Bản dịch
NE 17 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xác Định
Adhiṭṭhānahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự xác định là cách nào? (Kệ ngôn là:) “Các pháp nào đã được diễn giải theo tính trạng đồng nhất và luôn cả tính trạng khác biệt nữa, ...” Ở đấy, các pháp nào đã được diễn giải thì nên ghi nhận chúng như thế ấy.
‘Khổ’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là Khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sự gắn bó với những gì không ưa thích là khổ, sự chia lìa với những gì ưa thích là khổ, không đạt được điều ước muốn là khổ, một cách tóm tắt năm thủ uẩn là khổ: các sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, các hành là khổ, thức là khổ; đây là tính trạng khác biệt.
‘Nhân sanh Khổ’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là nhân sanh Khổ? Cái ấy chính là tham ái đưa đến tái sanh, đồng hành với vui mừng và luyến ái, có sự thích thú ở nơi này nơi khác tức là: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái; đây là tính trạng khác biệt.
‘Sự diệt tận Khổ’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là sự diệt tận Khổ’? Cái ấy là sự lìa khỏi và sự diệt tận luyến ái không còn dư sót, sự xả bỏ, sự buông bỏ, sự giải thoát, không là chỗ tàng trữ của chính tham ái ấy; đây là tính trạng khác biệt.
‘Lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ? Đây chính là Thánh Đạo tám chi phần, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đây là tính trạng khác biệt.
‘Đạo lộ’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là đạo lộ? Đạo lộ đưa đến địa ngục, đạo lộ đưa đến loài thú, đạo lộ đưa đến thân phận ngạ quỷ, đạo lộ đưa đến loài A-tu-la, đạo lộ đưa đến cõi Trời, đạo lộ đưa đến loài người, đạo lộ đưa đến Niết Bàn; đây là tính trạng khác biệt.
‘Sự diệt tận’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là sự diệt tận? Sự diệt tận có chủ ý, sự diệt tận không có chủ ý, sự diệt tận ưa chuộng, sự diệt tận bất bình, sự diệt tận ngã mạn, sự diệt tận gièm pha, sự diệt tận ác ý, sự diệt tận ganh tỵ, sự diệt tận bỏn xẻn, sự diệt tận tất cả ô nhiễm; đây là tính trạng khác biệt.
‘Sắc’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là sắc? Ở đấy, bốn yếu tố chính (đất, nước, lửa, gió) là sắc và sự mô tả về (các) sắc liên quan đến bốn yếu tố chính. Ở đấy, những cái nào là bốn yếu tố chính? Nguyên tố đất, nguyên tố nước, nguyên tố lửa, nguyên tố gió.
Nắm vững các nguyên tố theo hai cách thức: theo cách tóm lược và theo cách chi tiết. Thế nào là nắm vững các nguyên tố theo chi tiết? Nắm vững nguyên tố đất theo chi tiết với hai mươi biểu hiện. Nắm vững nguyên tố nước theo chi tiết với mười hai biểu hiện. Nắm vững nguyên tố lửa theo chi tiết với bốn biểu hiện. Nắm vững nguyên tố gió theo chi tiết với sáu biểu hiện.
Nắm vững nguyên tố đất theo chi tiết với hai mươi biểu hiện nào? Ở thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, não bộ ở đầu. Nắm vững nguyên tố đất theo chi tiết với hai mươi biểu hiện này.
Nắm vững nguyên tố nước theo chi tiết với mười hai biểu hiện nào? Ở thân này có mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu. Nắm vững nguyên tố nước theo chi tiết với mười hai biểu hiện này.
Nắm vững nguyên tố lửa theo chi tiết với bốn biểu hiện nào? “Bị nung nóng do nó, bị già nua do nó, bị thiêu đốt do nó, và do nó mà vật được ăn vào, được uống vào, được nhai, được nếm đi đến sự tiêu hóa đúng đắn,” như thế là nắm vững nguyên tố lửa theo chi tiết với bốn biểu hiện này.
Nắm vững nguyên tố gió theo chi tiết với sáu biểu hiện nào? “Gió đi lên, gió đi xuống, gió trú ở bụng, gió trú ở bao tử, gió lưu chuyển khắp thân thể, hơi thở vào và hơi thở ra,” như thế là nắm vững nguyên tố gió theo chi tiết với sáu biểu hiện này.
Như vậy, trong khi phân định, trong khi cân nhắc, trong khi thâm nhập, trong khi suy xét toàn diện, trong khi quán xét các nguyên tố theo chi tiết với bốn mươi hai biểu hiện này về tính chất của bản thể thì không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm giữ, dầu là toàn thân hay là một phần của thân thể. Giống như trong khi khảo sát bãi rác thì không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm giữ, giống như trong khi khảo sát nhà vệ sinh thì không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm giữ, giống như trong khi khảo sát bãi tha ma thì không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm giữ, tương tự như vậy, trong khi phân định, trong khi cân nhắc, trong khi thâm nhập, trong khi suy xét toàn diện, trong khi quán xét các nguyên tố theo chi tiết với bốn mươi hai biểu hiện này về tính chất của bản thể thì không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm giữ, dầu là toàn thân hay là một phần của thân thể. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“Hơn nữa, nguyên tố đất nào thuộc nội phần và nguyên tố đất nào thuộc ngoại phần, cả hai cái ấy chính là nguyên tố đất. Nên nhìn thấy cái ấy đúng theo thực thể với sự nhận biết đúng đắn như vầy: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Sau khi nhìn thấy vật ấy đúng theo thực thể với sự nhận biết đúng đắn như vậy thì nhàm chán nguyên tố đất, tâm lìa khỏi luyến ái đối với nguyên tố đất. Hơn nữa, nguyên tố nước nào thuộc nội phần và nguyên tố nước nào thuộc ngoại phần, ―nt― Hơn nữa, nguyên tố lửa nào thuộc nội phần và nguyên tố lửa nào thuộc ngoại phần, ―nt― Hơn nữa, nguyên tố gió nào thuộc nội phần và nguyên tố gió nào thuộc ngoại phần, cả hai cái ấy chính là nguyên tố gió. Nên nhìn thấy cái ấy đúng theo thực thể với sự nhận biết đúng đắn như vầy: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Sau khi nhìn thấy vật ấy đúng theo thực thể với sự nhận biết đúng đắn như vậy thì nhàm chán nguyên tố gió, tâm lìa khỏi luyến ái đối với nguyên tố gió;” đây là tính trạng khác biệt.
