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn giới cấm thủ thân hệ và chấp thủ chân lý này thân hệ, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, dục lậu và hữu lậu, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn kiến lậu và vô minh lậu, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, dục bộc và hữu bộc, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn kiến bộc và vô minh bộc, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, mũi tên tham ái và mũi tên sân hận, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn mũi tên ngã mạn và mũi tên si mê, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, thức trú nương vào sắc và thức trú nương vào thọ, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn thức trú nương vào tưởng và thức trú nương vào các hành, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh. Trong đó, đi đến chỗ sai lầm do dục và đi đến chỗ sai lầm do sân, những thứ này là các phiền não của người có ái tánh. Còn đi đến chỗ sai lầm do sợ hãi và đi đến chỗ sai lầm do si mê, những thứ này là các phiền não của người có kiến tánh.
84. Tattha kabaḷīkāre āhāre ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso, phasse āhāre ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāso, viññāṇe āhāre ‘‘anicce nicca’’nti vipallāso, manosañcetanāya āhāre ‘‘anattani attā’’ti vipallāso. Paṭhame vipallāse ṭhito kāme upādiyati, idaṃ vuccati kāmupādānaṃ; dutiye vipallāse ṭhito anāgataṃ bhavaṃ upādiyati, idaṃ vuccati bhavupādānaṃ; tatiye vipallāse ṭhito saṃsārābhinandiniṃ diṭṭhiṃ upādiyati, idaṃ vuccati diṭṭhupādānaṃ; catutthe vipallāse ṭhito attānaṃ kappiyaṃ upādiyati, idaṃ vuccati attavādupādānaṃ.
84. Herein, with regard to the nutriment of morsel food, there is the distortion of the unattractive as attractive; with regard to the nutriment of contact, the distortion of suffering as happiness; with regard to the nutriment of consciousness, the distortion of the impermanent as permanent; with regard to the nutriment of mental volition, the distortion of non-self as self. One who stands in the first distortion clings to sensual pleasures; this is called clinging to sensual pleasures. One who stands in the second distortion clings to future becoming; this is called clinging to becoming. One who stands in the third distortion clings to a view that delights in the round of existence; this is called clinging to views. One who stands in the fourth distortion clings to a self through speculation; this is called clinging to the doctrine of self.
84. Trong đó, ở đoàn thực là sự điên đảo 'trong cái bất tịnh là tịnh', ở xúc thực là sự điên đảo 'trong cái khổ là lạc', ở thức thực là sự điên đảo 'trong cái vô thường là thường', ở ý tư thực là sự điên đảo 'trong cái vô ngã là ngã'. Người đứng vững trong sự điên đảo thứ nhất thì chấp thủ các dục, điều này được gọi là dục thủ; người đứng vững trong sự điên đảo thứ hai thì chấp thủ sự hiện hữu trong tương lai, điều này được gọi là hữu thủ; người đứng vững trong sự điên đảo thứ ba thì chấp thủ tà kiến vui thích trong vòng luân hồi, điều này được gọi là kiến thủ; người đứng vững trong sự điên đảo thứ tư thì chấp thủ cái được tưởng tượng là tự ngã, điều này được gọi là ngã luận thủ.
Kāmupādānena kāmehi saṃyujjati, ayaṃ vuccati kāmayogo; bhavupādānena bhavehi saṃyujjati, ayaṃ vuccati bhavayogo; diṭṭhupādānena pāpikāya diṭṭhiyā saṃyujjati, ayaṃ vuccati diṭṭhiyogo; attavādupādānena avijjāya saṃyujjati, ayaṃ vuccati avijjāyogo.
Through clinging to sensual pleasures, one is bound to sensual pleasures—this is called the yoke of sensual desire. Through clinging to becoming, one is bound to becoming—this is called the yoke of becoming. Through clinging to views, one is bound to evil views—this is called the yoke of views. Through clinging to the doctrine of self, one is bound to ignorance—this is called the yoke of ignorance.
Do dục thủ nên bị trói buộc với các dục, điều này được gọi là dục ách; do hữu thủ nên bị trói buộc với các cõi hữu, điều này được gọi là hữu ách; do kiến thủ nên bị trói buộc với tà kiến, điều này được gọi là kiến ách; do ngã luận thủ nên bị trói buộc với vô minh, điều này được gọi là vô minh ách.
Paṭhame yoge ṭhito abhijjhāya kāyaṃ ganthati, ayaṃ vuccati abhijjhākāyagantho; dutiye yoge ṭhito byāpādena kāyaṃ ganthati, ayaṃ vuccati byāpādakāyagantho; tatiye yoge ṭhito parāmāsena kāyaṃ ganthati, ayaṃ vuccati parāmāsakāyagantho; catutthe yoge ṭhito idaṃsaccābhinivesena kāyaṃ ganthati, ayaṃ vuccati idaṃsaccābhinivesakāyagantho.
One who stands in the first yoke, by covetousness, binds the body; this is called the bodily tie of covetousness. One who stands in the second yoke, by ill will, binds the body; this is called the bodily tie of ill will. One who stands in the third yoke, by dogmatic adherence, binds the body; this is called the bodily tie of dogmatic adherence. One who stands in the fourth yoke, by insistence on 'this alone is truth', binds the body; this is called the bodily tie of insistence on 'this alone is truth'.
Người đứng vững trong ách thứ nhất thì dùng tham ái trói buộc thân, điều này được gọi là tham thân hệ; người đứng vững trong ách thứ hai thì dùng sân hận trói buộc thân, điều này được gọi là sân thân hệ; người đứng vững trong ách thứ ba thì dùng sự chấp thủ sai lầm trói buộc thân, điều này được gọi là giới cấm thủ thân hệ; người đứng vững trong ách thứ tư thì dùng sự cố chấp 'chỉ điều này là sự thật' trói buộc thân, điều này được gọi là chấp thủ chân lý này thân hệ.
Tassa evaṃganthitā kilesā āsavanti. Kuto ca vuccati āsavantīti? Anusayato vā pariyuṭṭhānato vā. Tattha abhijjhākāyaganthena kāmāsavo, byāpādakāyaganthena bhavāsavo, parāmāsakāyaganthena diṭṭhāsavo, idaṃsaccābhinivesakāyaganthena avijjāsavo.
For such a one, the defilements thus bound become outflows. And why are they called outflows? Because of latent tendencies or active manifestations. Herein, through the bodily tie of covetousness, there is the taint of sensual desire; through the bodily tie of ill will, the taint of becoming; through the bodily tie of dogmatic adherence, the taint of views; and through the bodily tie of insistence on 'this alone is truth', the taint of ignorance.
Đối với người ấy, các phiền não bị trói buộc như vậy bèn tuôn chảy ra. Và tại sao được gọi là tuôn chảy? Hoặc là do tùy miên, hoặc là do triền. Trong đó, do tham thân hệ có dục lậu, do sân thân hệ có hữu lậu, do giới cấm thủ thân hệ có kiến lậu, do chấp thủ chân lý này thân hệ có vô minh lậu.
Tassa ime cattāro āsavā vepullaṃ gatā oghā bhavanti. Iti āsavavepullā oghavepullaṃ. Tattha kāmāsavena kāmogho, bhavāsavena bhavogho, diṭṭhāsavena diṭṭhogho, avijjāsavena avijjogho.
For such a one, these four taints, having grown vast, become floods. Thus, from the vastness of taints comes the vastness of floods. Herein, through the taint of sensual desire, there is the flood of sensual desire; through the taint of becoming, the flood of becoming; through the taint of views, the flood of views; and through the taint of ignorance, the flood of ignorance.
Đối với người ấy, bốn lậu hoặc này khi đã phát triển rộng lớn thì trở thành các bộc lưu. Trong đó, do dục lậu có dục bộc, do hữu lậu có hữu bộc, do kiến lậu có kiến bộc, do vô minh lậu có vô minh bộc.
Tassa ime cattāro oghā anusayasahagatā ajjhāsayaṃ anupaviṭṭhā hadayaṃ āhacca tiṭṭhanti, tena vuccanti sallāiti. Tattha kāmoghena rāgasallo, bhavoghena dosasallo, diṭṭhoghena mānasallo, avijjoghena mohasallo.
For such a one, these four floods, accompanied by latent tendencies, having penetrated the underlying disposition and struck the heart, remain there—thus they are called darts. Herein, through the flood of sensual desire, there is the dart of lust; through the flood of becoming, the dart of hatred; through the flood of views, the dart of conceit; and through the flood of ignorance, the dart of delusion.
Đối với người ấy, bốn bộc lưu này đi cùng với tùy miên, đi vào trong tâm tư, đứng lại sau khi đâm vào trái tim, do đó chúng được gọi là các mũi tên. Trong đó, do dục bộc có mũi tên tham ái, do hữu bộc có mũi tên sân hận, do kiến bộc có mũi tên ngã mạn, do vô minh bộc có mũi tên si mê.
Tassa imehi catūhi sallehi pariyādinnaṃ † viññāṇaṃ catūsu dhammesu saṇṭhahati rūpe vedanāya saññāya saṅkhāresu. Tattha rāgasallena nandūpasecanena viññāṇena rūpūpagā viññāṇaṭṭhiti, dosasallena nandūpasecanena viññāṇena vedanūpagā viññāṇaṭṭhiti, mānasallena nandūpasecanena viññāṇena saññūpagā viññāṇaṭṭhiti, mohasallena nandūpasecanena viññāṇena saṅkhārūpagā viññāṇaṭṭhiti.
For such a one, consciousness, seized by these four darts, is established in four things: in form, in feeling, in perception, and in formations. Herein, with the dart of lust, by means of consciousness irrigated by delight, there is a station of consciousness resorting to form; with the dart of hatred, by means of consciousness irrigated by delight, there is a station of consciousness resorting to feeling; with the dart of conceit, by means of consciousness irrigated by delight, there is a station of consciousness resorting to perception; with the dart of delusion, by means of consciousness irrigated by delight, there is a station of consciousness resorting to formations.
