Bản dịch
MND 10 — Diễn Giải Kinh Trước Khi Hoại Rã
10. Purābhedasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh Trưởc Khi Hoại Rã được nói đến:
Có sự hiểu biết thế nào, có giới thế nào, được gọi là ‘an tịnh’? Thưa ngài Gotama, được hỏi về con người tối thượng, xin ngài hãy nói cho tôi về vị ấy .
Có sự hiểu biết thế nào, có giới thế nào, được gọi là ‘an tịnh’? - Có sự hiểu biết thế nào : Được thành tựu với sự hiểu biết thuộc loại nào, tương tự cái gì, có kiểu cách gì, tương đương cái gì; - ‘có sự hiểu biết thế nào’ là như thế. Có giới thế nào : Được thành tựu với giới thuộc loại nào, tương tự cái gì, có kiểu cách gì, tương đương cái gì; - ‘có sự hiểu biết thế nào, có giới thế nào’ là như thế.
Được gọi là ‘an tịnh’ : được gọi là , được nói ra, được thuyết giảng, được phát ngôn, được diễn giải, được diễn tả là an tịnh, yên tịnh, vắng lặng, không còn khao khát, tịch diệt, tịch tịnh . ‘Có sự hiểu biết thế nào’ là hỏi về thắng tuệ; ‘có giới thế nào’ là hỏi về thắng giới; ‘an tịnh’ là hỏi về thắng tâm; - có sự hiểu biết thế nào, có giới thế nào, được gọi là ‘an tịnh’? là như thế.
Thưa ngài Gotama, xin ngài hãy nói cho tôi về vị ấy - Vị ấy : là vị tôi hỏi, vị tôi yêu cầu, vị tôi mời, vị tôi thỉnh. Thưa ngài Gotama : Vị (Phật) đã được hóa hiện ấy xưng hô với đức Phật Thế Tôn bằng họ. Xin ngài hãy nói về : Xin Ngài hãy nói, hãy nêu ra, hãy thuyết giảng, hãy thông báo, hãy ấn định, hãy khai mở, hãy chia sẻ, hãy làm rõ, hãy bày tỏ; - ‘Thưa ngài Gotama, xin ngài hãy nói cho tôi về vị ấy’ là như thế.
Được hỏi về con người tối thượng - Được hỏi về : được vấn, được hỏi, được yêu cầu, bị nài ép, được tin tưởng. Con người tối thượng : là con người cao cả, nhất hạng, thù thắng, dẫn đầu, tối thượng, cao quý; - ‘được hỏi về con người tối thượng’ là như thế.
Vì thế, vị (Phật) đã được hóa hiện ra đã nói rằng:
“ Có sự hiểu biết thế nào, có giới thế nào, được gọi là ‘an tịnh’? Thưa ngài Gotama, được hỏi về con người tối thượng, xin ngài hãy nói cho tôi về vị ấy .”
(Đức Thế Tôn nói:) “Vị có tham ái đã được xa lìa, trước khi hoại rã (xác thân), không nương tựa vào thời gian trước (quá khứ), ở vào khoảng giữa (hiện tại) không thể phân hạng; việc mong ước là không có đối với vị ấy .”
Vị có tham ái đã được xa lìa, trước khi hoại rã (xác thân) - trước khi hoại rã thân thể, trước khi hoại rã bản thân, trước khi quăng bỏ thân xác, trước khi cắt đứt mạng quyền, vị có tham ái đã được xa lìa, có tham ái đã được tách lìa, có tham ái đã được từ bỏ, có tham ái đã được tẩy trừ, có tham ái đã được giải thoát, có tham ái đã được dứt bỏ, có tham ái đã được xả bỏ, có luyến ái đã được xa lìa, có luyến ái đã được tách lìa, có luyến ái đã được từ bỏ, có luyến ái đã được tẩy trừ, có luyến ái đã được giải thoát, có luyến ái đã được dứt bỏ, có luyến ái đã được xả bỏ, không còn khao khát, được tịch tịnh, có trạng thái mát lạnh, có sự cảm thọ lạc, sống với trạng thái cao thượng tự thân.
Đức Thế Tôn : là từ xưng hô với sự tôn kính. Thêm nữa, đức Thế Tôn là ‘vị có luyến ái đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có sân hận đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có si mê đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có ngã mạn đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có tà kiến đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có cây gai đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có ô nhiễm đã được phá vỡ;’ đức Thế Tôn là ‘vị đã phân phát, đã phân chia, đã phân phối Pháp bảo;’ đức Thế Tôn là ‘vị thực hiện sự chấm dứt các hữu;’ đức Thế Tôn là ‘vị có thân đã được tu tập, có giới đã được tu tập, có tâm đã được tu tập, có tuệ đã được tu tập;’ đức Thế Tôn là ‘vị đã thân cận các khu rừng, các khu rừng thưa, các chỗ trú ngụ xa vắng có ít âm thanh, ít tiếng ồn, có bầu không gian vắng vẻ, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần về các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, thuốc men chữa bệnh;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về vị của mục đích, về vị của Pháp, về vị của của giải thoát, về thắng giới, về thắng tâm, về thắng tuệ;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về bốn thiền, về bốn vô lượng (tâm), về bốn sự thể nhập vô sắc;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về tám giải thoát, về tám tám thắng xứ (của thiền), về chín sự thể nhập và an trú theo tuần tự;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về mười sự tu tập về tưởng, về mười sự thể nhập các đề mục kasiṇa , về định niệm hơi thở vào-hơi thở ra, về sự thể nhập các đề mục tử thi;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám chi phần;’ đức Thế Tôn là ‘vị có phần hoặc sở hữu về mười Như Lai lực, về bốn pháp tự tin, về bốn tuệ phân tích, về sáu thắng trí, về sáu pháp của đức Phật.’ ‘ Đức Thế Tôn ,’ tên gọi này không do mẹ tạo ra, không do cha tạo ra, không do anh em trai tạo ra, không do chị em gái tạo ra, không do bạn bè hoặc thân hữu tạo ra, không do các thân quyến cùng huyết thống tạo ra, không do các Sa-môn hoặc Bà-la-môn tạo ra, không do chư Thiên tạo ra, sự tận cùng của giải thoát này là sự quy định thuộc về chư Phật Thế Tôn do sự đạt được, do sự chứng ngộ trí Toàn Tri ở cội cây Bồ Đề, tức là ‘đức Thế Tôn;’ - ‘vị có tham ái đã được xa lìa, trước khi hoại rã (xác thân)’ là như thế.
Không nương tựa vào thời gian trước - Thời gian trước nói đến thời quá khứ. Liên quan đến thời quá khứ, tham ái đã được dứt bỏ, tà kiến đã được xả bỏ; do trạng thái đã dứt bỏ đối với tham ái, do trạng thái đã xả bỏ đối với tà kiến; - như vậy là ‘không nương tựa vào thời gian trước.’ Hoặc là, ‘Ta đã có sắc như vầy vào thời quá khứ,’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy. ‘Ta đã có thọ như vầy ... ‘Ta đã có tưởng như vầy ... ‘Ta đã có hành như vầy ... ‘Ta đã có thức như vầy vào thời quá khứ,’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy; - như vậy cũng là ‘không nương tựa vào thời gian trước.’ Hoặc là, ‘Mắt của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các sắc đã là như vầy,’ thức không bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái về điều ấy; do không có trạng thái bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái của thức, nên không thích thú điều ấy; trong khi không thích thú điều ấy, - như vậy cũng là ‘không nương tựa vào thời gian trước.’ ‘Tai của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các thinh đã là như vầy,’ ... ‘Mũi của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các hương đã là như vầy,’ ... ‘Lưỡi của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các vị đã là như vầy,’ ... ‘Thân của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các xúc đã là như vầy,’ ... ‘Ý của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các pháp đã là như vầy,’ thức không bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái về điều ấy; do trạng thái không bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái của thức, nên không thích thú điều ấy; trong khi không thích thú điều ấy, - như vậy cũng là ‘không nương tựa vào thời gian trước.’ Hoặc là, người ấy có các việc cười hớt, chuyện trò, đùa giỡn với người nữ lúc trước đây, không khoái cảm điều ấy, không khao khát điều ấy, và không do điều ấy đạt được sự vui lòng; - như vậy cũng là ‘không nương tựa vào thời gian trước.’
Ở vào khoảng giữa không thể phân hạng - Khoảng giữa nói đến thời vị lai. Liên quan đến thời vị lai, tham ái là được dứt bỏ, tà kiến là được xả bỏ; do trạng thái đã dứt bỏ đối với tham ái, do trạng thái đã xả bỏ đối với tà kiến, không thể phân hạng là ‘luyến ái,’ không thể phân hạng là ‘sân hận,’ không thể phân hạng là ‘si mê,’ không thể phân hạng là ‘bảo thủ,’ không thể phân hạng là ‘bám víu,’ không thể phân hạng là ‘phóng đãng,’ không thể phân hạng là ‘không dứt khoát,’ không thể phân hạng là ‘cứng cỏi;’ các pháp tạo tác ấy đã được dứt bỏ, do trạng thái đã dứt bỏ đối với các pháp tạo tác, không thể phân hạng theo cảnh giới tái sanh là ‘người địa ngục,’ hoặc ‘hạng sanh vào thai bào của loài thú,’ hoặc ‘người ở cảnh giới ngạ quỷ,’ hoặc ‘loài người,’ hoặc ‘Thiên nhân,’ hoặc ‘hữu hình,’ hoặc ‘vô hình,’ hoặc ‘hữu tưởng,’ hoặc ‘vô tưởng,’ hoặc ‘phi tưởng phi phi tưởng’? Không có nhân, không có duyên, không có lý do, mà bởi điều ấy vị ấy có thể đi đến sự định đặt;’ - ‘ở vào khoảng giữa không thể phân hạng’ là như thế.
Việc mong ước là không có đối với vị ấy - Đối với vị ấy : đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Việc mong ước - Có hai sự mong ước: mong ước do tham ái và mong ước do tà kiến. ―như trên― điều này là mong ước do tham ái. ―như trên― điều này là mong ước do tà kiến. Đối với vị ấy, sự mong ước do tham ái đã được dứt bỏ, sự mong ước do tà kiến đã được xả bỏ; do trạng thái đã dứt bỏ đối với sự mong ước do tham ái, do trạng thái đã xả bỏ đối với sự mong ước do tà kiến, vị ấy sống, không mong ước tham ái hoặc tà kiến, không có tham ái là ngọn cờ, không có tham ái là biểu hiện, không có tham ái là chủ đạo, không có tà kiến là ngọn cờ, không có tà kiến là biểu hiện, không có tà kiến là chủ đạo, vị ấy sống không bị vây quanh bởi tham ái hoặc bởi tà kiến; - ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy’ là như vậy. Hoặc là, ‘Ta sẽ có sắc như vầy vào thời vị lai,’ rồi không dẫn đến việc vui mừng về điều ấy; như vậy là ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy.’ ‘Ta sẽ có thọ như vầy ... ‘Ta sẽ có tưởng như vầy ... ‘Ta sẽ có hành như vầy ... ‘Ta sẽ có thức như vầy vào thời vị lai,’ rồi không dẫn đến việc vui mừng về điều ấy; - như vậy cũng là ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy.’ Hoặc là, ‘Mắt của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các sắc sẽ là như vầy,’ rồi không chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được; do duyên không chuyên chú của tâm, nên không thích thú điều ấy; trong khi không thích thú điều ấy, - như vậy cũng là ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy.’ ‘Tai của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các thinh sẽ là như vầy,’ ... ‘Mũi của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các hương sẽ là như vầy,... ‘Lưỡi của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các vị sẽ là như vầy,’ ... ‘Thân của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các xúc sẽ là như vầy,’ ... ‘Ý của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các pháp sẽ là như vầy,’ rồi không chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được; do duyên không chuyên chú của tâm, nên không thích thú điều ấy; trong khi không thích thú điều ấy, - như vậy cũng là ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy.’ Hoặc là, ‘Với giới này, hay với phận sự này, hay với sự khắc khổ này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên Vương hoặc một Thiên nhân nào đó,’ rồi không chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được; do duyên không chuyên chú của tâm, nên không thích thú điều ấy; trong khi không thích thú điều ấy, - như vậy cũng là ‘việc mong ước là không có đối với vị ấy.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
(Đức Thế Tôn nói:) “Vị có tham ái đã được xa lìa, trước khi hoại rã (xác thân), không nương tựa vào thời gian trước (quá khứ), ở vào khoảng giữa (hiện tại) không thể phân hạng; việc mong ước là không có đối với vị ấy.”
Không có sự giận dữ, không có sự xao động, không có sự phô trương, không có sự hối hận, có lời nói khôn khéo, không bị phóng túng, vị ấy quả thật là bậc hiền trí đã thu thúc về khẩu .
Không có sự giận dữ, không có sự xao động - Bởi vì ‘sự không giận dữ’ được nói đến, trước hết sự giận dữ nên được nói đến. Sự giận dữ sanh lên theo mười biểu hiện: (Nghĩ rằng): ‘Nó đã làm điều bất lợi cho ta,’ giận dữ sanh khởi. (Nghĩ rằng): ‘Nó đang làm điều bất lợi cho ta,’ giận dữ sanh khởi. (Nghĩ rằng): ‘Nó sẽ làm điều bất lợi cho ta,’ giận dữ sanh khởi. (Nghĩ rằng): ‘Nó đã làm điều bất lợi ... đang làm điều bất lợi ... sẽ làm điều bất lợi cho người yêu quý, hợp ý của ta,’ giận dữ sanh khởi. (Nghĩ rằng): ‘Nó đã làm điều có lợi ... đang làm điều có lợi ... sẽ làm điều có lợi cho người không yêu quý, không hợp ý của ta,’ giận dữ sanh khởi. Thêm nữa là sự giận dữ sanh khởi vô cớ. Cái nào có hình thức là sự gây tổn hại, sự gây thương tổn, sự thù hận, sự đối chọi, sự căm giận, sự căm hờn, sự căm ghét, sự sân hận, sự nổi sân, sự sân nộ của tâm; sự độc ác, ý sân hận, sự giận dữ, biểu hiện giận dữ, trạng thái giận dữ, sự sân hận, biểu hiện sân hận, trạng thái sân hận, sự độc ác, biểu hiện độc ác, trạng thái độc ác, sự chống đối, sự đối chọi, sự tàn nhẫn, sự lỗ mãng, trạng thái không hoan hỷ của tâm; điều này được gọi là sự giận dữ.
Thêm nữa, trạng thái nhiều ít của sự giận dữ nên được nói đến: Có lúc sự giận dữ là ở mức độ làm xáo trộn tâm, nhưng chưa nhíu mày nhăn mặt; có lúc sự giận dữ là ở mức độ nhíu mày nhăn mặt, nhưng chưa nghiến hai hàm răng; có lúc sự giận dữ là ở mức độ nghiến hai hàm răng, nhưng chưa thốt ra lời nói thô lỗ; có lúc sự giận dữ là ở mức độ thốt ra lời nói thô lỗ, nhưng chưa nhìn trừng trừng; có lúc sự giận dữ là ở mức độ nhìn trừng trừng, nhưng chưa nắm lấy gậy gộc gươm đao; có lúc sự giận dữ là ở mức độ nắm lấy gậy gộc gươm đao, nhưng chưa giơ gậy gộc gươm đao lên; có lúc sự giận dữ là ở mức độ giơ gậy gộc gươm đao lên, nhưng chưa giáng gậy gộc gươm đao xuống; có lúc sự giận dữ là ở mức độ giáng gậy gộc gươm đao xuống, nhưng chưa làm việc băm chém; có lúc sự giận dữ là ở mức độ làm việc băm chém, nhưng chưa có sự tổn thương gãy vỡ; có lúc sự giận dữ là ở mức độ có sự tổn thương gãy vỡ, nhưng chưa có sự tách rời các phần cơ thể; có lúc sự giận dữ là ở mức độ có sự tách rời các phần cơ thể, nhưng chưa có sự đoạt lấy mạng sống; có lúc sự giận dữ là ở mức độ có sự đoạt lấy mạng sống, nhưng chưa đến mức buông bỏ tất cả luôn cả việc tự sát. Khi sự giận dữ khiến cho giết chết người rồi giết chết mình, đến chừng ấy thì sự giận dữ đã đạt đến mức quá lố, đã đạt đến mức tận cùng.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không có sự giận dữ, không có sự xao động, không có sự phô trương, không có sự hối hận,
có lời nói khôn khéo, không bị phóng túng, vị ấy quả thật là bậc hiền trí đã thu thúc về khẩu .”
Vị không có sự dính mắc ở tương lai, không sầu muộn về quá khứ,
nhìn thấy sự viễn ly ở các xúc, và không bị dẫn đi bởi các tà kiến .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị không có sự dính mắc ở tương lai, không sầu muộn về quá khứ,
nhìn thấy sự viễn ly ở các xúc, và không bị dẫn đi bởi các tà kiến .”
Vị đã xa rời (các bất thiện pháp), không lừa gạt, không mong cầu, không bỏn xẻn,
không xấc xược, không gây nhờm gớm, và không can dự vào việc nói đâm thọc .
Kiểu cách lừa gạt có liên quan đến (bốn món) vật dụng là kiểu cách nào? Ở đây, các gia chủ thỉnh mời vị tỳ khưu về y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc men chữa bệnh. Vị ấy có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, có sự tầm cầu, do sự mong muốn được nhiều hơn về y phục, về đồ ăn khất thực, về chỗ nằm ngồi, về thuốc men chữa bệnh, rồi từ chối y phục, từ chối đồ ăn khất thực, từ chối chỗ nằm ngồi, từ chối thuốc men chữa bệnh. Vị ấy nói như sau: “Lợi ích gì cho vị Sa-môn với y phục đắt giá? Điều đúng đắn là vị Sa-môn nên nhặt các mảnh vải từ bãi tha ma, hoặc từ đống rác, hoặc từ vải bỏ của tiệm vải, rồi làm y hai lớp và mặc vào. Lợi ích gì cho vị Sa-môn với đồ ăn khất thực đắt giá? Điều đúng đắn là vị Sa-môn nên duy trì mạng sống bằng vắt thức ăn do việc đi khất thực. Lợi ích gì cho vị Sa-môn với chỗ nằm ngồi đắt giá? Điều đúng đắn là vị Sa-môn nên ngụ ở gốc cây, hoặc là ngụ ở mộ địa, hoặc là ngụ ở ngoài trời. Lợi ích gì cho vị Sa-môn với thuốc men chữa bệnh đắt giá? Điều đúng đắn là vị Sa-môn nên chế tạo thuốc men với nước tiểu bò hoặc với mẩu cây harītakī.” Từ đó trở đi, vị ấy mặc y thô tệ, ăn đồ ăn khất thực thô tệ, sử dụng chỗ nằm ngồi thô tệ, sử dụng thuốc men chữa bệnh thô tệ. Các gia chủ biết về vị ấy như vầy: “Vị Sa-môn này ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách biệt, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, thuyết về hạnh từ khước,” rồi thỉnh mời (vị ấy) về y phục, đồ ăn khất thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc men chữa bệnh càng nhiều hơn nữa. Vị ấy nói như sau: “Do sự hiện diện của ba pháp, người thiện tín tạo ra nhiều phước báu: Do sự hiện diện của đức tin, người thiện tín tạo ra nhiều phước báu; do sự hiện diện của vật thí, người thiện tín tạo ra nhiều phước báu; do sự hiện diện của các bậc xứng đáng được cúng dường, người thiện tín tạo ra nhiều phước báu. Và các người là có đức tin, có vật thí, còn tôi là người thọ nhận. Nếu tôi không thọ nhận, như vậy các người sẽ mất phần phước báu. Không có lợi ích gì cho tôi với việc này, nhưng vì lòng thương tưởng đến các người mà tôi thọ nhận.” Từ đó trở đi, vị ấy thọ nhận nhiều y phục, thọ nhận nhiều đồ ăn khất thực, thọ nhận nhiều chỗ nằm ngồi, thọ nhận nhiều thuốc men chữa bệnh. Những việc có hình thức như là sự nhíu mày, trạng thái nhíu mày, việc lừa gạt, thái độ lừa gạt, trạng thái lừa gạt, đây là kiểu cách lừa gạt có liên quan đến (bốn món) vật dụng.
Kiểu cách lừa gạt từ các oai nghi là kiểu cách nào? Ở đây, có vị (tỳ khưu) có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, mong muốn sự tôn kính (nghĩ rằng): ‘Như vầy mọi người sẽ tôn kính ta,’ rồi tạo dáng đi, tạo dáng đứng, tạo dáng ngồi, tạo dáng nằm, lập nguyện rồi mới đi, lập nguyện rồi mới đứng, lập nguyện rồi mới ngồi, lập nguyện rồi mới nằm, đi như là đã đắc định, đứng như là đã đắc định, ngồi như là đã đắc định, nằm như là đã đắc định, là người tham thiền giữa công chúng. Những việc có hình thức như là tạo dáng với sự trân trọng, biểu hiện tạo dáng, việc tạo dáng, sự nhíu mày, trạng thái nhíu mày, việc lừa gạt, thái độ lừa gạt, trạng thái lừa gạt ở các oai nghi, đây là kiểu cách lừa gạt từ các oai nghi.
Kiểu cách lừa gạt do việc nói gần nói xa là kiểu cách nào? Ở đây, có vị (tỳ khưu) có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, mong muốn sự tôn kính (nghĩ rằng): ‘Như vầy mọi người sẽ tôn kính ta,’ rồi nói lời liên quan đến Thánh pháp. Nói rằng: ‘Vị nào mặc y như vầy, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’ Nói rằng: ‘Vị nào mang bình bát như vầy, mang bát nhỏ bằng đồng, mang bình nước, mang đồ lọc nước, mang chìa khóa, mang dép, mang dây thắt lưng, mang dây buộc như vầy, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’ Nói rằng: ‘Vị nào có thầy tế độ như vầy, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’ Nói rằng: ‘Vị nào có thầy dạy học như vầy, có các vị đồng thầy tế độ, các vị đồng thầy dạy học, các bạn bè, các vị đồng quan điểm, các vị thân thiết, hoặc các vị thân hữu như vầy, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’ Nói rằng: ‘Vị nào ngụ ở trú xá như vầy, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’ Nói rằng: ‘Vị nào ngụ ở nhà một mái như vầy, ngụ ở tòa lâu đài, ngụ ở tòa nhà dài, ngụ ở hang, ngụ ở động, ngụ ở cốc, ngụ ở nhà mái nhọn, ngụ ở chòi canh, ngụ ở ngôi nhà tròn, ngụ ở căn lều, ngụ ở hội trường, ngụ ở mái che, ngụ ở gốc cây, vị ấy là Sa-môn có uy lực lớn.’
Hoặc là, vị giả nhân giả nghĩa, vị nhíu mặt nhăn mày, vị lừa gạt gian dối, vị tỉ tê nài nỉ, thể hiện ở khuôn mặt (để người khác hiểu lầm rằng): ‘Vị Sa-môn này đã đạt được các sự thể nhập an tịnh có hình thức như thế này,’ rồi thuyết bài giảng – thâm sâu, bí hiểm, vi tế, ẩn tàng, vô thượng ở thế gian, gắn liền với không tánh – tương đương với điều ấy. Những việc có hình thức như là nhíu mày, trạng thái nhíu mày, việc lừa gạt, thái độ lừa gạt, trạng thái lừa gạt, đây là kiểu cách lừa gạt do việc nói gần nói xa.
Đối với vị nào, ba kiểu cách lừa gạt này được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là không lừa gạt - ‘vị đã xa rời (các bất thiện pháp), không lừa gạt’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị đã xa rời (các bất thiện pháp), không lừa gạt, không mong cầu, không bỏn xẻn,
không xấc xược, không gây nhờm gớm, và không can dự vào việc nói đâm thọc .”
Vị không có sự buông xuôi theo các khoái lạc, không can dự vào việc ngã mạn thái quá,
nhuần nhuyễn, và sáng trí, không cả tin, không lìa luyến ái .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Vị không có sự buông xuôi theo các khoái lạc, không can dự vào việc ngã mạn thái quá,
nhuần nhuyễn, và sáng trí, không cả tin, không lìa luyến ái. ”
Vị học tập không vì ham muốn lợi lộc, và không bực tức khi không được lợi lộc,
không chống đối, và không thèm muốn các vị nếm do tham ái.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị học tập không vì ham muốn lợi lộc, và không bực tức khi không được lợi lộc,
không chống đối, và không thèm muốn các vị nếm do tham ái .”
Vị hành xả, luôn luôn có niệm, ở thế gian không nghĩ (bản thân) là ngang bằng,
không (nghĩ) là có sự ưu việt, không (nghĩ) là thấp hèn, đối với vị ấy, không có các sự kiêu ngạo .
1. Người ta đưa (ngựa) đã được rèn luyện đến nơi tụ hội. Đức vua cỡi lên (ngựa) đã được rèn luyện.
Người đã được rèn luyện chịu đựng lời mắng nhiếc là hạng nhất giữa loài người .
2. Cao quý thay những con lừa đã được thuần hóa, những con ngựa Sindhu thuần chủng,
và những con voi thuộc loài khổng tượng, người đã tự rèn luyện bản thân là cao quý hơn cả .
3. Bởi vì chẳng phải nhờ vào những cỗ xe ấy mà có thể đi đến nơi chưa đi đến (Niết Bàn),
như là nhờ vào bản thân đã khéo được rèn luyện. Do nhờ đã được rèn luyện mà người đã được rèn luyện đi đến (Niết Bàn) .
4. Các vị không dao động ở các trạng thái kiêu mạn, đã được thoát khỏi việc sanh ra lần nữa,
đã đạt đến lãnh vực của các bậc đã được rèn luyện, các vị ấy là những người chiến thắng ở thế gian .
5. Vị nào có các giác quan đã được tu tập, ở nội phần, ở ngoại phần, và ở toàn thể thế gian,
sau khi thấu triệt đời này và đời sau, vị đã được tu tập chờ đợi thời điểm, vị ấy là đã được huấn luyện .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị hành xả, luôn luôn có niệm, ở thế gian không nghĩ (bản thân) là ngang bằng,
không (nghĩ) là có sự ưu việt, không (nghĩ) là thấp hèn, đối với vị ấy, không có các sự kiêu ngạo .”
Đối với vị nào không có sự nương tựa, – sau khi hiểu được Giáo Pháp (vị ấy) không còn nương tựa, – đối với vị ấy tham ái ở hữu và phi hữu không tìm thấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị nào không có sự nương tựa, – sau khi hiểu được Giáo Pháp (vị ấy) không còn nương tựa, –
đối với vị ấy tham ái ở hữu và phi hữu không tìm thấy .”
Ta nói rằng vị ấy là ‘bậc an tịnh’ không trông mong về các dục,
đối với vị ấy các sự trói buộc không tìm thấy; vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc .
Ta nói rằng vị ấy là ‘bậc an tịnh’ – Ta nói rằng vị ấy, Ta thuyết rằng vị ấy, Ta phát ngôn rằng vị ấy, Ta diễn giải rằng vị ấy, Ta diễn tả rằng vị ấy là ‘bậc an tịnh, bậc vắng lặng, bậc tịch diệt, bậc tịch tịnh;’ – Ta nói rằng vị ấy là ‘bậc an tịnh’ là như thế.
Không trông mong về các dục – Các dục : theo sự phân hạng thì có hai loại dục: các vật dục và các ô nhiễm dục. —nt— Các điều này được gọi là các vật dục. —nt— Các điều này được gọi là các ô nhiễm dục. Sau khi biết toàn diện về các vật dục, sau khi dứt bỏ, sau khi từ bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu các ô nhiễm dục; vị không trông mong về các dục : là vị có dục đã được xa lìa, có dục đã được từ bỏ, có dục đã được tẩy trừ, có dục đã được giải thoát, có dục đã được dứt bỏ, có dục đã được xả bỏ; đối với các dục, là vị có luyến ái đã được xa lìa, có luyến ái đã được tách lìa, có luyến ái đã được từ bỏ, có luyến ái đã được tẩy trừ, có luyến ái đã được giải thoát, có luyến ái đã được dứt bỏ, có luyến ái đã được xả bỏ, đã không còn khao khát, đã được tịch diệt, có trạng thái mát mẻ, có sự cảm thọ lạc, sống với trạng thái cao thượng tự thân; – ‘không trông mong về các dục’ là như thế.
Đối với vị ấy các sự trói buộc không tìm thấy – Các sự trói buộc : tham đắm là sự trói buộc về thân, bất bình là sự trói buộc về thân, sự bám víu vào giới và phận sự là sự trói buộc về thân, sự cố chấp ‘chỉ điều này là chân lý’ là sự trói buộc về thân. Sự luyến ái, tham đắm vào quan điểm của bản thân là sự trói buộc về thân. Sự căm hờn, sự không bằng lòng, sự bất bình đối với các học thuyết khác là sự trói buộc về thân. Sự bám víu vào giới và phận sự rằng: ‘Họ bám víu vào giới, hoặc phận sự, hoặc giới và phận sự của bản thân’ là sự trói buộc về thân. Quan điểm của bản thân có sự cố chấp ‘chỉ điều này là chân lý’ là sự trói buộc về thân. Đối với vị ấy : Đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã cạn kiệt; đối với vị ấy, các sự trói buộc là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, đã được dứt bỏ, đã được trừ tuyệt, đã được vắng lặng, đã được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ; – đối với vị ấy các sự trói buộc không tìm thấy.
Vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc – Sự vướng mắc nói đến tham ái, nghĩa là sự luyến ái, luyến ái mãnh liệt, –nt– tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện. Sự vướng mắc – Sự vướng mắc với ý nghĩa gì? Vướng mắc là vì ‘được trải rộng;’ vướng mắc là vì ‘bao quát;’ vướng mắc là vì ‘được lan rộng;’ vướng mắc là vì ‘lôi kéo theo;’ vướng mắc là vì ‘mang lại chất độc;’ vướng mắc là vì ‘truyền bá chất độc;’ vướng mắc là vì ‘nhân độc hại;’ vướng mắc là vì ‘kết quả độc hại;’ vướng mắc là vì ‘sự thọ dụng độc hại.’ Hoặc hơn nữa, vướng mắc là vì ‘ái ấy là bao quát, được trải rộng, được lan rộng ở sắc, ở thinh, ở hương, ở vị, ở xúc, ở gia tộc, ở đồ chúng, ở chỗ ngụ, –nt– ở các pháp được thấy-được nghe-được cảm giác-được nhận thức.’ Vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc : vị ấy đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt khỏi, đã băng qua, đã băng qua khỏi sự vướng mắc, tham ái này; – ‘vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ta nói rằng vị ấy là ‘bậc an tịnh’ không trông mong về các dục, đối với vị ấy các sự trói buộc không tìm thấy; vị ấy đã vượt qua sự vướng mắc .”
Đối với vị ấy, không có con cái, các thú nuôi, ruộng vườn, và đất đai không tìm thấy.
Ngã (thường kiến) và luôn cả phi ngã (đoạn kiến) cũng không tồn tại ở vị ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị ấy, không có con cái, các thú nuôi, ruộng vườn, và đất đai không tìm thấy.
Ngã (thường kiến) và luôn cả phi ngã (đoạn kiến) cũng không tồn tại ở vị ấy .”
Vì việc nào mà các phàm phu, rồi các Sa-môn, và các Bà-la-môn có thể kết tội vị ấy, việc ấy đối với vị ấy là không được coi trọng; vì thế vị ấy không dao động vì những lời (buộc tội) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vì việc nào mà các phàm phu, rồi các Sa-môn, và các Bà-la-môn có thể kết tội vị ấy, việc ấy đối với vị ấy là không được coi trọng; vì thế vị ấy không dao động vì những lời (buộc tội) .”
Có sự thèm khát đã được xa lìa, không bỏn xẻn, bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ưu việt, không là trong số những người ngang bằng, không là trong số những người thấp kém, là vị không bị sắp đặt, không đi đến sự sắp đặt (bởi tham ái và tà kiến) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Có sự thèm khát đã được xa lìa, không bỏn xẻn, bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ưu việt, không là trong số những người ngang bằng, không là trong số những người thấp kém, là vị không bị sắp đặt, không đi đến sự sắp đặt (bởi tham ái và tà kiến) .”
Đối với vị nào ở thế gian, vật sở hữu là không có, (là vị) không sầu muộn do tình trạng không có, và không đi đến (sự lầm lẫn) trong mọi pháp; thật vậy, vị ấy được gọi là ‘bậc an tịnh .’
Đối với vị nào ở thế gian, vật sở hữu là không có – Đối với vị nào : đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Vật sở hữu là không có : Đối với vị nào, bất cứ điều gì hướng đến sắc, hướng đến thọ, hướng đến tưởng, hướng đến các hành, hướng đến thức đã được nắm lấy, đã được bám víu, đã được cố chấp, đã được bám chặt, đã được hướng đến (rằng): ‘Cái này là của tôi, cái này là của những người khác’ là không có, không hiện diện, –nt– đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ; – ‘đối với vị nào ở thế gian, vật sở hữu là không có’ là như thế.
Không sầu muộn do tình trạng không có – Không sầu muộn về vật đã bị biến đổi; không sầu muộn khi vật bị biến đổi; (nghĩ rằng): ‘Mắt của ta bị biến đổi’ mà không sầu muộn; (nghĩ rằng): ‘Tai của ta — ‘Mũi của ta — ‘Lưỡi của ta — ‘Thân của ta — ‘Ý của ta — ‘Các sắc của ta — ‘Các thinh của ta — ‘Các hương của ta — ‘Các vị của ta — ‘Các xúc của ta — ‘Gia tộc của ta — ‘Đồ chúng của ta — ‘Chỗ ngụ của ta — ‘Lợi lộc của ta — ‘Danh tiếng của ta — ‘Lời khen của ta — ‘Hạnh phúc của ta — ‘Y phục của ta — ‘Đồ ăn khất thực của ta — ‘Chỗ nằm ngồi của ta — ‘Vật dụng là thuốc men chữa bệnh của ta — ‘Mẹ của ta — ‘Cha của ta — ‘Anh em trai của ta — ‘Chị em gái của ta — ‘Con trai của ta — ‘Con gái của ta — ‘Bạn bè của ta — ‘Thân hữu của ta — ‘Thân quyến của ta — ‘Những người cùng huyết thống của ta bị biến đổi’ mà không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội; – ‘không sầu muộn do tình trạng không có’ là như vậy.