‘Vô minh’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là vô minh? Sự không biết về Khổ, sự không biết về nhân sanh Khổ, sự không biết về sự diệt tận Khổ, sự không biết về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, sự không biết về điểm khởi đầu, sự không biết về điểm kết thúc, sự không biết về điểm khởi đầu và điểm kết thúc, sự không biết về các pháp đã được tùy thuận sanh khởi này; sự không biết nào với hình thức như vậy là sự không nhìn thấy, không chứng ngộ, không thấu hiểu, không giác ngộ, không thấu triệt, không quan sát,― ―không suy xét, không phân biệt, không xem xét, không quán xét lại, sự đần độn, trạng thái ngu si, sự không nhận biết rõ, sự si mê, sự mê ám, sự mê muội, vô minh, sự lôi cuốn vào vô minh, sự gắn bó với vô minh, sự tiềm ẩn của vô minh, sự xâm nhập của vô minh, sự ngăn trở của vô minh, si mê là gốc rễ của bất thiện; đây là tính trạng khác biệt.
‘Minh’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là minh? Sự biết về Khổ, sự biết về nhân sanh Khổ, sự biết về sự diệt tận Khổ, sự biết về lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, sự biết về điểm khởi đầu, sự biết về điểm kết thúc, sự biết về điểm khởi đầu và điểm kết thúc, sự biết về các pháp đã được tùy thuận sanh khởi này; tuệ nào với hình thức như vậy là sự nhận biết, sự chọn lựa, sự nghiên cứu, sự chọn lựa pháp, sự quan sát, sự suy xét, sự phân biệt, sự thông thái, sự thông thạo, sự khôn khéo, sự thông suốt, sự cân nhắc, sự khảo sát, sự hiểu biết rộng rãi, sự thông minh, pháp dẫn đầu, sự thấy rõ, sự nhận biết rõ, vật xuyên thủng, tuệ, tuệ quyền, tuệ lực, vũ khí tuệ, lâu đài tuệ, ánh sáng tuệ, hào quang tuệ, cây đèn tuệ, báu vật tuệ, sự không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, là yếu tố của Đạo, được gộp vào Đạo; đây là tính trạng khác biệt.
‘Sự thể nhập’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là sự thể nhập? Sự thể nhập tưởng, sự thể nhập vô tưởng, sự thể nhập phi tưởng phi phi tưởng, sự thể nhập tưởng không hiện hữu, sự thể nhập tưởng về diệt tận; đây là tính trạng khác biệt.
‘Có thiền chứng’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, vị nào là có thiền chứng? Có bậc hữu học có thiền chứng, có bậc vô học có thiền chứng, có vị không phải hữu học không phải vô học có thiền chứng, vị thuần chủng có thiền chứng, vị ‘bất kham (như ngựa)’ có thiền chứng, vị vượt trội về tà kiến có thiền chứng, vị vượt trội về tham ái có thiền chứng, vị vượt trội về tuệ có thiền chứng;’ đây là tính trạng khác biệt.
‘Định’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là định? Định ở tâm bất thiện, định ở tâm thiện và tâm vô ký, định ở các tâm thù oán, định ở tâm từ, định có tức giận, định không có tức giận, định có hỷ, định không có hỷ, định liên hệ vật chất, định không liên hệ vật chất, định khó khăn và chậm chạp, định dễ dàng và nhanh chóng, định một bên (thuần minh sát), định hai bên (đưa đến chỉ tịnh), định có sự tu tập đã được phát triển ở cả hai (chỉ tịnh và minh sát), định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ, định liên quan đến thoái hóa, định liên quan đến bền vững, định liên quan đến thù thắng, định liên quan đến thấu triệt, định hợp thế, định siêu thế, tà định, chánh định; đây là tính trạng khác biệt.
‘Lối thực hành’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là lối thực hành? Lối thực hành lợi dưỡng, lối thực hành khổ hạnh, lối thực hành trung đạo, lối thực hành thiếu kham nhẫn, lối thực hành có kham nhẫn, lối thực hành làm yên lặng, lối thực hành huấn luyện, lối thực hành khó khăn có thắng trí chậm chạp, lối thực hành khó khăn có thắng trí mau chóng, lối thực hành thoải mái có thắng trí chậm chạp, lối thực hành thoải mái có thắng trí mau chóng; đây là tính trạng khác biệt.
