Bản dịch
NE 21 — Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu
Vicayahārasampāta
Ở đấy, sự phối hợp cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là sự việc nào? Ở đấy, tham ái có hai loại: tốt và không tốt. Không tốt đưa đến luân hồi, tốt đưa đến giảm thiểu, là tham ái về việc dứt bỏ. Ngã mạn cũng có hai loại: tốt và không tốt. Nương vào ngã mạn nào mà dứt bỏ ngã mạn, ngã mạn này là tốt. Trái lại, ngã mạn nào sanh ra khổ, ngã mạn này là không tốt.
Ở đấy, nỗi ưu phiền dựa vào việc xuất ly là: “Khi nào ta sẽ chứng ngộ và đạt đến xứ ấy, rồi an trú, là xứ an tịnh mà các bậc Thánh đã chứng ngộ và đạt đến, rồi an trú?” Như thế sự mong cầu sanh khởi đến vị ấy; do duyên mong cầu, ưu phiền (sanh khởi); tham ái này là tốt, (bởi vì) có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái; (tham ái) với điều ấy làm đối tượng là tốt, (bởi vì) có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.
Việc ấy (sự giải thoát của tuệ) có cái gì là sự nghiên cứu? Tám chi phần của Đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Điều ấy có thể được thấy ở đâu? Ở trạng thái toàn hảo ở tứ thiền. Bởi vì ở tứ thiền, tâm được hội đủ tám chi phần: hoàn toàn trong sạch, tinh khiết, không bợn nhơ, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc. Ở đấy, vị ấy chứng đắc tám pháp: sáu thắng trí và hai pháp đặc biệt. Tâm ấy, khi được hoàn toàn trong sạch, từ đó được tinh khiết; khi được tinh khiết, từ đó không bợn nhơ; khi không bợn nhơ, từ đó lìa khỏi phiền não; khi lìa khỏi phiền não, từ đó được nhu thuận; khi được nhu thuận, từ đó có thể sử dụng; khi có thể sử dụng, từ đó được ổn định; khi được ổn định, từ đó đạt đến trạng thái vững chắc. Ở đấy, bợn nhơ và cận phiền não (pháp làm ô nhiễm), cả hai cái ấy là thuộc phe tham ái, sự xao động và sự không ổn định của tâm là thuộc phe tà kiến.
Bốn quyền: khổ quyền, ưu quyền, lạc quyền, hỷ quyền được diệt tận ở tứ thiền. Xả quyền là phần còn lại của vị ấy.
Vị ấy tác ý sự chứng đạt cao nhất là an tịnh. Trong khi vị ấy tác ý sự chứng đạt cao nhất là an tịnh thì tưởng thô thiển ở tứ thiền dừng lại, và bất bình tưởng bị chán ngán. Do sự vượt qua hẳn các sắc tưởng một cách trọn vẹn, do sự biến mất của bất bình tưởng, do sự không tác ý đến dị biệt tưởng, vị ấy (tác ý rằng:) ‘Hư không là vô biên,’ chứng ngộ và đạt đến sự chứng đạt không vô biên xứ, rồi an trú. Hoài bão về thắng trí là sắc tưởng, sự khác nhau (ở các đối tượng khác nhau) là dị biệt tưởng, vị này vượt qua hẳn (các pháp ấy), và bất bình tưởng đi đến sự biến mất đối với vị này. Khi vị ấy được định như vậy, ánh sáng và việc nhìn thấy các sắc của vị ấy biến mất. Định hội đủ sáu chi phần ấy nên được quán xét lại: Ý của ta về toàn bộ thế gian là không đồng hành với tham đắm, tâm của ta là không sân hận đối với tất cả chúng sanh, sự nỗ lực tinh tấn của ta đã được ra sức, thân của ta được an tịnh không bị kích động,― ―tâm của ta được định tĩnh không bị tán loạn, niệm của ta được thiết lập không bị lơ đễnh. Ở đấy, ý về toàn bộ thế gian không đồng hành với tham đắm, tâm không sân hận đối với tất cả chúng sanh, sự nỗ lực tinh tấn đã được ra sức, tâm được định tĩnh không bị tán loạn, điều này là chỉ tịnh; thân được an tịnh không bị kích động là sự thiết yếu của định; niệm được thiết lập không bị lơ đễnh là minh sát.
Định ấy nên được biết theo năm cách: ‘Định này là có lạc hiện tại,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là có quả báo lạc ở vị lai,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là thánh thiện, không liên hệ vật chất,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là được thực hành không dành cho kẻ tầm thường,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là an tịnh, cao quý, đạt được sự tịch tịnh, đạt đến trạng thái chuyên nhất, và không có phận sự ngăn chặn (ô nhiễm) sau khi đã chế ngự pháp tạo tác,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. Hơn nữa, ‘Có niệm ta thể nhập định này, có niệm ta xuất ra khỏi nó,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. Ở đấy, định có lạc hiện tại và định có quả báo lạc ở vị lai là chỉ tịnh; định thánh thiện, không liên hệ vật chất, định được thực hành không dành cho kẻ tầm thường, định an tịnh, cao quý, đạt được sự tịch tịnh, đạt đến trạng thái chuyên nhất, và không có phận sự ngăn chặn (ô nhiễm) sau khi đã chế ngự pháp tạo tác; hơn nữa việc ‘có niệm ta thể nhập định này, có niệm ta xuất ra khỏi nó’ là minh sát.
Định ấy nên được biết theo năm cách: Trạng thái lan tỏa của hỷ, trạng thái lan tỏa của lạc, trạng thái lan tỏa của tâm, trạng thái lan tỏa của ánh sáng, hiện tướng quán xét lại. Ở đấy, sự lan tỏa của hỷ, sự lan tỏa của lạc, sự lan tỏa của tâm là chỉ tịnh; sự lan tỏa của ánh sáng và hiện tướng quán xét lại là minh sát.
Mười lãnh vực của đề mục: đề mục đất, đề mục nước, đề mục lửa, đề mục gió, đề mục xanh, đề mục vàng, đề mục đỏ, đề mục trắng, đề mục hư không, đề mục thức. Ở đấy, đề mục đất, đề mục nước, (toàn bộ là tương tự như vậy) và đề mục trắng, tám đề mục này là chỉ tịnh; đề mục hư không và đề mục thức là minh sát. Như vậy, toàn bộ Thánh Đạo đã được nói đến theo mỗi một cách thức nào thì nên được kết nối với chỉ tịnh hoặc minh sát theo mỗi một cách thức ấy. Chúng được tổng hợp theo ba pháp: theo tính chất vô thường, theo tính chất khổ não, theo tính chất vô ngã. Vị ấy, trong khi tu tập chỉ tịnh và minh sát, thì tu tập ba lối vào giải thoát, trong khi tu tập ba lối vào giải thoát thì tu tập ba uẩn (giới, định, tuệ), trong khi tu tập ba uẩn thì tu tập Thánh Đạo tám chi phần.
Người có tánh luyến ái đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát vô tướng trong khi học tập với sự học tập về thắng tâm, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — tham, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ lạc, trong khi biết rõ thọ lạc, trong khi tẩy sạch vết nhơ luyến ái, trong khi rũ bỏ bụi bặm luyến ái, trong khi ói ra chất độc luyến ái, trong khi dập tắt ngọn lửa luyến ái, trong khi nhổ lên mũi tên luyến ái, trong khi gỡ rời cục rối luyến ái.
Người có tánh sân hận đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát vô nguyện trong khi học tập với sự học tập về thắng giới, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — sân, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ khổ, trong khi biết rõ thọ khổ, trong khi tẩy sạch vết nhơ sân hận, trong khi rũ bỏ bụi bặm sân hận, trong khi ói ra chất độc sân hận, trong khi dập tắt ngọn lửa sân hận, trong khi nhổ lên mũi tên sân hận, trong khi gỡ rời cục rối sân hận.
Người có tánh si mê đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát không tánh trong khi học tập với sự học tập về thắng tuệ, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — si, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ không khổ không lạc, trong khi biết rõ thọ không khổ không lạc, trong khi tẩy sạch vết nhơ si mê, trong khi rũ bỏ bụi bặm si mê, trong khi ói ra chất độc si mê, trong khi dập tắt ngọn lửa si mê, trong khi nhổ lên mũi tên si mê, trong khi gỡ rời cục rối si mê.
Ở đấy, lối vào giải thoát không tánh là tuệ uẩn, lối vào giải thoát vô tướng là định uẩn, lối vào giải thoát vô nguyện là giới uẩn. Vị ấy, trong khi tu tập ba lối vào giải thoát thì tu tập ba uẩn; trong khi tu tập ba uẩn thì tu tập Thánh Đạo tám chi phần. Ở đấy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là giới uẩn; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định là định uẩn, chánh kiến, chánh tư duy là tuệ uẩn. Ở đấy, giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát.
Vị nào tu tập chỉ tịnh và minh sát, đối với vị ấy hai chi phần của hữu đi đến sự tu tập: thân và tâm. Lối thực hành đưa đến sự diệt tận hữu là hai nền tảng: giới và định. Vị ấy là vị tỳ khưu có thân đã được tu tập, có giới đã được tu tập, có tâm đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập. Trong khi thân đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh nghiệp và chánh tinh tấn; trong khi giới đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh ngữ và chánh mạng; trong khi tâm đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh niệm và chánh định; trong khi tuệ đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh kiến và chánh tư duy.
Ở đấy, chánh nghiệp và chánh tinh tấn có thể liên quan đến thân, có thể liên quan đến tâm. Ở đấy, khi thân được tu tập thì phần gắn liền với thân đi đến sự tu tập; khi tâm được tu tập thì phần gắn liền với tâm đi đến sự tu tập. Vị ấy, trong khi tu tập chỉ tịnh và minh sát, chứng đắc năm loại chứng đắc: Là sự chứng đắc mau chóng, là sự chứng đắc về giải thoát, là sự chứng đắc vĩ đại, là sự chứng đắc rộng lớn, là sự chứng đắc không còn dư sót. Ở đấy, thông qua chỉ tịnh là sự chứng đắc mau chóng, sự chứng đắc vĩ đại, và sự chứng đắc rộng lớn, thông qua minh sát là sự chứng đắc về giải thoát và sự chứng đắc không còn dư sót. Ở đấy, vị chỉ bảo là đấng Đạo Sư đã thành tựu mười lực; Ngài không lừa gạt các đệ tử bằng lời giáo huấn. Ngài (chỉ bảo) theo ba cách: Các ngươi hãy làm điều này, các ngươi hãy làm theo cách này, trong khi các ngươi làm điều này sẽ đưa đến sự tấn hóa, sự an lạc (cho các ngươi). “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi làm như thế, trong khi thực hành như thế, sẽ không đạt được phạm vi ấy,” sự kiện này không được biết đến. “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi không làm đầy đủ giới uẩn, sẽ đạt đến phạm vi ấy; sự kiện này không được biết đến. “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi làm đầy đủ giới uẩn, sẽ đạt đến phạm vi ấy,” sự kiện này được biết đến. “Trong khi Ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, các pháp này không được Ngài giác ngộ,” sự kiện này không được biết đến. “Trong khi Ngài có sự cạn kiệt hoàn toàn tất cả các lậu hoặc, các lậu hoặc này của Ngài chưa được cạn kiệt hoàn toàn,” sự kiện này không được biết đến. “Pháp được Ngài chỉ bảo vì lợi ích của người nào đó, pháp ấy không dẫn dắt đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau cho người thực hành điều ấy,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, vị đệ tử của Ngài đã thực hành đúng pháp và thuận pháp, đã thực hành đúng đắn, có sự thực hành thuận pháp, vị ấy sẽ không chứng ngộ sự chứng đắc đặc biệt, cao cả, khác với trước đây,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào là tạo ra chướng ngại, chúng không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người đeo đuổi chúng,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào không dẫn dắt ra khỏi, chúng dẫn dắt người thực hành điều ấy đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào dẫn dắt ra khỏi, chúng dẫn dắt người thực hành điều ấy đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau,” sự kiện này được biết đến. “Hơn nữa, vị đệ tử của Ngài, với thân ngũ uẩn còn sót lại, sẽ đạt đến Niết Bàn giới không còn dư sót,” sự kiện này không được biết đến. “Vị thành tựu kiến (Nhập Lưu) có thể đoạt lấy mạng sống người mẹ, có thể thực hiện việc hành hạ đến chết bằng các cánh tay hoặc bằng các bàn chân,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể đoạt lấy mạng sống, có thể thực hiện việc hành hạ người mẹ đến chết bằng các cánh tay hoặc bằng các bàn chân,” sự kiện này được biết đến. Tương tự như vậy, … người cha ... vị tỳ khưu A-la-hán ... “Vị thành tựu kiến có thể chia rẽ hội chúng hoặc có thể tạo ra sự bất đồng trong hội chúng ở nơi hội chúng,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể chia rẽ hội chúng hoặc có thể tạo ra sự bất đồng trong hội chúng ở nơi hội chúng,” sự kiện này được biết đến.
“Vị thành tựu kiến có tâm xấu xa đối với đức Như Lai có thể làm đổ máu Ngài, hoặc có tâm xấu xa đối với đức Như Lai đã viên tịch Niết Bàn có thể phá hủy bảo tháp của Ngài,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có tâm xấu xa đối với đức Như Lai có thể làm đổ máu Ngài, hoặc có tâm xấu xa đối với đức Như Lai đã viên tịch Niết Bàn có thể phá hủy bảo tháp của Ngài,” sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể thừa nhận vị đạo sư khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể thừa nhận vị đạo sư khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống; sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể tầm cầu đối tượng xứng đáng cúng dường khác bên ngoài giáo pháp,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm phu có thể tầm cầu đối tượng xứng đáng cúng dường khác bên ngoài giáo pháp,” sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể tin rằng sự trong sạch là do điềm báo hiệu tốt xấu,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm phu có thể tin rằng sự trong sạch là do điềm báo hiệu tốt xấu,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Chuyển Luân Vương,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Chuyển Luân Vương,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Thiên Chủ Sakka,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Thiên Chủ Sakka,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Ma Vương ác xấu,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Ma Vương ác xấu,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là vị Đại Phạm Thiên,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là vị Đại Phạm Thiên,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là đức Như Lai, A- la-hán, Chánh Biến Tri,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri,” sự kiện này được biết đến. “Hai đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri có thể đồng thời sanh lên hoặc chỉ bảo Giáo Pháp ở một thế giới,” sự kiện này không được biết đến. “Chỉ có một đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri sẽ sanh lên hoặc chỉ bảo Giáo Pháp ở một thế giới,” sự kiện này được biết đến. “Ba uế hạnh sẽ có quả thành tựu đáng mong, đáng muốn, đáng yêu, đáng mến,” sự kiện này không được biết đến. “Ba uế hạnh sẽ có quả thành tựu không đáng mong, không đáng muốn, không đáng yêu, không đáng mến,” sự kiện này được biết đến. “Ba thiện hạnh sẽ có quả thành tựu không đáng mong, không đáng muốn, không đáng yêu, không đáng mến,” sự kiện này không được biết đến. “Ba thiện hạnh sẽ có quả thành tựu đáng mong, đáng muốn, đáng yêu, đáng mến,” sự kiện này được biết đến. “Một vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó là kẻ gạt gẫm, nói câu lợi, gợi ý, xem trọng các việc gạt gẫm, nói câu lợi, và gợi ý, chưa dứt bỏ năm pháp che lấp là pháp làm ô nhiễm tâm và làm yếu sức mạnh của tuệ, trong khi sống có niệm không được thiết lập ở bốn sự thiết lập niệm, không làm phát triển bảy chi phần đưa đến giác ngộ, (là vị) sẽ giác ngộ quả Toàn Giác vô thượng,” sự kiện này không được biết đến. “Một vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó đã xa lìa tất cả tật xấu, đã dứt bỏ năm pháp che lấp là pháp làm ô nhiễm tâm và làm yếu sức mạnh của tuệ, trong khi sống có niệm được thiết lập ở bốn sự thiết lập niệm, làm phát triển bảy chi phần đưa đến giác ngộ, (là vị) sẽ giác ngộ quả Toàn Giác vô thượng,” sự kiện này được biết đến. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về sự kiện và không có sự kiện; đây là Như Lai lực thứ nhất. (1) Tất cả các pháp hoại, các pháp diệt, các pháp lìa tham ái, các pháp diệt tận đều đi đến trạng thái có sự kiện hoặc không có sự kiện; một số người đi đến cõi Trời, một số người đi đến đọa xứ, một số người đi đến Niết Bàn. Đức Thế Tôn đã nói như vầy:
1. “Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác.
2. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục, những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh, còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
‘Tất cả chúng sanh’: là các Thánh nhân và không phải Thánh nhân, những người còn phụ thuộc vào hiện thân và những vị đã vượt qua khỏi hiện thân. ‘Sẽ chết’: bởi hai cái chết: bởi cái chết chậm chạp và bởi cái chết không chậm chạp. Cái chết không chậm chạp dành cho những người còn phụ thuộc vào hiện thân và cái chết chậm chạp dành cho các vị đã vượt qua khỏi hiện thân. ‘Bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối’: Sự tận cùng của mạng sống, sự tận cùng bởi cái chết là do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự dừng lại của các quyền. ‘Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng’: là tính chất sở hữu chủ của nghiệp. ‘Tùy theo quả của việc thiện và ác’: tính chất trông thấy quả báo và sự không xa rời của các nghiệp. ‘Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: Những kẻ có các sự tạo tác không có phước. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: Những người có các sự tạo tác về phước thiện sẽ đi đến nhàn cảnh. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: việc vượt qua khỏi tất cả các sự tạo tác. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Tất cả ―nt― không còn lậu hoặc.” ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là lối thực hành thô tháo và bị thiêu đốt. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là lối thực hành Trung Đạo. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: đây là phiền não. Sự luân hồi làm cho tái sanh là như vậy. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: Đây là ba vòng quay: vòng quay của khổ, vòng quay của nghiệp, vòng quay của ô nhiễm. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: sự quay ngược lại đối với ba vòng quay. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là sự bất lợi. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: là sự hứng thú. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là sự thoát ra. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là nhân và quả; năm uẩn là quả, tham ái là nhân. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là Đạo và Quả.
‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: đây là phiền não. Phiền não ấy có ba loại: phiền não về tham ái, phiền não về tà kiến, phiền não về uế hạnh. Ở đấy, phiền não về tham ái nên được diễn giải theo ba tham ái: theo dục ái, theo hữu ái, theo phi hữu ái. Hoặc hơn nữa, nó đã bám chặt vào đối tượng nào thì nên được diễn giải theo chính đối tượng đó. Sự giảng giải chi tiết về nó là các hành vi ở mạng lưới của 36 tham ái. Ở đấy, phiền não về tà kiến nên được diễn giải theo đoạn kiến hay thường kiến. Hoặc hơn nữa, (kẻ ấy) chấp chặt vào sự việc nào do tác động của tà kiến (nghĩ rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,’ thì nên được diễn giải theo chính sự việc đó. Sự giảng giải chi tiết về nó là 62 tà kiến. Ở đấy, phiền não về uế hạnh nên được diễn giải theo hành động với tâm sở tư thông qua ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Sự giảng giải chi tiết về nó là mười đường lối hành động bất thiện. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: đây là sự thanh lọc. Sự thanh lọc này đây có ba loại: phiền não về tham ái được thanh tịnh bởi chỉ tịnh, chỉ tịnh ấy là định uẩn; phiền não về tà kiến được thanh tịnh bởi minh sát, minh sát ấy là tuệ uẩn; phiền não về uế hạnh được thanh tịnh bởi thiện hạnh, thiện hạnh ấy là giới uẩn. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là lối thực hành phi phước thiện. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: là lối thực hành phước thiện. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là lối thực hành vượt qua khỏi thiện và ác. Ở đấy, lối thực hành phi phước thiện và lối thực hành phước thiện là những lối thực hành đưa đến tất cả các nơi: một số ở các đọa xứ, một số ở giữa chư Thiên; và lối thực hành vượt qua khỏi thiện và ác là lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác. Ba nhóm: nhóm đã được xác định có tính chất sai trái, nhóm đã được xác định có tính chất đúng đắn, nhóm không được xác định. Ở đấy, nhóm đã được xác định có tính chất sai trái và nhóm đã được xác định có tính chất đúng đắn có cùng một lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác. Ở đấy, nhóm không được xác định có lối thực hành đưa đến tất cả các nơi. Bởi lý do gì? Khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở địa ngục, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các loài thú, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các thân phận ngạ quỷ, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các A-tu-la, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở chư Thiên, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở loài người, khi đầy đủ duyên thì có thể viên tịch Niết Bàn. Bởi thế, đây là lối thực hành đưa đến tất cả các nơi. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về lối thực hành đưa đến tất cả các nơi; đây là Như Lai lực thứ hai. (2) Lối thực hành đưa đến tất cả các nơi là thế giới có nhiều yếu tố. Lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác là thế giới có các yếu tố khác biệt. Ở đấy, thế giới có nhiều yếu tố là thế nào? Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thinh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới, địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, thức giới, dục giới,― ―sân giới, hại giới, xuất ly giới, vô sân giới, vô hại giới, khổ giới, ưu giới, vô minh giới, lạc giới, hỷ giới, xả giới, sắc giới, vô sắc giới, diệt tận giới, hành giới, Niết Bàn giới; đây là thế giới có nhiều yếu tố.
Ở đấy, thế giới có các yếu tố khác biệt là thế nào? Nhãn giới là cái khác, sắc giới là cái khác, nhãn thức giới là cái khác, (toàn bộ là tương tự như vậy), Niết Bàn giới là cái khác. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về nhiều yếu tố và về các yếu tố khác biệt; đây là Như Lai lực thứ ba. (3)
Bất cứ yếu tố nào thuộc thế giới có nhiều yếu tố và có các yếu tố khác biệt mà chúng sanh hướng đến, thì họ khẳng định và chấp chặt chính yếu tố ấy: một số hướng đến sắc, một số hướng đến thinh, một số hướng đến hương, một số hướng đến vị, một số hướng đến xúc, một số hướng đến pháp, một số hướng đến nữ nhân, một số hướng đến nam nhân, một số hướng đến xả thí, một số hướng đến hạ liệt, một số hướng đến cao quý, một số hướng đến chư Thiên, một số hướng đến loài người, một số hướng đến Niết Bàn. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: ‘Người này có thể huấn luyện, người này không thể huấn luyện, người này đi đến cõi Trời, người này đi đến khổ cảnh;’ điều này được gọi là trí về tính chất khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh; đây là Như Lai lực thứ tư. (4)
Các chúng sanh ấy hướng đến thế nào thì trở thành thế ấy. Họ thọ trì sự thọ trì về hành động này nọ. Họ thọ trì hành động theo sáu cách: một số do tác động của tham, một số do tác động của sân, một số do tác động của si, một số do tác động của đức tin, một số do tác động của tinh tấn, một số do tác động của tuệ. Hành động ấy, trong khi đang được hiện diện, gồm có hai loại: loại đưa đến luân hồi và loại đưa đến Niết Bàn.
Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tham, do tác động của sân, và do tác động của si; đây là nghiệp đen có quả thành tựu đen. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của đức tin và do tác động của tinh tấn; đây là nghiệp trắng có quả thành tựu trắng. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tham, do tác động của sân, do tác động của si, và do tác động của đức tin; đây là nghiệp đen trắng có quả thành tựu đen trắng. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tinh tấn và do tác động của tuệ; đây là nghiệp không đen không trắng có quả thành tựu không đen không trắng, là hạng nhất trong số các nghiệp, là đứng đầu trong số các nghiệp; nó vận hành đưa đến sự cạn kiệt của nghiệp.
Bốn sự thọ trì về hành động: có sự thọ trì về hành động có lạc ở hiện tại và có quả thành tựu khổ ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có khổ ở hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có khổ ở hiện tại và có quả thành tựu khổ ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có lạc ở hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai; sự thọ trì về hành động là có tính chất như vậy. Sự thọ trì về hành động bất thiện đã được tích lũy bởi kẻ nào (dầu) chưa chín muồi (nhưng) đã được sẵn sàng cho việc thành tựu quả, và (kẻ ấy) không thể nào chứng đắc Thánh Đạo. Đức Thế Tôn không giáo huấn kẻ ấy, giống như Devadatta, Kokālika, Sunakkhatta con trai của Licchavi. Hoặc hơn nữa, những chúng sanh khác đã được xác định có tính chất sai trái,― ―và bất thiện đã được tích lũy bởi những người này còn chưa đi đến sự đầy đủ; trước khi nó đi đến sự đầy đủ, trước khi nó hình thành quả báo, trước khi nó ngăn trở Đạo, trước khi nó vượt qua khỏi trạng thái có thể huấn luyện, đức Thế Tôn giáo huấn những người ấy khi nghiệp còn chưa được toàn vẹn, giống như vị Puṇṇa hành trì hạnh loài bò và đạo sĩ lõa thể hành trì hạnh loài chó. Sự thọ trì về hành động bất thiện của những người này, trong khi được đầy đủ, sẽ ngăn trở Đạo; trước khi nó đi đến sự đầy đủ, trước khi nó hình thành quả báo, trước khi nó ngăn trở Đạo, trước khi nó vượt qua khỏi trạng thái có thể huấn luyện, đức Thế Tôn giáo huấn người ấy khi nghiệp còn chưa được toàn vẹn, giống như đại đức Aṅgulimāla. Tính chất nhẹ, trung bình, và nặng của tất cả (các nghiệp): Ở đấy, các tạo tác bất động là nhẹ, các tạo tác thiện còn lại là trung bình, các tạo tác bất thiện là nặng. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: “Việc này sẽ được cảm thọ ở đời này, việc này sẽ được cảm thọ sau khi tái sanh, việc này sẽ được cảm thọ liên tục ở các kiếp sống kế, việc này sẽ được cảm thọ ở địa ngục, việc này sẽ được cảm thọ ở loài thú, việc này sẽ được cảm thọ ở thân phận ngạ quỷ, việc này sẽ được cảm thọ ở loài A- tu-la, việc này sẽ được cảm thọ ở chư Thiên, việc này sẽ được cảm thọ ở loài người;” điều này được gọi là trí về tính trạng khác biệt của quả thành tựu theo nhân, theo sự kiện, theo tính chất không bị giới hạn của sự thọ trì về hành động ở quá khứ, vị lai, và hiện tại; đây là Như Lai lực thứ năm. (5) Tương tự như thế đối với các hành động đã được thọ trì, đối với các tầng thiền đã được thọ trì, đối với các sự giải thoát, đối với các định, đối với các sự thể nhập, trí không bị ngăn trở (của Ngài biết rằng): “Đây là phiền não, đây là sự thanh lọc, đây là sự xuất ra, nó sẽ làm ô nhiễm như vầy, nó sẽ thanh lọc như vậy, nó sẽ xuất ra như vầy.” Ở đấy, có bao nhiêu tầng thiền? Có bốn tầng thiền. Có bao nhiêu sự giải thoát? Có mười một, có tám, có bảy, có ba, và có hai. Có bao nhiêu định? Có ba định: định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ. Có bao nhiêu sự thể nhập? Có năm sự thể nhập: sự thể nhập tưởng, sự thể nhập vô tưởng, sự thể nhập phi tưởng phi phi tưởng, sự thể nhập tưởng không hiện hữu, sự thể nhập tưởng về diệt tận. Ở đấy, cái nào là phiền não? Đối với sơ thiền, sự luyến ái về dục và sân hận là phiền não, và những vị có thiền chứng bị dừng lại liên quan đến hai bậc thiền đầu tiên, hoặc hơn nữa bất cứ định nào liên quan đến thoái hóa; cái này là phiền não. Ở đấy, cái nào là sự thanh lọc? Sự hoàn toàn trong sạch khỏi các pháp che lấp của sơ thiền, và những vị có thiền chứng bị dừng lại liên quan đến hai bậc thiền sau cùng, hoặc hơn nữa bất cứ định nào liên quan đến thù thắng; cái này là sự thanh lọc. Ở đấy, cái nào là sự xuất ra? Sự thể nhập nào có sự thiện xảo trong việc xuất ra; cái này là sự xuất ra. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về phiền não, về sự thanh lọc, và về sự xuất ra đối với các tầng thiền, các sự giải thoát, các định, và các sự thể nhập; đây là Như Lai lực thứ sáu. (6) Đối với chính định ấy, có ba pháp là cần thiết: các quyền, các lực, sự tinh tấn. Chính các quyền ấy trở thành các lực do tác động của tinh tấn, các quyền với ý nghĩa chủ đạo, các lực với ý nghĩa không bị lay động. Như thế, đối với các quyền ấy thì có tính chất yếu kém, trung bình, vượt trội: ‘Người này có quyền yếu kém, người này có quyền trung bình, người này có quyền nhạy bén.’ Ở đấy, đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền nhạy bén với lời giáo huấn tóm tắt; đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền trung bình với lời giáo huấn tóm tắt và chi tiết; đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền yếu kém với lời giáo huấn chi tiết. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng và sắc bén cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp sắc bén cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh và minh sát cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày về minh sát cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về sự thoát ra cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày về sự bất lợi và sự thoát ra cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày về sự hứng thú, sự bất lợi và sự thoát ra cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tuệ cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tâm cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng giới cho người có quyền yếu kém. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: ‘Người này đi đến phạm vi và sự tu tập này vào thời gian này, với sự chỉ dạy này, và người này có bản chất như vầy; và đây là khuynh hướng, đây là thiên hướng của người này;’ điều này được gọi là trí về khả năng của người khác và tính trạng khác biệt về quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác; đây là Như Lai lực thứ bảy. (7)
Ở đấy, việc Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là “một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều trăm lần sanh, nhiều ngàn lần sanh, nhiều trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi kia. Tại chỗ kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương.
Ở đấy, trong số các chúng sanh đi đến cõi Trời, trong số các chúng sanh đi đến loài người, và trong số các chúng sanh đi đến đọa xứ, đức Thế Tôn, trong khi nhớ lại sự hiện hữu này khác, biết không thiếu sót (rằng): “Người này nhiều tham ..., ít vô tham ...; người này nhiều vô tham ..., ít tham; hoặc hơn nữa, những cái này là nhiều, hoặc hơn nữa, những cái này là ít. Người này có các quyền đã được tích lũy, người này có các quyền chưa được tích lũy, trong mười triệu kiếp, hoặc trong một trăm ngàn kiếp, hoặc trong một ngàn kiếp, hoặc trong một trăm kiếp, hoặc trong một kiếp, hoặc trong khoảng một kiếp, hoặc trong nửa kiếp, hoặc trong một năm, hoặc trong nửa năm, hoặc trong một tháng, hoặc trong nửa tháng, hoặc trong một ngày, hoặc trong chốc lát ấy với sự xao lãng này hoặc với sự tịnh tín này.” Ở đấy, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ngài nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ; Ngài nhận biết rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng: “Quả vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có uế hạnh về thân, có uế hạnh về khẩu, có uế hạnh về ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, thọ trì các hành động do tà kiến. Những kẻ ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có thiện hạnh về thân, có thiện hạnh về khẩu, có thiện hạnh về ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, thọ trì các hành động do chánh kiến. Những người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này). Ở đấy, trong số các chúng sanh đi đến cõi Trời, ―nt― và trong số các chúng sanh đi đến đọa xứ, nghiệp có hình thức thế này đã được tích lũy bởi người này trong mười triệu kiếp, hoặc trong một trăm ngàn kiếp, hoặc trong một ngàn kiếp, hoặc trong một trăm kiếp, hoặc trong một kiếp, hoặc trong khoảng một kiếp, hoặc trong nửa kiếp, hoặc trong một năm, hoặc trong nửa năm, hoặc trong một tháng, hoặc trong nửa tháng, hoặc trong một ngày, hoặc trong chốc lát ấy với sự xao lãng này hoặc với sự tịnh tín này.” Hai trí này của đức Thế Tôn, trí nhớ về các kiếp sống trước và Thiên nhãn, là Như Lai lực thứ tám và thứ chín. (8-9).
