Bản dịch
MND 7 — Diễn Giải Kinh Tissa Metteyya
7. Tissametteyyasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh về vị Tissa Metteyya được nói đến:
“ Bạch Ngài, xin Ngài hãy nói về sự tàn hại dành cho kẻ đeo đuổi việc đôi lứa. Sau khi lắng nghe lời dạy của Ngài, chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly ,” ( vị Tissa Metteyya đã nói thế ấy ).
Dành cho kẻ đeo đuổi việc đôi lứa : Việc đôi lứa nghĩa là việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Vì lý do gì mà được gọi là pháp đôi lứa? Khi cả hai bị luyến ái, bị luyến ái nặng, bị nhiễm dục, bị khởi dục, có tâm bị nắm giữ, cả hai là tương tự nhau về bản thể; vì lý do ấy mà được gọi là pháp đôi lứa. Giống như hai người gây nên sự xung đột được gọi là tay đôi, hai người gây nên sự cãi cọ được gọi là tay đôi, hai người gây nên sự tranh luận được gọi là tay đôi, hai người gây nên sự nói chuyện nhảm nhí được gọi là tay đôi, hai người gây nên sự tranh tụng được gọi là tay đôi, hai người tranh luận được gọi là tay đôi, hai người chuyện trò được gọi là tay đôi. Tương tự y như thế, khi cả hai bị luyến ái, bị luyến ái nặng, bị nhiễm dục, bị khởi dục, có tâm bị nắm giữ, cả hai là tương tự nhau về bản thể; vì lý do ấy mà được gọi là pháp đôi lứa. Dành cho kẻ đeo đuổi việc đôi lứa : dành cho kẻ gắn bó, gắn liền, gắn chặt, kết gắn ở pháp đôi lứa, đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, uốn cong theo nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, hướng đến nó, xem nó là chủ đạo. ‘Dành cho kẻ đeo đuổi việc đôi lứa’ là thế ấy.
Đại đức Tissa Metteyya đã nói thế ấy - Thế ấy : điều này nghĩa là sự liên kết từ, sự kết hợp từ, sự làm đầy đủ từ, sự gắn liền các mẫu tự, trạng thái trôi chảy của âm, tính chất tiếp nối của từ. Đại đức - Từ ‘đại đức’ này là lời nói quý mến, lời nói kính trọng, lời nói có sự tôn kính, lời nói của sự phục tùng. Tisso : là tên của vị trưởng lão ấy, là sự ấn định, sự chỉ định, sự quy định, sự diễn tả, tên gọi, sự đặt tên, sự định danh, từ mô tả, tên hiệu, từ kêu gọi. Metteyyo : là họ của vị trưởng lão ấy, là sự ấn định, sự chỉ định, sự quy định, sự diễn tả. ‘Vị Tissa Metteyya đã nói thế ấy’ là thế ấy.
Bạch Ngài, xin Ngài hãy nói về sự tàn hại - Sự tàn hại : Sự tàn hại là sự phá hại, sự hành hạ, sự khuấy rồi, sự bất hạnh, sự nguy hiểm. Xin Ngài hãy nói : Xin Ngài hãy bảo, hãy thuyết giảng, hãy thông báo, hãy ấn định, hãy khai mở, hãy chia sẻ, hãy làm rõ, hãy bày tỏ. Bạch Ngài : từ ‘bạch Ngài’ này là lời nói quý mến, lời nói kính trọng, lời nói có sự tôn kính, lời nói của sự phục tùng. ‘Bạch Ngài, xin Ngài hãy nói về sự tàn hại’ là thế ấy.
Sau khi lắng nghe lời dạy của Ngài : Sau khi lắng nghe, sau khi nghe rõ, sau khi học hỏi, sau khi tiếp thu, sau khi xem xét lời nói, lời phát biểu, bài thuyết giảng, sự chỉ dạy, sự khuyên bảo của Ngài. ‘Sau khi lắng nghe lời dạy của Ngài’ là thế ấy.
Chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly - Hạnh viễn ly : Có ba hạnh viễn ly: thân viễn ly, tâm viễn ly, sanh y viễn ly.
Thế nào là thân viễn ly? Ở đây, vị tỳ khưu thân cận chỗ trú ngụ vắng vẻ, khu rừng rậm, gốc cây, sườn núi, thung lũng, khe núi, bãi tha ma, khu rừng thưa, đồng trống, đống rơm, và sống cô quạnh về thân. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, đi vào làng để khất thực một mình, đi trở về một mình, ngồi cô độc một mình, quyết định kinh hành một mình, thực hành một mình, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng một mình. Đây là thân viễn ly.
Thế nào là tâm viễn ly? Đối với vị thể nhập sơ thiền, tâm được viễn ly các pháp che lấp. Đối với vị thể nhập nhị thiền, tâm được viễn ly tầm và tứ. Đối với vị thể nhập tam thiền, tâm được viễn ly hỷ. Đối với vị thể nhập tứ thiền, tâm được viễn ly lạc và khổ. Đối với vị thể nhập không vô biên xứ, tâm được viễn ly sắc tưởng, bất bình tưởng, dị biệt tưởng. Đối với vị thể nhập thức vô biên xứ, tâm được viễn ly không vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập vô sở hữu xứ, tâm được viễn ly thức vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm được viễn ly vô sở hữu xứ tưởng. Đối với vị Nhập Lưu, tâm được viễn ly sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự, tà kiến tiềm ẩn, hoài nghi tiềm ẩn, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị Nhất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất thô thiển, và các phiền não đồng hành theo với mỗi pháp ấy. Đối với vị Bất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất vi tế, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị A-la-hán, tâm được viễn ly ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn tiềm ẩn, hữu ái tiềm ẩn, vô minh tiềm ẩn, các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy, và mọi hiện tướng ở bên ngoài. Đây là tâm viễn ly.
Thế nào là sanh y viễn ly? Sanh y được nói đến các ô nhiễm, các uẩn, và cách hành. Sanh y viễn ly nói đến Bất Tử, Niết Bàn, là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Đây là sanh y viễn ly.
Thân viễn ly là đối với các vị có thân đã lui về nơi ẩn dật, đã thích thú trong việc xuất ly; tâm viễn ly là đối với các vị có tâm hoàn toàn trong sạch, đã đạt đến sự trong sạch tối cao; và sanh y viễn ly là đối với các cá nhân không còn mầm mống tái sanh, đã xa lìa các pháp tạo tác.
Chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly : Vị trưởng lão ấy có việc học tập đã được học tập bình thường. Và thêm nữa, liên quan đến việc thuyết giảng Giáo Pháp, trong khi thỉnh cầu sự thuyết giảng Giáo Pháp, vị trưởng lão ấy đã nói như vầy: ‘Chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly.’
Vì thế, (trưởng lão) Tissa Metteyya đã nói rằng:
“ Bạch Ngài, xin Ngài hãy nói về sự tàn hại dành cho kẻ đeo đuổi việc đôi lứa. Sau khi lắng nghe lời dạy của Ngài, chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly ,” ( vị Tissa Metteyya đã nói thế ấy ).
Đức Thế Tôn đã nói như vầy:
“Này Metteyya, đối với kẻ đeo đuổi việc đôi lứa, lời giảng dạy thậm chí còn bị quên lãng và là kẻ thực hành sai trái; điều này ở kẻ ấy là không thánh thiện .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Đức Thế Tôn đã nói như vầy: “Này Metteyya, đối với kẻ đeo đuổi việc đôi lứa, lời giảng dạy thậm chí còn bị quên lãng, và là kẻ thực hành sai trái; điều này ở kẻ ấy là không thánh thiện .”
Người nào sau khi sống một mình trước đây,
(giờ) gần gũi việc đôi lứa,
ví như chiếc xe bị chao đảo,
người ấy ở thế gian đã được gọi là kẻ phàm phu thấp hèn .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Người nào sau khi sống một mình trước đây,
(giờ) gần gũi việc đôi lứa,
ví như chiếc xe bị chao đảo,
người ấy ở thế gian đã được gọi là kẻ phàm phu thấp hèn .”
Danh vọng và tiếng tăm nào đã có trước đây,
điều ấy của vị ấy (giờ) hiển nhiên cũng bị giảm thiểu.
Sau khi nhìn thấy điều này nên học tập
nhằm dứt bỏ hẳn việc đôi lứa .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Danh vọng và tiếng tăm nào đã có trước đây,
điều ấy của vị ấy (giờ) hiển nhiên cũng bị giảm thiểu.
Sau khi nhìn thấy điều này nên học tập
nhằm dứt bỏ hẳn việc đôi lứa .”
Kẻ ấy, bị chi phối bởi các suy tư,
trầm tư như là kẻ khốn khổ.
Sau khi nghe lời quở trách của những người khác,
kẻ như thế ấy trở nên tủi hổ .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Kẻ ấy, bị chi phối bởi các suy tư,
trầm tư như là kẻ khốn khổ.
Sau khi nghe lời quở trách của những người khác,
kẻ như thế ấy trở nên tủi hổ .”
Bị khiển trách bởi các lời nói của những người khác,
rồi (kẻ này) tạo ra các vũ khí.
Điều ấy, đối với kẻ này, quả là sự vướng mắc lớn lao;
(kẻ này) lún sâu vào sự giả dối .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bị khiển trách bởi các lời nói của những người khác, rồi (kẻ này) tạo ra các vũ khí. Điều ấy, đối với kẻ này, quả là sự vướng mắc lớn lao, (kẻ này) lún sâu vào sự giả dối. ”
Đã được công nhận là ‘bậc sáng suốt,’ đã phát nguyện hạnh sống một mình, nếu kẻ ấy cũng gắn bó vào việc đôi lứa, ví như kẻ ngu khờ bị sầu muộn .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đã được công nhận là ‘bậc sáng suốt,’ đã phát nguyện hạnh sống một mình, nếu kẻ ấy cũng gắn bó vào việc đôi lứa, ví như kẻ ngu khờ bị sầu muộn .”
Sau khi biết được điều bất lợi này, ở đây bậc hiền trí trước đó và sau này, nên thực hành vững chải hạnh sống một mình, không nên gần gũi việc đôi lứa .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi biết được điều bất lợi này, ở đây bậc hiền trí trước đó và sau này, nên thực hành vững chải hạnh sống một mình, không nên gần gũi việc đôi lứa .”
Nên học tập mỗi hạnh viễn ly, điều này đối với các bậc Thánh là tối thượng, với điều ấy không nên nghĩ (bản thân) là hạng nhất; vị ấy quả nhiên ở gần Niết Bàn .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nên học tập mỗi hạnh viễn ly, điều này đối với các bậc Thánh là tối thượng, với điều ấy không nên nghĩ (bản thân) là hạng nhất; vị ấy quả nhiên ở gần Niết Bàn .”
Đối với bậc hiền trí đang sống, trống vắng (mọi ô nhiễm), không có trông mong các dục, đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ, người đời, bị buộc trói ở các dục, mong cầu (được như vị ấy) .
Đối với bậc hiền trí đang sống, trống vắng (mọi ô nhiễm) - Trống vắng : trống vắng, vắng vẻ, tách biệt là trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với uế hạnh về thân; trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với uế hạnh về khẩu; trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với uế hạnh về ý; trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với sự luyến ái, sân hận, si mê, giận dữ, thù hằn, gièm pha, ác ý, ganh tỵ, bỏn xẻn, xảo trá, bội bạc, bướng bỉnh, hung hăng, ngã mạn, kiêu căng, đam mê, xao lãng, tất cả ô nhiễm, tất cả uế hạnh, mọi sự lo lắng, mọi sự bực bội, mọi sự nóng nảy, tất cả pháp tạo tác bất thiện. Bậc hiền trí : bản thể hiền trí được gọi là trí, ―như trên― đã vượt qua sự dính líu và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí. Đang sống : đang sống là đang trú, đang cư xử, đang vận hành, đang bảo hộ, đang duy trì, đang nuôi dưỡng. ‘Đối với bậc hiền trí đang sống, trống vắng (mọi ô nhiễm)’ là như thế.
Không có trông mong các dục - Các dục : theo sự phân hạng thì có hai loại dục: các vật dục và các ô nhiễm dục. —như trên— Các điều này được gọi là các vật dục. —như trên— Các điều này được gọi là các ô nhiễm dục. Sau khi biết toàn diện về các vật dục, sau khi dứt bỏ, sau khi từ bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu các ô nhiễm dục; trong khi không trông mong các dục, dục được từ bỏ, dục được tẩy trừ, dục được giải thoát, dục được dứt bỏ, dục được xả bỏ, luyến ái được xa lìa, luyến ái được từ bỏ, luyến ái được tẩy trừ, luyến ái được giải thoát, luyến ái được dứt bỏ, luyến ái được xả bỏ, không còn thèm khát, được tịch tịnh, có trạng thái mát lạnh, có sự nhận biết lạc, sống với trạng thái cao thượng tự thân; ‘không có trông mong các dục’ là như thế.
Đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ, người đời, bị buộc trói ở các dục, mong cầu (được như vị ấy) - Người đời : từ đề cập đến chúng sanh; người đời bị luyến ái, bị thèm khát, bị buộc trói, bị mê mẫn, bị gần gũi, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở các dục. Những người ấy ước muốn, ưng thuận, ước nguyện, mong cầu, tham đắm đối với vị đã vượt dòng lũ (ngũ) dục, đã vượt dòng lũ của hữu, đã vượt dòng lũ tà kiến, đã vượt dòng lũ vô minh, đã vượt. đã vượt lên, đã vượt khỏi, vượt trội, vượt qua, đã vượt lên trên mọi nẻo đường luân hồi, đã đi đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia, đã đi đến điểm cuối, đã đạt đến điểm cuối, đã đi đến đỉnh, đã đạt đến đỉnh, đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng, đã đi đến sự hoàn tất, đã đạt đến sự hoàn tất, đã đi đến chốn bảo hộ, đã đạt đến chốn bảo hộ, đã đi đến chỗ trú ẩn, đã đạt đến chỗ trú ẩn, đã đi đến nơi nương nhờ, đã đạt đến nơi nương nhờ, đã đi đến sự không còn sợ hãi, đã đạt đến sự không còn sợ hãi, đã đi đến sự không chết, đã đạt đến sự không chết, đã đi đến Bất Tử, đã đạt đến Bất Tử, đã đi đến Niết Bàn, đã đạt đến Niết Bàn. Giống như những người thiếu nợ ước nguyện, mong cầu việc thoát khỏi nợ, giống như những người bệnh ước nguyện, mong cầu việc hết bệnh, giống như những người bị trói buộc vào sự cột trói ước nguyện, mong cầu sự giải thoát khỏi sự cột trói, giống như những người lao vào đường xa hiểm trở ước nguyện, mong cầu vùng đất tuyệt đối an toàn; tương tự như vậy người đời bị luyến ái, bị thèm khát, bị buộc trói, bị mê mẫn, bị gần gũi, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở các dục. Những người ấy ước muốn, ưng thuận, ước nguyện, mong cầu, tham đắm đối với vị đã vượt dòng lũ (ngũ) dục, đã vượt dòng lũ của hữu —như trên— đã đi đến Niết Bàn, đã đạt đến Niết Bàn; ‘đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ, người đời, bị buộc trói ở các dục, mong cầu (được như vị ấy)’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với bậc hiền trí đang sống, trống vắng (mọi ô nhiễm), không có trông mong các dục, đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ, người đời, bị buộc trói ở các dục, mong cầu (được như vị ấy) .”
Diễn Giải Kinh Tissametteyya là thứ bảy .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Methunamanuyuttassāti. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo gāmadhammo vasaladhammo duṭṭhullo odakantiko rahasso dvayaṃdvayasamāpatti. Kiṃkāraṇā vuccati methunadhammo? Ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti – taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Yathā ubho kalahakārakā methunakāti vuccanti, ubho bhaṇḍanakārakā methunakāti vuccanti, ubho bhassakārakā methunakāti vuccanti, ubho vivādakārakā methunakāti vuccanti, ubho adhikaraṇakārakā methunakāti vuccanti, ubho vādino methunakāti vuccanti, ubho sallāpakā methunakāti vuccanti; evamevaṃ ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti – taṃkāraṇā vuccati methunadhammo.
Regarding 'one devoted to sexual intercourse': The practice of sexual intercourse is that which is an unrighteous practice, a village practice, a base practice, a coarse practice, a practice that ends with washing, a practice for a concealed place, the coming together of a pair. For what reason is it called 'the practice of sexual intercourse'? Because it is the nature of two who are impassioned, intensely impassioned, stained by defilements, assailed by defilements, with minds overcome, the nature of two who are similar—for that reason it is called 'the practice of sexual intercourse'. Just as two who are quarrel-makers are called a couple; two who are dispute-makers are called a couple; two who are harsh speakers are called a couple; two who are disputants are called a couple; two who are litigants are called a couple; two who are debaters are called a couple; two who are conversers are called a couple; even so, it is the nature of two who are impassioned, intensely impassioned, stained by defilements, assailed by defilements, with minds overcome, the nature of two who are similar—for that reason it is called 'the practice of sexual intercourse'.
