Bản dịch
NE 13 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Từ Đồng Nghĩa
Vevacanahāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa là cách nào? “Có nhiều từ đồng nghĩa ...” Giống như đức Thế Tôn diễn giải một pháp thông qua những từ đồng nghĩa tương đương. Giống như đức Thế Tôn đã nói:
1. “Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên (tham ái) đã được thiết lập ở nhiều yếu tố, đã khởi tham muốn, có gốc rễ và nguồn phát khởi từ sự không biết, tất cả cùng với gốc rễ đã được Ta làm chấm dứt.”
Gọi là sự mong mỏi nói đến sự mong ước về lợi ích sẽ có, sự mong mỏi sanh khởi đến vị này rằng: ‘Chắc chắn nó sẽ đến.’ Gọi là sự mong cầu là ước nguyện về lợi ích thuộc thời hiện tại, hoặc là sau khi nhìn thấy ai đó giỏi hơn thì có sự mong cầu sanh khởi đến vị này rằng: ‘Mong sao ta sẽ là như người này.’ Sự bảo vệ thành quả của lợi ích gọi là sự thích thú, hoặc là thích thú thân quyến đáng yêu, hoặc thích thú đối tượng đáng yêu, hoặc thích thú bởi vì không đáng ghét. Nhiều yếu tố: là nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thinh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới. Các mũi tên: là những gì thiên về sắc, những gì thiên về thinh, những gì thiên về hương, những gì thiên về vị, những gì thiên về xúc, những gì thiên về pháp. Ở đấy, sáu ưu tâm liên quan đến tại gia, sáu hỷ tâm liên quan đến tại gia, sáu ưu tâm liên quan đến xuất ly, sáu hỷ tâm liên quan đến xuất ly, hai mươi bốn thuật ngữ này là nhóm tham ái; đây là từ đồng nghĩa của tham ái. Sáu xả liên quan đến tại gia, cái này là nhóm tà kiến. Chính cái ấy với biểu hiện ước nguyện là ‘niềm vui ở pháp, sự yêu mến pháp, sự bám chặt vào pháp,’ đây là từ đồng nghĩa của tham ái.
‘Tâm, ý, thức,’ đây là từ đồng nghĩa của tâm. ‘Ý quyền, ý giới, ý xứ, sự nhận thức,’ đây là từ đồng nghĩa của ý.
Tuệ quyền, tuệ lực, sự học tập về thắng tuệ, tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, trí, chánh kiến, sự xét đoán, minh sát, trí về pháp, trí về ý nghĩa, trí về sự suy luận, trí về sự diệt trừ, trí về sự không còn tái sanh, vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền, nhãn, minh, trí giác ngộ, sự thông thái, sự thông minh, ánh sáng, hoặc hơn nữa bất cứ cái gì khác có tính chất như vậy; đây là từ đồng nghĩa của tuệ. Năm quyền xuất thế gian, tất cả là tuệ, thậm chí luôn cả tín với ý nghĩa chủ đạo, tấn với ý nghĩa ra sức, niệm với ý nghĩa không lơ là, định với ý nghĩa không tán loại, tuệ với ý nghĩa nhận biết.
Và giống như đã được nói ở tùy niệm Phật (rằng): “Thật vậy, bậc đáng kính trọng ấy là: A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, bậc đã đi đến thành quả của lực, đã đạt được pháp tự tin, có tuệ phân tích đã được chứng đạt, đã lìa bỏ bốn sự ràng buộc, đã vượt qua khỏi việc đi đến sự sai trái, có mũi tên đã được lấy lên, có vết thương đã được lành hẳn, có gai nhọn đã được nghiền nát, có thành kiến đã được dập tắt, đã qua khỏi sự giam cầm, có sự tháo tung khỏi sự trói buộc, đã vượt qua khỏi tập tính, có bóng tối đã được phá vỡ, vị có mắt, đã vượt qua hẳn pháp thế gian, đã được thoát khỏi sự chiều chuộng và sự chống đối ở các pháp được ưa thích và không được ưa thích, đã đi đến việc không tích lũy (công hạnh), đã vượt quá sự giam cầm, có cuộc chiến đấu đã được dừng lại, vị trên cả tuyệt vời, vị cầm cây đuốc, vị tạo ra sự soi sáng, vị tạo ra sự sáng rực, vị xóa tan sự tăm tối, vị rũ bỏ bụi bặm, có phẩm hạnh vô lượng, có phẩm hạnh không thể đo lường, có phẩm hạnh không thể tính đếm, vị tạo ra ánh sáng, vị tạo ra sự phát sáng, vị tạo ra hào quang của Giáo Pháp,” và “chư Thế Tôn là các bậc đã giác ngộ;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Phật.
