Bản dịch
NE 20 — Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo
Desanāhārasampāta
1. “Sau khi xem xét mười sáu cách truyền đạt trước tiên, rồi các phương hướng từ việc xem hướng, và sau khi gom lại bằng móc câu, hãy diễn giải bài Kinh theo ba phương pháp.”
Kệ ngôn đã được nói ra như thế. Sự diễn giải của kệ ngôn ấy sẽ được nhìn thấy ở đâu? Ở sự phối hợp cách truyền đạt. Ở đấy, sự phối hợp cách truyền đạt bằng sự chỉ bảo là gì?
2. “Do tâm không được phòng hộ, và do đã bị hành hạ bởi tà kiến, do bị ngự trị bởi dã dượi và buồn ngủ, người sa vào quyền lực của Ma Vương.”
‘Do tâm không được phòng hộ’ là chỉ bảo điều gì? Sự xao lãng. Việc ấy là con đường đưa đến sự chết. ‘Và do đã bị hành hạ bởi tà kiến’: Gọi là đã bị hành hạ bởi tà kiến nói đến lúc nhìn thấy là ‘thường’ ở vô thường. Việc ấy là sự trái khuấy. Vậy thì sự trái khuấy ấy có tướng trạng gì? Sự trái khuấy có tướng trạng nắm lấy điều sai lệch. Nó làm trái khuấy điều gì? (Nó làm trái khuấy) ba pháp: ‘Tưởng, tâm, kiến.’ Nó làm trái khuấy ở đâu? Ở bốn trường hợp về bản ngã: nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Tương tự như vậy, nhận thấy thọ ―nt― tưởng ―nt― các hành ―nt― thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Ở đấy, sắc là trường hợp trái khuấy thứ nhất: (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, thọ là trường hợp trái khuấy thứ hai: (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, tưởng và các hành là trường hợp trái khuấy thứ ba: (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, thức là trường hợp trái khuấy thứ tư: (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường.
Hai pháp là phiền não của tâm: tham ái và vô minh. Bị bao trùm bởi tham ái, tâm bị trái khuấy bởi hai sự trái khuấy: (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ. Bị bao trùm bởi tà kiến, tâm bị trái khuấy bởi hai sự trái khuấy: (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã. Ở đấy, sự trái khuấy do tà kiến nhận thấy sắc quá khứ là tự ngã, nhận thấy thọ quá khứ ―nt― tưởng quá khứ ―nt― các hành quá khứ ―nt― thức quá khứ là tự ngã. Ở đấy, sự trái khuấy do tham ái thích thú sắc vị lai, thích thú thọ vị lai ― tưởng vị lai ― các hành vị lai ― thức vị lai. Hai pháp là cận phiền não của tâm: tham ái và vô minh. Trong khi được thanh tịnh đối với chúng, tâm được thanh tịnh. Đối với những người có sự che lấp của vô minh, có sự ràng buộc bởi tham ái, điểm khởi đầu ở quá khứ không được biết đến trong lúc chúng di chuyển, trong khi chúng luân hồi một lần đến địa ngục, một lần đến loài thú, một lần đến thân phận ngạ quỷ, một lần đến tập thể A-tu-la, một lần đến chư Thiên, một lần đến loài người.
‘Do bị ngự trị bởi dã dượi và buồn ngủ’: Gọi là ‘dã dượi’ (nói đến) trạng thái không sẵn sàng, trạng thái không có thể sử dụng của tâm. Gọi là ‘buồn ngủ’ (nói đến) trạng thái lười biếng của thân. ‘Người sa vào quyền lực của Ma Vương’ là sa vào quyền lực của phiền não ma vương và chúng sanh ma vương, bởi vì người ấy bị bao trùm và đối diện với luân hồi. Hai Chân Lý này đã được đức Thế Tôn chỉ bảo: Khổ và Tập. Đức Thế Tôn chỉ bảo Giáo Pháp nhằm hiểu rõ và nhằm dứt bỏ chúng: nhằm hiểu rõ Khổ, nhằm dứt bỏ Tập. Hiểu rõ nhờ vào cái nào và dứt bỏ nhờ vào cái nào, cái này là Đạo. Sự dứt bỏ tham ái và vô minh là Diệt. Đây là bốn Chân Lý. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Do tâm không được phòng hộ, ...” Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Sự hứng thú, tình trạng bất lợi, ...”