‘Thân’ là có tính trạng đồng nhất. Ở đấy, cái nào là thân? Danh thân và sắc thân. Ở đấy, cái nào là sắc thân? ‘Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thực phẩm chưa tiêu, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu, não bộ ở đầu;’ cái này là sắc thân. Gọi là danh thân gồm có ‘thọ, tưởng, tư, tâm, xúc, tác ý;’ cái này là danh thân; đây là tính trạng khác biệt.
Như vậy, pháp nào có tính chất tương đồng với pháp nào khác, pháp ấy là có sự đồng nhất theo tính trạng đồng nhất đối với pháp kia. Hoặc hơn nữa, có sự khác tướng trạng bởi mỗi một điều nào thì đi đến tính trạng khác biệt theo mỗi một điều ấy. Như vậy, với người hỏi về thể loại sutta (kinh), hoặc thể loại veyyākaraṇa, hoặc thể loại gāthā (kệ ngôn), thì nên được kiểm tra kỹ rằng: “Hỏi về tính trạng đồng nhất hay về tính trạng khác biệt?” Nếu được hỏi về tính trạng đồng nhất, thì nên trả lời theo tính trạng đồng nhất. Nếu được hỏi về tính trạng khác biệt, thì nên trả lời theo tính trạng khác biệt. Nếu được hỏi về việc xác định chúng sanh, thì nên trả lời theo việc xác định chúng sanh. Nếu được hỏi về việc xác định pháp, thì nên trả lời theo việc xác định pháp. Hoặc hơn nữa, được hỏi như thế nào thì nên trả lời như thế ấy. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Các pháp (nào đã được diễn giải) theo tính trạng đồng nhất, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Xác Định được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
46. Tattha katamo adhiṭṭhāno hāro? ‘‘Ekattatāya dhammā, yepi ca vemattatāya niddiṭṭhā’’ti.
46. Herein, what is the mode of determination? It is defined by the verse beginning: 'Those things which are designated by way of unity and also by way of diversity...'
46. Trong đó, quyết định môn là gì? (Là phương pháp mà trong đó) ‘Các pháp được chỉ ra với tính đồng nhất, và cũng với tính dị biệt.’
Ye tattha niddiṭṭhā, tathā te dhārayitabbā.
Those things which are designated therein should be borne in mind accordingly.
Những pháp nào được chỉ ra ở đó, chúng nên được ghi nhớ như vậy.
‘‘Dukkha’’nti ekattatā. Tattha katamaṃ dukkhaṃ? Jāti dukkhā, jarā dukkhā, byādhi dukkho, maraṇaṃ dukkhaṃ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā, rūpā dukkhā, vedanā dukkhā, saññā dukkhā, saṅkhārā dukkhā, viññāṇaṃ dukkhaṃ. Ayaṃ vemattatā.
‘Suffering’ is unity. Herein, what is suffering? Birth is suffering, aging is suffering, sickness is suffering, death is suffering, association with the disliked is suffering, separation from the liked is suffering, not getting what one wishes is also suffering; in brief, the five aggregates subject to clinging are suffering. Form is suffering, feeling is suffering, perception is suffering, formations are suffering, consciousness is suffering. This is diversity.
‘Khổ’ là tính đồng nhất. Trong đó, khổ là gì? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, gặp gỡ điều không ưa thích là khổ, biệt ly điều ưa thích là khổ, cầu mong mà không được cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Sắc là khổ, thọ là khổ, tưởng là khổ, các hành là khổ, thức là khổ. Đây là tính dị biệt.
‘‘Dukkhasamudayo’’ti ekattatā. Tattha katamo dukkhasamudayo? Yāyaṃ taṇhā ponobhavikā † nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī. Seyyathidaṃ, kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā. Ayaṃ vemattatā.
‘The origin of suffering’ is unity. Herein, what is the origin of suffering? It is this craving which leads to renewed existence, accompanied by delight and lust, finding delight in this or that existence. That is to say: craving for sensual pleasures, craving for existence, and craving for non-existence. This is diversity.
‘Tập đế’ là tính đồng nhất. Trong đó, tập đế là gì? Chính là ái này, dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là, dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Đây là tính dị biệt.
‘‘Dukkhanirodho’’ti ekattatā. Tattha katamo dukkhanirodho? Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo. Ayaṃ vemattatā.
‘The cessation of suffering’ is unity. Herein, what is the cessation of suffering? It is the remainderless fading away and cessation of that very craving, the giving up of it, the relinquishing of it, the release from it, and the non-attachment to it. This is diversity.
‘Diệt đế’ là tính đồng nhất. Trong đó, diệt đế là gì? Chính là sự đoạn diệt không còn tàn dư, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ đối với chính ái ấy. Đây là tính dị biệt.
‘‘Dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti ekattatā. Tattha katamā dukkhanirodhagāminī paṭipadā? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Seyyathidaṃ, sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Ayaṃ vemattatā.
‘The path leading to the cessation of suffering’ is unity. Herein, what is the path leading to the cessation of suffering? It is this very Noble Eightfold Path. That is to say: right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration. This is diversity.
‘Con đường đưa đến sự diệt khổ’ là tính đồng nhất. Trong đó, con đường đưa đến sự diệt khổ là gì? Chính là Bát Thánh Đạo này. Tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là tính dị biệt.
‘‘Maggo’’ti ekattatā. Tattha katamo maggo? Nirayagāmī maggo tiracchānayonigāmī maggo pettivisayagāmī maggo asurayoniyo † maggo saggagāmiyo maggo manussagāmī maggo nibbānagāmī maggo. Ayaṃ vemattatā.
