Bản dịch
NE 15 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Liệt Kê
Otaraṇahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự liệt kê là cách nào? “Và cái nào là sự tùy thuận sanh khởi, ...”
1. “Bên trên, bên dưới, khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’ Vị được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng lũ trước đây chưa vượt qua, đưa đến không còn hiện hữu lại nữa.”
‘Bên trên’ là sắc giới và vô sắc giới. ‘Bên dưới’ là dục giới. ‘Khắp mọi nơi, vị đã được giải thoát’ là ở tam giới, đây là sự giải thoát của bậc vô học. Chính các điều ấy là năm quyền thuộc về vô học; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính năm quyền thuộc về vô học ấy là minh. Do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành; do sự diệt tận của các hành, có sự diệt tận của thức; do sự diệt tận của thức, có sự diệt tận của danh sắc; do sự diệt tận của danh sắc, có sự diệt tận của sáu xứ; do sự diệt tận của sáu xứ, có sự diệt tận của xúc; do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của thọ; do sự diệt tận của thọ, có sự diệt tận của ái; do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thủ; do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu; do sự diệt tận của hữu, có sự diệt tận của sanh; do sự diệt tận của sanh, lão-tử và sầu-bi-khổ-ưu-não được diệt tận. Như vậy là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này; đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính các quyền thuộc về vô học ấy được gom lại theo ba uẩn: theo giới uẩn, theo định uẩn, theo tuệ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính các quyền thuộc về vô học ấy được gộp vào các hành; các hành nào là không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ.
Vị không có suy tưởng rằng: ‘Tôi là cái này,’ đây là sự bứng gốc thân kiến; việc ấy là sự giải thoát của bậc hữu học. Chính các điều ấy là năm quyền thuộc về hữu học; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính năm quyền thuộc về hữu học ấy là minh. Do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành; (toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính minh ấy là tuệ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính minh ấy được gộp vào các hành; các hành nào là không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ. Vị được giải thoát với sự giải thoát thuộc về hữu học và với sự giải thoát thuộc về vô học đã vượt lên dòng lũ trước đây chưa vượt qua, đưa đến không còn hiện hữu lại nữa. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Bên trên, bên dưới, ...”
“Đối với người nương tựa thì có dao động, đối với người không nương tựa thì không có dao động, khi không có dao dộng thì có an tịnh, khi có an tịnh thì không có thiên lệch, khi không có thiên lệch thì không có đến và đi, khi không có đến và đi thì không có tử và sanh, khi không có tử và sanh thì không là ở đây, không là ở kia, không ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của khổ.” ‘Đối với người nương tựa thì có dao động’: Gọi là nương tựa thì có hai loại: nương tựa tham ái và nương tựa tà kiến. Ở đấy, sự cố ý của người bị luyến ái là sự nương tựa tham ái, sự cố ý của người bị mê muội là sự nương tựa tà kiến. Hơn nữa, sự cố ý là hành, hành duyên cho thức, thức duyên cho danh sắc, (toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Ở đấy, thọ của người bị luyến ái là thọ lạc, thọ của người bị mê muội là thọ không khổ không lạc. Các thọ này là thọ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Ở đấy, thọ lạc là hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền, thọ không khổ không lạc là xả quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính các quyền ấy được gộp vào các hành; các hành nào là có lậu hoặc, có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ có lậu hoặc, có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ. ‘Đối với người không nương tựa thì không có dao động’ là không nương tựa tham ái nhờ vào năng lực của chỉ tịnh, hoặc là không nương tựa tà kiến nhờ vào năng lực của minh sát. Minh sát là minh. Do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành; do sự diệt tận của các hành, có sự diệt tận của thức; (toàn bộ sự tùy thuận sanh khởi là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính minh sát ấy là tuệ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính minh sát ấy là hai quyền: tấn quyền và tuệ quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính minh sát ấy được gộp vào các hành; các hành nào là không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ. ‘Khi có an tịnh’ là có hai loại an tịnh: thuộc thân và thuộc tâm. Lạc thuộc thân là an tịnh thuộc thân, lạc thuộc tâm là an tịnh thuộc tâm. Có thân an tịnh, hành giả cảm thọ lạc. Khi có lạc thì tâm được định. Được định tĩnh, vị ấy nhận biết đúng theo thực thể; trong khi nhận biết đúng theo thực thể thì nhàm chán; trong khi nhàm chán thì lìa khỏi luyến ái; do lìa khỏi luyến ái thì được giải thoát; khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát;’ vị ấy nhận biết rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’ Vị ấy không thiên về các sắc, không về các thinh, không về các hương, không về các vị, không về các xúc, không về các pháp do sự diệt trừ luyến ái, do sự diệt trừ sân hận, do sự diệt trừ si mê. Trong khi mô tả đức Như Lai đang đứng, đang đi, thì có thể mô tả theo sắc nào, (bởi vì) do sự diệt trừ, do sự không còn luyến ái, do sự diệt tận, do sự xả bỏ, do sự buông bỏ đối với sắc ấy, đức Như Lai đã được giải thoát ở sự diệt trừ hoàn toàn đối với các sắc, nên không đạt đến ‘có,’ cũng không đạt đến ‘không có,’ cũng không đạt đến ‘có và không có,’ cũng không đạt đến ‘không có và không không có.’― ―Và Ngài đi đến danh xưng là ‘uyên thâm, vô lường, vô lượng, tịch diệt’ do sự diệt trừ luyến ái, do sự diệt trừ sân hận, do sự diệt trừ si mê.
Trong khi mô tả đức Như Lai đang đứng, đang đi, thì có thể mô tả theo thọ nào, ―nt― theo tưởng nào, ―nt― theo các hành nào, ―nt― theo thức nào, (bởi vì) do sự diệt trừ, do sự không còn luyến ái, do sự diệt tận, do sự xả bỏ, do sự buông bỏ đối với thức ấy, đức Như Lai đã được giải thoát ở sự diệt trừ hoàn toàn đối với các thức, nên không đạt đến ‘có,’ cũng không đạt đến ‘không có,’ cũng không đạt đến ‘có và không có,’ cũng không đạt đến ‘không có và không không có.’ Và Ngài đi đến danh xưng là ‘uyên thâm, vô lường, vô lượng, tịch diệt’ [do sự diệt trừ luyến ái, do sự diệt trừ sân hận, do sự diệt trừ si mê].
