Bản dịch
NE 19 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xếp Loại
Samāropanahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xếp loại là cách nào? “Các pháp nào có chung nền tảng và có cùng một ý nghĩa đã được bày tỏ bởi bậc Hiền Trí ...” Các nền tảng mà người ta liệt kê dẫu nhiều bao nhiêu, tất cả các nền tảng ấy nên được xếp loại theo một nền tảng. Giống như người ta liệt kê nhiều nền tảng trong cách truyền đạt bằng sự xoay vần. Ở đấy, sự xếp loại có bốn cách: “Nền tảng, từ đồng nghĩa, sự tu tập, sự dứt bỏ.”
Ở đấy, các sự xếp loại theo nền tảng là các loại nào? “Không làm mọi điều ác, thành tựu việc thiện, thanh lọc tâm của mình, điều này là lời giáo huấn của chư Phật.”
Nền tảng của điều ấy là gì? Là ba thiện hạnh: Thiện hạnh về thân, thiện hạnh về khẩu, thiện hạnh về ý. Đây là nền tảng. Ở đấy, thiện hạnh thuộc về thân và thuộc về khẩu là giới uẩn. Không tham đắm và không sân hận ở thiện hạnh về ý là định uẩn. Chánh kiến là tuệ uẩn. Đây là nền tảng. Ở đấy, giới uẩn và định uẩn là chỉ tịnh, tuệ uẩn là minh sát. Đây là nền tảng. Ở đấy, quả của chỉ tịnh là sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái, quả của minh sát là sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh. Đây là nền tảng.
Rừng là nền tảng của lùm bụi? Cái gì là rừng, và cái gì là lùm bụi? Gọi là rừng (nói đến) năm loại dục, tham ái là lùm bụi. Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) việc nắm giữ hình tướng ‘người nữ’ hoặc là ‘người nam;’ gọi là lùm bụi (nói đến) việc nắm giữ chi tiết các bộ phận lớn nhỏ của những người ấy: ‘Ồ con mắt, ồ lỗ tai, ồ lỗ mũi, ồ cái lưỡi, ồ thân hình.’ Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) sáu nội và ngoại xứ chưa được biết rõ. Các sự ràng buộc được sanh lên tùy thuộc cả hai nơi ấy (sáu nội và ngoại xứ) là lùm bụi. Đây là nền tảng. Gọi là rừng (nói đến) sự tiềm ẩn; gọi là lùm bụi (nói đến) sự xâm nhập. Đây là nền tảng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Sau khi đốn rừng và lùm bụi (ô nhiễm), ...” Đây là sự xếp loại theo nền tảng.
Ở đấy, các sự xếp loại theo từ đồng nghĩa là các loại nào? Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả hữu học, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là quả vô học. Đây là từ đồng nghĩa. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là quả Bất Lai, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là quả vị cao nhất, là phẩm vị A-la-hán. Đây là từ đồng nghĩa. Sự giải thoát của tâm do xa lìa luyến ái là sự vượt qua hẳn dục giới, sự giải thoát của tuệ do xa lìa vô minh là sự vượt qua hẳn tam giới. Đây là từ đồng nghĩa. Tuệ quyền, tuệ lực, sự học tập về thắng tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, xả giác chi, trí, chánh kiến, sự xác định, sự đánh giá, sự hổ thẹn (tội lỗi), minh sát, trí về Giáo Pháp. Tất cả điều này là từ đồng nghĩa. Đây là sự xếp loại theo từ đồng nghĩa.
Ở đấy, các sự xếp loại theo sự tu tập là các loại nào? Giống như đức Thế Tôn đã nói rằng: “Vì thế, ở đây này tỳ khưu, ngươi hãy sống có sự quan sát thân trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian.” ‘Có nhiệt tâm’ là tấn quyền; ‘có sự nhận biết rõ rệt’ là tuệ quyền; ‘có niệm’ là niệm quyền; ‘sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian’ là định quyền. Như vậy, đối với vị đang sống có sự quan sát thân trên thân, bốn sự thiết lập niệm đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Bởi lý do gì? Bởi tính chất có chung tướng trạng của bốn quyền. Khi bốn sự thiết lập niệm đang được tu tập, bốn chánh cần đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn chánh cần đang được tu tập, bốn nền tảng của thần thông đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Khi bốn nền tảng của thần thông đang được tu tập, năm quyền đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. (Toàn bộ là tương tự như vậy.) Bởi lý do gì? Bởi vì tất cả các pháp đưa đến giác ngộ, thuộc về giác ngộ, có chung tướng trạng với tướng trạng dẫn dắt ra khỏi. Chúng, do tính chất có chung tướng trạng, đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Đây là các sự xếp loại theo sự tu tập.
