Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 21

Bản dịch

NE 21Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu

Vicayahārasampāta

Ở đấy, sự phối hợp cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu là sự việc nào? Ở đấy, tham ái có hai loại: tốt và không tốt. Không tốt đưa đến luân hồi, tốt đưa đến giảm thiểu, là tham ái về việc dứt bỏ. Ngã mạn cũng có hai loại: tốt và không tốt. Nương vào ngã mạn nào mà dứt bỏ ngã mạn, ngã mạn này là tốt. Trái lại, ngã mạn nào sanh ra khổ, ngã mạn này là không tốt.

Ở đấy, nỗi ưu phiền dựa vào việc xuất ly là: “Khi nào ta sẽ chứng ngộ và đạt đến xứ ấy, rồi an trú, là xứ an tịnh mà các bậc Thánh đã chứng ngộ và đạt đến, rồi an trú?” Như thế sự mong cầu sanh khởi đến vị ấy; do duyên mong cầu, ưu phiền (sanh khởi); tham ái này là tốt, (bởi vì) có sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái; (tham ái) với điều ấy làm đối tượng là tốt, (bởi vì) có sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh.

Việc ấy (sự giải thoát của tuệ) có cái gì là sự nghiên cứu? Tám chi phần của Đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Điều ấy có thể được thấy ở đâu? Ở trạng thái toàn hảo ở tứ thiền. Bởi vì ở tứ thiền, tâm được hội đủ tám chi phần: hoàn toàn trong sạch, tinh khiết, không bợn nhơ, lìa khỏi phiền não, nhu thuận, có thể sử dụng, ổn định, đã đạt đến trạng thái vững chắc. Ở đấy, vị ấy chứng đắc tám pháp: sáu thắng trí và hai pháp đặc biệt. Tâm ấy, khi được hoàn toàn trong sạch, từ đó được tinh khiết; khi được tinh khiết, từ đó không bợn nhơ; khi không bợn nhơ, từ đó lìa khỏi phiền não; khi lìa khỏi phiền não, từ đó được nhu thuận; khi được nhu thuận, từ đó có thể sử dụng; khi có thể sử dụng, từ đó được ổn định; khi được ổn định, từ đó đạt đến trạng thái vững chắc. Ở đấy, bợn nhơ và cận phiền não (pháp làm ô nhiễm), cả hai cái ấy là thuộc phe tham ái, sự xao động và sự không ổn định của tâm là thuộc phe tà kiến.

Bốn quyền: khổ quyền, ưu quyền, lạc quyền, hỷ quyền được diệt tận ở tứ thiền. Xả quyền là phần còn lại của vị ấy.

Vị ấy tác ý sự chứng đạt cao nhất là an tịnh. Trong khi vị ấy tác ý sự chứng đạt cao nhất là an tịnh thì tưởng thô thiển ở tứ thiền dừng lại, và bất bình tưởng bị chán ngán. Do sự vượt qua hẳn các sắc tưởng một cách trọn vẹn, do sự biến mất của bất bình tưởng, do sự không tác ý đến dị biệt tưởng, vị ấy (tác ý rằng:) ‘Hư không là vô biên,’ chứng ngộ và đạt đến sự chứng đạt không vô biên xứ, rồi an trú. Hoài bão về thắng trí là sắc tưởng, sự khác nhau (ở các đối tượng khác nhau) là dị biệt tưởng, vị này vượt qua hẳn (các pháp ấy), và bất bình tưởng đi đến sự biến mất đối với vị này. Khi vị ấy được định như vậy, ánh sáng và việc nhìn thấy các sắc của vị ấy biến mất. Định hội đủ sáu chi phần ấy nên được quán xét lại: Ý của ta về toàn bộ thế gian là không đồng hành với tham đắm, tâm của ta là không sân hận đối với tất cả chúng sanh, sự nỗ lực tinh tấn của ta đã được ra sức, thân của ta được an tịnh không bị kích động,― ―tâm của ta được định tĩnh không bị tán loạn, niệm của ta được thiết lập không bị lơ đễnh. Ở đấy, ý về toàn bộ thế gian không đồng hành với tham đắm, tâm không sân hận đối với tất cả chúng sanh, sự nỗ lực tinh tấn đã được ra sức, tâm được định tĩnh không bị tán loạn, điều này là chỉ tịnh; thân được an tịnh không bị kích động là sự thiết yếu của định; niệm được thiết lập không bị lơ đễnh là minh sát.

