Bản dịch
MND 9 — Diễn Giải Kinh Māgandiya
9. Māgaṇḍiyasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh về Māgandiya được nói đến:
Sau khi nhìn thấy tham ái, bất mãn, và luyến ái, ngay cả sự mong muốn về việc đôi lứa đã không có. Vật được chứa đầy nước tiểu và phân này là cái gì đây? Ta không muốn chạm đến nó dầu là bàn chân.
Sau khi nhìn thấy tham ái, bất mãn, và luyến ái, ngay cả sự mong muốn về việc đôi lứa đã không có : Sau khi nhìn thấy ba người con gái của Ma Vương là Taṇhā, Aratī, và Ragā (tham ái, bất mãn, và luyến ái), sự mong muốn, hoặc luyến ái, hoặc yêu thương về việc đôi lứa đã không hiện hữu; - ‘sau khi nhìn thấy tham ái, bất mãn, và luyến ái, ngay cả sự mong muốn về việc đôi lứa đã không có’ là như thế.
Vật được chứa đầy nước tiểu và phân này là cái gì đây? Ta không muốn chạm đến nó dầu là bàn chân : Thân xác này được chứa đầy nước tiểu, được chứa đầy phân, được chứa đầy mủ, được chứa đầy máu, được kết nối bởi những khúc xương, được buộc chung lại bằng những sợi gân, được bôi trét với máu và thịt, được bao bọc bởi lớp da trong, được che đậy bởi lớp da ngoài, được đục thủng ở nhiều lỗ đang rò rỉ bên trên, đang rò rỉ bên dưới, được lai vãng bởi tập thể dòi bọ, được tràn đầy bởi những thứ xấu xa dơ bẩn nhiều loại, là cái gì đây? Ta không muốn đặt bàn chân lên nó, vậy thì làm sao có được sự sống chung hay sự kết hợp với nhau? - ‘Vật được chứa đầy nước tiểu và phân này là cái gì đây? Ta không muốn chạm đến nó dầu là bàn chân’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Sau khi nhìn thấy tham ái, bất mãn, và luyến ái, ngay cả sự mong muốn về việc đôi lứa đã không có. Vật được chứa đầy nước tiểu và phân này là cái gì đây? Ta không muốn chạm đến nó dầu là bàn chân .”
Nếu Ngài không ước muốn báu vật như thế này,
người nữ được mong ước bởi nhiều vị vua chúa.
Về quan điểm, về giới, về phận sự, về cuộc sống,
và về sự sanh lên của hiện hữu, Ngài nói theo loại nào?
Māgandiya hỏi rằng: ‘Con người trong khi mong ước các dục ở cõi trời thì không ước muốn các dục thuộc loài người, hoặc là trong khi mong ước các dục thuộc loài người thì không ước muốn các dục ở cõi trời, điều này không kỳ lạ chút nào, còn Ngài lại không ước muốn, không ưng thuận, không ước nguyện, không mong cầu, không tham đắm luôn cả hai điều này, vậy quan điểm của Ngài là gì? Ngài có quan điểm thuộc loại nào?’
"Nếu Ngài không ước muốn báu vật như thế này,
người nữ được mong ước bởi nhiều vị vua chúa.
Về quan điểm, về giới, về phận sự, về cuộc sống,
và về sự sanh lên của hiện hữu, Ngài nói theo loại nào?"
(Đức Thế Tôn nói: “Này Māgandiya,) s au khi đã suy xét trong số các pháp (tà kiến), đối với Ta đây không có điều gì đã được ôm giữ (nói rằng): ‘Ta nói điều này.’ Và trong khi nhìn thấy mà không bám níu vào các tà kiến, trong khi tìm tòi, Ta đã nhìn thấy sự an tịnh ở nội phần .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói rằng: “Này Māgandiya,) sau khi đã suy xét trong số các pháp (tà kiến), đối với Ta đây không có điều gì đã được ôm giữ (nói rằng): ‘Ta nói điều này.’ Và trong khi nhìn thấy mà không bám níu vào các tà kiến, trong khi tìm tòi, Ta đã nhìn thấy sự an tịnh ở nội phần .”
(Māgandiya nói rằng:) “Các phán đoán nào đã được xếp đặt, này bậc hiền trí, ngài nói về chính chúng mà không bám níu. Điều nào có ý nghĩa là ‘sự an tịnh ở nội phần,’ điều ấy đã được tuyên bố thế nào bởi các bậc sáng trí?”
Vì thế, vị Bà-la-môn đã nói rằng:
(Māgandiya nói rằng:) “Các phán đoán nào đã được xếp đặt, này bậc hiền trí, ngài nói về chính chúng mà không bám níu. Điều nào có ý nghĩa là ‘sự an tịnh ở nội phần,’ điều ấy đã được tuyên bố thế nào bởi các bậc sáng trí? ”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Māgandiya,) người ta đã nói rằng sự trong sạch không phải do kiến, không phải do nghe, không phải do trí, không phải do giới và phận sự, cũng không phải do (không có) điều ấy là do không kiến, do không nghe, do không trí, do không giới, do không phận sự. Và sau khi không nương tựa, không bám níu vào các điều này, được an tịnh, không lệ thuộc, không còn tham muốn hữu .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Māgandiya,) người ta đã nói rằng sự trong sạch không phải do kiến, không phải do nghe, không phải do trí, không phải do giới và phận sự, cũng không phải do (không có) điều ấy là do không kiến, do không nghe, do không trí, do không giới, do không phận sự. Và sau khi không nương tựa, không bám níu vào các điều này, được an tịnh, không lệ thuộc, không còn tham muốn hữu .”
(Māgandiya nói rằng:) “Nếu nói rằng sự trong sạch không phải do kiến, không phải do nghe, không phải do trí, không phải do giới và phận sự, cũng không phải do (không có) điều ấy là do không kiến, do không nghe, do không trí, do không giới, do không phận sự, tôi nghĩ rằng giáo lý (ấy) thật mù mờ; một số người tin rằng trong sạch là do kiến .”
Vì thế, vị Bà-la-môn đã nói rằng:
(Māgandiya nói rằng:) “Nếu nói rằng sự trong sạch không phải do kiến, không phải do nghe, không phải do trí, không phải do giới và phận sự, cũng không phải do (không có) điều ấy là do không kiến, do không nghe, do không trí, do không giới, do không phận sự, tôi nghĩ rằng giáo lý (ấy) thật mù mờ; một số người tin rằng trong sạch là do kiến .”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Māgandiya,) sau khi nương tựa vào kiến, trong khi tìm hiểu, ngươi đã đi đến sự mê muội ở những điều đã được nắm bắt. Và từ đây ngươi đã không tiếp thâu sự nhận thức dầu là nhỏ nhoi; do đó ngươi ghi nhận (điều ấy) là mù mờ.”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói: “Này Māgandiya,) sau khi nương tựa vào kiến, trong khi tìm hiểu, ngươi đã đi đến sự mê muội ở những điều đã được nắm bắt. Và từ đây ngươi đã không tiếp thâu sự nhận thức dầu là nhỏ nhoi; do đó ngươi ghi nhận (điều ấy) là mù mờ.”
Bằng nhau, đặc biệt, hoặc thấp hèn,
kẻ nào nghĩ vậy, kẻ ấy sẽ tranh cãi vì điều ấy.
Người không dao động ở ba trạng thái kiêu mạn ấy,
đối với người ấy không có (ý nghĩ): ‘bằng nhau’ hay ‘đặc biệt. ’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bằng nhau, đặc biệt, hoặc thấp hèn,
kẻ nào nghĩ vậy, kẻ ấy sẽ tranh cãi vì điều ấy.
Người không dao động ở ba trạng thái kiêu mạn ấy,
đối với người ấy không có (ý nghĩ): ‘bằng nhau’ hay ‘đặc biệt. ’”
Vị Bà-la-môn ấy có thể nói gì (cho rằng): ‘Đây là sự thật’?
Hoặc vị ấy có thể tranh cãi với ai rằng: ‘Đây là sai trái’?
Ở vị nào (ý niệm so sánh) bằng nhau hay không bằng nhau là không có,
vị ấy có thể vướng víu vào sự tranh luận với ai đây?
Vị Bà-la-môn ấy có thể nói gì (cho rằng): ‘Đây là sự thật’? - Bà-la-môn do trạng thái đã loại trừ bảy pháp: [1] ―như trên― Không bị lệ thuộc, tự tại, vị ấy được gọi là Bà-la-môn. Vị Bà-la-môn ấy có thể nói gì (cho rằng): ‘Đây là sự thật’? - Vị Bà-la-môn có thể nói gì, có thể thuyết gì, có thể phát ngôn gì, có thể diễn giải gì, có thể diễn tả gì (cho rằng): ‘Thế giới là thường còn; chính điều này là chân lý, điều khác là rồ dại’? Và vị Bà-la-môn có thể nói gì, có thể thuyết gì, có thể phát ngôn gì, có thể diễn giải gì, có thể diễn tả gì (cho rằng): ‘Thế giới là không thường còn, —như trên— đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chính điều này là chân lý, điều khác là rồ dại’ - Vị Bà-la-môn ấy có thể nói gì (cho rằng): ‘Đây là sự thật’? - là như thế.
[1] Xem bảy pháp ở trang 121.
Hoặc vị ấy có thể tranh cãi với ai rằng: ‘Đây là sai trái’? (Nghĩ rằng): ‘Sự thật thuộc về chính ta, sai trái thuộc về ngươi,’ do ngã mạn ấy, do quan điểm ấy, vị Bà-la-môn thực hiện sự cãi cọ, thực hiện sự xung đột, thực hiện sự tranh luận, thực hiện sự tranh cãi, thực hiện sự gây gỗ với người kia rằng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này —như trên— hoặc ngươi hãy gỡ rối nếu ngươi có khả năng’ - Hoặc vị ấy có thể tranh cãi với ai rằng: ‘Đây là sai trái’? - là như thế.
Ở vị nào (ý niệm so sánh) bằng nhau hay không bằng nhau là không có - Ở vị nào : ở người nào là bậc A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt, sự ngã mạn (với ý nghĩ) ‘Tôi ngang bằng’ là không có, sự cống cao (với ý nghĩ) ‘Tôi tốt hơn’ là không có, sự tự ti (với ý nghĩ) ‘Tôi thấp hèn’ là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ - Ở vị nào (ý niệm so sánh) bằng nhau hay không bằng nhau là không có - là như thế.
Vị ấy có thể vướng víu vào sự tranh luận với ai đây? - Do ngã mạn nào, do quan điểm nào, vị ấy có thể vướng víu vào, có thể công kích, có thể thực hiện sự cãi cọ, có thể thực hiện sự xung đột, có thể thực hiện sự tranh luận, có thể thực hiện sự tranh cãi, có thể thực hiện sự gây gỗ với người nào rằng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này —như trên— hoặc ngươi hãy gỡ rối nếu ngươi có khả năng’? - Vị ấy có thể vướng víu vào sự tranh luận với ai đây? - là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị Bà-la-môn ấy có thể nói gì (cho rằng): ‘Đây là sự thật’?
Hoặc vị ấy có thể tranh cãi với ai rằng: ‘Đây là sai trái’?
Ở vị nào (ý niệm so sánh) bằng nhau hay không bằng nhau là không có,
vị ấy có thể vướng víu vào sự tranh luận với ai đây? ”
Sau khi từ bỏ chỗ ngụ, không có sự vương vấn nhà ở, vị hiền trí không nên tạo ra các sự thân thiết ở trong làng, trống vắng đối với các dục, không ước vọng, không nên tạo ra cuộc nói chuyện cãi vã với người (khác) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Sau khi từ bỏ chỗ ngụ, không có sự vương vấn nhà ở, vị hiền trí không nên tạo ra các sự thân thiết ở trong làng, trống vắng đối với các dục, không ước vọng, không nên tạo ra cuộc nói chuyện cãi vã với người (khác) .”
Sống ở thế gian, (bản thân) đã đư ợc viễn ly với nhữn g điều nào, bậc long tượng sẽ không tiếp thu và sẽ không nói về những điều ấy. Giống như cây sen có gai (ở cuống), được sanh ra ở trong nước, không bị vấy bẩn bởi nước và bùn, tương tự như vậy, bậc hiền trí nói về sự an tịnh, không bị thèm khát, không bị vấy bẩn ở dục và ở thế gian .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sống ở thế gian, (bản thân) đã đư ợc viễn ly với nhữn g điều nào, bậc long tượng sẽ không tiếp thu và sẽ không nói về những điều ấy. Giống như cây sen có gai (ở cuống), được sanh ra ở trong nước, không bị vấy bẩn bởi nước và bùn, tương tự như vậy, bậc hiền trí nói về sự an tịnh, không bị thèm khát, không bị vấy bẩn ở dục và ở thế gian .”
Bậc hiểu biết sâu sắc không do tà kiến, không do cảm giác mà vị ấy đi đến ngã mạn, bởi vì vị ấy không có điều ấy là bản tính. Không do hành động, cũng không do điều đã được nghe mà vị ấy có thể bị dẫn đi, vị ấy không bị dẫn dắt vào trong các sự chấp chặt .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bậc hiểu biết sâu sắc không do tà kiến, không do cảm giác mà vị ấy đi đến ngã mạn, bởi vì vị ấy không có điều ấy là bản tính. Không do hành động, cũng không do điều đã được nghe mà vị ấy có thể bị dẫn đi, vị ấy không bị dẫn dắt vào trong các sự chấp chặt .”
Đối với vị đã xa lìa tưởng, các trói buộc không hiện hữu,
đối với vị đã được giải thoát do tuệ, các si mê không hiện hữu.
Và những người nào đã nắm giữ tưởng và tà kiến,
những người ấy sống, gây va chạm, ở thế gian .
Đối với vị đã xa lìa tưởng, các trói buộc không hiện hữu : vị nào tu tập Thánh Đạo có thiền chỉ tịnh là yếu tố đi trước, các trói buộc liên quan đến giai đoạn đầu của vị ấy được loại trừ; khi đạt đến quả vị A-la-hán, các trói buộc, các si mê, các pháp che lấp, và các dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, tà kiến tưởng được dứt bỏ, có rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt bị bứng gốc, khiến cho không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai; - ‘đối với vị đã xa lìa tưởng, các trói buộc không hiện hữu’ là như thế.
Đối với vị đã được giải thoát do tuệ, các si mê không hiện hữu : vị nào tu tập Thánh Đạo có thiền minh sát là yếu tố đi trước, các si mê liên quan đến giai đoạn đầu của vị ấy được loại trừ; khi đạt đến quả vị A-la-hán, các si mê, các trói buộc, các pháp che lấp, và các dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, tà kiến tưởng được dứt bỏ, có rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt bị bứng gốc, khiến cho không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai; - ‘đối với vị đã được giải thoát do tuệ, các si mê không hiện hữu’ là như thế.
Và những người nào đã nắm giữ tưởng và tà kiến, những người ấy sống, gây va chạm, ở thế gian : Những kẻ nào nắm lấy tưởng, dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; do tác động của tưởng, những kẻ ấy gây va chạm, gây đụng chạm. Các vị vua tranh cãi với các vị vua, các Sát-đế-lỵ tranh cãi với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn tranh cãi với các Bà-la-môn, các gia chủ tranh cãi với các gia chủ, mẹ tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với mẹ, cha tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với anh em trai, chị em gái tranh cãi với chị em gái, anh em trai tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè tranh cãi với bạn bè. Tại nơi ấy, chúng khởi sự cãi cọ, cãi vã, tranh cãi, rồi công kích lẫn nhau bằng những bàn tay, công kích lẫn nhau bằng những cục đất, công kích lẫn nhau bằng những gậy gộc, công kích lẫn nhau bằng những gươm dao. Tại nơi ấy, chúng đi đến sự chết và sự khổ đau kề cận cái chết. Những kẻ nào nắm lấy tà kiến rằng: ‘Thế giới là thường còn —như trên— hoặc ‘Đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết;’ do tác động của tà kiến, những kẻ ấy gây va chạm, gây đụng chạm; chúng gây va chạm bậc đạo sư (này) với bậc đạo sư (khác), chúng gây va chạm giáo lý (này) với giáo lý (khác), chúng gây va chạm tập thể (này) với tập thể (khác), chúng gây va chạm quan điểm (này) với (khác), chúng gây va chạm lối thực hành (này) với lối thực hành (khác), gây va chạm đạo lộ (này) với đạo lộ (khác).
Hoặc là chúng tranh cãi, rồi thực hiện sự cãi cọ, thực hiện sự cãi lộn, thực hiện sự cãi vã, thực hiện sự tranh cãi, thực hiện sự gây gỗ rằng: ‘Ngươi không biết Pháp và Luật này ―như trên― hoặc ngươi hãy gỡ rối nếu ngươi có khả năng.’ Các sự tạo tác của chúng chưa được dứt bỏ; do trạng thái chưa được dứt bỏ của các sự tạo tác, chúng va chạm vào địa ngục, chúng va chạm vào thai bào của loài thú chúng va chạm vào cảnh giới ngạ quỷ, chúng va chạm vào nhân giới, chúng va chạm vào Thiên giới, chúng va chạm, chúng đụng chạm cảnh giới với cảnh giới, sự tái sanh với sự tái sanh, mầm tái sanh với mầm tái sanh, cõi với cõi, luân hồi với luân hồi, luân chuyển với luân chuyển. Trong khi va chạm, chúng sống, hành xử, cư trú, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh ―như trên― ở thế gian của loài người; - ‘và những người nào đã nắm giữ tưởng và tà kiến, những người ấy sống, gây va chạm, ở thế gian’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị đã xa lìa tưởng, các trói buộc không hiện hữu,
đối với vị đã được giải thoát do tuệ, các si mê không hiện hữu.
Và những người nào đã nắm giữ tưởng và tà kiến,
những người ấy sống, gây va chạm, ở thế gian .”
Diễn Giải Kinh Māgandiya là thứ chín .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca, nāhosi chando api methunasmiṃ;
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ, pādāpi naṃ samphusituṃ na icche.
Having seen Taṇhā, Arati, and Rāga, there was no desire even for sexual union. What is this, full of urine and excrement? I would not wish to touch it even with my foot.
Sau khi đã thấy Taṇhā, Arati, và Ragā, đã không có ước muốn, dù là về việc giao hợp. Thân này là gì, đầy nước tiểu và phân? Ta không muốn chạm đến nó, dù là bằng bàn chân.
Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca, nāhosi chando api methunasminti. Taṇhañca aratiñca ragañca māradhītaro disvā passitvā methunadhamme chando vā rāgo vā pemaṃ vā nāhosīti – disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca nāhosi chando api methunasmiṃ.
“Having seen Taṇhā, Arati, and Rāga, there was no desire even for sexual union.” This means: having seen and observed Taṇhā, Arati, and Rāga—the daughters of Māra—there arose no desire, passion, or affection for the act of sexual intercourse. Thus it is said: “Having seen Taṇhā, Arati, and Rāga, there was no desire even for sexual union.”
«Sau khi đã thấy Taṇhā, Arati, và Ragā, đã không có ước muốn, dù là về việc giao hợp» có nghĩa là: Sau khi đã thấy, đã nhìn các ái nữ của Ma vương là Taṇhā, Arati, và Ragā, đã không có ước muốn, hoặc tham ái, hoặc tình thương yêu về pháp giao hợp. – (Do đó, được nói là:) «Sau khi đã thấy Taṇhā, Arati, và Ragā, đã không có ước muốn, dù là về việc giao hợp.»