Sự Phối Hợp Cách Truyền Đạt Bằng Sự Chỉ Bảo được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Soḷasa hārā paṭhamaṃ, disalocanato disā viloketvā;
Saṅkhipiya aṅkusena hi, nayehi tīhi niddise sutta’’nti.
“First, the sixteen modes. Having surveyed the directions by means of Disālocana, and having summarized by means of Aṅkusa, one should expound the discourse with three methods.”
‘Trước tiên, mười sáu phương pháp, sau khi đã xem xét các phương hướng bằng cách quan sát phương hướng; tóm tắt lại bằng phương pháp cái móc, nên trình bày kinh bằng ba phương pháp.’
Vuttā, tassā niddeso kuhiṃ daṭṭhabbo? Hārasampāte. Tattha katamo desanāhārasampāto?
It has been stated. Where should its explanation be seen? In the Concurrence of Modes. Which of these is the Concordance of the Method of Teaching?
Đã được nói, sự giải thích của nó nên được thấy ở đâu? Trong phần Tương hợp các phương pháp. Ở đây, thế nào là sự tương hợp của phương pháp thuyết giảng?
‘‘Arakkhitena cittena †, micchādiṭṭhihatena ca;
Thinamiddhābhibhūtena, vasaṃ mārassa gacchatī’’ti.
“With an unguarded mind, and one afflicted by wrong view, overcome by sloth and torpor, one goes under the sway of Māra.”
‘Với tâm không được phòng hộ, và bị tà kiến tàn phá; bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, người ấy đi vào quyền lực của Ma vương.’
Arakkhitena cittenāti kiṃ desayati, pamādaṃ taṃ maccuno padaṃ. Micchādiṭṭhihatena cāti micchādiṭṭhihataṃ nāma vuccati yadā ‘‘anicce nicca’’nti passati, so vipallāso. So pana vipallāso kiṃlakkhaṇo? Viparītaggāhalakkhaṇo vipallāso. So kiṃ vipallāsayati? Tayo dhamme saññaṃ cittaṃ diṭṭhimiti. So kuhiṃ vipallāsayati? Catūsu attabhāvavatthūsu, rūpaṃ attato samanupassati, rūpavantaṃ vā attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ. Evaṃ vedanaṃ…pe… saññaṃ…pe… saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ attato samanupassati, viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ.
By ‘with an unguarded mind,’ what does He teach? He teaches heedlessness; that is the cause of death. And by ‘struck by wrong view’: it is called ‘struck by wrong view’ when one sees ‘permanent’ in the impermanent. That is a distortion. What, then, is the characteristic of that distortion? Distortion has the characteristic of grasping the opposite. What does it distort? It distorts three things: perception, mind, and view. Where does it distort? In the four bases of individuality. One regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. Similarly, feeling… perception… formations… consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
Với câu ‘với tâm không được phòng hộ’, Ngài thuyết giảng điều gì? (Ngài thuyết giảng) sự phóng dật, đó là con đường của tử thần. Với câu ‘và bị tà kiến tàn phá’, được gọi là bị tà kiến tàn phá là khi người ấy thấy ‘thường trong cái vô thường’, đó là sự điên đảo. Vậy sự điên đảo ấy có đặc tính gì? Sự điên đảo có đặc tính là chấp thủ sai lệch. Nó làm điên đảo điều gì? Ba pháp: tưởng, tâm, và kiến. Nó làm điên đảo ở đâu? Trong năm vật thể của tự ngã: người ấy quán sát sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc trong tự ngã, hoặc tự ngã trong sắc. Tương tự như vậy đối với thọ… tưởng… hành… người ấy quán sát thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức trong tự ngã, hoặc tự ngã trong thức.
