Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 13

Bản dịch

NE 13Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Từ Đồng Nghĩa

Vevacanahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng từ đồng nghĩa là cách nào? “Có nhiều từ đồng nghĩa ...” Giống như đức Thế Tôn diễn giải một pháp thông qua những từ đồng nghĩa tương đương. Giống như đức Thế Tôn đã nói:

1. “Sự mong mỏi, sự mong cầu, và sự thích thú, các mũi tên (tham ái) đã được thiết lập ở nhiều yếu tố, đã khởi tham muốn, có gốc rễ và nguồn phát khởi từ sự không biết, tất cả cùng với gốc rễ đã được Ta làm chấm dứt.”

Gọi là sự mong mỏi nói đến sự mong ước về lợi ích sẽ có, sự mong mỏi sanh khởi đến vị này rằng: ‘Chắc chắn nó sẽ đến.’ Gọi là sự mong cầu là ước nguyện về lợi ích thuộc thời hiện tại, hoặc là sau khi nhìn thấy ai đó giỏi hơn thì có sự mong cầu sanh khởi đến vị này rằng: ‘Mong sao ta sẽ là như người này.’ Sự bảo vệ thành quả của lợi ích gọi là sự thích thú, hoặc là thích thú thân quyến đáng yêu, hoặc thích thú đối tượng đáng yêu, hoặc thích thú bởi vì không đáng ghét. Nhiều yếu tố: là nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới, nhĩ giới, thinh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới, thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới, thân giới, xúc giới, thân thức giới, ý giới, pháp giới, ý thức giới. Các mũi tên: là những gì thiên về sắc, những gì thiên về thinh, những gì thiên về hương, những gì thiên về vị, những gì thiên về xúc, những gì thiên về pháp. Ở đấy, sáu ưu tâm liên quan đến tại gia, sáu hỷ tâm liên quan đến tại gia, sáu ưu tâm liên quan đến xuất ly, sáu hỷ tâm liên quan đến xuất ly, hai mươi bốn thuật ngữ này là nhóm tham ái; đây là từ đồng nghĩa của tham ái. Sáu xả liên quan đến tại gia, cái này là nhóm tà kiến. Chính cái ấy với biểu hiện ước nguyện là ‘niềm vui ở pháp, sự yêu mến pháp, sự bám chặt vào pháp,’ đây là từ đồng nghĩa của tham ái.

‘Tâm, ý, thức,’ đây là từ đồng nghĩa của tâm. ‘Ý quyền, ý giới, ý xứ, sự nhận thức,’ đây là từ đồng nghĩa của ý.

Tuệ quyền, tuệ lực, sự học tập về thắng tuệ, tuệ, tuệ uẩn, trạch pháp giác chi, trí, chánh kiến, sự xét đoán, minh sát, trí về pháp, trí về ý nghĩa, trí về sự suy luận, trí về sự diệt trừ, trí về sự không còn tái sanh, vị tri quyền, dĩ tri quyền, cụ tri quyền, nhãn, minh, trí giác ngộ, sự thông thái, sự thông minh, ánh sáng, hoặc hơn nữa bất cứ cái gì khác có tính chất như vậy; đây là từ đồng nghĩa của tuệ. Năm quyền xuất thế gian, tất cả là tuệ, thậm chí luôn cả tín với ý nghĩa chủ đạo, tấn với ý nghĩa ra sức, niệm với ý nghĩa không lơ là, định với ý nghĩa không tán loại, tuệ với ý nghĩa nhận biết.

Và giống như đã được nói ở tùy niệm Phật (rằng): “Thật vậy, bậc đáng kính trọng ấy là: A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, bậc đã đi đến thành quả của lực, đã đạt được pháp tự tin, có tuệ phân tích đã được chứng đạt, đã lìa bỏ bốn sự ràng buộc, đã vượt qua khỏi việc đi đến sự sai trái, có mũi tên đã được lấy lên, có vết thương đã được lành hẳn, có gai nhọn đã được nghiền nát, có thành kiến đã được dập tắt, đã qua khỏi sự giam cầm, có sự tháo tung khỏi sự trói buộc, đã vượt qua khỏi tập tính, có bóng tối đã được phá vỡ, vị có mắt, đã vượt qua hẳn pháp thế gian, đã được thoát khỏi sự chiều chuộng và sự chống đối ở các pháp được ưa thích và không được ưa thích, đã đi đến việc không tích lũy (công hạnh), đã vượt quá sự giam cầm, có cuộc chiến đấu đã được dừng lại, vị trên cả tuyệt vời, vị cầm cây đuốc, vị tạo ra sự soi sáng, vị tạo ra sự sáng rực, vị xóa tan sự tăm tối, vị rũ bỏ bụi bặm, có phẩm hạnh vô lượng, có phẩm hạnh không thể đo lường, có phẩm hạnh không thể tính đếm, vị tạo ra ánh sáng, vị tạo ra sự phát sáng, vị tạo ra hào quang của Giáo Pháp,” và “chư Thế Tôn là các bậc đã giác ngộ;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Phật.