Định ấy nên được biết theo năm cách: ‘Định này là có lạc hiện tại,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là có quả báo lạc ở vị lai,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là thánh thiện, không liên hệ vật chất,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là được thực hành không dành cho kẻ tầm thường,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. ‘Định này là an tịnh, cao quý, đạt được sự tịch tịnh, đạt đến trạng thái chuyên nhất, và không có phận sự ngăn chặn (ô nhiễm) sau khi đã chế ngự pháp tạo tác,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. Hơn nữa, ‘Có niệm ta thể nhập định này, có niệm ta xuất ra khỏi nó,’ sự biết và thấy như thế được thiết lập chỉ riêng cho vị này. Ở đấy, định có lạc hiện tại và định có quả báo lạc ở vị lai là chỉ tịnh; định thánh thiện, không liên hệ vật chất, định được thực hành không dành cho kẻ tầm thường, định an tịnh, cao quý, đạt được sự tịch tịnh, đạt đến trạng thái chuyên nhất, và không có phận sự ngăn chặn (ô nhiễm) sau khi đã chế ngự pháp tạo tác; hơn nữa việc ‘có niệm ta thể nhập định này, có niệm ta xuất ra khỏi nó’ là minh sát.

Định ấy nên được biết theo năm cách: Trạng thái lan tỏa của hỷ, trạng thái lan tỏa của lạc, trạng thái lan tỏa của tâm, trạng thái lan tỏa của ánh sáng, hiện tướng quán xét lại. Ở đấy, sự lan tỏa của hỷ, sự lan tỏa của lạc, sự lan tỏa của tâm là chỉ tịnh; sự lan tỏa của ánh sáng và hiện tướng quán xét lại là minh sát.

Mười lãnh vực của đề mục: đề mục đất, đề mục nước, đề mục lửa, đề mục gió, đề mục xanh, đề mục vàng, đề mục đỏ, đề mục trắng, đề mục hư không, đề mục thức. Ở đấy, đề mục đất, đề mục nước, (toàn bộ là tương tự như vậy) và đề mục trắng, tám đề mục này là chỉ tịnh; đề mục hư không và đề mục thức là minh sát. Như vậy, toàn bộ Thánh Đạo đã được nói đến theo mỗi một cách thức nào thì nên được kết nối với chỉ tịnh hoặc minh sát theo mỗi một cách thức ấy. Chúng được tổng hợp theo ba pháp: theo tính chất vô thường, theo tính chất khổ não, theo tính chất vô ngã. Vị ấy, trong khi tu tập chỉ tịnh và minh sát, thì tu tập ba lối vào giải thoát, trong khi tu tập ba lối vào giải thoát thì tu tập ba uẩn (giới, định, tuệ), trong khi tu tập ba uẩn thì tu tập Thánh Đạo tám chi phần.

Người có tánh luyến ái đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát vô tướng trong khi học tập với sự học tập về thắng tâm, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — tham, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ lạc, trong khi biết rõ thọ lạc, trong khi tẩy sạch vết nhơ luyến ái, trong khi rũ bỏ bụi bặm luyến ái, trong khi ói ra chất độc luyến ái, trong khi dập tắt ngọn lửa luyến ái, trong khi nhổ lên mũi tên luyến ái, trong khi gỡ rời cục rối luyến ái.

Người có tánh sân hận đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát vô nguyện trong khi học tập với sự học tập về thắng giới, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — sân, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ khổ, trong khi biết rõ thọ khổ, trong khi tẩy sạch vết nhơ sân hận, trong khi rũ bỏ bụi bặm sân hận, trong khi ói ra chất độc sân hận, trong khi dập tắt ngọn lửa sân hận, trong khi nhổ lên mũi tên sân hận, trong khi gỡ rời cục rối sân hận.

Người có tánh si mê đi ra khỏi bằng lối vào giải thoát không tánh trong khi học tập với sự học tập về thắng tuệ, trong khi dứt bỏ gốc rễ bất thiện — si, trong khi không đến gần xúc tạo ra thọ không khổ không lạc, trong khi biết rõ thọ không khổ không lạc, trong khi tẩy sạch vết nhơ si mê, trong khi rũ bỏ bụi bặm si mê, trong khi ói ra chất độc si mê, trong khi dập tắt ngọn lửa si mê, trong khi nhổ lên mũi tên si mê, trong khi gỡ rời cục rối si mê.