Tattha rūpaṃ paṭhamaṃ vipallāsavatthu ‘‘asubhe subha’’nti. Vedanā dutiyaṃ vipallāsavatthu ‘‘dukkhe sukha’’nti. Saññā saṅkhārā ca tatiyaṃ vipallāsavatthu ‘‘anattani attā’’ti. Viññāṇaṃ catutthaṃ vipallāsavatthu ‘‘anicce nicca’’nti. Dve dhammā cittassa saṃkilesā – taṇhā ca avijjā ca. Taṇhānivutaṃ cittaṃ dvīhi vipallāsehi vipallāsīyati ‘‘asubhe subha’’nti ‘‘dukkhe sukha’’nti. Diṭṭhinivutaṃ cittaṃ dvīhi vipallāsehi vipallāsīyati ‘‘anicce nicca’’nti ‘‘anattani attā’’ti.
Herein, form is the first basis for distortion: ‘attractive in the unattractive.’ Feeling is the second basis for distortion: ‘pleasure in suffering.’ Perception and formations are the third basis for distortion: ‘self in not-self.’ Consciousness is the fourth basis for distortion: ‘permanent in the impermanent.’ Two things are defilements of the mind: craving and ignorance. A mind covered by craving is distorted by two distortions: ‘attractive in the unattractive’ and ‘pleasure in suffering.’ A mind covered by views is distorted by two distortions: ‘permanent in the impermanent’ and ‘self in not-self.’
Ở đây, sắc là vật thể điên đảo thứ nhất: ‘tịnh trong cái bất tịnh’. Thọ là vật thể điên đảo thứ hai: ‘lạc trong cái khổ’. Tưởng và hành là vật thể điên đảo thứ ba: ‘ngã trong cái vô ngã’. Thức là vật thể điên đảo thứ tư: ‘thường trong cái vô thường’. Hai pháp là cấu uế của tâm – là ái và vô minh. Tâm bị ái che lấp bị điên đảo bởi hai sự điên đảo: ‘tịnh trong cái bất tịnh’ và ‘lạc trong cái khổ’. Tâm bị kiến che lấp bị điên đảo bởi hai sự điên đảo: ‘thường trong cái vô thường’ và ‘ngã trong cái vô ngã’.
Tattha yo diṭṭhivipallāso, so atītaṃ rūpaṃ attato samanupassati, atītaṃ vedanaṃ…pe… atītaṃ saññaṃ, atīte saṅkhāre…pe… atītaṃ viññāṇaṃ attato samanupassati. Tattha yo taṇhāvipallāso, so anāgataṃ rūpaṃ abhinandati, anāgataṃ vedanaṃ…pe… anāgataṃ saññaṃ, anāgate saṅkhāre, anāgataṃ viññāṇaṃ abhinandati. Dve dhammā cittassa upakkilesā – taṇhā ca avijjā ca. Tāhi visujjhantaṃ cittaṃ visujjhati. Tesaṃ avijjānīvaraṇānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ pubbā koṭi na paññāyati sandhāvantānaṃ saṃsarantānaṃ sakiṃ nirayaṃ sakiṃ tiracchānayoniṃ sakiṃ pettivisayaṃ sakiṃ asurakāyaṃ sakiṃ deve sakiṃ manusse.
Herein, that which is the distortion of view is this: one regards past form as self, past feeling… past perception, past formations… past consciousness as self. Herein, that which is the distortion of craving is this: one delights in future form, future feeling… future perception, future formations, future consciousness. Two things are the underlying defilements of the mind: craving and ignorance. The mind is purified by being cleansed of these. For those who have the hindrance of ignorance and the fetter of craving, who are running on and transmigrating, no prior beginning is discerned—at one time in hell, at one time in the animal realm, at one time in the sphere of ghosts, at one time in the company of asuras, at one time among the devas, at one time among humans.