Ở đấy, các sự xếp loại theo sự dứt bỏ là các loại nào? Trong khi sống có sự quan sát thân trên thân, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘tịnh’ ở bất tịnh, và đoàn thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở dục, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với dục, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối tham đắm, là không có lậu hoặc với dục lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ của dục, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên luyến ái, và sự trụ vững của thức liên quan đến sắc của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở dục giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì mong muốn.
Trong khi sống có sự quan sát thọ trên các thọ, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘lạc’ ở khổ, và xúc thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở hữu, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với hữu, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối sân hận, là không có lậu hoặc với hữu lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ của hữu, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên sân hận, và sự trụ vững của thức liên quan đến thọ của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở thọ giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì sân hận.
Trong khi sống có sự quan sát tâm trên tâm, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘thường’ ở vô thường, và thức thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở kiến, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với kiến, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối bám víu vào giới và phận sự, là không có lậu hoặc với kiến lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ tà kiến, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên ngã mạn, và sự trụ vững của thức liên quan đến tưởng của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở tưởng giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì sợ hãi.
Trong khi sống có sự quan sát pháp trên các pháp, hành giả dứt bỏ điều trái khuấy (nghĩ là) ‘ngã’ ở vô ngã, và tư niệm thực của vị này đi đến sự biết toàn diện, (vị ấy) là không có chấp thủ với sự chấp thủ ở ngã luận thuyết, là không bị ràng buộc bởi sự gắn bó với vô minh, được thoát khỏi sự trói buộc vào khối chấp chặt ‘chỉ điều này là chân lý’, là không có lậu hoặc với vô minh lậu, là đã vượt lên trên dòng lũ vô minh, là có sự nhổ lên mũi tên với mũi tên si mê, và sự trụ vững của thức liên quan đến các hành của vị này đi đến sự biết toàn diện, sự luyến ái ở hành giới của vị này là đã được dứt bỏ, (vị ấy) không đi đến sự sai trái vì si mê. Đây là các sự xếp loại theo sự dứt bỏ. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng:
“Các pháp nào có chung nền tảng và có cùng một ý nghĩa đã được bậc Hiền Trí bày tỏ, chúng nên được xếp loại; cách truyền đạt ấy là sự xếp loại.”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xếp Loại được kết thúc. Và Phân Tích Cách Truyền Đạt được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
50. Tattha katamo samāropano hāro? ‘‘Ye dhammā yaṃmūlā, ye cekatthā pakāsitā muninā’’ti.
50. Herein, what is the Inclusion Mode? 'Which phenomena have which as their root, and which terms of single meaning have been declared by the Sage.'
16. Trong ấy, cú pháp chất chồng là gì? ‘Những pháp nào là gốc rễ của pháp nào, và những pháp nào có cùng một nghĩa đã được bậc Mâu-ni tuyên thuyết’.
Ekasmiṃ padaṭṭhāne yattakāni padaṭṭhānāni otaranti, sabbāni tāni samāropayitabbāni. Yathā āvaṭṭe hāre bahukāni padaṭṭhānāni otarantīti. Tattha samāropanā catubbidhā padaṭṭhānaṃ, vevacanaṃ, bhāvanā, pahānamiti.
However many proximate causes converge into a single proximate cause, all of them should be included. Just as in the Whirlpool Mode many proximate causes converge. Therein, inclusion is fourfold: proximate cause, synonym, development, and abandonment.
50. Trong một nhân gần, bao nhiêu nhân gần (khác) quy tụ vào, tất cả chúng đều phải được chất chồng lên. Giống như trong cú pháp chuyển tiếp, nhiều nhân gần quy tụ vào. Trong đó, sự chất chồng có bốn loại: nhân gần, đồng nghĩa, sự tu tập, và sự đoạn trừ.
