Bản dịch
MND 6 — Diễn Giải Kinh Về Sự Già
6. Jarāsuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh về Sự Già được nói đến:
Quả thật, mạng sống này là ít ỏi,
thậm chí kém hơn trăm tuổi cũng chết rồi.
Nếu người nào vượt qua (hạn tuổi ấy) vẫn còn sống,
người ấy rồi cũng chết vì già .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Quả thật, mạng sống này là ít ỏi,
thậm chí kém hơn trăm tuổi cũng chết rồi.
Nếu người nào vượt qua (hạn tuổi ấy) vẫn còn sống,
người ấy rồi cũng chết vì già .”
Loài người sầu muộn về vật đã được chấp là của ta,
bởi vì các sự bám giữ được trường tồn là không có,
sự chia lìa này thật sự đang hiện hữu,
sau khi nhìn thấy như thế thì không nên sống đời tại gia .
Loài người sầu muộn về vật đã được chấp là của ta - Loài người là các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các gia chủ, các vị xuất gia, chư Thiên, và nhân loại. Trạng thái chấp là của ta - có hai trạng thái chấp là của ta: trạng thái chấp là của ta do tham ái và trạng thái chấp là của ta do tà kiến. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của ta do tham ái. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của ta do tà kiến. Có sự lo âu về sự chiếm đoạt đồ vật đã được chấp là của ta nên họ sầu muộn, trong khi đang bị chiếm đoạt cũng sầu muộn, khi đã bị chiếm đoạt cũng sầu muộn. Có sự lo âu về sự biến đổi của đồ vật đã được chấp là của ta nên họ sầu muộn, trong khi đang bị biến đổi cũng sầu muộn, khi đã bị biến đổi cũng sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, khóc nức nở, đi đến sự mê muội. ‘Loài người sầu muộn về vật đã được chấp là của ta’ là thế ấy.
Bởi vì các sự bám giữ được trường tồn là không có : Các sự bám giữ - Có hai sự bám giữ: sự bám giữ do tham ái và sự bám giữ do tà kiến. —như trên— điều này là bám giữ do tham ái. —như trên— điều này là bám giữ do tà kiến. Sự bám giữ do tham ái là không thường còn, bị tạo tác, được sanh lên tùy theo điều kiện, có sự hoại, có sự diệt, có sự hết ưa thích, có sự chấm dứt, có sự biến đổi. Sự bám giữ do tà kiến là không thường còn, bị tạo tác, được sanh lên tùy theo điều kiện, có sự hoại, có sự diệt, có sự hết ưa thích, có sự chấm dứt, có sự biến đổi.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, các ngươi có thấy sự nắm giữ nào là thường còn, ổn định, trường tồn, không có sự biến đổi, sẽ tồn tại y như thế một cách vĩnh viễn?” “Bạch Ngài, điều ấy không đúng.” “Này các tỳ khưu, tốt lắm! Này các tỳ khưu, Ta cũng không nhìn thấy sự nắm giữ nào là thường còn, ổn định, trường tồn, không có sự biến đổi, sẽ tồn tại y như thế một cách vĩnh viễn.” Các sự nắm giữ thường còn, ổn định, trường tồn, không có sự biến đổi là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại. ‘Bởi vì các sự bám giữ được trường tồn là không có’ là thế ấy.
Sự chia lìa này thật sự đang hiện diện : ở bản tánh thay đổi, ở bản tánh chia lìa, ở bản tánh đổi khác, khi đang hiện diện, khi đang được tìm thấy, khi đang được tồn tại. Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này Ānanda, thôi đi! Chớ sầu muộn, chớ than vãn. Này Ānanda, chẳng phải điều này đã được Ta nói ngay từ trước rằng: ‘Với tất cả các vật đáng yêu đáng mến, thì đều có bản tánh thay đổi, bản tánh chia lìa, bản tánh đổi khác’? Này Ānanda, ở đây làm sao có thể đạt được sự kiện ấy? Là sự kiện vật được sanh ra, được hiện hữu, bị tạo tác, có pháp tiêu hoại, nhưng mà vật ấy chớ có tiêu hoại,’ sự kiện này không được biết đến.” Do bản tánh biến hoại và đổi khác của các uẩn, của các giới, của các xứ ngay trước đây mà các uẩn, các giới, và các xứ kế liền đó vận hành. ‘Sự chia lìa này thật sự đang hiện diện’ là thế ấy.
Sau khi nhìn thấy như thế thì không nên sống đời tại gia : Như thế : cái này gọi là sự nối liền các câu văn, sự kết hợp các câu văn, sự làm đầy đủ các câu văn, sự gặp gỡ của các âm, trạng thái trau chuốt từ ngữ, tính chất tuần tự của các câu văn. ‘Như thế’ là thế ấy. Sau khi nhìn thấy như thế : sau khi nhìn xem, sau khi cân nhắc, sau khi xét đoán, sau khi phân hạng, sau khi làm rõ rệt về các trạng thái chấp là của ta. ‘Sau khi nhìn thấy như thế’ là thế ấy. Không nên sống đời tại gia : Sau khi cắt đứt tất cả sự vướng bận của việc cư ngụ ở căn nhà, sau khi cắt đứt sự vướng bận về vợ con, sau khi cắt đứt sự vướng bận về thân quyến, sau khi cắt đứt sự vướng bận về bạn bè thân hữu, sau khi cắt đứt sự vướng bận về sự tích trữ, sau khi cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà, sau khi đi đến trạng thái không có gì, một mình thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng. ‘Không nên sống đời tại gia’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Loài người sầu muộn về vật đã được chấp là của ta,
bởi vì các sự bám giữ được trường tồn là không có,
sự chia lìa này thật sự đang hiện hữu,
sau khi nhìn thấy như thế thì không nên sống đời tại gia .”
Cái nào mà người suy nghĩ rằng: ‘Cái này là của tôi,’
cái ấy cũng bị dứt bỏ bởi sự chết.
Sau khi nhìn thấy điều này, vị sáng suốt,
người tận tụy, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi .
Cái ấy bị dứt bỏ cũng bởi sự chết - Sự chết : sự quá vãng, trạng thái hủy diệt, sự tan rã, sự biến mất, sự tử vong, sự chết, sự hoàn tất thời gian, sự tan rã của các uẩn, sự quăng bỏ thân xác, sự bẻ gãy mạng quyền của các chúng sanh ấy khỏi tập thể của chính các chúng sanh ấy. Cái ấy : đề cập đến sắc, đề cập đến thọ, đề cập đến tưởng, đề cập đến các hành, đề cập đến thức. Bị dứt bỏ : bị dứt bỏ là bị từ bỏ, bị rời bỏ, bị biến mất, bị tiêu hoại.
Bởi vì, điều này cũng đã được nói đến:
1. Các của cải rời bỏ con người trước hơn hết,
chính con người từ bỏ các của cải trước hơn nữa,
những người mong muốn ngũ dục có của cải không được trường tồn,
vì thế, Ta không sầu muộn ở thời điểm của sầu muộn .
2. Mặt trăng mọc lên, tròn dần rồi lại khuyết.
Mặt trời sau khi lặn xuống thì biến mất đi.
Này Sattuka, các pháp thế gian đã được Ta nhận biết;
vì thế, Ta không sầu muộn ở thời điểm của sầu muộn . ‘Cái ấy bị dứt bỏ cũng bởi sự chết’ là thế ấy.
Cái nào mà người suy nghĩ rằng: ‘Cái này là của tôi’ - Cái nào : đề cập đến sắc, đề cập đến thọ, đề cập đến tưởng, đề cập đến các hành, đề cập đến thức. Người : là sự ấn định, sự chỉ định, sự quy định, sự diễn tả, tên gọi, sự đặt tên, sự định danh, từ mô tả, tên hiệu, từ kêu gọi. Suy nghĩ rằng: ‘Cái này là của tôi’ là suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi tham ái, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi tà kiến, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi ngã mạn, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi ô nhiễm, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi uế hạnh, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi thực dụng, suy nghĩ với sự suy nghĩ bởi kết quả. ‘Cái nào mà người suy nghĩ rằng: Cái này là của tôi,’ là thế ấy.
Sau khi nhìn thấy điều này, vị sáng suốt : Sau khi nhìn thấy điều bất lợi ấy, sau khi nhìn xem, sau khi cân nhắc, sau khi xét đoán, sau khi phân hạng, sau khi làm rõ rệt về các trạng thái chấp là của tôi. ‘Sau khi nhìn thấy điều này’ là thế ấy. Bậc sáng suốt : là người sáng trí, có tuệ, có sự giác ngộ, có trí, rành mạch, thông minh. ‘Sau khi nhìn thấy điều này, vị sáng suốt’ là thế ấy.
Người tận tụy, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi - Trạng thái chấp là của tôi : có hai trạng thái chấp là của tôi: trạng thái chấp là của tôi do tham ái và trạng thái chấp là của tôi do tà kiến. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của tôi do tham ái. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của tôi do tà kiến. Người tận tụy : Người tận tụy là người tận tụy với đức Phật, người tận tụy với Giáo Pháp, người tận tụy với Hội Chúng; người ấy trở nên tận tụy với đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn sở hữu con người ấy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, những vị tỳ khưu nào là dối trá, ương ngạnh, nói nhiều, lừa đảo, khoác lác, không định tỉnh, này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy không phải là những người tận tụy. Và này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy đã lìa khỏi Pháp và Luật này. Và này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy không đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Và này các tỳ khưu, những vị tỳ khưu nào là không dối trá, không nói nhiều, thông minh, không ương ngạnh, khéo định tỉnh, này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy là những người tận tụy, và này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy đã không lìa khỏi Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.
3. “ Những người dối trá, ương ngạnh, nói nhiều, lừa đảo, khoác lác, không định tỉnh, những người ấy không tiến triển trong Giáo Pháp đã được đấng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng .
4. Các vị không dối trá, không nói nhiều, thông minh, không ương ngạnh, khéo định tỉnh, thật vậy các vị ấy tiến triển trong Giáo Pháp đã được đấng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng .”
Người tận tụy, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi - Người tận tụy sau khi từ bỏ trạng thái chấp là của tôi do tham ái, sau khi xả bỏ trạng thái chấp là của tôi do tà kiến, không nên thiên về, không nên nghiêng xuống, không nên uốn cong theo nó, không chiều theo nó, không xuôi theo nó, không hướng đến nó, không xem nó là chủ đạo. ‘Người tận tụy, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cái nào mà người suy nghĩ rằng: ‘Cái này là của tôi,’
cái ấy cũng bị dứt bỏ bởi sự chết.
Sau khi nhìn thấy điều này, vị sáng suốt,
người tận tụy, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi .”
Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao,
khi thức giấc, người không còn nhìn thấy,
tương tự như thế, với người được yêu mến
đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa .
Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao - Sự việc đã được gặp gỡ, đã được tiếp cận, đã được tập trung, đã được tụ hội. ‘Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao’ là thế ấy.
Khi thức giấc, người không còn nhìn thấy - Giống như người đi vào giấc chiêm bao nhìn thấy mặt trăng, nhìn thấy mặt trời, nhìn thấy đại dương, nhìn thấy núi chúa Sineru, nhìn thấy voi, nhìn thấy ngựa, nhìn thấy cỗ xe, nhìn thấy người lính, nhìn thấy đoàn quân, nhìn thấy khu vườn đáng yêu, nhìn thấy cánh rừng đáng yêu, nhìn thấy vùng đất đáng yêu, nhìn thấy hồ nước đáng yêu; khi thức giấc thì không còn nhìn thấy bất cứ thứ gì. ‘Khi thức giấc, người không còn nhìn thấy’ là thế ấy.
Tương tự như thế, với người được yêu mến - Tương tự như thế : báo hiệu sự so sánh. Với người được yêu mến : với người được yêu mến, đã được chấp là của tôi, mẹ, hoặc cha, hoặc anh em trai, hoặc chị em gái, hoặc con trai, hoặc con gái, hoặc bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc thân quyến cùng huyết thống. ‘Tương tự như thế, với người được yêu mến’ là thế ấy.
Đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa - Đã từ trần gọi là đã chết, đã quá vãng, với người đã từ trần ấy thì không nhìn thấy nữa, không ngắm thấy nữa, không đạt đến nữa, không kiếm được nữa, không nhận được nữa. ‘Đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cũng giống như sự việc đã được gặp gỡ qua giấc chiêm bao,
khi thức giấc, người không còn nhìn thấy,
tương tự như thế, với người được yêu mến
đã từ trần, đã quá vãng, thì không nhìn thấy nữa .”
Những người ấy dầu đã được thấy, dầu đã được nghe,
đối với họ, tên gọi này được nói đến.
Chỉ mỗi tên gọi sẽ còn ở lại,
sẽ được nhắc đến đối với người đã từ trần .
Những người ấy dầu đã được thấy, dầu đã được nghe - Đã được thấy : những gì được hình thành nhờ vào nhãn thức. Đã được nghe : những gì được hình thành nhờ vào nhĩ thức. Những người ấy : là các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các gia chủ, các vị xuất gia, chư Thiên, và nhân loại. ‘Những người ấy dầu đã được thấy, dầu đã được nghe’ là thế ấy.
Đối với họ, tên gọi này được nói đến - Đối với họ : đối với các Sát-đế-lỵ, đối với các Bà-la-môn, đối với các thương buôn, đối với các nô lệ, đối với các gia chủ, đối với các vị xuất gia, đối với chư Thiên, đối với nhân loại. Tên gọi : là sự ấn định, sự chỉ định, sự quy định, sự diễn tả, tên gọi, sự đặt tên, sự định danh, từ mô tả, tên hiệu, từ kêu gọi. Được nói đến : được gọi là, được nói đến, được thuyết, được phát ngôn, được diễn giải, được diễn tả. ‘Đối với họ, tên gọi này được nói đến’ là thế ấy.
Chỉ mỗi tên gọi sẽ còn ở lại, sẽ được nhắc đến : Việc đề cập đến sắc, đề cập đến thọ, đề cập đến tưởng, đề cập đến các hành, đề cập đến thức bị dứt bỏ, bị từ bỏ, bị rời bỏ, bị biến mất, bị tiêu hoại. ‘Chỉ mỗi tên gọi sẽ còn ở lại’ là thế ấy. Sẽ được nhắc đến : để nhắc đến, để thuyết, để phát ngôn, để diễn giải, để diễn tả. ‘Chỉ mỗi tên gọi sẽ còn ở lại, sẽ được nhắc đến’ là thế ấy.
Đối với người đã từ trần - Đã từ trần : đã từ trần là đã quá vãng. Đối với người : là đối với chúng sanh, đối với đàn ông, đối với thanh niên, đối với người nam, đối với cá nhân, đối với mạng sống, đối với người còn sanh tử, đối với con người, đối với người đi theo nghiệp, đối với nhân loại. ‘Sẽ được nhắc đến đối với người đã từ trần’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những người ấy dầu đã được thấy, dầu đã được nghe,
đối với họ, tên gọi này được nói đến.
Chỉ mỗi tên gọi sẽ còn ở lại,
sẽ được nhắc đến đối với người đã từ trần .”
Những người bị thèm khát ở vật đã được chấp là của ta không buông bỏ sầu muộn, than vãn, và bỏn xẻn. Do đó, các bậc hiền trí, với việc nhìn thấy sự an toàn, đã từ bỏ sự bám giữ, đã sống .
Những người bị thèm khát ở vật đã được chấp là của ta không buông bỏ sầu muộn, than vãn, và bỏn xẻn - Sầu muộn : Là sự sầu muộn, sự buồn rầu, trạng thái buồn phiền, sự sầu muộn ở nội tâm, sự buồn thảm ở nội tâm, sự nóng nảy ở nội tâm, sự bực tức ở nội tâm, nỗi ưu phiền do trạng thái bực bội của tâm, sự sầu muộn ví như mũi tên của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về bệnh tật, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, bị tác động bởi sự khổ đau này hoặc sự khổ đau khác. Than vãn : sự than van, sự than trách, sự than thở, sự than vãn, trạng thái than van, trạng thái than trách, lời nói, nói lảm nhảm, nói huyên thuyên, nói kể lể, lối nói kể lể, trạng thái nói kể lể của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về bệnh tật, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, bị tác động bởi sự khổ đau này hoặc sự khổ đau khác. Bỏn xẻn : Có năm sự bỏn xẻn: bỏn xẻn về chỗ ở, bỏn xẻn về gia tộc, bỏn xẻn về lợi lộc, bỏn xẻn về danh tiếng, bỏn xẻn về Pháp; bỏn xẻ với hình thức như vầy là biểu hiện của bỏn xẻn, trạng thái của bỏn xẻn, sự hám lợi, keo kiệt, tính chất bủn xỉn, trạng thái nắm giữ của tâm, điều này được gọi là bỏn xẻn. Còn nữa, bỏn xẻn về uẩn cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về giới cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về xứ cũng là bỏn xẻn, sự nắm lấy, điều này được gọi là bỏn xẻn.
