Bản dịch
NE 14 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Mô Tả
Paññattihāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự mô tả là cách nào? “Đức Thế Tôn chỉ bảo một vấn đề thông qua các sự mô tả theo nhiều cách, ...” Sự chỉ bảo thông qua lời giảng giải về bản thể tự nhiên là sự mô tả theo cách trình bày. Điều gì là sự chỉ bảo thông qua lời giảng giải về bản thể tự nhiên? Bốn Chân Lý. Giống như đức Thế Tôn đã nói rằng: “Đây là Khổ.” Sự mô tả này về năm uẩn, về sáu giới, về mười tám giới, về mười hai xứ, về mười quyền là sự mô tả theo cách trình bày.
“Này các tỳ khưu, nếu có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái ở đoàn thực, thì nơi ấy thức được thiết lập, được lớn mạnh. Nơi nào thức được thiết lập, được lớn mạnh, nơi ấy có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào có sanh- già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có phiền muộn, có lo âu. Này các tỳ khưu, nếu ở xúc thực –nt– nếu ở tư niệm thực –nt– nếu ở thức thực mà có sự luyến ái, có sự vui mừng, có tham ái, thì nơi ấy thức được thiết lập, được lớn mạnh. Nơi nào thức được thiết lập, được lớn mạnh, nơi ấy có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy có sự tăng trưởng của các hành.– –Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào có sanh- già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có phiền muộn, có lo âu.” Đây là sự mô tả về nguồn phát khởi của Khổ và của Tập.
“Này các tỳ khưu, nếu ở đoàn thực mà không có sự luyến ái, không có sự vui mừng, không có tham ái, thì nơi ấy thức không được thiết lập, không được lớn mạnh. Nơi nào thức không được thiết lập, không được lớn mạnh, nơi ấy không có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào không có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy không có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy không có sầu muộn, không có phiền muộn, không có lo âu. Này các tỳ khưu, nếu ở xúc thực –nt– nếu ở tư niệm thực –nt– nếu ở thức thực mà không có sự luyến ái, không có sự vui mừng, không có tham ái, thì nơi ấy thức không được thiết lập, không được lớn mạnh. Nơi nào thức không được thiết lập, không được lớn mạnh, nơi ấy không có sự hình thành của danh sắc. Nơi nào không có sự hình thành của danh sắc, nơi ấy không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, nơi ấy không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai. Nơi nào không có sự sanh ra và sự hiện hữu lại nữa trong tương lai, nơi ấy không có sanh-già-chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy không có sầu muộn, không có phiền muộn, không có lo âu.” Đây là sự mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ Diệt.
“Này các tỳ khưu, hãy tu tập định, không xao lãng, chín chắn, có niệm. Này các tỳ khưu, được định tĩnh, vị tỳ khưu nhận biết đúng theo thực thể. Và nhận biết đúng theo thực thể về cái gì? Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các sắc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Nhãn thức là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Nhãn xúc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cảm thọ nào sanh lên do duyên nhãn xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Tai –nt– Mũi –nt– Lưỡi –nt– Thân – nt– Ý là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các pháp là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Ý thức là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Ý xúc là vô thường.’ Nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cảm thọ nào sanh lên do duyên ý xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc; cảm thọ ấy cũng là vô thường.’” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc chứng ngộ Diệt.
“Này Rādha, hãy phát tán, hãy phá hủy, hãy hủy hoại, hãy ngưng đùa giỡn với sắc, (nhờ vào tuệ) hãy thực hành nhằm sự diệt trừ tham ái. Do sự diệt trừ tham ái, có sự diệt trừ khổ; do sự diệt trừ khổ, thành tựu Niết Bàn. Này Rādha, hãy phát tán, hãy phá hủy, hãy hủy hoại, hãy ngưng đùa giỡn với thọ –nt– với tưởng –nt– với các hành –nt– với thức, (nhờ vào tuệ) hãy thực hành nhằm sự diệt trừ tham ái. Do sự diệt trừ tham ái, có sự diệt trừ khổ; do sự diệt trừ khổ, thành tựu Niết Bàn.” Đây là sự mô tả về sự diệt tận đối với Diệt, mô tả về sự nhàm chán đối với sự hứng thú, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ Diệt. “Vị ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’” Đây là sự mô tả về sự thấu triệt các Chân Lý, mô tả việc trình bày về phạm vi nhìn thấy, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc chứng ngộ quả Nhập Lưu. “Vị ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc, nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Các lậu hoặc này được diệt tận không còn dư sót.’” Đây là sự mô tả về việc sanh lên của trí ở sự diệt trừ, mô tả về vị thế của trí ở việc không sanh khởi, mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc biết rõ Khổ, mô tả về việc dứt bỏ Tập, mô tả về việc ra sức của tấn quyền, mô tả về việc loại bỏ các trứng ruồi, mô tả về việc trình bày phạm vi tu tập, mô tả về việc hủy diệt các ác bất thiện pháp. “‘Đây là Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc chỉ bảo các Chân Lý, mô tả về việc trình bày tuệ do nghe, mô tả về việc chứng ngộ vị tri quyền, mô tả về việc chuyển vận bánh xe Pháp. “‘Và Khổ này đây cần được biết rõ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Và nhân sanh Khổ này đây cần được dứt bỏ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và sự diệt tận Khổ này đây cần được chứng ngộ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ này đây cần được tu tập,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc trình bày tuệ do suy tư, mô tả về việc chứng ngộ dĩ tri quyền.
“‘Và Khổ này đây đã được biết rõ,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe. ‘Và nhân sanh Khổ này đây đã được dứt bỏ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và sự diệt tận Khổ này đây đã được chứng ngộ,’ này các tỳ khưu, ta có được ―nt― ‘Và lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ này đây đã được tu tập,’ này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe.” Đây là sự mô tả về việc tu tập Đạo, mô tả về việc trình bày tuệ do tu tập, mô tả về việc chứng ngộ cụ tri quyền, mô tả về việc chuyển vận bánh xe Pháp.