Tattha katamā padaṭṭhānena samāropanā?
Herein, what is the inclusion by way of proximate cause?
Trong đó, sự chất chồng bằng nhân gần là gì?
‘‘Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā;
Sacittapariyodapanaṃ, etaṃ buddhāna sāsana’’nti.
The non-doing of all evil, the undertaking of the wholesome, the purification of one's own mind: this is the teaching of the Buddhas.
Không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời chư Phật dạy.
Tassa kiṃ padaṭṭhānaṃ? Tīṇi sucaritāni – kāyasucaritaṃ vacīsucaritaṃ manosucaritaṃ – idaṃ padaṭṭhānaṃ; tattha yaṃ kāyikañca vācasikañca sucaritaṃ, ayaṃ sīlakkhandho. Manosucarite yā anabhijjhā abyāpādo ca, ayaṃ samādhikkhandho. Yā sammādiṭṭhi, ayaṃ paññākkhandho. Idaṃ padaṭṭhānaṃ, tattha sīlakkhandho ca samādhikkhandho ca samatho, paññākkhandho vipassanā. Idaṃ padaṭṭhānaṃ, tattha samathassa phalaṃ rāgavirāgā cetovimutti, vipassanā phalaṃ avijjāvirāgā paññāvimutti. Idaṃ padaṭṭhānaṃ.
What is its proximate cause? Three good conducts—good bodily conduct, good verbal conduct, and good mental conduct—this is the proximate cause. Therein, that which is bodily and verbal good conduct is the aggregate of virtue. In mental good conduct, that which is non-covetousness and non-malevolence is the aggregate of concentration. That which is right view is the aggregate of wisdom. This is the proximate cause. Therein, the aggregate of virtue and the aggregate of concentration are serenity; the aggregate of wisdom is insight. This is the proximate cause. Therein, the fruit of serenity is liberation of mind through the fading away of lust; the fruit of insight is liberation by wisdom through the fading away of ignorance. This is the proximate cause.
Nhân gần của giáo huấn ấy là gì? Ba thiện hạnh – thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh – đây là nhân gần. Trong đó, thiện hạnh thuộc thân và khẩu, đây là giới uẩn. Trong ý thiện hạnh, sự không tham lam và không sân hận, đây là định uẩn. Chánh kiến, đây là tuệ uẩn. Đây là nhân gần. Trong đó, giới uẩn và định uẩn là chỉ, tuệ uẩn là quán. Đây là nhân gần. Trong đó, quả của chỉ là tâm giải thoát do ly tham, quả của quán là tuệ giải thoát do ly vô minh. Đây là nhân gần.
Vanaṃ vanathassa padaṭṭhānaṃ. Kiñca vanaṃ? Ko ca vanatho? Vanaṃ nāma pañca kāmaguṇā, taṇhā vanatho. Idaṃ padaṭṭhānaṃ. Vanaṃ nāma nimittaggāho ‘‘itthī’’ti vā ‘‘puriso’’ti vā. Vanatho nāma tesaṃ tesaṃ aṅgapaccaṅgānaṃ anubyañjanaggāho ‘‘aho cakkhu, aho sotaṃ, aho ghānaṃ, aho jivhā, aho kāyo, iti. Idaṃ padaṭṭhānaṃ. Vanaṃ nāma cha ajjhattikabāhirāni āyatanāni apariññātāni. Yaṃ tadubhayaṃ paṭicca uppajjati saṃyojanaṃ, ayaṃ vanatho. Idaṃ padaṭṭhānaṃ. Vanaṃ nāma anusayo. Vanatho nāma pariyuṭṭhānaṃ. Idaṃ padaṭṭhānaṃ. Tenāha bhagavā ‘‘chetvā vanañca vanathañcā’’ti. Ayaṃ padaṭṭhānena samāropanā.
'Forest' is the proximate cause of 'thicket'. What is 'forest'? And what is 'thicket'? 'Forest' means the five strands of sensual pleasure; 'thicket' is craving. This is the proximate cause. 'Forest' means the grasping of a sign, such as 'woman' or 'man'. 'Thicket' means the grasping of secondary characteristics of their various limbs, such as: 'Oh, the eye! Oh, the ear! Oh, the nose! Oh, the tongue! Oh, the body!'. This is the proximate cause. 'Forest' means the six internal and external sense bases that are not fully comprehended. The fetter that arises in dependence on both of these is the 'thicket'. This is the proximate cause. 'Forest' means the underlying tendencies. 'Thicket' means the obsessions. This is the proximate cause. Therefore, the Blessed One said: 'Having cut down the forest and the thicket'. This is the inclusion by way of proximate cause.
