Bản dịch
MND 8 — Diễn Giải Kinh Pasūra
8. Pasūrasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh về vị Pasūra được nói đến:
Họ nói rằng: ‘Chính ở đây là trong sạch.’
Họ đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác.
Điều mà họ nương tựa, họ nói điều ấy là tốt đẹp,
Phần đông đã đi theo những chân lý riêng biệt .
Họ nói rằng: ‘Chính ở đây là trong sạch’ - Họ nói, họ thuyết, họ phát ngôn, họ diễn giải, họ diễn tả về sự trong sạch, về sự thanh tịnh, về sự hoàn toàn trong sạch, về sự thoát khỏi, về sự giải thoát, về sự hoàn toàn thoát khỏi ở chính nơi đây. Họ nói, họ thuyết, họ phát ngôn, họ diễn giải, họ diễn tả về sự trong sạch, về sự thanh tịnh, về sự hoàn toàn trong sạch, về sự thoát khỏi, về sự giải thoát, về sự hoàn toàn thoát khỏi rằng: ‘Thế giới là thường còn, thế giới là không thường còn, thế giới là có giới hạn, thế giới là không có giới hạn, mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy, mạng sống là vật khác thân thể là vật khác, đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không;’ ‘họ nói rằng: Chính ở đây là trong sạch’ là như thế.
Họ đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác - Họ quăng bỏ, ném bỏ, vất bỏ tất cả các học thuyết khác, ngoại trừ bậc đạo sư, pháp thoại, hội chúng, quan điểm, lối thực hành, đạo lộ của bản thân. Họ đã nói như vầy: ‘Bậc đạo sư ấy không là đấng Toàn Tri, giáo pháp ấy không khéo được thuyết giảng, tập thể ấy đã không thực hành tốt đẹp, quan điểm ấy không tốt đẹp, lối thực hành ấy đã không khéo được quy định, đạo lộ ấy không dẫn dắt ra khỏi, ở nơi ấy không có sự trong sạch, hay sự thanh tịnh, hay sự hoàn toàn trong sạch, hay sự thoát khỏi, hay sự giải thoát, hay sự hoàn toàn thoát khỏi, không có ở nơi này những người được trong sạch, hay được thanh tịnh, hay được hoàn toàn trong sạch, hay được thoát khỏi, hay được giải thoát, hay được hoàn toàn thoát khỏi, là thấp hèn, hèn kém, hèn mọn, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi,’ họ nói như vậy, họ thuyết như vậy, họ phát ngôn như vậy, họ diễn giải như vậy, họ diễn tả như vậy; ‘họ đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác’ là như thế.
Điều mà họ nương tựa, họ nói điều ấy là tốt đẹp - Điều mà họ nương tựa là bậc đạo sư, pháp thoại, hội chúng, quan điểm, lối thực hành, đạo lộ nào mà họ đã nương vào, đã phụ thuộc vào, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám chặt, đã hướng đến. Điều ấy là về quan điểm của mình, về sự chấp nhận của mình, về sự ưa thích của mình, về lập luận của mình. Họ nói là tốt đẹp là học thuyết tốt đẹp, học thuyết lịch sự, học thuyết sáng suốt, học thuyết vững chắc, học thuyết đúng đắn, học thuyết nhân (quả), học thuyết rõ rệt, học thuyết gương mẫu, học thuyết vững chắc theo lập luận của mình. ‘Điều mà họ nương tựa, họ nói điều ấy là tốt đẹp’ là như thế.
Phần đông đã đi theo những chân lý riêng biệt - Phần đông các Sa-môn và Bà-la-môn đã đi theo, đã thiết lập, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám chặt, đã hướng đến những chân lý riêng biệt của cá nhân. Họ đã đi theo, đã thiết lập, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám chặt, đã hướng đến rằng: ‘Thế giới là thường còn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không;’ họ đã đi theo, đã thiết lập, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám chặt, đã hướng đến rằng: ‘Thế giới là không thường còn, ―như trên― đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không;’ ‘phần đông đã đi theo những chân lý riêng biệt’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Họ nói rằng: ‘Chính ở đây là trong sạch.’
Họ đã nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác.
Điều mà họ nương tựa, họ nói điều ấy là tốt đẹp,
Phần đông đã đi theo những chân lý riêng biệt .”
Mong muốn tranh luận, những kẻ ấy sau khi chen vào hội chúng,
từng đôi, chúng đánh giá qua lại lẫn nhau là ngu dốt.
Dựa dẫm vào người khác, chúng nói lời bàn cãi,
mong muốn lời ca ngợi, chúng nói (học thuyết) là tốt lành .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Mong muốn tranh luận, những kẻ ấy sau khi chen vào hội chúng,
từng đôi, chúng đánh giá qua lại lẫn nhau là ngu dốt.
Dựa dẫm vào người khác, chúng nói lời bàn cãi,
mong muốn lời ca ngợi, chúng nói (học thuyết) là tốt lành .”
Kẻ gắn bó với sự phát biểu ở giữa hội chúng,
trong khi ước muốn lời ca ngợi, thì trở nên lo lắng.
Hơn nữa, khi bị bác bỏ thì trở nên xấu hổ,
kẻ ấy bực tức vì sự chê bai, có sự tìm kiếm điểm thiếu sót .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Kẻ gắn bó với sự phát biểu ở giữa hội chúng,
trong khi ước muốn lời ca ngợi, thì trở nên lo lắng.
Hơn nữa, khi bị bác bỏ thì trở nên xấu hổ,
kẻ ấy bực tức vì sự chê bai, có sự tìm kiếm điểm thiếu sót .”
Họ đã nói rằng cuộc tranh luận của người này là hèn mọn,
những vị xem xét câu hỏi đã bác bỏ.
Người có cuộc tranh luận thấp hèn than vãn, sầu muộn,
kể lể rằng: ‘Kẻ ấy đã vượt hẳn tôi. ’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Họ đã nói rằng cuộc tranh luận của người này là hèn mọn,
những vị xem xét câu hỏi đã bác bỏ.
Người có cuộc tranh luận thấp hèn than vãn, sầu muộn,
kể lể rằng: ‘Kẻ ấy đã vượt hẳn tôi .’”
Những sự tranh cãi này đã sanh khởi giữa các vị Sa-môn,
ở những việc này có sự hưng phấn và chán nản.
Sau khi nhìn thấy luôn cả điều này, nên xa lánh sự bàn cãi,
bởi vì không có lợi ích nào khác ngoài việc đạt được lời ca ngợi .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những sự tranh cãi này đã sanh khởi giữa các vị Sa-môn,
ở những việc này có sự hưng phấn và chán nản.
Sau khi nhìn thấy luôn cả điều này, nên xa lánh sự bàn cãi,
bởi vì không có lợi ích nào khác ngoài việc đạt được lời ca ngợi .”
Hoặc hơn nữa, kẻ được ca ngợi ở nơi ấy,
sau khi đã nói lên lời tranh luận ở giữa hội chúng,
kẻ ấy cười về điều ấy, hãnh diện vì điều ấy,
sau khi đã đạt được mục đích ấy theo như ý định đã có .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Hoặc hơn nữa, kẻ được ca ngợi ở nơi ấy,
sau khi đã nói lên lời tranh luận ở giữa hội chúng,
kẻ ấy cười về điều ấy, hãnh diện vì điều ấy,
sau khi đã đạt được mục đích ấy theo như ý định đã có .”
Cái nào là sự kiêu hãnh, cái ấy đối với kẻ này là vùng đất tiêu diệt.
Hơn nữa, kẻ này nói một cách ngã mạn và ngã mạn thái quá.
Sau khi nhìn thấy luôn cả điều này, không nên tranh cãi,
các bậc thiện xảo nói sự trong sạch hiển nhiên là không do việc ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cái nào là sự kiêu hãnh, cái ấy đối với kẻ này là vùng đất tiêu diệt.
Hơn nữa, kẻ này nói một cách ngã mạn và ngã mạn thái quá.
Sau khi nhìn thấy luôn cả điều này, không nên tranh cãi,
các bậc thiện xảo nói sự trong sạch hiển nhiên là không do việc ấy .”
Giống như vị dũng sĩ, được chu cấp với thức ăn của nhà vua,
đi đến, la hét, ước muốn có dũng sĩ đối địch,
này dũng sĩ, ngươi hãy đi đến nơi kẻ (dũng sĩ đối địch) ấy,
quả thật trước đây đã không còn (ô nhiễm) gì để mà chiến đấu .
Giống như vị dũng sĩ, được chu cấp với thức ăn của vua - Vị dũng sĩ : Vị dũng sĩ là vị anh hùng, người chiến sĩ, không sợ hãi, không kinh sợ, không sợ sệt, không trốn chạy. Được chu cấp với thức ăn của vua : được chu cấp, được nuôi dưỡng, được đạt đến, được tăng trưởng nhờ vào vật thực cứng của nhà vua, nhờ vào vật thực mềm của nhà vua; - ‘giống như vị dũng sĩ, được chu cấp với thức ăn của nhà vua’ là như thế.
Đi đến, la hét, ước muốn có dũng sĩ đối địch : Vị ấy đi đến, tiếp cận, đi đến gần, vừa kêu la, vừa la lên, vừa la hét, trong khi ước muốn, trong khi ưng thuận, trong khi ước nguyện, trong khi mong cầu, trong khi tham đắm có dũng sĩ đối địch, có người nam đối địch, có kẻ thù đối địch, có võ sĩ đối địch; - ‘đi đến, la hét, ước muốn có dũng sĩ đối địch’ là như thế.
Này dũng sĩ, ngươi hãy đi đến nơi kẻ (dũng sĩ đối địch) ấy : Kẻ dẫn dắt đến tà kiến ấy hiện ở nơi nào, thì ngươi hãy đi đến nơi ấy, hãy tiến đến nơi ấy, hãy đến gần nơi ấy, hãy tiến về nơi ấy. Kẻ ấy là dũng sĩ đối địch, người nam đối địch, kẻ thù đối địch, võ sĩ đối địch của ngươi; - ‘Này dũng sĩ, ngươi hãy đi đến nơi kẻ (dũng sĩ đối địch) ấy’ là như thế.
Quả thật trước đây đã không còn (ô nhiễm) gì để mà chiến đấu - Quả thật trước đây ở gốc cây Bồ Đề, những ô nhiễm có hành động đối kháng, có hành động đối nghịch, có hành động chống đối, có hành động đối lập là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, đã được dứt bỏ, đã được trừ tuyệt, đã được vắng lặng, đã được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Để mà chiến đấu : tức là nhằm mục đích chiến đấu, nhằm mục đích cãi cọ, nhằm mục đích xung đột, nhằm mục đích tranh luận, nhằm mục đích tranh cãi, nhằm mục đích gây gỗ; - ‘Quả thật trước đây đã không còn (ô nhiễm) gì để mà chiến đấu’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Giống như vị dũng sĩ, được chu cấp với thức ăn của nhà vua,
đi đến, la hét, ước muốn có dũng sĩ đối địch,
này dũng sĩ, ngươi hãy đi đến nơi kẻ (dũng sĩ đối địch) ấy,
quả thật trước đây đã không còn (ô nhiễm) gì để mà chiến đấu .”
Những kẻ nào sau khi học hỏi tà kiến, rồi tranh cãi và nói rằng: ‘Chỉ mỗi điều này là sự thật.’ Ngươi hãy nói với những kẻ ấy rằng: ‘ Khi cuộc nói chuyện sanh khởi, người đối kháng với ngươi ở đây thật sự không có .’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những kẻ nào sau khi học hỏi tà kiến, rồi tranh cãi và nói rằng: ‘Chỉ mỗi điều này là sự thật.’ Ngươi hãy nói với những kẻ ấy rằng: ‘ Khi cuộc nói chuyện sanh khởi, người đối kháng với ngươi ở đây thật sự không có .’”
Hơn nữa, sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), những vị nào sống không chống đối quan điểm (này) bằng các quan điểm (khác), này Pasūra, ngươi có thể đạt được cái gì ở những vị ấy, ở đây là đối với những vị mà điều được ôm giữ là tối thắng (hoàn toàn) không có ?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Hơn nữa, sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), những vị nào sống không chống đối quan điểm (này) bằng các quan điểm (khác), này Pasūra, ngươi có thể đạt được cái gì ở những vị ấy, ở đây là đối với những vị mà điều được ôm giữ là tối thắng (hoàn toàn) không có ? ”
Giờ ngươi đã đi đến sự suy xét, trong khi dùng ý suy nghĩ về các tà kiến. Có sự gặp gỡ sánh đôi với vị đã rũ sạch, ngươi quả không có khả năng để đi cùng.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Giờ ngươi đã đi đến sự suy xét, trong khi dùng ý suy nghĩ về các tà kiến. Có sự gặp gỡ sánh đôi với vị đã rũ sạch, ngươi quả không có khả năng để đi cùng .”
Diễn Giải Kinh Pasūra là thứ tám .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Idheva suddhiṃ iti vādayantīti. Idheva suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko … antavā loko… anantavā loko… taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ… aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ… hoti tathāgato paraṃ maraṇā… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – idheva suddhiṃ iti vādayanti.
'Only herein is purity,' thus they proclaim: Herein alone they speak of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release; they declare, teach, recite, reveal, and designate it. 'The world is eternal; this alone is true, all else is vain'—thus they speak of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release; they declare, teach, recite, reveal, and designate it. 'The world is not eternal… the world is finite… the world is infinite… the soul is the same as the body… the soul is different from the body… the Tathāgata exists after death… the Tathāgata does not exist after death… the Tathāgata both exists and does not exist after death… the Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, all else is vain'—thus they speak of purity, special purity, complete purity, release, special release, and complete release; they declare, teach, recite, reveal, and designate it. This is the meaning of 'Only herein is purity,' thus they proclaim.
“Chỉ ở đây có sự thanh tịnh, họ thuyết giảng như vậy” có nghĩa là: Chỉ ở đây, họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ gọi là có sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự đặc biệt giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát. (Với quan điểm:) ‘Thế giới là thường hằng, chỉ điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ gọi là có sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự đặc biệt giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát. (Với quan điểm:) ‘Thế giới là không thường hằng … thế giới là hữu biên… thế giới là vô biên… chính sinh mạng ấy là chính thân thể ấy… sinh mạng là khác, thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại cũng không không-tồn-tại sau khi chết, chỉ điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ họ nói, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ gọi là có sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự đặc biệt giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Chỉ ở đây có sự thanh tịnh, họ thuyết giảng như vậy”.
Nāññesu dhammesu visuddhimāhūti. Attano satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ ṭhapetvā sabbe paravāde khipanti ukkhipanti parikkhipanti. ‘‘So satthā na sabbaññū, dhammo na svākkhāto, gaṇo na suppaṭipanno, diṭṭhi na bhaddikā, paṭipadā na supaññattā, maggo na niyyāniko, natthettha suddhi vā visuddhi vā parisuddhi vā mutti vā vimutti vā parimutti vā, na tattha sujjhanti vā visujjhanti vā parisujjhanti vā muccanti vā vimuccanti vā parimuccanti vā, hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittā’’ti – evamāhaṃsu evaṃ vadanti evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – nāññesu dhammesu visuddhimāhu.
'They speak of no purity in other doctrines': Setting aside their own teacher, proclaimed doctrine, community, view, practice, and path, they reject, cast out, and condemn all other doctrines. 'That teacher is not all-knowing, the doctrine is not well-proclaimed, the community does not practice well, the view is not good, the practice is not well-prescribed, the path does not lead to deliverance. Therein is no purity, special purity, complete purity, release, special release, or complete release. Therein they do not become pure, specially pure, or completely pure; they are not released, specially released, or completely released. They are inferior, base, low, wretched, faulty, and insignificant'—thus they have said, thus they speak, thus they teach, thus they recite, thus they reveal, and thus they designate. This is the meaning of 'they speak of no purity in other doctrines'.