‘Path’ is unity. Herein, what is path? The path leading to hell, the path leading to the animal realm, the path leading to the sphere of ghosts, the path leading to the asura realm, the path leading to the heavenly realm, the path leading to the human realm, and the path leading to Nibbāna. This is diversity.
‘Con đường’ là tính đồng nhất. Trong đó, con đường là gì? Con đường đưa đến địa ngục, con đường đưa đến loài bàng sanh, con đường đưa đến cõi ngạ quỷ, con đường đưa đến loài a-tu-la, con đường đưa đến cõi trời, con đường đưa đến cõi người, con đường đưa đến Niết-bàn. Đây là tính dị biệt.
‘‘Nirodho’’ti ekattatā. Tattha katamo nirodho? Paṭisaṅkhānirodho appaṭisaṅkhānirodho anunayanirodho paṭighanirodho mānanirodho makkhanirodho paḷāsanirodho issānirodho macchariyanirodho sabbakilesanirodho. Ayaṃ vemattatā.
‘Cessation’ is unity. Herein, what is cessation? Cessation through deliberation, cessation not through deliberation, cessation of attachment, cessation of aversion, cessation of conceit, cessation of disparagement, cessation of spite, cessation of envy, cessation of stinginess, and cessation of all defilements. This is diversity.
‘Sự diệt’ là tính đồng nhất. Trong đó, sự diệt là gì? Trạch diệt, phi trạch diệt, sự diệt của ái luyến, sự diệt của sân hận, sự diệt của ngã mạn, sự diệt của sự phủ nhận công ơn, sự diệt của sự ganh đua, sự diệt của tật đố, sự diệt của bỏn xẻn, sự diệt của tất cả phiền não. Đây là tính dị biệt.
‘‘Rūpa’’nti ekattatā. Tattha katamaṃ rūpaṃ? Cātumahābhūtikaṃ † rūpaṃ catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāya rūpassa paññatti. Tattha katamāni cattāri mahābhūtāni? Pathavīdhātu † āpodhātu tejodhātu vāyodhātu.
‘Form’ is unity. Herein, what is form? Form composed of the four great elements and the designation of form derived from the four great elements. Herein, what are the four great elements? The earth element, the water element, the fire element, and the air element.
‘Sắc’ là tính đồng nhất. Trong đó, sắc là gì? Sắc do bốn đại hiển tạo thành và sự chế định của sắc y sinh từ bốn đại hiển. Trong đó, bốn đại hiển là gì? Địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại.
47. Dvīhi ākārehi dhātuyo pariggaṇhāti saṅkhepena ca vitthārena ca. Kathaṃ vitthārena dhātuyo pariggaṇhāti? Vīsatiyā ākārehi pathavīdhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti, dvādasahi ākārehi āpodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti, catūhi ākārehi tejodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti, chahi ākārehi vāyodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti.
47. One apprehends the elements in two ways: concisely and extensively. One apprehends the earth element extensively through twenty aspects, the water element extensively through twelve aspects, the fire element extensively through four aspects, and the air element extensively through six aspects.
47. Vị ấy nắm bắt các đại theo hai phương diện: tóm tắt và chi tiết. Nắm bắt các đại một cách chi tiết như thế nào? Vị ấy nắm bắt địa đại một cách chi tiết theo hai mươi phương diện, nắm bắt thủy đại một cách chi tiết theo mười hai phương diện, nắm bắt hỏa đại một cách chi tiết theo bốn phương diện, và nắm bắt phong đại một cách chi tiết theo sáu phương diện.
Katamehi vīsatiyā ākārehi pathavīdhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti? Atthi imasmiṃ kāye kesā lomā nakhā dantā taco, maṃsaṃ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ † vakkaṃ, hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ, antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ matthake matthaluṅganti imehi vīsatiyā ākārehi pathavīdhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti.
Through which twenty aspects does one apprehend the earth element extensively? In this body there are: head hairs, body hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, membranes, spleen, lungs, intestines, mesentery, stomach contents, feces, and in the head, the brain. Through these twenty aspects, one apprehends the earth element extensively.
Vị ấy nắm bắt địa đại một cách chi tiết theo hai mươi phương diện nào? Có trong thân này: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn mới, phân, và não trong đầu. Vị ấy nắm bắt địa đại một cách chi tiết theo hai mươi phương diện này.
Katamehi dvādasahi ākārehi āpodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti? Atthi imasmiṃ kāye pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttanti imehi dvādasahi ākārehi āpodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti.
Through which twelve aspects does one apprehend the water element extensively? In this body there is: bile, phlegm, pus, blood, sweat, solid fat, tears, liquid fat, saliva, nasal mucus, synovial fluid, and urine. Through these twelve aspects, one apprehends the water element extensively.
Vị ấy nắm bắt thủy đại một cách chi tiết theo mười hai phương diện nào? Có trong thân này: mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, và nước tiểu. Vị ấy nắm bắt thủy đại một cách chi tiết theo mười hai phương diện này.
Katamehi catūhi ākārehi tejodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti? Yena ca santappati, yena ca jīrīyati †, yena ca pariḍayhati, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṃ sammā pariṇāmaṃ gacchati, imehi catūhi ākārehi tejodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti.
