Bản dịch
NE 2 — Phần Tóm Lược
2. Uddesavāra
Ở đấy, mười sáu cách truyền đạt là những gì? Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng, tướng trạng, bốn sự dàn trận, sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, từ đồng nghĩa, sự mô tả, sự liệt kê, sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, sự xếp loại.
Kệ tóm lược của phần ấy:
1. Sự chỉ bảo, sự tìm hiểu, sự kết nối, nền tảng và tướng trạng, bốn sự dàn trận và sự xoay vần, sự phân tích, sự đảo ngược, –
2. – từ đồng nghĩa và sự mô tả, sự liệt kê và sự làm rõ, sự xác định, sự thiết yếu, và sự xếp loại là mười sáu (cách truyền đạt).
3. Mười sáu cách truyền đạt được giảng giải này là không bị lẫn lộn về ý nghĩa; và chúng còn có sự phân tích theo phương pháp một cách chi tiết.”
Ở đấy, năm phương pháp là những gì? Sự xoay vần với sự hoan hỷ, ba trình tự, sự tiêu khiển của các sư tử, việc định hướng, cái móc câu.
Kệ tóm lược của phần ấy:
4. Sự xoay vần với sự hoan hỷ là (phương pháp) thứ nhất, ba trình tự là thứ nhì, phương pháp và cách bày tỏ có tên ‘sự tiêu khiển của các sư tử’ là thứ ba.
5. Họ đã nói về việc định hướng –phương pháp thứ tư– là tốt nhất, (phương pháp) thứ năm có tên là cái móc câu; tất cả năm phương pháp đã được đề cập.”
Ở đấy, mười tám thuật ngữ căn bản là những gì? Chín thuật ngữ về thiện, chín thuật ngữ về bất thiện.
Ở đấy, chín thuật ngữ về bất thiện là những gì? “Tham ái, vô minh, tham, sân, si, tịnh tưởng, lạc tưởng, thường tưởng, ngã tưởng,” đây là chín thuật ngữ về bất thiện; toàn bộ phần bất thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ vào chín thuật ngữ này.
Ở đấy, chín thuật ngữ về thiện là những gì? “Chỉ tịnh, minh sát, vô tham, vô sân, vô si, bất tịnh tưởng, khổ não tưởng, vô thường tưởng, vô ngã tưởng,” đây là chín thuật ngữ về thiện; toàn bộ phần thiện đi đến sự tổng hợp, sự hội tụ vào chín thuật ngữ này.
Đây là tóm lược của phần ấy:
6. Tham ái và luôn cả vô minh, tham, sân, và tương tự như thế là si, và bốn điều trái khuấy; chín thuật ngữ (này) là phạm vi của ô nhiễm.
7. Chỉ tịnh và minh sát, và ba gốc rễ thuộc về thiện, thêm bốn sự thiết lập niệm; chín thuật ngữ (này) là phạm vi của các quyền.
8. Các pháp thiện với chín thuật ngữ và các phần bất thiện với chín (thuật ngữ) được kết nối, chúng là các thuật ngữ căn bản. Có mười tám thuật ngữ (căn bản).
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Tattha katame soḷasa hārā? Desanā vicayo yutti padaṭṭhāno lakkhaṇo catubyūho āvaṭṭo vibhatti parivattano vevacano paññatti otaraṇo sodhano adhiṭṭhāno parikkhāro samāropano iti.
1. Herein, what are the sixteen guides? They are: Exposition, Investigation, Reasoning, Proximate Cause, Characteristic, Fourfold Array, Turning, Distinction, Conversion, Synonym, Designation, Entry, Purification, Foundation, Requisite, and Ascription.
1. Trong ấy, mười sáu phương thức dẫn giải là những gì? Là: Thuyết giảng, Thẩm sát, Lý luận, Căn cứ, Đặc tính, Tứ phân, Chuyển vận, Phân tích, Chuyển đổi, Đồng nghĩa, Chế định, Thâm nhập, Thanh lọc, Quyết định, Trợ duyên, và Thiết lập.
Tassānugīti
Its Recitation in Verse:
Kệ Tụng Lại
Desanā vicayo yutti, padaṭṭhāno ca lakkhaṇo;
Catubyūho ca āvaṭṭo, vibhatti parivattano.
Exposition, Investigation, Reasoning, Proximate Cause, and Characteristic; Fourfold Array, Turning, Distinction, and Conversion.
Thuyết giảng, Thẩm sát, Lý luận, Căn cứ và Đặc tính; Tứ phân và Chuyển vận, Phân tích, Chuyển đổi.
Vevacano ca paññatti, otaraṇo ca sodhano;
Adhiṭṭhāno parikkhāro, samāropano soḷaso †.
Synonym and Designation, Entry and Purification; Foundation, Requisite, and Ascription—these are the sixteen.
Đồng nghĩa và Chế định, Thâm nhập và Thanh lọc; Quyết định, Trợ duyên, Thiết lập là thứ mười sáu.
Ete soḷasa hārā, pakittitā atthato asaṃkiṇṇā;
Etesañceva bhavati, vitthāratayā nayavibhattīti.
These sixteen guides have been declared, unmixed as to their meaning; and of them, there is a detailed analysis of the methods.