Ở đấy, lối vào giải thoát không tánh là tuệ uẩn, lối vào giải thoát vô tướng là định uẩn, lối vào giải thoát vô nguyện là giới uẩn. Vị ấy, trong khi tu tập ba lối vào giải thoát thì tu tập ba uẩn; trong khi tu tập ba uẩn thì tu tập Thánh Đạo tám chi phần. Ở đấy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là giới uẩn; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định là định uẩn, chánh kiến, chánh tư duy là tuệ uẩn. Ở đấy, giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát.

Vị nào tu tập chỉ tịnh và minh sát, đối với vị ấy hai chi phần của hữu đi đến sự tu tập: thân và tâm. Lối thực hành đưa đến sự diệt tận hữu là hai nền tảng: giới và định. Vị ấy là vị tỳ khưu có thân đã được tu tập, có giới đã được tu tập, có tâm đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập. Trong khi thân đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh nghiệp và chánh tinh tấn; trong khi giới đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh ngữ và chánh mạng; trong khi tâm đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh niệm và chánh định; trong khi tuệ đang được tu tập, hai pháp đi đến sự tu tập: chánh kiến và chánh tư duy.

Ở đấy, chánh nghiệp và chánh tinh tấn có thể liên quan đến thân, có thể liên quan đến tâm. Ở đấy, khi thân được tu tập thì phần gắn liền với thân đi đến sự tu tập; khi tâm được tu tập thì phần gắn liền với tâm đi đến sự tu tập. Vị ấy, trong khi tu tập chỉ tịnh và minh sát, chứng đắc năm loại chứng đắc: Là sự chứng đắc mau chóng, là sự chứng đắc về giải thoát, là sự chứng đắc vĩ đại, là sự chứng đắc rộng lớn, là sự chứng đắc không còn dư sót. Ở đấy, thông qua chỉ tịnh là sự chứng đắc mau chóng, sự chứng đắc vĩ đại, và sự chứng đắc rộng lớn, thông qua minh sát là sự chứng đắc về giải thoát và sự chứng đắc không còn dư sót. Ở đấy, vị chỉ bảo là đấng Đạo Sư đã thành tựu mười lực; Ngài không lừa gạt các đệ tử bằng lời giáo huấn. Ngài (chỉ bảo) theo ba cách: Các ngươi hãy làm điều này, các ngươi hãy làm theo cách này, trong khi các ngươi làm điều này sẽ đưa đến sự tấn hóa, sự an lạc (cho các ngươi). “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi làm như thế, trong khi thực hành như thế, sẽ không đạt được phạm vi ấy,” sự kiện này không được biết đến. “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi không làm đầy đủ giới uẩn, sẽ đạt đến phạm vi ấy; sự kiện này không được biết đến. “Vị ấy, đã được giáo huấn như thế, đã được dạy bảo như thế, trong khi làm đầy đủ giới uẩn, sẽ đạt đến phạm vi ấy,” sự kiện này được biết đến. “Trong khi Ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, các pháp này không được Ngài giác ngộ,” sự kiện này không được biết đến. “Trong khi Ngài có sự cạn kiệt hoàn toàn tất cả các lậu hoặc, các lậu hoặc này của Ngài chưa được cạn kiệt hoàn toàn,” sự kiện này không được biết đến. “Pháp được Ngài chỉ bảo vì lợi ích của người nào đó, pháp ấy không dẫn dắt đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau cho người thực hành điều ấy,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, vị đệ tử của Ngài đã thực hành đúng pháp và thuận pháp, đã thực hành đúng đắn, có sự thực hành thuận pháp, vị ấy sẽ không chứng ngộ sự chứng đắc đặc biệt, cao cả, khác với trước đây,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào là tạo ra chướng ngại, chúng không có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người đeo đuổi chúng,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào không dẫn dắt ra khỏi, chúng dẫn dắt người thực hành điều ấy đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau,” sự kiện này không được biết đến. “Hơn nữa, các pháp nào dẫn dắt ra khỏi, chúng dẫn dắt người thực hành điều ấy đến sự hoàn toàn diệt trừ khổ đau,” sự kiện này được biết đến. “Hơn nữa, vị đệ tử của Ngài, với thân ngũ uẩn còn sót lại, sẽ đạt đến Niết Bàn giới không còn dư sót,” sự kiện này không được biết đến. “Vị thành tựu kiến (Nhập Lưu) có thể đoạt lấy mạng sống người mẹ, có thể thực hiện việc hành hạ đến chết bằng các cánh tay hoặc bằng các bàn chân,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể đoạt lấy mạng sống, có thể thực hiện việc hành hạ người mẹ đến chết bằng các cánh tay hoặc bằng các bàn chân,” sự kiện này được biết đến. Tương tự như vậy, … người cha ... vị tỳ khưu A-la-hán ... “Vị thành tựu kiến có thể chia rẽ hội chúng hoặc có thể tạo ra sự bất đồng trong hội chúng ở nơi hội chúng,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể chia rẽ hội chúng hoặc có thể tạo ra sự bất đồng trong hội chúng ở nơi hội chúng,” sự kiện này được biết đến.

