Như Vầy Tôi NgheEvaṃ me sutaṃ
NE 12

Bản dịch

NE 12Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Đảo Ngược

Parivattanahāravibhaṅga

Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự đảo ngược là cách nào? “Ở pháp thiện và bất thiện, ...” Đối với người có chánh kiến thì tà kiến trở nên kiệt quệ; do duyên tà kiến mà nhiều ác bất thiện pháp có thể sanh lên cho người này, và đối với người này chúng trở nên kiệt quệ; do duyên chánh kiến mà nhiều thiện pháp sanh khởi cho người này, và đối với người này chúng đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Đối với người có chánh tư duy thì tà tư duy trở nên kiệt quệ; do duyên tà tư duy mà nhiều ác bất thiện pháp có thể sanh lên cho người này, và đối với người này chúng trở nên kiệt quệ; do duyên chánh tư duy mà nhiều thiện pháp sanh khởi cho người này, và đối với người này chúng đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập. Tương tự như vậy, đối với người có chánh ngữ ―nt― có chánh nghiệp ―nt― có chánh mạng ―nt― có chánh tinh tấn ―nt― có chánh niệm ―nt― có chánh định ―nt― có chánh giải thoát ―nt― có chánh tri kiến về giải thoát thì tà tri kiến về giải thoát trở nên kiệt quệ; do duyên tà tri kiến về giải thoát mà nhiều ác bất thiện pháp có thể sanh lên cho người này, và đối với người này chúng trở nên kiệt quệ; do duyên chánh tri kiến về giải thoát mà nhiều thiện pháp sanh khởi cho người này, và đối với người này chúng đi đến sự đầy đủ nhờ vào tu tập.

Hoặc là, đối với người nào đã tránh xa việc sát sanh thì việc sát sanh được dứt bỏ, đã tránh xa việc trộm cắp thì việc trộm cắp được dứt bỏ, có Phạm hạnh thì phi Phạm hạnh được dứt bỏ, có lời nói chân thật thì việc nói dối được dứt bỏ, có lời nói không đâm thọc thì lời nói đâm thọc được dứt bỏ, có lời nói mềm mỏng thì lời nói thô lỗ được dứt bỏ, có lời nói hợp thời thì việc nói nhảm nhí được dứt bỏ, không tham đắm thì tham đắm được dứt bỏ, không có tâm sân hận thì sân hận được dứt bỏ, có chánh kiến thì tà kiến được dứt bỏ.

Và quả thật, những kẻ nào chê trách Thánh Đạo tám chi phần thì những điều tự thân thấy được, có lý do, của những kẻ ấy tiến đến những học thuyết và những điều suy diễn đáng bị chê trách. Và các vị đại đức ấy chê trách pháp có chánh kiến. Chính vì điều ấy, những kẻ có tà kiến sẽ được tôn vinh và sẽ được ca ngợi bởi các vị đại đức ấy. (Tương tự như vậy,) các vị đại đức ấy chê trách pháp có chánh tư duy ―nt― có chánh ngữ ―nt― có chánh nghiệp ―nt― có chánh mạng ―nt― có chánh tinh tấn ―nt― có chánh niệm ―nt― có chánh định ―nt― có chánh giải thoát ―nt― có chánh tri kiến về giải thoát. Chính vì điều ấy, những kẻ có tà tri kiến về giải thoát sẽ được tôn vinh và sẽ được ca ngợi bởi các vị đại đức ấy. Và quả thật, những kẻ nào đã nói như vầy: “Các dục nên được thọ dụng, các dục nên được thọ hưởng, các dục nên được phục vụ, các dục nên được phục dịch, các dục nên được phát triển, các dục nên được gia tăng;” đối với những kẻ ấy sự tránh xa các dục là phi pháp. Hoặc hơn nữa, những kẻ nào đã nói như vầy: “Sự gắn bó với việc hành hạ bản thân là pháp;” đối với những kẻ ấy pháp dẫn dắt ra khỏi là phi pháp. Và quả thật, những kẻ nào đã nói như vầy: “Khổ hạnh là pháp;” đối với những kẻ ấy pháp an lạc là phi pháp.

Hoặc hơn nữa, giống như đối với vị tỳ khưu trong khi sống có sự quan sát về bất tịnh ở tất cả các sự tạo tác thì tịnh tưởng được dứt bỏ, trong khi sống có sự quan sát về khổ thì lạc tưởng được dứt bỏ, trong khi sống có sự quan sát về vô thường thì thường tưởng được dứt bỏ, trong khi sống có sự quan sát về vô ngã ở tất cả các sự tạo tác thì ngã tưởng được dứt bỏ, hoặc hơn nữa, mỗi một pháp mà vị ấy ưa thích hoặc tiếp cận, cái nào là phần đối nghịch của mỗi một pháp ấy thì chính cái ấy được xem là không được ưa thích bởi vị này. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Ở pháp thiện và bất thiện, ...”

Cách Truyền Đạt Bằng Sự Đảo Ngược được kết thúc.