Bản dịch
NE 11 — Phân Tích Cách Truyền Đạt Bằng Sự Phân Tích
Vibhattihāravibhaṅga
Ở đấy, cách truyền đạt bằng sự phân tích là cách nào? “Giáo pháp và nền tảng, rồi phạm vi ...” Hai loại Kinh: liên quan đến huân tập và liên quan đến thấu triệt. Hai lối thực hành: liên quan đến phước thiện và liên quan đến quả báo. Hai loại giới: giới thu thúc và giới dứt bỏ. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo về kinh liên quan đến huân tập đưa đến lối thực hành liên quan đến phước thiện. Ngài đứng vững ở giới thu thúc; với Phạm hạnh ấy, Ngài là bậc có Phạm hạnh. Ở đấy, đức Thế Tôn chỉ bảo về kinh liên quan đến thấu triệt đưa đến lối thực hành liên quan đến quả báo. Ngài đứng vững ở giới dứt bỏ; với Phạm hạnh ấy, Ngài là bậc có Phạm hạnh.
Ở đấy, kinh liên quan đến huân tập là kinh nào? Kinh liên quan đến huân tập là: “Giảng về bố thí, giảng về giới, giảng về cõi Trời, sự bất lợi của các dục, sự lợi ích trong việc xuất ly.” Ở đấy, kinh liên quan đến thấu triệt là kinh nào? Kinh liên quan đến thấu triệt là: việc bày tỏ về bốn Chân Lý. Ở kinh liên quan đến huân tập thì không có sự nhận biết, không có Đạo, không có Quả. Ở kinh liên quan đến thấu triệt thì có sự nhận biết, có Đạo, có Quả. Đây là bốn loại Kinh. Nhằm chỉ bảo bốn loại Kinh này, chúng nên được suy xét theo cách truyền đạt bằng sự tìm hiểu và nên được kết nối theo cách truyền đạt bằng sự kết nối một cách toàn diện về Quả, về giới, về Phạm hạnh cho đến phạm vi của trí.
Ở đấy, các pháp nào là phổ biến? Có hai pháp là phổ biến: phổ biến về tên gọi và phổ biến về sự việc; hoặc là bất cứ cái gì khác cũng có tính chất như vậy. Đối với các chúng sanh được xác định sai trái và các chúng sanh chưa được xác định, các ô nhiễm cần được dứt bỏ do thấy là phổ biến. Đối với phàm nhân và vị Nhập Lưu, sự luyến ái về dục và sân hận là phổ biến. Đối với phàm nhân và vị Bất Lai, các sự ràng buộc thuộc phần trên là phổ biến. Bất cứ sự thể nhập hiệp thế nào mà vị Thánh Thinh Văn đạt đến, tất cả các việc ấy là phổ biến với các vị chưa lìa luyến ái; bởi vì các pháp phổ biến không vượt qua khỏi mỗi một lãnh vực như vậy của chính bản thân và của người khác. Thậm chí vị nào có được các pháp này, vị ấy cũng không vận hành vượt lên trên pháp ấy. Các pháp này là phổ biến. Ở đấy, các pháp nào là không phổ biến? Căn cứ vào lời chỉ bảo, ‘các vị Hữu Học và Vô Học, những người có khả năng và không có khả năng’ nên được tìm hiểu. Đối với vị Nhập Lưu Đạo và vị Nhập Lưu, sự luyến ái về dục và sân hận là phổ biến, bản chất (của sự việc) là không phổ biến. Đối với vị Bất Lai Đạo và vị Bất Lai, các sự ràng buộc thuộc phần trên là phổ biến, bản chất (của sự việc) là không phổ biến. Đối với tất cả các vị Hữu Học, tên gọi là phổ biến, bản chất (của sự việc) là không phổ biến. Đối với tất cả các vị đang thực hành Đạo, tên gọi là phổ biến, bản chất (của sự việc) là không phổ biến. Đối với tất cả các vị Hữu Học, giới của các vị Hữu Học là phổ biến, bản chất (của sự việc) là không phổ biến. Vị có sự quán xét đặc biệt nên tìm hiểu căn cứ vào các bậc hạ, thượng, và trung như vậy. Phạm vi nhìn thấy là nền tảng bước vào vị thế cố định. Phạm vi tu tập là nền tảng đạt đến các Quả vượt trội. Lối thực hành khó khăn, thắng trí chậm chạp là nền tảng của chỉ tịnh. Lối thực hành thoải mái, thắng trí mau chóng là nền tảng của minh sát. Việc làm phước thiện bố thí là nền tảng phổ biến của (việc lắng nghe) lời nói của người khác. Việc làm phước thiện trì giới là nền tảng phổ biến của tuệ tư. Việc làm phước thiện tham thiền là nền tảng phổ biến của tuệ tu. Việc làm phước thiện bố thí là