Và giống như đã được nói ở tùy niệm Pháp (rằng): “Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng, có thể thấy được bởi tự thân, không bị chi phối bởi thời gian, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết-bàn), và nên được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ,” tức là sự nghiền nát sự say đắm, sự xua đi khao khát, sự thủ tiêu chỗ tàng trữ, sự cắt dứt vòng luân chuyển, không tánh, điều vô cùng khó đạt, sự diệt trừ tham ái, sự xa lìa luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn.
2. “Không tạo tác, không giới hạn, và không lậu hoặc, và là sự thật, bờ kia, tinh tế, vô cùng khó nhận ra, không già, bền vững, và không bị tan vỡ, không biểu lộ, không chướng ngại, và an tịnh.
3. Là bất tử, hảo hạng, may mắn, và an toàn, sự diệt trừ tham ái, kỳ diệu, và phi thường, không tai họa, hoặc là trạng thái không có tai họa, cái ấy là Niết Bàn, đã được đấng Thiện Thệ chỉ bảo.
4. Không sanh, không hiện hữu, và không có bất hạnh, không làm ra, không sầu muộn, và lìa khỏi sầu muộn, không nguy hiểm, trạng thái không có nguy hiểm, cái ấy là Niết Bàn, đã được đấng Thiện Thệ chỉ bảo.
5. Thật thâm sâu, và khó nhìn thấy, vô thượng, và tối thượng, không sánh bằng, không tương đương, đứng đầu, hạng nhất” được đề cập.
6. Là nơi trú ẩn, nơi nương náu, không ô nhiễm, không vết nhơ, không khuyết điểm, điều ấy được gọi là ‘không bị lấm nhơ,’ là hòn đảo, là sự an lạc, là không giới hạn, là chỗ đứng, là không sở hữu, không có chướng ngại,” điều đã nói là như thế.
Đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Pháp,.
Và giống như đã được nói ở tùy niệm Tăng (rằng): “Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã khéo được huấn luyện. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện đúng đắn. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện có phương pháp. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện làm tròn nhiệm vụ. Điều trên có nghĩa là thế này: bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả là tám). Tăng chúng đệ tử ấy của đức Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được thân cận, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là ruộng phước vô thượng của thế gian, được đầy đủ giới, được đầy đủ định, được đầy đủ tuệ, được đầy đủ giải thoát, được đầy đủ tri kiến về giải thoát, là cốt lõi của chúng sanh, là tinh hoa của chúng sanh, là phần chọn lọc của chúng sanh, là trụ cột của chúng sanh, là hoa thơm của chúng sanh, là đáng được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Tăng.
Và giống như đã được nói ở tùy niệm Giới (rằng): “Những giới nào không bị bể vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, thuộc bậc Thánh, được bậc Thánh ưa thích, được tự tại, được các bậc trí ngợi khen, không hoen ố, đưa đến định, và giới là vật trang sức cho việc làm đẹp cái đầu, giới là của cải cất giấu với ý nghĩa vượt qua mọi sự xui xẻo, giới là tài nghệ cho việc bắn trúng nhanh như tia chớp, giới là giới hạn với ý nghĩa không vượt qua, giới là thóc lúa với ý nghĩa chặn đứng sự nghèo khó, giới là tấm gương cho việc quan sát các pháp, giới là tòa lâu đài với ý nghĩa quan sát, và giới có sự vận hành ở các cõi và có Bất Tử là điểm cuối cùng;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Giới.