Methunamanuyuttassāti (của người đam mê dâm dục): Pháp dâm dục (methunadhammo) được gọi là pháp bất thiện (asaddhammo), pháp của dân làng (gāmadhammo), pháp của kẻ hạ tiện (vasaladhammo), pháp thô tục (duṭṭhullo), pháp kết thúc bằng việc rửa ráy (odakantiko), pháp kín đáo (rahasso), sự giao hợp của hai người (dvayaṃdvayasamāpatti). Vì sao gọi là pháp dâm dục? Vì đó là pháp (dhammo) của hai người (ubhinnaṃ) có tâm tham ái (rattānaṃ), đắm say (sārattānaṃ), ướt át (avassutānaṃ), bị phiền não chi phối (pariyuṭṭhitānaṃ), tâm bị chiếm đoạt (pariyādinnacittānaṃ), hai người có bản chất tương tự nhau (ubhinnaṃ sadisānaṃ) – vì lý do đó, nó được gọi là pháp dâm dục. Giống như hai người cãi vã (kalahakārakā) được gọi là một cặp (methunakā), hai người gây gổ (bhaṇḍanakārakā) được gọi là một cặp, hai người nói lời vô ích (bhassakārakā) được gọi là một cặp, hai người tranh luận (vivādakārakā) được gọi là một cặp, hai người kiện tụng (adhikaraṇakārakā) được gọi là một cặp, hai người đối đáp (vādino) được gọi là một cặp, hai người trò chuyện (sallāpakā) được gọi là một cặp; cũng vậy, vì đó là pháp của hai người có tâm tham ái, đắm say, ướt át, bị phiền não chi phối, tâm bị chiếm đoạt, hai người có bản chất tương tự nhau – vì lý do đó, nó được gọi là pháp dâm dục.
Methunamanuyuttassāti. Methunadhamme yuttassa payuttassa āyuttassa samāyuttassa taccaritassa tabbahulassa taggarukassa tanninnassa tappoṇassa tappabbhārassa tadadhimuttassa tadadhipateyyassāti – methunamanuyuttassa.
Regarding 'one devoted to sexual intercourse': One who is engaged in, diligently engaged in, yoked to, and jointly engaged in the practice of sexual intercourse; one whose conduct is characterized by it, who frequently indulges in it, who gives weight to it, who is inclined toward it, bent on it, leaning toward it, who is intent upon it, and is predominated by it—this is 'one devoted to sexual intercourse'.
Methunamanuyuttassāti (của người đam mê dâm dục): (Có nghĩa là) người gắn bó (yuttassa), chuyên tâm (payuttassa), dấn thân (āyuttassa), cùng tham gia (samāyuttassa) vào pháp dâm dục; người có hành vi như vậy (taccaritassa), thường xuyên thực hành (tabbahulassa), xem trọng việc ấy (taggarukassa), có tâm hướng về (tanninnassa), có thân hướng về (tappoṇassa), có khuynh hướng về (tappabbhārassa), có sự say mê (tadadhimuttassa), có sự chủ đạo bởi việc ấy (tadadhipateyyassa). – (Như thế là ý nghĩa của) methunamanuyuttassa.
Iccāyasmā tisso metteyyoti. Iccāti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – iccāti. Āyasmāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravavacanaṃ sappatissavacanametaṃ – āyasmāti. Tissoti tassa therassa nāmaṃ saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmaṃ nāmakammaṃ nāmadheyyaṃ nirutti byañjanaṃ abhilāpo. Metteyyoti tassa therassa gottaṃ saṅkhā samaññā paññatti vohāroti – iccāyasmā tisso metteyyo.
Regarding 'Thus the Venerable Tissa Metteyya': 'Thus' is a word-juncture, a word-association, a word-completion, a syllable-harmony, a consonant-cohesion, and this is a word-sequence—this is 'thus.' 'Venerable' is an endearing term, a respectful term, a reverential term, and a deferential term—this is 'Venerable.' 'Tissa' is the name of that elder; it is a reckoning, designation, appellation, expression, name, nomenclature, name-appellation, etymology, verbal expression, and term. 'Metteyya' is the clan of that elder; it is a reckoning, designation, appellation, and expression—this is 'Thus the Venerable Tissa Metteyya.'
Iccāyasmā tisso metteyyoti (Tôn giả Tissa Metteyya thưa rằng): Iccā là sự nối âm (padasandhi), sự kết hợp từ (padasaṃsaggo), sự bổ sung cho đủ từ (padapāripūrī), sự tập hợp các mẫu tự (akkharasamavāyo), sự hài hòa của phụ âm (byañjanasiliṭṭhatā), đây là sự tuần tự của các từ (padānupubbatāpetaṃ) – đó là iccā. Āyasmā là lời nói thân ái (piyavacanaṃ), lời nói tôn trọng (garuvacanaṃ), lời nói kính trọng (sagāravavacanaṃ), đây là lời nói thể hiện sự vâng phục (sappatissavacanaṃ) – đó là āyasmā. Tisso là tên (nāmaṃ) của vị trưởng lão ấy, là danh xưng (saṅkhā), quy ước (samaññā), khái niệm (paññatti), cách gọi (vohāro), tên (nāmaṃ), việc đặt tên (nāmakammaṃ), danh hiệu (nāmadheyyaṃ), từ nguyên (nirutti), sự biểu thị (byañjanaṃ), cách nói (abhilāpo). Metteyyo là họ tộc (gottaṃ) của vị trưởng lão ấy, là danh xưng (saṅkhā), quy ước (samaññā), khái niệm (paññatti), cách gọi (vohāro). – (Như thế là ý nghĩa của) iccāyasmā tisso metteyyo.
Vighātaṃ brūhi mārisāti. Vighātanti vighātaṃ upaghātaṃ pīḷanaṃ ghaṭṭanaṃ upaddavaṃ upasaggaṃ brūhi ācikkha desehi paññapehi paṭṭhapehi vivara vibhaja uttānīkarohi † pakāsehi. Mārisāti piyavacanaṃ garuvacanaṃ sagāravavacanaṃ sappatissavacanametaṃ mārisāti – vighātaṃ brūhi mārisa.
Regarding 'Speak of the vexation, O Mārisa': 'Vexation' means vexation, assault, oppression, friction, trouble, and adversity. 'Speak' means: tell, explain, teach, make known, establish, disclose, analyze, make plain, and declare. 'Mārisa' is an endearing term, a respectful term, a reverential term, and a deferential term—this is 'Mārisa.' This is 'Speak of the vexation, O Mārisa.'
Vighātaṃ brūhi mārisāti (xin Ngài dạy về sự tai hại, kính bạch bậc Mã-lợi-sa): Vighātaṃ (sự tai hại) có nghĩa là sự phiền não (vighātaṃ), sự tổn hại (upaghātaṃ), sự bức bách (pīḷanaṃ), sự va chạm (ghaṭṭanaṃ), sự bất hạnh (upaddavaṃ), sự nguy hiểm (upasaggaṃ). Brūhi (xin hãy nói) có nghĩa là hãy chỉ ra (ācikkha), hãy thuyết giảng (desehi), hãy làm cho biết (paññapehi), hãy thiết lập (paṭṭhapehi), hãy mở ra (vivara), hãy phân tích (vibhaja), hãy làm cho rõ ràng (uttānīkarohi), hãy trình bày (pakāsehi). Mārisā là lời nói thân ái (piyavacanaṃ), lời nói tôn trọng (garuvacanaṃ), lời nói kính trọng (sagāravavacanaṃ), đây là lời nói thể hiện sự vâng phục (sappatissavacanaṃ) – đó là mārisā. – (Như thế là ý nghĩa của) vighātaṃ brūhi mārisa.
Sutvāna tava sāsananti. Tuyhaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhiṃ sutvā suṇitvā uggahetvā upadhārayitvā upalakkhayitvāti – sutvāna tava sāsanaṃ.
Regarding 'Having heard your teaching': Having heard, listened to, learned, considered, and noted your word, utterance, teaching, instruction, and admonition—this is 'Having heard your teaching.'
Sau khi đã lắng nghe lời giáo huấn của ngài. (Có nghĩa là) sau khi đã nghe, đã lắng nghe, đã học thuộc, đã ghi nhớ, đã thấu hiểu lời nói, lời trình bày, lời thuyết giảng, lời chỉ dạy, lời khuyên răn của ngài – (cho nên nói) sau khi đã lắng nghe lời giáo huấn của ngài.
Viveke sikkhissāmaseti. Vivekoti tayo vivekā – kāyaviveko, cittaviveko, upadhiviveko. Katamo kāyaviveko? Idha bhikkhu vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ rukkhamūlaṃ pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ palāsapuñjaṃ, kāyena vivitto viharati. So eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati, eko viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti – ayaṃ kāyaviveko.
Regarding 'We shall train in seclusion': 'Seclusion' means three kinds of seclusion: physical seclusion, mental seclusion, and seclusion from the substrata of existence. What is physical seclusion? Here, a bhikkhu resorts to a secluded dwelling—a forest, the foot of a tree, a mountain, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a woodland grove, an open space, a heap of straw. He dwells secluded in body. He goes alone, stands alone, sits alone, lies down alone; he enters the village for alms alone, returns alone; he sits in private alone; he undertakes walking meditation alone. He fares alone, dwells alone, comports himself, carries on, maintains himself, sustains himself, and keeps himself going—this is physical seclusion.
Viveke sikkhissāmaseti (chúng con sẽ tu tập hạnh viễn ly): Viveko (viễn ly) có ba loại viễn ly (tayo vivekā): thân viễn ly (kāyaviveko), tâm viễn ly (cittaviveko), và y viễn ly (upadhiviveko). Thế nào là thân viễn ly (katamo kāyaviveko)? Ở đây (idha), vị tỳ khưu (bhikkhu) tìm đến (bhajati) một nơi trú ngụ (senāsanaṃ) thanh vắng (vivittaṃ): khu rừng (araññaṃ), gốc cây (rukkhamūlaṃ), ngọn núi (pabbataṃ), hang đá (kandaraṃ), khe núi (giriguhaṃ), nghĩa địa (susānaṃ), lùm cây trong rừng (vanapatthaṃ), ngoài trời (abbhokāsaṃ), đống rơm (palāsapuñjaṃ). Vị ấy sống (viharati) viễn ly về thân (kāyena vivitto). Vị ấy đi một mình (eko gacchati), đứng một mình (eko tiṭṭhati), ngồi một mình (eko nisīdati), nằm nghỉ một mình (eko seyyaṃ kappeti), đi vào làng khất thực một mình (eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati), trở về một mình (eko paṭikkamati), ngồi một mình ở nơi kín đáo (eko raho nisīdati), kinh hành một mình (eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti), đi lại một mình (eko carati), sống một mình (eko viharati), duy trì oai nghi một mình (iriyati), tồn tại (vattati), bảo trì (pāleti), duy trì (yapeti), tiếp tục (yāpeti) một mình – đây gọi là thân viễn ly (ayaṃ kāyaviveko).
Katamo cittaviveko? Paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa nīvaraṇehi cittaṃ vivittaṃ hoti, dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārehi cittaṃ vivittaṃ hoti, tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pītiyā cittaṃ vivittaṃ hoti, catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sukhadukkhehi cittaṃ vivittaṃ hoti, ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti, sotāpannassa sakkāyadiṭṭhiyā vicikicchāya sīlabbataparāmāsā diṭṭhānusayā vicikicchānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti, sakadāgāmissa oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti, anāgāmissa anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti, arahato rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi bahiddhā ca sabbanimittehi cittaṃ vivittaṃ hoti – ayaṃ cittaviveko.
What is mental seclusion? For one who has attained the first jhāna, the mind is secluded from the hindrances. For one who has attained the second jhāna, the mind is secluded from thought and examination. For one who has attained the third jhāna, the mind is secluded from joy. For one who has attained the fourth jhāna, the mind is secluded from pleasure and pain. For one who has attained the base of infinite space, the mind is secluded from perceptions of form, perceptions of resistance, and perceptions of diversity. For one who has attained the base of infinite consciousness, the mind is secluded from the perception of the base of infinite space. For one who has attained the base of nothingness, the mind is secluded from the perception of the base of infinite consciousness. For one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, the mind is secluded from the perception of the base of nothingness. For a stream-enterer, the mind is secluded from identity view, doubt, adherence to rites and rituals, the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, and those defilements associated with them. For a once-returner, the mind is secluded from the coarse fetters of sensual desire and ill will, the coarse underlying tendencies to sensual desire and ill will, and those defilements associated with them. For a non-returner, the mind is secluded from the subtle fetters of sensual desire and ill will, the subtle underlying tendencies to sensual desire and ill will, and those defilements associated with them. For an arahant, the mind is secluded from desire for form, desire for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to craving for existence, the underlying tendency to ignorance, those defilements associated with them, and from all external signs—this is mental seclusion.
Thế nào là tâm viễn ly? Đối với người đã chứng đắc sơ thiền, tâm được viễn ly khỏi các triền cái; đối với người đã chứng đắc nhị thiền, tâm được viễn ly khỏi tầm và tứ; đối với người đã chứng đắc tam thiền, tâm được viễn ly khỏi hỷ; đối với người đã chứng đắc tứ thiền, tâm được viễn ly khỏi lạc và khổ; đối với người đã chứng đắc Không Vô Biên Xứ, tâm được viễn ly khỏi sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng sai khác; đối với người đã chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Không Vô Biên Xứ; đối với người đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Thức Vô Biên Xứ; đối với người đã chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng về Vô Sở Hữu Xứ; đối với vị Dự Lưu, tâm được viễn ly khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, và khỏi các tùy miên về tà kiến, tùy miên về hoài nghi, và các phiền não cùng chung một bản chất với chúng; đối với vị Nhất Lai, tâm được viễn ly khỏi các kiết sử thô thiển về dục ái, kiết sử về sân hận, các tùy miên thô thiển về dục ái, tùy miên về sân hận, và các phiền não cùng chung một bản chất với chúng; đối với vị Bất Lai, tâm được viễn ly khỏi các kiết sử vi tế về dục ái, kiết sử về sân hận, các tùy miên vi tế về dục ái, tùy miên về sân hận, và các phiền não cùng chung một bản chất với chúng; đối với vị A-la-hán, tâm được viễn ly khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, và khỏi các tùy miên về mạn, tùy miên về hữu ái, tùy miên về vô minh, và các phiền não cùng chung một bản chất với chúng, và khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài – đây là tâm viễn ly.
Katamo upadhiviveko? Upadhi vuccanti kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Upadhiviveko vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ – ayaṃ upadhiviveko. Kāyaviveko ca vivekaṭṭhakāyānaṃ nekkhammābhiratānaṃ; cittaviveko ca parisuddhacittānaṃ paramavodānapattānaṃ; upadhiviveko ca nirūpadhīnaṃ puggalānaṃ visaṅkhāragatānaṃ. Viveke sikkhissāmaseti. So thero pakatiyā sikkhitasikkho. Api ca dhammadesanaṃ upādāya dhammadesanaṃ sāvento † evamāha – viveke sikkhissāmaseti.
What is seclusion from the substrata? Defilements, aggregates, and volitional formations are called substrata. The deathless, Nibbāna, is called seclusion from the substrata. That which is the stilling of all formations, the relinquishment of all substrata, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna—this is seclusion from the substrata. Physical seclusion is for those with bodies suited for seclusion, who delight in renunciation; mental seclusion is for those whose minds are purified and have attained the highest purity; and seclusion from the substrata is for individuals who are without substrata, who have reached the unconditioned. 'We will train in seclusion.' That elder was by nature one who had completed the training. Moreover, in dependence on the teaching of the Dhamma, desiring to hear the teaching of the Dhamma, he spoke thus: 'We will train in seclusion.'
Thế nào là chấp thủ viễn ly? Các phiền não, các uẩn, và các hành được gọi là chấp thủ. Sự bất tử, Niết-bàn, được gọi là chấp thủ viễn ly. Cái nào là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn – đây là chấp thủ viễn ly. Và thân viễn ly là dành cho những người có thân sống viễn ly, ưa thích sự xuất ly; và tâm viễn ly là dành cho những người có tâm thanh tịnh, đã đạt đến sự trong sạch tối thượng; và chấp thủ viễn ly là dành cho những vị không còn chấp thủ, đã đi đến vô hành. (Về câu:) ‘(Con) sẽ học tập về sự viễn ly.’ Vị trưởng lão ấy, về bản chất, là người đã học tập các học giới. Hơn nữa, do vì muốn nghe pháp thoại, do vì muốn nghe sự thuyết giảng Chánh Pháp, vị ấy đã nói như vầy: ‘(Con) sẽ học tập về sự viễn ly.’
Tenāha thero tissametteyyo –
Therefore, the Elder Tissa Metteyya said:
Do đó, trưởng lão Tissa Metteyya đã nói:
‘‘Methunamanuyuttassa, [iccāyasmā tisso metteyyo]
Vighātaṃ brūhi mārisa;
Sutvāna tava sāsanaṃ, viveke sikkhissāmase’’ti.
"Tell me, venerable sir, the distress of one devoted to sexual intercourse. Having heard your instruction, we will train in seclusion."
“Đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục, [— như vậy trưởng lão Tissa Metteyya đã nói —] kính thưa ngài, xin hãy nói về sự phiền não; sau khi đã nghe lời giáo huấn của ngài, (chúng con) sẽ học tập về sự viễn ly.”
50.
50.
50.
Methunamanuyuttassa, [metteyyāti bhagavā]
Mussate vāpi sāsanaṃ;
Micchā ca paṭipajjati, etaṃ tasmiṃ anāriyaṃ.
(The Blessed One said:) "Metteyya, for one devoted to sexual intercourse, the teaching is forgotten, and he practices wrongly. This in him is ignoble."
“Đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục, [— Này Metteyya, Đức Thế Tôn đã nói —] lời giáo huấn bị lãng quên, và người ấy thực hành một cách sai lầm; điều này ở nơi người ấy là không cao thượng.”