Thèm khát được gọi là tham ái, nghĩa là luyến ái, luyến ái mãnh liệt, —như trên— tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện.
Trạng thái chấp là của ta - có hai trạng thái chấp là của ta: trạng thái chấp là của ta do tham ái và trạng thái chấp là của ta do tà kiến. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của ta do tham ái. —như trên— điều này là trạng thái chấp là của ta do tà kiến. Có sự lo âu về sự chiếm đoạt đồ vật đã được chấp là của ta nên họ sầu muộn, trong khi đang bị chiếm đoạt cũng sầu muộn, khi đã bị chiếm đoạt cũng sầu muộn. Có sự lo âu về sự biến đổi của đồ vật đã được chấp là của ta nên họ sầu muộn, trong khi đang bị biến đổi cũng sầu muộn, khi đã bị biến đổi cũng sầu muộn. Có sự lo âu về sự chiếm đoạt đồ vật đã được chấp là của ta nên họ than vãn, trong khi đang bị chiếm đoạt cũng than vãn, khi đã bị chiếm đoạt cũng than vãn. Có sự lo âu về sự biến đổi của đồ vật đã được chấp là của ta nên họ than vãn, trong khi đang bị biến đổi cũng than vãn, khi đã bị biến đổi cũng than vãn. Họ bảo vệ, gìn giữ, bám giữ, sở hữu, bỏn xẻn vật đã được chấp là của ta. Họ không buông bỏ sự sầu muộn liên quan đến vật đã được chấp là của ta, không buông bỏ sự than vãn, không buông bỏ sự bỏn xẻn, không buông bỏ sự thèm khát, không dứt bỏ, không xua đi, không làm chấm dứt, không khiến cho không còn hiện hữu. ‘Những người bị thèm khát ở vật đã được chấp là của ta không buông bỏ sầu muộn, than vãn, và bỏn xẻn’ là thế ấy.
Do đó, các bậc hiền trí, với việc nhìn thấy sự an toàn, đã từ bỏ sự bám giữ, đã sống - Do đó : Do đó là bởi lý do ấy, bởi nhân ấy, bởi duyên ấy, bởi căn nguyên ấy, trong khi nhìn thấy điề u bất lợi này ở các trạng thái chấp là của ta. ‘Do đó’ là thế ấy. Các bậc hiền trí : bản thể hiền trí được gọi là trí, tức là tuệ, là sự nhận biết, —như trên— không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến, được thành tựu với trí ấy các bậc hiền trí đạt đến bản thể hiền trí. Ba hạnh của hiền trí: hiền trí hạnh về thân, hiền trí hạnh về khẩu, hiền trí hạnh về ý ―như trên ― đã vượt qua sự dính líu và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí. S ự bám giữ : có hai sự bám giữ: sự bám giữ do tham ái và sự bám giữ do tà kiến. —như trên— điều này là bám giữ do tham ái. —như trên— điều này là bám giữ do tà kiến. Sau khi buông bỏ sự bám giữ do tham ái, sau khi xả bỏ sự bám giữ do tà kiến, sau khi phế bỏ, sau khi buông bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu, các bậc hiền trí đã sống, đã sinh hoạt, đã cư xử, đã vận hành, đã bảo hộ, đã duy trì, đã nuôi dưỡng. Nhìn thấy sự an toàn : Sự an toàn được gọi là Bất Tử, Niết Bàn. Pháp ấy là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt trừ tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Nhìn thấy sự an toàn : Nhìn thấy sự an toàn là nhìn thấy nơi nương tựa, nhìn thấy nơi trú ẩn, nhìn thấy nơi nương nhờ, nhìn thấy nơi không nguy hiểm, nhìn thấy chốn vĩnh cửu, nhìn thấy Bất Tử, nhìn thấy Niết Bàn. ‘Do đó, các bậc hiền trí, với việc nhìn thấy sự an toàn, đã từ bỏ sự bám giữ, đã sống’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Những người bị thèm khát ở vật đã được chấp là của ta không buông bỏ sầu muộn, than vãn, và bỏn xẻn. Do đó, các bậc hiền trí, với việc nhìn thấy sự an toàn, đã từ bỏ sự bám giữ, đã sống .”
Đối với vị tỳ khưu có hạnh sống tách ly,
đang thân cận chỗ ngồi vắng vẻ,
các vị đã nói rằng điều này là hợp nhất đối với vị ấy,
vị ấy sẽ không phô bày bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa) .
Đối với vị tỳ khưu có hạnh sống tách ly : Bảy hạng Hữu Học được gọi là có hạnh sống tách ly; bậc A-la-hán là bậc đã tách ly. Vì lý do gì mà bảy hạng Hữu Học được gọi là có hạnh sống tách ly? Các vị ấy--trong khi thâu hẹp tâm lại, co rút tâm, cuốn tròn lại, kiềm chế, khống chế, ngăn chận, bảo vệ, gìn giữ tâm đối với cảnh này, cảnh khác--thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng (bản thân). Trong khi thâu hẹp tâm lại, trong khi co rút, cuốn tròn lại, kiềm chế, khống chế, ngăn chận, bảo vệ, gìn giữ tâm ở nhãn môn, các vị thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng (bản thân). Trong khi thâu hẹp tâm lại, co rút tâm, cuốn tròn lại, kiềm chế, khống chế, ngăn chận, bảo vệ, gìn giữ tâm ở nhĩ môn - tâm ở tỷ môn - tâm ở thiệt môn - tâm ở thân môn - tâm ở ý môn, các vị thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng (bản thân). Giống như cọng lông gà hoặc sợi dây gân bị ném vào ngọn lửa thì bị thâu hẹp lại, bị co rút, bị cuốn tròn lại, không được duỗi ra, tương tợ y như thế các vị ấy--trong khi thâu hẹp tâm lại, co rút tâm, cuốn tròn lại, kiềm chế, khống chế, ngăn chận, bảo vệ, gìn giữ tâm đối với cảnh này, cảnh khác--thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng (bản thân). Trong khi thâu hẹp tâm lại, co rút tâm, cuốn tròn lại, kiềm chế, khống chế, ngăn chận, bảo vệ, gìn giữ tâm ở nhãn môn - tâm ở nhĩ môn - tâm ở tỷ môn - tâm ở thiệt môn - tâm ở thân môn - tâm ở ý môn, các vị thực hành, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng (bản thân). Vì lý do ấy, bảy hạng Hữu Học được gọi là có hạnh sống tách ly. Đối với vị tỳ khưu : đối với vị tỳ khưu phàm nhân tốt lành hoặc đối với vị tỳ khưu là bậc Hữu Học. ‘Đối với vị tỳ khưu có hạnh sống tách ly’ là thế ấy.
Đang thân cận chỗ ngồi vắng vẻ - Chỗ ngồi là nơi nào các vị ngồi xuống, là cái giường, cái ghế, nệm, thảm đan, tấm da thú, thảm cỏ, thảm lá, thảm rơm; chỗ ngồi ấy là trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với việc thấy các cảnh sắc không tốt, với việc nghe các âm thanh không tốt, với việc ngửi các mùi không tốt, với việc nếm các vị không tốt, với việc chạm các xúc không tốt, là trống vắng, vắng vẻ, tách biệt với năm loại dục; đối với vị thân cận, gần gũi, phục vụ, phụng sự, cộng sự, sử dụng chỗ ngồi vắng vẻ ấy. ‘Đang thân cận chỗ ngồi vắng vẻ’ là thế ấy.
Các vị đã nói rằng điều này là hợp nhất đối với vị ấy, vị ấy sẽ không phô bày bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa) – Sự hợp nhất : có ba sự hợp nhất: sự hợp nhất của nhóm, sự hợp nhất của Pháp, sự hợp nhất ở việc vô sanh.
Sự hợp nhất của nhóm là việc nào? Nếu nhiều vị tỳ khưu sống có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, có trạng thái như sữa với nước, nhìn nhau bằng những ánh mắt thương mến; đây là sự hợp nhất của nhóm.
Sự hợp nhất của Pháp là việc nào? Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đạo lộ thánh thiện tám chi phần, các pháp ấy tiến vào, có niềm tin, tự thiết lập vững chắc, được giải thoát đồng nhau. Không có sự xung đột, xung khắc giữa các pháp ấy; đây là sự hợp nhất của Pháp.
Sự hợp nhất ở việc vô sanh là việc nào? Nếu nhiều vị tỳ khưu vô dư Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy; đây là sự hợp nhất ở việc vô sanh.
Ở cảnh giới (tái sanh nào nữa) : đối với các người địa ngục, địa ngục là cảnh giới; đối với các chủng loại súc sanh, chủng loại súc sanh là cảnh giới; đối với các thân phận ngạ quỷ, thân phận ngạ quỷ là cảnh giới; đối với loài người, thế giới loài người là cảnh giới; đối với chư Thiên, thế giới chư Thiên là cảnh giới.
Các vị đã nói rằng điều này là hợp nhất đối với vị ấy, vị ấy sẽ không phô bày bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa) : Sự hợp nhất ấy là có cho vị ấy, điều này là thích đáng, điều này là phù hợp, điều này là đúng đắn, điều này là hợp lẽ, vị nào được che đậy như vậy sẽ không phô bày bản thân ở địa ngục, sẽ không phô bày bản thân ở chủng loại súc sanh, sẽ không phô bày bản thân ở thân phận ngạ quỷ, sẽ không phô bày bản thân ở thế giới loài người, sẽ không phô bày bản thân ở thế giới chư Thiên. Họ đã nói như vậy : Họ đã nói như vậy, thuyết như vậy, phát ngôn như vậy, diễn giải như vậy, diễn tả như vậy. ‘Các vị đã nói rằng điều này thân phận ngạ quỷ đối với vị ấy, vị ấy sẽ không phô bày bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa)’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị tỳ khưu có hạnh sống tách ly,
đang thân cận chỗ ngồi vắng vẻ,
các vị đã nói rằng điều này là hợp nhất đối với vị ấy,
vị ấy sẽ không phô bày bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa) .”
Bậc hiền trí, không bị lệ thuộc vào tất cả các nơi,
không tạo ra vật yêu mến cũng không tạo ra vật không yêu mến,
than vãn và bỏn xẻn không gây bẩn ở vị ấy,
giống như nước không gây bẩn ở lá sen .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bậc hiền trí, không bị lệ thuộc vào tất cả các nơi,
không tạo ra vật yêu mến cũng không tạo ra vật không yêu mến,
than vãn và bỏn xẻn không gây bẩn ở vị ấy,
giống như nước không gây bẩn ở lá sen .”
Cũng giống như giọt nước ở lá sen,
giống như nước không gây bẩn ở hoa sen,
tương tự như thế bậc hiền trí không vấy bẩn
ở những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cũng giống như giọt nước ở lá sen,
giống như nước không gây bẩn ở hoa sen,
tương tự như thế bậc hiền trí không vấy bẩn
ở những điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác .”
Thật vậy, vị đã rũ sạch không suy nghĩ theo lối ấy, tức là về những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác, (cũng) không ước muốn sự thanh tịnh theo cách nào khác, bởi vì vị ấy không luyến ái, (cũng) không lìa luyến ái .
Thật vậy, vị đã rũ sạch không suy nghĩ theo lối ấy, tức là về những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác - Vị đã rũ sạch : Đã rũ sạch được gọi là tuệ. Tuệ là sự nhận biết, ―như trên― là sự không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến.
Vì lý do gì mà đã rũ sạch được gọi là tuệ? Nhờ vào tuệ ấy, uế hạnh về thân được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; uế hạnh về khẩu được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; uế hạnh về ý được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; sự luyến ái được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; sân hận ― si mê ― giận dữ ― thù hằn ― gièm pha ― ác ý ― ganh tỵ ― bỏn xẻn ― xảo quyệt ― bội bạc ― bướng bỉnh ― hung hăng ― ngã mạn ― kiêu căng ― đam mê ― xao lãng ― tất cả ô nhiễm ― tất cả uế hạnh ― mọi sự lo lắng ― mọi sự bực bội ― mọi sự nóng nảy ― tất cả pháp tạo tác bất thiện được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch. Vì lý do ấy mà đã rũ sạch được gọi là tuệ.
Hoặc là nhờ vào chánh kiến, tà kiến được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; nhờ vào chánh tư duy, tà tư duy được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; nhờ vào chánh ngữ, tà ngữ được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh nghiệp, tà nghiệp được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh mạng, tà mạng được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh tinh tấn, tà tinh tấn được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh niệm, tà niệm được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh định, tà định được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh trí, tà trí được rũ bỏ, được rũ sạch ― nhờ vào chánh giải thoát, tà giải thoát được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch.
Hoặc là nhờ vào Thánh Đạo tám chi, tất cả ô nhiễm, tất cả uế hạnh, mọi sự lo lắng, mọi sự bực bội, mọi sự nóng nảy, tất cả pháp tạo tác bất thiện được rũ bỏ, được rũ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch. Bậc A-la-hán đã tiến đến, đã tiến gần, đã tiến vào, đã tiến sát, đã tiếp cận, đã tròn đủ, đã thành tựu các pháp cần được rũ sạch này, vì thế bậc A-la-hán là vị đã rũ sạch. Vị ấy có ái luyến đã được rũ bỏ, có điều ác đã được rũ bỏ, có ô nhiễm đã được rũ bỏ, có sự bực bội đã được rũ bỏ. ‘Vị đã rũ sạch’ là thế ấy.
Thật vậy, vị đã rũ sạch không suy nghĩ theo lối ấy, tức là về những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác : Vị đã rũ sạch không suy nghĩ đến điều đã được thấy, không suy nghĩ về điều đã được thấy, không suy nghĩ theo điều đã được thấy; không suy nghĩ đến điều đã được nghe, không suy nghĩ về điều đã được nghe, không suy nghĩ theo điều đã được nghe; không suy nghĩ đến điều đã được cảm giác, không suy nghĩ về điều đã được cảm giác, không suy nghĩ theo điều đã được cảm giác; không suy nghĩ đến điều đã được nhận thức, không suy nghĩ về điều đã được nhận thức, không suy nghĩ theo điều đã được nhận thức, không suy nghĩ rằng: “Điều đã được nhận thức là của tôi.” Bởi vì, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, ‘Tôi là’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi là cái này’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ không là’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là có sắc’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là vô sắc’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là có tưởng’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là vô tưởng’ điều này là ý suy nghĩ, ‘Tôi sẽ là phi tưởng phi phi tưởng’ điều này là ý suy nghĩ. Này các tỳ khưu, ý suy nghĩ là cơn bệnh, ý suy nghĩ là mụt ghẻ, ý suy nghĩ là mũi tên, ý suy nghĩ là sự bất hạnh. Này các tỳ khưu, vì thế ở đây chúng ta sẽ sống với tâm ý không suy nghĩ. Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập đúng như vậy. ‘Thật vậy, vị đã rũ sạch không suy nghĩ theo lối ấy, tức là về những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác’ là thế ấy. [1]
Không ước muốn sự thanh tịnh theo cách nào khác : Vị đã rũ sạch không ước muốn, không ưng thuận, không ước nguyện, không mong cầu, không quá tham muốn sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch, sự thoát khỏi, sự giải thoát, sự hoàn toàn thoát khỏi theo đạo lộ không trong sạch khác với sự thực hành sai trái với đường lối không dẫn dắt ra khỏi, ngoại trừ bốn sự thiết lập niệm, ngoại trừ bốn chánh tinh tấn, ngoại trừ bốn nền tảng của thần thông, ngoại trừ năm quyền, ngoại trừ năm lực, ngoại trừ bảy chi phần đưa đến giác ngộ, ngoại trừ đạo lộ thánh thiện tám chi phần. ‘Không ước muốn sự thanh tịnh theo cách nào khác’ là thế ấy.