Và giống như đã được nói ở tùy niệm Thí (rằng): “Vào lúc vị Thánh Thinh Văn sống tại gia, có sự xả thí rộng mở, có bàn tay đưa ra, vui thích trong việc buông bỏ, có sự đáp ứng việc cầu xin, vui thích trong việc bố thí và san sẻ;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Thí. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Có nhiều từ đồng nghĩa ...”
Cách Truyền Đạt Bằng Từ Đồng Nghĩa được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
37. Tattha katamo vevacano hāro? ‘‘Vevacanāni bahūnī’’ti. Yathā ekaṃ bhagavā dhammaṃ aññamaññehi vevacanehi niddisati. Yathāha bhagavā –
37. Herein, what is the exposition of synonyms? 'There are many synonyms.' It is how the Blessed One indicates one phenomenon with various synonyms. As the Blessed One said:
37. Trong các phương pháp ấy, phương pháp đồng nghĩa là gì? Đó là ‘nhiều từ đồng nghĩa.’ Giống như việc Đức Thế Tôn chỉ dạy một pháp bằng nhiều từ đồng nghĩa khác nhau. Như Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Āsā ca pihā abhinandanā ca, anekadhātūsu sarā patiṭṭhitā;
Aññāṇamūlappabhavā pajappitā, sabbā mayā byantikatā samūlikā’’ti.
“Hope, longing, and delight, the currents established in the many elements, the aspirations originating from the root of ignorance—all these, together with their root, have been eliminated by me.”
‘Hy vọng, mong cầu, và hoan hỷ, sự luyến ái và an trú trong nhiều giới; những ước vọng phát sinh từ gốc rễ vô minh, tất cả đã được Ta đoạn trừ cùng với gốc rễ của chúng.’
Āsā nāma vuccati yā bhavissassa atthassa āsīsanā † avassaṃ āgamissatīti āsāssa uppajjati. Pihā nāma yā vattamānassa † atthassa patthanā, seyyataraṃ vā disvā ‘‘ediso bhaveyya’’nti pihāssa uppajjati. Atthanipphattipaṭipālanā abhinandanā nāma, piyaṃ vā ñātiṃ abhinandati, piyaṃ vā dhammaṃ abhinandati, appaṭikūlato vā abhinandati.
Hope is the name for the aspiration for a future benefit; hope arises for one with the thought, ‘It will surely come.’ Longing is the name for the desire for a present benefit; or, having seen something better, longing arises for one with the thought, ‘May I have such a thing.’ Delight is the name for awaiting the fulfillment of a benefit. One delights in a beloved relative, or one delights in a beloved phenomenon, or one delights through non-repulsion.
Hy vọng (āsā) được gọi là sự mong mỏi về một điều sẽ có trong tương lai; hy vọng khởi lên nơi người ấy rằng: ‘Điều đó chắc chắn sẽ đến với ta.’ Mong cầu (pihā) là sự ước muốn về một điều đang có ở hiện tại; hoặc khi thấy một điều gì tốt đẹp hơn, mong cầu khởi lên nơi người ấy rằng: ‘Mong sao ta cũng có được thứ như vậy.’ Hoan hỷ (abhinandanā) là sự chờ đợi thành quả của một điều gì đó; người ấy hoan hỷ với người thân yêu, hoan hỷ với một pháp ưa thích, hoặc hoan hỷ một cách không ghê tởm.
Anekadhātūti cakkhudhātu rūpadhātu cakkhuviññāṇadhātu, sotadhātu saddadhātu sotaviññāṇadhātu, ghānadhātu gandhadhātu ghānaviññāṇadhātu, jivhādhātu rasadhātu jivhāviññāṇadhātu, kāyadhātu phoṭṭhabbadhātu kāyaviññāṇadhātu, manodhātu dhammadhātu manoviññāṇadhātu.