“Họ không nói đến sự thanh tịnh ở các giáo pháp khác” có nghĩa là: Ngoại trừ vị đạo sư, lời giảng dạy, giáo phái, quan điểm, pháp hành, con đường của mình, họ vứt bỏ, họ loại trừ, họ loại bỏ hoàn toàn tất cả các quan điểm của người khác. (Họ nói:) ‘Vị đạo sư ấy không phải là bậc toàn tri, giáo pháp không được khéo thuyết, giáo phái không thực hành tốt, quan điểm không tốt đẹp, pháp hành không được chế định tốt, con đường không đưa đến sự giải thoát, ở đó không có sự thanh tịnh, hay sự đặc biệt thanh tịnh, hay sự hoàn toàn thanh tịnh, hay sự giải thoát, hay sự đặc biệt giải thoát, hay sự hoàn toàn giải thoát, ở đó họ không được thanh tịnh, hay không được đặc biệt thanh tịnh, hay không được hoàn toàn thanh tịnh, hay không được giải thoát, hay không được đặc biệt giải thoát, hay không được hoàn toàn giải thoát, (họ là) thấp kém, hạ liệt, tồi tệ, xấu xa, thiếu sót, nhỏ mọn.’ – Họ đã nói như vậy, họ nói như vậy, họ kể như vậy, họ đọc như vậy, họ trình bày như vậy, họ gọi như vậy. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Họ không nói đến sự thanh tịnh ở các giáo pháp khác”.
Yaṃ nissitā tattha subhaṃ vadānāti. Yaṃ nissitāti yaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ nissitā ānissitā † allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Subhaṃ vadānāti subhavādā sobhanavādā paṇḍitavādā thiravādā † ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – yaṃ nissitā tattha subhaṃ vadānā.
'Dependent on which, they there proclaim it as good.' 'Dependent on which' means: on whichever teacher, proclaimed doctrine, community, view, practice, or path they are dependent, closely dependent, clinging, have approached, have undertaken, and are resolved upon. 'There' means: in their own view, their own acceptance, their own preference, their own doctrine. 'Proclaim it as good' means: they speak of it as good, speak of it as excellent, speak as wise ones, speak of what is firm, speak of what is just, speak with reason, speak of characteristics, speak with illustrations, and speak of grounds, in their own doctrine. Thus: 'Dependent on which, they there proclaim it as good.'
“Nương tựa vào điều gì, ở đó họ nói điều tốt đẹp” có nghĩa là: “Nương tựa vào điều gì” có nghĩa là họ nương tựa, đặc biệt nương tựa, dính mắc, đi đến, chấp giữ, tin chắc vào vị đạo sư, lời giảng dạy, giáo phái, quan điểm, pháp hành, con đường nào đó. “Ở đó” có nghĩa là ở trong quan điểm của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong học thuyết của mình. “Nói điều tốt đẹp” có nghĩa là họ có quan điểm cho là tốt, quan điểm cho là hay, quan điểm cho là bậc trí, quan điểm cho là vững chắc, quan điểm cho là hợp lý, quan điểm cho là có nguyên nhân, quan điểm cho là có đặc tính, quan điểm cho là có lý do, quan điểm cho là có cơ sở, ở trong học thuyết của mình. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Nương tựa vào điều gì, ở đó họ nói điều tốt đẹp”.
Paccekasaccesu puthū niviṭṭhāti. Puthū samaṇabrāhmaṇā puthū paccekasaccesu niviṭṭhā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti niviṭṭhā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti niviṭṭhā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – paccekasaccesu puthū niviṭṭhā.
Variously entrenched in their individual 'truths.' Various ascetics and brahmins are variously entrenched, established, clinging, adhering, devoted, committed, and intent on their individual 'truths.' 'The world is eternal, this alone is true, all else is vain'—thus they are entrenched, established, clinging, adhering, devoted, committed, and intent. 'The world is not eternal... the Tathāgata neither exists nor does not exist after death, this alone is true, all else is vain'—thus they are entrenched, established, clinging, adhering, devoted, committed, and intent. This is the meaning of 'variously entrenched in their individual truths.'
“Nhiều người an trú trong các chân lý riêng biệt” có nghĩa là: Nhiều vị Sa-môn và Bà-la-môn đã an trú, đã thiết lập, đã dính mắc, đã đi đến, đã chấp giữ, đã tin chắc vào nhiều chân lý riêng biệt. (Với quan điểm:) ‘Thế giới là thường hằng, chỉ điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ họ đã an trú, đã thiết lập, đã dính mắc, đã đi đến, đã chấp giữ, đã tin chắc. (Với quan điểm:) ‘Thế giới là không thường hằng… cho đến… Như Lai không tồn tại cũng không không-tồn-tại sau khi chết, chỉ điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ họ đã an trú, đã thiết lập, đã dính mắc, đã đi đến, đã chấp giữ, đã tin chắc. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Nhiều người an trú trong các chân lý riêng biệt”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Idheva suddhiṃ iti vādayanti, nāññesu dhammesu visuddhimāhu;
Yaṃ nissitā tattha subhaṃ vadānā, paccekasaccesu puthū niviṭṭhā’’ti.
“‘Only herein is purity,’ thus they proclaim; they speak of no purity in other doctrines. Dependent on that, they there proclaim it as good, variously entrenched in their individual truths.”
“‘Chỉ ở đây thanh tịnh,’ họ thuyết giảng vậy, họ không nói đến sự thanh tịnh ở các pháp khác; Nương tựa vào điều gì, ở đó họ nói điều tốt đẹp, nhiều người an trú trong các chân lý riêng biệt.’”
60.
60.
60.
Te vādakāmā parisaṃ vigayha, bālaṃ dahantī mithu aññamaññaṃ;
Vadanti te aññasitā kathojjaṃ, pasaṃsakāmā kusalāvadānā.
Those who desire debate, having entered an assembly, regard each other as fools. Relying on others, they speak contentious words, desiring praise, claiming to be skilled.
Những kẻ ham tranh luận, đi vào hội chúng, xem nhau là kẻ ngu si; Nương tựa vào người khác, họ nói lời tranh cãi, những kẻ mong được tán dương, tự cho là khéo léo.
Te vādakāmā parisaṃ vigayhāti. Te vādakāmāti te vādakāmā vādatthikā vādādhippāyā vādapurekkhārā vādapariyesanaṃ carantā. Parisaṃ vigayhāti khattiyaparisaṃ brāhmaṇaparisaṃ gahapatiparisaṃ samaṇaparisaṃ vigayha ogayha ajjhogāhetvā pavisitvāti – te vādakāmā parisaṃ vigayha.
'Those who desire debate, having entered an assembly.' 'Those who desire debate' means: they desire debate, are intent on debate, put debate foremost, and wander in search of debate. 'Having entered an assembly' means: having entered, descended into, plunged into, and penetrated an assembly of nobles, an assembly of brahmins, an assembly of householders, or an assembly of ascetics. Thus: 'Those who desire debate, having entered an assembly.'
“Những kẻ ham tranh luận, đi vào hội chúng” có nghĩa là: “Những kẻ ham tranh luận” có nghĩa là những kẻ ham tranh luận, những kẻ muốn tranh luận, những kẻ có ý định tranh luận, những kẻ xem tranh luận là hàng đầu, những kẻ đi tìm kiếm sự tranh luận. “Đi vào hội chúng” có nghĩa là đi vào, đi xuống, đắm mình vào, đi vào bên trong hội chúng của các vị Sát-đế-lỵ, hội chúng của các vị Bà-la-môn, hội chúng của các vị gia chủ, hội chúng của các vị Sa-môn. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Những kẻ ham tranh luận, đi vào hội chúng”.
Bālaṃ dahantī mithu aññamaññanti. Mithūti dve janā dve kalahakārakā dve bhaṇḍanakārakā dve bhassakārakā dve vivādakārakā dve adhikaraṇakārakā dve vādino dve sallāpakā; te aññamaññaṃ bālato hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato dahanti passanti dakkhanti olokenti nijjhāyanti upaparikkhantīti – bālaṃ dahantī mithu aññamaññaṃ.
'They regard each other as fools.' 'Each other' means: two persons, two quarrel-makers, two brawlers, two arguers, two disputants, two litigants, two debaters, two conversationalists. They regard, see, perceive, look upon, contemplate, and examine one another as foolish, inferior, base, low, wretched, faulty, and insignificant. This is the meaning of 'they regard each other as fools.'
“Xem nhau là kẻ ngu si” có nghĩa là: “Lẫn nhau” có nghĩa là hai người, hai kẻ gây gổ, hai kẻ cãi vã, hai kẻ tranh chấp, hai kẻ tranh luận, hai kẻ phân xử, hai người đối đáp, hai người trò chuyện; họ xem nhau, thấy nhau, nhìn nhau, quan sát nhau, chiêm nghiệm nhau, xem xét nhau là kẻ ngu si, là thấp kém, là hạ liệt, là tồi tệ, là xấu xa, là thiếu sót, là nhỏ mọn. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Xem nhau là kẻ ngu si”.
Vadanti te aññasitā kathojjanti. Aññaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ nissitā ānissitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā. Kathojjaṃ vuccati kalaho bhaṇḍanaṃ viggaho vivādo medhagaṃ. Atha vā kathojjanti anojavantī nisākathā kathojjaṃ vadanti, kalahaṃ vadanti, bhaṇḍanaṃ vadanti, viggahaṃ vadanti, vivādaṃ vadanti, medhagaṃ vadanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – vadanti te aññasitā kathojjaṃ.
'Relying on others, they speak contentious words.' 'Relying on others' means being dependent on, closely dependent on, clinging to, having approached, having undertaken, and being resolved upon another teacher, proclaimed doctrine, community, view, practice, or path. 'Contentious words' is a term for quarreling, brawling, contention, disputing, and strife. Alternatively, 'contentious words' means powerless speech, speech without essence. They speak contentious words; they speak of quarrels, brawling, contention, disputes, and strife; they declare, recite, reveal, and express it. This is the meaning of 'relying on others, they speak contentious words.'
“Nương tựa vào người khác, họ nói lời tranh cãi” có nghĩa là: Họ nương tựa, đặc biệt nương tựa, dính mắc, đi đến, chấp giữ, tin chắc vào vị đạo sư, lời giảng dạy, giáo phái, quan điểm, pháp hành, con đường khác. “Lời tranh cãi” được gọi là sự gây gổ, sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh luận, sự bất hòa. Hoặc là, “lời tranh cãi” có nghĩa là lời nói không có tinh túy, lời nói thấp kém; họ nói lời tranh cãi, họ nói sự gây gổ, họ nói sự cãi vã, họ nói sự xung đột, họ nói sự tranh luận, họ nói sự bất hòa, họ kể, họ đọc, họ trình bày, họ gọi. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Nương tựa vào người khác, họ nói lời tranh cãi”.
Pasaṃsakāmā kusalāvadānāti. Pasaṃsakāmāti pasaṃsakāmā pasaṃsatthikā pasaṃsādhippāyā pasaṃsapurekkhārā pasaṃsapariyesanaṃ carantā. Kusalāvadānāti kusalavādā paṇḍitavādā thiravādā ñāyavādā hetuvādā lakkhaṇavādā kāraṇavādā ṭhānavādā sakāya laddhiyāti – pasaṃsakāmā kusalāvadānā.
'Desiring praise, claiming to be skilled.' 'Desiring praise' means: desiring praise, seeking praise, intending praise, putting praise foremost, and wandering in search of praise. 'Claiming to be skilled' means: making assertions of skill, assertions of wisdom, faultless assertions, logical assertions, reasoned assertions, assertions based on characteristics, assertions based on illustrations, and unshakeable assertions, according to their own doctrine. This is the meaning of 'desiring praise, claiming to be skilled.'
“Những kẻ mong được tán dương, tự cho là khéo léo” có nghĩa là: “Những kẻ mong được tán dương” có nghĩa là những kẻ ham muốn sự tán dương, những kẻ muốn được tán dương, những kẻ có ý định được tán dương, những kẻ xem sự tán dương là hàng đầu, những kẻ đi tìm kiếm sự tán dương. “Tự cho là khéo léo” có nghĩa là họ có quan điểm cho là khéo léo, quan điểm cho là bậc trí, quan điểm cho là vững chắc, quan điểm cho là hợp lý, quan điểm cho là có nguyên nhân, quan điểm cho là có đặc tính, quan điểm cho là có lý do, quan điểm cho là có cơ sở, ở trong học thuyết của mình. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Những kẻ mong được tán dương, tự cho là khéo léo”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Te vādakāmā parisaṃ vigayha, bālaṃ dahantī mithu aññamaññaṃ;
Vadanti te aññasitā kathojjaṃ, pasaṃsakāmā kusalāvadānā’’ti.
“Those who desire debate, having entered an assembly, regard each other as fools. Relying on others, they speak contentious words, desiring praise, claiming to be skilled.”
“‘Những kẻ ham tranh luận, đi vào hội chúng, xem nhau là kẻ ngu si; Nương tựa vào người khác, họ nói lời tranh cãi, những kẻ mong được tán dương, tự cho là khéo léo.’”
61.
61.
61.
Yutto kathāyaṃ parisāya majjhe, pasaṃsamicchaṃ vinighāti hoti;
Apāhatasmiṃ pana maṅku hoti, nindāya so kuppati randhamesī.
Engaged in debate in the midst of an assembly, desiring praise, one becomes vexed. But when refuted, one becomes dejected; seeking the other's faults, one flares up at blame.
Tham gia tranh luận giữa hội chúng, kẻ mong được tán dương trở nên bực bội; Khi bị bác bỏ, y lại trở nên chán nản, kẻ tìm lỗi ấy tức giận vì bị chỉ trích.
Yutto kathāyaṃ parisāya majjheti. Khattiyaparisāya vā brāhmaṇaparisāya vā gahapatiparisāya vā samaṇaparisāya vā majjhe attano kathāyaṃ yutto payutto āyutto samāyutto sampayutto kathetunti – yutto kathāyaṃ parisāya majjhe.
'Engaged in speech in the midst of an assembly' means: in the midst of an assembly of nobles, or an assembly of brahmins, or an assembly of householders, or an assembly of ascetics, for his own speech, he is diligently, respectfully, especially, jointly, and well engaged in order to speak. This is the meaning of 'engaged in speech in the midst of an assembly'.
Yutto kathāyaṃ parisāya majjhe có nghĩa là: Ở giữa hội chúng Sát-đế-lỵ, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, vị ấy chuyên tâm, tận tụy, nỗ lực, cùng nhau chuyên tâm, khéo chuyên tâm trong cuộc luận bàn của mình để trình bày. Như thế là yutto kathāyaṃ parisāya majjhe.
Pasaṃsamicchaṃ vinighāti hotīti. Pasaṃsamicchanti pasaṃsaṃ thomanaṃ kittiṃ vaṇṇahāriyaṃ icchanto sādiyanto patthayanto pihayanto abhijappanto. Vinighāti hotīti pubbeva sallāpā kathaṃkathī vinighātī hoti. ‘‘Jayo nu kho me bhavissati, parājayo nu kho me bhavissati, kathaṃ niggahaṃ karissāmi, kathaṃ paṭikammaṃ karissāmi, kathaṃ visesaṃ karissāmi, kathaṃ paṭivisesaṃ karissāmi, kathaṃ āveṭhiyaṃ † karissāmi, kathaṃ nibbeṭhiyaṃ † karissāmi, kathaṃ chedaṃ karissāmi, kathaṃ maṇḍalaṃ karissāmī’’ti, evaṃ pubbeva sallāpā kathaṃkathī vinighāti hotīti – pasaṃsamicchaṃ vinighāti hoti.