Bởi vì vị ấy không luyến ái, (cũng) không lìa luyến ái : Tất cả phàm nhân ngu si đều luyến ái. Bảy hạng Hữu Học tính luôn phàm nhân tốt lành lìa luyến ái. Bậc A-la-hán chẳng những không luyến ái mà còn không lìa luyến ái. Vị ấy đã lìa luyến ái, do sự cạn kiệt của luyến ái có trạng thái luyến ái đã được xa lìa, do sự cạn kiệt của sân hận có trạng thái sân hận đã được xa lìa, do sự cạn kiệt của si mê có trạng thái si mê đã được xa lìa. Vị ấy đã sống cuộc sống (của bậc Thánh), đã thực hành tánh hạnh ―như trên― luân hồi sanh tử, việc hiện hữu lần nữa không có đối với vị ấy. ‘Bởi vì vị ấy không luyến ái, (cũng) không lìa luyến ái’ là thế ấy.
[1] Tương Ưng Sáu Xứ, phẩm Rắn Độc.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
"Thật vậy, vị đã rủ sạch không suy nghĩ theo điều ấy,
tức là về những điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác,
(cũng) không mong mỏi sự thanh tịnh theo điều nào khác,
bởi vì vị ấy không luyến ái, (cũng) không tách ly luyến ái ."
Diễn Giải Kinh về Sự Già là thứ sáu .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Appaṃ vata jīvitaṃ idanti. Jīvitanti āyu ṭhiti yapanā yāpanā iriyanā vattanā pālanā jīvitaṃ jīvitindriyaṃ. Api ca, dvīhi kāraṇehi appakaṃ jīvitaṃ thokaṃ jīvitaṃ – ṭhitiparittatāya vā appakaṃ jīvitaṃ, sarasaparittatāya vā appakaṃ jīvitaṃ. Kathaṃ ṭhitiparittatāya vā appakaṃ jīvitaṃ? Atīte cittakkhaṇe jīvittha, na jīvati na jīvissati; anāgate cittakkhaṇe jīvissati, na jīvati na jīvittha; paccuppanne cittakkhaṇe jīvati, na jīvittha na jīvissati.
'Indeed, this life is short.' 'Life' means: lifespan, duration, sustenance, maintenance, movement, continuance, preservation, vitality, the life-faculty. Furthermore, for two reasons life is short, life is brief: due to the brevity of its duration, life is short; or due to the brevity of its essence, life is short. How is life short due to the brevity of its duration? In a past mind-moment, one lived; one does not live [now], one will not live. In a future mind-moment, one will live; one does not live [now], one did not live. In the present mind-moment, one lives; one did not live, one will not live.
‘Ôi, mạng sống này thật ngắn ngủi.’ ‘Mạng sống’ là tuổi thọ, sự tồn tại, sự duy trì, sự tiếp diễn, sự vận hành, sự diễn tiến, sự bảo tồn, mạng sống, mạng quyền. Hơn nữa, do hai lý do mà mạng sống là ngắn ngủi, mạng sống là ít ỏi: mạng sống là ngắn ngủi do sự tồn tại có giới hạn, hoặc mạng sống là ngắn ngủi do thực chất có giới hạn. Thế nào là mạng sống ngắn ngủi do sự tồn tại có giới hạn? Trong sát-na tâm quá khứ, người ấy đã sống, không đang sống, sẽ không sống; trong sát-na tâm vị lai, người ấy sẽ sống, không đang sống, đã không sống; trong sát-na tâm hiện tại, người ấy đang sống, đã không sống, sẽ không sống.
‘‘Jīvitaṃ attabhāvo ca, sukhadukkhā ca kevalā;
Ekacittasamāyuttā, lahuso vattate khaṇo.
“Life and individuality, and pleasure and pain entire, are associated with a single mind; the moment proceeds swiftly.
‘Mạng sống và thân thể, cùng lạc và khổ đơn thuần; đều tương ưng với một tâm, khoảnh khắc diễn ra nhanh chóng.’
‘‘Cullāsītisahassāni, kappā tiṭṭhanti ye marū;
Na tveva tepi jīvanti, dvīhi cittehi saṃyutā †.
“Those devas who remain for eighty-four thousand aeons—even they do not live on, being associated with two minds.
‘Tám mươi bốn ngàn đại kiếp, là tuổi thọ của chư thiên ấy; nhưng các vị ấy cũng không thật sự sống, chỉ tương ưng với hai tâm.’
‘‘Ye niruddhā marantassa, tiṭṭhamānassa vā idha;
Sabbepi sadisā khandhā, gatā appaṭisandhikā.
“Those aggregates which have ceased for one who is dying, or for one who is living here—all are similar, having passed away without relinking.”
‘Các uẩn đã diệt của người đang chết, hay của người đang sống ở đây; tất cả các uẩn ấy đều như nhau, đã qua đi không còn nối tiếp.’
‘‘Anantarā ca ye bhaggā, ye ca bhaggā anāgatā;
Tadantare niruddhānaṃ, vesamaṃ natthi lakkhaṇe.
“And for those [aggregates] that have ceased immediately past and those that will cease in the future, there is no difference in the characteristic of the [present] ones that cease in between.”
‘Những gì đã hoại diệt ngay lập tức, và những gì sẽ hoại diệt trong tương lai; giữa chúng, không có sự khác biệt về đặc tính của những gì đã diệt.’
‘‘Anibbattena na jāto, paccuppannena jīvati;
Cittabhaggā mato loko, paññatti paramatthiyā.
“One is not born from the unmanifest; one lives by the present. The world is dead due to the cessation of the mind; ultimately, it is a mere concept.”
‘Do chưa sanh nên không hiện hữu, người ta sống với cái hiện tại; thế gian chết khi tâm hoại diệt, theo chân đế (sự tồn tại) chỉ là một khái niệm.’
‘‘Yathā ninnā pavattanti, chandena pariṇāmitā;
Acchinnadhārā vattanti, saḷāyatanapaccayā.
“Inclined by desire, they proceed according to that inclination; conditioned by the six sense bases, unbroken streams occur.”
‘Như dòng nước chảy xuống chỗ trũng, được hướng đi bởi ý muốn; dòng chảy không gián đoạn tiếp diễn, do sáu xứ làm duyên.’
‘‘Anidhānagatā bhaggā, puñjo natthi anāgate;
Nibbattā ye ca tiṭṭhanti, āragge sāsapūpamā.
“Having perished, they are not stored up; there is no accumulation in the future. Those that have arisen exist like a mustard seed on the point of an awl.”
‘Những gì đã hoại diệt không đi về đâu, không có sự tích tụ trong tương lai; những gì đã sanh và tồn tại, giống như hạt cải trên đầu mũi kim.’
‘‘Nibbattānañca dhammānaṃ, bhaṅgo nesaṃ purakkhato;
Palokadhammā tiṭṭhanti, purāṇehi amissitā.
“For phenomena that have arisen, their perishing is imminent. They exist as things of a perishable nature, unmixed with those of the past.”
‘Đối với các pháp đã sanh, sự hoại diệt của chúng ở ngay phía trước; các pháp có tính hoại diệt tồn tại, không trộn lẫn với những gì đã cũ.’
‘‘Adassanato āyanti, bhaṅgā gacchanti dassanaṃ;
Vijjuppādova ākāse, uppajjanti vayanti cā’’ti.
“They come from an unseen state, and upon perishing, they go to an unseen state. Like a flash of lightning in the sky, they arise and then they pass away.”
‘Chúng đến từ nơi không thấy, khi hoại diệt chúng đi vào nơi không thấy; giống như tia chớp trên bầu trời, chúng sanh lên rồi diệt đi.’
Evaṃ ṭhitiparittatāya appakaṃ jīvitaṃ.
Thus, life is short due to the brevity of its duration.
Như vậy, mạng sống là ngắn ngủi do sự tồn tại có giới hạn.
Kathaṃ sarasaparittatāya appakaṃ jīvitaṃ? Assāsūpanibaddhaṃ † jīvitaṃ, passāsūpanibaddhaṃ jīvitaṃ, assāsapassāsūpanibaddhaṃ jīvitaṃ, mahābhūtūpanibaddhaṃ jīvitaṃ, kabaḷīkārāhārūpanibaddhaṃ jīvitaṃ, usmūpanibaddhaṃ jīvitaṃ, viññāṇūpanibaddhaṃ jīvitaṃ. Mūlampi imesaṃ dubbalaṃ, pubbahetūpi imesaṃ dubbalā, ye paccayā tepi dubbalā, yepi pabhāvikā tepi dubbalā, sahabhūpi imesaṃ dubbalā, sampayogāpi imesaṃ dubbalā, sahajāpi imesaṃ dubbalā, yāpi payojikā sāpi dubbalā. Aññamaññaṃ ime niccadubbalā, aññamaññaṃ anavaṭṭhitā ime. Aññamaññaṃ paripātayanti ime, aññamaññassa hi natthi tāyitā, na cāpi ṭhapenti aññamaññaṃ ime. Yopi nibbattako so na vijjati.
How is life short due to the meagerness of its essence? Life is dependent on the in-breath; life is dependent on the out-breath; life is dependent on the in-breaths and out-breaths; life is dependent on the great elements; life is dependent on physical nutriment; life is dependent on bodily heat; life is dependent on consciousness. Their root is also weak. Their prior causes are also weak. Whatever conditions there are, they are also weak. Whatever cravings for existence produce them are also weak. Their co-arisen phenomena are also weak. Their associated phenomena are also weak. Their conascent phenomena are also weak. And that which instigates is also weak. These are constantly weak towards one another. These are not established in relation to one another. These cause one another to fall away. For there is no protection for one another. And these are not able to establish one another. And that which generates them is not to be found.
Thế nào là mạng sống ngắn ngủi do thực chất có giới hạn? Mạng sống phụ thuộc vào hơi thở vào, mạng sống phụ thuộc vào hơi thở ra, mạng sống phụ thuộc vào hơi thở vào và hơi thở ra, mạng sống phụ thuộc vào các đại chủng, mạng sống phụ thuộc vào đoàn thực, mạng sống phụ thuộc vào hơi ấm, mạng sống phụ thuộc vào thức. Gốc rễ của chúng cũng yếu ớt, các nhân quá khứ của chúng cũng yếu ớt, các duyên nào cũng yếu ớt, các pháp tạo tác nào cũng yếu ớt, các pháp đồng sanh của chúng cũng yếu ớt, các pháp tương ưng của chúng cũng yếu ớt, các pháp câu sanh của chúng cũng yếu ớt, pháp nào tác động cũng yếu ớt. Chúng luôn luôn yếu ớt đối với nhau, chúng không ổn định đối với nhau. Chúng làm cho nhau rơi rụng, vì không có gì bảo vệ cho nhau, và chúng cũng không thể thiết lập cho nhau. Và pháp nào tạo ra cũng không hiện hữu.
‘‘Na ca kenaci koci hāyati, gandhabbā ca ime hi sabbaso;
Purimehi pabhāvikā ime, yepi pabhāvikā te pure matā;
Purimāpi ca pacchimāpi ca, aññamaññaṃ na kadāci maddasaṃsū’’ti.
“No phenomenon is diminished by any other; for they are all conjoined for the purpose of reaching cessation. These present phenomena are produced by prior causes; and those causes that produced them have already ceased before. Neither the prior causes nor the subsequent results have ever seen one another.”
‘Không có gì bị suy giảm bởi bất cứ điều gì, vì tất cả chúng đều đi đến sự hoại diệt; những pháp này được tạo ra bởi những pháp trước đó, và những pháp tạo ra ấy đã chết từ trước; cả pháp trước và pháp sau, chưa bao giờ nhìn thấy nhau.’
Evaṃ sarasaparittatāya appakaṃ jīvitaṃ.
Thus, life is short due to the meagerness of its essence.
Như vậy, mạng sống là ngắn ngủi do thực chất có giới hạn.
Api ca, cātumahārājikānaṃ † devānaṃ jīvitaṃ upādāya manussānaṃ appakaṃ jīvitaṃ parittaṃ jīvitaṃ thokaṃ jīvitaṃ khaṇikaṃ jīvitaṃ lahukaṃ jīvitaṃ ittaraṃ jīvitaṃ anaddhanīyaṃ jīvitaṃ naciraṭṭhitikaṃ jīvitaṃ. Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ…pe… yāmānaṃ devānaṃ… tusitānaṃ devānaṃ… nimmānaratīnaṃ devānaṃ… paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ… brahmakāyikānaṃ devānaṃ jīvitaṃ upādāya manussānaṃ appakaṃ jīvitaṃ parittaṃ jīvitaṃ thokaṃ jīvitaṃ khaṇikaṃ jīvitaṃ lahukaṃ jīvitaṃ ittaraṃ jīvitaṃ anaddhanīyaṃ jīvitaṃ naciraṭṭhitikaṃ jīvitaṃ. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘appamidaṃ, bhikkhave, manussānaṃ āyu, gamaniyo samparāyo, mantāya boddhabbaṃ, kattabbaṃ kusalaṃ, caritabbaṃ brahmacariyaṃ, natthi jātassa amaraṇaṃ. Yo, bhikkhave, ciraṃ jīvati, so vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo.
Moreover, in comparison with the lifespan of the devas of the Four Great Kings, human life is scant, limited, trifling, momentary, fleeting, insignificant, not long-lasting, and not of long duration. In comparison with the lifespan of the devas of the Thirty-Three… the Yāma devas… the Tusita devas… the devas who delight in creation… the devas who wield power over others’ creations… the devas of Brahmā’s retinue, human life is scant, limited, trifling, momentary, fleeting, insignificant, not long-lasting, and not of long duration. For this was said by the Blessed One: 'Short, monks, is this life of humans; the next world is to be gone to; one should understand with wisdom; what is skillful should be done; the holy life should be lived; there is no non-dying for one who is born. Whoever, monks, lives long, lives for a hundred years, or a little less, or a little more.'
Lại nữa, so với mạng sống của chư thiên cõi Tứ Đại Thiên Vương, mạng sống của loài người là ít ỏi, là nhỏ nhoi, là ngắn ngủi, là trong khoảnh khắc, là mau chóng, là yếu ớt, là không lâu dài, là không bền vững. So với mạng sống của chư thiên cõi Đao Lợi... (v.v)... chư thiên cõi Dạ Ma... chư thiên cõi Đâu Suất... chư thiên cõi Hóa Lạc... chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại... so với mạng sống của chư thiên cõi Phạm Chúng, mạng sống của loài người là ít ỏi, là nhỏ nhoi, là ngắn ngủi, là trong khoảnh khắc, là mau chóng, là yếu ớt, là không lâu dài, là không bền vững. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, tuổi thọ này của loài người là ít ỏi, phải đi đến đời sau, cần phải hiểu biết bằng trí tuệ, cần phải làm điều thiện, cần phải thực hành phạm hạnh, không có sự không chết cho người đã sanh. Này các tỳ khưu, người nào sống lâu, người ấy sống được một trăm năm, hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn một chút.’
‘‘Appamāyu manussānaṃ, hīḷeyya naṃ suporiso;
Careyyādittasīsova natthi maccussanāgamo.
The life of humans is short; a good person should disdain it. One should fare as if one’s head were on fire, for there is no non-coming of death.
‘Tuổi thọ của loài người là ít ỏi, bậc thiện trí nên xem thường nó; nên thực hành như người có đầu đang bị cháy, không có việc không đi đến chỗ của thần chết.’
‘‘Accayanti ahorattā, jīvitaṃ uparujjhati;
Āyu khiyyati maccānaṃ, kunnadīnaṃva odaka’’nti.
Days and nights pass by, life is obstructed; the lifespan of mortals dwindles, like the water of small rivers.
‘Ngày và đêm trôi qua, mạng sống bị chấm dứt; tuổi thọ của các chúng sanh bị tiêu mòn, giống như nước của các con sông nhỏ.’
Appaṃ vata jīvitaṃ idaṃ.
Indeed, brief is this life.
Ôi, mạng sống này thật ít ỏi.