The many elements are: the eye element, the form element, the eye-consciousness element; the ear element, the sound element, the ear-consciousness element; the nose element, the odor element, the nose-consciousness element; the tongue element, the taste element, the tongue-consciousness element; the body element, the tangible object element, the body-consciousness element; the mind element, the mental object element, the mind-consciousness element.
Nhiều giới (anekadhātu) là: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.
Sarāti keci rūpādhimuttā keci saddādhimuttā keci gandhādhimuttā keci rasādhimuttā keci phoṭṭhabbādhimuttā keci dhammādhimuttā. Tattha yāni cha gehasitāni domanassāni yāni ca cha gehasitāni somanassāni yāni ca cha nekkhammasitāni domanassāni yāni ca cha nekkhammasitāni somanassāni, imāni catuvīsapadāni taṇhāpakkho, taṇhāya etaṃ vevacanaṃ. Yā cha upekkhā gehasitā, ayaṃ diṭṭhipakkho.
Flowing: some are intent on forms, some are intent on sounds, some are intent on odors, some are intent on tastes, some are intent on tangibles, some are intent on mental objects. Herein, the six kinds of displeasure based on the household life, the six kinds of pleasure based on the household life, the six kinds of displeasure based on renunciation, and the six kinds of pleasure based on renunciation—these twenty-four items are the side of craving; this is a synonym for craving. The six kinds of equanimity based on the household life are the side of views.
Sự luyến ái (sarā) là: một số người thiên về sắc, một số thiên về thanh, một số thiên về hương, một số thiên về vị, một số thiên về xúc, một số thiên về pháp. Trong đó, sáu ưu liên quan đến thế tục, sáu hỷ liên quan đến thế tục, sáu ưu liên quan đến xuất ly, và sáu hỷ liên quan đến xuất ly, hai mươi bốn khoản này thuộc về phần ái, đây là từ đồng nghĩa của ái. Sáu xả liên quan đến thế tục, đây là phần kiến.
38. Sāyeva patthanākārena dhammanandī dhammapemaṃ dhammajjhosānanti taṇhāya etaṃ vevacanaṃ. Cittaṃ mano viññāṇanti cittassa etaṃ vevacanaṃ. Manindriyaṃ manodhātu manāyatanaṃ vijānanāti manassetaṃ vevacanaṃ. Paññindriyaṃ paññābalaṃ adhipaññā sikkhā paññā paññākkhandho dhammavicayasambojjhaṅgo ñāṇaṃ sammādiṭṭhi tīraṇā vipassanā dhamme ñāṇaṃ atthe ñāṇaṃ anvaye ñāṇaṃ khaye ñāṇaṃ anuppāde ñāṇaṃ anaññātaññassāmītindriyaṃ aññindriyaṃ aññātāvindriyaṃ cakkhu vijjā buddhi bhūri medhā āloko, yaṃ vā pana yaṃ kiñci aññaṃpi evaṃ jātiyaṃ, paññāya etaṃ vevacanaṃ. Pañcindriyāni lokuttarāni, sabbā paññā. Api ca ādhipateyyaṭṭhena saddhā, ārambhaṭṭhena vīriyaṃ, apilāpanaṭṭhena sati, avikkhepaṭṭhena samādhi, pajānanaṭṭhena paññā.
38. That same craving, in the manner of longing, is delight in phenomena, love for phenomena, and devouring of phenomena—this is a synonym for craving. Citta, mano, and viññāṇa—this is a synonym for citta. The mind faculty, the mind element, the mind base, cognition—this is a synonym for mano. The wisdom faculty, the wisdom power, the training in higher wisdom, wisdom, the wisdom aggregate, the enlightenment factor of investigation of phenomena, knowledge, right view, judgment, insight, knowledge of phenomena, knowledge of the goal, knowledge of logical consequence, knowledge of destruction, knowledge of non-arising, the faculty of ‘I will come to know the unknown,’ the faculty of final knowledge, the faculty of one who has final knowledge, the eye, true knowledge, intelligence, breadth of wisdom, sagacity, light—or whatever other term of this kind there may be—this is a synonym for wisdom. The five faculties are supramundane; the other kinds of wisdom spoken of are a mixture of mundane and supramundane. Furthermore: faith is so in the sense of sovereignty, energy in the sense of exertion, mindfulness in the sense of not floating away, concentration in the sense of non-distraction, and wisdom in the sense of comprehensive knowing.