1. “Bậc Hiền Trí đã buông bỏ sự tạo tác dẫn đến hữu, nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được. Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh, Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã, tựa như phá tan tấm áo giáp.” ‘Cái đo lường được’ là hữu vi giới. ‘Cái không đo lường được’ là Niết Bàn giới. ‘Nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được’ là sự mô tả về thắng trí đối với tất cả các pháp, mô tả về việc trình bày sự phân tích các pháp. ‘Bậc hiền trí đã bỏ xuống sự tạo tác dẫn đến hữu’ là sự mô tả về việc buông bỏ Tập, mô tả về việc biết rõ Khổ. ‘Vui thích ở nội tâm, được định tĩnh’ là sự mô tả về việc tu tập niệm hướng đến thân, mô tả về việc duy trì trạng thái chuyên nhất của tâm. ‘Ngài đã phá vỡ nguồn sanh khởi của tự ngã như phá tan tấm áo giáp’ là sự mô tả về sự nhàm chán của tâm, mô tả về việc nắm lấy trạng thái toàn tri, mô tả về việc phá tan các vỏ trứng vô minh. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “… nguồn sanh khởi đo lường được và không đo lường được ...”
2. “Người nào đã nhìn thấy khổ, và căn nguyên từ nơi nào, làm thế nào con người ấy có thể thiên về các dục? Bởi vì sau khi biết các dục là ‘sự quyến luyến ở thế gian,’ đối với chúng, người có niệm nên học tập để loại bỏ.” ‘Người nào ... khổ’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Khổ và sự mô tả về việc biết rõ Khổ. ‘Và căn nguyên từ nơi nào’ là sự mô tả về nguồn phát khởi của Tập và sự mô tả về việc dứt bỏ Tập. ‘Đã nhìn thấy’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của trí nhãn và sự mô tả về việc thấu triệt của nó. ‘Làm thế nào con người ấy có thể thiên về các dục?’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của sự tham ái về dục và sự mô tả về việc chấp chặt vào nó. ‘Bởi vì sau khi biết các dục là sự quyến luyến ở thế gian’ là sự mô tả về việc nhìn thấy các dục là kẻ đối nghịch, bởi vì các dục tựa như hố than hừng, tựa như miếng thịt (bị diều hâu tha đi), giống như ngọn lửa, và tựa như vực thẳm hay con rắn. ‘Đối với chúng, người có niệm’ là sự mô tả về việc giảm thiểu nhằm dứt bỏ, mô tả về việc trình bày niệm hướng đến thân, mô tả về việc tu tập Đạo. ‘Nên học tập để loại bỏ’ là sự mô tả về việc thấu triệt của sự loại bỏ luyến ái, của sự loại bỏ sân hận, của sự loại bỏ si mê. ‘Con người’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của từ hành giả. Bởi vì lúc vị hành giả nhận biết ‘các dục là sự quyến luyến,’ vị ấy làm sanh khởi các thiện pháp nhằm không có sự sanh khởi của các dục, vị ấy tinh tấn nhằm làm sanh khởi các thiện pháp chưa được sanh khởi. Đây là sự mô tả về việc tinh tấn nhằm đạt đến pháp chưa đạt đến, mô tả về việc trình bày sự không hài lòng đối với pháp thuộc về thế tục.
Ở đấy, ‘vị ấy tinh tấn nhằm duy trì các thiện pháp đã được sanh khởi,’ đây là sự mô tả về việc không xao lãng trong sự tu tập, mô tả về việc trình bày tấn quyền, mô tả về việc bảo vệ các thiện pháp, mô tả về việc duy trì sự học tập về thắng tâm. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Người nào đã nhìn thấy khổ, và căn nguyên từ nơi nào, ...”
3. “Thế gian với sự trói buộc của si mê được thấy như là có khả năng; kẻ ngu với sự trói buộc của mầm tái sanh bị bao quanh bởi sự tối tăm, nó hiện diện như là sự bất hạnh; đối với người thấy thì không có bất cứ gì.” ‘Thế gian với sự trói buộc của si mê’ là sự mô tả về việc chỉ bảo những điều trái khuấy. ‘Được thấy như là có khả năng’ là sự mô tả về những điều sai lệch của thế gian. ‘Kẻ ngu với sự trói buộc của mầm tái sanh’ là sự mô tả về nguồn phát khởi của các hành vi xấu xa ở ước muốn, mô tả về việc làm của các sự xâm nhập, mô tả về sức mạnh của các ô nhiễm, mô tả về sự lớn mạnh của các pháp tạo tác. ‘Bị bao quanh bởi sự tối tăm’ là sự mô tả về việc chỉ bảo bóng tối của vô minh và là sự mô tả về từ đồng nghĩa của nó. ‘Nó hiện diện như là sự bất hạnh’ là sự mô tả về việc nhìn thấy của Thiên nhãn, mô tả về việc trình bày tuệ nhãn. ‘Đối với người thấy thì không có bất cứ gì’ là sự mô tả về việc thấu triệt của chúng sanh: luyến ái là cái gì đó, sân hận là cái gì đó, si mê là là cái gì đó. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Thế gian với sự trói buộc của si mê ...” “Này các tỳ khưu, có cái không sanh—không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác. Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh— không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác ấy thì ở đây việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác không được biết đến. Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu— không được làm ra—không được tạo tác, cho nên việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác được biết đến.” ‘Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh—không hiện hữu— không được làm ra—không được tạo tác ấy’ là sự mô tả về việc chỉ bảo Niết Bàn và là sự mô tả về từ đồng nghĩa của nó. ‘Thì ở đây việc thoát ly khỏi cái sanh—hiện hữu— được làm ra— được tạo tác không được biết đến’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của cái đã được tạo tác và là sự mô tả về việc tiếp cận của nó. ‘Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu—không được làm ra—không được tạo tác’ là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Niết Bàn và là sự mô tả về việc giảng giải nó. ‘Cho nên việc thoát ly khỏi cái sanh— hiện hữu— được làm ra— được tạo tác được biết đến’ đây là sự mô tả về từ đồng nghĩa của Niết Bàn, mô tả về việc dẫn dắt ra khỏi của Đạo, mô tả về việc thoát ra khỏi luân hồi. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “Này các tỳ khưu, nếu không có cái ...” Vì thế, đại đức Mahākaccāyana đã nói rằng: “Đức Thế Tôn chỉ bảo một vấn đề thông qua các sự mô tả theo nhiều cách, ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Sự Mô Tả được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