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ, pādāpi naṃ samphusituṃ na iccheti. Kimevidaṃ sarīraṃ muttapuṇṇaṃ karīsapuṇṇaṃ semhapuṇṇaṃ ruhirapuṇṇaṃ aṭṭhisaṅghātanhārusambandhaṃ rudhiramaṃsāvalepanaṃ cammavinaddhaṃ chaviyā paṭicchannaṃ chiddāvachiddaṃ uggharantaṃ paggharantaṃ kimisaṅghanisevitaṃ nānākalimalaparipūraṃ pādena akkamituṃ na iccheyya, kuto pana saṃvāso vā samāgamo vāti – kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ, pādāpi naṃ samphusituṃ na icche. Anacchariyañcetaṃ manusso dibbe kāme patthayanto mānusake kāme na iccheyya, mānusake vā kāme patthayanto dibbe kāme na iccheyya. Yaṃ tvaṃ ubhopi na icchasi na sādiyasi na patthesi na pihesi nābhijappasi, kiṃ te dassanaṃ, katamāya tvaṃ diṭṭhiyā samannāgatoti pucchatīti.
“What is this, full of urine and excrement, which I would not wish to touch even with my foot?” This body is full of urine and excrement, phlegm and blood, a framework of bones bound with sinews, smeared with flesh and blood, wrapped in skin, covered by a fine hide, with its many openings, oozing and dripping, frequented by a host of worms, and filled with various kinds of filth. One would not wish to tread upon it with the foot—how much less could there be cohabitation or association? This is the meaning of “What is this, full of urine and excrement, which I would not wish to touch even with my foot?” It is not surprising that a person desiring divine sensual pleasures would not desire human sensual pleasures, or that one desiring human sensual pleasures would not desire divine sensual pleasures. Since you do not desire, do not delight in, do not long for, do not crave, and do not strive for either of these, what is your seeing? With what view are you endowed?—thus he asks.
«Thân này là gì, đầy nước tiểu và phân? Ta không muốn chạm đến nó, dù là bằng bàn chân» có nghĩa là: Thân này là gì, đầy nước tiểu, đầy phân, đầy đờm, đầy máu, là sự kết hợp của xương, được nối kết bằng gân, được trét phết bằng máu và thịt, được buộc lại bằng da, được che đậy bằng lớp da ngoài, có nhiều lỗ hổng, đang rỉ ra, đang chảy ra, được các loài giòi bọ ở, chứa đầy các loại cấu uế khác nhau? Ta không muốn giẫm đạp bằng bàn chân, huống nữa là sự chung sống hoặc sự hội họp? – (Do đó, được nói là:) «Thân này là gì, đầy nước tiểu và phân? Ta không muốn chạm đến nó, dù là bằng bàn chân.» Và điều này không có gì đáng ngạc nhiên: Con người, trong khi mong cầu các dục ở cõi trời, lại không muốn các dục ở cõi người; hoặc trong khi mong cầu các dục ở cõi người, lại không muốn các dục ở cõi trời. Còn ngươi, người không muốn cả hai, không chấp nhận, không mong mỏi, không ao ước, không khao khát, cái thấy của ngươi là gì? Ngươi có được thành tựu về loại tà kiến nào? – (Vị ấy) hỏi như vậy.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Disvāna taṇhaṃ aratiṃ ragañca, nāhosi chando api methunasmiṃ;
Kimevidaṃ muttakarīsapuṇṇaṃ, pādāpi naṃ samphusituṃ na icche’’ti.
“Having seen Taṇhā, Arati, and Rāga, there arose no desire even for sexual intercourse. What is this, full of urine and feces? I would not wish even to touch it with my foot.”
«Sau khi đã thấy Taṇhā, Arati, và Ragā, đã không có ước muốn, dù là về việc giao hợp. Thân này là gì, đầy nước tiểu và phân? Ta không muốn chạm đến nó, dù là bằng bàn chân.»
71.
71.
71.
Etādisaṃ ce ratanaṃ na icchasi, nāriṃ narindehi bahūhi patthitaṃ;
Diṭṭhigataṃ sīlavataṃ nu jīvitaṃ, bhavūpapattiñca vadesi kīdisaṃ.
If you do not desire such a jewel, a woman desired by many kings, then what sort of views, virtuous conduct, livelihood, and arising in existence do you declare?
Nếu ngài không muốn vật báu dường ấy, người phụ nữ được nhiều vị vua chúa mong cầu, vậy ngài tuyên bố về tà kiến, về giới và hạnh, về sự sinh sống, và về sự tái sanh vào cảnh giới là như thế nào?
72.
72.
72.
Idaṃ vadāmīti na tassa hoti, [māgaṇḍiyāti † bhagavā]
Dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Passañca diṭṭhīsu anuggahāya, ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassaṃ.
“Māgaṇḍiya,” said the Blessed One, “for such a one, there is no dogmatically grasping a doctrine after investigation and declaring, ‘This I say.’ And seeing without grasping at views, while investigating, I saw internal peace.”
(Đức Thế Tôn gọi:) Này Māgaṇḍiya, đối với ta, không có sự nắm giữ chắc chắn nào trong các pháp sau khi đã quyết định rằng: ‘Ta nói điều này.’ Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến, ta đã thấy được sự an tịnh nội tâm trong khi chọn lựa.
Idaṃ vadāmīti na tassa hotīti. Idaṃ vadāmīti idaṃ vadāmi, etaṃ vadāmi, ettakaṃ vadāmi, ettāvatā vadāmi, idaṃ diṭṭhigataṃ vadāmi – ‘‘sassato loko’’ti vā…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā. Na tassa hotīti na mayhaṃ hoti, ‘‘ettāvatā vadāmī’’ti na tassa hotīti – idaṃ vadāmīti na tassa hoti.
Regarding “The thought, ‘This I declare,’ does not occur to him”: “This I declare” means: “I declare this,” “I declare that,” “I declare this much,” “I declare by this much,” “I declare this view”—such as “the world is eternal,” or… “the Tathāgata neither is nor is not after death.” “Does not occur to him” means “it does not occur to me.” The thought, “I declare by this much,” does not occur to him. Thus, “The thought, ‘This I declare,’ does not occur to him.”
Về câu: ‘Đối với vị ấy, không có việc: ‘Ta nói điều này,’’ thì ‘Ta nói điều này’ có nghĩa là: ta nói điều này, ta nói điều kia, ta nói chừng ấy, ta nói bằng chừng ấy, ta nói tà kiến này – hoặc là: ‘Thế gian là thường hằng’… cho đến… hoặc là: ‘Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có.’ ‘Đối với vị ấy, không có’ có nghĩa là: đối với ta, không có, đối với vị ấy không có việc: ‘Ta nói bằng chừng ấy.’ – đây là ý nghĩa của câu ‘Đối với vị ấy, không có việc: ‘Ta nói điều này.’’
Māgaṇḍiyāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – māgaṇḍiyāti bhagavā.
“Māgaṇḍiya”: thus the Blessed One addresses that brahmin by name. “Bhagavā” is a term of reverence... a designation based on realization, that is, “Bhagavā”. Thus is the meaning of “Māgaṇḍiya, said the Blessed One”.
‘Này Māgaṇḍiya,’ Đức Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Bhagavā’ là một từ thể hiện sự tôn kính… cho đến… sự chế định được chứng ngộ, chính là danh xưng ‘Bhagavā’ này – đây là ý nghĩa của câu ‘Này Māgaṇḍiya, Đức Thế Tôn.’
Dhammesu niccheyya samuggahītanti. Dhammesūti dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatesu. Niccheyyāti nicchinitvā vinicchinitvā vicinitvā pavicinitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, odhiggāho bilaggāho varaggāho koṭṭhāsaggāho uccayaggāho samuccayaggāho, ‘‘idaṃ saccaṃ tacchaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparīta’’nti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ, natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
Regarding “having decided upon and grasped doctrines”: “Among doctrines” means among the sixty-two views. “Having decided upon” means having decided, having determined, having investigated, having thoroughly investigated, having weighed, having judged, having distinguished, and having made manifest. “Grasped” means the grasping of a limit, grasping in a lump, grasping of the best, grasping of portions, grasping of accumulation, or grasping of collection, whereby something is grasped, held after consideration, adhered to, firmly held, and resolved upon as: “This is true, factual, so, real, actual, not otherwise.” For him, such grasping does not exist, is not, is not found, is not obtained; it is abandoned, cut off, calmed, stilled, made incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of “having decided upon and grasped doctrines”.
Về câu: ‘Trong các pháp, sau khi đã quyết định, có sự nắm giữ chắc chắn.’ ‘Trong các pháp’ có nghĩa là trong sáu mươi hai loại tà kiến. ‘Sau khi đã quyết định’ có nghĩa là sau khi đã quyết định một cách chắc chắn, sau khi đã phân định, sau khi đã tìm tòi, sau khi đã khảo sát, sau khi đã cân nhắc, sau khi đã thẩm tra, sau khi đã làm cho rõ ràng, sau khi đã làm cho hiển lộ. Sự nắm giữ có giới hạn, sự nắm giữ toàn bộ, sự nắm giữ điều cao tột, sự nắm giữ từng phần, sự nắm giữ do tích lũy, sự nắm giữ do tập hợp; sự nắm giữ, sự chấp thủ, sự cố chấp, sự bám víu, sự quyết tâm rằng: ‘Chỉ điều này là thật, là đúng, là như vậy, là có thật, là chân xác, là không sai khác,’ thì những điều ấy không có, không hiện hữu, không tồn tại, không tìm thấy được; đã được từ bỏ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – đây là ý nghĩa của câu ‘trong các pháp, sau khi đã quyết định, có sự nắm giữ chắc chắn.’
Passañca diṭṭhīsu anuggahāyāti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Regarding “And seeing, without grasping at views”: Seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Về câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’ Điều này có nghĩa là: Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Atha vā ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhigatametaṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ, sadukkhaṃ savighātaṃ saupāyāsaṃ sapariḷāhaṃ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattatīti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Alternatively: “The world is eternal; this alone is true, anything else is futile.” This viewpoint is a thicket of views, a wilderness of views, a contortion of views, a writhing of views, a fetter of views. It is accompanied by suffering, distress, despair, and fever; it does not lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, or to Nibbāna. Thus, seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Hoặc là: Tà kiến này rằng: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là thật, điều khác là sai lầm,’ là rừng rậm tà kiến, là hoang địa tà kiến, là sự co giật của tà kiến, là sự rung động của tà kiến, là kiết sử tà kiến; đi kèm với khổ, phiền não, tuyệt vọng, và nhiệt não; không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Nibbāna. Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Atha vā ‘‘asassato loko, antavā loko, anantavā loko, taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ, hoti tathāgato paraṃ maraṇā, na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhigatametaṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ, sadukkhaṃ savighātaṃ saupāyāsaṃ sapariḷāhaṃ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattatīti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Alternatively: ‘The world is not eternal,’ ‘The world is finite,’ ‘The world is infinite,’ ‘the life-principle is the same as the body,’ ‘the life-principle is one thing, the body another,’ ‘the Tathāgata exists after death,’ ‘the Tathāgata does not exist after death,’ ‘the Tathāgata both exists and does not exist after death,’ ‘the Tathāgata neither exists nor does not exist after death’—‘this alone is true, all else is worthless.’ This viewpoint is a thicket of views, a wilderness of views, a contortion of views, a vacillation of views, a fetter of views. It is accompanied by suffering, vexation, despair, and fever, and it does not lead to disenchantment, dispassion, cessation, peace, direct knowledge, enlightenment, or Nibbāna. Seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Hoặc là: Tà kiến này rằng: ‘Thế gian là vô thường,’ ‘thế gian là hữu biên,’ ‘thế gian là vô biên,’ ‘sinh mạng và thân thể là một,’ ‘sinh mạng và thân thể là khác,’ ‘sau khi chết, Như Lai có,’ ‘sau khi chết, Như Lai không có,’ ‘sau khi chết, Như Lai vừa có vừa không có,’ ‘sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có; chỉ điều này là thật, điều khác là sai lầm,’ là rừng rậm tà kiến, là hoang địa tà kiến, là sự co giật của tà kiến, là sự rung động của tà kiến, là kiết sử tà kiến; đi kèm với khổ, phiền não, tuyệt vọng, và nhiệt não; không đưa đến sự nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến đoạn diệt, không đưa đến an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Nibbāna. Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Atha vā imā diṭṭhiyo evaṃgahitā evaṃparāmaṭṭhā evaṃgatikā bhavissanti evaṃabhisamparāyāti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Alternatively: ‘These views, being thus grasped and held, will have such a destination, such a future state.’ Seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Hoặc là: (Thấy rằng) những tà kiến này, khi được nắm giữ như thế này, được chấp thủ như thế này, sẽ có xu hướng như thế này, sẽ có cảnh giới tương lai như thế này. Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Atha vā imā diṭṭhiyo nirayasaṃvattanikā tiracchānayonisaṃvattanikā pettivisayasaṃvattanikāti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Alternatively: ‘These views lead to hell, to the animal realm, and to the realm of hungry ghosts.’ Seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Hoặc là: (Thấy rằng) những tà kiến này đưa đến địa ngục, đưa đến cõi súc sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Atha vā imā diṭṭhiyo aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammāti. Diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmi. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi passañca diṭṭhīsu anuggahāya.
Alternatively: ‘These views are impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to dispassion, and subject to cessation.’ Seeing the danger in views, I do not grasp views, I do not hold to them, I do not adhere to them. Alternatively: they should not be grasped, they should not be held to, they should not be adhered to. In this way also, the meaning of “and seeing, without grasping at views” is to be understood.
Hoặc là: (Thấy rằng) những tà kiến này là vô thường, là hữu vi, là do duyên sanh, có tính chất hủy diệt, có tính chất biến hoại, có tính chất ly tham, có tính chất đoạn diệt. Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, ta không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến. Hoặc là: các tà kiến không nên được nắm giữ, không nên được chấp thủ, không nên được cố chấp. Đây cũng là ý nghĩa của câu: ‘Và trong khi thấy, không nắm giữ các tà kiến.’
Ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassanti. Ajjhattasantiṃ ajjhattaṃ rāgassa santiṃ, dosassa santiṃ, mohassa santiṃ, kodhassa… upanāhassa… makkhassa … paḷāsassa… issāya… macchariyassa … māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ… sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santiṃ upasantiṃ vūpasantiṃ nibbutiṃ paṭipassaddhiṃ santiṃ. Pacinanti pacinanto vicinanto pavicinanto tulayanto tīrayanto vibhāvayanto vibhūtaṃ karonto, ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti pacinanto vicinanto pavicinanto tulayanto tīrayanto vibhāvayanto vibhūtaṃ karonto, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti pacinanto vicinanto pavicinanto… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti pacinanto vicinanto pavicinanto tulayanto tīrayanto vibhāvayanto vibhūtaṃ karonto. Adassanti adassaṃ adakkhiṃ apassiṃ paṭivijjhinti – ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassaṃ.
Discerning inner peace, one has seen. Inner peace means the peace from lust, the peace from hatred, the peace from delusion, the peace from anger, from resentment, from contempt, from insolence, from envy, from stinginess, from deceit, from fraudulence, from obstinacy, from rivalry, from conceit, from arrogance, from intoxication, from heedlessness, from all defilements, from all evil conduct, from all torments, from all fevers, from all anguish, from all unwholesome volitional formations—the peace, the calming, the special appeasement, the extinguishment, and the tranquilization. Discerning is discerning, investigating, discriminating, weighing, judging, making clear, and making manifest; discerning, investigating, discriminating, weighing, judging, making clear, and making manifest that 'All formations are impermanent'; that 'All formations are suffering'; that 'All phenomena are not-self'; that 'Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease.' 'One has seen' is: one has seen, one has beheld, one has perceived, one has penetrated—this is the meaning of 'discerning inner peace, one has seen'.
Đã thấy sự an tịnh nội tâm đang được tìm cầu. (Ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassanti). Sự an tịnh nội tâm (ajjhattasantiṃ) là sự an tịnh nội tại (ajjhattaṃ), là sự an tịnh khỏi tham (rāgassa santiṃ), sự an tịnh khỏi sân (dosassa santiṃ), sự an tịnh khỏi si (mohassa santiṃ), khỏi phẫn nộ (kodhassa)... khỏi oán hận (upanāhassa)... khỏi gièm pha (makkhassa)... khỏi khinh miệt (paḷāsassa)... khỏi tật đố (issāya)... khỏi bỏn xẻn (macchariyassa)... khỏi xảo trá (māyāya)... khỏi gian xảo (sāṭheyyassa)... khỏi ngoan cố (thambhassa)... khỏi tranh cạnh (sārambhassa)... khỏi mạn (mānassa)... khỏi quá mạn (atimānassa)... khỏi say đắm (madassa)... khỏi phóng dật (pamādassa)... sự an tịnh (santiṃ), sự lắng dịu (upasantiṃ), sự dập tắt hoàn toàn (vūpasantiṃ), sự tịch tịnh (nibbutiṃ), sự khinh an (paṭipassaddhiṃ) khỏi tất cả các phiền não (sabbakilesānaṃ)... khỏi tất cả các ác hạnh (sabbaduccaritānaṃ)... khỏi tất cả các sầu muộn (sabbadarathānaṃ)... khỏi tất cả các nhiệt não (sabbapariḷāhānaṃ)... khỏi tất cả các thiêu đốt (sabbasantāpānaṃ)... khỏi tất cả các ác hành (sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ). Đang được tìm cầu (pacinanti) là đang xem xét (pacinanto), đang thẩm sát (vicinanto), đang quán sát (pavicinanto), đang cân nhắc (tulayanto), đang phán xét (tīrayanto), đang làm cho rõ ràng (vibhāvayanto), đang làm cho hiển lộ (vibhūtaṃ karonto) rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường’ (sabbe saṅkhārā aniccā’ti)... ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ’ (sabbe saṅkhārā dukkhā’ti)... ‘Tất cả các pháp là vô ngã’ (sabbe dhammā anattā’ti)... ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận’ (yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’nti) đang xem xét, đang thẩm sát, đang quán sát, đang cân nhắc, đang phán xét, đang làm cho rõ ràng, đang làm cho hiển lộ. Đã thấy (adassanti) là tôi đã thấy (adassaṃ), tôi đã nhận thức (adakkhiṃ), tôi đã chứng kiến (apassiṃ), tôi đã thâm nhập (paṭivijjhinti) – (nghĩa là) đã thấy sự an tịnh nội tâm đang được tìm cầu (ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassaṃ).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Idaṃ vadāmīti na tassa hoti, [māgaṇḍiyāti bhagavā]
Dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Passañca diṭṭhīsu anuggahāya;
Ajjhattasantiṃ pacinaṃ adassa’’nti.
“For him there is no ‘This I declare,’ [said the Blessed One to Māgaṇḍiya], nor any grasping of doctrines by way of determination. And seeing views without supporting them, I discerned inner peace and have seen.”
‘Này Māgaṇḍiya, vị ấy không có (quan điểm) rằng: ‘Tôi nói điều này,’ cũng không có (quan điểm) nào được quyết đoán và chấp thủ trong các pháp. Và trong khi nhìn thấy các tà kiến, vị ấy không chấp thủ (vào chúng). Đang tìm cầu sự an tịnh nội tâm, vị ấy đã thấy.’
73.
73.
73.
Vinicchayā yāni pakappitāni, [iti māgaṇḍiyo]
Te ve munī brūsi anuggahāya;
Ajjhattasantīti yametamatthaṃ, kathaṃ nu dhīrehi paveditaṃ taṃ.
“Those views which are judgments and constructions,” said Māgaṇḍiya, “you, O Sage, speak of without grasping them. That which is called ‘the inner peace’—how is that proclaimed by the wise?”
(Māgaṇḍiya thưa rằng): ‘Những gì là các sự quyết đoán đã được tạo tác, thưa bậc ẩn sĩ, ngài nói rằng không nên chấp thủ vào chúng. Ý nghĩa này, được gọi là sự an tịnh nội tâm, đã được các bậc hiền trí tuyên thuyết như thế nào?’
Vinicchayā yāni pakappitānīti. Vinicchayā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhivinicchayā. Pakappitānīti kappitā pakappitā abhisaṅkhatā saṇṭhapitātipi pakappitā. Atha vā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā vipariṇāmadhammātipi pakappitāti – vinicchayā yāni pakappitāni.