38. Chính ái ấy, dưới hình thức mong cầu, là hỷ trong pháp (dhammanandī), yêu mến pháp (dhammapemaṃ), tham đắm pháp (dhammajjhosāna); đây là từ đồng nghĩa của ái. Tâm (cittaṃ), ý (mano), thức (viññāṇaṃ); đây là từ đồng nghĩa của tâm (citta). Ý căn (manindriyaṃ), ý giới (manodhātu), ý xứ (manāyatanaṃ), sự hiểu biết (vijānanā); đây là từ đồng nghĩa của ý (manas). Tuệ căn (paññindriyaṃ), tuệ lực (paññābalaṃ), tăng thượng tuệ học (adhipaññā sikkhā), tuệ (paññā), tuệ uẩn (paññākkhandho), trạch pháp giác chi (dhammavicayasambojjhaṅgo), trí (ñāṇaṃ), chánh kiến (sammādiṭṭhi), sự thẩm sát (tīraṇā), minh sát (vipassanā), trí về pháp (dhomme ñāṇaṃ), trí về nghĩa (atthe ñāṇaṃ), trí tùy theo (anvaye ñāṇaṃ), trí về sự đoạn tận (khaye ñāṇaṃ), trí về sự không sanh (anuppāde ñāṇaṃ), vị tri đương tri căn (anaññātaññassāmītindriyaṃ), dĩ tri căn (aññindriyaṃ), cụ tri căn (aññātāvindriyaṃ), mắt (trí tuệ) (cakkhu), minh (vijjā), sự giác ngộ (buddhi), sự rộng lớn (của trí tuệ) (bhūri), sự thông minh (medhā), ánh sáng (āloko), và bất kỳ từ nào khác cùng loại như vậy, đây là từ đồng nghĩa của tuệ (paññā). Năm căn là siêu thế. Tất cả là tuệ. Lại nữa, tín (saddhā) có nghĩa là làm chủ; tinh tấn (vīriyaṃ) có nghĩa là khởi sự; niệm (sati) có nghĩa là không trôi nổi; định (samādhi) có nghĩa là không phân tán; tuệ (paññā) có nghĩa là biết rõ.
Yathā ca buddhānussatiyaṃ vuttaṃ itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā. Balanipphattigato vesārajjappatto adhigatappaṭisambhido catuyogavippahīno agatigamanavītivatto uddhaṭasallo nirūḷhavaṇo madditakaṇḍako nibbāpitapariyuṭṭhāno † bandhanātīto ganthaviniveṭhano ajjhāsayavītivatto bhinnandhakāro cakkhumā lokadhammasamatikkanto anurodhavirodhavippayutto iṭṭhāniṭṭhesu dhammesu asaṅkhepagato bandhanātivatto ṭhapitasaṅgāmo abhikkantataro ukkādharo ālokakaro pajjotakaro tamonudo raṇañjaho aparimāṇavaṇṇo appameyyavaṇṇo asaṅkheyyavaṇṇo ābhaṃkaro pabhaṃkaro dhammobhāsapajjotakaroti ca buddhā bhagavantoti ca buddhānussatiyā etaṃ vevacanaṃ.
And as it is said in the recollection of the Buddha: ‘For this reason, the Blessed One is an Arahant… for this reason, he is the Blessed One.’ He has attained the powers, reached fearlessness, acquired the analytical knowledges, is freed from the four yokes, has overcome wrong courses, has extracted the dart, has a healed wound, has crushed the thorns, has extinguished the obsessions, has gone beyond bondage, has unraveled the knots, has overcome inclinations, has dispelled the darkness, is endowed with the eye, has transcended worldly conditions, is free from attraction and repulsion towards desirable and undesirable phenomena, has gone to the incalculable, has laid down the battle, is most excellent, a torch-bearer, a light-maker, an illuminator, a dispeller of darkness, one who has abandoned turmoil, of limitless virtue, of immeasurable virtue, of incalculable virtue, a maker of radiance, a maker of splendor, one who illuminates with the light of the Dhamma. And the term ‘Buddhas, Blessed Ones’ is also a synonym used in the recollection of the Buddha.