Oraṃ vassasatāpi miyyatīti. Kalalakālepi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, abbudakālepi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, pesikālepi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, ghanakālepi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, pasākhakālepi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, jātamattopi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, sūtigharepi † cavati marati antaradhāyati vippalujjati, addhamāsikopi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, māsikopi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, dvemāsikopi…pe… temāsikopi… catumāsikopi… pañcamāsikopi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, chamāsikopi… sattamāsikopi… aṭṭhamāsikopi… navamāsikopi… dasamāsikopi… saṃvaccharikopi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, dvevassikopi… tivassikopi… catuvassikopi… pañcavassikopi … chavassikopi… sattavassikopi… aṭṭhavassikopi… navavassikopi… dasavassikopi… vīsativassikopi… tiṃsavassikopi… cattārīsavassikopi… paññāsavassikopi… saṭṭhivassikopi… sattativassikopi… asītivassikopi… navutivassikopi cavati marati antaradhāyati vippalujjatīti – oraṃ vassasatāpi miyyati.
One dies even before a hundred years. At the stage of the kalala, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At the stage of the abbuda, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At the stage of the pesi, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At the stage of the ghana, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At the stage of limb formation, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At the very moment of birth, one passes away, dies, vanishes, and perishes. In the delivery chamber, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At half a month old, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At one month old, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At two months old... three months old... four months old... five months old, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At six months old... seven months old... eight months old... nine months old... ten months old... one year old, one passes away, dies, vanishes, and perishes. At two years old... three years old... four years old... five years old... six years old... seven years old... eight years old... nine years old... ten years old... twenty years old... thirty years old... forty years old... fifty years old... sixty years old... seventy years old... eighty years old... ninety years old, one passes away, dies, vanishes, and perishes. Thus, one dies even before a hundred years.
‘Chết trước một trăm năm’ có nghĩa là: Ngay cả trong giai đoạn kalala (phôi thai), chúng sanh cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; ngay cả trong giai đoạn abbuda (bào thai)... trong giai đoạn pesi (thịt mềm)... trong giai đoạn ghana (thịt cứng)... trong giai đoạn pasākha (mọc tay chân)... vừa mới sanh ra cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; ngay trong nhà hộ sanh cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; được nửa tháng cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; được một tháng cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; được hai tháng... (v.v)... ba tháng... bốn tháng... năm tháng cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; được sáu tháng... bảy tháng... tám tháng... chín tháng... mười tháng... một năm cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt; được hai tuổi... ba tuổi... bốn tuổi... năm tuổi... sáu tuổi... bảy tuổi... tám tuổi... chín tuổi... mười tuổi... hai mươi tuổi... ba mươi tuổi... bốn mươi tuổi... năm mươi tuổi... sáu mươi tuổi... bảy mươi tuổi... tám mươi tuổi... chín mươi tuổi cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt – (như vậy có nghĩa là) chết trước một trăm năm.
Yo cepi aticca jīvatīti. Yo vassasataṃ atikkamitvā jīvati so ekaṃ vā vassaṃ jīvati, dve vā vassāni jīvati, tīṇi vā vassāni jīvati, cattāri vā vassāni jīvati, pañca vā vassāni jīvati…pe… dasa vā vassāni jīvati, vīsati vā vassāni jīvati, tiṃsaṃ vā vassāni jīvati, cattārīsaṃ vā vassāni jīvatīti – yo cepi aticca jīvati. Atha kho so jarasāpi miyyatīti. Yadā jiṇṇo hoti vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto khaṇḍadanto palitakeso vilūnaṃ khalitasiro † valinaṃ tilakāhatagatto vaṅko bhoggo daṇḍaparāyano, so jarāyapi cavati marati antaradhāyati vippalujjati, natthi maraṇamhā mokkho.
And even if one lives beyond: Whoever lives, having surpassed a hundred years, that person lives for one year, or lives for two years, or lives for three years, or lives for four years, or lives for five years… or lives for ten years, or lives for twenty years, or lives for thirty years, or lives for forty years—this is 'and even if one lives beyond.' Yet, that one still dies of old age: When one is aged, old, of great age, has traversed the path of life, has reached the final stage of life, has broken teeth, has grey hair, has a bald head as if the hair were plucked out, has a wrinkled body covered with dark spots, is bent, is stooped, has a staff as their support; that person passes away due to old age, dies, vanishes, and perishes. There is no escape from death.
‘Và nếu có người sống vượt qua’ có nghĩa là: Người nào sống vượt qua một trăm năm, người ấy sống thêm một năm, hoặc sống thêm hai năm, hoặc sống thêm ba năm, hoặc sống thêm bốn năm, hoặc sống thêm năm năm... (v.v)... hoặc sống thêm mười năm, hoặc sống thêm hai mươi năm, hoặc sống thêm ba mươi năm, hoặc sống thêm bốn mươi năm – (như vậy có nghĩa là) và nếu có người sống vượt qua. ‘Rồi người ấy cũng chết vì già’ có nghĩa là: Khi người ấy trở nên già nua, lớn tuổi, bậc trưởng thượng, đi hết quãng đường đời, đến tuổi xế chiều, răng rụng, tóc bạc, đầu hói trụi, thân mình nhăn nheo lốm đốm tàn nhang, lưng còng, gãy gập, phải chống gậy, người ấy cũng mệnh chung, chết, biến mất, hoại diệt vì già, không có sự giải thoát khỏi cái chết.
‘‘Phalānamiva pakkānaṃ, pāto patanato † bhayaṃ;
Evaṃ jātāna maccānaṃ, niccaṃ maraṇato bhayaṃ.
Just as for ripe fruits, there is fear of falling in the morning, so for mortals who are born, there is constant fear of death.
‘Giống như các loại quả chín, buổi sáng có nỗi sợ bị rụng; cũng vậy, các chúng sanh đã được sanh ra, luôn có nỗi sợ từ cái chết.’
‘‘Yathāpi kumbhakārassa, katā mattikabhājanā;
Sabbe bhedanapariyantā, evaṃ maccāna jīvitaṃ.
Just as all clay vessels made by a potter have breaking as their end, so is the life of mortals.
‘Ví như những đồ gốm do người thợ gốm làm ra, tất cả đều có sự vỡ tan là kết cuộc; cũng vậy là mạng sống của các chúng sanh.’
‘‘Daharā ca mahantā ca, ye bālā ye ca paṇḍitā;
Sabbe maccuvasaṃ yanti, sabbe maccuparāyanā.
Both the young and the great, both those who are fools and those who are wise—all go into the power of death, all have death as their final destination.
‘Cả người trẻ lẫn người lớn, những kẻ khờ và cả những bậc trí; tất cả đều đi vào quyền lực của thần chết, tất cả đều có thần chết là đích đến.’
‘‘Tesaṃ maccuparetānaṃ, gacchataṃ paralokato;
Na pitā tāyate puttaṃ, ñātī vā pana ñātake.
Of those overcome by death, going to the next world, a father does not protect his son, nor do relatives protect their kin.
‘Đối với những người bị thần chết áp đảo, đang đi đến thế giới bên kia, cha không thể bảo vệ con, hay bà con cũng không thể (bảo vệ) quyến thuộc.’
‘‘Pekkhataññeva ñātīnaṃ, passa lālappataṃ puthu;
Ekamekova maccānaṃ, govajjho viya niyyati;
Evamabbhāhato loko, maccunā ca jarāya cā’’ti.
Behold, while their relatives are looking on, the many who are lamenting. Each and every mortal is led away, like an ox to be slaughtered. Thus is the world afflicted by death and by old age.
‘Hãy xem, trong khi bà con quyến thuộc đang nhìn và than khóc nhiều, từng người một trong các chúng sanh bị dẫn đi như con bò bị dẫn đi để giết; như vậy, thế gian bị áp đảo bởi thần chết và tuổi già.’
Atha kho so jarasāpi miyyati.
Yet, that one still dies of old age.
Rồi người ấy cũng chết vì già.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Appaṃ vata jīvitaṃ idaṃ, oraṃ vassasatāpi miyyati;
Yo cepi aticca jīvati, atha kho so jarasāpi miyyatī’’ti.
Indeed, brief is this life; one dies before a hundred years. And even if one lives beyond, yet that one still dies of old age.
‘Ôi, mạng sống này thật ít ỏi, người ta chết trước một trăm năm; và nếu có người sống vượt qua, rồi người ấy cũng chết vì già.’
40.
40.
40.
Socanti janā mamāyite, na hi santi niccā pariggahā;
Vinābhāvaṃ santamevidaṃ, iti disvā nāgāramāvase.
People grieve on account of what is cherished as 'mine,' for possessions are not permanent. This existing state is simply one of separation; having seen this, one should dwell in the homeless state.
Chúng sanh sầu muộn vì những gì họ ái luyến, vì các sở hữu không phải là thường hằng; đây chính là thực trạng của sự chia lìa, thấy như vậy nên sống đời không nhà.
Socanti janā mamāyiteti. Janāti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca…pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Mamāyitaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi socanti, acchijjantepi socanti, acchinnepi socanti. Mamāyitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi socanti, vipariṇāmantepi socanti, vipariṇatepi socanti kilamanti paridevanti urattāḷiṃ kandanti sammohaṃ āpajjantīti – socanti janā mamāyite.
People grieve over what is cherished as 'mine.' 'People' means nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciates, devas, and humans. 'Possessiveness' is twofold: possessiveness as craving and possessiveness as wrong view... This is possessiveness as craving... This is possessiveness as wrong view. They grieve over a cherished object, suspecting it will be taken by force; they grieve while it is being taken by force; and they grieve when it has been taken by force. They grieve over a cherished object, suspecting it will alter; they grieve while it is altering; and they grieve when it has altered. They become weary, they lament, they beat their breasts and wail, and they fall into confusion. Thus, people grieve over what is cherished as 'mine.'
‘Chúng sanh sầu muộn vì những gì họ ái luyến’ có nghĩa là: ‘Chúng sanh’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vệ-xá, Thủ-đà, người tại gia, người xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Sự ái luyến’ có hai loại: sự ái luyến do tham ái và sự ái luyến do tà kiến... (v.v)... đây là sự ái luyến do tham ái... (v.v)... đây là sự ái luyến do tà kiến. Đối với vật được ái luyến, họ sầu muộn khi nghi ngờ nó sẽ bị chiếm đoạt, họ sầu muộn khi nó đang bị chiếm đoạt, họ sầu muộn khi nó đã bị chiếm đoạt. Đối với vật được ái luyến, họ sầu muộn khi nghi ngờ nó sẽ biến đổi, họ sầu muộn khi nó đang biến đổi, họ sầu muộn khi nó đã biến đổi, họ trở nên mệt mỏi, than van, đấm ngực khóc lóc, rơi vào si mê – (như vậy có nghĩa là) chúng sanh sầu muộn vì những gì họ ái luyến.
Na hi santi niccā pariggahāti. Dve pariggahā – taṇhāpariggaho ca diṭṭhipariggaho ca…pe… ayaṃ taṇhāpariggaho…pe… ayaṃ diṭṭhipariggaho. Taṇhāpariggaho anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno khayadhammo vayadhammo virāgadhammo nirodhadhammo vipariṇāmadhammo. Diṭṭhipariggahopi anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno khayadhammo vayadhammo virāgadhammo nirodhadhammo vipariṇāmadhammo. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘passatha no tumhe, bhikkhave, taṃ pariggahaṃ yvāyaṃ pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Sādhu, bhikkhave! Ahampi kho etaṃ, bhikkhave, pariggahaṃ na samanupassāmi, yvāyaṃ pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī’’ti. Pariggahā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā natthi na santi na saṃvijjanti na labbhantīti – na hi santi niccā pariggahā.
For there are no permanent possessions. There are two kinds of possessions: the possession of craving and the possession of views... This is the possession of craving... This is the possession of views. The possession of craving is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, subject to cessation, subject to change. The possession of views is also impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, subject to cessation, subject to change. And this was said by the Blessed One: “Do you see, bhikkhus, any possession that is permanent, stable, eternal, not subject to change, and will remain just the same for all eternity?” “No, venerable sir.” “Good, bhikkhus! I too do not see any possession that is permanent, stable, eternal, not subject to change, and will remain just the same for all eternity.” Permanent, stable, eternal, and unchangeable possessions do not exist, are not, are not found, and are not obtainable—thus: 'For there are no permanent possessions.'
Quả thật, các sự chấp thủ thường còn là không có. Có hai sự chấp thủ: sự chấp thủ do tham ái và sự chấp thủ do tà kiến...v.v... đây là sự chấp thủ do tham ái...v.v... đây là sự chấp thủ do tà kiến. Sự chấp thủ do tham ái là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có bản chất bị tiêu hoại, có bản chất bị hủy diệt, có bản chất bị ly tham, có bản chất bị đoạn diệt, có bản chất bị biến đổi. Sự chấp thủ do tà kiến cũng là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có bản chất bị tiêu hoại, có bản chất bị hủy diệt, có bản chất bị ly tham, có bản chất bị đoạn diệt, có bản chất bị biến đổi. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: 'Này các Tỳ khưu, các ông có thấy sự chấp thủ nào mà sự chấp thủ ấy là thường còn, là bền vững, là vĩnh hằng, không có bản chất bị biến đổi, sẽ tồn tại y như thế một cách vĩnh viễn không?' 'Bạch ngài, điều ấy không có.' 'Lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, Ta cũng không thấy được sự chấp thủ nào mà sự chấp thủ ấy là thường còn, là bền vững, là vĩnh hằng, không có bản chất bị biến đổi, sẽ tồn tại y như thế một cách vĩnh viễn.' Các sự chấp thủ thường còn, bền vững, vĩnh hằng, không có bản chất bị biến đổi là không có, không hiện hữu, không hiện diện, không thể tìm thấy được. (Do đó) Quả thật, các sự chấp thủ thường còn là không có.
Vinābhāvaṃ santamevidanti. Nānābhāve vinābhāve aññathābhāve sante saṃvijjamāne upalabbhiyamāne. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘alaṃ, ānanda! Mā soci mā paridevi. Nanu etaṃ, ānanda, mayā paṭikacceva † akkhātaṃ – ‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo. Taṃ kutettha, ānanda, labbhā – yaṃ taṃ jātaṃ bhūtaṃ saṅkhataṃ palokadhammaṃ taṃ vata mā palujjī’ti! Netaṃ ṭhānaṃ vijjati. Purimānaṃ purimānaṃ khandhānaṃ dhātūnaṃ āyatanānaṃ vipariṇāmaññathābhāvā pacchimā pacchimā khandhā ca dhātuyo ca āyatanāni ca pavattantī’’ti – vinābhāvaṃ santamevidaṃ.
Separation is indeed inherent. This means that difference, separation, and otherness are present, existing, and found. And this was said by the Blessed One: “Enough, Ānanda! Do not grieve, do not lament. Was it not declared by me long ago, Ānanda, that with all that is dear and beloved there is difference, separation, and otherness? How, Ānanda, could it be obtained here that what is born, come to be, conditioned, and of a nature to perish, should not perish? That state of things is not found. Because of the transformation and other-becoming of preceding aggregates, elements, and sense bases, succeeding aggregates, elements, and sense bases come to be.” Thus: 'Separation is indeed inherent.'
Sự chia lìa này là hiện hữu. Trong sự khác biệt, trong sự chia lìa, trong sự biến đổi khác, khi đang có, đang hiện hữu, đang được tìm thấy. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: 'Thôi đi, Ānanda! Đừng sầu muộn, đừng than khóc. Này Ānanda, chẳng phải điều này đã được Ta tuyên bố ngay từ đầu rồi sao: ‘Đối với tất cả những gì thân yêu và quý mến, đều có sự khác biệt, sự chia lìa, sự biến đổi khác.’ Này Ānanda, làm sao có thể tìm thấy được ở đây điều này: ‘Mong rằng cái đã được sanh, đã hiện hữu, đã được tạo tác, có bản chất bị tan rã, lại không bị tan rã!’? Trường hợp ấy không thể xảy ra. Do sự biến đổi và sự trở thành khác của các uẩn, các giới, các xứ trước trước, mà các uẩn, các giới, và các xứ sau sau được diễn tiến.' (Do đó) sự chia lìa này là hiện hữu.
Iti disvā nāgāramāvaseti. Itīti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ. Itīti iti disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā mamattesūti – iti disvā. Nāgāramāvaseti sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko careyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – iti disvā nāgāramāvase.