Regarding 'Those views which are judgments and constructions': The sixty-two views, which are determinations of views, are called 'judgments'. 'Constructions' means fashioned, specially fashioned, exceedingly fabricated, and well established; for this reason, they are called 'constructions'. Alternatively, 'constructions' also means impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, subject to cessation, and subject to change. Thus, 'Those views which are judgments and constructions'.
Những gì là các sự quyết đoán đã được tạo tác (Vinicchayā yāni pakappitānīti). Các sự quyết đoán (vinicchayā) được gọi là sáu mươi hai tà kiến, các sự quyết đoán của tà kiến. Đã được tạo tác (pakappitānīti) là đã được làm ra (kappitā), đã được tạo tác (pakappitā), đã được cố ý làm ra (abhisaṅkhatā), đã được thiết lập (saṇṭhapitā), vì thế được gọi là đã được tạo tác. Hoặc giả, đã được tạo tác (pakappitā) cũng có nghĩa là vô thường (aniccā), là hữu vi (saṅkhatā), là do duyên sanh (paṭiccasamuppannā), có bản chất hủy hoại (khayadhammā), có bản chất biến mất (vayadhammā), có bản chất ly tham (virāgadhammā), có bản chất đoạn diệt (nirodhadhammā), có bản chất biến đổi (vipariṇāmadhammā) – (nghĩa là) những gì là các sự quyết đoán đã được tạo tác.
Iti māgaṇḍiyoti. Itīti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – itīti. Māgaṇḍiyoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ saṅkhā samaññā paññatti vohāro – iti māgaṇḍiyoti.
Regarding 'Iti Māgaṇḍiya': 'Iti' is a particle for word-conjunction, word-combination, phrase-completion, combination of syllables, close connection of consonants, and the sequence of words. 'Māgaṇḍiya' is that brahmin's name, appellation, designation, concept, and expression. Thus, 'Iti Māgaṇḍiya'.
(Māgaṇḍiya thưa rằng) (Iti māgaṇḍiyoti). ‘Iti’ là sự nối kết các từ (padasandhi), sự liên kết các từ (padasaṃsaggo), sự bổ sung cho đủ các từ (padapāripūrī), sự tập hợp các mẫu tự (akkharasamavāyo), sự kết hợp các phụ âm (byañjanasiliṭṭhatā), và cũng là sự trình bày thứ tự của các từ (padānupubbatā) – đó là ‘iti.’ ‘Māgaṇḍiya’ là tên gọi (nāmaṃ), danh xưng (saṅkhā), quy ước (samaññā), khái niệm (paññatti), cách gọi (vohāro) của vị Bà-la-môn ấy – (nghĩa là) Māgaṇḍiya thưa rằng.
Te ve munī brūsi anuggahāya, ajjhattasantīti yametamatthanti. Te veti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so munīti. Anuggahāyāti diṭṭhīsu ādīnavaṃ passanto diṭṭhiyo na gaṇhāmi na parāmasāmi nābhinivisāmīti ca bhaṇasi, ajjhattasantīti ca bhaṇasi. Yametamatthanti yaṃ paramatthanti – te ve munī brūsi anuggahāya, ajjhattasantīti yametamatthaṃ.
Regarding 'You, O Sage, speak of them without grasping; that which is the state called "the inner peace"': 'Them' refers to the sixty-two views. 'Sage' (muni): Knowledge is called 'mona'... having overcome the net of attachment, which consists of craving and views, one is called a 'muni'. 'Without grasping' means: you say, 'Seeing the danger in views, I will not grasp views, I will not be attached to them, I will not adhere to them,' and you also say 'the inner peace'. 'That which is this state' means that which is the ultimate reality. Thus: 'You, O Sage, speak of them without grasping; that which is the state called "the inner peace"'.
Thưa bậc ẩn sĩ, ngài nói rằng không nên chấp thủ vào chúng, ý nghĩa này được gọi là sự an tịnh nội tâm (Te ve munī brūsi anuggahāya, ajjhattasantīti yametamatthanti). ‘Chúng’ (te ve) là sáu mươi hai tà kiến. ‘Bậc ẩn sĩ’ (munīti): Trí tuệ (ñāṇaṃ) được gọi là sự tĩnh lặng (monaṃ)...v.v... Vị ấy vượt qua mạng lưới của sự dính mắc, nên được gọi là bậc ẩn sĩ. ‘Không nên chấp thủ’ (anuggahāyāti) có nghĩa là ngài nói rằng: ‘Thấy được sự nguy hại trong các tà kiến, tôi không nắm giữ, không chấp thủ, không cố chấp vào các tà kiến,’ và ngài cũng nói về ‘sự an tịnh nội tâm.’ ‘Ý nghĩa này’ (yametamatthanti) là ý nghĩa tối thượng (paramatthaṃ) – (nghĩa là) thưa bậc ẩn sĩ, ngài nói rằng không nên chấp thủ vào chúng, ý nghĩa này được gọi là sự an tịnh nội tâm.
Kathaṃ nu dhīrehi paveditaṃ tanti. Kathaṃ nūti padaṃ saṃsayapucchā vimatipucchā dveḷhakapucchā anekaṃsapucchā, evaṃ nu kho nanu kho kiṃ nu kho kathaṃ nu khoti – kathaṃ nu. Dhīrehīti dhīrehi paṇḍitehi paññavantehi † buddhimantehi ñāṇīhi vibhāvīhi medhāvīhi. Paveditanti veditaṃ paveditaṃ ācikkhitaṃ desitaṃ paññāpitaṃ paṭṭhapitaṃ vivaṭaṃ vibhattaṃ uttānīkataṃ pakāsitanti – kathaṃ nu dhīrehi paveditaṃ taṃ.
Regarding 'How is that proclaimed by the wise?': The phrase 'Kathaṃ nu' is a question of doubt, a question of uncertainty, a question of perplexity, a question of non-certainty, as in: 'Is it so?', 'Is it not so?', 'What is it?', 'How is it?'. 'By the wise' (dhīrehi) means: by the wise, the learned, the discerning, the intelligent, the knowing, the insightful, and the sagacious. 'Proclaimed' (paveditaṃ) means: known, especially known, declared, taught, designated, established, revealed, analyzed, made plain, and explained. Thus: 'How is that proclaimed by the wise?'
Đã được các bậc hiền trí tuyên thuyết như thế nào? (Kathaṃ nu dhīrehi paveditaṃ tanti). Từ ‘như thế nào’ (kathaṃ nu) là câu hỏi trong sự nghi ngờ (saṃsayapucchā), câu hỏi trong sự phân vân (vimatipucchā), câu hỏi trong sự lưỡng lự (dveḷhakapucchā), câu hỏi về điều không chắc chắn (anekaṃsapucchā), (như là): ‘Có phải như vậy chăng?’, ‘Không phải vậy chăng?’, ‘Là cái gì vậy?’, ‘Thế nào vậy?’ – đó là ‘như thế nào.’ ‘Bởi các bậc hiền trí’ (dhīrehīti) là bởi những người hiền trí (dhīrehi), bởi những bậc học giả (paṇḍitehi), bởi những người có trí tuệ (paññavantehi), bởi những người có giác tuệ (buddhimantehi), bởi những người có tri kiến (ñāṇīhi), bởi những người sáng suốt (vibhāvīhi), bởi những người thông thái (medhāvīhi). ‘Đã được tuyên thuyết’ (paveditanti) là đã được biết (veditaṃ), đã được tuyên thuyết (paveditaṃ), đã được trình bày (ācikkhitaṃ), đã được thuyết giảng (desitaṃ), đã được chế định (paññāpitaṃ), đã được thiết lập (paṭṭhapitaṃ), đã được khai mở (vivaṭaṃ), đã được phân tích (vibhattaṃ), đã được làm cho rõ ràng (uttānīkataṃ), đã được công bố (pakāsitanti) – (nghĩa là) đã được các bậc hiền trí tuyên thuyết như thế nào?
Tenāha so brāhmaṇo –
Therefore, that brahmin said:
Do vậy, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng –
‘‘Vinicchayā yāni pakappitāni, [iti māgaṇḍiyo]
Te ve munī brūsi anuggahāya;
Ajjhattasantīti yametamatthaṃ, kathaṃ nu dhīrehi paveditaṃ ta’’nti.
“Those views which are judgments and constructions,” said Māgaṇḍiya, “you, O Sage, speak of without grasping them. That which is called ‘the inner peace’—how is that proclaimed by the wise?”
‘Những gì là các sự quyết đoán đã được tạo tác, thưa bậc ẩn sĩ, ngài nói rằng không nên chấp thủ vào chúng. Ý nghĩa này, được gọi là sự an tịnh nội tâm, đã được các bậc hiền trí tuyên thuyết như thế nào?’
74.
74.
74.
Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, [māgaṇḍiyāti bhagavā]
Sīlabbatenāpi na suddhimāha;
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tena;
Ete ca nissajja anuggahāya, santo anissāya bhavaṃ na jappe.
“Not by view, not by what is heard, not by knowledge,” said the Blessed One to Māgaṇḍiya, “nor by virtue and vows does one declare purity. Not by non-view, not by non-hearing, not by non-knowledge, not by non-virtue, not by non-vows—not even by these. Having abandoned these and not grasping them, being at peace and unreliant, one would not yearn for becoming.”
(Đức Thế Tôn phán): ‘Này Māgaṇḍiya, Ta không nói rằng sự thanh tịnh có được do tri kiến, do truyền thống, do trí tuệ, hay do giới và vật. Cũng không phải do không có tri kiến, không có truyền thống, không có trí tuệ, không có giới, không có vật. Sau khi từ bỏ những điều này và không chấp thủ, bậc thiện trí không nương tựa và không mong cầu sự hiện hữu.’
Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇenāti. Diṭṭhenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; sutenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; diṭṭhasutenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; ñāṇenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasīti – na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena.
Regarding 'Not by view, not by what is heard, not by knowledge': By what is seen, I do not say, do not teach, do not speak of, do not point out, or do not designate purity in the animal realm, purity in the deva realm, purity in the brahma realm, liberation beyond eighty-four thousand eons, release from danger, or complete release in every way; likewise by what is heard; likewise by what is seen and heard. And by knowledge, I do not say, do not teach, do not speak of, do not point out, or do not designate purity in the animal realm, purity in the deva realm, purity in the brahma realm, liberation beyond eighty-four thousand eons, release from danger, or complete release in every way. Thus, 'Not by view, not by what is heard, not by knowledge'.
Không do tri kiến, không do truyền thống, không do trí tuệ (Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇenāti). Ta không nói, không trình bày, không tuyên bố, không chỉ rõ, không dùng cách gọi rằng sự trong sạch (suddhiṃ), sự thanh tịnh (visuddhiṃ), sự hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự hoàn toàn giải thoát (vimuttiṃ), sự giải thoát triệt để (parimuttiṃ) có được do những gì được thấy (diṭṭhena); hay do những gì được nghe (sutena); hay do những gì được thấy và được nghe (diṭṭhasutena); hay do trí tuệ (ñāṇena) – (nghĩa là) không do tri kiến, không do truyền thống, không do trí tuệ.
Māgaṇḍiyāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – māgaṇḍiyāti bhagavā.
The Blessed One addressed that brahmin by name, 'Māgaṇḍiya.' 'The Blessed One': This is a term of respect... a realized designation, namely, 'The Blessed One'—thus, 'Māgaṇḍiya,' said the Blessed One.
Này Māgaṇḍiya, đức Thế Tôn (Māgaṇḍiyāti bhagavā). Đức Thế Tôn (bhagavā) gọi vị Bà-la-môn ấy (taṃ brāhmaṇaṃ) bằng tên (nāmena). ‘Bhagavā’ là một từ ngữ tôn kính...v.v... là một khái niệm được chứng thực, đó là ‘Bhagavā’ – (nghĩa là) này Māgaṇḍiya, đức Thế Tôn.
Sīlabbatenāpi na suddhimāhāti. Sīlenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; vatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; sīlabbatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasīti – sīlabbatenāpi na suddhimāha.
'Nor by virtue and vows does one declare purity': Even by virtue, one does not say, does not teach, does not speak, does not point out, or does not designate purity in the animal realm, liberation beyond eighty-four thousand eons, release from danger, or complete release in every way. Even by vows, one does not say, does not teach, does not speak, does not point out, or does not designate purity in the animal realm, purity in the deva realm, purity in the brahma realm, or liberation beyond eighty-four thousand eons. Even by virtue and vows, one does not say, does not teach, does not speak, does not point out, or does not designate purity in the animal realm, purity in the deva realm, purity in the brahma realm, liberation beyond eighty-four thousand eons, release from danger, or complete release in every way. This is the meaning of the phrase, 'Nor by virtue and vows does one declare purity'.
(Câu) 'Cũng không do giới cấm mà nói về sự thanh tịnh.' Cũng không do giới, vị ấy không nói, không tuyên bố, không phát biểu, không chỉ dạy, không gọi tên là sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, là sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự rốt ráo giải thoát; cũng không do khổ hạnh, vị ấy không nói, không tuyên bố, không phát biểu, không chỉ dạy, không gọi tên là sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, là sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự rốt ráo giải thoát; cũng không do giới cấm, vị ấy không nói, không tuyên bố, không phát biểu, không chỉ dạy, không gọi tên là sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, là sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự rốt ráo giải thoát – (cho nên được nói là) cũng không do giới cấm mà nói về sự thanh tịnh.
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tenāti. Diṭṭhipi icchitabbā. Dasavatthukā sammādiṭṭhi – atthi dinnaṃ, atthi yiṭṭhaṃ, atthi hutaṃ, atthi sukatadukkaṭānaṃ † kammānaṃ phalaṃ vipāko, atthi ayaṃ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā † sammāpaṭipannā ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentīti; savanampi icchitabbaṃ – parato ghoso, suttaṃ, geyyaṃ, veyyākaraṇaṃ, gāthā, udānaṃ, itivuttakaṃ, jātakaṃ, abbhutadhammaṃ, vedallaṃ; ñāṇampi icchitabbaṃ – kammassakatañāṇaṃ, saccānulomikañāṇaṃ †, abhiññāñāṇaṃ, samāpattiñāṇaṃ; sīlampi icchitabbaṃ – pātimokkhasaṃvaro; vatampi icchitabbaṃ – aṭṭha dhutaṅgāni – āraññikaṅgaṃ, piṇḍapātikaṅgaṃ, paṃsukūlikaṅgaṃ, tecīvarikaṅga, sapadānacārikaṅgaṃ, khalupacchābhattikaṅgaṃ, nesajjikaṅgaṃ, yathāsanthatikaṅganti.
Not by non-seeing, not by non-hearing, not by non-knowing, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that. View also should be desired. The tenfold right view: there is what is given, there is the result of what is given, there is what is offered; there is fruit and result of good and bad kamma; there is this world, there is a world beyond; there is mother, there is father; there are spontaneously arisen beings; there are in the world ascetics and brahmins who are gone rightly and practiced rightly, who, having realized this world and the world beyond for themselves with direct knowledge, proclaim it. Hearing also should be desired—a voice from another, discourse, mixed prose and verse, exposition, stanzas, inspired utterances, 'Thus-saids,' birth stories, wonderful phenomena, question-and-answer. Knowledge also should be desired—knowledge of kamma as one's own, knowledge conforming to the truths, direct knowledge, knowledge of attainments. Virtue also should be desired—restraint according to the Pātimokkha. Observances also should be desired—the eight ascetic practices: the practice of a forest dweller, the practice of an alms-food eater, the practice of a rag-robe wearer, the practice of a three-robe wearer, the practice of going on an uninterrupted alms-round, the practice of refusing food offered later, the practice of a sitter, the practice of using whatever dwelling is allotted.
(Câu) 'Không phải do vô kiến, vô văn, vô trí, vô giới, vô hạnh.' Tri kiến cũng cần được mong muốn. Chánh kiến có mười đối tượng là: 'Có (quả của) sự bố thí, có (quả của) sự cúng dường, có (quả của) sự tế lễ; có quả dị thục của các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các chúng sanh hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đạt đến sự hoàn hảo, đã thực hành chân chánh, là những vị sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí đã tuyên thuyết về đời này và đời sau;' văn cũng cần được mong muốn – (đó là) tiếng nói từ người khác, kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ, cảm hứng ngữ, như thị thuyết, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng; trí cũng cần được mong muốn – (đó là) trí về nghiệp là sở hữu của mình, trí tùy thuận chân lý, thắng trí, trí về thiền chứng; giới cũng cần được mong muốn – (đó là) sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha; hạnh cũng cần được mong muốn – (đó là) tám pháp đầu-đà: hạnh ở rừng, hạnh khất thực, hạnh mặc y phấn tảo, hạnh ba y, hạnh khất thực theo thứ tự, hạnh không nhận thêm đồ ăn sau khi đã bắt đầu ăn, hạnh ngồi, hạnh ở bất cứ chỗ nào được sắp đặt.
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tenāti. Nāpi sammādiṭṭhimattena, nāpi savanamattena, nāpi ñāṇamattena, nāpi sīlamattena, nāpi vatamattena ajjhattasantiṃ patto hoti, nāpi vinā etehi dhammehi ajjhattasantiṃ pāpuṇāti. Api ca sambhārā ime dhammā honti ajjhattasantiṃ pāpuṇituṃ adhigantuṃ phassituṃ sacchikātunti – adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā asīlatā abbatā nopi tena.
Not by non-seeing, not by non-hearing, not by non-knowing, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that. Nor by mere right view, nor by mere hearing, nor by mere knowledge, nor by mere virtue, nor by mere observances, does one attain inner peace. Nor does one reach inner peace without these qualities. Moreover, these qualities are requisites for attaining, realizing, experiencing, and directly knowing inner peace—not by non-seeing, not by non-hearing, not by non-knowing, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that.
(Câu) 'Không phải do vô kiến, vô văn, vô trí, vô giới, vô hạnh.' Cũng không phải chỉ do chánh kiến, cũng không phải chỉ do văn, cũng không phải chỉ do trí, cũng không phải chỉ do giới, cũng không phải chỉ do hạnh mà đạt được sự an tịnh nội tâm, và cũng không phải không có các pháp này mà có thể đạt đến sự an tịnh nội tâm. Hơn nữa, các pháp này là những hành trang để đạt đến, chứng đắc, tiếp xúc, chứng ngộ sự an tịnh nội tâm – (cho nên được nói là) không phải do vô kiến, vô văn, vô trí, vô giới, vô hạnh.
Ete ca nissajja anuggahāyāti. Eteti kaṇhapakkhikānaṃ dhammānaṃ samugghātato pahānaṃ icchitabbaṃ, tedhātukesu kusalesu dhammesu atammayatā † icchitabbā, yato kaṇhapakkhiyā dhammā samugghātapahānena pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, tedhātukesu ca kusalesu dhammesu atammayatā hoti, ettāvatāpi na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisati. Atha vā na gaṇhitabbā na parāmasitabbā nābhinivisitabbāti. Evampi ete ca nissajja anuggahāya. Yato taṇhā ca diṭṭhi ca māno ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti, ettāvatāpi na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti. Evampi ete ca nissajja anuggahāya.
Regarding the phrase 'Having relinquished these, it is for non-grasping': Here, 'these' means that the abandonment of states of the dark side by way of complete eradication is to be desired, and that the absence of craving for wholesome states in the three realms is to be desired. Because the states of the dark side are abandoned by eradication, with their roots cut off, made into a palm-stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future; and because there is an absence of craving for wholesome states in the three realms—to this extent, one does not grasp, does not misapprehend, does not adhere. Alternatively: they are not to be grasped, not to be misapprehended, not to be adhered to. In this way also is the meaning of 'Having relinquished these, it is for non-grasping'. Because craving, views, and conceit are abandoned, with their roots cut off, made into a palm-stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future—to this extent, one does not grasp, does not misapprehend, does not adhere. In this way also is the meaning of 'Having relinquished these, it is for non-grasping'.