Ở đấy, việc trạng thái Toàn Tri đã được đạt đến, tất cả các pháp đã được biết, trí của trạng thái Toàn Tri không bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi, Ma Vương đã bị đánh bại ở cội cây Bồ Đề, đây là lực thứ mười của đức Thế Tôn, là trí diệt trừ hoàn toàn tất cả lậu hoặc. Bởi vì chư Phật, Thế Tôn đã thành tựu mười lực. (10) Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
53. Tattha katamo vicayo hārasampāto? Tattha taṇhā duvidhā kusalāpi akusalāpi. Akusalā saṃsāragāminī, kusalā apacayagāminī pahānataṇhā. Mānopi duvidho kusalopi akusalopi. Yaṃ mānaṃ nissāya mānaṃ pajahati, ayaṃ māno kusalo. Yo pana māno dukkhaṃ nibbattayati, ayaṃ māno akusalo. Tattha yaṃ nekkhammasitaṃ domanassaṃ kudāssunāmāhaṃ taṃ āyatanaṃ sacchikatvā upasampajja viharissaṃ yaṃ ariyā santaṃ āyatanaṃ sacchikatvā upasampajja viharantīti tassa uppajjati pihā, pihāpaccayā domanassaṃ, ayaṃ taṇhā kusalā rāgavirāgā cetovimutti, tadārammaṇā kusalā avijjāvirāgā paññāvimutti.
53. Herein, what is the Concordance of the Method of Investigation? Herein, craving is twofold: skillful and unskillful. Unskillful craving leads to saṃsāra; skillful craving leads to the dwindling of rebirth—it is the craving for abandonment. Conceit is also twofold: skillful and unskillful. The conceit by relying on which one abandons conceit, this conceit is skillful. But the conceit that produces suffering, this conceit is unskillful. Herein, with regard to the displeasure based on renunciation, [when one thinks]: “When, oh when, shall I, having realized it, enter and dwell in that sphere which the noble ones, having realized, enter and dwell in?”—for that person, longing arises. From longing as a condition, displeasure arises. This craving is skillful. Craving for the liberation of mind through dispassion for lust is skillful. The liberation by wisdom through dispassion for ignorance, and the craving that has it as its object, are also skillful.
53. Trong đó, sự tương ứng của phương pháp phân tích là gì? Ở đây, tham ái có hai loại: thiện và bất thiện. Bất thiện dẫn đến luân hồi, thiện dẫn đến sự chấm dứt, là tham ái để đoạn trừ. Mạn cũng có hai loại: thiện và bất thiện. Mạn nào mà nương vào đó để đoạn trừ mạn, mạn này là thiện. Còn mạn nào làm phát sinh khổ, mạn này là bất thiện. Ở đây, ưu liên quan đến xuất ly (khởi lên như sau): ‘Khi nào ta sẽ chứng ngộ, thành tựu và an trú trong xứ ấy, xứ an tịnh mà các bậc Thánh đã chứng ngộ, thành tựu và an trú?’ Nơi vị ấy, sự khao khát khởi lên; do khao khát làm duyên, ưu khởi lên. Tham ái này là thiện. Tâm giải thoát do ly tham, (tham ái) có đối tượng đó là thiện; tuệ giải thoát do ly vô minh.
Tassā ko pavicayo? Aṭṭha maggaṅgāni sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. So kattha daṭṭhabbo? Catutthe jhāne pāramitāya. Catutthe hi jhāne aṭṭhaṅgasamannāgataṃ cittaṃ bhāvayati parisuddhaṃ pariyodātaṃ anaṅgaṇaṃ vigatūpakkilesaṃ mudu kammaniyaṃ ṭhitaṃ āneñjappattaṃ. So tattha aṭṭhavidhaṃ adhigacchati cha abhiññā dve ca visese, taṃ cittaṃ yato parisuddhaṃ, tato pariyodātaṃ, yato pariyodātaṃ, tato anaṅgaṇaṃ, yato anaṅgaṇaṃ, tato vigatūpakkilesaṃ, yato vigatūpakkilesaṃ, tato mudu, yato mudu, tato kammaniyaṃ, yato kammaniyaṃ, tato ṭhitaṃ, yato ṭhitaṃ, tato āneñjappattaṃ. Tattha aṅgaṇā ca upakkilesā ca tadubhayaṃ taṇhāpakkho. Yā ca iñjanā yā ca cittassa aṭṭhiti, ayaṃ diṭṭhipakkho.
What is its investigation? The eight path-factors: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration. Where should that concentration be seen? In the fourth jhāna. For in the fourth jhāna, one develops a mind endowed with eight factors: purified, cleansed, spotless, free from imperfections, malleable, workable, established, and having attained the imperturbable. There, one attains eight things: the six higher knowledges and two special qualities. Because that mind is purified, it is cleansed; because it is cleansed, it is spotless; because it is spotless, it is free from imperfections; because it is free from imperfections, it is malleable; because it is malleable, it is workable; because it is workable, it is established; because it is established, it has attained the imperturbable. Herein, both blemishes and imperfections belong to the faction of craving. And whatever agitation and instability of mind there is, this belongs to the faction of views.
Sự phân tích về nó là gì? Tám đạo chi: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Nó nên được thấy ở đâu? Trong thiền thứ tư. Vì trong thiền thứ tư, vị ấy tu tập tâm có tám chi: trong sạch, sáng chói, không tỳ vết, không cấu uế, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động. Ở đó, vị ấy đạt được tám loại: sáu thắng trí và hai điều đặc biệt. Tâm ấy, vì trong sạch, nên sáng chói; vì sáng chói, nên không tỳ vết; vì không tỳ vết, nên không cấu uế; vì không cấu uế, nên nhu nhuyến; vì nhu nhuyến, nên dễ sử dụng; vì dễ sử dụng, nên vững chắc; vì vững chắc, nên đạt đến bất động. Ở đây, tỳ vết và cấu uế, cả hai thuộc về phe tham ái. Sự dao động và sự không vững chắc của tâm, đây thuộc về phe tà kiến.
Cattāri indriyāni dukkhindriyaṃ domanassindriyaṃ sukhindriyaṃ somanassindriyañca catutthajjhāne nirujjhanti, tassa upekkhindriyaṃ avasiṭṭhaṃ bhavati. So uparimaṃ samāpattiṃ santato manasikaroti, tassa uparimaṃ samāpattiṃ santato manasikaroto catutthajjhāne oḷārikā saññā saṇṭhahati ukkaṇṭhā ca paṭighasaññā, so sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘‘anantaṃ ākāsa’’nti ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ sacchikatvā upasampajja viharati. Abhiññābhinīhāro rūpasaññā vokāro nānattasaññā samatikkamati paṭighasaññā cassa abbhatthaṃ gacchati, evaṃ samādhi tassa samāhitassa obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṃ, so samādhi chaḷaṅgasamannāgato paccavekkhitabbo. Anabhijjhāsahagataṃ me mānasaṃ sabbaloke, abyāpannaṃ me cittaṃ sabbasattesu, āraddhaṃ me vīriyaṃ paggahitaṃ, passaddho me kāyo asāraddho, samāhitaṃ me cittaṃ avikkhittaṃ, upaṭṭhitā me sati asammuṭṭhā †, tattha yañca anabhijjhāsahagataṃ mānasaṃ sabbaloke yañca abyāpannaṃ cittaṃ sabbasattesu yañca āraddhaṃ vīriyaṃ paggahitaṃ yañca samāhitaṃ cittaṃ avikkhittaṃ, ayaṃ samatho. Yo passaddho kāyo asāraddho, ayaṃ samādhiparikkhāro. Yā upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā ayaṃ vipassanā.
Four faculties—the faculty of pain, the faculty of displeasure, the faculty of pleasure, and the faculty of joy—cease in the fourth jhāna; for that person, the faculty of equanimity remains. He attends calmly to a higher attainment. For him who attends calmly to a higher attainment, in the fourth jhāna gross perception, dissatisfaction, and the perception of resistance are established. By completely transcending perceptions of form, with the cessation of perceptions of resistance, and by not attending to perceptions of diversity, he, [perceiving] ‘space is infinite,’ having realized it, enters and dwells in the attainment of the base of infinite space. The directing towards higher knowledge transcends the designation of perception of form and the perception of diversity, and for him the perception of resistance goes to cessation. Thus, for that concentrated person, the concentration, the light, and the vision of forms disappear. That concentration, endowed with six factors, should be reviewed: ‘My mind is accompanied by non-covetousness in regard to the whole world; my mind is without ill will towards all beings; my energy is aroused and exerted; my body is tranquil and unagitated; my mind is concentrated and undistracted; my mindfulness is established and unconfused.’ Herein, the mind accompanied by non-covetousness in regard to the whole world, the mind without ill will towards all beings, the aroused and exerted energy, and the concentrated and undistracted mind—this is serenity. The tranquil and unagitated body—this is an accessory of concentration. The established and unconfused mindfulness—this is insight.
Bốn quyền: khổ quyền, ưu quyền, lạc quyền, và hỷ quyền, chúng diệt trong thiền thứ tư; xả quyền còn lại nơi vị ấy. Vị ấy tác ý đến định cao hơn một cách an tịnh. Đối với vị ấy đang tác ý đến định cao hơn một cách an tịnh, trong thiền thứ tư, tưởng thô, sự bất mãn và đối ngại tưởng tồn tại. Vị ấy, do hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do sự biến mất của các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng đa dạng, (nghĩ rằng) ‘Không gian là vô biên’, chứng ngộ, thành tựu và an trú trong Không vô biên xứ định. Sự hướng tâm đến thắng trí, sự phân loại sắc tưởng, vượt qua tưởng đa dạng, và đối ngại tưởng của vị ấy đi đến chỗ biến mất. Như vậy, đối với vị ấy đã nhập định, định, ánh sáng và sự thấy các sắc biến mất. Định ấy có sáu chi phần nên được quán xét: ‘Tâm ý của ta trong toàn thể thế gian đi liền với vô tham. Tâm của ta đối với tất cả chúng sinh không có sân. Tinh tấn của ta đã được khởi xướng, đã được nỗ lực. Thân của ta đã được khinh an, không bứt rứt. Tâm của ta đã được định tĩnh, không phân tán. Niệm của ta đã được thiết lập, không quên lãng.’ Ở đây, tâm ý đi liền với vô tham trong toàn thể thế gian, và tâm không có sân đối với tất cả chúng sinh, và tinh tấn đã được khởi xướng, đã được nỗ lực, và tâm đã được định tĩnh, không phân tán, tất cả đây là chỉ. Thân đã được khinh an, không bứt rứt, đây là vật trợ của định. Niệm đã được thiết lập, không quên lãng, đây là quán.
54. So samādhi pañcavidhena veditabbo. Ayaṃ samādhi ‘‘paccuppannasukho’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati, ayaṃ samādhi ‘‘āyatiṃ sukhavipāko’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati, ayaṃ samādhi ‘‘ariyo nirāmiso’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati, ayaṃ samādhi ‘‘akāpurisasevito’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati, ayaṃ samādhi ‘‘santo ceva paṇīto ca paṭippassaddhiladdho ca ekodibhāvādhigato ca na sasaṅkhāraniggayhavāritagato † cā’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati. Taṃ kho panimaṃ samādhiṃ ‘‘sato samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmī’’ti itissa paccattameva ñāṇadassanaṃ paccupaṭṭhitaṃ bhavati. Tattha yo ca samādhi paccuppannasukho yo ca samādhi āyatiṃ sukhavipāko ayaṃ samatho. Yo ca samādhi ariyo nirāmiso, yo ca samādhi akāpurisasevito, yo ca samādhi santo ceva paṇīto paṭippassaddhiladdho ca ekodibhāvādhigato ca na sasaṅkhāraniggayhavāritagato ca yañcāhaṃ taṃ kho panimaṃ samādhiṃ sato samāpajjāmi sato vuṭṭhahāmīti, ayaṃ vipassanā.
54. That concentration should be known in five ways. ‘This concentration is happiness in the present’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. ‘This concentration has a pleasant result in the future’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. ‘This concentration is noble and unworldly’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. ‘This concentration is cultivated by excellent persons’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. ‘This concentration is peaceful and sublime, obtained through tranquility, attained through unification, and not obtained by restraining and suppressing with exertion’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. And further, regarding this concentration: ‘I enter it mindfully, I emerge from it mindfully’: thus for him personal knowledge and vision becomes present. Herein, the concentration that is happiness in the present and the concentration that has a pleasant result in the future—this is serenity. The concentration that is noble and unworldly; the concentration that is cultivated by excellent persons; the concentration that is peaceful and sublime, obtained through tranquility, attained through unification, and not obtained by restraining and suppressing with exertion; and that ‘I enter this concentration mindfully and emerge from it mindfully’—this is insight.
54. Định ấy cần được biết theo năm cách. Đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Định này là an lạc trong hiện tại’; đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Định này có quả an lạc trong tương lai’; đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Định này là thánh thiện, không vật chất’; đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Định này được các bậc thiện nhân thực hành’; đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Định này là tịch tịnh, vi diệu, đạt được do sự an tịnh, đạt được do sự nhất tâm, và không phải đạt được do sự chế ngự và ngăn ngừa có cố gắng’. Đối với vị ấy, tri kiến hiện khởi cho riêng mình rằng: ‘Ta chánh niệm khi nhập định này và chánh niệm khi xuất định’. Trong ấy, định nào là an lạc trong hiện tại và định nào có quả an lạc trong tương lai, đây là Samatha (chỉ). Và định nào là thánh thiện, không vật chất; định nào được các bậc thiện nhân thực hành; định nào là tịch tịnh, vi diệu, đạt được do sự an tịnh, đạt được do sự nhất tâm, và không phải đạt được do sự chế ngự và ngăn ngừa có cố gắng; và rằng: ‘Ta chánh niệm khi nhập định này và chánh niệm khi xuất định’, đây là Vipassanā (quán).
So samādhi pañcavidhena veditabbo pītipharaṇatā sukhapharaṇatā cetopharaṇatā ālokapharaṇatā paccavekkhaṇānimittaṃ. Tattha yo ca pītipharaṇo yo ca sukhapharaṇo yo ca cetopharaṇo, ayaṃ samatho. Yo ca ālokapharaṇo yañca paccavekkhaṇānimittaṃ. Ayaṃ vipassanā.
That concentration should be known in five ways: the pervasion of rapture, the pervasion of pleasure, the pervasion of mind, the pervasion of light, and the sign of reviewing. Herein, the pervasion of rapture, the pervasion of pleasure, and the pervasion of mind—this is serenity. The pervasion of light and the sign of reviewing—this is insight.
Định ấy cần được biết theo năm cách: sự biến mãn của hỷ, sự biến mãn của lạc, sự biến mãn của tâm, sự biến mãn của ánh sáng, và tướng trạng để phản khán. Trong ấy, sự biến mãn của hỷ, sự biến mãn của lạc, và sự biến mãn của tâm, đây là Samatha. Sự biến mãn của ánh sáng và tướng trạng để phản khán, đây là Vipassanā.
55. Dasa kasiṇāyatanāni pathavīkasiṇaṃ āpokasiṇaṃ tejokasiṇaṃ vāyokasiṇaṃ nīlakasiṇaṃ pītakasiṇaṃ lohitakasiṇaṃ odātakasiṇaṃ ākāsakasiṇaṃ viññāṇakasiṇaṃ. Tattha yañca pathavīkasiṇaṃ yañca āpokasiṇaṃ evaṃ sabbaṃ, yañca odātakasiṇaṃ. Imāni aṭṭha kasiṇāni samatho. Yañca ākāsakasiṇaṃ yañca viññāṇakasiṇaṃ, ayaṃ vipassanā. Evaṃ sabbo ariyo maggo yena yena ākārena vutto, tena tena samathavipassanena yojayitabbo. Te tīhi dhammehi saṅgahitā aniccatāya dukkhatāya anattatāya. So samathavipassanaṃ bhāvayamāno tīṇi vimokkhamukhāni bhāvayati. Tīṇi vimokkhamukhāni bhāvayanto tayo khandhe bhāvayati. Tayo khandhe bhāvayanto ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvayati.