nền tảng phổ biến của tuệ văn (do lắng nghe) lời nói của người khác và của tuệ tư. Việc làm phước thiện trì giới là nền tảng của tuệ tư và của sự tác ý đúng đường lối. Việc làm phước thiện tham thiền là nền tảng phổ biến của tuệ tu và của chánh kiến. Việc cư ngụ ở địa phương thích hợp là nền tảng phổ biến của việc tách ly và của định. Việc nương nhờ bậc chân nhân là nền tảng phổ biến của niềm tịnh tín đối với Tam Bảo và của chỉ tịnh. Quyết định đúng đắn cho bản thân là nền tảng phổ biến của sự hổ thẹn tội lỗi và của minh sát. Sự buông bỏ điều không tốt lành là nền tảng phổ biến của sự thẩm xét khéo léo và của định quyền. Việc Giáo Pháp được khéo thuyết là nền tảng phổ biến của việc ươm trồng thiện căn và của việc thể nhập Quả vị. Tính chất đã được thực hành tốt đẹp của Hội Chúng là nền tảng phổ biến của sự tốt đẹp của Hội Chúng. Việc đạt được vị thầy là nền tảng phổ biến đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin và của việc tăng thêm niềm tin cho những người đã có đức tin. Giới bổn Pātimokkha không bị ngăn trở là nền tảng phổ biến cho việc trấn áp những kẻ ác xấu và sự lạc trú của những người hiền thiện. Vì thế, đại đức Mahākaccāna đã nói rằng: “Giáo pháp và nền tảng, ...”
Cách truyền đạt bằng sự phân tích được kết thúc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Dẫn Đạo (Nettippakaraṇa) / Cẩm Nang Học Phật. Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
33. Tattha katamo vibhattihāro? ‘‘Dhammañca padaṭṭhānaṃ bhūmiñcā’’ti.
8. Among these, what is the method of distinctions? 'The teaching, the proximate cause, and the plane.'
33. Trong đó, Vibhatti hāra là gì? (Đó là) 'pháp, nhân cần thiết, và địa'.
Dve suttāni vāsanābhāgiyañca nibbedhabhāgiyañca. Dve paṭipadā puññabhāgiyā ca phalabhāgiyā ca. Dve sīlāni saṃvarasīlañca pahānasīlañca, tattha bhagavā vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ puññabhāgiyāya paṭipadāya desayati, so saṃvarasīle ṭhito tena brahmacariyena brahmacārī bhavati, tattha bhagavā nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ phalabhāgiyāya paṭipadāya desayati, so pahānasīle ṭhito tena brahmacariyena brahmacārī bhavati.
33. There are two kinds of discourses: that which partakes of conditioning and that which partakes of revulsion. There are two kinds of practices: that which partakes of merit and that which partakes of fruit. There are two kinds of virtue: the virtue of restraint and the virtue of abandonment. Therein, the Blessed One teaches the discourse partaking of conditioning through the practice partaking of merit. One who is established in the virtue of restraint lives the holy life by means of that holy life. Therein, the Blessed One teaches the discourse partaking of revulsion through the practice partaking of fruit. One who is established in the virtue of abandonment lives the holy life by means of that holy life.
Có hai loại kinh: kinh thuộc phần tập quán và kinh thuộc phần nhàm chán. Có hai con đường thực hành: con đường thuộc phần phước và con đường thuộc phần quả. Có hai loại giới: giới phòng hộ và giới đoạn tận. Trong đó, Đức Thế Tôn thuyết kinh thuộc phần tập quán bằng con đường thực hành thuộc phần phước; vị ấy, an trú trong giới phòng hộ, trở thành người sống phạm hạnh bằng phạm hạnh ấy. Trong đó, Đức Thế Tôn thuyết kinh thuộc phần nhàm chán bằng con đường thực hành thuộc phần quả; vị ấy, an trú trong giới đoạn tận, trở thành người sống phạm hạnh bằng phạm hạnh ấy.
Tattha katamaṃ vāsanābhāgiyaṃ suttaṃ? Vāsanābhāgiyaṃ nāma suttaṃ dānakathā sīlakathā saggakathā kāmānaṃ ādīnavo nekkhamme ānisaṃsoti.
