Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 19

Bản dịch

NE 19Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xếp Loại

Samāropanahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loại là cách nào? “Các pháp nào có chung nền tảng và có cùng một ý nghĩa đã được bày tỏ bởi bậc Hiền Trí ...” Các nền tảng mà người ta liệt kê dẫu nhiều bao nhiêu, tất cả các nền tảng ấy nên được xếp loại theo một nền tảng. Giống như người ta liệt kê nhiều nền tảng trong cách truyền đạt bằng sự xoay vần. Ở đấy, sự xếp loại có bốn cách: “Nền tảng, từ đồng nghĩa, sự tu tập, sự dứt bỏ.”

Ở đấy, các sự xếp loại theo nền tảng là các loại nào? “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.”

Nền tảng của điều ấy là gì? Là ba thiện hạnh: Thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý. Đây là nền tảng. Ở đấy, thiện hạnh thuộc về thân và thuộc về khẩu là giới uẩn. Không tham đắm và không sân hận ở thiện hạnh về ý là định uẩn. Chánh kiến là tuệ uẩn. Đây là nền tảng. Ở đấy, giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát. Đây là nền tảng. Ở đấy, quả của chỉ tịnh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, quả của minh sát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Đây là nền tảng.

Rừng là nền tảng của lùm bụi? Cái gì là rừng, và cái gì là lùm bụi? Gọi là rừng (nói đến) năm loại dục, tham ái là lùm bụi. Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) việc nắm giữ hình tướng ‘người nữ’ hoặc là ‘người nam;’ gọi là lùm bụi (nói đến) việc nắm giữ chi tiết các bộ phận lớn nhỏ của những người ấy: ‘Ồ con mắt, ồ lỗ tai, ồ lỗ mũi, ồ cái lưỡi, ồ thân hình.’ Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) sáu nội và ngoại xứ chưa được biết rõ. Các sự ràng buộc được sanh lên tùy thuộc cả hai nơi ấy (sáu nội và ngoại xứ) là lùm bụi. Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) sự tiềm ẩn; gọi là lùm bụi (nói đến) sự xâm nhập. Đây là nền tảng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Sau khi đốn rừng và lùm bụi (ô nhiễm), ...” Đây là sự xếp loại theo nền tảng.

Ở đấy, các sự xếp loại theo từ đồng nghĩa là các loại nào? Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả hữu học, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là quả vô học. Đây là từ đồng nghĩa. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả Bất Lai, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là quả vị cao nhất, là phẩm vị A-la-hán. Đây là từ đồng nghĩa. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là sự vượt qua hẳn dục giới, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là sự vượt qua hẳn tam giới. Đây là từ đồng nghĩa. Tuệ quyền, tuệ lực, sự học tập về thắng tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, xả giác chi, trí, chánh kiến, sự xác định, sự đánh giá, sự hổ thẹn (tội lỗi), minh sát, trí về Giáo Pháp. Tất cả điều này là từ đồng nghĩa. Đây là sự xếp loại theo từ đồng nghĩa.

Ở đấy, các sự xếp loại theo sự tu tập là các loại nào? Giống như đức Thế Tôn đã nói rằng: “Vì thế, ở đây này tỳ khưu, ngươi hãy sống có sự quan sát thân trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.” ‘Có nhiệt tâm’ là tấn quyền; ‘có sự nhận biết rõ rệt’ là tuệ quyền; ‘có niệm’ là niệm quyền; ‘sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian’ là định quyền. Như vậy, đối với vị đang sống có sự quan sát thân trên thân, bốn sự thiết lập niệm đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Bởi lý do gì? Bởi tính chất có chung tướng trạng của bốn quyền. Khi bốn sự thiết lập niệm đang được tu tập, bốn chánh cần đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn chánh cần đang được tu tập, bốn nền tảng của thần thông đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn nền tảng của thần thông đang được tu tập, năm quyền đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. (Toàn bộ là tương tự như vậy.) Bởi lý do gì? Bởi vì tất cả các pháp đưa đến giác ngộ, thuộc về giác ngộ, có chung tướng trạng với tướng trạng dẫn dắt ra khỏi. Chúng, do tính chất có chung tướng trạng, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Đây là các sự xếp loại theo sự tu tập.

Ở đấy, các sự xếp loại theo sự dứt bỏ là các loại nào? Trong khi sống có sự quan sát thân trên thân, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, và đoàn thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở dục, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với dục, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối tham đắm, là không có lậu hoặc với dục lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ của dục, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên luyến ái, và sự trụ vững của thức liên quan đến sắc của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở dục giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì mong muốn.

Trong khi sống có sự quan sát thọ trên các thọ, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, và xúc thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở hữu, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với hữu, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối sân hận, là không có lậu hoặc với hữu lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ của hữu, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên sân hận, và sự trụ vững của thức liên quan đến thọ của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở thọ giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì sân hận.

Trong khi sống có sự quan sát tâm trên tâm, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, và thức thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở kiến, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với kiến, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối bám víu vào giới và phận sự, là không có lậu hoặc với kiến lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ tà kiến, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên ngã mạn, và sự trụ vững của thức liên quan đến tưởng của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở tưởng giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì sợ hãi.

Trong khi sống có sự quan sát pháp trên các pháp, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, và tư niệm thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở ngã luận thuyết, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với vô minh, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’, là không có lậu hoặc với vô minh lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ vô minh, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên si mê, và sự trụ vững của thức liên quan đến các hành của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở hành giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì si mê. Đây là các sự xếp loại theo sự dứt bỏ. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng:

“Các pháp nào có chung nền tảng và có cùng một ý nghĩa đã được bậc Hiền Trí bày tỏ, chúng nên được xếp loại; cách truyền đạt ấy là sự xếp loại.”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xếp Loại được kết thúc. Và Phân Tích Cách Truyền Đạt được kết thúc.