“Vị thành tựu kiến có tâm xấu xa đối với đức Như Lai có thể làm đổ máu Ngài, hoặc có tâm xấu xa đối với đức Như Lai đã viên tịch Niết Bàn có thể phá hủy bảo tháp của Ngài,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có tâm xấu xa đối với đức Như Lai có thể làm đổ máu Ngài, hoặc có tâm xấu xa đối với đức Như Lai đã viên tịch Niết Bàn có thể phá hủy bảo tháp của Ngài,” sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể thừa nhận vị đạo sư khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm nhân có thể thừa nhận vị đạo sư khác thậm chí vì nguyên nhân mạng sống; sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể tầm cầu đối tượng xứng đáng cúng dường khác bên ngoài giáo pháp,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm phu có thể tầm cầu đối tượng xứng đáng cúng dường khác bên ngoài giáo pháp,” sự kiện này được biết đến. “Vị thành tựu kiến có thể tin rằng sự trong sạch là do điềm báo hiệu tốt xấu,” sự kiện này không được biết đến. “Phàm phu có thể tin rằng sự trong sạch là do điềm báo hiệu tốt xấu,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Chuyển Luân Vương,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Chuyển Luân Vương,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Thiên Chủ Sakka,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Thiên Chủ Sakka,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là Ma Vương ác xấu,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là Ma Vương ác xấu,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là vị Đại Phạm Thiên,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là vị Đại Phạm Thiên,” sự kiện này được biết đến. “Nữ nhân có thể là đức Như Lai, A- la-hán, Chánh Biến Tri,” sự kiện này không được biết đến. “Nam nhân có thể là đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri,” sự kiện này được biết đến. “Hai đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri có thể đồng thời sanh lên hoặc chỉ bảo Giáo Pháp ở một thế giới,” sự kiện này không được biết đến. “Chỉ có một đức Như Lai, A-la-hán, Chánh Biến Tri sẽ sanh lên hoặc chỉ bảo Giáo Pháp ở một thế giới,” sự kiện này được biết đến. “Ba uế hạnh sẽ có quả thành tựu đáng mong, đáng muốn, đáng yêu, đáng mến,” sự kiện này không được biết đến. “Ba uế hạnh sẽ có quả thành tựu không đáng mong, không đáng muốn, không đáng yêu, không đáng mến,” sự kiện này được biết đến. “Ba thiện hạnh sẽ có quả thành tựu không đáng mong, không đáng muốn, không đáng yêu, không đáng mến,” sự kiện này không được biết đến. “Ba thiện hạnh sẽ có quả thành tựu đáng mong, đáng muốn, đáng yêu, đáng mến,” sự kiện này được biết đến. “Một vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó là kẻ gạt gẫm, nói câu lợi, gợi ý, xem trọng các việc gạt gẫm, nói câu lợi, và gợi ý, chưa dứt bỏ năm pháp che lấp là pháp làm ô nhiễm tâm và làm yếu sức mạnh của tuệ, trong khi sống có niệm không được thiết lập ở bốn sự thiết lập niệm, không làm phát triển bảy chi phần đưa đến giác ngộ, (là vị) sẽ giác ngộ quả Toàn Giác vô thượng,” sự kiện này không được biết đến. “Một vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đó đã xa lìa tất cả tật xấu, đã dứt bỏ năm pháp che lấp là pháp làm ô nhiễm tâm và làm yếu sức mạnh của tuệ, trong khi sống có niệm được thiết lập ở bốn sự thiết lập niệm, làm phát triển bảy chi phần đưa đến giác ngộ, (là vị) sẽ giác ngộ quả Toàn Giác vô thượng,” sự kiện này được biết đến. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về sự kiện và không có sự kiện; đây là Như Lai lực thứ nhất. (1) Tất cả các pháp hoại, các pháp diệt, các pháp lìa tham ái, các pháp diệt tận đều đi đến trạng thái có sự kiện hoặc không có sự kiện; một số người đi đến cõi Trời, một số người đi đến đọa xứ, một số người đi đến Niết Bàn. Đức Thế Tôn đã nói như vầy:

1. “Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác.

2. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục, những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh, còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”

‘Tất cả chúng sanh’: là các Thánh nhân và không phải Thánh nhân, những người còn phụ thuộc vào hiện thân và những vị đã vượt qua khỏi hiện thân. ‘Sẽ chết’: bởi hai cái chết: bởi cái chết chậm chạp và bởi cái chết không chậm chạp. Cái chết không chậm chạp dành cho những người còn phụ thuộc vào hiện thân và cái chết chậm chạp dành cho các vị đã vượt qua khỏi hiện thân. ‘Bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối’: Sự tận cùng của mạng sống, sự tận cùng bởi cái chết là do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự dừng lại của các quyền. ‘Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng’: là tính chất sở hữu chủ của nghiệp. ‘Tùy theo quả của việc thiện và ác’: tính chất trông thấy quả báo và sự không xa rời của các nghiệp. ‘Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: Những kẻ có các sự tạo tác không có phước. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: Những người có các sự tạo tác về phước thiện sẽ đi đến nhàn cảnh. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: việc vượt qua khỏi tất cả các sự tạo tác. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Tất cả ―nt― không còn lậu hoặc.” ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là lối thực hành thô tháo và bị thiêu đốt. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là lối thực hành Trung Đạo. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: đây là phiền não. Sự luân hồi làm cho tái sanh là như vậy. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: Đây là ba vòng quay: vòng quay của khổ, vòng quay của nghiệp, vòng quay của ô nhiễm. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: sự quay ngược lại đối với ba vòng quay. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là sự bất lợi. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: là sự hứng thú. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là sự thoát ra. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là nhân và quả; năm uẩn là quả, tham ái là nhân. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là Đạo và Quả.

‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, ―nt― Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: đây là phiền não. Phiền não ấy có ba loại: phiền não về tham ái, phiền não về tà kiến, phiền não về uế hạnh. Ở đấy, phiền não về tham ái nên được diễn giải theo ba tham ái: theo dục ái, theo hữu ái, theo phi hữu ái. Hoặc hơn nữa, nó đã bám chặt vào đối tượng nào thì nên được diễn giải theo chính đối tượng đó. Sự giảng giải chi tiết về nó là các hành vi ở mạng lưới của 36 tham ái. Ở đấy, phiền não về tà kiến nên được diễn giải theo đoạn kiến hay thường kiến. Hoặc hơn nữa, (kẻ ấy) chấp chặt vào sự việc nào do tác động của tà kiến (nghĩ rằng): ‘Chỉ điều này là chân lý, điều khác là rồ dại,’ thì nên được diễn giải theo chính sự việc đó. Sự giảng giải chi tiết về nó là 62 tà kiến. Ở đấy, phiền não về uế hạnh nên được diễn giải theo hành động với tâm sở tư thông qua ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Sự giảng giải chi tiết về nó là mười đường lối hành động bất thiện. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: đây là sự thanh lọc. Sự thanh lọc này đây có ba loại: phiền não về tham ái được thanh tịnh bởi chỉ tịnh, chỉ tịnh ấy là định uẩn; phiền não về tà kiến được thanh tịnh bởi minh sát, minh sát ấy là tuệ uẩn; phiền não về uế hạnh được thanh tịnh bởi thiện hạnh, thiện hạnh ấy là giới uẩn. ‘Tất cả chúng sanh đều sẽ chết, bởi vì sinh mạng có sự chết là điểm cuối. Chúng sanh sẽ đi đến nghiệp tương xứng, tùy theo quả của việc thiện và ác. Những kẻ có nghiệp ác đi đến địa ngục’: là lối thực hành phi phước thiện. ‘Những người có việc làm thiện đi đến nhàn cảnh’: là lối thực hành phước thiện. ‘Còn những người khác tu tập theo Đạo Lộ thì viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc’: là lối thực hành vượt qua khỏi thiện và ác. Ở đấy, lối thực hành phi phước thiện và lối thực hành phước thiện là những lối thực hành đưa đến tất cả các nơi: một số ở các đọa xứ, một số ở giữa chư Thiên; và lối thực hành vượt qua khỏi thiện và ác là lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác. Ba nhóm: nhóm đã được xác định có tính chất sai trái, nhóm đã được xác định có tính chất đúng đắn, nhóm không được xác định. Ở đấy, nhóm đã được xác định có tính chất sai trái và nhóm đã được xác định có tính chất đúng đắn có cùng một lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác. Ở đấy, nhóm không được xác định có lối thực hành đưa đến tất cả các nơi. Bởi lý do gì? Khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở địa ngục, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các loài thú, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các thân phận ngạ quỷ, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở các A-tu-la, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở chư Thiên, khi đầy đủ duyên thì có thể sanh ra ở loài người, khi đầy đủ duyên thì có thể viên tịch Niết Bàn. Bởi thế, đây là lối thực hành đưa đến tất cả các nơi. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về lối thực hành đưa đến tất cả các nơi; đây là Như Lai lực thứ hai. (2) Lối thực hành đưa đến tất cả các nơi là thế giới có nhiều yếu tố. Lối thực hành đưa đến nơi này nơi khác là thế giới có các yếu tố khác biệt. Ở đấy, thế giới có nhiều yếu tố là thế nào? Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thinh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới, địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, thức giới, dục giới,― ―sân giới, hại giới, xuất ly giới, vô sân giới, vô hại giới, khổ giới, ưu giới, vô minh giới, lạc giới, hỷ giới, xả giới, sắc giới, vô sắc giới, diệt tận giới, hành giới, Niết Bàn giới; đây là thế giới có nhiều yếu tố.

