Bản dịch
NE 16 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Làm Rõ
Sodhanahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự làm rõ là cách nào? Kệ ngôn là: “Về câu hỏi đã được trả lời, ...” Giống như đại đức Ajita hỏi đức Thế Tôn câu hỏi ở phẩm Đi Đến Bờ Kia:
1. “Thế gian bị bao trùm bởi cái gì? Không chói sáng bởi điều gì? Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm? Sự nguy hiểm lớn lao của nó là gì?”
2. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) thế gian bị bao trùm bởi vô minh, không chói sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng. Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm, khổ là sự nguy hiểm lớn lao của nó (thế gian).”
Về câu hỏi: ‘Thế gian bị bao trùm bởi cái gì?’ (với câu trả lời): ‘Thế gian bị bao trùm bởi vô minh,’ đức Thế Tôn làm rõ đoạn kệ và không làm rõ phần mở đầu. Về câu hỏi: ‘Không chói sáng bởi điều gì?’ (với câu trả lời): ‘Không chói sáng bởi hoài nghi, bởi xao lãng,’ đức Thế Tôn làm rõ đoạn kệ và không làm rõ phần mở đầu. Về câu hỏi: ‘Ngài hãy nói cái gì là vật làm uế nhiễm?’ (với câu trả lời): ‘Ta nói tham muốn là thứ làm uế nhiễm,’ đức Thế Tôn làm rõ đoạn kệ và không làm rõ phần mở đầu. Về câu hỏi: ‘Sự nguy hiểm lớn lao của nó là gì?’ (với câu trả lời): ‘Khổ là sự nguy hiểm lớn lao của nó,’ đức Thế Tôn làm rõ đoạn kệ, và phần mở đầu được rõ ràng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thế gian bị bao trùm bởi vô minh, ...”
3. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Các dòng chảy trôi đi khắp mọi nơi, cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy? Ngài hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?”
4. (Đức Thế Tôn nói: “Này Ajita,) những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng. Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ.”
Về câu hỏi: ‘Các dòng chảy trôi đi khắp mọi nơi, cái gì là sự ngăn cản các dòng chảy?’ (với câu trả lời): ‘Những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, niệm là sự ngăn cản chúng,’ đức Thế Tôn làm rõ đoạn kệ và không làm rõ phần mở đầu. Về câu hỏi: ‘Ngài hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy, các dòng chảy được chặn đứng bởi cái gì?’ (với câu trả lời): ‘Ta nói về sự chế ngự các dòng chảy, chúng được chặn đứng bởi tuệ’ phần mở đầu được rõ ràng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Những dòng chảy nào hiện diện ở thế gian, ...”
Về câu hỏi:
5. (Tôn giả Ajita hỏi:) “Thưa ngài, tuệ và luôn cả niệm, danh và sắc; được tôi hỏi điều này, xin ngài hãy nói lên, ở đâu điều này được hoại diệt?”
(với câu trả lời):
6. “Này Ajita, câu hỏi nào ngươi đã hỏi, Ta (sẽ) trả lời câu hỏi ấy cho ngươi: Ở nơi nào danh và sắc được hoại diệt không dư sót. Do sự hoại diệt của thức, ở đây, điều này (danh và sắc) được hoại diệt.”
Như thế, phần mở đầu được rõ ràng. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Câu hỏi nào ngươi đã hỏi, ...” Ở nơi nào phần mở đầu được rõ ràng như vậy, thì câu hỏi ấy là đã được trả lời. Trái lại, ở nơi nào phần mở đầu không được rõ ràng, đến như thế thì câu hỏi ấy là chưa được trả lời. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Về câu hỏi đã được trả lời, ....”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Làm Rõ được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
45. Tattha katamo sodhano hāro? ‘‘Vissajjitamhi pañhe’’tigāthā. Yathā āyasmā ajito pārāyane bhagavantaṃ pañhaṃ pucchati –
45. Herein, what is the mode of purification? The verse beginning with, 'When a question has been answered...' Just as the Venerable Ajita in the Pārāyana asked the Blessed One a question:
45. Ở đây, thế nào là phương pháp thanh lọc? (Đó là) câu kệ: ‘Khi câu hỏi đã được trả lời...’ Giống như Tôn giả Ajita ở trong phẩm Pārāyana đã hỏi đức Thế Tôn một câu hỏi –
‘‘Kenassu nivuto loko, kenassu nappakāsati;
Kissābhilepanaṃ brūsi, kiṃsu tassa mahabbhaya’’nti.