Through which four aspects does one apprehend the fire element extensively? That by which one is heated, that by which one ages, that by which one is consumed by fever, and that by which what has been eaten, drunk, chewed, and savored undergoes proper digestion. Through these four aspects, one apprehends the fire element extensively.
Vị ấy nắm bắt hỏa đại một cách chi tiết theo bốn phương diện nào? Nhờ đó mà thân được sưởi ấm, nhờ đó mà thân bị già đi, nhờ đó mà thân bị thiêu đốt, và nhờ đó mà những gì đã ăn, uống, nhai, nếm được tiêu hóa hoàn toàn. Vị ấy nắm bắt hỏa đại một cách chi tiết theo bốn phương diện này.
Katamehi chahi ākārehi vāyodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti? Uddhaṅgamā vātā, adhogamā vātā, kucchisayā vātā, koṭṭhāsayā † vātā, aṅgamaṅgānusārino vātā, assāso passāso iti, imehi chahi ākārehi vāyodhātuṃ vitthārena pariggaṇhāti.
Through which six aspects does one apprehend the air element extensively? Upward-moving winds, downward-moving winds, winds in the belly, winds in the bowels, winds that course through the limbs, inhalation, and exhalation. Through these six aspects, one apprehends the air element extensively.
Vị ấy nắm bắt phong đại một cách chi tiết theo sáu phương diện nào? Gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió lưu chuyển khắp các chi thể, hơi thở vô và hơi thở ra. Vị ấy nắm bắt phong đại một cách chi tiết theo sáu phương diện này.
Evaṃ imehi dvācattālīsāya ākārehi vitthārena dhātuyo sabhāvato upalakkhayanto tulayanto parivīmaṃsanto pariyogāhanto paccavekkhanto na kiñci gayhūpagaṃ passati kāyaṃ vā kāyapadesaṃ vā, yathā candanikaṃ pavicinanto na kiñci gayhūpagaṃ passeyya, yathā saṅkāraṭṭhānaṃ pavicinanto na kiñci gayhūpagaṃ passeyya, yathā vaccakuṭiṃ pavicinanto na kiñci gayhūpagaṃ passeyya, yathā sivathikaṃ † pavicinanto na kiñci gayhūpagaṃ passeyya. Evameva imehi dvācattālīsāya ākārehi evaṃ vitthārena dhātuyo sabhāvato upalakkhayanto tulayanto parivīmaṃsanto pariyogāhanto paccavekkhanto na kiñci gayhūpagaṃ passati kāyaṃ vā kāyapadesaṃ vā. Tenāha bhagavā yā ceva kho pana ajjhattikā pathavīdhātu †, yā ca bāhirā pathavīdhātu, pathavīdhāturevesā. Taṃ ‘‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṃ virājeti. Yā ceva kho pana ajjhattikā āpodhātu, yā ca bāhirā āpodhātu…pe… yā ceva kho pana ajjhattikā tejodhātu, yā ca bāhirā tejodhātu…pe… yā ceva kho pana ajjhattikā vāyodhātu, yā ca bāhirā vāyodhātu, vāyodhāturevesā. Taṃ ‘‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’’ti evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya disvā vāyodhātuyā nibbindati, vāyodhātuyā cittaṃ virājeti. Ayaṃ vemattatā.
Thus, by these forty-two aspects, observing, weighing, investigating all around, penetrating, and reflecting upon the elements in detail according to their intrinsic nature, one does not see anything fit to be grasped, be it a body or a part of a body—just as one investigating a rotten piece of wood would not see anything fit to be grasped; just as one investigating a rubbish heap would not see anything fit to be grasped; just as one investigating a latrine would not see anything fit to be grasped; just as one investigating a corpse would not see anything fit to be grasped. In the very same way, by these forty-two aspects, observing, weighing, investigating all around, penetrating, and reflecting upon the elements in detail according to their intrinsic nature, one does not see anything fit to be grasped, be it a body or a part of a body. Therefore, the Blessed One said: 'Whatever internal earth element there is, and whatever external earth element there is, it is simply the earth element. This should be seen with right wisdom as it really is: “This is not mine, this I am not, this is not my self.” Having seen this with right wisdom as it really is, one becomes disenchanted with the earth element; one causes the mind to be dispassionate towards the earth element. Whatever internal water element there is, and whatever external water element there is… and so on… Whatever internal fire element there is, and whatever external fire element there is… and so on… Whatever internal wind element there is, and whatever external wind element there is, it is simply the wind element. This should be seen with right wisdom as it really is: “This is not mine, this I am not, this is not my self.” Having seen this with right wisdom as it really is, one becomes disenchanted with the wind element; one causes the mind to be dispassionate towards the wind element.' This is the diversity.