Hoặc là, bị xúc chạm, bị chế ngự, bị xâm nhập, bị tiếp cận bởi thọ khổ, không thoải mái, mà không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội. Bị xúc chạm, bị chế ngự, bị xâm nhập, bị tiếp cận bởi bệnh ở mắt mà không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội. Bị xúc chạm, bị chế ngự, bị xâm nhập, bị tiếp cận bởi bệnh ở tai trong, bởi bệnh ở mũi, bởi bệnh ở lưỡi, bởi bệnh ở thân, bởi bệnh ở đầu, bởi bệnh ở lỗ tai, bởi bệnh ở miệng, bởi bệnh ở răng, bởi ho, bởi suyễn, bởi sổ mũi, bởi nhiệt, bởi cảm sốt, bởi đau bụng, bởi xây xẩm, bởi kiết lỵ, bởi đau bụng bão, bởi dịch tả, bởi phong cùi, bởi mụt nhọt, bởi bệnh chàm, bởi lao phổi, bởi động kinh, bởi mụt, bởi nhọt, bởi ghẻ ngứa, bởi sảy, bởi loét tay chân, bởi máu, bởi mật, bởi bệnh tiểu đường, bởi bệnh trĩ, bởi ghẻ lở, bởi loét hậu môn, bởi bệnh phát khởi từ mật, bởi bệnh phát khởi từ đàm, bởi bệnh phát khởi từ gió, bởi bệnh tổng hợp từ mật-đàm-gió, bởi bệnh sanh lên vì thay đổi thời tiết, bởi bệnh sanh lên vì bốn oai nghi không đồng đều, bởi bệnh vì sự cố gắng quá sức, bởi bệnh sanh lên vì quả của nghiệp, bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, bởi khát, bởi các xúc chạm với ruồi muỗi gió nắng và các loài bò sát, mà không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội; – ‘không sầu muộn do tình trạng không có’ còn là như vậy.
Hoặc là, trong khi không hiện hữu, không tìm thấy, không tồn tại (nghĩ rằng): ‘Quả thật đã có cho ta chăng? Cái ấy quả thật không có cho ta! Quả thật sẽ có cho ta chăng? Quả thật ta không đạt được cái ấy!’ mà không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội; – ‘không sầu muộn do tình trạng không có’ còn là như vậy.
Và không đi đến (sự lầm lẫn) trong mọi pháp – Vị không đi đến sự thiên vị vì mong muốn, không đi đến sự thiên vị vì sân hận, không đi đến sự thiên vị vì si mê, không đi đến sự thiên vị vì sợ hãi, không đi đến do tác động của luyến ái, không đi đến do tác động của sân hận, không đi đến do tác động của si mê, không đi đến do tác động của ngã mạn, không đi đến do tác động của tà kiến, không đi đến do tác động của phóng dật, không đi đến do tác động của hoài nghi, không đi đến do tác động của pháp tiềm ẩn, và không bởi các pháp có tính chất phe nhóm mà bị đưa đi, bị dẫn đi, bị lôi đi, bị mang đi; – ‘và không đi đến (sự lầm lẫn) trong mọi pháp’ là như thế.
Thật vậy, vị ấy được gọi là ‘bậc an tịnh’ – Vị ấy được gọi là, được nói ra, được thuyết giảng, được phát ngôn, được diễn giải, được diễn tả là: ‘Bậc an tịnh, bậc yên tịnh, bậc vắng lặng, bậc tịch diệt, bậc tịch tịnh;’ – vị ấy được gọi là ‘bậc an tịnh’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị nào ở thế gian, vật sở hữu là không có, (là vị) không sầu muộn do tình trạng không có, và không đi đến (sự lầm lẫn) trong mọi pháp; thật vậy, vị ấy được gọi là ‘bậc an tịnh .’”
Diễn Giải Kinh 'Trước Khi Hoại Rã' là thứ mười .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Pubbamantamanissitoti pubbanto vuccati atīto addhā. Atītaṃ addhānaṃ ārabbha taṇhā pahīnā, diṭṭhi paṭinissaṭṭhā taṇhāya pahīnattā, diṭṭhiyā paṭinissaṭṭhattā. Evampi pubbamantamanissito. Atha vā ‘‘evaṃrūpo ahosiṃ atītamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti, ‘‘evaṃvedano ahosiṃ… evaṃsañño ahosiṃ… evaṃsaṅkhāro ahosiṃ… evaṃviññāṇo ahosiṃ atītamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti. Evampi pubbamantamanissito. Atha vā ‘‘iti me cakkhu † ahosi atītamaddhānaṃ – iti rūpā’’ti tattha na chandarāgapaṭibaddhaṃ hoti viññāṇaṃ, na chandarāgapaṭibaddhattā viññāṇassa na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi pubbamantamanissito. ‘‘Iti me sotaṃ ahosi atītamaddhānaṃ – iti saddā’’ti, ‘‘iti me ghānaṃ ahosi atītamaddhānaṃ – iti gandhā’’ti, ‘‘iti me jivhā ahosi atītamaddhānaṃ – iti rasā’’ti, ‘‘iti me kāyo ahosi atītamaddhānaṃ – iti phoṭṭhabbā’’ti, ‘‘iti me mano ahosi atītamaddhānaṃ – iti dhammā’’ti tattha na chandarāgapaṭibaddhaṃ hoti viññāṇaṃ, na chandarāgapaṭibaddhattā viññāṇassa na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi pubbamantamanissito. Atha vā yāni tāni pubbe mātugāmena saddhiṃ hasitalapitakīḷitāni na tadassādeti, na taṃ nikāmeti, na ca tena vittiṃ āpajjati. Evampi pubbamantamanissito.
Regarding 'not dependent on the past end': the past end is called the bygone time. With regard to the past time, craving has been abandoned and view has been relinquished. Because of the abandoning of craving and the relinquishing of view, in this way too, one is not dependent on the past end. Alternatively, one does not entertain delight in the thought, “In the past, I was of such a form,” or “In the past, I was of such a feeling … such a perception … such volitional formations … such a consciousness.” In this way too, one is not dependent on the past end. Alternatively, in regard to “Thus was my eye in the past, and thus were forms,” consciousness is not bound by desire and lust; because consciousness is not bound by desire and lust, one does not delight in that. Not delighting in it, in this way too, one is not dependent on the past end. In regard to “Thus was my ear in the past, and thus were sounds,” … “Thus was my nose in the past, and thus were odors,” … “Thus was my tongue in the past, and thus were tastes,” … “Thus was my body in the past, and thus were tactile objects,” … “Thus was my mind in the past, and thus were mental phenomena,” consciousness is not bound by desire and lust; because consciousness is not bound by desire and lust, one does not delight in that. Not delighting in it, in this way too, one is not dependent on the past end. Alternatively, one does not savor, desire, or become satisfied with past laughter, talk, and games with women. In this way too, one is not dependent on the past end.
Pubbamantamanissito (không nương tựa vào quá khứ) có nghĩa là: Quá khứ được gọi là pubbanta (giới hạn quá khứ). Liên quan đến quá khứ, tham ái đã được đoạn trừ, tà kiến đã được từ bỏ. Do tham ái đã được đoạn trừ, do tà kiến đã được từ bỏ. Như vậy cũng là không nương tựa vào quá khứ. Hoặc là, vị ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi ấy (nghĩ rằng): “Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này,” “Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này,” ... “Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này,” ... “Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này,” ... “Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này.” Như vậy cũng là không nương tựa vào quá khứ. Hoặc là: “Như vậy, trong quá khứ, mắt của ta đã có – như vậy, các sắc đã có,” ở nơi ấy, thức không bị trói buộc bởi dục tham; do thức không bị trói buộc bởi dục tham nên không hoan hỷ điều ấy; không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là không nương tựa vào quá khứ. “Như vậy, trong quá khứ, tai của ta đã có – như vậy, các âm thanh đã có,” “Như vậy, trong quá khứ, mũi của ta đã có – như vậy, các mùi hương đã có,” “Như vậy, trong quá khứ, lưỡi của ta đã có – như vậy, các vị đã có,” “Như vậy, trong quá khứ, thân của ta đã có – như vậy, các vật xúc chạm đã có,” “Như vậy, trong quá khứ, ý của ta đã có – như vậy, các pháp đã có,” ở nơi ấy, thức không bị trói buộc bởi dục tham; do thức không bị trói buộc bởi dục tham nên không hoan hỷ điều ấy; không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là không nương tựa vào quá khứ. Hoặc là, những sự cười đùa, nói chuyện, vui chơi nào trước đây đã có cùng với người nữ, vị ấy không thưởng thức điều ấy, không mong muốn điều ấy, và không đạt đến sự thỏa thích với điều ấy. Như vậy cũng là không nương tựa vào quá khứ.
Vemajjhe nupasaṅkheyyoti. Vemajjhaṃ vuccati paccuppanno addhā. Paccuppannaṃ addhānaṃ ārabbha taṇhā pahīnā, diṭṭhi paṭinissaṭṭhā. Taṇhāya pahīnattā, diṭṭhiyā paṭinissaṭṭhattā rattoti nupasaṅkheyyo, duṭṭhoti nupasaṅkheyyo, mūḷhoti nupasaṅkheyyo, vinibaddhoti nupasaṅkheyyo, parāmaṭṭhoti nupasaṅkheyyo, vikkhepagatoti nupasaṅkheyyo, aniṭṭhaṅgatoti nupasaṅkheyyo, thāmagatoti nupasaṅkheyyo; te abhisaṅkhārā pahīnā; abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyā nupasaṅkheyyo, nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi yena saṅkhaṃ gaccheyyāti – vemajjhe nupasaṅkheyyo.
Regarding 'one would not be reckoned in the middle': 'the middle' is called the present time. With regard to the present time, craving has been abandoned and view has been relinquished. Because of the abandoning of craving and the relinquishing of view, one would not be reckoned as ‘passionate,’ ‘hostile,’ ‘deluded,’ ‘bound,’ ‘one who misapprehends,’ ‘one who has attained non-distraction,’ ‘one who has reached an undesirable state,’ or ‘one who has attained strength.’ Those volitional formations have been abandoned. Because of the abandoning of volitional formations, one would not be reckoned by way of destination: as a hell-being, or one in the animal realm, or in the sphere of ghosts, or as a human, or a deva; or as one with form, or without form; or as one with perception, or without perception, or with neither perception nor non-perception. There is no cause, no condition, no reason whereby one might be reckoned. Thus, one would not be reckoned in the middle.
Vemajjhe nupasaṅkheyyo (không thể được tính đếm ở giữa) có nghĩa là: Hiện tại được gọi là vemajjha (ở giữa). Liên quan đến hiện tại, tham ái đã được đoạn trừ, tà kiến đã được từ bỏ. Do tham ái đã được đoạn trừ, do tà kiến đã được từ bỏ, vị ấy không thể được tính đếm là người tham ái, không thể được tính đếm là người sân hận, không thể được tính đếm là người si mê, không thể được tính đếm là người bị trói buộc, không thể được tính đếm là người chấp thủ, không thể được tính đếm là người đạt đến sự tán loạn, không thể được tính đếm là người đạt đến điều không mong muốn, không thể được tính đếm là người đạt đến sức mạnh; các hành ấy đã được đoạn trừ; do các hành đã được đoạn trừ, vị ấy không thể được tính đếm theo cảnh giới, hoặc là chúng sinh địa ngục, hoặc là loài bàng sinh, hoặc là cõi ngạ quỷ, hoặc là người, hoặc là trời, hoặc là có sắc, hoặc là không có sắc, hoặc là có tưởng, hoặc là không có tưởng, hoặc là phi tưởng phi phi tưởng. Không có nhân ấy, không có duyên ấy, không có nguyên nhân ấy mà do đó vị ấy có thể đi vào sự tính đếm – (như vậy là) không thể được tính đếm ở giữa.
Tassa natthi purakkhatanti. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Purekkhārāti dve purekkhārā – taṇhāpurekkhāro ca diṭṭhipurekkhāro ca…pe… ayaṃ taṇhāpurekkhāro…pe… ayaṃ diṭṭhipurekkhāro. Tassa taṇhāpurekkhāro pahīno, diṭṭhipurekkhāro paṭinissaṭṭho. Taṇhāpurekkhārassa pahīnattā, diṭṭhipurekkhārassa paṭinissaṭṭhattā na taṇhaṃ vā diṭṭhiṃ vā purato katvā carati, na taṇhādhajo na taṇhāketu na taṇhādhipateyyo, na diṭṭhidhajo na diṭṭhiketu na diṭṭhādhipateyyo, na taṇhāya vā diṭṭhiyā vā parivārito carati. Evampi tassa natthi purakkhataṃ. Atha vā ‘‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti, ‘‘evaṃvedano siyaṃ… evaṃsañño siyaṃ… evaṃsaṅkhāro siyaṃ… evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti. Evampi tassa natthi purakkhataṃ. Atha vā ‘‘iti me cakkhu siyā anāgatamaddhānaṃ – iti rūpā’’ti appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi tassa natthi purakkhataṃ. ‘‘Iti me sotaṃ siyā anāgatamaddhānaṃ – iti saddā’’ti, ‘‘iti me ghānaṃ siyā anāgatamaddhānaṃ – iti gandhā’’ti, ‘‘iti me jivhā siyā anāgatamaddhānaṃ – iti rasā’’ti, ‘‘iti me kāyo siyā anāgatamaddhānaṃ – iti phoṭṭhabbā’’ti, ‘‘iti me mano siyā anāgatamaddhānaṃ – iti dhammā’’ti appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi tassa natthi purakkhataṃ. Atha vā ‘‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro’’ti vā appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandato. Evampi tassa natthi purakkhataṃ.
Regarding 'for him there is nothing put forward': 'for him' means for the Arahant, the one whose taints are destroyed. 'Things put forward' are twofold: putting craving forward and putting view forward… This is putting craving forward… This is putting view forward. For him, putting craving forward is abandoned, putting view forward is relinquished. Because putting craving forward has been abandoned and putting view forward has been relinquished, he does not fare having put craving or view before him. He is not one with craving as his banner, craving as his standard, craving as his sovereign; not one with view as his banner, view as his standard, view as his sovereign. He does not fare surrounded by craving or view. In this way also, for him there is nothing put forward. Alternatively, he does not entertain delight in the thought, “May I be of such a form in the future,” “May I be of such a feeling… may I be of such a perception… may I be of such formations… may I be of such a consciousness in the future,” thus he does not entertain delight in that. In this way also, for him there is nothing put forward. Alternatively, thinking, “May my eye be thus in the future—may forms be thus,” he does not set his mind on attaining what has not been attained. Because his mind is not set on it, he does not delight in that; not delighting in it. In this way also, for him there is nothing put forward. Thinking, “May my ear be thus in the future—may sounds be thus,” “May my nose be thus in the future—may odors be thus,” “May my tongue be thus in the future—may tastes be thus,” “May my body be thus in the future—may tactile objects be thus,” “May my mind be thus in the future—may mental phenomena be thus,” he does not set his mind on attaining what has not been attained. Because his mind is not set on it, he does not delight in that; not delighting in it. In this way also, for him there is nothing put forward. Alternatively, thinking, “By this virtue, or observance, or austerity, or holy life, may I become a deva or one among the devas,” he does not set his mind on attaining what has not been attained. Because his mind is not set on it, he does not delight in that; not delighting in it. In this way also, for him there is nothing put forward.
Tassa natthi purakkhataṃ (vị ấy không có gì được đặt trước) có nghĩa là: Tassa (vị ấy) là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc. Purekkhārā (những thứ được đặt trước) có hai loại: sự đặt trước tham ái và sự đặt trước tà kiến... đây là sự đặt trước tham ái... đây là sự đặt trước tà kiến. Đối với vị ấy, sự đặt trước tham ái đã được đoạn trừ, sự đặt trước tà kiến đã được từ bỏ. Do sự đặt trước tham ái đã được đoạn trừ, do sự đặt trước tà kiến đã được từ bỏ, vị ấy không hành động với tham ái hay tà kiến được đặt ở phía trước, không có tham ái làm cờ hiệu, không có tham ái làm biểu ngữ, không có tham ái làm chủ tể; không có tà kiến làm cờ hiệu, không có tà kiến làm biểu ngữ, không có tà kiến làm chủ tể; không hành động được bao quanh bởi tham ái hay tà kiến. Như vậy cũng là vị ấy không có gì được đặt trước. Hoặc là, vị ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi ấy (nghĩ rằng): “Trong tương lai, ta sẽ có sắc như thế này,” “Trong tương lai, ta sẽ có thọ như thế này,” ... “Trong tương lai, ta sẽ có tưởng như thế này,” ... “Trong tương lai, ta sẽ có hành như thế này,” ... “Trong tương lai, ta sẽ có thức như thế này.” Như vậy cũng là vị ấy không có gì được đặt trước. Hoặc là: “Như vậy, trong tương lai, mắt của ta sẽ có – như vậy, các sắc sẽ có,” vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được; do nhân duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là vị ấy không có gì được đặt trước. “Như vậy, trong tương lai, tai của ta sẽ có – như vậy, các âm thanh sẽ có,” ... “Như vậy, trong tương lai, ý của ta sẽ có – như vậy, các pháp sẽ có,” vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được; do nhân duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là vị ấy không có gì được đặt trước. Hoặc là: “Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào đó,” vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được; do nhân duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là vị ấy không có gì được đặt trước.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Vītataṇho purābhedā, [iti bhagavā]
Pubbamantamanissito;
Vemajjhe nupasaṅkheyyo,
Tassa natthi purakkhata’’nti.
“Devoid of craving before the breakup, not dependent on the past end; in the middle he is not reckoned: for him there is nothing put forward.”
“Vị ấy không còn tham ái trước khi thân hoại, không nương tựa vào quá khứ, không thể được tính đếm ở giữa, và không có gì được đặt ở phía trước.”
85.
85.
85.
Akkodhano asantāsī, avikatthī akukkuco;
Mantabhāṇī anuddhato, sa ve vācāyato muni.
Not angry and not trembling, not boastful and free from remorse, speaking with wisdom and not arrogant—that sage is truly restrained in speech.
“Vị thánh nhân có lời nói được chế ngự, thật vậy, là người không giận dữ, không run sợ, không khoe khoang, không hối hận, nói lời có trí tuệ, không trạo cử.”
Akkodhano asantāsīti. Akkodhanoti yañhi kho vuttaṃ. Api ca kodho tāva vattabbo. Dasahākārehi kodho jāyati – ‘‘anatthaṃ me acarī’’ti kodho jāyati, ‘‘anatthaṃ me caratī’’ti kodho jāyati, ‘‘anatthaṃ me carissatī’’ti kodho jāyati, ‘‘piyassa me manāpassa anatthaṃ acari… anatthaṃ carati… anatthaṃ carissatī’’ti kodho jāyati, ‘‘appiyassa me amanāpassa atthaṃ acari… atthaṃ carati… atthaṃ carissatī’’ti kodho jāyati, aṭṭhāne vā pana kodho jāyati. Yo evarūpo cittassa āghāto paṭighāto, paṭighaṃ paṭivirodho, kopo pakopo sampakopo, doso padoso sampadoso, cittassa byāpatti manopadoso, kodho kujjhanā kujjhitattaṃ, doso dussanā dussitattaṃ, byāpatti byāpajjanā byāpajjitattaṃ, virodho paṭivirodho caṇḍikkaṃ, asuropo † anattamanatā cittassa – ayaṃ vuccati kodho.
“Not angry and not trembling”: As to “not angry,” this has been said. However, anger should first be explained. Anger arises on ten grounds: Anger arises with the thought, ‘They have done me harm.’ Anger arises with the thought, ‘They are doing me harm.’ Anger arises with the thought, ‘They will do me harm.’ Anger arises with the thought, ‘They have done harm to someone dear and pleasing to me … are doing harm … will do harm.’ Anger arises with the thought, ‘They have benefited someone disliked and unpleasing to me … are benefiting … will benefit.’ Or anger arises without due cause. Whatever resentment, repugnance, aversion, opposition, rage, fury, intense fury, hatred, malice, intense malice, ill will of the mind, corruption of the mind, anger, the act of being angry, the state of being angry, hatred, the act of hating, the state of being hateful, ill will, the act of bearing ill will, the state of bearing ill will, opposition, hostility, ferocity, ill-temper, and displeasure of the mind—this is called anger.
“Không phẫn nộ, không run sợ”. Về “Không phẫn nộ”, điều này đã được nói đến. Hơn nữa, trước hết cần phải nói về sự phẫn nộ. Sự phẫn nộ sanh khởi qua mười cách: Sự phẫn nộ sanh khởi (với ý nghĩ): “Nó đã làm điều bất lợi cho ta”; sự phẫn nộ sanh khởi (với ý nghĩ): “Nó đang làm điều bất lợi cho ta”; sự phẫn nộ sanh khởi (với ý nghĩ): “Nó sẽ làm điều bất lợi cho ta”; sự phẫn nộ sanh khởi (với ý nghĩ): “Nó đã làm... đang làm... sẽ làm điều bất lợi cho người thân yêu, người vừa ý của ta”; sự phẫn nộ sanh khởi (với ý nghĩ): “Nó đã làm... đang làm... sẽ làm điều lợi cho người không thân yêu, người không vừa ý của ta”; hoặc là, sự phẫn nộ sanh khởi một cách vô cớ. Bất cứ sự va chạm, sự chống đối, sự đối kháng, sự thù nghịch của tâm như thế này; sự tức giận, sự nổi giận, sự phẫn nộ tột cùng; sự sân hận, sự sân hận nặng, sự sân hận tột cùng; sự tổn hại của tâm, sự ô nhiễm của tâm; sự phẫn nộ, trạng thái phẫn nộ, bản chất phẫn nộ; sự sân hận, trạng thái sân hận, bản chất sân hận; sự tổn hại, trạng thái tổn hại, bản chất tổn hại; sự chống đối, sự thù nghịch, tính hung dữ, sự thô lỗ, sự không hài lòng của tâm – tất cả những điều này được gọi là sự phẫn nộ.
Api ca kodhassa adhimattaparittatā veditabbā. Atthi kañci † kālaṃ kodho cittāvilakaraṇamatto hoti, na ca tāva mukhakulānavikulāno hoti; atthi kañci kālaṃ kodho mukhakulānavikulānamatto hoti, na ca tāva hanusañcopano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho hanusañcopanamatto hoti, na ca tāva pharusavācaṃ nicchāraṇo † hoti; atthi kañci kālaṃ kodho pharusavācaṃ nicchāraṇamatto hoti, na ca tāva disāvidisānuvilokano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho disāvidisānuvilokanamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaparāmasano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaparāmasanamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaabbhukkiraṇo hoti; atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaabbhukkiraṇamatto hoti, na ca tāva daṇḍasatthaabhinipātano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho daṇḍasatthaabhinipātamatto hoti, na ca tāva chinnavicchinnakaraṇo hoti; atthi kañci kālaṃ kodho chinnavicchinnakaraṇamatto hoti, na ca tāva sambhañjanapalibhañjano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho sambhañjanapalibhañjanamatto hoti, na ca tāva aṅgamaṅgaapakaḍḍhano hoti; atthi kañci kālaṃ kodho aṅgamaṅgaapakaḍḍhanamatto hoti, na ca tāva jīvitāvoropano † hoti; atthi kañci kālaṃ kodho jīvitāvoropanamatto hoti, na ca tāva sabbacāgapariccāgāya saṇṭhito hoti. Yato kodho parapuggalaṃ ghāṭetvā attānaṃ ghāṭeti, ettāvatā kodho paramussadagato paramavepullappatto hoti. Yassa so kodho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati akkodhano. Kodhassa pahīnattā akkodhano, kodhavatthussa pariññātattā akkodhano, kodhahetussa upacchinnattā akkodhanoti – akkodhano.
Moreover, the greatness and smallness of anger should be understood. There are times when anger merely agitates the mind, but does not yet cause the face to contort; there are times when anger causes the face to contort, but does not yet cause the jaws to tremble; there are times when anger causes the jaws to tremble, but does not yet cause harsh speech to be uttered; there are times when anger causes harsh speech to be uttered, but does not yet cause one to look around in all directions; there are times when anger causes one to look around in all directions, but does not yet cause one to take up a stick or a weapon; there are times when anger causes one to take up a stick or a weapon, but does not yet cause one to raise it; there are times when anger causes one to raise it, but does not yet cause one to strike with it; there are times when anger causes one to strike with it, but does not yet cause cutting and severing; there are times when anger causes cutting and severing, but does not yet cause smashing and crushing; there are times when anger causes smashing and crushing, but does not yet cause the tearing of limb from limb; there are times when anger causes the tearing of limb from limb, but does not yet cause the taking of life; there are times when anger causes the taking of life, but is not yet resolved upon total abandonment. When anger, having killed another person, kills oneself, to that extent anger has reached its highest flood, has attained its greatest proliferation. One for whom that anger is abandoned, cut off, quieted, pacified, unable to arise again, burnt up by the fire of knowledge, is called ‘one free from anger.’ Because of the abandoning of anger, he is free from anger; because of the full understanding of the ground for anger, he is free from anger; because of the cutting off of the cause of anger, he is free from anger—thus, ‘one free from anger.’
Hơn nữa, cần phải biết mức độ mạnh yếu của sự phẫn nộ. Có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ làm tâm vẩn đục, chứ chưa đến nỗi mặt nhăn nhó, cau có; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ mặt nhăn nhó, cau có, chứ chưa đến nỗi hàm run rẩy; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ hàm run rẩy, chứ chưa đến nỗi thốt ra lời thô ác; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ thốt ra lời thô ác, chứ chưa đến nỗi nhìn quanh các phương và các hướng phụ; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ nhìn quanh các phương và các hướng phụ, chứ chưa đến nỗi cầm lấy gậy gộc, vũ khí; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ cầm lấy gậy gộc, vũ khí, chứ chưa đến nỗi vung gậy gộc, vũ khí; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ vung gậy gộc, vũ khí, chứ chưa đến nỗi tấn công bằng gậy gộc, vũ khí; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ tấn công bằng gậy gộc, vũ khí, chứ chưa đến nỗi làm cho bị cắt đứt, tan nát; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ làm cho bị cắt đứt, tan nát, chứ chưa đến nỗi đập vỡ, nghiền nát; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ đập vỡ, nghiền nát, chứ chưa đến nỗi chặt đứt tay chân; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ chặt đứt tay chân, chứ chưa đến nỗi tước đoạt mạng sống; có lúc sự phẫn nộ chỉ ở mức độ tước đoạt mạng sống, chứ chưa đến nỗi sẵn sàng từ bỏ tất cả. Khi nào sự phẫn nộ (thúc đẩy) giết người khác rồi tự giết mình, chừng đó sự phẫn nộ đã đi đến mức độ tột cùng, đã đạt đến sự lan rộng tột bậc. Người nào mà sự phẫn nộ ấy đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, người ấy được gọi là người không phẫn nộ. Do đã từ bỏ sự phẫn nộ nên là người không phẫn nộ; do đã liễu tri đối tượng của sự phẫn nộ nên là người không phẫn nộ; do đã cắt đứt nguyên nhân của sự phẫn nộ nên là người không phẫn nộ – (đó là ý nghĩa của) không phẫn nộ.
Asantāsīti idhekacco tāsī hoti uttāsī parittāsī, so tasati na uttasati parittasati bhāyati santāsaṃ āpajjati. Kulaṃ vā na labhāmi, gaṇaṃ vā na labhāmi, āvāsaṃ vā na labhāmi, lābhaṃ vā na labhāmi, yasaṃ vā na labhāmi, pasaṃsaṃ vā na labhāmi, sukhaṃ vā na labhāmi, cīvaraṃ vā na labhāmi, piṇḍapātaṃ vā na labhāmi, senāsanaṃ vā na labhāmi, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ vā na labhāmi, gilānupaṭṭhākaṃ vā na labhāmi, appaññātomhīti tasati uttasati parittasati bhāyati santāsaṃ āpajjati.
As for 'not trembling': Here, a certain person is a trembler, is terrified, and is beset by fear. He trembles, is terrified, is beset by fear, is afraid, and falls into trepidation. [Thinking,] 'I do not obtain a family of supporters, or a group, or a dwelling, or gain, or a retinue, or praise, or happiness, or robes, or almsfood, or a lodging, or medicinal requisites for the sick, or an attendant for the sick; I am of little wisdom!', he trembles, is terrified, is beset by fear, is afraid, and falls into trepidation.
Về “Không run sợ”: Ở đây, có người là người hay sợ hãi, hay kinh hãi, hay khiếp sợ; người ấy sợ hãi, kinh hãi, khiếp sợ, hoảng sợ, rơi vào trạng thái run rẩy. (Sợ rằng): “Ta không có được gia đình (hộ độ), ta không có được giáo đoàn, ta không có được trú xứ, ta không có được lợi lộc, ta không có được danh tiếng, ta không có được sự tán dương, ta không có được sự an lạc, ta không có được y phục, ta không có được vật thực khất thực, ta không có được sàng tọa, ta không có được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, ta không có được người chăm sóc bệnh, ta là người ít được biết đến”; (vì thế) người ấy sợ hãi, kinh hãi, khiếp sợ, hoảng sợ, rơi vào trạng thái run rẩy.
Idha bhikkhu asantāsī hoti anuttāsī aparittāsī; so na tasati na uttasati na parittasati na bhāyati na santāsaṃ āpajjati. Kulaṃ vā na labhāmi, gaṇaṃ vā na labhāmi, āvāsaṃ vā na labhāmi, lābhaṃ vā na labhāmi, yasaṃ vā na labhāmi, pasaṃsaṃ vā na labhāmi, sukhaṃ vā na labhāmi, cīvaraṃ vā na labhāmi, piṇḍapātaṃ vā na labhāmi, senāsanaṃ vā na labhāmi, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ vā na labhāmi, gilānupaṭṭhākaṃ vā na labhāmi, appaññātomhīti na tasati na uttasati na parittasati na bhāyati na santāsaṃ āpajjatīti – akkodhano asantāsī.
Here, a monk is not a trembler, is not terrified, and is not beset by fear; he does not tremble, is not terrified, is not beset by fear, is not afraid, and does not fall into trepidation. [Thinking,] 'I do not obtain a family of supporters, or a group, or a dwelling, or gain, or a retinue, or praise, or happiness, or robes, or almsfood, or a lodging, or medicinal requisites for the sick, or an attendant for the sick; I am of little wisdom!', he does not tremble, is not terrified, is not beset by fear, is not afraid, and does not fall into trepidation. This is the meaning of 'free from anger, not trembling'.
Ở đây, vị Tỳ khưu là người không sợ hãi, không kinh hãi, không khiếp sợ; vị ấy không sợ hãi, không kinh hãi, không khiếp sợ, không hoảng sợ, không rơi vào trạng thái run rẩy. (Không sợ rằng): “Ta không có được gia đình (hộ độ), ta không có được giáo đoàn, ta không có được trú xứ, ta không có được lợi lộc, ta không có được danh tiếng, ta không có được sự tán dương, ta không có được sự an lạc, ta không có được y phục, ta không có được vật thực khất thực, ta không có được sàng tọa, ta không có được dược phẩm và vật dụng trị bệnh, ta không có được người chăm sóc bệnh, ta là người ít được biết đến”; (vì thế) vị ấy không sợ hãi, không kinh hãi, không khiếp sợ, không hoảng sợ, không rơi vào trạng thái run rẩy – (đó là ý nghĩa của) không phẫn nộ, không run sợ.
Avikatthī akukkucoti. Idhekacco katthī hoti vikatthī, so katthati vikatthati – ahamasmi sīlasampannoti vā vatasampannoti vā sīlabbatasampannoti vā jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā. Uccā kulā pabbajitoti vā mahākulā pabbajitoti vā, mahābhogakulā pabbajitoti vā uḷārabhogakulā pabbajitoti vā, ñāto yasassī gahaṭṭhapabbajitānanti vā, lābhimhi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti vā, suttantikoti vā vinayadharoti vā dhammakathikoti vā, āraññikoti vā piṇḍapātikoti vā paṃsukūlikoti vā tecīvarikoti vā, sapadānacārikoti vā khalupacchābhattikoti vā nesajjikoti vā yathāsanthatikoti vā, paṭhamassa jhānassa lābhīti vā dutiyassa jhānassa lābhīti vā tatiyassa jhānassa lābhīti vā catutthassa jhānassa lābhīti vā, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā katthati vikatthati. Evaṃ na katthati na vikatthati, katthanā vikatthanā ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – avikatthī.
‘One who is not a boaster’: Here, a certain person is a boaster, a braggart; he boasts and brags: ‘I am accomplished in virtue,’ or ‘accomplished in observances,’ or ‘accomplished in virtue and observances’; or by his birth, lineage, ancestry, beauty, wealth, learning, field of work, skill, branch of knowledge, learning, eloquence, or by some other ground whatsoever. He boasts and brags: ‘I have gone forth from a high family,’ or ‘from a great family,’ or ‘from a family of great wealth,’ or ‘from a family of extensive wealth’; or ‘I am well-known and famous among householders and those gone forth’; or ‘I am a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick’; or ‘I am an expert on the suttas,’ or ‘an expert on the Vinaya,’ or ‘a speaker of the Dhamma’; or ‘I am a forest-dweller,’ or ‘an almsfood-eater,’ or ‘a rag-robe-wearer,’ or ‘a triple-robe-wearer,’ or ‘one who eats on a continuous alms-round,’ or ‘one who refuses food offered later,’ or ‘a sitter,’ or ‘one who accepts any lodging’; or ‘I am an obtainer of the first jhāna,’ or ‘of the second jhāna,’ or ‘of the third jhāna,’ or ‘of the fourth jhāna’; or ‘of the attainment of the base of infinite space… of the attainment of the base of infinite consciousness… of the attainment of the base of nothingness… of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception.’ One who does not boast or brag thus, who abstains from boasting and bragging, desists from it, refrains from it, has departed from it, has cast it off, is released from it, is disjoined from it, and dwells with a mind freed from boundaries—this is one who is not a boaster.