Ở đấy, thế giới có các yếu tố khác biệt là thế nào? Nhãn giới là cái khác, sắc giới là cái khác, nhãn thức giới là cái khác, (toàn bộ là tương tự như vậy), Niết Bàn giới là cái khác. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về nhiều yếu tố và về các yếu tố khác biệt; đây là Như Lai lực thứ ba. (3)

Bất cứ yếu tố nào thuộc thế giới có nhiều yếu tố và có các yếu tố khác biệt mà chúng sanh hướng đến, thì họ khẳng định và chấp chặt chính yếu tố ấy: một số hướng đến sắc, một số hướng đến thinh, một số hướng đến hương, một số hướng đến vị, một số hướng đến xúc, một số hướng đến pháp, một số hướng đến nữ nhân, một số hướng đến nam nhân, một số hướng đến xả thí, một số hướng đến hạ liệt, một số hướng đến cao quý, một số hướng đến chư Thiên, một số hướng đến loài người, một số hướng đến Niết Bàn. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: ‘Người này có thể huấn luyện, người này không thể huấn luyện, người này đi đến cõi Trời, người này đi đến khổ cảnh;’ điều này được gọi là trí về tính chất khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh; đây là Như Lai lực thứ tư. (4)

Các chúng sanh ấy hướng đến thế nào thì trở thành thế ấy. Họ thọ trì sự thọ trì về hành động này nọ. Họ thọ trì hành động theo sáu cách: một số do tác động của tham, một số do tác động của sân, một số do tác động của si, một số do tác động của đức tin, một số do tác động của tinh tấn, một số do tác động của tuệ. Hành động ấy, trong khi đang được hiện diện, gồm có hai loại: loại đưa đến luân hồi và loại đưa đến Niết Bàn.

Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tham, do tác động của sân, và do tác động của si; đây là nghiệp đen có quả thành tựu đen. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của đức tin và do tác động của tinh tấn; đây là nghiệp trắng có quả thành tựu trắng. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tham, do tác động của sân, do tác động của si, và do tác động của đức tin; đây là nghiệp đen trắng có quả thành tựu đen trắng. Ở đấy, có người thực hiện hành động do tác động của tinh tấn và do tác động của tuệ; đây là nghiệp không đen không trắng có quả thành tựu không đen không trắng, là hạng nhất trong số các nghiệp, là đứng đầu trong số các nghiệp; nó vận hành đưa đến sự cạn kiệt của nghiệp.