Như vậy, khi ghi nhận, cân nhắc, thẩm sát, thâm nhập, và quán xét các giới một cách chi tiết theo bốn mươi hai phương diện này về phương diện tự tánh, vị ấy không thấy bất cứ điều gì đáng nắm giữ, dù là thân hay một phần của thân, cũng giống như người tìm kiếm trong đống rác hôi thối mà không thấy gì đáng nắm giữ, cũng giống như người tìm kiếm ở nơi đổ rác mà không thấy gì đáng nắm giữ, cũng giống như người tìm kiếm trong nhà xí mà không thấy gì đáng nắm giữ, cũng giống như người tìm kiếm trong tử thi mà không thấy gì đáng nắm giữ. Cũng chính như vậy, khi ghi nhận, cân nhắc, thẩm sát, thâm nhập, và quán xét các giới một cách chi tiết theo bốn mươi hai phương diện này về phương diện tự tánh, vị ấy không thấy bất cứ điều gì đáng nắm giữ, dù là thân hay một phần của thân. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Quả vậy, địa đại nào thuộc nội phần, và địa đại nào thuộc ngoại phần, cả hai chỉ là địa đại. Điều ấy cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán đối với địa đại, tâm ly tham đối với địa đại. Quả vậy, thủy đại nào thuộc nội phần, và thủy đại nào thuộc ngoại phần… vân vân… Quả vậy, hỏa đại nào thuộc nội phần, và hỏa đại nào thuộc ngoại phần… vân vân… Quả vậy, phong đại nào thuộc nội phần, và phong đại nào thuộc ngoại phần, cả hai chỉ là phong đại. Điều ấy cần phải được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán đối với phong đại, tâm ly tham đối với phong đại.’ Đây là sự khác biệt.
48. ‘‘Avijjā’’ti ekattatā. Tattha katamā avijjā? Dukkhe aññāṇaṃ, dukkhasamudaye aññāṇaṃ, dukkhanirodhe aññāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṃ, pubbante aññāṇaṃ, aparante aññāṇaṃ, pubbantāparante aññāṇaṃ, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu aññāṇaṃ, yaṃ evarūpaṃ aññāṇaṃ adassanaṃ anabhisamayo ananubodho asambodho appaṭivedho asallakkhaṇā anupalakkhaṇā apaccupalakkhaṇā asamavekkhaṇaṃ † apaccakkhakammaṃ dummejjhaṃ bālyaṃ asampajaññaṃ moho pamoho sammoho avijjā avijjogho avijjāyogo avijjānusayo avijjāpariyuṭṭhānaṃ avijjālaṅgī moho akusalamūlaṃ. Ayaṃ vemattatā.
48. 'Ignorance' is a unity. Herein, what is ignorance? Ignorance of suffering, ignorance of the origin of suffering, ignorance of the cessation of suffering, ignorance of the path leading to the cessation of suffering; ignorance of the past, ignorance of the future, ignorance of the past and future; ignorance of these things as conditions and of dependently arisen phenomena. Whatever is of such a nature—ignorance, non-seeing, non-realization, non-understanding, non-awakening, non-penetration, non-discerning, non-observation, non-scrutinizing, non-consideration, not making evident, dull-wittedness, foolishness, lack of clear comprehension, delusion, great delusion, utter delusion, ignorance, the flood of ignorance, the yoke of ignorance, the underlying tendency of ignorance, the obsession of ignorance, the bar of ignorance, and delusion as an unwholesome root. This is the diversity.
48. ‘Vô minh’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là vô minh? Không biết về khổ, không biết về khổ tập, không biết về khổ diệt, không biết về con đường đưa đến khổ diệt, không biết về quá khứ, không biết về vị lai, không biết về quá khứ và vị lai, không biết về các pháp do duyên này mà sanh khởi theo lý duyên khởi. Sự không biết như vậy là không biết, không thấy, không chứng ngộ, không giác ngộ, không liễu tri, không thâm nhập, không ghi nhận, không nhận thức, không trực nhận, không quán xét, không trực chứng, trí tuệ kém cỏi, sự ngu si, không tỉnh giác, si mê, mê muội, hôn ám, vô minh, bộc lưu vô minh, ách vô minh, tùy miên vô minh, triền cái vô minh, then cài vô minh, si mê là gốc rễ bất thiện. Đây là sự khác biệt.
‘‘Vijjā’’ti ekattatā. Tattha katamā vijjā? Dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ, pubbante ñāṇaṃ, aparante ñāṇaṃ, pubbantāparante ñāṇaṃ, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu ñāṇaṃ, yā evarūpā paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo saṃlakkhaṇā upalakkhaṇā paccupalakkhaṇā paṇḍiccaṃ kosallaṃ nepuññaṃ vebhabyā † cintā upaparikkhā bhūrī medhā pariṇāyikā vipassanā sampajaññaṃ patodo paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ paññāsatthaṃ paññāpāsādo paññāāloko paññāobhāso paññāpajjoto paññāratanaṃ amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi dhammavicayasambojjhaṅgo maggaṅgaṃ maggapariyāpannaṃ. Ayaṃ vemattatā.
'Knowledge' is a unity. Herein, what is knowledge? Knowledge of suffering, knowledge of the origin of suffering, knowledge of the cessation of suffering, knowledge of the path leading to the cessation of suffering; knowledge of the past, knowledge of the future, knowledge of the past and future; knowledge of these things as conditions and of dependently arisen phenomena. Whatever is of such a nature—wisdom, understanding, investigation, detailed investigation, investigation of phenomena, marking well, close observation, repeated close observation, sagacity, skillfulness, refinement, lucidity, thought, examination, extensive wisdom, quick-wittedness, guiding wisdom, insight, clear comprehension, a goad, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the weapon of wisdom, the palace of wisdom, the light of wisdom, the radiance of wisdom, the blaze of wisdom, the jewel of wisdom, non-delusion, investigation of phenomena, right view, the enlightenment factor of investigation of phenomena, a path factor, included in the path. This is the diversity.