“By what is the world shrouded? By what does it not become manifest? What do you declare to be its defilement? What is its great fear?”
‘Thế gian bị cái gì che đậy? Do đâu thế gian không sáng tỏ? Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó? Cái gì là sự sợ hãi lớn lao của nó?’
‘‘Avijjāya nivuto loko, [ajitāti bhagavā]
Vivicchā pamādā nappakāsati;
Jappābhilepanaṃ brūmi, dukkhamassa mahabbhaya’’nti.
“The world is shrouded by ignorance, [Ajita,” said the Blessed One.] Through doubt and heedlessness it does not shine forth. I declare craving to be its defilement; suffering is its great fear.”
‘(Đức Thế Tôn phán:) Này Ajita, thế gian bị vô minh che đậy. Do nghi ngờ và phóng dật, nó không sáng tỏ. Ta nói ái dục là sự thoa phết của nó, khổ là sự sợ hãi lớn lao của nó.’
‘‘Kenassu nivuto loko’’ti pañhe ‘‘avijjāya nivuto loko’’ti bhagavā padaṃ sodheti, no ca ārambhaṃ. ‘‘Kenassu nappakāsatī’’ti pañhe ‘‘vivicchā pamādā nappakāsatī’’ti bhagavā padaṃ sodheti, no ca ārambhaṃ. ‘‘Kissābhilepanaṃ brūsī’’ti pañhe ‘‘jappābhilepanaṃ brūmī’’ti bhagavā padaṃ sodheti, no ca ārambhaṃ. ‘‘Kiṃsu tassa mahabbhaya’’nti pañhe ‘‘dukkhamassa mahabbhaya’’nti suddho ārambho. Tenāha bhagavā ‘‘avijjāya nivuto loko’’ti.
In the question, 'By what is the world shrouded?' the Blessed One purifies the term by saying, 'The world is shrouded by ignorance,' but not yet the intended meaning. In the question, 'By what does it not shine forth?' the Blessed One purifies the term by saying, 'Through doubt and heedlessness it does not shine forth,' but not yet the intended meaning. In the question, 'What do you declare to be its defilement?' the Blessed One purifies the term by saying, 'I declare craving to be its defilement,' but not yet the intended meaning. In the question, 'What is its great fear?' by saying, 'Suffering is its great fear,' the intended meaning is purified. Therefore, the Blessed One said, 'The world is shrouded by ignorance.'
Đối với câu hỏi: ‘Thế gian bị cái gì che đậy?’, (với câu trả lời:) ‘Thế gian bị vô minh che đậy,’ đức Thế Tôn đã thanh lọc thuật ngữ, nhưng chưa (thanh lọc) chủ đề. Đối với câu hỏi: ‘Do đâu thế gian không sáng tỏ?’, (với câu trả lời:) ‘Do nghi ngờ và phóng dật, nó không sáng tỏ,’ đức Thế Tôn đã thanh lọc thuật ngữ, nhưng chưa (thanh lọc) chủ đề. Đối với câu hỏi: ‘Ngài nói cái gì là sự thoa phết của nó?’, (với câu trả lời:) ‘Ta nói ái dục là sự thoa phết của nó,’ đức Thế Tôn đã thanh lọc thuật ngữ, nhưng chưa (thanh lọc) chủ đề. Đối với câu hỏi: ‘Cái gì là sự sợ hãi lớn lao của nó?’, (với câu trả lời:) ‘Khổ là sự sợ hãi lớn lao của nó,’ chủ đề đã được thanh lọc. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Thế gian bị vô minh che đậy...’
‘‘Savanti sabbadhi sotā, [iccāyasmā ajito]
Sotānaṃ kiṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūhi, kena sotā pidhīyare’’ti.
“Streams flow everywhere, [said the Venerable Ajita.] What is the obstruction to the streams? Declare the restraint of the streams; by what are the streams shut off?”
‘(Tôn giả Ajita thưa:) Các dòng chảy trôi khắp nơi; cái gì là sự ngăn chặn các dòng chảy? Xin Ngài hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy; các dòng chảy bị cái gì bịt lại?’
‘‘Yāni sotāni lokasmiṃ, [ajitāti bhagavā]
Sati tesaṃ nivāraṇaṃ;
Sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhīyare’’ti.
“Whatever streams there are in the world, [Ajita,” said the Blessed One,] mindfulness is their obstruction. I declare the restraint of the streams; by wisdom they are shut off.”