39. Tattha katamo paññattihāro? ‘‘Ekaṃ bhagavā dhammaṃ paññattīhi vividhāhi desetī’’ti.
11. Herein, what is the mode of designations? ‘The Blessed One teaches one Dhamma through various designations.’
39. Trong số đó, phần hướng dẫn về chế định là gì? ‘Thế Tôn thuyết giảng một pháp bằng nhiều chế định khác nhau.’
Yā pakatikathāya desanā. Ayaṃ nikkhepapaññatti. Kā ca pakatikathāya desanā, cattāri saccāni. Yathā bhagavā āha ‘‘idaṃ dukkha’’nti ayaṃ paññatti pañcannaṃ khandhānaṃ channaṃ dhātūnaṃ aṭṭhārasannaṃ dhātūnaṃ dvādasannaṃ āyatanānaṃ dasannaṃ indriyānaṃ nikkhepapaññatti.
39. Whatever teaching is by way of a foundational discourse, this is the designation by deposition. And what is the teaching by way of a foundational discourse? The four truths. Just as the Blessed One said, ‘This is suffering,’ this designation is the designation by deposition for the five aggregates, the six elements, the eighteen elements, the twelve sense bases, and the ten faculties.
Sự thuyết giảng bằng cách trình bày cơ bản. Đây là chế định nền tảng. Sự thuyết giảng bằng cách trình bày cơ bản là gì? Là Bốn Sự Thật. Như khi Thế Tôn nói: ‘Đây là khổ,’ chế định này là chế định nền tảng cho năm uẩn, sáu giới, mười tám giới, mười hai xứ, và mười căn.
Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī † atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi †. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.
Bhikkhus, if there is passion, if there is delight, if there is craving for physical food as nutriment, consciousness is established there and grows. Where consciousness is established and grows, there is a descent of name-and-form. Where there is a descent of name-and-form, there is a growth of formations. Where there is a growth of formations, there is in the future a manifestation of renewed existence. Where there is in the future a manifestation of renewed existence, there is in the future birth, aging, and death. Where there is in the future birth, aging, and death, that, I say, bhikkhus, is with sorrow, with distress, and with despair.
Này các Tỳ kheo, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với đoàn thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự xuất hiện của danh sắc. Nơi nào có sự xuất hiện của danh sắc, nơi đó có sự gia tăng của các hành. Nơi nào có sự gia tăng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó có sầu, có lo âu, có khổ não.
Phasse ce…pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre. Viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi. Ayaṃ pabhavapaññatti dukkhassa ca samudayassa ca.
If, bhikkhus, for contact as nutriment... (etc.)... if for mental volition as nutriment... if, bhikkhus, for consciousness as nutriment, there is passion, if there is delight, if there is craving, consciousness is established there and grows. Where consciousness is established and grows, there is a descent of name-and-form. Where there is a descent of name-and-form, there is a growth of formations. Where there is a growth of formations, there is in the future a manifestation of renewed existence. Where there is in the future a manifestation of renewed existence, there is in the future birth, aging, and death. Where there is in the future birth, aging, and death, that, I say, bhikkhus, is with sorrow, with distress, and with despair. This is the designation of the source for both suffering and its origin.
Nếu có đối với xúc thực... tương tự... nếu có đối với tư niệm thực. Này các Tỳ kheo, nếu có tham, có hỷ, có ái đối với thức thực, thì thức được an trú và tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, nơi đó có sự xuất hiện của danh sắc. Nơi nào có sự xuất hiện của danh sắc, nơi đó có sự gia tăng của các hành. Nơi nào có sự gia tăng của các hành, nơi đó có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó có sanh, già, chết trong tương lai. Nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó có sầu, có lo âu, có khổ não. Đây là chế định về nguồn gốc của khổ và tập.
Kabaḷīkāre ce, bhikkhave †, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.
Bhikkhus, if there is no passion, no delight, and no craving for physical food as nutriment, consciousness is not established there and does not grow. Where consciousness is not established and does not grow, there is no descent of name-and-form. Where there is no descent of name-and-form, there is no growth of formations. Where there is no growth of formations, there is no future manifestation of renewed existence. Where there is no future manifestation of renewed existence, there is no future birth, aging, and death. Where there is no future birth, aging, and death, that, I say, bhikkhus, is without sorrow, without distress, and without despair.
Này các Tỳ kheo, nếu không có tham, không có hỷ, không có ái đối với đoàn thực, thì thức không được an trú và không tăng trưởng ở đó. Nơi nào thức không được an trú và không tăng trưởng, nơi đó không có sự xuất hiện của danh sắc. Nơi nào không có sự xuất hiện của danh sắc, nơi đó không có sự gia tăng của các hành. Nơi nào không có sự gia tăng của các hành, nơi đó không có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sanh trong tương lai, nơi đó không có sanh, già, chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng nơi đó không sầu, không lo âu, không khổ não.
Phasse ce…pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre. Viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.
If, bhikkhus, for contact as nutriment... if for mental volition as nutriment... if, bhikkhus, for consciousness as nutriment, there is no passion, no delight, and no craving, consciousness is not established there and does not grow. Where consciousness is not established and does not grow, there is no descent of name-and-form. Where there is no descent of name-and-form, there is no growth of formations. Where there is no growth of formations, there is no future manifestation of renewed existence. Where there is no future manifestation of renewed existence, there is no future birth, aging, and death. Where there is no future birth, aging, and death, that, I say, bhikkhus, is without sorrow, without distress, and without despair.
