Bản dịch
NE 18 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Thiết Yếu
Parikkhārahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự thiết yếu là cách nào? “Các pháp nào sản sinh ra pháp nào, ...” Pháp nào sản sinh ra pháp khác, pháp ấy là sự thiết yếu của pháp kia. Sự thiết yếu có tướng trạng gì? Sự thiết yếu có tướng trạng của người sinh sản. Hai pháp sản sinh ra (pháp khác) là: nhân và duyên. Ở đấy, nhân có tướng trạng gì, duyên có tướng trạng gì? Nhân có tướng trạng không phổ biến, duyên có tướng trạng phổ biến. Là giống như cái gì? Giống như ở việc thành tựu của mầm cây, hạt giống là không phổ biến, đất và nước là phổ biến.― ―Bởi vì đối với mầm cây thì đất và nước là duyên, còn tính chất tự thân (của nó) là nhân. Hoặc hơn nữa, giống như sữa tươi được đặt vào hũ thì trở thành sữa đông, và không có sự đồng thời cùng một lúc của sữa tươi và sữa đông, tương tự y như vậy không có sự đồng thời cùng một lúc của nhân và duyên.
Chính sự luân hồi này được sanh ra có nhân có duyên. Bởi vì, điều đã được nói là: “Do duyên vô minh, các hành (sanh khởi); do duyên các hành, thức (sanh khởi),” Toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi là tương tự. Như thế, vô minh là nhân của vô minh, tác ý không đúng đường lối là duyên. Vô minh trước là nhân của vô minh sau. Ở đấy, vô minh trước là vô minh tiềm ẩn, vô minh sau là vô minh xâm nhập. Vô minh tiềm ẩn trước có trạng thái là nhân của vô minh xâm nhập sau theo tính chất nhân không bị gián đoạn, tựa như hạt giống và mầm cây trong việc mọc lên. Hơn nữa, cái nào ở nơi nào mà sanh ra quả, thì cái này có trạng thái là nhân của cái kia theo tính chất nhân có sự tuần tự. Bởi vì nhân có hai loại: nhân không bị gián đoạn và nhân có sự tuần tự. Tương tự như vậy, đối với vô minh nhân cũng có hai loại: nhân không bị gián đoạn và nhân có sự tuần tự.
Hoặc hơn nữa, giống như cái chén, sợi bấc, và dầu thắp có trạng thái là duyên của cây đèn, không phải là nhân theo tính chất tự thân, bởi vì không thể nào thắp sáng cái chén, sợi bấc, và dầu thắp ―có trạng thái là duyên của cây đèn― mà không có ngọn lửa. Tương tự cây đèn có tính chất tự thân là nhân. Như thế, tính chất tự thân là nhân, tính chất từ cái khác là duyên; thuộc về nội tại là nhân, ngoại lai là duyên; liên quan đến sinh sản là nhân, liên quan đến trợ giúp là duyên; không phổ biến là nhân, phổ biến là duyên.
Ý nghĩa của sự không gián đoạn là ý nghĩa của sự liên tục, ý nghĩa của sự sanh ra là ý nghĩa về (sự tạo tác) kết quả, ý nghĩa của sự tiếp nối là ý nghĩa của sự hiện hữu lại nữa, ý nghĩa của sự vướng bận là ý nghĩa của sự xâm nhập, ý nghĩa của sự không thủ tiêu là ý nghĩa của sự tiềm ẩn, ý nghĩa của sự không hoàn toàn thấu triệt là ý nghĩa của vô minh, trạng thái không biết rõ là ý nghĩa về hạt giống của thức. Nơi nào có sự không gián đoạn, nơi ấy có sự liên tục; nơi nào có sự liên tục, nơi ấy có sự sanh ra; nơi nào có sự sanh ra, nơi ấy có (sự tạo tác) kết quả; nơi nào có (sự tạo tác) kết quả, nơi ấy có sự tiếp nối; nơi nào có sự tiếp nối, nơi ấy có sự hiện hữu lại nữa; nơi nào có sự hiện hữu lại nữa, nơi ấy có sự vướng bận; nơi nào có sự vướng bận, nơi ấy có sự xâm nhập;― ―nơi nào có sự xâm nhập, nơi ấy có sự không thủ tiêu; nơi nào có sự không thủ tiêu, nơi ấy có sự tiềm ẩn; nơi nào có sự tiềm ẩn, nơi ấy có sự không hoàn toàn thấu triệt; nơi nào có sự không hoàn toàn thấu triệt, nơi ấy có vô minh; nơi nào có vô minh, nơi ấy thức có lậu hoặc không được biết rõ; nơi nào thức có lậu hoặc không được biết rõ, nơi ấy có ý nghĩa về hạt giống.