Đối với người ấy, thức bị bốn mũi tên này chi phối thì được an trú trong bốn pháp: trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành. Trong đó, do mũi tên tham ái, với thức được tưới tẩm bởi hỷ ái, có thức trú nương vào sắc; do mũi tên sân hận, với thức được tưới tẩm bởi hỷ ái, có thức trú nương vào thọ; do mũi tên ngã mạn, với thức được tưới tẩm bởi hỷ ái, có thức trú nương vào tưởng; do mũi tên si mê, với thức được tưới tẩm bởi hỷ ái, có thức trú nương vào các hành.
Tassa imāhi catūhi viññāṇaṭṭhitīhi upatthaddhaṃ viññāṇaṃ catūhi dhammehi agatiṃ gacchati chandā dosā bhayā mohā. Tattha rāgena chandāgatiṃ gacchati, dosena dosāgatiṃ gacchati, bhayena bhayāgatiṃ gacchati, mohena mohāgatiṃ gacchati. Iti kho tañca kammaṃ ime ca kilesā, esa hetu saṃsārassa, evaṃ sabbe kilesā catūhi vipallāsehi niddisitabbā.
For that person, consciousness, being supported by these four stations of consciousness, goes to a wrong course through four things: desire, hatred, fear, and delusion. Herein, due to lust, one goes the wrong course of desire; due to hatred, one goes the wrong course of hatred; due to fear, one goes the wrong course of fear; and due to delusion, one goes the wrong course of delusion. Thus, both that kamma and these defilements are the cause of saṃsāra. In this way, all defilements should be indicated by the four distortions.
Đối với người ấy, thức được chống đỡ bởi bốn trú xứ của thức này, đi đến thiên vị bởi bốn pháp: do dục, do sân, do sợ hãi, do si. Trong ấy, do tham ái, đi đến thiên vị vì dục; do sân, đi đến thiên vị vì sân; do sợ hãi, đi đến thiên vị vì sợ hãi; do si, đi đến thiên vị vì si. Như vậy, nghiệp ấy và các phiền não này, đó là nhân của luân hồi. Như vậy, tất cả phiền não cần được chỉ ra bởi bốn điên đảo.
85. Tattha imā catasso disā kabaḷīkāro āhāro ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso, kāmupādānaṃ, kāmayogo, abhijjhākāyagantho, kāmāsavo, kāmogho, rāgasallo, rūpūpagā viññāṇaṭṭhiti, chandā agatigamananti paṭhamā disā.
85. Herein, these are the items of the first direction: physical nutriment, the distortion of perceiving the unattractive as attractive, clinging to sensual pleasures, the yoke of sensuality, the bodily tie of covetousness, the taint of sensuality, the flood of sensuality, the dart of lust, the station of consciousness resorting to form, and going to a wrong course through desire.
85. Trong ấy, đây là bốn phương: đoàn thực, điên đảo tưởng “cái bất tịnh là tịnh”, dục thủ, dục ách, tham thân triền, dục lậu, dục bộc, mũi tên tham, thức trú nương vào sắc, và sự thiên vị do dục, là phương thứ nhất.
Phasso āhāro, ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāso, bhavupādānaṃ, bhavayogo, byāpādakāyagantho, bhavāsavo, bhavogho, dosasallo, vedanūpagā viññāṇaṭṭhiti, dosā agatigamananti dutiyā disā.
Contact as nutriment, the distortion of perceiving suffering as pleasure, clinging to becoming, the yoke of becoming, the bodily tie of ill will, the taint of becoming, the flood of becoming, the dart of hatred, the station of consciousness resorting to feeling, and going to a wrong course through hatred—this is the second direction.
Xúc thực, điên đảo tưởng “cái khổ là vui”, hữu thủ, hữu ách, sân thân triền, hữu lậu, hữu bộc, mũi tên sân, thức trú nương vào thọ, và sự thiên vị do sân, là phương thứ hai.
Viññāṇāhāro ‘‘anicce nicca’’nti vipallāso, diṭṭhupādānaṃ, diṭṭhiyogo parāmāsakāyagantho, diṭṭhāsavo, diṭṭhogho, mānasallo, saññūpagā viññāṇaṭṭhiti, bhayā agatigamananti tatiyā disā.
Consciousness as nutriment, the distortion of perceiving the impermanent as permanent, clinging to views, the yoke of views, the bodily tie of adherence to rites and rituals, the taint of views, the flood of views, the dart of conceit, the station of consciousness resorting to perception, and going to a wrong course through fear—this is the third direction.
Thức thực, điên đảo tưởng “cái vô thường là thường”, kiến thủ, kiến ách, giới cấm thủ thân triền, kiến lậu, kiến bộc, mũi tên mạn, thức trú nương vào tưởng, và sự thiên vị do sợ hãi, là phương thứ ba.
Manosañcetanāhāro ‘‘anattani attā’’ti vipallāso, attavādupādānaṃ, avijjāyogo, idaṃsaccābhinivesakāyagantho, avijjāsavo, avijjogho, mohasallo, saṅkhārūpagā viññāṇaṭṭhiti, mohā agatigamananti catutthī disā.
Mental volition as nutriment, the distortion of perceiving not-self as self, clinging to a doctrine of self, the yoke of ignorance, the bodily tie of insistence on 'this alone is truth,' the taint of ignorance, the flood of ignorance, the dart of delusion, the station of consciousness resorting to formations, and going to a wrong course through delusion—this is the fourth direction.
Tư niệm thực, điên đảo tưởng “cái vô ngã là ngã”, ngã luận thủ, vô minh ách, “đây là sự thật” chấp thủ thân triền, vô minh lậu, vô minh bộc, mũi tên si, thức trú nương vào hành, và sự thiên vị do si, là phương thứ tư.
Tattha yo ca kabaḷīkāro āhāro yo ca ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso, kāmupādānaṃ, kāmayogo, abhijjhākāyagantho, kāmāsavo, kāmogho, rāgasallo, rūpūpagā viññāṇaṭṭhiti chandā agatigamananti, imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Ime rāgacaritassa puggalassa upakkilesā.
Herein, physical nutriment, the distortion of perceiving the unattractive as attractive, clinging to sensual pleasures, the yoke of sensuality, the bodily tie of covetousness, the taint of sensuality, the flood of sensuality, the dart of lust, the station of consciousness resorting to form, and going to a wrong course through desire—these ten items share one meaning, differing only in wording. These are the corruptions of a person of lustful character.
Trong ấy, đoàn thực nào, điên đảo tưởng “cái bất tịnh là tịnh” nào, dục thủ, dục ách, tham thân triền, dục lậu, dục bộc, mũi tên tham, thức trú nương vào sắc, và sự thiên vị do dục; mười kinh này có một ý nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Đây là những tùy phiền não của người có tham tánh.
Tattha yo ca phasso āhāro yo ca ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāso, bhavupādānaṃ, bhavayogo, byāpādakāyagantho, bhavāsavo, bhavogho, dosasallo, vedanūpagā viññāṇaṭṭhiti, dosā agatigamananti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho byañjanameva nānaṃ, ime dosacaritassa puggalassa upakkilesā.
Herein, contact as nutriment, the distortion of perceiving suffering as pleasure, clinging to becoming, the yoke of becoming, the bodily tie of ill will, the taint of becoming, the flood of becoming, the dart of hatred, the station of consciousness resorting to feeling, and going to a wrong course through hatred—these ten items share one meaning, differing only in wording. These are the corruptions of a person of hateful temperament.
Trong ấy, xúc thực nào, điên đảo tưởng “cái khổ là vui” nào, hữu thủ, hữu ách, sân thân triền, hữu lậu, hữu bộc, mũi tên sân, thức trú nương vào thọ, và sự thiên vị do sân; mười kinh này có một ý nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Đây là những tùy phiền não của người có sân tánh.
Tattha yo ca viññāṇāhāro yo ca ‘‘anicce nicca’’nti vipallāso, diṭṭhupādānaṃ, diṭṭhiyogo, parāmāsakāyagantho, diṭṭhāsavo, diṭṭhogho, mānasallo, saññūpagā viññāṇaṭṭhiti, bhayā agatigamananti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Ime diṭṭhicaritassa mandassa upakkilesā.
Herein, consciousness as nutriment, the distortion of perceiving the impermanent as permanent, clinging to views, the yoke of views, the bodily tie of adherence to rites and rituals, the taint of views, the flood of views, the dart of conceit, the station of consciousness resorting to perception, and going to a wrong course through fear—these ten items have one meaning, differing only in phrasing. These are the defilements of a dull person of speculative temperament.
Trong ấy, thức thực nào, điên đảo tưởng “cái vô thường là thường” nào, kiến thủ, kiến ách, giới cấm thủ thân triền, kiến lậu, kiến bộc, mũi tên mạn, thức trú nương vào tưởng, và sự thiên vị do sợ hãi; mười kinh này có một ý nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Đây là những tùy phiền não của người có kiến tánh, chậm lụt.
Tattha yo ca manosañcetanāhāro yo ca ‘‘anattani attā’’ti vipallāso, attavādupādānaṃ, avijjāyogo, idaṃsaccābhinivesakāyagantho, avijjāsavo, avijjogho, mohasallo, saṅkhārūpagā viññāṇaṭṭhiti, mohā agatigamananti, imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Ime diṭṭhicaritassa udattassa † upakkilesā.
Herein, mental volition as nutriment, the distortion of perceiving not-self as self, clinging to a doctrine of self, the yoke of ignorance, the bodily tie of insistence on 'this alone is truth,' the taint of ignorance, the flood of ignorance, the dart of delusion, the station of consciousness resorting to formations, and going to a wrong course through delusion—these ten items have one meaning; only the phrasing is different. These are the defilements of an arrogant person of speculative temperament.
Trong ấy, tư niệm thực nào, điên đảo tưởng “cái vô ngã là ngã” nào, ngã luận thủ, vô minh ách, “đây là sự thật” chấp thủ thân triền, vô minh lậu, vô minh bộc, mũi tên si, thức trú nương vào hành, và sự thiên vị do si; mười kinh này có một ý nghĩa, chỉ có văn tự là khác. Đây là những tùy phiền não của người có kiến tánh, trạo cử.