(Câu) 'Và sau khi từ bỏ những điều này, không phải để chấp thủ.' Ở đây, cần mong muốn sự đoạn trừ bằng cách nhổ bật gốc các pháp thuộc hắc phần, cần mong muốn sự không đồng hóa với các pháp thiện trong ba giới. Bởi vì khi các pháp thuộc hắc phần đã được đoạn trừ bằng cách nhổ bật gốc, đã bị cắt lìa gốc rễ, bị làm cho như thân cây ta-la, bị làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, và có sự không đồng hóa với các pháp thiện trong ba giới, thì ngay cả với chừng ấy, vị ấy cũng không nắm giữ, không chấp thủ sai lầm, không quyết tâm theo. Hoặc là, không nên nắm giữ, không nên chấp thủ sai lầm, không nên quyết tâm theo. Theo cách này cũng là (ý nghĩa của) 'Và sau khi từ bỏ những điều này, không phải để chấp thủ.' Bởi vì khi ái, kiến, và mạn đã được đoạn trừ, đã bị cắt lìa gốc rễ, bị làm cho như thân cây ta-la, bị làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, thì ngay cả với chừng ấy, vị ấy cũng không nắm giữ, không chấp thủ sai lầm, không quyết tâm theo. Theo cách này cũng là (ý nghĩa của) 'Và sau khi từ bỏ những điều này, không phải để chấp thủ.'
Yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti, ettāvatāpi na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti. Evampi ete ca nissajja anuggahāya.
Because the meritorious volitional formations, the demeritorious volitional formations, and the imperturbable volitional formations are abandoned—with their roots cut off, made into a palm-stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future—to this extent, one does not grasp, does not misapprehend, does not adhere. In this way also is the meaning of 'Having relinquished these, it is for non-grasping'.
Bởi vì khi phước hành, phi phước hành, và bất động hành đã được đoạn trừ, đã bị cắt lìa gốc rễ, bị làm cho như thân cây ta-la, bị làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, thì ngay cả với chừng ấy, vị ấy cũng không nắm giữ, không chấp thủ sai lầm, không quyết tâm theo. Theo cách này cũng là (ý nghĩa của) 'Và sau khi từ bỏ những điều này, không phải để chấp thủ.'
Santo anissāya bhavaṃ na jappeti. Santoti rāgassa samitattā santo, dosassa samitattā santo, mohassa samitattā santo, kodhassa… upanāhassa… makkhassa… paḷāsassa… issāya… macchariyassa… māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ… sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti – santo.
The peaceful one, not relying on anything, does not yearn for becoming. 'Peaceful' means: because passion has been stilled, one is peaceful; because hatred has been stilled, one is peaceful; because delusion has been stilled, one is peaceful; because anger... hostility... denigration... spite... envy... stinginess... deceit... craftiness... obstinacy... contention... conceit... arrogance... intoxication... heedlessness... all defilements... all misconduct... all distress... all fevers... all torments... all unwholesome volitional formations have been stilled, calmed, fully calmed, extinguished, quenched, departed, and subsided—one is peaceful, calmed, fully calmed, quenched, and subsided. This is the meaning of the word 'peaceful'.
(Câu) 'Bậc tịch tịnh, không nương tựa, không mong cầu sự hiện hữu.' 'Bậc tịch tịnh' (nghĩa là): là bậc tịch tịnh do tham đã được lắng dịu, là bậc tịch tịnh do sân đã được lắng dịu, là bậc tịch tịnh do si đã được lắng dịu; do phẫn nộ... oán hận... gièm pha... cạnh tranh... tật đố... bỏn xẻn... xảo trá... gian manh... ngoan cố... hiếu thắng... kiêu mạn... quá mạn... say đắm... phóng dật... do tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả phiền muộn... tất cả nhiệt não... tất cả thiêu đốt... tất cả các hành bất thiện đã được làm cho an tịnh, đã được lắng dịu, đã được hoàn toàn lắng dịu, đã được dập tắt, đã được tịch diệt, đã được lìa khỏi, đã được làm cho an tĩnh, nên gọi là bậc tịch tịnh, bậc an tịnh, bậc hoàn toàn an tịnh, bậc tịch diệt, bậc an tĩnh – (cho nên gọi là) bậc tịch tịnh.
Anissāyāti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Taṇhānissayaṃ pahāya diṭṭhinissayaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ anissāya, sotaṃ anissāya, ghānaṃ anissāya, jivhaṃ anissāya, kāyaṃ anissāya, manaṃ anissāya, rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ… nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme anissāya aggaṇhitvā aparāmasitvā anabhinivisitvāti – santo anissāya. Bhavaṃ na jappeti kāmabhavaṃ na jappeyya, rūpabhavaṃ na jappeyya, arūpabhavaṃ na jappeyya nappajappeyya na abhijappeyyāti – santo anissāya bhavaṃ na jappe.
'Not relying' refers to two kinds of reliance: reliance on craving and reliance on views... This is reliance on craving... This is reliance on views. Having abandoned reliance on craving and having relinquished reliance on views, not relying on the eye, not relying on the ear, not relying on the nose, not relying on the tongue, not relying on the body, not relying on the mind, not relying on forms... sounds... smells... tastes... tactile objects... family... group... dwelling... gain... fame... praise... pleasure... robes... alms-food... lodging... medicinal requisites... the sense-sphere... the form-sphere... the formless sphere... sense-sphere becoming... form-sphere becoming... formless-sphere becoming... becoming with perception... becoming without perception... becoming with neither perception nor non-perception... becoming with one aggregate... becoming with four aggregates... becoming with five aggregates... the past... the future... the present... not relying on things seen, heard, sensed, or cognized—not grasping, not clinging, not adhering—thus, peaceful, not relying. He does not crave for becoming: he should not crave for sense-sphere becoming, he should not crave for form-sphere becoming, he should not crave for formless-sphere becoming, he should not crave, he should not greatly crave—thus, peaceful, not relying, he does not crave for becoming.
'Không nương tựa' (nghĩa là) có hai sự nương tựa: nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào ái... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Sau khi đã từ bỏ sự nương tựa vào ái, đã xả ly sự nương tựa vào tà kiến, vị ấy không nương tựa vào mắt, không nương tựa vào tai, không nương tựa vào mũi, không nương tựa vào lưỡi, không nương tựa vào thân, không nương tựa vào ý; không nương tựa vào các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm... gia tộc... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... lời tán dương... sự an lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... dục giới... sắc giới... vô sắc giới... dục hữu... sắc hữu... vô sắc hữu... tưởng hữu... vô tưởng hữu... phi tưởng phi phi tưởng hữu... nhất uẩn hữu... tứ uẩn hữu... ngũ uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức; không nắm giữ, không chấp thủ sai lầm, không quyết tâm theo – (cho nên gọi là) bậc tịch tịnh không nương tựa. 'Không mong cầu sự hiện hữu' (nghĩa là) không nên mong cầu dục hữu, không nên mong cầu sắc hữu, không nên mong cầu vô sắc hữu; không nên tưởng tượng, không nên nhiệt thành mong cầu – (cho nên được nói là) bậc tịch tịnh, không nương tựa, không mong cầu sự hiện hữu.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Na diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, [māgaṇḍiyāti bhagavā]
Sīlabbatenāpi na suddhimāha;
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tena;
Ete ca nissajja anuggahāya, santo anissāya bhavaṃ na jappe’’ti.
“Not by views, not by what is heard, not by knowledge,” [Māgaṇḍiya, said the Blessed One], “nor by virtue and observances does one declare purity. Not by absence of views, not by absence of what is heard, not by absence of knowledge, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that. Having relinquished these and not grasping them, the peaceful one, not relying, does not crave for becoming.”
Này Māgaṇḍiya, (Thế Tôn đã nói): ‘(Ta) không nói rằng sự thanh tịnh có được do tri kiến, do điều được nghe, do trí tuệ, cũng không do giới và hạnh nguyện; cũng không phải do không có tri kiến, không có điều được nghe, không có trí tuệ, không có giới, không có hạnh nguyện. Bậc thiện trí sau khi đã từ bỏ các điều ấy và không còn nắm giữ, là người an tịnh, không còn nương tựa, không còn mong cầu sự hiện hữu.’
75.
75.
75.
No ce kira diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, [iti māgaṇḍiyo]
Sīlabbatenāpi na suddhimāha;
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tena;
Maññāmahaṃ momuhameva dhammaṃ, diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ.
“If indeed not by view, not by what is heard, not by knowledge,” [so said Māgaṇḍiya], “nor by virtue and observances does one declare purity; not by absence of views, not by absence of what is heard, not by absence of knowledge, not by lack of virtue, not by lack of observances—nor even by that—then I consider this teaching to be utterly bewildering, for some attain purity by view.”
(Māgaṇḍiya thưa rằng): "Nếu quả thật ngài không nói rằng sự thanh tịnh có được do tri kiến, do điều được nghe, do trí tuệ, cũng không do giới và hạnh nguyện; cũng không phải do không có tri kiến, không có điều được nghe, không có trí tuệ, không có giới, không có hạnh nguyện. Tôi cho rằng giáo pháp này quả thật là mê muội, trong khi một số người đạt đến sự thanh tịnh là do tri kiến."
No ce kira diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇenāti. Diṭṭhiyāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasi; sutenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ… diṭṭhasutenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ… ñāṇenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasīti – no ce kira diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena.
“If indeed not by view, not by what is heard, not by knowledge.” Through view, one neither says, teaches, speaks, points out, nor designates purity, special purity, all-round purity; liberation, special liberation, or all-round liberation. Nor through what is heard... Nor through what is seen and heard... Nor through knowledge does one say, teach, speak, point out, or designate purity, special purity, all-round purity; liberation, special liberation, or all-round liberation. This is the meaning of the phrase, ‘If indeed not by view, not by what is heard, not by knowledge.’
‘Nếu quả thật không do tri kiến, không do điều được nghe, không do trí tuệ’ có nghĩa là: Ngài không nói, không thuyết giảng, không tuyên bố, không chỉ rõ, không trình bày rằng sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn có được do tri kiến; cũng không do điều được nghe mà có được sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn… cũng không do điều được thấy và được nghe mà có được sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn… cũng không do trí tuệ mà có được sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Ngài không nói, không thuyết giảng, không tuyên bố, không chỉ rõ, không trình bày. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Nếu quả thật không do tri kiến, không do điều được nghe, không do trí tuệ.’
Iti māgaṇḍiyoti itīti padasandhi…pe…. Māgaṇḍiyoti tassa brāhmaṇassa nāmaṃ…pe… iti māgaṇḍiyo.
“Thus, Māgaṇḍiya”—‘Iti’ is a word-joining... “Māgaṇḍiya” is the name of that brahmin... This is the meaning of the phrase, ‘Thus, Māgaṇḍiya.’
‘Iti māgaṇḍiyo’: ‘Iti’ là từ nối… v.v… ‘Māgaṇḍiyo’ là tên của vị Bà-la-môn ấy… v.v… (Đây là ý nghĩa của) ‘iti māgaṇḍiyo’.
Sīlabbatenāpi na suddhimāhāti. Sīlenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ…pe… vatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ…pe… sīlabbatenāpi suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ nāha na kathesi na bhaṇasi na dīpayasi na voharasīti – sīlabbatenāpi na suddhimāha.
“Nor by virtue and observances does one declare purity.” Through virtue, one neither says, teaches, speaks, points out, nor designates purity, special purity, or all-round purity... Nor through observances... Nor through virtue and observances does one say, teach, speak, point out, or designate purity, special purity, all-round purity; liberation, special liberation, or all-round liberation. This is the meaning of the phrase, ‘Nor by virtue and observances does one declare purity.’
‘Cũng không do giới và hạnh nguyện mà nói có sự thanh tịnh’ có nghĩa là: Ngài không nói, không thuyết giảng, không tuyên bố, không chỉ rõ, không trình bày rằng sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch… v.v… có được do giới; cũng không do hạnh nguyện mà có được sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch… v.v…; cũng không do giới và hạnh nguyện mà có được sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Cũng không do giới và hạnh nguyện mà nói có sự thanh tịnh.’
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tenāti. Diṭṭhipi icchitabbāti evaṃ bhaṇasi, savanampi icchitabbanti evaṃ bhaṇasi, ñāṇampi icchitabbanti evaṃ bhaṇasi, na sakkosi ekaṃsena anujānituṃ, napi sakkosi ekaṃsena paṭikkhipitunti – adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tena.
“Not by absence of views, not by absence of what is heard, not by absence of knowledge, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that.” You say that views should be desired, you say that what is heard should be desired, you say that knowledge should be desired. You are unable to affirm categorically, nor are you able to reject categorically. This is the meaning of the phrase, “Not by absence of views, not by absence of what is heard, not by absence of knowledge, not by lack of virtue, not by lack of observances, nor even by that.”
‘Không do không có tri kiến, không có điều được nghe, không có trí tuệ, không có giới, không có hạnh nguyện’ có nghĩa là: Ngài nói rằng tri kiến cũng là điều đáng mong muốn, điều được nghe cũng là điều đáng mong muốn, trí tuệ cũng là điều đáng mong muốn, nhưng ngài không thể hoàn toàn chấp nhận, cũng không thể hoàn toàn bác bỏ. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Không do không có tri kiến, không có điều được nghe, không có trí tuệ, không có giới, không có hạnh nguyện.’
Maññāmahaṃ momuhameva dhammanti. Momūhadhammo ayaṃ tuyhaṃ bāladhammo mūḷhadhammo aññāṇadhammo amarāvikkhepadhammoti evaṃ maññāmi evaṃ jānāmi evaṃ ājānāmi evaṃ vijānāmi evaṃ paṭivijānāmi evaṃ paṭivijjhāmīti – maññāmahaṃ momuhameva dhammaṃ.
“I consider this Dhamma to be utterly bewildering.” I think, know, understand, discern, comprehend, and penetrate that this Dhamma of yours is a bewildering Dhamma, a foolish Dhamma, a deluded Dhamma, an ignorant Dhamma, a Dhamma of equivocation. This is the meaning of the phrase, “I consider this Dhamma to be utterly bewildering.”
‘Tôi cho rằng giáo pháp này quả thật là mê muội’ có nghĩa là: Giáo pháp này của ngài là giáo pháp mê muội, giáo pháp ngu si, giáo pháp si mê, giáo pháp vô minh, giáo pháp ngụy biện như lươn lẹo. Tôi nghĩ như vậy, tôi biết như vậy, tôi nhận biết như vậy, tôi hiểu rõ như vậy, tôi phân biệt được như vậy, tôi thấu triệt được như vậy. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Tôi cho rằng giáo pháp này quả thật là mê muội.’
Diṭṭhiyā eke paccenti suddhinti. Suddhidiṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti; ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti; ‘‘asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti diṭṭhiyā eke samaṇabrāhmaṇā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccentīti – diṭṭhiyā eke paccenti suddhiṃ.
“Some attain purity by view.” Some ascetics and brahmins attain purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, or complete liberation by view. ‘The world is eternal—this alone is true, anything else is foolish’—some ascetics and brahmins attain purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, or complete liberation by view. ‘The world is not eternal... The Tathāgata neither exists nor does not exist after death—this alone is true, anything else is foolish’—some ascetics and brahmins attain purity, special purity, complete purity, liberation, special liberation, or complete liberation by view—this is the meaning of ‘Some attain purity by view.’”
‘Một số người đạt đến sự thanh tịnh là do tri kiến’ có nghĩa là: Một số Sa-môn, Bà-la-môn do tri kiến về sự thanh tịnh mà đạt đến sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Họ cho rằng: ‘Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là chân lý, ngoài ra là sai lầm.’ Do tri kiến như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn đạt đến sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. Hoặc: ‘Thế giới là không thường hằng’… v.v… ‘Sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại, chỉ có điều này là chân lý, ngoài ra là sai lầm.’ Do tri kiến như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn đạt đến sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự giải thoát đặc biệt, sự giải thoát hoàn toàn. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Một số người đạt đến sự thanh tịnh là do tri kiến.’
Tenāha so brāhmaṇo –
Therefore, that brahmin said:
Do đó, vị Bà-la-môn ấy đã nói rằng:
‘‘No ce kira diṭṭhiyā na sutiyā na ñāṇena, [iti māgaṇḍiyo]
Sīlabbatenāpi na suddhimāha;
Adiṭṭhiyā assutiyā añāṇā, asīlatā abbatā nopi tena;
Maññāmahaṃ momuhameva dhammaṃ, diṭṭhiyā eke paccenti suddhi’’nti.
“If indeed not by view, nor by learning, nor by wisdom,” [so said Māgaṇḍiya], “nor by virtue and vows does he claim purity; without view, without learning, without wisdom, without virtue, without vows—not even by that—then I think this Dhamma is utter delusion, while some attain purity by means of views.”
‘Nếu quả thật ngài không nói rằng sự thanh tịnh có được do tri kiến, do điều được nghe, do trí tuệ, cũng không do giới và hạnh nguyện; cũng không phải do không có tri kiến, không có điều được nghe, không có trí tuệ, không có giới, không có hạnh nguyện. Tôi cho rằng giáo pháp này quả thật là mê muội, trong khi một số người đạt đến sự thanh tịnh là do tri kiến.’
76.
76.
76.
Diṭṭhiñca † nissāyanupucchamāno, [māgaṇḍiyāti bhagavā]
Samuggahītesu pamohamāgā † ;
Ito ca nāddakkhi aṇumpi saññaṃ, tasmā tuvaṃ momuhato dahāsi.
“Relying on views and questioning, [O Māgaṇḍiya,” said the Blessed One,] “you have come to confusion regarding what is grasped. And from this teaching, you have not seen even a subtle perception; therefore, you regard it with utter delusion.”
(Thế Tôn phán): "Này Māgaṇḍiya, vì nương tựa vào các tri kiến mà ông cứ hỏi mãi, ông đã đi đến chỗ mê lầm trong những gì mình đã chấp thủ. Từ giáo pháp này, ông đã không thấy được một chút nhận thức nào, do đó ông xem nó là mê muội."
Diṭṭhiñca nissāyanupucchamānoti. Māgaṇḍiyo brāhmaṇo diṭṭhiṃ nissāya diṭṭhiṃ pucchati, lagganaṃ nissāya lagganaṃ pucchati, bandhanaṃ nissāya bandhanaṃ pucchati, palibodhaṃ nissāya palibodhaṃ pucchati. Anupucchamānoti punappunaṃ pucchatīti – diṭṭhiñca nissāyanupucchamāno.
“Relying on views and questioning.” The brahmin Māgaṇḍiya, relying on a view, questions based on views; relying on an attachment, he questions based on attachments; relying on a bond, he questions based on bonds; relying on an encumbrance, he questions based on encumbrances. “Questioning repeatedly” (`anupucchamāno`) means asking again and again. Thus, “relying on views and questioning.”
‘Vì nương tựa vào các tri kiến mà cứ hỏi mãi’ có nghĩa là: Vị Bà-la-môn Māgaṇḍiya nương tựa vào tri kiến mà hỏi về tri kiến, nương tựa vào sự dính mắc mà hỏi về sự dính mắc, nương tựa vào sự trói buộc mà hỏi về sự trói buộc, nương tựa vào sự chướng ngại mà hỏi về sự chướng ngại. ‘Cứ hỏi mãi’ có nghĩa là hỏi đi hỏi lại. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Vì nương tựa vào các tri kiến mà cứ hỏi mãi.’
Māgaṇḍiyāti bhagavā taṃ brāhmaṇaṃ nāmena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – māgaṇḍiyāti bhagavā.
“O Māgaṇḍiya,” said the Blessed One. The Blessed One addressed that brahmin by name. “The Blessed One” is a term of respect... indeed, the designation of realization is none other than the Blessed One. Thus, “O Māgaṇḍiya,” said the Blessed One.