Giới uẩn là duyên của định uẩn, định uẩn là duyên của tuệ uẩn, tuệ uẩn là duyên của giải thoát uẩn, giải thoát uẩn là duyên của tri kiến về giải thoát uẩn. Trạng thái biết về bến nước là duyên của trạng thái biết về việc được uống, trạng thái biết về việc được uống là duyên của trạng thái biết về điều đã đạt được, trạng thái biết về điều đã đạt được là duyên của trạng thái biết về bản thân.
Hoặc là, giống như tùy thuộc vào mắt và các cảnh sắc, nhãn thức sanh lên; ở đấy, mắt là duyên với tính chất của trưởng duyên, các sắc là duyên với tính chất của cảnh duyên, ánh sáng là duyên với tính chất của đồng y chỉ duyên, tác ý có bản chất là nhân. Thức có các hành là duyên, có bản chất là nhân. Danh sắc có thức là duyên, có bản chất là nhân. Sáu xứ có danh sắc là duyên, có bản chất là nhân. Xúc có sáu xứ là duyên, có bản chất là nhân. Thọ có xúc là duyên, có bản chất là nhân. Ái có thọ là duyên, có bản chất là nhân. Thủ có ái là duyên, có bản chất là nhân. Hữu có thủ là duyên, có bản chất là nhân. Sanh có hữu là duyên, có bản chất là nhân. Lão tử có sanh là duyên, có bản chất là nhân. Sầu muộn có lão tử là duyên, có bản chất là nhân. Than vãn có sầu muộn là duyên, có bản chất là nhân. Khổ đau có than vãn là duyên, có bản chất là nhân. Ưu phiền có khổ đau là duyên, có bản chất là nhân. Thất vọng có ưu phiền là duyên, có bản chất là nhân. Như vậy, bất cứ thứ nào là sự nâng đỡ, mọi thứ ấy là sự thiết yếu. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: Các pháp nào sản sinh ra pháp nào, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Thiết Yếu được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
49. Tattha katamo parikkhāro hāro? ‘‘Ye dhammā yaṃ dhammaṃ janayantī’’ti.
49. Herein, what is the Requisite Mode? “Those phenomena that generate a phenomenon.”
49. Trong đó, Duyên Trợ Môn là gì? “Những pháp nào sanh ra pháp nào”.
Yo dhammo yaṃ dhammaṃ janayati, tassa so parikkhāro. Kiṃlakkhaṇo parikkhāro? Janakalakkhaṇo parikkhāro. Dve dhammā janayanti hetu ca paccayo ca. Tattha kiṃlakkhaṇo hetu, kiṃlakkhaṇo paccayo? Asādhāraṇalakkhaṇo hetu, sādhāraṇalakkhaṇo paccayo. Yathā kiṃ bhave? Yathā aṅkurassa nibbattiyā bījaṃ asādhāraṇaṃ, pathavī āpo ca sādhāraṇā. Aṅkurassa hi pathavī āpo ca paccayo sabhāvo hetu. Yathā vā pana ghaṭe duddhaṃ pakkhittaṃ dadhi bhavati, na catthi ekakālasamavadhānaṃ duddhassa ca dadhissa ca. Evamevaṃ natthi ekakālasamavadhānaṃ hetussa ca paccayassa ca.
Whatever phenomenon generates another phenomenon, that is its requisite. What is the characteristic of a requisite? The characteristic of a requisite is that it generates. Two phenomena generate: a cause (hetu) and a condition (paccaya). Herein, what is the characteristic of a cause, and what is the characteristic of a condition? The characteristic of a cause is that it is uncommon; the characteristic of a condition is that it is common. How so? For example, for the arising of a sprout, the seed is the uncommon cause, while earth and water are common conditions. For the sprout, earth and water are the conditions, while its own nature (the seed) is the cause. Or, just as milk put into a pot becomes curd, and there is no simultaneous co-existence of the milk and the curd, so too there is no simultaneous co-existence of the cause and the condition.