Tattha yo ca kabaḷīkāro āhāro yo ca phasso āhāro, ime appaṇihitena vimokkhamukhena pariññaṃ gacchanti, viññāṇāhāro suññatāya, manosañcetanāhāro animittena, tattha yo ca ‘‘asubhe subha’’nti vipallāso, yo ca ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāso, ime appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ abbhatthaṃ gacchanti. ‘‘Anicce nicca’’nti vipallāso suññatāya, ‘‘anattani attā’’ti vipallāso animittena. Tattha kāmupādānañca bhavupādānañca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti. Diṭṭhupādānaṃ suññatāya, attavādupādānaṃ animittena. Tattha kāmayogo ca bhavayogo ca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, diṭṭhiyogo suññatāya, avijjāyogo animittena. Tattha abhijjhākāyagantho ca byāpādakāyagantho ca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, parāmāsakāyagantho suññatāya, idaṃsaccābhinivesakāyagantho animittena.
Herein, physical nutriment and contact as nutriment are fully understood through the wishless door to liberation; consciousness as nutriment is fully understood through emptiness, and mental volition as nutriment through the signless. Herein, the distortion of perceiving the unattractive as attractive and the distortion of perceiving suffering as happiness are abandoned and come to an end through the wishless door to liberation. The distortion of perceiving the impermanent as permanent is abandoned through emptiness, and the distortion of perceiving not-self as self through the signless. Herein, clinging to sensual pleasures and clinging to becoming are abandoned through the wishless door to liberation. Clinging to views is abandoned through emptiness, and clinging to a doctrine of self through the signless. Herein, the yoke of sensuality and the yoke of becoming are abandoned through the wishless door to liberation; the yoke of views is abandoned through emptiness, and the yoke of ignorance through the signless. Herein, the bodily tie of covetousness and the bodily tie of ill will are abandoned through the wishless door to liberation; the bodily tie of adherence to rites and rituals is abandoned through emptiness, and the bodily tie of insistence on 'this alone is truth' through the signless.
Trong ấy, đoàn thực nào và xúc thực nào, hai thứ này đi đến sự liễu tri bằng vô nguyện giải thoát môn; thức thực (đi đến sự liễu tri) bằng không giải thoát môn, tư niệm thực (đi đến sự liễu tri) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, điên đảo tưởng “cái bất tịnh là tịnh” nào và điên đảo tưởng “cái khổ là vui” nào, hai thứ này đi đến sự đoạn tận, sự chấm dứt bằng vô nguyện giải thoát môn. Điên đảo tưởng “cái vô thường là thường” (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, điên đảo tưởng “cái vô ngã là ngã” (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, dục thủ và hữu thủ đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn. Kiến thủ (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, ngã luận thủ (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, dục ách và hữu ách đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn, kiến ách (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, vô minh ách (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, tham thân triền và sân thân triền đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn, giới cấm thủ thân triền (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, “đây là sự thật” chấp thủ thân triền (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn.
Tattha kāmāsavo ca bhavāsavo ca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, diṭṭhāsavo suññatāya, avijjāsavo animittena. Tattha kāmogho ca bhavogho ca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, diṭṭhogho suññatāya, avijjogho animittena. Tattha rāgasallo ca dosasallo ca appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, mānasallo suññatāya, mohasallo animittena. Tattha rūpūpagā ca viññāṇaṭṭhiti vedanūpagā ca viññāṇaṭṭhiti appaṇihitena vimokkhamukhena pariññaṃ gacchanti, saññūpagā suññatāya, saṅkhārūpagā animittena.
Herein, the taint of sensuality and the taint of becoming are abandoned through the wishless door to liberation, the taint of views through emptiness, and the taint of ignorance through the signless. Herein, the flood of sensuality and the flood of becoming are abandoned through the wishless door to liberation, the flood of views through emptiness, and the flood of ignorance through the signless. Herein, the dart of lust and the dart of hatred are abandoned through the wishless door to liberation, the dart of conceit through emptiness, and the dart of delusion through the signless. Herein, the station of consciousness that resorts to form and the station of consciousness that resorts to feeling are fully understood through the wishless door to liberation; the station of consciousness that resorts to perception is fully understood through emptiness, and the station of consciousness that resorts to formations through the signless.
Trong ấy, dục lậu và hữu lậu đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn, kiến lậu (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, vô minh lậu (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, dục bộc và hữu bộc đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn, kiến bộc (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, vô minh bộc (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, mũi tên tham và mũi tên sân đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn, mũi tên mạn (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn, mũi tên si (đi đến sự đoạn tận) bằng vô tướng giải thoát môn. Trong ấy, thức trú nương vào sắc và thức trú nương vào thọ đi đến sự liễu tri bằng vô nguyện giải thoát môn, (thức trú) nương vào tưởng (đi đến sự liễu tri) bằng không giải thoát môn, (thức trú) nương vào hành (đi đến sự liễu tri) bằng vô tướng giải thoát môn.
Tattha chandā ca agatigamanaṃ dosā ca agatigamanaṃ appaṇihitena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti, bhayā agatigamanaṃ suññatāya, mohā agatigamanaṃ animittena vimokkhamukhena pahānaṃ gacchanti. Iti sabbe lokavaṭṭānusārino dhammā niyyanti. Te lokā tīhi vimokkhamukhehi.
Herein, going to a wrong course through desire and going to a wrong course through hatred are abandoned through the wishless door to liberation; going to a wrong course through fear is abandoned through emptiness, and going to a wrong course through delusion is abandoned through the signless door to liberation. Thus, all phenomena that conform to the worldly round are led out. The escape from those worlds is by means of the three doors to liberation.
Trong ấy, sự thiên vị do dục và sự thiên vị do sân đi đến sự đoạn tận bằng vô nguyện giải thoát môn; sự thiên vị do sợ hãi (đi đến sự đoạn tận) bằng không giải thoát môn; sự thiên vị do si đi đến sự đoạn tận bằng vô tướng giải thoát môn. Như vậy, tất cả các pháp thuận theo vòng luân hồi của thế gian được xuất ly khỏi ba thế gian ấy bằng ba giải thoát môn.
86. Tatridaṃ niyyānaṃ –
86. Herein is the escape—
86. Trong đó, đây là sự xuất ly –
Catasso paṭipadā, cattāro satipaṭṭhānā, cattāri jhānāni, cattāro vihārā, cattāro sammappadhānā, cattāro acchariyā abbhutā dhammā, cattāri adhiṭṭhānāni, catasso samādhibhāvanā, cattāro sukhabhāgiyā dhammā, catasso appamāṇā.
There are four paths, four foundations of mindfulness, four jhānas, four abodes, four right exertions, four wonderful and marvelous phenomena, four determinations, four developments of concentration, four phenomena conducive to happiness, and four immeasurables.
Bốn pháp hành, bốn niệm xứ, bốn thiền, bốn trú, bốn chánh cần, bốn pháp hy hữu vị tằng hữu, bốn sự quyết định, bốn sự tu tập định, bốn pháp thuộc phần an lạc, bốn vô lượng.
Paṭhamā paṭipadā paṭhamaṃ satipaṭṭhānaṃ, dutiyā paṭipadā dutiyaṃ satipaṭṭhānaṃ, tatiyā paṭipadā tatiyaṃ satipaṭṭhānaṃ, catutthī paṭipadā catutthaṃ satipaṭṭhānaṃ. Paṭhamaṃ satipaṭṭhānaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ, dutiyaṃ satipaṭṭhānaṃ dutiyaṃ jhānaṃ, tatiyaṃ satipaṭṭhānaṃ tatiyaṃ jhānaṃ. Catutthaṃ satipaṭṭhānaṃ catutthaṃ jhānaṃ. Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭhamo vihāro, dutiyaṃ jhānaṃ dutiyo vihāro, tatiyaṃ jhānaṃ tatiyo vihāro, catutthaṃ jhānaṃ catuttho vihāro. Paṭhamo vihāro paṭhamaṃ sammappadhānaṃ, dutiyo vihāro dutiyaṃ sammappadhānaṃ, tatiyo vihāro tatiyaṃ sammappadhānaṃ, catuttho vihāro catutthaṃ sammappadhānaṃ. Paṭhamaṃ sammappadhānaṃ paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, dutiyaṃ dutiyo, tatiyaṃ tatiyo, catutthaṃ sammappadhānaṃ catuttho acchariyo abbhuto dhammo. Paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo paṭhamaṃ adhiṭṭhānaṃ, dutiyo acchariyo abbhuto dhammo dutiyaṃ adhiṭṭhānaṃ, tatiyo acchariyo abbhuto dhammo tatiyaṃ adhiṭṭhānaṃ, catuttho acchariyo abbhuto dhammo catutthaṃ adhiṭṭhānaṃ. Paṭhamaṃ adhiṭṭhānaṃ paṭhamā samādhibhāvanā, dutiyaṃ adhiṭṭhānaṃ dutiyā samādhibhāvanā, tatiyaṃ adhiṭṭhānaṃ tatiyā samādhibhāvanā, catutthaṃ adhiṭṭhānaṃ catutthī samādhibhāvanā. Paṭhamā samādhibhāvanā paṭhamo sukhabhāgiyo dhammo, dutiyā samādhibhāvanā dutiyo sukhabhāgiyo dhammo, tatiyā samādhibhāvanā tatiyo sukhabhāgiyo dhammo, catutthī samādhibhāvanā catuttho sukhabhāgiyo dhammo. Paṭhamo sukhabhāgiyo dhammo paṭhamaṃ appamāṇaṃ, dutiyo sukhabhāgiyo dhammo dutiyaṃ appamāṇaṃ, tatiyo sukhabhāgiyo dhammo tatiyaṃ appamāṇaṃ, catuttho sukhabhāgiyo dhammo catutthaṃ appamāṇaṃ. Paṭhamā paṭipadā bhāvitā bahulīkatā † paṭhamaṃ satipaṭṭhānaṃ paripūreti, dutiyā paṭipadā bhāvitā bahulīkatā dutiyaṃ satipaṭṭhānaṃ paripūreti, tatiyā paṭipadā bhāvitā bahulīkatā tatiyaṃ satipaṭṭhānaṃ paripūreti, catutthī paṭipadā bhāvitā bahulīkatā catutthaṃ satipaṭṭhānaṃ paripūreti. Paṭhamo satipaṭṭhāno bhāvito bahulīkato paṭhamaṃ jhānaṃ paripūreti, dutiyo satipaṭṭhāno bhāvito bahulīkato dutiyaṃ jhānaṃ paripūreti, tatiyo satipaṭṭhāno bhāvito bahulīkato tatiyaṃ jhānaṃ paripūreti, catuttho satipaṭṭhāno bhāvito bahulīkato catutthaṃ jhānaṃ paripūreti.