Methunamanuyuttassāti. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo gāmadhammo vasaladhammo duṭṭhullo odakantiko rahasso dvayaṃdvayasamāpatti. Kiṃkāraṇā vuccati methunadhammo? Ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti – taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Yathā ubho kalahakārakā methunakāti vuccanti, ubho bhaṇḍanakārakā methunakāti vuccanti, ubho bhassakārakā methunakāti vuccanti, ubho vivādakārakā methunakāti vuccanti, ubho adhikaraṇakārakā methunakāti vuccanti, ubho vādino methunakāti vuccanti, ubho sallāpakā methunakāti vuccanti; evamevaṃ ubhinnaṃ rattānaṃ sārattānaṃ avassutānaṃ pariyuṭṭhitānaṃ pariyādinnacittānaṃ ubhinnaṃ sadisānaṃ dhammoti – taṃkāraṇā vuccati methunadhammo.
One devoted to sexual intercourse. 'The practice of sexual intercourse' means that which is an unrighteous practice, a village practice, a base practice, a coarse practice, a practice ending in washing, a secret practice, the coming together of a pair. For what reason is it called 'the practice of sexual intercourse'? Because it is the nature of two who are impassioned, deeply impassioned, stained with defilements, beset by defilements, with minds consumed; it is the nature of two who are similar—for that reason, it is called 'the practice of sexual intercourse'. Just as two who are quarrelsome are called a pair, two who are contentious are called a pair, two who are babblers are called a pair, two who are disputatious are called a pair, two who are litigious are called a pair, two who are debaters are called a pair, and two who are conversationalists are called a pair; even so, it is the nature of two who are impassioned, deeply impassioned, stained with defilements, beset by defilements, with minds consumed; it is the nature of two who are similar—for that reason, it is called 'the practice of sexual intercourse'.
(Về câu:) ‘Đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục.’ Cái gọi là pháp dâm dục là cái pháp không chân chánh, pháp của dân làng, pháp của kẻ hạ tiện, pháp thô tục, pháp có nước làm giới hạn cuối cùng, pháp kín đáo, sự giao hợp của hai người. Vì lý do gì được gọi là pháp dâm dục? Là pháp của hai người bị nhuốm ái, bị ái nhiễm mãnh liệt, bị phiền não thấm đẫm, bị (phiền não) bao vây, có tâm bị chiếm đoạt, là pháp của hai người tương tự nhau – vì lý do đó được gọi là pháp dâm dục. Giống như cả hai người gây gổ được gọi là ‘methunaka’ (cặp đôi), cả hai người cãi vã được gọi là ‘methunaka’, cả hai người tranh luận được gọi là ‘methunaka’, cả hai người tranh chấp được gọi là ‘methunaka’, cả hai người kiện tụng được gọi là ‘methunaka’, cả hai người đối đáp được gọi là ‘methunaka’, cả hai người trò chuyện được gọi là ‘methunaka’; cũng giống như vậy, là pháp của hai người bị nhuốm ái, bị ái nhiễm mãnh liệt, bị phiền não thấm đẫm, bị (phiền não) bao vây, có tâm bị chiếm đoạt, là pháp của hai người tương tự nhau – vì lý do đó được gọi là pháp dâm dục.
Methunamanuyuttassāti. Methunadhamme yuttassa payuttassa āyuttassa samāyuttassa taccaritassa tabbahulassa taggarukassa tanninnassa tappoṇassa tappabbhārassa tadadhimuttassa tadadhipateyyassāti – methunamanuyuttassa.
One devoted to sexual intercourse: One who is engaged in, applied to, devoted to, and fully engaged in the practice of sexual intercourse; one whose conduct is characterized by it, who does it frequently, who makes a habit of it, who is inclined toward it, bent on it, leaning toward it, who delights in it, and is predominated by it—this is one devoted to sexual intercourse.
(Về câu:) ‘Đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục.’ (Nghĩa là:) đối với người đã gắn bó, đã tận tụy, đã chuyên chú, đã hoàn toàn gắn bó với pháp dâm dục; người có hành vi như thế, thường làm như thế, xem trọng việc ấy, có tâm hướng về việc ấy, có thân hướng về việc ấy, có thân nghiêng về việc ấy, có sự ưa thích việc ấy, có việc ấy làm chủ – (đây là ý nghĩa của) ‘đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục.’
Metteyyāti bhagavā taṃ theraṃ gottena ālapati. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ. Api ca bhaggarāgoti bhagavā, bhaggadosoti bhagavā, bhaggamohoti bhagavā, bhaggamānoti bhagavā, bhaggadiṭṭhīti bhagavā, bhaggakaṇḍakoti † bhagavā, bhaggakilesoti bhagavā, bhaji vibhaji pavibhaji dhammaratananti bhagavā, bhavānaṃ antakaroti bhagavā, bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapaññoti bhagavā, bhaji vā bhagavā araññavanapatthāni † pantāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni † paṭisallānasāruppānīti bhagavā, bhāgī vā bhagavā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā attharasassa dhammarasassa vimuttirasassa adhisīlassa adhicittassa adhipaññāyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ jhānānaṃ catunnaṃ appamaññānaṃ catunnaṃ arūpasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā aṭṭhannaṃ vimokkhānaṃ aṭṭhannaṃ abhibhāyatanānaṃ navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ saññābhāvanānaṃ dasannaṃ kasiṇasamāpattīnaṃ ānāpānassatisamādhissa asubhasamāpattiyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ tathāgatabalānaṃ catunnaṃ vesārajjānaṃ catunnaṃ paṭisambhidānaṃ channaṃ abhiññānaṃ † channaṃ buddhadhammānanti bhagavā. Bhagavāti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ, na pitarā kataṃ, na bhātarā kataṃ, na bhaginiyā kataṃ, na mittāmaccehi kataṃ, na ñātisālohitehi kataṃ na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ, na devatāhi kataṃ. Vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutaññāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – metteyyāti bhagavā.
The Blessed One addressed that elder by his clan name: 'Metteyya.' 'Bhagavā' is a term of respect. Furthermore: because He has broken lust, He is called Bhagavā; because He has broken hatred, He is called Bhagavā; because He has broken delusion, He is called Bhagavā; because He has broken conceit, He is called Bhagavā; because He has broken wrong views, He is called Bhagavā; because He has broken the thorn, He is called Bhagavā; because He has broken the defilements, He is called Bhagavā. Because He has apportioned, distributed, and thoroughly distributed the jewel of the Dhamma, He is called Bhagavā. Because He makes an end of existences, He is called Bhagavā. Because He has a developed body, developed virtue, a developed mind, and developed wisdom, He is called Bhagavā. Or, because the Blessed One resorts to lodgings in forests and woodlands that are remote, with little sound, with little noise, free from the bustle of people, suitable for human seclusion, and fit for solitude, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of robes, alms-food, lodgings, and medicinal requisites for the sick; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the flavor of the goal, the flavor of the Dhamma, the flavor of liberation, of higher virtue, of higher mind, and of higher wisdom; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the four jhānas, the four immeasurables, and the four formless attainments; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the eight liberations, the eight spheres of mastery, and the nine successive meditative attainments; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the ten developments of perception, the ten kasiṇa attainments, the concentration of mindfulness of breathing, and the attainment of meditation on foulness; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path; therefore, He is called Bhagavā. Or, the Blessed One is a partaker of the ten powers of a Tathāgata, the four kinds of fearlessness, the four analytical knowledges, the six supernormal knowledges, and the six qualities unique to a Buddha; therefore, He is called Bhagavā. This name 'Bhagavā' was not given by His mother, nor given by His father, nor given by His brother, nor given by His sister, nor given by friends and companions, nor given by relatives and kinsmen, nor given by ascetics and brahmins, nor given by deities. It is a designation of the Buddhas, the Blessed Ones, realized at the culmination of liberation—at the root of the Bodhi tree, together with the attainment of omniscient knowledge—that is, 'Bhagavā'. Thus, 'Metteyya,' said the Blessed One.
“Này Metteyya” – Đức Thế Tôn gọi vị trưởng lão ấy bằng dòng họ. Bhagavā là danh xưng tôn kính. Lại nữa, vì đã bẻ gãy tham ái nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy sân hận nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy si mê nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy ngã mạn nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy tà kiến nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy gai chướng nên là Bhagavā, vì đã bẻ gãy phiền não nên là Bhagavā; vì đã phân tích, phân chia, phân loại pháp bảo nên là Bhagavā; vì là bậc chấm dứt các cõi hữu nên là Bhagavā; vì đã phát triển thân, đã phát triển giới, đã phát triển tâm, đã phát triển tuệ nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn đã lui tới các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về y phục, vật thực khất thực, trú xứ, dược phẩm trị bệnh nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về nghĩa vị, pháp vị, giải thoát vị, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn thiền vô sắc nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ trú định nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về mười tưởng tu tập, mười biến xứ định, định niệm hơi thở vô ra, định bất tịnh nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành nên là Bhagavā; hoặc vì Đức Thế Tôn là bậc có phần về mười Như Lai lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, sáu thắng trí, sáu Phật pháp nên là Bhagavā. Danh xưng Bhagavā này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè và quan chức đặt, không phải do quyến thuộc và huyết thống đặt, không phải do Sa-môn và Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt. Đây là danh xưng được chứng ngộ, là sự chế định có ở cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự chứng đắc Nhất thiết trí tuệ tại cội Bồ-đề của các vị Phật, các đấng Thế Tôn, đó là Bhagavā. – “Này Metteyya” – Đức Thế Tôn.
Mussate vāpi sāsananti. Dvīhi kāraṇehi sāsanaṃ mussati – pariyattisāsanampi mussati, paṭipattisāsanampi mussati. Katamaṃ pariyattisāsanaṃ? Yaṃ tassa pariyāpuṭaṃ – suttaṃ geyyaṃ veyyākaraṇaṃ gāthā udānaṃ itivuttakaṃ jātakaṃ abbhutadhammaṃ vedallaṃ – idaṃ pariyattisāsanaṃ. Tampi mussati sammussati pamussati sampamussati paribāhiro hotīti – evampi mussate vāpi sāsanaṃ.
Or the Dispensation fades away. The Dispensation fades away for two reasons: the Dispensation of study fades away, and the Dispensation of practice fades away. What is the Dispensation of study? It is what has been learned: the Suttas, mixed prose and verse, explanations, verses, inspired utterances, Itivuttakas, Jātakas, amazing phenomena, and Vedallas—this is the Dispensation of study. That too fades away, is utterly forgotten, is completely forgotten, is entirely forgotten, and becomes external—thus the Dispensation also fades away.
“Giáo pháp cũng bị quên lãng.” Giáo pháp bị quên lãng do hai nguyên nhân: giáo pháp học tập cũng bị quên lãng, giáo pháp thực hành cũng bị quên lãng. Thế nào là giáo pháp học tập? Những gì đã được học thuộc lòng – Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ ngôn, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng – đây là giáo pháp học tập. Giáo pháp ấy cũng bị quên lãng, bị quên lãng hoàn toàn, bị quên lãng đặc biệt, bị quên lãng hoàn toàn và đặc biệt, trở nên bên ngoài. Như vậy, giáo pháp cũng bị quên lãng.
Katamaṃ paṭipattisāsanaṃ? Sammāpaṭipadā anulomapaṭipadā apaccanīkapaṭipadā anvatthapaṭipadā dhammānudhammapaṭipadā sīlesu paripūrakāritā indriyesu guttadvāratā bhojane mattaññutā jāgariyānuyogo satisampajaññaṃ cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo – idaṃ paṭipattisāsanaṃ. Tampi mussati sammussati pamussati sampamussati paribāhiro hotīti. Evampi mussate vāpi sāsanaṃ.
What is the Dispensation of practice? Right practice, conforming practice, unopposed practice, practice in accordance with the meaning, practice in accordance with the Dhamma, complete fulfillment in virtues, guarding the sense doors, moderation in food, devotion to wakefulness, the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path—this is the Dispensation of practice. That too fades away, is utterly forgotten, is completely forgotten, is entirely forgotten, and becomes external. Thus the Dispensation also fades away.
Thế nào là giáo pháp thực hành? Chánh đạo, thuận đạo, không nghịch đạo, tùy nghĩa đạo, pháp tùy pháp đạo, sự thực hành viên mãn trong các giới, sự phòng hộ các căn, sự tiết độ trong ăn uống, sự chuyên tâm tỉnh thức, chánh niệm tỉnh giác, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành – đây là giáo pháp thực hành. Giáo pháp ấy cũng bị quên lãng, bị quên lãng hoàn toàn, bị quên lãng đặc biệt, bị quên lãng hoàn toàn và đặc biệt, trở nên bên ngoài. Như vậy, giáo pháp cũng bị quên lãng.
Micchā ca paṭipajjatīti. Pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇatīti – micchā ca paṭipajjati.
And he practices wrongly. He kills living beings, takes what is not given, breaks into houses, plunders, commits burglary, lies in wait on highways, commits adultery, and speaks falsehood—thus he practices wrongly.
“Và thực hành tà vạy.” Sát sanh, lấy của không cho, khoét vách, cướp bóc, cướp nhà, đứng chặn đường, đi đến vợ người, nói dối – (đây là) thực hành tà vạy.
Etaṃ tasmiṃ anāriyanti. Etaṃ tasmiṃ puggale anariyadhammo bāladhammo mūḷhadhammo aññāṇadhammo amarāvikkhepadhammo, yadidaṃ micchāpaṭipadāti – etaṃ tasmiṃ anāriyaṃ.
This is ignoble in him. This in that person is an ignoble nature, a foolish nature, a deluded nature, an ignorant nature, a nature of equivocation—namely, this wrong practice. This is what is ignoble in him.
“Điều ấy nơi người ấy là không thánh thiện.” Điều ấy nơi cá nhân ấy là pháp của bậc không thánh thiện, pháp của kẻ ngu, pháp của kẻ si mê, pháp của kẻ vô trí, pháp của ngụy biện trườn uốn như lươn, tức là tà đạo này – (đây là) điều ấy nơi người ấy là không thánh thiện.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Methunamanuyuttassa, [metteyyāti bhagavā]
Mussate vāpi sāsanaṃ;
Micchā ca paṭipajjati, etaṃ tasmiṃ anāriya’’nti.
“For one devoted to sexual intercourse, [Metteyya, said the Blessed One,] the Dispensation also fades away; and he practices wrongly—this is ignoble in him.”
“Đối với người chuyên tâm vào việc dâm dục, [này Metteyya – Đức Thế Tôn phán] giáo pháp cũng bị quên lãng; và thực hành tà vạy, điều ấy nơi người ấy là không thánh thiện.”
51.
51.
51.
Eko pubbe caritvāna, methunaṃ yo nisevati;
Yānaṃ bhantaṃva taṃ loke, hīnamāhu puthujjanaṃ.
Having lived alone before, whoever then indulges in sexual intercourse—the world calls that worldling degraded, like a swerving vehicle.
“Người nào trước kia đã sống một mình, (sau lại) thực hành việc dâm dục; kẻ phàm phu ấy ở trên đời, được gọi là thấp hèn, giống như cỗ xe bị chao đảo.”
Eko pubbe caritvānāti. Dvīhi kāraṇehi eko pubbe caritvāna – pabbajjāsaṅkhātena vā gaṇāvavassaggaṭṭhena vā. Kathaṃ pabbajjāsaṅkhātena eko pubbe caritvāna? Sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti. Evaṃ pabbajjāsaṅkhātena eko pubbe caritvāna.
“Having lived alone before”—one has lived alone before for two reasons: either by way of going forth or by way of abandoning a group. How has one lived alone before by way of going forth? Having cut off all household impediments, having cut off the impediments of sons and wife, having cut off the impediments of relatives, having cut off the impediments of friends and associates, having cut off the impediments of storing up, having shaved off hair and beard, having put on ochre robes, having gone forth from the household life into homelessness, having entered the state of having nothing, one goes alone, dwells, comports oneself, proceeds, maintains oneself, carries on, and supports oneself. Thus, by way of going forth, one has lived alone before.
“Trước kia đã sống một mình.” Trước kia đã sống một mình là do hai nguyên nhân: hoặc do được kể là đã xuất gia, hoặc do ý nghĩa từ bỏ đoàn chúng. Thế nào là trước kia đã sống một mình do được kể là đã xuất gia? Đã cắt đứt mọi ràng buộc của đời sống tại gia, đã cắt đứt ràng buộc con cái và vợ, đã cắt đứt ràng buộc quyến thuộc, đã cắt đứt ràng buộc bạn bè và quan chức, đã cắt đứt ràng buộc của sự tích trữ, đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, đã đạt đến trạng thái vô sở hữu, rồi sống một mình, trú một mình, đi đứng một mình, sinh hoạt một mình, duy trì, bảo dưỡng, nuôi mạng một mình. Như vậy là trước kia đã sống một mình do được kể là đã xuất gia.
Kathaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena eko pubbe caritvāna? So evaṃ pabbajito samāno eko araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti. Evaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena eko pubbe caritvāna.
How has one lived alone before by way of abandoning the group? Having thus gone forth, one resorts to remote lodgings in forests and woodland groves—quiet, free from noise, secluded from people, suitable for privacy, and fit for solitude. One goes alone, stands alone, sits alone, lies down alone, enters the village for alms alone, returns alone, sits in solitude alone, and undertakes walking meditation alone. Alone one conducts oneself, dwells, moves about, carries on, maintains oneself, subsists, and keeps going. Thus, by way of abandoning the group, one has lived alone before.