Bốn sự thọ trì về hành động: có sự thọ trì về hành động có lạc ở hiện tại và có quả thành tựu khổ ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có khổ ở hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có khổ ở hiện tại và có quả thành tựu khổ ở vị lai, có sự thọ trì về hành động có lạc ở hiện tại và có quả thành tựu lạc ở vị lai; sự thọ trì về hành động là có tính chất như vậy. Sự thọ trì về hành động bất thiện đã được tích lũy bởi kẻ nào (dầu) chưa chín muồi (nhưng) đã được sẵn sàng cho việc thành tựu quả, và (kẻ ấy) không thể nào chứng đắc Thánh Đạo. Đức Thế Tôn không giáo huấn kẻ ấy, giống như Devadatta, Kokālika, Sunakkhatta con trai của Licchavi. Hoặc hơn nữa, những chúng sanh khác đã được xác định có tính chất sai trái,― ―và bất thiện đã được tích lũy bởi những người này còn chưa đi đến sự đầy đủ; trước khi nó đi đến sự đầy đủ, trước khi nó hình thành quả báo, trước khi nó ngăn trở Đạo, trước khi nó vượt qua khỏi trạng thái có thể huấn luyện, đức Thế Tôn giáo huấn những người ấy khi nghiệp còn chưa được toàn vẹn, giống như vị Puṇṇa hành trì hạnh loài bò và đạo sĩ lõa thể hành trì hạnh loài chó. Sự thọ trì về hành động bất thiện của những người này, trong khi được đầy đủ, sẽ ngăn trở Đạo; trước khi nó đi đến sự đầy đủ, trước khi nó hình thành quả báo, trước khi nó ngăn trở Đạo, trước khi nó vượt qua khỏi trạng thái có thể huấn luyện, đức Thế Tôn giáo huấn người ấy khi nghiệp còn chưa được toàn vẹn, giống như đại đức Aṅgulimāla. Tính chất nhẹ, trung bình, và nặng của tất cả (các nghiệp): Ở đấy, các tạo tác bất động là nhẹ, các tạo tác thiện còn lại là trung bình, các tạo tác bất thiện là nặng. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: “Việc này sẽ được cảm thọ ở đời này, việc này sẽ được cảm thọ sau khi tái sanh, việc này sẽ được cảm thọ liên tục ở các kiếp sống kế, việc này sẽ được cảm thọ ở địa ngục, việc này sẽ được cảm thọ ở loài thú, việc này sẽ được cảm thọ ở thân phận ngạ quỷ, việc này sẽ được cảm thọ ở loài A- tu-la, việc này sẽ được cảm thọ ở chư Thiên, việc này sẽ được cảm thọ ở loài người;” điều này được gọi là trí về tính trạng khác biệt của quả thành tựu theo nhân, theo sự kiện, theo tính chất không bị giới hạn của sự thọ trì về hành động ở quá khứ, vị lai, và hiện tại; đây là Như Lai lực thứ năm. (5) Tương tự như thế đối với các hành động đã được thọ trì, đối với các tầng thiền đã được thọ trì, đối với các sự giải thoát, đối với các định, đối với các sự thể nhập, trí không bị ngăn trở (của Ngài biết rằng): “Đây là phiền não, đây là sự thanh lọc, đây là sự xuất ra, nó sẽ làm ô nhiễm như vầy, nó sẽ thanh lọc như vậy, nó sẽ xuất ra như vầy.” Ở đấy, có bao nhiêu tầng thiền? Có bốn tầng thiền. Có bao nhiêu sự giải thoát? Có mười một, có tám, có bảy, có ba, và có hai. Có bao nhiêu định? Có ba định: định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ. Có bao nhiêu sự thể nhập? Có năm sự thể nhập: sự thể nhập tưởng, sự thể nhập vô tưởng, sự thể nhập phi tưởng phi phi tưởng, sự thể nhập tưởng không hiện hữu, sự thể nhập tưởng về diệt tận. Ở đấy, cái nào là phiền não? Đối với sơ thiền, sự luyến ái về dục và sân hận là phiền não, và những vị có thiền chứng bị dừng lại liên quan đến hai bậc thiền đầu tiên, hoặc hơn nữa bất cứ định nào liên quan đến thoái hóa; cái này là phiền não. Ở đấy, cái nào là sự thanh lọc? Sự hoàn toàn trong sạch khỏi các pháp che lấp của sơ thiền, và những vị có thiền chứng bị dừng lại liên quan đến hai bậc thiền sau cùng, hoặc hơn nữa bất cứ định nào liên quan đến thù thắng; cái này là sự thanh lọc. Ở đấy, cái nào là sự xuất ra? Sự thể nhập nào có sự thiện xảo trong việc xuất ra; cái này là sự xuất ra. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn, điều này được gọi là trí về phiền não, về sự thanh lọc, và về sự xuất ra đối với các tầng thiền, các sự giải thoát, các định, và các sự thể nhập; đây là Như Lai lực thứ sáu. (6) Đối với chính định ấy, có ba pháp là cần thiết: các quyền, các lực, sự tinh tấn. Chính các quyền ấy trở thành các lực do tác động của tinh tấn, các quyền với ý nghĩa chủ đạo, các lực với ý nghĩa không bị lay động. Như thế, đối với các quyền ấy thì có tính chất yếu kém, trung bình, vượt trội: ‘Người này có quyền yếu kém, người này có quyền trung bình, người này có quyền nhạy bén.’ Ở đấy, đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền nhạy bén với lời giáo huấn tóm tắt; đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền trung bình với lời giáo huấn tóm tắt và chi tiết; đức Thế Tôn giáo huấn người có quyền yếu kém với lời giáo huấn chi tiết. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp mềm mỏng và sắc bén cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày sự chỉ bảo về Pháp sắc bén cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày về chỉ tịnh và minh sát cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày về minh sát cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày về sự thoát ra cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày về sự bất lợi và sự thoát ra cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày về sự hứng thú, sự bất lợi và sự thoát ra cho người có quyền yếu kém. Ở đấy, đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tuệ cho người có quyền nhạy bén; đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng tâm cho người có quyền trung bình; đức Thế Tôn trình bày sự học tập về thắng giới cho người có quyền yếu kém. Ở đây, trí về nhân, về sự kiện, về tính chất không bị giới hạn rằng: ‘Người này đi đến phạm vi và sự tu tập này vào thời gian này, với sự chỉ dạy này, và người này có bản chất như vầy; và đây là khuynh hướng, đây là thiên hướng của người này;’ điều này được gọi là trí về khả năng của người khác và tính trạng khác biệt về quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác; đây là Như Lai lực thứ bảy. (7)