The first practice is the first foundation of mindfulness; the second practice is the second foundation of mindfulness; the third practice is the third foundation of mindfulness; the fourth practice is the fourth foundation of mindfulness. The first foundation of mindfulness is the first jhāna; the second foundation of mindfulness is the second jhāna; the third foundation of mindfulness is the third jhāna; the fourth foundation of mindfulness is the fourth jhāna. The first jhāna is the first abiding; the second jhāna is the second abiding; the third jhāna is the third abiding; the fourth jhāna is the fourth abiding. The first abiding is the first right exertion; the second abiding is the second right exertion; the third abiding is the third right exertion; the fourth abiding is the fourth right exertion. The first right exertion is the first wonderful and marvelous phenomenon; the second is the second; the third is the third; the fourth right exertion is the fourth wonderful and marvelous phenomenon. The first wonderful and marvelous phenomenon is the first determination; the second wonderful and marvelous phenomenon is the second determination; the third wonderful and marvelous phenomenon is the third determination; the fourth wonderful and marvelous phenomenon is the fourth determination. The first determination is the first development of concentration; the second determination is the second development of concentration; the third determination is the third development of concentration; the fourth determination is the fourth development of concentration. The first development of concentration is the first phenomenon conducive to happiness; the second development of concentration is the second phenomenon conducive to happiness; the third development of concentration is the third phenomenon conducive to happiness; the fourth development of concentration is the fourth phenomenon conducive to happiness. The first phenomenon conducive to happiness is the first immeasurable; the second phenomenon conducive to happiness is the second immeasurable; the third phenomenon conducive to happiness is the third immeasurable; the fourth phenomenon conducive to happiness is the fourth immeasurable. When the first practice is developed and frequently practiced, it fulfills the first foundation of mindfulness; when the second practice is developed and frequently practiced, it fulfills the second foundation of mindfulness; when the third practice is developed and frequently practiced, it fulfills the third foundation of mindfulness; when the fourth practice is developed and frequently practiced, it fulfills the fourth foundation of mindfulness. When the first foundation of mindfulness is developed and frequently practiced, it fulfills the first jhāna; when the second foundation of mindfulness is developed and frequently practiced, it fulfills the second jhāna; when the third foundation of mindfulness is developed and frequently practiced, it fulfills the third jhāna; when the fourth foundation of mindfulness is developed and frequently practiced, it fulfills the fourth jhāna.
Pháp hành thứ nhất là niệm xứ thứ nhất, pháp hành thứ hai là niệm xứ thứ hai, pháp hành thứ ba là niệm xứ thứ ba, pháp hành thứ tư là niệm xứ thứ tư. Niệm xứ thứ nhất là thiền thứ nhất, niệm xứ thứ hai là thiền thứ hai, niệm xứ thứ ba là thiền thứ ba, niệm xứ thứ tư là thiền thứ tư. Thiền thứ nhất là trú thứ nhất, thiền thứ hai là trú thứ hai, thiền thứ ba là trú thứ ba, thiền thứ tư là trú thứ tư. Trú thứ nhất là chánh cần thứ nhất, trú thứ hai là chánh cần thứ hai, trú thứ ba là chánh cần thứ ba, trú thứ tư là chánh cần thứ tư. Chánh cần thứ nhất là pháp hy hữu vị tằng hữu thứ nhất, chánh cần thứ hai là pháp hy hữu vị tằng hữu thứ hai, chánh cần thứ ba là pháp hy hữu vị tằng hữu thứ ba, chánh cần thứ tư là pháp hy hữu vị tằng hữu thứ tư. Pháp hy hữu vị tằng hữu thứ nhất là sự quyết định thứ nhất, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ hai là sự quyết định thứ hai, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ ba là sự quyết định thứ ba, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ tư là sự quyết định thứ tư. Sự quyết định thứ nhất là sự tu tập định thứ nhất, sự quyết định thứ hai là sự tu tập định thứ hai, sự quyết định thứ ba là sự tu tập định thứ ba, sự quyết định thứ tư là sự tu tập định thứ tư. Sự tu tập định thứ nhất là pháp thuộc phần an lạc thứ nhất, sự tu tập định thứ hai là pháp thuộc phần an lạc thứ hai, sự tu tập định thứ ba là pháp thuộc phần an lạc thứ ba, sự tu tập định thứ tư là pháp thuộc phần an lạc thứ tư. Pháp thuộc phần an lạc thứ nhất là vô lượng thứ nhất, pháp thuộc phần an lạc thứ hai là vô lượng thứ hai, pháp thuộc phần an lạc thứ ba là vô lượng thứ ba, pháp thuộc phần an lạc thứ tư là vô lượng thứ tư. Pháp hành thứ nhất được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn niệm xứ thứ nhất; pháp hành thứ hai được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn niệm xứ thứ hai; pháp hành thứ ba được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn niệm xứ thứ ba; pháp hành thứ tư được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn niệm xứ thứ tư. Niệm xứ thứ nhất được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn thiền thứ nhất; niệm xứ thứ hai được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn thiền thứ hai; niệm xứ thứ ba được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn thiền thứ ba; niệm xứ thứ tư được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn thiền thứ tư.
Paṭhamaṃ jhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ paṭhamaṃ vihāraṃ paripūreti, dutiyaṃ jhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ dutiyaṃ vihāraṃ paripūreti, tatiyaṃ jhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ tatiyaṃ vihāraṃ paripūreti, catutthaṃ jhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ catutthaṃ vihāraṃ paripūreti. Paṭhamo vihāro bhāvito bahulīkato anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādaṃ paripūreti, dutiyo vihāro bhāvito bahulīkato uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānaṃ paripūreti, tatiyo vihāro bhāvito bahulīkato anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādaṃ paripūreti, catuttho vihāro bhāvito bahulīkato uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiṃ asammosaṃ bhiyyobhāvaṃ paripūreti. Paṭhamaṃ sammappadhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ mānappahānaṃ paripūreti, dutiyaṃ sammappadhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ ālayasamugghātaṃ paripūreti, tatiyaṃ sammappadhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ avijjāpahānaṃ paripūreti, catutthaṃ sammappadhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ bhavūpasamaṃ paripūreti. Mānappahānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ saccādhiṭṭhānaṃ paripūreti, ālayasamugghāto bhāvito bahulīkato cāgādhiṭṭhānaṃ paripūreti, avijjāpahānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ paññādhiṭṭhānaṃ paripūreti, bhavūpasamo bhāvito bahulīkato upasamādhiṭṭhānaṃ paripūreti. Saccādhiṭṭhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ chandasamādhiṃ paripūreti, cāgādhiṭṭhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ vīriyasamādhiṃ paripūreti, paññādhiṭṭhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ cittasamādhiṃ paripūreti, upasamādhiṭṭhānaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ vīmaṃsāsamādhiṃ paripūreti. Chandasamādhi bhāvito bahulīkato indriyasaṃvaraṃ paripūreti, vīriyasamādhi bhāvito bahulīkato tapaṃ paripūreti, cittasamādhi bhāvito bahulīkato buddhiṃ paripūreti, vīmaṃsāsamādhi bhāvito bahulīkato sabbūpadhipaṭinissaggaṃ paripūreti. Indriyasaṃvaro bhāvito bahulīkato mettaṃ paripūreti, tapo bhāvito bahulīkato karuṇaṃ paripūreti, buddhi bhāvitā bahulīkatā muditaṃ paripūreti, sabbūpadhipaṭinissaggo bhāvito bahulīkato upekkhaṃ paripūreti.
When the first jhāna is developed and frequently practiced, it fulfills the first abiding. When the second jhāna is developed and frequently practiced, it fulfills the second abiding. When the third jhāna is developed and frequently practiced, it fulfills the third abiding. When the fourth jhāna is developed and frequently practiced, it fulfills the fourth abiding. When the first abiding is developed and frequently practiced, it fulfills the non-arising of unarisen evil, unwholesome qualities. When the second abiding is developed and frequently practiced, it fulfills the abandoning of arisen evil, unwholesome qualities. When the third abiding is developed and frequently practiced, it fulfills the arising of unarisen wholesome qualities. When the fourth abiding is developed and frequently practiced, it fulfills the stability, non-confusion, and great increase of arisen wholesome qualities. When the first right striving is developed and frequently practiced, it fulfills the abandoning of conceit. When the second right striving is developed and frequently practiced, it fulfills the uprooting of attachments. When the third right striving is developed and frequently practiced, it fulfills the abandoning of ignorance. When the fourth right striving is developed and frequently practiced, it fulfills the pacification of existence. When the abandoning of conceit is developed and frequently practiced, it fulfills the determination of truth. When the uprooting of attachments is developed and frequently practiced, it fulfills the determination of relinquishment. When the abandoning of ignorance is developed and frequently practiced, it fulfills the determination of wisdom. When the pacification of existence is developed and frequently practiced, it fulfills the determination of peace. When the determination of truth is developed and frequently practiced, it fulfills concentration predominated by zeal. When the determination of relinquishment is developed and frequently practiced, it fulfills concentration predominated by energy. When the determination of wisdom is developed and frequently practiced, it fulfills concentration predominated by mind. When the determination of peace is developed and frequently practiced, it fulfills concentration predominated by investigation. When concentration predominated by zeal is developed and frequently practiced, it fulfills restraint of the sense faculties. When concentration predominated by energy is developed and frequently practiced, it fulfills ascetic practice. When concentration predominated by mind is developed and frequently practiced, it fulfills enlightenment. When concentration predominated by investigation is developed and frequently practiced, it fulfills the relinquishment of all substrates. When restraint of the sense faculties is developed and frequently practiced, it fulfills loving-kindness. When ascetic practice is developed and frequently practiced, it fulfills compassion. When enlightenment is developed and frequently practiced, it fulfills altruistic joy. When the relinquishment of all substrates is developed and frequently practiced, it fulfills equanimity.