'Desiring praise, he becomes vexed' means: 'Desiring praise' is one who desires, delights in, aspires to, yearns for, and craves praise, extolling, renown, and eulogy. 'He becomes vexed' means that even before the discussion, he is unable to dispel his doubt, thinking: 'Will I win? Will I lose? How shall I censure? How shall I make a rebuttal? How shall I achieve a distinction? How shall I achieve a counter-distinction? How shall I entangle? How shall I disentangle? How shall I cut off the argument? How shall I complete the circle of argument?' Thus, even before the discussion, being unable to dispel his doubt, he becomes vexed. This is the meaning of 'desiring praise, he becomes vexed'.
Pasaṃsamicchaṃ vinighāti hotīti có nghĩa là: Pasaṃsamicchaṃ là mong muốn, chấp nhận, cầu mong, khao khát, tham ái sự tán dương, sự ca tụng, danh tiếng, sự truyền bá đức hạnh. Vinighāti hoti có nghĩa là ngay cả trước khi luận bàn, vị ấy đã có sự hoài nghi, trở nên phiền não: ‘Ta sẽ thắng chăng? Hay ta sẽ bại chăng? Ta sẽ bắt bẻ như thế nào? Ta sẽ đối phó như thế nào? Ta sẽ làm cho đặc sắc như thế nào? Ta sẽ làm cho đặc sắc trở lại như thế nào? Ta sẽ bao vây (luận điểm) như thế nào? Ta sẽ thoát ra như thế nào? Ta sẽ cắt đứt (luận điểm) như thế nào? Ta sẽ thiết lập phạm vi (luận điểm) như thế nào?’ Như vậy, ngay cả trước khi luận bàn, vị ấy đã có sự hoài nghi, trở nên phiền não. Như thế là pasaṃsamicchaṃ vinighāti hoti.
Apāhatasmiṃ pana maṅku hotīti. Ye te pañhavīmaṃsakā parisā pārisajjā pāsārikā †, te apaharanti. ‘‘Atthāpagataṃ bhaṇita’’nti atthato apaharanti, ‘‘byañjanāpagataṃ bhaṇita’’nti byañjanato apaharanti, ‘‘atthabyañjanāpagataṃ bhaṇita’’nti atthabyañjanato apaharanti, ‘‘attho te dunnīto, byañjanaṃ te duropitaṃ, atthabyañjanaṃ te dunnītaṃ duropitaṃ, niggaho te akato, paṭikammaṃ te dukkaṭaṃ, viseso te akato, paṭiviseso te dukkaṭo, āveṭhiyā te akatā, nibbeṭhiyā te dukkaṭā, chedo te akato, maṇḍalaṃ te dukkaṭaṃ visamakathaṃ dukkathitaṃ dubbhaṇitaṃ dullapitaṃ duruttaṃ dubbhāsita’’nti apaharanti. Apāhatasmiṃ pana maṅku hotīti. Apāhatasmiṃ maṅku hoti pīḷito ghaṭṭito byādhito domanassito hotīti – apāhatasmiṃ pana maṅku hoti.
Yet, when refuted, he becomes crestfallen. Those who are investigators of questions, members of the assembly, and skilled in reasoning refute him. They refute him on the grounds of meaning, saying, 'Your statement is devoid of meaning'; they refute him on the grounds of phrasing, saying, 'Your statement is devoid of phrasing'; they refute him on the grounds of meaning and phrasing, saying, 'Your statement is devoid of meaning and phrasing.' They refute him, saying: 'Your meaning is poorly led, your phrasing is poorly emplaced; your meaning and phrasing are poorly led and poorly emplaced. Your censure is not made, your counteraction is badly done; your distinction is not made, your counter-distinction is badly done; your enveloping is not done, your disengaging is badly done; your cutting is not done, your circle is badly done. Your speech is uneven, badly spoken, badly uttered, wrongly pronounced, badly expressed.' Yet, when refuted, he becomes crestfallen. When refuted, he becomes crestfallen, oppressed, harassed, afflicted, and distressed—thus, when refuted, he becomes crestfallen.
Apāhatasmiṃ pana maṅku hotīti có nghĩa là: Những vị thẩm xét vấn đề, những thành viên hội chúng, những người có thẩm quyền, họ bác bỏ. Họ bác bỏ về mặt ý nghĩa rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có ý nghĩa.’ Họ bác bỏ về mặt văn tự rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có văn tự.’ Họ bác bỏ về mặt ý nghĩa và văn tự rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có ý nghĩa và văn tự.’ Họ bác bỏ rằng: ‘Ý nghĩa của ông được dẫn dắt sai, văn tự của ông được đặt sai, ý nghĩa và văn tự của ông được dẫn dắt sai và đặt sai, sự bắt bẻ của ông chưa được thực hiện, sự đối phó của ông được làm một cách tồi tệ, sự đặc sắc của ông chưa được thực hiện, sự đặc sắc trở lại của ông được làm một cách tồi tệ, sự bao vây của ông chưa được thực hiện, sự thoát ra của ông được làm một cách tồi tệ, sự cắt đứt của ông chưa được thực hiện, sự thiết lập phạm vi của ông được làm một cách tồi tệ, cuộc luận bàn không tương hợp, được trình bày tồi, được nói ra tồi, được đáp lại tồi, được diễn đạt tồi, được phát biểu tồi.’ Apāhatasmiṃ pana maṅku hotīti có nghĩa là: Khi bị bác bỏ, vị ấy trở nên bối rối, bị áp bức, bị va chạm, bị phiền não, bị ưu sầu. Như thế là apāhatasmiṃ pana maṅku hoti.
Nindāya so kuppati randhamesīti. Nindāya garahāya akittiyā avaṇṇahārikāya kuppati byāpajjati patiṭṭhīyati, kopañca dosañca appaccayañca pātukarotīti – nindāya so kuppati. Randhamesīti virandhamesī aparaddhamesī khalitamesī gaḷitamesī vivaramesīti – nindāya so kuppati randhamesī.
He gets angry at criticism, seeking flaws. At criticism, blame, ill-repute, and disparagement, he gets angry, becomes resentful, and hostile; he makes manifest irritation, hatred, and displeasure—thus, he gets angry at criticism. Seeking flaws means seeking faults, seeking offenses, seeking slips, seeking defects, seeking openings—thus, he gets angry at criticism, seeking flaws.
Nindāya so kuppati randhamesīti có nghĩa là: Nindāya so kuppati là do bị chỉ trích, khiển trách, chê bai, phỉ báng, vị ấy tức giận, trở nên ác ý, phẫn uất, và biểu lộ sự tức giận, sân hận, và bất mãn. Randhamesī có nghĩa là tìm kiếm khuyết điểm, tìm kiếm sai lầm, tìm kiếm sơ suất, tìm kiếm sự trượt ngã, tìm kiếm kẽ hở. Như thế là nindāya so kuppati randhamesī.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Yutto kathāyaṃ parisāya majjhe, pasaṃsamicchaṃ vinighāti hoti;
Apāhatasmiṃ pana maṅku hoti, nindāya so kuppati randhamesī’’ti.
“Engaged in talk amidst the assembly, desiring praise, he becomes vexed. When refuted, he becomes disconcerted; he gets angry at blame, seeking faults.”
“Vị chuyên tâm luận bàn giữa hội chúng, do mong cầu tán dương nên trở nên phiền não; rồi khi bị bác bỏ, vị ấy trở nên bối rối, do bị chỉ trích, vị ấy tức giận và tìm kiếm khuyết điểm.”
62.
62.
62.
Yamassa vādaṃ parihīnamāhu, apāhataṃ pañhavimaṃsakāse † ;
Paridevati socati hīnavādo, upaccagā manti anutthunāti.
When the investigators of questions declare his doctrine to be deficient and refuted, he of the deficient doctrine laments and grieves; he groans, 'He has surpassed me!'
“Lập luận của vị ấy được gọi là thấp kém, bị những người thẩm xét vấn đề bác bỏ; người có lập luận thấp kém than van, sầu muộn, rên rỉ rằng: ‘Ông ấy đã vượt qua tôi.’”
Yamassa vādaṃ parihīnamāhūti yaṃ tassa vādaṃ hīnaṃ nihīnaṃ parihīnaṃ parihāpitaṃ na paripūritaṃ, evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – yamassa vādaṃ parihīnamāhu.
“When they declare his doctrine deficient” means that they say his doctrine is inferior, base, deficient, diminished, and not perfected. They say thus, speak thus, declare thus, illuminate thus, and express thus—thus, they declare his doctrine deficient.
Yamassa vādaṃ parihīnamāhu có nghĩa là: Lập luận của vị ấy là thấp kém, rất thấp kém, hoàn toàn thấp kém, bị suy giảm, không được trọn vẹn; họ đã nói như vậy, họ kể như vậy, họ nói như vậy, họ chỉ ra như vậy, họ gọi như vậy. Như thế là yamassa vādaṃ parihīnamāhu.
Apāhataṃ pañhavimaṃsakāseti. Ye te pañhavīmaṃsakā parisā pārisajjā pāsārikā, te apaharanti. ‘‘Atthāpagataṃ bhaṇita’’nti atthato apaharanti, ‘‘byañjanāpagataṃ bhaṇita’’nti byañjanato apaharanti, ‘‘atthabyañjanāpagataṃ bhaṇita’’nti atthabyañjanato apaharanti, ‘‘attho te dunnīto, byañjanaṃ te duropitaṃ, atthabyañjanaṃ te dunnītaṃ duropitaṃ, niggaho te akato, paṭikammaṃ te dukkaṭaṃ, viseso te akato, paṭiviseso te dukkaṭo, āveṭhiyā te akatā, nibbeṭhiyā te dukkaṭā, chedo te akato, maṇḍalaṃ te dukkaṭaṃ visamakathaṃ dukkathitaṃ dubbhaṇitaṃ dullapitaṃ duruttaṃ dubbhāsita’’nti, apaharantīti – apāhataṃ pañhavimaṃsakāse.
“Refuted in the presence of those who examine questions” means that those who examine questions—the assembly, the members of the assembly, the admirable ones—refute him. They refute him, saying: “Your statement is devoid of meaning,” thus refuting the meaning; “Your statement is devoid of expression,” thus refuting the expression; “Your statement is devoid of both meaning and expression,” thus refuting both meaning and expression. “Your meaning is poorly drawn out, your expression is poorly arranged, both your meaning and expression are poorly drawn out and poorly arranged; your censure is not made, your counter-argument is poorly made, your distinction is not made, your counter-distinction is poorly made, your encompassing is not made, your unraveling is poorly made, your cutting off is not made, your circle is poorly made. Your speech is uneven, poorly spoken, badly uttered, poorly delivered, wrongly spoken, badly expressed.” Thus they refute him—thus, “refuted in the presence of those who examine questions.”
Apāhataṃ pañhavimaṃsakāse có nghĩa là: Những vị thẩm xét vấn đề, những thành viên hội chúng, những người có thẩm quyền, họ bác bỏ. Họ bác bỏ về mặt ý nghĩa rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có ý nghĩa.’ Họ bác bỏ về mặt văn tự rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có văn tự.’ Họ bác bỏ về mặt ý nghĩa và văn tự rằng: ‘(Điều này) được nói ra không có ý nghĩa và văn tự.’ Họ bác bỏ rằng: ‘Ý nghĩa của ông được dẫn dắt sai, văn tự của ông được đặt sai, ý nghĩa và văn tự của ông được dẫn dắt sai và đặt sai, sự bắt bẻ của ông chưa được thực hiện, sự đối phó của ông được làm một cách tồi tệ, sự đặc sắc của ông chưa được thực hiện, sự đặc sắc trở lại của ông được làm một cách tồi tệ, sự bao vây của ông chưa được thực hiện, sự thoát ra của ông được làm một cách tồi tệ, sự cắt đứt của ông chưa được thực hiện, sự thiết lập phạm vi của ông được làm một cách tồi tệ, cuộc luận bàn không tương hợp, được trình bày tồi, được nói ra tồi, được đáp lại tồi, được diễn đạt tồi, được phát biểu tồi.’ Như thế là apāhataṃ pañhavimaṃsakāse.
Paridevati socati hīnavādoti. Paridevatīti ‘‘aññaṃ mayā āvajjitaṃ aññaṃ cintitaṃ aññaṃ upadhāritaṃ, aññaṃ upalakkhitaṃ so mahāpakkho mahāpariso mahāparivāro; parisā cāyaṃ vaggā, na samaggā; samaggāya parisāya hetu kathāsallāpo puna bhañjissāmī’’ti, yā evarūpā † vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappāyanā lālappāyitattanti – paridevati. Socatīti ‘‘tassa jayo’’ti socati ‘‘mayhaṃ parājayo’’ti socati, ‘‘tassa lābho’’ti socati, ‘‘mayhaṃ alābho’’ti socati, ‘‘tassa yaso’’ti socati, ‘‘mayhaṃ ayaso’’ti socati, ‘‘tassa pasaṃsā’’ti socati, ‘‘mayhaṃ nindā’’ti socati, ‘‘tassa sukha’’nti socati, ‘‘mayhaṃ dukkha’’nti socati, ‘‘so sakkato garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ, ahamasmi asakkato agarukato amānito apūjito anapacito na lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjatīti – paridevati socati. Hīnavādoti hīnavādo nihīnavādo parihīnavādo parihāpitavādo na paripūravādoti – paridevati socati hīnavādo.
“He laments, he grieves, he is one of inferior doctrine.” “Laments” means such speech as prattle, perverse speech, and incessant chatter, the act of chattering, and the state of being a chatterer, such as: ‘I reflected on one thing, considered another, held another, and marked another; he has a great faction, a great assembly, a great retinue; and this assembly is divided, not united. Let there not be conversation in a united assembly; I will break it again.’ “Grieves” means one grieves, thinking, ‘His is the victory’; one grieves, thinking, ‘Mine is the defeat.’ One grieves, thinking, ‘His is the gain’; one grieves, thinking, ‘Mine is the loss.’ One grieves, thinking, ‘His is the fame’; one grieves, thinking, ‘Mine is the disgrace.’ One grieves, thinking, ‘His is the praise’; one grieves, thinking, ‘Mine is the blame.’ One grieves, thinking, ‘His is the happiness’; one grieves, thinking, ‘Mine is the suffering.’ One grieves, thinking, ‘He is honored, respected, revered, worshipped, and esteemed; he is a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick. But I am not honored, not respected, not revered, not worshipped, and not esteemed; I am not a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick.’ Thus one grieves, becomes weary, laments, beats one's breast and cries, and falls into confusion. This is to lament and to grieve. “One of inferior doctrine” means one with an inferior doctrine, a very inferior doctrine, a completely inferior doctrine, a diminished doctrine, and not one with a complete doctrine. This is ‘he laments, he grieves, he is one of inferior doctrine.’