Này các Tỳ khưu, nếu trong xúc thực... này các Tỳ khưu, nếu trong tư niệm thực... Này các Tỳ khưu, nếu trong thức thực không có tham ái, không có hỷ lạc, không có khát ái, thì ở đó thức không được an lập, không tăng trưởng. Nơi nào thức không được an lập, không tăng trưởng, thì ở đó không có sự đi xuống của danh sắc. Nơi nào không có sự đi xuống của danh sắc, thì ở đó không có sự tăng trưởng của các hành. Nơi nào không có sự tăng trưởng của các hành, thì ở đó không có sự tái sanh trong tương lai. Nơi nào không có sự tái sanh trong tương lai, thì ở đó không có sanh, già, chết trong tương lai. Nơi nào không có sanh, già, chết trong tương lai, này các Tỳ khưu, Ta nói rằng nơi ấy không sầu, không muộn, không phiền não.
Ayaṃ pariññāpaññatti dukkhassa, pahānapaññatti samudayassa, bhāvanāpaññatti maggassa, sacchikiriyāpaññatti nirodhassa.
This is the designation of the full understanding of suffering, the designation of the abandoning of the origin, the designation of the development of the path, and the designation of the realization of cessation.
Đây là sự chế định về liễu tri đối với khổ, sự chế định về đoạn tận đối với tập, sự chế định về tu tập đối với đạo, sự chế định về chứng ngộ đối với diệt.
40. Samādhiṃ, bhikkhave, bhāvetha. Appamatto nipako sato, samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūtaṃ pajānāti. Kiñca yathābhūtaṃ pajānāti? ‘‘Cakkhu † anicca’’nti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Rūpā aniccā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti ‘‘cakkhuviññāṇaṃ anicca’’nti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Cakkhusamphasso anicco’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Yampidaṃ † cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi aniccanti yathābhūtaṃ pajānāti.
40. Bhikkhus, develop concentration. A bhikkhu who is diligent, discerning, and mindful, being concentrated, bhikkhus, knows things as they really are. And what does he know as it really is? He knows as it really is: ‘The eye is impermanent.’ He knows as it really is: ‘Forms are impermanent.’ He knows as it really is: ‘Eye-consciousness is impermanent.’ He knows as it really is: ‘Eye-contact is impermanent.’ Whatever feeling arises on account of eye-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—he knows as it really is that this too is impermanent.
40. Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có định, không buông lung, thận trọng, chánh niệm, tuệ tri như thật. Và tuệ tri như thật điều gì? Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Mắt là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Các sắc là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Nhãn thức là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Nhãn xúc là vô thường’. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng tuệ tri như thật rằng: ‘Cảm thọ ấy cũng là vô thường’.
Sotaṃ …pe… ghānaṃ…pe… jivhā…pe… kāyo…pe… ‘‘mano anicco’’ti † yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Dhammā aniccā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Manoviññāṇaṃ anicca’’nti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Manosamphasso anicco’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi aniccanti yathābhūtaṃ pajānāti.
The ear… the nose… the tongue… the body… He knows as it really is: ‘The mind is impermanent.’ He knows as it really is: ‘Mental objects are impermanent.’ He knows as it really is: ‘Mind-consciousness is impermanent.’ He knows as it really is: ‘Mind-contact is impermanent.’ Whatever feeling arises on account of mind-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—he knows as it really is that this too is impermanent.
Tai... mũi... lưỡi... thân... Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Ý là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Các pháp là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Ý thức là vô thường’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Ý xúc là vô thường’. Và cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy cũng tuệ tri như thật rằng: ‘Cảm thọ ấy cũng là vô thường’.
Ayaṃ bhāvanāpaññatti maggassa, pariññāpaññatti dukkhassa, pahānapaññatti samudayassa, sacchikiriyāpaññatti nirodhassa.
This is the designation of development for the path, the designation of full understanding for suffering, the designation of abandonment for the origin, and the designation of realization for cessation.
Đây là sự chế định về tu tập đối với đạo, sự chế định về liễu tri đối với khổ, sự chế định về đoạn tận đối với tập, sự chế định về chứng ngộ đối với diệt.
Rūpaṃ, rādha, vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ † karotha, paññāya taṇhakkhayāya paṭipajjatha. Taṇhakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā nibbānaṃ. Vedanaṃ…pe…. Saññaṃ…pe… saṅkhāre viññāṇaṃ vikiratha vidhamatha viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha, paññāya taṇhakkhayāya paṭipajjatha. Taṇhakkhayā dukkhakkhayo, dukkhakkhayā nibbānaṃ.
Rādha, scatter form, disperse it, destroy it, make it afflicted. With wisdom, practice for the destruction of craving. From the destruction of craving comes the destruction of suffering; from the destruction of suffering comes Nibbāna. Feeling… perception… formations… consciousness—scatter them, disperse them, destroy them, make them afflicted. With wisdom, practice for the destruction of craving. From the destruction of craving comes the destruction of suffering; from the destruction of suffering comes Nibbāna.
Này Rādha, hãy phân tán, hãy xua tan, hãy phá hủy, hãy làm cho sắc trở nên tan rã; hãy thực hành với trí tuệ để đoạn tận ái. Do đoạn tận ái nên khổ được đoạn tận, do khổ được đoạn tận nên có Niết Bàn. Thọ... tưởng... các hành... hãy phân tán, hãy xua tan, hãy phá hủy, hãy làm cho thức trở nên tan rã; hãy thực hành với trí tuệ để đoạn tận ái. Do đoạn tận ái nên khổ được đoạn tận, do khổ được đoạn tận nên có Niết Bàn.
Ayaṃ nirodhapaññatti nirodhassa, nibbidāpaññatti assādassa, pariññāpaññatti dukkhassa, pahānapaññatti samudayassa, bhāvanāpaññatti maggassa, sacchikiriyāpaññatti nirodhassa.
This is the designation of cessation for cessation, the designation of disenchantment for gratification, the designation of full understanding for suffering, the designation of abandonment for the origin, the designation of development for the path, and the designation of realization for cessation.
Đây là sự chế định về sự đoạn diệt đối với sự đoạn diệt, sự chế định về sự nhàm chán đối với vị ngọt, sự chế định về liễu tri đối với khổ, sự chế định về đoạn tận đối với tập, sự chế định về tu tập đối với đạo, sự chế định về chứng ngộ đối với diệt.
‘‘So idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
He knows as it really is: ‘This is suffering.’ He knows as it really is: ‘This is the origin of suffering.’ He knows as it really is: ‘This is the cessation of suffering.’ He knows as it really is: ‘This is the practice leading to the cessation of suffering.’
Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’, tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập’, tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt’, tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.
Ayaṃ paṭivedhapaññatti saccānaṃ, nikkhepapaññatti dassanabhūmiyā, bhāvanāpaññatti maggassa, sacchikiriyāpaññatti sotāpattiphalassa. ‘‘So ime āsavā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ āsavasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ āsavanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Ime āsavā asesaṃ nirujjhantī’’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
This is the designation of penetration for the truths, the designation of establishment for the plane of vision, the designation of development for the path, and the designation of realization for the fruit of stream-entry. He knows as it really is: ‘These are the taints.’ He knows as it really is: ‘This is the origin of the taints.’ He knows as it really is: ‘This is the cessation of the taints.’ He knows as it really is: ‘This is the practice leading to the cessation of the taints.’ He knows as it really is: ‘These taints cease without remainder.’
Đây là sự chế định về sự thông suốt các chân lý, sự chế định về sự thiết lập trên kiến địa, sự chế định về sự tu tập đạo, sự chế định về sự chứng ngộ quả Dự lưu. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’, tuệ tri như thật: ‘Đây là tập khởi của các lậu hoặc’, tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc’, tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Các lậu hoặc này được đoạn diệt không còn dư tàn’.
Ayaṃ uppādapaññatti khaye ñāṇassa, okāsapaññatti anuppāde ñāṇassa, bhāvanāpaññatti maggassa, pariññāpaññatti dukkhassa, pahānapaññatti samudayassa, ārambhapaññatti vīriyindriyassa, āsāṭanapaññatti āsāṭikānaṃ, nikkhepapaññatti bhāvanābhūmiyā, abhinighātapaññatti pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ.
This is the designation of the arising of the knowledge of destruction, the designation of the opportunity for the knowledge of non-arising, the designation of the development of the path, the designation of the full understanding of suffering, the designation of the abandonment of the origin, the designation of the exertion of the faculty of energy, the designation of the removal of oppressive defilements, the designation of the establishment in the plane of development, and the designation of the complete striking down of evil, unwholesome states.
Đây là sự chế định về sự sanh khởi của tận trí, sự chế định về cơ hội cho vô sanh trí, sự chế định về sự tu tập đạo, sự chế định về sự liễu tri khổ, sự chế định về sự đoạn tận tập, sự chế định về sự phát khởi cần quyền, sự chế định về sự trừ diệt các pháp áp bức, sự chế định về sự thiết lập trên tu tập địa, sự chế định về sự đập tan các pháp ác bất thiện.
41. Idaṃ ‘‘dukkha’’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Ayaṃ ‘‘dukkhasamudayo’’ti me, bhikkhave…pe… ayaṃ ‘‘dukkhanirodho’’ti me, bhikkhave…pe…. Ayaṃ ‘‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
41. ‘This is suffering’—Bhikkhus, regarding things unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light. ‘This is the origin of suffering’—Bhikkhus… ‘This is the cessation of suffering’—Bhikkhus… ‘This is the practice leading to the cessation of suffering’—Bhikkhus, regarding things unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light.
41. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên nhãn, khởi lên trí, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên quang: ‘Đây là khổ’. Này các Tỳ khưu, ... ‘Đây là khổ tập’... Này các Tỳ khưu, ... ‘Đây là khổ diệt’... Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên nhãn, khởi lên trí, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên quang: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’.
Ayaṃ desanāpaññatti saccānaṃ, nikkhepapaññatti sutamayiyā paññāya sacchikiriyāpaññatti anaññātaññassāmītindriyassa, pavattanāpaññatti dhammacakkassa.
This is the designation of the teaching of the truths, the designation of the establishment of wisdom based on learning, the designation of the realization of the faculty of 'I shall come to know the unknown,' and the designation of the turning of the Wheel of the Dhamma.
Đây là sự chế định về sự thuyết giảng các chân lý, sự chế định về sự thiết lập văn tuệ, sự chế định về sự chứng ngộ vị tri tri quyền, sự chế định về sự chuyển pháp luân.
‘‘Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ pariññeyya’’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘‘So kho panāyaṃ dukkhasamudayo pahātabbo’’ti me, bhikkhave…pe… ‘‘so kho panāyaṃ dukkhanirodho sacchikātabbo’’ti me, bhikkhave…pe… ‘‘sā kho panāyaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā bhāvetabbā’’ti me, bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This suffering is to be fully understood’—Bhikkhus, regarding things unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light. ‘This origin of suffering is to be abandoned’—Bhikkhus… ‘This cessation of suffering is to be realized’—Bhikkhus… ‘This practice leading to the cessation of suffering is to be developed’—Bhikkhus, regarding things unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light.
Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên nhãn, khởi lên trí, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên quang: ‘Khổ này cần phải được liễu tri’. Này các Tỳ khưu, ... ‘Khổ tập này cần phải được đoạn tận’... Này các Tỳ khưu, ... ‘Khổ diệt này cần phải được chứng ngộ’... Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta khởi lên nhãn, khởi lên trí, khởi lên tuệ, khởi lên minh, khởi lên quang: ‘Con đường đưa đến khổ diệt này cần phải được tu tập’.
Ayaṃ bhāvanāpaññatti maggassa, nikkhepapaññatti cintāmayiyā paññāya, sacchikiriyāpaññatti aññindriyassa.
This is the designation of development for the path, the designation of establishment for wisdom based on reflection, and the designation of realization for the faculty of final knowledge.
Đây là sự chế định về sự tu tập đối với đạo đế, là sự chế định về sự đặt để đối với trí tuệ thành tựu do tư duy, là sự chế định về sự chứng ngộ đối với Vô Tri Căn.
‘‘Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ pariññāta’’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘‘So kho panāyaṃ dukkhasamudayo pahīno’’ti me, bhikkhave…pe… ‘‘so kho panāyaṃ dukkhanirodho sacchikato’’ti me, bhikkhave…pe… ‘‘sā kho panāyaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā bhāvitā’’ti me, bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Ayaṃ bhāvanāpaññatti maggassa, nikkhepapaññatti bhāvanāmayiyā paññāya, sacchikiriyāpaññatti aññātāvino indriyassa, pavattanāpaññatti dhammacakkassa.