Sơ thiền được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn trú xứ thứ nhất; nhị thiền được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn trú xứ thứ hai; tam thiền được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn trú xứ thứ ba; tứ thiền được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn trú xứ thứ tư. Trú xứ thứ nhất được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự không sanh khởi của các pháp ác bất thiện chưa sanh; trú xứ thứ hai được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh; trú xứ thứ ba được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự sanh khởi của các pháp thiện chưa sanh; trú xứ thứ tư được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự an trú, không quên lãng, sự tăng trưởng của các pháp thiện đã sanh. Chánh cần thứ nhất được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự đoạn trừ ngã mạn; chánh cần thứ hai được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự nhổ bật lên ái luyến; chánh cần thứ ba được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự đoạn trừ vô minh; chánh cần thứ tư được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự tịch tịnh của hữu. Sự đoạn trừ ngã mạn được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự quyết định về chân lý; sự nhổ bật lên ái luyến được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự quyết định về xả ly; sự đoạn trừ vô minh được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự quyết định về trí tuệ; sự tịch tịnh của hữu được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự quyết định về tịch tịnh. Sự quyết định về chân lý được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn định-do-dục; sự quyết định về xả ly được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn định-do-tinh-tấn; sự quyết định về trí tuệ được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn định-do-tâm; sự quyết định về tịch tịnh được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn định-do-thẩm-sát. Định-do-dục được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự thu thúc các căn; định-do-tinh-tấn được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn khổ hạnh; định-do-tâm được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn giác ngộ; định-do-thẩm-sát được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn sự từ bỏ tất cả các sanh y. Sự thu thúc các căn được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn tâm từ; khổ hạnh được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn tâm bi; giác ngộ được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn tâm hỷ; sự từ bỏ tất cả các sanh y được tu tập, được làm cho sung mãn, làm viên mãn tâm xả.
87. Tattha imā catasso disā paṭhamā paṭipadā paṭhamo satipaṭṭhāno paṭhamaṃ jhānaṃ paṭhamo vihāro paṭhamo sammappadhāno paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saccādhiṭṭhānaṃ chandasamādhi indriyasaṃvaro mettā iti paṭhamā disā.
87. Herein, these four directions are to be understood. The first practice, the first establishment of mindfulness, the first jhāna, the first abiding, the first right striving, the first wonderful and marvelous dhamma, the determination of truth, concentration predominated by zeal, restraint of the faculties, and loving-kindness—this is the first direction.
87. Ở đây, bốn phương này: pháp hành thứ nhất, niệm xứ thứ nhất, sơ thiền, trú xứ thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ nhất, sự quyết định về chân lý, định-do-dục, sự thu thúc các căn, tâm từ. Như vậy, đây là phương thứ nhất.
Dutiyā paṭipadā dutiyo satipaṭṭhāno dutiyo vihāro dutiyo sammappadhāno dutiyo acchariyo abbhuto dhammo bhavādhiṭṭhānaṃ vīriyasamādhi tapo karuṇā iti dutiyā disā.
The second practice, the second establishment of mindfulness, the second jhāna, the second abiding, the second right striving, the second wonderful and marvelous dhamma, the determination of relinquishment, concentration predominated by energy, ascetic practice, and compassion—this is the second direction.
Pháp hành thứ hai, niệm xứ thứ hai, nhị thiền, trú xứ thứ hai, chánh cần thứ hai, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ hai, sự quyết định về xả ly, định-do-tinh-tấn, khổ hạnh, tâm bi. Như vậy, đây là phương thứ hai.
Tatiyā paṭipadā tatiyo satipaṭṭhāno tatiyaṃ jhānaṃ tatiyo vihāro tatiyo sammappadhāno tatiyo acchariyo abbhuto dhammo paññādhiṭṭhānaṃ cittasamādhi buddhi muditā iti tatiyā disā.
The third practice, the third establishment of mindfulness, the third jhāna, the third abiding, the third right striving, the third wonderful and marvelous dhamma, the determination of wisdom, concentration predominated by mind, enlightenment, and altruistic joy—this is the third direction.
Pháp hành thứ ba, niệm xứ thứ ba, tam thiền, trú xứ thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ ba, sự quyết định về trí tuệ, định-do-tâm, giác ngộ, tâm hỷ. Như vậy, đây là phương thứ ba.
Catutthī paṭipadā catuttho satipaṭṭhāno catutthaṃ jhānaṃ catuttho vihāro catuttho sammappadhāno catuttho acchariyo abbhuto dhammo upasamādhiṭṭhānaṃ vīmaṃsāsamādhi sabbūpadhipaṭinissaggo upekkhā iti catutthī disā.
The fourth practice, the fourth establishment of mindfulness, the fourth jhāna, the fourth abiding, the fourth right striving, the fourth wonderful and marvelous dhamma, the determination of peace, concentration predominated by investigation, the relinquishment of all substrates, and equanimity—this is the fourth direction.
Pháp hành thứ tư, niệm xứ thứ tư, tứ thiền, trú xứ thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ tư, sự quyết định về tịch tịnh, định-do-thẩm-sát, sự từ bỏ tất cả các sanh y, tâm xả. Như vậy, đây là phương thứ tư.
Tattha paṭhamā paṭipadā paṭhamo satipaṭṭhāno paṭhamaṃ jhānaṃ paṭhamo vihāro paṭhamo sammappadhāno paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo saccādhiṭṭhānaṃ chandasamādhi indriyasaṃvaro, mettā iti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Idaṃ rāgacaritassa puggalassa bhesajjaṃ.
Herein, for these ten suttas—the first practice, the first establishment of mindfulness, the first jhāna, the first abiding, the first right striving, the first wonderful and marvelous dhamma, the determination of truth, concentration predominated by zeal, restraint of the faculties, and loving-kindness—the meaning is one, only the phrasing is different. This is the remedy for a person of lustful temperament.
Ở đây, pháp hành thứ nhất, niệm xứ thứ nhất, sơ thiền, trú xứ thứ nhất, chánh cần thứ nhất, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ nhất, sự quyết định về chân lý, định-do-dục, sự thu thúc các căn, tâm từ; ý nghĩa của mười kinh này là một, chỉ có văn tự là khác. Đây là phương thuốc cho người có tham tánh.
Dutiyā paṭipadā dutiyo satipaṭṭhāno dutiyaṃ jhānaṃ dutiyo vihāro dutiyo sammappadhāno dutiyo acchariyo abbhuto dhammo cāgādhiṭṭhānaṃ vīriyasamādhi tapo karuṇā iti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Idaṃ dosacaritassa puggalassa bhesajjaṃ.
For these ten suttas—the second practice, the second establishment of mindfulness, the second jhāna, the second abiding, the second right striving, the second wonderful and marvelous dhamma, the determination of relinquishment, concentration predominated by energy, ascetic practice, and compassion—the meaning is one, only the phrasing is different. This is the remedy for a person of hating temperament.
Pháp hành thứ hai, niệm xứ thứ hai, nhị thiền, trú xứ thứ hai, chánh cần thứ hai, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ hai, sự quyết định về xả ly, định-do-tinh-tấn, khổ hạnh, tâm bi; ý nghĩa của mười kinh này là một, chỉ có văn tự là khác. Đây là phương thuốc cho người có sân tánh.
Tatiyā paṭipadā tatiyo satipaṭṭhāno tatiyaṃ jhānaṃ tatiyo vihāro tatiyo sammappadhāno tatiyo acchariyo abbhuto dhammo paññādhiṭṭhānaṃ cittasamādhi buddhi muditā iti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Idaṃ diṭṭhicaritassa mandassa bhesajjaṃ.
For these ten suttas—the third practice, the third establishment of mindfulness, the third jhāna, the third abiding, the third right striving, the third wonderful and marvelous dhamma, the determination of wisdom, concentration predominated by mind, enlightenment, and altruistic joy—the meaning is one, only the phrasing is different. This is the remedy for a dull person of speculative temperament.
Pháp hành thứ ba, niệm xứ thứ ba, tam thiền, trú xứ thứ ba, chánh cần thứ ba, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ ba, sự quyết định về trí tuệ, định-do-tâm, giác ngộ, tâm hỷ; ý nghĩa của mười kinh này là một, chỉ có văn tự là khác. Đây là phương thuốc cho người si độn có tà kiến tánh.
Catutthī paṭipadā catuttho satipaṭṭhāno catutthaṃ jhānaṃ catuttho vihāro catuttho sammappadhāno catuttho acchariyo abbhuto dhammo upasamādhiṭṭhānaṃ vīmaṃsāsamādhi sabbūpadhipaṭinissaggo upekkhā iti imesaṃ dasannaṃ suttānaṃ eko attho, byañjanameva nānaṃ. Idaṃ diṭṭhicaritassa udattassa bhesajjaṃ.
For these ten suttas—the fourth practice, the fourth establishment of mindfulness, the fourth jhāna, the fourth abiding, the fourth right striving, the fourth wonderful and marvelous dhamma, the determination of peace, concentration predominated by investigation, the relinquishment of all substrates, and equanimity—the meaning is one, only the phrasing is different. This is the remedy for an agitated person of speculative temperament.
Pháp hành thứ tư, niệm xứ thứ tư, tứ thiền, trú xứ thứ tư, chánh cần thứ tư, pháp hy hữu vị tằng hữu thứ tư, sự quyết định về tịch tịnh, định-do-thẩm-sát, sự từ bỏ tất cả các sanh y, tâm xả; ý nghĩa của mười kinh này là một, chỉ có văn tự là khác. Đây là phương thuốc cho người trạo cử có tà kiến tánh.