Và như đã được nói trong phần Tùy niệm Phật: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài là bậc đã thành tựu các lực, đã đạt đến các pháp vô sở úy, đã chứng đắc các pháp vô ngại giải, đã đoạn trừ bốn loại ách phược, đã vượt qua sự đi đến nơi không nên đến, đã nhổ lên mũi tên (phiền não), có vết thương đã lành, đã dẫm nát gai góc, đã dập tắt sự tấn công (của phiền não), đã vượt qua sự trói buộc, đã tháo gỡ các kết phược, đã vượt qua các khuynh hướng, đã phá tan bóng tối, là bậc có mắt, đã vượt qua các pháp thế gian, đã thoát khỏi sự thuận và nghịch đối với các pháp khả ý và bất khả ý, đã đi đến nơi không thể tính đếm, đã vượt qua sự trói buộc, đã đặt xuống cuộc chiến, là bậc siêu việt hơn cả những người siêu việt, là người mang đuốc, là người tạo ra ánh sáng, là người tạo ra sự rực rỡ, là người xua tan bóng tối, là người từ bỏ bụi bặm (phiền não), có phẩm hạnh vô lượng, có phẩm hạnh không thể đo lường, có phẩm hạnh không thể đếm xiết, là người tạo ra hào quang, là người tạo ra ánh sáng rực rỡ, là người tạo ra sự rực rỡ bằng ánh sáng của Chánh pháp. Và ‘các vị Phật, các vị Thế Tôn’ – đây là những từ đồng nghĩa trong phần Tùy niệm Phật.
Yathā ca dhammānussatiyaṃ vuttaṃ svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko † paccattaṃ veditabbo viññūhi. Yadidaṃ madanimmadano pipāsavinayo ālayasamugghāṭo vaṭṭūpacchedo suññato atidullabho taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ.
And as it is said in the recollection of the Dhamma: ‘The Dhamma is well-proclaimed by the Blessed One, visible here and now, immediate, inviting one to come and see, leading onward, to be personally realized by the wise.’ This is the subduing of intoxication, the removal of thirst, the uprooting of attachment, the cutting off of the round of existence, voidness, the exceedingly rare, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.
Và như đã được nói trong phần Tùy niệm Pháp: ‘Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, là pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình chứng ngộ.’ Đó là sự dập tắt lòng kiêu mạn, sự trừ bỏ khát ái, sự nhổ lên lòng quyến luyến, sự chấm dứt vòng luân hồi, là tánh không, là điều vô cùng khó đạt được, là sự đoạn tận ái dục, là sự ly tham, là sự diệt, là Niết-bàn.
‘‘Asaṅkhataṃ anataṃ † anāsavañca, saccañca pāraṃ nipuṇaṃ sududdasaṃ;
Ajajjaraṃ dhuvaṃ apalokitaṃ †, anidassanaṃ nippapañca santaṃ.
“The unconditioned, the endless, and the taintless; the true, the further shore, the subtle, the very hard to see; the undecaying, the stable, the imperishable, the invisible, the non-proliferated, the peaceful.”
‘Là pháp vô vi, vô biên, và vô lậu; là chân lý, là bờ kia, vi diệu, rất khó thấy; không già, bền vững, không hoại diệt, không thể chỉ bày, không hý luận, và tịch tịnh.’
‘‘Amataṃ paṇītañca sivañca khemaṃ, taṇhākkhayo acchariyañca abbhutaṃ;
Anītikaṃ anītikadhammaṃ †, nibbānametaṃ sugatena desitaṃ.
“The deathless and excellent, the blissful and secure, the destruction of craving, the wondrous and marvelous; the unafflicted and the unafflicted state—this Nibbāna was taught by the Well-farer.”