‘Đến’ là đi đến nơi này. ‘Đi’ là cảnh giới sau khi chết, việc đến và đi cũng không có. ‘Không là ở đây’ là ở sáu nội xứ. ‘Không là ở kia’ là ở sáu ngoại xứ. ‘Không ở khoảng giữa của cả hai’ là không nhìn thấy bản ngã ở các pháp được sanh lên bởi xúc. ‘Chính điều này là sự chấm dứt của khổ’ là sự tùy thuận sanh khởi. Việc ấy có hai loại: hợp thế và xuất thế. Ở đấy, hợp thế là các hành do duyên vô minh cho đến lão-tử, xuất thế là ‘sự không hối hận sanh ra ở người có giới’ cho đến khi nhận biết: ‘Không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’ Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Đối với người nương tựa thì có dao động, đối với người không nương tựa thì không có dao động, ―nt― Chính điều này là sự chấm dứt của khổ.”
2. “Bất cứ những gì là sầu muộn hoặc than vãn, và những khổ đau ở thế gian với nhiều hình thức, những điều này phát khởi có liên quan đến đối tượng đáng yêu; khi đối tượng đáng yêu không có thì những điều này không có.
3. Chính vì thế, đối với những người nào không có đối tượng đáng yêu ở bất cứ nơi đâu trên thế gian, những người ấy có sự an lạc, không còn sầu muộn. Vì thế, kẻ ước mong không sầu muộn, không còn ô nhiễm, không nên tạo ra đối tượng đáng yêu ở bất cứ nơi đâu trên thế gian.”
‘Bất cứ những gì là sầu muộn hoặc than vãn, và những khổ đau ở thế gian với nhiều hình thức, những điều này phát khởi có liên quan đến đối tượng đáng yêu’: cái này là thọ khổ; ‘khi đối tượng đáng yêu không có thì những điều này không có’: cái này là thọ lạc, cái này là thọ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Hơn nữa, thọ duyên cho ái, ái duyên cho thủ, thủ duyên cho hữu, hữu duyên cho sanh, sanh duyên cho lão tử; (toàn bộ là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Ở đấy, thọ lạc là hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền; thọ khổ là hai quyền: khổ quyền và ưu quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính các quyền ấy được gộp vào các hành; các hành nào là có lậu hoặc, có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ có lậu hoặc, có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ.
4. “Chính vì thế, đối với những người nào không có đối tượng đáng yêu ở bất cứ nơi đâu trên thế gian, những người ấy có sự an lạc, không còn sầu muộn. Vì thế, kẻ ước mong không sầu muộn, không còn ô nhiễm, không nên tạo ra đối tượng đáng yêu ở bất cứ nơi đâu trên thế gian.”
Đây là sự dứt bỏ tham ái. Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thủ; do sự diệt tận của thủ, có sự diệt tận của hữu; (toàn bộ là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính sự dứt bỏ tham ái ấy là chỉ tịnh. Chỉ tịnh ấy là hai quyền: niệm quyền và định quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền. Chính chỉ tịnh ấy là định uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính chỉ tịnh ấy được gộp vào các hành; các hành nào là không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Bất cứ những gì là sầu muộn ...”
5. “Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều con người ước muốn.
6. Nếu đối với người ấy, –(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với người có sự mong muốn đã sanh khởi,– các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên.
7. Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, băng qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
Ở đấy, trạng thái vui ở ý là sự ưa chuộng. Điều mà Ngài đã nói: ‘(Người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên’ là sự bất bình. Hơn nữa, sự ưa chuộng và bất bình là thuộc nhóm tham ái. Và hơn nữa, mười xứ có sắc là nền tảng của tham ái; đây là sự liệt kê theo các xứ. Chính mười xứ có sắc ấy, tập hợp của sắc, được kết nối với danh; cả hai cái ấy là danh sắc. Danh sắc duyên cho sáu xứ, sáu xứ duyên cho xúc, xúc duyên cho thọ, thọ duyên cho ái, (toàn bộ là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính danh sắc ấy là năm uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính danh sắc ấy là mười tám giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Ở đấy, tập hợp của sắc là năm quyền có sắc, tập hợp của danh là năm quyền không có sắc, các cái này là mười quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền.
Ở đấy, điều Ngài đã nói rằng:
8. “Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, băng qua sự vướng mắc này ở thế gian.”
Cái này là Niết Bàn giới còn dư sót; đây là sự liệt kê theo các giới. Chính Niết Bàn giới còn dư sót ấy là minh. Do sự sanh khởi của minh, có sự diệt tận của vô minh; do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của các hành; (toàn bộ là tương tự như vậy); đây là sự liệt kê theo các sự tùy thuận sanh khởi. Chính minh ấy là tuệ uẩn; đây là sự liệt kê theo các uẩn. Chính minh ấy là hai quyền: tấn quyền và tuệ quyền; đây là sự liệt kê theo các quyền.
Chính minh ấy được gộp vào các hành; các hành nào là không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu, các hành ấy được gom lại ở pháp giới; đây là sự liệt kê theo các giới. Pháp giới ấy được gộp vào pháp xứ, là xứ không có lậu hoặc và không có chi phần của hữu; đây là sự liệt kê theo các xứ. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Đối với người ham muốn về dục, ...”
Cho đến chừng này thì các sự tùy thuận (sanh khởi), quyền, uẩn, giới, xứ là các sự liệt kê theo sự gom chung lại. Các sự tùy thuận (sanh khởi), quyền, uẩn, giới, xứ nên được liệt kê như vậy. Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng: “Và cái nào là sự tùy thuận sanh khởi, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Liệt Kê được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
42. Tattha katamo otaraṇo hāro? ‘‘Yo ca paṭiccuppādo’’ti.
42. Herein, what is the Mode of Entry? “That which is dependent origination,” and so on.
12. Trong ấy, thế nào là hướng dẫn thâm nhập? (Đó là) ‘Và điều gì là duyên khởi’.
‘‘Uddhaṃ adho sabbadhi vippamutto, ayaṃ ahasmīti † anānupassī;
Evaṃ vimutto udatāri oghaṃ, atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyā’’ti.