Và giống như đã được nói ở tùy niệm Pháp (rằng): “Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được thuyết giảng, có thể thấy được bởi tự thân, không bị chi phối bởi thời gian, hãy đến và hãy thấy, có khả năng dẫn dắt về hướng (Niết-bàn), và nên được hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ,” tức là sự nghiền nát sự say đắm, sự xua đi khao khát, sự thủ tiêu chỗ tàng trữ, sự cắt dứt vòng luân chuyển, không tánh, điều vô cùng khó đạt, sự diệt trừ tham ái, sự xa lìa luyến ái, sự diệt tận, Niết Bàn.

2. “Không tạo tác, không giới hạn, và không lậu hoặc, và là sự thật, bờ kia, tinh tế, vô cùng khó nhận ra, không già, bền vững, và không bị tan vỡ, không biểu lộ, không chướng ngại, và an tịnh.

3. Là bất tử, hảo hạng, may mắn, và an toàn, sự diệt trừ tham ái, kỳ diệu, và phi thường, không tai họa, hoặc là trạng thái không có tai họa, cái ấy là Niết Bàn, đã được đấng Thiện Thệ chỉ bảo.

4. Không sanh, không hiện hữu, và không có bất hạnh, không làm ra, không sầu muộn, và lìa khỏi sầu muộn, không nguy hiểm, trạng thái không có nguy hiểm, cái ấy là Niết Bàn, đã được đấng Thiện Thệ chỉ bảo.

5. Thật thâm sâu, và khó nhìn thấy, vô thượng, và tối thượng, không sánh bằng, không tương đương, đứng đầu, hạng nhất” được đề cập.

6. Là nơi trú ẩn, nơi nương náu, không ô nhiễm, không vết nhơ, không khuyết điểm, điều ấy được gọi là ‘không bị lấm nhơ,’ là hòn đảo, là sự an lạc, là không giới hạn, là chỗ đứng, là không sở hữu, không có chướng ngại,” điều đã nói là như thế.

Đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Pháp,.

Và giống như đã được nói ở tùy niệm Tăng (rằng): “Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã khéo được huấn luyện. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện đúng đắn. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện có phương pháp. Tăng chúng đệ tử của đức Thế Tôn đã được huấn luyện làm tròn nhiệm vụ. Điều trên có nghĩa là thế này: bốn cặp hạng người (bốn đôi Đạo Quả), tám hạng người tính đơn (bốn Đạo và bốn Quả là tám). Tăng chúng đệ tử ấy của đức Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được thân cận, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái, là ruộng phước vô thượng của thế gian, được đầy đủ giới, được đầy đủ định, được đầy đủ tuệ, được đầy đủ giải thoát, được đầy đủ tri kiến về giải thoát, là cốt lõi của chúng sanh, là tinh hoa của chúng sanh, là phần chọn lọc của chúng sanh, là trụ cột của chúng sanh, là hoa thơm của chúng sanh, là đáng được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Tăng.

Và giống như đã được nói ở tùy niệm Giới (rằng): “Những giới nào không bị bể vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, thuộc bậc Thánh, được bậc Thánh ưa thích, được tự tại, được các bậc trí ngợi khen, không hoen ố, đưa đến định, và giới là vật trang sức cho việc làm đẹp cái đầu, giới là của cải cất giấu với ý nghĩa vượt qua mọi sự xui xẻo, giới là tài nghệ cho việc bắn trúng nhanh như tia chớp, giới là giới hạn với ý nghĩa không vượt qua, giới là thóc lúa với ý nghĩa chặn đứng sự nghèo khó, giới là tấm gương cho việc quan sát các pháp, giới là tòa lâu đài với ý nghĩa quan sát, và giới có sự vận hành ở các cõi và có Bất Tử là điểm cuối cùng;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Giới.

Và giống như đã được nói ở tùy niệm Thí (rằng): “Vào lúc vị Thánh Thinh Văn sống tại gia, có sự xả thí rộng mở, có bàn tay đưa ra, vui thích trong việc buông bỏ, có sự đáp ứng việc cầu xin, vui thích trong việc bố thí và san sẻ;” đây là từ đồng nghĩa của tùy niệm Thí. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Có nhiều từ đồng nghĩa ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Từ Đồng Nghĩa được kết thúc.