Paridevati socati hīnavādoti có nghĩa là: Paridevati là: ‘Ta đã hướng đến điều khác, đã suy tư điều khác, đã xem xét điều khác, đã ghi nhận điều khác; vị kia có phe phái lớn, có hội chúng lớn, có đoàn tùy tùng lớn; và hội chúng này thì chia rẽ, không hòa hợp; trong một hội chúng hòa hợp, cuộc luận bàn này đã không xảy ra, ta sẽ phá vỡ nó lần nữa.’ Những lời nói như vậy là lời nói lảm nhảm, nói năng sai lạc, nói lặp đi lặp lại, thói quen nói lảm nhảm, tình trạng nói lảm nhảm. Như thế là paridevati. Socati là: Vị ấy sầu muộn rằng: ‘Vị kia chiến thắng,’ sầu muộn rằng: ‘Ta thất bại;’ sầu muộn rằng: ‘Vị kia có lợi lộc,’ sầu muộn rằng: ‘Ta không có lợi lộc;’ sầu muộn rằng: ‘Vị kia có danh tiếng,’ sầu muộn rằng: ‘Ta không có danh tiếng;’ sầu muộn rằng: ‘Vị kia được tán dương,’ sầu muộn rằng: ‘Ta bị chỉ trích;’ sầu muộn rằng: ‘Vị kia có hạnh phúc,’ sầu muộn rằng: ‘Ta có đau khổ.’ Vị ấy sầu muộn rằng: ‘Vị kia được tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường, đảnh lễ, và nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng; còn ta thì không được tôn trọng, không được kính nể, không được quý mến, không được cúng dường, không được đảnh lễ, và không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.’ Vị ấy sầu muộn, mệt mỏi, than van, đấm ngực khóc lóc, rơi vào si mê. Như thế là paridevati socati. Hīnavādo là: người có lập luận thấp kém, người có lập luận rất thấp kém, người có lập luận hoàn toàn thấp kém, người có lập luận bị suy giảm, người có lập luận không trọn vẹn. Như thế là paridevati socati hīnavādo.
Upaccagā manti anutthunātīti. So maṃ vādena vādaṃ accagā upaccagā atikkanto samatikkanto vītivattoti. Evampi upaccagā manti. Atha vā maṃ vādena vādaṃ abhibhavitvā ajjhottharitvā pariyādiyitvā maddayitvā carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpetīti. Evampi upaccagā manti. Anutthunā vuccati vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappāyanā lālappāyitattanti – upaccagā manti anutthunāti.
“Thinking, ‘He has surpassed me,’ he groans.” “Thinking, ‘He has surpassed me,’” means he surpassed me in debate, went beyond, transcended, and outdid me. Thus, “thinking, ‘He has surpassed me.’” Alternatively, having overpowered, overwhelmed, completely enveloped, subdued, and crushed me in debate, he moves about, dwells, conducts himself, maintains, subsists, and causes to subsist. Thus, “thinking, ‘He has surpassed me.’” “Groaning” is called speech, prattle, perverse speech, incessant chatter, the act of chattering, or the state of being a chatterer. Thus, “thinking, ‘He has surpassed me,’ he groans.”
“Upaccagā manti anutthunāti (đã vượt qua ta rồi than van)” có nghĩa là: Vị ấy đã vượt qua (accagā), đã lấn át (upaccagā), đã vượt hẳn (atikkanto), đã vượt qua một cách tốt đẹp (samatikkanto), đã vi phạm (vītivatto) luận thuyết của ta bằng luận thuyết của mình. ‘Upaccagā manti (đã vượt qua ta)’ cũng là như vậy. Hoặc nữa, sau khi đã chinh phục (abhibhavitvā), đã bao trùm (ajjhottharitvā), đã chiếm đoạt (pariyādiyitvā), đã nghiền nát (maddayitvā) luận thuyết của ta bằng luận thuyết của mình, vị ấy đi (carati), trú (viharati), sinh hoạt (iriyati), xoay vần (vattati), hộ trì (pāleti), duy trì (yapeti), khiến duy trì (yāpeti). ‘Upaccagā manti (đã vượt qua ta)’ cũng là như vậy. Sự than van (anutthunā) được gọi là lời nói (vācā), lời nói lảm nhảm (palāpo), lời nói sai lạc (vippalāpo), lời nói lặp đi lặp lại (lālappo), tình trạng nói lặp đi lặp lại (lālappāyanā), bản chất của việc nói lặp đi lặp lại (lālappāyitattaṃ). – (Như thế là) upaccagā manti anutthunāti (đã vượt qua ta rồi than van).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Yamassa vādaṃ parihīnamāhu, apāhataṃ pañhavimaṃsakāse;
Paridevati socati hīnavādo, upaccagā manti anutthunātī’’ti.
“When they declare his doctrine deficient, refuted in the assembly of questioners, the one with the inferior doctrine laments and grieves; he groans, thinking, ‘He has surpassed me.’”
“Luận thuyết của người nào được cho là thấp kém, bị bác bỏ giữa những người thẩm vấn; người có luận thuyết thấp kém ấy than khóc, sầu muộn, và rên rỉ rằng: ‘Hắn đã vượt qua ta’.”
63.
63.
63.
Ete vivādā samaṇesu jātā, etesu ugghātinighāti hoti;
Etampi disvā virame kathojjaṃ, na haññadatthatthi pasaṃsalābhā.
“These disputes arise among ascetics; in them there is elation and dejection. Seeing even this, one should abstain from quarrelsome talk, for there is no other benefit apart from the gain of praise.”
Những tranh luận này sanh khởi giữa các sa-môn, trong đó có sự đắc thắng và thất bại. Thấy cả điều này, hãy từ bỏ sự tranh cãi vô ích, vì ngoài việc được tán dương ra, không có lợi ích nào khác.
Ete vivādā samaṇesu jātāti. Samaṇāti ye keci ito bahiddhā paribbajūpagatā paribbajasamāpannā. Ete diṭṭhikalahā diṭṭhibhaṇḍanā diṭṭhiviggahā diṭṭhivivādā diṭṭhimedhagā samaṇesu jātā sañjātā nibbattā abhinibbattā pātubhūtāti – ete vivādā samaṇesu jātā.
“These disputes have arisen among ascetics.” “Ascetics” refers to any outside of this teaching, wanderers who have approached the wandering life or are devoted to the wandering life. These quarrels over views, arguments over views, conflicts over views, debates over views, and strifes concerning views have arisen, been born, originated, come into being, and manifested among ascetics—thus, “these disputes have arisen among ascetics.”
“Ete vivādā samaṇesu jātā (những tranh luận này sanh khởi giữa các sa-môn)” có nghĩa là: “Samaṇā (các sa-môn)” là bất cứ ai là du sĩ ngoại đạo, đã trở thành du sĩ ở bên ngoài giáo pháp này. Những cuộc cãi vã về tà kiến (diṭṭhikalahā), xung đột về tà kiến (diṭṭhibhaṇḍanā), mâu thuẫn về tà kiến (diṭṭhiviggahā), tranh luận về tà kiến (diṭṭhivivādā), chiến tranh về tà kiến (diṭṭhimedhagā) này đã sanh khởi (jātā), đã phát sanh (sañjātā), đã khởi lên (nibbattā), đã sanh ra (abhinibbattā), đã xuất hiện (pātubhūtā) nơi các sa-môn. – (Như thế là) ete vivādā samaṇesu jātā (những tranh luận này sanh khởi giữa các sa-môn).
Etesu ugghātinighāti hotīti. Jayaparājayo hoti, lābhālābho hoti, yasāyaso hoti, nindāpasaṃsā hoti, sukhadukkhaṃ hoti, somanassadomanassaṃ hoti, iṭṭhāniṭṭhaṃ hoti, anunayapaṭighaṃ hoti, ugghātitanigghātitaṃ hoti, anurodhavirodho hoti, jayena cittaṃ ugghātitaṃ hoti parājayena cittaṃ nigghātitaṃ hoti, lābhena cittaṃ ugghātitaṃ hoti alābhena cittaṃ nigghātitaṃ hoti, yasena cittaṃ ugghātitaṃ hoti ayasena cittaṃ nigghātitaṃ hoti, pasaṃsāya cittaṃ ugghātitaṃ hoti nindāya cittaṃ nigghātitaṃ hoti, sukhena cittaṃ ugghātitaṃ hoti dukkhena cittaṃ nigghātitaṃ hoti, somanassena cittaṃ ugghātitaṃ hoti domanassena cittaṃ nigghātitaṃ hoti, unnatiyā † cittaṃ ugghātitaṃ hoti onatiyā † cittaṃ nigghātitaṃ hotīti – etesu ugghātinighāti hoti.
“In these, there is elation and dejection.” There is victory and defeat, gain and loss, fame and ill-fame, praise and blame, pleasure and pain, joy and sorrow, the liked and the disliked, attraction and aversion, elation and dejection, agreement and opposition. The mind is elated by victory and dejected by defeat; elated by gain and dejected by loss; elated by fame and dejected by ill-fame; elated by praise and dejected by blame; elated by pleasure and dejected by pain; elated by joy and dejected by sorrow; elated by elevation and dejected by depression—thus, “in these, there is elation and dejection.”
“Etesu ugghātinighāti hoti (trong đó có sự đắc thắng và thất bại)” có nghĩa là: Có sự thắng và bại, có được và mất, có danh và vô danh, có chê và khen, có lạc và khổ, có hỷ và ưu, có điều vừa ý và không vừa ý, có thuận và nghịch, có sự phấn chấn và suy sụp, có sự đồng thuận và chống đối. Do chiến thắng, tâm được phấn chấn; do thất bại, tâm bị suy sụp. Do được, tâm được phấn chấn; do mất, tâm bị suy sụp. Do có danh, tâm được phấn chấn; do vô danh, tâm bị suy sụp. Do được khen, tâm được phấn chấn; do bị chê, tâm bị suy sụp. Do có lạc, tâm được phấn chấn; do có khổ, tâm bị suy sụp. Do có hỷ, tâm được phấn chấn; do có ưu, tâm bị suy sụp. Do được thăng tiến, tâm được phấn chấn; do bị giáng cấp, tâm bị suy sụp. – (Như thế là) etesu ugghātinighāti hoti (trong đó có sự đắc thắng và thất bại).
Etampi disvā virame kathojjanti. Etampi disvāti etaṃ ādīnavaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā diṭṭhikalahesu diṭṭhibhaṇḍanesu diṭṭhiviggahesu diṭṭhivivādesu diṭṭhimedhagesūti – etampi disvā virame kathojjanti. Kathojjaṃ vuccati kalaho bhaṇḍanaṃ viggaho vivādo medhagaṃ. Atha vā kathojjanti anojavantī nisākathā kathojjaṃ na kareyya, kalahaṃ na kareyya, bhaṇḍanaṃ na kareyya, viggahaṃ na kareyya, vivādaṃ na kareyya, medhagaṃ na kareyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippayutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – etampi disvā virame kathojjaṃ.
“Seeing even this, one should abstain from quarrelsome talk.” “Seeing even this” means: having seen, perceived, weighed, judged, made clear, and made manifest this danger in quarrels over views, arguments over views, conflicts over views, debates over views, and strifes concerning views. “Quarrelsome talk” is called quarrel, argument, conflict, debate, strife. Or alternatively, that talk is lacking in substance; one should not engage in quarrelsome talk. One should not quarrel, should not argue, should not engage in conflict, should not debate, should not engage in strife. One should abandon, dispel, bring to an end, and cause to not arise again quarrel, argument, conflict, debate, and strife. One should be far from, abstaining from, refraining from, gone forth from, released from, detached from, and disassociated from quarrel, argument, conflict, debate, and strife; one should dwell with a mind made boundless. Thus, “seeing even this, one should abstain from quarrelsome talk.”
“Etampi disvā virame kathojjaṃ (thấy cả điều này, hãy từ bỏ sự tranh cãi vô ích)”. “Etampi disvā (thấy cả điều này)” có nghĩa là: sau khi đã thấy, đã nhận thấy, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ sự nguy hại này trong các cuộc cãi vã về tà kiến, xung đột về tà kiến, mâu thuẫn về tà kiến, tranh luận về tà kiến, chiến tranh về tà kiến. – (Như thế là) etampi disvā. “Virame kathojjaṃ (hãy từ bỏ sự tranh cãi vô ích)”. Sự tranh cãi vô ích (kathojjaṃ) được gọi là sự cãi vã (kalaho), sự xung đột (bhaṇḍanaṃ), sự mâu thuẫn (viggaho), sự tranh luận (vivādo), sự chiến tranh (medhagaṃ). Hoặc nữa, “kathojjaṃ” là lời nói vô vị, không nên nói lời tranh cãi vô ích, không nên cãi vã, không nên xung đột, không nên mâu thuẫn, không nên tranh luận, không nên gây chiến. Nên từ bỏ (pajaheyya), đoạn trừ (vinodeyya), làm cho chấm dứt (byantiṃ kareyya), làm cho không còn tồn tại (anabhāvaṃ gameyya) sự cãi vã, xung đột, mâu thuẫn, tranh luận, chiến tranh. Nên xa lánh (ārato assa), từ bỏ (virato), tránh xa (paṭivirato), thoát ra (nikkhanto), vứt bỏ (nissaṭo), không liên hệ (vippayutto), không dính mắc (visaññutto) khỏi sự cãi vã, xung đột, mâu thuẫn, tranh luận, chiến tranh; nên trú với tâm có ranh giới đã được cởi bỏ. – (Như thế là) etampi disvā virame kathojjaṃ (thấy cả điều này, hãy từ bỏ sự tranh cãi vô ích).
Na haññadatthatthi pasaṃsalābhāti. Pasaṃsalābhā añño attho natthi attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho, samparāyiko vā attho, uttāno vā attho, gambhīro vā attho, gūḷho vā attho, paṭicchanno vā attho, neyyo vā attho, nīto vā attho, anavajjo vā attho, nikkileso vā attho, vodāno vā attho, paramattho vā attho natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhantīti – na haññadatthatthi pasaṃsalābhā.
“There is no other benefit from gaining praise.” From gaining praise there is no other benefit—neither personal benefit, nor benefit for others, nor benefit for both; neither benefit to be experienced in the present, nor benefit in a future life; neither shallow benefit, nor deep benefit; neither hidden benefit, nor concealed benefit; neither benefit to be inferred, nor benefit of established meaning; neither blameless benefit, nor benefit free from defilements, nor purified benefit, nor benefit of ultimate meaning. There is none, they do not exist, they are not found, they are not obtained. Thus, “there is no other benefit from gaining praise.”
“Na haññadatthatthi pasaṃsalābhā (ngoài việc được tán dương ra, không có lợi ích nào khác)” có nghĩa là: Ngoài việc được tán dương ra, không có lợi ích nào khác: không có lợi ích cho bản thân, lợi ích cho người khác, hay lợi ích cho cả hai; không có lợi ích trong hiện tại hay lợi ích trong tương lai; không có lợi ích nông cạn hay lợi ích sâu xa; không có lợi ích che giấu hay lợi ích ẩn kín; không có lợi ích cần được dẫn dắt hay lợi ích đã được dẫn dắt; không có lợi ích không đáng chê trách, lợi ích không phiền não, lợi ích trong sạch, hay lợi ích tối thượng. Chúng không có, không hiện hữu, không tồn tại, không thể tìm thấy. – (Như thế là) na haññadatthatthi pasaṃsalābhā (ngoài việc được tán dương ra, không có lợi ích nào khác).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Ete vivādā samaṇesu jātā, etesu ugghātinighāti hoti;
Etampi disvā virame kathojjaṃ, na haññadatthatthi pasaṃsalābhā’’ti.
“These disputes arise among ascetics; in them there is elation and dejection. Seeing even this, one should abstain from quarrelsome talk, for there is no other benefit from gaining praise.”
“Những tranh luận này sanh khởi giữa các sa-môn, trong đó có sự đắc thắng và thất bại. Thấy cả điều này, hãy từ bỏ sự tranh cãi vô ích, vì ngoài việc được tán dương ra, không có lợi ích nào khác.”
64.
64.
64.
Pasaṃsito vā pana tattha hoti, akkhāya vādaṃ parisāya majjhe;
So † hassatī unnamatī † ca tena, pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahu.
But if one is praised there, having proclaimed a doctrine in the midst of an assembly, on that account he laughs and becomes elated, having attained that goal just as his mind had wished.