“Upwards, downwards, in every way released, not viewing this as ‘I am’; thus liberated, he has crossed the flood, never crossed before, for the sake of no future becoming.”
42. “Đã giải thoát khỏi phía trên, phía dưới, và khắp mọi nơi, vị ấy không quán xét rằng ‘đây là ta’; được giải thoát như vậy, vị ấy đã vượt qua bộc lưu chưa từng vượt qua, vì mục đích không còn tái sanh.”
‘‘Uddha’’nti rūpadhātu ca arūpadhātu ca. ‘‘Adho’’ti kāmadhātu. ‘‘Sabbadhi vippamutto’’ti tedhātuke ayaṃ asekkhāvimutti. Tāniyeva asekkhāni pañcindriyāni, ayaṃ indriyehi otaraṇā.
“Upwards” refers to the form realm and the formless realm. “Downwards” refers to the desire realm. “In every way released” is this liberation of the non-trainee in the three realms. Those very same qualities are the five faculties of the non-trainee; this is the entry by means of the faculties.
‘Phía trên’ là sắc giới và vô sắc giới. ‘Phía dưới’ là dục giới. ‘Giải thoát khỏi khắp mọi nơi’ là sự giải thoát của bậc vô học trong ba giới. Chính năm quyền vô học ấy, đây là sự thâm nhập bằng các quyền.
Tāniyeva asekkhāni pañcindriyāni vijjā, vijjuppādā avijjānirodho, avijjānirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
Those very five faculties of the non-trainee are knowledge. With the arising of knowledge, there is the cessation of ignorance; with the cessation of ignorance, the cessation of formations; with the cessation of formations, the cessation of consciousness; with the cessation of consciousness, the cessation of name-and-form; with the cessation of name-and-form, the cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, the cessation of contact; with the cessation of contact, the cessation of feeling; with the cessation of feeling, the cessation of craving; with the cessation of craving, the cessation of clinging; with the cessation of clinging, the cessation of becoming; with the cessation of becoming, the cessation of birth; with the cessation of birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair cease. Thus is the cessation of this entire mass of suffering. This is the entry by means of dependent origination.
Chính năm quyền vô học ấy là minh, do minh sanh khởi nên vô minh diệt, do vô minh diệt nên các hành diệt, do các hành diệt nên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt, do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt, do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt nên ái diệt, do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sanh diệt, do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này. Đây là sự thâm nhập bằng duyên khởi.
Tāniyeva asekkhāni pañcindriyāni tīhi khandhehi saṅgahitāni – sīlakkhandhena samādhikkhandhena paññākkhandhena, ayaṃ khandhehi otaraṇā.
Those very five faculties of the non-trainee are included in three aggregates—the aggregate of virtue, the aggregate of concentration, and the aggregate of wisdom. This is the entry by means of the aggregates.
Chính năm quyền vô học ấy được bao gồm trong ba uẩn – giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn. Đây là sự thâm nhập bằng các uẩn.
Tāniyeva asekkhāni pañcindriyāni saṅkhārapariyāpannāni ye saṅkhārā anāsavā, no ca bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
Those very five faculties of the non-trainee are included in formations—those formations that are untainted and not leading to becoming. Those formations are included in the element of phenomena. This is the entry by means of the elements.
Chính năm quyền vô học ấy được bao gồm trong hành, những hành nào là vô lậu, không dẫn đến hữu, những hành ấy được bao gồm trong pháp giới. Đây là sự thâm nhập bằng các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ anāsavaṃ, no ca bhavaṅgaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
That element of phenomena is included in the phenomena-base—that base which is untainted and not leading to becoming. This is the entry by means of the bases.
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là vô lậu, không dẫn đến hữu. Đây là sự thâm nhập bằng các xứ.
‘‘Ayaṃ ahasmīti anānupassī’’ti ayaṃ sakkāyadiṭṭhiyā samugghāto, sā sekkhāvimutti, tāniyeva sekkhāni pañcindriyāni. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
“Not viewing this as ‘I am’” is the uprooting of identity view. That is the liberation of the trainee. Those very same qualities are the five faculties of the trainee. This is the entry by means of the faculties.
‘Vị ấy không quán xét rằng ‘đây là ta’’ là sự nhổ bật thân kiến, đó là sự giải thoát của bậc hữu học, chính năm quyền hữu học ấy. Đây là sự thâm nhập bằng các quyền.
Tāniyeva sekkhāni pañcindriyāni vijjā, vijjuppādā avijjānirodho, avijjānirodhā saṅkhāranirodho, evaṃ sabbo paṭiccasamuppādo. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
Those very five faculties of the trainee are knowledge. With the arising of knowledge, there is the cessation of ignorance; with the cessation of ignorance, the cessation of formations. Thus is the whole of dependent origination. This is the entry by means of dependent origination.
Chính năm quyền hữu học ấy là minh, do minh sanh khởi nên vô minh diệt, do vô minh diệt nên các hành diệt, như vậy là toàn bộ duyên khởi. Đây là sự thâm nhập bằng duyên khởi.
Sāyeva vijjā paññākkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
That very knowledge is the aggregate of wisdom. This is the entry by means of the aggregates.
Chính minh ấy là tuệ uẩn. Đây là sự thâm nhập bằng các uẩn.
Sāyeva vijjā saṅkhārapariyāpannā, ye saṅkhārā anāsavā, no ca bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā, ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
That very knowledge is included in formations. Those formations that are untainted and not leading to becoming are included in the element of phenomena. This is the entry by means of the elements.
Chính minh ấy được bao gồm trong hành, những hành nào là vô lậu, không dẫn đến hữu, những hành ấy được bao gồm trong pháp giới, đây là sự thâm nhập bằng các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ anāsavaṃ, no ca bhavaṅgaṃ, ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
That element of phenomena is included in the phenomena-base—that base which is untainted and not leading to becoming. This is the entry by means of the bases.
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là vô lậu, không dẫn đến hữu, đây là sự thâm nhập bằng các xứ.