Among these, what is the discourse partaking of conditioning? The discourse named 'partaking of conditioning' consists of: talk on giving, talk on virtue, talk on the celestial realms, the danger of sensual pleasures, and the benefit of renunciation.
Trong đó, kinh thuộc phần tập quán là gì? Kinh tên là thuộc phần tập quán là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời, sự nguy hại của các dục, và lợi ích của sự xuất ly.
Tattha katamaṃ nibbedhabhāgiyaṃ suttaṃ? Nibbedhabhāgiyaṃ nāma suttaṃ yā catusaccappakāsanā, vāsanābhāgiye sutte natthi pajānanā, natthi maggo, natthi phalaṃ. Nibbedhabhāgiye sutte atthi pajānanā, atthi maggo, atthi phalaṃ. Imāni cattāri suttāni. Imesaṃ catunnaṃ suttānaṃ desanāya phalena sīlena brahmacariyena sabbato vicayena hārena vicinitvā yuttihārena yojayitabbā yāvatikā ñāṇassa bhūmi.
Among these, what is the discourse pertaining to revulsion? The discourse named 'pertaining to revulsion' is the exposition of the Four Truths. In the discourse pertaining to conditioning, there is no discriminating knowledge, there is no path, there is no fruit. In the discourse pertaining to revulsion, there is discriminating knowledge, there is the path, there is the fruit. These are four discourses. Having investigated these four discourses in all respects—by means of the teaching, the fruit, virtue, and the holy life—with the method of investigation, they should be connected by the method of logical connection to whatever extent is the range of knowledge.
Trong đó, kinh thuộc phần nhàm chán là gì? Kinh tên là thuộc phần nhàm chán là sự tuyên thuyết về Tứ đế. Trong kinh thuộc phần tập quán, không có sự liễu tri, không có đạo, không có quả. Trong kinh thuộc phần nhàm chán, có sự liễu tri, có đạo, có quả. Bốn loại kinh này, về phương diện thuyết giảng, quả, giới, và phạm hạnh, cần được thẩm sát toàn diện bằng vicaya hāra (phương pháp thẩm sát) và kết hợp bằng yutti hāra (phương pháp tương hợp) trong chừng mực nào mà địa của trí có thể đạt đến.
34. Tattha katame dhammā sādhāraṇā? Dve dhammā sādhāraṇā nāmasādhāraṇā vatthusādhāraṇā ca. Yaṃ vā pana kiñci aññampi evaṃ jātiyaṃ, micchattaniyatānaṃ sattānaṃ aniyatānañca sattānaṃ dassanappahātabbā kilesā sādhāraṇā, puthujjanassa sotāpannassa ca kāmarāgabyāpādā sādhāraṇā, puthujjanassa anāgāmissa ca uddhaṃbhāgiyā saṃyojanā sādhāraṇā, yaṃ kiñci ariyasāvako lokiyaṃ samāpattiṃ samāpajjati, sabbā sā avītarāgehi † sādhāraṇā, sādhāraṇā hi dhammā evaṃ aññamaññaṃ paraṃ paraṃ sakaṃ sakaṃ visayaṃ nātivattanti. Yopi imehi dhammehi samannāgato na so taṃ dhammaṃ upātivattati. Ime dhammā sādhāraṇā.
Among these, what are the common phenomena? Two phenomena are common: common by name and common by basis. And whatever else is of such a nature. The defilements to be abandoned by seeing are common to beings fixed in wrongness and beings not fixed. Sensual passion and ill will are common to a worldling and a stream-enterer. The higher fetters are common to a worldling and a non-returner. Whatever worldly attainment a noble disciple attains, all that is common with those who are not free from passion. For common phenomena do not in this way transgress their own respective domains, one after another. And one who is endowed with these phenomena does not transgress that phenomenon. These are the common phenomena.
34. Trong đó, những pháp nào là tương đồng? Có hai pháp tương đồng: tương đồng về danh và tương đồng về vật. Hoặc bất cứ điều gì khác có cùng bản chất như vậy. Các phiền não cần được đoạn tận bằng kiến (đạo) là tương đồng đối với chúng sanh có tà tánh quyết định và chúng sanh không quyết định. Dục tham và sân là tương đồng đối với phàm phu và bậc Dự lưu. Các thượng phần kiết sử là tương đồng đối với phàm phu và bậc Bất lai. Bất cứ thiền chứng thế gian nào mà vị Thánh đệ tử chứng đắc, tất cả những thiền chứng ấy đều tương đồng với những người chưa ly tham. Vì các pháp tương đồng như vậy không vượt qua lĩnh vực của nhau, của từng cái một. Người nào có đầy đủ các pháp này cũng không vượt qua pháp đó. Những pháp này là tương đồng.