“‘This Noble Truth of Suffering has been fully understood,’—thus, monks, with regard to dhammas unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light. ‘This Noble Truth of the Origin of Suffering has been abandoned,’—thus, monks… and so forth… ‘This Noble Truth of the Cessation of Suffering has been realized,’—thus, monks… and so forth… ‘This Noble Truth of the Path leading to the Cessation of Suffering has been developed,’—thus, monks, with regard to dhammas unheard before, there arose in me vision, there arose knowledge, there arose wisdom, there arose true knowledge, there arose light. This is the designation of development for the path, the designation of placing for wisdom born of development, the designation of realization for the faculty of one who has finally known, the designation of turning for the Wheel of Dhamma.
‘Này các Tỳ khưu, (ý nghĩ rằng:) “Khổ đế này đã được liễu tri” – đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe, pháp nhãn đã sanh khởi nơi ta, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi. Này các Tỳ khưu, (ý nghĩ rằng:) “Tập đế này đã được đoạn tận”... Này các Tỳ khưu, (ý nghĩ rằng:) “Diệt đế này đã được chứng ngộ”... Này các Tỳ khưu, (ý nghĩ rằng:) “Con đường đưa đến sự diệt khổ này đã được tu tập” – đối với các pháp trước đây chưa từng được nghe, pháp nhãn đã sanh khởi nơi ta, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi. Đây là sự chế định về sự tu tập đối với đạo đế, là sự chế định về sự đặt để đối với trí tuệ thành tựu do tu tập, là sự chế định về sự chứng ngộ đối với Cụ Tri Căn, là sự chế định về sự chuyển vận đối với Pháp luân.
‘‘Tulamatulañca sambhavaṃ, bhavasaṅkhāramavassaji muni;
Ajjhattarato samāhito, abhindi † kavacamivattasambhava’’nti.
The Muni abandoned the measurable and the immeasurable, the origin, the formations of becoming; delighting within, composed, he shattered that which arises from oneself, like armor.
‘Bậc Mâu-ni đã từ bỏ cái có thể đo lường và cái không thể đo lường, là nguyên nhân của sự hiện hữu, là hành tạo tác sự hiện hữu; Ngài hoan hỷ trong nội tâm, định tĩnh, đã phá tan (phiền não) sanh khởi nơi tự thân như (phá tan) áo giáp.’
‘‘Tula’’nti saṅkhāradhātu. ‘‘Atula’’nti nibbānadhātu, ‘‘tulamatulañca sambhava’’nti abhiññāpaññatti sabbadhammānaṃ. Nikkhepapaññatti dhammapaṭisambhidāya. ‘‘Bhavasaṅkhāramavassaji munī’’ti pariccāgapaññatti samudayassa. Pariññāpaññatti dukkhassa. ‘‘Ajjhattarato samāhito’’ti bhāvanāpaññatti kāyagatāya satiyā. Ṭhitipaññatti cittekaggatāya. ‘‘Abhindi kavacamivattasambhava’’nti abhinibbidāpaññatti cittassa, upādānapaññatti sabbaññutāya, padālanāpaññatti avijjaṇḍakosānaṃ. Tenāha bhagavā ‘‘tulamatulañca sambhava’’nti.
“Tula” is the element of formations. “Atula” is the element of Nibbāna. “The measurable and the immeasurable, and the origin” is the designation of higher knowledge of all dhammas. It is the designation of placing for the analytical knowledge of the Dhamma. “The Muni abandoned the formations of becoming” is the designation of abandoning for the origin. It is the designation of full understanding for suffering. “Delighting within, composed” is the designation of development for mindfulness directed to the body. It is the designation of stability for one-pointedness of mind. “He shattered that which arises from oneself, like armor” is the designation of turning towards disenchantment for the mind, the designation of taking up for omniscience, the designation of breaking for the eggshells of ignorance. Therefore, the Blessed One said, “The measurable and the immeasurable, and the origin…”
‘Tula’ là hành giới. ‘Atula’ là Niết-bàn giới. ‘Cái có thể đo lường, cái không thể đo lường, và nguyên nhân của sự hiện hữu’ là sự chế định về thắng trí đối với tất cả các pháp, là sự chế định về sự đặt để đối với Pháp vô ngại giải. ‘Bậc Mâu-ni đã từ bỏ hành tạo tác sự hiện hữu’ là sự chế định về sự từ bỏ đối với tập đế, là sự chế định về sự liễu tri đối với khổ đế. ‘Hoan hỷ trong nội tâm, định tĩnh’ là sự chế định về sự tu tập đối với niệm thân, là sự chế định về sự an trú đối với nhất tâm. ‘Đã phá tan (phiền não) sanh khởi nơi tự thân như (phá tan) áo giáp’ là sự chế định về sự yểm ly đối với tâm, là sự chế định về sự chấp thủ đối với nhất thiết trí, là sự chế định về sự phá vỡ đối với vỏ trứng vô minh. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Cái có thể đo lường và cái không thể đo lường, là nguyên nhân của sự hiện hữu’.
Yo dukkhamaddakkhi yatonidānaṃ, kāmesu so jantu kathaṃ nameyya;
Kāmā hi loke saṅgoti ñatvā, tesaṃ satīmā vinayāya sikkheti.
One who has seen suffering and its origin—how could such a being incline towards sensual pleasures? Having known that sensual pleasures are an entanglement in the world, being mindful, one trains for their removal.
Người nào đã thấy khổ, (thấy) nó từ đâu làm nhân duyên, người ấy làm sao có thể thiên về các dục? Vì biết rằng ‘dục là sự dính mắc trong thế gian’, người có chánh niệm hãy tu học để loại trừ chúng.