Thế nào là bằng ý nghĩa từ bỏ đoàn thể, trước đây đã sống một mình? Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, một mình thân cận các sàng tọa trong rừng cây, rừng rậm, xa xôi, ít tiếng động, ít tiếng ồn, vắng bóng người, thích hợp cho việc ẩn mình của con người, thích hợp cho việc độc cư. Vị ấy một mình đi, một mình đứng, một mình ngồi, một mình nằm, một mình vào làng để khất thực, một mình trở về, một mình ngồi nơi kín đáo, một mình kinh hành, một mình đi, trú, duy trì oai nghi, bảo tồn, nuôi mạng, duy trì sự sống. Như vậy là bằng ý nghĩa từ bỏ đoàn thể, trước đây đã sống một mình.
Methunaṃ yo nisevatīti. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo…pe… taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Methunaṃ yo nisevatīti. Yo aparena samayena buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattitvā methunaṃ dhammaṃ sevati nisevati saṃsevati paṭisevatīti – methunaṃ yo nisevati.
“One who indulges in the sexual act”—the sexual act is that unrighteous act… for that reason it is called the sexual act. “One who indulges in the sexual act” refers to one who, at a later time, having rejected the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and the training, reverts to the low life and engages in the sexual act, frequently engages in it, engages in it with attachment, and repeatedly engages in it.
Về câu ‘người nào thực hành dâm dục.’ Pháp dâm dục có tên là pháp bất thiện nào đó... (v.v.)... vì lý do đó được gọi là pháp dâm dục. Về câu ‘người nào thực hành dâm dục.’ Người nào vào lúc khác, sau khi từ bỏ Phật, Pháp, Tăng, học giới, đã hoàn tục về đời sống thấp kém, rồi thực hành, thường xuyên thực hành, gắn bó thực hành, lặp đi lặp lại thực hành pháp dâm dục – (đây là ý nghĩa của) ‘người nào thực hành dâm dục.’
Yānaṃ bhantaṃva taṃ loketi. Yānanti hatthiyānaṃ assayānaṃ goyānaṃ ajayānaṃ meṇḍayānaṃ oṭṭhayānaṃ kharayānaṃ bhantaṃ adantaṃ akāritaṃ avinītaṃ uppathaṃ gaṇhāti, visamaṃ khāṇumpi pāsāṇampi abhiruhati, yānampi ārohanakampi bhañjati, papātepi papatati. Yathā taṃ bhantaṃ yānaṃ adantaṃ akāritaṃ avinītaṃ uppathaṃ gaṇhāti; evamevaṃ so vibbhantako bhantayānapaṭibhāgo uppathaṃ gaṇhāti, micchādiṭṭhiṃ gaṇhāti…pe… micchāsamādhiṃ gaṇhāti. Yathā taṃ bhantaṃ yānaṃ adantaṃ akāritaṃ avinītaṃ visamaṃ khāṇumpi pāsāṇampi abhiruhati; evamevaṃ so vibbhantako bhantayānapaṭibhāgo visamaṃ kāyakammaṃ abhiruhati, visamaṃ vacīkammaṃ abhiruhati, visamaṃ manokammaṃ abhiruhati, visamaṃ pāṇātipātaṃ abhiruhati, visamaṃ adinnādānaṃ abhiruhati, visamaṃ kāmesumicchācāraṃ abhiruhati, visamaṃ musāvādaṃ abhiruhati, visamaṃ pisuṇavācaṃ abhiruhati, visamaṃ pharusavācaṃ abhiruhati, visamaṃ samphappalāpaṃ abhiruhati, visamaṃ abhijjhaṃ abhiruhati, visamaṃ byāpādaṃ abhiruhati, visamaṃ micchādiṭṭhiṃ abhiruhati, visame saṅkhāre abhiruhati, visame pañca kāmaguṇe abhiruhati, visame nīvaraṇe abhiruhati. Yathā taṃ bhantaṃ yānaṃ adantaṃ akāritaṃ avinītaṃ yānampi ārohanakampi bhañjati; evamevaṃ so vibbhantako bhantayānapaṭibhāgo niraye attānaṃ bhañjati, tiracchānayoniyaṃ attānaṃ bhañjati, pettivisaye attānaṃ bhañjati, manussaloke attānaṃ bhañjati, devaloke attānaṃ bhañjati. Yathā taṃ bhantaṃ yānaṃ adantaṃ akāritaṃ avinītaṃ papāte papatati; evamevaṃ so vibbhantako bhantayānapaṭibhāgo jātipapātampi papatati, jarāpapātampi papatati, byādhipapātampi papatati, maraṇapapātampi papatati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsapapātampi papatati. Loketi apāyaloke manussaloketi – yānaṃ bhantaṃva taṃ loke.
Regarding the phrase, 'That vehicle in the world is like a runaway one.' What is a vehicle? It is an elephant vehicle, a horse vehicle, an ox vehicle, a goat vehicle, a ram vehicle, a camel vehicle, or a donkey vehicle—runaway, untamed, unmastered, untrained—it takes the wrong path, climbs over uneven terrain, stumps, and stones, breaks both the vehicle and its rider, and falls over a precipice. Just as that runaway vehicle, untamed, unmastered, and untrained, takes the wrong path; even so does that wayward one, who is like a runaway vehicle, take the wrong path—he adopts wrong view… up to… wrong concentration. Just as that runaway vehicle, untamed, unmastered, and untrained, climbs over uneven terrain, stumps, and stones; even so does that wayward one, who is like a runaway vehicle, engage in improper bodily action, engage in improper verbal action, engage in improper mental action, engage in improper destruction of life, engage in improperly taking what is not given, engage in improper sexual misconduct, engage in improper false speech, engage in improper divisive speech, engage in improper harsh speech, engage in improper idle chatter, engage in improper covetousness, engage in improper ill will, engage in improper wrong view, engage in improper formations, engage in the improper five strands of sensual pleasure, and engage in improper hindrances. Just as that runaway vehicle, untamed, unmastered, and untrained, breaks both the vehicle and its rider; even so does that wayward one, who is like a runaway vehicle, break himself in hell, break himself in the animal realm, break himself in the realm of ghosts, break himself in the human world, and break himself in the celestial world. Just as that runaway vehicle, untamed, unmastered, and untrained, falls over a precipice; even so does that wayward one, who is like a runaway vehicle, fall into the precipice of birth, fall into the precipice of aging, fall into the precipice of illness, fall into the precipice of death, and fall into the precipice of sorrow, lamentation, pain, distress, and despair. As for 'in the world' (loke): this means in the plane of misery and in the human world. This is the meaning of the phrase, 'That vehicle in the world is like a runaway one.'
Về câu ‘giống như cỗ xe mất kiểm soát ở đời.’ Cỗ xe là xe voi, xe ngựa, xe bò, xe dê đực, xe cừu, xe lạc đà, xe lừa; nó mất kiểm soát, không được thuần hóa, không được chế tác tốt, không được huấn luyện, đi vào đường tà, leo lên cả gốc cây, tảng đá gồ ghề, làm gãy cả cỗ xe và người điều khiển, và rơi xuống vực thẳm. Giống như cỗ xe mất kiểm soát, không được thuần hóa, không được chế tác tốt, không được huấn luyện, đi vào đường tà; cũng vậy, người đã hoàn tục ấy, tương tự như cỗ xe mất kiểm soát, đi vào đường tà, chấp giữ tà kiến... (v.v.)... chấp giữ tà định. Giống như cỗ xe mất kiểm soát, không được thuần hóa, không được chế tác tốt, không được huấn luyện, leo lên cả gốc cây, tảng đá gồ ghề; cũng vậy, người đã hoàn tục ấy, tương tự như cỗ xe mất kiểm soát, dấn thân vào thân nghiệp bất bình, dấn thân vào khẩu nghiệp bất bình, dấn thân vào ý nghiệp bất bình, dấn thân vào sát sanh bất bình, dấn thân vào trộm cắp bất bình, dấn thân vào tà dâm trong các dục bất bình, dấn thân vào nói dối bất bình, dấn thân vào nói đâm thọc bất bình, dấn thân vào nói lời thô ác bất bình, dấn thân vào nói lời vô ích bất bình, dấn thân vào tham lam bất bình, dấn thân vào sân hận bất bình, dấn thân vào tà kiến bất bình, dấn thân vào các hành bất bình, dấn thân vào năm dục công đức bất bình, dấn thân vào các triền cái bất bình. Giống như cỗ xe mất kiểm soát, không được thuần hóa, không được chế tác tốt, không được huấn luyện, làm gãy cả cỗ xe và người điều khiển; cũng vậy, người đã hoàn tục ấy, tương tự như cỗ xe mất kiểm soát, tự hủy hoại mình trong địa ngục, tự hủy hoại mình trong loài súc sanh, tự hủy hoại mình trong cảnh giới ngạ quỷ, tự hủy hoại mình trong thế giới loài người, tự hủy hoại mình trong thế giới chư thiên. Giống như cỗ xe mất kiểm soát, không được thuần hóa, không được chế tác tốt, không được huấn luyện, rơi xuống vực thẳm; cũng vậy, người đã hoàn tục ấy, tương tự như cỗ xe mất kiểm soát, cũng rơi vào vực thẳm của sanh, cũng rơi vào vực thẳm của già, cũng rơi vào vực thẳm của bệnh, cũng rơi vào vực thẳm của chết, cũng rơi vào vực thẳm của sầu, bi, khổ, ưu, não. ‘Ở đời’ là ở trong cõi khổ, trong thế giới loài người – (đây là ý nghĩa của) ‘giống như cỗ xe mất kiểm soát ở đời.’
Hīnamāhu puthujjananti. Puthujjanāti kenaṭṭhena puthujjanā? Puthu kilese janentīti puthujjanā, puthu avihatasakkāyadiṭṭhikāti puthujjanā, puthu satthārānaṃ mukhullokikāti puthujjanā, puthu sabbagatīhi avuṭṭhitāti puthujjanā, puthu nānābhisaṅkhāre † abhisaṅkharontīti puthujjanā, puthu nānāoghehi vuyhantīti puthujjanā, puthu nānāsantāpehi santapantīti puthujjanā, puthu nānāpariḷāhehi paridayhantīti puthujjanā, puthu pañcasu kāmaguṇesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā † laggā laggitā palibuddhāti puthujjanā, puthu pañcahi nīvaraṇehi āvutā nivutā ovutā pihitā paṭicchannā paṭikujjitāti puthujjanā. Hīnamāhu puthujjananti. Puthujjanaṃ hīnaṃ nihīnaṃ omakaṃ lāmakaṃ chatukkaṃ parittanti evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – hīnamāhu puthujjanaṃ.
They call the worldling inferior. In what sense is one a worldling? A worldling is one who generates many defilements; a worldling is one who has not destroyed the many kinds of personality-view; a worldling is one who looks up to the faces of many teachers; a worldling is one who has not risen from all destinations; a worldling is one who forms various formations; a worldling is one who is severely tormented by various torments; a worldling is one who is burned by various fevers; a worldling is one who is infatuated, greedy, captivated, clinging, attached, and ensnared by the five strands of sensual pleasure; a worldling is one who is veiled, obstructed, covered over, shut in, concealed, and overturned by the five hindrances. They call the worldling inferior. The worldling is called inferior, base, low, worthless, vile, and insignificant—thus they say, thus they declare, thus they speak, thus they explain, thus they call him: 'They call the worldling inferior.'
Về câu ‘họ gọi là phàm phu thấp hèn.’ Phàm phu: do ý nghĩa nào là phàm phu? Vì làm phát sinh nhiều phiền não, nên là phàm phu. Vì có nhiều loại thân kiến chưa được diệt trừ, nên là phàm phu. Vì thường nhìn vào mặt của nhiều vị thầy khác nhau, nên là phàm phu. Vì chưa thoát khỏi tất cả các cõi, nên là phàm phu. Vì tạo tác nhiều loại hành khác nhau, nên là phàm phu. Vì bị cuốn trôi bởi nhiều loại bộc lưu khác nhau, nên là phàm phu. Vì bị thiêu đốt bởi nhiều loại nhiệt não khác nhau, nên là phàm phu. Vì bị thiêu cháy bởi nhiều loại phiền muộn khác nhau, nên là phàm phu. Vì tham đắm, say mê, dính mắc, mê muội, chìm đắm, vướng víu, bị trói buộc trong năm dục công đức, nên là phàm phu. Vì bị che lấp, bao phủ, che đậy, đóng kín, che khuất, úp mặt xuống bởi năm triền cái, nên là phàm phu. Về câu ‘họ gọi là phàm phu thấp hèn.’ Họ đã nói, họ kể, họ nói, họ trình bày, họ gọi rằng phàm phu là thấp kém, hèn hạ, thấp hèn, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn – (đây là ý nghĩa của) ‘họ gọi là phàm phu thấp hèn.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Eko pubbe caritvāna, methunaṃ yo nisevati;
Yānaṃ bhantaṃva taṃ loke, hīnamāhu puthujjana’’nti.
“Having formerly lived alone, one who then indulges in sexual intercourse—he is like a runaway vehicle in the world; they call him an inferior worldling.”
‘Người nào trước đây đã sống một mình, sau lại thực hành dâm dục; ở đời, họ gọi người đó là phàm phu thấp hèn, giống như cỗ xe mất kiểm soát.’
52.
52.
52.
Yaso kitti ca yā pubbe, hāyate vāpi tassa sā;
Etampi disvā sikkhetha, methunaṃ vippahātave.
Whatever fame and reputation one had previously, that indeed declines for him. Seeing this as well, one should train in order to abandon sexual intercourse.
Danh tiếng và tiếng tăm nào có được trước đây, sau đó đều bị suy giảm; thấy được điều này, hãy học tập để từ bỏ dâm dục.
Yaso kitti ca yā pubbe, hāyate vāpi tassa sāti. Katamo yaso? Idhekacco pubbe samaṇabhāve sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ – ayaṃ yaso. Katamā kitti? Idhekacco pubbe samaṇabhāve kittivaṇṇagato hoti paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno – suttantikoti vā vinayadharoti vā dhammakathikoti vā āraññikoti vā piṇḍapātikoti vā paṃsukūlikoti vā tecīvarikoti vā sapadānacārikoti vā khalupacchābhattikoti vā nesajjikoti vā yathāsanthatikoti vā paṭhamassa jhānassa lābhīti vā dutiyassa jhānassa lābhīti vā tatiyassa jhānassa lābhīti vā catutthassa jhānassa lābhīti vā ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā viññāṇañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā ākiñcaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, ayaṃ kittīti – yaso kitti ca yā pubbe.
‘Fame and reputation that one had before, that too declines for him.’ What is fame? Here, someone formerly in the monastic life was respected, esteemed, honored, venerated, revered, and obtained robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick—this is fame. What is reputation? Here, someone formerly in the monastic life was spoken of with praise and renown—as wise, competent, intelligent, learned, eloquent, with excellent insight—known as a master of the suttas, or a master of the Vinaya, or a preacher of the Dhamma; or as a forest dweller, or one who lives on almsfood, or one who wears rag-robes, or one who wears only three robes, or one who goes from house to house for alms, or one who refuses later food, or one who undertakes the sitter's practice, or one who uses whatever lodging is allotted; or as one who has attained the first jhāna, or the second jhāna, or the third jhāna, or the fourth jhāna, or the attainment of the base of infinite space, or the attainment of the base of infinite consciousness, or the attainment of the base of nothingness, or the attainment of the base of neither perception nor non-perception. This is reputation. Thus: ‘Fame and reputation that one had before.’
Danh tiếng và tiếng tăm nào trước đây, của người ấy bị suy giảm. Danh tiếng là gì? Ở đây, có người trong thời gian làm sa-môn trước đây được cung kính, được tôn trọng, được quý mến, được cúng dường, được tôn sùng, là người nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng – đây là danh tiếng. Tiếng tăm là gì? Ở đây, có người trong thời gian làm sa-môn trước đây được ca ngợi, tán dương là người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, đa văn, có tài ăn nói, có biện tài tốt đẹp – hoặc là người thông suốt Kinh Tạng, hoặc là người thông suốt Luật Tạng, hoặc là người thuyết pháp, hoặc là người sống ở rừng, hoặc là người đi khất thực, hoặc là người mặc y phấn tảo, hoặc là người chỉ dùng ba y, hoặc là người đi khất thực không bỏ sót nhà nào, hoặc là người không ăn sau khi đã nói đủ, hoặc là người thực hành hạnh không nằm, hoặc là người thực hành hạnh ở đâu cũng được, hoặc là người đắc thiền thứ nhất, hoặc là người đắc thiền thứ hai, hoặc là người đắc thiền thứ ba, hoặc là người đắc thiền thứ tư, hoặc là người đắc Không Vô Biên Xứ, hoặc là người đắc Thức Vô Biên Xứ, hoặc là người đắc Vô Sở Hữu Xứ, hoặc là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, đây là tiếng tăm – danh tiếng và tiếng tăm nào trước đây.
Hāyate vāpi tassa sāti. Tassa aparena samayena buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattassa so ca yaso sā ca kitti hāyati parihāyati paridhaṃsati paripatati antaradhāyati vippalujjatīti – yaso kitti ca yā pubbe hāyate vāpi tassa sā.
‘That too declines for him.’ At a later time, for one who has renounced the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and the training, and has reverted to a low state, that fame and that reputation decline, diminish, fall to ruin, fall away, disappear, and perish. Thus: ‘Fame and reputation that one had before, that too declines for him.’
Của người ấy bị suy giảm. Về sau, người ấy sau khi từ bỏ Đức Phật, từ bỏ Giáo Pháp, từ bỏ Tăng chúng, từ bỏ học giới, đã trở về đời sống thấp kém, cả danh tiếng ấy và tiếng tăm ấy đều bị suy giảm, bị tàn lụi, bị sụp đổ, bị rơi rụng, bị biến mất, bị tan vỡ – danh tiếng và tiếng tăm nào trước đây, của người ấy bị suy giảm.