‘(Đức Thế Tôn phán:) Này Ajita, những dòng chảy nào có ở trong đời, chánh niệm là sự ngăn chặn của chúng. Ta tuyên bố sự chế ngự các dòng chảy; chúng bị bịt lại bởi trí tuệ.’
‘‘Savanti sabbadhi sotā, sotānaṃ kiṃ nivāraṇa’’nti pañhe ‘‘yāni sotāni lokasmiṃ, sati tesaṃ nivāraṇa’’nti bhagavā padaṃ sodheti, no ca ārambhaṃ. ‘‘Sotānaṃ saṃvaraṃ brūhi, kena sotā pidhīyare’’ti pañhe ‘‘sotānaṃ saṃvaraṃ brūmi, paññāyete pidhīyare’’ti suddho ārambho. Tenāha bhagavā ‘‘yāni sotāni lokasmi’’nti.
In the question, 'Streams flow everywhere, what is the obstruction to the streams?' the Blessed One purifies the term by saying, 'Whatever streams there are in the world, mindfulness is their obstruction,' but not yet the intended meaning. In the question, 'Declare the restraint of the streams; by what are the streams shut off?' by saying, 'I declare the restraint of the streams; by wisdom they are shut off,' the intended meaning is purified. Therefore, the Blessed One said, 'Whatever streams there are in the world...'
Đối với câu hỏi: ‘Các dòng chảy trôi khắp nơi; cái gì là sự ngăn chặn các dòng chảy?’, (với câu trả lời:) ‘Những dòng chảy nào có ở trong đời, chánh niệm là sự ngăn chặn của chúng,’ đức Thế Tôn đã thanh lọc thuật ngữ, nhưng chưa (thanh lọc) chủ đề. Đối với câu hỏi: ‘Xin Ngài hãy nói về sự chế ngự các dòng chảy; các dòng chảy bị cái gì bịt lại?’, (với câu trả lời:) ‘Ta tuyên bố sự chế ngự các dòng chảy; chúng bị bịt lại bởi trí tuệ,’ chủ đề đã được thanh lọc. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Những dòng chảy nào có ở trong đời...’
‘‘Paññā ceva sati ca, [iccāyasmā ajito]
Nāmarūpañca † mārisa;
Etaṃ me puṭṭho pabrūhi, katthetaṃ uparujjhatī’’ti.
“Wisdom and mindfulness, [said the Venerable Ajita,] and name-and-form, venerable sir—this I ask, so declare to me: where does this cease?”
‘(Tôn giả Ajita thưa:) Thưa Ngài, cả trí tuệ và chánh niệm, và cả danh sắc nữa; khi được con hỏi, xin Ngài hãy giải thích điều này: điều này diệt tận ở đâu?’
Pañhe –
In the question:
Đối với câu hỏi –
‘‘Yametaṃ pañhaṃ apucchi, ajita taṃ vadāmi te;
Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ uparujjhati;
Viññāṇassa nirodhena, etthetaṃ uparujjhatī’’ti.
“Regarding the question you have asked, Ajita, I will tell you this: Where name-and-form ceases without remainder—it is with the cessation of consciousness that it ceases here.”
‘Câu hỏi này mà ngươi đã hỏi, này Ajita, Ta sẽ nói cho ngươi; nơi mà danh và sắc diệt tận không còn dư sót. Với sự diệt tận của thức, điều này diệt tận ở đây.’
Suddho ārambho. Tenāha bhagavā ‘‘yametaṃ pañhaṃ apucchī’’ti. Yattha evaṃ suddho ārambho, so pañho visajjito bhavati. Yattha pana ārambho asuddho, na tāva so pañho visajjito bhavati. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘vissajjitamhi pañhe’’ti.
The intended meaning is purified. Therefore, the Blessed One said, 'Regarding the question you have asked...' Where the intended meaning is thus purified, that question is answered. But where the intended meaning is not yet purified, that question is not yet answered. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said, 'When a question has been answered...'
Chủ đề đã được thanh lọc. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Câu hỏi này mà ngươi đã hỏi...’ Nơi nào chủ đề được thanh lọc như vậy, câu hỏi ấy được xem là đã trả lời. Nhưng nơi nào chủ đề chưa được thanh lọc, câu hỏi ấy chưa được xem là đã trả lời. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: ‘Khi câu hỏi đã được trả lời...’
Niyutto sodhano hāro.
The mode of purification is concluded.
Phương pháp thanh lọc đã được trình bày xong.