Regarding 'Having seen thus, one should dwell homeless': As for 'iti', it is a word-juncture, a word-connection, a phrase-filler, a combination of syllables, a smoothness of consonants, this being in the sequence of words. As for 'iti disvā', it means having seen, having perceived, having weighed, having judged, having made clear, having made manifest in regard to what is held as 'mine'—thus, 'having seen'. As for 'nāgāramāvase', it means having cut off all the impediments of the household life, having cut off the impediment of children and wife, having cut off the impediment of relatives, having cut off the impediment of friends and associates, having cut off the impediment of stored-up things, having shaved off hair and beard, having donned the saffron-colored robes, having gone forth from the home life into homelessness, having attained the state of possessing nothing, one should fare alone, dwell alone, move about alone, conduct oneself alone, maintain oneself alone, and sustain oneself alone—thus, 'having seen, one should dwell homeless'.
Thấy như vậy, nên sống không nhà. Từ 'iti' là sự nối kết từ, sự liên kết từ, sự làm đầy đủ từ, sự tập hợp mẫu tự, sự trôi chảy của phụ âm, là từ đi theo thứ tự. 'Iti disvā' (thấy như vậy) có nghĩa là: đã thấy, đã nhận thấy, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ về những sự chấp ngã. 'Sống không nhà' có nghĩa là: đã cắt đứt mọi chướng ngại của đời sống tại gia, đã cắt đứt chướng ngại về con cái và vợ, đã cắt đứt chướng ngại về quyến thuộc, đã cắt đứt chướng ngại về bạn bè và quan chức, đã cắt đứt chướng ngại về sự tích trữ, đã cạo bỏ râu tóc, đã đắp các y màu cà-sa, đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã đạt đến trạng thái vô sở hữu, nên đi một mình, nên trú một mình, nên hành động, nên thực hành, nên duy trì, nên bảo tồn, nên tiếp tục. (Do đó) thấy như vậy, nên sống không nhà.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Socanti janā mamāyite, na hi santi niccā pariggahā;
Vinābhāvaṃ santamevidaṃ, iti disvā nāgāramāvase’’ti.
“People grieve over what they hold as 'mine,' for possessions are not permanent; seeing that this separation is inherent, one should dwell homeless.”
“Chúng sanh sầu muộn về những gì họ chấp là 'của tôi', quả thật, các sự chấp thủ thường còn là không có; sự chia lìa này là hiện hữu, thấy như vậy, nên sống không nhà.”
41.
41.
41.
Maraṇenapi taṃ pahīyati † yaṃ puriso mamidanti maññati;
Etampi viditvāna † paṇḍito, na mamattāya nametha māmako.
That which a person considers ‘this is mine’ is abandoned even by death; knowing this, the wise person, who is attached to what is 'mine', should not incline towards 'mineness'.
Cái mà người ta nghĩ rằng 'đây là của tôi' cũng bị từ bỏ bởi cái chết; bậc trí, người có lòng quyến luyến, sau khi biết được điều này, không nên hướng đến sự chấp ngã.
Maraṇenapi taṃ pahīyatīti. Maraṇanti yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccumaraṇaṃ kālaṃkiriyā khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo. Tanti rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ. Pahīyatīti pahīyati jahīyati vijahīyati antaradhāyati vippalujjati. Bhāsitampi hetaṃ –
Regarding 'By death, even that is abandoned': ‘Death’ means, for those various beings from their various groups of beings, the decease, passing away, breaking up, disappearance, dying as death, completion of time, breaking up of the aggregates, casting off of the corpse, and the cutting off of the life faculty. ‘That’ refers to form, feeling, perception, formations, and consciousness. ‘Is abandoned’ means it is abandoned, given up, relinquished, disappears, and is destroyed. For this too has been stated:
Về câu 'Cũng bị từ bỏ bởi cái chết'. 'Cái chết' là sự mệnh chung, sự ra đi, sự tan rã, sự biến mất, cái chết (maccu), sự qua đời, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác, sự cắt đứt mạng căn của các chúng sanh này hay chúng sanh khác từ trong tập hợp chúng sanh này hay tập hợp chúng sanh khác. 'Cái ấy' là cái thuộc về sắc, cái thuộc về thọ, cái thuộc về tưởng, cái thuộc về các hành, cái thuộc về thức. 'Bị từ bỏ' có nghĩa là: bị từ bỏ, bị vứt bỏ, bị ruồng bỏ, biến mất, tan rã. Điều này cũng đã được nói đến:
‘‘Pubbeva maccaṃ vijahanti bhogā, maccova ne pubbataraṃ jahāti;
Asassatā bhogino kāmakāmī, tasmā na socāmahaṃ sokakāle.
“Possessions abandon a mortal beforehand, or the mortal abandons them even earlier. O craver of sensual pleasures, possessions are impermanent; therefore, in a time of sorrow, I do not grieve.
“Của cải từ bỏ người phải chết trước, hoặc người phải chết từ bỏ chúng trước hơn; hỡi người tham muốn các dục, những người sở hữu của cải là không vĩnh hằng, do đó, ta không sầu muộn vào lúc sầu muộn.
‘‘Udeti āpūrati veti cando, attaṃ gametvāna paleti sūriyo;
Viditā mayā sattuka lokadhammā, tasmā na socāmahaṃ sokakāle’’ti.
“The moon rises, is full, and wanes; the sun, having gone to its setting, departs. O Sattuka, I have understood the worldly conditions; therefore, in a time of sorrow, I do not grieve.”
“Mặt trăng mọc lên, tròn đầy, rồi lại khuyết đi, mặt trời sau khi lặn xuống thì biến mất; này Sattuka, các pháp thế gian đã được ta biết rõ, do đó, ta không sầu muộn vào lúc sầu muộn.”
Maraṇenapi taṃ pahīyati. Yaṃ puriso mamidanti maññatīti. Yanti rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ. Purisoti saṅkhā samaññā paññatti vohāro † nāmaṃ nāmakammaṃ nāmadheyyaṃ nirutti byañjanaṃ abhilāpo. Mamidanti maññatīti taṇhāmaññanāya maññati, diṭṭhimaññanāya maññati, mānamaññanāya maññati, kilesamaññanāya maññati, duccaritamaññanāya maññati, payogamaññanāya maññati, vipākamaññanāya maññatīti – yaṃ puriso mamidanti maññati.
Regarding 'By death, even that is abandoned. That which a person considers ‘this is mine’': ‘That which’ refers to form, feeling, perception, formations, and consciousness. ‘Person’ is a reckoning, a designation, a concept, a term of common usage, a name, a naming, a denomination, an utterance, an expression, an appellation. ‘Considers, “this is mine”’ means one considers through the conceiving of craving, the conceiving of views, the conceiving of conceit, the conceiving of defilements, the conceiving of misconduct, the conceiving of exertion, or the conceiving of results—this is 'that which a person considers, “this is mine.”’
Cũng bị từ bỏ bởi cái chết. Về câu 'Cái mà người ta nghĩ rằng 'đây là của tôi''. 'Cái mà' là cái thuộc về sắc, cái thuộc về thọ, cái thuộc về tưởng, cái thuộc về các hành, cái thuộc về thức. 'Người ta' là sự tính đếm, là danh xưng, là sự chế định, là cách dùng từ, là tên gọi, là hành động đặt tên, là tên được đặt, là sự giải thích, là sự biểu thị, là sự phát biểu. 'Nghĩ rằng 'đây là của tôi'' có nghĩa là: nghĩ với sự tưởng tri của tham ái, nghĩ với sự tưởng tri của tà kiến, nghĩ với sự tưởng tri của ngã mạn, nghĩ với sự tưởng tri của phiền não, nghĩ với sự tưởng tri của ác hạnh, nghĩ với sự tưởng tri của sự cố gắng, nghĩ với sự tưởng tri của quả dị thục. (Do đó) cái mà người ta nghĩ rằng 'đây là của tôi'.
Etampi viditvāna paṇḍitoti. Etaṃ ādīnavaṃ ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā mamattesūti, etampi viditvā paṇḍito dhīro paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvīti – etampi viditvāna paṇḍito.
Regarding 'Having known this as well, the wise person': This means having known this danger in regard to what is held as 'mine'—having understood, comprehended, weighed, considered, discerned, and made it manifest. A wise person is discerning, intelligent, learned, knowing, discriminating, and insightful. This is the meaning of 'Having known this as well, the wise person'.
Về câu 'Bậc trí sau khi biết được điều này'. 'Sau khi biết được điều này' có nghĩa là: đã biết, đã nhận biết, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ sự nguy hại này về những sự chấp ngã. 'Bậc trí' là người kiên định, là người có trí tuệ, là người có tuệ giác, là người thông minh, là người có tri kiến, là người sáng suốt, là người có trí minh mẫn. (Do đó) bậc trí sau khi biết được điều này.
Na mamattāya nametha māmakoti. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca…pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Māmakoti buddhamāmako dhammamāmako saṅghamāmako. So bhagavantaṃ mamāyati, bhagavā taṃ puggalaṃ pariggaṇhāti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘ye te, bhikkhave, bhikkhū kuhā thaddhā † lapā siṅgī unnaḷā asamāhitā, na me te, bhikkhave, bhikkhū māmakā; apagatā ca te, bhikkhave, bhikkhū imasmā dhammavinayā. Na ca te imasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti. Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū nikkuhā nillapā dhīrā atthaddhā susamāhitā, te kho me, bhikkhave, bhikkhū māmakā; anapagatā ca te, bhikkhave, bhikkhū imasmā dhammavinayā. Te ca imasmiṃ dhammavinaye vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti’’.
Na mamattāya nametha māmakoti. As for ‘possessiveness’ (mamattā), there are two kinds of possessiveness: possessiveness due to craving and possessiveness due to views… This is possessiveness due to craving… This is possessiveness due to views. As for ‘a devotee’ (māmako), this is one who cherishes the Buddha, one who cherishes the Dhamma, one who cherishes the Sangha. That person cherishes the Blessed One, and the Blessed One accepts that person. For this was said by the Blessed One: ‘Bhikkhus, those bhikkhus who are deceitful, obstinate, garrulous, frivolous, arrogant, and unconcentrated—they are not, bhikkhus, my true disciples; and those bhikkhus are far removed from this Dhamma and Discipline. They do not attain growth, increase, and abundance in this Dhamma and Discipline. But, bhikkhus, those bhikkhus who are without deceit, without garrulity, wise, not obstinate, and well-concentrated—they indeed, bhikkhus, are my true disciples; and those bhikkhus are not far removed from this Dhamma and Discipline. They attain growth, increase, and abundance in this Dhamma and Discipline.’”
Na mamattāya nametha māmakoti (người mến mộ không nên hướng về sự sở hữu). Mamattāti (sự sở hữu là): có hai sự sở hữu – sự sở hữu do tham ái và sự sở hữu do tà kiến... (vân vân)... đây là sự sở hữu do tham ái... (vân vân)... đây là sự sở hữu do tà kiến. Māmakoti (người mến mộ là): người mến mộ đức Phật, người mến mộ Pháp, người mến mộ Tăng. Vị ấy mến mộ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn chấp nhận người ấy. Điều này đã được đức Thế Tôn nói rằng: “Này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào xảo trá, cứng đầu, khoác lác, tham lam, kiêu mạn, không định tĩnh, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy không phải là người của ta; và này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy đã rời xa khỏi Pháp và Luật này. Và họ không đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này. Và này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu nào không xảo trá, không khoác lác, bậc trí, không cứng đầu, có định tĩnh tốt, này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy chính là người của ta; và này các Tỳ khưu, những Tỳ khưu ấy đã không rời xa khỏi Pháp và Luật này. Và họ đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này.”
‘‘Kuhā thaddhā lapā siṅgī, unnaḷā asamāhitā;
Na te dhamme virūhanti, sammāsambuddhadesite.
“Deceitful, obstinate, garrulous, frivolous, arrogant, and unconcentrated— they do not grow in the Dhamma taught by the Perfectly Enlightened One.”
“Những kẻ xảo trá, cứng đầu, khoác lác, tham lam, kiêu mạn, không định tĩnh; họ không phát triển trong Giáo pháp, do bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng.”
‘‘Nikkuhā nillapā dhīrā, atthaddhā susamāhitā;
Te ve dhamme virūhanti, sammāsambuddhadesite’’.
“Without deceit, without garrulity, wise, not obstinate, and well-concentrated— they truly grow in the Dhamma taught by the Perfectly Enlightened One.”
“Những người không xảo trá, không khoác lác, bậc trí, không cứng đầu, có định tĩnh tốt; họ thật sự phát triển trong Giáo pháp, do bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng.”
Na mamattāya nametha māmakoti. Māmako taṇhāmamattaṃ pahāya diṭṭhimamattaṃ paṭinissajjitvā mamattāya na nameyya na onameyya, na taṃninno assa na tappoṇo na tappabbhāro na tadadhimutto na tadadhipateyyoti – na mamattāya nametha māmako.
‘A devotee should not incline to possessiveness.’ A devotee, having abandoned possessiveness due to craving and relinquished possessiveness due to views, should not incline to possessiveness, nor bend towards it, nor be disposed towards it, nor be inclined towards it, nor be biased towards it, nor be intent on it, nor have it as their master. Thus, ‘a devotee should not incline to possessiveness.’”
Na mamattāya nametha māmakoti (người mến mộ không nên hướng về sự sở hữu). Người mến mộ, sau khi từ bỏ sự sở hữu do tham ái, sau khi xả ly sự sở hữu do tà kiến, không nên hướng về, không nên nghiêng về sự sở hữu, không nên có xu hướng về điều ấy, không nên thiên về điều ấy, không nên nặng về điều ấy, không nên chuyên chú vào điều ấy, không nên xem điều ấy là chủ tể – (đó là nghĩa của) na mamattāya nametha māmako.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Maraṇenapi taṃ pahīyati, yaṃ puriso mamidanti maññati;
Etampi viditvāna paṇḍito, na mamattāya nametha māmako’’ti.
“That which a person thinks ‘this is mine’ is abandoned even by death; a wise devotee, having understood this, should not incline to possessiveness.”
“Điều mà người đời cho rằng ‘đây là của tôi’, điều ấy cũng bị từ bỏ bởi cái chết; bậc trí sau khi biết được điều này, là người mến mộ, không nên hướng về sự sở hữu.”
42.
42.
42.
Supinena yathāpi saṅgataṃ, paṭibuddho puriso na passati;
Evampi piyāyitaṃ janaṃ, petaṃ kālaṅkataṃ † na passati.
“As a person, upon waking, does not see one they met in a dream; even so, one does not see a beloved person who is departed, who has passed away.”
“Cũng như người thức dậy, không còn thấy điều đã gặp trong giấc mơ; cũng vậy, người ta không thấy được người thân yêu, đã qua đời, đã mệnh chung.”
Supinena yathāpi saṅgatanti. Saṅgataṃ samāgataṃ samāhitaṃ sannipatitanti – supinena yathāpi saṅgataṃ. Paṭibuddho puriso na passatīti yathā puriso supinagato candaṃ passati, sūriyaṃ passati, mahāsamuddaṃ passati, sineruṃ pabbatarājānaṃ passati, hatthiṃ passati, assaṃ passati, rathaṃ passati, pattiṃ passati, senābyūhaṃ passati, ārāmarāmaṇeyyakaṃ passati, vanarāmaṇeyyakaṃ…pe… bhūmirāmaṇeyyakaṃ… pokkharaṇīrāmaṇeyyakaṃ passati; paṭibuddho na kiñci passatīti – paṭibuddho puriso na passati.
“As if met in a dream”: `saṅgataṃ` means met, come together, gathered. This is the meaning of the phrase “as if met in a dream.” “A person, upon waking, does not see”: Just as a person who is dreaming sees the moon, sees the sun, sees the great ocean, sees Sineru, the king of mountains, sees an elephant, sees a horse, sees a chariot, sees an infantryman, sees an army arrayed for battle, sees a delightful park, sees a delightful forest, sees delightful land, sees a delightful square pond; but upon awakening, sees nothing at all. This is the meaning of “a person, upon waking, does not see.”