Hoặc người ấy được tán dương ở đó, sau khi trình bày luận thuyết giữa hội chúng. Do đó, người ấy hoan hỷ và kiêu ngạo, đã đạt được mục đích ấy như ý mong muốn.
Pasaṃsito vā pana tattha hotīti. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā pasaṃsito thomito kittito vaṇṇito hotīti – pasaṃsito vā pana tattha hoti.
“Or he is praised therein.” “Therein” means in his own view, in his own forbearance, in his own inclination, in his own doctrine, he is praised, lauded, celebrated, extolled. Thus, “or he is praised therein.”
“Pasaṃsito vā pana tattha hoti (hoặc người ấy được tán dương ở đó)” có nghĩa là: “Tattha (ở đó)” là trong tà kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sở thích của mình, trong chủ thuyết của mình, vị ấy được tán dương (pasaṃsito), được ca tụng (thomito), được truyền tụng (kittito), được tán thán (vaṇṇito). – (Như thế là) pasaṃsito vā pana tattha hoti (hoặc người ấy được tán dương ở đó).
Akkhāya vādaṃ parisāya majjheti. Khattiyaparisāya vā brāhmaṇaparisāya vā gahapatiparisāya vā samaṇaparisāya vā majjhe attano vādaṃ akkhāya ācikkhitvā anuvādaṃ akkhāya ācikkhitvā thambhayitvā brūhayitvā dīpayitvā jotayitvā voharitvā pariggaṇhitvāti – akkhāya vādaṃ parisāya majjhe.
“Having declared a doctrine in the midst of an assembly.” In the midst of an assembly of nobles, or an assembly of brahmins, or an assembly of householders, or an assembly of ascetics, having declared his own doctrine, having explained it, having declared and explained the subsequent points, having established it, having expanded it, having illuminated it, having made it shine, having expressed it, having upheld it. Thus, “having declared a doctrine in the midst of an assembly.”
“Akkhāya vādaṃ parisāya majjhe (sau khi trình bày luận thuyết giữa hội chúng)” có nghĩa là: Giữa hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng sa-môn, sau khi đã trình bày (akkhāya), đã giải thích (ācikkhitvā) luận thuyết của mình; sau khi đã trình bày, đã giải thích luận thuyết phụ; sau khi đã làm cho vững chắc (thambhayitvā), làm cho phát triển (brūhayitvā), làm cho sáng tỏ (dīpayitvā), làm cho rực rỡ (jotayitvā), tuyên bố (voharitvā), chấp nhận (pariggaṇhitvā). – (Như thế là) akkhāya vādaṃ parisāya majjhe (sau khi trình bày luận thuyết giữa hội chúng).
So hassatī unnamatī ca tenāti. So tena jayatthena tuṭṭho hoti haṭṭho pahaṭṭho attamano paripuṇṇasaṅkappo. Atha vā dantavidaṃsakaṃ hasamāno. So hassatī unnamatī ca tenāti so tena jayatthena unnato hoti unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassāti – so hassatī unnamatī ca tena.
“He laughs and is elated by that.” By that fruit of victory, he is pleased, joyful, overjoyed, satisfied in mind, and with his intention fulfilled. Or alternatively, he is one who laughs showing his teeth. “He laughs and is elated by that” means by that fruit of victory, he becomes arrogant, he has rising arrogance, is like a banner, is full of self-exaltation, and has a mind that desires to be like a standard. Thus, “he laughs and is elated by that.”
“So hassatī unnamatī ca tenāti (do đó, người ấy hoan hỷ và kiêu ngạo)” có nghĩa là: Do lợi ích chiến thắng đó, vị ấy hài lòng (tuṭṭho), vui mừng (haṭṭho), phấn khởi (pahaṭṭho), thỏa ý (attamano), có ý nguyện viên mãn (paripuṇṇasaṅkappo). Hoặc nữa, mỉm cười nhe răng. “So hassatī unnamatī ca tenāti (do đó, người ấy hoan hỷ và kiêu ngạo)” có nghĩa là: Do lợi ích chiến thắng đó, vị ấy trở nên kiêu ngạo (unnato), ngạo mạn (unnamo), như ngọn cờ (dhajo), tự đề cao (sampaggāho), có tâm mong muốn được như biểu ngữ (ketukamyatā cittassa). – (Như thế là) so hassatī unnamatī ca tena (do đó, người ấy hoan hỷ và kiêu ngạo).
Pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahūti. Taṃ jayatthaṃ pappuyya pāpuṇitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvā. Yathā mano ahūti yathā mano ahu, yathā citto ahu, yathā saṅkappo ahu, yathā viññāṇo ahūti – pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahu.
“Having attained that goal just as was his mind.” “Having attained that goal” means having reached, attained, found, and gained that fruit of victory. “Just as was his mind” means it was as his mind was, as his thought was, as his intention was, as his consciousness was. Thus, “having attained that goal just as was his mind.”
“Pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahūti (đã đạt được mục đích ấy như ý mong muốn)” có nghĩa là: Sau khi đã đạt được (pappuyya), đã đến được (pāpuṇitvā), đã chứng được (adhigantvā), đã tìm thấy (vinditvā), đã nhận được (paṭilabhitvā) lợi ích chiến thắng ấy. “Yathā mano ahu (như ý mong muốn)” có nghĩa là: như ý đã mong muốn, như tâm đã mong muốn, như ý nguyện đã mong muốn, như thức đã mong muốn. – (Như thế là) pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahu (đã đạt được mục đích ấy như ý mong muốn).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Pasaṃsito vā pana tattha hoti, akkhāya vādaṃ parisāya majjhe;
So hassatī unnamatī ca tena, pappuyya tamatthaṃ yathā mano ahū’’ti.
Or he is praised therein, having declared his doctrine in the midst of the assembly; he laughs and is elated by that, having attained that goal just as was his mind.
“Vị ấy được tán dương ở nơi ấy, sau khi trình bày luận thuyết ở giữa hội chúng. Do điều ấy, vị ấy hoan hỷ và tự cao, vì đã đạt được mục đích ấy theo như ý muốn.”
65.
65.
65.
Yā unnatī sāssa vighātabhūmi, mānātimānaṃ vadate paneso;
Etampi disvā na vivādayetha, na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti.
Whatever elation there is, that is a ground of vexation for him; this person practices pride and excessive pride. Seeing this too, one should not dispute, for the skillful do not speak of purity through that.
Sự tự cao nào, đó là mảnh đất phiền não của người ấy; còn người này lại nói về mạn và quá mạn. Thấy cả điều này, không nên tranh luận, vì rằng các bậc thiện xảo không nói đến sự thanh tịnh do phương tiện ấy.
Yā unnatī sāssa vighātabhūmīti. Yā unnati unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassāti – yā unnati. Sāssa vighātabhūmīti sā tassa vighātabhūmi upaghātabhūmi pīḷanabhūmi ghaṭṭanabhūmi upaddavabhūmi upasaggabhūmīti – yā unnatī sāssa vighātabhūmi.
'Whatever elation there is, that is a ground of vexation for him': 'Whatever elation' means elation, arrogance, a banner, self-exaltation, the mind's desire to be like a standard. 'That is a ground of vexation for him' means that for him it is a ground of vexation, a ground of assault, a ground of oppression, a ground of friction, a ground of misfortune, a ground of calamity. This is the meaning of 'Whatever elation there is, that is a ground of vexation for him'.
Về câu ‘Sự tự cao nào, đó là mảnh đất phiền não của người ấy.’ ‘Sự tự cao nào’ là: Sự tự cao, sự vươn lên, sự phất cờ, sự đề cao, sự mong muốn được như ngọn cờ của tâm – đây là ‘sự tự cao nào.’ Về câu ‘đó là mảnh đất phiền não của người ấy,’ (nghĩa là) đó là mảnh đất phiền não, mảnh đất của sự tổn hại, mảnh đất của sự bức bách, mảnh đất của sự chà xát, mảnh đất của sự tai ương, mảnh đất của sự nguy hiểm của người ấy – đây là ‘sự tự cao nào, đó là mảnh đất phiền não của người ấy.’
Mānātimānaṃ vadate panesoti. So puggalo mānañca vadati atimānañca vadatīti – mānātimānaṃ vadate paneso.
'This person practices pride and excessive pride': That person practices pride and also practices excessive pride—this is 'this person practices pride and excessive pride'.
Về câu ‘còn người này lại nói về mạn và quá mạn.’ (Nghĩa là) người ấy nói về mạn và cũng nói về quá mạn – đây là ‘còn người này lại nói về mạn và quá mạn.’
Etampi disvā na vivādayethāti. Etaṃ ādīnavaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā diṭṭhikalahesu diṭṭhibhaṇḍanesu diṭṭhiviggahesu diṭṭhivivādesu diṭṭhimedhagesūti – etampi disvā. Na vivādayethāti na kalahaṃ kareyya na bhaṇḍanaṃ kareyya na viggahaṃ kareyya na vivādaṃ kareyya, na medhagaṃ kareyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippayutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – etampi disvā na vivādayetha.
'Seeing this too, one should not engage in disputes': 'Seeing this too' means having seen, beheld, weighed, judged, clarified, and made manifest this drawback in quarrels over views, contentions over views, conflicts over views, disputes over views, and verbal battles over views. 'One should not engage in disputes' means one should not engage in quarrels, contentions, conflicts, disputes, or verbal battles. One should abandon, dispel, bring to an end, and cause to not arise again quarrels, contentions, conflicts, disputes, and verbal battles. One should be aloof from, abstained from, completely abstained from, gone forth from, detached from, released from, and disjoined from quarrels, contentions, conflicts, disputes, and verbal battles; one should dwell with a mind that has transcended limitations. This is the meaning of 'seeing this too, one should not engage in disputes'.
Về câu ‘Thấy cả điều này, không nên tranh luận.’ Về câu ‘Thấy cả điều này,’ (nghĩa là) thấy sự nguy hại này, sau khi đã thấy, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ trong các cuộc cãi vã về tà kiến, các cuộc xung đột về tà kiến, các cuộc tranh chấp về tà kiến, các cuộc tranh luận về tà kiến, các cuộc gây hấn về tà kiến – đây là ‘thấy cả điều này.’ Về câu ‘không nên tranh luận,’ (nghĩa là) không nên cãi vã, không nên xung đột, không nên tranh chấp, không nên tranh luận, không nên gây hấn; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên đưa đến chỗ không còn tồn tại sự cãi vã, xung đột, tranh chấp, tranh luận, gây hấn; nên lánh xa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, không dính mắc, không liên hệ với sự cãi vã, xung đột, tranh chấp, tranh luận, gây hấn; nên trú với tâm đã được giải thoát khỏi các giới hạn – đây là ‘thấy cả điều này, không nên tranh luận.’
Na hi tena suddhiṃ kusalā vadantīti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā, te kusalā diṭṭhikalahena diṭṭhibhaṇḍanena diṭṭhiviggahena diṭṭhivivādena diṭṭhimedhagena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ na vadanti na kathenti na bhaṇanti na dīpayanti na voharantīti – na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti.
'For the skillful do not speak of purity through that': 'The skillful' means those who are skilled in the aggregates, skilled in the elements, skilled in the sense bases, skilled in dependent origination, skilled in the right exertions, skilled in the bases of psychic power, skilled in the spiritual faculties, skilled in the spiritual powers, skilled in the factors of enlightenment, skilled in the path, skilled in the fruition, and skilled in Nibbāna. Those skillful ones do not say, declare, state, reveal, or designate that purity, thorough purity, and complete purity, or liberation, complete liberation, and final liberation, come by means of quarrels over views, contentions over views, conflicts over views, disputes over views, or verbal battles over views. This is the meaning of 'for the skillful do not speak of purity through that'.
Về câu ‘vì rằng các bậc thiện xảo không nói đến sự thanh tịnh do phương tiện ấy.’ Về từ ‘các bậc thiện xảo,’ (nghĩa là) những vị nào thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về niệm xứ, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về thần túc, thiện xảo về căn, thiện xảo về lực, thiện xảo về giác chi, thiện xảo về đạo, thiện xảo về quả, thiện xảo về Niết-bàn; các bậc thiện xảo ấy, do sự cãi vã về tà kiến, do sự xung đột về tà kiến, do sự tranh chấp về tà kiến, do sự tranh luận về tà kiến, do sự gây hấn về tà kiến, không nói, không thuyết, không tuyên bố, không chỉ rõ, không dùng từ (để chỉ) sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát triệt để – đây là ‘vì rằng các bậc thiện xảo không nói đến sự thanh tịnh do phương tiện ấy.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Yā unnatī sāssa vighātabhūmi, mānātimānaṃ vadate paneso;
Etampi disvā na vivādayetha, na hi tena suddhiṃ kusalā vadantī’’ti.
Elation is a ground of vexation for him; this person practices pride and excessive pride. Seeing this too, one should not dispute, for the skillful do not speak of purity through that.
‘Sự tự cao nào, đó là mảnh đất phiền não của người ấy; còn người này lại nói về mạn và quá mạn. Thấy cả điều này, không nên tranh luận, vì rằng các bậc thiện xảo không nói đến sự thanh tịnh do phương tiện ấy.’
66.
66.
66.
Sūro yathā rājakhādāya puṭṭho, abhigajjameti paṭisūramicchaṃ;
Yeneva so tena palehi sūra, pubbeva natthi yadidaṃ yudhāya.
Just as a hero, nourished on royal food, goes forward roaring, desiring a rival hero; O hero, go to that very place where he is. That which is for battle was not there from the beginning.
Như người dũng sĩ được nuôi dưỡng bằng thực phẩm của vua, tiến đến và gầm thét, mong muốn (gặp) đối thủ. Này người dũng sĩ, nơi nào có người ấy, hãy đi đến nơi đó. Cái gì đó để chiến đấu đã không còn từ trước.
Sūro yathā rājakhādāya puṭṭhoti. Sūroti sūro vīro vikkanto abhīrū achambhī anutrāsī apalāyī. Rājakhādāya puṭṭhoti rājakhādanīyena rājabhojanīyena puṭṭho posito apādito vaḍḍhitoti – sūro yathā rājakhādāya puṭṭho.
'As a hero nourished on royal food': 'A hero' means a hero, a valiant one, one who advances, fearless, not trembling, not terrified, not fleeing. 'Nourished on royal food' means nourished by the king's edibles and potables, sustained, brought to fullness, and made to prosper. This is the meaning of 'as a hero nourished on royal food'.
Về câu ‘Như người dũng sĩ được nuôi dưỡng bằng thực phẩm của vua.’ Về từ ‘người dũng sĩ,’ (nghĩa là) người dũng sĩ, người anh hùng, người can đảm, không sợ hãi, không run sợ, không kinh hãi, không bỏ chạy. Về câu ‘được nuôi dưỡng bằng thực phẩm của vua,’ (nghĩa là) được nuôi dưỡng, được chăm sóc, được làm cho sung mãn, được làm cho lớn mạnh bằng vật thực cứng của vua, bằng vật thực mềm của vua – đây là ‘như người dũng sĩ được nuôi dưỡng bằng thực phẩm của vua.’
Abhigajjameti paṭisūramicchanti. So gajjanto uggajjanto abhigajjanto eti upeti upagacchati paṭisūraṃ paṭipurisaṃ paṭisattuṃ paṭimallaṃ icchanto sādiyanto patthayanto pihayanto abhijappantoti – abhigajjameti paṭisūramicchaṃ.
'Advancing with a roar, desiring a rival': He, roaring, shouting, and roaring fearlessly, goes forth, approaches, and draws near; desiring, delighting in, longing for, yearning for, and craving a rival hero, a rival man, an adversary, a challenger. This is the meaning of 'advancing with a roar, desiring a rival'.