Tattha dukkhā ca paṭipadā dandhābhiññā dukkhā ca paṭipadā khippābhiññā appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, sukhā paṭipadā dandhābhiññā suññataṃ vimokkhamukhaṃ, sukhā paṭipadā khippābhiññā animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, painful practice with slow direct knowledge and painful practice with quick direct knowledge are the desireless entrance to deliverance; pleasant practice with slow direct knowledge is the emptiness entrance to deliverance; pleasant practice with quick direct knowledge is the signless entrance to deliverance.
Ở đây, pháp hành khổ và thắng trí chậm, và pháp hành khổ và thắng trí nhanh là vô nguyện giải thoát môn; pháp hành lạc và thắng trí chậm là không giải thoát môn; pháp hành lạc và thắng trí nhanh là vô tướng giải thoát môn.
Tattha kāye kāyānupassitā satipaṭṭhānañca vedanāsu vedanānupassitā satipaṭṭhānañca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, citte cittānupassitā suññataṃ vimokkhamukhaṃ. Dhammesu dhammānupassitā animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the establishment of mindfulness as contemplation of the body in the body, and the establishment of mindfulness as contemplation of feelings in feelings, are the desireless entrance to deliverance; the establishment of mindfulness as contemplation of the mind in the mind is the emptiness entrance to deliverance; the establishment of mindfulness as contemplation of dhammas in dhammas is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, niệm xứ quán thân nơi thân và niệm xứ quán thọ nơi các cảm thọ là vô nguyện giải thoát môn, (niệm xứ) quán tâm nơi tâm là không giải thoát môn, (niệm xứ) quán pháp nơi các pháp là vô tướng giải thoát môn.
Tattha paṭhamañca jhānaṃ dutiyañca jhānaṃ appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, tatiyaṃ jhānaṃ suññataṃ vimokkhamukhaṃ, catutthaṃ jhānaṃ animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the first jhāna and the second jhāna are the desireless entrance to deliverance; the third jhāna is the emptiness entrance to deliverance; the fourth jhāna is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, sơ thiền và nhị thiền là vô nguyện giải thoát môn, tam thiền là không giải thoát môn, tứ thiền là vô tướng giải thoát môn.
Tattha paṭhamo ca vihāro dutiyo ca vihāro appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, tatiyo vihāro suññataṃ vimokkhamukhaṃ, catuttho vihāro animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the first abiding and the second abiding are the desireless entrance to deliverance; the third abiding is the emptiness entrance to deliverance; the fourth abiding is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, trú thứ nhất và trú thứ hai là vô nguyện giải thoát môn, trú thứ ba là không giải thoát môn, trú thứ tư là vô tướng giải thoát môn.
Yattha paṭhamañca sammappadhānaṃ dutiyañca sammappadhānaṃ appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, tatiyaṃ sammappadhānaṃ suññataṃ vimokkhamukhaṃ, catutthaṃ sammappadhānaṃ animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the first right striving and the second right striving are the desireless entrance to deliverance; the third right striving is the emptiness entrance to deliverance; the fourth right striving is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, chánh cần thứ nhất và chánh cần thứ hai là vô nguyện giải thoát môn, chánh cần thứ ba là không giải thoát môn, chánh cần thứ tư là vô tướng giải thoát môn.
Tattha mānappahānañca ālayasamugghāto ca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, avijjāpahānaṃ suññataṃ vimokkhamukhaṃ, bhavūpasamo animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the abandoning of conceit and the uprooting of attachments are the desireless entrance to deliverance; the abandoning of ignorance is the emptiness entrance to deliverance; the stilling of becoming is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, sự đoạn trừ ngã mạn và sự nhổ bật ái luyến là vô nguyện giải thoát môn, sự đoạn trừ vô minh là không giải thoát môn, sự tịch tịnh của hữu là vô tướng giải thoát môn.
Tattha saccādhiṭṭhānañca cāgādhiṭṭhānañca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, paññādhiṭṭhānaṃ suññataṃ vimokkhamukhaṃ, upasamādhiṭṭhānaṃ animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, the determination of truth and the determination of relinquishment are the desireless entrance to deliverance; the determination of wisdom is the emptiness entrance to deliverance; the determination of serenity is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, sự quyết định về chân lý và sự quyết định về xả ly là vô nguyện giải thoát môn, sự quyết định về trí tuệ là không giải thoát môn, sự quyết định về tịch tịnh là vô tướng giải thoát môn.
Tattha chandasamādhi ca vīriyasamādhi ca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, cittasamādhi suññataṃ vimokkhamukhaṃ, vīmaṃsāsamādhi animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, concentration based on zeal and concentration based on energy are the desireless entrance to deliverance; concentration based on mind is the emptiness entrance to deliverance; concentration based on investigation is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, dục định và tấn định là vô nguyện giải thoát môn, tâm định là không giải thoát môn, thẩm định là vô tướng giải thoát môn.
Tattha indriyasaṃvaro ca tapo ca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, buddhi suññataṃ vimokkhamukhaṃ sabbūpadhipaṭinissaggo animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, restraint of the faculties and ascetic practice are the desireless entrance to deliverance; the development of the enlightenment factors is the emptiness entrance to deliverance; the relinquishment of all substrates is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, sự phòng hộ các căn và sự khổ hạnh là vô nguyện giải thoát môn, sự giác ngộ là không giải thoát môn, sự từ bỏ tất cả sanh y là vô tướng giải thoát môn.
Tattha mettā ca karuṇā ca appaṇihitaṃ vimokkhamukhaṃ, muditā suññataṃ vimokkhamukhaṃ upekkhā animittaṃ vimokkhamukhaṃ.
Herein, loving-kindness and compassion are the desireless entrance to deliverance; sympathetic joy is the emptiness entrance to deliverance; equanimity is the signless entrance to deliverance.
Trong ấy, tâm từ và tâm bi là vô nguyện giải thoát môn, tâm hỷ là không giải thoát môn, tâm xả là vô tướng giải thoát môn.
Tesaṃ vikkīḷitaṃ. Cattāro āhārā tesaṃ paṭipakkho catasso paṭipadā…pe… cattāro vipallāsā tesaṃ paṭipakkho cattāro satipaṭṭhānā. Cattāri upādānāni tesaṃ paṭipakkho cattāri jhānāni. Cattāro yogā tesaṃ paṭipakkho cattāro vihārā. Cattāro ganthā tesaṃ paṭipakkho cattāro sammappadhānā. Cattāro āsavā tesaṃ paṭipakkho cattāro acchariyā abbhutā dhammā. Cattāro oghā tesaṃ paṭipakkho cattāri adhiṭṭhānāni. Cattāro sallā tesaṃ paṭipakkho catasso samādhibhāvanā. Catasso viññāṇaṭṭhitiyo tāsaṃ paṭipakkho cattāro sukhabhāgiyā dhammā. Cattāri agatigamanāni tesaṃ paṭipakkho catasso appamāṇā.
This is their sporting. The four nutriments—their counterpart, the four practices… the four perversions—their counterpart, the four foundations of mindfulness. The four clingings—their counterpart, the four jhānas. The four yokes—their counterpart, the four abidings. The four knots—their counterpart, the four right strivings. The four cankers—their counterpart, the four wonderful and marvelous phenomena. The four floods—their counterpart, the four determinations. The four darts—their counterpart, the four developments of concentration. The four stations of consciousness—their counterpart, the four states partaking of happiness. The four wrong courses—their counterpart, the four immeasurables.
Sự du hí của các ngài. Bốn món ăn, đối nghịch của chúng là bốn con đường thực hành; bốn tưởng điên đảo, đối nghịch của chúng là bốn niệm xứ; bốn thủ, đối nghịch của chúng là bốn thiền; bốn ách, đối nghịch của chúng là bốn trú; bốn triền phược, đối nghịch của chúng là bốn chánh cần; bốn lậu hoặc, đối nghịch của chúng là bốn pháp hy hữu vị tằng hữu; bốn bộc lưu, đối nghịch của chúng là bốn sự quyết định; bốn mũi tên, đối nghịch của chúng là bốn sự tu tập định; bốn thức trú, đối nghịch của chúng là bốn pháp thuộc phần an lạc; bốn sự đi đến không nên đi, đối nghịch của chúng là bốn vô lượng tâm.
Sīhā buddhā paccekabuddhā sāvakā ca hatarāgadosamohā, tesaṃ vikkīḷitaṃ bhāvanā sacchikiriyā byantīkiriyā ca. Vikkīḷitaṃ indriyādhiṭṭhānaṃ vikkīḷitaṃ vipariyāsānadhiṭṭhānañca. Indriyāni saddhammagocaro vipariyāsā kilesagocaro. Ayaṃ vuccati sīhavikkīḷitassa ca nayassa disālocanassa ca nayassa bhūmīti. Tenāha ‘‘yo neti vipallāsehi saṃkilese’’ti. Veyyākaraṇesu hi ye ‘‘kusalākusalā’’ti ca.
The Buddhas, Paccekabuddhas, and disciples who have destroyed lust, hatred, and delusion have become lions. Their sporting is development, realization, and the bringing about of cessation. Sporting is the establishment of the faculties, and sporting is the non-arising and abandoning of perversions. The faculties have the good Dhamma as their resort; the perversions have the defilements as their resort. This is called the ground for the method of the lion's sport and for the method of surveying the directions. Therefore it is said: 'Who leads with perversions, defiles,' and also, 'For in the explanations, those who are wholesome and unwholesome.'
Các vị Phật, các vị Độc Giác Phật, và các vị Thinh Văn là những con sư tử đã diệt trừ tham, sân, si. Sự du hí của các ngài là sự tu tập, sự chứng ngộ, và sự chấm dứt. Sự du hí là sự quyết định về các căn, sự du hí cũng là sự quyết định về việc đoạn trừ các tưởng điên đảo. Các căn có hành cảnh là diệu pháp, các tưởng điên đảo có hành cảnh là phiền não. Điều này được gọi là nền tảng của phương pháp sư tử du hí và của phương pháp quán sát các phương hướng. Do đó, Ngài đã nói: 'Vị nào dẫn dắt bởi các tưởng điên đảo, bởi các phiền não,' và trong các bài ký thuyết: 'Những pháp nào là thiện, bất thiện.'