‘Là bất tử, cao thượng, an lành và an ổn; là sự đoạn tận ái dục, kỳ diệu và hy hữu; không tai ương, là pháp không tai ương; Niết-bàn này đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng.’
‘‘Ajātaṃ abhūtaṃ anupaddavañca, akataṃ asokañca atho visokaṃ;
Anūpasaggaṃnupasaggadhammaṃ, nibbānametaṃ sugatena desitaṃ.
“The unborn, the unbecome, and the free from calamity; the uncreated, the sorrowless, and free from sorrow; the unafflicted, the unafflicted state—this Nibbāna was taught by the Well-farer.”
‘Là pháp không sanh, không hiện hữu, không bị tai họa; không được tạo tác, không sầu muộn và cũng không phiền não; không bị phiền nhiễu, là pháp không phiền nhiễu; Niết-bàn này đã được bậc Thiện Thệ thuyết giảng.’
‘‘Gambhīrañceva duppassaṃ, uttarañca anuttaraṃ;
Asamaṃ appaṭisamaṃ, jeṭṭhaṃ seṭṭhanti vuccati.
“It is called profound and difficult to see, transcendent and unsurpassed, unequaled and without counterpart, the foremost and the supreme.”
Pháp ấy (Niết-bàn) được gọi là thâm sâu và khó thấy, là tối thượng và vô thượng, là không tương đương và không thể so sánh, là cao cả và tối thắng.
‘‘Leṇañca tāṇaṃ araṇaṃ anaṅgaṇaṃ, akāca metaṃ vimalanti vuccati;
Dīpo sukhaṃ appamāṇaṃ patiṭṭhā, akiñcanaṃ appapañcanti vutta’’nti.
“It is called a shelter, a protection, a place of peace, without defilement, and faultless, immaculate. It is said to be an island, happiness, the immeasurable, a foundation, the state of having nothing, and the non-proliferated.”
Pháp ấy được gọi là nơi ẩn náu, là nơi bảo vệ, là nơi an ổn, không phiền não, không tỳ vết, và trong sạch. Được nói là hòn đảo, là an lạc, là vô lượng, là nơi nương tựa, là vô sở hữu, và không hý luận.
Dhammānussatiyā etaṃ vevacanaṃ.
This is a synonymous expression pertaining to the recollection of the Dhamma.
Đây là những từ đồng nghĩa trong pháp tùy niệm.
Yathā ca saṅghānussatiyaṃ vuttaṃ suppaṭipanno ujuppaṭipanno ñāyappaṭipanno sāmīcippaṭipanno yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa, sīlasampanno samādhisampanno paññāsampanno vimuttisampanno vimuttiñāṇadassanasampanno sattānaṃ sāro sattānaṃ maṇḍo sattānaṃ uddhāro sattānaṃ esikā † sattānaṃ surabhipasūnaṃ pujjo devānañca manussānañcāti saṅghānussatiyā etaṃ vevacanaṃ.
And just as it is said in the recollection of the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Blessed One’s disciples is practicing well, practicing uprightly, practicing in the proper way, practicing with reverence; that is, the four pairs of persons, the eight individual persons. This Saṅgha of the Blessed One’s disciples is worthy of offerings, worthy of hospitality, worthy of oblations, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world. Endowed with virtue, endowed with concentration, endowed with wisdom, endowed with liberation, endowed with the knowledge and vision of liberation, they are the essence for beings, the cream for beings, the deliverance for beings, a pillar for beings, a fragrant flower for beings, worthy of worship by gods and humans.’ This is a synonymous expression pertaining to the recollection of the Saṅgha.
Và như đã được nói trong Tăng tùy niệm: ‘(Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn) là bậc Diệu hạnh, là bậc Trực hạnh, là bậc Ứng lý hạnh, là bậc Chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn ấy là bậc đáng cúng dường, đáng tiếp đón, đáng bố thí, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng của đời.’ (Và cũng là) bậc đầy đủ giới, đầy đủ định, đầy đủ tuệ, đầy đủ giải thoát, đầy đủ giải thoát tri kiến; là tinh túy của chúng sanh, là phần tinh hoa của chúng sanh, là người nâng đỡ chúng sanh, là cột trụ của chúng sanh, là đóa hoa thơm ngát của chúng sanh, đáng được chư thiên và loài người cúng dường. Đây là những từ đồng nghĩa trong Tăng tùy niệm.