Mười sáu phương thức dẫn giải này đã được tuyên thuyết, không hỗn tạp về mặt ý nghĩa; và sự phân tích các phương pháp của chúng được thực hiện một cách chi tiết.
2. Tattha katame pañca nayā? Nandiyāvaṭṭo tipukkhalo sīhavikkīḷito disālocano aṅkuso iti.
2. Herein, what are the five methods? They are: Nandiyāvaṭṭa (Joyful Turning), Tipukkhala (Triple Flower), Sīhavikkīḷita (Lion's Sport), Disālocana (Survey of Directions), and Aṅkusa (the Hook).
2. Trong ấy, năm phương pháp là những gì? Là: Hữu triền, Tam liên, Sư tử hí, Biến quán, và Câu tỏa.
Tassānugīti
Its Recitation in Verse:
Kệ Tụng Lại
Paṭhamo nandiyāvaṭṭo, dutiyo ca tipukkhalo;
Sīhavikkīḷito nāma, tatiyo nayalañjako †.
The first is the Nandiyāvaṭṭa, and the second is the Tipukkhala; the third, which marks the method, is named Sīhavikkīḷita.
Thứ nhất là Hữu triền, và thứ hai là Tam liên; thứ ba, phương pháp dẫn dắt, tên là Sư tử hí.
Disālocanamāhaṃsu, catutthaṃ nayamuttamaṃ;
Pañcamo aṅkuso nāma, sabbe pañca nayā gatāti.
They have called the fourth, the supreme method, Disālocana. The fifth is named Aṅkusa. Thus all five methods are known.
Họ gọi phương pháp cao thượng thứ tư là Biến quán; thứ năm tên là Câu tỏa, tất cả năm phương pháp đã được biết.
3. Tattha katamāni aṭṭhārasa mūlapadāni? Nava padāni kusalāni nava padāni akusalāni. Tattha katamāni nava padāni akusalāni, taṇhā avijjā lobho doso moho subhasaññā sukhasaññā niccasaññā attasaññāti, imāni nava padāni akusalāni, yattha sabbo akusalapakkho saṅgahaṃ samosaraṇaṃ gacchati.
3. Herein, what are the eighteen root terms? Nine terms are wholesome and nine terms are unwholesome. Herein, what are the nine unwholesome terms? Craving, ignorance, greed, aversion, delusion, perception of beauty, perception of pleasure, perception of permanence, and perception of self—these are the nine unwholesome terms, wherein the entire unwholesome side finds its inclusion and convergence.
3. Trong ấy, mười tám căn bản cú là những gì? Chín cú thiện và chín cú bất thiện. Trong ấy, chín cú bất thiện là những gì? Ái, vô minh, tham, sân, si, tịnh tưởng, lạc tưởng, thường tưởng, và ngã tưởng. Đây là chín cú bất thiện, nơi mà toàn bộ phe bất thiện được bao gồm và quy tụ.
Tattha katamāni nava padāni kusalāni? Samatho vipassanā alobho adoso amoho asubhasaññā dukkhasaññā aniccasaññā anattasaññāti, imāni nava padāni kusalāni, yattha sabbo kusalapakkho saṅgahaṃ samosaraṇaṃ gacchati.
Herein, what are the nine wholesome terms? Tranquillity, insight, non-greed, non-aversion, non-delusion, perception of foulness, perception of suffering, perception of impermanence, and perception of non-self—these are the nine wholesome terms, wherein the entire wholesome side finds its inclusion and convergence.
Trong ấy, chín cú thiện là những gì? Chỉ, quán, vô tham, vô sân, vô si, bất tịnh tưởng, khổ tưởng, vô thường tưởng, và vô ngã tưởng. Đây là chín cú thiện, nơi mà toàn bộ phe thiện được bao gồm và quy tụ.
Tatridaṃ uddānaṃ
Herein, this is the summary verse:
Đây là kệ tóm tắt về điều ấy.
Taṇhā ca avijjāpi ca, lobho doso tatheva moho ca;
Caturo ca vipallāsā, kilesabhūmī nava padāni.
Craving and ignorance, greed, aversion, and delusion as well, and the four perversions—these nine terms are the grounds of defilement.
Ái và cả vô minh, tham, sân, và cả si cũng vậy; và bốn điên đảo tưởng, (tổng cộng) chín cú này là địa hạt của phiền não.
Samatho ca vipassanā ca, kusalāni ca yāni tīṇi mūlāni;
Caturo satipaṭṭhānā, indriyabhūmī nava padāni.
Tranquillity and insight, and the three wholesome roots, the four foundations of mindfulness—these nine terms are the grounds of the faculties.
Chỉ và quán, và ba căn thiện; bốn niệm xứ, (tổng cộng) chín cú này là địa hạt của các quyền.
Navahi ca padehi kusalā, navahi ca yujjanti akusalapakkhā;
Ete kho mūlapadā, bhavanti aṭṭhārasa padānīti.
The wholesome side is connected with nine terms, and the unwholesome side with nine. These eighteen terms are indeed the root terms.
Các pháp thiện được liên kết với chín cú, và phe bất thiện (cũng được liên kết) với chín cú. Mười tám cú này thật sự là các căn bản cú.