Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 14

Bản dịch

NE 14Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Mô Tả

Paññattihāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự mô tả là cách nào? “Đức Thế Tôn chỉ bảo một vấn đề thông qua các sự mô tả theo nhiều cách, ...” Sự chỉ bảo thông qua lời giảng giải về bản thể tự nhiên là sự mô tả theo cách trình bày. Điều gì là sự chỉ bảo thông qua lời giảng giải về bản thể tự nhiên? Bốn Chân Lý. Giống như đức Thế Tôn đã nói rằng: “Đây là Khổ.” Sự mô tả này về năm uẩn, về sáu giới, về mười tám giới, về mười hai xứ, về mười quyền là sự mô tả theo cách trình bày.

“Này các tỳ khưu, nếu có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái ở đoàn thực, thì nơi ấy thức được thiết lập, được lớn mạnh. Nơi nào thức được thiết lập, được lớn mạnh, nơi ấy có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào có sanh- già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có phiền muộn, có lo âu. Này các tỳ khưu, nếu ở xúc thực –nt– nếu ở tư niệm thực –nt– nếu ở thức thực mà có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái, thì nơi ấy thức được thiết lập, được lớn mạnh. Nơi nào thức được thiết lập, được lớn mạnh, nơi ấy có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy có sự tăng trưởng của các hành.– –Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào có sanh- già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có phiền muộn, có lo âu.” Đây là sự mô tả về nguồn phát khởi của Khổ và của Tập.

“Này các tỳ khưu, nếu ở đoàn thực mà không có sự luyến ái, không có sự vui mừng, không có tham ái, thì nơi ấy thức không được thiết lập, không được lớn mạnh. Nơi nào thức không được thiết lập, không được lớn mạnh, nơi ấy không có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào không có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy không có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy không có sầu muộn, không có phiền muộn, không có lo âu. Này các tỳ khưu, nếu ở xúc thực –nt– nếu ở tư niệm thực –nt– nếu ở thức thực mà không có sự luyến ái, không có sự vui mừng, không có tham ái, thì nơi ấy thức không được thiết lập, không được lớn mạnh. Nơi nào thức không được thiết lập, không được lớn mạnh, nơi ấy không có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào không có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy không có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy không có sầu muộn, không có phiền muộn, không có lo âu.” Đây là sự mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ Diệt.

“Này các tỳ khưu, hãy tu tập định, không xao lãng, chín chắn, có niệm. Này các tỳ khưu, được định tĩnh, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể. Và nhận biết đúng theo thực thể về cái gì? Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các sắc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Nhãn thức là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Nhãn xúc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cảm thọ nào sanh lên do duyên nhãn xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Tai –nt– Mũi –nt– Lưỡi –nt– Thân – nt– Ý là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các pháp là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Ý thức là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Ý xúc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cảm thọ nào sanh lên do duyên ý xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc; cảm thọ ấy cũng là vô thường.’” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc chứng ngộ Diệt.

“Này Rādha, hãy phát tán, hãy phá hủy, hãy hủy hoại, hãy ngưng đùa giỡn với sắc, (nhờ vào tuệ) hãy thực hành nhằm sự diệt trừ tham ái. Do sự diệt trừ tham ái, có sự diệt trừ khổ; do sự diệt trừ khổ, thành tựu Niết Bàn. Này Rādha, hãy phát tán, hãy phá hủy, hãy hủy hoại, hãy ngưng đùa giỡn với thọ –nt– với tưởng –nt– với các hành –nt– với thức, (nhờ vào tuệ) hãy thực hành nhằm sự diệt trừ tham ái. Do sự diệt trừ tham ái, có sự diệt trừ khổ; do sự diệt trừ khổ, thành tựu Niết Bàn.” Đây là sự mô tả về sự diệt tận đối với Diệt, mô tả về sự nhàm chán đối với sự hứng thú, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ Diệt. “Vị ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’” Đây là sự mô tả về sự thấu triệt các Chân Lý, mô tả việc trình bày về phạm vi nhìn thấy, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ quả Nhập Lưu. “Vị ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc, nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các lậu hoặc này được diệt tận không còn dư sót.’” Đây là sự mô tả về việc sanh lên của trí ở sự diệt trừ, mô tả về vị thế của trí ở việc không sanh khởi, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc ra sức của tấn quyền, mô tả về việc loại bỏ các trứng ruồi, mô tả về việc trình bày phạm vi tu tập, mô tả về việc hủy diệt các ác bất thiện pháp. “‘Đây là Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc chỉ bảo các Chân Lý, mô tả về việc trình bày tuệ do nghe, mô tả về việc chứng ngộ vị tri quyền, mô tả về việc chuyển vận bánh xe Pháp. “‘Và Khổ này đây cần được biết rõ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Và nhân sanh Khổ này đây cần được dứt bỏ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và sự diệt tận Khổ này đây cần được chứng ngộ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ này đây cần được tu tập,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc trình bày tuệ do suy tư, mô tả về việc chứng ngộ dĩ tri quyền.

“‘Và Khổ này đây đã được biết rõ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Và nhân sanh Khổ này đây đã được dứt bỏ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và sự diệt tận Khổ này đây đã được chứng ngộ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ này đây đã được tu tập,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc trình bày tuệ do tu tập, mô tả về việc chứng ngộ cụ tri quyền, mô tả về việc chuyển vận bánh xe Pháp.