55. The ten kasiṇa bases are: the earth kasiṇa, the water kasiṇa, the fire kasiṇa, the air kasiṇa, the blue kasiṇa, the yellow kasiṇa, the red kasiṇa, the white kasiṇa, the space kasiṇa, and the consciousness kasiṇa. Herein, the earth kasiṇa, the water kasiṇa, and so forth up to the white kasiṇa—these eight kasiṇas are serenity. The space kasiṇa and the consciousness kasiṇa—this is insight. Thus, the entire noble path, in whatever way it has been spoken of, should be connected with serenity and insight in that very manner. They are encompassed by three states: by impermanence, by suffering, and by non-self. One who develops serenity and insight develops the three doors to liberation. Developing the three doors to liberation, one develops the three aggregates. Developing the three aggregates, one develops the noble eightfold path.
55. Mười xứ kasiṇa là: địa kasiṇa, thủy kasiṇa, hỏa kasiṇa, phong kasiṇa, thanh kasiṇa, hoàng kasiṇa, xích kasiṇa, bạch kasiṇa, hư không kasiṇa, và thức kasiṇa. Trong ấy, địa kasiṇa, thủy kasiṇa, và như vậy tất cả cho đến bạch kasiṇa, tám kasiṇa này là Samatha. Hư không kasiṇa và thức kasiṇa, đây là Vipassanā. Như vậy, toàn bộ Thánh đạo, theo bất cứ cách thức nào đã được nói đến, cần được kết hợp với Samatha và Vipassanā theo cách thức ấy. Chúng được bao gồm bởi ba pháp: bởi tính vô thường, bởi tính khổ, bởi tính vô ngã. Vị ấy, khi tu tập Samatha-Vipassanā, tu tập ba cửa giải thoát. Khi tu tập ba cửa giải thoát, vị ấy tu tập ba uẩn. Khi tu tập ba uẩn, vị ấy tu tập Thánh đạo Tám ngành.
Rāgacarito puggalo animittena vimokkhamukhena niyyāti † adhicittasikkhāya sikkhanto lobhaṃ akusalamūlaṃ pajahanto sukhavedanīyaṃ phassaṃ anupagacchanto sukhaṃ vedanaṃ parijānanto rāgamalaṃ pavāhento rāgarajaṃ niddhunanto rāgavisaṃ vamento rāgaggiṃ nibbāpento rāgasallaṃ uppāṭento rāgajaṭaṃ vijaṭento. Dosacarito puggalo appaṇihitena vimokkhamukhena niyyāti adhisīlasikkhāya sikkhanto dosaṃ akusalamūlaṃ pajahanto dukkhavedanīyaṃ phassaṃ anupagacchanto dukkhavedanaṃ parijānanto dosamalaṃ pavāhento dosarajaṃ niddhunanto dosavisaṃ vamento dosaggiṃ nibbāpento dosasallaṃ uppāṭento dosajaṭaṃ vijaṭento. Mohacarito puggalo suññatavimokkhamukhena niyyāti adhipaññāsikkhāya sikkhanto mohaṃ akusalamūlaṃ pajahanto adukkhamasukhavedanīyaṃ phassaṃ anupagacchanto adukkhamasukhaṃ vedanaṃ parijānanto mohamalaṃ pavāhento moharajaṃ niddhunanto mohavisaṃ vamento mohaggiṃ nibbāpento mohasallaṃ uppāṭento mohajaṭaṃ vijaṭento.
A person of lustful temperament is liberated by means of the signless door to liberation, training in the higher training in mind, abandoning the unwholesome root of greed, not approaching contact that is to be felt as pleasant, fully understanding pleasant feeling, washing away the stain of lust, shaking off the dust of lust, vomiting the poison of lust, extinguishing the fire of lust, uprooting the dart of lust, and unraveling the tangle of lust. A person of hateful temperament is liberated by means of the desireless door to liberation, training in the higher training in virtue, abandoning the unwholesome root of hatred, not approaching contact that is to be felt as painful, fully understanding painful feeling, washing away the stain of hatred, shaking off the dust of hatred, vomiting the poison of hatred, extinguishing the fire of hatred, uprooting the dart of hatred, and unraveling the tangle of hatred. A person of deluded temperament is liberated by means of the emptiness door to liberation, training in the higher training in wisdom, abandoning the unwholesome root of delusion, not approaching contact that is to be felt as neither-painful-nor-pleasant, fully understanding neither-painful-nor-pleasant feeling, washing away the stain of delusion, shaking off the dust of delusion, vomiting the poison of delusion, extinguishing the fire of delusion, uprooting the dart of delusion, and unraveling the tangle of delusion.
Người có tánh tham xuất ly bằng cửa giải thoát vô tướng, trong khi thực hành tăng thượng tâm học, từ bỏ tham là bất thiện căn, không đi đến xúc có cảm thọ lạc, liễu tri lạc thọ, cuốn trôi cấu uế tham, rũ sạch bụi bặm tham, nôn ra nọc độc tham, dập tắt ngọn lửa tham, nhổ lên mũi tên tham, gỡ rối kết tham. Người có tánh sân xuất ly bằng cửa giải thoát vô nguyện, trong khi thực hành tăng thượng giới học, từ bỏ sân là bất thiện căn, không đi đến xúc có cảm thọ khổ, liễu tri khổ thọ, cuốn trôi cấu uế sân, rũ sạch bụi bặm sân, nôn ra nọc độc sân, dập tắt ngọn lửa sân, nhổ lên mũi tên sân, gỡ rối kết sân. Người có tánh si xuất ly bằng cửa giải thoát không, trong khi thực hành tăng thượng tuệ học, từ bỏ si là bất thiện căn, không đi đến xúc có cảm thọ không khổ không lạc, liễu tri thọ không khổ không lạc, cuốn trôi cấu uế si, rũ sạch bụi bặm si, nôn ra nọc độc si, dập tắt ngọn lửa si, nhổ lên mũi tên si, gỡ rối kết si.
Tattha suññatavimokkhamukhaṃ paññākkhandho, animittavimokkhamukhaṃ samādhikkhandho, appaṇihitavimokkhamukhaṃ sīlakkhandho. So tīṇi vimokkhamukhāni bhāvayanto tayo khandhe bhāvayati, tayo khandhe bhāvayanto ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvayati. Tattha yā ca sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo, ayaṃ sīlakkhandho, yo ca sammāvāyāmo yā ca sammāsati yo ca sammāsamādhi, ayaṃ samādhikkhandho, yā ca sammādiṭṭhi yo ca sammāsaṅkappo, ayaṃ paññākkhandho.
Herein, the emptiness door to liberation is the aggregate of wisdom; the signless door to liberation is the aggregate of concentration; the desireless door to liberation is the aggregate of virtue. Developing these three doors to liberation, one develops the three aggregates. Developing the three aggregates, one develops the noble eightfold path. Herein, right speech, right action, and right livelihood: this is the aggregate of virtue. Right effort, right mindfulness, and right concentration: this is the aggregate of concentration. Right view and right intention: this is the aggregate of wisdom.
Trong ấy, cửa giải thoát không là tuệ uẩn, cửa giải thoát vô tướng là định uẩn, cửa giải thoát vô nguyện là giới uẩn. Vị ấy, khi tu tập ba cửa giải thoát thì tu tập ba uẩn; khi tu tập ba uẩn thì tu tập Thánh đạo Tám ngành. Trong ấy, chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng, đây là giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, đây là định uẩn. Chánh kiến và chánh tư duy, đây là tuệ uẩn.
Tattha sīlakkhandho ca samādhikkhandho ca samatho, paññākkhandho vipassanā. Yo samathavipassanaṃ bhāveti, tassa dve bhavaṅgāni bhāvanaṃ gacchanti kāyo cittañca, bhavanirodhagāminī paṭipadā dve padāni sīlaṃ samādhi ca. So hoti bhikkhu bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapañño. Kāye bhāviyamāne dve dhammā bhāvanaṃ gacchanti sammākammanto sammāvāyāmo ca, sīle bhāviyamāne dve dhammā bhāvanaṃ gacchanti sammāvācā sammāājīvo ca, citte bhāviyamāne dve dhammā bhāvanaṃ gacchanti sammāsati sammāsamādhi ca, paññāya bhāviyamānāya dve dhammā bhāvanaṃ gacchanti sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo ca.
Herein, the aggregate of virtue and the aggregate of concentration are serenity; the aggregate of wisdom is insight. For one who develops serenity and insight, two factors of existence—body and mind—undergo development. Virtue and concentration, the two steps in the practice leading to the cessation of existence, undergo development. That monk has a developed body, developed virtue, a developed mind, and developed wisdom. When the body is being developed, two states undergo development: right action and right effort. When virtue is being developed, two states undergo development: right speech and right livelihood. When the mind is being developed, two states undergo development: right mindfulness and right concentration. When wisdom is being developed, two states undergo development: right view and right intention.
Trong ấy, giới uẩn và định uẩn là Samatha; tuệ uẩn là Vipassanā. Vị nào tu tập Samatha-Vipassanā, đối với vị ấy hai yếu tố của hữu đi đến sự tu tập: thân và tâm; con đường đưa đến sự diệt của hữu, hai nền tảng là giới và định. Vị Tỳ khưu ấy là người có thân được tu tập, có giới được tu tập, có tâm được tu tập, có tuệ được tu tập. Khi thân được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh nghiệp và chánh tinh tấn. Khi giới được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh ngữ và chánh mạng. Khi tâm được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh niệm và chánh định. Khi tuệ được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh kiến và chánh tư duy.
Tattha yo ca sammākammanto yo ca sammāvāyāmo siyā kāyiko siyā cetasiko, tattha yo kāyasaṅgaho, so kāye bhāvite bhāvanaṃ gacchati, yo cittasaṅgaho, so citte bhāvite bhāvanaṃ gacchati. So samathavipassanaṃ bhāvayanto pañcavidhaṃ adhigamaṃ gacchati † khippādhigamo ca hoti, vimuttādhigamo ca hoti, mahādhigamo ca hoti, vipulādhigamo ca hoti, anavasesādhigamo ca hoti. Tattha samathena khippādhigamo ca mahādhigamo ca vipulādhigamo ca hoti, vipassanāya vimuttādhigamo ca anavasesādhigamo ca hoti.
Herein, right action and right effort may be bodily or may be mental. Therein, what is included in the body undergoes development when the body is developed; what is included in the mind undergoes development when the mind is developed. Developing serenity and insight, one reaches fivefold attainment: there is swift attainment, attainment through release, great attainment, extensive attainment, and attainment without remainder. Therein, through serenity, there is swift attainment, great attainment, and extensive attainment; through insight, there is attainment through release and attainment without remainder.
Trong các pháp ấy, chánh nghiệp nào và chánh tinh tấn nào, có khi thuộc về thân, có khi thuộc về tâm. Trong đó, pháp nào được nhiếp bởi thân, pháp ấy khi thân được tu tập thì đi đến sự tu tập; pháp nào được nhiếp bởi tâm, pháp ấy khi tâm được tu tập thì đi đến sự tu tập. Vị ấy, trong khi tu tập chỉ và quán, đạt đến sự chứng đắc có năm loại: có sự chứng đắc nhanh chóng, có sự chứng đắc do giải thoát, có sự chứng đắc vĩ đại, có sự chứng đắc rộng lớn, và có sự chứng đắc không còn dư sót. Trong đó, do chỉ mà có sự chứng đắc nhanh chóng, sự chứng đắc vĩ đại, và sự chứng đắc rộng lớn; do quán mà có sự chứng đắc do giải thoát và sự chứng đắc không còn dư sót.
56. Tattha yo desayati, so dasabalasamannāgato satthā ovādena sāvake na visaṃvādayati. So tividhaṃ idaṃ karotha iminā upāyena karotha idaṃ vo kurumānānaṃ hitāya sukhāya bhavissati, so tathā ovadito tathānusiṭṭho tathākaronto tathāpaṭipajjanto taṃ bhūmiṃ na pāpuṇissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So tathā ovadito tathānusiṭṭho sīlakkhandhaṃ aparipūrayanto taṃ bhūmiṃ anupāpuṇissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So tathā ovadito tathānusiṭṭho sīlakkhandhaṃ paripūrayanto taṃ bhūmiṃ anupāpuṇissatīti ṭhānametaṃ vijjati.
56. Herein, the Teacher who teaches, endowed with the ten powers, does not cause his disciples to fail with his instruction. He instructs in three ways: “Do this; do it by this means; for you who do so, this will be for your welfare and happiness.” That one thus advised, thus instructed, acting accordingly, and practicing accordingly, would not attain that ground—such a case does not exist. That one thus advised and thus instructed, not fulfilling the aggregate of virtue, would attain that ground—such a case does not exist. That one thus advised and thus instructed, fulfilling the aggregate of virtue, would attain that ground—such a case exists.
56. Trong đó, vị nào thuyết giảng, vị Đạo sư ấy, người thành tựu mười lực, không làm cho các đệ tử sai lệch bằng lời giáo huấn. Vị ấy giáo huấn theo ba cách: 'Hãy làm điều này. Hãy làm bằng phương tiện này. Điều này sẽ vì lợi ích, vì hạnh phúc cho các ngươi, những người đang làm.' Vị ấy, được giáo huấn như vậy, được chỉ dạy như vậy, trong khi làm như vậy, trong khi thực hành như vậy, mà sẽ không đạt đến cảnh giới ấy, trường hợp này không có. Vị ấy, được giáo huấn như vậy, được chỉ dạy như vậy, trong khi không làm viên mãn giới uẩn, mà sẽ tuần tự đạt đến cảnh giới ấy, trường hợp này không có. Vị ấy, được giáo huấn như vậy, được chỉ dạy như vậy, trong khi làm viên mãn giới uẩn, mà sẽ tuần tự đạt đến cảnh giới ấy, trường hợp này có.
Sammāsambuddhassa te sato ime dhammā anabhisambuddhāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Sabbāsavaparikkhīṇassa te sato ime āsavā aparikkhīṇāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Yassa te atthāya dhammo desito, so na niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Sāvako kho pana te dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī so pubbena aparaṃ uḷāraṃ visesādhigamaṃ na sacchikarissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
That for you, being a Perfectly Self-Enlightened One, these phenomena are not fully understood—such a case does not exist. That for you, being one with all taints destroyed, these taints are not yet destroyed—such a case does not exist. That the Dhamma taught by you for a certain purpose does not lead one who practices it to the complete destruction of suffering—such a case does not exist. That your disciple, who practices in accordance with the Dhamma, who has a practice worthy of respect, who lives in accordance with the Dhamma, will not realize a further, extensive, and superior attainment beyond the previous one—such a case does not exist.
Đối với Ngài, là bậc Chánh Đẳng Giác, mà có người nói rằng: 'Những pháp này chưa được Ngài giác ngộ,' trường hợp này không có. Đối với Ngài, là bậc đã tận trừ tất cả lậu hoặc, mà có người nói rằng: 'Những lậu hoặc này chưa được Ngài tận trừ,' trường hợp này không có. Pháp được Ngài thuyết giảng vì mục đích nào, mà pháp ấy không đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh cho người thực hành, trường hợp này không có. Vị đệ tử của Ngài, người thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp, mà vị ấy sẽ không chứng ngộ được sự chứng đắc thù thắng, cao thượng, vượt lên trên những gì đã đạt được trước đó, trường hợp này không có.
Ye kho pana dhammā antarāyikā, te paṭisevato nālaṃ antarāyāyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Ye kho pana dhammā aniyyānikā, te niyyanti takkarassa sammā dukkhakkhayāyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Ye kho pana dhammā niyyānikā, te niyyanti takkarassa sammā dukkhakkhayāyāti ṭhānametaṃ vijjati. Sāvako kho pana te saupādiseso anupādisesaṃ nibbānadhātuṃ anupāpuṇissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
That those phenomena declared to be obstructive are not capable of being an obstruction for one who engages in them—such a case does not exist. That those phenomena which are not conducive to release would lead one who practices them to the complete destruction of suffering—such a case does not exist. That those phenomena which are conducive to release do lead one who practices them to the complete destruction of suffering—such a case exists. That your disciple, being one with residue, would attain the Nibbāna-element without residue—such a case does not exist.