Sekkhāya ca vimuttiyā asekkhāya ca vimuttiyā vimutto udatāri oghaṃ atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāya. Tenāha bhagavā ‘‘uddhaṃ adho’’ti.
Liberated by the liberation of the trainee and by the liberation of the non-trainee, one has crossed the flood never before crossed, for the sake of no future becoming. Therefore, the Blessed One said, “upwards, downwards.”
Vị ấy được giải thoát bằng sự giải thoát của bậc hữu học và sự giải thoát của bậc vô học, đã vượt qua bộc lưu chưa từng vượt qua, vì mục đích không còn tái sanh. Do đó, đức Thế Tôn đã nói ‘phía trên, phía dưới’.
43. ‘‘Nissitassa † calitaṃ, anissitassa calitaṃ natthi, calite asati passaddhi, passaddhiyā sati nati na hoti, natiyā asati āgatigati na hoti, āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti, cutūpapāte asati nevidha na huraṃ na ubhayamantarena esevanto dukkhassā’’ti.
43. “For one who is dependent, there is wavering; for one who is independent, there is no wavering. When there is no wavering, there is tranquility. When there is tranquility, there is no inclination. When there is no inclination, there is no coming and going. When there is no coming and going, there is no passing away and reappearing. When there is no passing away and reappearing, there is neither here nor beyond nor in between the two—this itself is the end of suffering.”
“Đối với người nương tựa thì có sự dao động, đối với người không nương tựa thì không có sự dao động, khi không có sự dao động thì có sự an tịnh, khi có sự an tịnh thì không có sự nghiêng chiều, khi không có sự nghiêng chiều thì không có sự đến và đi, khi không có sự đến và đi thì không có sự tử và sanh, khi không có sự tử và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có khoảng giữa cả hai, đây chính là sự chấm dứt của khổ.”
‘‘Nissitassa calita’’nti nissayo nāma duvidho taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca. Tattha yā rattassa cetanā, ayaṃ taṇhānissayo; yā mūḷhassa cetanā, ayaṃ diṭṭhinissayo. Cetanā pana saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, evaṃ sabbo paṭiccasamuppādo. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
“For one who is dependent, there is wavering”: Dependence is twofold: dependence on craving and dependence on views. Herein, the volition of one who is impassioned is dependence on craving; the volition of one who is deluded is dependence on views. Volition, however, is formations. Conditioned by formations is consciousness; conditioned by consciousness is name-and-form. Thus is the whole of dependent origination. This is the entry by means of dependent origination.
43. ‘Đối với người nương tựa thì có sự dao động’ có nghĩa là: sự nương tựa có hai loại là nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến. Trong đó, tư của người tham ái, đây là sự nương tựa vào ái; tư của người si mê, đây là sự nương tựa vào tà kiến. Và tư là hành, do hành làm duyên nên thức sanh, do thức làm duyên nên danh sắc sanh, như vậy là toàn bộ duyên khởi. Đây là sự thâm nhập bằng duyên khởi.
Tattha yā rattassa vedanā, ayaṃ sukhā vedanā. Yā sammūḷhassa vedanā, ayaṃ adukkhamasukhā vedanā, imā dve vedanā vedanākkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
Herein, the feeling of one who is impassioned is pleasant feeling. The feeling of one who is completely deluded is neither-painful-nor-pleasant feeling. These two feelings are the aggregate of feeling. This is the entry by means of the aggregates.
Trong đó, thọ của người tham ái, đây là lạc thọ. Thọ của người hoàn toàn si mê, đây là thọ bất khổ bất lạc, hai thọ này là thọ uẩn. Đây là sự thâm nhập bằng các uẩn.
Tattha sukhā vedanā dve indriyāni sukhindriyaṃ somanassindriyañca, adukkhamasukhā vedanā upekkhindriyaṃ. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
Herein, pleasant feeling comprises two faculties: the faculty of pleasure and the faculty of joy. Neither-painful-nor-pleasant feeling is the faculty of equanimity. This is the entry by means of the faculties.
Trong đó, lạc thọ là hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền, thọ bất khổ bất lạc là xả quyền. Đây là sự thâm nhập bằng các quyền.
Tāniyeva indriyāni saṅkhārapariyāpannāni, ye saṅkhārā sāsavā bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
Those very faculties are included in formations. Those formations that are tainted and lead to becoming are included in the element of phenomena. This is the entry by means of the elements.
Chính những quyền ấy được bao gồm trong hành, những hành nào là hữu lậu, dẫn đến hữu, những hành ấy được bao gồm trong pháp giới. Đây là sự thâm nhập bằng các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ sāsavaṃ bhavaṅgaṃ, ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
That element of phenomena is included in the phenomena-base—that base which is tainted and leads to becoming. This is the entry by means of the bases.
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là hữu lậu, dẫn đến hữu, đây là sự thâm nhập bằng các xứ.
‘‘Anissitassa calitaṃ natthī’’ti samathavasena vā taṇhāya anissito vipassanāvase vā diṭṭhiyā anissito. Yā vipassanā ayaṃ vijjā, vijjuppādā avijjānirodho, avijjānirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, evaṃ sabbo paṭiccasamuppādo. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
“For one who is independent, there is no wavering”: one is independent of craving by way of serenity, or independent of views by way of insight. That insight is knowledge. With the arising of knowledge, there is the cessation of ignorance; with the cessation of ignorance, the cessation of formations; with the cessation of formations, the cessation of consciousness. Thus is the whole of dependent origination. This is the entry by means of dependent origination.
‘Đối với người không nương tựa thì không có sự dao động’ có nghĩa là: hoặc không nương tựa vào ái theo cách của chỉ, hoặc không nương tựa vào tà kiến theo cách của quán. Tuệ quán nào, đây là minh, do minh sanh khởi nên vô minh diệt, do vô minh diệt nên các hành diệt, do các hành diệt nên thức diệt, như vậy là toàn bộ duyên khởi. Đây là sự thâm nhập bằng duyên khởi.
Sāyeva vipassanā paññākkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
That very insight is the aggregate of wisdom. This is the incorporation by means of the aggregates.