‘Này Māgaṇḍiya, Thế Tôn (phán)’ có nghĩa là: Thế Tôn gọi vị Bà-la-môn ấy bằng tên. ‘Bhagavā’ (Thế Tôn) là một từ ngữ tôn kính… v.v… là một danh hiệu được chứng thực, đó là ‘Bhagavā’. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Này Māgaṇḍiya, Thế Tôn (phán)’.
Samuggahītesu pamohamāgāti. Yā sā diṭṭhi tayā gahitā parāmaṭṭhā abhiniviṭṭhā ajjhositā adhimuttā, tāyeva tvaṃ diṭṭhiyā mūḷhosi pamūḷhosi sammūḷhosi mohaṃ āgatosi pamohaṃ āgatosi sammohaṃ āgatosi andhakāraṃ pakkhandosīti – samuggahītesu pamohamāgā.
“You have come to confusion regarding what is grasped.” That view which you have taken up, wrongly grasped, adhered to, held, and are resolved upon—by that very view you are deluded, especially deluded, completely deluded; you have come to delusion, come to special delusion, come to complete delusion; you plunge into darkness. This is the meaning of “you have come to confusion regarding what is grasped.”
‘Ông đã đi đến chỗ mê lầm trong những gì mình đã chấp thủ’ có nghĩa là: Bất cứ tri kiến nào mà ông đã nắm giữ, đã bám víu, đã cố chấp, đã an trú, đã quyết tâm theo, chính do tri kiến ấy mà ông bị si mê, bị mê lầm, bị hoàn toàn mê lầm; ông đã đi đến si mê, đã đi đến mê lầm, đã đi đến hoàn toàn mê lầm; ông đã bước vào bóng tối. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Ông đã đi đến chỗ mê lầm trong những gì mình đã chấp thủ.’
Ito ca nāddakkhi aṇumpi saññanti. Ito ajjhattasantito vā paṭipadāto vā dhammadesanāto vā, yuttasaññaṃ pattasaññaṃ lakkhaṇasaññaṃ kāraṇasaññaṃ ṭhānasaññaṃ na paṭilabhati, kuto ñāṇanti. Evampi ito ca nāddakkhi aṇumpi saññaṃ. Atha vā aniccaṃ vā aniccasaññānulomaṃ vā, dukkhaṃ vā dukkhasaññānulomaṃ vā, anattaṃ vā anattasaññānulomaṃ vā, saññuppādamattaṃ vā sañjānitamattaṃ vā na paṭilabhati, kuto ñāṇanti. Evampi ito ca nāddakkhi aṇumpi saññaṃ.
“And from this, you did not see even a subtle perception.” From this—whether from Nibbāna, the quenching of internal passion, or from the practice, or from the teaching of the Dhamma—one does not obtain a suitable perception, an attained perception, a perception of the characteristic, a perception of the cause, or a perception according to the condition. How then could one obtain knowledge? Thus, “And from this, you did not see even a subtle perception.” Or alternatively, one does not obtain the perception of impermanence, or the insight knowledge that conforms with the perception of impermanence; the perception of suffering, or the insight knowledge that conforms with the perception of suffering; the perception of not-self, or the insight knowledge that conforms with the perception of not-self; or merely the arising of perception, or merely what is cognized. How then could one obtain knowledge? Thus also is the meaning of “And from this, you did not see even a subtle perception” to be understood.
‘Từ giáo pháp này, ông đã không thấy được một chút nhận thức nào’ có nghĩa là: Từ sự an tịnh nội tâm này, hoặc từ con đường thực hành này, hoặc từ bài thuyết pháp này, ông không có được nhận thức thích hợp, nhận thức tương ứng, nhận thức về đặc tính, nhận thức về nguyên nhân, nhận thức về cơ sở. Làm sao có được trí tuệ? – Đây cũng là ý nghĩa của ‘Từ giáo pháp này, ông đã không thấy được một chút nhận thức nào.’ Hoặc là: Ông không có được (nhận thức về) sự vô thường, hay điều phù hợp với nhận thức về vô thường; (nhận thức về) sự khổ, hay điều phù hợp với nhận thức về khổ; (nhận thức về) sự vô ngã, hay điều phù hợp với nhận thức về vô ngã; hoặc chỉ là sự sanh khởi của nhận thức, hoặc chỉ là sự nhận biết. Làm sao có được trí tuệ? – Đây cũng là ý nghĩa của ‘Từ giáo pháp này, ông đã không thấy được một chút nhận thức nào.’
Tasmā tuvaṃ momuhato dahāsīti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā momūhadhammato bāladhammato mūḷhadhammato aññāṇadhammato amarāvikkhepadhammato dahāsi passasi dakkhasi olokesi nijjhāyasi upaparikkhasīti – tasmā tuvaṃ momuhato dahāsi.
“Therefore, being greatly deluded, you see.” As for `tasmā`: for that reason, from that cause, conditioned by that, on that account—by the nature of great delusion, by the nature of foolishness, by the nature of confusion, by the nature of ignorance, by the nature of distortion like that of the eel-wrigglers, you `dahāsi`, that is, you see (`passasi`), you perceive (`dakkhasi`), you observe (`olokesi`), you contemplate (`nijjhāyasi`), you examine (`upaparikkhasīti`). This is the meaning of the phrase, “Therefore, being greatly deluded, you see.”
‘Do đó ông xem nó là mê muội’ có nghĩa là: ‘Tasmā’ (do đó) có nghĩa là vì lý do đó, vì nguyên nhân đó, vì duyên đó, vì cơ sở đó. Ông thấy, ông nhìn, ông quan sát, ông chiêm nghiệm, ông xem xét (giáo pháp này) một cách mê muội, một cách ngu si, một cách si mê, một cách vô minh, một cách ngụy biện như lươn lẹo. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Do đó ông xem nó là mê muội.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Thế Tôn đã phán rằng:
‘‘Diṭṭhiñca nissāyanupucchamāno, [māgaṇḍiyāti bhagavā]
Samuggahītesu pamohamāgā;
Ito ca nāddakkhi aṇumpi saññaṃ, tasmā tuvaṃ momuhato dahāsī’’ti.
“Relying on views and continually questioning, [O Māgaṇḍiya,” said the Blessed One,] “you have come to confusion regarding what is grasped. And from this you have not seen even a subtle perception; therefore, being greatly deluded, you perceive.”
“(Thế Tôn phán rằng: Này Māgaṇḍiya,) trong khi nương tựa và truy hỏi vềทิฏฐิ, ngươi đã đi đến sự si mê ở trong các điều đã chấp thủ. Và từ đó, ngươi đã không nhận thấy được một chút tưởng nào. Vì thế, ngươi thấy (họ là) kẻ si dại.”
77.
77.
77.
Samo visesī uda vā nihīno, yo maññati so vivadetha tena;
Tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesīti na tassa hoti.
“One who conceives himself to be ‘equal,’ ‘superior,’ or ‘inferior,’ would dispute on account of that. For one who is unshaken in these three distinctions, the thought ‘I am equal,’ ‘I am superior,’ or ‘I am inferior’ does not occur.”
Người nào nghĩ rằng: ‘(Ta) bằng, (ta) hơn, hay (ta) thua,’ người ấy sẽ tranh luận vì điều ấy. Vị nào không dao động trong ba phương diện, vị ấy không có (ý nghĩ): ‘(Ta) bằng hay (ta) hơn.’
Samo visesī uda vā nihīno, yo maññati so vivadetha tenāti. Sadisohamasmīti vā seyyohamasmīti vā hīnohamasmīti vā yo maññati, so tena mānena tāya diṭṭhiyā tena vā puggalena kalahaṃ kareyya bhaṇḍanaṃ kareyya viggahaṃ kareyya vivādaṃ kareyya medhagaṃ kareyya – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi, kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi, micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno, sahitaṃ me, asahitaṃ te, pure vacanīyaṃ pacchā avaca, pacchā vacanīyaṃ pure avaca, adhiciṇṇaṃ te viparāvattaṃ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – samo visesī uda vā nihīno yo maññati so vivadetha tena.
“One who considers himself equal, superior, or inferior—he would dispute by that.” If one thinks, “I am equal,” or “I am superior,” or “I am inferior,” then due to that conceit, because of that view, or with that person, one might engage in quarrels, disputes, strife, arguments, or contention—saying: “You do not understand this Dhamma-Vinaya, I understand this Dhamma-Vinaya. How could you understand this Dhamma-Vinaya? You are practicing wrongly, I am practicing rightly. My statement is beneficial, yours is not beneficial. What should have been said first, you said last; what should have been said last, you said first. What you have long practiced is overturned. A charge is laid against you. You are censured. Go and try to refute this charge, or disentangle yourself if you can!” Thus, “one who considers himself equal, superior, or inferior—he would dispute by that.”
Về câu: ‘Người nào nghĩ rằng: ‘(Ta) bằng, (ta) hơn, hay (ta) thua,’ người ấy sẽ tranh luận vì điều ấy.’ Người nào nghĩ rằng: ‘Ta bằng,’ hoặc ‘Ta hơn,’ hoặc ‘Ta thua,’ người ấy do vì lòng kiêu mạn ấy, do vì tà kiến ấy, hoặc với người ấy, người ấy sẽ gây ra sự cãi vã, sẽ gây ra sự tranh chấp, sẽ gây ra sự xung đột, sẽ gây ra sự tranh luận, sẽ gây ra sự đấu khẩu (rằng): – ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết được Pháp và Luật này? Ông đã thực hành sai, tôi đã thực hành đúng. Lời của tôi thì hợp lý, lời của ông thì không hợp lý. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Điều ông đã dày công nghiên cứu đã bị đảo lộn. Luận điểm của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách gỡ lại luận điểm của mình, hoặc hãy tự gỡ đi nếu ông có thể!’ – (như thế ấy là) ‘Người nào nghĩ rằng: ‘(Ta) bằng, (ta) hơn, hay (ta) thua,’ người ấy sẽ tranh luận vì điều ấy.’
Tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesīti na tassa hotīti. Yassetā tisso vidhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so tīsu vidhāsu na kampati na vikampati, avikampamānassa puggalassa sadisohamasmīti vā seyyohamasmīti vā hīnohamasmīti vā. Na tassa hotīti. Na mayhaṃ hotīti tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesīti – na tassa hoti.
“Unshaken in the three distinctions, for him there is no ‘equal’ or ‘superior’.” For one for whom these three distinctions have been abandoned, well cut off, stilled, pacified, are incapable of arising again, and have been burned by the fire of wisdom—he is not shaken, not violently shaken, in the three distinctions. For such an unshaken person, the thought, “I am equal,” or “I am superior,” or “I am inferior,” does not occur. For him, it is not so; for me, it is not so. Thus, “unshaken in the three distinctions, for him there is no ‘equal’ or ‘superior’.”
Về câu: ‘Vị nào không dao động trong ba phương diện, vị ấy không có (ý nghĩ): ‘(Ta) bằng hay (ta) hơn.’’ Vị nào mà ba phương diện này đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã không còn khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy không bị rung động, không bị dao động trong ba phương diện. Đối với vị không dao động ấy, (ý nghĩ) rằng: ‘Ta bằng,’ hoặc ‘Ta hơn,’ hoặc ‘Ta thua,’ là không có. Về câu: ‘Vị ấy không có.’ (Nghĩa là) không có đối với tôi. (Như thế ấy là) ‘Vị nào không dao động trong ba phương diện, vị ấy không có (ý nghĩ): ‘(Ta) bằng hay (ta) hơn.’’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Samo visesī uda vā nihīno, yo maññati so vivadetha tena;
Tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesīti na tassa hotī’’ti.
“One who conceives himself to be ‘equal,’ ‘superior,’ or ‘inferior,’ would dispute on account of that; For one who is unshaken in these three distinctions, the thought ‘I am equal,’ ‘I am superior,’ or ‘I am inferior’ does not occur.”
“Người nào nghĩ rằng: ‘(Ta) bằng, (ta) hơn, hay (ta) thua,’ người ấy sẽ tranh luận vì điều ấy. Vị nào không dao động trong ba phương diện, vị ấy không có (ý nghĩ): ‘(Ta) bằng hay (ta) hơn.’”
78.
78.
78.
Saccanti so brāhmaṇo kiṃ vadeyya, musāti vā so vivadetha kena;
Yasmiṃ samaṃ visamaṃ vāpi natthi, sa kena vādaṃ paṭisaṃyujeyya.
What would that brahmin declare as ‘truth’? Or, saying ‘it is false,’ by what would he dispute? In whom there is neither equal nor unequal, by what would he engage in debate?
Vị Bà-la-môn ấy sao có thể nói: ‘(Đây là) sự thật,’ hoặc với cái gì mà vị ấy tranh luận rằng: ‘(Đây là) điều dối trá?’ Vị nào không có (quan niệm) ‘bằng’ hoặc ‘không bằng,’ vị ấy sẽ tham gia vào cuộc tranh luận với cái gì?
Saccanti so brāhmaṇo kiṃ vadeyyāti. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Saccanti so brāhmaṇo kiṃ vadeyyāti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti brāhmaṇo kiṃ vadeyya kiṃ katheyya kiṃ bhaṇeyya kiṃ dīpayeyya kiṃ vohareyya; ‘‘asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti brāhmaṇo kiṃ vadeyya kiṃ katheyya kiṃ bhaṇeyya kiṃ dīpayeyya kiṃ vohareyyāti – saccanti so brāhmaṇo kiṃ vadeyya.
“What would that brahmin declare as ‘truth’?” A brahmin is so called because he has barred out seven things... he is called “unattached, such-like”; he is Brahmā. “What would that brahmin declare as ‘truth’?”: Would that brahmin say, declare, speak, proclaim, or assert that “The world is eternal—this alone is true, all else is false”? Or that “The world is not eternal”... or that “after death, the Tathāgata neither exists nor does not exist—this alone is true, all else is false”? This is the meaning of “What would that brahmin declare as ‘truth’?”
Về câu: ‘Vị Bà-la-môn ấy sao có thể nói: ‘(Đây là) sự thật.’’ Về từ ‘Bà-la-môn:’ Do đã loại bỏ bảy pháp nên được gọi là Bà-la-môn... cho đến... vị ấy không bị dính mắc, là bậc như thế, được gọi là Phạm thiên. Về câu: ‘Vị Bà-la-môn ấy sao có thể nói: ‘(Đây là) sự thật.’’ Vị Bà-la-môn sao có thể nói, sao có thể trình bày, sao có thể tuyên bố, sao có thể chỉ rõ, sao có thể diễn đạt rằng: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là rỗng tuếch;’ (hoặc) ‘Thế gian là không thường hằng... cho đến... sau khi chết Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại, chỉ điều này là sự thật, điều khác là rỗng tuếch?’ – (như thế ấy là) ‘Vị Bà-la-môn ấy sao có thể nói: ‘(Đây là) sự thật.’’
Musāti vā so vivadetha kenāti. Brāhmaṇo mayhaṃva saccaṃ, tuyhaṃ musāti kena mānena, kāya diṭṭhiyā, kena vā puggalena kalahaṃ kareyya bhaṇḍanaṃ kareyya viggahaṃ kareyya vivādaṃ kareyya medhagaṃ kareyya – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – musāti vā so vivadetha kena.
“Or saying ‘it is false,’ by what would he dispute?”: By what conceit, by what view, or with what person would that brahmin, saying, “Only my view is true, yours is false,” engage in quarrels, arguments, contentions, disputes, or wrangles? Would he say, “You don’t understand this Dhamma-Vinaya... or unravel it if you can”? This is the meaning of “Or saying ‘it is false,’ by what would he dispute?”
Về câu: ‘hoặc với cái gì mà vị ấy tranh luận rằng: ‘(Đây là) điều dối trá?’’ Vị Bà-la-môn với lòng kiêu mạn nào, với tà kiến nào, hoặc với người nào mà có thể gây ra sự cãi vã, có thể gây ra sự tranh chấp, có thể gây ra sự xung đột, có thể gây ra sự tranh luận, có thể gây ra sự đấu khẩu rằng: ‘(Chỉ) của tôi là sự thật, của ông là điều dối trá,’ (và rằng): ‘Ông không biết Pháp và Luật này... cho đến... hoặc hãy tự gỡ đi nếu ông có thể!’ – (như thế ấy là) ‘hoặc với cái gì mà vị ấy tranh luận rằng: ‘(Đây là) điều dối trá?’’
Yasmiṃ samaṃ visamaṃ vāpi natthīti. Yasminti yasmiṃ puggale arahante khīṇāsave sadisohamasmīti māno natthi, seyyohamasmīti māno natthi, hīnohamasmīti omāno natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – yasmiṃ samaṃ visamaṃ vāpi natthi.
“In whom there is neither equal nor unequal.” In whom, in an arahant whose corruptions are destroyed, there is no conceit “I am equal,” no over-conceit “I am superior,” and no conceit of inferiority “I am inferior”; none exists, is found, or is present. It has been abandoned, cut off, stilled, pacified, is incapable of arising again, and has been burned by the fire of wisdom. This is the meaning of “In whom there is neither equal nor unequal.”
Về câu: ‘Vị nào không có (quan niệm) ‘bằng’ hoặc ‘không bằng.’’ Về từ ‘Vị nào:’ ở vị nào, tức là ở bậc A-la-hán, bậc đã tận trừ các lậu hoặc, không có lòng kiêu mạn rằng: ‘Ta bằng,’ không có lòng kiêu mạn rằng: ‘Ta hơn,’ không có lòng tự ti rằng: ‘Ta thua;’ (các thứ ấy) không có, không hiện hữu, không tìm thấy được; đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã không còn khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ – (như thế ấy là) ‘Vị nào không có (quan niệm) ‘bằng’ hoặc ‘không bằng.’’
Sa kena vādaṃ paṭisaṃyujeyyāti. So kena mānena, kāya diṭṭhiyā, kena vā puggalena vādaṃ paṭisaññojeyya paṭibaleyya kalahaṃ kareyya bhaṇḍanaṃ kareyya viggahaṃ kareyya vivādaṃ kareyya medhagaṃ kareyya – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – sa kena vādaṃ paṭisaṃyujeyya.
“By what would he engage in debate?”: By what conceit, what view, or what person would he engage in debate, contend, quarrel, dispute, argue, or clash, saying, “You don’t understand this Dhamma-Vinaya... or unravel it if you can”? This is the meaning of “By what would he engage in debate?”
Về câu: ‘vị ấy sẽ tham gia vào cuộc tranh luận với cái gì?’ Vị ấy với lòng kiêu mạn nào, với tà kiến nào, hoặc với người nào mà có thể tham gia vào cuộc tranh luận, có thể có khả năng, có thể gây ra sự cãi vã, có thể gây ra sự tranh chấp, có thể gây ra sự xung đột, có thể gây ra sự tranh luận, có thể gây ra sự đấu khẩu (rằng): – ‘Ông không biết Pháp và Luật này... cho đến... hoặc hãy tự gỡ đi nếu ông có thể!’ – (như thế ấy là) ‘vị ấy sẽ tham gia vào cuộc tranh luận với cái gì?’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Saccanti so brāhmaṇo kiṃ vadeyya, musāti vā so vivadetha kena;
Yasmiṃ samaṃ visamaṃ vāpi natthi, sa kena vādaṃ paṭisaṃyujeyyā’’ti.
“What would that brahmin declare as ‘truth’? Or, saying ‘it is false,’ by what would he dispute? In whom there is neither equal nor unequal, by what would he engage in debate?”
“Vị Bà-la-môn ấy sao có thể nói: ‘(Đây là) sự thật,’ hoặc với cái gì mà vị ấy tranh luận rằng: ‘(Đây là) điều dối trá?’ Vị nào không có (quan niệm) ‘bằng’ hoặc ‘không bằng,’ vị ấy sẽ tham gia vào cuộc tranh luận với cái gì?”
79.
79.
79.
Okaṃ pahāya aniketasārī, gāme akubbaṃ muni santhavāni † ;
Kāmehi ritto apurekkharāno, kathaṃ na viggayha janena kayirā.