Lại nữa, những pháp nào là pháp chướng ngại, mà đối với người thực hành chúng, chúng không đủ để gây chướng ngại, trường hợp này không có. Lại nữa, những pháp nào là pháp không đưa đến sự xuất ly, mà chúng đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh cho người thực hành, trường hợp này không có. Lại nữa, những pháp nào là pháp đưa đến sự xuất ly, mà chúng đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh cho người thực hành, trường hợp này có. Lại nữa, vị đệ tử của Ngài, người còn hữu dư y, sẽ không tuần tự đạt đến vô dư y Niết-bàn giới, trường hợp này không có.
Diṭṭhisampanno mātaraṃ jīvitā voropeyya hatthehi vā pādehi vā suhataṃ kareyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puthujjano mātaraṃ jīvitā voropeyya hatthehi vā pādehi vā suhataṃ kareyyāti ṭhānametaṃ vijjati. Evaṃ pitaraṃ, arahantaṃ, bhikkhuṃ. Diṭṭhisampanno puggalo saṅghaṃ bhindeyya saṅghe vā saṅgharājiṃ janeyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puthujjano saṅghaṃ bhindeyya saṅghe vā saṅgharājiṃ janeyyāti ṭhānametaṃ vijjati, diṭṭhisampanno tathāgatassa duṭṭhacitto lohitaṃ uppādeyya, parinibbutassa vā tathāgatassa duṭṭhacitto thūpaṃ bhindeyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Puthujjano tathāgatassa duṭṭhacitto lohitaṃ uppādeyya, parinibbutassa vā tathāgatassa duṭṭhacitto thūpaṃ bhindeyyāti ṭhānametaṃ vijjati. Diṭṭhisampanno aññaṃ satthāraṃ apadiseyya api jīvitahetūti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puthujjano aññaṃ satthāraṃ apadiseyyāti ṭhānametaṃ vijjati. Diṭṭhisampanno ito bahiddhā aññaṃ dakkhiṇeyyaṃ pariyeseyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puthujjano ito bahiddhā aññaṃ dakkhiṇeyyaṃ pariyeseyyāti ṭhānametaṃ vijjati, diṭṭhisampanno kutūhalamaṅgalena suddhiṃ pacceyyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Puthujjano kutūhalamaṅgalena suddhiṃ pacceyyāti ṭhānametaṃ vijjati.
That one accomplished in view would deprive his mother of life, or would severely strike her with hands or feet—such a case does not exist. That an ordinary person would deprive his mother of life, or would severely strike her with hands or feet—such a case exists. Likewise for a father, an Arahant, or a bhikkhu. That a person accomplished in view would split the Saṅgha or cause a rift in the Saṅgha—such a case does not exist. That an ordinary person would split the Saṅgha or cause a rift in the Saṅgha—such a case exists. That one accomplished in view, with a mind of ill will, would cause the Tathāgata's blood to flow, or, with a mind of ill will, would destroy the stupa of a Tathāgata who has attained Parinibbāna—such a case does not exist. That an ordinary person, with a mind of ill will, would cause the Tathāgata's blood to flow, or, with a mind of ill will, would destroy the stupa of a Tathāgata who has attained Parinibbāna—such a case exists. That one accomplished in view would acknowledge another teacher, even for the sake of his life—such a case does not exist. That an ordinary person would acknowledge another teacher—such a case exists. That one accomplished in view would seek another worthy of offerings outside this Dispensation—such a case does not exist. That an ordinary person would seek another worthy of offerings outside this Dispensation—such a case exists. That one accomplished in view would believe in purification through superstitious rites—such a case does not exist. That an ordinary person would believe in purification through superstitious rites—such a case exists.
Người có chánh kiến thành tựu mà lại đoạt mạng mẹ, hoặc dùng tay hay chân đánh đập tàn nhẫn, trường hợp này không có; kẻ phàm phu đoạt mạng mẹ, hoặc dùng tay hay chân đánh đập tàn nhẫn, trường hợp này có. Tương tự như vậy đối với cha, vị A-la-hán, vị tỳ-khưu. Người có chánh kiến thành tựu mà lại phá hòa hợp Tăng, hoặc gây chia rẽ trong Tăng, trường hợp này không có; kẻ phàm phu phá hòa hợp Tăng, hoặc gây chia rẽ trong Tăng, trường hợp này có. Người có chánh kiến thành tựu với tâm ác ý làm thân Như Lai chảy máu, hoặc với tâm ác ý phá hoại bảo tháp của Như Lai đã nhập diệt, trường hợp này không có. Kẻ phàm phu với tâm ác ý làm thân Như Lai chảy máu, hoặc với tâm ác ý phá hoại bảo tháp của Như Lai đã nhập diệt, trường hợp này có. Người có chánh kiến thành tựu mà lại chấp nhận một vị đạo sư khác, dù chỉ vì mạng sống, trường hợp này không có; kẻ phàm phu chấp nhận một vị đạo sư khác, trường hợp này có. Người có chánh kiến thành tựu mà lại tìm kiếm một đối tượng cúng dường khác ở ngoài giáo pháp này, trường hợp này không có; kẻ phàm phu tìm kiếm một đối tượng cúng dường khác ở ngoài giáo pháp này, trường hợp này có. Người có chánh kiến thành tựu mà lại tin vào sự thanh tịnh qua các điềm lành ồn ào, trường hợp này không có. Kẻ phàm phu tin vào sự thanh tịnh qua các điềm lành ồn ào, trường hợp này có.
57. Itthī rājā cakkavattī siyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso rājā cakkavattī siyāti ṭhānametaṃ vijjati; itthī sakko devānamindo siyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso sakko devānamindo siyāti ṭhānametaṃ vijjati; itthī māro pāpimā siyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso māro pāpimā siyāti ṭhānametaṃ vijjati; itthī mahābrahmā siyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso mahābrahmā siyāti ṭhānametaṃ vijjati; itthī tathāgato arahaṃ sammāsambuddho siyāti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, puriso tathāgato arahaṃ sammāsambuddho siyāti ṭhānametaṃ vijjati.
57. That a woman would be a wheel-turning monarch—such a case does not exist. That a man would be a wheel-turning monarch—such a case exists. That a woman would be Sakka, ruler of the devas—such a case does not exist. That a man would be Sakka, ruler of the devas—such a case exists. That a woman would be Māra the Evil One—such a case does not exist. That a man would be Māra the Evil One—such a case exists. That a woman would be a Great Brahmā—such a case does not exist. That a man would be a Great Brahmā—such a case exists. That a woman would be a Tathāgata, an Arahant, a Perfectly Self-Enlightened One—such a case does not exist. That a man would be a Tathāgata, an Arahant, a Perfectly Self-Enlightened One—such a case exists.
57. Một người nữ là vua Chuyển Luân, trường hợp này không có; một người nam là vua Chuyển Luân, trường hợp này có. Một người nữ là Sakka, vua của chư thiên, trường hợp này không có; một người nam là Sakka, vua của chư thiên, trường hợp này có. Một người nữ là Ma vương Pāpimā, trường hợp này không có; một người nam là Ma vương Pāpimā, trường hợp này có. Một người nữ là Đại Phạm Thiên, trường hợp này không có; một người nam là Đại Phạm Thiên, trường hợp này có. Một người nữ là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trường hợp này không có; một người nam là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trường hợp này có.
Dve tathāgatā arahanto sammāsambuddhā apubbaṃ acarimaṃ ekissā lokadhātuyā uppajjeyyuṃ vā dhammaṃ vā deseyyunti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, ekova tathāgato arahaṃ sammāsambuddho ekissā lokadhātuyā uppajjissati vā dhammaṃ vā desessatīti ṭhānametaṃ vijjati.
That two Tathāgatas, Arahants, Perfectly Self-Enlightened Ones would arise simultaneously in one world-system or teach the Dhamma—such a case does not exist. That only one Tathāgata, an Arahant, a Perfectly Self-Enlightened One, will arise in one world-system or will teach the Dhamma—such a case exists.
Hai vị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không trước không sau, cùng sanh khởi trong một thế giới giới, hoặc cùng thuyết giảng Chánh pháp, trường hợp này không có. Chỉ một vị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, sẽ sanh khởi trong một thế giới giới, hoặc sẽ thuyết giảng Chánh pháp, trường hợp này có.
Tiṇṇaṃ duccaritānaṃ iṭṭho kanto piyo manāpo vipāko bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, tiṇṇaṃ duccaritānaṃ aniṭṭho akanto appiyo amanāpo vipāko bhavissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Tiṇṇaṃ sucaritānaṃ aniṭṭho akanto appiyo amanāpo vipāko bhavissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, tiṇṇaṃ sucaritānaṃ iṭṭho kanto piyo manāpo vipāko bhavissatīti ṭhānametaṃ vijjati.
That the result of the three kinds of misconduct would be desirable, pleasing, dear, and agreeable—this is not a possible case. That the result of the three kinds of misconduct would be undesirable, unpleasing, not dear, and disagreeable—this is a possible case. That the result of the three kinds of good conduct would be undesirable, unpleasing, not dear, and disagreeable—this is not a possible case. That the result of the three kinds of good conduct would be desirable, pleasing, dear, and agreeable—this is a possible case.
Đối với ba ác hạnh, quả báo được mong cầu, được ưa thích, được yêu mến, được hài lòng sẽ xảy ra, trường hợp này không thể có. Đối với ba ác hạnh, quả báo không được mong cầu, không được ưa thích, không được yêu mến, không được hài lòng sẽ xảy ra, trường hợp này có thể có. Đối với ba thiện hạnh, quả báo không được mong cầu, không được ưa thích, không được yêu mến, không được hài lòng sẽ xảy ra, trường hợp này không thể có. Đối với ba thiện hạnh, quả báo được mong cầu, được ưa thích, được yêu mến, được hài lòng sẽ xảy ra, trường hợp này có thể có.
Aññataro samaṇo vā brāhmaṇo vā kuhako lapako nemittako kuhanalapananemittakattaṃ pubbaṅgamaṃ katvā pañca nīvaraṇe appahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu anupaṭṭhitassati † viharanto satta bojjhaṅge abhāvayitvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati, aññataro samaṇo vā brāhmaṇo vā sabbadosāpagato pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu upaṭṭhitassati viharanto satta bojjhaṅge bhāvayitvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhissatīti ṭhānametaṃ vijjati. Yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso idaṃ vuccati ṭhānāṭṭhānañāṇaṃ paṭhamaṃ tathāgatabalaṃ.
That any ascetic or brahmin who is a charlatan, a flatterer, and a diviner—making the practice of charlatanry, flattery, and divination a forerunner, without having abandoned the five hindrances which are defilements of the mind and weakeners of wisdom, dwelling with unestablished mindfulness in the four foundations of mindfulness, without having developed the seven factors of enlightenment—would awaken to unsurpassed perfect self-enlightenment: this is not a possible case. That any ascetic or brahmin who is free from all faults, having abandoned the five hindrances which are defilements of the mind and weakeners of wisdom, dwelling with established mindfulness in the four foundations of mindfulness, having developed the seven factors of enlightenment—would awaken to unsurpassed perfect self-enlightenment: this is a possible case. The knowledge herein regarding cause, regarding possibility, without limitation, is called the knowledge of the possible and the impossible; this is the first power of a Tathāgata.
Một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, là người lừa dối, ba hoa, ra hiệu, sau khi đã lấy sự lừa dối, ba hoa, ra hiệu làm việc đi đầu, không từ bỏ năm triền cái là những phiền não của tâm, làm suy yếu trí tuệ, sống với niệm không được an lập trong bốn niệm xứ, không tu tập bảy giác chi, rồi sẽ chứng ngộ vô thượng chánh đẳng giác, trường hợp này không thể có. Một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đó, đã thoát ly mọi lỗi lầm, sau khi đã từ bỏ năm triền cái là những phiền não của tâm, làm suy yếu trí tuệ, sống với niệm được an lập trong bốn niệm xứ, sau khi đã tu tập bảy giác chi, rồi sẽ chứng ngộ vô thượng chánh đẳng giác, trường hợp này có thể có. Trí tuệ nào ở đây về nhân, về trường hợp, không có giới hạn, đây được gọi là trí về xứ và phi xứ, là Như Lai lực thứ nhất.
Iti ṭhānāṭṭhānagatā sabbe khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā keci saggūpagā keci apāyūpagā keci nibbānūpagā, evaṃ bhagavā āha –
Thus, all phenomena that fall into the category of the possible and impossible are of a nature to be exhausted, of a nature to perish, of a nature to fade away, and of a nature of cessation. Some beings go to a heavenly destination, some go to a destination of loss, and some go to Nibbāna. Thus has the Blessed One spoken:
Như vậy, tất cả những gì liên quan đến xứ và phi xứ đều có bản chất hủy hoại, có bản chất biến mất, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt. Một số đi đến cõi trời, một số đi đến cõi khổ, một số đi đến Niết-bàn. Đức Thế Tôn đã nói như vậy:
58.
58.
58.
Sabbe sattā † marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ;
Yathākammaṃ gamissanti, puññapāpaphalūpagā;
Nirayaṃ pāpakammantā, puññakammā ca suggatiṃ;
Apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavāti †.
All beings will die, for life has death as its end. They will go according to their deeds, reaping the fruits of merit and demerit. Those who have done evil deeds go to hell, and those who have done meritorious deeds go to a good destination. And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints.
Tất cả chúng sanh sẽ chết, vì mạng sống có cái chết là cùng tận. Họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của phước và tội. Những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục, và những người làm phước nghiệp sẽ đến cõi lành. Còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc.
Sabbe sattāti ariyā ca anariyā ca sakkāyapariyāpannā ca sakkāyavītivattā ca. Marissantīti dvīhi maraṇehi dandhamaraṇena ca adandhamaraṇena ca, sakkāyapariyāpannānaṃ adandhamaraṇaṃ sakkāyavītivattānaṃ dandhamaraṇaṃ. Maraṇantaṃ hi jīvitanti khayā āyussa indriyānaṃ uparodhā jīvitapariyanto maraṇapariyanto. Yathākammaṃ gamissantīti kammassakatā. Puññapāpaphalūpagāti kammānaṃ phaladassāvitā ca avippavāso ca.
‘All beings’ means noble ones and ignoble ones, those included in the existing personality and those who have transcended the existing personality. ‘They will die’ means they will die by two kinds of death: by slow death and by non-slow death. For those included in the existing personality, death is non-slow; for those who have transcended the existing personality, death is slow. ‘Life has death as its end’ means the end of life is the end that is death, through the exhaustion of the life-span and the cessation of the faculties. ‘They will go according to their deeds’ means ownership of kamma. ‘Reaping the fruits of merit and demerit’ means that the manifestation of the fruit of kamma and its inseparability are demonstrated.
‘Tất cả chúng sanh’ là các bậc Thánh và phàm phu, những người còn trong thân kiến và những người đã vượt qua thân kiến. ‘Sẽ chết’ là bởi hai loại chết: cái chết chậm và cái chết không chậm. Đối với những người còn trong thân kiến là cái chết không chậm, đối với những người đã vượt qua thân kiến là cái chết chậm. ‘Mạng sống có cái chết là cùng tận’ là do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự chấm dứt của các căn, sự kết thúc của mạng sống là sự kết thúc của cái chết. ‘Họ sẽ đi theo nghiệp của mình’ là nghiệp là sở hữu của họ. ‘Là những người thừa hưởng quả của phước và tội’ là sự biểu hiện quả của các nghiệp và sự không thể tách rời (khỏi quả của nó).
Nirayaṃ pāpakammantāti apuññasaṅkhārā. Puññakammā ca suggatinti puññasaṅkhārā sugatiṃ gamissanti. Apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavāti sabbasaṅkhārānaṃ samatikkamanaṃ. Tenāha bhagavā – ‘‘sabbe…pe… nāsavā’’ti.