Etampi disvā sikkhetha methunaṃ vippahātaveti. Etanti pubbe samaṇabhāve yaso kitti ca, aparabhāge buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattassa ayaso ca akitti ca; etaṃ sampattiṃ vipattiṃ. Disvāti passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – etampi disvā. Sikkhethāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā. Katamā adhisīlasikkhā? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Khuddako sīlakkhandho, mahanto sīlakkhandho. Sīlaṃ patiṭṭhā ādi caraṇaṃ saṃyamo saṃvaro mukhaṃ pamukhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā – ayaṃ adhisīlasikkhā.
‘Seeing this too, one should train to abandon sexual intercourse.’ Herein, ‘this’ refers to: in the former state as a monk, the gain, honor, and renown; and in the later part, for one who has reverted to the inferior state after renouncing the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and the training, the lack of gain and honor, and the lack of renown. Thus, this accomplishment and this ruin. ‘Having seen’ means having seen, having weighed, having investigated, having made it manifest, and having made it distinct—thus, ‘seeing this too.’ ‘One should train’ refers to the three trainings: the training in higher morality, the training in higher mind, and the training in higher wisdom. What is the training in higher morality? Here, a bhikkhu is virtuous; he dwells restrained by the restraint of the Pātimokkha, endowed with proper conduct and resort, seeing danger in the slightest faults, and he trains by undertaking the training rules. The minor section of morality, the major section of morality. For the attainment of wholesome states, morality is the foundation, the beginning, the footing, the restraint, the control, the entrance, and the foremost leader. This is the training in higher morality.
Thấy điều này rồi, hãy học tập để từ bỏ sự dâm dục. ‘Điều này’ là: trước đây trong thời gian làm sa-môn thì có danh tiếng và tiếng tăm, về sau sau khi từ bỏ Đức Phật, từ bỏ Giáo Pháp, từ bỏ Tăng chúng, từ bỏ học giới, đã trở về đời sống thấp kém thì không có danh tiếng và không có tiếng tăm; sự thành tựu và sự thất bại này. ‘Thấy rồi’ là sau khi đã thấy, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ – thấy điều này rồi. ‘Hãy học tập’ là ba học giới – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Tăng thượng giới học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu là người có giới, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, thành tựu oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các điều học. Uẩn giới nhỏ, uẩn giới lớn. Giới là nền tảng, là khởi đầu, là nền móng, là sự chế ngự, là sự thu thúc, là cửa ngõ, là hàng đầu cho sự chứng đắc các thiện pháp – đây là tăng thượng giới học.
Katamā adhicittasikkhā? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati…pe… dutiyaṃ jhānaṃ… tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ adhicittasikkhā.
What is the training in higher mind? Here, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by applied thought and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion... and so on... the second jhāna... the third jhāna... he enters and dwells in the fourth jhāna. This is the training in higher mind.
Tăng thượng tâm học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ... (như trên)... chứng và trú thiền thứ hai... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư – đây là tăng thượng tâm học.
Katamā adhipaññāsikkhā? Idha bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. So idaṃ dukkhanti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti, ime āsavāti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti – ayaṃ adhipaññāsikkhā. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo…pe… taṃkāraṇā vuccati methunadhammo.
What is the training in higher wisdom? Here, a bhikkhu is wise, endowed with wisdom concerning arising and passing away, which is noble, penetrative, and leads to the complete destruction of suffering. He understands as it actually is: “This is suffering.” He understands as it actually is: “This is the origin of suffering.” He understands as it actually is: “This is the cessation of suffering.” He understands as it actually is: “This is the path leading to the cessation of suffering.” He understands as it actually is: “These are the taints.” He understands as it actually is: “This is the origin of the taints.” He understands as it actually is: “This is the cessation of the taints.” He understands as it actually is: “This is the path leading to the cessation of the taints.” This is the training in higher wisdom. The practice of sexual intercourse is that which is the ignoble practice... for that reason, it is called the practice of sexual intercourse.
Tăng thượng tuệ học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt, bậc Thánh, có khả năng đâm thủng, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là sự phát sanh của các lậu hoặc,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc,’ tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’ – đây là tăng thượng tuệ học. Pháp dâm dục được gọi là pháp của người không chân chánh... (như trên)... vì lý do đó được gọi là pháp dâm dục.
Etampi disvā sikkhetha, methunaṃ vippahātaveti. Methunadhammassa pahānāya vūpasamāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya, passanto sikkheyya, paccavekkhanto sikkheyya, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkheyya, saddhāya adhimuccanto sikkheyya, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkheyya, satiṃ upaṭṭhapento sikkheyya, cittaṃ samādahanto sikkheyya, paññāya pajānanto sikkheyya, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkheyya, pariññeyyaṃ parijānanto sikkheyya, pahātabbaṃ pajahanto sikkheyya, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkheyya, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – etampi disvā sikkhetha, methunaṃ vippahātave.
‘Seeing this too, one should train to abandon sexual intercourse.’ For the abandoning, stilling, relinquishment, and quieting of the practice of sexual intercourse, one should train in higher morality, also in higher mind, also in higher wisdom. Directing one’s mind to these three trainings, one should train—knowing, seeing, reviewing, establishing the mind, being resolved through faith, arousing energy, establishing mindfulness, concentrating the mind, understanding with wisdom, directly knowing what should be directly known, fully understanding what should be fully understood, abandoning what should be abandoned, developing what should be developed, realizing what should be realized. One should practice, practice thoroughly, undertake and conduct oneself accordingly. Thus: ‘Seeing this too, one should train to abandon sexual intercourse.’
Thấy điều này rồi, hãy học tập để từ bỏ sự dâm dục. Để đoạn trừ, làm cho an tịnh, từ bỏ, làm cho lắng dịu pháp dâm dục, nên học tập tăng thượng giới, nên học tập tăng thượng tâm, nên học tập tăng thượng tuệ. Nên học tập trong khi hướng tâm đến ba học giới này, nên học tập trong khi biết, nên học tập trong khi thấy, nên học tập trong khi quán xét, nên học tập trong khi quyết định tâm, nên học tập trong khi tin tưởng với đức tin, nên học tập trong khi nỗ lực tinh tấn, nên học tập trong khi thiết lập niệm, nên học tập trong khi định tâm, nên học tập trong khi tuệ tri với trí tuệ, nên học tập trong khi thắng tri điều cần thắng tri, nên học tập trong khi liễu tri điều cần liễu tri, nên học tập trong khi đoạn trừ điều cần đoạn trừ, nên học tập trong khi tu tập điều cần tu tập, nên học tập trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ, nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, nên chấp nhận và hành trì – thấy điều này rồi, hãy học tập để từ bỏ sự dâm dục.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Yaso kitti ca yā pubbe, hāyate vāpi tassa sā;
Etampi disvā sikkhetha, methunaṃ vippahātave’’ti.
“Fame and reputation, whatever one had before, even that diminishes for him; seeing this too, one should train to abandon sexual intercourse.”
“Danh tiếng và tiếng tăm nào trước đây, của người ấy bị suy giảm; Thấy điều này rồi, hãy học tập, để từ bỏ sự dâm dục.”
53.
53.
53.
Saṅkappehi pareto so, kapaṇo viya jhāyati;
Sutvā paresaṃ nigghosaṃ, maṅku hoti tathāvidho.
Oppressed by intentions, he broods like a wretched person; having heard the reproach of others, such a one becomes downcast.
Người ấy bị các tư duy lấn át, suy tư như kẻ khốn cùng; Nghe lời chỉ trích của người khác, người như vậy trở nên bối rối.
Saṅkappehi pareto so, kapaṇo viya jhāyatīti. Kāmasaṅkappena byāpādasaṅkappena vihiṃsāsaṅkappena diṭṭhisaṅkappena phuṭṭho pareto samohito samannāgato pihito kapaṇo viya mando viya momūho viya jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati †. Yathā ulūko rukkhasākhāyaṃ mūsikaṃ magayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati, yathā kotthu nadītīre macche magayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati, yathā biḷāro sandhisamalasaṅkaṭire mūsikaṃ magayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati, yathā gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭire jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati; evamevaṃ so vibbhantako kāmasaṅkappena byāpādasaṅkappena vihiṃsāsaṅkappena diṭṭhisaṅkappena phuṭṭho pareto samohito samannāgato pihito kapaṇo viya mando viya momūho viya jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyatīti – saṅkappehi pareto so kapaṇo viya jhāyati.
"Overcome by thoughts, he broods like a wretched person": Touched, overcome, engulfed, possessed, and enveloped by thoughts of sensual pleasure, thoughts of ill will, thoughts of cruelty, and thoughts of wrong views, he broods like a wretched person, like a dull person, like a deluded person; he broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion. Just as an owl on a tree branch, seeking a mouse, broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion; just as a jackal on a riverbank, seeking fish, broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion; just as a cat in a narrow, squalid, rubbish-strewn place, seeking a mouse, broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion; just as a donkey with a galled back, in a narrow, squalid, rubbish-strewn place, broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion; even so, that one who has disrobed, being touched, overcome, engulfed, possessed, and enveloped by thoughts of sensual pleasure, thoughts of ill will, thoughts of cruelty, and thoughts of wrong views, broods like a wretched person, like a dull person, like a deluded person; he broods, broods intensely, broods exhaustively, and broods in seclusion. This is the meaning of "Overcome by thoughts, he broods like a wretched person."
“Bị các tầm chi phối, người ấy trầm tư như kẻ khốn cùng” có nghĩa là: Bị dục tầm, sân tầm, hại tầm, tà kiến tầm chạm đến, chi phối, xâm nhập, trang bị, bao phủ; người ấy trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi, giống như người khốn cùng, giống như người đần độn, giống như người mê muội. Giống như con cú trên cành cây trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi trong khi tìm kiếm con chuột; giống như con chó rừng bên bờ sông trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi trong khi tìm kiếm con cá; giống như con mèo ở nơi cống rãnh, hố rác, đống rác trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi trong khi tìm kiếm con chuột; giống như con lừa bị thương ở vai trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi ở nơi cống rãnh, hố rác, đống rác. Cũng như thế ấy, người hoàn tục kia bị dục tầm, sân tầm, hại tầm, tà kiến tầm chạm đến, chi phối, xâm nhập, trang bị, bao phủ; người ấy trầm tư, trầm tư sâu sắc, trầm tư nhiều cách, trầm tư rồi bỏ đi, giống như người khốn cùng, giống như người đần độn, giống như người mê muội. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Bị các tầm chi phối, người ấy trầm tư như kẻ khốn cùng.”
Sutvā paresaṃ nigghosaṃ, maṅku hoti tathāvidhoti. Paresanti upajjhāyā vā ācariyā vā samānupajjhāyakā vā samānācariyakā vā mittā vā sandiṭṭhā vā sambhattā vā sahāyā vā codenti – ‘‘tassa te, āvuso, alābhā, tassa te dulladdhaṃ, yaṃ tvaṃ evarūpaṃ uḷāraṃ satthāraṃ labhitvā evaṃ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā evarūpaṃ ariyagaṇaṃ labhitvā hīnassa methunadhammassa kāraṇā buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattosi. Saddhāpi nāma te nāhosi kusalesu dhammesu, hirīpi nāma te nāhosi kusalesu dhammesu, ottappampi nāma te nāhosi kusalesu dhammesu, vīriyampi nāma te nāhosi kusalesu dhammesu, satipi nāma te nāhosi kusalesu dhammesu, paññāpi nāma te nāhosi kusalesu dhammesū’’ti. Tesaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusāsanaṃ anusiṭṭhiṃ sutvā suṇitvā uggahetvā upadhārayitvā upalakkhayitvā maṅku hoti, pīḷito ghaṭṭito byādhito domanassito hoti. Tathāvidhoti tathāvidho tādiso tassaṇṭhito tappakāro tappaṭibhāgo. Yo so vibbhantakoti – sutvā paresaṃ nigghosaṃ maṅku hoti tathāvidho.
"Hearing the reproach of others, he becomes disheartened; such is his state": Others—whether preceptors, teachers, those with the same preceptor, those with the same teacher, friends, acquaintances, intimates, or companions—rebuke him thus: "Friend, it is a loss for you, it is ill-gained for you, that having obtained such an excellent Teacher, having gone forth in such a well-proclaimed Dhamma and Discipline, having obtained such a noble community, you have turned back to what is base for the sake of the practice of sexual intercourse, renouncing the Buddha, the Dhamma, the Saṅgha, and the training. You had no faith in wholesome qualities, you had no shame in wholesome qualities, you had no fear of wrongdoing in wholesome qualities, you had no energy in wholesome qualities, you had no mindfulness in wholesome qualities, you had no wisdom in wholesome qualities." Hearing their concise speech, detailed speech, teaching, instruction, and repeated advice—listening, taking it up, holding it, bearing it in mind, and noting it—he becomes disheartened; he is oppressed, crushed, afflicted, and sorrowful. "Such is his state" means of such a nature, of such a kind, established in that state, of that manner, of that likeness. He who has disrobed—this is the meaning of "hearing the reproach of others, he becomes disheartened; such is his state."
“Nghe tiếng nói của người khác, người như thế ấy trở nên bối rối” có nghĩa là: “Của người khác” là: các vị thầy tế độ, hoặc các vị thầy dạy dỗ, hoặc các vị đồng thầy tế độ, hoặc các vị đồng thầy dạy dỗ, hoặc các bạn bè, hoặc những người quen biết, hoặc những người thân thiết, hoặc các bạn đồng hành khiển trách rằng: “Này hiền hữu, thật bất hạnh cho hiền hữu, thật không may cho hiền hữu, khi hiền hữu đã được gặp bậc Đạo Sư cao thượng như vậy, đã được xuất gia trong Giáo pháp và Giới luật được khéo giảng dạy như vậy, đã được gặp chúng Thánh nhân như vậy, mà vì lý do hành dâm hạ liệt đã từ bỏ đức Phật, Giáo pháp, Tăng chúng, học giới, rồi đã quay về đời sống thấp hèn. Hiền hữu đã không có được đức tin trong các thiện pháp, hiền hữu đã không có được sự hổ thẹn trong các thiện pháp, hiền hữu đã không có được sự ghê sợ (tội lỗi) trong các thiện pháp, hiền hữu đã không có được sự tinh tấn trong các thiện pháp, hiền hữu đã không có được chánh niệm trong các thiện pháp, hiền hữu đã không có được trí tuệ trong các thiện pháp.” Sau khi đã nghe, lắng nghe, tiếp thu, ghi nhớ, nhận thức lời nói, lời giải thích, lời thuyết giảng, lời giáo huấn, lời chỉ dạy của họ, vị ấy trở nên bối rối, bị bức bách, bị dằn vặt, bị đau khổ, bị ưu phiền. “Người như thế ấy” là: người như thế ấy, người giống như vậy, người có trạng thái như vậy, người có cách thức như vậy, người có phần tương tự như vậy. Người hoàn tục ấy là – (ý nghĩa của câu:) “Nghe tiếng nói của người khác, người như thế ấy trở nên bối rối.”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói: –
‘‘Saṅkappehi pareto so, kapaṇo viya jhāyati;
Sutvā paresaṃ nigghosaṃ, maṅku hoti tathāvidho’’ti.
"Overcome by thoughts, he broods like a wretched person; hearing the reproach of others, such a one becomes disheartened."
“Bị các tầm chi phối, người ấy trầm tư như kẻ khốn cùng; Nghe tiếng nói của người khác, người như thế ấy trở nên bối rối.”
54.
54.
54.
Atha satthāni kurute, paravādehi codito;
Esa khvassa mahāgedho, mosavajjaṃ pagāhati † .
Then, being reproached by others, he makes weapons; this indeed is his great snare: he engages in false speech.
“Rồi khi bị người khác khiển trách, vị ấy tạo ra các loại vũ khí; Đây chính là sự tham ái lớn lao của vị ấy, khi vị ấy thực hành lời nói sai trái.”
Atha satthāni kurute, paravādehi coditoti. Athāti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – athāti. Satthānīti tīṇi satthāni – kāyasatthaṃ, vacīsatthaṃ, manosatthaṃ. Tividhaṃ kāyaduccaritaṃ kāyasatthaṃ, catubbidhaṃ vacīduccaritaṃ vacīsatthaṃ, tividhaṃ manoduccaritaṃ manosatthaṃ. Paravādehi coditoti. Upajjhāyehi vā ācariyehi vā samānupajjhāyakehi vā samānācariyakehi vā mittehi vā sandiṭṭhehi vā sambhattehi vā sahāyehi vā codito sampajānamusā bhāsati. ‘‘Abhirato ahaṃ, bhante, ahosiṃ pabbajjāya. Mātā me posetabbā, tenamhi vibbhanto’’ti bhaṇati. ‘‘Pitā me posetabbo, tenamhi vibbhanto’’ti bhaṇati. ‘‘Bhātā me posetabbo… bhaginī me posetabbā… putto me posetabbo… dhītā me posetabbā… mittā me posetabbā… amaccā me posetabbā… ñātakā me posetabbā… sālohitā me posetabbā, tenamhi vibbhanto’’ti bhaṇati. Vacīsatthaṃ karoti saṅkaroti janeti sañjaneti nibbatteti abhinibbattetīti – atha satthāni kurute, paravādehi codito.