Pháp nào sanh ra pháp nào, pháp ấy là duyên trợ của pháp kia. Duyên trợ có đặc tính gì? Duyên trợ có đặc tính sanh khởi. Có hai pháp sanh khởi: nhân (hetu) và duyên (paccayo). Trong đó, nhân có đặc tính gì, duyên có đặc tính gì? Nhân có đặc tính không chung, duyên có đặc tính chung. Ví như thế nào? Ví như đối với sự phát sanh của mầm cây, hạt giống là (nhân) không chung, còn đất và nước là (duyên) chung. Thật vậy, đối với mầm cây, đất và nước là duyên, còn tự tánh (hạt giống) là nhân. Hoặc ví như sữa được đổ vào trong bình trở thành sữa chua, và không có sự đồng hiện trong cùng một thời điểm của sữa và sữa chua. Cũng như vậy, không có sự đồng hiện trong cùng một thời điểm của nhân và duyên.
Ayañhi saṃsāro sahetu sappaccayo nibbatto. Vuttaṃ hi avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, evaṃ sabbo paṭiccasamuppādo. Iti avijjā avijjāya hetu ayoniso manasikāro paccayo. Purimikā avijjā pacchimikāya avijjāya hetu. Tattha purimikā avijjā avijjānusayo pacchimikā avijjā avijjāpariyuṭṭhānaṃ, purimiko avijjānusayo pacchimikassa avijjāpariyuṭṭhānassa hetubhūto paribrūhanāya, bījaṅkuro viya samanantarahetutāya. Yaṃ pana yattha phalaṃ nibbattati, idamassa paramparahetutāya hetubhūtaṃ. Duvidho hi hetu samanantarahetu paramparahetu ca, evaṃ avijjāyapi duvidho hetu samanantarahetu paramparahetu ca.
This saṃsāra arises with a cause and with a condition. For it is said: “With ignorance as condition, formations arise; with formations as condition, consciousness arises.” Thus is the entire Dependent Origination. In this, ignorance is the cause (hetu) for ignorance; inappropriate attention is the condition (paccaya). The preceding ignorance is the cause for the succeeding ignorance. Therein, the preceding ignorance is the latent tendency of ignorance (avijjānusaya), and the succeeding ignorance is the obsession of ignorance (avijjāpariyuṭṭhāna). The preceding latent tendency of ignorance becomes the cause for the growth of the succeeding obsession of ignorance, like a seed for a sprout, by way of being an immediate cause. Furthermore, whatever fruit arises from a certain seed, this seed becomes its cause by way of being a remote cause. For a cause is twofold: an immediate cause and a remote cause. Similarly, for ignorance too, the cause is twofold: an immediate cause and a remote cause.
Thật vậy, vòng luân hồi này được phát sanh có nhân và có duyên. Thật vậy, đã được nói rằng: “Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi”, như vậy là toàn bộ Lý Duyên Khởi. Do đó, vô minh là nhân cho vô minh, còn tác ý không như lý là duyên. Vô minh trước là nhân cho vô minh sau. Trong đó, vô minh trước là vô minh tùy miên, vô minh sau là vô minh triền phược. Vô minh tùy miên trước trở thành nhân cho sự tăng trưởng của vô minh triền phược sau, giống như hạt giống và mầm cây, do tính chất là nhân vô gián. Còn quả nào sanh khởi ở đâu, cái này trở thành nhân cho nó do tính chất là nhân kế tục. Thật vậy, nhân có hai loại: nhân vô gián và nhân kế tục. Cũng vậy, đối với vô minh cũng có hai loại nhân: nhân vô gián và nhân kế tục.
Yathā vā pana thālakañca vaṭṭi ca telañca padīpassa paccayabhūtaṃ na sabhāvahetu, na hi sakkā thālakañca vaṭṭiñca telañca anaggikaṃ dīpetuṃ padīpassa paccayabhūtaṃ. Padīpo viya sabhāvo hetu hoti. Iti sabhāvo hetu, parabhāvo paccayo. Ajjhattiko hetu, bāhiro paccayo. Janako hetu, pariggāhako paccayo. Asādhāraṇo hetu, sādhāraṇo paccayo.
Alternatively, just as a lamp-dish, a wick, and oil are supporting conditions for a lamp but not the intrinsic cause—for it is impossible to light the lamp-dish, wick, and oil without fire, which are supporting conditions for the lamp. Like a lamp [lighting another], the cause of the same nature is the hetu. Thus, what is of the same nature is the cause; what is of a different nature is the condition. What is internal is the cause; what is external is the condition. What generates is the cause; what supports is the condition. What is uncommon is the cause; what is common is the condition.