Chính tuệ quán ấy là tuệ uẩn. Đây là sự bao gồm theo các uẩn.
Sāyeva vipassanā dve indriyāni – vīriyindriyañca paññindriyañca. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
That very insight comprises two faculties: the faculty of energy and the faculty of wisdom. This is the incorporation by means of the faculties.
Chính tuệ quán ấy là hai quyền: cần quyền và tuệ quyền. Đây là sự bao gồm theo các quyền.
Sāyeva vipassanā saṅkhārapariyāpannā, ye saṅkhārā anāsavā, no ca bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
That very insight is included in formations. Those formations that are taintless and not conducive to existence are included in the element of phenomena. This is the incorporation by means of the elements.
Chính tuệ quán ấy được bao gồm trong các hành, những hành nào là vô lậu, và không phải là thành phần của sự hiện hữu, các hành ấy được thu nhiếp bởi pháp giới. Đây là sự bao gồm theo các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ anāsavaṃ, no ca bhavaṅgaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
That element of phenomena is included in the phenomena-base—that base which is taintless and not conducive to existence. This is the incorporation by means of the bases.
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là vô lậu, và không phải là thành phần của sự hiện hữu. Đây là sự bao gồm theo các xứ.
‘‘Passaddhiyā satī’’ti duvidhā passaddhi kāyikā ca cetasikā ca. Yaṃ kāyikaṃ sukhaṃ, ayaṃ kāyapassaddhi. Yaṃ cetasikaṃ sukhaṃ, ayaṃ cetasikā passaddhi. Passaddhakāyo sukhaṃ vediyati †, sukhino cittaṃ samādhiyati, samāhito yathābhūtaṃ pajānāti, yathābhūtaṃ pajānanto nibbindati, nibbindanto virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ ‘‘vimutta’’miti † ñāṇaṃ hoti, ‘‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti pajānāti. So na namati rūpesu, na saddesu, na gandhesu, na rasesu, na phoṭṭhabbesu, na dhammesu khayā rāgassa khayā dosassa khayā mohassa yena rūpena tathāgataṃ tiṭṭhantaṃ carantaṃ paññāpayamāno paññāpeyya, tassa rūpassa khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā rūpasaṅkhaye vimutto, tathāgato atthītipi na upeti, natthītipi na upeti, atthi natthītipi na upeti, nevatthi no natthītipi na upeti. Atha kho gambhīro appameyyo asaṅkheyyo nibbutotiyeva saṅkhaṃ gacchati khayā rāgassa, khayā dosassa, khayā mohassa.
In the phrase 'with tranquility, being mindful,' tranquility is twofold: bodily and mental. Whatever is bodily pleasure, this is bodily tranquility; whatever is mental pleasure, this is mental tranquility. One with a tranquil body feels pleasure; for one who is happy, the mind becomes concentrated. One who is concentrated understands things as they truly are. Understanding things as they truly are, one becomes disenchanted. Becoming disenchanted, one becomes dispassionate. Through dispassion, one is liberated. When liberated, the knowledge arises, 'I am liberated.' One understands: 'Birth is destroyed, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more of this state of being.' Such a one does not incline towards forms, sounds, smells, tastes, tactile objects, or mental phenomena, due to the destruction of lust, hatred, and delusion. By whatever form one might designate a Tathāgata, standing or moving, with the destruction, fading away, cessation, giving up, and relinquishment of that form, the Arahant with a liberated mind is liberated in the Nibbāna that is the destruction of forms. The Tathāgata does not entertain the view that 'he exists,' nor that 'he does not exist,' nor that 'he both exists and does not exist,' nor that 'he neither exists nor does not exist.' Rather, due to the destruction of lust, hatred, and delusion, he comes to be designated only as: deep, immeasurable, uncountable, and extinguished.
Về câu ‘Do khinh an, có chánh niệm,’ khinh an có hai loại: thân khinh an và tâm khinh an. Lạc nào thuộc về thân, đây là thân khinh an. Lạc nào thuộc về tâm, đây là tâm khinh an. Người có thân khinh an cảm thọ lạc, tâm của người có lạc được định tĩnh, người có tâm định tĩnh biết như thật, người biết như thật thì nhàm chán, người nhàm chán thì ly tham, do ly tham nên được giải thoát, khi đã giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘đã giải thoát,’ vị ấy biết rằng: ‘sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Do sự đoạn tận tham, do sự đoạn tận sân, do sự đoạn tận si, vị ấy không thiên về các sắc, không thiên về các tiếng, không thiên về các mùi, không thiên về các vị, không thiên về các xúc, không thiên về các pháp. Với sắc nào mà người ta có thể mô tả Như Lai đang đứng hay đang đi, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly sắc ấy, vị ấy được giải thoát nơi sự đoạn tận của sắc. (Vị ấy) không chấp nhận rằng ‘Như Lai tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai không tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại.’ Mà trái lại, do sự đoạn tận tham, do sự đoạn tận sân, do sự đoạn tận si, vị ấy được xem là sâu xa, không thể đo lường, không thể tính đếm, đã tịch tịnh.
Yāya vedanāya…pe… yāya saññāya. Yehi saṅkhārehi. Yena viññāṇena tathāgataṃ tiṭṭhantaṃ carantaṃ paññāpayamāno paññāpeyya, tassa viññāṇassa khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā viññāṇasaṅkhaye vimutto, tathāgato atthītipi na upeti, natthītipi na upeti, atthi natthītipi na upeti, nevatthi no natthītipi na upeti. Atha kho gambhīro appameyyo asaṅkheyyo nibbutotiyeva saṅkhaṃ gacchati khayā rāgassa, khayā dosassa, khayā mohassa. ‘‘Āgatī’’ti idhāgati. ‘‘Gatī’’ti peccabhavo. Āgatigatīpi na bhavanti, ‘‘nevidhā’’ti chasu ajjhattikesu āyatanesu. ‘‘Na hura’’nti chasu bāhiresu āyatanesu. ‘‘Na ubhayamantarenā’’ti phassasamuditesu dhammesu attānaṃ na passati. ‘‘Esevanto dukkhassā’’ti paṭiccasamuppādo. So duvidho lokiyo ca lokuttaro ca. Tattha lokiyo avijjāpaccayā saṅkhārā, yāva jarāmaraṇā. Lokuttaro sīlavato avippaṭisāro jāyati, yāva nāparaṃ itthattāyāti pajānāti. Tenāha bhagavā ‘‘nissitassa calitaṃ anissitassa calitaṃ natthi…pe… esevanto dukkhassā’’ti.