“Having abandoned the abode, wandering without a home, the sage makes no intimacies in the village. Void of sensual pleasures, not generating a future, how could he engage in disputatious speech with people?”
Bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ trú xứ, không nương tựa nơi ở, không tạo sự thân mật trong làng; trống rỗng khỏi các dục vọng, không mong cầu (điều gì trong tương lai), không nên nói lời tranh chấp với người đời.
Atha kho hāliddakāni † gahapati yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahākaccānaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho hāliddakāni gahapati āyasmantaṃ mahākaccānaṃ etadavoca – ‘‘vuttamidaṃ bhante, kaccāna, bhagavatā aṭṭhakavaggike māgaṇḍiyapañhe –
Then the householder Hāliddakāni approached the Venerable Mahākaccāna, paid homage to him, and sat down to one side. Seated to one side, the householder Hāliddakāni said to the Venerable Mahākaccāna: “Venerable Kaccāna, this was said by the Blessed One in the Aṭṭhakavagga, in the Māgaṇḍiya Question—”
Rồi gia chủ Hāliddakāni đi đến chỗ trưởng lão Mahākaccāna; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Mahākaccāna rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, gia chủ Hāliddakāni đã nói với trưởng lão Mahākaccāna điều này: – ‘Thưa ngài Kaccāna, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến trong Phẩm Tám Cú, trong bài kinh Vấn Đáp Māgaṇḍiya:
‘‘Okaṃ pahāya aniketasārī, gāme akubbaṃ muni santhavāni;
Kāmehi ritto apurekkharāno, kathaṃ na viggayha janena kayirā’’ti.
“‘Having abandoned the abode, wandering without a home, the sage makes no intimacies in the village. Void of sensual pleasures, not generating a future, how could he engage in disputatious speech with people?’”
“Bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ trú xứ, không nương tựa nơi ở, không tạo sự thân mật trong làng; trống rỗng khỏi các dục vọng, không mong cầu (điều gì trong tương lai), không nên nói lời tranh chấp với người đời.”
‘‘Imassa nu kho bhante, kaccāna, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṃ vitthārena attho daṭṭhabbo’’ti?
“Venerable Kaccāna, how is the detailed meaning of this brief statement spoken by the Blessed One to be understood?”
‘Thưa ngài Kaccāna, ý nghĩa của lời dạy đã được đức Thế Tôn nói một cách tóm tắt này nên được hiểu một cách chi tiết như thế nào?’
‘‘Rūpadhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko rūpadhātu rāgavinibandhañca † pana viññāṇaṃ okasārīti vuccati. Vedanādhātu kho, gahapati… saññādhātu kho, gahapati… saṅkhāradhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko saṅkhāradhātu rāgavinibandhañca pana viññāṇaṃ okasārīti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, okasārī hoti.
“The form element, householder, is an abode for consciousness. And consciousness bound by lust for the form element is called 'one who resorts to an abode.' The feeling element, householder… the perception element, householder… the formations element, householder, is an abode for consciousness. And consciousness bound by lust for the formations element is called 'one who resorts to an abode.' Thus, householder, one is 'one who resorts to an abode.'”
Này gia chủ, sắc giới là nơi trú ẩn của thức. Và thức bị trói buộc bởi tham ái đối với sắc giới được gọi là người nương náu. Này gia chủ, thọ giới... Này gia chủ, tưởng giới... Này gia chủ, hành giới là nơi trú ẩn của thức. Và thức bị trói buộc bởi tham ái đối với hành giới được gọi là người nương náu. Này gia chủ, như vậy là người nương náu.
‘‘Kathañca, gahapati, anokasārī hoti? Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upāyupādānā † cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā; tasmā tathāgato anokasārīti vuccati. Vedanādhātuyā kho, gahapati… saññādhātuyā kho, gahapati… saṅkhāradhātuyā kho, gahapati… viññāṇadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upāyupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā; tasmā tathāgato anokasārīti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, anokasārī hoti.
“And how, householder, is one who does not resort to an abode? As to the form element, householder, whatever desire, lust, delight, craving, and whatever approaches and clinging, mental standpoints, adherences, and underlying tendencies there are—these have been abandoned by the Tathāgata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, so that they are no longer subject to future arising. Therefore the Tathāgata is called ‘one who does not resort to an abode.’ As to the feeling element… the perception element… the formations element… As to the consciousness element, householder, whatever desire, lust, delight, craving, and whatever approaches and clinging, mental standpoints, adherences, and underlying tendencies there are—these have been abandoned by the Tathāgata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, so that they are no longer subject to future arising. Therefore the Tathāgata is called ‘one who does not resort to an abode.’ It is in this way, householder, that one is one who does not resort to an abode.”
Này gia chủ, thế nào là người không nương náu? Này gia chủ, đối với sắc giới, bất cứ dục tham nào, tham ái nào, hỷ lạc nào, khát ái nào, những phương tiện, chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên nào của tâm, tất cả những điều ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai; vì thế, Như Lai được gọi là người không nương náu. Này gia chủ, đối với thọ giới... Này gia chủ, đối với tưởng giới... Này gia chủ, đối với hành giới... Này gia chủ, đối với thức giới, bất cứ dục tham nào, tham ái nào, hỷ lạc nào, khát ái nào, những phương tiện, chấp thủ, những sự quyết định, thiên kiến, và tùy miên nào của tâm, tất cả những điều ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai; vì thế, Như Lai được gọi là người không nương náu. Này gia chủ, như vậy là người không nương náu.
‘‘Kathañca, gahapati, niketasārī hoti? Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, niketasārīti vuccati. Saddanimitta… gandhanimitta… rasanimitta… phoṭṭhabbanimitta… dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, niketasārīti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, niketasārī hoti.
“And how, householder, is one who resorts to a dwelling? One is called ‘one who resorts to a dwelling,’ householder, because one is bound by the fetter of spreading attachment that takes the sign of form as its dwelling. …the sign of sound… the sign of odor… the sign of taste… the sign of a tangible… the sign of a mental phenomenon as its dwelling. It is in this way, householder, that one is one who resorts to a dwelling.”
Này gia chủ, thế nào là người nương tựa nơi trú sở? Này gia chủ, người bị trói buộc bởi sự lan tỏa của trú sở là tướng của sắc được gọi là người nương tựa nơi trú sở. Người bị trói buộc bởi sự lan tỏa của trú sở là tướng của thanh... tướng của hương... tướng của vị... tướng của xúc... tướng của pháp được gọi là người nương tựa nơi trú sở. Này gia chủ, như vậy là người nương tựa nơi trú sở.
‘‘Kathañca, gahapati, aniketasārī hoti? Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā; tasmā tathāgato aniketasārīti vuccati. Saddanimitta… gandhanimitta… rasanimitta… phoṭṭhabbanimitta… dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā; tasmā tathāgato aniketasārīti vuccati. Evaṃ kho, gahapati, aniketasārī hoti.
“And how, householder, is one who does not resort to a dwelling? The fetter of spreading attachment that takes the sign of form as its dwelling has been abandoned by the Tathāgata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, so that it is no longer subject to future arising. Therefore the Tathāgata is called ‘one who does not resort to a dwelling.’ The fetter of spreading attachment that takes the sign of sound… the sign of odor… the sign of taste… the sign of a tangible… the sign of a mental phenomenon as its dwelling has been abandoned by the Tathāgata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, so that it is no longer subject to future arising. Therefore the Tathāgata is called ‘one who does not resort to a dwelling.’ It is in this way, householder, that one is one who does not resort to a dwelling.”
Này gia chủ, thế nào là người không nương tựa nơi trú sở? Này gia chủ, sự trói buộc bởi sự lan tỏa của trú sở là tướng của sắc, đối với Như Lai, đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai; vì thế, Như Lai được gọi là người không nương tựa nơi trú sở. Sự trói buộc bởi sự lan tỏa của trú sở là tướng của thanh... tướng của hương... tướng của vị... tướng của xúc... tướng của pháp, đối với Như Lai, đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai; vì thế, Như Lai được gọi là người không nương tựa nơi trú sở. Này gia chủ, như vậy là người không nương tựa nơi trú sở.
‘‘Kathañca, gahapati, gāme santhavajāto hoti? Idha, gahapati, ekacco bhikkhu gihīhi saṃsaṭṭho viharati sahanandī sahasokī, sukhitesu sukhito, dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu attanā voyogaṃ āpajjati. Evaṃ kho, gahapati, gāme santhavajāto hoti.
“And how, householder, does one become intimate in a village? Here, householder, a certain bhikkhu dwells associated with householders, rejoicing with them and sorrowing with them, happy when they are happy and miserable when they are miserable, and he personally engages in their duties and tasks when these arise. It is in this way, householder, that one becomes intimate in a village.”
Này gia chủ, thế nào là người có mối thân quen trong làng? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo sống thân cận với hàng tại gia, cùng vui, cùng buồn; khi họ sung sướng thì mình cũng sung sướng, khi họ đau khổ thì mình cũng đau khổ; khi có công việc cần làm phát sanh, vị ấy tự mình tham gia vào. Này gia chủ, như vậy là người có mối thân quen trong làng.
‘‘Kathañca, gahapati, gāme na santhavajāto hoti? Idha, gahapati, ekacco bhikkhu gihīhi asaṃsaṭṭho viharati na sahanandī na sahasokī, na sukhitesu sukhito, na dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā voyogaṃ āpajjati. Evaṃ kho, gahapati, gāme na santhavajāto hoti.
“And how, householder, does one not become intimate in a village? Here, householder, a certain bhikkhu dwells unassociated with householders, not rejoicing with them and not sorrowing with them, not happy when they are happy nor miserable when they are miserable, and he does not personally engage in their duties and tasks when these arise. It is in this way, householder, that one does not become intimate in a village.”
Này gia chủ, thế nào là người không có mối thân quen trong làng? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo sống không thân cận với hàng tại gia, không cùng vui, không cùng buồn; không sung sướng khi họ sung sướng, không đau khổ khi họ đau khổ; khi có công việc cần làm phát sanh, vị ấy không tự mình tham gia vào. Này gia chủ, như vậy là người không có mối thân quen trong làng.
‘‘Kathañca, gahapati, kāmehi aritto hoti? Idha, gahapati, ekacco bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Evaṃ kho, gahapati, kāmehi aritto hoti.
“And how, householder, is one not free from sensual pleasures? Here, householder, a certain bhikkhu is one for whom passion for sensual pleasures has not departed, for whom desire has not departed, for whom affection has not departed, for whom thirst has not departed, for whom feverish passion has not departed, for whom craving has not departed. It is in this way, householder, that one is not free from sensual pleasures.”
Này gia chủ, thế nào là người không trống rỗng khỏi các dục? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo đối với các dục vẫn chưa ly tham, chưa từ bỏ dục tham, chưa từ bỏ ái luyến, chưa từ bỏ khao khát, chưa từ bỏ nhiệt não, chưa từ bỏ khát ái. Này gia chủ, như vậy là người không trống rỗng khỏi các dục.
‘‘Kathañca, gahapati, kāmehi ritto hoti? Idha, gahapati, ekacco bhikkhu kāmesu vītarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Evaṃ kho, gahapati, kāmehi ritto hoti.
“And how, householder, is one free from sensual pleasures? Here, householder, a certain bhikkhu is one for whom passion for sensual pleasures has departed, for whom desire has departed, for whom affection has departed, for whom thirst has departed, for whom feverish passion has departed, for whom craving has departed. It is in this way, householder, that one is free from sensual pleasures.”
Này gia chủ, thế nào là người trống rỗng khỏi các dục? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo đối với các dục đã ly tham, đã từ bỏ dục tham, đã từ bỏ ái luyến, đã từ bỏ khao khát, đã từ bỏ nhiệt não, đã từ bỏ khát ái. Này gia chủ, như vậy là người trống rỗng khỏi các dục.
‘‘Kathañca, gahapati, purekkharāno hoti? Idha, gahapati, ekaccassa bhikkhuno evaṃ hoti – ‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhāna’nti tattha nandiṃ samannāneti, ‘evaṃvedano siyaṃ… evaṃsañño siyaṃ… evaṃsaṅkhāro siyaṃ… evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhāna’nti tattha nandiṃ samannāneti. Evaṃ kho, gahapati, purekkharāno hoti.
“And how, householder, is one who looks forward? Here, householder, it occurs to a certain bhikkhu: ‘May I be of such a form in the future!’ and he cherishes delight in that. ‘May I be of such a feeling… such a perception… such formations… such a consciousness in the future!’ and he cherishes delight in that. It is in this way, householder, that one is one who looks forward.”
Này gia chủ, thế nào là người có sự trông đợi? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có sắc như thế này,’ và vị ấy mang lại hỷ lạc ở nơi đó. ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như thế này... sẽ có tưởng như thế này... sẽ có hành như thế này... sẽ có thức như thế này,’ và vị ấy mang lại hỷ lạc ở nơi đó. Này gia chủ, như vậy là người có sự trông đợi.
‘‘Kathañca, gahapati, apurekkharāno hoti? Idha, gahapati, ekaccassa bhikkhuno evaṃ hoti – ‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhāna’nti na tattha nandiṃ samannāneti, ‘evaṃvedano siyaṃ… evaṃsañño siyaṃ… evaṃsaṅkhāro siyaṃ… evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhāna’nti na tattha nandiṃ samannāneti. Evaṃ kho, gahapati, apurekkharāno hoti.
“And how, householder, is one who does not look forward? Here, householder, it occurs to a certain bhikkhu: ‘May I be of such a form in the future!’ but he does not entertain delight in that. ‘May I be of such a feeling… such a perception… such formations… such a consciousness in the future!’ but he does not entertain delight in that. It is in this way, householder, that one is one who does not look forward.”
Này gia chủ, thế nào là người không có sự trông đợi? Này gia chủ, ở đây, có vị tỳ-kheo khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có sắc như thế này,’ nhưng vị ấy không mang lại hỷ lạc ở nơi đó. ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như thế này... sẽ có tưởng như thế này... sẽ có hành như thế này... sẽ có thức như thế này,’ nhưng vị ấy không mang lại hỷ lạc ở nơi đó. Này gia chủ, như vậy là người không có sự trông đợi.
‘‘Kathañca, gahapati, kathaṃ viggayha janena kattā hoti? Idha, gahapati, ekacco evarūpiṃ kathaṃ kattā hoti – ‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi, kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi, micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno, sahitaṃ me, asahitaṃ te, pure vacanīyaṃ pacchā avaca, pacchā vacanīyaṃ pure avaca, adhiciṇṇaṃ te viparāvattaṃ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. Evaṃ kho, gahapati, kathaṃ viggayha janena kattā hoti.
“And how, householder, does one become a speaker of contentious speech with people? Here, householder, a certain person becomes a speaker of such speech: ‘You do not know this Dhamma and Discipline; I know this Dhamma and Discipline. How could you know this Dhamma and Discipline? You have practiced wrongly; I have practiced rightly. My speech is beneficial; yours is not beneficial. What should have been said first you said last; what should have been said last you said first. What you have long practiced has been overturned. A charge has been laid against you. You are censured. Go forth to be freed from this charge, or disentangle yourself if you can!’ It is in this way, householder, that one becomes a speaker of contentious speech with people.”
Này gia chủ, thế nào là người nói lời tranh luận với người khác? Này gia chủ, ở đây, có người nói những lời như sau: ‘Ông không biết Pháp và Luật này, tôi mới biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết được Pháp và Luật này? Ông đã thực hành sai, còn tôi đã thực hành đúng. Lời của tôi thì hợp lý, lời của ông thì không hợp lý. Điều đáng lẽ phải nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng lẽ phải nói sau thì ông lại nói trước. Điều ông đã dày công nghiên cứu đã bị đảo lộn. Ông đã bị tôi bắt lỗi. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi mà tìm cách gỡ lỗi cho mình, hoặc hãy tự giải thoát nếu có thể.’ Này gia chủ, như vậy là người nói lời tranh luận với người khác.
‘‘Kathañca, gahapati, kathaṃ viggayha janena na kattā hoti? Idha, gahapati, ekacco na evarūpiṃ kathaṃ kattā hoti – ‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. Evaṃ kho, gahapati, viggayha janena na kattā hoti. Iti kho, gahapati, yaṃ taṃ vuttaṃ bhagavatā aṭṭhakavaggike māgaṇḍiyapañhe –
And how, householder, does one not become a speaker of contentious speech with people? Here, householder, a certain person does not become a speaker of such speech: ‘You do not know this Dhamma and Discipline… or disentangle yourself if you can!’ It is in this way, householder, that one does not become a speaker of contentious speech with people. Thus, householder, regarding what was said by the Blessed One in the Māgaṇḍiya Question in the Aṭṭhakavagga:
“Này gia chủ, thế nào là không nói lời tranh luận với người khác? Này gia chủ, ở đây, có người không nói lời như vầy: ‘Ông không biết Pháp và Luật này... (v.v.)... hoặc nếu có thể, hãy gỡ rối đi.’ Này gia chủ, như vậy là không nói lời tranh luận với người khác. Này gia chủ, chính vì vậy, điều đã được đức Thế Tôn nói đến trong bài kinh Māgaṇḍiya thuộc phẩm Aṭṭhakavagga là:”
‘‘Okaṃ pahāya aniketasārī, gāme akubbaṃ muni santhavāni;
Kāmehi ritto apurekkharāno, kathaṃ na viggayha janena kayirā’’ti.
‘Having abandoned home, wandering without a dwelling, a sage not forming intimacies in the village; void of sensual pleasures, not cherishing future hopes—how could he engage in contentious speech with people?’
“‘Bậc ẩn sĩ từ bỏ trú xứ, sống không gia đình, không thân thiết trong làng, thoát ly các dục, không mong cầu tương lai, làm sao có thể tranh luận với người khác?’”
‘‘Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena attho daṭṭhabbo’’ti.
Householder, the meaning of this which was spoken in brief by the Blessed One should be seen in detail in this way.
“Này gia chủ, ý nghĩa của lời dạy được đức Thế Tôn nói một cách tóm tắt này, nên được hiểu một cách rộng rãi như vậy.”
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Okaṃ pahāya aniketasārī, gāme akubbaṃ muni santhavāni;
Kāmehi ritto apurekkharāno, kathaṃ na viggayha janena kayirā’’ti.
‘Having abandoned home, wandering without a dwelling, a sage not forming intimacies in the village; void of sensual pleasures, not cherishing future hopes—how could he engage in contentious speech with people?’
“‘Bậc ẩn sĩ từ bỏ trú xứ, sống không gia đình, không thân thiết trong làng, thoát ly các dục, không mong cầu tương lai, làm sao có thể tranh luận với người khác?’”
80.
80.
80.
Yehi vivitto vicareyya loke, na tāni uggayha vadeyya nāgo;
Elambujaṃ kaṇḍakavārijaṃ † yathā, jalena paṅkena canūpalittaṃ;
Evaṃ munī santivādo agiddho, kāme ca loke ca anūpalitto.
From which views he would wander detached in the world, those the Nāga would not grasp and speak of. Just as the thorny-stemmed lotus, born in the water, is unsullied by water and by mud, so the sage, an exponent of peace, ungreedy, is unsullied by both sensual pleasures and the world.
Vị Long Tượng nên sống trong đời, xa lìa những (tà kiến) ấy, không nên chấp thủ và tuyên thuyết chúng. Giống như hoa sen sinh từ nước, có gai, không bị nước và bùn làm ô nhiễm; cũng vậy, bậc ẩn sĩ, người thuyết giảng sự tịch tịnh, không tham đắm, không bị ô nhiễm bởi các dục và thế gian.
Yehi vivitto vicareyya loketi. Yehīti yehi diṭṭhigatehi. Vivittoti kāyaduccaritena ritto vivitto pavivitto, vacīduccaritena… manoduccaritena… rāgena…pe… sabbākusalābhisaṅkhārehi ritto vivitto pavivitto. Vicareyyāti vicareyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyya. Loketi manussaloketi – yehi vivitto vicareyya loke.