Về câu ‘tiến đến và gầm thét, mong muốn (gặp) đối thủ.’ (Nghĩa là) người ấy gầm lên, rống lên, gầm thét mà đi đến, tiến đến, lại gần; mong muốn, ưa thích, ao ước, khao khát, thèm muốn (gặp) đối thủ, người đối địch, kẻ thù, địch thủ – đây là ‘tiến đến và gầm thét, mong muốn (gặp) đối thủ.’
Yeneva so tena palehi sūrāti. Yeneva so diṭṭhigatiko tena palehi, tena vaja, tena gaccha, tena atikkama, so tuyhaṃ paṭisūro paṭipuriso paṭisattu paṭimalloti – yeneva so tena palehi sūra.
'Wherever he is, go there, O hero': Wherever that one with such a view is, go there, proceed there, approach there, advance there. He is your rival hero, your rival man, your adversary, your challenger. This is the meaning of 'wherever he is, go there, O hero'.
Về câu ‘Này người dũng sĩ, nơi nào có người ấy, hãy đi đến nơi đó.’ (Nghĩa là) nơi nào có người có tà kiến ấy, hãy đi đến nơi đó, hãy đi, hãy đến, hãy vượt qua; người ấy là đối thủ, người đối địch, kẻ thù, địch thủ của ngươi – đây là ‘này người dũng sĩ, nơi nào có người ấy, hãy đi đến nơi đó.’
Pubbeva natthi yadidaṃ yudhāyāti. Pubbeva bodhiyā mūle ye paṭisenikarā kilesā paṭilomakarā paṭikaṇḍakakarā paṭipakkhakarā te natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā. Yadidaṃ yudhāyāti yadidaṃ yuddhatthāya kalahatthāya bhaṇḍanatthāya viggahatthāya vivādatthāya medhagatthāyāti – pubbeva natthi yadidaṃ yudhāya.
'For beforehand, there is nothing here for battle': Beforehand, at the root of the Bodhi tree, whatever defilements are opposing, acting contrary, acting as thorns, acting as adversaries—they do not exist, they are not, they are not found, they are not obtained; they are abandoned, cut off without remainder, pacified, relinquished, incapable of arising again, burned by the fire of knowledge. 'That which is for battle' means that which is for the sake of battle, for the sake of quarreling, for the sake of contention, for the sake of conflict, for the sake of dispute, for the sake of strife. This is the meaning of 'for beforehand, there is nothing here for battle'.
Về câu ‘Cái gì đó để chiến đấu đã không còn từ trước.’ (Nghĩa là) ngay từ trước, tại cội Bồ-đề, những phiền não nào là đối nghịch, là ngược dòng, là chướng ngại, là đối phương, chúng không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; đã được từ bỏ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Về câu ‘cái gì đó để chiến đấu,’ (nghĩa là) cái gì đó với mục đích chiến đấu, với mục đích cãi vã, với mục đích xung đột, với mục đích tranh chấp, với mục đích tranh luận, với mục đích gây hấn – đây là ‘cái gì đó để chiến đấu đã không còn từ trước.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Sūro yathā rājakhādāya puṭṭho, abhigajjameti paṭisūramicchaṃ;
Yeneva so tena palehi sūra, pubbeva natthi yadidaṃ yudhāyā’’ti.
‘As a hero nourished on royal food, advancing with a roar, desiring a rival; wherever he is, go there, O hero, for beforehand, there is nothing here for battle.’
‘Như người dũng sĩ được nuôi dưỡng bằng thực phẩm của vua, tiến đến và gầm thét, mong muốn (gặp) đối thủ. Này người dũng sĩ, nơi nào có người ấy, hãy đi đến nơi đó. Cái gì đó để chiến đấu đã không còn từ trước.’
67.
67.
67.
Ye diṭṭhimuggayha vivādayanti, idameva saccanti ca vādayanti;
Te tvaṃ vadassū na hi tedha atthi, vādamhi jāte paṭisenikattā.
Those who, having grasped a view, dispute, and declare, 'This alone is true'; to them you should say: 'Indeed, when a dispute has arisen, those opponents do not exist here.'
Những người nào nắm giữ tà kiến và tranh luận, và nói rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật.’ Ngươi hãy nói với họ rằng: ‘Khi cuộc tranh luận khởi sanh, không có người đối nghịch nào ở đây.’
Ye diṭṭhimuggayha vivādayantīti ye dvāsaṭṭhidiṭṭhigatānaṃ aññataraññataraṃ diṭṭhigataṃ gahetvā gaṇhitvā uggaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā vivādayanti kalahaṃ karonti bhaṇḍanaṃ karonti ‘viggahaṃ karonti vivādaṃ karonti, medhagaṃ karonti – ‘‘na tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānāmi, kiṃ tvaṃ imaṃ dhammavinayaṃ ājānissasi, micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno, sahitaṃ me, asahitaṃ te, pure vacanīyaṃ pacchā avaca, pacchā vacanīyaṃ pure avaca, adhiciṇṇaṃ te viparāvattaṃ, āropito te vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā sace pahosī’’ti – ye diṭṭhimuggayha vivādayanti.
'Those who, having grasped a view, dispute': those who, having taken up, grasped, learned, clung to, and become obsessed with any one of the sixty-two kinds of views, then dispute, quarrel, contend, conflict, and argue, saying: 'You do not understand this Dhamma and Discipline—I understand it! How could you understand this Dhamma and Discipline? You are practicing wrongly—I am practicing rightly! What I say is coherent—what you say is not! You said afterwards what should have been said before, and you said before what should have been said afterwards! Your long-practiced position is overturned! A refutation has been brought against you! You are censured! Go and seek release from this debate, or extricate yourself if you can!' This is the meaning of 'those who, having grasped a view, dispute'.
Về câu ‘Những người nào nắm giữ tà kiến và tranh luận,’ (nghĩa là) những người nào, sau khi đã nắm lấy, đã chấp giữ, đã tiếp nhận, đã bám víu, đã quyết đoán một trong sáu mươi hai loại tà kiến, họ tranh luận, họ cãi vã, họ xung đột, họ tranh chấp, họ tranh luận, họ gây hấn (rằng): ‘Ngươi không biết Giáo pháp và Giới luật này, ta biết Giáo pháp và Giới luật này. Làm sao ngươi có thể biết Giáo pháp và Giới luật này? Ngươi là người thực hành sai lạc, ta là người thực hành đúng đắn. Lời của ta có lợi ích, lời của ngươi không có lợi ích. Điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau; điều đáng nói sau, ngươi lại nói trước. Điều ngươi đã thực hành lâu dài đã bị đảo lộn. Luận điểm của ngươi đã bị bác bỏ. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách giải thoát khỏi luận điểm này, hoặc hãy tự gỡ rối nếu có thể’ – đây là ‘những người nào nắm giữ tà kiến và tranh luận.’
Idameva saccanti ca vādayantīti. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti vādayanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharanti. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti vādayanti kathenti bhaṇanti dīpayanti voharantīti – idameva saccanti ca vādayanti.
And they assert, 'This alone is true.' They assert, declare, speak of, illuminate, and express: 'The world is eternal—this alone is true, all else is vain.' They assert, declare, speak of, illuminate, and express: 'The world is not eternal…' … 'After death, the Tathāgata neither exists nor does not exist—this alone is true, all else is vain.' Thus, they assert, 'This alone is true.'
“Và họ tuyên bố rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật’” có nghĩa là: Họ tuyên bố, họ nói, họ đọc, họ trình bày, họ sử dụng (quan điểm): “Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.” (Hoặc): “Thế gian là không thường hằng... (v.v.)... Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm.” Họ tuyên bố, họ nói, họ đọc, họ trình bày, họ sử dụng. – (Đây là ý nghĩa của) và họ tuyên bố rằng: “Chỉ điều này là sự thật”.
Te tvaṃ vadassū na hi tedha atthi, vādamhi jāte paṭisenikattāti. Te tvaṃ diṭṭhigatike vadassu vādena vādaṃ, niggahena niggahaṃ, paṭikammena paṭikammaṃ, visesena visesaṃ, paṭivisesena paṭivisesaṃ, āveṭhiyāya āveṭhiyaṃ, nibbeṭhiyāya nibbeṭhiyaṃ, chedena chedaṃ, maṇḍalena maṇḍalaṃ, te tuyhaṃ paṭisūrā paṭipurisā paṭisattū paṭimallāti – te tvaṃ vadassū na hi tedha atthi. Vādamhi jāte paṭisenikattāti. Vāde jāte sañjāte nibbatte abhinibbatte pātubhūteyeva paṭisenikattā † paṭilomakattā paṭibhaṇḍakattā paṭipakkhakattā kalahaṃ kareyyuṃ bhaṇḍanaṃ kareyyuṃ viggahaṃ kareyyuṃ vivādaṃ kareyyuṃ medhagaṃ kareyyuṃ, te natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhāti – te tvaṃ vadassū na hi tedha atthi vādamhi jāte paṭisenikattā.
You should tell them, 'For you, there is no adversary here; when a dispute has arisen, there are no opponents.' You should tell those who hold such views: counter debate with debate, refutation with refutation, action with counter-action, surpassing with surpassing, counter-surpassing with counter-surpassing, envelopment with envelopment, disentanglement with disentanglement, cutting with cutting, encirclement with encirclement. They are your counter-heroes, your counter-men, your counter-enemies, your counter-wrestlers—thus, you should tell them, 'For you, there is no adversary here.' When a dispute has arisen, there are no opponents. When a dispute has arisen, is born, produced, manifested, fully manifested, those who would be adversaries, who would be oppositional, who would be contentious, who would be on the opposing side; who would create quarrels, create fights, create disputes, create contention, create brawls—they do not exist, they are not, they are not found, they are not obtained; they are abandoned... burned up by the fire of knowledge. Thus: 'You should tell them, "For you, there is no adversary here; when a dispute has arisen, there are no opponents."'"
“Ngươi hãy nói với họ, ở đây không có họ; khi cuộc tranh luận khởi lên, (không có) những người đối kháng” có nghĩa là: Ngươi hãy nói với những người có tà kiến ấy, dùng luận thuyết để (phản bác) luận thuyết, dùng sự khiển trách để (phản bác) sự khiển trách, dùng sự phản bác để (phản bác) sự phản bác, dùng sự đặc biệt để (phản bác) sự đặc biệt, dùng sự đặc biệt hơn nữa để (phản bác) sự đặc biệt hơn nữa, dùng sự bao vây để (phản bác) sự bao vây, dùng sự gỡ rối để (phản bác) sự gỡ rối, dùng sự cắt đứt để (phản bác) sự cắt đứt, dùng sự trọn vẹn để (phản bác) sự trọn vẹn. Những người ấy là đối thủ, là địch thủ, là kẻ thù, là người vật lộn của ngươi. – (Đây là ý nghĩa của) “Ngươi hãy nói với họ, ở đây không có họ.” “Khi cuộc tranh luận khởi lên, (không có) những người đối kháng” có nghĩa là: Khi cuộc tranh luận đã khởi lên, đã sanh khởi, đã phát sanh, đã hoàn toàn phát sanh, đã xuất hiện, những người đối kháng, những người chống đối, những người gây gổ, những người đối lập mà có thể gây ra sự cãi vã, có thể gây ra sự xung đột, có thể gây ra sự tranh chấp, có thể gây ra sự tranh luận, có thể gây ra sự bất hòa, những người ấy không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, đã được đoạn trừ... (v.v.)... đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – (Đây là ý nghĩa của) “Ngươi hãy nói với họ, ở đây không có họ; khi cuộc tranh luận khởi lên, (không có) những người đối kháng”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Ye diṭṭhimuggayha vivādayanti, idameva saccanti ca vādayanti;
Te tvaṃ vadassū na hi tedha atthi, vādamhi jāte paṭisenikattā’’ti.
“Those who, having grasped a view, dispute and declare, ‘This alone is the truth’; you should tell them, ‘For you, there is no adversary here; when a dispute has arisen, there are no opponents.’”
“Những ai chấp thủ kiến giải rồi tranh luận, và tuyên bố rằng: ‘Chỉ điều này là sự thật;’ Ngươi hãy nói với họ, ở đây không có họ, khi cuộc tranh luận khởi lên, (không có) những người đối kháng.”
68.
68.
68.
Visenikatvā pana ye caranti, diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā;
Tesu tvaṃ kiṃ labhetha pasūra, yesīdha natthi paramuggahītaṃ.
But those who wander having dispelled the army, not clashing view with view; what can you gain from them, Pasūra, in whom here nothing is grasped as supreme?
Này kẻ hăng hái, những vị đã dẹp tan quân đội mà sống, không dùng kiến giải để chống đối kiến giải; ở nơi các vị ấy, ngươi có thể tìm được gì, những vị mà ở đây không có sự chấp thủ điều tối thượng.
Visenikatvā pana ye carantīti. Senā vuccati mārasenā. Kāyaduccaritaṃ mārasenā, vacīduccaritaṃ mārasenā, manoduccaritaṃ mārasenā, lobho mārasenā, doso mārasenā, moho mārasenā, kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā mārasenā.
“But those who wander having dispelled the army”: here, the army is called Māra’s army. Bodily misconduct is Māra’s army, verbal misconduct is Māra’s army, mental misconduct is Māra’s army, greed is Māra’s army, hatred is Māra’s army, delusion is Māra’s army, anger… resentment… contempt… contentiousness… envy… stinginess… deceit… hypocrisy… obstinacy… presumption… pride… excessive pride… intoxication… negligence… all defilements… all misconduct… all anxieties… all burning anguish… all torments… all unwholesome volitional formations are Māra’s army.
“Những vị đã dẹp tan quân đội mà sống” có nghĩa là: Quân đội được gọi là quân đội của Ma vương. Thân ác hạnh là quân đội của Ma vương, khẩu ác hạnh là quân đội của Ma vương, ý ác hạnh là quân đội của Ma vương, tham là quân đội của Ma vương, sân là quân đội của Ma vương, si là quân đội của Ma vương, phẫn nộ... oán hận... gièm pha... cạnh tranh... tật đố... xan tham... xảo trá... lừa lọc... ngoan cố... hiếu thắng... ngã mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả phiền muộn... tất cả nhiệt não... tất cả thiêu đốt... tất cả các bất thiện hành là quân đội của Ma vương.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói –
‘‘Kāmā te paṭhamā senā, dutiyā arati vuccati…pe…;
Na naṃ asuro jināti, jetvāva labhate sukha’’nti.
“Sensual passions are your first army; the second is called discontent... The demon does not conquer him; and having conquered, one obtains happiness.”
“‘Dục là đạo quân thứ nhất của ngươi, bất mãn được gọi là đạo quân thứ hai... (v.v.)...; A-tu-la không chiến thắng được vị ấy, và sau khi chiến thắng, vị ấy đạt được an lạc.’”
Yato catūhi ariyamaggehi sabbā ca mārasenā sabbe ca paṭisenikarā kilesā jitā ca parājitā ca bhaggā vippaluggā parammukhā, tena vuccati visenikatvāti. Yeti arahanto khīṇāsavā. Carantīti caranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpentīti – visenikatvā pana ye caranti.
When, by the four noble paths, all the defilements that constitute Māra’s army and all the opposing defilements have been conquered, vanquished, broken, pulverized, and put to flight, for that reason it is called ‘having dispelled the army.’ ‘Those’ refers to the Arahants whose cankers are destroyed. ‘They wander’ means they practice, they dwell, they maintain the postures, they carry on, they maintain, they subsist, and they cause to subsist—this is the meaning of ‘but those who wander, having dispelled the army.’