"Then, being reproached by others, he makes weapons": Here, `atha` is a conjunction, a linking of words, a completion of the phrase, a harmony of syllables, a smoothness of consonants, and a sequence of words—this is `atha`. “Weapons” refers to three kinds of weapons: the bodily weapon, the verbal weapon, and the mental weapon. The threefold bodily misconduct is the bodily weapon, the fourfold verbal misconduct is the verbal weapon, and the threefold mental misconduct is the mental weapon. “Being reproached by others” means that, being urged by preceptors, teachers, fellow preceptors, fellow teachers, friends, acquaintances, intimates, or companions, he knowingly speaks falsely. He says, “Venerable sirs, I was greatly delighted in the monastic life. But my mother must be supported, so I have disrobed.” Or he says, “My father must be supported, so I have disrobed.” Or he says, “My brother must be supported… my sister must be supported… my son must be supported… my daughter must be supported… my friends must be supported… my ministers must be supported… my relatives must be supported… my kinsmen must be supported, so I have disrobed.” He makes, constructs, generates, brings forth, produces, and brings into full manifestation the verbal weapon. This is the meaning of "Then, being reproached by others, he makes weapons."
“Rồi khi bị người khác khiển trách, vị ấy tạo ra các loại vũ khí” có nghĩa là: “Rồi” là sự nối kết từ, sự liên kết từ, sự bổ sung từ, sự kết hợp âm, sự trôi chảy của phụ âm, sự tuần tự của từ - đó là “rồi”. “Các loại vũ khí” là có ba loại vũ khí: vũ khí của thân, vũ khí của lời nói, vũ khí của ý. Ba loại thân ác hạnh là vũ khí của thân, bốn loại khẩu ác hạnh là vũ khí của lời nói, ba loại ý ác hạnh là vũ khí của ý. “Khi bị người khác khiển trách” là: khi bị các vị thầy tế độ, hoặc các vị thầy dạy dỗ, hoặc các vị đồng thầy tế độ, hoặc các vị đồng thầy dạy dỗ, hoặc các bạn bè, hoặc những người quen biết, hoặc những người thân thiết, hoặc các bạn đồng hành khiển trách, vị ấy cố ý nói dối. Vị ấy nói: “Bạch ngài, con đã rất hoan hỷ trong đời sống xuất gia. Mẹ của con cần được nuôi dưỡng, vì thế con đã hoàn tục.” Vị ấy nói: “Cha của con cần được nuôi dưỡng, vì thế con đã hoàn tục.” Vị ấy nói: “Anh em trai của con cần được nuôi dưỡng… chị em gái của con cần được nuôi dưỡng… con trai của con cần được nuôi dưỡng… con gái của con cần được nuôi dưỡng… bạn bè của con cần được nuôi dưỡng… các vị quan chức cần được nuôi dưỡng… bà con của con cần được nuôi dưỡng… những người có cùng huyết thống của con cần được nuôi dưỡng, vì thế con đã hoàn tục.” Vị ấy tạo ra, làm ra, phát sinh, làm phát sinh, tạo nên, làm tạo nên vũ khí của lời nói. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Rồi khi bị người khác khiển trách, vị ấy tạo ra các loại vũ khí.”
Esa khvassa mahāgedhoti. Eso tassa mahāgedho mahāvanaṃ mahāgahanaṃ mahākantāro mahāvisamo mahākuṭilo mahāpaṅko mahāpalipo mahāpalibodho mahābandhanaṃ, yadidaṃ sampajānamusāvādoti – esa khvassa mahāgedho.
"This indeed is his great snare": This is for him a great snare, a great evil forest, a great thicket, a great wilderness, a great unevenness, a great crookedness, a great mire, a great morass, a great obstruction, and a great bond—namely, knowingly speaking falsely. This is the meaning of "This indeed is his great snare."
“Đây chính là sự tham ái lớn lao của vị ấy” có nghĩa là: Đây là sự tham ái lớn lao của vị ấy, là khu rừng lớn, là bụi rậm lớn, là vùng hoang địa lớn, là nơi rất không bằng phẳng, là sự cong vẹo lớn, là vũng lầy lớn, là sự sa lầy lớn, là sự chướng ngại lớn, là sự trói buộc lớn, đó chính là việc cố ý nói dối. – (Đây là ý nghĩa của câu:) “Đây chính là sự tham ái lớn lao của vị ấy.”
Mosavajjaṃ pagāhatīti. Mosavajjaṃ vuccati musāvādo. Idhekacco sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho – ‘‘ehambho purisa, yaṃ jānāsi taṃ vadehī’’ti, so ajānaṃ vā āha – ‘‘jānāmī’’ti, ‘‘jānaṃ’’ vā āha – ‘‘na jānāmī’’ti, apassaṃ vā āha – ‘‘passāmī’’ti, passaṃ vā āha – ‘‘na passāmī’’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsati – idaṃ vuccati mosavajjaṃ.
"He engages in blameworthy falsehood": Blameworthy falsehood is said to be false speech. Here, a certain person, having gone to an assembly, a gathering, among relatives, into the midst of a company, or into the midst of a royal family, being brought forward and questioned as a witness—'Come, good man, speak what you know'—he, not knowing, says, 'I know,' or knowing, says, 'I do not know'; not seeing, says, 'I see,' or seeing, says, 'I do not see.' Thus, for his own sake, for another's sake, or for the sake of some trifling material gain, he knowingly speaks a falsehood. This is called blameworthy falsehood.
“Khi vị ấy thực hành lời nói sai trái” có nghĩa là: Lời nói sai trái được gọi là lời nói dối. Ở đây, có người nào đó, hoặc đến hội đồng, hoặc đến giữa hội chúng, hoặc đến giữa bà con, hoặc đến giữa phường hội, hoặc đến giữa hoàng tộc, được dẫn đến và hỏi làm nhân chứng: “Này ông kia, hãy đến đây, điều gì ông biết thì hãy nói ra,” người ấy không biết mà nói: “Tôi biết,” hoặc biết mà nói: “Tôi không biết,” hoặc không thấy mà nói: “Tôi thấy,” hoặc thấy mà nói: “Tôi không thấy.” Như vậy, hoặc vì lợi ích của bản thân, hoặc vì lợi ích của người khác, hoặc vì một chút lợi lộc vật chất nào đó, vị ấy cố ý nói dối – điều này được gọi là lời nói sai trái.
Api ca tīhākārehi musāvādo hoti. Pubbevassa hoti – ‘‘musā bhaṇissa’’nti, bhaṇantassa hoti – ‘‘musā bhaṇāmī’’ti, bhaṇitassa hoti – ‘‘musā mayā bhaṇita’’nti. Imehi tīhākārehi musāvādo hoti. Api ca catūhākārehi musāvādo hoti. Pubbevassa hoti – ‘‘musā bhaṇissa’’nti, bhaṇantassa hoti – ‘‘musā bhaṇāmī’’ti, bhaṇitassa hoti – ‘‘musā mayā bhaṇita’’nti, vinidhāya diṭṭhiṃ. Imehi catūhākārehi musāvādo hoti. Api ca pañcahākārehi… chahākārehi… sattahākārehi… aṭṭhahākārehi musāvādo hoti. Pubbevassa hoti – ‘‘musā bhaṇissa’’nti, bhaṇantassa hoti – ‘‘musā bhaṇāmī’’ti, bhaṇitassa hoti – ‘‘musā mayā bhaṇita’’nti, vinidhāya diṭṭhiṃ, vinidhāya khantiṃ, vinidhāya ruciṃ, vinidhāya saññaṃ, vinidhāya bhāvaṃ. Imehi aṭṭhahākārehi musāvādo hoti. Mosavajjaṃ pagāhatīti. Mosavajjaṃ pagāhati ogāhati ajjhogāhati pavisatīti – mosavajjaṃ pagāhati.
Furthermore, false speech occurs in three aspects. Beforehand, it occurs to one: ‘I will speak a falsehood.’ While speaking, it occurs to one: ‘I am speaking a falsehood.’ After having spoken, it occurs to one: ‘A falsehood has been spoken by me.’ False speech occurs in these three aspects. Furthermore, false speech occurs in four aspects. Beforehand, it occurs to one: ‘I will speak a falsehood’; while speaking, it occurs to one: ‘I am speaking a falsehood’; after having spoken, it occurs to one: ‘A falsehood has been spoken by me’; and one speaks concealing one's view. False speech occurs in these four aspects. Furthermore, false speech occurs in five aspects… six aspects… seven aspects… eight aspects. Beforehand, it occurs to one: ‘I will speak a falsehood’; while speaking, it occurs to one: ‘I am speaking a falsehood’; after having spoken, it occurs to one: ‘A falsehood has been spoken by me’; and one speaks concealing one's view, concealing one's preference, concealing one's inclination, concealing one's perception, and concealing one's state. False speech occurs in these eight aspects. ‘One plunges into a blameworthy falsehood’: One plunges into, immerses oneself in, is overwhelmed by, and enters into a blameworthy falsehood—this is the meaning of ‘one plunges into a blameworthy falsehood’.
Lại nữa, sự nói dối xảy ra do ba phương diện. Trước (khi nói), người ấy có ý nghĩ: "Ta sẽ nói dối"; trong khi đang nói, người ấy biết: "Ta đang nói dối"; sau khi đã nói, người ấy biết: "Ta đã nói dối". Do ba phương diện này, có sự nói dối. Lại nữa, sự nói dối xảy ra do bốn phương diện. Trước (khi nói), người ấy có ý nghĩ: "Ta sẽ nói dối"; trong khi đang nói, người ấy biết: "Ta đang nói dối"; sau khi đã nói, người ấy biết: "Ta đã nói dối"; và che giấu kiến giải. Do bốn phương diện này, có sự nói dối. Lại nữa, sự nói dối xảy ra do năm phương diện... sáu phương diện... bảy phương diện... tám phương diện. Trước (khi nói), người ấy có ý nghĩ: "Ta sẽ nói dối"; trong khi đang nói, người ấy biết: "Ta đang nói dối"; sau khi đã nói, người ấy biết: "Ta đã nói dối"; và che giấu kiến giải, che giấu sự chấp nhận, che giấu sở thích, che giấu tưởng, che giấu bản chất. Do tám phương diện này, có sự nói dối. (Cụm từ) ‘nắm giữ lỗi lầm của sự nói dối’ có nghĩa là: Nắm giữ, chìm vào, lún sâu vào, đi vào lỗi lầm của sự nói dối – đó là ý nghĩa của ‘nắm giữ lỗi lầm của sự nói dối’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Atha satthāni kurute, paravādehi codito;
Esa khvassa mahāgedho, mosavajjaṃ pagāhatī’’ti.
“Then he forges arguments, being incited by the doctrines of others; this indeed is his great snare, as he plunges into a blameworthy falsehood.”
“Rồi tạo ra các luận thuyết, khi bị khiển trách bởi lời người khác; Đây quả là lòng tham lớn của y, y nắm giữ lỗi lầm của sự nói dối.”
55.
55.
55.
Paṇḍitoti samaññāto, ekaccariyaṃ † adhiṭṭhito;
Sa cāpi methune yutto, mandova parikissati.
Renowned as ‘wise,’ established in a noble practice, if he engages in sexual intercourse, he comes to suffering like a fool.
“Được cho là bậc trí tuệ, sống đời sống độc cư; Dầu cho người ấy có hành dâm, cũng khốn khổ như kẻ si mê.”
Paṇḍitoti samaññātoti. Idhekacco pubbe samaṇabhāve kitti vaṇṇagato hoti – ‘‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno suttantikoti vā vinayadharoti vā dhammakathikoti vā…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhī’’ti vā. Evaṃ ñāto hoti paññāto samaññāto hotīti – paṇḍitoti samaññāto.
‘Renowned as wise’: Here, a certain person, in a former state as a monk, was renowned and praised: ‘He is wise, skilled, intelligent, very learned, an eloquent speaker, of fine readiness of wit, an expert in the Suttanta,’ or ‘one who upholds the Vinaya,’ or ‘a preacher of the Dhamma… or one who is an obtainer of the attainment of neither-perception-nor-non-perception.’ Thus he is known, recognized, and well-renowned. This is the meaning of ‘renowned as wise’.
(Cụm từ) ‘Được cho là bậc trí tuệ’ có nghĩa là: Ở đây, có người trước kia trong đời sống sa-môn đã có được danh tiếng và lời tán dương rằng: "Là bậc trí, là người thông thái, là người có trí tuệ, là người đa văn, là người có tài ăn nói, là người có biện tài tốt đẹp", hoặc là "người thông suốt Kinh tạng", hoặc là "người thông suốt Luật tạng", hoặc là "vị pháp sư", ...vân vân... hoặc là "người đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định". Như vậy, người ấy được biết đến, được nhận biết, được công nhận – đó là ý nghĩa của ‘được cho là bậc trí tuệ’.
Ekaccariyaṃ adhiṭṭhitoti. Dvīhi kāraṇehi ekaccariyaṃ adhiṭṭhito – pabbajjāsaṅkhātena vā gaṇāvavassaggaṭṭhena vā. Kathaṃ pabbajjāsaṅkhātena ekaccariyaṃ adhiṭṭhito? Sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā…pe… evaṃ pabbajjāsaṅkhātena ekaccariyaṃ adhiṭṭhito. Kathaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena ekaccariyaṃ adhiṭṭhito? So evaṃ pabbajito samāno eko araññavanapatthāni pantāni…pe… evaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena ekaccariyaṃ adhiṭṭhitoti – ekaccariyaṃ adhiṭṭhito.
‘Established in a noble practice’: He is established in a noble practice for two reasons: either by its designation as ‘going forth’ or by way of abandoning a group. How is he established in a noble practice by its designation as ‘going forth’? Having cut off all the impediments of household life… thus he is established in a noble practice by its designation as ‘going forth’. How is he established in a noble practice by way of abandoning a group? That person, having thus gone forth, being alone, dwells in remote forest and wilderness tracts… thus he is established in a noble practice by way of abandoning a group. This is the meaning of ‘established in a noble practice’.
(Cụm từ) ‘Sống đời sống độc cư’ có nghĩa là: Sống đời sống độc cư do hai lý do – hoặc do được tính là đã xuất gia, hoặc do ý nghĩa từ bỏ đoàn thể. Thế nào là sống đời sống độc cư do được tính là đã xuất gia? Sau khi cắt đứt mọi chướng ngại của đời sống tại gia... vân vân... như vậy là sống đời sống độc cư do được tính là đã xuất gia. Thế nào là sống đời sống độc cư do ý nghĩa từ bỏ đoàn thể? Người ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, sống một mình nơi rừng núi, những nơi xa vắng... vân vân... như vậy là sống đời sống độc cư do ý nghĩa từ bỏ đoàn thể – đó là ý nghĩa của ‘sống đời sống độc cư’.
Sa cāpi methune yuttoti. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo gāmadhammo…pe… taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Sa cāpi methune yuttoti. So aparena samayena buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattitvā methunadhamme yutto † payutto āyutto samāyuttoti – sa cāpi methune yutto.
‘If he engages in sexual intercourse’: The sexual act, by name, is that unrighteous practice, that vulgar practice… for that reason it is called the sexual act. ‘If he engages in sexual intercourse’: That person, at a later time, having rejected the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and the training, and having reverted to the lower life, is engaged, devoted, attached, and completely engaged in the sexual act. This is the meaning of ‘if he engages in sexual intercourse’.
(Cụm từ) ‘Dầu cho người ấy có hành dâm’ có nghĩa là: Pháp hành dâm là pháp bất thiện đó, pháp của dân làng đó... vân vân... vì lý do đó được gọi là pháp hành dâm. (Cụm từ) ‘Dầu cho người ấy có hành dâm’ có nghĩa là: Người ấy vào một thời gian sau, từ bỏ Phật, Pháp, Tăng và học giới, trở lại đời sống thấp hèn, rồi gắn bó, chuyên tâm, thường xuyên gắn bó, hoàn toàn gắn bó với pháp hành dâm – đó là ý nghĩa của ‘dầu cho người ấy có hành dâm’.
Mandova parikissatīti. Kapaṇo viya mando viya momūho viya kissati parikissati parikilissati. Pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati. Evampi kissati parikissati parikilissati. Tamenaṃ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti – kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, addhadaṇḍakehipi tāḷenti, hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti, bilaṅgathālikampi karonti, saṅkhamuṇḍikampi karonti, rāhumukhampi karonti, jotimālikampi karonti, hatthapajjotikampi karonti, erakavattikampi karonti, cirakavāsikampi karonti, eṇeyyakampi karonti, baḷisamaṃsikampi karonti, kahāpaṇikampi karonti, khārāpatacchikampi † karonti, palighaparivattikampi karonti, palālapīṭhakampi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantampi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṃ chindanti. Evampi kissati parikissati parikilissati.
‘He comes to suffering like a fool’: Like a wretched person, like a fool, like one who is bewildered, he suffers, is utterly afflicted, and is greatly tormented. He kills living beings, takes what is not given, breaks into houses, commits plunder, burglarizes a single house, stands on the highway, goes to another's wife, and speaks lies. In this way, too, he suffers, is utterly afflicted, and is greatly tormented. Then kings, having seized him, inflict various forms of punishment upon him: they flog him with whips, they beat him with canes, they strike him with clubs; they cut off his hand, they cut off his foot, they cut off both hand and foot; they cut off his ear, they cut off his nose, they cut off both ear and nose; they inflict the ‘boiling gruel pot’ punishment, the ‘conch-shell tonsure’ punishment, the ‘Rāhu's mouth’ punishment, the ‘fire garland’ punishment, the ‘hand torch’ punishment, the ‘grass-strips’ punishment, the ‘bark-garment’ punishment, the ‘antelope’ punishment, the ‘meat-hooking’ punishment, the ‘coin-cutting’ punishment, the ‘alkaline-pickling’ punishment, the ‘pin-and-pivot’ punishment, and the ‘straw-bundle’ punishment; they pour boiling oil over him; they have him devoured by dogs; they impale him alive on a stake; and they cut off his head with a sword. In this way, too, he suffers, is utterly afflicted, and is greatly tormented.