Không khoe khoang, không hối hận. Ở đây, có người là người khoe khoang, là người khoe khoang quá mức. Vị ấy khoe khoang, khoe khoang quá mức rằng: ‘Ta là người có đầy đủ giới hạnh,’ hoặc ‘Ta là người có đầy đủ hạnh nguyện,’ hoặc ‘Ta là người có đầy đủ giới hạnh và hạnh nguyện,’ hoặc (khoe khoang) về dòng dõi, về gia tộc, về gia thế, về dung sắc, về tài sản, về học vấn, về nghề nghiệp, về tài nghệ, về kiến thức, về sự học rộng, về tài biện luận, hoặc về một phương diện nào đó khác. Hoặc (khoe khoang rằng): ‘Ta đã xuất gia từ dòng dõi cao quý,’ hoặc ‘Ta đã xuất gia từ dòng dõi danh giá,’ hoặc ‘Ta đã xuất gia từ dòng dõi có nhiều của cải,’ hoặc ‘Ta đã xuất gia từ dòng dõi có của cải dồi dào,’ hoặc ‘Ta là người nổi tiếng, có danh vọng giữa hàng tại gia và xuất gia,’ hoặc ‘Ta là người được cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh,’ hoặc ‘Ta là người thông thuộc Kinh tạng,’ hoặc ‘Ta là người thông thuộc Luật tạng,’ hoặc ‘Ta là người thuyết pháp,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ở rừng,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh khất thực,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh mặc y phấn tảo,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh tam y,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh khất thực từng nhà,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh không ăn thêm sau khi đã từ chối,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ngồi,’ hoặc ‘Ta là người thực hành hạnh ở bất kỳ chỗ nào,’ hoặc ‘Ta là người đắc thiền thứ nhất,’ hoặc ‘Ta là người đắc thiền thứ hai,’ hoặc ‘Ta là người đắc thiền thứ ba,’ hoặc ‘Ta là người đắc thiền thứ tư,’ hoặc ‘Ta là người đắc Không Vô Biên Xứ,’ … ‘Ta là người đắc Thức Vô Biên Xứ,’ … ‘Ta là người đắc Vô Sở Hữu Xứ,’ … ‘Ta là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.’ Vị ấy không khoe khoang, không khoe khoang quá mức như vậy. Vị ấy từ bỏ, tránh xa, lánh xa sự khoe khoang, sự khoe khoang quá mức, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã giải thoát, không còn ràng buộc, sống với tâm không còn giới hạn – (đó là) không khoe khoang.
Akukkucoti. Kukkuccanti hatthakukkuccampi kukkuccaṃ, pādakukkuccampi kukkuccaṃ, hatthapādakukkuccampi kukkuccaṃ, akappiye kappiyasaññitā kappiye akappiyasaññitā, vikāle kālasaññitā kāle vikālasaññitā, avajje vajjasaññitā vajje avajjasaññitā; yaṃ evarūpaṃ kukkuccaṃ kukkuccāyanā kukkuccāyitattaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – idaṃ vuccati kukkuccaṃ.
‘One without remorse’: What is remorse? Remorse over wrongdoing with the hands is remorse; remorse over wrongdoing with the feet is remorse; remorse over wrongdoing with both hands and feet is remorse. It is perceiving the unallowable as allowable, and perceiving the allowable as unallowable; perceiving the wrong time as the right time, and perceiving the right time as the wrong time; perceiving the blameless as blameworthy, and perceiving the blameworthy as blameless. Whatever remorse of this kind, the act of feeling remorse, the state of having felt remorse, mental regret, and vexation of mind—this is called remorse.
Không hối hận. Hối hận (kukkucca) là sự hối hận về tay, hối hận về chân, hối hận về tay và chân, có tưởng là hợp lệ đối với điều không hợp lệ, có tưởng là không hợp lệ đối với điều hợp lệ, có tưởng là đúng thời đối với phi thời, có tưởng là phi thời đối với đúng thời, có tưởng là có tội đối với điều không có tội, có tưởng là không có tội đối với điều có tội. Bất cứ sự hối hận, sự ray rứt, tình trạng ray rứt, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm nào có hình thức như vậy – đây được gọi là sự hối hận.
Api ca dvīhi kāraṇehi uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho? ‘‘Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucarita’’ntiuppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘kataṃ me vacīduccaritaṃ, akataṃ me vacīsucaritaṃ… kataṃ me manoduccaritaṃ, akataṃ me manosucarita’’nti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘kato me pāṇātipāto, akatā me pāṇātipātā veramaṇī’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘kataṃ me adinnādānaṃ, akatā me adinnādānā veramaṇī’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘kato me kāmesumicchācāro, akatā me kāmesumicchācārā veramaṇī’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘kato me musāvādo, akatā me musāvādā veramaṇī’’ti… ‘‘katā me pisuṇā vācā, akatā me pisuṇāya vācāya veramaṇī’’ti… ‘‘katā me pharusā vācā, akatā me pharusāya vācāya veramaṇī’’ti… ‘‘kato me samphappalāpo, akatā me samphappalāpā veramaṇī’’ti… ‘‘katā me abhijjhā, akatā me anabhijjhā’’ti… ‘‘kato me byāpādo, akato me abyāpādo’’ti… ‘‘katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhī’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Evaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho.
Furthermore, remorse, mental regret, and vexation of mind arise from two causes: because of what has been done and because of what has not been done. How do remorse, mental regret, and vexation of mind arise because of what has been done and because of what has not been done? ‘Bodily misconduct has been done by me; bodily good conduct has not been done by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. ‘Verbal misconduct has been done by me; verbal good conduct has not been done by me… Mental misconduct has been done by me; mental good conduct has not been done by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. ‘The destruction of life has been done by me; abstinence from the destruction of life has not been done by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. ‘The taking of what is not given has been done by me; abstinence from taking what is not given has not been done by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. ‘Sexual misconduct has been done by me; abstinence from sexual misconduct has not been done by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. ‘False speech has been done by me; abstinence from false speech has not been done by me’… ‘Slanderous speech has been done by me; abstinence from slanderous speech has not been done by me’… ‘Harsh speech has been done by me; abstinence from harsh speech has not been done by me’… ‘Frivolous chatter has been done by me; abstinence from frivolous chatter has not been done by me’… ‘Covetousness has been done by me; non-covetousness has not been done by me’… ‘Ill will has been done by me; non-ill will has not been done by me’… ‘Wrong view has been held by me; right view has not been held by me’—thus remorse, mental regret, and vexation of mind arise. Thus, because of what has been done and because of what has not been done, remorse, mental regret, and vexation of mind arise.
Lại nữa, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi do hai nguyên nhân: do đã làm và do đã không làm. Thế nào là sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi do đã làm và do đã không làm? ‘Thân ác hạnh đã được ta làm, thân thiện hạnh đã không được ta làm’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm, khẩu thiện hạnh đã không được ta làm… Ý ác hạnh đã được ta làm, ý thiện hạnh đã không được ta làm’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. ‘Sự sát sanh đã được ta làm, sự từ bỏ sát sanh đã không được ta làm’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. ‘Sự trộm cắp đã được ta làm, sự từ bỏ trộm cắp đã không được ta làm’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. ‘Sự tà dâm đã được ta làm, sự từ bỏ tà dâm đã không được ta làm’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. ‘Sự nói dối đã được ta làm, sự từ bỏ nói dối đã không được ta làm’… ‘Lời nói đâm thọc đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói đâm thọc đã không được ta làm’… ‘Lời nói thô ác đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói thô ác đã không được ta làm’… ‘Lời nói vô ích đã được ta nói, sự từ bỏ lời nói vô ích đã không được ta làm’… ‘Lòng tham đã được ta thực hiện, sự không tham đã không được ta thực hiện’… ‘Sân hận đã được ta thực hiện, sự không sân hận đã không được ta thực hiện’… ‘Tà kiến đã được ta thực hiện, chánh kiến đã không được ta thực hiện’ – sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi. Như vậy, sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự dằn vặt trong tâm sanh khởi do đã làm và do đã không làm.
Atha vā ‘‘sīlesumhi na paripūrakārī’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘indriyesumhi aguttadvāro’’ti… ‘‘bhojane amattaññumhī’’ti… ‘‘jāgariyaṃ ananuyuttomhī’’ti… ‘‘na satisampajaññena samannāgatomhī’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro sammappadhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro iddhipādā’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañcindriyānī’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañca balānī’’ti… ‘‘abhāvitā me satta bojjhaṅgā’’ti… ‘‘abhāvito me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’ti… ‘‘dukkhaṃ me apariññāta’’nti… ‘‘samudayo me appahīno’’ti… ‘‘maggo me abhāvito’’ti… ‘‘nirodho me asacchikato’’ti – uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Yassetaṃ kukkuccaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati akukkuccoti – avikatthī akukkuco.
Or else: ‘I am not one who fulfills the moral precepts’—remorse, mental regret, and vexation of mind arise; ‘I have unguarded doors in the sense faculties’… ‘I do not know the measure in food’… ‘I am not devoted to wakefulness’… ‘I am not endowed with mindfulness and clear comprehension’… ‘The four foundations of mindfulness have not been developed by me’… ‘The four right strivings have not been developed by me’… ‘The four bases of spiritual power have not been developed by me’… ‘The five spiritual faculties have not been developed by me’… ‘The five powers have not been developed by me’… ‘The seven factors of enlightenment have not been developed by me’… ‘The Noble Eightfold Path has not been developed by me’… ‘Suffering has not been fully understood by me’… ‘The origin has not been abandoned by me’… ‘The path has not been developed by me’… ‘Cessation has not been realized by me’—remorse, mental regret, and vexation of mind arise. One for whom this remorse is abandoned, cut off at the root, quieted, allayed, incapable of future arising, and burnt up by the fire of knowledge, is called one without remorse. This is the meaning of the term ‘one who is not a boaster, one without remorse’.
Hoặc là (nghĩ rằng): ‘Ta không phải là người thực hành viên mãn các giới’ – sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự cào xé của tâm khởi sanh; (nghĩ rằng): ‘Ta không phòng hộ các căn’... (nghĩ rằng): ‘Ta không biết tiết độ trong ăn uống’... (nghĩ rằng): ‘Ta không chuyên tâm vào sự tỉnh thức’... (nghĩ rằng): ‘Ta không thành tựu chánh niệm và tỉnh giác’... (nghĩ rằng): ‘Bốn niệm xứ của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Bốn chánh cần của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Bốn như ý túc của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Năm căn của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Năm lực của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Bảy giác chi của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Thánh đạo tám ngành của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Khổ của ta chưa được liễu tri’... (nghĩ rằng): ‘Tập của ta chưa được đoạn trừ’... (nghĩ rằng): ‘Đạo của ta chưa được tu tập’... (nghĩ rằng): ‘Diệt của ta chưa được chứng ngộ’ – sự hối hận, sự hối tiếc của tâm, sự cào xé của tâm khởi sanh. Đối với người nào, sự hối hận này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, người ấy được gọi là người không hối hận – (nghĩa là) không khoe khoang, không hối hận.
Mantabhāṇī anuddhatoti. Mantā vuccati paññā. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Mantāya pariggahetvā pariggahetvā vācaṃ bhāsati bahumpi kathento bahumpi bhaṇanto bahumpi dīpayanto bahumpi voharanto. Dukkathitaṃ dubbhaṇitaṃ dullapitaṃ duruttaṃ dubbhāsitaṃ vācaṃ na bhāsatīti – mantabhāṇī. Anuddhatoti. Tattha katamaṃ uddhaccaṃ? Yaṃ cittassa uddhaccaṃ avūpasamo cetaso vikkhepo bhantattaṃ cittassa – idaṃ vuccati uddhaccaṃ. Yassetaṃ uddhaccaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati anuddhatoti – mantabhāṇī anuddhato.
Regarding ‘one who speaks thoughtfully, one who is not restless’ (`mantabhāṇī anuddhato`): `Mantā` is a term for wisdom (`paññā`). That is, the wisdom which is understanding… and so on… non-delusion, investigation of phenomena, right view. Having comprehended and reflected with wisdom, one utters speech. Even when relating much, speaking much, explaining much, or conversing much, one does not utter speech that is ill-spoken, ill-phrased, ill-expressed, ill-articulated, or ill-delivered—this is one who speaks thoughtfully (`mantabhāṇī`). Regarding ‘one who is not restless’ (`anuddhato`): Therein, what is restlessness (`uddhacca`)? Whatever is the mind’s restlessness, its lack of calm, the mind’s distraction, and its state of agitation—this is called restlessness. One for whom this restlessness is abandoned, cut off at the root, quieted, allayed, incapable of future arising, and burnt up by the fire of knowledge, is called one who is not restless (`anuddhato`). Thus: one who speaks thoughtfully, one who is not restless.
Mantabhāṇī anuddhato (lời nói có trí tuệ, không trạo cử). Mantā (lời khuyên) được gọi là trí tuệ. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... cho đến... sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến. Sau khi đã nắm bắt, đã suy xét bằng trí tuệ, vị ấy nói lời nói; dù nói nhiều, dù trình bày nhiều, dù giải thích nhiều, dù luận bàn nhiều, vị ấy không nói lời nói được nói xấu, được trình bày xấu, được thốt ra xấu, được đọc lên xấu, được phát biểu xấu. Do đó là mantabhāṇī (người nói lời có trí tuệ). Anuddhato (không trạo cử). Trong ấy, thế nào là trạo cử? Sự phóng dật của tâm, sự không an tịnh, sự tán loạn của tâm, tình trạng dao động của tâm - đây được gọi là trạo cử. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt, đã làm cho an tịnh, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho không có khả năng sanh khởi, đã thiêu đốt bằng lửa trí tuệ trạng thái trạo cử này, vị ấy được gọi là anuddhato (người không trạo cử). Do đó là mantabhāṇī anuddhato (người nói lời có trí tuệ, không trạo cử).
Sa ve vācāyato munīti. Idha bhikkhu musāvādaṃ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṃvādako lokassa. Pisuṇaṃ vācaṃ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti – ito sutvā na amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya. Iti bhinnānaṃ vā sandhātā, sahitānaṃ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti. Pharusaṃ vācaṃ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti – yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṃ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti – kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī nidhānavatiṃ vācaṃ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasaṃhitaṃ. Catūhi vacīsucaritehi samannāgato catuddosāpagataṃ vācaṃ bhāsati, bāttiṃsāya tiracchānakathāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharati.
‘He is indeed a sage restrained in speech.’ Here, a bhikkhu, having abandoned false speech, abstains from false speech. He is a truth-speaker, one who keeps his word, trustworthy, reliable, not a deceiver of the world. Having abandoned divisive speech, he abstains from divisive speech. He does not repeat there what he has heard here in order to divide those people from these, nor does he repeat here what he has heard there in order to divide these people from those. Thus he is a reconciler of those who are divided and a supporter of those who are united. He delights in harmony, rejoices in harmony, is fond of harmony, and speaks words that create harmony. Having abandoned harsh speech, he abstains from harsh speech. He speaks such words as are blameless, pleasing to the ear, affectionate, going to the heart, courteous, dear and agreeable to the many. Having abandoned idle chatter, he abstains from idle chatter. He speaks at the right time, speaks what is true, speaks on what is beneficial, speaks on the Dhamma and the discipline. He speaks words worth treasuring, which are timely, reasoned, circumscribed, and connected with the goal. Endowed with these four kinds of good verbal conduct, he speaks speech that is free from four faults. He has abstained from the thirty-two kinds of lowly talk, has refrained from them, is aloof from them; he dwells having departed, detached, released, dissociated, with a mind that has established boundaries.
Sa ve vācāyato muni (vị ấy quả là bậc ẩn sĩ có lời nói được chế ngự). Ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ nói dối, là người từ chối nói dối, là người nói thật, kết hợp với sự thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, là người từ chối lời nói đâm thọc: nghe ở đây không kể lại ở nơi kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở nơi kia không kể lại cho những người này để gây chia rẽ những người nọ. Như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc là người củng cố những ai đã hòa hợp, là người yêu thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, là người nói lời tạo ra sự hòa hợp. Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, là người từ chối lời nói thô ác: lời nói nào không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, làm hài lòng nhiều người, vị ấy là người nói lời như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói vô ích, là người từ chối lời nói vô ích: là người nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều lợi ích, nói về Pháp, nói về Luật, là người nói lời đáng được ghi nhớ, vào đúng lúc, có dẫn chứng, có giới hạn, liên hệ đến lợi ích. Vị ấy thành tựu bốn thiện nghiệp về lời nói, nói lời nói đã thoát khỏi bốn lỗi lầm, vị ấy nên xa lánh, từ bỏ, tránh xa, thoát ra, lìa khỏi, giải thoát, không liên hệ với ba mươi hai loại chuyện thế gian, vị ấy sống với tâm đã được xác định ranh giới.
Dasa kathāvatthūni kathesi, seyyathidaṃ – appicchakathaṃ katheti, santuṭṭhīkathaṃ katheti, pavivekakathaṃ… asaṃsaggakathaṃ… vīriyārambhakathaṃ… sīlakathaṃ… samādhikathaṃ… paññākathaṃ… vimuttikathaṃ … vimuttiñāṇadassanakathaṃ… satipaṭṭhānakathaṃ… sammappadhānakathaṃ… iddhipādakathaṃ… indriyakathaṃ… balakathaṃ… bojjhaṅgakathaṃ… maggakathaṃ… phalakathaṃ… nibbānakathaṃ katheti. Vācāyatoti yatto pariyatto gutto gopito rakkhito vūpasanto. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi…pe… saṅgajālamaticca so munīti – sa ve vācāyato muni.
He speaks on the ten topics for conversation, that is: he speaks on fewness of wishes, on contentment, on seclusion, on non-association, on arousing energy, on virtue, on concentration, on wisdom, on liberation, on the knowledge and vision of liberation... on the establishments of mindfulness, on the right strivings, on the bases for spiritual power, on the spiritual faculties, on the powers, on the factors of enlightenment, on the path, on the fruit, on Nibbāna. ‘Restrained in speech’ means he is controlled, well-restrained, guarded, protected, watched over, and quieted. ‘Sage.’ Sagacity is a term for knowledge. That is, the wisdom which is understanding… and so on… non-delusion, investigation of phenomena, right view… and so on… ‘Having passed beyond the net of entanglement, he is a sage.’ Thus, he is indeed a sage restrained in speech.
Vị ấy nói mười đề tài câu chuyện, đó là: nói chuyện về thiểu dục, nói chuyện về tri túc, nói chuyện về độc cư... nói chuyện về không giao du... nói chuyện về tinh tấn... nói chuyện về giới... nói chuyện về định... nói chuyện về tuệ... nói chuyện về giải thoát... nói chuyện về giải thoát tri kiến... nói chuyện về niệm xứ... nói chuyện về chánh cần... nói chuyện về thần túc... nói chuyện về căn... nói chuyện về lực... nói chuyện về giác chi... nói chuyện về đạo... nói chuyện về quả... nói chuyện về Niết-bàn. Vācāyato (có lời nói được chế ngự) là được chế ngự, được chế ngự hoàn toàn, được phòng hộ, được giữ gìn, được bảo vệ, được an tịnh. Muni (bậc ẩn sĩ). Mona (sự im lặng của bậc thánh) được gọi là trí. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... cho đến... sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến... cho đến... vượt qua lưới ái nhiễm, vị ấy là bậc ẩn sĩ. Do đó là sa ve vācāyato muni (vị ấy quả là bậc ẩn sĩ có lời nói được chế ngự).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Akkodhano asantāsī, avikatthī akukkuco;
Mantabhāṇī anuddhato, sa ve vācāyato munī’’ti.
“Not angry and not trembling, not a boaster, without remorse, a thoughtful speaker and not restless: he is indeed the sage restrained in speech.”
“Không sân hận, không run sợ, không khoe khoang, không hối hận; nói lời có trí tuệ, không trạo cử, vị ấy quả là bậc ẩn sĩ có lời nói được chế ngự.”
86.
86.
86.
Nirāsatti anāgate, atītaṃ nānusocati;
Vivekadassī phassesu, diṭṭhīsu ca na nīyati.
“Without attachment to the future, he does not grieve for the past; he sees seclusion in regard to contacts, and is not led by views.”
Không ái nhiễm trong tương lai, không sầu muộn về quá khứ; thấy được sự viễn ly trong các xúc, và không bị dẫn dắt bởi các tà kiến.
Nirāsatti anāgateti. Āsatti vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā āsatti taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti. Evampi nirāsatti anāgate. Atha vā ‘‘evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti, ‘‘evaṃvedano siyaṃ… evaṃsañño siyaṃ… evaṃsaṅkhāro siyaṃ… evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ na samannāneti. Evampi nirāsatti anāgate. Atha vā ‘‘iti me cakkhu siyā anāgatamaddhānaṃ – iti rūpā’’ti appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi nirāsatti anāgate. ‘‘Iti me sotaṃ siyā anāgatamaddhānaṃ – iti saddā’’ti…pe… ‘‘iti me mano siyā anāgatamaddhānaṃ – iti dhammā’’ti appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi nirāsatti anāgate. Atha vā ‘‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’’ti appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ na paṇidahati, cetaso appaṇidhānappaccayā na tadabhinandati; na tadabhinandanto. Evampi nirāsatti anāgate.
Regarding ‘without clinging to the future’ (`nirāsatti anāgate`): Clinging (`āsatti`) is a term for craving (`taṇhā`). That is, lust, passion… and so on… covetousness, greed, an unwholesome root. For one for whom this clinging, this craving, has been abandoned, cut off at the root, quieted, allayed, become incapable of arising, and burnt up by the fire of knowledge—in this way too one is without clinging to the future. Or else, one does not entertain delight in the thought: ‘May I have such a form in the future!’ ‘May I have such a feeling… such a perception… such volitional formations… such consciousness in the future!’—one does not entertain delight in that. In this way too one is without clinging to the future. Or else, one does not set one's mind on obtaining what has not been obtained, thinking: ‘May I have such an eye in the future, and such forms!’ Because one's mind is not set on it, one does not delight in it; not delighting in it. In this way too one is without clinging to the future. ‘May I have such an ear in the future, and such sounds!’… and so on… ‘May I have such a mind in the future, and such mental objects!’—one does not set one's mind on obtaining what has not been obtained. Because one's mind is not set on it, one does not delight in it; not delighting in it. In this way too one is without clinging to the future. Or else, thinking: ‘By this virtue or observance or austerity or holy life, may I become a deva or some kind of deva!’—one does not set one's mind on obtaining what has not been obtained. Because one's mind is not set on it, one does not delight in it; not delighting in it. In this way too one is without clinging to the future.
Nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai). Āsatti (sự ái nhiễm) được gọi là ái. Tham ái nào là sự tham, sự tham đắm... cho đến... lòng tham, tham lam, căn bất thiện. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt, đã làm cho an tịnh, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho không có khả năng sanh khởi, đã thiêu đốt bằng lửa trí tuệ sự ái nhiễm, ái này. Như vậy cũng là nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai). Hoặc là, vị ấy không khởi lên sự hoan hỷ ở nơi đó về việc: “Mong rằng ta sẽ có sắc như vậy trong tương lai,” “Mong rằng ta sẽ có thọ như vậy...”, “Mong rằng ta sẽ có tưởng như vậy...”, “Mong rằng ta sẽ có các hành như vậy...”, “Mong rằng ta sẽ có thức như vậy trong tương lai.” Như vậy cũng là nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai). Hoặc là, vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được về việc: “Mong rằng mắt của ta sẽ như thế này trong tương lai, và các sắc như thế này;” do duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai). “Mong rằng tai của ta sẽ như thế này trong tương lai, và các tiếng như thế này”... cho đến... “Mong rằng ý của ta sẽ như thế này trong tương lai, và các pháp như thế này;” vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được; do duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai). Hoặc là, vị ấy không hướng tâm đến việc đạt được điều chưa đạt được về việc: “Với giới này, hoặc với hạnh này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào đó;” do duyên không hướng tâm, vị ấy không hoan hỷ điều ấy; do không hoan hỷ điều ấy. Như vậy cũng là nirāsatti anāgate (không ái nhiễm trong tương lai).
Atītaṃ nānusocatīti. Vipariṇataṃ vā vatthuṃ na socati, vipariṇatasmiṃ vā vatthusmiṃ na socati, ‘‘cakkhu me vipariṇata’’nti na socati, ‘‘sotaṃ me… ghānaṃ me… jivhā me… kāyo me… rūpā me… saddā me… gandhā me… rasā me… phoṭṭhabbā me… kulaṃ me… gaṇo me… āvāso me… lābho me… yaso me… pasaṃsā me… sukhaṃ me… cīvaraṃ me… piṇḍapāto me… senāsanaṃ me… gilānapaccayabhesajjaparikkhāro me… mātā me… pitā me… bhātā me… bhaginī me… putto me… dhītā me… mittā me… amaccā me… ñātakā me… sālohitā me vipariṇatā’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti – atītaṃ nānusocati.
‘He does not grieve for the past.’ He does not grieve for a thing that has changed, nor does he grieve about a thing that has changed. He does not grieve, thinking: ‘My eye has changed.’ He does not grieve, thinking: ‘My ear… my nose… my tongue… my body… my forms… my sounds… my odors… my tastes… my tangibles… my clan… my group… my dwelling… my gain… my honor… my praise… my happiness… my robe… my almsfood… my lodging… my medicinal requisites for use in sickness… my mother… my father… my brother… my sister… my son… my daughter… my friends… my associates… my kinsmen… my blood relatives have changed.’ He does not grieve, does not become weary, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into delusion. Thus ‘he does not grieve for the past.’
Không sầu muộn quá khứ là thế nào? Vị ấy không sầu muộn về sự vật đã biến hoại, hoặc không sầu muộn khi sự vật đang biến hoại. Vị ấy không sầu muộn rằng: ‘Mắt của ta đã biến hoại,’ ‘tai của ta...,’ ‘mũi của ta...,’ ‘lưỡi của ta...,’ ‘thân của ta...,’ ‘các sắc của ta...,’ ‘các tiếng của ta...,’ ‘các mùi của ta...,’ ‘các vị của ta...,’ ‘các vật xúc chạm của ta...,’ ‘gia tộc của ta...,’ ‘hội chúng của ta...,’ ‘trú xứ của ta...,’ ‘lợi lộc của ta...,’ ‘danh vọng của ta...,’ ‘sự tán dương của ta...,’ ‘sự an lạc của ta...,’ ‘y của ta...,’ ‘vật thực khất thực của ta...,’ ‘sàng tọa của ta...,’ ‘dược phẩm trị bệnh của ta...,’ ‘mẹ của ta...,’ ‘cha của ta...,’ ‘anh em của ta...,’ ‘chị em của ta...,’ ‘con trai của ta...,’ ‘con gái của ta...,’ ‘bạn bè của ta...,’ ‘bằng hữu thân cận của ta...,’ ‘bà con của ta...,’ ‘huyết thống của ta đã biến hoại.’ Vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến si mê. Như vậy là không sầu muộn quá khứ.
Vivekadassī phassesūti. Cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso, adhivacanasamphasso paṭighasamphasso, sukhavedanīyo phasso dukkhavedanīyo phasso adukkhamasukhavedanīyo phasso, kusalo phasso akusalo phasso abyākato phasso, kāmāvacaro phasso rūpāvacaro phasso arūpāvacaro phasso, suññato phasso animitto phasso appaṇihito phasso, lokiyo phasso lokuttaro phasso, atīto phasso anāgato phasso paccuppanno phasso; yo evarūpo phasso phusanā samphusanā samphusitattaṃ – ayaṃ vuccati phasso.
‘He sees seclusion in regard to contacts.’ Eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, body-contact, mind-contact; designation-contact, resistance-contact; contact accompanied by pleasant feeling, contact accompanied by painful feeling, contact accompanied by neither-painful-nor-pleasant feeling; wholesome contact, unwholesome contact, indeterminate contact; contact pertaining to the sense-sphere, contact pertaining to the form-sphere, contact pertaining to the formless-sphere; contact that is empty, contact that is signless, contact that is undirected; worldly contact, supramundane contact; past contact, future contact, present contact. Whatever kind of contact, touching, impingement, state of having been touched there is—this is called contact.
Thấy sự viễn ly trong các xúc là thế nào? Có nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc; danh xưng xúc, đối ngại xúc; xúc tương ưng thọ lạc, xúc tương ưng thọ khổ, xúc tương ưng thọ bất khổ bất lạc; xúc thiện, xúc bất thiện, xúc vô ký; xúc thuộc Dục giới, xúc thuộc Sắc giới, xúc thuộc Vô Sắc giới; xúc Không tánh, xúc Vô tướng, xúc Vô nguyện; xúc thuộc thế gian, xúc siêu thế; xúc quá khứ, xúc vị lai, xúc hiện tại. Bất cứ sự xúc chạm, sự tiếp xúc, sự giao tiếp, bản chất của sự giao tiếp nào có bản chất như vậy – đây được gọi là xúc.
Vivekadassī phassesūti. Cakkhusamphassaṃ vivittaṃ passati attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā, sotasamphassaṃ vivittaṃ passati… ghānasamphassaṃ vivittaṃ passati… jivhāsamphassaṃ vivittaṃ passati… kāyasamphassaṃ vivittaṃ passati… manosamphassaṃ vivittaṃ passati… adhivacanasamphassaṃ vivittaṃ passati… paṭighasamphassaṃ vivittaṃ passati… sukhavedanīyaṃ phassaṃ… dukkhavedanīyaṃ phassaṃ… adukkhamasukhavedanīyaṃ phassaṃ… kusalaṃ phassaṃ… akusalaṃ phassaṃ… abyākataṃ phassaṃ… kāmāvacaraṃ phassaṃ… rūpāvacaraṃ phassaṃ… arūpāvacaraṃ phassaṃ… lokiyaṃ phassaṃ vivittaṃ passati attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā.
One who sees seclusion in contacts: He sees eye-contact as secluded from self or what belongs to self, from what is permanent, stable, eternal, or from what has a nature not subject to change; he sees ear-contact as secluded; he sees nose-contact as secluded; he sees tongue-contact as secluded; he sees body-contact as secluded; he sees mind-contact as secluded; he sees designation-contact as secluded; he sees resistance-contact as secluded; he sees contact associated with pleasant feeling as secluded; he sees contact associated with painful feeling as secluded; he sees contact associated with neither-painful-nor-pleasant feeling as secluded; he sees wholesome contact as secluded; he sees unwholesome contact as secluded; he sees indeterminate contact as secluded; he sees sense-sphere contact as secluded; he sees form-sphere contact as secluded; he sees formless-sphere contact as secluded; he sees mundane contact as secluded from self or what belongs to self, from what is permanent, stable, eternal, or from what has a nature not subject to change.
Thấy sự viễn ly trong các xúc là thế nào? Vị ấy thấy nhãn xúc là trống rỗng khỏi tự ngã, khỏi cái thuộc về tự ngã, khỏi sự thường còn, khỏi sự bền vững, khỏi sự vĩnh hằng, khỏi pháp không biến hoại. Vị ấy thấy nhĩ xúc là trống rỗng... thấy tỷ xúc là trống rỗng... thấy thiệt xúc là trống rỗng... thấy thân xúc là trống rỗng... thấy ý xúc là trống rỗng... thấy danh xưng xúc là trống rỗng... thấy đối ngại xúc là trống rỗng... xúc tương ưng thọ lạc... xúc tương ưng thọ khổ... xúc tương ưng thọ bất khổ bất lạc... xúc thiện... xúc bất thiện... xúc vô ký... xúc thuộc Dục giới... xúc thuộc Sắc giới... xúc thuộc Vô Sắc giới... Vị ấy thấy xúc thuộc thế gian là trống rỗng khỏi tự ngã, khỏi cái thuộc về tự ngã, khỏi sự thường còn, khỏi sự bền vững, khỏi sự vĩnh hằng, khỏi pháp không biến hoại.
Atha vā atītaṃ phassaṃ anāgatehi ca paccuppannehi ca phassehi vivittaṃ passati, anāgataṃ phassaṃ atītehi ca paccuppannehi ca phassehi vivittaṃ passati, paccuppannaṃ phassaṃ atītehi ca anāgatehi ca phassehi vivittaṃ passati. Atha vā ye te phassā ariyā anāsavā lokuttarā suññatapaṭisaññuttā, te phasse vivitte passati rāgena dosena mohena kodhena upanāhena makkhena paḷāsena issāya macchariyena māyāya sāṭheyyena thambhena sārambhena mānena atimānena madena pamādena sabbakilesehi sabbaduccaritehi sabbadarathehi sabbapariḷāhehi sabbasantāpehi sabbākusalābhisaṅkhārehi vivitte passatīti – vivekadassī phassesu.
Or else, he sees past contact as secluded from future and present contacts; future contact as secluded from past and present contacts; present contact as secluded from past and future contacts. Or else, he sees those contacts that are noble, taintless, supramundane, connected with emptiness, as secluded from lust, hatred, delusion, anger, resentment, contempt, insolence, envy, stinginess, deceit, dishonesty, obstinacy, rivalry, conceit, arrogance, intoxication, negligence, from all defilements, from all wrong conduct, from all torments, from all burning distresses, from all afflictions, and from all unwholesome formations. Thus, this is one who sees seclusion in contacts.
Hoặc là, vị ấy thấy xúc quá khứ là tách biệt khỏi các xúc vị lai và hiện tại; thấy xúc vị lai là tách biệt khỏi các xúc quá khứ và hiện tại; thấy xúc hiện tại là tách biệt khỏi các xúc quá khứ và vị lai. Hoặc là, những xúc nào là bậc Thánh, không lậu hoặc, siêu thế, tương ưng với không tánh, vị ấy thấy các xúc ấy là tách biệt khỏi tham, sân, si, phẫn nộ, oán hận, não hại, tật đố, ganh tỵ, xan tham, xảo trá, gian manh, ngoan cố, hiếu thắng, ngã mạn, quá mạn, say đắm, phóng dật; thấy là tách biệt khỏi tất cả phiền não, tất cả ác hạnh, tất cả ưu não, tất cả nhiệt não, tất cả thiêu đốt, tất cả hành bất thiện. Như vậy là thấy sự viễn ly trong các xúc.