Supinena yathāpi saṅgatanti (cũng như điều đã gặp trong giấc mơ). Saṅgataṃ (đã gặp) có nghĩa là samāgataṃ (đã đến cùng nhau), samāhitaṃ (đã tụ hợp), sannipatitaṃ (đã hội tụ) – (đó là nghĩa của) supinena yathāpi saṅgataṃ. Paṭibuddho puriso na passatīti (người thức dậy không còn thấy) có nghĩa là: cũng như người đang mơ thấy mặt trăng, thấy mặt trời, thấy đại dương, thấy vua núi Sineru, thấy voi, thấy ngựa, thấy xe, thấy bộ binh, thấy trận địa, thấy sự khả ái của vườn tược, thấy sự khả ái của rừng... (vân vân)... thấy sự khả ái của đất đai... thấy sự khả ái của hồ sen; khi thức dậy, người ấy không thấy bất cứ điều gì – (đó là nghĩa của) paṭibuddho puriso na passati.
Evampi piyāyitaṃ jananti. Evanti opammasampaṭipādanaṃ. Piyāyitaṃ jananti mamāyitaṃ janaṃ mātaraṃ vā pitaraṃ vā bhātaraṃ vā bhaginiṃ vā puttaṃ vā dhītaraṃ vā mittaṃ vā amaccaṃ vā ñātiṃ vā sālohitaṃ vāti – evampi piyāyitaṃ janaṃ.
“Even so a beloved person”: `Evaṃ` is for the accomplishment of the simile. “A beloved person” means a person held dear, whether a mother, a father, a brother, a sister, a son, a daughter, a friend, a minister, a maternal relative, or a paternal relative. This is the meaning of “even so a beloved person.”
Evampi piyāyitaṃ jananti (cũng vậy, người thân yêu). Evanti (cũng vậy) là sự hoàn thành của ví dụ. Piyāyitaṃ jananti (người thân yêu) có nghĩa là người được quý mến, hoặc là mẹ, hoặc là cha, hoặc là anh em trai, hoặc là chị em gái, hoặc là con trai, hoặc là con gái, hoặc là bạn bè, hoặc là quan chức, hoặc là bà con, hoặc là huyết thống – (đó là nghĩa của) evampi piyāyitaṃ janaṃ.
Petaṃ kālaṅkataṃ na passatīti. Peto vuccati mato. Kālaṅkataṃ na passati na dakkhati nādhigacchati na vindati na paṭilabhatīti – petaṃ kālaṅkataṃ na passati.
“Does not see the departed, the one who has passed away”: The dead are called the departed (`peta`). One does not see, does not behold, does not realize, does not find, does not obtain the one who has passed away. This is the meaning of “does not see the departed, the one who has passed away.”
Petaṃ kālaṅkataṃ na passatīti (không thấy người đã qua đời, đã mệnh chung). Peto (người đã qua đời) được gọi là mato (người đã chết). Kālaṅkataṃ na passati (không thấy người đã mệnh chung) có nghĩa là không thấy, không trông thấy, không đạt được, không tìm thấy, không nhận được – (đó là nghĩa của) petaṃ kālaṅkataṃ na passati.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Supinena yathāpi saṅgataṃ, paṭibuddho puriso na passati;
Evampi piyāyitaṃ janaṃ, petaṃ kālaṅkataṃ na passatī’’ti.
“Just as a person, having met someone in a dream, does not see them upon waking; even so, a beloved person, departed and passed away, is not seen.”
“Cũng như người thức dậy, không còn thấy điều đã gặp trong giấc mơ; cũng vậy, người ta không thấy được người thân yêu, đã qua đời, đã mệnh chung.”
43.
43.
43.
Diṭṭhāpi sutāpi te janā, yesaṃ nāmamidaṃ pavuccati;
Nāmaṃyevāvasissati, † akkheyyaṃ petassa jantuno.
Those people have been seen and heard, of whom this name is spoken; for the departed being, only the name to be spoken remains.
“Những người kia, dù đã được thấy, dù đã được nghe, là những người mà tên này được gọi lên; chỉ còn lại cái tên để được kể, của chúng sanh đã qua đời.”
Diṭṭhāpi sutāpi te janāti. Diṭṭhāti ye cakkhuviññāṇābhisambhūtā. Sutāti ye sotaviññāṇābhisambhūtā. Te janāti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā cāti – diṭṭhāpi sutāpi te janā.
“Those people have been seen and heard”: “Seen” means those who are cognized by eye-consciousness. “Heard” means those who are cognized by ear-consciousness. “Those people” means nobles, brahmins, merchants, commoners, householders, renunciants, devas, and humans. This is the meaning of “those people have been seen and heard.”
Diṭṭhāpi sutāpi te janāti (những người kia, dù đã được thấy, dù đã được nghe). Diṭṭhāti (đã được thấy) là những gì được tạo ra bởi nhãn thức. Sutāti (đã được nghe) là những gì được tạo ra bởi nhĩ thức. Te janāti (những người kia) là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người – (đó là nghĩa của) diṭṭhāpi sutāpi te janā.
Yesaṃ nāmamidaṃ pavuccatīti. Yesanti yesaṃ khattiyānaṃ brāhmaṇānaṃ vessānaṃ suddānaṃ gahaṭṭhānaṃ pabbajitānaṃ devānaṃ manussānaṃ. Nāmanti saṅkhā samaññā paññatti vohāro nāmaṃ nāmakammaṃ nāmadheyyaṃ nirutti byañjanaṃ abhilāpo. Pavuccatīti vuccati pavuccati kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyatīti – yesaṃ nāmamidaṃ pavuccati.
Regarding 'of whom this name is spoken': 'Of whom' refers to those nobles, brahmins, merchants, commoners, householders, renunciants, devas, and humans. 'Name' means reckoning, designation, concept, expression, name, nomenclature, appellation, etymology, that which manifests, and speech. 'Is spoken' means it is said, it is particularly spoken, it is told, it is recited, it is made clear, and it is expressed. This is the meaning of 'of whom this name is spoken'.
Yesaṃ nāmamidaṃ pavuccatīti (là những người mà tên này được gọi lên). Yesanti (là những người mà) có nghĩa là của các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. Nāmanti (tên) là sự đếm (saṅkhā), sự chỉ định (samaññā), khái niệm (paññatti), sự quy ước (vohāro), tên gọi (nāmaṃ), sự đặt tên (nāmakammaṃ), danh xưng (nāmadheyyaṃ), sự giải thích (nirutti), từ ngữ (byañjanaṃ), sự phát biểu (abhilāpo). Pavuccatīti (được gọi lên) có nghĩa là được nói, được phát biểu, được kể, được đọc, được giải thích, được sử dụng – (đó là nghĩa của) yesaṃ nāmamidaṃ pavuccati.
Nāmaṃyevāvasissati akkheyyanti. Rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ pahīyati jahīyati vijahīyati antaradhāyati vippalujjati, nāmaṃyevāvasissati. Akkheyyanti. Akkhātuṃ kathetuṃ bhaṇituṃ dīpayituṃ voharitunti – nāmaṃ evāvasissati akkheyyaṃ. Petassa jantunoti. Petassāti matassa kālaṅkatassa. Jantunoti sattassa narassa mānavassa posassa puggalassa jīvassa jāgussa jantussa indagussa manujassāti – petassa jantuno.
Regarding 'Only the name remains to be spoken': That which pertains to form, feeling, perception, formations, and consciousness is abandoned, given up, forsaken, disappears, and is destroyed; only the name remains. 'To be spoken' means for the purpose of telling, speaking, saying, making clear, or expressing. This is the meaning of 'only the name remains to be spoken'. Regarding 'of the departed being': 'Of the departed' means of the dead, of one who has passed away. 'Of a being' means of a creature, a person, a man, an individual, a living being, one who is born, a creature, one who goes by the faculties, or a human. This is the meaning of 'of the departed being'.
Nāmaṃyevāvasissati akkheyyanti (chỉ còn lại cái tên để được kể). Những gì thuộc về sắc, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức đều bị từ bỏ, bị bỏ lại, bị vứt bỏ, biến mất, tan rã; chỉ còn lại cái tên. Akkheyyanti (để được kể) có nghĩa là để tuyên bố, để nói, để đọc, để giải thích, để sử dụng – (đó là nghĩa của) nāmaṃ evāvasissati akkheyyaṃ. Petassa jantunoti (của chúng sanh đã qua đời). Petassāti (của người đã qua đời) có nghĩa là của người đã chết, của người đã mệnh chung. Jantunoti (của chúng sanh) có nghĩa là của hữu tình, của người, của nhân loại, của cá nhân, của con người, của sinh vật, của kẻ được sinh ra, của sinh vật, của kẻ đi bằng các căn, của con người – (đó là nghĩa của) petassa jantuno.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Diṭṭhāpi sutāpi te janā, yesaṃ nāmamidaṃ pavuccati;
Nāmaṃyevāvasissati, akkheyyaṃ petassa jantuno’’ti.
“Those people who were seen and heard, for whom this name is spoken; only the name remains, to be spoken of, for the departed being.”
“Những người kia, dù đã được thấy, dù đã được nghe, là những người mà tên này được gọi lên; chỉ còn lại cái tên để được kể, của chúng sanh đã qua đời.”
44.
44.
44.
Sokapparidevamaccharaṃ, na pajahanti giddhā mamāyite;
Tasmā munayo pariggahaṃ, hitvā acariṃsu khemadassino.
The greedy, attached to what they consider 'mine', do not abandon sorrow, lamentation, and stinginess. Therefore, the sages, seers of security, having abandoned possessions, went about their way.
“Những kẻ tham lam trong sự sở hữu, không từ bỏ sầu, bi, và keo kiệt; vì thế, các bậc ẩn sĩ, những người thấy được sự an ổn, đã từ bỏ sự chấp giữ mà sống phạm hạnh.”
Sokapparidevamaccharaṃ na pajahanti giddhā mamāyiteti. Sokoti ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko antodāho antoparidāho † cetaso parijjhāyanā domanassaṃ sokasallaṃ. Paridevoti ñātibyasanena vā phuṭṭhassa…pe… diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappāyanā lālappāyitattaṃ. Macchariyanti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ macchariyaṃ maccharāyanā maccharāyitattaṃ vevicchaṃ kadariyaṃ kaṭukañcukatā aggahitattaṃ cittassa – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Api ca khandhamacchariyampi macchariyaṃ, dhātumacchariyampi macchariyaṃ, āyatanamacchariyampi macchariyaṃ gāho – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca …pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Mamāyitaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi socanti, acchijjantepi socanti, acchinnepi socanti, mamāyitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi socanti, vipariṇāmantepi socanti, vipariṇatepi socanti, mamāyitaṃ vatthuṃ acchedasaṅkinopi paridevanti, acchijjantepi paridevanti, acchinnepi paridevanti. Mamāyitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṅkinopi paridevanti, vipariṇāmantepi paridevanti, vipariṇatepi paridevanti. Mamāyitaṃ vatthuṃ rakkhanti gopenti pariggaṇhanti mamāyanti maccharāyanti; mamāyitasmiṃ vatthusmiṃ sokaṃ na jahanti, paridevaṃ na jahanti, macchariyaṃ na jahanti, gedhaṃ na jahanti nappajahanti na vinodenti na byantiṃ karonti na anabhāvaṃ gamentīti – sokapparidevamaccharaṃ nappajahanti giddhā mamāyite.
“Greedy for what is held as ‘mine’, they do not abandon sorrow, lamentation, and stinginess.” Herein, sorrow is, for one afflicted by the destruction of relatives, or afflicted by the destruction of wealth, or afflicted by the destruction of health, or afflicted by the destruction of virtue, or afflicted by the destruction of right view; for one beset by some other kind of destruction, or for one afflicted by some other state of suffering: sorrow, the act of sorrowing, the state of sorrow, inner sorrow, inner anguish, inner burning, inner torment, the scorching of the mind, dejection, the dart of sorrow. Lamentation is, for one afflicted by the destruction of relatives… or afflicted by the destruction of right view; for one beset by some other kind of destruction, or for one afflicted by some other state of suffering: wailing, lamentation, the act of wailing, the act of lamenting, the state of one who wails, the state of one who laments, verbal prattle, incoherent speech, babbling, the act of babbling, and the state of one who babbles. Stinginess: there are five kinds of stinginess—stinginess regarding dwellings, stinginess regarding families, stinginess regarding gains, stinginess regarding beauty, and stinginess regarding the Dhamma. Whatever stinginess of this sort—being stingy, the state of being stingy, avarice, miserliness, a constricted mentality, the grasping nature of the mind—this is called stinginess. Furthermore, stinginess regarding the aggregates is also stinginess, stinginess regarding the elements is also stinginess, stinginess regarding the sense bases is also stinginess; this grasping is called stinginess. Greed is said to be craving. Whatever is passion, intense passion… covetousness, greed, an unwholesome root. ‘Mineness’: there are two kinds of ‘mineness’—‘mineness’ due to craving and ‘mineness’ due to views… This is ‘mineness’ due to craving… This is ‘mineness’ due to views. They sorrow over an object cherished as ‘mine’, fearing it may be seized; they sorrow while it is being seized; they sorrow when it has been seized. They sorrow over an object cherished as ‘mine’, fearing it may change; they sorrow while it is changing; they sorrow when it has changed. They lament over an object cherished as ‘mine’, fearing it may be seized; they lament while it is being seized; they lament when it has been seized. They lament over an object cherished as ‘mine’, fearing it may change; they lament while it is changing; they lament when it has changed. They guard, protect, take possession of, cherish as ‘mine’, and are stingy about an object cherished as ‘mine’. Regarding an object cherished as ‘mine’, they do not abandon sorrow, they do not abandon lamentation, they do not abandon stinginess, they do not abandon greed; they do not utterly abandon it, do not dispel it, do not bring it to an end, do not cause it to cease to be. Thus, “greedy for what is held as ‘mine’, they do not utterly abandon sorrow, lamentation, and stinginess.”
Sầu muộn, than khóc, và keo kiệt, họ không từ bỏ, những kẻ tham lam trong những thứ được yêu quý. Sầu muộn là: đối với người bị tác động bởi sự hoại diệt của bà con, hoặc bị tác động bởi sự hoại diệt của tài sản, hoặc bị tác động bởi sự hoại diệt của bệnh tật, hoặc bị tác động bởi sự hoại diệt của giới hạnh, hoặc bị tác động bởi sự hoại diệt của tri kiến, người đã gặp phải sự hoại diệt nào đó, người bị tác động bởi pháp khổ đau nào đó, (thì có) sự sầu muộn, sự than van, tình trạng sầu muộn, nỗi sầu bên trong, nỗi sầu thiêu đốt bên trong, sự nóng nảy bên trong, sự thiêu đốt bên trong, sự phiền muộn của tâm, sự khổ tâm, mũi tên sầu muộn. Than khóc là: đối với người bị tác động bởi sự hoại diệt của bà con... (như trên)... hoặc bị tác động bởi sự hoại diệt của tri kiến, người đã gặp phải sự hoại diệt nào đó, người bị tác động bởi pháp khổ đau nào đó, (thì có) sự than van, sự than khóc, hành động than van, hành động than khóc, tình trạng than van, tình trạng than khóc, lời nói, sự lảm nhảm, sự nói sai lạc, sự lặp đi lặp lại, hành động lặp đi lặp lại, tình trạng lặp đi lặp lại. Keo kiệt là: có năm sự keo kiệt – keo kiệt về trú xứ, keo kiệt về gia đình, keo kiệt về lợi lộc, keo kiệt về sắc đẹp, keo kiệt về Pháp. Sự keo kiệt như vậy, hành động keo kiệt, tình trạng keo kiệt, sự ích kỷ, sự bần tiện, sự co rúm của tâm – đây được gọi là keo kiệt. Hơn nữa, keo kiệt về uẩn cũng là keo kiệt, keo kiệt về giới cũng là keo kiệt, keo kiệt về xứ cũng là keo kiệt, sự chấp thủ – đây được gọi là keo kiệt. Tham ái được gọi là ái. Đó là tham, tham luyến mạnh... (như trên)... sự tham lam, tham, cội rễ bất thiện. Sở hữu của tôi là: có hai loại sở hữu của tôi – sở hữu của tôi do ái và sở hữu của tôi do tà kiến... (như trên)... đây là sở hữu của tôi do ái... (như trên)... đây là sở hữu của tôi do tà kiến. Đối với vật được yêu quý, họ sầu muộn cả khi lo sợ bị tước đoạt, sầu muộn cả khi đang bị tước đoạt, sầu muộn cả khi đã bị tước đoạt; đối với vật được yêu quý, họ sầu muộn cả khi lo sợ sự biến đổi, sầu muộn cả khi đang biến đổi, sầu muộn cả khi đã biến đổi; đối với vật được yêu quý, họ than khóc cả khi lo sợ bị tước đoạt, than khóc cả khi đang bị tước đoạt, than khóc cả khi đã bị tước đoạt. Đối với vật được yêu quý, họ than khóc cả khi lo sợ sự biến đổi, than khóc cả khi đang biến đổi, than khóc cả khi đã biến đổi. Họ bảo vệ, giữ gìn, chiếm hữu, xem là 'của tôi', và keo kiệt về vật được yêu quý; đối với vật được yêu quý, họ không từ bỏ sầu muộn, không từ bỏ than khóc, không từ bỏ keo kiệt, không từ bỏ tham ái, không hoàn toàn từ bỏ, không xua tan, không chấm dứt, không đưa đến chỗ không còn hiện hữu – (đó là ý nghĩa của) 'sầu muộn, than khóc, và keo kiệt, họ không từ bỏ, những kẻ tham lam trong những thứ được yêu quý'.