‘‘Yo dukkha’’nti vevacanapaññatti ca dukkhassa pariññāpaññatti ca. ‘‘Yatonidāna’’nti pabhavapaññatti ca samudayassa pahānapaññatti ca. ‘‘Addakkhī’’ti vevacanapaññatti ca ñāṇacakkhussa paṭivedhapaññatti ca. ‘‘Kāmesu so jantukathaṃ nameyyā’’ti vevacanapaññatti ca kāmataṇhāya abhinivesapaññatti ca. ‘‘Kāmā hi loke saṅgoti ñatvā’’ti paccatthikato dassanapaññatti kāmānaṃ. Kāmā hi aṅgārakāsūpamā maṃsapesūpamā pāvakakappā papātauragopamā ca. ‘‘Tesaṃ satīmā’’ti apacayapaññatti pahānāya, nikkhepapaññatti kāyagatāya satiyā, bhāvanāpaññatti maggassa. ‘‘Vinayāya sikkhe’’ti paṭivedhapaññatti rāgavinayassa dosavinayassa mohavinayassa. ‘‘Jantū’’ti vevacanapaññatti yogissa. Yadā hi yogī kāmā saṅgoti pajānāti. So kāmānaṃ anuppādāya kusale dhamme uppādayati, so anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya vāyamati. Ayaṃ vāyāmapaññatti appattassa pattiyā. Nikkhepapaññatti oramattikāya asantuṭṭhiyā. Tattha so uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā vāyamatīti ayaṃ appamādapaññatti bhāvanāya, nikkhepapaññatti vīriyindriyassa, ārakkhapaññatti kusalānaṃ dhammānaṃ, ṭhitipaññatti adhicittasikkhāya. Tenāha bhagavā ‘‘yo dukkhamaddakkhi yatonidāna’’nti.
“One who… suffering” is both the designation by synonym for suffering and the designation of full understanding. “From which it originates” is both the designation of the source for the origin and the designation of abandoning. “Has seen” is both the designation by synonym for the eye of knowledge and the designation of penetration. “How could such a being incline towards sensual pleasures?” is both the designation by synonym for sensual craving and the designation of adherence. “Having known that sensual pleasures are an entanglement in the world” is the designation of seeing sensual pleasures as an enemy. For sensual pleasures are like a pit of embers, like a piece of flesh, like a blazing fire, and like a precipice and a snake. “Being mindful of them” is the designation of destruction for the sake of abandoning, the designation of placing for mindfulness directed to the body, and the designation of development for the path. “Trains for their removal” is the designation of penetrating the removal of lust, the removal of hatred, and the removal of delusion. “Being” is the designation by synonym for a yogī. For when a yogī understands that sensual pleasures are an entanglement, he generates wholesome dhammas for the non-arising of sensual pleasures; he strives for the arising of unarisen wholesome dhammas. This is the designation of striving for the attainment of the unattained; it is the designation of placing non-contentment with what is minor. Therein, he strives for the stability of arisen wholesome dhammas—this is the designation of diligence in development, the designation of placing for the faculty of energy, the designation of guarding for wholesome dhammas, and the designation of stability for the training in higher mind. Therefore, the Blessed One said, “One who has seen suffering and its origin…”
‘Người nào khổ’ là sự chế định về từ đồng nghĩa và sự chế định về sự liễu tri đối với khổ. ‘Từ đâu làm nhân duyên’ là sự chế định về nguồn gốc và sự chế định về sự đoạn tận đối với tập đế. ‘Đã thấy’ là sự chế định về từ đồng nghĩa và sự chế định về sự chứng ngộ đối với trí nhãn. ‘Người ấy làm sao có thể thiên về các dục’ là sự chế định về từ đồng nghĩa và sự chế định về sự chấp thủ đối với dục ái. ‘Vì biết rằng dục là sự dính mắc trong thế gian’ là sự chế định về sự thấy các dục như kẻ thù. Vì các dục ví như hố than hừng, ví như miếng thịt, ví như ngọn lửa, ví như hố thẳm và con rắn. ‘Người có chánh niệm đối với chúng’ là sự chế định về sự tiêu trừ để đoạn tận, là sự chế định về sự đặt để đối với niệm thân, là sự chế định về sự tu tập đối với đạo đế. ‘Hãy tu học để loại trừ’ là sự chế định về sự chứng ngộ đối với việc loại trừ tham, loại trừ sân, loại trừ si. ‘Người’ là sự chế định về từ đồng nghĩa đối với hành giả. Vì khi hành giả biết rằng ‘dục là sự dính mắc’, vị ấy làm sanh khởi các pháp thiện để các dục không sanh khởi, vị ấy nỗ lực để làm sanh khởi các pháp thiện chưa sanh khởi. Đây là sự chế định về sự nỗ lực để đạt được điều chưa đạt, là sự chế định về sự đặt để đối với sự không thỏa mãn với điều nhỏ nhoi. Trong đó, (câu) ‘vị ấy nỗ lực để các pháp thiện đã sanh khởi được an trú’ – đây là sự chế định về sự không dể duôi trong tu tập, là sự chế định về sự đặt để đối với tấn căn, là sự chế định về sự bảo hộ các pháp thiện, là sự chế định về sự an trú đối với tăng thượng tâm học. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Người nào đã thấy khổ và nguyên nhân của nó’.
‘‘Mohasambandhano loko, bhabbarūpova dissati;
Upadhibandhano † bālo, tamasā parivārito;
Assirī viya † khāyati, passato natthi kiñcana’’nti.
The world is bound by delusion, appearing as if it were substantial; the fool is bound by attachments, enveloped in darkness. He appears as if without splendor; for one who sees, there is no impediment.
‘Thế gian bị trói buộc bởi si, trông như có vẻ xứng đáng; Kẻ ngu bị trói buộc bởi sanh y, bị bóng tối bao phủ, hiện ra như không có vẻ huy hoàng. Đối với người thấy, không có gì là chướng ngại.’
‘‘Mohasambandhano loko’’ti desanāpaññatti vipallāsānaṃ. ‘‘Bhabbarūpova dissatī’’ti viparītapaññatti lokassa. ‘‘Upadhibandhano bālo’’ti pabhavapaññatti pāpakānaṃ icchāvacarānaṃ, kiccapaññatti pariyuṭṭhānānaṃ. Balavapaññatti kilesānaṃ. Virūhanāpaññatti saṅkhārānaṃ. ‘‘Tamasā parivārito’’ti desanāpaññatti avijjandhakārassa vevacanapaññatti ca. ‘‘Assirī viya khāyatī’’ti dassanapaññatti dibbacakkhussa, nikkhepapaññatti paññācakkhussa. ‘‘Passato natthi kiñcana’’nti paṭivedhapaññatti sattānaṃ, rāgo kiñcanaṃ doso kiñcanaṃ moho kiñcanaṃ. Tenāha bhagavā ‘‘mohasambandhano loko’’ti.