‘Those who have done evil deeds go to hell’ refers to those with demeritorious formations. ‘And those who have done meritorious deeds go to a good destination’ means those with meritorious formations will go to a good destination. ‘And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints’ means the transcending of all formations. Therefore, the Blessed One said: ‘All… (etc.)… without taints, attain Parinibbāna.’
‘Những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ là các hành phi phước. ‘Và những người làm phước nghiệp sẽ đến cõi lành’ là các hành phước sẽ đi đến cõi lành. ‘Còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ là sự vượt qua tất cả các hành. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Tất cả…(v.v.)…không còn lậu hoặc’.
‘‘Sabbe sattā marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ. Yathākammaṃ gamissanti, puññapāpaphalūpagā. Nirayaṃ pāpakammantā’’ti āgāḷhā ca nijjhāmā ca paṭipadā. ‘‘Apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavā’’ti majjhimā paṭipadā. ‘‘Sabbe sattā marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ, yathākammaṃ gamissanti, puññapāpaphalūpagā, nirayaṃ pāpakammantā’’ti ayaṃ saṃkileso. Evaṃ saṃsāraṃ nibbattayati. ‘‘Sabbe sattā marissanti…pe… nirayaṃ pāpakammantā’’ti ime tayo vaṭṭā dukkhavaṭṭo kammavaṭṭo kilesavaṭṭo. ‘‘Apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavā’’ti tiṇṇaṃ vaṭṭānaṃ vivaṭṭanā. ‘‘Sabbe sattā marissanti…pe… nirayaṃ pāpakammantā’’ti ādīnavo, ‘‘puññakammā ca suggati’’nti assādo, ‘‘apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavā’’ti nissaraṇaṃ. ‘‘Sabbe sattā marissanti…pe… nirayaṃ pāpakammantā’’ti hetu ca phalañca, pañcakkhandhā phalaṃ, taṇhā hetu, ‘‘apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavā’’ti maggo ca phalañca. ‘‘Sabbe sattā marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ. Yathākammaṃ gamissanti, puññapāpaphalūpagā, nirayaṃ pāpakammantā’’ti ayaṃ saṃkileso, so saṃkileso tividho taṇhāsaṃkileso diṭṭhisaṃkileso duccaritasaṃkilesoti.
By the text, 'All beings will die, for life has death as its end. They will go according to their deeds, reaping the fruits of merit and demerit. Those who have done evil deeds go to hell,' the fearsome practice and the scorching practice are shown. By the text, 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' the middle practice is shown. By the text, 'All beings will die, for life has death as its end, they will go according to their deeds, reaping the fruits of merit and demerit, those who have done evil deeds go to hell,' this is defilement. Thus, it produces saṃsāra. By the text, 'All beings will die… (etc.)… those who have done evil deeds go to hell,' these three rounds are shown: the round of suffering, the round of kamma, and the round of defilements. By the text, 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' the freedom from the three rounds is shown. By the text, 'All beings will die… (etc.)… those who have done evil deeds go to hell,' the disadvantage is shown. By 'and those with meritorious deeds go to a good destination,' the gratification is shown. By 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' the escape is shown. By the text, 'All beings will die… (etc.)… those who have done evil deeds go to hell,' cause and fruit are shown; the five aggregates are the fruit, craving is the cause. By 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' the path and the fruit are stated. By the text, 'All beings will die, for life has death as its end. They will go according to their deeds, reaping the fruits of merit and demerit. Those who have done evil deeds go to hell,' this is defilement. That defilement is threefold: the defilement of craving, the defilement of views, and the defilement of misconduct.
‘Tất cả chúng sanh sẽ chết, mạng sống có cái chết là cùng tận. Họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của phước và tội. Những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ là pháp hành đáng sợ và thiêu đốt. ‘Còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ là trung đạo. ‘Tất cả chúng sanh sẽ chết, mạng sống có cái chết là cùng tận, họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của phước và tội, những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ đây là sự ô nhiễm. Như vậy, nó tạo ra luân hồi. ‘Tất cả chúng sanh sẽ chết…(v.v.)…những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ đây là ba vòng luân hồi: khổ luân, nghiệp luân, phiền não luân. ‘Còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ là sự chấm dứt ba vòng luân hồi. ‘Tất cả chúng sanh sẽ chết…(v.v.)…những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ là sự nguy hại, ‘và những người làm phước nghiệp sẽ đến cõi lành’ là sự thỏa mãn, ‘còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ là sự thoát ly. ‘Tất cả chúng sanh sẽ chết…(v.v.)…những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ là nhân và quả, năm uẩn là quả, ái là nhân, ‘còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ là đạo và quả. ‘Tất cả chúng sanh sẽ chết, mạng sống có cái chết là cùng tận. Họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của phước và tội, những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục’ đây là sự ô nhiễm, sự ô nhiễm ấy có ba loại: ái ô nhiễm, kiến ô nhiễm, và ác hạnh ô nhiễm.
59. Tattha taṇhāsaṃkileso tīhi taṇhāhi niddisitabbo – kāmataṇhāya bhavataṇhāya vibhavataṇhāya. Yena yena vā pana vatthunā ajjhosito, tena teneva niddisitabbo, tassā vitthāro chattiṃsāya taṇhāya jāliniyā vicaritāni. Tattha diṭṭhisaṃkileso ucchedasassatena niddisitabbo, yena yena vā pana vatthunā diṭṭhivasena abhinivisati, ‘‘idameva saccaṃ moghamañña’’nti tena teneva niddisitabbo, tassā vitthāro dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Tattha duccaritasaṃkileso cetanā cetasikakammena niddisitabbo, tīhi duccaritehi kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, tassā vitthāro dasa akusalakammapathā. Apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavāti idaṃ vodānaṃ.
59. Therein, the defilement of craving is to be indicated by three kinds of craving: craving for sensual pleasures, craving for existence, and craving for non-existence. Or, it is to be indicated by whatever object one is attached to. Its detail is the thirty-six courses of the web of craving. Therein, the defilement of views is to be indicated by annihilationism and eternalism. Or, it is to be indicated by whatever object one adheres to by way of views, thinking, 'This alone is true, all else is worthless.' Its detail is the sixty-two kinds of views. Therein, the defilement of misconduct is to be indicated by the action of mental volition, that is, by the three kinds of misconduct: bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. Its detail is the ten unwholesome courses of action. By the text, 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' this is purification.
59. Trong đó, ái ô nhiễm cần được chỉ ra bằng ba loại ái: dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Hoặc bằng bất cứ đối tượng nào mà người ấy bị trói buộc, nó cần được chỉ ra bằng chính đối tượng đó; sự mở rộng của nó là ba mươi sáu dòng ái. Trong đó, kiến ô nhiễm cần được chỉ ra bằng đoạn kiến và thường kiến. Hoặc bằng bất cứ đối tượng nào mà người ấy chấp thủ theo tà kiến, rằng: ‘Chỉ có điều này là thật, điều khác là sai lầm,’ nó cần được chỉ ra bằng chính đối tượng đó; sự mở rộng của nó là sáu mươi hai tà kiến. Trong đó, ác hạnh ô nhiễm cần được chỉ ra bằng nghiệp tư tâm sở; bằng ba ác hạnh: thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, và ý ác hạnh; sự mở rộng của nó là mười con đường nghiệp bất thiện. ‘Còn những người khác, sau khi tu tập đạo lộ, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc’ đây là sự thanh tịnh.
Tayidaṃ vodānaṃ tividhaṃ; taṇhāsaṃkileso samathena visujjhati, so samatho samādhikkhandho, diṭṭhisaṃkileso vipassanāya visujjhati, sā vipassanā paññākkhandho, duccaritasaṃkileso sucaritena visujjhati, taṃ sucaritaṃ sīlakkhandho.
That purification is threefold: the defilement of craving is purified by serenity; that serenity is the aggregate of concentration. The defilement of views is purified by insight; that insight is the aggregate of wisdom. The defilement of misconduct is purified by good conduct; that good conduct is the aggregate of virtue.
Sự thanh tịnh ấy có ba loại: ái ô nhiễm được thanh lọc bởi chỉ, chỉ ấy là định uẩn; kiến ô nhiễm được thanh lọc bởi quán, quán ấy là tuệ uẩn; ác hạnh ô nhiễm được thanh lọc bởi thiện hạnh, thiện hạnh ấy là giới uẩn.
‘‘Sabbe sattā marissanti, maraṇantaṃ hi jīvitaṃ, yathākammaṃ gamissanti, puññapāpaphalūpagā, nirayaṃ pāpakammantā’’ti apuññappaṭipadā, ‘‘puññakammā ca suggati’’nti puññappaṭipadā, ‘‘apare ca maggaṃ bhāvetvā, parinibbantināsavā’’ti puññapāpasamatikkamappaṭipadā, tattha yā ca puññappaṭipadā yā ca apuññappaṭipadā, ayaṃ ekā paṭipadā sabbatthagāminī ekā apāyesu, ekā devesu, yā ca puññapāpasamatikkamā paṭipadā ayaṃ tattha tattha gāminī paṭipadā.
By the text, 'All beings will die, for life has death as its end. They will go according to their deeds, having approached the fruits of merit and demerit. Those who have done evil deeds go to hell,' the practice of demerit is stated. By 'and those with meritorious deeds go to a good destination,' the practice of merit is stated. By 'And others, having developed the path, attain Parinibbāna without taints,' the practice that transcends merit and demerit is stated. Therein, both the practice of merit and the practice of demerit constitute the single practice that leads everywhere: one leads to the woeful states, and one to the deva realms. And the practice that transcends merit and demerit is the practice that leads to that very state.
‘Tất cả chúng sanh sẽ chết, mạng sống quả thật có cái chết là tận cùng, họ sẽ đi theo nghiệp của mình, là những người thừa hưởng quả của phước và tội, những người làm ác nghiệp sẽ đến địa ngục,’ đó là con đường bất thiện; ‘và những người làm phước nghiệp sẽ đến cõi lành,’ đó là con đường phước thiện; ‘và những người khác, sau khi tu tập Thánh đạo, sẽ tịch diệt không còn lậu hoặc,’ đó là con đường vượt qua phước và tội. Trong đó, con đường phước thiện và con đường bất thiện, đây là một con đường đưa đến khắp nơi: một (đưa) đến các cõi khổ, một (đưa) đến các cõi trời. Còn con đường vượt qua phước và tội, đây là con đường đưa đến chính nơi ấy.
Tayo rāsī – micchattaniyato rāsi, sammattaniyato rāsi, aniyato rāsi, tattha yo ca micchattaniyato rāsi yo ca sammattaniyato rāsi ekā paṭipadā tattha tattha gāminī, tattha yo aniyato rāsi, ayaṃ sabbatthagāminī paṭipadā. Kena kāraṇena? Paccayaṃ labhanto niraye upapajjeyya, paccayaṃ labhanto tiracchānayonīsu upapajjeyya, paccayaṃ labhanto pettivisayesu upapajjeyya, paccayaṃ labhanto asuresu upapajjeyya, paccayaṃ labhanto devesu upapajjeyya, paccayaṃ labhanto manussesu upapajjeyya, paccayaṃ labhanto parinibbāyeyya, tasmāyaṃ sabbatthagāminī paṭipadā, yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso, idaṃ vuccati sabbatthagāminī paṭipadā ñāṇaṃ dutiyaṃ tathāgatabalaṃ.
There are three categories: the category fixed in wrongness, the category fixed in rightness, and the unfixed category. Herein, both the category fixed in wrongness and the category fixed in rightness constitute a single practice leading to their respective destinations. The unfixed category, however, is the practice that leads everywhere. For what reason? Gaining a condition, one might be reborn in hell; gaining a condition, one might be reborn in the animal realm; gaining a condition, one might be reborn in the realm of ghosts; gaining a condition, one might be reborn among the asuras; gaining a condition, one might be reborn among the devas; gaining a condition, one might be reborn among humans; or gaining a condition, one might attain Parinibbāna. Therefore, this is the practice that leads everywhere. The knowledge herein—regarding cause, regarding condition, without limit—is called the knowledge of the practice that leads everywhere, the second power of the Tathāgata.
Có ba nhóm: nhóm quyết định tà tánh, nhóm quyết định chánh tánh, và nhóm không quyết định. Trong đó, nhóm quyết định tà tánh và nhóm quyết định chánh tánh là một con đường đưa đến chính nơi ấy. Trong đó, nhóm không quyết định, đây là con đường đưa đến khắp nơi. Vì lý do gì? Khi có được duyên, người ấy có thể sanh vào địa ngục; khi có được duyên, có thể sanh vào loài bàng sanh; khi có được duyên, có thể sanh vào cõi ngạ quỷ; khi có được duyên, có thể sanh vào cõi a-tu-la; khi có được duyên, có thể sanh vào cõi trời; khi có được duyên, có thể sanh vào cõi người; khi có được duyên, có thể Bát-niết-bàn. Do đó, đây là con đường đưa đến khắp nơi. Trí tuệ ở đây về nhân, về trường hợp, một cách không giới hạn, trí tuệ này được gọi là trí về con đường đưa đến khắp nơi, là Như Lai lực thứ hai.
Iti sabbatthagāminī paṭipadā anekadhātuloko, tattha tattha gāminī paṭipadā nānādhātuloko. Tattha katamo anekadhātuloko? Cakkhudhātu rūpadhātu cakkhuviññāṇadhātu, sotadhātu saddadhātu sotaviññāṇadhātu, ghānadhātu gandhadhātu ghānaviññāṇadhātu, jivhādhātu rasadhātu jivhāviññāṇadhātu, kāyadhātu phoṭṭhabbadhātu kāyaviññāṇadhātu, manodhātu dhammadhātu manoviññāṇadhātu, pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu, kāmadhātu, byāpādadhātu, vihiṃsādhātu, nekkhammadhātu, abyāpādadhātu, avihiṃsādhātu, dukkhadhātu, domanassadhātu, avijjādhātu, sukhadhātu, somanassadhātu, upekkhādhātu, rūpadhātu, arūpadhātu, nirodhadhātu, saṅkhāradhātu, nibbānadhātu, ayaṃ anekadhātuloko.
Thus, the practice that leads to all existences is the world of many elements; the practice that leads to that very state is the world of various elements. Herein, what is the world of many elements? The eye-element, the form-element, the eye-consciousness-element; the ear-element, the sound-element, the ear-consciousness-element; the nose-element, the odor-element, the nose-consciousness-element; the tongue-element, the taste-element, the tongue-consciousness-element; the body-element, the tangible-object-element, the body-consciousness-element; the mind-element, the mental-object-element, the mind-consciousness-element; the earth-element, the water-element, the fire-element, the wind-element, the space-element, the consciousness-element; the element of sensual desire, the element of ill will, the element of cruelty; the element of renunciation, the element of non-ill will, the element of non-cruelty; the element of suffering, the element of displeasure, the element of ignorance; the element of happiness, the element of joy, the element of equanimity; the form-element, the formless-element, the cessation-element, the formations-element, the Nibbāna-element. This is the world of many elements.
Như vậy, con đường đưa đến khắp nơi là thế giới có nhiều giới, con đường đưa đến chính nơi ấy là thế giới có các giới khác nhau. Trong đó, thế giới có nhiều giới là gì? Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới; địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới; dục giới, sân giới, hại giới; xuất ly giới, vô sân giới, vô hại giới; khổ giới, ưu giới, vô minh giới; lạc giới, hỷ giới, xả giới; sắc giới, vô sắc giới, diệt giới; hành giới, Niết-bàn giới. Đây là thế giới có nhiều giới.
Tattha katamo nānādhātuloko? Aññā cakkhudhātu, aññā rūpadhātu, aññā cakkhuviññāṇadhātu. Evaṃ sabbā. Aññā nibbānadhātu. Yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso, idaṃ vuccati anekadhātu nānādhātu ñāṇaṃ tatiyaṃ tathāgatabalaṃ.
Herein, what is the world of various elements? The eye-element is one thing, the form-element is another, the eye-consciousness-element is another. So it is with all. The Nibbāna-element is another. The knowledge herein, by way of cause, by way of condition, without limitation, is called the knowledge of the many elements and the various elements—the third power of the Tathāgata.