‘From which he would wander detached in the world’: ‘From which’ means from which views. ‘Detached’ means empty of, detached from, secluded from bodily misconduct, from verbal misconduct, from mental misconduct, from lust … from all unwholesome formations. ‘He would wander’ means he would wander, dwell, move about, conduct himself, maintain himself, keep himself going, carry on. ‘In the world’ means in the human world. Thus: ‘From which he would wander detached in the world.’
‘Sống trong đời, xa lìa những (tà kiến) ấy’: ‘Những ấy’ là những tà kiến. ‘Xa lìa’ là trống không, xa lìa, hoàn toàn xa lìa thân ác hành, khẩu ác hành... ý ác hành... tham ái... (v.v.)... trống không, xa lìa, hoàn toàn xa lìa tất cả các hành bất thiện. ‘Nên sống’ là nên đi, nên trú, nên hành động, nên xoay chuyển, nên bảo hộ, nên duy trì, nên nuôi mạng. ‘Trong đời’ là trong cõi người. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Sống trong đời, xa lìa những (tà kiến) ấy’.
Na tāni uggayha vadeyya nāgoti. Nāgoti āguṃ na karotīti – nāgo, na gacchatīti – nāgo, nāgacchatīti – nāgo. Kathaṃ āguṃ na karotīti – nāgo? Āgū vuccanti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
‘Those the Nāga would not grasp and speak of’: A ‘Nāga’ is one who does no evil (na āguṃ karoti); a ‘Nāga’ is one who does not go (na gacchati); a ‘Nāga’ is one who does not return (na āgacchati). How is a Nāga one who does no evil? ‘Evil’ is a term for wicked, unwholesome states that are defiling, productive of renewed existence, troublesome, resulting in suffering, and which cause future birth, aging, and death.
‘Vị Long Tượng không nên chấp thủ và tuyên thuyết chúng’: ‘Long Tượng’ (nāgo) là vì không làm điều ác (āguṃ na karoti); là vì không đi (vào thiên vị) (na gacchati); là vì không trở lại (na āgacchati). Thế nào là ‘Long Tượng’ vì không làm điều ác? ‘Điều ác’ (āgu) được gọi là các pháp ác, bất thiện, gây ô nhiễm, dẫn đến tái sanh, gây phiền não, có quả là khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai.
Āguṃ na karoti kiñci loke, [sabhiyāti bhagavā]
Sabbasaññoge visajja bandhanāni;
Sabbattha na sajjati vimutto, nāgo tādī pavuccate tathattā.
‘He does no evil whatsoever in the world,’ (the Blessed One said, addressing Sabhiya by name), ‘having cast off all yokes and bonds. Liberated, he is not attached anywhere. Such a one, for being thus, is called a Nāga.’
‘(Này Sabhiya, đức Thế Tôn nói) Người không làm bất cứ điều ác nào trong đời, đã từ bỏ tất cả các kiết sử và ràng buộc; đã giải thoát, không dính mắc vào bất cứ đâu, bậc như vậy, vì bản chất ấy, được gọi là Long Tượng.’
Evaṃ āguṃ na karotīti – nāgo.
It is in this way that a Nāga is one who does no evil.
Như vậy, ‘Long Tượng’ là vì không làm điều ác.
Kathaṃ na gacchatīti – nāgo? Na chandāgatiṃ gacchati, na dosāgatiṃ gacchati, na mohāgatiṃ gacchati, na bhayāgatiṃ gacchati, na rāgavasena gacchati, na dosavasena gacchati, na mohavasena gacchati, na mānavasena gacchati, na diṭṭhivasena gacchati, na uddhaccavasena gacchati, na vicikicchāvasena gacchati, nānusayavasena gacchati, na vaggehi dhammehi yāyati nīyati vuyhati saṃharīyati. Evaṃ na gacchatīti – nāgo.
How is a Nāga one who does not go? He does not follow the wrong course through desire, through hate, through delusion, or through fear. He does not go impelled by lust, by hate, by delusion, by conceit, by views, by restlessness, by doubt, or by underlying tendencies. He is not led, guided, carried away, or swept along by any blameworthy states. It is in this way that a Nāga is one who does not go.
Thế nào là ‘Long Tượng’ vì không đi (vào thiên vị)? Vị ấy không đi vào thiên vị vì tham dục, không đi vào thiên vị vì sân hận, không đi vào thiên vị vì si mê, không đi vào thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không đi theo quyền lực của tham, không đi theo quyền lực của sân, không đi theo quyền lực của si, không đi theo quyền lực của mạn, không đi theo quyền lực của tà kiến, không đi theo quyền lực của trạo cử, không đi theo quyền lực của hoài nghi, không đi theo quyền lực của tùy miên. Vị ấy không bị dẫn dắt, không bị lôi kéo, không bị cuốn đi, không bị mang đi bởi các pháp thuộc nhóm (thiên vị) này. Như vậy, ‘Long Tượng’ là vì không đi (vào thiên vị).
Kathaṃ nāgacchatīti – nāgo? Sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Sakadāgāmimaggena… anāgāmimaggena… arahattamaggena ye kilesā pahīnā te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Evaṃ nāgacchatīti – nāgo.
How is a Nāga one who does not return? He does not come back to, does not revert to, does not return to those defilements that have been abandoned by the path of stream-entry. He does not come back to, does not revert to, does not return to those defilements that have been abandoned by the path of the once-returner… by the path of the non-returner… by the path of Arahantship. It is in this way that a Nāga is one who does not return.
Thế nào là ‘Long Tượng’ vì không trở lại? Những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo, vị ấy không quay lại, không trở về, không tái đến với những phiền não ấy. (Tương tự) với Tư-đà-hàm đạo... A-na-hàm đạo... A-la-hán đạo, những phiền não nào đã được đoạn trừ, vị ấy không quay lại, không trở về, không tái đến với những phiền não ấy. Như vậy, ‘Long Tượng’ là vì không trở lại.
Na tāni uggayha vadeyya nāgoti. Nāgo na tāni diṭṭhigatāni gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyya; ‘‘sassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyyāti – na tāni uggayha vadeyya nāgo.
‘The Nāga would not grasp and speak of those things’: The Nāga would not, having taken up, grasped, seized, held on to, and adhered to those speculative views, speak of them, talk about them, state them, explain them, or express them, saying: ‘The world is eternal… or the Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, anything else is futile.’ Thus: ‘The Nāga would not grasp and speak of those things.’
‘Vị Long Tượng không nên chấp thủ và tuyên thuyết chúng’: Vị Long Tượng không nên nắm giữ, chấp thủ, thọ trì, bám víu, quyết chắc vào những tà kiến ấy rồi nói, kể, tuyên bố, trình bày, sử dụng; không nên nói, kể, tuyên bố, trình bày, sử dụng (quan điểm) rằng: ‘Thế giới là thường hằng... (v.v.)... Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là chân lý, ngoài ra là sai lầm.’ – (Đây là ý nghĩa của) ‘Vị Long Tượng không nên chấp thủ và tuyên thuyết chúng’.
Elambujaṃ kaṇḍakavārijaṃ yathā, jalena paṅkena canūpalittanti. Elaṃ vuccati udakaṃ, ambujaṃ vuccati padumaṃ, kaṇḍako vuccati kharadaṇḍo, vāri vuccati udakaṃ, vārijaṃ vuccati padumaṃ vārisambhavaṃ, jalaṃ vuccati udakaṃ, paṅko vuccati kaddamo. Yathā padumaṃ vārijaṃ vārisambhavaṃ jalena ca paṅkena ca na limpati na palimpati na upalimpati, alittaṃ asaṃlittaṃ anupalittanti – elambujaṃ kaṇḍakavārijaṃ yathā jalena paṅkena canūpalittaṃ.
‘Just as a thorny water-born lotus is unsullied by water and by mud’: ‘Ela’ is a term for water; ‘ambuja’ is a term for lotus. ‘Kaṇḍaka’ is a term for a thorny stem; ‘vāri’ is a term for water; ‘vārija’ is a term for a lotus, as it is born from water. ‘Jala’ is a term for water; ‘paṅka’ is a term for mud. Just as the lotus, born from water, arisen from water, is not smeared, besmeared, or tainted by water and by mud—it is unsmeared, unbesmeared, untainted—thus: ‘a thorny water-born lotus is unsullied by water and by mud.’
‘Giống như hoa sen sinh từ nước, có gai, không bị nước và bùn làm ô nhiễm’: ‘Elaṃ’ được gọi là nước. ‘Ambujaṃ’ được gọi là hoa sen. ‘Kaṇḍako’ được gọi là cọng gai. ‘Vāri’ được gọi là nước. ‘Vārijaṃ’ được gọi là hoa sen, sinh từ nước. ‘Jalaṃ’ được gọi là nước. ‘Paṅko’ được gọi là bùn. Giống như hoa sen, sinh từ nước, do nước mà có, không bị dính, không bị vấy, không bị ô nhiễm bởi nước và bùn; không dính, không vấy, không ô nhiễm. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Giống như hoa sen sinh từ nước, có gai, không bị nước và bùn làm ô nhiễm’.
Evaṃ munī santivādo agiddho, kāme ca loke ca anūpalittoti. Evanti opammasaṃpaṭipādanaṃ. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Santivādoti santivādo muni tāṇavādo leṇavādo saraṇavādo abhayavādo accutavādo amatavādo nibbānavādoti – evaṃ muni santivādo. Agiddhoti. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yasseso gedho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho so vuccati agiddho. So rūpe agiddho, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kule… gaṇe… āvāse… lābhe… yase… pasaṃsāya… sukhe… cīvare… piṇḍapāte … senāsane… gilānapaccayabhesajjaparikkhāre… kāmadhātuyā … rūpadhātuyā… arūpadhātuyā… kāmabhave… rūpabhave… arūpabhave… saññābhave… asaññābhave… nevasaññānāsaññābhave… ekavokārabhave… catuvokārabhave… pañcavokārabhave… atīte… anāgate… paccuppanne… diṭṭha-suta-muta-viññātabbesu dhammesu agiddho agadhito amucchito anajjhosanno †, vītagedho vigatagedho cattagedho vantagedho muttagedho pahīnagedho paṭinissaṭṭhagedho, vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo, nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – evaṃ muni santivādo agiddho.
Thus the sage, a proponent of peace, without greed, is unsmeared by sensual pleasures and the world. 'Thus' is a term indicating the completion of a comparison. 'The sage': Wisdom is called 'mona'…pe… having transcended the net of attachments, he is a sage. 'A proponent of peace': The sage is a proponent of peace, a proponent of shelter, a proponent of a haven, a proponent of refuge, a proponent of security, a proponent of the unperishing, a proponent of the deathless, a proponent of Nibbāna—thus the sage is a proponent of peace. 'Without greed': Craving is called 'gedha.' It is lust, strong lust…pe… covetousness, greed, an unwholesome root. One for whom this greed is abandoned, cut off, quieted, pacified, unable to arise, and burnt up by the fire of knowledge is called 'one without greed.' He is without greed for forms, sounds… smells… tastes… tangibles… a dwelling… for gain… honor… praise… pleasure… for the robe… almsfood… lodging… medicinal requisites for the sick… for the sense-sphere… the form-sphere… the formless-sphere… for sense-sphere existence… form-sphere existence… formless-sphere existence… for existence with perception… existence without perception… existence with neither-perception-nor-non-perception… for one-constituent existence… four-constituent existence… five-constituent existence… for the past… the future… the present… for things seen, heard, sensed, and cognized, he is not greedy, not rapacious, not infatuated, not attached. He is without greed, devoid of greed, has discarded greed, has spewed out greed, is freed from greed, has abandoned greed, has relinquished greed; he is without lust, devoid of lust, has discarded lust, has spewed out lust, is freed from lust, has abandoned lust, has relinquished lust. Being without craving, extinguished, become cool, he experiences bliss and dwells with a self that has become sublime. Thus the sage, a proponent of peace, is without greed.
“Như vậy, bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh, không tham ái, không bị ô nhiễm trong các dục và trong thế gian.” ‘Như vậy’ là sự trình bày đầy đủ về ví dụ. ‘Bậc ẩn sĩ’: Trí tuệ được gọi là sự tĩnh lặng…v.v… Vị ấy vượt qua mạng lưới ràng buộc nên là bậc ẩn sĩ. ‘Người thuyết giảng về sự tịch tịnh’: Bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh, người thuyết giảng về nơi nương náu, người thuyết giảng về nơi ẩn mình, người thuyết giảng về nơi quy y, người thuyết giảng về sự vô úy, người thuyết giảng về sự bất tử, người thuyết giảng về sự bất diệt, người thuyết giảng về Niết-bàn – như vậy, bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh. ‘Không tham ái’: Tham ái được gọi là sự thèm muốn. Sự tham dục, lòng tham…v.v… sự tham lam, lòng tham, gốc rễ của bất thiện. Người nào mà sự thèm muốn này đã được đoạn trừ, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không tham ái. Vị ấy không tham ái trong sắc, trong thanh… hương… vị… xúc… gia đình… hội chúng… trú xứ… lợi lộc… danh tiếng… tán dương… lạc thú… y phục… vật thực khất thực… sàng tọa… dược phẩm trị bệnh… trong cõi Dục… cõi Sắc… cõi Vô Sắc… trong Dục hữu… Sắc hữu… Vô Sắc hữu… Tưởng hữu… Vô Tưởng hữu… Phi Tưởng Phi Phi Tưởng hữu… trong hữu một uẩn… bốn uẩn… năm uẩn… trong quá khứ… vị lai… hiện tại… trong các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; không tham ái, không thèm muốn, không mê đắm, không chìm đắm, đã lìa tham ái, đã dứt bỏ tham ái, đã từ bỏ tham ái, đã nôn ra tham ái, đã giải thoát khỏi tham ái, đã đoạn trừ tham ái, đã xả ly tham ái; đã lìa tham dục, đã dứt bỏ tham dục, đã từ bỏ tham dục, đã nôn ra tham dục, đã giải thoát khỏi tham dục, đã đoạn trừ tham dục, đã xả ly tham dục; không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã mát mẻ, cảm nhận được sự an lạc, sống với tâm thanh tịnh như Phạm thiên – như vậy, bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh, không tham ái.
Kāme ca loke ca anūpalittoti. Kāmāti udānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Lepāti dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo…pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Muni taṇhālepaṃ pahāya diṭṭhilepaṃ paṭinissajjitvā kāme ca loke ca na limpati na palimpati na upalimpati, alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – evaṃ munī santivādo agiddho, kāme ca loke ca anūpalitto.
And is unsmeared by sensual pleasures and the world. 'Sensual pleasures': In brief, there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements…pe… These are called sensual pleasures as objects…pe… These are called sensual pleasures as defilements. 'The world': This means the plane of misery, the human world, the world of the devas, the world of the aggregates, the world of the elements, the world of the sense bases. 'Smears': There are two smears: the smear of craving and the smear of views…pe… This is the smear of craving…pe… This is the smear of views. The sage, having abandoned the smear of craving and relinquished the smear of views, is not smeared, is not thoroughly smeared, is not closely smeared by sensual pleasures and the world. Unsmeared, not thoroughly smeared, not closely smeared, he has departed, is detached, fully released, dissociated, and dwells with a mind that has transcended boundaries. Thus the sage, a proponent of peace, without greed, is unsmeared by sensual pleasures and the world.
“Không bị ô nhiễm trong các dục và trong thế gian.” ‘Dục’, nói chung có hai loại dục – dục đối tượng và dục phiền não…v.v… những thứ này được gọi là dục đối tượng…v.v… những thứ này được gọi là dục phiền não. ‘Trong thế gian’ là trong cõi khổ, cõi người, cõi trời, trong thế giới uẩn, thế giới giới, thế giới xứ. ‘Sự ô nhiễm’, có hai loại ô nhiễm – sự ô nhiễm của tham ái và sự ô nhiễm của tà kiến…v.v… đây là sự ô nhiễm của tham ái…v.v… đây là sự ô nhiễm của tà kiến. Bậc ẩn sĩ, sau khi đoạn trừ sự ô nhiễm của tham ái, từ bỏ sự ô nhiễm của tà kiến, vị ấy không bị dính mắc, không bị vấy bẩn, không bị ô nhiễm trong các dục và trong thế gian; không bị dính mắc, không bị vấy bẩn, không bị ô nhiễm, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên hệ, sống với tâm không còn giới hạn – như vậy, bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh, không tham ái, không bị ô nhiễm trong các dục và trong thế gian.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yehi vivitto vicareyya loke, na tāni uggayha vadeyya nāgo;
Elambujaṃ kaṇḍakavārijaṃ yathā, jalena paṅkena canūpalittaṃ;
Evaṃ munī santivādo agiddho, kāme ca loke ca anūpalitto’’ti.
“Detached from these, one should wander in the world; the great being would not grasp and declare them. Just as a thorny water-born lotus is unsmeared by water and mud, so the sage, a proponent of peace, without greed, is unsmeared by sensual pleasures and the world.”
“Bậc Long Tượng sống viễn ly khỏi những gì trong thế gian, vị ấy không chấp thủ và nói về chúng. Giống như hoa sen gai mọc trong nước, không bị nước và bùn làm ô nhiễm; cũng vậy, bậc ẩn sĩ là người thuyết giảng về sự tịch tịnh, không tham ái, không bị ô nhiễm trong các dục và trong thế gian.”
81.
81.
81.
Na vedagū diṭṭhiyā † na mutiyā, sa mānameti na hi tammayo so;
Na kammunā nopi sutena neyyo, anūpanīto sa nivesanesu.
One who has gone to knowledge’s end does not form conceit through view or through what is sensed; for he is not made of that. He is not to be led by action or by learning; he is not brought into any abodes of attachment.
Bậc thông suốt không đi theo tà kiến, không theo điều cảm nhận, vị ấy không đi đến ngã mạn, vì vị ấy không đồng hóa với điều đó. Vị ấy không bị dẫn dắt bởi nghiệp, cũng không bởi sở văn, vị ấy không bị dẫn dắt vào các nơi trú ẩn (của ái và kiến).
Na vedagū diṭṭhiyā na mutiyā, sa mānametīti. Nāti paṭikkhepo. Vedagūti. Vedo vuccati catūsu maggesu ñāṇaṃ, paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo vīmaṃsā vipassanā sammādiṭṭhi. Tehi vedehi jātijarāmaraṇassa antagato antappatto, koṭigato koṭippatto, pariyantagato pariyantappatto, vosānagato vosānappatto, tāṇagato tāṇappatto, leṇagato leṇappatto, saraṇagato saraṇappatto, abhayagato abhayappatto, accutagato accutappatto, amatagato amatappatto, nibbānagato nibbānappatto, vedānaṃ vā antaṃ gatoti vedagū, vedehi vā antaṃ gatoti vedagū, sattannaṃ vā dhammānaṃ viditattā vedagū, sakkāyadiṭṭhi viditā hoti, vicikicchā viditā hoti, sīlabbataparāmāso vidito hoti, rāgo vidito hoti, doso vidito hoti, moho vidito hoti, māno vidito hoti, viditāssa honti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
'One who has gone to knowledge’s end does not form conceit through view or through what is sensed.' 'Na' is a term of negation. 'One who has gone to knowledge’s end': 'Veda' (knowledge) is a term for the knowledge in the four paths: wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the enlightenment factor of investigation of states, inquiry, insight, and right view. Through these knowledges he has gone to the end of birth, aging, and death; he has reached the end, reached the limit, reached the final point, reached the conclusion, reached the shelter, reached the haven, reached the refuge, reached security, reached the unperishing, reached the deathless, and reached Nibbāna. Or, he has gone to the end of knowledges, thus he is a vedagū. Or, by means of knowledges he has gone to the end, thus he is a vedagū. Or, he is a vedagū because he has known seven things: he has known self-identity view, he has known doubt, he has known adherence to rules and observances, he has known lust, he has known hatred, he has known delusion, and he has known conceit. He has known the evil unwholesome states that are defiling, productive of renewed existence, troublesome, ripening in suffering, and leading to future birth, aging, and death.