By whatever feeling... by whatever perception... by whatever formations... by whatever consciousness one might designate a Tathāgata, standing or moving, with the destruction, fading away, cessation, giving up, and relinquishment of that consciousness, the Arahant with a liberated mind is liberated in the Nibbāna that is the destruction of consciousness. The Tathāgata does not entertain the view that 'he exists,' nor that 'he does not exist,' nor that 'he both exists and does not exist,' nor that 'he neither exists nor does not exist.' Rather, due to the destruction of lust, hatred, and delusion, he is deep, immeasurable, uncountable, and comes to be designated only as extinguished. 'Coming' means coming here from another existence. 'Going' means a future existence. There is neither coming nor going. 'Not here' refers to the six internal sense bases. 'Not elsewhere' refers to the six external sense bases. 'Not in between the two' means one does not see a self in phenomena that arise from contact. 'This is the end of suffering' refers to dependent origination. It is twofold: worldly and transcendent. Therein, the worldly is: 'with ignorance as condition, formations arise,' up to 'aging and death.' The transcendent is: 'for one who is virtuous, non-remorse arises,' up to 'one understands: there is no more of this state of being.' Therefore, the Blessed One said: 'For one who is dependent, there is wavering; for one who is not dependent, there is no wavering... this is the end of suffering.'
Với thọ nào… v.v… với tưởng nào. Với các hành nào. Với thức nào mà người ta có thể mô tả Như Lai đang đứng hay đang đi, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly thức ấy, vị ấy được giải thoát nơi sự đoạn tận của thức. (Vị ấy) không chấp nhận rằng ‘Như Lai tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai không tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại,’ không chấp nhận rằng ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại.’ Mà trái lại, do sự đoạn tận tham, do sự đoạn tận sân, do sự đoạn tận si, vị ấy được xem là sâu xa, không thể đo lường, không thể tính đếm, đã tịch tịnh. ‘Sự đến’ nghĩa là sự đến đây. ‘Sự đi’ nghĩa là đời sau. Sự đến và sự đi cũng không có. ‘Không ở đây’ nghĩa là trong sáu nội xứ. ‘Không ở kia’ nghĩa là trong sáu ngoại xứ. ‘Không ở giữa cả hai’ nghĩa là không thấy tự ngã trong các pháp sanh khởi cùng với xúc. ‘Đây là sự chấm dứt của khổ’ nghĩa là pháp duyên khởi. Pháp ấy có hai loại: thế gian và siêu thế. Trong đó, pháp thế gian là ‘do vô minh duyên hành,’ cho đến ‘già-chết.’ Pháp siêu thế là ‘người có giới thì không hối hận sanh khởi,’ cho đến ‘vị ấy biết không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Người có nương tựa thì có dao động, người không nương tựa thì không có dao động... cho đến... đây là sự chấm dứt của khổ.’
44.
44.
44.
‘‘Ye keci sokā paridevitā vā, dukkhā † ca lokasmimanekarūpā;
Piyaṃ paṭiccappabhavanti ete, piye asante na bhavanti ete.
Whatever sorrows or lamentations, and sufferings of many kinds there are in the world, they arise dependent on what is dear. When what is dear does not exist, they do not arise.
“Những sầu muộn hay than khóc nào, và những khổ đau nhiều loại ở trên đời; những điều này phát sanh do duyên vào điều khả ái, khi không có điều khả ái, những điều này không có.
Tasmā hi te sukhino vītasokā, yesaṃ piyaṃ natthi kuhiñci loke;
Tasmā asokaṃ virajaṃ patthayāno, piyaṃ na kayirātha kuhiñci loke’’ti.
Therefore, they are happy and free from sorrow, for whom there is nothing dear anywhere in the world. Therefore, one aspiring for the sorrowless, dustless state, should not make anything dear anywhere in the world.
Do đó, những ai không có gì khả ái ở bất cứ đâu trên đời, họ được an lạc, không sầu muộn; do đó, người mong cầu trạng thái không sầu, không nhiễm ô, không nên làm cho bất cứ điều gì trở nên khả ái ở bất cứ đâu trên đời.”
‘‘Ye keci sokā paridevitā vā, dukkhā ca lokasmimanekarūpā piyaṃ paṭiccappabhavanti ete’’ti – ayaṃ dukkhā vedanā. ‘‘Piye asante na bhavanti ete’’ti – ayaṃ sukhā vedanā. Vedanā vedanākkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
The verse, 'Whatever sorrows or lamentations, and sufferings of many kinds there are in the world, they arise dependent on what is dear,' refers to painful feeling. The verse, 'When what is dear does not exist, they do not arise,' refers to pleasant feeling. Feeling is the aggregate of feeling. This is the incorporation by means of the aggregates.
Câu ‘Những sầu muộn hay than khóc nào, và những khổ đau nhiều loại ở trên đời phát sanh do duyên vào điều khả ái’ – đây là khổ thọ. Câu ‘khi không có điều khả ái, những điều này không có’ – đây là lạc thọ. Thọ là thọ uẩn. Đây là sự bao gồm theo các uẩn.
Vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ, evaṃ sabbaṃ. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
With feeling as condition, craving arises; with craving as condition, clinging arises; with clinging as condition, existence arises; with existence as condition, birth arises; with birth as condition, aging and death arise. Thus the entire sequence should be understood. This is the incorporation by means of the links of dependent origination.
Do thọ duyên ái, do ái duyên thủ, do thủ duyên hữu, do hữu duyên sanh, do sanh duyên già-chết, tất cả là như vậy. Đây là sự bao gồm theo các pháp duyên khởi.