Trong đó, thế giới có các giới khác nhau là gì? Nhãn giới là khác, sắc giới là khác, nhãn thức giới là khác. Tương tự như vậy đối với tất cả các giới. Niết-bàn giới là khác. Trí tuệ ở đây về nhân, về trường hợp, một cách không giới hạn, trí tuệ này được gọi là trí về thế giới có nhiều giới và các giới khác nhau, là Như Lai lực thứ ba.
60. Iti anekadhātu nānādhātukassa lokassa yaṃ yadeva dhātuṃ sattā adhimuccanti, taṃ tadeva adhiṭṭhahanti abhinivisanti, keci rūpādhimuttā, keci saddādhimuttā, keci gandhādhimuttā, keci rasādhimuttā, keci phoṭṭhabbādhimuttā, keci dhammādhimuttā, keci itthādhimuttā, keci purisādhimuttā, keci cāgādhimuttā, keci hīnādhimuttā, keci paṇītādhimuttā, keci devādhimuttā, keci manussādhimuttā, keci nibbānādhimuttā. Yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso, ayaṃ veneyyo, ayaṃ na veneyyo, ayaṃ saggagāmī, ayaṃ duggatigāmīti, idaṃ vuccati sattānaṃ nānādhimuttikatā ñāṇaṃ catutthaṃ tathāgatabalaṃ.
60. Thus, in this world of many and various elements, whatever element beings are inclined towards, that very element they resolve upon and are intent upon. Some are inclined towards forms, some towards sounds, some towards smells, some towards tastes, some towards tangible objects, some towards mental objects, some towards women, some towards men, some towards generosity, some towards the inferior, some towards the superior, some towards devas, some towards humans, some towards Nibbāna. The knowledge herein, by way of cause, by way of condition, without limitation—that 'This being is trainable,' 'This being is not trainable,' 'This being is one who goes to a happy destination,' 'This being is one who goes to a woeful destination'—this is called the knowledge of the various dispositions of beings, the fourth power of the Tathāgata.
60. Như vậy, đối với thế giới có nhiều giới và các giới khác nhau, chúng sanh có khuynh hướng thiên về giới nào thì họ quyết tâm và chuyên chú vào chính giới đó. Một số có khuynh hướng về sắc, một số có khuynh hướng về thanh, một số có khuynh hướng về hương, một số có khuynh hướng về vị, một số có khuynh hướng về xúc, một số có khuynh hướng về pháp, một số có khuynh hướng về nữ, một số có khuynh hướng về nam, một số có khuynh hướng về bố thí, một số có khuynh hướng về điều hạ liệt, một số có khuynh hướng về điều cao thượng, một số có khuynh hướng về cõi trời, một số có khuynh hướng về cõi người, một số có khuynh hướng về Niết-bàn. Trí tuệ ở đây về nhân, về trường hợp, một cách không giới hạn, (biết rằng): ‘Chúng sanh này có thể giáo hóa, chúng sanh này không thể giáo hóa, chúng sanh này sẽ đi đến cõi lành, chúng sanh này sẽ đi đến cõi khổ,’ trí tuệ này được gọi là trí về các khuynh hướng khác nhau của chúng sanh, là Như Lai lực thứ tư.
Iti te yathādhimuttā ca bhavanti, taṃ taṃ kammasamādānaṃ samādiyanti. Te chabbidhaṃ kammaṃ samādiyanti – keci lobhavasena, keci dosavasena, keci mohavasena, keci saddhāvasena, keci vīriyavasena, keci paññāvasena. Taṃ vibhajjamānaṃ duvidhaṃ – saṃsāragāmi ca nibbānagāmi ca.
Thus, as they are in accordance with their inclinations, they undertake that particular undertaking of kamma. They undertake six kinds of kamma: some through the power of greed, some through the power of hatred, some through the power of delusion, some through the power of faith, some through the power of energy, and some through the power of wisdom. When analyzed, this kamma is twofold: that which leads through saṃsāra and that which leads to Nibbāna.
Như vậy, họ có khuynh hướng như thế nào thì họ thực hành việc tạo nghiệp tương ứng như thế ấy. Họ thực hành sáu loại nghiệp: một số do tham, một số do sân, một số do si, một số do tín, một số do tấn, một số do tuệ. Khi được phân chia, nghiệp ấy có hai loại: nghiệp đưa đến luân hồi và nghiệp đưa đến Niết-bàn.
Tattha yaṃ lobhavasena dosavasena mohavasena ca kammaṃ karoti, idaṃ kammaṃ kaṇhaṃ kaṇhavipākaṃ. Tattha yaṃ saddhāvasena kammaṃ karoti, idaṃ kammaṃ sukkaṃ sukkavipākaṃ. Tattha yaṃ lobhavasena dosavasena mohavasena saddhāvasena ca kammaṃ karoti, idaṃ kammaṃ kaṇhasukkaṃ kaṇhasukkavipākaṃ. Tattha yaṃ vīriyavasena paññāvasena ca kammaṃ karoti, idaṃ kammaṃ akaṇhaṃ asukkaṃ akaṇhaasukkavipākaṃ kammuttamaṃ kammaseṭṭhaṃ kammakkhayāya saṃvattati.
Herein, whatever kamma one performs through the power of greed, the power of hatred, and the power of delusion, this kamma is dark with a dark result. Herein, whatever kamma one performs through the power of faith, this kamma is bright with a bright result. Herein, whatever kamma one performs through the power of greed, the power of hatred, the power of delusion, and the power of faith, this kamma is dark-and-bright with a dark-and-bright result. Herein, whatever kamma one performs through the power of energy and the power of wisdom, this kamma is neither dark nor bright, with a neither-dark-nor-bright result. Being the highest kamma, the best of kammas, this kamma leads to the destruction of kamma.
Trong đó, nghiệp nào được làm do tham, do sân, và do si, nghiệp này là nghiệp đen, có quả đen. Trong đó, nghiệp nào được làm do tín, nghiệp này là nghiệp trắng, có quả trắng. Trong đó, nghiệp nào được làm do tham, do sân, do si, và do tín, nghiệp này là nghiệp vừa đen vừa trắng, có quả vừa đen vừa trắng. Trong đó, nghiệp nào được làm do tấn và do tuệ, nghiệp này không đen, không trắng, có quả không đen không trắng, là nghiệp tối thượng, là nghiệp cao tột, đưa đến sự đoạn tận các nghiệp.
Cattāri kammasamādānāni. Atthi kammasamādānaṃ paccuppannasukhaṃ āyatiṃ dukkhavipākaṃ, atthi kammasamādānaṃ paccuppannadukkhaṃ āyatiṃ sukhavipākaṃ, atthi kammasamādānaṃ paccuppannadukkhañceva āyatiṃ ca dukkhavipākaṃ, atthi kammasamādānaṃ paccuppannasukhañceva āyatiṃ ca sukhavipākaṃ. Yaṃ evaṃ jātiyaṃ kammasamādānaṃ, iminā puggalena akusalakammasamādānaṃ upacitaṃ avipakkaṃ vipākāya paccupaṭṭhitaṃ na ca bhabbo abhinibbidhā gantunti taṃ bhagavā na ovadati. Yathā devadattaṃ kokālikaṃ sunakkhattaṃ licchaviputtaṃ, ye vā panaññepi sattā micchattaniyatā imesañca puggalānaṃ upacitaṃ akusalaṃ na ca tāva pāripūriṃ gataṃ, purā pāripūriṃ gacchati. Purā phalaṃ nibbattayati, purā maggamāvārayati, purā veneyyattaṃ samatikkamatīti te bhagavā asamatte ovadati. Yathā puṇṇañca govatikaṃ acelañca kukkuravatikaṃ.
There are four undertakings of kamma. There is an undertaking of kamma that is pleasant in the present and has a painful result in the future. There is an undertaking of kamma that is painful in the present and has a pleasant result in the future. There is an undertaking of kamma that is both painful in the present and has a painful result in the future. There is an undertaking of kamma that is both pleasant in the present and has a pleasant result in the future. When the Blessed One knows of a person: 'By this person, an unwholesome undertaking of kamma has been accumulated; it is unripe but is present to give its result, and he is incapable of attaining disenchantment,' He does not admonish that person. Such were Devadatta, Kokālika, and Sunakkhatta, the Licchavi son. But as for any other beings who are fixed in wrongness, yet for these persons the accumulated unwholesome kamma has not yet reached completion: knowing that before it reaches completion, before it produces its fruit, before it obstructs the path, before it transcends trainability, the Blessed One admonishes those persons while their kamma is incomplete. Such were Puṇṇa, who practiced the cow-asceticism, and the naked ascetic who practiced the dog-asceticism.
Có bốn sự thực hành nghiệp. Có sự thực hành nghiệp hiện tại an lạc, tương lai quả khổ; có sự thực hành nghiệp hiện tại khổ, tương lai quả an lạc; có sự thực hành nghiệp hiện tại khổ và tương lai cũng quả khổ; có sự thực hành nghiệp hiện tại an lạc và tương lai cũng quả an lạc. Đối với hạng người này, sự thực hành nghiệp bất thiện đã được tích lũy, chưa chín muồi, đã hiện khởi để cho quả, và không có khả năng đi đến sự nhàm chán, Đức Thế Tôn không giáo huấn người ấy. Như Devadatta, Kokālika, Sunakkhatta con trai của Licchavi, hoặc lại nữa, những chúng sanh nào khác là hạng tà kiến cố định. Và đối với những hạng người này, nghiệp bất thiện đã được tích lũy nhưng chưa đi đến chỗ viên mãn, trước khi đi đến chỗ viên mãn, trước khi làm cho quả sanh khởi, trước khi ngăn che đạo, trước khi vượt qua khả năng được giáo hóa, Đức Thế Tôn giáo huấn những người ấy khi (nghiệp) chưa viên mãn. Như Puṇṇa người thực hành hạnh con bò và Acela người thực hành hạnh con chó.
61. Imassa ca puggalassa akusalakammasamādānaṃ paripūramānaṃ maggaṃ āvārayissati purā pāripūriṃ gacchati, purā phalaṃ nibbattayati, purā maggamāvārayati, purā veneyyattaṃ samatikkamatīti taṃ bhagavā asamattaṃ ovadati. Yathā āyasmantaṃ aṅgulimālaṃ.
61. And for this person, the Blessed One knows: 'This person's unwholesome undertaking of kamma, upon becoming complete, will obstruct the path.' Knowing that before it reaches completion, before it produces its fruit, before it obstructs the path, before it transcends trainability, the Blessed One admonishes that person while it is incomplete. Such was the Venerable Aṅgulimāla.
61. Và đối với hạng người này, sự thực hành nghiệp bất thiện khi đang viên mãn sẽ ngăn che đạo, (vì thế) trước khi nó đi đến chỗ viên mãn, trước khi nó làm cho quả sanh khởi, trước khi nó ngăn che đạo, trước khi nó vượt qua khả năng được giáo hóa, Đức Thế Tôn giáo huấn người ấy khi (nghiệp) chưa viên mãn. Như Tôn giả Aṅgulimāla.
Sabbesaṃ mudumajjhādhimattatā. Tattha mudu āneñjābhisaṅkhārā majjhaṃ avasesakusalasaṅkhārā, adhimattaṃ akusalasaṅkhārā, yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso, idaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ, idaṃ upapajjavedanīyaṃ, idaṃ aparāpariyavedanīyaṃ, idaṃ nirayavedanīyaṃ, idaṃ tiracchānavedanīyaṃ, idaṃ pettivisayavedanīyaṃ, idaṃ asuravedanīyaṃ, idaṃ devavedanīyaṃ, idaṃ manussavedanīyanti, idaṃ vuccati atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso vipākavemattatā ñāṇaṃ pañcamaṃ tathāgatabalaṃ.
Of all kammas, there is the state of being soft, medium, and intense. Herein, the imperturbable formations are soft; the remaining wholesome formations are medium; and the unwholesome formations are intense. The knowledge herein, by way of cause, by way of condition, without limitation, is this: 'This result is to be experienced in this very life,' 'This result is to be experienced in the next birth,' 'This result is to be experienced in subsequent births'; 'This result is to be experienced in hell,' 'This result is to be experienced in the animal realm,' 'This result is to be experienced in the realm of petas,' 'This result is to be experienced in the realm of asuras,' 'This result is to be experienced in the deva world,' 'This result is to be experienced in the human world.' This is called the knowledge of the diversity of results of past, future, and present undertakings of kamma, by way of cause, by way of condition, without limitation—the fifth power of the Tathāgata.
Đối với tất cả (các nghiệp) có trạng thái mềm, trung bình, và vượt trội. Trong đó, các bất động hành là mềm, các thiện hành còn lại là trung bình, các bất thiện hành là vượt trội. Trí tuệ ở đây (phát sanh) do nhân, do trường hợp, một cách không giới hạn (biết rằng): 'Quả này là hiện pháp thọ, quả này là sanh thọ, quả này là hậu sanh thọ, quả này là cảm thọ ở địa ngục, quả này là cảm thọ ở (loài) bàng sanh, quả này là cảm thọ ở cõi ngạ quỷ, quả này là cảm thọ ở (cõi) a-tu-la, quả này là cảm thọ ở (cõi) trời, quả này là cảm thọ ở (cõi) người.' Trí tuệ này được gọi là Như Lai lực thứ năm: trí biết sự khác biệt về quả của các sự thực hành nghiệp trong quá khứ, tương lai, và hiện tại, do nhân, do trường hợp, một cách không giới hạn.
62. Iti tathā samādinnānaṃ kammānaṃ samādinnānaṃ jhānānaṃ vimokkhānaṃ samādhīnaṃ samāpattīnaṃ ayaṃ saṃkileso, idaṃ vodānaṃ, idaṃ vuṭṭhānaṃ, evaṃ saṃkilissati, evaṃ vodāyati, evaṃ vuṭṭhahatīti ñāṇaṃ anāvaraṇaṃ.
62. Thus, for kammas, jhānas, liberations, concentrations, and attainments so undertaken: this is the defilement, this is the purification, this is the emergence. The knowledge that 'In this way it becomes defiled, in this way it is purified, in this way one emerges' is unobstructed.
62. Như vậy, đối với các nghiệp, các thiền, các giải thoát, các định, các nhập đã được thực hành như thế, (trí tuệ biết): 'Đây là sự ô nhiễm, đây là sự trong sạch, đây là sự xuất khởi; ô nhiễm như thế này, trong sạch như thế này, xuất khởi như thế này.' Trí tuệ này là không bị ngăn che.
Tattha kati jhānāni? Cattāri jhānāni. Kati vimokkhā? Ekādasa ca aṭṭha ca satta ca tayo ca dve ca. Kati samādhī? Tayo samādhī – savitakko savicāro samādhi, avitakko vicāramatto samādhi, avitakko avicāro samādhi. Kati samāpattiyo? Pañca samāpattiyo – saññāsamāpatti asaññāsamāpatti nevasaññānāsaññāsamāpatti vibhūtasaññāsamāpatti † nirodhasamāpatti.
Herein, how many jhānas are there? Four jhānas. How many liberations? There are eleven, eight, seven, three, and two. How many concentrations? There are three concentrations: concentration with applied thought and sustained thought, concentration without applied thought but with sustained thought only, and concentration without applied thought or sustained thought. How many attainments? There are five attainments: the attainment of perception, the attainment of non-perception, the attainment of neither-perception-nor-non-perception, the attainment of manifest perception, and the attainment of cessation.
Trong đó, có bao nhiêu thiền? Có bốn thiền. Có bao nhiêu giải thoát? Có mười một, và tám, và bảy, và ba, và hai. Có bao nhiêu định? Có ba định: định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, và định không tầm không tứ. Có bao nhiêu nhập? Có năm nhập: tưởng nhập, vô tưởng nhập, phi tưởng phi phi tưởng nhập, vibhūtasaññāsamāpatti, và diệt nhập.