Bởi vì, do bốn Thánh đạo, tất cả quân đội của Ma vương và tất cả các phiền não đối kháng đã bị chiến thắng, đã bị đánh bại, đã bị phá tan, đã bị nghiền nát, đã bị quay lưng, do đó được gọi là “đã dẹp tan quân đội”. “Những vị” là các vị A-la-hán, các bậc Lậu tận. “Sống” có nghĩa là họ đi, họ trú, họ duy trì oai nghi, họ tiến hành, họ bảo hộ, họ nuôi mạng, họ duy trì sự sống. – (Đây là ý nghĩa của) “Những vị đã dẹp tan quân đội mà sống”.
Diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānāti. Yesaṃ dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni, te diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā appaṭivirujjhamānā appahīyamānā appaṭihaññamānā appaṭihatamānāti – diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā.
‘Not conflicting with a view by means of views’: For those whose sixty-two kinds of views have been abandoned, cut off, pacified, calmed so as not to arise again, are unfit to arise again, and have been burned by the fire of knowledge, they, by means of views, do not conflict with a view; they are not at variance, are not oppressed, are not impinged upon, are not obstructed—this is the meaning of ‘not conflicting with a view by means of views.’
“Không dùng kiến giải để chống đối kiến giải” có nghĩa là: Đối với những vị mà sáu mươi hai kiến giải đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở nên không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, các vị ấy không dùng kiến giải để chống đối kiến giải, không phản đối, không làm tổn hại, không tấn công, không cản trở. – (Đây là ý nghĩa của) “Không dùng kiến giải để chống đối kiến giải”.
Tesu tvaṃ kiṃ labhetha pasūrāti. Tesu arahantesu khīṇāsavesu kiṃ labhetha paṭisūraṃ paṭipurisaṃ paṭisattuṃ paṭimallanti – tesu tvaṃ kiṃ labhetha pasūra.
‘What could you find in them, Pasūra?’: Among those Arahants whose cankers are destroyed, what formidable opponent, what true enemy, what adversary, what combatant could you find?—this is the meaning of ‘what could you find in them, Pasūra?’
“Ở nơi các vị ấy, ngươi có thể tìm được gì, này kẻ hăng hái” có nghĩa là: Ở nơi các vị A-la-hán, các bậc Lậu tận ấy, ngươi có thể tìm được đối thủ, địch thủ, kẻ thù, người vật lộn nào? – (Đây là ý nghĩa của) “Ở nơi các vị ấy, ngươi có thể tìm được gì, này kẻ hăng hái”.
Yesīdha natthi paramuggahītanti. Yesaṃ arahantānaṃ khīṇāsavānaṃ ‘‘idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavara’’nti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ, natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – yesīdha natthi paramuggahītaṃ.
‘For whom there is nothing here held as supreme’: For those Arahants whose cankers are destroyed, for whom that which is grasped, clung to, adhered to, settled upon, or resolved upon as ‘this is supreme, this is chief, this is excellent, this is distinguished, this is principal, this is highest, this is sublime’ does not exist, is not present, is not found; it has been abandoned, cut off, pacified, calmed, made unable to arise, and burned by the fire of knowledge—this is the meaning of ‘for whom there is nothing here held as supreme.’
“Những vị mà ở đây không có sự chấp thủ điều tối thượng” có nghĩa là: Đối với những vị A-la-hán, các bậc Lậu tận ấy, sự nắm giữ, sự chấp thủ, sự quyết đoán, sự bám víu, sự tin chắc rằng: “Điều này là tối thượng, là hàng đầu, là cao quý, là đặc biệt, là chủ yếu, là ưu việt, là tuyệt vời” thì không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, không thể có được; đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở nên không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – (Đây là ý nghĩa của) “Những vị mà ở đây không có sự chấp thủ điều tối thượng”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Visenikatvā pana ye caranti, diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā;
Tesu tvaṃ kiṃ labhetha pasūra, yesīdha natthi paramuggahīta’’nti.
“But those who wander, having dispelled the army, not conflicting with a view by means of views; what could you find in them, Pasūra, for whom there is nothing here held as supreme?”
“Những vị đã dẹp tan quân đội mà sống, không dùng kiến giải để chống đối kiến giải; ở nơi các vị ấy, ngươi có thể tìm được gì, này kẻ hăng hái, những vị mà ở đây không có sự chấp thủ điều tối thượng.”
69.
69.
69.
Atha tvaṃ pavitakkamāgamā, † manasā diṭṭhigatāni cintayanto;
Dhonena yugaṃ samāgamā, na hi tvaṃ sakkhasi sampayātave.
“Then you came with your thoughts, pondering views with your mind. You have come to match yourself against the Washed-Clean One; you will not be able to advance.”
Rồi ngươi đã đến với sự suy lường, trong tâm suy tư về các kiến giải; ngươi đã đến để đối đầu với bậc đã thanh lọc, nhưng ngươi không thể nào theo kịp.
Atha tvaṃ pavitakkamāgamāti. Athāti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – athāti. Pavitakkamāgamāti takkento vitakkento saṅkappento ‘‘jayo nu kho me bhavissati, parājayo nu kho me bhavissati, kathaṃ niggahaṃ karissāmi, kathaṃ paṭikammaṃ karissāmi, kathaṃ visesaṃ karissāmi, kathaṃ paṭivisesaṃ karissāmi, kathaṃ āveṭhiyaṃ karissāmi, kathaṃ nibbeṭhiyaṃ karissāmi, kathaṃ chedaṃ karissāmi, kathaṃ maṇḍalaṃ karissāmi’’ evaṃ takkento vitakkento saṅkappento āgatosi upagatosi sampattosi mayā saddhiṃ samāgatosīti – atha tvaṃ pavitakkamāgamā.
‘Then you came full of thought’—‘Then’ is a connection of words, a combination of words, a completion of words, a combination of syllables, a smoothness of consonants, and a sequence of words—this is ‘then.’ ‘Full of thought’ means thinking, reflecting, pondering: ‘Will there be victory for me? Will there be defeat for me? How shall I refute? How shall I counter? How shall I distinguish? How shall I make a counter-distinction? How shall I entangle? How shall I disentangle? How shall I cut off? How shall I encircle?’ Thus thinking, reflecting, pondering, you came, approached, arrived, met with me—thus, ‘then you came full of thought.’
“Rồi ngươi đã đến với sự suy lường” có nghĩa là: “Atha” là sự nối kết từ, sự kết hợp từ, sự bổ sung từ, sự tập hợp chữ cái, sự trôi chảy của phụ âm, đây là sự tuần tự của các từ – đó là “atha”. “Đã đến với sự suy lường” có nghĩa là: trong khi suy lường, trong khi tư duy, trong khi suy tính rằng: “Ta sẽ chiến thắng chăng, hay ta sẽ thất bại? Làm thế nào ta sẽ khiển trách? Làm thế nào ta sẽ phản bác? Làm thế nào ta sẽ làm cho đặc biệt? Làm thế nào ta sẽ làm cho đặc biệt hơn nữa? Làm thế nào ta sẽ bao vây? Làm thế nào ta sẽ gỡ rối? Làm thế nào ta sẽ cắt đứt? Làm thế nào ta sẽ làm cho trọn vẹn?” – như vậy, trong khi suy lường, trong khi tư duy, trong khi suy tính, ngươi đã đến, đã lại gần, đã đạt đến, đã đến cùng với ta. – (Đây là ý nghĩa của) “Rồi ngươi đã đến với sự suy lường”.
Manasā diṭṭhigatāni cintayantoti. Manoti yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ, mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu. Cittena diṭṭhiṃ cintento vicintento ‘‘sassato loko’’ti vā, ‘‘asassato loko’’ti vā…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vāti – manasā diṭṭhigatāni cintayanto.
‘Pondering views with the mind’: ‘Mind’ refers to that which is thought, mind, intellect, heart, the bright, the mind-base, the mind-faculty, consciousness, the consciousness aggregate, the corresponding mind-consciousness element. With the mind, one ponders views, considers: ‘The world is eternal,’ or ‘The world is not eternal,’ … or ‘The Tathāgata neither exists nor does not exist after death’—thus, ‘pondering views with the mind.’
Suy tư về các tà kiến bằng ý nghĩa là: Ý là cái nào gọi là tâm, là ý, là tâm ý, là quả tim, là tâm trong sạch, là ý xứ, là ý căn, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới tương sanh ấy. Vị ấy suy tư, suy xét về tà kiến bằng tâm rằng: ‘Thế gian là thường còn,’ hoặc ‘Thế gian là không thường còn,’ ... cho đến ... hoặc ‘Sau khi chết, Như Lai không phải là có cũng không phải là không có.’ – (như vậy là) suy tư về các tà kiến bằng ý.
Dhonena yugaṃ samāgamā, na hi tvaṃ sakkhasi sampayātaveti. Dhonā vuccati paññā. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Kiṃkāraṇā dhonā vuccati paññā? Tāya paññāya kāyaduccaritaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca, vacīduccaritaṃ…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Atha vā sammādiṭṭhiyā micchādiṭṭhi… sammāsaṅkappena micchāsaṅkappo…pe… sammāvimuttiyā micchāvimutti dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Atha vā ariyena aṭṭhaṅgikena maggena sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Bhagavā imehi dhoneyyehi dhammehi upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato, tasmā bhagavā dhono. So dhutarāgo dhutapāpo dhutakileso dhutapariḷāhoti – dhonoti.
‘You have come to contend with the Purified One; you are not able to proceed together.’ Dhonā is called wisdom. That is, the wisdom that is knowing… non-delusion, investigation of the Dhamma, right view. Why is wisdom called Dhonā? By that wisdom, bodily misconduct is shaken off, washed, well-cleansed, and thoroughly purified; verbal misconduct… all unwholesome volitional formations are shaken off, washed, well-cleansed, and thoroughly purified. Or, by right view, wrong view… by right intention, wrong intention… by right liberation, wrong liberation is shaken off, washed, well-cleansed, and thoroughly purified. Or, by the Noble Eightfold Path, all defilements… all misconducts… all vexations… all fevers… all torments… all unwholesome volitional formations are shaken off, washed, well-cleansed, and thoroughly purified. The Blessed One is endowed, fully endowed, has attained, has fully attained, is possessed, is fully possessed, and is furnished with these purifying qualities; therefore, the Blessed One is Dhono. He is one whose lust is shaken off, whose evil is shaken off, whose defilements are shaken off, whose burning anxiety is shaken off—thus, Dhono.
Đã hội ngộ với bậc đã thanh lọc, ngươi quả thật không thể sánh bằng. Trí tuệ được gọi là ‘sự thanh lọc.’ Trí tuệ nào là sự hiểu biết ... cho đến ... là vô si, là trạch pháp, là chánh kiến. Vì lý do gì trí tuệ được gọi là ‘sự thanh lọc’? Bằng trí tuệ ấy, thân ác hạnh được rũ sạch, được tẩy sạch, được tẩy sạch kỹ lưỡng, được tẩy sạch hoàn toàn; khẩu ác hạnh ... cho đến ... tất cả các hành bất thiện được rũ sạch, được tẩy sạch, được tẩy sạch kỹ lưỡng, được tẩy sạch hoàn toàn. Hoặc là, bằng chánh kiến, tà kiến ... bằng chánh tư duy, tà tư duy ... cho đến ... bằng chánh giải thoát, tà giải thoát được rũ sạch, được tẩy sạch, được tẩy sạch kỹ lưỡng, được tẩy sạch hoàn toàn. Hoặc là, bằng Thánh đạo Tám ngành, tất cả phiền não ... tất cả ác hạnh ... tất cả sự ray rứt ... tất cả sự nóng nảy ... tất cả sự thiêu đốt ... tất cả các hành bất thiện được rũ sạch, được tẩy sạch, được tẩy sạch kỹ lưỡng, được tẩy sạch hoàn toàn. Đức Thế Tôn đã thành tựu, đã thành tựu viên mãn, đã đạt đến, đã đạt đến viên mãn, đã phát sanh, đã phát sanh viên mãn, đã hội đủ các pháp thanh lọc này; vì thế, Đức Thế Tôn là bậc đã thanh lọc (Dhona). Vị ấy đã rũ sạch tham ái, đã rũ sạch điều ác, đã rũ sạch phiền não, đã rũ sạch sự nóng nảy – (vì vậy gọi là) bậc đã thanh lọc (Dhona).
Dhonena yugaṃ samāgamā, na hi tvaṃ sakkhasi sampayātaveti. Pasūro paribbājako na paṭibalo dhonena buddhena bhagavatā saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhitvā sākacchetuṃ sallapituṃ sākacchaṃ samāpajjituṃ. Taṃ kissa hetu? Pasūro paribbājako hīno nihīno omako lāmako chatukko paritto. So hi bhagavā aggo ca seṭṭho ca visiṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro ca. Yathā saso na paṭibalo mattena mātaṅgena saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; yathā kotthuko na paṭibalo sīhena migaraññā saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; yathā vacchako taruṇako dhenupako na paṭibalo usabhena calakakunā † saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; yathā dhaṅko na paṭibalo garuḷena venateyyena saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; yathā caṇḍālo na paṭibalo raññā cakkavattinā saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; yathā paṃsupisācako na paṭibalo indena devaraññā saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhituṃ; evameva pasūro paribbājako na paṭibalo dhonena buddhena bhagavatā saddhiṃ yugaṃ samāgamaṃ samāgantvā yugaggāhaṃ gaṇhitvā sākacchetuṃ sallapituṃ sākacchaṃ samāpajjituṃ. Taṃ kissa hetu? Pasūro paribbājako hīnapañño nihīnapañño omakapañño lāmakapañño chatukkapañño parittapañño. So hi bhagavā mahāpañño puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño, paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido, catuvesārajjappatto dasabaladhārī, purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho, anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā, netā vinetā anunetā, paññāpetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā. So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugā ca panassa etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
‘You have come to contend with the Purified One; you are not able to proceed together.’ The wanderer Pasūra is not capable of meeting the Purified One, the Buddha, the Blessed One, in debate—to grasp the yoke of discussion, to converse, or to engage in dialogue. Why is that? The wanderer Pasūra is inferior, lowly, insignificant, wretched, vile, and petty. For the Blessed One is supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, and sublime. Just as a hare is not capable of grasping the yoke in a meeting with a rutting elephant; just as a jackal is not capable of grasping the yoke in a meeting with a lion, the king of beasts; just as a young, suckling calf is not capable of grasping the yoke in a meeting with a mighty bull with a quivering hump; just as a crow is not capable of grasping the yoke in a meeting with a garuḍa, son of Vinatā; just as an outcaste is not capable of grasping the yoke in a meeting with a wheel-turning monarch; just as a dust-goblin is not capable of grasping the yoke in a meeting with Indra, the king of gods—so too, the wanderer Pasūra is not capable of meeting the Purified One, the Buddha, the Blessed One, in debate—to grasp the yoke of discussion, to converse, or to engage in dialogue. Why is that? The wanderer Pasūra is of inferior wisdom, lowly wisdom, insignificant wisdom, wretched wisdom, vile wisdom, and petty wisdom. For the Blessed One is of great wisdom, broad wisdom, joyful wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, and penetrative wisdom; skilled in the distinctions of wisdom, endowed with distinct knowledge, having attained the analytical insights; having reached the fourfold confidence, a bearer of the ten powers; a bull among men, a lion among men, an elephant among men, a thoroughbred among men, a leader among men; of boundless knowledge, boundless splendor, and boundless glory; affluent, of great wealth, and prosperous; a guide, a trainer, a persuader, an expounder, a revealer, a clarifier, and a bringer of faith. For the Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the ungenerated path, the declarer of the undeclared path; he is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert in the path. And now his disciples dwell following the path, having come after him.