Rừng là nhân gần của bụi rậm. Rừng là gì? Bụi rậm là gì? Rừng tức là năm dục công đức, ái là bụi rậm. Đây là nhân gần. Rừng tức là sự nắm bắt tướng ‘đàn bà’ hay ‘đàn ông’. Bụi rậm tức là sự nắm bắt tướng phụ của các chi phần lớn nhỏ: ‘Ồ, mắt đẹp thay! Ồ, tai đẹp thay! Ồ, mũi đẹp thay! Ồ, lưỡi đẹp thay! Ồ, thân đẹp thay!’. Đây là nhân gần. Rừng tức là sáu xứ trong và ngoài chưa được liễu tri. Do duyên cả hai xứ ấy mà kiết sử sanh khởi, đây là bụi rậm. Đây là nhân gần. Rừng tức là tùy miên. Bụi rậm tức là triền. Đây là nhân gần. Do đó, Thế Tôn đã nói: ‘Hãy chặt cả rừng và bụi rậm’. Đây là sự chất chồng bằng nhân gần.
51. Tattha katamā vevacanena samāropanā? Rāgavirāgā cetovimutti sekkhaphalaṃ; avijjāvirāgā paññāvimutti asekkhaphalaṃ. Idaṃ vevacanaṃ. Rāgavirāgā cetovimutti anāgāmiphalaṃ; avijjāvirāgā paññāvimutti aggaphalaṃ arahattaṃ. Idaṃ vevacanaṃ. Rāgavirāgā cetovimutti kāmadhātusamatikkamanaṃ; avijjāvirāgā paññāvimutti tedhātusamatikkamanaṃ. Idaṃ vevacanaṃ. Paññindriyaṃ, paññābalaṃ, adhipaññāsikkhā, paññākkhandho, dhammavicayasambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo, ñāṇaṃ, sammādiṭṭhi, tīraṇā, santīraṇā, hirī, vipassanā, dhamme ñāṇaṃ, sabbaṃ, idaṃ vevacanaṃ. Ayaṃ vevacanena samāropanā.
51. Herein, what is the inclusion by way of synonyms? 'Liberation of mind through the fading away of lust' is a synonym for 'the fruit of the trainee'; 'liberation by wisdom through the fading away of ignorance' is a synonym for 'the fruit of the adept'. This is a set of synonyms. 'Liberation of mind through the fading away of lust' is a synonym for 'the fruit of non-returning'; 'liberation by wisdom through the fading away of ignorance' is a synonym for 'the supreme fruit, Arahantship'. This is a set of synonyms. 'Liberation of mind through the fading away of lust' is a synonym for 'the transcendence of the sense-sphere realm'; 'liberation by wisdom through the fading away of ignorance' is a synonym for 'the transcendence of the three realms'. This is a set of synonyms. The faculty of wisdom, the power of wisdom, the training in higher wisdom, the aggregate of wisdom, the enlightenment factor of investigation of phenomena, the enlightenment factor of equanimity, knowledge, right view, judging, investigating, conscience, insight, knowledge in phenomena—all this is a set of synonyms. This is the inclusion by way of synonyms.
Trong đó, sự chất chồng bằng từ đồng nghĩa là gì? ‘Tâm giải thoát do ly tham’ là ‘hữu học quả’; ‘tuệ giải thoát do ly vô minh’ là ‘vô học quả’. Đây là từ đồng nghĩa. ‘Tâm giải thoát do ly tham’ là ‘bất lai quả’; ‘tuệ giải thoát do ly vô minh’ là ‘thượng quả’, là ‘A-la-hán quả’. Đây là từ đồng nghĩa. ‘Tâm giải thoát do ly tham’ là ‘sự vượt qua Dục giới’; ‘tuệ giải thoát do ly vô minh’ là ‘sự vượt qua tam giới’. Đây là từ đồng nghĩa. Tuệ quyền, tuệ lực, tăng thượng tuệ học, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, xả giác chi, trí, chánh kiến, sự thẩm sát, sự thẩm xét, tàm, quán, trí về pháp, tất cả những điều này là từ đồng nghĩa. Đây là sự chất chồng bằng từ đồng nghĩa.