Tattha katamo saṃkileso? Paṭhamajjhānassa kāmarāgabyāpādā saṃkileso. Ye ca kukkuṭajhāyī dve paṭhamakā yo vā pana koci hānabhāgiyo samādhi, ayaṃ saṃkileso. Tattha katamaṃ vodānaṃ, nīvaraṇapārisuddhi, paṭhamassa jhānassa ye ca kukkuṭajhāyī dve pacchimakā yo vā pana koci visesabhāgiyo samādhi, idaṃ vodānaṃ. Tattha katamaṃ vuṭṭhānaṃ? Yaṃ samāpattivuṭṭhānakosallaṃ, idaṃ vuṭṭhānaṃ. Yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso, idaṃ vuccati sabbesaṃ jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesavodānavuṭṭhānañāṇaṃ chaṭṭhaṃ tathāgatabalaṃ.
Herein, what is defilement? For the first jhāna, sensual desire and ill will are defilements. And the first two kinds of persons who enter jhāna without aversion, or alternatively, any concentration that is subject to decline—this is defilement. Herein, what is cleansing? The purification from hindrances for the first jhāna, and the last two kinds of persons who enter jhāna without aversion, or alternatively, any concentration that is subject to distinction—this is cleansing. Herein, what is emergence? The skill in emerging from attainment—this is emergence. The knowledge herein, by way of cause, by way of condition, and without limitation, is called the knowledge of defilement, cleansing, and emergence regarding all jhānas, liberations, concentrations, and attainments—the sixth power of the Tathāgata.
Trong đó, thế nào là sự ô nhiễm? Đối với sơ thiền, tham dục và sân hận là sự ô nhiễm. Và hai hạng đầu của những người thiền kukkuṭa, hoặc lại nữa, bất cứ định nào thuộc phần thoái hóa, đây là sự ô nhiễm. Trong đó, thế nào là sự trong sạch? Sự thanh tịnh khỏi các triền cái đối với sơ thiền, và hai hạng sau của những người thiền kukkuṭa, hoặc lại nữa, bất cứ định nào thuộc phần thắng tấn, đây là sự trong sạch. Trong đó, thế nào là sự xuất khởi? Sự thiện xảo trong việc xuất khỏi định, đây là sự xuất khởi. Trí tuệ ở đây (phát sanh) do nhân, do trường hợp, một cách không giới hạn, trí tuệ này được gọi là Như Lai lực thứ sáu: trí biết về sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của tất cả thiền, giải thoát, định, và nhập.
63. Iti tasseva samādhissa tayo dhammā parivārā indriyāni balāni vīriyamiti, tāniyeva indriyāni vīriyavasena balāni bhavanti, ādhipateyyaṭṭhena indriyāni, akampiyaṭṭhena balāni, iti tesaṃ mudumajjhādhimattatā ayaṃ mudindriyo ayaṃ majjhindriyo ayaṃ tikkhindriyoti. Tattha bhagavā tikkhindriyaṃ saṃkhittena ovādena ovadati, majjhindriyaṃ bhagavā saṃkhittavitthārena ovadati, mudindriyaṃ bhagavā vitthārena ovadati. Tattha bhagavā tikkhindriyassa mudukaṃ dhammadesanaṃ upadisati, majjhindriyassa bhagavā mudutikkhadhammadesanaṃ upadisati, mudindriyassa bhagavā tikkhaṃ dhammadesanaṃ upadisati. Tattha bhagavā tikkhindriyassa samathaṃ upadisati, majjhindriyassa bhagavā samathavipassanaṃ upadisati, mudindriyassa bhagavā vipassanaṃ upadisati. Tattha bhagavā tikkhindriyassa nissaraṇaṃ upadisati, majjhindriyassa bhagavā ādīnavañca nissaraṇañca upadisati, mudindriyassa bhagavā assādañca ādīnavañca nissaraṇañca upadisati. Tattha bhagavā tikkhindriyassa adhipaññāsikkhāya paññāpayati, majjhindriyassa bhagavā adhicittasikkhāya paññāpayati, mudindriyassa bhagavā adhisīlasikkhāya paññāpayati.
63. Thus, for that very concentration, there are three attendant qualities: the faculties, the powers, and energy. Those same faculties become powers through the strength of energy. In the sense of dominance, they are faculties; in the sense of being unshakable, they are powers. Thus, their gradation is as soft, medium, and sharp: this is one with soft faculties, this is one with medium faculties, this is one with sharp faculties. Herein, the Blessed One instructs the one with sharp faculties with a brief exhortation; the Blessed One instructs the one with medium faculties with a brief and detailed exhortation; the Blessed One instructs the one with mild faculties with a detailed exhortation. Herein, the Blessed One points out a gentle Dhamma discourse to the one with sharp faculties; the Blessed One points out a gentle and sharp Dhamma discourse to the one with medium faculties; the Blessed One points out a sharp Dhamma discourse to the one with mild faculties. Herein, the Blessed One points out tranquility to the one with sharp faculties; the Blessed One points out tranquility and insight to the one with medium faculties; the Blessed One points out insight to the one with mild faculties. Herein, the Blessed One points out escape to the one with sharp faculties; the Blessed One points out both the drawback and escape to the one with medium faculties; the Blessed One points out the gratification, the drawback, and the escape to the one with mild faculties. Herein, the Blessed One prescribes the training in higher wisdom for the one with sharp faculties; the Blessed One prescribes the training in higher mind for the one with medium faculties; and the Blessed One prescribes the training in higher virtue for the one with mild faculties.
63. Như vậy, chính định ấy có ba pháp tùy tùng: các quyền, các lực, và tinh tấn. Chính các quyền ấy, do năng lực của tinh tấn, trở thành các lực. Theo nghĩa làm chủ là các quyền, theo nghĩa không lay động là các lực. Như vậy, chúng có trạng thái mềm, trung bình, và vượt trội: người này có quyền mềm, người này có quyền trung bình, người này có quyền sắc bén. Trong đó, Đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền sắc bén bằng lời giáo huấn tóm tắt; Đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền trung bình bằng lời giáo huấn tóm tắt và chi tiết; Đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền mềm bằng lời giáo huấn chi tiết. Trong đó, Đức Thế Tôn chỉ dạy pháp thoại nhu hòa cho người có quyền sắc bén; Đức Thế Tôn chỉ dạy pháp thoại nhu hòa và sắc bén cho người có quyền trung bình; Đức Thế Tôn chỉ dạy pháp thoại sắc bén cho người có quyền mềm. Trong đó, Đức Thế Tôn chỉ dạy chỉ tịnh cho người có quyền sắc bén; Đức Thế Tôn chỉ dạy chỉ tịnh và quán minh cho người có quyền trung bình; Đức Thế Tôn chỉ dạy quán minh cho người có quyền mềm. Trong đó, Đức Thế Tôn chỉ dạy sự xuất ly cho người có quyền sắc bén; Đức Thế Tôn chỉ dạy sự nguy hại và sự xuất ly cho người có quyền trung bình; Đức Thế Tôn chỉ dạy vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly cho người có quyền mềm. Trong đó, Đức Thế Tôn chế định tăng thượng tuệ học cho người có quyền sắc bén; Đức Thế Tôn chế định tăng thượng tâm học cho người có quyền trung bình; Đức Thế Tôn chế định tăng thượng giới học cho người có quyền mềm.
Yaṃ ettha ñāṇaṃ hetuso ṭhānaso anodhiso ayaṃ imaṃ bhūmiṃ bhāvanañca gato, imāya velāya imāya anusāsaniyā evaṃ dhātuko cāyaṃ ayaṃ cassa āsayo ayañca anusayo iti, idaṃ vuccati parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyaparopariyattavemattatā ñāṇaṃ sattamaṃ tathāgatabalaṃ.
The knowledge herein, by way of cause, by way of condition, and without limitation, that: 'This one has reached this plane and this cultivation, at this time, with this instruction; such is his disposition, such is his inclination, and such is his underlying tendency.' This is called the knowledge of the diversity in the degree of mastery of the faculties of other beings and other individuals—the seventh power of the Tathāgata.
Trí tuệ ở đây (phát sanh) do nhân, do trường hợp, một cách không giới hạn (biết rằng): 'Người này đã đạt đến cảnh giới này và sự tu tập này, vào thời điểm này, bằng lời giáo huấn này; và người này có bản chất như thế này, và đây là khuynh hướng của người ấy, và đây là tùy miên (của người ấy).' Trí tuệ này được gọi là Như Lai lực thứ bảy: trí biết sự khác biệt về mức độ cao thấp của các quyền của các chúng sanh khác, các hạng người khác.
Iti tattha yaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekānipi jātisatāni anekānipi jātisahassāni anekānipi jātisatasahassāni anekepi saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe. Amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṃ. Tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapannoti, iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati.
Thus, herein, he recollects his manifold past abodes. That is to say: one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many thousands of births, many hundreds of thousands of births, many eons of contraction, many eons of expansion, many eons of contraction and expansion. ‘There I was of such a name, such a clan, such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life-span. Passing away from there, I was reborn elsewhere. There too I was of such a name, such a clan, such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such the end of my life-span. Passing away from there, I have been reborn here.’ Thus he recollects his manifold past abodes with their aspects and with their summary indications.
Như vậy, ở đây vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là: một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành và hoại. ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ giới hạn như thế này. Ta, người ấy, sau khi chết từ kiếp sống đó, đã sanh vào nơi kia. Và tại nơi đó, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ giới hạn như thế này. Ta, người ấy, sau khi chết từ kiếp sống đó, đã sanh vào nơi đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các trạng thái và các chi tiết.
64. Tattha saggūpagesu ca sattesu manussūpagesu ca sattesu apāyūpagesu ca sattesu imassa puggalassa lobhādayo ussannā alobhādayo mandā, imassa puggalassa alobhādayo ussannā lobhādayo mandā, ye vā pana ussannā ye vā pana mandā imassa puggalassa imāni indriyāni upacitāni imassa puggalassa imāni indriyāni anupacitāni amukāya vā kappakoṭiyaṃ kappasatasahasse vā kappasahasse vā kappasate vā kappe vā antarakappe vā upaḍḍhakappe vā saṃvacchare vā upaḍḍhasaṃvacchare vā māse vā pakkhe vā divase vā muhutte vā iminā pamādena vā pasādena vāti. Taṃ taṃ bhavaṃ bhagavā anussaranto asesaṃ jānāti, tattha yaṃ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā.
64. Herein, among beings bound for heaven, among beings bound for the human world, and among beings bound for the plane of misery, for this individual, greed and related qualities are abundant and non-greed and related qualities are weak; for this individual, non-greed and related qualities are abundant and greed and related qualities are weak. And whichever are abundant, whichever are weak, for this individual these faculties have not been accumulated—whether in a crore of eons, or a hundred thousand eons, or a thousand eons, or a hundred eons, or an eon, or an intermediary eon, or half an eon, or a year, or half a year, or a month, or a fortnight, or a day, or a moment—through this negligence or this confidence. Recalling each and every existence, the Blessed One knows it completely. Herein, with the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good destinations and bad destinations—and he understands beings faring according to their kamma: "Indeed, sirs, these beings were endowed with misconduct of body, speech, and mind; they were revilers of the noble ones, held wrong views, and undertook actions based on wrong view. They, with the breakup of the body, after death, have been reborn in the plane of misery, a bad destination, a state of ruin, in hell."
64. Ở đây, đối với các chúng sanh sanh về cõi trời, các chúng sanh sanh về cõi người, và các chúng sanh sanh về cõi khổ, (Ngài biết rằng): ‘Đối với cá nhân này, tham v.v... thì dồi dào, vô tham v.v... thì yếu kém; đối với cá nhân này, vô tham v.v... thì dồi dào, tham v.v... thì yếu kém; những gì dồi dào, những gì yếu kém; đối với cá nhân này, các căn này đã được tích tập; đối với cá nhân này, các căn này đã không được tích tập; trong vô số kiếp nào đó, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc một kiếp, hoặc một trung kiếp, hoặc nửa kiếp, hoặc một năm, hoặc nửa năm, hoặc một tháng, hoặc nửa tháng, hoặc một ngày, hoặc một khoảnh khắc, do sự dễ duôi này hoặc do sự trong sạch này.’ Đức Thế Tôn, khi nhớ lại từng kiếp sống ấy, biết một cách không sót. Ở đây, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài mắt người thường, Ngài thấy các chúng sanh đang chết đi, đang sanh lại; hạ liệt, cao sang; xinh đẹp, xấu xí; thiện thú, ác thú; Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Này các bạn, thật vậy, những chúng sanh này đã đầy đủ thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ nghiệp tà kiến. Họ, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.’
Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā, tattha saggūpagesu ca sattesu manussūpagesu ca sattesu apāyūpagesu ca sattesu iminā puggalena evarūpaṃ kammaṃ amukāya kappakoṭiyaṃ upacitaṃ kappasatasahasse vā kappasahasse vā kappasate vā kappe vā antarakappe vā upaḍḍhakappe vā saṃvacchare vā upaḍḍhasaṃvacchare vā māse vā pakkhe vā divase vā muhutte vā iminā pamādena vā pasādena vāti. Imāni bhagavato dve ñāṇāni – pubbenivāsānussatiñāṇañca dibbacakkhu ca aṭṭhamaṃ navamaṃ tathāgatabalaṃ.
Sirs, these beings are endowed with good bodily conduct, good verbal conduct, and good mental conduct; they do not revile the noble ones, possess right view, and undertake actions based on right view. On the breaking up of the body, after death, they are reborn in a good destination, the heavenly world. Thus He knows: among beings who have reached the heavenly world, among beings who have reached the human world, and among beings who have reached the planes of misery, that by this person such kamma was accumulated in such-and-such a koṭi of kappas, or in a hundred thousand kappas, or in a thousand kappas, or in a hundred kappas, or in a kappa, or in an intermediate kappa, or in a half kappa, or in a year, or in a month, or in a fortnight, or in a day, or in a moment, through such-and-such negligence or through such-and-such faith. These two knowledges of the Blessed One—the knowledge of the recollection of past lives and the divine eye—are the eighth and ninth powers of the Tathāgata.
‘Này các bạn, còn những chúng sanh này đã đầy đủ thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ nghiệp chánh kiến. Họ, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào thiện thú, cõi trời.’ Ở đây, đối với các chúng sanh sanh về cõi trời, các chúng sanh sanh về cõi người, và các chúng sanh sanh về cõi khổ, (Ngài biết rằng): ‘Bởi cá nhân này, nghiệp như thế này đã được tích tập trong vô số kiếp nào đó, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc một kiếp, hoặc một trung kiếp, hoặc nửa kiếp, hoặc một năm, hoặc nửa năm, hoặc một tháng, hoặc nửa tháng, hoặc một ngày, hoặc một khoảnh khắc, do sự dễ duôi này hoặc do sự trong sạch này.’ Hai trí này của Đức Thế Tôn – Túc Mạng Tùy Niệm Trí và Thiên Nhãn Trí – là Như Lai lực thứ tám và thứ chín.
Iti tattha yaṃ sabbaññutā pattā viditā sabbadhammā virajaṃ vītamalaṃ uppannaṃ sabbaññutañāṇaṃ nihato māro bodhimūle, idaṃ bhagavato dasamaṃ balaṃ sabbāsavaparikkhayaṃ ñāṇaṃ. Dasabalasamannāgatā hi buddhā bhagavantoti.
Thus, among these, that omniscience was attained, all dhammas were known, the stainless and undefiled knowledge of omniscience arose, and Māra was slain at the foot of the Bodhi tree—this, the knowledge of the destruction of all taints, is the tenth power of the Blessed One. Indeed, the Buddhas, the Blessed Ones, are endowed with the ten powers.
Như vậy, ở đây, sự chứng đắc Nhất Thiết Trí, việc biết tất cả các pháp, sự sanh khởi của Nhất Thiết Trí không bụi bặm không ô uế, việc ma bị tiêu diệt tại cội Bồ-đề — trí tuệ làm cạn kiệt tất cả các lậu hoặc này của Đức Thế Tôn là lực thứ mười. Quả thật, các đức Phật, các đức Thế Tôn, đều đầy đủ mười lực.
Niyutto vicayo hārasampāto.
The exposition of the Coincidence of Investigation is concluded.
Phần trình bày về phương pháp Trạch Pháp đã được sắp đặt.