Diṭṭhīsu ca na nīyatīti. Tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So diṭṭhiyā na yāyati na nīyati na vuyhati na saṃharīyati; napi taṃ diṭṭhigataṃ sārato pacceti na paccāgacchatīti – diṭṭhīsu ca na nīyati.
And he is not led by views. For him, the sixty-two kinds of wrong views have been abandoned, uprooted, stilled, pacified, made incapable of arising, and burned by the fire of knowledge. He does not go, is not led, is not carried away, is not carried along by views. Nor does he believe in that wrong view as essential, nor does he return to it. This is the meaning of the phrase 'And he is not led by views'.
Và không bị dẫn dắt trong các tà kiến là thế nào? Đối với vị ấy, sáu mươi hai tà kiến đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không đi theo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn đi, không bị mang đi bởi tà kiến; vị ấy cũng không tin tưởng, không quay trở lại với tà kiến ấy về phương diện cốt lõi. Như vậy là không bị dẫn dắt trong các tà kiến.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Nirāsatti anāgate, atītaṃ nānusocati;
Vivekadassī phassesu, diṭṭhīsu ca na nīyatī’’ti.
“Without attachment to the future, he grieves not for the past; seeing seclusion in contacts, he is not led by views.”
‘Không luyến ái trong tương lai, Không sầu muộn việc quá khứ; Thấy viễn ly trong các xúc, Và không bị dẫn bởi tà kiến.’
87.
87.
87.
Patilīno akuhako, apihālu amaccharī;
Appagabbho ajeguccho, pesuṇeyye ca no yuto.
Withdrawn, unfeigning, not covetous, not avaricious, unpresumptuous, not loathsome, and not engaged in malicious speech.
Ẩn mình, không xảo trá, không tham lam, không xan tham; không thô lỗ, không đáng chê, và không dính líu vào lời đâm thọc.
Patilīno akuhakoti. Patilīnoti rāgassa pahīnattā patilīno, dosassa pahīnattā patilīno, mohassa pahīnattā patilīno, kodhassa… upanāhassa … makkhassa… paḷāsassa… issāya… macchariyassa…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ pahīnattā patilīno. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘kathañca, bhikkhave, bhikkhu patilīno hoti? Imassa, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu patilīno hotī’’ti – patilīno.
Withdrawn, unfeigning: Withdrawn because lust has been abandoned, withdrawn because hatred has been abandoned, withdrawn because delusion has been abandoned, withdrawn because anger… resentment… disparagement… insolence… envy… stinginess… and all unwholesome formations have been abandoned. As the Blessed One has said: “And how, bhikkhus, is a bhikkhu withdrawn? For this bhikkhu, the conceit ‘I am’ has been abandoned, its root cut off, made like a palm stump, brought to non-existence, subject to no further arising in the future. Thus, bhikkhus, a bhikkhu is withdrawn.” —Withdrawn.
Ẩn mình, không xảo trá là thế nào? Ẩn mình có nghĩa là ẩn mình do đã từ bỏ tham, ẩn mình do đã từ bỏ sân, ẩn mình do đã từ bỏ si, ... phẫn nộ... oán hận... não hại... tật đố... ganh tỵ... xan tham... cho đến... ẩn mình do đã từ bỏ tất cả các hành bất thiện. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu ẩn mình? Này các Tỳ khưu, ở đây, đối với vị Tỳ khưu, ngã mạn ‘tôi là’ đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không hiện hữu, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu ẩn mình.’ Như vậy là ẩn mình.
Akuhakoti tīṇi kuhanavatthūni – paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
Unfeigning: There are three grounds for deceit: deceit regarding the use of requisites, deceit regarding demeanor, and deceit consisting of hinting.
Không xảo trá là thế nào? Có ba cơ sở của sự xảo trá: cơ sở của sự xảo trá được gọi là sự thọ dụng các vật dụng, cơ sở của sự xảo trá được gọi là oai nghi, và cơ sở của sự xảo trá được gọi là lời nói bóng gió.
Katamaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idha gahapatikā bhikkhuṃ nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi. So pāpiccho icchāpakato atthiko cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ bhiyyokamyataṃ upādāya cīvaraṃ paccakkhāti, piṇḍapātaṃ paccakkhāti, senāsanaṃ paccakkhāti, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paccakkhāti. So evamāha – ‘‘kiṃ samaṇassa mahagghena cīvarena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo susānā vā saṅkārakūṭā vā pāpaṇikā vā nantakāni uccinitvā saṅghāṭiṃ katvā dhāreyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena piṇḍapātena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo uñchācariyāya piṇḍiyālopena jīvikaṃ kappeyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena senāsanena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo rukkhamūliko vā assa sosāniko vā abbhokāsiko vā. Kiṃ samaṇassa mahagghena gilānapaccayabhesajjaparikkhārena! Etaṃ sāruppaṃ yaṃ samaṇo pūtimuttena vā haritakīkhaṇḍena vā osadhaṃ kareyyā’’ti. Tadupādāya lūkhaṃ cīvaraṃ dhāreti, lūkhaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjati, lūkhaṃ senāsanaṃ paṭisevati, lūkhaṃ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭisevati. Tamenaṃ gahapatikā evaṃ jānanti – ‘‘ayaṃ samaṇo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo dhutavādo’’ti bhiyyo bhiyyo nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi. So evamāha – ‘‘tiṇṇaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati. Saddhāya sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, deyyadhammassa sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, dakkhiṇeyyānaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati. ‘Tumhākañcevāyaṃ saddhā atthi, deyyadhammo ca saṃvijjati, ahañca paṭiggāhako. Sacehaṃ na paṭiggahessāmi, evaṃ tumhe puññena paribāhirā bhavissanti. Na mayhaṃ iminā attho. Api ca tumhākaṃyeva anukampāya paṭiggaṇhāmī’’’ti. Tadupādāya bahumpi cīvaraṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi piṇḍapātaṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭiggaṇhāti. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the ground for deceit called ‘the partaking of requisites’? Here, householders invite a bhikkhu with robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick. Being of evil desires, overcome by longing, and desiring robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick, on account of desiring more, he rejects a robe, rejects alms-food, rejects lodging, and rejects medicinal requisites for the sick. He says thus: “What use is an expensive robe for an ascetic? It is fitting that an ascetic, having collected rags from a charnel ground, a rubbish heap, or a market, and having made a patchwork robe, should wear it. What use is expensive alms-food for an ascetic? It is fitting that an ascetic should maintain his livelihood by the practice of gleaning with lumps of food obtained by morsels. What use is expensive lodging for an ascetic? It is fitting that an ascetic should be a dweller at the foot of a tree, a charnel-ground dweller, or an open-air dweller. What use are expensive medicinal requisites for the sick for an ascetic? It is fitting that an ascetic should make medicine with fermented urine or a piece of myrobalan fruit.” On account of this, he wears a coarse robe, partakes of coarse alms-food, uses a coarse lodging, and uses coarse medicinal requisites for the sick. The householders know him thus: “This ascetic is of few desires, content, secluded, unsociable, of aroused energy, and an advocate of ascetic practices.” They invite him again and again with robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick. He says thus: “Due to the presence of three things, a faithful clansman generates much merit. Due to the presence of faith, a faithful clansman generates much merit; due to the presence of the gift, a faithful clansman generates much merit; due to the presence of worthy recipients, a faithful clansman generates much merit. You have this faith, the gift is available, and I am the recipient. If I do not accept, you will thus be excluded from merit. I have no need for this, but I accept out of compassion for you alone.” On account of this, he accepts many robes, much alms-food, many lodgings, and many medicinal requisites for the sick. Whatever frowning of such a nature, the act of frowning, deceit, the manner of being deceitful, and the state of being deceitful—this is the ground for deceit called ‘the partaking of requisites’.
Thế nào là căn nguyên của sự giả dối được gọi là sự thọ dụng vật dụng? Ở đây, các gia chủ thỉnh mời vị tỳ khưu với y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, mong muốn y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng, vì muốn có được nhiều hơn nên từ chối y phục, từ chối vật thực, từ chối sàng tọa, từ chối dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy nói như vầy: – ‘Sa-môn cần gì y phục đắt tiền! Điều này mới thích hợp: vị Sa-môn lượm những miếng giẻ rách từ nghĩa địa, hoặc đống rác, hoặc cửa tiệm rồi may thành y tăng-già-lê mà mặc. Sa-môn cần gì vật thực đắt tiền! Điều này mới thích hợp: vị Sa-môn sống bằng cách đi khất thực lượm lặt từng miếng cơm. Sa-môn cần gì sàng tọa đắt tiền! Điều này mới thích hợp: vị Sa-môn sống dưới gốc cây, hoặc ở nghĩa địa, hoặc ngoài trời. Sa-môn cần gì dược phẩm trị bệnh và các vật dụng đắt tiền! Điều này mới thích hợp: vị Sa-môn làm thuốc bằng nước tiểu mục hoặc một miếng kha tử.’ Do đó, vị ấy mặc y thô xấu, dùng vật thực thô xấu, sử dụng sàng tọa thô xấu, sử dụng dược phẩm trị bệnh và các vật dụng thô xấu. Các gia chủ biết về vị ấy như vầy: – ‘Vị Sa-môn này ít ham muốn, biết đủ, sống độc cư, không giao du, tinh tấn, là người nói về hạnh đầu-đà,’ rồi lại càng thỉnh mời nhiều hơn với y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy nói như vầy: – ‘Do sự hiện diện của ba điều, người thiện nam tử có tín tâm tạo được nhiều phước báu. Do sự hiện diện của tín tâm, người thiện nam tử có tín tâm tạo được nhiều phước báu; do sự hiện diện của vật thí, người thiện nam tử có tín tâm tạo được nhiều phước báu; do sự hiện diện của người đáng cúng dường, người thiện nam tử có tín tâm tạo được nhiều phước báu. Các vị có tín tâm này, vật thí cũng có sẵn, và tôi là người thọ nhận. Nếu tôi không nhận, như vậy các vị sẽ bị ra ngoài phước báu. Tôi không có nhu cầu với vật này. Tuy nhiên, tôi nhận là vì lòng bi mẫn đối với các vị.’ Do đó, vị ấy nhận nhiều y phục, nhận nhiều vật thực, nhận nhiều dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Bất cứ sự cau có, vẻ cau có, sự giả dối, cách thức giả dối, bản chất giả dối nào như vậy – đây là căn nguyên của sự giả dối được gọi là sự thọ dụng vật dụng.
Katamaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo, ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti, gamanaṃ saṇṭhapeti ṭhānaṃ saṇṭhapeti nisajjaṃ saṇṭhapeti sayanaṃ saṇṭhapeti, paṇidhāya gacchati paṇidhāya tiṭṭhati paṇidhāya nisīdati paṇidhāya seyyaṃ kappeti, samāhito viya gacchati samāhito viya tiṭṭhati samāhito viya nisīdati samāhito viya seyyaṃ kappeti, āpāthakajjhāyīva hoti. Yā evarūpā iriyāpathassa ṭhapanā āṭhapanā † saṇṭhapanā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the ground for deceit called ‘deceit regarding demeanor’? Here, a certain person, being of evil desires, overcome by longing, and with the intention of being esteemed, thinks, “In this way people will esteem me.” He composes his walking, composes his standing, composes his sitting, and composes his lying down. He walks with deliberation, stands with deliberation, sits with deliberation, and lies down with deliberation. He walks as if concentrated, stands as if concentrated, sits as if concentrated, and lies down as if concentrated; he appears to be one who meditates in the presence of others. Whatever such placing, posturing, and composing of demeanor, frowning, the act of frowning, deceit, the manner of being deceitful, and the state of being deceitful—this is the ground for deceit called ‘deceit regarding demeanor’.
Thế nào là căn nguyên của sự giả dối được gọi là oai nghi? Ở đây, có người có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, có ý muốn được tôn kính, nghĩ rằng: ‘Như vậy, mọi người sẽ tôn kính ta,’ rồi sắp đặt việc đi, sắp đặt việc đứng, sắp đặt việc ngồi, sắp đặt việc nằm; đi với sự mong cầu, đứng với sự mong cầu, ngồi với sự mong cầu, nằm với sự mong cầu; đi như người có định, đứng như người có định, ngồi như người có định, nằm như người có định; dường như là người trầm tư trong tầm mắt của người khác. Bất cứ sự sắp đặt, sự sắp đặt kỹ lưỡng, sự sắp đặt tốt đẹp nào về oai nghi, sự cau có, vẻ cau có, sự giả dối, cách thức giả dối, bản chất giả dối nào như vậy – đây là căn nguyên của sự giả dối được gọi là oai nghi.
Katamaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo, ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti, ariyadhammasannissitaṃ vācaṃ bhāsati. ‘‘Yo evarūpaṃ cīvaraṃ dhāreti so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpaṃ pattaṃ dhāreti… lohathālakaṃ dhāreti… dhammakaraṇaṃ dhāreti… parisāvanaṃ dhāreti… kuñcikaṃ dhāreti… upāhanaṃ dhāreti… kāyabandhanaṃ dhāreti… āyogaṃ dhāreti so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yassa evarūpo upajjhāyo so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yassa evarūpo ācariyo… evarūpā samānupajjhāyakā… samānācariyakā… mittā… sandiṭṭhā… sambhattā… sahāyā so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpe vihāre vasati so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpe aḍḍhayoge vasati… pāsāde vasati… hammiye vasati… guhāyaṃ vasati… leṇe vasati… kuṭiyā vasati… kūṭāgāre vasati… aṭṭe vasati … māḷe vasati… uddaṇḍe vasati… upaṭṭhānasālāyaṃ vasati… maṇḍape vasati… rukkhamūle vasati, so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati.
What is the ground for deceit called ‘allusive talk’? Here, a certain person, being of evil desires, overcome by longing, and with the intention of being esteemed, thinks, “In this way people will esteem me,” and speaks words connected to the noble Dhamma. He says, “Whoever wears such a robe is an ascetic of great power.” He says, “Whoever carries such a bowl… a copper bowl… a water pot… a water strainer… a waistband… a shoulder strap is an ascetic of great power.” He says, “Whoever has such a preceptor is an ascetic of great power.” He says, “Whoever has such a teacher… such fellow residents with the same preceptor… such fellow residents with the same teacher… such friends… such acquaintances… such companions… such comrades is an ascetic of great power.” He says, “Whoever dwells in such a monastery is an ascetic of great power.” He says, “Whoever dwells in such a gabled dwelling… in a mansion… in a flat-roofed mansion… in a cave… in a rock-shelter… in a hut… in a peaked-roof building… on a watchtower… on a platform… in a storehouse… in an assembly hall… in a pavilion… at the root of a tree, is an ascetic of great power.”
Thế nào là căn nguyên của sự giả dối được gọi là lời nói bóng gió? Ở đây, có người có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, có ý muốn được tôn kính, nghĩ rằng: ‘Như vậy, mọi người sẽ tôn kính ta,’ rồi nói lời nói liên quan đến Thánh pháp. Vị ấy nói rằng: ‘Vị Sa-môn nào mặc y như thế này là người có đại thần lực;’ ‘vị nào mang bát như thế này... mang bát đồng... mang bình lọc nước... mang túi lọc nước... mang dây lưng... mang dải vải, vị Sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ ‘vị nào có thầy tế độ như thế này, vị Sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ ‘vị nào có thầy giáo thọ như thế này... có bạn đồng thầy tế độ... có bạn đồng thầy giáo thọ... có bạn bè... có người quen biết... có người thân thiết... có bạn đồng hành, vị Sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ ‘vị nào sống trong tịnh xá như thế này, vị Sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ ‘vị nào sống trong nhà nóc cong như thế này... sống trong lâu đài... sống trong nhà có gác thượng... sống trong hang động... sống trong sơn động... sống trong am thất... sống trong nhà có nóc nhọn... sống trong tháp canh... sống trong nhà sàn... sống trong kho chứa... sống trong pháp đường... sống trong nhà lều... sống dưới gốc cây, vị Sa-môn ấy là người có đại thần lực.’
Atha vā korajikakorajiko † bhākuṭikabhākuṭiko kuhakakuhako lapakalapako mukhasambhāviko, ‘‘ayaṃ samaṇo imāsaṃ evarūpānaṃ santānaṃ vihārasamāpattīnaṃ lābhī’’ti tādisaṃ gambhīraṃ gūḷhaṃ nipuṇaṃ paṭicchannaṃ lokuttaraṃ suññatāpaṭisaṃyuttaṃ kathaṃ kathesi. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu. Yassimāni tīṇi kuhanavatthūni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni, so vuccati akuhakoti – patilīno akuhako.
Or else, being very scowling, habitually frowning, very deceitful, a great prattler, and one who extols with his own mouth, he speaks a talk that is profound, abstruse, subtle, concealed, supramundane, and connected with emptiness, implying: 'This ascetic is a gainer of such peaceful meditative attainments.' Whatever frowning of such a nature, the act of frowning, deceit, the manner of being deceitful, and the state of being deceitful—all this is the ground for deceit called ‘allusive talk.’ One for whom these three grounds for deceit have been abandoned, utterly cut off, stilled, calmed, made incapable of arising, and burned by the fire of knowledge, is called 'one who is not deceitful'; he is withdrawn, not deceitful.
Hoặc là, vị ấy rất cau có, rất hay nhăn mặt, rất xảo quyệt, rất hay khoác lác, tự tán dương mình, rồi nói một bài pháp như vậy, sâu sắc, thâm thúy, vi tế, che giấu, siêu thế, liên quan đến tánh Không, (với ngụ ý rằng): ‘Vị Sa-môn này đã chứng đắc các thiền chứng và các quả chứng an tịnh như thế này.’ Bất cứ sự cau có, vẻ cau có, sự giả dối, cách thức giả dối, bản chất giả dối nào như vậy – đây là căn nguyên của sự giả dối được gọi là lời nói bóng gió. Người nào đã đoạn trừ, cắt đứt, làm cho an tịnh, làm cho lắng dịu ba căn nguyên của sự giả dối này, khiến chúng không có khả năng sanh khởi lại, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không giả dối – ẩn mình, không giả dối.
Apihālu amaccharīti. Pihā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā pihā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati apihālu. So rūpe na piheti, sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ … nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme na piheti na icchati na sādiyati na pattheti nābhijappatīti – apihālu. Amaccharīti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ maccharaṃ maccharāyanā maccharāyitattaṃ vevicchaṃ kadariyaṃ kaṭukañcukatā aggahitattaṃ cittassa – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Api ca khandhamacchariyampi macchariyaṃ, dhātumacchariyampi macchariyaṃ, āyatanamacchariyampi macchariyaṃ gāho – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Yassetaṃ macchariyaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati amaccharīti – apihālu amaccharī.
'Free from desire and free from stinginess.' Desire is called craving. That which is lust, passion... <and so on> ... covetousness, greed, an unwholesome root. One for whom this desire, this craving, has been abandoned, cut off at the root, stilled, pacified, made incapable of arising, and burned up by the fire of knowledge, is called 'free from desire.' He does not desire forms, sounds, smells, tastes, tangibles, a family, a group, a dwelling, gain, praise, pleasure, a robe, almsfood, a lodging, medicinal requisites for the sick, the desire realm, the form realm, the formless realm, desire-realm existence, form-realm existence, formless-realm existence, existence with perception, existence without perception, existence with neither-perception-nor-non-perception, existence with one constituent, existence with four constituents, existence with five constituents, the past, the future, the present, or things seen, heard, sensed, and cognized. He does not desire them, wish for them, delight in them, long for them, or yearn for them—thus he is 'free from desire.' 'Free from stinginess' means the five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings, families, gains, appearance, and the Dhamma. Whatever stinginess of this sort—miserliness, avarice, possessiveness, meanness, hard-heartedness, and an ungenerous state of mind—this is called 'stinginess.' Moreover, stinginess regarding the aggregates is stinginess; stinginess regarding the elements is stinginess; stinginess regarding the sense bases, this grasping, is called stinginess. One for whom this stinginess has been abandoned, cut off at the root, stilled, pacified, made incapable of arising, and burned up by the fire of knowledge, is called 'free from stinginess.' Thus: 'Free from desire and free from stinginess.'
Không tham muốn, không bỏn xẻn. Sự tham muốn được gọi là ái. Sự tham ái nào, sự tham luyến nào... cho đến... sự tham lam, sự tham, là bất thiện căn. Người nào đã đoạn tận, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã thiêu đốt bằng ngọn lửa trí tuệ cái sự tham muốn, cái ái này, người ấy được gọi là người không tham muốn. Vị ấy không tham muốn sắc, không tham muốn tiếng... hương... vị... xúc... dòng họ... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... sự tán dương... sự an lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh và vật dụng... cõi Dục... cõi Sắc... cõi Vô Sắc... Dục hữu... Sắc hữu... Vô Sắc hữu... Tưởng hữu... Vô Tưởng hữu... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng hữu... Nhất Uẩn hữu... Tứ Uẩn hữu... Ngũ Uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức; vị ấy không mong muốn, không ưa thích, không cầu mong, không khao khát – (đó là) người không tham muốn. Không bỏn xẻn là có năm sự bỏn xẻn: bỏn xẻn trú xứ, bỏn xẻn dòng họ, bỏn xẻn lợi lộc, bỏn xẻn dung sắc, bỏn xẻn Pháp. Sự bỏn xẻn, tánh bỏn xẻn, trạng thái bỏn xẻn, sự mong muốn riêng, sự keo kiệt, sự cứng lòng, sự không rộng rãi của tâm như thế này – điều này được gọi là sự bỏn xẻn. Lại nữa, sự bỏn xẻn về uẩn cũng là bỏn xẻn, sự bỏn xẻn về giới cũng là bỏn xẻn, sự bỏn xẻn về xứ, sự chấp thủ – điều này được gọi là sự bỏn xẻn. Người nào đã đoạn tận, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã thiêu đốt bằng ngọn lửa trí tuệ cái sự bỏn xẻn này, người ấy được gọi là người không bỏn xẻn – (nghĩa là) không tham muốn, không bỏn xẻn.
Appagabbho ajegucchoti. Pāgabbhiyanti tīṇi pāgabbhiyāni – kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ, vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ, cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ. Katamaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ? Idhekacco saṅghagatopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, gaṇagatopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, bhojanasālāyampi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, jantāgharepi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, udakatitthepi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ pavisantopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ paviṭṭhopi kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
'Not impudent and not contemptible.' There are three kinds of impudence: bodily impudence, verbal impudence, and mental impudence. What is bodily impudence? Here, a certain person displays bodily impudence when amidst the Saṅgha, when amidst a group, in the dining hall, in the steam-bath house, at the bathing place, when entering a village, and after having entered a village.
Không táo bạo, không đáng chê. Táo bạo là có ba sự táo bạo: sự táo bạo về thân, sự táo bạo về lời, sự táo bạo về ý. Thế nào là sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa Tăng chúng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, khi đến giữa hội chúng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở trong nhà ăn cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở trong nhà tắm hơi cũng thể hiện sự táo bạo về thân, ở bến nước cũng thể hiện sự táo bạo về thân, khi đang đi vào trong làng cũng thể hiện sự táo bạo về thân, khi đã đi vào trong làng cũng thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ saṅghagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco saṅghagato acittīkārakato † there bhikkhū ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvāpi nisīdati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ saṅghagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the midst of the Saṅgha? Here, a certain person in the midst of the Saṅgha, disrespectfully, stands jostling the elder bhikkhus, sits jostling them, stands in front of them, sits in front of them, sits on a high seat, sits with his head covered, speaks while standing, and speaks while swinging his arms. In this way one displays bodily impudence in the midst of the Saṅgha.
Thế nào là người khi đến giữa Tăng chúng thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa Tăng chúng, do không cung kính, đứng va chạm vào các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi va chạm vào các vị, đứng phía trước các vị, ngồi phía trước các vị, ngồi trên chỗ ngồi cao, ngồi trùm đầu, đứng mà nói, vung tay mà nói. Như vậy là người khi đến giữa Tăng chúng thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ gaṇagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco gaṇagato acittīkārakato therānaṃ bhikkhūnaṃ anupāhanānaṃ caṅkamantānaṃ saupāhano caṅkamati, nīce caṅkame caṅkamantānaṃ ucce caṅkame caṅkamati, chamāya caṅkamantānaṃ caṅkame caṅkamati, ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvā nisīdati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ gaṇagato kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence within a group? Here, a certain person within a group, disrespectfully, walks with sandals on while the elder bhikkhus are walking without sandals; he walks on a high walking path while they are walking on a low one; he walks on a walking path while they are walking on the ground; he stands jostling them, sits jostling them, stands in front of them, sits in front of them, sits on a high seat, sits with his head covered, speaks while standing, and speaks while swinging his arms. In this way one displays bodily impudence within a group.
Thế nào là người khi đến giữa hội chúng thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đến giữa hội chúng, do không cung kính, trong khi các vị tỳ khưu trưởng lão đang kinh hành không mang giày dép thì mình lại mang giày dép mà kinh hành; trong khi các vị đang kinh hành ở đường kinh hành thấp thì mình lại kinh hành ở đường kinh hành cao; trong khi các vị đang kinh hành trên mặt đất thì mình lại kinh hành trên đường kinh hành; đứng va chạm vào các vị, ngồi va chạm vào các vị, đứng phía trước các vị, ngồi phía trước các vị, ngồi trên chỗ ngồi cao, ngồi trùm đầu, đứng mà nói, vung tay mà nói. Như vậy là người khi đến giữa hội chúng thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ bhojanasālāyaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco bhojanasālāyaṃ acittīkārakato there bhikkhū anupakhajja nisīdati, navepi bhikkhū āsanena paṭibāhati, ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, sasīsaṃ pārupitvāpi nisīdati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ bhojanasālāyaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the dining hall? Here, a certain bhikkhu in the dining hall, without showing respect, sits down encroaching upon the elder bhikkhus, and he also debars the junior bhikkhus from their seats. He stands while jostling them, and he sits while jostling them. He stands in front of them, and he sits in front of them. He also sits on a high seat. He also sits having covered his head. He speaks while standing, and he speaks while gesticulating with his arms. In this way, one displays bodily impudence in the dining hall.
Thế nào là (người) ở trong nhà ăn thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở trong nhà ăn, do không cung kính, ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới, đứng va chạm vào các vị, ngồi va chạm vào các vị, đứng phía trước các vị, ngồi phía trước các vị, ngồi trên chỗ ngồi cao, ngồi trùm đầu, đứng mà nói, vung tay mà nói. Như vậy là (người) ở trong nhà ăn thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ jantāghare kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco jantāghare acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi tiṭṭhati, ghaṭṭayantopi nisīdati, puratopi tiṭṭhati, puratopi nisīdati, uccepi āsane nisīdati, anāpucchampi anajjhiṭṭhopi kaṭṭhaṃ pakkhipati, dvārampi pidahati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ jantāghare kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence in the steam-bath house? Here, a certain bhikkhu in the steam-bath house, without showing respect, stands while jostling the elder bhikkhus, and he sits while jostling them. He stands in front of them, and he sits in front of them. He also sits on a high seat. Without having asked and without being invited, he puts firewood on the fire and closes the door. He speaks while gesticulating with his arms. In this way, one displays bodily impudence in the steam-bath house.
Thế nào là (người) ở trong nhà tắm hơi thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở trong nhà tắm hơi, do không cung kính, đứng va chạm vào các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi va chạm vào các vị, đứng phía trước các vị, ngồi phía trước các vị, ngồi trên chỗ ngồi cao; không hỏi, không được yêu cầu mà bỏ củi vào, và đóng cửa lại; vung tay mà nói. Như vậy là (người) ở trong nhà tắm hơi thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ udakatitthe kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco udakatitthe acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi otarati, puratopi otarati, ghaṭṭayantopi nhāyati †, puratopi nhāyati, uparitopi nhāyati, ghaṭṭayantopi uttarati, puratopi uttarati, uparitopi uttarati. Evaṃ udakatitthe kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence at a watering place? Here, a certain bhikkhu at a watering place, without showing respect, goes down into the water while jostling the elder bhikkhus, and he goes down in front of them. He bathes while jostling them, he bathes in front of them, and he bathes upstream of them. He comes out of the water while jostling them, he comes out in front of them, and he comes out upstream of them. In this way, one displays bodily impudence at a watering place.
Thế nào là (người) ở bến nước thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người ở bến nước, do không cung kính, xuống nước va chạm vào các vị tỳ khưu trưởng lão, xuống nước phía trước các vị, tắm va chạm vào các vị, tắm phía trước các vị, tắm phía trên dòng nước (của các vị), lên bờ va chạm vào các vị, lên bờ phía trước các vị, lên bờ phía trên dòng nước (của các vị). Như vậy là (người) ở bến nước thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ antaragharaṃ pavisanto kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ pavisanto acittīkārakato there bhikkhū ghaṭṭayantopi gacchati, puratopi gacchati, vokkammāpi therānaṃ bhikkhūnaṃ purato purato gacchati. Evaṃ antaragharaṃ pavisanto kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one display bodily impudence when entering a village? Here, a certain bhikkhu, when entering a village, without showing respect, walks while jostling the elder bhikkhus, and he walks in front of them. Having passed by, he walks right in front of the elder bhikkhus. In this way, one displays bodily impudence when entering a village.
Thế nào là (người) khi đang đi vào trong làng thể hiện sự táo bạo về thân? Ở đây, có người khi đang đi vào trong làng, do không cung kính, đi va chạm vào các vị tỳ khưu trưởng lão, đi phía trước các vị, và vượt qua mà đi trước mặt các vị tỳ khưu trưởng lão. Như vậy là (người) khi đang đi vào trong làng thể hiện sự táo bạo về thân.
Kathaṃ antaragharaṃ paviṭṭho kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ paviṭṭho, ‘‘na pavisa †, bhante’’ti vuccamāno pavisati, ‘‘na tiṭṭha, bhante’’ti vuccamāno tiṭṭhati, ‘‘na nisīda, bhante’’ti vuccamāno nisīdati, anokāsampi pavisati, anokāsepi tiṭṭhati, anokāsepi nisīdati, yānipi tāni honti kulānaṃ ovarakāni gūḷhāni ca paṭicchannāni ca. Yattha kulitthiyo kuladhītaro kulasuṇhāyo kulakumāriyo nisīdanti, tatthapi sahasā pavisati kumārakassapi siraṃ parāmasati. Evaṃ antaragharaṃ paviṭṭho kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti – idaṃ kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does a monk who has entered a village display bodily impudence? Here, a certain monk, having entered a village, when told, 'Do not enter, venerable sir,' enters; when told, 'Do not stand, venerable sir,' he stands; when told, 'Do not sit, venerable sir,' he sits. He also enters an inappropriate place, stands in an inappropriate place, and sits in an inappropriate place. And there are those inner rooms of families that are concealed and covered, where women of the family, daughters of the family, daughters-in-law of the family, and young maidens of the family are sitting; there too he enters abruptly. He also strokes a young boy's head. In this way, a monk who has entered a village displays bodily impudence. This is how one displays bodily impudence.
Làm thế nào người đã đi vào trong xóm làng biểu lộ sự táo bạo về thân? Ở đây, có người đã đi vào trong xóm làng, đang được nói rằng: ‘Thưa ngài, xin đừng đi vào,’ vẫn đi vào; đang được nói rằng: ‘Thưa ngài, xin đừng đứng lại,’ vẫn đứng lại; đang được nói rằng: ‘Thưa ngài, xin đừng ngồi xuống,’ vẫn ngồi xuống; cũng đi vào nơi không thích hợp, cũng đứng lại ở nơi không thích hợp, cũng ngồi xuống ở nơi không thích hợp. Và những nơi nào là phòng riêng của các gia đình, kín đáo và che khuất, nơi mà các phụ nữ trong gia đình, các con gái trong gia đình, các con dâu trong gia đình, các thiếu nữ trong gia đình đang ngồi, người ấy cũng đi vào nơi ấy một cách đột ngột, cũng xoa đầu của đứa bé trai. Như vậy, người đã đi vào trong xóm làng biểu lộ sự táo bạo về thân – đây là biểu lộ sự táo bạo về thân.
Katamaṃ vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco saṅghagatopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, gaṇagatopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti, antaragharaṃ paviṭṭhopi vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
What is verbal impudence? Here, a certain one displays verbal impudence even when amidst the Saṅgha, displays verbal impudence even when amidst a group, and displays verbal impudence even after having entered a village.
Thế nào là biểu lộ sự táo bạo về lời nói? Ở đây, có người cũng khi đến giữa Tăng chúng biểu lộ sự táo bạo về lời nói, cũng khi đến giữa nhóm biểu lộ sự táo bạo về lời nói, cũng khi đã đi vào trong xóm làng biểu lộ sự táo bạo về lời nói.
Kathaṃ saṅghagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco saṅghagato acittīkārakato there bhikkhū anāpucchaṃ vā anajjhiṭṭho vā ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, pātimokkhaṃ uddisati, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ saṅghagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one who is amidst the Saṅgha display verbal impudence? Here, a certain monk who is amidst the Saṅgha, being disrespectful, without having asked the elder monks and without being invited, teaches the Dhamma to the monks who have come to the monastery, answers questions, and recites the Pātimokkha. He also speaks while standing, and he also speaks while gesticulating with his arms. In this way, one who is amidst the Saṅgha displays verbal impudence.
Làm thế nào người đến giữa Tăng chúng biểu lộ sự táo bạo về lời nói? Ở đây, có người đến giữa Tăng chúng, không tỏ lòng kính trọng, không hỏi ý kiến hoặc không được thỉnh mời các vị tỳ khưu trưởng lão, lại nói Pháp, trả lời câu hỏi, tụng đọc Pātimokkha; cũng nói trong khi đang đứng, cũng nói trong khi vung tay. Như vậy, người đến giữa Tăng chúng biểu lộ sự táo bạo về lời nói.
Kathaṃ gaṇagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco gaṇagato acittīkārakato there bhikkhū anāpucchaṃ vā anajjhiṭṭho vā ārāmagatānaṃ bhikkhūnaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Ārāmagatānaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ dhammaṃ bhaṇati, pañhaṃ visajjeti, ṭhitakopi bhaṇati, bāhāvikkhepakopi bhaṇati. Evaṃ gaṇagato vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti.