Tattha katame dhammā asādhāraṇā? Yāva desanaṃ upādāya gavesitabbā sekkhāsekkhā bhabbābhabbāti, aṭṭhamakassa sotāpannassa ca kāmarāgabyāpādā sādhāraṇā dhammatā asādhāraṇā, aṭṭhamakassa anāgāmissa ca uddhambhāgiyā saṃyojanā sādhāraṇā dhammatā asādhāraṇā. Sabbesaṃ sekkhānaṃ nāmaṃ sādhāraṇaṃ dhammatā asādhāraṇā. Sabbesaṃ paṭipannakānaṃ nāmaṃ sādhāraṇaṃ dhammatā asādhāraṇā. Sabbesaṃ sekkhānaṃ sekkhasīlaṃ sādhāraṇaṃ dhammatā asādhāraṇā. Evaṃ visesānupassinā hīnukkaṭṭhamajjhimaṃ upādāya gavesitabbaṃ.
34. Among these, what are the uncommon phenomena? Taking the teaching as the basis, they should be sought for in these persons who are spoken of as trainees, adepts, those capable, and those incapable. For the eighth person and the stream-enterer, sensual passion and ill will are common, but their nature is uncommon. For the eighth person and the non-returner, the higher fetters are common, but their nature is uncommon. For all trainees, the name is common, but their nature is uncommon. For all adepts, the name is common, but their nature is uncommon. For all trainees, the trainee's virtue is common, but their nature is uncommon. Thus, by one who sees the distinctions, the uncommon nature of phenomena should be sought for, taking into account the inferior, superior, and middling.
Trong đó, những pháp nào là không tương đồng? Cần phải tìm kiếm dựa trên sự thuyết giảng, (phân loại) là hữu học, vô học, có khả năng, không có khả năng. Đối với người thứ tám (Dự lưu đạo) và bậc Dự lưu (quả), (sự hiện hữu của) dục tham và sân là tương đồng, nhưng pháp tánh (của chúng) thì không tương đồng. Đối với người thứ tám (Bất lai đạo) và bậc Bất lai (quả), (sự hiện hữu của) các thượng phần kiết sử là tương đồng, nhưng pháp tánh (của chúng) thì không tương đồng. Danh xưng của tất cả các bậc hữu học là tương đồng, nhưng pháp tánh thì không tương đồng. Danh xưng của tất cả các bậc đang thực hành (hướng) là tương đồng, nhưng pháp tánh thì không tương đồng. Giới của hữu học là tương đồng đối với tất cả các bậc hữu học, nhưng pháp tánh thì không tương đồng. Như vậy, cần phải tìm kiếm bằng cách quán xét sự khác biệt, dựa trên (sự phân loại) hạ, thượng, và trung.
Dassanabhūmi niyāmāvakkantiyā padaṭṭhānaṃ, bhāvanābhūmi uttarikānaṃ phalānaṃ pattiyā padaṭṭhānaṃ, dukkhā paṭipadā dandhābhiññā samathassa padaṭṭhānaṃ, sukhā paṭipadā khippābhiññā vipassanāya padaṭṭhānaṃ, dānamayaṃ puññakiriyavatthu parato ghosassa sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, sīlamayaṃ puññakiriyavatthu cintāmayiyā paññāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu bhāvanāmayiyā paññāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ. Dānamayaṃ puññakiriyavatthu parato ca ghosassa sutamayiyā ca paññāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ sīlamayaṃ puññakiriyavatthu cintāmayiyā ca paññāya yoniso ca manasikārassa sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu bhāvanāmayiyā ca paññāya sammādiṭṭhiyā ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ. Patirūpadesavāso vivekassa ca samādhissa ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, sappurisūpanissayo tiṇṇañca aveccappasādānaṃ samathassa ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, attasammāpaṇidhānaṃ hiriyā ca vipassanāya ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, akusalapariccāgo kusalavīmaṃsāya ca samādhindriyassa ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, dhammasvākkhātatā kusalamūlaropanāya ca phalasamāpattiyā ca sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, saṅghasuppaṭipannatā saṅghasuṭṭhutāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, satthusampadā appasannānañca pasādāya pasannānañca bhiyyobhāvāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ, appaṭihatapātimokkhatā dummaṅkūnañca puggalānaṃ niggahāya pesalānañca puggalānaṃ phāsuvihārāya sādhāraṇaṃ padaṭṭhānaṃ. Tenāha āyasmā mahākaccāyano ‘‘dhammañca padaṭṭhāna’’nti.