Tattha sukhā vedanā dve indriyāni – sukhindriyaṃ somanassindriyañca. Dukkhā vedanā dve indriyāni – dukkhindriyaṃ domanassindriyañca. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
Therein, pleasant feeling comprises two faculties: the faculty of pleasure and the faculty of joy. Painful feeling comprises two faculties: the faculty of pain and the faculty of displeasure. This is the incorporation by means of the faculties.
Trong đó, lạc thọ là hai quyền: lạc quyền và hỷ quyền. Khổ thọ là hai quyền: khổ quyền và ưu quyền. Đây là sự bao gồm theo các quyền.
Tāniyeva indriyāni saṅkhārapariyāpannāni, ye saṅkhārā sāsavā bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
Those very faculties are included in formations. Those formations that are tainted and conducive to existence are included in the element of phenomena. This is the incorporation by means of the elements.
Chính các quyền ấy được bao gồm trong các hành, những hành nào là hữu lậu, là thành phần của sự hiện hữu, các hành ấy được thu nhiếp bởi pháp giới. Đây là sự bao gồm theo các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ sāsavaṃ bhavaṅgaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
That element of phenomena is included in the phenomena-base, which base is tainted and conducive to existence. This is the incorporation by means of the bases.
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là hữu lậu, là thành phần của sự hiện hữu. Đây là sự bao gồm theo các xứ.
Tasmā hi te sukhino vītasokā, yesaṃ piyaṃ natthi kuhiñci loke;
Tasmā asokaṃ virajaṃ patthayāno, piyaṃ na kayirātha kuhiñci loketi.
Therefore, they are happy and free from sorrow, for whom there is nothing dear anywhere in the world. Therefore, one aspiring for the sorrowless, dustless state, should not make anything dear anywhere in the world.
Do đó, những ai không có gì khả ái ở bất cứ đâu trên đời, họ được an lạc, không sầu muộn; do đó, người mong cầu trạng thái không sầu, không nhiễm ô, không nên làm cho bất cứ điều gì trở nên khả ái ở bất cứ đâu trên đời.
Idaṃ taṇhāpahānaṃ. Taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, evaṃ sabbaṃ. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
This is the abandoning of craving. From the cessation of craving, there is the cessation of clinging; from the cessation of clinging, there is the cessation of existence. Thus the entire sequence should be understood. This is the incorporation by means of the links of dependent origination.
Đây là sự đoạn trừ ái. Do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, tất cả là như vậy. Đây là sự bao gồm theo các pháp duyên khởi.
Taṃyeva taṇhāpahānaṃ samatho. So samatho dve indriyāni satindriyaṃ samādhindriyañca. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
That very abandoning of craving is tranquility. That tranquility comprises two faculties: the faculty of mindfulness and the faculty of concentration. This is the incorporation by means of the faculties.
Chính sự đoạn trừ ái ấy là chỉ. Chỉ ấy là hai quyền: niệm quyền và định quyền. Đây là sự bao gồm theo các quyền.
Soyeva samatho samādhikkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
That very tranquility is the aggregate of concentration. This is the incorporation by means of the aggregates.
Chính chỉ ấy là định uẩn. Đây là sự bao gồm theo các uẩn.
Soyeva samatho saṅkhārapariyāpanno, ye saṅkhārā anāsavā, no ca bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
That very tranquility is included in formations; those formations which are taintless and not conducive to existence are included in the element of phenomena. This is the incorporation by means of the elements.
Chính chỉ ấy được bao gồm trong các hành, những hành nào là vô lậu, và không phải là thành phần của sự hiện hữu, các hành ấy được thu nhiếp bởi pháp giới. Đây là sự bao gồm theo các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ anāsavaṃ, no ca bhavaṅgaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā. Tenāha bhagavā ‘‘ye keci sokā’’ti.
That element of phenomena is included in the phenomena-base, which base is taintless and not conducive to existence. This is the incorporation by means of the bases. Therefore, the Blessed One said, 'Whatever sorrows...'
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là vô lậu, và không phải là thành phần của sự hiện hữu. Đây là sự bao gồm theo các xứ. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: “Những sầu muộn nào…”
Kāmaṃ kāmayamānassa, tassa ce taṃ samijjhati;
Addhā pītimano hoti, laddhā macco yadicchati.
For one desiring a sensual pleasure, if that is fulfilled for him, surely that mortal is glad of mind, having obtained what he wishes.
Đối với người đang mong cầu dục lạc, nếu điều ấy được thành tựu cho vị ấy; chắc chắn vị ấy có tâm hoan hỷ, người phải chết ấy đã đạt được điều mình mong muốn.
Tassa ce kāmayānassa, chandajātassa jantuno;
Te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppati.
But if, for that being who desires, in whom longing has arisen, those sensual pleasures decline, he is afflicted as if pierced by a dart.
Đối với chúng sanh đang mong cầu ấy, người đã sanh khởi lòng tham muốn; nếu những dục lạc ấy bị suy giảm, vị ấy bị đau khổ như bị mũi tên bắn trúng.
Yo kāme parivajjeti, sappasseva † padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatīti.
Whoever avoids sensual pleasures, as one would a snake's head with the foot, that one, being mindful, overcomes this clinging in the world.
Vị nào tránh xa các dục lạc, như (tránh) đầu con rắn bằng bàn chân; vị ấy, người có chánh niệm, vượt qua được sự tham ái này ở trong đời.
Tattha yā pītimanatā, ayaṃ anunayo. Yadāha sallaviddhova ruppatīti, idaṃ paṭighaṃ. Anunayaṃ paṭighañca pana taṇhāpakkho, taṇhāya ca pana dasarūpīni āyatanāni padaṭṭhānaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā.
Therein, that gladness of mind is affection. When it is said, 'is afflicted as if pierced by a dart,' this is aversion. Now, affection and aversion are on the side of craving, and for craving, the ten material bases are the proximate cause. This is the descent by way of the bases.
Ở đây, trạng thái hoan hỷ của tâm chính là sự thuận ái. Khi nói rằng: ‘bị đau khổ như bị mũi tên bắn trúng,’ đây là sự nghịch ý. Và sự thuận ái và sự nghịch ý là thuộc về phần của ái. Và đối với ái, mười xứ thuộc sắc là nền tảng. Đây là sự đi vào bằng các xứ.