How does one who is amidst a group display verbal impudence? Here, a certain monk who is amidst a group, being disrespectful, without having asked the elder monks and without being invited, teaches the Dhamma to the monks who have come to the monastery, answers questions, also speaks while standing, and also speaks while gesticulating with his arms. He teaches the Dhamma to the nuns, male lay followers, and female lay followers who have come to the monastery, answers questions, also speaks while standing, and also speaks while gesticulating with his arms. In this way, one who is amidst a group displays verbal impudence.
Làm thế nào người đến giữa nhóm biểu lộ sự táo bạo về lời nói? Ở đây, có người đến giữa nhóm, không tỏ lòng kính trọng, không hỏi ý kiến hoặc không được thỉnh mời các vị tỳ khưu trưởng lão, lại nói Pháp, trả lời câu hỏi cho các vị tỳ khưu ở trong tu viện; cũng nói trong khi đang đứng, cũng nói trong khi vung tay. (Người ấy) nói Pháp, trả lời câu hỏi cho các vị tỳ khưu ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ ở trong tu viện; cũng nói trong khi đang đứng, cũng nói trong khi vung tay. Như vậy, người đến giữa nhóm biểu lộ sự táo bạo về lời nói.
Kathaṃ antaragharaṃ paviṭṭho vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti? Idhekacco antaragharaṃ paviṭṭho itthiṃ vā kumāriṃ vā evamāha – ‘‘itthaṃnāme itthaṃgotte kiṃ atthi? Yāgu atthi, bhattaṃ atthi, khādanīyaṃ atthi. Kiṃ pivissāma, kiṃ bhuñjissāma, kiṃ khādissāma? Kiṃ vā atthi, kiṃ vā me dassathā’’ti vippalapati, yā evarūpā vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappanā lālappitattaṃ. Evaṃ antaragharaṃ paviṭṭho vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ dasseti – idaṃ vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ.
How does one who has entered a village display verbal impudence? Here, a certain one, having entered a village, speaks to a woman or a girl thus: 'You of such-and-such name and such-and-such clan, what is there? Is there gruel? Is there rice? Is there solid food? What shall we drink? What shall we eat? What shall we chew? Or what is there? Or what will you give me?'—he prattles. Such speech is idle chatter, babbling, prattle, prattling, a state of prattling. Thus, one who has entered a village displays verbal impudence—this is verbal impudence.
Làm thế nào người đã đi vào trong xóm làng biểu lộ sự táo bạo về lời nói? Ở đây, có người đã đi vào trong xóm làng nói với người phụ nữ hoặc thiếu nữ như vầy: ‘Này người có tên như thế, có dòng họ như thế, có gì không? Có cháo không, có cơm không, có vật thực cứng không? Chúng ta sẽ uống gì, chúng ta sẽ ăn gì, chúng ta sẽ dùng món cứng gì? Hoặc có gì không, hoặc quý vị sẽ cho tôi gì?’ rồi nói lảm nhảm. Lời nói nào có dạng như vậy là nói lảm nhảm, nói luyên thuyên, nói ba hoa, sự nói ba hoa, tình trạng nói ba hoa. Như vậy, người đã đi vào trong xóm làng biểu lộ sự táo bạo về lời nói – đây là sự táo bạo về lời nói.
Katamaṃ cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ? Idhekacco na uccā kulā pabbajito samāno uccā kulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena, na mahākulā pabbajito samāno mahākulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena, na mahābhogakulā pabbajito samāno mahābhogakulā pabbajitena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena, na uḷārabhogakulā pabbajito samāno… na suttantiko samāno suttantikena saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena, na vinayadharo samāno… na dhammakathiko samāno… na āraññiko samāno… na piṇḍapātiko samāno… na paṃsukūliko samāno… na tecīvariko samāno… na sapadānacāriko samāno… na khalupacchābhattiko samāno… na nesajjiko samāno… na yathāsanthatiko samāno… na paṭhamassa jhānassa lābhī samāno paṭhamassa jhānassa lābhinā saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena…pe… na nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhī samāno nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhinā saddhiṃ sadisaṃ attānaṃ dahati cittena – idaṃ cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ. Yassimāni tīṇi pāgabbhiyāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni, so vuccati appagabbhoti – appagabbho.
What is mental impudence? Here, a certain one, not having gone forth from a high family, considers himself equal in mind to one who has gone forth from a high family; not having gone forth from a great family, he considers himself equal in mind to one who has gone forth from a great family; not having gone forth from a family of great wealth, he considers himself equal in mind to one who has gone forth from a family of great wealth; not having gone forth from a family of extensive wealth… not being a master of the Suttas, he considers himself equal in mind to one who is a master of the Suttas; not being a master of the Vinaya… not being a preacher of the Dhamma… not being a forest-dweller… not being one who lives on alms-food… not being a rag-robe wearer… not being a triple-robe wearer… not being one who goes for alms from house to house… not being one who refuses food offered after the proper time… not being one who practices the sitter's austerity… not being one who accepts whatever seat is offered… not being an attainer of the first jhāna, he considers himself equal in mind to one who is an attainer of the first jhāna… and so on… not being an attainer of the sphere of neither-perception-nor-non-perception, he considers himself equal in mind to one who is an attainer of the sphere of neither-perception-nor-non-perception—this is mental impudence. He for whom these three kinds of impudence are abandoned, cut off at the root, stilled, calmed, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge, is called one without impudence.
Thế nào là sự táo bạo về tâm? Ở đây, có người là người không xuất gia từ dòng họ cao quý, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với người đã xuất gia từ dòng họ cao quý; là người không xuất gia từ dòng họ lớn, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với người đã xuất gia từ dòng họ lớn; là người không xuất gia từ dòng họ có tài sản lớn, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với người đã xuất gia từ dòng họ có tài sản lớn; là người không xuất gia từ dòng họ có tài sản dồi dào... là người không phải là bậc thông thuộc Kinh Tạng, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với bậc thông thuộc Kinh Tạng; là người không phải là bậc thông thuộc Luật Tạng... là người không phải là bậc thuyết pháp... là người không phải là vị sống ở rừng... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà ăn khất thực... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà mặc y phấn tảo... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà tam y... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà đi khất thực từng nhà... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà không nhận đồ ăn thêm sau khi đã đủ... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà ngồi... là người không phải là vị thực hành hạnh đầu đà ở bất cứ chỗ nào được sắp đặt... là người không phải là vị đắc Sơ thiền, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với vị đắc Sơ thiền... cho đến... là người không phải là vị đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, lại đặt mình ngang bằng bằng tâm ý với vị đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định – đây là sự táo bạo về tâm. Đối với người nào, ba sự táo bạo này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt hoàn toàn, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi lại, đã được đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, người ấy được gọi là người không táo bạo – người không táo bạo.
Ajegucchoti. Atthi puggalo jeguccho, atthi ajeguccho. Katamo ca puggalo jeguccho? Idhekacco puggalo dussīlo hoti pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto – ayaṃ vuccati puggalo jeguccho. Atha vā kodhano hoti upāyāsabahulo, appampi vutto samāno abhisajjati kuppati byāpajjati patiṭṭhīyati, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti – ayaṃ vuccati puggalo jeguccho. Atha vā kodhano hoti upanāhī, makkhī hoti paḷāsī, issukī hoti maccharī, saṭho hoti māyāvī, thaddho hoti atimānī, pāpiccho hoti micchādiṭṭhi †, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādānaggāhī duppaṭinissaggī – ayaṃ vuccati puggalo jeguccho.
Regarding 'not reprehensible.' There is a person who is reprehensible, and there is a person who is not reprehensible. And what kind of person is reprehensible? Here, a certain person is immoral, of evil nature, of impure and suspect conduct, whose actions are concealed; not a recluse, though claiming to be a recluse; not practicing the noble life, though claiming to practice the noble life; inwardly rotten, oozing, and born of filth—this is called a reprehensible person. Or else, one is angry and prone to vexation; even when spoken to slightly, they become displeased, get angry, become hostile, and recalcitrant, and make manifest anger, ill will, and discontent—this is called a reprehensible person. Or else, one is angry and bears a grudge; is a denigrator and contemptuous; is envious and stingy; is fraudulent and deceitful; is stubborn and conceited; has evil wishes and wrong view; is one who clings to their own views, grasps wrongly, and is difficult to make relinquish—this is called a reprehensible person.
Về từ ‘không đáng ghê tởm’. Có hạng người đáng ghê tởm, có hạng người không đáng ghê tởm. Và thế nào là hạng người đáng ghê tởm? Ở đây, có hạng người là người ác giới, có các pháp ác, có hành vi đáng ngờ không trong sạch, có hành động che giấu, không phải là sa-môn nhưng tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh nhưng tự nhận là sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, sanh ra như đồ rác rưởi – người này được gọi là hạng người đáng ghê tởm. Hoặc là, là người hay phẫn nộ, có nhiều phiền muộn, dù chỉ bị nói chút ít vẫn bực tức, tức giận, có ác tâm, cố chấp, và làm biểu lộ sự phẫn nộ, sự sân hận, và sự không hài lòng – người này được gọi là hạng người đáng ghê tởm. Hoặc là, là người hay phẫn nộ, hay oán hận; là người hay gièm pha, hay cạnh tranh; là người hay ganh tỵ, hay bỏn xẻn; là người xảo trá, hay lừa dối; là người cứng đầu, hay quá kiêu mạn; là người có ước muốn xấu xa, có tà kiến; là người chấp thủ vào quan điểm của mình, hay nắm giữ chặt, khó từ bỏ – người này được gọi là hạng người đáng ghê tởm.
Katamo ca puggalo ajeguccho? Idha bhikkhu sīlavā hoti pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu – ayaṃ vuccati puggalo ajeguccho. Atha vā akkodhano hoti anupāyāsabahulo, bahumpi vutto samāno na abhisajjati na kuppati na byāpajjati na patiṭṭhīyati, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti – ayaṃ vuccati puggalo ajeguccho. Atha vā akkodhano hoti anupanāhī, amakkhī hoti apaḷāsī, anissukī hoti amaccharī, asaṭho hoti amāyāvī, athaddho hoti anatimānī, na pāpiccho hoti na micchādiṭṭhi, asandiṭṭhiparāmāsī hoti anādānaggāhī suppaṭinissaggī – ayaṃ vuccati puggalo ajeguccho. Sabbe bālaputhujjanā jegucchā, puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya aṭṭha ariyapuggalā ajegucchāti – appagabbho ajeguccho.
And what kind of person is not reprehensible? Here, a monk is virtuous, dwells restrained by the monastic code, is endowed with right conduct and resort, sees danger in the slightest faults, and having undertaken them, trains in the training rules—this is called a person who is not reprehensible. Or else, one is not angry and not full of vexation; even when spoken to much, one is not offended, does not get angry, does not become hostile, and does not become obstinate; and one does not make manifest anger, ill will, and displeasure—this is called a person who is not reprehensible. Or else, one is not angry and does not bear grudges; is not denigrating and not contemptuous; is not envious and not stingy; is not fraudulent and not deceitful; is not stubborn and not conceited; does not have evil wishes and does not have wrong view; is not one who clings to their own views, does not grasp wrongly, and relinquishes easily—this is called a person who is not reprehensible. All foolish worldlings are reprehensible; including the virtuous worldling, the eight noble persons are not reprehensible. Thus: 'not arrogant, not reprehensible'.
Và thế nào là hạng người không đáng chê? Ở đây, vị tỳ khưu là người có giới, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự đáng sợ trong các lỗi lầm dù là nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các học giới – vị này được gọi là người không đáng chê. Hoặc là, vị ấy là người không phẫn nộ, không có nhiều phiền muộn, dù bị nói nhiều cũng không bám víu, không tức giận, không sinh ác ý, không cố chấp, không biểu lộ sự tức giận, sự sân hận, và sự không hài lòng – vị này được gọi là người không đáng chê. Hoặc là, vị ấy là người không phẫn nộ, không cột oán; là người không gièm pha, không cạnh tranh; là người không ganh tỵ, không bỏn xẻn; là người không xảo trá, không lừa dối; là người không cứng nhắc, không quá mạn; không có ác dục, không có tà kiến; không cố chấp vào quan điểm của mình, không nắm giữ điều không nên nắm giữ, dễ dàng từ bỏ – vị này được gọi là người không đáng chê. Tất cả kẻ phàm phu ngu dốt đều đáng chê; kể từ bậc thiện phàm phu, tám bậc Thánh nhân là không đáng chê – (đó là ý nghĩa của) không thô lỗ, không đáng chê.
Pesuṇeyye ca no yutoti. Pesuññanti idhekacco pisuṇavāco hoti, ito sutvā amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya. Iti samaggānaṃ vā bhettā †, bhinnānaṃ vā anuppadātā, vaggārāmo, vaggarato, vagganandī, vaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti – idaṃ vuccati pesuññaṃ.
Regarding the phrase 'And is not given to slander': As for slander, it is when a certain person here is a speaker of slanderous speech. Having heard something here, they report it elsewhere to cause division among those people; or having heard something there, they report it to these people to cause division among those other people. Thus, they are a breaker of the united or an instigator of the divided. They delight in factions, enjoy factions, take pleasure in factions, and are a speaker of words that create factions. This is called slander.
Và không dính líu đến lời đâm thọc. Lời đâm thọc là gì? Ở đây, có người có lời nói đâm thọc, nghe từ nơi này, nói lại ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe từ nơi kia, nói lại cho những người này để gây chia rẽ những người nọ. Như vậy, là người phá vỡ sự hòa hợp, hoặc là người xúi giục thêm những người đã chia rẽ; thích thú bè phái, ưa thích bè phái, hoan hỷ trong bè phái, là người nói lời gây ra bè phái – điều này được gọi là lời đâm thọc.
Api ca dvīhi kāraṇehi pesuññaṃ upasaṃharati – piyakamyatāya vā, bhedādhippāyena † vā. Kathaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati? Imassa piyo bhavissāmi, manāpo bhavissāmi, vissāsiko bhavissāmi, abbhantariko bhavissāmi, suhadayo bhavissāmīti. Evaṃ piyakamyatāya pesuññaṃ upasaṃharati. Kathaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati? ‘‘Kathaṃ ime nānā assu vinā assu vaggā assu dvedhā assu dvejjhā assu dve pakkhā assu bhijjeyyuṃ na samāgaccheyyuṃ dukkhaṃ na phāsu † vihareyyu’’nti. Evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati. Yassetaṃ pesuññaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so pesuññe no yuto na yutto na payutto na sammāyuttoti – pesuṇeyye ca no yuto.
Furthermore, one engages in slander for two reasons: either out of a desire to be loved or with the intention of causing division. How does one engage in slander out of a desire to be loved? Thinking: 'I will be dear to this person, I will be pleasing, I will be trusted, I will be an intimate, I will be a good friend.' In this way, one engages in slander out of a desire to be loved. How does one engage in slander with the intention of causing division? Thinking: 'How might these people become separate? How might they be apart? How might they become factions? How might they become twofold? How might they become two groups? How might they become two sides? How might they be broken apart, not come together, and live in misery, not at ease?' In this way, one engages in slander with the intention of causing division. For whom this slander is abandoned, cut off at the root, pacified, allayed, made incapable of arising, and burned by the fire of knowledge, that person is not given to slander, not yoked to it, not engaged in it, not rightly yoked to it. Thus: 'And is not given to slander.'
Lại nữa, người ta thực hiện lời đâm thọc vì hai lý do – hoặc vì muốn được yêu mến, hoặc với ý định gây chia rẽ. Thế nào là thực hiện lời đâm thọc vì muốn được yêu mến? (Nghĩ rằng): 'Ta sẽ trở thành người được yêu mến của người này, sẽ là người làm hài lòng, sẽ là người thân tín, sẽ là người thân cận, sẽ là người có thiện tâm.' Như vậy, người ấy thực hiện lời đâm thọc vì muốn được yêu mến. Thế nào là thực hiện lời đâm thọc với ý định gây chia rẽ? (Nghĩ rằng): 'Làm thế nào để những người này trở nên khác biệt, trở nên xa cách, trở thành bè phái, trở thành hai phe, trở thành hai nhóm, trở thành hai phe phái, làm thế nào để họ bị chia rẽ, không hòa hợp, sống khổ sở, không an ổn?' Như vậy, người ấy thực hiện lời đâm thọc với ý định gây chia rẽ. Người nào mà lời đâm thọc này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy không dính líu, không liên hệ, không gắn bó, không hoàn toàn dính líu đến lời đâm thọc – (đó là ý nghĩa của) và không dính líu đến lời đâm thọc.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Patilīno akuhako, apihālu amaccharī;
Appagabbho ajeguccho, pesuṇeyye ca no yuto’’ti.
“Withdrawn, not deceitful, uncovetous, not stingy; not arrogant, not contemptible, and not given to slander.”
‘Vị ẩn mình, không lừa dối, không tham lam, không bỏn xẻn; không thô lỗ, không đáng chê, và không dính líu đến lời đâm thọc.’
88.
88.
88.
Sātiyesu anassāvī, atimāne ca no yuto;
Saṇho ca paṭibhānavā, na saddho na virajjati.
Not drawn to pleasures, and not given to excessive conceit; gentle and discerning, not blindly faithful, and has no attachment.
Không rò rỉ (tham ái) trong các dục lạc, và không dính líu đến quá mạn; là người tế nhị và có trí tuệ biện tài, không tin tưởng (mù quáng), không tham đắm.
Sātiyesu anassāvīti. Sātiyā vuccanti pañca kāmaguṇā. Kiṃkāraṇā sātiyā vuccanti pañca kāmaguṇā? Yebhuyyena devamanussā pañca kāmaguṇe icchanti sātiyanti patthayanti pihayanti abhijappanti, taṃkāraṇā sātiyā vuccanti pañca kāmaguṇā. Yesaṃ esā sātiyā taṇhā appahīnā tesaṃ cakkhuto rūpataṇhā savati āsavati † sandati pavattati, sotato saddataṇhā… ghānato gandhataṇhā… jivhāto rasataṇhā… kāyato phoṭṭhabbataṇhā… manato dhammataṇhā savati āsavati sandati pavattati. Yesaṃ esā sātiyā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā tesaṃ cakkhuto rūpataṇhā na savati nāsavati † na sandati na pavattati, sotato saddataṇhā…pe… manato dhammataṇhā na savati nāsavati na sandati na pavattatīti – sātiyesu anassāvī.
Regarding 'Not drawn to pleasures': The five strands of sensual pleasure are called 'delights' (sātiyā). For what reason are the five strands of sensual pleasure called 'delights'? Because, for the most part, gods and humans desire, delight in, long for, yearn for, and crave the five strands of sensual pleasure; for that reason, the five strands of sensual pleasure are called 'delights'. For those by whom this delightful craving is not abandoned, craving for forms arises from the eye, flows out, streams forth, and continues; craving for sounds from the ear… craving for smells from the nose… craving for tastes from the tongue… craving for tactile objects from the body… craving for mental objects from the mind arises, flows out, streams forth, and continues. For those by whom this delightful craving is abandoned, cut off, calmed, stilled, unable to arise, and burned by the fire of knowledge, craving for forms does not arise from the eye, does not flow out, does not stream forth, and does not continue; craving for sounds from the ear… and so on… craving for mental objects from the mind does not arise, does not flow out, does not stream forth, and does not continue. This is the meaning of 'not drawn to pleasures'.
Không rò rỉ trong các dục lạc. Năm dục trưởng dưỡng được gọi là 'sātiyā' (dục lạc). Vì lý do gì năm dục trưởng dưỡng được gọi là 'sātiyā'? Phần lớn chư thiên và loài người mong muốn, ưa thích, ao ước, khao khát, thèm muốn năm dục trưởng dưỡng; vì lý do đó, năm dục trưởng dưỡng được gọi là 'sātiyā'. Đối với những ai mà tham ái đối với dục lạc này chưa được đoạn trừ, thì đối với họ, tham ái đối với sắc khởi sanh từ mắt, nó rò rỉ, chảy tràn, tuôn chảy, tiếp diễn; tham ái đối với thanh từ tai... tham ái đối với hương từ mũi... tham ái đối với vị từ lưỡi... tham ái đối với xúc từ thân... tham ái đối với pháp từ ý khởi sanh, nó rò rỉ, chảy tràn, tuôn chảy, tiếp diễn. Đối với những ai mà tham ái đối với dục lạc này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, thì đối với họ, tham ái đối với sắc không khởi sanh từ mắt, không rò rỉ, không chảy tràn, không tuôn chảy, không tiếp diễn; tham ái đối với thanh từ tai... cho đến... tham ái đối với pháp từ ý không khởi sanh, không rò rỉ, không chảy tràn, không tuôn chảy, không tiếp diễn – (đó là ý nghĩa của) không rò rỉ trong các dục lạc.
Atimāne ca no yutoti. Katamo atimāno? Idhekacco paraṃ atimaññati jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Yo evarūpo māno maññanā maññitattaṃ unnati unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassa – ayaṃ vuccati atimāno. Yasseso atimāno pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so atimāne ca no yuto na yutto nappayutto na sammāyuttoti – atimāne ca no yuto.
Regarding 'And not given to excessive conceit': What is excessive conceit? Here, a certain person disparages another on account of birth, lineage, … or some other reason. Whatever conceit of this kind, conceiving, the state of having conceived, loftiness, haughtiness, being like a banner, self-exaltation, and the mind's desire to be a banner—this is called excessive conceit. For the one by whom this excessive conceit is abandoned, cut off, calmed, stilled, unable to arise, and burned by the fire of knowledge, that person is not given to excessive conceit, not yoked, not engaged, not rightly yoked. This is the meaning of 'and not given to excessive conceit'.
Và không dính líu đến quá mạn. Thế nào là quá mạn? Ở đây, có người khinh thường người khác về dòng dõi, hoặc về gia tộc... hoặc về một phương diện nào đó. Sự kiêu mạn, sự tưởng tượng, tình trạng tưởng tượng, sự tự cao, sự tự tôn, sự phất cờ, sự đề cao, sự muốn được như ngọn cờ của tâm như vậy – điều này được gọi là quá mạn. Người nào mà quá mạn này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng tái sanh, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy không dính líu, không liên hệ, không gắn bó, không hoàn toàn dính líu đến quá mạn – (đó là ý nghĩa của) và không dính líu đến quá mạn.
Saṇho ca paṭibhānavāti. Saṇhoti saṇhena kāyakammena samannāgatoti saṇho, saṇhena vacīkammena… saṇhena manokammena samannāgatoti saṇho, saṇhehi satipaṭṭhānehi samannāgatoti saṇho, saṇhehi sammappadhānehi… saṇhehi iddhipādehi… saṇhehi indriyehi… saṇhehi balehi… saṇhehi bojjhaṅgehi samannāgatoti saṇho, saṇhena ariyena aṭṭhaṅgikena maggena samannāgatoti – saṇho.
Regarding 'Gentle and discerning': 'Gentle' means being endowed with gentle bodily action… with gentle verbal action… with gentle mental action… with the gentle foundations of mindfulness… with the gentle right strivings… with the gentle bases of spiritual power… with the gentle spiritual faculties… with the gentle powers… with the gentle factors of enlightenment… with the gentle, noble, eightfold path—thus, one is 'gentle'.
Là người tế nhị và có trí tuệ biện tài. Tế nhị là gì? Là người có thân nghiệp tế nhị, nên gọi là tế nhị; có khẩu nghiệp tế nhị... có ý nghiệp tế nhị, nên gọi là tế nhị; có các niệm xứ tế nhị, nên gọi là tế nhị; có các chánh cần tế nhị... có các như ý túc tế nhị... có các căn tế nhị... có các lực tế nhị... có các giác chi tế nhị, nên gọi là tế nhị; có Thánh đạo Tám ngành tế nhị, nên gọi là tế nhị.
Paṭibhānavāti tayo paṭibhānavanto – pariyattipaṭibhānavā, paripucchāpaṭibhānavā, adhigamapaṭibhānavā. Katamo pariyattipaṭibhānavā? Idhekaccassa pakatiyā pariyāpuṭaṃ hoti – suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ, tassa pariyattiṃ nissāya paṭibhāyati – ayaṃ pariyattipaṭibhānavā. Katamo paripucchāpaṭibhānavā? Idhekacco paripucchitā † hoti attatthe ca ñāyatthe ca lakkhaṇe ca kāraṇe ca ṭhānāṭhāne ca, tassa taṃ paripucchaṃ nissāya paṭibhāyati – ayaṃ paripucchāpaṭibhānavā. Katamo adhigamapaṭibhānavā? Idhekaccassa adhigatā honti cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo cattāro ariyamaggā cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidāyo cha abhiññāyo, tassa attho ñāto dhammo ñāto nirutti ñātā, atthe ñāte attho paṭibhāyati, dhamme ñāte dhammo paṭibhāyati, niruttiyā ñātāya nirutti paṭibhāyati; imesu tīsu ñāṇesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā. Imāya paṭibhānapaṭisambhidāya upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato so vuccati paṭibhānavā. Yassa pariyatti natthi, paripucchā natthi, adhigamo natthi, kiṃ tassa paṭibhāyissatīti – saṇho ca paṭibhānavā.
What is 'one who is wise'? There are three kinds of wise ones: one who is wise through learning, one who is wise through questioning, and one who is wise through attainment. Who is the one wise through learning? Here, a certain person has naturally learned the scriptures—discourses, mixed prose and verse, expositions, verses, inspired utterances, sayings, birth stories, amazing events, and analytical discourses. For them, based on that learning, knowledge arises. This is one who is wise through learning. Who is the one wise through questioning? Here, a certain person is one who questions about meaning, about what accords with meaning, about characteristics, about causes, and about what is possible and impossible. For them, based on that questioning, knowledge arises. This is one who is wise through questioning. Who is the one wise through attainment? Here, a certain person has attained the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases for spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the noble eightfold path, the four noble paths, the four fruits of the contemplative life, the four analytical knowledges, and the six higher knowledges. For them, the meaning is known, the Dhamma is known, and the language is known. When the meaning is known, knowledge of the meaning arises; when the Dhamma is known, knowledge of the Dhamma arises; when the language is known, knowledge of the language arises. The knowledge concerning these three is the analytical knowledge of ready wit. One who is endowed with this analytical knowledge of ready wit, well endowed, attained, well attained, possessed, fully possessed, and furnished—such a one is called 'one who is wise.' For one who has no learning, no questioning, and no attainment, what knowledge will arise for them? This is the meaning of 'gentle and one who is wise.'
Về người có biện tài, có ba hạng người có biện tài: người có biện tài về học thuyết, người có biện tài về chất vấn, người có biện tài về chứng đắc. Thế nào là người có biện tài về học thuyết? Ở đây, có người theo tự nhiên đã học thuộc lòng: kinh, ứng tụng, ký thuyết, kệ ngôn, cảm hứng ngữ, như thị ngữ, bổn sanh, vị tằng hữu pháp, phương quảng; do nương vào học thuyết ấy nên vị ấy có biện tài. Đây là người có biện tài về học thuyết. Thế nào là người có biện tài về chất vấn? Ở đây, có người hay chất vấn về ý nghĩa, về nguyên nhân, về đặc tính, về lý do, về trường hợp và phi trường hợp; do nương vào sự chất vấn ấy nên vị ấy có biện tài. Đây là người có biện tài về chất vấn. Thế nào là người có biện tài về chứng đắc? Ở đây, có người đã chứng đắc bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, bốn vô ngại giải, sáu thắng trí; đối với vị ấy, nghĩa đã được biết, pháp đã được biết, ngữ nguyên đã được biết. Khi nghĩa đã được biết, biện tài về nghĩa khởi lên; khi pháp đã được biết, biện tài về pháp khởi lên; khi ngữ nguyên đã được biết, biện tài về ngữ nguyên khởi lên. Trí tuệ ở trong ba loại trí này là biện tài vô ngại giải. Vị nào được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến trọn vẹn, đã sanh khởi, đã thành tựu, đã hội đủ biện tài vô ngại giải này, vị ấy được gọi là người có biện tài. Người nào không có học thuyết, không có chất vấn, không có chứng đắc, làm sao vị ấy có thể có biện tài được? – (Như vậy là) tinh tế và có biện tài.
Na saddho na virajjatīti. Na saddhoti sāmaṃ sayaṃ abhiññātaṃ attapaccakkhaṃ dhammaṃ na kassaci saddahati aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā devassa vā mārassa vā brahmuno vā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti sāmaṃ sayaṃ abhiññātaṃ…pe… ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti… ‘‘avijjāpaccayā saṅkhārā’’ti…pe… ‘‘jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti… ‘‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’’ti…pe… ‘‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’’ti… ‘‘idaṃ dukkha’’nti…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti… ‘‘ime āsavā’’ti…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti… ‘‘ime dhammā abhiññeyyā’’ti…pe… ‘‘ime dhammā sacchikātabbā’’ti sāmaṃ sayaṃ abhiññātaṃ…pe… channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca, pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca…pe… catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca sāmaṃ sayaṃ abhiññātaṃ…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti sāmaṃ sayaṃ abhiññātaṃ attapaccakkhaṃ dhammaṃ na kassaci saddahati aññassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā devassa vā mārassa vā brahmuno vā †.
Regarding the text, 'He is not credulous, nor does he become dispassionate': 'Not credulous' means that he does not place faith in anyone else—whether another ascetic, a brahmin, a deva, Māra, or Brahmā—regarding a Dhamma that he has directly known for himself, personally witnessed. 'All formations are impermanent'—this he has directly known for himself... 'All formations are suffering'... 'All phenomena are nonself'... 'With ignorance as condition, formations come to be'... 'With birth as condition, aging-and-death comes to be'... 'With the cessation of ignorance comes the cessation of formations'... 'With the cessation of birth comes the cessation of aging-and-death'... 'This is suffering'... 'This is the path leading to the cessation of suffering'... 'These are the taints'... 'This is the path leading to the cessation of the taints'... 'These things are to be directly known'... 'These things are to be realized'... the arising and passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of the six sense bases... the arising and passing away... in the case of the five aggregates of clinging... the arising and passing away, the gratification, the danger, and the escape in the case of the four great elements, this he has directly known for himself... 'Whatever is subject to origination is all subject to cessation'—regarding a Dhamma that he has directly known for himself, personally witnessed, he does not place faith in anyone else, whether another ascetic, a brahmin, a deva, Māra, or Brahmā.
Không tin tưởng, không ly tham. Không tin tưởng có nghĩa là: Vị ấy không tin tưởng bất cứ ai, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên nào khác về pháp mà chính mình đã tự mình thắng tri, tự mình chứng ngộ. ‘Tất cả các hành là vô thường’ là điều đã được chính mình tự mình thắng tri... ‘Tất cả các hành là khổ’... ‘Tất cả các pháp là vô ngã’... ‘Do duyên vô minh, các hành sanh khởi’... ‘Do duyên sanh, già-chết (sanh khởi)’... ‘Do vô minh diệt, các hành diệt’... ‘Do sanh diệt, già-chết diệt’... ‘Đây là khổ’... ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’... ‘Đây là các lậu hoặc’... ‘Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt’... ‘Các pháp này cần được thắng tri’... ‘Các pháp này cần được chứng ngộ’ là điều đã được chính mình tự mình thắng tri... sự sanh khởi và đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ xúc... sự sanh khởi của năm thủ uẩn... sự sanh khởi và đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của bốn đại... là điều đã được chính mình tự mình thắng tri... ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt’ là pháp đã được chính mình tự mình thắng tri, tự mình chứng ngộ, vị ấy không tin tưởng bất cứ ai, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma vương, hay phạm thiên nào khác.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘saddahasi tvaṃ, sāriputta, saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānaṃ; vīriyindriyaṃ… satindriyaṃ… samādhindriyaṃ… paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosāna’’nti?
This was said by the Blessed One: "Sāriputta, do you believe that the faculty of faith, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, has the Deathless as its final end; that the faculty of energy... the faculty of mindfulness... the faculty of concentration... the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, has the Deathless as its final end?"
Điều này đã được Thế Tôn nói: ‘Này Sāriputta, ông có tin rằng tín quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh; tinh tấn quyền... niệm quyền... định quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh không?’
‘‘Na khvāhaṃ ettha, bhante, bhagavato saddhāya gacchāmi saddhindriyaṃ… vīriyindriyaṃ… satindriyaṃ… samādhindriyaṃ… paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānaṃ. Yesaṃ nūnetaṃ, bhante, aññātaṃ assa adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya, te tattha paresaṃ saddhāya gaccheyyuṃ saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānaṃ. Vīriyindriyaṃ… satindriyaṃ… samādhindriyaṃ … paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānaṃ. Yesañca kho etaṃ, bhante, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya, nikkaṅkhā te tattha nibbicikicchā. Saddhindriyaṃ… vīriyindriyaṃ… satindriyaṃ… samādhindriyaṃ… paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānaṃ. Mayhañca kho, etaṃ bhante, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya, nikkaṅkhohaṃ tattha nibbicikiccho. Saddhindriyaṃ… vīriyindriyaṃ… satindriyaṃ… samādhindriyaṃ… paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosāna’’nti.
“Venerable Sir, in this matter, I do not proceed by faith in the Blessed One that the faculty of faith… the faculty of energy… the faculty of mindfulness… the faculty of concentration… the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end. For those, Venerable Sir, for whom this is not known, not seen, not understood, not realized, and not touched by wisdom, they would proceed by faith in others that the faculty of faith, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end. The faculty of energy… the faculty of mindfulness… the faculty of concentration… the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end. But for those, Venerable Sir, for whom this is known, seen, understood, realized, and touched by wisdom, they are without doubt, without uncertainty in this matter. The faculty of faith… the faculty of energy… the faculty of mindfulness… the faculty of concentration… the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end. And for me, Venerable Sir, this is known, seen, understood, realized, and touched by wisdom; I am without doubt, without uncertainty in this matter. The faculty of faith… the faculty of energy… the faculty of mindfulness… the faculty of concentration… the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end.”