‘Minh’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là minh? Tri kiến về khổ, tri kiến về khổ tập, tri kiến về khổ diệt, tri kiến về con đường đưa đến khổ diệt, tri kiến về quá khứ, tri kiến về vị lai, tri kiến về quá khứ và vị lai, tri kiến về các pháp do duyên này mà sanh khởi theo lý duyên khởi. Trí tuệ như vậy là tuệ, tuệ tri, sự thẩm sát, sự phân tích, trạch pháp, sự ghi nhận, sự nhận thức, sự trực nhận, sự thông thái, sự khéo léo, sự tinh tế, sự sáng suốt, sự tư duy, sự thẩm tra, sự quảng bác, sự minh mẫn, sự hướng dẫn, minh sát, tỉnh giác, sự thúc đẩy, trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, gươm tuệ, lâu đài tuệ, ánh sáng tuệ, quang minh tuệ, ngọn đuốc tuệ, bảo vật tuệ, vô si, trạch pháp, chánh kiến, trạch pháp giác chi, chi phần của đạo, thuộc về đạo. Đây là sự khác biệt.
‘‘Samāpattī’’ti ekattatā. Tattha katamā samāpatti? Saññāsamāpatti asaññāsamāpatti, nevasaññānāsaññāsamāpatti. Vibhūtasaññāsamāpatti nirodhasamāpattīti. Ayaṃ vemattatā.
'Attainment' is a unity. Herein, what is attainment? The attainment of perception, the attainment of non-perception, the attainment of neither-perception-nor-non-perception, the attainment of the base of infinite consciousness, and the attainment of cessation. This is the diversity.
‘Sự chứng đắc’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là sự chứng đắc? Sự chứng đắc của chúng sanh có tưởng, sự chứng đắc của chúng sanh vô tưởng, sự chứng đắc phi tưởng phi phi tưởng, sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, và sự chứng đắc diệt tận định. Đây là sự khác biệt.
‘‘Jhāyī’’ti ekattatā. Tattha katamo jhāyī? Atthi sekkho jhāyī, atthi asekkho jhāyī, nevasekkhanāsekkho jhāyī, ājāniyo jhāyī, assakhaluṅko jhāyī, diṭṭhuttaro jhāyī, taṇhuttaro jhāyī, paññuttaro jhāyī. Ayaṃ vemattatā.
'A meditator' is a unity. Herein, who is a meditator? There is a meditator who is a learner, there is a meditator who is an adept, and there is a meditator who is neither a learner nor an adept. There is a well-trained meditator, an untamed meditator, a meditator who has transcended through view, a meditator who has transcended craving, and a meditator who has transcended through wisdom. This is the diversity.
‘Người hành thiền’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là người hành thiền? Có người hành thiền là bậc hữu học, có người hành thiền là bậc vô học, có người hành thiền không phải hữu học cũng không phải vô học, có người hành thiền thuần thục, có người hành thiền không thuần thục, có người hành thiền vượt trội về kiến, có người hành thiền vượt trội về ái, có người hành thiền vượt trội về tuệ. Đây là sự khác biệt.
‘‘Samādhī’’ti ekattatā. Tattha katamo samādhi? Saraṇo samādhi, araṇo samādhi, savero samādhi, avero samādhi, sabyāpajjo † samādhi, abyāpajjo samādhi, sappītiko samādhi, nippītiko samādhi, sāmiso samādhi, nirāmiso samādhi, sasaṅkhāro samādhi, asaṅkhāro samādhi, ekaṃsabhāvito samādhi, ubhayaṃsabhāvito samādhi, ubhayato bhāvitabhāvano samādhi, savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkaavicāro samādhi, hānabhāgiyo samādhi, ṭhitibhāgiyo samādhi, visesabhāgiyo samādhi, nibbedhabhāgiyo samādhi, lokiyo samādhi, lokuttaro samādhi, micchāsamādhi, sammāsamādhi. Ayaṃ vemattatā.
'Concentration' is a unity. Herein, what is concentration? Concentration with defilements, concentration without defilements; concentration with enmity, concentration without enmity; concentration with ill will, concentration without ill will; concentration with rapture, concentration without rapture; worldly concentration, unworldly concentration; concentration with prompting, concentration without prompting; concentration developed as to one part, concentration developed as to both parts, concentration whose development is cultivated in both respects; concentration with initial application and sustained application, concentration without initial application but with only sustained application, concentration without initial application and without sustained application; concentration pertaining to decline, concentration pertaining to stability, concentration pertaining to distinction, concentration pertaining to penetration; mundane concentration, supramundane concentration; wrong concentration, right concentration. This is the diversity.
‘Định’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là định? Định có phiền não, định không có phiền não, định có sân hận, định không có sân hận, định có hỷ, định không có hỷ, định thuộc về vật chất, định không thuộc về vật chất, định có sự nỗ lực, định không có sự nỗ lực, định được tu tập một phần, định được tu tập cả hai phần, định được tu tập từ cả hai phía, định có tầm có tứ, định không có tầm chỉ có tứ, định không có tầm không có tứ, định thuộc phần thoái thất, định thuộc phần an trú, định thuộc phần thù thắng, định thuộc phần xuyên thấu, định thuộc thế gian, định thuộc siêu thế, tà định, chánh định. Đây là sự khác biệt.
‘‘Paṭipadā’’ti ekattatā. Tattha katamā paṭipadā? Āgāḷhapaṭipadā †, nijjhāmapaṭipadā, majjhimapaṭipadā, akkhamā paṭipadā, khamā paṭipadā, samā paṭipadā, damā paṭipadā, dukkhā paṭipadā dandhābhiññā, dukkhā paṭipadā khippābhiññā, sukhā paṭipadā dandhābhiññā, sukhā paṭipadā khippābhiññāti. Ayaṃ vemattatā.