Tāniyeva dasa rūpīni rūpakāyo nāmasampayutto, tadubhayaṃ nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, evaṃ sabbaṃ. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
Those very ten material bases are the body of form, which is associated with name. That pair is name-and-form. From name-and-form as condition, the sixfold base arises; from the sixfold base as condition, contact arises; from contact as condition, feeling arises; from feeling as condition, craving arises. Thus, the entire chain should be understood. This is the descent by way of dependent origination.
Chính mười (xứ) thuộc sắc ấy là sắc thân, tương ưng với danh; cả hai điều ấy là danh sắc. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi; do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi; do duyên xúc, thọ sanh khởi; do duyên thọ, ái sanh khởi, tất cả là như vậy. Đây là sự đi vào bằng duyên khởi.
Tadeva nāmarūpaṃ pañcakkhandho; Ayaṃ khandhehi otaraṇā;
Tadeva nāmarūpaṃ aṭṭhārasa dhātuyo; Ayaṃ dhātūhi otaraṇā;
That very name-and-form is the five aggregates. This is the descent by way of the aggregates. That very name-and-form is the eighteen elements. This is the descent by way of the elements.
Chính danh sắc ấy là năm uẩn; đây là sự đi vào bằng các uẩn. Chính danh sắc ấy là mười tám giới; đây là sự đi vào bằng các giới.
Tattha yo rūpakāyo imāni pañca rūpīni indriyāni, yo nāmakāyo imāni pañca arūpīni indriyāni, imāni dasa indriyāni. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
Therein, whatever is the body of form, these are the five material faculties. Whatever is the body of name, these are the five immaterial faculties. These are the ten faculties. This is the descent by way of the faculties.
Ở đây, phần nào là sắc thân, đó là năm sắc quyền này; phần nào là danh thân, đó là năm vô sắc quyền này; đây là mười quyền. Đây là sự đi vào bằng các quyền.
Tattha yadāha –
Therein, when it was said:
Ở đây, khi nói rằng –
‘‘Yo kāme parivajjeti, sappasseva padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatī’’ti.
“Whoever avoids sensual pleasures, as one would a snake's head with the foot, that one, being mindful, overcomes this clinging in the world.”
‘Vị nào tránh xa các dục lạc, như (tránh) đầu con rắn bằng bàn chân; vị ấy, người có chánh niệm, vượt qua được sự tham ái này ở trong đời.’
Ayaṃ saupādisesā nibbānadhātu, ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
This is the Nibbāna-element with remaining substratum; this is the descent by way of the elements.
Đây là hữu dư y Niết-bàn giới, đây là sự đi vào bằng các giới.
Sāyeva saupādisesā nibbānadhātu vijjā, vijjuppādā avijjānirodho, avijjānirodhā saṅkhāranirodho, evaṃ sabbaṃ. Ayaṃ paṭiccasamuppādehi otaraṇā.
That very Nibbāna-element with remaining substratum is knowledge. With the arising of knowledge, the cessation of ignorance occurs; with the cessation of ignorance, the cessation of formations occurs. Thus, the entire chain should be understood. This is the descent by way of dependent origination.
Chính hữu dư y Niết-bàn giới ấy là minh. Do minh sanh khởi, vô minh diệt; do vô minh diệt, các hành diệt, tất cả là như vậy. Đây là sự đi vào bằng duyên khởi.
Sāyeva vijjā paññākkhandho. Ayaṃ khandhehi otaraṇā.
That very knowledge is the aggregate of wisdom. This is the descent by way of the aggregates.
Chính minh ấy là tuệ uẩn. Đây là sự đi vào bằng các uẩn.
Sāyeva vijjā dve indriyāni – vīriyindriyaṃ paññindriyañca. Ayaṃ indriyehi otaraṇā.
That very knowledge is two faculties: the faculty of energy and the faculty of wisdom. This is the descent by way of the faculties.
Chính minh ấy là hai quyền – tấn quyền và tuệ quyền. Đây là sự đi vào bằng các quyền.
Sāyeva vijjā saṅkhārapariyāpannā, ye saṅkhārā anāsavā, no ca bhavaṅgā, te saṅkhārā dhammadhātusaṅgahitā. Ayaṃ dhātūhi otaraṇā.
That very knowledge is included in formations. Those formations that are taintless and not a cause for becoming are included in the dhamma-element. This is the descent by way of the elements.
Chính minh ấy được bao gồm trong các hành, những hành nào là vô lậu, và không phải là hữu phần, những hành ấy được thu nhiếp vào pháp giới. Đây là sự đi vào bằng các giới.
Sā dhammadhātu dhammāyatanapariyāpannā, yaṃ āyatanaṃ anāsavaṃ, no ca bhavaṅgaṃ. Ayaṃ āyatanehi otaraṇā. Tenāha bhagavā ‘‘kāmaṃ kāmayamānassā’’ti.
That dhamma-element is included in the dhamma-base, which base is taintless and not a cause for becoming. This is the descent by way of the bases. Therefore, the Blessed One said, “For one desiring a sensual pleasure...”
Pháp giới ấy được bao gồm trong pháp xứ, xứ nào là vô lậu, và không phải là hữu phần. Đây là sự đi vào bằng các xứ. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: ‘Đối với người đang mong cầu dục lạc...’
Ettāvatā paṭicca indriyakhandhadhātuāyatanāni samosaraṇotaraṇāni bhavanti. Evaṃ paṭicca indriyakhandhadhātuāyatanāni otāretabbāni. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘yo ca paṭiccuppādo’’ti.
Thus far, dependent origination, the faculties, aggregates, elements, and bases become convergences and descents. In this way, dependent origination, the faculties, aggregates, elements, and bases should be entered into. Therefore, the Venerable Mahākaccāna said, 'And that which is dependently arisen.'
Với chừng ấy, duyên khởi, quyền, uẩn, giới, và xứ trở thành sự hội tụ và sự đi vào. Như vậy, duyên khởi, quyền, uẩn, giới, và xứ cần được đi vào. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: ‘Và cái nào là duyên khởi...’
Niyutto otaraṇo hāro.
The exposition of the method of descent is concluded.
Phương pháp đi vào đã được trình bày xong.