Tattha katamā bhāvanāya samāropanā? Yathāha bhagavā ‘‘tasmātiha tvaṃ bhikkhu kāye kāyānupassī viharāhi, ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ’’. Ātāpīti vīriyindriyaṃ. Sampajānoti paññindriyaṃ. Satimāti satindriyaṃ. Vineyya loke abhijjhādomanassanti samādhindriyaṃ. Evaṃ kāye kāyānupassino viharato cattāro satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Kena kāraṇena? Ekalakkhaṇattā catunnaṃ indriyānaṃ. Catūsu satipaṭṭhānesu bhāviyamānesu cattāro sammappadhānā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Catūsu sammappadhānesu bhāviyamānesu cattāro iddhipādā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Catūsu iddhipādesu bhāviyamānesu pañcindriyāni bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Evaṃ sabbe. Kena kāraṇena? Sabbe hi bodhaṅgamā dhammā bodhipakkhiyā niyyānikalakkhaṇena ekalakkhaṇā, te ekalakkhaṇattā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti. Ayaṃ bhāvanāya samāropanā.
Herein, what is the inclusion by way of development? As the Blessed One said: "Therefore, bhikkhu, dwell contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world." 'Ardent' is the faculty of energy. 'Clearly comprehending' is the faculty of wisdom. 'Mindful' is the faculty of mindfulness. 'Having removed covetousness and displeasure in regard to the world' is the faculty of concentration. Thus, for one who dwells contemplating the body in the body, the four foundations of mindfulness reach fulfillment of development. For what reason? Because of the single characteristic of the four faculties. When the four foundations of mindfulness are developed, the four right exertions reach fulfillment of development. When the four right exertions are developed, the four bases of psychic power reach fulfillment of development. When the four bases of psychic power are developed, the five faculties reach fulfillment of development. Thus, all of them. For what reason? For all phenomena leading to awakening, pertaining to awakening, have the single characteristic of leading out. Due to this single characteristic, they reach fulfillment of development. This is the inclusion by way of development.
51. Trong đó, sự chất chồng bằng sự tu tập là gì? Như Thế Tôn đã nói: ‘Này Tỳ khưu, do đó, ở đây, thầy hãy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời’. ‘Nhiệt tâm’ là tấn quyền. ‘Tỉnh giác’ là tuệ quyền. ‘Chánh niệm’ là niệm quyền. ‘Nhiếp phục tham ưu ở đời’ là định quyền. Như vậy, đối với người sống quán thân trên thân, bốn niệm xứ đi đến sự viên mãn trong tu tập. Do nguyên nhân gì? Do bốn quyền có cùng một đặc tính. Khi bốn niệm xứ được tu tập, bốn chánh cần đi đến sự viên mãn trong tu tập. Khi bốn chánh cần được tu tập, bốn như ý túc đi đến sự viên mãn trong tu tập. Khi bốn như ý túc được tu tập, năm quyền đi đến sự viên mãn trong tu tập. Như vậy là tất cả. Do nguyên nhân gì? Vì tất cả các pháp Bồ-đề phần đưa đến giác ngộ đều có cùng một đặc tính là đặc tính xuất ly, do có cùng một đặc tính, các pháp ấy đi đến sự viên mãn trong tu tập. Đây là sự chất chồng bằng sự tu tập.
Tattha katamā pahānena samāropanā? Kāye kāyānupassī viharanto ‘‘asubhe subha’’nti vipallāsaṃ pajahati, kabaḷīkāro cassa āhāro pariññaṃ gacchati, kāmupādānena ca anupādāno bhavati, kāmayogena ca visaṃyutto bhavati, abhijjhākāyaganthena ca vippayujjati, kāmāsavena ca anāsavo bhavati, kāmoghañca uttiṇṇo bhavati, rāgasallena ca visallo bhavati, rūpūpikā † cassa viññāṇaṭṭhiti pariññaṃ gacchati, rūpadhātuyaṃ cassa rāgo pahīno bhavati, na ca chandāgatiṃ gacchati.