'The practice' is a unity. Herein, what is the practice? The practice of indulgence in sensual pleasures, the practice of self-mortification, the middle practice; the impatient practice, the patient practice, the even practice, the self-controlled practice; the painful practice with slow direct knowledge, the painful practice with quick direct knowledge, the pleasant practice with slow direct knowledge, and the pleasant practice with quick direct knowledge. This is the diversity.
‘Con đường thực hành’ là sự đồng nhất. Ở đây, thế nào là con đường thực hành? Con đường thực hành đắm chìm, con đường thực hành thiêu đốt, con đường thực hành trung đạo, con đường thực hành không kham nhẫn, con đường thực hành kham nhẫn, con đường thực hành quân bình, con đường thực hành điều phục, con đường thực hành khổ và thắng trí chậm, con đường thực hành khổ và thắng trí nhanh, con đường thực hành lạc và thắng trí chậm, con đường thực hành lạc và thắng trí nhanh. Đây là sự khác biệt.
‘‘Kāyo’’ti ekattatā. Tattha katamo kāyo? Nāmakāyo rūpakāyo ca. Tattha katamo rūpakāyo? Kesā lomā nakhā dantā taco maṃsaṃ nhāru † aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ vakkaṃ hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttaṃ matthaluṅganti – ayaṃ rūpakāyo. Nāmakāyo nāma vedanā saññā cetanā cittaṃ phasso manasikāroti – ayaṃ nāmakāyoti. Ayaṃ vemattatā.
‘Body’ means oneness. Therein, what is the body? The mental group and the material group. Therein, what is the material group? Hairs of the head, hairs of the body, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, membranes, spleen, lungs, intestines, mesentery, stomach contents, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, solid fat, tears, liquid fat, saliva, snot, synovial fluid, urine, and brain—this is the material group. The mental group is namely: feeling, perception, volition, consciousness, contact, and attention—this is the mental group. This is diversity.
“Thân” (kāyo) có nghĩa là sự đồng nhất. Trong đó, thân là gì? Là danh thân và sắc thân. Trong đó, sắc thân là gì? Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn mới, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc, nước mắt, mỡ lỏng, nước bọt, nước mũi, mỡ khớp, nước tiểu, và óc – đây là sắc thân. Gọi là danh thân gồm có: thọ, tưởng, tư, tâm, xúc, và tác ý – đây là danh thân. Đây là sự khác biệt.
Evaṃ yo dhammo yassa dhammassa samānabhāvo, so dhammo tassa dhammassa ekattatāya ekī bhavati. Yena yena vā pana vilakkhaṇo, tena tena vemattaṃ gacchati. Evaṃ sutte vā veyyākaraṇe vā gāthāyaṃ vā pucchitena vīmaṃsayitabbaṃ, kiṃ ekattatāya pucchati, udāhu vemattatāyāti. Yadi ekattatāya pucchitaṃ, ekattatāya visajjayitabbaṃ. Yadi vemattatāya pucchitaṃ, vemattatāya visajjayitabbaṃ. Yadi sattādhiṭṭhānena pucchitaṃ, sattādhiṭṭhānena visajjayitabbaṃ. Yadi dhammādhiṭṭhānena pucchitaṃ, dhammādhiṭṭhānena visajjayitabbaṃ. Yathā yathā vā pana pucchitaṃ, tathā tathā visajjayitabbaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘ekattatāya dhammā’’ti.
Thus, whatever phenomenon has a common nature with another phenomenon, that phenomenon becomes one with it by way of oneness. But in whatever way it is distinct, in that way it goes to difference. Thus, whether in a discourse, an exposition, or a verse, it should be investigated by the one who is asked whether the question is about oneness or about diversity. If it is asked with regard to oneness, it should be answered with regard to oneness. If it is asked with regard to diversity, it should be answered with regard to diversity. If it is asked with the foundation of a being, it should be answered with the foundation of a being. If it is asked with the foundation of a phenomenon, it should be answered with the foundation of a phenomenon. Or however it is asked, so should it be answered. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said, “Dhammas by way of oneness.”
Như vậy, pháp nào có bản chất tương đồng với pháp nào, thì pháp ấy trở nên đồng nhất với pháp kia về phương diện đồng nhất. Còn về phương diện nào có đặc tính khác biệt, thì về phương diện ấy nó trở thành khác biệt. Như vậy, khi được hỏi trong Kinh, Vô Thí Thuyết, hay Kệ, cần phải xem xét rằng: có phải hỏi về phương diện đồng nhất, hay là về phương diện khác biệt? Nếu được hỏi về phương diện đồng nhất, cần phải trả lời theo phương diện đồng nhất. Nếu được hỏi về phương diện khác biệt, cần phải trả lời theo phương diện khác biệt. Nếu được hỏi dựa trên lập trường chúng sanh, cần phải trả lời dựa trên lập trường chúng sanh. Nếu được hỏi dựa trên lập trường pháp, cần phải trả lời dựa trên lập trường pháp. Hoặc, được hỏi như thế nào, cần phải trả lời như thế ấy. Vì thế, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: “Các pháp về phương diện đồng nhất”.
Niyutto adhiṭṭhāno hāro.
The Mode of Resolution is concluded.
Dứt Lập Trường Môn.