Hoặc ví như đĩa đèn, bấc đèn và dầu là những thứ trở thành duyên cho ngọn đèn, chứ không phải là nhân tự tánh. Thật vậy, không thể thắp sáng đĩa đèn, bấc đèn và dầu khi không có lửa. Giống như ngọn đèn (trước), tự tánh là nhân. Do đó, tự tánh là nhân, tha tánh là duyên. Pháp bên trong là nhân, pháp bên ngoài là duyên. Pháp sanh khởi là nhân, pháp hỗ trợ là duyên. Pháp không chung là nhân, pháp chung là duyên.
Avupacchedattho santati attho, nibbatti attho phalattho, paṭisandhi attho punabbhavattho, palibodhattho pariyuṭṭhānattho, asamugghātattho anusayattho, asampaṭivedhattho avijjattho, apariññātattho viññāṇassa bījattho. Yattha avupacchedo tattha santati, yattha santati tattha nibbatti, yattha nibbatti tattha phalaṃ, yattha phalaṃ tattha paṭisandhi, yattha paṭisandhi tattha punabbhavo, yattha punabbhavo tattha palibodho, yattha palibodho tattha pariyuṭṭhānaṃ, yattha pariyuṭṭhānaṃ tattha asamugghāto. Yattha asamugghāto tattha anusayo, yattha anusayo tattha asampaṭivedho, yattha asampaṭivedho tattha avijjā, yattha avijjā tattha sāsavaṃ viññāṇaṃ apariññātaṃ, yattha sāsavaṃ viññāṇaṃ apariññātaṃ tattha bījattho.
The meaning of non-interruption is the meaning of continuity. The meaning of production is the meaning of fruit. The meaning of rebirth-linking is the meaning of renewed existence. The meaning of obstruction is the meaning of obsession. The meaning of non-eradication is the meaning of latent tendency. The meaning of non-penetration is the meaning of ignorance. The meaning of not being fully comprehended is the meaning of seed for consciousness. Where there is non-interruption, there is continuity. Where there is continuity, there is production. Where there is production, there is fruit. Where there is fruit, there is rebirth-linking. Where there is rebirth-linking, there is renewed existence. Where there is renewed existence, there is obstruction. Where there is obstruction, there is obsession. Where there is obsession, there is non-eradication. Where there is non-eradication, there is latent tendency. Where there is latent tendency, there is non-penetration. Where there is non-penetration, there is ignorance. Where there is ignorance, there is consciousness with cankers, not fully comprehended. Where there is consciousness with cankers, not fully comprehended, there is the meaning of seed.
Ý nghĩa không gián đoạn là ý nghĩa tương tục, ý nghĩa phát sanh là ý nghĩa quả, ý nghĩa tái sanh là ý nghĩa tái hữu, ý nghĩa chướng ngại là ý nghĩa triền phược, ý nghĩa không bị diệt trừ là ý nghĩa tùy miên, ý nghĩa không thông suốt là ý nghĩa vô minh, ý nghĩa không liễu tri là ý nghĩa hạt giống của thức. Nơi nào có sự không gián đoạn, nơi đó có sự tương tục. Nơi nào có sự tương tục, nơi đó có sự phát sanh. Nơi nào có sự phát sanh, nơi đó có quả. Nơi nào có quả, nơi đó có sự tái sanh. Nơi nào có sự tái sanh, nơi đó có tái hữu. Nơi nào có tái hữu, nơi đó có chướng ngại. Nơi nào có chướng ngại, nơi đó có triền phược. Nơi nào có triền phược, nơi đó có sự không bị diệt trừ. Nơi nào có sự không bị diệt trừ, nơi đó có tùy miên. Nơi nào có tùy miên, nơi đó có sự không thông suốt. Nơi nào có sự không thông suốt, nơi đó có vô minh. Nơi nào có vô minh, nơi đó có thức hữu lậu không được liễu tri. Nơi nào có thức hữu lậu không được liễu tri, nơi đó có ý nghĩa hạt giống.
Sīlakkhandho samādhikkhandhassa paccayo, samādhikkhandho paññākkhandhassa paccayo, paññākkhandho vimuttikkhandhassa paccayo, vimuttikkhandho vimuttiñāṇadassanakkhandhassa paccayo. Titthaññutā pītaññutāya paccayo, pītaññutā pattaññutāya paccayo, pattaññutā attaññutāya paccayo.
The aggregate of virtue is a condition for the aggregate of concentration; the aggregate of concentration is a condition for the aggregate of wisdom; the aggregate of wisdom is a condition for the aggregate of liberation; the aggregate of liberation is a condition for the aggregate of the knowledge and vision of liberation. Knowing through learning is a condition for knowing joy; knowing joy is a condition for knowing the measure; knowing the measure is a condition for knowing oneself.