Tasmā munayo pariggahaṃ, hitvā acariṃsu khemadassinoti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā etaṃ ādīnavaṃ sampassamānā mamattesūti – tasmā. Munayoti monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Tena ñāṇena samannāgatā munayo monappattā. Tīṇi moneyyāni – kāyamoneyyaṃ, vacīmoneyyaṃ, manomoneyyaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Pariggahoti dve pariggahā – taṇhāpariggaho ca diṭṭhipariggaho ca…pe… ayaṃ taṇhāpariggaho…pe… ayaṃ diṭṭhipariggaho. Munayo taṇhāpariggahaṃ pariccajitvā diṭṭhipariggahaṃ paṭinissajjitvā cajitvā pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā acariṃsu vihariṃsu iriyiṃsu vattiṃsu pāliṃsu yapiṃsu yāpiṃsu. Khemadassinoti khemaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Khemadassinoti khemadassino tāṇadassino leṇadassino saraṇadassino abhayadassino accutadassino amatadassino nibbānadassinoti – tasmā munayo pariggahaṃ hitvā acariṃsu khemadassino.
“Therefore, the sages, having abandoned grasping, practiced as seers of the secure state.” Herein: `Tasmā` (Therefore) means: for that reason, on that account, from that cause, from that ground, seeing this danger in things held as 'mine'—thus, `tasmā`. `Munayo` (sages): `mona` is said to be knowledge. That which is wisdom, understanding... non-delusion, investigation of the Dhamma, right view. Those endowed with that knowledge are `munayo`, sages, who have attained sagehood. There are three sagely practices: sagely practice of body, sagely practice of speech, sagely practice of mind... Having overcome the net of attachments, that one is a sage. `Pariggahaṃ` (grasping): there are two kinds of grasping—grasping through craving and grasping through views... this is grasping through craving... this is grasping through views. The `munayo` (sages), having abandoned grasping through craving, having relinquished grasping through views—having given it up, forsaken it, dispelled it, annihilated it, and brought it to non-existence—practiced, dwelt, moved, conducted themselves, maintained themselves, sustained themselves, and caused themselves to be sustained. `Khemadassino` (seers of the secure state): the secure state (`khema`) is said to be the deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all conditioned things, the relinquishing of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. `Khemadassino` means: seers of the secure state, seers of the shelter, seers of the refuge, seers of the sanctuary, seers of the fearless state, seers of the unperishing, seers of the deathless, seers of Nibbāna. Thus is the meaning of “Therefore, the sages, having abandoned grasping, practiced as seers of the secure state.”
Do đó, các bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự chấp thủ, đã sống như những người thấy được sự an ổn. Do đó là: do đó, vì nguyên nhân ấy, vì lý do ấy, vì duyên ấy, vì nguồn cội ấy, trong khi thấy rõ sự nguy hại này ở những thứ được xem là 'của tôi' – (nên nói) do đó. Các bậc ẩn sĩ là: trí được gọi là sự ẩn tu. Đó là tuệ, sự hiểu biết... (như trên)... sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến. Những người được phú bẩm trí tuệ ấy là các bậc ẩn sĩ, đã đạt đến sự ẩn tu. Có ba sự ẩn tu – thân ẩn tu, khẩu ẩn tu, ý ẩn tu... (như trên)... vị ẩn sĩ ấy vượt qua lưới ái trước. Sự chấp thủ là: có hai loại chấp thủ – chấp thủ do ái và chấp thủ do tà kiến... (như trên)... đây là chấp thủ do ái... (như trên)... đây là chấp thủ do tà kiến. Các bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự chấp thủ do ái, sau khi xả ly sự chấp thủ do tà kiến, sau khi vứt bỏ, từ bỏ, xua tan, chấm dứt, đưa đến chỗ không còn hiện hữu, đã sống, đã trú, đã đi đứng, đã hành xử, đã duy trì, đã bảo tồn, đã nuôi mạng. Những người thấy được sự an ổn là: sự an ổn được gọi là bất tử, Niết-bàn. Đó là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự xả ly tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự diệt, Niết-bàn. Những người thấy được sự an ổn là: những người thấy được sự an ổn, những người thấy được nơi nương tựa, những người thấy được nơi ẩn náu, những người thấy được nơi quy y, những người thấy được sự vô úy, những người thấy được sự bất biến, những người thấy được sự bất tử, những người thấy được Niết-bàn – (đó là ý nghĩa của) 'do đó, các bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự chấp thủ, đã sống như những người thấy được sự an ổn'.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Sokapparidevamaccharaṃ, na jahanti giddhā mamāyite;
Tasmā munayo pariggahaṃ, hitvā acariṃsu khemadassino’’ti.
“Those who are greedy for what is ‘mine’ do not abandon sorrow, lamentation, and stinginess; therefore, the sages, seers of the secure state, wandered, having abandoned grasping.”
‘Sầu muộn, than khóc, và keo kiệt, họ không từ bỏ, những kẻ tham lam trong những thứ được yêu quý; Do đó, các bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự chấp thủ, đã sống như những người thấy được sự an ổn.’
45.
45.
45.
Patilīnacarassa bhikkhuno, bhajamānassa vivittamāsanaṃ;
Sāmaggiyamāhu tassa taṃ, yo attānaṃ bhavane na dassaye.
For a monk of withdrawn conduct, who frequents a solitary abode, they call this his harmony: that he does not reveal himself in any state of becoming.
Đối với vị tỳ khưu sống thu thúc, người thường lui tới chỗ ngồi vắng vẻ; họ nói rằng điều đó là thích hợp cho vị ấy, người không thể hiện bản thân trong các cõi hữu.
Patilīnacarassa bhikkhunoti. Patilīnacarā vuccanti satta sekkhā †. Arahā patilīno. Kiṃkāraṇā patilīnacarā vuccanti satta sekkhā? Te tato tato cittaṃ patilīnentā patikuṭentā pativaṭṭentā sanniruddhantā † sanniggaṇhantā sannivārentā rakkhantā gopentā caranti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti, cakkhudvāre cittaṃ patilīnentā patikuṭentā pativaṭṭentā sanniruddhantā sanniggaṇhantā sannivārentā rakkhantā gopentā caranti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti, sotadvāre cittaṃ…pe… ghānadvāre cittaṃ… jivhādvāre cittaṃ… kāyadvāre cittaṃ… manodvāre cittaṃ patilīnentā patikuṭentā pativaṭṭentā sanniruddhantā sanniggaṇhantā sannivārentā rakkhantā gopentā caranti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti. Yathā kukkuṭapattaṃ vā nhārudaddulaṃ vā aggimhi pakkhittaṃ patilīyati patikuṭati pativaṭṭati na sampasāriyati; evameva tato tato cittaṃ patilīnentā patikuṭentā pativaṭṭentā sanniruddhantā sanniggaṇhantā sannivārentā rakkhantā gopentā caranti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti, cakkhudvāre cittaṃ…pe… sotadvāre cittaṃ… ghānadvāre cittaṃ… jivhādvāre cittaṃ… kāyadvāre cittaṃ… manodvāre cittaṃ patilīnentā patikuṭentā pativaṭṭentā sanniruddhantā sanniggaṇhantā sannivārentā rakkhantā gopentā caranti vicaranti viharanti iriyanti vattenti pālenti yapenti yāpenti. Taṃkāraṇā patilīnacarā vuccanti satta sekkhā. Bhikkhunoti puthujjanakalyāṇakassa vā bhikkhuno sekkhassa vā bhikkhunoti – patilīnacarassa bhikkhuno.
Of the monk with withdrawn conduct. The seven trainees are called 'those of withdrawn conduct.' An Arahant is withdrawn. For what reason are the seven trainees called 'those of withdrawn conduct'? They withdraw, shrink back, roll up, restrain, control, ward off, guard, and protect their minds from this and that as they fare, move about, dwell, maintain their posture, carry on, protect, sustain themselves, and keep themselves going; at the eye-door, they withdraw, shrink back, roll up, restrain, control, ward off, guard, and protect their minds as they fare, move about, dwell, maintain their posture, carry on, protect, sustain themselves, and keep themselves going; and similarly at the ear-door, at the nose-door, at the tongue-door, at the body-door, and at the mind-door, they withdraw, shrink back, roll up, restrain, control, ward off, guard, and protect their minds as they fare, move about, dwell, maintain their posture, carry on, protect, sustain themselves, and keep themselves going. Just as a chicken's feather or a strip of sinew thrown into a fire shrinks, curls up, and rolls up, and does not spread out; just so, they withdraw, shrink back, roll up, restrain, control, ward off, guard, and protect their minds from this and that as they fare, move about, dwell, maintain their posture, carry on, protect, sustain themselves, and keep themselves going; and similarly at the eye-door, at the ear-door, at the nose-door, at the tongue-door, at the body-door, and at the mind-door, they withdraw, shrink back, roll up, restrain, control, ward off, guard, and protect their minds as they fare, move about, dwell, maintain their posture, carry on, protect, sustain themselves, and keep themselves going. For this reason the seven trainees are called 'those of withdrawn conduct.' As for 'of a monk,' it refers to a monk who is a virtuous worldling or a monk who is a trainee—that is, of the monk with withdrawn conduct.
Về vị tỳ khưu có hạnh co rút. Bảy vị hữu học được gọi là người có hạnh co rút. Vị A-la-hán là người co rút. Vì lý do gì bảy vị hữu học được gọi là người có hạnh co rút? Các vị ấy đi, đi lại, trú, duy trì oai nghi, vận hành, bảo tồn, nuôi mạng, sống còn trong khi co rút, cuộn lại, gói lại, chế ngự, kiềm chế, ngăn ngừa, hộ trì, gìn giữ tâm khỏi các đối tượng này hay đối tượng khác; trong khi co rút, cuộn lại, gói lại, chế ngự, kiềm chế, ngăn ngừa, hộ trì, gìn giữ tâm ở nhãn môn, các vị ấy đi, đi lại, trú, duy trì oai nghi, vận hành, bảo tồn, nuôi mạng, sống còn; trong khi ... tâm ở nhĩ môn ... vân vân ... trong khi ... tâm ở tỷ môn ... trong khi ... tâm ở thiệt môn ... trong khi ... tâm ở thân môn ... trong khi co rút, cuộn lại, gói lại, chế ngự, kiềm chế, ngăn ngừa, hộ trì, gìn giữ tâm ở ý môn, các vị ấy đi, đi lại, trú, duy trì oai nghi, vận hành, bảo tồn, nuôi mạng, sống còn. Giống như lông gà hay miếng gân được ném vào lửa thì co lại, cuộn lại, quăn lại, không duỗi ra; cũng vậy, các vị ấy đi, đi lại, trú, duy trì oai nghi, vận hành, bảo tồn, nuôi mạng, sống còn trong khi co rút, cuộn lại, gói lại, chế ngự, kiềm chế, ngăn ngừa, hộ trì, gìn giữ tâm khỏi các đối tượng này hay đối tượng khác; trong khi ... tâm ở nhãn môn ... vân vân ... trong khi ... tâm ở nhĩ môn ... trong khi ... tâm ở tỷ môn ... trong khi ... tâm ở thiệt môn ... trong khi ... tâm ở thân môn ... trong khi co rút, cuộn lại, gói lại, chế ngự, kiềm chế, ngăn ngừa, hộ trì, gìn giữ tâm ở ý môn, các vị ấy đi, đi lại, trú, duy trì oai nghi, vận hành, bảo tồn, nuôi mạng, sống còn. Vì lý do đó, bảy vị hữu học được gọi là người có hạnh co rút. Về vị tỳ khưu: là về vị tỳ khưu phàm phu thiện hoặc vị tỳ khưu hữu học – (đây là ý nghĩa của) về vị tỳ khưu có hạnh co rút.
Bhajamānassa vivittamāsananti āsanaṃ vuccati yattha nisīdanti – mañco pīṭhaṃ bhisi taṭṭikā cammakhaṇḍo tiṇasanthāro paṇṇasanthāro palālasanthāro. Taṃ āsanaṃ asappāyarūpadassanena rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ, asappāyasaddassavanena rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ, asappāyagandhaghāyanena… asappāyarasasāyanena… asappāyaphoṭṭhabbaphusanena… asappāyehi pañcahi kāmaguṇehi rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ. Taṃ vivittaṃ āsanaṃ bhajato sambhajato sevato nisevato saṃsevato paṭisevatoti – bhajamānassa vivittamāsanaṃ.
For one who frequents a secluded seat: 'Seat' refers to a place where one sits—a bed, a chair, a cushion, a mat, a piece of hide, a grass spread, a leaf spread, or a straw spread. That seat is empty, secluded, and remote from the sight of disagreeable forms, from the sound of disagreeable sounds, from the smell of disagreeable odors, from the taste of disagreeable flavors, from the touch of disagreeable tactile objects, and from the five disagreeable strands of sensual pleasure. For one who resorts to, frequents, cultivates, dwells in, constantly cultivates, or intimately cultivates that secluded seat—this is the meaning of 'for one who frequents a secluded seat.'
Về người đang thân cận chỗ ngồi thanh vắng. Chỗ ngồi được gọi là nơi người ta ngồi – giường, ghế, nệm, chiếu, miếng da, tấm lót cỏ, tấm lót lá, tấm lót rơm. Chỗ ngồi ấy trống rỗng, tách biệt, hoàn toàn tách biệt khỏi việc thấy các sắc không thích hợp; trống rỗng, tách biệt, hoàn toàn tách biệt khỏi việc nghe các tiếng không thích hợp; ... khỏi việc ngửi các mùi không thích hợp; ... khỏi việc nếm các vị không thích hợp; ... khỏi việc xúc chạm các vật xúc chạm không thích hợp; trống rỗng, tách biệt, hoàn toàn tách biệt khỏi năm dục trưởng dưỡng không thích hợp. Đối với người đang thân cận, đang khéo thân cận, đang phục vụ, đang thường xuyên phục vụ, đang khéo phục vụ, đang phục vụ lặp đi lặp lại chỗ ngồi thanh vắng ấy – (đây là ý nghĩa của) về người đang thân cận chỗ ngồi thanh vắng.
Sāmaggiyamāhu tassa taṃ, yo attānaṃ bhavane na dassayeti. Sāmaggiyoti tisso sāmaggiyo – gaṇasāmaggī, dhammasāmaggī, anabhinibbattisāmaggī. Katamā gaṇasāmaggī? Bahu cepi bhikkhū samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṃ piyacakkhūhi sampassantā viharanti – ayaṃ gaṇasāmaggī. Katamā dhammasāmaggī? Cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Te ekato pakkhandanti pasīdanti sampatiṭṭhanti vimuccanti; na tesaṃ dhammānaṃ vivādo pavivādo atthi – ayaṃ dhammasāmaggī. Katamā anabhinibbattisāmaggī? Bahu cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti; na tesaṃ nibbānadhātuyā † ūnattaṃ vā puṇṇattaṃ vā paññāyati – ayaṃ anabhinibbattisāmaggī. Bhavaneti nerayikānaṃ nirayo bhavanaṃ, tiracchānayonikānaṃ tiracchānayoni bhavanaṃ, pettivisayikānaṃ pettivisayo bhavanaṃ, manussānaṃ manussaloko bhavanaṃ, devānaṃ devaloko bhavananti. Sāmaggiyamāhu tassa taṃ, yo attānaṃ bhavane na dassayeti. Tassesā sāmaggī etaṃ channaṃ etaṃ patirūpaṃ etaṃ anucchavikaṃ etaṃ anulomaṃ, yo evaṃ paṭicchanne niraye attānaṃ na dasseyya, tiracchānayoniyaṃ attānaṃ na dasseyya, pettivisaye attānaṃ na dasseyya, manussaloke attānaṃ na dasseyya, devaloke attānaṃ na dasseyyāti evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – sāmaggiyamāhu tassa taṃ, yo attānaṃ bhavane na dassaye.