Herein, what is the inclusion by way of abandonment? Dwelling contemplating the body in the body, one abandons the perversion of perceiving 'attractive' in the unattractive. For this person, the nutriment of physical food comes to be fully understood. And one is without the clinging to sensual pleasures. And one becomes disjoined from the yoke of sensuality. And one is dissociated from the bodily knot of covetousness. And one becomes free from the taint of sensuality. And one has crossed over the flood of sensuality. And one is unpierced by the dart of lust. For this person, the station of consciousness dependent on form comes to be fully understood. And for this person, lust for the form element is abandoned. And one does not go the wrong course through desire.
Ở đây, thế nào là sự áp đặt bằng cách đoạn trừ? Vị ấy sống quán thân trên thân, đoạn trừ sự điên đảo cho rằng ‘tịnh trong cái bất tịnh’, và đoàn thực của vị ấy đi đến sự liễu tri, và vị ấy không còn chấp thủ bởi dục thủ, và không còn bị trói buộc bởi dục lậu, và không còn bị trói buộc bởi tham thân phược, và không còn lậu hoặc bởi dục lậu, và vượt qua được dục bộc, và không còn bị mũi tên tham ái đâm trúng, và nơi trú của thức của vị ấy, tức là sắc, đi đến sự liễu tri, và tham ái trong sắc giới của vị ấy được đoạn trừ, và không đi đến thiên vị vì yêu.
Vedanāsu vedanānupassī viharanto ‘‘dukkhe sukha’’nti vipallāsaṃ pajahati, phasso cassa āhāro pariññaṃ gacchati, bhavūpādānena ca anupādāno bhavati, bhavayogena ca visaṃyutto bhavati, byāpādakāyaganthena ca vippayujjati, bhavāsavena ca anāsavo bhavati, bhavoghañca uttiṇṇo bhavati, dosasallena ca visallo bhavati, vedanūpikā cassa viññāṇaṭṭhiti pariññaṃ gacchati, vedanādhātuyaṃ cassa rāgo pahīno bhavati, na ca dosāgatiṃ gacchati.
Dwelling contemplating feelings in feelings, one abandons the perversion of perceiving 'pleasure' in what is painful. For this person, the nutriment of contact comes to be fully understood. And one is without the clinging to existence. And one becomes disjoined from the yoke of existence. And one is dissociated from the bodily knot of ill will. And one becomes free from the taint of existence. And one has crossed over the flood of existence. And one is unpierced by the dart of aversion. For this person, the station of consciousness dependent on feeling comes to be fully understood. And for this person, lust for the feeling element is abandoned. And one does not go the wrong course through aversion.
Vị ấy sống quán thọ trên các thọ, đoạn trừ sự điên đảo cho rằng ‘lạc trong cái khổ’, và xúc thực của vị ấy đi đến sự liễu tri, và vị ấy không còn chấp thủ bởi hữu thủ, và không còn bị trói buộc bởi hữu lậu, và không còn bị trói buộc bởi sân thân phược, và không còn lậu hoặc bởi hữu lậu, và vượt qua được hữu bộc, và không còn bị mũi tên sân hận đâm trúng, và nơi trú của thức của vị ấy, tức là thọ, đi đến sự liễu tri, và tham ái trong thọ giới của vị ấy được đoạn trừ, và không đi đến thiên vị vì ghét.
Citte cittānupassī viharanto ‘‘anicce nicca’’nti vipallāsaṃ pajahati, viññāṇaṃ cassa āhāro pariññaṃ gacchati, diṭṭhupādānena ca anupādāno bhavati, diṭṭhiyogena ca visaṃyutto bhavati, sīlabbataparāmāsakāyaganthena ca vippayujjati, diṭṭhāsavena ca anāsavo bhavati, diṭṭhoghañca uttiṇṇo bhavati, mānasallena ca visallo bhavati, saññūpikā cassa viññāṇaṭṭhiti pariññaṃ gacchati, saññādhātuyaṃ cassa rāgo pahīno bhavati, na ca bhayāgatiṃ gacchati.