Giới uẩn là duyên cho định uẩn, định uẩn là duyên cho tuệ uẩn, tuệ uẩn là duyên cho giải thoát uẩn, giải thoát uẩn là duyên cho giải thoát tri kiến uẩn. Sự hiểu biết do nghe là duyên cho sự hiểu biết về hỷ, sự hiểu biết về hỷ là duyên cho sự hiểu biết về chừng mực, sự hiểu biết về chừng mực là duyên cho sự hiểu biết về tự thân.
Yathā vā pana cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṃ. Tattha cakkhu ādhipateyyapaccayatāya paccayo, rūpā ārammaṇapaccayatāya paccayo. Āloko sannissayatāya paccayo, manasikāro sabhāvo hetu. Saṅkhārā viññāṇassa paccayo, sabhāvo hetu. Viññāṇaṃ nāmarūpassa paccayo, sabhāvo hetu. Nāmarūpaṃ saḷāyatanassa paccayo, sabhāvo hetu. Saḷāyatanaṃ phassassa paccayo, sabhāvo hetu. Phasso vedanāya paccayo, sabhāvo hetu. Vedanā taṇhāya paccayo, sabhāvo hetu. Taṇhā upādānassa paccayo, sabhāvo hetu. Upādānaṃ bhavassa paccayo, sabhāvo hetu. Bhavo jātiyā paccayo, sabhāvo hetu. Jāti jarāmaraṇassa paccayo, sabhāvo hetu. Jarāmaraṇaṃ sokassa paccayo, sabhāvo hetu. Soko paridevassa paccayo, sabhāvo hetu. Paridevo dukkhassa paccayo, sabhāvo hetu. Dukkhaṃ domanassassa paccayo, sabhāvo hetu. Domanassaṃ upāyāsassa paccayo, sabhāvo hetu. Evaṃ yo koci upanissayo sabbo so parikkhāro. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘ye dhammā yaṃ dhammaṃ janayantī’’ti.
Or, as for example: dependent on the eye and forms, eye-consciousness arises. Therein, the eye is a condition by way of dominance condition; forms are a condition by way of object condition. Light is a condition by way of support; attention is a natural cause. Formations are a condition for consciousness, a natural cause. Consciousness is a condition for name-and-form, a natural cause. Name-and-form is a condition for the six sense bases, a natural cause. The six sense bases are a condition for contact, a natural cause. Contact is a condition for feeling, a natural cause. Feeling is a condition for craving, a natural cause. Craving is a condition for clinging, a natural cause. Clinging is a condition for existence, a natural cause. Existence is a condition for birth, a natural cause. Birth is a condition for aging-and-death, a natural cause. Aging-and-death is a condition for sorrow, a natural cause. Sorrow is a condition for lamentation, a natural cause. Lamentation is a condition for pain, a natural cause. Pain is a condition for grief, a natural cause. Grief is a condition for despair, a natural cause. Thus, whatever decisive support there is, all that is a requisite. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: 'Which phenomena generate which phenomenon.'
Ví như, do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức sanh khởi. Trong đó, con mắt là duyên theo nghĩa tăng thượng duyên, các sắc là duyên theo nghĩa sở duyên duyên. Ánh sáng là duyên theo nghĩa y chỉ duyên, tác ý là nhân đồng bản chất. Các hành là duyên của thức, là nhân đồng bản chất. Thức là duyên của danh sắc, là nhân đồng bản chất. Danh sắc là duyên của sáu xứ, là nhân đồng bản chất. Sáu xứ là duyên của xúc, là nhân đồng bản chất. Xúc là duyên của thọ, là nhân đồng bản chất. Thọ là duyên của ái, là nhân đồng bản chất. Ái là duyên của thủ, là nhân đồng bản chất. Thủ là duyên của hữu, là nhân đồng bản chất. Hữu là duyên của sanh, là nhân đồng bản chất. Sanh là duyên của già chết, là nhân đồng bản chất. Già chết là duyên của sầu, là nhân đồng bản chất. Sầu là duyên của bi, là nhân đồng bản chất. Bi là duyên của khổ, là nhân đồng bản chất. Khổ là duyên của ưu, là nhân đồng bản chất. Ưu là duyên của não, là nhân đồng bản chất. Như vậy, bất cứ y duyên nào, tất cả đều là vật dụng. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyana đã nói: ‘Những pháp nào làm sanh khởi pháp nào’.
Niyutto parikkhāro hāro.
The Requisite Mode is concluded.
Phần cú pháp về vật dụng đã được trình bày xong.