Ở đấy, việc Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là “một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều trăm lần sanh, nhiều ngàn lần sanh, nhiều trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi kia. Tại chỗ kia, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương.

Ở đấy, trong số các chúng sanh đi đến cõi Trời, trong số các chúng sanh đi đến loài người, và trong số các chúng sanh đi đến đọa xứ, đức Thế Tôn, trong khi nhớ lại sự hiện hữu này khác, biết không thiếu sót (rằng): “Người này nhiều tham ..., ít vô tham ...; người này nhiều vô tham ..., ít tham; hoặc hơn nữa, những cái này là nhiều, hoặc hơn nữa, những cái này là ít. Người này có các quyền đã được tích lũy, người này có các quyền chưa được tích lũy, trong mười triệu kiếp, hoặc trong một trăm ngàn kiếp, hoặc trong một ngàn kiếp, hoặc trong một trăm kiếp, hoặc trong một kiếp, hoặc trong khoảng một kiếp, hoặc trong nửa kiếp, hoặc trong một năm, hoặc trong nửa năm, hoặc trong một tháng, hoặc trong nửa tháng, hoặc trong một ngày, hoặc trong chốc lát ấy với sự xao lãng này hoặc với sự tịnh tín này.” Ở đấy, với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, Ngài nhìn thấy các chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sung sướng, (hay) đau khổ; Ngài nhận biết rằng các chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng: “Quả vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có uế hạnh về thân, có uế hạnh về khẩu, có uế hạnh về ý, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, thọ trì các hành động do tà kiến. Những kẻ ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, bị sanh vào đọa xứ, khổ cảnh, nơi trừng phạt, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có thiện hạnh về thân, có thiện hạnh về khẩu, có thiện hạnh về ý, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, thọ trì các hành động do chánh kiến. Những người ấy, khi tan rã thân xác và chết đi, được sanh vào nhàn cảnh, cõi Trời, thế gian (này). Ở đấy, trong số các chúng sanh đi đến cõi Trời, ―nt― và trong số các chúng sanh đi đến đọa xứ, nghiệp có hình thức thế này đã được tích lũy bởi người này trong mười triệu kiếp, hoặc trong một trăm ngàn kiếp, hoặc trong một ngàn kiếp, hoặc trong một trăm kiếp, hoặc trong một kiếp, hoặc trong khoảng một kiếp, hoặc trong nửa kiếp, hoặc trong một năm, hoặc trong nửa năm, hoặc trong một tháng, hoặc trong nửa tháng, hoặc trong một ngày, hoặc trong chốc lát ấy với sự xao lãng này hoặc với sự tịnh tín này.” Hai trí này của đức Thế Tôn, trí nhớ về các kiếp sống trước và Thiên nhãn, là Như Lai lực thứ tám và thứ chín. (8-9).

Ở đấy, việc trạng thái Toàn Tri đã được đạt đến, tất cả các pháp đã được biết, trí của trạng thái Toàn Tri không bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi, Ma Vương đã bị đánh bại ở cội cây Bồ Đề, đây là lực thứ mười của đức Thế Tôn, là trí diệt trừ hoàn toàn tất cả lậu hoặc. Bởi vì chư Phật, Thế Tôn đã thành tựu mười lực. (10) Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Tìm Hiểu được kết thúc.