(Cụm từ) ‘Khốn khổ như kẻ si mê’ có nghĩa là: Như người khốn cùng, như kẻ ngu đần, như kẻ si mê, người ấy bị khốn khổ, bị phiền não, bị ô uế. Người ấy sát sanh, lấy của không cho, phá vách khoét tường, cướp giật, cướp nhà, chặn đường, đi lại với vợ người, nói dối. Như vậy, người ấy bị khốn khổ, bị phiền não, bị ô uế. Các vị vua bắt người ấy và áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng dùi cui; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; xẻo tai, xẻo mũi, xẻo cả tai mũi; áp dụng hình phạt "cháo trong nồi", hình phạt "đầu cạo vỏ ốc", hình phạt "miệng La-hầu", hình phạt "vòng hoa lửa", hình phạt "đuốc tay", hình phạt "áo cỏ lác", hình phạt "áo vỏ cây", hình phạt "con nai", hình phạt "móc câu thịt", hình phạt "đồng tiền", hình phạt "tẩm kiềm", hình phạt "xoay chốt cửa", hình phạt "ghế rơm"; họ tưới dầu sôi lên người, cho chó đói ăn, đóng cọc xiên qua người khi còn sống, và dùng gươm chặt đầu. Như vậy, người ấy bị khốn khổ, bị phiền não, bị ô uế.
Atha vā kāmataṇhāya abhibhūto pariyādinnacitto bhoge pariyesanto nāvāya mahāsamuddaṃ pakkhandati, sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi pīḷiyamāno khuppipāsāya miyyamāno tigumbaṃ gacchati, takkolaṃ gacchati, takkasīlaṃ gacchati, kālamukhaṃ gacchati, purapūraṃ gacchati, vesuṅgaṃ gacchati, verāpathaṃ gacchati, javaṃ gacchati, tāmaliṃ † gacchati, vaṅgaṃ gacchati, eḷabandhanaṃ gacchati, suvaṇṇakūṭaṃ gacchati, suvaṇṇabhūmiṃ gacchati, tambapāṇiṃ gacchati, suppādakaṃ gacchati, bhārukacchaṃ gacchati, suraṭṭhaṃ gacchati, bhaṅgalokaṃ gacchati, bhaṅgaṇaṃ gacchati, saramataṃ gaṇaṃ gacchati, yonaṃ gacchati, paramayonaṃ † gacchati, vinakaṃ † gacchati, mūlapadaṃ gacchati, marukantāraṃ gacchati, jaṇṇupathaṃ gacchati, ajapathaṃ gacchati, meṇḍapathaṃ gacchati, saṅkupathaṃ gacchati, chattapathaṃ gacchati, vaṃsapathaṃ gacchati, sakuṇapathaṃ gacchati, mūsikapathaṃ gacchati, daripathaṃ gacchati, vettācāraṃ gacchati. Evampi kissati parikissati parikilissati.
Or else, overcome and with a mind seized by craving for sensual pleasures, seeking wealth, he embarks on a ship to the great ocean. Facing the cold and facing the heat, tormented by the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things, and dying from hunger and thirst, he goes to Tigumba, Takkola, Takkasīla, Kālamukha, Purapūra, Vesuṅga, Verāpatha, Java, Tāmali, Vaṅga, Eḷabandhana, Suvaṇṇakūṭa, Suvaṇṇabhūmi, Tambapāṇi, Suppādaka, Bhārukaccha, Suraṭṭha, Bhaṅgaloka, Bhaṅgaṇa, Saramataṃgaṇa, Yona, Paramayona, Vinaka, Mūlapada, Marukantāra, Jaṇṇupatha, Ajapatha, Meṇḍapatha, Saṅkupatha, Chattapatha, Vaṃsapatha, Sakuṇapatha, Mūsikapatha, Daripatha, and Vettācāra. In this way, too, he becomes weary, utterly weary, and severely distressed.
Hoặc là, bị ái dục chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, trong khi tìm kiếm của cải, người ấy đi thuyền ra biển lớn, bất chấp lạnh, bất chấp nóng, bị khổ sở bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát, chết dần vì đói và khát, đi đến xứ Tigumba, đi đến xứ Takkola, đi đến xứ Takkasīla, đi đến xứ Kālamukha, đi đến xứ Purapūra, đi đến xứ Vesuṅga, đi đến xứ Verāpatha, đi đến xứ Java, đi đến xứ Tāmali, đi đến xứ Vaṅga, đi đến xứ Eḷabandhana, đi đến xứ Suvaṇṇakūṭa, đi đến xứ Suvaṇṇabhūmi, đi đến xứ Tambapāṇi, đi đến xứ Suppādaka, đi đến xứ Bhārukaccha, đi đến xứ Suraṭṭha, đi đến xứ Bhaṅgaloka, đi đến xứ Bhaṅgaṇa, đi đến xứ Saramataṃ Gaṇa, đi đến xứ Yona, đi đến xứ Paramayona, đi đến xứ Vinaka, đi đến xứ Mūlapada, đi đến sa mạc, đi đến con đường đầu gối, đi đến con đường dê, đi đến con đường cừu, đi đến con đường cọc nhọn, đi đến con đường dù, đi đến con đường tre, đi đến con đường chim, đi đến con đường chuột, đi đến con đường hang động, đi đến con đường cây mây. Như vậy cũng bị mệt nhọc, bị khốn khổ, bị phiền não.
Gavesanto na vindati, alābhamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Evampi kissati parikissati parikilissati.
Seeking, he does not find it; he experiences suffering and sorrow rooted in non-acquisition. In this way, too, he becomes weary, utterly weary, and severely distressed.
Tìm kiếm mà không được, người ấy cảm thọ sự khổ và ưu có nguồn gốc từ việc không được. Như vậy cũng bị mệt nhọc, bị khốn khổ, bị phiền não.
Gavesanto vindati, laddhāpi ārakkhamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti – ‘‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ, na corā hareyyuṃ, na aggī daheyyuṃ, na udakaṃ vaheyya, na apiyā dāyādā hareyyu’’nti. Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhogā vippalujjanti. So vippayogamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Evampi kissati parikissati parikilissatīti – sa cāpi methune yutto, mandova parikissati.
Seeking, he finds it; yet even after acquiring it, he experiences suffering and sorrow rooted in guarding it: ‘How can it be that kings would not seize my wealth, thieves would not steal it, fire would not burn it, water would not carry it away, or that unloved heirs would not take it?’ While he is thus guarding and protecting it, that wealth is lost. He then experiences suffering and sorrow rooted in separation. In this way, too, he becomes weary, utterly weary, and severely distressed. And if he is devoted to sexual intercourse, he is utterly weary like a fool.
Tìm kiếm và được, nhưng sau khi được rồi, người ấy vẫn cảm thọ sự khổ và ưu có nguồn gốc từ việc phải bảo vệ: ‘Làm sao để của cải của ta không bị vua chúa chiếm đoạt, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn trôi, không bị những người thừa kế không thương mến lấy mất?’. Trong khi người ấy đang bảo vệ, gìn giữ như vậy, những của cải ấy bị tiêu tan. Người ấy cảm thọ sự khổ và ưu có nguồn gốc từ sự chia ly. Như vậy cũng bị mệt nhọc, bị khốn khổ, bị phiền não. Và nếu người ấy còn dính líu đến việc giao hợp, kẻ ngu ấy quả thật bị khốn khổ.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Thế Tôn đã nói:
‘‘Paṇḍitoti samaññāto, ekaccariyaṃ adhiṭṭhito;
Sa cāpi methune yutto, mandova parikissatī’’ti.
“Though known as a wise one, established in the solitary practice, yet if he engages in sexual intercourse, like a fool he is afflicted.”
‘Được xem là bậc trí, quyết trú hạnh độc cư; Nhưng nếu còn dính líu, đến việc giao hợp kia, kẻ ngu ấy quả thật, chịu nhiều nỗi khốn khổ.’
56.
56.
56.
Etamādīnavaṃ ñatvā, muniṃ pubbāpare idha;
Ekaccariyaṃ daḷhaṃ kayirā, na nisevetha methunaṃ.
Having known this disadvantage concerning the former and latter states, the sage here should firmly undertake the solitary practice; he should not engage in sexual intercourse.
Biết rõ sự nguy hại, này bậc ẩn sĩ kia, trong đời trước và sau, ngay tại ở nơi đây; Hãy thực hành vững chắc, hạnh sống độc cư này, và chớ nên dính líu, đến việc giao hợp kia.
Etamādīnavaṃ ñatvā, muni pubbāpare idhāti. Etanti pubbe samaṇabhāve yaso ca kitti ca, aparabhāge buddhaṃ dhammaṃ saṅghaṃ sikkhaṃ paccakkhāya hīnāyāvattassa ayaso ca akitti ca; etaṃ sampattiṃ vipattiñca. Ñatvāti jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… saṅgajālamaticca so muni. Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṃ ādāye imasmiṃ dhamme imasmiṃ vinaye imasmiṃ dhammavinaye imasmiṃ pāvacane imasmiṃ brahmacariye imasmiṃ satthusāsane imasmiṃ attabhāve imasmiṃ manussaloketi – etamādīnavaṃ ñatvā muni pubbāpare idha.
The phrase 'Knowing this danger, the sage, concerning the former and latter states here' is explained as follows. 'This' refers to the praise and fame in the former state as a monk, and in the later part, the blame and ill-repute for one who has reverted to the low life, even without having rejected the Buddha, the Dhamma, the Sangha, and the training; this is success and failure. 'Having known' means having understood, weighed, investigated, discerned, and made it clear. As for 'sage' (muni): knowledge is called 'mona'. The wisdom that is understanding... and so on... having transcended the net of attachments, he is a sage. 'Here' means in this view, this forbearance, this inclination, this adherence, this Dhamma, this Vinaya, this holy life, this Teacher's Dispensation, in this individual existence, in this human world. This is the meaning of the phrase 'Knowing this danger, the sage, concerning the former and latter states here'.
‘Biết rõ sự nguy hại này, bậc ẩn sĩ, trong đời trước và sau, ngay tại ở nơi đây.’ ‘Này’ có nghĩa là: trước kia, trong tình trạng là một vị sa-môn, có được danh tiếng và tiếng tăm; về sau, sau khi đã từ bỏ Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Chúng, và học giới để quay về đời sống thấp kém, có sự tai tiếng và không được tiếng tăm; (biết rõ) sự thành công và sự thất bại này. ‘Biết rõ’ có nghĩa là: đã biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho sáng tỏ, đã làm cho hiển lộ. ‘Bậc ẩn sĩ’: Trí tuệ được gọi là sự tĩnh lặng (mona). Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (v.v.)... vượt qua được lưới ái luyến, vị ấy là bậc ẩn sĩ. ‘Ngay tại ở nơi đây’ có nghĩa là: trong quan điểm này, trong sự kham nhẫn này, trong sở thích này, trong sự chấp thủ này, trong Giáo Pháp này, trong Luật này, trong Pháp và Luật này, trong lời dạy này, trong phạm hạnh này, trong giáo huấn của Bậc Đạo Sư, trong thân phận này, trong thế giới loài người này – (đó là ý nghĩa của câu:) ‘Biết rõ sự nguy hại này, bậc ẩn sĩ, trong đời trước và sau, ngay tại ở nơi đây.’
Ekaccariyaṃ daḷhaṃ kayirāti. Dvīhi kāraṇehi ekaccariyaṃ daḷahaṃ kareyya – pabbajjāsaṅkhātena vā gaṇāvavassaggaṭṭhena vā. Kathaṃ pabbajjāsaṅkhātena ekaccariyaṃ daḷhaṃ kareyya? Sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko careyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyya. Evaṃ pabbajjāsaṅkhātena ekaccariyaṃ daḷhaṃ kareyya.
The phrase 'One should firmly undertake the solitary practice' is explained. One should firmly undertake the solitary practice for two reasons: either by way of ordination or by way of abandoning a group. How does one firmly undertake the solitary practice by way of ordination? Having cut off all impediments of household life, having cut off the impediment of children and spouse, having cut off the impediment of relatives, having cut off the impediment of friends and associates, having cut off the impediment of accumulation; having shaved off his hair and beard, having put on the ochre robes, having gone forth from the household life into homelessness, and having reached the state of possessing nothing, he should wander alone, dwell alone, move about alone, conduct himself alone, maintain himself alone, sustain himself alone, and carry on alone. In this way, one firmly undertakes the solitary practice by way of ordination.
‘Hãy thực hành vững chắc hạnh sống độc cư.’ Người ấy nên thực hành vững chắc hạnh sống độc cư vì hai lý do: hoặc là do ý nghĩa của việc xuất gia, hoặc là do ý nghĩa của việc từ bỏ đoàn thể. Thế nào là thực hành vững chắc hạnh sống độc cư do ý nghĩa của việc xuất gia? Sau khi đã cắt đứt mọi trở ngại của đời sống tại gia, cắt đứt trở ngại về con cái và vợ, cắt đứt trở ngại về quyến thuộc, cắt đứt trở ngại về bạn bè và quan chức, cắt đứt trở ngại về việc tích trữ, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đạt đến trạng thái vô sở hữu, vị ấy nên đi, đứng, sinh hoạt, hành xử, duy trì, nuôi mạng, và sống một mình. Như vậy là thực hành vững chắc hạnh sống độc cư do ý nghĩa của việc xuất gia.
Kathaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena ekaccariyaṃ daḷhaṃ kareyya? So evaṃ pabbajito samāno eko araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭiseveyya appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko gaccheyya, eko tiṭṭheyya, eko nisīdeyya, eko seyyaṃ kappeyya, eko gāmaṃ piṇḍāya paviseyya, eko paṭikkameyya, eko raho nisīdeyya, eko caṅkamaṃ adhiṭṭheyya, eko careyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyya. Evaṃ gaṇāvavassaggaṭṭhena ekaccariyaṃ daḷhaṃ kareyyāti – ekaccariyaṃ daḷhaṃ kareyya, thiraṃ kareyya, daḷhaṃ samādāno assa, avaṭṭhitasamādāno assa kusalesu dhammesūti – ekaccariyaṃ daḷhaṃ kayirā.
How should one make firm the noble practice of solitude by way of abandoning the group? Having thus gone forth, one should resort to lodgings that are in the wilderness and forest groves, that are remote, with little sound, with little noise, free from the bustle of people, suitable for human privacy, and fit for seclusion. One should go alone, stand alone, sit alone, lie down alone, enter the village for alms alone, return alone, sit in a secluded place alone, and undertake walking meditation alone. One should practice alone, dwell, maintain the postures, conduct oneself, guard, subsist, and maintain oneself. Thus, by way of abandoning the group, one should make the noble practice of solitude firm. To 'undertake the solitary practice firmly' means: to make it firm, to make it lasting; to be one who has undertaken it firmly, to be one whose undertaking in wholesome states is established.
Thế nào là thực hành vững chắc hạnh sống độc cư do ý nghĩa của việc từ bỏ đoàn thể? Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, một mình nên lui tới các trú xứ xa xôi trong rừng, nơi hoang vắng, ít tiếng động, không ồn ào, vắng bóng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư. Vị ấy nên đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi một mình nơi kín đáo, kinh hành một mình, đi, đứng, sinh hoạt, hành xử, duy trì, nuôi mạng, và sống một mình. Như vậy là thực hành vững chắc hạnh sống độc cư do ý nghĩa của việc từ bỏ đoàn thể – nên thực hành vững chắc hạnh sống độc cư, nên thực hành kiên cố, nên có sự thọ trì vững chắc, nên có sự thọ trì đã được thiết lập trong các thiện pháp – (đó là ý nghĩa của câu:) ‘Hãy thực hành vững chắc hạnh sống độc cư.’
Na nisevetha methunanti. Methunadhammo nāma yo so asaddhammo gāmadhammo…pe… taṃkāraṇā vuccati methunadhammo. Methunadhammaṃ na seveyya na niseveyya na saṃseveyya na paṭiseveyya na careyya na samācareyya na samādāya vatteyyāti – na nisevetha methunaṃ.
'One should not engage in sexual intercourse.' The practice of sexual intercourse is that which is the unrighteous practice, the practice of villagers... for that reason it is called the practice of sexual intercourse. One should not resort to the practice of sexual intercourse, not indulge in it, not associate with it, not practice it repeatedly, not perform it, not perform it in all its varieties, nor undertake it as a practice. Thus: 'One should not engage in sexual intercourse.'
‘Và chớ nên dính líu đến việc giao hợp.’ Pháp giao hợp, được gọi là pháp của người không chân chánh, pháp của dân làng... (v.v.)... vì lý do đó nó được gọi là pháp giao hợp. Không nên thực hành pháp giao hợp, không nên dính líu, không nên chung đụng, không nên thực hành lặp đi lặp lại, không nên làm, không nên thực hành hoàn toàn, không nên thọ trì và hành theo – (đó là ý nghĩa của câu:) ‘và chớ nên dính líu đến việc giao hợp.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Thế Tôn đã nói:
‘‘Etamādīnavaṃ ñatvā, muni pubbāpare idha;
Ekaccariyaṃ daḷhaṃ kayirā, na nisevetha methuna’’nti.
“Knowing this danger, the sage, considering what is before and after in this world, should make firm the noble practice of solitude and not engage in sexual intercourse.”