‘Bạch Thế Tôn, về vấn đề này, con không đi theo đức tin đối với Thế Tôn rằng tín quyền... tinh tấn quyền... niệm quyền... định quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh. Bạch Thế Tôn, những ai chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu rõ, chưa chứng ngộ, chưa tiếp xúc bằng trí tuệ về điều này, chắc chắn họ phải đi theo đức tin của người khác về vấn đề ấy rằng tín quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh. Tinh tấn quyền... niệm quyền... định quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh. Còn những ai, bạch Thế Tôn, đã biết, đã thấy, đã hiểu rõ, đã chứng ngộ, đã tiếp xúc bằng trí tuệ về điều này, họ không còn do dự, không còn nghi ngờ về vấn đề ấy. Tín quyền... tinh tấn quyền... niệm quyền... định quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh. Và bạch Thế Tôn, điều này đã được con biết, đã được thấy, đã được hiểu rõ, đã được chứng ngộ, đã được tiếp xúc bằng trí tuệ; con không còn do dự, không còn nghi ngờ về vấn đề ấy. Tín quyền... tinh tấn quyền... niệm quyền... định quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh.’
‘‘Sādhu sādhu, sāriputta! Yesañhetaṃ, sāriputta, aññātaṃ assa adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya, te tattha paresaṃ saddhāya gaccheyyuṃ saddhindriyaṃ…pe… paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyanaṃ amatapariyosānanti.
“Good, good, Sāriputta! For those, Sāriputta, for whom this is not known, not seen, not understood, not realized, and not touched by wisdom, they would proceed by faith in others that the faculty of faith… and so on… the faculty of wisdom, when developed and cultivated, plunges into the Deathless, has the Deathless as its destination, and has the Deathless as its final end.”
‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, những ai chưa biết, chưa thấy, chưa hiểu rõ, chưa chứng ngộ, chưa tiếp xúc bằng trí tuệ về điều này, họ phải đi theo đức tin của người khác về vấn đề ấy rằng tín quyền... tuệ quyền, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ hướng đến bất tử, có bất tử làm đích đến, có bất tử làm cứu cánh.’
‘‘Assaddho akataññū ca, sandhicchedo ca yo naro;
Hatāvakāso vantāso, sa ve uttamaporiso’’ti.
“The person who is not credulous, who knows the Uncreated, who has severed the connection, who has destroyed the opportunity, and who has disgorged all desires—he is truly the supreme person.”
‘Người không tin tưởng, biết được Vô vi, Đã cắt đứt sự nối liền, hủy hoại cơ hội, Đã từ bỏ mọi hy vọng, vị ấy thật là bậc tối thượng.’
Na saddho na virajjatīti. Sabbe bālaputhujjanā rajjanti, puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya satta sekkhā virajjanti. Arahā neva rajjati no virajjati, viratto so khayā rāgassa vītarāgattā khayā dosassa vītadosattā, khayā mohassa vītamohattā. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti – na saddho na virajjati.
Regarding 'He is not credulous, nor does he become dispassionate': All foolish worldlings are impassioned; taking the virtuous worldling as a basis, the seven persons in training become dispassionate. The Arahant is neither impassioned nor does he become dispassionate. He is dispassionate through the destruction of lust, by being free from lust; through the destruction of hatred, by being free from hatred; through the destruction of delusion, by being free from delusion. He has lived the holy life, has fulfilled his practice… for him there is no further becoming, which is the saṃsāra of birth and death. This is the meaning of 'he is not credulous, nor does he become dispassionate'.
Về câu ‘Không tin tưởng, không ly tham.’ Tất cả kẻ phàm phu ngu dốt đều tham ái; kể từ vị thiện phàm phu, bảy bậc hữu học thì ly tham. Vị A-la-hán không tham ái cũng không ly tham. Vị ấy đã ly tham do sự đoạn tận của tham, do đã thoát ly tham; do sự đoạn tận của sân, do đã thoát ly sân; do sự đoạn tận của si, do đã thoát ly si. Vị ấy đã sống xong phạm hạnh, đã thực hành xong phận sự…v.v… đối với vị ấy không có sự tái sanh, tức là vòng luân hồi sanh tử. Đây là ý nghĩa của câu ‘Không tin tưởng, không ly tham.’
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sātiyesu anassāvī, atimāne ca no yuto;
Saṇho ca paṭibhānavā, na saddho na virajjatī’’ti.
“Unattached to sensual pleasures, and not given to conceit; gentle and discerning, he is not credulous, nor does he become dispassionate.”
“Người không giao du (với ái dục) trong các điều khả ái, và không dính mắc vào sự quá mạn, lại vi tế và có trí tuệ biện tài, không tin tưởng, không ly tham, người như thế Ta gọi là bậc tịch tịnh.”
89.
89.
89.
Lābhakamyā na sikkhati, alābhe ca na kuppati;
Aviruddho ca taṇhāya, rasesu † nānugijjhati.
He does not train out of desire for gain, nor is he angered by lack of gain; unconflicted by craving, he is not greedy for tastes.
Vị ấy không học tập vì mong cầu lợi lộc, và không tức giận khi không được lợi lộc; không đối nghịch với ái dục, và không tham đắm các vị.
Lābhakamyā na sikkhati, alābhe ca na kuppatīti. Kathaṃ lābhakamyā sikkhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu bhikkhuṃ passati lābhiṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ. Tassa evaṃ hoti – ‘‘kena nu kho ayamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti? Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho āyasmā suttantiko, tenāyamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti. So lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā lābhābhinibbattiyā lābhaṃ paripācento suttantaṃ pariyāpuṇāti. Evampi lābhakamyā sikkhati.
Regarding 'He does not train out of desire for gain, nor is he angered by lack of gain': How does one train out of desire for gain? Here, monks, a monk sees another monk who is a gainer of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick. It occurs to him: “For what reason is this venerable one a gainer of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick?” It occurs to him: “This venerable one is an expert in the discourses, that is why he is a gainer of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick.” So, for the sake of gain, on account of gain, for the reason of gain, for the special production of gain, he learns the discourses while cultivating gain. In this way, one trains out of desire for gain.
Về câu ‘Không học tập vì mong cầu lợi lộc, và không tức giận khi không được lợi lộc.’ Thế nào là học tập vì mong cầu lợi lộc? Này các Tỳ khưu, ở đây, một Tỳ khưu thấy một Tỳ khưu khác được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Do đâu mà vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng?” Vị ấy lại suy nghĩ như sau: “Vị tôn giả này là người học Kinh tạng, do đó vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.” Vị ấy, vì lợi lộc, do duyên lợi lộc, với nguyên nhân là lợi lộc, để làm phát sanh lợi lộc, trong khi làm cho lợi lộc chín muồi, đã học thuộc lòng Kinh tạng. Như vậy cũng là học tập vì mong cầu lợi lộc.
Atha vā bhikkhu bhikkhuṃ passati lābhiṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ. Tassa evaṃ hoti – ‘‘kena nu kho ayamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti? Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho āyasmā vinayadharo…pe… dhammakathiko… ābhidhammiko, tenāyamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti. So lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā lābhābhinibbattiyā lābhaṃ paripācento abhidhammaṃ pariyāpuṇāti. Evampi lābhakamyā sikkhati.
Or, a monk sees another monk who is a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick. It occurs to him: 'For what reason indeed is this venerable one a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick?' It occurs to him: 'This venerable one is a master of the Vinaya... a master of the Abhidhamma; for that reason, this venerable one is a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick.' That monk, for the sake of gain, on account of gain, for the reason of gain, for the special production of gain, learns the Abhidhamma while cultivating gain. In this way also, one trains out of desire for gain.
Hoặc nữa, một Tỳ khưu thấy một Tỳ khưu khác được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Do đâu mà vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng?” Vị ấy lại suy nghĩ như sau: “Vị tôn giả này là người trì Luật… v.v… là người thuyết pháp… là người thông suốt A-tỳ-đàm, do đó vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.” Vị ấy, vì lợi lộc, do duyên lợi lộc, với nguyên nhân là lợi lộc, để làm phát sanh lợi lộc, trong khi làm cho lợi lộc chín muồi, đã học thuộc lòng A-tỳ-đàm. Như vậy cũng là học tập vì mong cầu lợi lộc.
Atha vā bhikkhu bhikkhuṃ passati lābhiṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ. Tassa evaṃ hoti – ‘‘kena nu kho ayamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti? Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho āyasmā āraññiko… piṇḍapātiko… paṃsukūliko… tecīvariko… sapadānacāriko… khalupacchābhattiko… nesajjiko… yathāsanthatiko, tenāyamāyasmā lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti. So lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā lābhābhinibbattiyā lābhaṃ paripācento āraññiko hoti…pe… yathāsanthatiko hoti. Evampi lābhakamyā sikkhati.
Or, a monk sees another monk who is a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick. It occurs to him: 'For what reason indeed is this venerable one a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick?' It occurs to him: 'This venerable one undertakes the ascetic practice of a forest-dweller... of an alms-food-eater... of a rag-robe-wearer... of a three-robe-wearer... of going from house to house in order... of refusing food offered later... of sitting... of using whatever lodging is allotted; for that reason, this venerable one is a recipient of robes, alms-food, lodging, and medicinal requisites for the sick.' That monk, for the sake of gain, on account of gain, for the reason of gain, for the special production of gain, while cultivating gain, becomes a forest-dweller... becomes one who uses whatever lodging is allotted. In this way also, one trains out of desire for gain.
Hoặc nữa, một Tỳ khưu thấy một Tỳ khưu khác được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Do đâu mà vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng?” Vị ấy lại suy nghĩ như sau: “Vị tôn giả này là người thực hành hạnh ở rừng… hạnh khất thực… hạnh mặc y phấn tảo… hạnh tam y… hạnh khất thực từng nhà… hạnh không ăn sau khi đã từ chối… hạnh ngồi… hạnh ở đâu cũng được, do đó vị tôn giả này được nhiều y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng.” Vị ấy, vì lợi lộc, do duyên lợi lộc, với nguyên nhân là lợi lộc, để làm phát sanh lợi lộc, trong khi làm cho lợi lộc chín muồi, đã trở thành người thực hành hạnh ở rừng… v.v… trở thành người thực hành hạnh ở đâu cũng được. Như vậy cũng là học tập vì mong cầu lợi lộc.
Kathaṃ na lābhakamyā sikkhati? Idha bhikkhu na lābhahetu, na lābhapaccayā, na lābhakāraṇā, na lābhābhinibbattiyā, na lābhaṃ paripācento, yāvadeva attadamatthāya attasamatthāya attaparinibbāpanatthāya suttantaṃ pariyāpuṇāti, vinayaṃ pariyāpuṇāti, abhidhammaṃ pariyāpuṇāti. Evampi na lābhakamyā sikkhati.
How does one not train out of desire for gain? Here, a monk learns the Suttanta, learns the Vinaya, and learns the Abhidhamma, not for the sake of gain, not on account of gain, not for the reason of gain, not for the special production of gain, and not while cultivating gain, but only for the sake of his own taming, his own calming, and his own complete quenching. In this way, one does not train out of desire for gain.
Thế nào là không học tập vì mong cầu lợi lộc? Ở đây, Tỳ khưu không học tập vì lợi lộc, không do duyên lợi lộc, không với nguyên nhân là lợi lộc, không để làm phát sanh lợi lộc, không trong khi làm cho lợi lộc chín muồi, mà chỉ để tự điều phục, để tự an tịnh, để tự đạt đến Niết-bàn mà học thuộc lòng Kinh tạng, học thuộc lòng Luật tạng, học thuộc lòng A-tỳ-đàm tạng. Như vậy cũng là không học tập vì mong cầu lợi lộc.
Atha vā bhikkhu na lābhahetu, na lābhapaccayā, na lābhakāraṇā, na lābhābhinibbattiyā, na lābhaṃ paripācento, yāvadeva appicchaññeva † nissāya santuṭṭhiññeva nissāya sallekhaññeva nissāya pavivekaññeva nissāya idamatthitaññeva † nissāya āraññiko hoti, piṇḍapātiko hoti, paṃsukūliko hoti, tecīvariko hoti, sapadānacāriko hoti, khalupacchābhattiko hoti, nesajjiko hoti, yathāsanthatiko hoti. Evampi na lābhakamyā sikkhatīti – lābhakamyā na sikkhati.
Or, a monk—not for the sake of gain, not on account of gain, not for the reason of gain, not for the special production of gain, nor while cultivating gain, but relying solely on fewness of wishes, on contentment, on the effacement of defilements, on seclusion, and on this being for a wholesome purpose—becomes a forest-dweller, an alms-food-eater, a rag-robe-wearer, a three-robe-wearer, one who goes on an alms-round in sequence, one who refuses food offered later, a sitter, and one who accepts any lodging. In this way also, one does not train out of desire for gain. This is the meaning of 'he does not train out of desire for gain'.
Hoặc nữa, Tỳ khưu không vì lợi lộc, không do duyên lợi lộc, không với nguyên nhân là lợi lộc, không để làm phát sanh lợi lộc, không trong khi làm cho lợi lộc chín muồi, mà chỉ y cứ vào sự thiểu dục, y cứ vào sự tri túc, y cứ vào sự khắc khổ, y cứ vào sự độc cư, y cứ vào mục đích này mà trở thành người thực hành hạnh ở rừng, trở thành người thực hành hạnh khất thực, trở thành người thực hành hạnh mặc y phấn tảo, trở thành người thực hành hạnh tam y, trở thành người thực hành hạnh khất thực từng nhà, trở thành người thực hành hạnh không ăn sau khi đã từ chối, trở thành người thực hành hạnh ngồi, trở thành người thực hành hạnh ở đâu cũng được. Như vậy cũng là không học tập vì mong cầu lợi lộc. Đây là ý nghĩa của câu ‘Không học tập vì mong cầu lợi lộc.’
Alābhe ca na kuppatīti. Kathaṃ alābhe kuppati? Idhekacco ‘‘kulaṃ vā na labhāmi, gaṇaṃ vā na labhāmi, āvāsaṃ vā na labhāmi, lābhaṃ vā na labhāmi, yasaṃ vā na labhāmi, pasaṃsaṃ vā na labhāmi, sukhaṃ vā na labhāmi, cīvaraṃ vā na labhāmi, piṇḍapātaṃ vā na labhāmi, senāsanaṃ vā na labhāmi, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ vā na labhāmi, gilānupaṭṭhākaṃ vā na labhāmi, appaññātomhī’’ti kuppati byāpajjati patiṭṭhīyati, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. Evaṃ alābhe kuppati.
Regarding 'And is not angered by lack of gain': How is one angered by lack of gain? Here, someone thinks: ‘I do not gain a family, I do not gain a group, I do not gain a residence, I do not gain gain, I do not gain fame, I do not gain praise, I do not gain happiness, I do not gain robes, I do not gain alms-food, I do not gain lodging, I do not gain medicinal requisites for the sick, I do not gain a sick-attendant, I am of little wisdom,’ and becomes angered, hostile, and resistant; he manifests anger, aversion, and displeasure. This is how one is angered by lack of gain.
Về câu ‘Và không tức giận khi không được lợi lộc.’ Thế nào là tức giận khi không được lợi lộc? Ở đây, có người nghĩ rằng: “Ta không được gia đình (hộ độ), không được giáo đoàn, không được trú xứ, không được lợi lộc, không được danh tiếng, không được tán dương, không được an lạc, không được y phục, không được vật thực khất thực, không được sàng tọa, không được dược phẩm trị bệnh và các vật dụng, không được người chăm sóc bệnh, ta là người ít được biết đến,” rồi tức giận, sanh ác ý, cố chấp, và biểu lộ sự tức giận, sự sân hận, và sự bất mãn. Như vậy là tức giận khi không được lợi lộc.
Kathaṃ alābhe na kuppati? Idha bhikkhu ‘‘kulaṃ vā na labhāmi gaṇaṃ vā na labhāmi…pe… appaññātomhī’’ti na kuppati na byāpajjati na patiṭṭhīyati, na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. Evaṃ alābhe na kuppatīti – lābhakamyā na sikkhati alābhe ca na kuppati.
How is one not angered by lack of gain? Here, a monk thinks: ‘I do not gain a family, I do not gain a group... I am of little wisdom,’ yet he is not angered, not hostile, and not resistant; he does not manifest anger, aversion, or displeasure. This is how one is not angered by lack of gain. This is the meaning of 'he does not train out of desire for gain and is not angered by lack of gain'.
Thế nào là không tức giận khi không được lợi lộc? Ở đây, Tỳ khưu nghĩ rằng: “Ta không được gia đình (hộ độ), không được giáo đoàn… v.v… ta là người ít được biết đến,” nhưng không tức giận, không sanh ác ý, không cố chấp, không biểu lộ sự tức giận, sự sân hận, và sự bất mãn. Như vậy là không tức giận khi không được lợi lộc. Đây là ý nghĩa của câu ‘Không học tập vì mong cầu lợi lộc, và không tức giận khi không được lợi lộc.’
Aviruddho ca taṇhāya, rasesu nānugijjhatīti. Viruddhoti yo cittassa āghāto paṭighāto, paṭighaṃ paṭivirodho, kopo pakopo sampakopo, doso padoso sampadoso, cittassa byāpatti manopadoso, kodho kujjhanā kujjhitattaṃ, doso dussanā dussitattaṃ, byāpatti byāpajjanā byāpajjitattaṃ virodho paṭivirodho, caṇḍikkaṃ, asuropo, anattamanatā cittassa – ayaṃ vuccati virodho. Yasseso virodho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati aviruddho. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Rasoti mūlaraso khandharaso tacaraso pattaraso puppharaso phalaraso, ambilaṃ madhuraṃ tittakaṃ kaṭukaṃ loṇikaṃ khārikaṃ lambikaṃ † kasāvo sādu asādu sītaṃ uṇhaṃ. Santeke samaṇabrāhmaṇā rasagiddhā. Te jivhaggena rasaggāni pariyesantā āhiṇḍanti, te ambilaṃ labhitvā anambilaṃ pariyesanti, anambilaṃ labhitvā ambilaṃ pariyesanti; madhuraṃ labhitvā amadhuraṃ pariyesanti, amadhuraṃ labhitvā madhuraṃ pariyesanti; tittakaṃ labhitvā atittakaṃ pariyesanti, atittakaṃ labhitvā tittakaṃ pariyesanti; kaṭukaṃ labhitvā akaṭukaṃ pariyesanti, akaṭukaṃ labhitvā kaṭukaṃ pariyesanti; loṇikaṃ labhitvā aloṇikaṃ pariyesanti, aloṇikaṃ labhitvā loṇikaṃ pariyesanti; khārikaṃ labhitvā akhārikaṃ pariyesanti, akhārikaṃ labhitvā khārikaṃ pariyesanti; lambikaṃ labhitvā kasāvaṃ pariyesanti, kasāvaṃ labhitvā lambikaṃ pariyesanti; sāduṃ labhitvā asāduṃ pariyesanti, asāduṃ labhitvā sāduṃ pariyesanti; sītaṃ labhitvā uṇhaṃ pariyesanti, uṇhaṃ labhitvā sītaṃ pariyesanti. Te yaṃ yaṃ labhitvā tena tena na santussanti aparāparaṃ pariyesanti, manāpikesu rasesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Yassesā rasataṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti – ‘‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’’ti.
“He is unconflicted, and is not greedy for tastes out of craving.” ‘Opposition’ refers to the mind’s affliction, resistance, repugnance, and opposition; anger, irritation, and intense irritation; hatred, malice, and intense malice; the mind’s corruption and mental corruption; anger, being angry, and the state of being angry; hatred, being corrupt, and the state of being corrupt; corruption, being corrupt, and the state of being corrupt; opposition and repeated opposition; harshness, ill-temper, and displeasure of the mind—this is called opposition. One for whom this opposition is abandoned, utterly cut off, calmed, pacified, is incapable of arising, and is burnt by the fire of knowledge, is called ‘unopposed’. ‘Craving’ means craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, and craving for mental objects. ‘Taste’ means root-sap, trunk-sap, bark-sap, leaf-sap, flower-sap, and fruit-sap; sour, sweet, bitter, pungent, salty, alkaline, acidic, astringent, agreeable, disagreeable, cold, and hot. There are some ascetics and brahmins who are greedy for tastes. They wander about seeking choice tastes with the tip of their tongue. Having obtained sour, they seek non-sour; having obtained non-sour, they seek sour. Having obtained sweet, they seek non-sweet; having obtained non-sweet, they seek sweet. Having obtained bitter, they seek non-bitter; having obtained non-bitter, they seek bitter. Having obtained pungent, they seek non-pungent; having obtained non-pungent, they seek pungent. Having obtained salty, they seek non-salty; having obtained non-salty, they seek salty. Having obtained alkaline, they seek non-alkaline; having obtained non-alkaline, they seek alkaline. Having obtained acidic, they seek astringent; having obtained astringent, they seek acidic. Having obtained agreeable, they seek disagreeable; having obtained disagreeable, they seek agreeable. Having obtained cold, they seek hot; having obtained hot, they seek cold. Whatever they obtain, they are not content with it but seek more and more. They are infatuated, greedy, addicted, besotted, immersed, attached, especially attached, and bound by agreeable tastes. One for whom this craving for tastes is abandoned, utterly cut off, calmed, pacified, is incapable of arising, and is burnt by the fire of knowledge, reflects appropriately and takes nourishment: ‘Not for amusement, not for intoxication, not for adornment, not for beautification, but only for the maintenance of this body, for its continuance, for the cessation of the affliction of hunger, and for the support of the holy life. Thus, I shall ward off the old feeling of hunger and not give rise to a new feeling from overeating. In this way, my life will be sustained, I will be blameless, and I will live in comfort.’”
Không mâu thuẫn và không tham đắm các vị do ái. (Giải rằng:) ‘Mâu thuẫn’ là: sự tổn hại, sự chống đối của tâm, sự sát hại, sự đối nghịch, sự tức giận, sự phẫn nộ, sự phẫn nộ tột cùng, sự sân hận, sự sân hận mãnh liệt, sự sân hận tột cùng, sự biến hoại của tâm, sự làm hại ý, sự phẫn nộ, sự tức giận, trạng thái tức giận, sự sân hận, cách thức sân hận, trạng thái có thể sân hận, sự biến hoại, cách thức biến hoại, trạng thái có thể biến hoại, sự chống đối, sự đối nghịch, trạng thái hung dữ, lời nói không tốt đẹp, trạng thái không hài lòng của tâm – điều này được gọi là ‘sự mâu thuẫn’. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt hoàn toàn, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi lại, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ đối với sự mâu thuẫn này, vị ấy được gọi là ‘vị không mâu thuẫn’. ‘Ái’ là: sắc ái, thinh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. ‘Vị’ là: vị của rễ, vị của thân cây, vị của vỏ cây, vị của lá, vị của hoa, vị của quả; vị chua, vị ngọt, vị đắng, vị cay, vị mặn, vị kiềm, vị chua nhẹ, vị chát, vị ngon, vị không ngon, vị lạnh, vị nóng. Có một số sa-môn, bà-la-môn tham đắm các vị. Các vị ấy đi lang thang tìm kiếm các vị ngon tột bậc bằng đầu lưỡi. Các vị ấy, sau khi có được vị chua lại tìm kiếm vị không chua, sau khi có được vị không chua lại tìm kiếm vị chua; sau khi có được vị ngọt lại tìm kiếm vị không ngọt, sau khi có được vị không ngọt lại tìm kiếm vị ngọt; sau khi có được vị đắng lại tìm kiếm vị không đắng, sau khi có được vị không đắng lại tìm kiếm vị đắng; sau khi có được vị cay lại tìm kiếm vị không cay, sau khi có được vị không cay lại tìm kiếm vị cay; sau khi có được vị mặn lại tìm kiếm vị không mặn, sau khi có được vị không mặn lại tìm kiếm vị mặn; sau khi có được vị kiềm lại tìm kiếm vị không kiềm, sau khi có được vị không kiềm lại tìm kiếm vị kiềm; sau khi có được vị chua nhẹ lại tìm kiếm vị chát, sau khi có được vị chát lại tìm kiếm vị chua nhẹ; sau khi có được vị ngon lại tìm kiếm vị không ngon, sau khi có được vị không ngon lại tìm kiếm vị ngon; sau khi có được vị lạnh lại tìm kiếm vị nóng, sau khi có được vị nóng lại tìm kiếm vị lạnh. Các vị ấy, sau khi có được món nào cũng không hài lòng với món ấy, lại tìm kiếm món khác nữa; các vị ấy bị say đắm, tham luyến, dính mắc, mê muội, chìm đắm, vướng víu, bám chặt, bị trói buộc trong các vị khả ý. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt hoàn toàn, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi lại, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ đối với vị ái này, vị ấy sau khi như lý tác ý, thọ dụng vật thực (với sự suy xét rằng): ‘Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang điểm, không phải để tô điểm, chỉ là để cho thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ hại, để hỗ trợ cho phạm hạnh. Như vậy, tôi sẽ trừ diệt cảm thọ cũ, và sẽ không để cho cảm thọ mới sanh khởi, và sự tồn tại, sự không có tội lỗi, và sự an trú thoải mái sẽ có đối với tôi’.
Yathā vanaṃ ālimpeyya yāvadeva ropanatthāya, yathā vā pana akkhaṃ abbhañjeyya yāvadeva bhārassa nittharaṇatthāya, yathā vā pana puttamaṃsaṃ āhāraṃ āhareyya yāvadeva kantārassa nittharaṇatthāya; evameva bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti – ‘‘neva davāya…pe… phāsuvihāro cā’’ti. Rasataṇhaṃ pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti, rasataṇhāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – aviruddho ca taṇhāya rasesu nānugijjhati.
Just as one would anoint a wound only for the purpose of healing, or as one would grease an axle only for the purpose of transporting a load, or as one would eat the flesh of one’s son only for the purpose of crossing a difficult journey; in this same way, a monk, having reflected wisely, consumes food: ‘Not for amusement… and for dwelling in comfort.’ He abandons craving for tastes, dispels it, makes it cease, and causes it not to arise again. He would be aloof from craving for tastes, detached from it, completely detached from it, gone out from it, released from it, completely freed from it, disjoined from it; he dwells with a mind that has transcended limitations. This is the meaning of ‘unconflicted, and not greedy for tastes out of craving’.
Giống như người ta thoa thuốc lên vết thương, chỉ là để cho lành; hoặc giống như người ta tra dầu vào trục xe, chỉ là để chuyên chở hàng hóa; hoặc giống như người ta ăn thịt con, chỉ là để vượt qua sa mạc; cũng vậy, vị tỳ khưu sau khi như lý tác ý, thọ dụng vật thực (với sự suy xét rằng): ‘Không phải để vui đùa … cho đến … và sự an trú thoải mái sẽ có đối với tôi’. Vị ấy từ bỏ vị ái, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu; vị ấy xa lìa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, tách ra, giải thoát, không liên hệ với vị ái, an trú với tâm đã được giải thoát khỏi các giới hạn – (đây là ý nghĩa của câu:) ‘không mâu thuẫn và không tham đắm các vị do ái’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Lābhakamyā na sikkhati, alābhe ca na kuppati;
Aviruddho ca taṇhāya, rasesu nānugijjhatī’’ti.
“He does not train out of desire for gain, nor is he angered by not receiving gain; unconflicted, and not greedy for tastes out of craving.”
‘Vị ấy không học hỏi vì mong cầu lợi lộc, và không tức giận khi không được lợi lộc; vị ấy không mâu thuẫn và không tham đắm các vị do ái’.
90.
90.
90.
Upekkhako sadā sato, na loke maññate samaṃ;
Na visesī na nīceyyo, tassa no santi ussadā.
Always equanimous and mindful, he does not conceive himself as equal in the world, nor as superior, nor as inferior. For him, there are no swellings of pride.
Vị ấy luôn luôn xả, có chánh niệm, không nghĩ mình bằng (người khác) trong đời, không (nghĩ mình) hơn, không (nghĩ mình) kém; đối với vị ấy, không có các sự kiêu mạn.
Upekkhako sadā satoti. Upekkhakoti chaḷaṅgupekkhāya samannāgato. Cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṃ sutvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Cakkhunā rūpaṃ disvā manāpaṃ nābhigijjhati nābhihaṃsati † na rāgaṃ janeti, tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ. Cakkhunā kho paneva rūpaṃ disvā amanāpaṃ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto † alīnamanaso † abyāpannacetaso, tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ. Sotena saddaṃ sutvā… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā… manasā dhammaṃ viññāya manāpaṃ nābhigijjhati nābhihaṃsati na rāgaṃ janeti, tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ. Manasā kho paneva dhammaṃ viññāya amanāpaṃ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto alīnamanaso abyāpannacetaso, tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ.
“Always equanimous and mindful.” ‘Equanimous’ means endowed with six-factored equanimity. Having seen a form with the eye, one is neither gladdened nor displeased, but dwells equanimous, mindful, and fully aware. Having heard a sound with the ear… and so on… having cognized a mental object with the mind, one is neither gladdened nor displeased, but dwells equanimous, mindful, and fully aware. Having seen a pleasant form with the eye, one does not crave it, does not delight in it, and does not give rise to lust. For that one, the body remains steady, the mind remains steady, inwardly well-established, and well-liberated. Indeed, having seen an unpleasant form with the eye, one is not downcast, has an unagitated mind, an unshrinking mind, and a mind free from ill will. For that one, the body remains steady, the mind remains steady, inwardly well-established, and well-liberated. Having heard a sound with the ear… having smelled an odor with the nose… having tasted a flavor with the tongue… having touched a tangible with the body… having cognized a pleasant mental object with the mind, one does not crave it, does not delight in it, and does not give rise to lust. For that one, the body remains steady, the mind remains steady, inwardly well-established, and well-liberated. Indeed, having cognized an unpleasant mental object with the mind, one is not downcast, has an unagitated mind, an unshrinking mind, and a mind free from ill will. For that one, the body remains steady, the mind remains steady, inwardly well-established, and well-liberated.
‘Vị ấy luôn luôn xả, có chánh niệm’ (nghĩa là): ‘Vị có xả’ là vị thành tựu sáu loại xả. Sau khi thấy sắc bằng mắt, vị ấy không hoan hỷ, không ưu phiền, an trú xả, có chánh niệm, có tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai … cho đến … Sau khi biết pháp bằng ý, vị ấy không hoan hỷ, không ưu phiền, an trú xả, có chánh niệm, có tỉnh giác. Sau khi thấy sắc khả ý bằng mắt, vị ấy không tham muốn, không ưa thích, không sanh khởi tham ái; thân của vị ấy được vững trú, tâm được vững trú, được khéo an lập, được khéo giải thoát ở nội tâm. Và sau khi thấy sắc không khả ý bằng mắt, vị ấy không bối rối, tâm không dao động, ý không co rút, tâm không sân hận; thân của vị ấy được vững trú, tâm được vững trú, được khéo an lập, được khéo giải thoát ở nội tâm. Sau khi nghe tiếng bằng tai … sau khi ngửi hương bằng mũi … sau khi nếm vị bằng lưỡi … sau khi cảm xúc bằng thân … sau khi biết pháp khả ý bằng ý, vị ấy không tham muốn, không ưa thích, không sanh khởi tham ái; thân của vị ấy được vững trú, tâm được vững trú, được khéo an lập, được khéo giải thoát ở nội tâm. Và sau khi biết pháp không khả ý bằng ý, vị ấy không bối rối, tâm không dao động, ý không co rút, tâm không sân hận; thân của vị ấy được vững trú, tâm được vững trú, được khéo an lập, được khéo giải thoát ở nội tâm.
Cakkhunā rūpaṃ disvā manāpāmanāpesu rūpesu tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ. Sotena saddaṃ sutvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya manāpāmanāpesu dhammesu tassa ṭhitova kāyo hoti, ṭhitaṃ cittaṃ ajjhattaṃ susaṇṭhitaṃ suvimuttaṃ.
Having seen a form with the eye, in regard to pleasant and unpleasant forms, for that one the body is steady and the mind is steady, inwardly well-established, and well-liberated. Having heard a sound with the ear... and so on... having cognized a mental object with the mind, in regard to pleasant and unpleasant mental objects, for that one the body is steady and the mind is steady, inwardly well-established, and well-liberated.
Sau khi thấy sắc bằng con mắt, đối với các sắc khả ý và bất khả ý, thân của vị ấy chỉ đứng yên, tâm đứng yên, an trú tốt đẹp, khéo giải thoát ở bên trong. Sau khi nghe tiếng bằng lỗ tai… tóm lại… sau khi biết pháp bằng ý, đối với các pháp khả ý và bất khả ý, thân của vị ấy chỉ đứng yên, tâm đứng yên, an trú tốt đẹp, khéo giải thoát ở bên trong.
Cakkhunā rūpaṃ disvā rajanīye na rajjati, dussanīye † na dussati, mohanīye na muyhati, kopanīye na kuppati, madanīye na majjati, kilesanīye na kilissati. Sotena saddaṃ sutvā…pe… manasā dhammaṃ viññāya rajanīye na rajjati dussanīye na dussati, mohanīye na muyhati, kopanīye na kuppati, madanīye na majjati, kilesanīye na kilissati. Diṭṭhe diṭṭhamatto, sute sutamatto, mute mutamatto, viññāte viññātamatto. Diṭṭhe na limpati, sute na limpati, mute na limpati, viññāte na limpati. Diṭṭhe anūpayo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharati. Sute… mute… viññāte anūpayo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharati.
Having seen a form with the eye, one is not impassioned by what is passion-provoking, is not repelled by what is repulsive, is not deluded by what is deluding, is not angered by what is anger-provoking, is not intoxicated by what is intoxicating, and is not afflicted by what is afflicting. Having heard a sound with the ear… and so on… having cognized a mental object with the mind, one is not impassioned by what is passion-provoking, is not repelled by what is repulsive, is not deluded by what is deluding, is not angered by what is anger-provoking, is not intoxicated by what is intoxicating, and is not afflicted by what is afflicting. In the seen, there is merely the seen; in the heard, merely the heard; in the sensed, merely the sensed; in the cognized, merely the cognized. In the seen, one is not smeared; in the heard, one is not smeared; in the sensed, one is not smeared; in the cognized, one is not smeared. Regarding the seen, one dwells without attraction, without aversion, without dependence, without being bound, liberated, dissociated, with a mind that is without boundaries. Regarding the heard… the sensed… the cognized, one dwells without attraction, without aversion, without dependence, without being bound, liberated, dissociated, with a mind that is without boundaries.
