Bản dịch
NE 25 — Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận
Catubyūhahārasampāta
Ở đấy, sự phối hợp cách truyền đạt bằng bốn sự dàn trận là sự việc nào? Kệ ngôn là: “Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ, có chánh tư duy là hành xứ, ...” ‘Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ’: ‘Được phòng hộ nghĩa là được bảo hộ hoàn toàn,’ điều ấy là ngôn ngữ. Ở đây, ý định của đức Thế Tôn là gì? ‘Những người nào sẽ có ước muốn thoát khỏi các khổ cảnh, những người ấy sẽ là những người hành Pháp.’ Ở đây, điều này là ý định của đức Thế Tôn.
Bởi vì Kokālika, sau khi khởi tâm xấu xa đối với hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna, đã bị sanh vào đại địa ngục Paduma. Và đức Thế Tôn đã thành tựu tâm có sự bảo vệ bởi niệm. Điều đã được nói ở Kinh là: “Tâm nên được phòng hộ bởi niệm.” Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Bốn Sự Dàn Trận được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
68. Tattha katamo catubyūho hārasampāto.
68. Among these, what is the Application of the Fourfold Array Method?
68. Trong ấy, thế nào là phần tương ứng về bốn phương diện?
‘‘Tasmā rakkhitacittassa, sammāsaṅkappagocaro’’ti gāthā. ‘‘Tasmā rakkhitacittassā’’ti rakkhitaṃ paripālīyatīti esā nirutti. Idha bhagavato ko adhippāyo? Ye duggatīhi parimuccitukāmā bhavissanti, te dhammacārino bhavissantīti ayaṃ ettha bhagavato adhippāyo. Kokāliko hi sāriputtamoggallānesu theresu cittaṃ padosayitvā mahāpadumaniraye upapanno. Bhagavā ca satiārakkhena cetasā samannāgato, suttamhi vuttaṃ ‘‘satiyā cittaṃ rakkhitabba’’nti.
The verse is: 'Therefore, for one whose mind is guarded, whose domain is right thought.' Regarding 'Therefore, for one whose mind is guarded,' the linguistic analysis is: 'it is guarded, it is protected.' Here, what is the Blessed One's intention? 'Those who wish to be freed from woeful states will become practitioners of the Dhamma'—this is the Blessed One's intention here. For Kokālika, having corrupted his mind against the elders Sāriputta and Moggallāna, was reborn in the Mahāpaduma Hell. And the Blessed One is endowed with a mind having mindfulness as its guard; as it is said in a sutta: 'The mind should be guarded by mindfulness.'
Câu kệ: “Do đó, người có tâm được hộ trì, có chánh tư duy là hành xứ”. “Do đó, người có tâm được hộ trì” (rakkhitacittassa), được hộ trì (rakkhitaṃ), được bảo vệ (paripālīyati), đây là ngữ nguyên. Ở đây, chủ ý của đức Thế Tôn là gì? “Những ai sẽ muốn giải thoát khỏi các đọa xứ, họ sẽ là những người thực hành Pháp”, đây là chủ ý của đức Thế Tôn ở đây. Quả vậy, Tỳ khưu Kokālika do làm tổn hại tâm đối với các trưởng lão Sāriputta và Moggallāna đã sanh vào địa ngục Mahāpaduma. Và đức Thế Tôn đã thành tựu tâm có niệm làm sự phòng hộ, trong kinh đã được nói rằng: “Tâm cần được hộ trì bằng niệm”.
Niyutto catubyūho hārasampāto.
The Application of the Fourfold Array Method is set forth.
Phần tương ứng về bốn phương diện đã được trình bày.