Tattha ye dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti, ime dve puggalā; ye sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti, ime dve puggalā. Tesaṃ catunnaṃ puggalānaṃ ayaṃ saṃkileso, cattāro āhārā, cattāro vipallāsā, cattāri upādānāni, cattāro yogā, cattāro ganthā, cattāro āsavā, cattāro oghā, cattāro sallā, catasso viññāṇaṭṭhitiyo, cattāri agatigamanānīti. Tesaṃ catunnaṃ puggalānaṃ idaṃ vodānaṃ, catasso paṭipadā, cattāro satipaṭṭhānā, cattāri jhānāni, cattāro vihārā, cattāro sammappadhānā, cattāro acchariyā abbhutā dhammā, cattāri adhiṭṭhānāni, catasso samādhibhāvanā, cattāro sukhabhāgiyā dhammā, catasso appamāṇā iti.
Among them, those who are liberated by the painful practice with slow direct knowledge and by the painful practice with quick direct knowledge—these are two persons. Those who are liberated by the pleasant practice with slow direct knowledge and by the pleasant practice with quick direct knowledge—these are two persons. For these four persons, this is defilement: the four nutriments, the four perversions, the four clingings, the four yokes, the four knots, the four cankers, the four floods, the four darts, the four stations of consciousness, and the four wrong courses. For these four persons, this is purification: the four practices, the four foundations of mindfulness, the four jhānas, the four abidings, the four right strivings, the four wonderful and marvelous phenomena, the four determinations, the four developments of concentration, the four states partaking of happiness, and the four immeasurables.
Trong ấy, những vị xuất ly bằng con đường thực hành khổ và bằng thắng trí chậm hoặc thắng trí nhanh, đây là hai hạng người; những vị xuất ly bằng con đường thực hành lạc và bằng thắng trí chậm hoặc thắng trí nhanh, đây là hai hạng người. Đây là phần nhiễm ô của bốn hạng người ấy: bốn món ăn, bốn tưởng điên đảo, bốn thủ, bốn ách, bốn triền phược, bốn lậu hoặc, bốn bộc lưu, bốn mũi tên, bốn thức trú, bốn sự đi đến không nên đi. Đây là phần thanh tịnh của bốn hạng người ấy: bốn con đường thực hành, bốn niệm xứ, bốn thiền, bốn trú, bốn chánh cần, bốn pháp hy hữu vị tằng hữu, bốn sự quyết định, bốn sự tu tập định, bốn pháp thuộc phần an lạc, bốn vô lượng tâm.
88. Tattha ye dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti ime dve puggalā. Ye sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti, ime dve puggalā. Tattha yo sukhāya paṭipadāya khippābhiññāya niyyāti, ayaṃ ugghaṭitaññū. Yo sādhāraṇāya, ayaṃ vipañcitaññū. Yo dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya niyyāti, ayaṃ neyyo.
88. Among them, those who are liberated by the painful practice with slow direct knowledge and by the painful practice with quick direct knowledge—these are two persons. Those who are liberated by the pleasant practice with slow direct knowledge and by the pleasant practice with quick direct knowledge—these are two persons. Among them, one who is liberated by the pleasant practice with quick direct knowledge is a person of quick understanding. One who is liberated by the common practice is a person of extensive understanding. One who is liberated by the painful practice with slow direct knowledge is a person who needs to be led.
88. Trong ấy, những vị xuất ly bằng con đường thực hành khổ và bằng thắng trí chậm hoặc thắng trí nhanh, đây là hai hạng người. Những vị xuất ly bằng con đường thực hành lạc và bằng thắng trí chậm hoặc thắng trí nhanh, đây là hai hạng người. Trong ấy, vị nào xuất ly bằng con đường thực hành lạc và thắng trí nhanh, vị này là hạng người thông hiểu nhanh. Vị nào (xuất ly) bằng (con đường) thông thường, vị này là hạng người thông hiểu rộng. Vị nào xuất ly bằng con đường thực hành khổ và thắng trí chậm, vị này là hạng người cần được dẫn dắt.
Tattha bhagavā ugghaṭitaññussa puggalassa samathaṃ upadisati, neyyassa vipassanaṃ, samathavipassanaṃ vipañcitaññussa. Tattha bhagavā ugghaṭitaññussa puggalassa mudukaṃ dhammadesanaṃ upadisati, tikkhaṃ neyyassa, mudutikkhaṃ vipañcitaññussa, tattha bhagavā ugghaṭitaññussa puggalassa saṃkhittena dhammaṃ desayati, saṃkhittavitthārena vipañcitaññussa, vitthārena neyyassa. Tattha bhagavā ugghaṭitaññussa puggalassa nissaraṇaṃ upadisati, vipañcitaññussa ādīnavañca nissaraṇañca upadisati, neyyassa assādañca ādīnavañca nissaraṇañca upadisati. Tattha bhagavā ugghaṭitaññussa adhipaññāsikkhaṃ paññāpayati, adhicittaṃ vipañcitaññussa, adhisīlaṃ neyyassa.
Among them, the Blessed One teaches serenity to the person of quick understanding, insight to the one who needs to be led, and serenity and insight to the person of extensive understanding. Among them, the Blessed One gives a gentle Dhamma teaching to the person of quick understanding, a keen one to the person who needs to be led, and a gentle and keen one to the person of extensive understanding. Among them, the Blessed One teaches the Dhamma briefly to the person of quick understanding, in brief and in detail to the person of extensive understanding, and in detail to the one who needs to be led. Among them, the Blessed One points out the escape to the person of quick understanding, the danger and the escape to the person of extensive understanding, and the gratification, the danger, and the escape to the one who needs to be led. Among them, the Blessed One prescribes the training in higher wisdom for the person of quick understanding, the training in higher mind for the person of extensive understanding, and the training in higher virtue for the one who needs to be led.
Ở đây, đối với hạng người Ugghaṭitaññū, Đức Thế Tôn chỉ dạy về thiền chỉ; đối với hạng người Neyya, (Ngài chỉ dạy) về thiền quán; đối với hạng người Vipañcitaññū, (Ngài chỉ dạy) về thiền chỉ và thiền quán. Ở đây, đối với hạng người Ugghaṭitaññū, Đức Thế Tôn chỉ dạy pháp thoại mềm dịu; đối với hạng người Neyya, (Ngài chỉ dạy pháp thoại) sắc bén; đối với hạng người Vipañcitaññū, (Ngài chỉ dạy pháp thoại) vừa mềm dịu vừa sắc bén. Ở đây, đối với hạng người Ugghaṭitaññū, Đức Thế Tôn thuyết pháp một cách tóm tắt; đối với hạng người Vipañcitaññū, (Ngài thuyết pháp) vừa tóm tắt vừa chi tiết; đối với hạng người Neyya, (Ngài thuyết pháp) một cách chi tiết. Ở đây, đối với hạng người Ugghaṭitaññū, Đức Thế Tôn chỉ dạy về sự xuất ly; đối với hạng người Vipañcitaññū, Ngài chỉ dạy về cả sự nguy hại và sự xuất ly; đối với hạng người Neyya, Ngài chỉ dạy về cả vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Ở đây, đối với hạng người Ugghaṭitaññū, Đức Thế Tôn chế định tăng thượng tuệ học; đối với hạng người Vipañcitaññū, (Ngài chế định) tăng thượng tâm học; đối với hạng người Neyya, (Ngài chế định) tăng thượng giới học.
Tattha ye dukkhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti, ime dve puggalā. Ye sukhāya paṭipadāya dandhābhiññāya khippābhiññāya ca niyyanti. Ime dve puggalā. Iti kho cattāri hutvā tīṇi bhavanti ugghaṭitaññū vipañcitaññū neyyoti.
Among them, those who are liberated by the painful practice with slow direct knowledge and with quick direct knowledge—these are two persons. Those who are liberated by the pleasant practice with slow direct knowledge and with quick direct knowledge—these are two persons. Thus indeed, having been four, they become three: the person of quick understanding, the person of extensive understanding, and the person who needs to be led.
Ở đây, những vị xuất ly bằng khổ hành đạo với thắng trí chậm chạp và (với) thắng trí nhanh chóng, đây là hai hạng người. Những vị xuất ly bằng lạc hành đạo với thắng trí chậm chạp và (với) thắng trí nhanh chóng, đây là hai hạng người. Như vậy, sau khi là bốn (hạng người), trở thành ba hạng người là: Ugghaṭitaññū, Vipañcitaññū, và Neyya.
Tesaṃ tiṇṇaṃ puggalānaṃ ayaṃ saṃkileso, tīṇi akusalamūlāni lobho akusalamūlaṃ doso akusalamūlaṃ moho akusalamūlaṃ, tīṇi duccaritāni – kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ; tayo akusalavitakkā – kāmavitakko byāpādavitakko vihiṃsāvitakko; tisso akusalasaññā – kāmasaññā byāpādasaññā vihiṃsāsaññā; tisso viparītasaññā – niccasaññā sukhasaññā attasaññā; tisso vedanā – sukhā vedanā dukkhā vedanā adukkhamasukhā vedanā; tisso dukkhatā – dukkhadukkhatā saṅkhāradukkhatā vipariṇāmadukkhatā; tayo aggī – rāgaggi dosaggi mohaggi; tayo sallā – rāgasallo dosasallo mohasallo; tisso jaṭā – rāgajaṭā dosajaṭā mohajaṭā; tisso akusalūpaparikkhā – akusalaṃ kāyakammaṃ akusalaṃ vacīkammaṃ akusalaṃ manokammaṃ. Tisso vipattiyo – sīlavipatti diṭṭhivipatti ācāravipattīti. Tesaṃ tiṇṇaṃ puggalānaṃ idaṃ vodānaṃ. Tīṇi kusalamūlāni – alobho kusalamūlaṃ adoso kusalamūlaṃ amoho kusalamūlaṃ. Tīṇi sucaritāni – kāyasucaritaṃ vacīsucaritaṃ manosucaritaṃ. Tayo kusalavitakkā – nekkhammavitakko abyāpādavitakko avihiṃsāvitakko. Tayo samādhī – savitakko savicāro samādhi avitakko vicāramatto samādhi avitakko avicāro samādhi. Tisso kusalasaññā – nekkhammasaññā abyāpādasaññā avihiṃsāsaññā. Tisso aviparītasaññā – aniccasaññā dukkhasaññā anattasaññā. Tisso kusalūpaparikkhā – kusalaṃ kāyakammaṃ kusalaṃ vacīkammaṃ kusalaṃ manokammaṃ. Tīṇi soceyyāni – kāyasoceyyaṃ vacīsoceyyaṃ manosoceyyaṃ; tisso sampattiyo – sīlasampatti samādhisampatti paññāsampatti. Tisso sikkhā – adhisīlasikkhā adhicittasikkhā adhipaññāsikkhā; tayo khandhā – sīlakkhandho samādhikkhandho paññākkhandho. Tīṇi vimokkhamukhāni – suññataṃ animittaṃ appaṇihitanti.