Sau khi thấy sắc bằng con mắt, vị ấy không tham đắm trong đối tượng đáng tham, không sân hận trong đối tượng gây sân, không si mê trong đối tượng gây si, không phẫn nộ trong đối tượng gây phẫn nộ, không say đắm trong đối tượng gây say đắm, không phiền não trong đối tượng gây phiền não. Sau khi nghe tiếng bằng lỗ tai… tóm lại… sau khi biết pháp bằng ý, vị ấy không tham đắm trong đối tượng đáng tham, không sân hận trong đối tượng gây sân, không si mê trong đối tượng gây si, không phẫn nộ trong đối tượng gây phẫn nộ, không say đắm trong đối tượng gây say đắm, không phiền não trong đối tượng gây phiền não. Trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái cảm nhận chỉ là cái cảm nhận, trong cái biết chỉ là cái biết. Vị ấy không dính mắc trong cái thấy, không dính mắc trong cái nghe, không dính mắc trong cái cảm nhận, không dính mắc trong cái biết. Trong cái thấy, vị ấy trú với tâm không hủy hoại, không tổn hại, không nương tựa, không ràng buộc, đã giải thoát, không liên kết, với tâm không có giới hạn. Trong cái nghe… trong cái cảm nhận… trong cái biết, vị ấy trú với tâm không hủy hoại, không tổn hại, không nương tựa, không ràng buộc, đã giải thoát, không liên kết, với tâm không có giới hạn.
Saṃvijjati arahato cakkhu, passati arahā cakkhunā rūpaṃ. Chandarāgo arahato natthi, suvimuttacitto arahā. Saṃvijjati arahato sotaṃ, suṇāti arahā sotena saddaṃ. Chandarāgo arahato natthi, suvimuttacitto arahā. Saṃvijjati arahato ghānaṃ, ghāyati arahā ghānena gandhaṃ. Chandarāgo arahato natthi, suvimuttacitto arahā. Saṃvijjati arahato jivhā, sāyati arahā jivhāya rasaṃ…pe… saṃvijjati arahato kāyo, phusati arahā kāyena phoṭṭhabbaṃ…pe… saṃvijjati arahato mano, vijānāti arahā manasā dhammaṃ. Chandarāgo arahato natthi suvimuttacitto arahā.
The Arahant has an eye; the Arahant sees a form with the eye. There is no desire and lust in the Arahant; the Arahant is well-liberated in mind. The Arahant has an ear; the Arahant hears a sound with the ear. There is no desire and lust in the Arahant; the Arahant is well-liberated in mind. The Arahant has a nose; the Arahant smells an odor with the nose. There is no desire and lust in the Arahant; the Arahant is well-liberated in mind. The Arahant has a tongue; the Arahant tastes a flavor with the tongue… and so on… The Arahant has a body; the Arahant touches a tangible object with the body… and so on… The Arahant has a mind; the Arahant cognizes a mental object with the mind. There is no desire and lust in the Arahant; the Arahant is well-liberated in mind.
Vị A-la-hán có con mắt, vị A-la-hán thấy sắc bằng con mắt. Vị A-la-hán không có dục tham, vị A-la-hán có tâm khéo giải thoát. Vị A-la-hán có lỗ tai, vị A-la-hán nghe tiếng bằng lỗ tai. Vị A-la-hán không có dục tham, vị A-la-hán có tâm khéo giải thoát. Vị A-la-hán có lỗ mũi, vị A-la-hán ngửi mùi bằng lỗ mũi. Vị A-la-hán không có dục tham, vị A-la-hán có tâm khéo giải thoát. Vị A-la-hán có lưỡi, vị A-la-hán nếm vị bằng lưỡi… tóm lại… Vị A-la-hán có thân, vị A-la-hán xúc chạm đối tượng xúc chạm bằng thân… tóm lại… Vị A-la-hán có ý, vị A-la-hán biết pháp bằng ý. Vị A-la-hán không có dục tham, vị A-la-hán có tâm khéo giải thoát.
Cakkhu rūpārāmaṃ rūparataṃ rūpasammuditaṃ, taṃ arahato dantaṃ guttaṃ rakkhitaṃ saṃvutaṃ, tassa ca saṃvarāya dhammaṃ deseti. Sotaṃ saddārāmaṃ…pe… ghānaṃ gandhārāmaṃ… jivhā rasārāmā rasaratā rasasammuditā, sā arahato dantā guttā rakkhitā saṃvutā, tassā ca saṃvarāya dhammaṃ deseti. Kāyo phoṭṭhabbārāmo…pe… mano dhammārāmo dhammarato dhammasammudito, so arahato danto gutto rakkhito saṃvuto, tassa ca saṃvarāya dhammaṃ deseti.
The eye has visible forms as its delight, takes pleasure in visible forms, rejoices in visible forms. For the Arahant, that eye is tamed, secured, guarded, and restrained, and he teaches the Dhamma for the restraint of that eye-faculty. The ear has sounds as its delight… and so on… The nose has odors as its delight… The tongue has flavors as its delight, takes pleasure in flavors, rejoices in flavors. For the Arahant, that tongue is tamed, secured, guarded, and restrained, and he teaches the Dhamma for its restraint. The body has tactile sensations as its delight… and so on… The mind has mental phenomena as its delight, takes pleasure in mental phenomena, rejoices in mental phenomena. For the Arahant, that mind is tamed, secured, guarded, and restrained, and he teaches the Dhamma for the restraint of that mind-faculty.
Con mắt thích thú sắc, vui thích sắc, hoan hỷ sắc; con mắt ấy của vị A-la-hán đã được điều phục, hộ trì, phòng hộ, thu thúc, và Ngài thuyết pháp để thu thúc con mắt ấy. Lỗ tai thích thú tiếng… tóm lại… Lỗ mũi thích thú mùi… Lưỡi thích thú vị, vui thích vị, hoan hỷ vị; lưỡi ấy của vị A-la-hán đã được điều phục, hộ trì, phòng hộ, thu thúc, và Ngài thuyết pháp để thu thúc lưỡi ấy. Thân thích thú đối tượng xúc chạm… tóm lại… Ý thích thú pháp, vui thích pháp, hoan hỷ pháp; ý ấy của vị A-la-hán đã được điều phục, hộ trì, phòng hộ, thu thúc, và Ngài thuyết pháp để thu thúc ý ấy.
‘‘Dantaṃ nayanti samitiṃ, dantaṃ rājābhirūhati;
Danto seṭṭho manussesu, yotivākyaṃ titikkhati.
They lead a tamed animal to the assembly; the king mounts the tamed one. Best among humans is the tamed one, who endures abusive speech.
‘Họ dẫn con vật đã điều phục đến hội chúng, nhà vua cưỡi lên con vật đã điều phục; người đã được điều phục là cao thượng nhất giữa loài người, là người chịu đựng được lời mắng nhiếc.’
‘‘Varamassatarā dantā, ājānīyā ca † sindhavā;
Kuñjarā ca mahānāgā, attadanto tato varaṃ.
Excellent are tamed mules, and thoroughbreds from Sindh, and great tuskers of the Kuñjara breed; but one with a tamed self is more excellent than these.
‘Những con la đã được điều phục là tốt, cả những con ngựa thuần chủng xứ Sindh, và những con voi lớn, voi chúa; nhưng người tự điều phục mình còn tốt hơn thế nữa.’
‘‘Na hi etehi yānehi, gaccheyya agataṃ disaṃ;
Yathāttanā sudantena, danto dantena gacchati.
For not by these vehicles could one go to the unreached direction, as one with a well-tamed self—a tamed person—goes by means of that which is tamed.
‘Chắc chắn không phải với những cỗ xe này mà người ta có thể đi đến phương xứ chưa từng đến; như người đã điều phục đi đến bằng tự thân được khéo điều phục.’
‘‘Vidhāsu na vikampanti, vippamuttā punabbhavā;
Dantabhūmimanuppattā, te loke vijitāvino.
They do not waver amidst the varieties of conceit; they are fully liberated from renewed existence. Having attained the ground of the tamed, they are conquerors in the world.
‘Các vị ấy không dao động trong các loại ngã mạn, đã giải thoát khỏi tái sanh; đã đạt đến cảnh giới của bậc đã điều phục, các vị ấy là những người chiến thắng ở trên đời.’
‘‘Yassindriyāni bhāvitāni †, ajjhattaṃ bahiddhā ca † sabbaloke;
Nibbijjha imaṃ † parañca lokaṃ, kālaṃ kaṅkhati bhāvito sa danto’’ti.
He whose faculties are developed—internally and externally in the entire world—having penetrated this world and the next, that developed and tamed one awaits his time.
‘Người nào có các căn đã được tu tập, ở bên trong và bên ngoài, trong toàn thế giới; sau khi thâm nhập thế giới này và thế giới khác, người đã tu tập, đã điều phục ấy chờ đợi thời điểm.’
Upekkhako sadāti. Sadā sabbadā sabbakālaṃ niccakālaṃ dhuvakālaṃ…pe… pacchime vayokhandhe. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu… citte… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato…pe… so vuccati satoti – upekkhako sadā sato.
‘Equanimous, always mindful.’ ‘Always’ means at all times, perpetually, constantly, enduringly… up to the last constituent of the lifespan. As to ‘mindful,’ one is mindful for four reasons: one is mindful while developing the establishment of mindfulness as the contemplation of the body in the body; mindful regarding feelings… the mind… and phenomena, developing the establishment of mindfulness as the contemplation of phenomena in phenomena… Such a one is called ‘mindful.’ Thus: equanimous, always mindful.
Luôn xả niệm. Luôn luôn, mọi lúc, mọi thời, thường xuyên, không gián đoạn… tóm lại… trong giai đoạn cuối của uẩn tuổi thọ. Chánh niệm là chánh niệm vì bốn lý do – chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân, chánh niệm khi tu tập (niệm xứ quán thọ) trên các cảm thọ… (niệm xứ quán tâm) trên tâm… chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp… tóm lại… vị ấy được gọi là người chánh niệm – luôn xả, luôn chánh niệm.
Na loke maññate samanti. ‘‘Sadisohamasmī’’ti mānaṃ na janeti jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunāti – na loke maññate samaṃ.
‘He does not conceive himself as equal in the world.’ He does not generate the conceit, ‘I am equal,’ whether by birth, by clan… or on any other basis. Thus, he does not conceive himself as equal in the world.
Không nghĩ mình bằng ai trên đời. Vị ấy không khởi lên ngã mạn rằng: ‘Ta bằng (người khác)’ do dòng dõi, hay do gia tộc… tóm lại… hay do bất cứ lý do nào khác – đó là ý nghĩa của ‘không nghĩ mình bằng ai trên đời’.
Na visesī na nīceyyoti. ‘‘Seyyohamasmī’’ti atimānaṃ na janeti jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. ‘‘Hīnohamasmī’’ti omānaṃ na janeti jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunāti – na visesī na nīceyyo.
‘He is neither superior nor inferior.’ He does not generate excessive conceit by thinking, ‘I am superior,’ whether by birth, by clan, or by any other reason. He does not generate the conceit of inferiority by thinking, ‘I am inferior,’ whether by birth, by clan, or by any other reason. Thus, he is neither superior nor inferior.
Không hơn, không kém. Vị ấy không khởi lên quá mạn rằng: ‘Ta hơn (người khác)’ do dòng dõi, hay do gia tộc… tóm lại… hay do bất cứ lý do nào khác. Vị ấy không khởi lên ty mạn rằng: ‘Ta kém (người khác)’ do dòng dõi, hay do gia tộc… tóm lại… hay do bất cứ lý do nào khác – đó là ý nghĩa của ‘không hơn, không kém’.
Tassa no santi ussadāti. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Ussadāti sattussadā – rāgussado dosussado mohussado mānussado diṭṭhussado kilesussado kammussado. Tassime ussadā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – tassa no santi ussadā.
‘For him, there are no swellings.’ ‘For him’ means for the Arahant, the one whose cankers are destroyed. ‘Swellings’ refers to the seven swellings: the swelling of lust, the swelling of hatred, the swelling of delusion, the swelling of conceit, the swelling of views, the swelling of defilements, and the swelling of kamma. For him, these swellings do not exist, are not present, are not found, are not obtainable; they have been abandoned, cut off, pacified, tranquilized, are incapable of arising, and have been burned by the fire of knowledge. Thus, for him, there are no swellings.
Vị ấy không có những sự trỗi dậy. ‘Vị ấy’ nghĩa là vị A-la-hán, bậc đã tận trừ các lậu hoặc. ‘Những sự trỗi dậy’ là có bảy sự trỗi dậy – sự trỗi dậy của tham, sự trỗi dậy của sân, sự trỗi dậy của si, sự trỗi dậy của mạn, sự trỗi dậy của tà kiến, sự trỗi dậy của phiền não, sự trỗi dậy của nghiệp. Đối với vị ấy, những sự trỗi dậy này không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được đoạn trừ, cắt đứt, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – đó là ý nghĩa của ‘vị ấy không có những sự trỗi dậy’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Upekkhako sadā sato, na loke maññate samaṃ;
Na visesī na nīceyyo, tassa no santi ussadā’’ti.
Always equanimous and mindful, he does not conceive in the world of an equal, a superior, or an inferior. For him, there are no swellings.
‘Luôn xả, luôn chánh niệm, không nghĩ mình bằng ai trên đời; không hơn, không kém, vị ấy không có những sự trỗi dậy.’
91.
91.
91.
Yassa nissayatā † natthi, ñatvā dhammaṃ anissito;
Bhavāya vibhavāya vā, taṇhā yassa na vijjati.
For whom there is no dependence, who, having known the Dhamma, is independent; for whom there is no craving for existence or for non-existence.
Người nào không có sự nương tựa, sau khi biết pháp liền không nương tựa; người nào không có tham ái đối với sự hiện hữu hay sự không hiện hữu.
Yassa nissayatā natthīti. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Nissayāti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Tassa taṇhānissayo pahīno, diṭṭhinissayo paṭinissaṭṭho; taṇhānissayassa pahīnattā diṭṭhinissayassa paṭinissaṭṭhattā nissayatā yassa natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – yassa nissayatā natthi.
For whom there is no dependence. 'For whom' refers to the Arahant, the one whose cankers are destroyed. 'Dependence' refers to two kinds of dependence: dependence on craving and dependence on views… This is dependence on craving… This is dependence on views. For him, dependence on craving is abandoned, and dependence on views is relinquished. Because dependence on craving is abandoned and dependence on views is relinquished, for him there is no dependence—it does not exist, is not present, is not found, cannot be obtained; it has been abandoned, cut off at the root, pacified, tranquilized, is incapable of arising, and has been burned by the fire of knowledge. Thus, for whom there is no dependence.
Về câu: ‘Đối với người nào không có sự nương tựa.’ ‘Đối với người nào’ là đối với bậc A-la-hán, bậc lậu tận. ‘Sự nương tựa’ là có hai sự nương tựa – sự nương tựa vào tham ái và sự nương tựa vào tà kiến... v.v... đây là sự nương tựa vào tham ái... v.v... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Đối với vị ấy, sự nương tựa vào tham ái đã được đoạn trừ, sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ; do vì sự nương tựa vào tham ái đã được đoạn trừ, do vì sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ, nên đối với người nào sự nương tựa không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, không đạt được, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (như vậy là ý nghĩa của câu) ‘Đối với người nào không có sự nương tựa.’
Ñatvā dhammaṃ anissitoti. Ñatvāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti… ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Anissitoti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Taṇhānissayaṃ pahāya diṭṭhinissayaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ anissito, sotaṃ anissito, ghānaṃ anissito, jivhaṃ anissito, kāyaṃ anissito, manaṃ anissito, rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – ñatvā dhammaṃ anissito.
Having known the Dhamma, one is not dependent. 'Having known' means having known, understood, weighed, considered, clarified, and made evident: 'All conditioned things are impermanent,' having known, understood, weighed, considered, clarified, and made evident; 'All conditioned things are suffering'… 'All phenomena are without self'… 'Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease,' having known, understood, weighed, considered, clarified, and made evident. 'Not dependent' refers to two kinds of dependence: dependence on craving and dependence on views… This is dependence on craving… This is dependence on views. Having abandoned dependence on craving and relinquished dependence on views, one is not dependent on the eye, not dependent on the ear, not dependent on the nose, not dependent on the tongue, not dependent on the body, not dependent on the mind; not dependent on forms… sounds… smells… tastes… touches… a family… a group… a dwelling… not dependent on any seen, heard, sensed, or cognized phenomena—not clinging, not approaching, not holding to, not committed, having gone forth, detached, released, dissociated, one dwells with a mind without boundaries. Thus, having known the Dhamma, one is not dependent.
Về câu: ‘Sau khi đã biết pháp, vị ấy không nương tựa.’ ‘Sau khi đã biết’ là sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường;’ sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ;’... ‘Tất cả các pháp là vô ngã;’... v.v... ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận;’ sau khi đã biết, đã hiểu rõ, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ. ‘Không nương tựa’ là có hai sự nương tựa – sự nương tựa vào tham ái và sự nương tựa vào tà kiến... v.v... đây là sự nương tựa vào tham ái... v.v... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Sau khi đã đoạn trừ sự nương tựa vào tham ái, sau khi đã từ bỏ sự nương tựa vào tà kiến, vị ấy không nương tựa vào mắt, không nương tựa vào tai, không nương tựa vào mũi, không nương tựa vào lưỡi, không nương tựa vào thân, không nương tựa vào ý; không nương tựa vào các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... các xúc... gia tộc... hội chúng... trú xứ... v.v... không nương tựa vào các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức; vị ấy sống không dính mắc, không đi đến, không quyết đoán, không giải thoát (theo cách sai lầm), đã thoát ra, đã tách rời, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, với tâm đã được giải thoát khỏi các giới hạn – (như vậy là ý nghĩa của câu) ‘Sau khi đã biết pháp, vị ấy không nương tựa.’
Bhavāya vibhavāya vā, taṇhā yassa na vijjatīti. Taṇhāti rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Bhavāyāti bhavadiṭṭhiyā, vibhavāyāti vibhavadiṭṭhiyā; bhavāyāti sassatadiṭṭhiyā, vibhavāyāti ucchedadiṭṭhiyā; bhavāyāti punappunabhavāya punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā. Taṇhā yassa natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – bhavāya vibhavāya vā taṇhā yassa na vijjati.
For existence or non-existence, craving is not found in whom. 'Craving' means craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for touches, and craving for mental phenomena. 'In whom' refers to the Arahant, the one whose cankers are destroyed. 'For existence' means for the view of being; 'for non-existence' means for the view of non-being. 'For existence' means for the eternalist view; 'for non-existence' means for the annihilationist view. 'For existence' means for repeated existence, for repeated destinations, for repeated arising, for repeated rebirth, for the repeated production of an individual existence. In whom craving does not exist, is not present, is not found, cannot be obtained—it has been abandoned, cut off, stilled, tranquilized, is unable to arise, and is burned by the fire of knowledge. Thus, for existence or non-existence, craving is not found in whom.
Về câu: ‘Đối với người nào không có tham ái đối với sự hiện hữu hay không hiện hữu.’ ‘Tham ái’ là ái đối với sắc, ái đối với tiếng, ái đối với mùi, ái đối với vị, ái đối với xúc, ái đối với pháp. ‘Đối với người nào’ là đối với bậc A-la-hán, bậc lậu tận. ‘Đối với sự hiện hữu’ là đối với hữu kiến; ‘đối với không hiện hữu’ là đối với vô hữu kiến. ‘Đối với sự hiện hữu’ là đối với thường kiến; ‘đối với không hiện hữu’ là đối với đoạn kiến. ‘Đối với sự hiện hữu’ là đối với sự hiện hữu lập đi lập lại, đối với sự đi đến (các cõi) lập đi lập lại, đối với sự tái sanh lập đi lập lại, đối với sự nối liền (sanh hữu) lập đi lập lại, đối với sự phát sanh của tự thể lập đi lập lại. Đối với người nào tham ái không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, không đạt được, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (như vậy là ý nghĩa của câu) ‘Đối với người nào không có tham ái đối với sự hiện hữu hay không hiện hữu.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Yassa nissayatā natthi, ñatvā dhammaṃ anissito;
Bhavāya vibhavāya vā, taṇhā yassa na vijjatī’’ti.
“For whom there is no dependence, who, having known the Dhamma, is not dependent; for whom there is no craving for existence or for non-existence.”
‘Đối với người nào không có sự nương tựa, sau khi đã biết pháp, vị ấy không nương tựa; đối với người nào không có tham ái đối với sự hiện hữu hay không hiện hữu.’
92.
92.
92.
Taṃ brūmi upasantoti, kāmesu anapekkhinaṃ;
Ganthā tassa na vijjanti, atarī so visattikaṃ.
Him I call ‘peaceful,’ who is without longing for sensual pleasures; for him, bonds do not exist; he has crossed over attachment.
Ta gọi người ấy là bậc tịch tịnh, người không luyến tiếc các dục; đối với vị ấy, các triền phược không hiện hữu, vị ấy đã vượt qua ái nhiễm.
Taṃ brūmi upasantoti. Upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti. Taṃ brūmi taṃ kathemi taṃ bhaṇāmi taṃ dīpayāmi taṃ voharāmīti – taṃ brūmi upasantoti.
Him I call ‘peaceful.’ ‘Peaceful’ means thoroughly peaceful, extinguished, tranquilized. ‘I call him’ means I declare him, I speak of him, I state of him, I explain of him, I designate him. Thus, him I call ‘peaceful.’
Về câu: ‘Ta gọi người ấy là bậc tịch tịnh.’ (Bậc tịch tịnh là) người đã tịch tịnh, người đã đặc biệt tịch tịnh, người đã tịch diệt, người đã an tịnh trở lại. Ta nói về người ấy, ta kể về người ấy, ta đọc về người ấy, ta chỉ rõ về người ấy, ta nói chuyện về người ấy – (như vậy là ý nghĩa của câu) ‘Ta gọi người ấy là bậc tịch tịnh.’
Kāmesu anapekkhinanti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Vatthukāme parijānitvā, kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā kāmesu anapekkhino vītakāmo cattakāmo vantakāmo muttakāmo pahīnakāmo paṭinissaṭṭhakāmo, kāmesu vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – kāmesu anapekkhinaṃ.
Without longing for sensual pleasures. ‘Sensual pleasures,’ in summary, are of two kinds: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements… These are called sensual pleasures as objects… These are called sensual pleasures as defilements. Having fully known sensual pleasures as objects, and having abandoned, given up, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence sensual pleasures as defilements, one is without longing for sensual pleasures, free from sensual desire, with sensual desire given up, with sensual desire vomited, with sensual desire released, with sensual desire abandoned, with sensual desire relinquished; free from lust, with lust departed, with lust given up, with lust vomited, with lust released, with lust abandoned, with lust relinquished; without thirst, extinguished, become cool, experiencing happiness, one dwells with a mind that has become sublime. Thus, without longing for sensual pleasures.
Về câu: ‘Người không luyến tiếc các dục.’ ‘Dục’ là, tóm lại có hai loại dục – dục đối tượng và dục phiền não... v.v... những thứ này được gọi là dục đối tượng... v.v... những thứ này được gọi là dục phiền não. Sau khi đã liễu tri các dục đối tượng, sau khi đã đoạn trừ, từ bỏ, loại bỏ, chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu các dục phiền não, vị ấy là người không luyến tiếc các dục, đã ly dục, đã từ bỏ dục, đã nôn ra dục, đã giải thoát khỏi dục, đã đoạn trừ dục, đã xả ly dục; đối với các dục, vị ấy đã ly tham, đã hết tham, đã từ bỏ tham, đã nôn ra tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã xả ly tham; không còn khao khát, đã tịch diệt, đã trở nên mát mẻ, cảm nhận được sự an lạc, vị ấy sống với tự thân đã trở nên cao thượng – (như vậy là ý nghĩa của câu) ‘Người không luyến tiếc các dục.’
Ganthā tassa na vijjantīti. Ganthāti cattāro ganthā – abhijjhā kāyagantho, byāpādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso kāyagantho, idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Attano diṭṭhiyā rāgo abhijjhā kāyagantho, paravādesu āghāto appaccayo byāpādo kāyagantho, attano sīlaṃ vā vataṃ vā sīlabbataṃ vā parāmāso sīlabbataparāmāso kāyagantho, attano diṭṭhi idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Ganthā tassa na vijjantīti. Ganthā tassa natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – ganthā tassa na vijjanti.
For him, bonds do not exist. ‘Bonds’ are of four kinds: the bodily bond of covetousness, the bodily bond of ill will, the bodily bond of grasping at precepts and vows, and the bodily bond of dogmatic adherence that ‘this alone is truth.’ Lust for one's own view is the bodily bond of covetousness. Hostility and displeasure towards the doctrines of others is the bodily bond of ill will. Grasping at one's own precepts, vows, or precepts and vows is the bodily bond of grasping at precepts and vows. Dogmatic adherence to one's own view that ‘this alone is truth’ is the bodily bond of dogmatic adherence. ‘For him’ refers to the Arahant, the one whose cankers are destroyed. For him, bonds do not exist. For him, bonds are not, do not exist, are not found, cannot be obtained; they are abandoned, cut off, thoroughly pacified, tranquilized, incapable of arising, and burned by the fire of knowledge. Thus, for him, bonds do not exist.
“Vị ấy không có các trói buộc.” Về (từ) “trói buộc”: có bốn sự trói buộc – tham thân phược, sân thân phược, giới cấm thủ thân phược, và đây là sự thật chấp thân phược. Sự tham ái trong tà kiến của mình là tham thân phược. Sự căm ghét, không ưa thích trong các quan điểm của người khác là sân thân phược. Sự chấp thủ vào giới của mình, hoặc hạnh của mình, hoặc giới và hạnh của mình (cho là thanh tịnh) là giới cấm thủ thân phược. Sự chấp thủ vào tà kiến của mình rằng “đây là sự thật” là đây là sự thật chấp thân phược. Về (từ) “vị ấy”: (nghĩa là) của bậc A-la-hán, bậc Lậu Tận. “Vị ấy không có các trói buộc.” Các trói buộc đối với vị ấy không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đó là ý nghĩa của câu) “vị ấy không có các trói buộc.”
Atarī so visattikanti. Visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Visattikāti kenaṭṭhena visattikā? Visatāti visattikā, visālāti visattikā, visaṭāti visattikā, visamāti visattikā, visakkatīti visattikā, visaṃharatīti visattikā, visaṃvādikāti visattikā, visamūlāti visattikā, visaphalāti visattikā, visaparibhogāti visattikā, visālā vā pana sā taṇhā rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kule… gaṇe… āvāse…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu visataṃ vitthatāti visattikā. Atarī so visattikanti. So imaṃ visattikaṃ taṇhaṃ atari uttari patari samatikkami vītivattīti – atarī so visattikaṃ.
He has crossed over attachment. ‘Attachment’ (visattikā) is a term for craving. It is that passion, fondness… covetousness, greed, the unwholesome root. In what sense is it called ‘attachment’? Because it spreads (visata), it is called attachment; because it is expansive (visālā), it is called attachment; because it pervades (visaṭā), it is called attachment; because it is uneven (visamā), it is called attachment; because it proceeds towards an object (visakkhati), it is called attachment; because it brings poison (visaṃ harati), it is called attachment; because it is deceptive (visaṃvādikā), it is called attachment; because it is the root of poison (visamūlā), it is called attachment; because it is the fruit of poison (visaphalā), it is called attachment; because its enjoyment is poison (visaparibhogā), it is called attachment. Or, alternatively, because that expansive (visālā) craving is spread out (visataṃ) and expanded (vitthatā) over forms… sounds… smells… tastes… touches… a family… a group… a dwelling… over things seen, heard, sensed, and cognized, it is called attachment. He has crossed over attachment. He has crossed, gone beyond, passed over, completely overcome, and especially overcome this clinging craving. Thus, he has crossed over attachment.
“Vị ấy đã vượt qua ái nhiễm.” Ái được gọi là visattikā (ái nhiễm). Bất cứ sự tham ái, sự say đắm nào... (v.v.)... tham dục, tham lam, là gốc rễ của bất thiện. Về (từ) visattikā: do ý nghĩa nào mà là visattikā? Vì nó lan rộng, nên là visattikā. Vì nó trải rộng, nên là visattikā. Vì nó bám víu, nên là visattikā. Vì nó không đồng đều, nên là visattikā. Vì nó tiến tới, nên là visattikā. Vì nó mang lại nọc độc (đau khổ), nên là visattikā. Vì nó lừa dối, nên là visattikā. Vì nó là gốc rễ của nọc độc, nên là visattikā. Vì nó là kết quả của nọc độc, nên là visattikā. Vì nó là sự hưởng thụ nọc độc, nên là visattikā. Hoặc lại nữa, ái đó lan rộng, trải rộng trong các pháp như sắc... thanh... hương... vị... xúc... gia đình... hội chúng... trú xứ... (v.v.)... trong những gì được thấy, nghe, cảm nhận, nhận biết, nên được gọi là visattikā. “Vị ấy đã vượt qua ái nhiễm.” Vị ấy đã vượt qua, đã đi qua, đã vượt lên, đã chiến thắng, đã thoát khỏi ái nhiễm này – (đó là ý nghĩa của câu) “vị ấy đã vượt qua ái nhiễm.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Taṃ brūmi upasantoti, kāmesu anapekkhinaṃ;
Ganthā tassa na vijjanti, atarī so visattika’’nti.
“Him I declare ‘the pacified one,’ who has no concern for sensual pleasures; for him, the bonds do not exist; he has crossed over attachment.”
“Ta gọi người ấy là bậc an tịnh, người không luyến tiếc trong các dục; vị ấy không có các trói buộc, vị ấy đã vượt qua ái nhiễm.”
93.
93.
93.
Na tassa puttā pasavo, khettaṃ vatthuñca vijjati;
Attā vāpi nirattā vā, na tasmiṃ upalabbhati.
For him, there exist no sons or livestock, no field or land. Neither the view of a self nor of annihilation is found in him.
Vị ấy không có con cái, gia súc, ruộng nương, và đất đai; nơi vị ấy, (quan điểm) có tự ngã hay không có tự ngã đều không được tìm thấy.
Na tassa puttā pasavo, khettaṃ vatthuñca vijjatīti. Nāti paṭikkhepo. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Puttāti cattāro puttā – attajo putto, khettajo putto, dinnako putto, antevāsiko putto. Pasavoti. Ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigāvāssavaḷavā. Khettanti sālikhettaṃ vīhikhettaṃ muggakhettaṃ māsakhettaṃ yavakhettaṃ godhumakhettaṃ tilakhettaṃ. Vatthunti gharavatthuṃ koṭṭhavatthuṃ purevatthuṃ pacchāvatthuṃ ārāmavatthuṃ vihāravatthuṃ. Na tassa puttā pasavo, khettaṃ vatthuñca vijjatīti. Tassa puttapariggaho vā pasupariggaho vā khettapariggaho vā vatthupariggaho vā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – na tassa puttā pasavo, khettaṃ vatthuñca vijjati.
“For him there are no sons, livestock, no field or site.” ‘Na’ (no) is a denial. ‘Tassa’ (for him) refers to the Arahant, one whose cankers are destroyed. ‘Puttā’ (sons) are four: a son born of oneself, a son born in the field, a given son, and a resident pupil. ‘Pasavo’ (livestock) means goats and sheep, fowl and pigs, elephants and cattle, horses and mares. ‘Khettaṃ’ (field) means a fine rice field, paddy field, mung bean field, black gram field, barley field, wheat field, or sesame field. ‘Vatthu’ (site) means a house-site, granary-site, front-yard site, back-yard site, monastery-park site, or monastery-site. “For him there are no sons, livestock, no field or site” means: For him, there is no possession of sons, livestock, fields, or sites—they do not exist, are not, are not found, are not obtained; they have been abandoned, utterly cut off, especially pacified, calmed again, are incapable of arising, and have been burned by the fire of knowledge. This is the meaning of the phrase: “For him there are no sons, livestock, no field or site.”
“Vị ấy không có con cái, gia súc, ruộng nương, và đất đai.” (Từ) na là sự phủ định. Về (từ) “vị ấy”: (nghĩa là) của bậc A-la-hán, bậc Lậu Tận. Về (từ) “con cái”: có bốn loại con – con do mình sanh ra, con sanh trong lãnh địa, con nuôi, con là đệ tử. Về (từ) “gia súc”: dê, cừu, gà, heo, voi, bò, ngựa, ngựa cái. Về (từ) “ruộng nương”: ruộng lúa sāli, ruộng lúa vīhi, ruộng đậu xanh, ruộng đậu đen, ruộng lúa mạch, ruộng lúa mì, ruộng mè. Về (từ) “đất đai”: đất nhà, đất kho, đất trước nhà, đất sau nhà, đất vườn, đất tu viện. “Vị ấy không có con cái, gia súc, ruộng nương, và đất đai.” Đối với vị ấy, sự chấp thủ con cái, hoặc sự chấp thủ gia súc, hoặc sự chấp thủ ruộng nương, hoặc sự chấp thủ đất đai không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đó là ý nghĩa của câu) “vị ấy không có con cái, gia súc, ruộng nương, và đất đai.”
Attā vāpi nirattā vā, na tasmiṃ upalabbhatīti. Attāti attadiṭṭhi, nirattāti ucchedadiṭṭhi; attāti gahitaṃ natthi, nirattāti muñcitabbaṃ natthi. Yassa natthi gahitaṃ tassa natthi muñcitabbaṃ. Yassa natthi muñcitabbaṃ tassa natthi gahitaṃ. Gāhamuñcanasamatikkanto arahā vuddhiparihānivītivatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātimaraṇasaṃsāro natthi tassa punabbhavoti – attā vāpi nirattā vā, na tasmiṃ upalabbhati.
“Neither ‘self’ nor ‘not-self’ is found in him.” ‘Attā’ (self) refers to the view of self; ‘nirattā’ (not-self) refers to the annihilation view. As ‘self,’ there is nothing grasped; as ‘not-self,’ there is nothing to be released. For one for whom there is nothing grasped, there is nothing to be released. For one for whom there is nothing to be released, there is nothing grasped. The Arahant has transcended grasping and releasing, has gone beyond increase and decrease. He has lived the life, has practiced the conduct… and so on… for him there is no renewed existence, which is the saṃsāra of birth and death. This is the meaning of the phrase: “Neither ‘self’ nor ‘not-self’ is found in him.”