1. “Bậc Hiền Trí đã buông bỏ sự tạo tác dẫn đến hữu, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được. Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh, Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã, tựa như phá tan tấm áo giáp.” ‘Cái đo lường được’ là hữu vi giới. ‘Cái không đo lường được’ là Niết Bàn giới. ‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được’ là sự mô tả về thắng trí đối với tất cả các pháp, mô tả về việc trình bày sự phân tích các pháp. ‘Bậc hiền trí đã bỏ xuống sự tạo tác dẫn đến hữu’ là sự mô tả về việc buông bỏ Tập, mô tả về việc biết rõ Khổ. ‘Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh’ là sự mô tả về việc tu tập niệm hướng đến thân, mô tả về việc duy trì trạng thái chuyên nhất của tâm. ‘Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã như phá tan tấm áo giáp’ là sự mô tả về sự nhàm chán của tâm, mô tả về việc nắm lấy trạng thái toàn tri, mô tả về việc phá tan các vỏ trứng vô minh. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “… nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được ...”

2. “Người nào đã nhìn thấy khổ, và căn nguyên từ nơi nào, làm thế nào con người ấy có thể thiên về các dục? Bởi vì sau khi biết các dục là ‘sự quyến luyến ở thế gian,’ đối với chúng, người có niệm nên học tập để loại bỏ.” ‘Người nào ... khổ’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Khổ và sự mô tả về việc biết rõ Khổ. ‘Và căn nguyên từ nơi nào’ là sự mô tả về nguồn phát khởi của Tập và sự mô tả về việc dứt bỏ Tập. ‘Đã nhìn thấy’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của trí nhãn và sự mô tả về việc thấu triệt của nó. ‘Làm thế nào con người ấy có thể thiên về các dục?’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của sự tham ái về dục và sự mô tả về việc chấp chặt vào nó. ‘Bởi vì sau khi biết các dục là sự quyến luyến ở thế gian’ là sự mô tả về việc nhìn thấy các dục là kẻ đối nghịch, bởi vì các dục tựa như hố than hừng, tựa như miếng thịt (bị diều hâu tha đi), giống như ngọn lửa, và tựa như vực thẳm hay con rắn. ‘Đối với chúng, người có niệm’ là sự mô tả về việc giảm thiểu nhằm dứt bỏ, mô tả về việc trình bày niệm hướng đến thân, mô tả về việc tu tập Đạo. ‘Nên học tập để loại bỏ’ là sự mô tả về việc thấu triệt của sự loại bỏ luyến ái, của sự loại bỏ sân hận, của sự loại bỏ si mê. ‘Con người’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của từ hành giả. Bởi vì lúc vị hành giả nhận biết ‘các dục là sự quyến luyến,’ vị ấy làm sanh khởi các thiện pháp nhằm không có sự sanh khởi của các dục, vị ấy tinh tấn nhằm làm sanh khởi các thiện pháp chưa được sanh khởi. Đây là sự mô tả về việc tinh tấn nhằm đạt đến pháp chưa đạt đến, mô tả về việc trình bày sự không hài lòng đối với pháp thuộc về thế tục.

Ở đấy, ‘vị ấy tinh tấn nhằm duy trì các thiện pháp đã được sanh khởi,’ đây là sự mô tả về việc không xao lãng trong sự tu tập, mô tả về việc trình bày tấn quyền, mô tả về việc bảo vệ các thiện pháp, mô tả về việc duy trì sự học tập về thắng tâm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Người nào đã nhìn thấy khổ, và căn nguyên từ nơi nào, ...”

3. “Thế gian với sự trói buộc của si mê được thấy như là có khả năng; kẻ ngu với sự trói buộc của mầm tái sanh bị bao quanh bởi sự tối tăm, nó hiện diện như là sự bất hạnh; đối với người thấy thì không có bất cứ gì.” ‘Thế gian với sự trói buộc của si mê’ là sự mô tả về việc chỉ bảo những điều trái khuấy. ‘Được thấy như là có khả năng’ là sự mô tả về những điều sai lệch của thế gian. ‘Kẻ ngu với sự trói buộc của mầm tái sanh’ là sự mô tả về nguồn phát khởi của các hành vi xấu xa ở ước muốn, mô tả về việc làm của các sự xâm nhập, mô tả về sức mạnh của các ô nhiễm, mô tả về sự lớn mạnh của các pháp tạo tác. ‘Bị bao quanh bởi sự tối tăm’ là sự mô tả về việc chỉ bảo bóng tối của vô minh và là sự mô tả về từ đồng nghĩa của nó. ‘Nó hiện diện như là sự bất hạnh’ là sự mô tả về việc nhìn thấy của Thiên nhãn, mô tả về việc trình bày tuệ nhãn. ‘Đối với người thấy thì không có bất cứ gì’ là sự mô tả về việc thấu triệt của chúng sanh: luyến ái là cái gì đó, sân hận là cái gì đó, si mê là là cái gì đó. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thế gian với sự trói buộc của si mê ...” “Này các tỳ khưu, có cái không sanh—không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác. Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh— không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác ấy thì ở đây việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác không được biết đến. Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu— không được làm ra—không được tạo tác, cho nên việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác được biết đến.” ‘Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh—không hiện hữu— không được làm ra—không được tạo tác ấy’ là sự mô tả về việc chỉ bảo Niết Bàn và là sự mô tả về từ đồng nghĩa của nó. ‘Thì ở đây việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác không được biết đến’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của cái đã được tạo tác và là sự mô tả về việc tiếp cận của nó. ‘Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Niết Bàn và là sự mô tả về việc giảng giải nó. ‘Cho nên việc thoát ly khỏi cái sanh— hiện hữu— được làm ra— được tạo tác được biết đến’ đây là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Niết Bàn, mô tả về việc dẫn dắt ra khỏi của Đạo, mô tả về việc thoát ra khỏi luân hồi. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, nếu không có cái ...” Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng: “Đức Thế Tôn chỉ bảo một vấn đề thông qua các sự mô tả theo nhiều cách, ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Mô Tả được kết thúc.