Đã hội ngộ với bậc đã thanh lọc, ngươi quả thật không thể sánh bằng. Du sĩ Pasūra không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với Đức Phật, Đức Thế Tôn, bậc đã thanh lọc, sau khi đã nắm lấy sự sánh đôi, để đàm luận, để trò chuyện, để tham gia vào cuộc đàm luận. Vì lý do gì? Du sĩ Pasūra là thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn. Vì rằng Đức Thế Tôn là bậc tối thượng, bậc tối thắng, bậc đặc biệt, bậc giải thoát, bậc vô thượng, bậc cao cả. Giống như con thỏ không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với con voi chúa đang say, để nắm lấy sự sánh đôi; giống như con chó rừng không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với con sư tử, vua của các loài thú, để nắm lấy sự sánh đôi; giống như con bê non còn bú mẹ không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với con bò đực đầu đàn có u vai rung rinh, để nắm lấy sự sánh đôi; giống như con quạ không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với chim garuḷa, con của Vinatā, để nắm lấy sự sánh đôi; giống như người hạ tiện không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với vị Chuyển Luân Vương, để nắm lấy sự sánh đôi; giống như quỷ pamsupisācaka không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với vua trời Đế Thích, để nắm lấy sự sánh đôi; cũng vậy, du sĩ Pasūra không có khả năng, sau khi đã hội ngộ để sánh đôi với Đức Phật, Đức Thế Tôn, bậc đã thanh lọc, sau khi đã nắm lấy sự sánh đôi, để đàm luận, để trò chuyện, để tham gia vào cuộc đàm luận. Vì lý do gì? Du sĩ Pasūra có trí tuệ thấp kém, trí tuệ hạ liệt, trí tuệ tầm thường, trí tuệ tồi tệ, trí tuệ đáng khinh, trí tuệ nhỏ mọn. Vì rằng Đức Thế Tôn có đại trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ nhanh nhạy, có trí tuệ sắc bén, có trí tuệ thể nhập; Ngài thiện xảo về các loại trí tuệ, có trí tuệ phân tích, đã chứng đắc các Vô ngại giải, đã đạt đến bốn Vô sở úy, là bậc mang giữ mười lực; là bậc ngưu vương giữa loài người, là bậc sư tử giữa loài người, là bậc long tượng giữa loài người, là bậc ngựa hay giữa loài người, là bậc gánh vác trọng trách giữa loài người; có trí tuệ vô biên, có oai lực vô biên, có danh tiếng vô biên, là bậc giàu có, là bậc đại phú, là bậc có tài sản; là bậc dẫn dắt, là bậc huấn luyện, là bậc khuyến dụ; là bậc làm cho hiểu rõ, là bậc làm cho thẩm sát, là bậc làm cho nhận thấy, là bậc làm cho tín thành. Vì rằng Đức Thế Tôn là bậc làm phát sanh con đường chưa từng phát sanh, là bậc làm cho sanh khởi con đường chưa từng sanh khởi, là bậc tuyên thuyết con đường chưa từng được tuyên thuyết; là bậc biết rõ đạo, bậc thông suốt đạo, bậc thiện xảo về đạo. Và nay, các vị đệ tử của Ngài là những người đi theo con đường, sống và thành tựu (các đức hạnh) sau đó.
So hi bhagavā jānaṃ jānāti passaṃ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto, vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato; natthi tassa bhagavato aññātaṃ adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ † paññāya. Atītaṃ anāgataṃ paccuppannaṃ upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṃ āgacchanti. Yaṃ kiñci neyyaṃ nāma atthi dhammaṃ jānitabbaṃ. Attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho, samparāyiko vā attho, uttāno vā attho, gambhīro vā attho, gūḷho vā attho, paṭicchanno vā attho, neyyo vā attho, nīto vā attho, anavajjo vā attho, nikkileso vā attho, vodāno vā attho, paramattho vā attho, sabbaṃ taṃ antobuddhañāṇe parivattati.
That Blessed One, knowing what is to be known, knows it; seeing what is to be seen, sees it. He has become the eye, become knowledge, become the Dhamma, become Brahma. He is the speaker, the expounder, the guide to the meaning, the giver of the Deathless, the Lord of the Dhamma, the Tathāgata. There is nothing unknown to that Blessed One, nothing unseen, nothing uncomprehended, nothing unrealized, nothing uncontacted by wisdom. With respect to the past, future, and present, all phenomena in every aspect come into the range of the knowledge of the Blessed One, the Buddha. Whatever knowable Dhamma there is to be known—whether it is for one's own benefit, for the benefit of others, or for the benefit of both; whether it is a benefit in the present life or a benefit in a future life; whether it is a benefit that is plain or profound, hidden or concealed, to be inferred or of direct meaning; whether it is a blameless benefit, a benefit free from defilements, a purified benefit, or a benefit of the ultimate meaning—all of that revolves within the Buddha's knowledge.
Vì rằng Đức Thế Tôn ấy biết rõ điều cần biết, thấy rõ điều cần thấy; Ngài là con mắt (cho đời), là trí tuệ, là Pháp, là bậc cao thượng; là bậc nói lên, bậc diễn giải, là bậc dẫn dắt đến ý nghĩa, là bậc ban cho sự bất tử, là chủ của Pháp, là Như Lai. Đối với Đức Thế Tôn ấy, không có gì là không biết, không thấy, không rõ, không chứng ngộ, không xúc chạm bằng trí tuệ. Bao gồm quá khứ, vị lai, và hiện tại, tất cả các pháp, qua tất cả các phương diện, đều đi vào phạm vi trí tuệ của Đức Phật, Đức Thế Tôn. Bất cứ pháp nào cần được biết, được gọi là đối tượng của trí tuệ, đều có thể được biết. Hoặc là lợi ích cho bản thân, hoặc là lợi ích cho người khác, hoặc là lợi ích cho cả hai; hoặc là lợi ích trong hiện tại, hoặc là lợi ích trong tương lai; hoặc là lợi ích nông cạn, hoặc là lợi ích sâu xa, hoặc là lợi ích ẩn kín, hoặc là lợi ích bị che đậy, hoặc là lợi ích cần được suy diễn, hoặc là lợi ích có ý nghĩa rõ ràng, hoặc là lợi ích không có tội lỗi, hoặc là lợi ích không phiền não, hoặc là lợi ích trong sạch, hoặc là lợi ích tối thượng; tất cả những điều đó đều xoay chuyển bên trong Phật trí.
Sabbaṃ kāyakammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti, sabbaṃ vacīkammaṃ ñāṇānuparivatti, sabbaṃ manokammaṃ ñāṇānuparivatti. Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ, anāgate appaṭihataṃ ñāṇaṃ, paccuppanne appaṭihataṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ, neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ, neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Yathā dvinnaṃ samuggapaṭalānaṃ sammā phusitānaṃ heṭṭhimaṃ samuggapaṭalaṃ uparimaṃ nātivattati, uparimaṃ samuggapaṭalaṃ heṭṭhimaṃ nātivattati aññamaññapariyantaṭṭhāyino; evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino; yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ, neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ, neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati.
All bodily actions of the Buddha, the Blessed One, follow knowledge; all verbal actions follow knowledge; all mental actions follow knowledge. The knowledge of the Buddha, the Blessed One, regarding the past is unimpeded, knowledge regarding the future is unimpeded, knowledge regarding the present is unimpeded. As far as there is the knowable, so far there is knowledge; as far as there is knowledge, so far there is the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable, and there is no path of the knowable beyond knowledge. These phenomena are established within each other's limits. Just as when two halves of a casket are well-fitted, the lower half does not exceed the upper, nor does the upper half exceed the lower—they are established within each other's limits—so too for the Buddha, the Blessed One, the knowable and knowledge are established within each other's limits. As far as there is the knowable, so far there is knowledge; as far as there is knowledge, so far there is the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable, and there is no path of the knowable beyond knowledge. These phenomena are established within each other's limits. In all phenomena, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, proceeds.
Tất cả thân nghiệp của đức Phật, đức Thế Tôn, đều tùy chuyển theo trí tuệ; tất cả khẩu nghiệp đều tùy chuyển theo trí tuệ; tất cả ý nghiệp đều tùy chuyển theo trí tuệ. Trong quá khứ, trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, là không bị ngăn ngại; trong tương lai, trí tuệ là không bị ngăn ngại; trong hiện tại, trí tuệ là không bị ngăn ngại. Đối tượng được biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu; trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng được biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng được biết làm giới hạn; đối tượng được biết có trí tuệ làm giới hạn. Vượt qua đối tượng được biết, trí tuệ không sanh khởi; vượt qua trí tuệ, không có con đường cho đối tượng được biết. Các pháp ấy có sự tồn tại ở giới hạn của nhau. Giống như hai nắp hộp đựng trầu được khép lại vừa vặn, nắp hộp bên dưới không vượt qua nắp bên trên, nắp hộp bên trên không vượt qua nắp bên dưới, chúng có sự tồn tại ở giới hạn của nhau; tương tự y như thế, đối với đức Phật, đức Thế Tôn, đối tượng được biết và trí tuệ có sự tồn tại ở giới hạn của nhau. Đối tượng được biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu; trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng được biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng được biết làm giới hạn; đối tượng được biết có trí tuệ làm giới hạn. Vượt qua đối tượng được biết, trí tuệ không sanh khởi; vượt qua trí tuệ, không có con đường cho đối tượng được biết. Các pháp ấy có sự tồn tại ở giới hạn của nhau. Ở trong tất cả các pháp, trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, được vận hành.
Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanapaṭibaddhā ākaṅkhapaṭibaddhā manasikārapaṭibaddhā cittuppādapaṭibaddhā. Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati, sabbesañca sattānaṃ bhagavā āsayaṃ jānāti anusayaṃ jānāti caritaṃ jānāti adhimuttiṃ jānāti. Apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti. Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
All phenomena are connected to the Buddha, the Blessed One, through advertence, aspiration, mental application, and the arising of thought. The knowledge of the Buddha, the Blessed One, proceeds among all beings. The Blessed One knows the disposition of all beings, knows their latent tendencies, knows their conduct, and knows their inclinations. He understands beings—those with little dust, those with much dust; those with keen faculties, those with dull faculties; those with good dispositions, those with bad dispositions; those easy to instruct, those difficult to instruct; those who are capable, and those who are incapable. The world with its devas, Māra, and Brahmā, this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans—all revolve within the Buddha’s knowledge.
Tất cả các pháp đối với đức Phật, đức Thế Tôn, đều được ràng buộc với sự hướng tâm, được ràng buộc với sự mong muốn, được ràng buộc với sự tác ý, được ràng buộc với sự sanh khởi của tâm. Ở trong tất cả chúng sanh, trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, được vận hành. Và đức Thế Tôn biết rõ khuynh hướng, biết rõ tùy miên, biết rõ hạnh kiểm, biết rõ chí hướng của tất cả chúng sanh. Ngài nhận biết các chúng sanh: những hạng ít bụi trong mắt, những hạng nhiều bụi trong mắt, những hạng có các căn sắc bén, những hạng có các căn yếu ớt, những hạng có bản tánh tốt, những hạng có bản tánh xấu, những hạng dễ được chỉ dạy, những hạng khó được chỉ dạy, những hạng có khả năng và không có khả năng. Thế gian cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên; chúng sanh cùng với các vị sa-môn và bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người đều xoay vần ở bên trong trí tuệ của đức Phật.
Yathā ye keci macchakacchapā antamaso timitimiṅgalaṃ upādāya antomahāsamudde parivattanti; evameva sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati. Yathā ye keci pakkhī antamaso garuḷaṃ venateyyaṃ upādāya ākāsassa padese parivattanti; evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti. Buddhañāṇaṃ devamanussānaṃ paññaṃ pharitvā abhibhavitvā tiṭṭhatiyeva.
Just as whatever fish and turtles there are, even including the Timitimiṅgala, revolve within the great ocean; just so does the world with its devas, its Māra, its Brahmā, this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans, revolve within the Buddha’s knowledge. Just as whatever birds there are, even including the Garuḷa, the descendant of Vinatā, revolve in a portion of the sky; just so do those equal to Sāriputta in wisdom revolve in a portion of the Buddha’s knowledge. The Buddha's knowledge pervades and surpasses the wisdom of devas and humans, and indeed remains.
Giống như bất cứ loài cá và loài rùa nào, cho đến loài cá timitimiṅgala, đều xoay vần ở bên trong biển lớn; tương tự y như thế, thế gian cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên; chúng sanh cùng với các vị sa-môn và bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người đều xoay vần ở bên trong trí tuệ của đức Phật. Giống như bất cứ loài chim nào, cho đến chim garuḷa con của bà Vinatā, đều xoay vần ở trong một vùng của không gian; tương tự y như thế, những vị nào có trí tuệ tương đương với ngài Sāriputta thì các vị ấy cũng xoay vần ở trong một vùng của trí tuệ của đức Phật. Trí tuệ của đức Phật, sau khi đã lan khắp và đã chế ngự trí tuệ của chư Thiên và loài người, vẫn đứng vững.
Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā. Vobhindantā † maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni. Te pañhe abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgate upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca. Kathitā visajjitāva te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā upakkhittakā ca. Te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavāva tattha atirocati yadidaṃ paññāyāti – dhonena yugaṃ samāgamā, na hi tvaṃ sakkhasi sampayātave.
There are those wise khattiyas, wise brahmins, wise householders, and wise ascetics who are subtle, practiced in the doctrines of others, and like archers who can split a hair. They go about, it seems, shattering views with their wisdom. Having formulated questions, they approach the Tathāgata and ask those that are obscure and veiled. Those questions are spoken and answered by the Blessed One, with their reasons pointed out, and they become devoted followers of the Blessed One. Then, indeed, the Blessed One outshines them there with that which is wisdom. As it is said: 'You have come into a yoke with the Cleansed One; you will not be able to proceed together.'
Những vị nào là các học giả dòng dõi Sát-đế-lỵ, các học giả dòng dõi Bà-la-môn, các học giả dòng dõi gia chủ, các học giả dòng dõi sa-môn, là những người sắc sảo, đã thực hành các học thuyết của người khác, có hình thức giống như người bắn trúng sợi lông. Dường như các vị ấy đi lại, phá tan các tà kiến bằng phương tiện trí tuệ. Các vị ấy, sau khi đã chuẩn bị và chuẩn bị các câu hỏi, sau khi đã đi đến gần các đấng Như Lai, liền hỏi những điều sâu kín và những điều được che giấu. Các câu hỏi ấy đã được đức Thế Tôn nói đến và giải đáp, có các nguyên nhân được chỉ rõ, và là những người được đặt xuống. Các vị ấy thành tựu (sự quy y) nơi đức Thế Tôn. Và rồi, chính đức Thế Tôn là vị chói sáng ở nơi ấy về phương diện này, tức là trí tuệ. – (Bởi vì) đã gặp gỡ bậc đã được thanh lọc, ngươi không thể nào đi chung đường được.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Atha tvaṃ pavitakkamāgamā, manasā diṭṭhigatāni cintayanto;
Dhonena yugaṃ samāgamā, na hi tvaṃ sakkhasi sampayātave’’ti.
“Then you came with discursive thought, pondering views in your mind; you have come into a yoke with the Cleansed One, and you are not able to proceed together.”
«Và rồi, ngươi đã đến với sự suy tầm, trong khi đang suy tư về các tà kiến bằng ý; (bởi vì) đã gặp gỡ bậc đã được thanh lọc, ngươi không thể nào đi chung đường được.»
The Exposition of the Pasūra Sutta, the Eighth.
Phần giải thích về kinh Pasūra là phần thứ tám.