Ở đây, sự điên đảo về kiến là, nó quán sát sắc trong quá khứ là tự ngã, thọ trong quá khứ… tưởng trong quá khứ, hành trong quá khứ… thức trong quá khứ là tự ngã. Ở đây, sự điên đảo về ái là, nó vui thích sắc trong tương lai, thọ trong tương lai… tưởng trong tương lai, hành trong tương lai, thức trong tương lai. Hai pháp là phiền não phụ của tâm – là ái và vô minh. Khi thanh tịnh khỏi chúng, tâm trở nên thanh tịnh. Đối với những chúng sanh có vô minh là triền cái, có ái là kiết sử, đang trôi lăn, đang luân hồi, điểm khởi đầu không được biết đến; khi thì vào địa ngục, khi thì vào loài bàng sanh, khi thì vào cõi ngạ quỷ, khi thì vào cõi a-tu-la, khi thì vào cõi trời, khi thì vào cõi người.
Thinamiddhābhibhūtenāti. Thinaṃ † nāma yā cittassa akallatā akammaniyatā; middhaṃ nāma yaṃ kāyassa līnattaṃ. Vasaṃ mārassa gacchatīti kilesamārassa ca sattamārassa ca vasaṃ gacchati, so hi nivuto saṃsārābhimukho hoti. Imāni bhagavatā dve saccāni desitāni dukkhaṃ samudayo ca. Tesaṃ bhagavā pariññāya ca pahānāya ca dhammaṃ deseti dukkhassa pariññāya samudayassa pahānāya. Yena ca parijānāti yena ca pajahati, ayaṃ maggo. Yaṃ taṇhāya avijjāya ca pahānaṃ, ayaṃ nirodho. Imāni cattāri saccāni. Tenāha bhagavā ‘‘arakkhitena cittenā’’ti. Tenāhāyasmā mahākaccāyano ‘‘assādādīnavatā’’ti.
By ‘overcome by sloth and torpor’: Sloth is the unhealthiness and unworkability of the mind; torpor is the sluggishness of the body. ‘One goes under the sway of Māra’ means one goes under the sway of both the Māra of defilements and the Māra who is a devaputta. For, being covered over, one is headed towards saṃsāra. These two truths were taught by the Blessed One: suffering and its origin. The Blessed One teaches the Dhamma for their full understanding and abandonment—for the full understanding of suffering and for the abandonment of the origin. And that by which one fully understands and that by which one abandons, this is the path. The abandoning of craving and ignorance is cessation. These are the four truths. Therefore, the Blessed One said, ‘with an unguarded mind.’ Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said, ‘gratification and danger.’
Bị hôn trầm và thụy miên xâm chiếm. Hôn trầm là trạng thái không khỏe mạnh, không dễ sử dụng của tâm; thụy miên là trạng thái co rút của thân. Đi vào quyền lực của ma có nghĩa là đi vào quyền lực của phiền não ma và thiên tử ma, vị ấy bị che lấp, hướng về vòng luân hồi. Hai sự thật này được Đức Thế Tôn thuyết giảng: khổ và tập. Đức Thế Tôn thuyết pháp để liễu tri và đoạn trừ chúng: để liễu tri khổ và đoạn trừ tập. Cái mà nhờ đó vị ấy liễu tri và nhờ đó đoạn trừ, đây là Đạo. Sự đoạn trừ tham ái và vô minh, đây là Diệt. Đây là bốn sự thật. Do đó, Đức Thế Tôn nói: ‘với tâm không được phòng hộ’. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana nói: ‘vị ngọt và sự nguy hiểm’.
Niyutto desanā hārasampāto.
The Concordance of the Method of Teaching is concluded.
Sự tương ứng của phương pháp thuyết giảng đã được áp dụng.