Dwelling contemplating mind in mind, one abandons the perversion of perceiving 'permanent' in the impermanent. For this person, the nutriment of consciousness comes to be fully understood. And one is without the clinging to views. And one becomes disjoined from the yoke of views. And one is dissociated from the bodily knot of adherence to rules and observances. And one becomes free from the taint of views. And one has crossed over the flood of views. And one is unpierced by the dart of conceit. For this person, the station of consciousness dependent on perception comes to be fully understood. And for this person, lust for the perception element is abandoned. And one does not go the wrong course through fear.
Vị ấy sống quán tâm trên tâm, đoạn trừ sự điên đảo cho rằng ‘thường trong cái vô thường’, và thức thực của vị ấy đi đến sự liễu tri, và vị ấy không còn chấp thủ bởi kiến thủ, và không còn bị trói buộc bởi kiến lậu, và không còn bị trói buộc bởi giới cấm thủ thân phược, và không còn lậu hoặc bởi kiến lậu, và vượt qua được kiến bộc, và không còn bị mũi tên mạn đâm trúng, và nơi trú của thức của vị ấy, tức là tưởng, đi đến sự liễu tri, và tham ái trong tưởng giới của vị ấy được đoạn trừ, và không đi đến thiên vị vì sợ.
Dhammesu dhammānupassī viharanto ‘‘anattani † attā’’ti vipallāsaṃ pajahati, manosañcetanā cassa āhāro pariññaṃ gacchati, attavādupādānena ca anupādāno bhavati, avijjāyogena ca visaṃyutto bhavati, idaṃsaccābhinivesakāyaganthena ca vippayujjati, avijjāsavena ca anāsavo bhavati, avijjoghañca uttiṇṇo bhavati, mohasallena ca visallo bhavati, saṅkhārūpikā cassa viññāṇaṭṭhiti pariññaṃ gacchati, saṅkhāradhātuyaṃ cassa rāgo pahīno bhavati, na ca mohāgatiṃ gacchati. Ayaṃ pahānena samāropanā.
Dwelling contemplating phenomena in phenomena, one abandons the perversion of perceiving 'self' in what is not-self. For this person, the nutriment of mental volition comes to be fully understood. And one is without the clinging to the doctrine of self. And one becomes disjoined from the yoke of ignorance. And one is dissociated from the bodily knot of dogmatic adherence that 'this alone is truth'. And one becomes free from the taint of ignorance. And one has crossed over the flood of ignorance. And one is unpierced by the dart of delusion. For this person, the station of consciousness dependent on formations comes to be fully understood. And for this person, lust for the formations element is abandoned. And one does not go the wrong course through delusion. This is the inclusion by way of abandonment.
Vị ấy sống quán pháp trên các pháp, đoạn trừ sự điên đảo cho rằng ‘ngã trong cái vô ngã’, và tư niệm thực của vị ấy đi đến sự liễu tri, và vị ấy không còn chấp thủ bởi ngã luận thủ, và không còn bị trói buộc bởi vô minh lậu, và không còn bị trói buộc bởi ‘đây là sự thật’ chấp thân phược, và không còn lậu hoặc bởi vô minh lậu, và vượt qua được vô minh bộc, và không còn bị mũi tên si đâm trúng, và nơi trú của thức của vị ấy, tức là hành, đi đến sự liễu tri, và tham ái trong hành giới của vị ấy được đoạn trừ, và không đi đến thiên vị vì si. Đây là sự áp đặt bằng cách đoạn trừ.
Tenāha āyasmā mahākaccāyano –
Therefore, the Venerable Mahākaccāna said:
Do đó, Tôn giả Mahākaccāna đã nói:
‘‘Ye dhammā yaṃ mūlā, ye cekatthā pakāsitā muninā;
Te samāropayitabbā, esa samāropano hāro’’ti.
“Whatever phenomena have a certain root, and whatever terms of single meaning have been declared by the Sage—they should be included. This is the Mode of Inclusion.”
‘Những pháp nào có gốc rễ nào, và những từ nào có cùng một nghĩa đã được bậc Mâu-ni tuyên thuyết; những pháp ấy cần được áp đặt, đây là phương pháp áp đặt.’
Niyutto samāropano hāro.
The Mode of Inclusion has been expounded.
Phương pháp áp đặt đã được trình bày.
Niṭṭhito ca hāravibhaṅgo.
And the Analysis of the Modes is completed.
Và sự phân tích các phương pháp đã được hoàn tất.