“Nơi vị ấy, (quan điểm) có tự ngã hay không có tự ngã đều không được tìm thấy.” (Từ) attā là thường kiến (chấp có tự ngã), (từ) nirattā là đoạn kiến (chấp không có gì). (Chấp) có tự ngã là không có gì để nắm giữ, (chấp) không có tự ngã là không có gì để buông bỏ. Người nào không có gì để nắm giữ, người đó không có gì để buông bỏ. Người nào không có gì để buông bỏ, người đó không có gì để nắm giữ. Bậc A-la-hán đã vượt qua sự nắm giữ và buông bỏ, đã vượt qua sự tăng trưởng và suy tàn. Vị ấy đã sống xong đời sống (phạm hạnh), đã hoàn thành phận sự... (v.v.)... đối với vị ấy không còn tái sanh, không còn vòng luân hồi sanh tử – (đó là ý nghĩa của câu) “nơi vị ấy, (quan điểm) có tự ngã hay không có tự ngã đều không được tìm thấy.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na tassa puttā pasavo, khettaṃ vatthuñca vijjati;
Attā vāpi nirattā vā, na tasmiṃ upalabbhatī’’ti.
“For him there are no sons, livestock, field, or site; and in him neither ‘self’ nor ‘not-self’ is found.”
“Vị ấy không có con cái, gia súc, ruộng nương, và đất đai; nơi vị ấy, (quan điểm) có tự ngã hay không có tự ngã đều không được tìm thấy.”
94.
94.
94.
Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇā;
Taṃ tassa apurakkhataṃ, tasmā vādesu nejati.
That fault by which ordinary people, and also ascetics and brahmins, might speak of him—that is not put before him. Therefore, he does not tremble amidst criticisms.
Điều mà do đó các phàm phu, và cả các Sa-môn, Bà-la-môn, có thể nói về vị ấy (một cách tiêu cực), điều đó không được vị ấy đặt lên trước. Do đó, vị ấy không dao động trong các lời nói (chỉ trích).
Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇāti. Puthujjanāti puthu kilese janentīti puthujjanā, puthu avihatasakkāyadiṭṭhikāti puthujjanā, puthu satthārānaṃ mukhullokikāti † puthujjanā, puthu sabbagatīhi avuṭṭhitāti puthujjanā, puthu nānābhisaṅkhāre abhisaṅkharontīti puthujjanā, puthu nānāoghehi vuyhantīti puthujjanā, puthu nānāsantāpehi santappentīti puthujjanā, puthu nānāpariḷāhehi pariḍayhantīti puthujjanā, puthu pañcasu kāmaguṇesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhāti puthujjanā, puthu pañcahi nīvaraṇehi āvutā nivutā ovutā pihitā paṭicchannā paṭikujjitāti – puthujjanā. Samaṇāti ye keci ito bahiddhā paribbajūpagatā paribbajasamāpannā. Brāhmaṇāti ye keci bhovādikā. Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇāti. Puthujjanā yena taṃ rāgena vadeyyuṃ, yena dosena vadeyyuṃ, yena mohena vadeyyuṃ, yena mānena vadeyyuṃ, yāya diṭṭhiyā vadeyyuṃ, yena uddhaccena vadeyyuṃ, yāya vicikicchāya vadeyyuṃ, yehi anusayehi vadeyyuṃ, rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā te abhisaṅkhārā pahīnā; abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyā † yena taṃ vadeyyuṃ – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi yena naṃ vadeyyuṃ katheyyuṃ bhaṇeyyuṃ dīpayeyyuṃ vohareyyunti – yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇā.
“By which ordinary people, and also ascetics and brahmins, might speak of him.” As for ‘ordinary people’ (puthujjanā): because they generate (‘janenti’) many (‘puthu’) defilements (‘kilese’), they are called ‘ordinary people’; because they have not destroyed (‘avihita’) the many kinds of personality-view (‘puthu…sakkāyadiṭṭhikā’), they are called ‘ordinary people’; because they look up to the faces (‘mukhullokikā’) of many teachers (‘puthu satthārānaṃ’), they are called ‘ordinary people’; because they construct (‘abhisaṅkharonti’) many various formations (‘puthu nānābhisaṅkhāre’), they are called ‘ordinary people’; because they are swept away (‘vuyhanti’) by many various floods (‘puthu nānāoghehi’), they are called ‘ordinary people’; because they are tormented (‘santappenti’) by many various torments (‘puthu nānāsantāpehi’), they are called ‘ordinary people’; because they are burned (‘pariḍayhanti’) by many various burnings (‘puthu nānāpariḷāhehi’), they are called ‘ordinary people’; because they are attached (‘rattā’), greedy (‘giddhā’), tied (‘gadhitā’), infatuated (‘mucchiṭā’), clinging (‘ajjhosannā’), stuck (‘laggā’), ensnared (‘laggitā’), and fettered (‘palibuddhā’) to the five strands of sensual pleasure, they are called ‘ordinary people’; because they are covered (‘āvutā’), hindered (‘nivutā’), enveloped (‘ovutā’), shut in (‘pihitā’), concealed (‘paṭicchannā’), and overturned (‘paṭikujjitā’) by the five hindrances, they are called ‘ordinary people’. As for ‘ascetics’ (samaṇā), it refers to any whatsoever who are outside this Dispensation, who have approached and undertaken the wandering life. As for ‘brahmins’ (brāhmaṇā), it refers to any whatsoever who are accustomed to saying ‘bho’. “By which ordinary people, and also ascetics and brahmins, might speak of him.” Ordinary people might speak of him with that lust, with that hate, with that delusion, with that conceit, with that view, with that restlessness, with that doubt, with those underlying tendencies—as ‘attached,’ or ‘hostile,’ or ‘deluded,’ or ‘fettered,’ or ‘one who has gone to distraction,’ or ‘undecided,’ or ‘obstinate.’ Those formations have been abandoned; because of the abandonment of formations, by which they might speak of him in terms of destiny—as a ‘hell-being,’ or one in the ‘ghost-realm,’ or a ‘human being,’ or a ‘divine being,’ or one ‘with form,’ or one ‘without form,’ or one ‘with perception,’ or one ‘without perception,’ or one with ‘neither-perception-nor-non-perception.’ That cause does not exist, that condition does not exist, that reason does not exist by which they might speak of him, talk of him, recite about him, point him out, or designate him. This is the meaning of “By which ordinary people, and also ascetics and brahmins, might speak of him.”
Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇāti (Do phàm phu, và cả Sa-môn, Bà-la-môn có thể nói về vị ấy). Puthujjanāti (Về phàm phu): Vì làm sanh khởi nhiều phiền não nên là phàm phu, vì có nhiều thân kiến chưa được loại bỏ nên là phàm phu, vì là người ngước nhìn mặt của nhiều vị đạo sư nên là phàm phu, vì chưa thoát ra khỏi tất cả các cõi nên là phàm phu, vì tạo tác nhiều hành khác nhau nên là phàm phu, vì bị nhiều bộc lưu khác nhau cuốn trôi nên là phàm phu, vì bị nhiều sự thiêu đốt khác nhau làm cho nóng nảy nên là phàm phu, vì bị nhiều sự thiêu đốt khác nhau thiêu đốt nên là phàm phu, vì tham đắm, say mê, dính mắc, mê muội, chìm đắm, bám víu, vướng mắc, bị trói buộc trong năm dục công đức nên là phàm phu, vì bị năm triền cái che đậy, ngăn che, bao phủ, đóng lại, che khuất, úp lại nên là phàm phu. Samaṇāti (Về Sa-môn): là bất cứ ai ở ngoài (giáo pháp) này đã đi đến (đời sống) du sĩ, đã thành tựu (đời sống) du sĩ. Brāhmaṇāti (Về Bà-la-môn): là bất cứ ai có thuyết xưng hô 'bạn'. Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇāti (Do phàm phu, và cả Sa-môn, Bà-la-môn có thể nói về vị ấy): Phàm phu có thể nói về vị ấy do tham ấy, có thể nói do sân ấy, có thể nói do si ấy, có thể nói do mạn ấy, có thể nói do tà kiến ấy, có thể nói do trạo cử ấy, có thể nói do hoài nghi ấy, có thể nói do các tùy miên ấy, rằng: 'là người tham ái,' hay 'là người sân hận,' hay 'là người si mê,' hay 'là người bị trói buộc,' hay 'là người chấp thủ,' hay 'là người bị phân tán,' hay 'là người chưa đi đến quyết định,' hay 'là người đã đi đến sức mạnh.' Các hành ấy đã được đoạn trừ; do sự đoạn trừ các hành, do cõi (tái sanh), mà họ có thể nói về vị ấy rằng: 'là chúng sanh địa ngục,' hay 'là loài bàng sanh,' hay 'là chúng sanh trong cõi ngạ quỷ,' hay 'là người,' hay 'là chư thiên,' hay 'là hữu sắc,' hay 'là vô sắc,' hay 'là hữu tưởng,' hay 'là vô tưởng,' hay 'là phi tưởng phi phi tưởng.' Nhân ấy không có, duyên ấy không có, nguyên nhân ấy không có, do đó họ có thể nói, có thể kể, có thể tuyên bố, có thể chỉ rõ, có thể nói năng về vị ấy. – (Đây là ý nghĩa của câu) Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇā.
Taṃ tassa apurakkhatanti. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Purekkhārāti dve purekkhārā – taṇhāpurekkhāro ca diṭṭhipurekkhāro ca…pe… ayaṃ taṇhāpurekkhāro…pe… ayaṃ diṭṭhipurekkhāro. Tassa taṇhāpurekkhāro pahīno, diṭṭhipurekkhāro paṭinissaṭṭho; taṇhāpurekkhārassa pahīnattā, diṭṭhipurekkhārassa paṭinissaṭṭhattā na taṇhaṃ vā diṭṭhiṃ vā purato katvā carati, na taṇhādhajo na taṇhāketu na taṇhādhipateyyo, na diṭṭhidhajo na diṭṭhiketu na diṭṭhādhipateyyo, na taṇhāya vā na diṭṭhiyā vā parivārito caratīti – taṃ tassa apurakkhataṃ.
“That is not placed in front by him.” ‘His’ refers to the Arahant, one whose taints are destroyed. ‘Placing in front’ is twofold: placing craving in front and placing view in front… This is placing craving in front… This is placing view in front. For him, placing craving in front is abandoned, and placing view in front is relinquished. Because placing craving in front is abandoned and placing view in front is relinquished, he does not conduct himself by putting craving or view before him; he is without the banner of craving, the standard of craving, or the sovereignty of craving; he is without the banner of view, the standard of view, or the sovereignty of view; he does not conduct himself surrounded by craving or by view. Thus, “that is not placed in front by him.”
Taṃ tassa apurakkhatanti (Điều ấy không được vị ấy đặt lên trước). Tassāti (Tassa - của vị ấy) nghĩa là của bậc A-la-hán, bậc Lậu Tận. Purekkhārāti (Về sự đặt lên trước): có hai sự đặt lên trước – sự đặt lên trước của ái và sự đặt lên trước của tà kiến... ... đây là sự đặt lên trước của ái... ... đây là sự đặt lên trước của tà kiến. Đối với vị ấy, sự đặt lên trước của ái đã được đoạn trừ, sự đặt lên trước của tà kiến đã được từ bỏ; do sự đoạn trừ sự đặt lên trước của ái, do sự từ bỏ sự đặt lên trước của tà kiến, vị ấy không hành động với việc đặt ái hay tà kiến lên trước, không có ái làm cờ xí, không có ái làm biểu tượng, không có ái làm chủ tể; không có tà kiến làm cờ xí, không có tà kiến làm biểu tượng, không có tà kiến làm chủ tể, vị ấy không hành động khi bị ái hay tà kiến vây quanh. – (Đây là ý nghĩa của) taṃ tassa apurakkhataṃ.
Tasmā vādesu nejatīti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā vādesu upavādesu nindāya garahāya akittiyā avaṇṇahārikāya nejati na iñjati na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhatīti – tasmā vādesu nejati.
“Therefore, he is not shaken in disputes.” ‘Therefore’ means: for that reason, on that account, from that cause, due to that condition, from that source. In disputes, accusations, blame, censure, ill-repute, or disparagement, ‘he is not shaken’ means he is not shaken, does not stir, does not move, does not tremble, does not tremble violently, and does not tremble all around. Thus, “he is not shaken in disputes.”
Tasmā vādesu nejatīti (Do đó, không rung động trong các tranh luận). Tasmāti (Tasmā - do đó) nghĩa là: do đó, vì nguyên nhân ấy, vì nhân ấy, vì duyên ấy, vì lý do ấy. Vādesu (trong các tranh luận), trong các lời buộc tội, trong sự khiển trách, trong sự chỉ trích, trong sự tai tiếng, trong sự mang lại tiếng xấu, nejati (không rung động), không lay động, không chuyển động, không chấn động, không run rẩy, không dao động. – (Đây là ý nghĩa của) tasmā vādesu nejati.
Tenāha bhagavā –
Thus spoke the Blessed One:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yena naṃ vajjuṃ puthujjanā, atho samaṇabrāhmaṇā;
Taṃ tassa apurakkhataṃ, tasmā vādesu nejatī’’ti.
“That by which ordinary people, and also ascetics and brahmins, might speak of him—that is not placed in front by him. Therefore, he is not shaken in disputes.”
“Do điều gì phàm phu, và cả Sa-môn, Bà-la-môn, có thể nói về vị ấy; Điều ấy không được vị ấy đặt lên trước, do đó, không rung động trong các tranh luận.”
95.
95.
95.
Vītagedho amaccharī, na ussesu vadate muni;
Na samesu na omesu, kappaṃ neti akappiyo.
The sage, free from greed and without selfishness, does not speak of himself as superior, nor as equal, nor as inferior. Not being subject to conceiving, he does not enter into conceiving.
Bậc ẩn sĩ đã lìa tham ái, không keo kiệt, không nói (mình) trong số những người cao tột; không (nói mình) trong số những người ngang bằng, không (nói mình) trong số những người thấp kém, vị không còn bị điều kiện hóa không đi đến sự điều kiện hóa.
Vītagedho amaccharīti. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yasseso gedho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati vītagedho. So rūpe agiddho…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu agiddho agadhito amucchito anajjhosito, vītagedho vigatagedho cattagedho vantagedho muttagedho pahīnagedho paṭinissaṭṭhagedho nicchāto…pe… brahmabhūtena attanā viharatīti – vītagedho. Amaccharīti macchariyanti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ…pe… gāho – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Yassetaṃ macchariyaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati amaccharīti – vītagedho amaccharī.
“Free from greed, without stinginess.” Greed (gedha) is said to be craving (taṇhā). Whatever passion, intense passion... covetousness, greed, an unwholesome root. For whom this greed is abandoned, utterly cut off, pacified, calmed, incapable of arising, and burned by the fire of knowledge—he is called 'one free from greed' (vītagedha). He is not greedy for forms... for things seen, heard, sensed, and cognized, he is not greedy (agiddha), not tied (agadhita), not infatuated (amucchita), not possessed (anajjhosita); he is free from greed (vītagedha), has greed departed (vigatagedha), has greed discarded (cattagedha), has greed vomited (vantagedha), has greed released (muttagedha), has greed abandoned (pahīnagedha), has greed relinquished (paṭinissaṭṭhagedha), is without craving (nicchāta)... he dwells with a self that has become sublime (brahmabhūtena)—thus, 'one free from greed'. “Without stinginess” (amaccharī): Stinginess (macchariya) refers to the five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings, stinginess regarding families, stinginess regarding gains, stinginess regarding appearance, and stinginess regarding the Dhamma. Whatever is of such a nature... a grip (gāha)—this is called stinginess. For whom this stinginess is abandoned, utterly cut off, pacified, calmed, incapable of arising, and burned by the fire of knowledge—he is called 'one without stinginess' (amaccharī). Thus, “free from greed, without stinginess.”
Vītagedho amaccharīti (Đã lìa tham ái, không keo kiệt). Gedho (sự tham lam) được gọi là ái. Bất cứ sự tham ái, sự say đắm nào... ... sự tham lam, lòng tham, gốc rễ bất thiện. Vị nào mà sự tham lam này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là vītagedha (người đã lìa tham ái). Vị ấy không tham đắm sắc... ... không tham đắm, không dính mắc, không mê muội, không chìm đắm trong các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; đã lìa tham ái, đã từ bỏ tham ái, đã vứt bỏ tham ái, đã nôn ra tham ái, đã giải thoát khỏi tham ái, đã đoạn trừ tham ái, đã từ bỏ hoàn toàn tham ái, không còn khao khát... ... sống với tự thân đã trở nên thanh tịnh. – (Đây là ý nghĩa của) vītagedho. Amaccharīti (Về không keo kiệt): Về macchariyaṃ (sự keo kiệt), có năm loại keo kiệt – keo kiệt về trú xứ, keo kiệt về gia đình, keo kiệt về lợi lộc, keo kiệt về dung sắc, keo kiệt về Pháp. Bất cứ sự keo kiệt nào như vậy... ... sự nắm giữ – đây được gọi là sự keo kiệt. Vị nào mà sự keo kiệt này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là amaccharī (người không keo kiệt). – (Đây là ý nghĩa của) vītagedho amaccharī.
Na ussesu vadate muni, na samesu na omesūti. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. ‘‘Seyyohamasmī’’ti vā, ‘‘sadisohamasmī’’ti vā, ‘‘hīnohamasmī’’ti vā na vadati na katheti na bhaṇati na dīpayati na voharatīti – na ussesu vadate muni, na samesu na omesu.
“The sage does not speak in terms of superiority, equality, or inferiority.” Regarding 'sage' (muni): Sagehood (mona) is said to be knowledge (ñāṇa)... having transcended the net of attachments, he is a sage. He does not say, “I am superior,” nor “I am equal,” nor “I am inferior”—he does not say, declare, state, show, or speak of it. Thus, “the sage does not speak in terms of superiority, equality, or inferiority.”
Na ussesu vadate muni, na samesu na omesūti (Bậc ẩn sĩ không nói (mình) trong số những người cao tột, không (nói mình) trong số những người ngang bằng, không (nói mình) trong số những người thấp kém). Munīti (Về bậc ẩn sĩ): Monaṃ (sự tĩnh lặng) được gọi là trí tuệ... ... vượt qua lưới ái trước, vị ấy là bậc ẩn sĩ. Vị ấy không nói, không kể, không tuyên bố, không chỉ rõ, không nói năng rằng: ‘Ta là bậc cao tột hơn,’ hay ‘Ta là bậc ngang bằng,’ hay ‘Ta là bậc thấp kém hơn.’ – (Đây là ý nghĩa của) na ussesu vadate muni, na samesu na omesu.
Kappaṃ neti akappiyoti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tassa taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho; taṇhākappassa pahīnattā, diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā neti na upeti na upagacchati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – kappaṃ neti. Akappiyoti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tassa taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho; tassa taṇhākappassa pahīnattā, diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā na kappeti na janeti na sañjaneti na nibbatteti nābhinibbattetīti – kappaṃ neti akappiyo.
“He does not go to conception, he is one who does not conceive.” Regarding “conception”: there are two conceptions—the conception that is craving and the conception that is view... this is the conception that is craving... this is the conception that is view. For him, the conception that is craving is abandoned, the conception that is view is relinquished; because the conception that is craving has been abandoned and because the conception that is view has been relinquished, he does not go to, does not approach, does not draw near, does not grasp, does not hold on to, and does not adhere to the conception that is craving or the conception that is view—this is “he does not go to conception.” Regarding “one who does not conceive”: “conception” refers to two conceptions—the conception that is craving and the conception that is view... this is the conception that is craving... this is the conception that is view. For him, the conception that is craving is abandoned, the conception that is view is relinquished; for him, because the conception that is craving has been abandoned and because the conception that is view has been relinquished, he does not conceive, does not generate, does not produce, does not bring into existence, or does not bring into renewed existence the conception that is craving or the conception that is view—this is “he does not go to conception, he is one who does not conceive.”
Kappaṃ neti akappiyo (không dẫn dắt đến sự hình thành, là người không hình thành). Về kappā (sự hình thành), có hai sự hình thành: sự hình thành do tham ái và sự hình thành do tà kiến ... (vân vân) ... đây là sự hình thành do tham ái ... (vân vân) ... đây là sự hình thành do tà kiến. Vị ấy đã đoạn tận sự hình thành do tham ái, đã từ bỏ sự hình thành do tà kiến; do đã đoạn tận sự hình thành do tham ái, do đã từ bỏ sự hình thành do tà kiến, vị ấy không dẫn dắt, không đi đến, không lại gần, không nắm giữ, không tiếp xúc, không chấp thủ sự hình thành do tham ái hoặc sự hình thành do tà kiến. Như vậy là ý nghĩa của kappaṃ neti (không dẫn dắt đến sự hình thành). Về akappiyo (là người không hình thành). Về kappā (sự hình thành), có hai sự hình thành: sự hình thành do tham ái và sự hình thành do tà kiến ... (vân vân) ... đây là sự hình thành do tham ái ... (vân vân) ... đây là sự hình thành do tà kiến. Vị ấy đã đoạn tận sự hình thành do tham ái, đã từ bỏ sự hình thành do tà kiến; do vị ấy đã đoạn tận sự hình thành do tham ái, do đã từ bỏ sự hình thành do tà kiến, vị ấy không hình thành, không tạo ra, không sản sinh, không làm phát sinh, không làm phát sinh mới sự hình thành do tham ái hoặc sự hình thành do tà kiến. Như vậy là ý nghĩa của kappaṃ neti akappiyo (không dẫn dắt đến sự hình thành, là người không hình thành).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Vītagedho amaccharī, na ussesu vadate muni;
Na samesu na omesu, kappaṃ neti akappiyo’’ti.
“The sage, free from greed and without stinginess, does not declare himself among the superior, nor among the equal, nor among the inferior. He who is free from conceptions does not go to conception.”
“Bậc thánh nhân đã thoát khỏi tham lam, không có sự keo kiệt, không nói về mình trong những hạng hơn, không nói trong những hạng bằng, không nói trong những hạng kém. Là người không hình thành, vị ấy không đi đến sự hình thành.”
96.
96.
96.
Yassa loke sakaṃ natthi, asatā ca na socati;
Dhammesu ca na gacchati, sa ve santoti vuccati.
“He for whom there is nothing of his own in the world, who does not sorrow over what is non-existent, and who does not go astray with regard to any dhammas, he indeed is called 'the peaceful one'.”
Người nào ở đời không có gì là của riêng, và không sầu muộn vì cái không có; và không đi theo các pháp (thiên kiến), vị ấy thật sự được gọi là người tịch tịnh.
Yassa loke sakaṃ natthīti. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Loke sakaṃ natthīti. Tassa mayhaṃ vā idaṃ paresaṃ vā idanti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ, gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ, natthi na santi…pe… ñāṇagginā daḍḍhanti – yassa loke sakaṃ natthi. Asatā ca na socatīti. Vipariṇataṃ vā vatthuṃ na socati, vipariṇatasmiṃ vā vatthusmiṃ na socati. Cakkhu me vipariṇatanti na socati. Sotaṃ me… ghānaṃ me… jivhā me… kāyo me… mano me… rūpā me… saddā me… gandhā me… rasā me… phoṭṭhabbā me… kulaṃ me… gaṇo me… āvāso me… lābho me… yaso me… pasaṃsā me… sukhaṃ me… cīvaraṃ me… piṇḍapāto me… senāsanaṃ me… gilānapaccayabhesajjaparikkhāro me… mātā me… pitā me… bhātā me… bhaginī me… putto me… dhītā me… mittā me… amaccā me… ñātakā me… sālohitā me vipariṇatāti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi, asatā ca na socati.
“For whom there is nothing of his own in the world.” “For whom” refers to the Arahant, one whose cankers are destroyed. “There is nothing of his own in the world” means: for that person, there is no grasping, holding, adhering to, being engrossed in, or being resolved upon anything related to form, feeling, perception, formations, or consciousness with the thought, “Let this be for me,” or “Let this be for others.” It does not exist, it is not present... it is burned by the fire of knowledge—thus, “for whom there is nothing of his own in the world.” “And who does not sorrow over what is non-existent”: He does not sorrow over a thing that has changed, nor does he sorrow on account of a thing that has changed. He does not sorrow, thinking: “My eye has changed,” or “My ear... my nose... my tongue... my body... my mind... my forms... my sounds... my smells... my tastes... my tactile objects... my family... my group... my dwelling... my gain... my fame... my praise... my pleasure... my robe... my almsfood... my lodging... my medicinal requisites... my mother... my father... my brother... my sister... my son... my daughter... my friends... my associates... my relatives... my blood relatives have changed.” He does not sorrow, does not become weary, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into confusion. In this way also, the meaning of “and who does not sorrow over what is non-existent” is to be understood.
Yassa loke sakaṃ natthi (Người nào ở đời không có gì là của riêng). Yassa (người nào) ở đây là chỉ bậc A-la-hán, bậc lậu tận. Loke sakaṃ natthi (ở đời không có gì là của riêng) có nghĩa là: Vị ấy không có bất cứ điều gì liên quan đến sắc, thọ, tưởng, hành, thức được nắm giữ, tiếp xúc, chấp thủ, bám víu, quyết đoán theo kiểu “cái này là của ta” hay “cái này là của người khác”; chúng không có, không tồn tại ... (vân vân) ... đã bị thiêu rụi bởi ngọn lửa trí tuệ. Như vậy là ý nghĩa của yassa loke sakaṃ natthi. Asatā ca na socati (và không sầu muộn vì cái không có) có nghĩa là: Vị ấy không sầu muộn về vật đã biến hoại, hoặc không sầu muộn vì vật đã biến hoại. Vị ấy không sầu muộn rằng: “Mắt của ta đã biến hoại.” Tai của ta... mũi của ta... lưỡi của ta... thân của ta... ý của ta... các sắc của ta... các tiếng của ta... các mùi của ta... các vị của ta... các vật xúc chạm của ta... gia tộc của ta... hội chúng của ta... trú xứ của ta... lợi lộc của ta... danh vọng của ta... lời tán dương của ta... hạnh phúc của ta... y của ta... vật thực khất thực của ta... sàng tọa của ta... dược phẩm trị bệnh của ta... mẹ của ta... cha của ta... anh em của ta... chị em của ta... con trai của ta... con gái của ta... bạn bè của ta... người thân cận của ta... bà con của ta... quyến thuộc của ta đã biến hoại. Vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào si mê. Theo cách này cũng là ý nghĩa của asatā ca na socati.
Atha vā asantāya † dukkhāya vedanāya phuṭṭho pareto samohito samannāgato na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjati. Cakkhurogena phuṭṭho pareto samohito samannāgato na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjati, sotarogena… ghānarogena… jivhārogena… kāyarogena… sīsarogena… kaṇṇarogena… mukharogena… dantarogena… kāsena… sāsena… pināsena… ḍāhena… jarena… kucchirogena… mucchāya… pakkhandikāya… sūlena… visūcikāya… kuṭṭhena… gaṇḍena… kilāsena… sosena… apamārena… dadduyā… kaṇḍuyā… kacchuyā… rakhasāya … vitacchikāya… lohitena… pittena… madhumehena… aṃsāya… piḷakāya… bhagandalena † … pittasamuṭṭhānena ābādhena… semhasamuṭṭhānena ābādhena… vātasamuṭṭhānena ābādhena… sannipātikena ābādhena… utupariṇāmajena ābādhena… visamaparihārajena ābādhena… opakkamikena ābādhena… kammavipākajena ābādhena… sītena… uṇhena… jighacchāya… pipāsāya… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi phuṭṭho pareto samohito samannāgato na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi, asatā ca na socati.
Or else, when afflicted, overwhelmed, and beset by a non-existent, painful feeling, he does not sorrow, does not become distressed, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into confusion. When afflicted, overwhelmed, and beset by eye disease… ear disease… nose disease… tongue disease… body disease… head disease… outer ear disease… mouth disease… tooth disease… a cough… asthma… catarrh… a burning sensation… a fever… stomach disease… fainting… dysentery… colic… cholera… leprosy… boils… a skin disease… consumption… epilepsy… ringworm… itch… scabies… scratches… skin eruptions… a blood disorder… a bile disorder… diabetes… shoulder pain… abscesses… fistula… an illness arising from bile… an illness arising from phlegm… an illness arising from wind… an illness arising from a combination of these… an illness arising from a change of seasons… an illness arising from improper conduct… an illness arising from external attack… an illness arising from the result of kamma… by cold… heat… hunger… thirst… or by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things, he does not sorrow, does not become distressed, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into confusion. In this way also, the meaning of 'and who does not sorrow over what is non-existent' is to be understood.
Hoặc là, khi bị cảm thọ khổ không tồn tại (đã qua hoặc chưa đến) xúc chạm, xâm chiếm, bao vây, áp đảo, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào si mê. Khi bị bệnh về mắt xúc chạm, xâm chiếm, bao vây, áp đảo, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào si mê; khi bị bệnh về tai... bệnh về mũi... bệnh về lưỡi... bệnh về thân... bệnh về đầu... bệnh về tai... bệnh về miệng... bệnh về răng... bệnh ho... bệnh suyễn... bệnh sổ mũi... bệnh nóng sốt... bệnh sốt rét... bệnh đau bụng... bệnh ngất xỉu... bệnh kiết lỵ... bệnh đau nhói... bệnh thổ tả... bệnh cùi... bệnh ung nhọt... bệnh ngoài da... bệnh lao... bệnh động kinh... bệnh hắc lào... bệnh ngứa... bệnh ghẻ... bệnh vảy nến... bệnh bạch biến... bệnh do máu... bệnh do mật... bệnh do đàm... bệnh do gió... bệnh do sự kết hợp (của các thể dịch)... bệnh do thời tiết thay đổi... bệnh do tư thế không điều độ... bệnh do tác động bên ngoài... bệnh do quả của nghiệp... do lạnh... do nóng... do đói... do khát... do sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào si mê. Theo cách này cũng là ý nghĩa của asatā ca na socati.
Atha vā asante asaṃvijjamāne anupalabbhamāne † – ‘‘aho vata me taṃ natthi, siyā vata me taṃ, taṃ vatāhaṃ na ca labhāmī’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi asatā ca na socati. Dhammesu ca na gacchatīti na chandāgatiṃ gacchati, na dosāgatiṃ gacchati, na mohāgatiṃ gacchati, na bhayāgatiṃ gacchati, na rāgavasena gacchati, na dosavasena gacchati, na mohavasena gacchati, na mānavasena gacchati, na diṭṭhivasena gacchati, na uddhaccavasena gacchati, na vicikicchāvasena gacchati, na anusayavasena gacchati na ca vaggehi dhammehi yāyati nīyati vuyhati saṃharīyatīti – dhammesu ca na gacchati.
Or alternatively, when something is non-existent, is not found, is unobtainable, one does not sorrow, is not wearied, does not lament, does not beat the breast and wail, and does not fall into confusion, thinking: 'Alas, indeed, I do not have that! If only I had that! Indeed, I do not obtain that!' In this way also, one 'does not sorrow over what is non-existent.' And 'one does not go astray in regard to phenomena' means: one does not go the wrong course through desire, does not go the wrong course through hatred, does not go the wrong course through delusion, and does not go the wrong course through fear. One does not go by the power of lust, by the power of hatred, by the power of delusion, by the power of conceit, by the power of views, by the power of restlessness, by the power of doubt, or by the power of underlying tendencies. And one is not moved, led, carried away, or drawn in by factious states. Thus, 'one does not go astray in regard to phenomena.'
Hoặc là, đối với cái không có, không hiện hữu, không thể đạt được, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than khóc, không đấm ngực kêu la, không rơi vào si mê rằng: “Ôi, ta không có cái đó! Ước gì ta có được cái đó! Ôi, ta không thể có được cái đó!” Theo cách này cũng là ý nghĩa của asatā ca na socati. Dhammesu ca na gacchati (và không đi theo các pháp) có nghĩa là: không đi theo thiên kiến vì tham dục, không đi theo thiên kiến vì sân hận, không đi theo thiên kiến vì si mê, không đi theo thiên kiến vì sợ hãi; không đi theo quyền lực của tham, không đi theo quyền lực của sân, không đi theo quyền lực của si, không đi theo quyền lực của mạn, không đi theo quyền lực của tà kiến, không đi theo quyền lực của trạo cử, không đi theo quyền lực của hoài nghi, không đi theo quyền lực của tùy miên; và không bị dẫn dắt, không bị lôi cuốn, không bị cuốn trôi, không bị mang đi bởi các nhóm pháp (bất thiện). Như vậy là ý nghĩa của dhammesu ca na gacchati.
Sa ve santoti vuccatīti. So santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti vuccati pavuccati kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyatīti – sa ve santoti vuccati.
“He is truly called peaceful” means: He is called peaceful, calmed, especially peaceful, extinguished, and fully tranquil. He is said to be so, spoken of, declared, recited, explained, and termed as such. Thus, “He is truly called peaceful.”
Sa ve santoti vuccati (vị ấy thật sự được gọi là người tịch tịnh) có nghĩa là: Vị ấy được gọi là, được nói đến là, được kể là, được tuyên đọc là, được chỉ rõ là, được mệnh danh là người tịch tịnh, người an tịnh, người hoàn toàn an tịnh, người đã dập tắt, người đã lắng dịu. Như vậy là ý nghĩa của sa ve santoti vuccati.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Yassa loke sakaṃ natthi, asatā ca na socati;
Dhammesu ca na gacchati, sa ve santoti vuccatī’’ti.
“For whom there is nothing of his own in the world, and who does not sorrow over what is non-existent; who does not go astray in regard to phenomena—he, truly, is called peaceful.”
“Người nào ở đời không có gì là của riêng, và không sầu muộn vì cái không có; và không đi theo các pháp (thiên kiến), vị ấy thật sự được gọi là người tịch tịnh.”
The tenth exposition of the Purābhedasutta.
Phần giải thích kinh Purābheda, chương thứ mười.