“Bậc thông suốt không đi theo tà kiến, không theo điều cảm nhận, vị ấy không đi đến ngã mạn.” ‘Không’ là từ phủ định. ‘Bậc thông suốt’: Trí tuệ trong bốn đạo được gọi là sự thông suốt (veda), là tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, trạch pháp, minh sát, chánh kiến. Với những sự thông suốt ấy, vị ấy đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng của sanh, già, chết; đã đi đến cực điểm, đã đạt đến cực điểm; đã đi đến giới hạn, đã đạt đến giới hạn; đã đi đến sự chấm dứt, đã đạt đến sự chấm dứt; đã đi đến nơi nương náu, đã đạt đến nơi nương náu; đã đi đến nơi ẩn mình, đã đạt đến nơi ẩn mình; đã đi đến nơi quy y, đã đạt đến nơi quy y; đã đi đến sự vô úy, đã đạt đến sự vô úy; đã đi đến sự bất tử, đã đạt đến sự bất tử; đã đi đến sự bất diệt, đã đạt đến sự bất diệt; đã đi đến Niết-bàn, đã đạt đến Niết-bàn. Hoặc, vị ấy đã đi đến tận cùng của các sự thông suốt, nên gọi là bậc thông suốt. Hoặc, vị ấy đã đi đến tận cùng (Niết-bàn) bằng các sự thông suốt, nên gọi là bậc thông suốt. Hoặc, vị ấy được gọi là bậc thông suốt vì đã liễu tri bảy pháp: thân kiến được liễu tri, hoài nghi được liễu tri, giới cấm thủ được liễu tri, tham được liễu tri, sân được liễu tri, si được liễu tri, mạn được liễu tri. Các pháp ác, bất thiện, gây ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền não, có quả là khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai đã được vị ấy liễu tri.
Vedāni viceyya kevalāni, [sabhiyāti bhagavā]
Samaṇānaṃ yānīdhatthi brāhmaṇānaṃ;
Sabbavedanāsu vītarāgo, sabbaṃ vedamaticca vedagū soti.
[The Blessed One said to Sabhiya:] ‘Having discerned all the knowledges of the ascetics and brahmins that exist here, being dispassionate toward all feelings, having transcended all knowledge, he is a vedagū.’
“[Này Sabhiya, Đức Thế Tôn nói] Sau khi đã phân biệt tất cả những điều được biết của các Sa-môn và Bà-la-môn ở đời này, người đã lìa tham ái trong tất cả những điều được biết, vượt qua tất cả những điều được biết, vị ấy là bậc thông suốt.”
Na diṭṭhiyāti tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So diṭṭhiyā na yāyati na nīyati na vuyhati na saṃharīyati, napi taṃ diṭṭhigataṃ sārato pacceti na paccāgacchatīti – na vedagū diṭṭhiyā. Na mutiyāti mutarūpena vā parato ghosena vā mahājanasammutiyā vā mānaṃ neti na upeti na upagacchati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – na vedagū diṭṭhiyā na mutiyā sa mānameti.
'Not by view': For him the sixty-two views are abandoned, cut off, quieted, pacified, unable to arise, and burnt up by the fire of knowledge. He is not moved, led, carried away, or swept along by view, nor does he rely on or revert to that view as the essence. Thus, 'one who has gone to knowledge's end is not by view.' 'Not by what is sensed': He does not form conceit based on what is sensed (i.e., by odors, tastes, or tangibles), or on a report from another, or on popular consensus; he does not approach it, come to it, grasp it, cling to it, or insist on it. Thus, 'One who has gone to knowledge’s end does not form conceit through view or through what is sensed.'
‘Không theo tà kiến’: Sáu mươi hai tà kiến của vị ấy đã được đoạn trừ, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không đi theo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn đi, không bị mang đi bởi tà kiến; và cũng không tin tưởng, không quay trở lại với tà kiến ấy như là điều cốt lõi – (như vậy là) bậc thông suốt không đi theo tà kiến. ‘Không theo điều cảm nhận’: Vị ấy không đi đến, không đến gần, không tiếp cận, không nắm giữ, không chấp thủ, không quyết tâm vào ngã mạn thông qua những gì được cảm nhận, hoặc qua lời nói của người khác, hoặc qua sự công nhận của số đông – (như vậy là) bậc thông suốt không đi theo tà kiến, không theo điều cảm nhận, vị ấy không đi đến ngã mạn.
Na hi tammayo soti na taṇhāvasena diṭṭhivasena tammayo hoti tapparamo tapparāyano. Yato taṇhā ca diṭṭhi ca māno cassa pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā ettāvatā na tammayo hoti na tapparamo na tapparāyanoti – sa mānameti na hi tammayo so.
'For he is not made of that': He is not made of that, devoted to that, or intent on that by way of craving or by way of view. Since craving, view, and conceit have been abandoned in him—cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future—to that extent he is not made of that, not devoted to that, not intent on that. Thus, 'he does not form conceit, for he is not made of that.'
‘Vì vị ấy không đồng hóa với điều đó’: Vị ấy không đồng hóa, không xem là tối thượng, không nương tựa vào đó bởi năng lực của tham ái, bởi năng lực của tà kiến. Bởi vì tham ái, tà kiến, và ngã mạn của vị ấy đã được đoạn trừ, đã bị nhổ tận gốc, đã được làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, đã được làm cho không còn tồn tại, có bản chất không tái sanh trong tương lai. Do đó, vị ấy không đồng hóa, không xem là tối thượng, không nương tựa vào đó – (như vậy là) vị ấy không đi đến ngã mạn, vì vị ấy không đồng hóa với điều đó.
Na kammunā nopi sutena neyyoti. Na kammunāti puññābhisaṅkhārena vā apuññābhisaṅkhārena vā āneñjābhisaṅkhārena vā na yāyati na nīyati na vuyhati na saṃharīyatīti – na kammunā. Nopi sutena neyyoti sutasuddhiyā vā parato ghosena vā mahājanasammutiyā vā na yāyati na nīyati na vuyhati na saṃharīyatīti – na kammunā nopi sutena neyyo.
'Not by action nor by learning is he to be led.' 'Not by action': He is not moved, led, carried away, or swept along by meritorious formations, demeritorious formations, or imperturbable formations. Thus, 'not by action.' 'Nor by learning is he to be led': He is not moved, led, carried away, or swept along by purification through learning, by a report from another, or by popular consensus. Thus, 'not by action nor by learning is he to be led.'
Na kammunā nopi sutena neyyoti (Không do nghiệp, cũng không do sở văn mà được dẫn dắt). Na kammunāti (Không do nghiệp) là: hoặc do phước hành, hoặc do phi phước hành, hoặc do bất động hành, vị ấy không đi, không được dẫn dắt, không bị cuốn trôi, không bị mang đi – (như thế là) na kammunā (không do nghiệp). Nopi sutena neyyoti (Cũng không do sở văn mà được dẫn dắt) là: hoặc do sự thanh tịnh của sở văn, hoặc do tiếng đồn từ người khác, hoặc do sự công nhận của đại chúng, vị ấy không đi, không được dẫn dắt, không bị cuốn trôi, không bị mang đi – (như thế là) na kammunā nopi sutena neyyo (không do nghiệp, cũng không do sở văn mà được dẫn dắt).
Anūpanīto sa nivesanesūti. Upayāti dve upayā – taṇhūpayo ca diṭṭhūpayo ca…pe… ayaṃ taṇhūpayo…pe… ayaṃ diṭṭhūpayo. Tassa taṇhūpayo pahīno, diṭṭhūpayo paṭinissaṭṭho. Taṇhūpayassa pahīnattā, diṭṭhūpayassa paṭinissaṭṭhattā so nivesanesu anūpanīto anupalitto anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – anūpanīto sa nivesanesu.
'He is not led into any attachments.' 'Clingings': There are two kinds of clinging: clinging through craving and clinging through view…pe… This is clinging through craving…pe… This is clinging through view. For him, clinging through craving is abandoned and clinging through view is relinquished. Because clinging through craving has been abandoned and clinging through view has been relinquished, he is not led into attachments, is unsmeared, unapproached, unattached, uncommitted, has departed, is detached, fully released, dissociated, and dwells with a mind that has transcended boundaries. Thus, 'he is not led into any attachments.'
Anūpanīto sa nivesanesūti (Vị ấy không bị dẫn vào trong các trú sở). Upayāti (chấp thủ) có hai loại chấp thủ: ái chấp thủ và kiến chấp thủ... (vân vân)... đây là ái chấp thủ... (vân vân)... đây là kiến chấp thủ. Đối với vị ấy, ái chấp thủ đã được đoạn tận, kiến chấp thủ đã được từ bỏ. Do ái chấp thủ đã được đoạn tận, do kiến chấp thủ đã được từ bỏ, vị ấy ở trong các trú sở là người không bị dẫn vào, không bị ô nhiễm, không đi đến gần, không bị đắm nhiễm, không bị thiên về, đã thoát ra, đã rũ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, không còn tương ưng, và trú với tâm đã được làm cho không còn giới hạn – (như thế là) anūpanīto sa nivesanesu (vị ấy không bị dẫn vào trong các trú sở).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Na vedagū diṭṭhiyā na mutiyā, sa mānameti na hi tammayo so;
Na kammunā nopi sutena neyyo, anūpanīto sa nivesanesū’’ti.
“One who has gone to knowledge’s end does not form conceit through view or through what is thought; for he is not made of that. He is not led by action or by learning; he is not led into any attachments.”
“Bậc Vedagū không do kiến, không do tư duy, vị ấy không đo lường, không đồng hóa với điều ấy; Không do nghiệp, không do sở văn mà được dẫn dắt, vị ấy không bị dẫn vào trong các trú sở.”
82.
82.
82.
Saññāvirattassa na santi ganthā, paññāvimuttassa na santi mohā;
Saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ, te ghaṭṭamānā † vicaranti loke.
For one detached from perception, there are no bonds; for one liberated by wisdom, there are no delusions. Those who have grasped at perception and view wander the world generating conflict.
Với người đã ly tham tưởng, không có các trói buộc, với người tuệ giải thoát, không có các si mê; Những ai đã chấp thủ tưởng và kiến, họ đi lại trong thế gian trong sự va chạm.
Saññāvirattassa na santi ganthāti. Yo samathapubbaṅgamaṃ ariyamaggaṃ bhāveti tassa ādito upādāya ganthā vikkhambhitā honti, arahatte patte arahato ganthā ca mohā ca nīvaraṇā ca kāmasaññā byāpādasaññā vihiṃsāsaññā diṭṭhisaññā ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti – saññāvirattassa na santi ganthā.
'For one detached from perception, there are no bonds.' Whoever develops the noble path which is preceded by serenity and accompanied by insight, for that person the bonds are suppressed, beginning from the first jhāna. When Arahantship has been attained, for the Arahant the bonds, delusions, hindrances, perception of sensual desire, perception of ill will, perception of harming, and perception of views are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. Thus, 'for one detached from perception, there are no bonds.'
Saññāvirattassa na santi ganthāti (Với người đã ly tham tưởng, không có các trói buộc) là: Vị nào tu tập Thánh đạo với thiền chỉ đi trước, đối với vị ấy ngay từ đầu các trói buộc đã được đè nén. Khi đã đắc quả A-la-hán, đối với vị A-la-hán, các trói buộc, các si mê, các triền cái, và dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, kiến tưởng đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai – (như thế là) saññāvirattassa na santi ganthā (với người đã ly tham tưởng, không có các trói buộc).
Paññāvimuttassa na santi mohāti. Yo vipassanāpubbaṅgamaṃ ariyamaggaṃ bhāveti, tassa ādito upādāya mohā vikkhambhitā honti, arahatte patte arahato mohā ca ganthā ca nīvaraṇā ca kāmasaññā byāpādasaññā vihiṃsāsaññā diṭṭhisaññā ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammāti – paññāvimuttassa na santi mohā.
'For one liberated by wisdom, there are no delusions.' Whoever develops the noble path with insight as its forerunner, for that person the delusions are suppressed, beginning from the initial insight. Upon attaining Arahantship, for the Arahant the delusions, bonds, hindrances, perception of sensual desire, perception of ill will, perception of harming, and perception of views are abandoned—cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. Thus, 'for one liberated by wisdom, there are no delusions.'
Paññāvimuttassa na santi mohāti (Với người tuệ giải thoát, không có các si mê) là: Vị nào tu tập Thánh đạo với thiền quán đi trước, đối với vị ấy ngay từ đầu các si mê đã được đè nén. Khi đã đắc quả A-la-hán, đối với vị A-la-hán, các si mê, các trói buộc, các triền cái, và dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, kiến tưởng đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai – (như thế là) paññāvimuttassa na santi mohā (với người tuệ giải thoát, không có các si mê).
Saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ, te ghaṭṭamānā vicaranti loketi. Ye saññaṃ gaṇhanti kāmasaññaṃ byāpādasaññaṃ vihiṃsāsaññaṃ te saññāvasena ghaṭṭenti saṅghaṭṭenti. Rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhaginīpi bhaginiyā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Te tattha kalahaviggahavivādamāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi † upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhaṃ. Ye diṭṭhiṃ gaṇhanti ‘‘sassato loko’’ti vā…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā te diṭṭhivasena ghaṭṭenti saṅghaṭṭenti, satthārato satthāraṃ ghaṭṭenti, dhammakkhānato dhammakkhānaṃ ghaṭṭenti, gaṇato gaṇaṃ ghaṭṭenti, diṭṭhiyā diṭṭhiṃ ghaṭṭenti, paṭipadāya paṭipadaṃ ghaṭṭenti, maggato maggaṃ ghaṭṭenti.
'Those who have grasped perception and views wander in the world, colliding.' Those who grasp perceptions—perceptions of sensual desire, perceptions of ill will, or perceptions of harming—collide and clash on account of those perceptions. Kings dispute with kings, nobles with nobles, brahmins with brahmins, householders with householders. A mother disputes with her son, a son with his mother, a father with his son, a son with his father, a brother with a brother, a sister with a sister, a brother with a sister, a sister with a brother, a friend with a friend. Having fallen into quarrels, conflicts, and arguments, they attack each other with their hands, with clods, with sticks, and with swords. There they meet death or suffering like unto death. Those who grasp views—such as 'the world is eternal'… or 'the Tathāgata neither exists nor does not exist after death'—collide and clash on account of those views. Teacher collides with teacher, exposition of doctrine with exposition of doctrine, group with group, view with view, practice with practice, path with path.
Saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ, te ghaṭṭamānā vicaranti loketi (Những ai đã chấp thủ tưởng và kiến, họ đi lại trong thế gian trong sự va chạm) là: Những ai chấp thủ tưởng – dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng – họ do năng lực của tưởng mà va chạm, xung đột. Các vua chúa cũng tranh luận với các vua chúa, các Sát-đế-lỵ cũng tranh luận với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn cũng tranh luận với các Bà-la-môn, các gia chủ cũng tranh luận với các gia chủ, mẹ cũng tranh luận với con trai, con trai cũng tranh luận với mẹ, cha cũng tranh luận với con trai, con trai cũng tranh luận với cha, anh em trai cũng tranh luận với anh em trai, chị em gái cũng tranh luận với chị em gái, anh trai cũng tranh luận với em gái, em gái cũng tranh luận với anh trai, bạn bè cũng tranh luận với bạn bè. Ở nơi ấy, họ rơi vào sự cãi cọ, xung đột, tranh luận, rồi tấn công lẫn nhau bằng tay, bằng mảnh sành, bằng gậy gộc, bằng khí giới. Ở nơi ấy, họ đi đến cái chết hoặc sự đau khổ gần như chết. Những ai chấp thủ tà kiến, cho rằng: ‘Thế gian là thường hằng’... (vân vân)... hoặc ‘sau khi chết, Như Lai không hiện hữu cũng không phải không hiện hữu,’ họ do năng lực của tà kiến mà va chạm, xung đột, họ làm cho đạo sư này va chạm với đạo sư khác, pháp thoại này va chạm với pháp thoại khác, giáo phái này va chạm với giáo phái khác, tà kiến này va chạm với tà kiến khác, pháp hành này va chạm với pháp hành khác, con đường này va chạm với con đường khác.
Atha vā te vivadanti, kalahaṃ karonti, bhaṇḍanaṃ karonti, viggahaṃ karonti, vivādaṃ karonti, medhagaṃ karonti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi…pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti. Tesaṃ abhisaṅkhārā appahīnā; abhisaṅkhārānaṃ appahīnattā gatiyā ghaṭṭenti, niraye ghaṭṭenti, tiracchānayoniyā ghaṭṭenti, pettivisaye ghaṭṭenti, manussaloke ghaṭṭenti, devaloke ghaṭṭenti, gatiyā gatiṃ… upapattiyā upapattiṃ… paṭisandhiyā paṭisandhiṃ… bhavena bhavaṃ… saṃsārena saṃsāraṃ… vaṭṭena vaṭṭaṃ ghaṭṭenti saṅghaṭṭenti vadanti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ te ghaṭṭamānā vicaranti loke.
Or else, they dispute, quarrel, brawl, contend, and argue, saying: 'You do not understand this Dhamma and Discipline… Unravel it if you can!' Their formations are unabandoned. Because their formations are unabandoned, they come to affliction in their destination: they come to affliction in hell, they come to affliction in the animal realm, they come to affliction in the sphere of ghosts, they come to affliction in the human world, they come to affliction in the deva world. They come to affliction from destination to destination, from rebirth to rebirth, from relinking to relinking, from existence to existence, from saṃsāra to saṃsāra, from the round to the round. They come to affliction, they are thoroughly afflicted; they speak, they wander about, they dwell, they move, they carry on, they maintain themselves, they keep going. 'In the world' means in the world of misery… in the world of the sense bases. Thus, 'Those who have grasped perception and views wander the world, coming to affliction.'
Hoặc là, họ tranh luận, họ gây gổ, họ cãi vã, họ xung đột, họ tranh chấp, họ gây chiến – ‘Ông không biết Pháp và Luật này... (vân vân)... nếu có thể, hãy tự gỡ mình ra.’ Đối với họ, các hành chưa được đoạn tận; do các hành chưa được đoạn tận, họ va chạm trong các cõi, họ va chạm trong địa ngục, họ va chạm trong loài súc sanh, họ va chạm trong cõi ngạ quỷ, họ va chạm trong cõi người, họ va chạm trong cõi trời, họ va chạm từ cõi này đến cõi khác... từ sự tái sanh này đến sự tái sanh khác... từ sự nối liền này đến sự nối liền khác... từ kiếp sống này đến kiếp sống khác... từ vòng luân hồi này đến vòng luân hồi khác... từ vòng quay này đến vòng quay khác, họ va chạm, xung đột, nói năng, đi lại, trú ngụ, sinh hoạt, xoay vần, duy trì, tồn tại, tiếp diễn. Loke (trong thế gian) là: trong thế gian khổ cảnh... (vân vân)... trong thế gian xứ – (như thế là) saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ te ghaṭṭamānā vicaranti loke (những ai đã chấp thủ tưởng và kiến, họ đi lại trong thế gian trong sự va chạm).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Saññāvirattassa na santi ganthā, paññāvimuttassa na santi mohā;
Saññañca diṭṭhiñca ye aggahesuṃ, te ghaṭṭamānā vicaranti loke’’ti.
“For one detached from perception there are no bonds; for one liberated by wisdom there are no delusions. Those who have grasped perception and views wander the world, coming to affliction.”
“Với người đã ly tham tưởng, không có các trói buộc, với người tuệ giải thoát, không có các si mê; Những ai đã chấp thủ tưởng và kiến, họ đi lại trong thế gian trong sự va chạm.”
The ninth, the Exposition of the Māgaṇḍiya Sutta, is completed.
Phần giải thích kinh Māgaṇḍiya, chương thứ chín.