The plane of vision is the proximate cause for entering the fixed course. The plane of development is the proximate cause for the attainment of the higher fruits. Difficult practice with slow direct knowledge is the proximate cause for tranquility. Easy practice with quick direct knowledge is the proximate cause for insight. The basis for meritorious action consisting of giving is a common proximate cause for hearing from another. The basis for meritorious action consisting of virtue is a common proximate cause for wisdom consisting of reflection. The basis for meritorious action consisting of development is a common proximate cause for wisdom consisting of development. The basis for meritorious action consisting of giving is a common proximate cause for both hearing from another and for wisdom consisting of learning. The basis for meritorious action consisting of virtue is a common proximate cause for both wisdom consisting of reflection and for proper attention. The basis for meritorious action consisting of development is a common proximate cause for both wisdom consisting of development and for right view. Residence in a suitable country is a common proximate cause for both seclusion and for concentration. Associating with good persons is a common proximate cause for both the three kinds of unwavering confidence and for tranquility. Rightly directing oneself is a common proximate cause for both moral shame and for insight. The abandonment of the unwholesome is a common proximate cause for both the investigation of the wholesome and for the faculty of concentration. The state of the Dhamma being well-proclaimed is a common proximate cause for both the planting of wholesome roots and for the attainment of fruition. The state of the Sangha being of good conduct is a common proximate cause for the Sangha's excellence. The accomplishment of the Teacher is a common proximate cause for both inspiring confidence in the unconfident and for the increase of confidence in the confident. The state of the Pātimokkha being unobstructed is a common proximate cause for both the restraint of immoral persons and for the comfortable abiding of persons who love virtue. Therefore, the venerable Mahākaccāyana said that he analyzes 'the teaching and the proximate cause'.
Kiến địa là nhân gần cho sự đi vào chánh tánh quyết định, tu địa là nhân gần cho sự chứng đắc các quả cao hơn, khổ hành đạo và chậm thắng trí là nhân gần của chỉ, lạc hành đạo và nhanh thắng trí là nhân gần của quán, phước nghiệp sự thành tựu do bố thí là nhân gần chung cho âm thanh từ người khác, phước nghiệp sự thành tựu do trì giới là nhân gần chung cho tuệ thành tựu do tư duy, phước nghiệp sự thành tựu do tu tiến là nhân gần chung cho tuệ thành tựu do tu tiến. Phước nghiệp sự thành tựu do bố thí là nhân gần chung cho cả âm thanh từ người khác và tuệ thành tựu do văn. Phước nghiệp sự thành tựu do trì giới là nhân gần chung cho cả tuệ thành tựu do tư duy và như lý tác ý. Phước nghiệp sự thành tựu do tu tiến là nhân gần chung cho cả tuệ thành tựu do tu tiến và chánh kiến. Trú ở trú xứ thích hợp là nhân gần chung cho cả sự vắng lặng và định. Thân cận bậc thiện trí thức là nhân gần chung cho cả ba loại bất động tín và chỉ. Tự mình hướng đến chánh đạo là nhân gần chung cho cả tàm và quán. Từ bỏ bất thiện là nhân gần chung cho cả sự thẩm sát thiện và định quyền. Pháp được khéo thuyết giảng là nhân gần chung cho cả việc gieo trồng căn lành và sự chứng đắc quả. Tăng chúng là bậc thiện hạnh là nhân gần chung cho sự tán thán Tăng chúng. Sự toàn hảo của bậc Đạo Sư là nhân gần chung cho sự phát sinh niềm tin của những người chưa có niềm tin và cho sự tăng trưởng (niềm tin) của những người đã có niềm tin. Giới bổn Pātimokkha không bị ngăn che là nhân gần chung cho việc khiển trách những người có giới hạnh xấu và cho sự an lạc của những người ưa thích giới hạnh. Do đó, trưởng lão Mahākaccāyano đã nói: "Pháp và nhân gần".
Niyutto vibhatti hāro.
The method of distinctions has been set forth.
Phương pháp Phân Tích đã được trình bày.