‘Biết rõ sự nguy hại, này bậc ẩn sĩ kia, trong đời trước và sau, ngay tại ở nơi đây; Hãy thực hành vững chắc, hạnh sống độc cư này, và chớ nên dính líu, đến việc giao hợp kia.’
57.
57.
57.
Vivekaññeva sikkhetha, etaṃ ariyānamuttamaṃ;
Na tena seṭṭho maññetha, sa ve nibbānasantike.
One should train only in seclusion; this is supreme for the Noble Ones. By means of that, one should not consider oneself superior, for one is indeed in the vicinity of Nibbāna.
Hãy tu tập độc cư, đó là hạnh tối thượng, của các bậc Thánh nhân; Chớ vì thế tự cho, mình là bậc cao cả, vị ấy thật gần kề, với cảnh giới Niết-bàn.
Vivekaññeva sikkhethāti. Vivekoti tayo vivekā – kāyaviveko, cittaviveko, upadhiviveko. Katamo kāyaviveko…pe… ayaṃ upadhiviveko. Kāyaviveko ca vivekaṭṭhakāyānaṃ nekkhammābhiratānaṃ. Cittaviveko ca parisuddhacittānaṃ paramavodānappattānaṃ. Upadhiviveko ca nirūpadhīnaṃ puggalānaṃ visaṅkhāragatānaṃ. Sikkhāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Vivekaññeva sikkhethāti vivekaññeva sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – vivekaññeva sikkhetha.
“One should train only in seclusion.” Herein, seclusion: there are three kinds of seclusion—bodily seclusion, mental seclusion, and seclusion from the substrata. What is bodily seclusion? … this is seclusion from the substrata. Bodily seclusion is for those whose bodies are secluded and who delight in renunciation. Mental seclusion is for those with purified minds who have attained the supreme purification. Seclusion from the substrata is for individuals without substrata, who have gone to the unconditioned. Herein, training: there are three trainings—the training in higher virtue, the training in higher mind, and the training in higher wisdom … this is the training in higher wisdom. “One should train only in seclusion” means one should train only in seclusion, practice it, cultivate it, and having undertaken it, live by it. This is the meaning of “one should train only in seclusion.”
Về câu: "Hãy chỉ thực hành sự viễn ly". 'Viveka' (viễn ly) là: có ba sự viễn ly – thân viễn ly, tâm viễn ly, sanh y viễn ly. Thế nào là thân viễn ly? ...đây là sanh y viễn ly. Thân viễn ly có được cho những vị có thân viễn ly, ưa thích sự xuất ly. Tâm viễn ly có được cho những vị có tâm thanh tịnh, đã đạt đến sự trong sạch tối thượng. Sanh y viễn ly có được cho những cá nhân không còn sanh y, đã đi đến vô vi. 'Sikkhā' (học pháp) là: có ba học pháp – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học... đây là tăng thượng tuệ học. "Hãy chỉ thực hành sự viễn ly" nghĩa là: nên thực hành, nên hành trì, nên thực tập, nên thọ trì và sống đúng theo chỉ sự viễn ly – đó là ý nghĩa của câu "hãy chỉ thực hành sự viễn ly".
Etaṃ ariyānamuttamanti. Ariyā vuccanti buddhā ca buddhasāvakā ca paccekabuddhā ca. Ariyānaṃ etaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ yadidaṃ vivekacariyāti – etaṃ ariyānamuttamaṃ.
“This is the highest for the noble ones.” The noble ones are said to be the Buddhas, the disciples of the Buddha, and the Paccekabuddhas. For the noble ones, this practice of seclusion is the chief, the best, the distinguished, the foremost, the supreme, and the most excellent. This is the meaning of “this is the highest for the noble ones.”
Về câu: "Đây là điều tối thượng của các bậc Thánh". Các bậc Thánh được gọi là các vị Phật, các vị Thinh văn của Phật, và các vị Độc Giác Phật. Đối với các bậc Thánh, sự thực hành viễn ly này là hàng đầu, là cao quý, là đặc thù, là chủ yếu, là tối thượng, là ưu việt – đó là ý nghĩa của câu "đây là điều tối thượng của các bậc Thánh".
Na tena seṭṭho maññethāti. Kāyavivekacariyāya unnatiṃ na kareyya, unnamaṃ na kareyya, mānaṃ na kareyya, thāmaṃ na kareyya, thambhaṃ na kareyya, na tena mānaṃ janeyya, na tena thaddho assa patthaddho paggahitasiroti – tena seṭṭho na maññetha.
“One should not think oneself superior because of it.” Through the practice of bodily seclusion, one should not become elated, one should not be haughty, one should not have conceit, one should not be forceful, one should not be stubborn. Because of it, one should not generate conceit; because of it, one should not be stiff, very stiff, or with head held high. This is the meaning of “one should not think oneself superior because of it.”
Về câu: "Do đó, không nên tự cho mình là cao quý". Do thực hành thân viễn ly, không nên tự đề cao, không nên tự nâng mình lên, không nên có ngã mạn, không nên dùng sức mạnh, không nên cứng nhắc; do đó, không nên sanh khởi ngã mạn; do đó, không nên trở nên cứng cỏi, chai lì, ngẩng cao đầu – đó là ý nghĩa của câu "do đó, không nên tự cho mình là cao quý".
Sa ve nibbānasantiketi. So nibbānassa santike sāmantā āsanne avidūre upakaṭṭheti – sa ve nibbānasantike.
“He is indeed close to Nibbāna.” He is in the presence of Nibbāna, in its vicinity, near, not far, and close by. This is the meaning of “he is indeed close to Nibbāna.”
Về câu: "Vị ấy thật ở gần Niết-bàn". Vị ấy ở gần, ở cạnh, ở sát, không xa, ở ngay bên cạnh Niết-bàn – đó là ý nghĩa của câu "vị ấy thật ở gần Niết-bàn".
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Vivekaññeva sikkhetha, etaṃ ariyānamuttamaṃ;
Na tena seṭṭho maññetha, sa ve nibbānasantike’’ti.
“One should train only in seclusion; this is the highest for the noble ones. One should not think oneself superior because of it; he is indeed close to Nibbāna.”
"Hãy chỉ thực hành sự viễn ly, đó là điều tối thượng của bậc Thánh; Do đó, chớ tự cho mình cao quý, vị ấy thật ở gần Niết-bàn."
58.
58.
58.
Rittassa munino carato, kāmesu anapekkhino;
Oghatiṇṇassa pihayanti, kāmesu gadhitā pajā.
Beings attached to sensual pleasures yearn for one who has crossed the flood—the sage who wanders empty, without longing for sensual pleasures.
"Chúng sanh tham đắm trong các dục, ngưỡng mộ người đã vượt qua bộc lưu, vị ẩn sĩ sống trống không, không luyến ái các dục."
Rittassa munino caratoti. Rittassa vivittassa pavivittassa, kāyaduccaritena rittassa vivittassa pavivittassa. Vacīduccaritena…pe… manoduccaritena… rāgena… dosena… mohena… kodhena… upanāhena… makkhena… paḷāsena… issāya… macchariyena… māyāya… sāṭheyyena… thambhena… sārambhena… mānena… atimānena… madena… pamādena… sabbakilesehi… sabbaduccaritehi… sabbadarathehi… sabbapariḷāhehi… sabbasantāpehi… sabbākusalābhisaṅkhārehi rittassa vivittassa pavivittassa. Muninoti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Caratoti carato viharato iriyato vattato pālayato yapayato yāpayatoti – rittassa munino carato.
“Of the empty, wandering sage.” Empty, secluded, and detached; empty, secluded, and detached from bodily misconduct; from verbal misconduct... from mental misconduct... from lust... from hatred... from delusion... from anger... from hostility... from contempt... from malice... from envy... from stinginess... from deceit... from craftiness... from obstinacy... from rivalry... from conceit... from arrogance... from intoxication... from heedlessness... from all defilements... from all misconduct... from all anxieties... from all torments... from all fevers... from all unwholesome volitional formations, one is empty, secluded, and detached. “Sage”: ‘Mona’ is said to be knowledge... having overcome the net of attachment, that sage stands. “Wandering”: one who wanders, dwells, maintains posture, acts, protects, subsists, and keeps life going. This is the meaning of “of the empty, wandering sage.”
Về câu: "Của vị ẩn sĩ sống trống không". "Trống không" là trống không, xa lìa, hoàn toàn xa lìa; trống không, xa lìa, hoàn toàn xa lìa thân ác hành. Khẩu ác hành... ý ác hành... tham... sân... si... phẫn... não... phú... não... tật... xan... man trá... xảo quyệt... ngoan cố... tranh cạnh... mạn... quá mạn... say đắm... phóng dật... tất cả phiền não... tất cả ác hành... tất cả phiền muộn... tất cả nhiệt não... tất cả thiêu đốt... tất cả bất thiện hành; (vị ấy) trống không, xa lìa, hoàn toàn xa lìa (những điều ấy). Về "vị ẩn sĩ": 'Mona' được gọi là trí tuệ... vị ẩn sĩ ấy vượt qua lưới ái trước. Về "sống": là đang đi, đang trú, đang hành động, đang xoay vần, đang hộ trì, đang duy trì, đang bảo dưỡng – đó là ý nghĩa của câu "của vị ẩn sĩ sống trống không".
Kāmesu anapekkhinoti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā kāmesu anapekkhamāno cattakāmo vantakāmo muttakāmo pahīnakāmo paṭinissaṭṭhakāmo, vītarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo nicchāto nibbuto sītibhūto † sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – kāmesu anapekkhino.
“Without longing for sensual pleasures.” Herein, sensual pleasures: in summary, there are two kinds of sensual pleasures—sensual objects and sensual defilements... These are called sensual objects... These are called sensual defilements. Having fully understood sensual objects, and having abandoned, relinquished, dispelled, brought to an end, and made non-existent the sensual defilements, one is without longing for sensual pleasures—one who has relinquished sensual desire, vomited up sensual desire, is freed from sensual desire, has abandoned sensual desire, and has completely relinquished sensual desire. One is without lust, has relinquished lust, has vomited up lust, is freed from lust, has abandoned lust, and has completely relinquished lust; without craving, extinguished, cooled, experiencing bliss, one dwells with a self that has become supreme. This is the meaning of “without longing for sensual pleasures.”
Về câu: "Không luyến ái các dục". 'Kāma' (dục) là: tóm lại có hai loại dục – vật dục và phiền não dục... những thứ này được gọi là vật dục... những thứ này được gọi là phiền não dục. Sau khi đã liễu tri vật dục, đã từ bỏ, đoạn trừ, xua tan, chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu phiền não dục, vị ấy không luyến ái các dục, đã từ bỏ dục, đã nôn ra dục, đã giải thoát khỏi dục, đã đoạn trừ dục, đã xả ly dục; đã ly tham, đã từ bỏ tham, đã nôn ra tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn trừ tham, đã xả ly tham; không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã trở nên mát mẻ, vị ấy sống cảm thọ lạc, với tự thân đã trở thành Phạm thiên – đó là ý nghĩa của câu "không luyến ái các dục".
Oghatiṇṇassa pihayanti, kāmesu gadhitā pajāti. Pajāti sattādhivacanaṃ pajā kāmesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Te kāmoghaṃ tiṇṇassa bhavoghaṃ tiṇṇassa diṭṭhoghaṃ tiṇṇassa avijjoghaṃ tiṇṇassa sabbasaṅkhārapathaṃ tiṇṇassa uttiṇṇassa nittiṇṇassa atikkantassa samatikkantassa vītivattassa pāraṃ gatassa pāraṃ pattassa antaṃ gatassa antaṃ pattassa koṭiṃ gatassa koṭiṃ pattassa pariyantaṃ gatassa pariyantaṃ pattassa vosānaṃ gatassa vosānaṃ pattassa tāṇaṃ gatassa tāṇaṃ pattassa leṇaṃ gatassa leṇaṃ pattassa saraṇaṃ gatassa saraṇaṃ pattassa abhayaṃ gatassa abhayaṃ pattassa accutaṃ gatassa accutaṃ pattassa amataṃ gatassa amataṃ pattassa nibbānaṃ gatassa nibbānaṃ pattassa icchanti sādiyanti patthayanti pihayanti abhijappanti. Yathā iṇāyikā ānaṇyaṃ † patthenti pihayanti, yathā ābādhikā ārogyaṃ patthenti pihayanti, yathā bandhanabaddhā bandhanamokkhaṃ patthenti pihayanti, yathā dāsā bhujissaṃ patthenti pihayanti, yathā kantāraddhānapakkhandā † khemantabhūmiṃ patthenti pihayanti; evamevaṃ pajā kāmesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā te kāmoghaṃ tiṇṇassa bhavoghaṃ tiṇṇassa…pe… nibbānaṃ gatassa nibbānaṃ pattassa icchanti sādiyanti patthayanti pihayanti abhijappantīti – oghatiṇṇassa pihayanti, kāmesu gadhitā pajā.
“Beings ensnared by sensual pleasures yearn for one who has crossed the flood.” Herein, `pajā` is a designation for beings. Beings are impassioned, greedy, ensnared, infatuated, engrossed, clinging, attached, and entangled in sensual pleasures. They yearn for one who has crossed the flood of sensual pleasures, the flood of existence, the flood of views, the flood of ignorance; for one who has crossed the entire path of conditioned phenomena; who has crossed over, fully crossed over, gone beyond, completely gone beyond, and surmounted it; who has gone to the further shore, attained the further shore; gone to the end, attained the end; gone to the culmination, attained the culmination; gone to the limit, attained the limit; gone to the cessation, attained the cessation; gone to the protection, attained the protection; gone to the shelter, attained the shelter; gone to the refuge, attained the refuge; gone to fearlessness, attained fearlessness; gone to the immutable, attained the immutable; gone to the deathless, attained the deathless; gone to Nibbāna, attained Nibbāna. They desire, delight in, aspire to, yearn for, and crave for this. Just as debtors aspire to and yearn for freedom from debt; just as the sick aspire to and yearn for health; just as those bound in prison aspire to and yearn for release from bondage; just as slaves aspire to and yearn for freedom; just as those who have entered upon a wilderness path aspire to and yearn for a land of safety; even so, beings who are impassioned, greedy, ensnared, infatuated, engrossed, clinging, attached, and entangled in sensual pleasures yearn for one who has crossed the flood of sensual pleasures, the flood of existence… and so on… gone to Nibbāna, attained Nibbāna. They desire, delight in, aspire to, yearn for, and crave for this. This is the meaning of: “Beings ensnared by sensual pleasures yearn for one who has crossed the flood.”
Về câu: "Chúng sanh tham đắm trong các dục, ngưỡng mộ người đã vượt qua bộc lưu". 'Pajā' là từ đồng nghĩa với chúng sanh. Chúng sanh tham ái, say đắm, dính mắc, mê muội, chìm đắm, bám víu, vướng mắc, bị trói buộc trong các dục. Những chúng sanh ấy (ngưỡng mộ) người đã vượt qua dục bộc lưu, đã vượt qua hữu bộc lưu, đã vượt qua kiến bộc lưu, đã vượt qua vô minh bộc lưu, đã vượt qua mọi con đường của các hành, đã vượt qua, đã vượt thoát, đã vượt lên, đã vượt hẳn, đã qua khỏi, đã đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia, đã đến chỗ tận cùng, đã đạt đến chỗ tận cùng, đã đến cực điểm, đã đạt đến cực điểm, đã đến giới hạn, đã đạt đến giới hạn, đã đến chung cuộc, đã đạt đến chung cuộc, đã đến nơi nương tựa, đã đạt đến nơi nương tựa, đã đến nơi ẩn náu, đã đạt đến nơi ẩn náu, đã đến nơi quy y, đã đạt đến nơi quy y, đã đến nơi vô úy, đã đạt đến nơi vô úy, đã đến nơi bất tử, đã đạt đến nơi bất tử, đã đến nơi vô sanh, đã đạt đến nơi vô sanh, đã đến Niết-bàn, đã đạt đến Niết-bàn; họ mong muốn, ưa thích, cầu mong, ngưỡng mộ, khao khát. Như người mắc nợ mong cầu, ngưỡng mộ sự không nợ nần; như người bệnh mong cầu, ngưỡng mộ sự không bệnh tật; như người bị tù mong cầu, ngưỡng mộ sự giải thoát khỏi tù đày; như người nô lệ mong cầu, ngưỡng mộ sự tự do; như người đi trong sa mạc mong cầu, ngưỡng mộ vùng đất an ổn; cũng vậy, chúng sanh tham ái, say đắm, dính mắc, mê muội, chìm đắm, bám víu, vướng mắc, bị trói buộc trong các dục, họ (ngưỡng mộ) người đã vượt qua dục bộc lưu, đã vượt qua hữu bộc lưu... đã đến Niết-bàn, đã đạt đến Niết-bàn; họ mong muốn, ưa thích, cầu mong, ngưỡng mộ, khao khát – đó là ý nghĩa của câu "chúng sanh tham đắm trong các dục, ngưỡng mộ người đã vượt qua bộc lưu".
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Rittassa munino carato, kāmesu anapekkhino;
Oghatiṇṇassa pihayanti, kāmesu gadhitā pajā’’ti.
“Beings ensnared by sensual pleasures yearn for one who has crossed the flood—the sage who wanders empty, without longing for sensual pleasures.”
"Chúng sanh tham đắm trong các dục, ngưỡng mộ người đã vượt qua bộc lưu, vị ẩn sĩ sống trống không, không luyến ái các dục."
The Exposition of the Tissametteyya Sutta, the Seventh.
Phần giải thích kinh Tissametteyya thứ bảy.