“The world is bound by delusion” is the designation of the teaching on the distortions. “Appears as if it were substantial” is the designation of the inverted appearance of the world. “The fool is bound by attachments” is the designation of the origin of evil desires, the designation of the function of obsessions, the designation of the strength of defilements, the designation of the growth of formations. “Enveloped in darkness” is both the designation of the teaching on the darkness of ignorance and the designation by synonym. “Appears as if without splendor” is the designation of the vision of the divine eye, the designation of placing for the eye of wisdom. “For one who sees, there is no impediment” is the designation of penetrating the nature of beings: lust is an impediment, hatred is an impediment, delusion is an impediment. Therefore, the Blessed One said, “The world is bound by delusion…”
‘Thế gian bị trói buộc bởi si’ là sự chế định về sự thuyết giảng đối với các điên đảo. ‘Trông như có vẻ xứng đáng’ là sự chế định về sự điên đảo của thế gian. ‘Kẻ ngu bị trói buộc bởi sanh y’ là sự chế định về nguồn gốc của các ác dục, là sự chế định về phận sự của các triền cái, là sự chế định về sức mạnh của các phiền não, là sự chế định về sự tăng trưởng của các hành. ‘Bị bóng tối bao phủ’ là sự chế định về sự thuyết giảng và sự chế định về từ đồng nghĩa đối với bóng tối vô minh. ‘Hiện ra như không có vẻ huy hoàng’ là sự chế định về sự thấy của thiên nhãn, là sự chế định về sự đặt để đối với tuệ nhãn. ‘Đối với người thấy, không có gì là chướng ngại’ là sự chế định về sự chứng ngộ các chướng ngại của chúng sanh: tham là chướng ngại, sân là chướng ngại, si là chướng ngại. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói: ‘Thế gian bị trói buộc bởi si’.
‘‘Atthi, bhikkhave, ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ, no cetaṃ, bhikkhave, abhavissa ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ. Nayidha † jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyetha. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ, tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyatī’’ti.
Monks, there is an unborn, unbecome, unmade, unconditioned. If, monks, there were not this unborn, unbecome, unmade, unconditioned, then an escape from the born, become, made, conditioned would not be discerned here. But because, monks, there is an unborn, unbecome, unmade, unconditioned, therefore an escape from the born, become, made, conditioned is discerned.
‘Này các Tỳ khưu, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị tác thành, không do duyên tạo. Này các Tỳ khưu, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị tác thành, không do duyên tạo này, thì ở đây, sự thoát ly khỏi cái đã sanh, đã hiện hữu, đã bị tác thành, đã do duyên tạo, sẽ không được biết đến. Và này các Tỳ khưu, vì thật sự có cái không sanh, không hiện hữu, không bị tác thành, không do duyên tạo, do đó, sự thoát ly khỏi cái đã sanh, đã hiện hữu, đã bị tác thành, đã do duyên tạo, được biết đến.’
‘‘No cetaṃ, bhikkhave, abhavissa ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhata’’nti desanāpaññatti nibbānassa vevacanapaññatti ca. ‘‘Nayidha jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyethā’’ti vevacanapaññatti saṅkhatassa upanayanapaññatti ca. ‘‘Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhata’’nti vevacanapaññatti nibbānassa jotanāpaññatti ca. ‘‘Tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyatī’’ti ayaṃ vevacanapaññatti nibbānassa, niyyānikapaññatti maggassa, nissaraṇapaññatti saṃsārato. Tenāha bhagavā ‘‘no cetaṃ, bhikkhave, abhavissā’’ti. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘ekaṃ bhagavā dhammaṃ, paññattīhi vividhāhi desetī’’ti.
“Monks, if there were not this unborn, unbecome, unmade, unconditioned”—this is the designation of the teaching and the designation by synonym for Nibbāna. “Indeed, no escape would be discerned from what is born, become, made, conditioned”—this is the designation by synonym for the conditioned and the designation of application. “But since, monks, there is the unborn, unbecome, unmade, unconditioned”—this is the designation by synonym for Nibbāna and the designation of illumination. “Therefore, an escape is discerned from what is born, become, made, conditioned”—this is the designation by synonym for Nibbāna, the designation of leading out for the path, and the designation of escape from saṃsāra. Thus the Blessed One said: “Monks, if there were not this.” Thus the Venerable Mahākaccāyana said: “The Blessed One teaches one Dhamma with various designations.”
“Này các Tỳ khưu, nếu pháp không sanh, không hữu, không tác, không hữu vi này không có” là sự chế định về thuyết giảng và là sự chế định về đồng nghĩa của Níp-bàn. “Sự xuất ly khỏi pháp đã sanh, đã hữu, đã tác, đã hữu vi sẽ không được biết đến ở đây” là sự chế định về đồng nghĩa của pháp hữu vi và là sự chế định về sự dẫn đến. “Và này các Tỳ khưu, vì rằng có pháp không sanh, không hữu, không tác, không hữu vi” là sự chế định về đồng nghĩa của Níp-bàn và là sự chế định về sự làm sáng tỏ. “Do đó, sự xuất ly khỏi pháp đã sanh, đã hữu, đã tác, đã hữu vi được biết đến” đây là sự chế định về đồng nghĩa của Níp-bàn, là sự chế định về sự hướng đến của đạo, là sự chế định về sự thoát khỏi vòng luân hồi. Do đó, đức Thế Tôn đã nói: “Này các Tỳ khưu, nếu pháp này không có”. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyana đã nói: “Đức Thế Tôn thuyết giảng một pháp bằng nhiều sự chế định khác nhau”.
Niyutto paññatti hāro.
The Hāra on Designations is set forth.
Phần Hướng Dẫn về Chế Định đã được trình bày.