Yathā ca sīlānussatiyaṃ vuttaṃ yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni ariyāni ariyakantāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṃvattanikāni, alaṅkāro ca sīlaṃ uttamaṅgopasobhaṇatāya, nidhānañca sīlaṃ sabbadobhaggasamatikkamanaṭṭhena, sippañca sīlaṃ akkhaṇavedhitāya, velā ca sīlaṃ anatikkamanaṭṭhena, dhaññañca sīlaṃ daliddopacchedanaṭṭhena †, ādāso ca sīlaṃ dhammavolokanatāya, pāsādo ca sīlaṃ volokanaṭṭhena, sabbabhūmānuparivatti ca sīlaṃ amatapariyosānanti sīlānussatiyā etaṃ vevacanaṃ.
And just as it is said in the recollection of virtue: ‘Those virtues are unbroken, without gaps, unspotted, unblemished, pure, loved by the noble ones, liberating, praised by the wise, not wrongly grasped, conducive to concentration. And virtue is an adornment, by way of being splendid, and a supreme limb. Virtue is a treasure, in the sense of overcoming all misfortune. Virtue is a craft, by way of piercing in an instant. Virtue is a shore, in the sense of not being transgressed. Virtue is wealth, in the sense of cutting off poverty. Virtue is a mirror, for the purpose of seeing the Dhamma. Virtue is a palace, in the sense of viewing with higher knowledge. Virtue revolves through all planes and culminates in the Deathless.’ This is a synonymous expression pertaining to the recollection of virtue.
Và như đã được nói trong Giới tùy niệm: ‘Những giới luật nào không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị đốm, không bị vằn, là giới của bậc Thánh, được bậc Thánh ưa thích, đem lại sự giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.’ Và giới là đồ trang sức vì làm cho vẻ đẹp trở nên tuyệt hảo; giới là kho tàng vì có ý nghĩa vượt qua mọi bất hạnh; giới là kỹ năng vì có khả năng thấu suốt trong khoảnh khắc; giới là bờ bến vì có ý nghĩa không thể vượt qua; giới là tài sản vì có ý nghĩa chấm dứt sự nghèo khó; giới là tấm gương vì có thể soi thấy các pháp; giới là lâu đài vì có ý nghĩa để quan sát; giới là thứ luân chuyển qua tất cả các cõi và có Bất tử là đích đến cuối cùng. Đây là những từ đồng nghĩa trong Giới tùy niệm.
Yathā ca cāgānussatiyaṃ vuttaṃ yasmiṃ samaye ariyasāvako agāraṃ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṃvibhāgaratoti cāgānussatiyā etaṃ vevacanaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘vevacanāni bahūnī’’ti.
And just as it is said in the recollection of generosity: ‘At whatever time a noble disciple dwells at home with liberal generosity, with hands ready to give, delighting in relinquishment, open to requests, delighting in giving and sharing.’ This is a synonymous expression pertaining to the recollection of generosity. Therefore, the Venerable Mahākaccāyana said: ‘There are many synonyms.’
Và như đã được nói trong Thí tùy niệm: ‘Vào lúc vị Thánh đệ tử sống tại gia, có tâm xả thí rộng rãi, bàn tay sẵn sàng, ưa thích từ bỏ, sẵn lòng cho người xin, ưa thích bố thí và chia sẻ.’ Đây là những từ đồng nghĩa trong Thí tùy niệm. Do đó, Tôn giả Mahākaccāyana đã nói: ‘Có nhiều từ đồng nghĩa.’
Niyutto vevacano hāro.
The mode of synonyms is concluded.
Phần hướng dẫn về từ đồng nghĩa đã được trình bày.