For these three persons, this is the defilement: the three unwholesome roots—greed is an unwholesome root, hatred is an unwholesome root, delusion is an unwholesome root; the three kinds of misconduct—bodily misconduct, verbal misconduct, mental misconduct; the three unwholesome thoughts—thoughts of sensual pleasure, thoughts of ill will, thoughts of harm; the three unwholesome perceptions—the perception of sensual pleasure, the perception of ill will, the perception of harm; the three distorted perceptions—the perception of permanence, the perception of pleasure, the perception of self; the three feelings—pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling; the three kinds of suffering—suffering as suffering, suffering due to formations, suffering due to change; the three fires—the fire of greed, the fire of hatred, the fire of delusion; the three darts—the dart of greed, the dart of hatred, the dart of delusion; the three tangles—the tangle of greed, the tangle of hatred, the tangle of delusion; the three unwholesome accompaniments—unwholesome bodily action, unwholesome verbal action, unwholesome mental action; the three failures—failure in virtue, failure in view, failure in conduct. For these three persons, this is the purification: the three wholesome roots—non-greed is a wholesome root, non-hatred is a wholesome root, non-delusion is a wholesome root; the three kinds of good conduct—good bodily conduct, good verbal conduct, good mental conduct; the three wholesome thoughts—thoughts of renunciation, thoughts of non-ill-will, thoughts of non-harm; the three concentrations—concentration with applied thought and sustained thought, concentration without applied thought but with only sustained thought, concentration without applied thought and without sustained thought; the three wholesome perceptions—the perception of renunciation, the perception of non-ill-will, the perception of non-harm; the three undistorted perceptions—the perception of impermanence, the perception of suffering, the perception of non-self; the three wholesome accompaniments—wholesome bodily action, wholesome verbal action, wholesome mental action; the three kinds of purity—purity of body, purity of speech, purity of mind; the three accomplishments—accomplishment in virtue, accomplishment in concentration, accomplishment in wisdom; the three trainings—the training in higher virtue, the training in higher mind, the training in higher wisdom; the three aggregates—the aggregate of virtue, the aggregate of concentration, the aggregate of wisdom; the three gateways to liberation—emptiness, the signless, and the desireless.
Đây là sự ô nhiễm của ba hạng người ấy: ba căn bất thiện là căn bất thiện tham, căn bất thiện sân, căn bất thiện si; ba ác hạnh là thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh; ba tầm bất thiện là dục tầm, sân tầm, hại tầm; ba tưởng bất thiện là dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; ba tưởng điên đảo là thường tưởng, lạc tưởng, ngã tưởng; ba thọ là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; ba khổ tánh là khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh; ba ngọn lửa là lửa tham, lửa sân, lửa si; ba mũi tên là mũi tên tham, mũi tên sân, mũi tên si; ba sự rối rắm là sự rối rắm do tham, sự rối rắm do sân, sự rối rắm do si; ba sự tùy hành bất thiện là thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, ý nghiệp bất thiện; ba sự hư hỏng là giới hư hỏng, kiến hư hỏng, tư cách hư hỏng. Đây là sự thanh tịnh của ba hạng người ấy: ba căn thiện là căn thiện vô tham, căn thiện vô sân, căn thiện vô si; ba thiện hạnh là thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh; ba tầm thiện là xuất ly tầm, vô sân tầm, vô hại tầm; ba định là định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ; ba tưởng thiện là xuất ly tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng; ba tưởng không điên đảo là vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng; ba sự tùy hành thiện là thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, ý nghiệp thiện; ba sự trong sạch là thân trong sạch, khẩu trong sạch, ý trong sạch; ba sự toàn hảo là giới toàn hảo, định toàn hảo, tuệ toàn hảo; ba học là tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học; ba uẩn là giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn; ba cửa giải thoát là không, vô tướng, vô nguyện.
Iti kho cattāri hutvā tīṇi bhavanti, tīṇi hutvā dve bhavanti taṇhācarito ca diṭṭhicarito ca.
Thus, the four become three, and the three become two: the person whose conduct is governed by craving and the person whose conduct is governed by views.
Như vậy, sau khi là bốn (hạng người), trở thành ba; sau khi là ba, trở thành hai là: người có ái hành và người có kiến hành.
Tesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ ayaṃ saṃkileso, taṇhā ca avijjā ca ahirikañca anottappañca assati ca asampajaññañca ayoniso manasikāro ca kosajjañca dovacassañca ahaṃkāro ca mamaṃkāro ca assaddhā ca pamādo ca asaddhammassavanañca asaṃvaro ca abhijjhā ca byāpādo ca nīvaraṇañca saṃyojanañca kodho ca upanāho ca makkho ca palāso ca issā ca maccherañca māyā ca sāṭheyyañca sassatadiṭṭhi ca ucchedadiṭṭhicāti.
For these two persons, this is the defilement: craving and ignorance, shamelessness and lack of moral dread, lack of mindfulness and lack of clear comprehension, unwise attention and sloth, being difficult to advise, I-making and my-making, lack of faith and heedlessness, not listening to the good Dhamma and non-restraint, covetousness and ill will, the hindrances and the fetters, anger and resentment, denigration and spite, envy and stinginess, deceit and treachery, the view of eternalism and the view of annihilationism.
Đây là sự ô nhiễm của hai hạng người ấy: ái và vô minh, vô tàm và vô úy, thất niệm và bất tri, không như lý tác ý và lười biếng, khó nói và ngã mạn, chấp ngã và không có đức tin, phóng dật và không nghe diệu pháp, không phòng hộ và tham lam, sân hận và triền cái, kiết sử và phẫn nộ, oán hận và gièm pha, tự cao và ganh tỵ, bỏn xẻn và xảo trá, gian manh và thường kiến, đoạn kiến.
Tesaṃ dvinnaṃ puggalānaṃ idaṃ vodānaṃ, samatho ca vipassanā ca hirī ca ottappañca sati ca sampajaññañca yoniso manasikāro ca vīriyārambho ca sovacassañca dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca khaye ñāṇañca anuppāde ñāṇañca saddhā ca appamādo ca saddhammassavanañca saṃvaro ca anabhijjhā ca abyāpādo ca rāgavirāgā ca cetovimutti avijjāvirāgā ca paññāvimutti abhisamayo ca appicchatā ca santuṭṭhi ca akkodho ca anupanāho ca amakkho ca apalāso ca issāpahānañca macchariyappahānañca vijjā ca vimutti ca saṅkhatārammaṇo ca vimokkho asaṅkhatārammaṇo ca vimokkho saupādisesā ca nibbānadhātu anupādisesā ca nibbānadhātūti.
For these two persons, this is the purification: serenity and insight, conscience and fear of wrongdoing, mindfulness and clear comprehension, wise attention, the arousing of energy, being easy to admonish, knowledge of the teaching, knowledge of inference, knowledge of destruction, knowledge of non-arising, faith, heedfulness, listening to the good Dhamma, restraint, non-covetousness, non-ill-will, the liberation of mind through the fading away of lust and the liberation by wisdom through the fading away of ignorance, breakthrough, fewness of wishes, contentment, non-anger, non-resentment, non-denigration, non-spite, the abandoning of envy, the abandoning of stinginess, true knowledge and liberation, liberation with a conditioned object, the Nibbāna element with residue remaining, and the Nibbāna element without residue remaining.
Đây là sự thanh tịnh của hai hạng người ấy: thiền chỉ và thiền quán, tàm và úy, niệm và tỉnh giác, như lý tác ý và tinh cần, dễ nói và trí về pháp, trí về tùy pháp, trí về sự đoạn tận, trí về sự không sanh, đức tin và không phóng dật, nghe diệu pháp và phòng hộ, không tham lam và không sân hận, tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh, sự chứng ngộ và ít ham muốn, tri túc và không phẫn nộ, không oán hận và không gièm pha, không tự cao và đoạn trừ ganh tỵ, đoạn trừ bỏn xẻn, minh và giải thoát, giải thoát có đối tượng là pháp hữu vi, giải thoát có đối tượng là pháp vô vi, hữu dư y Niết-bàn giới và vô dư y Niết-bàn giới.
Ayaṃ vuccati tipukkhalassa ca nayassa aṅkusassa ca nayassa bhūmīti. Tenāha ‘‘yo akusale samūlehi netī’’ti ‘‘oloketvā disalocanenā’’ti ca.
This is called the ground for the method of the three persons and for the method of the goad. Therefore it was said: 'who guides by what is unwholesome with its roots' and 'having looked with the eye of insight.'
Đây được gọi là nền tảng của phương pháp ba hạng người và phương pháp cái móc. Do đó, Ngài đã nói: 'Vị nào dẫn dắt bằng các căn bất thiện' và 'sau khi nhìn bằng con mắt phương hướng'.
The Exposition on the Arising of Methods is concluded.
Phần Nayasamuṭṭhāna (Sự Phát Sanh Của Các Phương Pháp) đã hoàn tất.