They speak of harmony for one who does not manifest oneself in any state of existence. As for 'harmony,' there are three kinds of harmony: harmony of the community, harmony of the Dhamma, and harmony of non-becoming. What is harmony of the community? When many bhikkhus dwell together in concord, in mutual appreciation, without dispute, blending like milk and water, regarding one another with loving eyes—this is harmony of the community. What is harmony of the Dhamma? The four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five strengths, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path. These converge on one object, become clear, are well-established, and are released; there is no dispute or contention among these dhammas—this is harmony of the Dhamma. What is harmony of non-becoming? When many bhikkhus attain final Nibbāna with the Nibbāna-element that has no residue remaining, no deficiency or fullness is discerned in that Nibbāna-element—this is harmony of non-becoming. As for 'state of existence' (bhavana): for hell-beings, hell is their state of existence; for those in the animal realm, the animal realm is their state of existence; for those in the sphere of hungry ghosts, the sphere of hungry ghosts is their state of existence; for humans, the human world is their state of existence; for devas, the deva world is their state of existence. They speak of harmony for one who does not manifest oneself in any state of existence. For such a one, this is harmony, this is fitting, this is suitable, this is appropriate, this is in conformity: that one would not manifest oneself in the hidden hell, would not manifest oneself in the animal realm, would not manifest oneself in the sphere of hungry ghosts, would not manifest oneself in the human world, would not manifest oneself in the deva world. Thus they have declared, thus they teach, thus they recite, thus they illuminate, thus they designate it: 'They speak of harmony for one who does not manifest oneself in any state of existence.'
Họ nói rằng đó là sự hòa hợp của vị ấy, người không thể hiện mình trong các cõi. Về sự hòa hợp: có ba sự hòa hợp – hòa hợp Tăng chúng, hòa hợp Pháp, hòa hợp của sự không tái sanh. Hòa hợp Tăng chúng là gì? Khi nhiều vị tỳ khưu sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa với nước, nhìn nhau với ánh mắt thân thương – đây là hòa hợp Tăng chúng. Hòa hợp Pháp là gì? Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành. Các pháp ấy cùng nhau đi vào, lắng trong, an trú, giải thoát; không có sự mâu thuẫn hay tranh cãi giữa các pháp ấy – đây là hòa hợp Pháp. Hòa hợp của sự không tái sanh là gì? Khi nhiều vị tỳ khưu nhập Vô dư y Niết-bàn giới; không nhận thấy có sự vơi đi hay đầy lên của Niết-bàn giới ấy – đây là hòa hợp của sự không tái sanh. Về các cõi: đối với chúng sanh địa ngục, địa ngục là cõi; đối với loài súc sanh, cảnh giới súc sanh là cõi; đối với loài ngạ quỷ, cảnh giới ngạ quỷ là cõi; đối với loài người, cõi người là cõi; đối với chư thiên, cõi trời là cõi. Họ nói rằng đó là sự hòa hợp của vị ấy, người không thể hiện mình trong các cõi: Đối với vị ấy, đây là sự hòa hợp, điều này là thích hợp, điều này là tương xứng, điều này là xứng đáng, điều này là thuận theo, đối với người không thể hiện mình trong địa ngục bị che giấu, không thể hiện mình trong cảnh giới súc sanh, không thể hiện mình trong cảnh giới ngạ quỷ, không thể hiện mình trong cõi người, không thể hiện mình trong cõi trời. Như vậy họ nói, như vậy họ trình bày, như vậy họ tuyên bố, như vậy họ làm sáng tỏ, như vậy họ gọi – (đây là ý nghĩa của) họ nói rằng đó là sự hòa hợp của vị ấy, người không thể hiện mình trong các cõi.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Patilīnacarassa bhikkhuno, bhajamānassa vivittamāsanaṃ;
Sāmaggiyamāhu tassa taṃ, yo attānaṃ bhavane na dassaye’’ti.
For the bhikkhu of withdrawn conduct, who frequents a secluded seat, they speak of harmony; for him who does not manifest himself in any state of existence.
‘Đối với vị tỳ khưu có hạnh co rút, đang thân cận chỗ ngồi thanh vắng; họ nói rằng đó là sự hòa hợp của vị ấy, người không thể hiện mình trong các cõi.’
46.
46.
46.
Sabbattha munī anissito, na piyaṃ kubbati nopi appiyaṃ;
Tasmiṃ paridevamaccharaṃ, paṇṇe vāri yathā na limpati.
The sage is unattached everywhere; he makes nothing dear nor undear. Lamentation and avarice do not adhere to him, just as water does not cling to a lotus leaf.
Vị ẩn sĩ không nương tựa ở khắp mọi nơi, không tạo ra điều ưa thích, cũng không điều không ưa thích. Nơi vị ấy, sầu muộn và keo kiệt không dính mắc, như nước trên lá sen.
Sabbattha munī anissitoti. Sabbaṃ vuccati dvādasāyatanāni – cakkhuñceva rūpā ca, sotañca saddā ca, ghānañca gandhā ca, jivhā ca rasā ca, kāyo ca phoṭṭhabbā ca, mano ca dhammā ca. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Anissitoti. Dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Muni taṇhānissayaṃ pahāya diṭṭhinissayaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ anissito sotaṃ anissito ghānaṃ anissito jivhaṃ anissito kāyaṃ anissito manaṃ anissito rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… dhamme… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ … nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhaṃ… sutaṃ… mutaṃ… viññātaṃ… sabbe dhamme anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – sabbattha muni anissito.
In the explanation of 'Everywhere the sage is unattached': 'All' is said of the twelve sense bases—the eye and forms, the ear and sounds, the nose and odors, the tongue and tastes, the body and tangibles, the mind and mental objects. As for 'sage,' knowledge is called 'mona'... having transcended the net of attachment, he is a sage. As for 'unattached,' there are two kinds of dependence: dependence on craving and dependence on views... The sage, having abandoned dependence on craving and relinquished dependence on views, is unattached to the eye, unattached to the ear, unattached to the nose, unattached to the tongue, unattached to the body, unattached to the mind; unattached to forms, sounds, odors, tastes, tangibles, mental objects; unattached to family, group, dwelling, gain, fame, praise, pleasure, robes, almsfood, lodging, medicinal requisites and supplies; unattached to the sensual realm, the form realm, the formless realm; unattached to sensual existence, form existence, formless existence, existence with perception, existence without perception, existence with neither perception nor non-perception, existence with one constituent, existence with four constituents, existence with five constituents; unattached to the past, the future, the present, the seen, the heard, the sensed, the cognized. He is unattached to all phenomena, not clinging, not approaching, not adhering, not fixated, released, detached, completely freed, disjoined, and dwells with a mind without limits. Thus, 'everywhere the sage is unattached.'
Về ‘Vị ẩn sĩ không nương tựa vào bất cứ đâu’. ‘Tất cả’ được gọi là mười hai xứ – mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và các vật xúc chạm, ý và các pháp. Về ‘vị ẩn sĩ’: Trí tuệ được gọi là sự tĩnh lặng... (v.v.)... vượt qua mạng lưới của sự dính mắc, vị ấy là ẩn sĩ. Về ‘không nương tựa’: Có hai sự nương tựa – sự nương tựa vào ái và sự nương tựa vào tà kiến... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào ái... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Vị ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự nương tựa vào ái, sau khi vứt bỏ sự nương tựa vào tà kiến, vị ấy không nương tựa vào mắt, không nương tựa vào tai, không nương tựa vào mũi, không nương tựa vào lưỡi, không nương tựa vào thân, không nương tựa vào ý, không nương tựa vào các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm... các pháp... gia tộc... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... tán dương... lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... cõi Dục... cõi Sắc... cõi Vô Sắc... Dục hữu... Sắc hữu... Vô Sắc hữu... Tưởng hữu... Vô Tưởng hữu... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng hữu... Nhất Uẩn hữu... Tứ Uẩn hữu... Ngũ Uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... cái được thấy... cái được nghe... cái được cảm nhận... cái được nhận thức... không nương tựa vào tất cả các pháp, không dính mắc, không đi đến, không bị chi phối, không quyết tâm theo, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, sống với tâm không có giới hạn. Như vậy là ý nghĩa của ‘vị ẩn sĩ không nương tựa vào bất cứ đâu’.
Na piyaṃ kubbati nopi appiyanti. Piyāti dve piyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā piyā? Idha yassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā puttā vā dhītarā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā – ime sattā piyā. Katame saṅkhārā piyā? Manāpikā rūpā manāpikā saddā manāpikā gandhā manāpikā rasā manāpikā phoṭṭhabbā – ime saṅkhārā piyā. Appiyāti dve appiyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā appiyā? Idha yassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukāmā ayogakkhemakāmā jīvitā voropetukāmā – ime sattā appiyā. Katame saṅkhārā appiyā? Amanāpikā rūpā amanāpikā saddā amanāpikā gandhā amanāpikā rasā amanāpikā phoṭṭhabbā – ime saṅkhārā appiyā. Na piyaṃ kubbati nopi appiyanti. ‘‘Ayaṃ me satto piyo, ime ca saṅkhārā manāpā’’ti rāgavasena piyaṃ na karoti; ‘‘ayaṃ me satto appiyo, ime ca saṅkhārā amanāpā’’ti paṭighavasena appiyaṃ na karoti na janeti na sañjaneti na nibbatteti nābhinibbattetīti – na piyaṃ kubbati nopi appiyaṃ.
He makes nothing dear nor undear. 'Dear' refers to two kinds: beings or conditioned things. Which beings are dear? In this case, those who wish for one’s welfare, benefit, comfort, and security from the yokes—mother, father, brother, sister, son, daughter, friends, advisors, relatives, or kin—these beings are dear. Which conditioned things are dear? Agreeable forms, sounds, odors, tastes, and tactile objects—these conditioned things are dear. 'Undear' refers to two kinds: beings or conditioned things. Which beings are undear? In this case, those who wish for one’s harm, non-benefit, discomfort, and insecurity from the yokes, and who desire to deprive one of life—these beings are undear. Which conditioned things are undear? Disagreeable forms, sounds, odors, tastes, and tactile objects—these conditioned things are undear. He makes nothing dear nor undear. Thinking, 'This being is dear to me, and these conditioned things are agreeable,' he does not make them dear out of lust. Thinking, 'This being is undear to me, and these conditioned things are disagreeable,' he does not make them undear out of aversion; he does not produce, generate, bring into being, or cause them to arise. Thus, 'he makes nothing dear nor undear.'
Về ‘Không tạo ra điều khả ái cũng không tạo ra điều không khả ái’. Về ‘khả ái’: có hai thứ khả ái – chúng sanh hoặc các pháp hữu vi. Những chúng sanh nào là khả ái? Ở đây, đối với người nào đó, có những người mong cầu lợi ích, mong cầu hạnh phúc, mong cầu sự an ổn, mong cầu sự an toàn khỏi các ách phược, là mẹ, cha, anh, chị, em gái, con trai, con gái, bạn bè, quan chức, bà con, hoặc huyết thống – những chúng sanh này là khả ái. Những pháp hữu vi nào là khả ái? Các sắc khả ý, các tiếng khả ý, các mùi khả ý, các vị khả ý, các vật xúc chạm khả ý – những pháp hữu vi này là khả ái. Về ‘không khả ái’: có hai thứ không khả ái – chúng sanh hoặc các pháp hữu vi. Những chúng sanh nào là không khả ái? Ở đây, đối với người nào đó, có những người mong cầu điều bất lợi, mong cầu điều không hạnh phúc, mong cầu sự không an ổn, mong cầu sự không an toàn khỏi các ách phược, mong muốn tước đoạt mạng sống – những chúng sanh này là không khả ái. Những pháp hữu vi nào là không khả ái? Các sắc không khả ý, các tiếng không khả ý, các mùi không khả ý, các vị không khả ý, các vật xúc chạm không khả ý – những pháp hữu vi này là không khả ái. Về ‘Không tạo ra điều khả ái cũng không tạo ra điều không khả ái’: Vị ấy không tạo ra điều khả ái do tham ái rằng: ‘Chúng sanh này đối với ta là khả ái, và những pháp hữu vi này là khả ý’; vị ấy không tạo ra điều không khả ái do sân hận rằng: ‘Chúng sanh này đối với ta là không khả ái, và những pháp hữu vi này là không khả ý’, không làm cho sanh khởi, không làm cho phát sanh, không làm cho hiện hữu, không làm cho đặc biệt hiện hữu. Như vậy là ý nghĩa của ‘không tạo ra điều khả ái cũng không tạo ra điều không khả ái’.
Tasmiṃ paridevamaccharaṃ paṇṇe vāri yathā na limpatīti. Tasminti tasmiṃ puggale arahante khīṇāsave. Paridevoti ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappāyanā lālappāyitattaṃ. Macchariyanti pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ macchariyaṃ maccharāyanā maccharāyitattaṃ vevicchaṃ kadariyaṃ kaṭukañcukatā aggahitattaṃ cittassa – idaṃ vuccati macchariyaṃ. Api ca khandhamacchariyampi macchariyaṃ, dhātumacchariyampi macchariyaṃ, āyatanamacchariyampi macchariyaṃ gāho – idaṃ vuccati macchariyaṃ.
In him, lamentation and stinginess do not cling, like water on a leaf. Herein, 'In him' means in that person, the Arahant, one whose cankers are destroyed. 'Lamentation' means, for one who is afflicted by the loss of relatives, or afflicted by the loss of wealth, or afflicted by the loss of health, or afflicted by the loss of virtue, or afflicted by the loss of right view, who is endowed with some or other misfortune, afflicted by some or other state of suffering: wailing, lamenting, the act of wailing, the act of lamenting, the state of being a wailer, the state of being a lamenter, speech, babble, incoherent talk, prattle, the act of prattling, the state of being a prattler. 'Stinginess' means the five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings, stinginess regarding families, stinginess regarding gains, stinginess regarding appearance, and stinginess regarding the Dhamma. Whatever stinginess of this sort—the act of being stingy, the state of being stingy, selfishness, niggardliness, reluctance to give, the ungenerous state of the mind—this is called stinginess. Furthermore, stinginess regarding the aggregates is also stinginess; stinginess regarding the elements is also stinginess; stinginess regarding the sense bases is also stinginess, a grasping—this is called stinginess.
Về ‘Nơi vị ấy, sầu muộn và keo kiệt không bám dính, như nước trên lá sen’. ‘Nơi vị ấy’ nghĩa là nơi cá nhân ấy, vị A-la-hán, bậc Lậu Tận. Về ‘sầu muộn’: đối với người bị tác động bởi sự mất mát bà con, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tài sản, hoặc bị tác động bởi sự mất mát do bệnh tật, hoặc bị tác động bởi sự mất mát giới hạnh, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tri kiến, người bị vướng vào một tai họa nào đó, người bị tác động bởi một pháp khổ nào đó, thì có sự than van, sầu muộn, hành động than van, hành động sầu muộn, trạng thái than van, trạng thái sầu muộn, lời nói, lời lảm nhảm, lời nói sai lạc, lời than khóc, hành động than khóc, trạng thái than khóc. Về ‘keo kiệt’: có năm loại keo kiệt – keo kiệt về trú xứ, keo kiệt về gia tộc, keo kiệt về lợi lộc, keo kiệt về dung sắc, keo kiệt về Pháp. Bất cứ sự keo kiệt nào như vậy, hành động keo kiệt, trạng thái keo kiệt, sự bủn xỉn, sự bần tiện, sự cau có, trạng thái không hoan hỷ của tâm – đây được gọi là keo kiệt. Hơn nữa, keo kiệt về các uẩn cũng là keo kiệt, keo kiệt về các giới cũng là keo kiệt, keo kiệt về các xứ cũng là keo kiệt, là sự chấp thủ – đây được gọi là keo kiệt.
Paṇṇe vāri yathā na limpatīti. Paṇṇaṃ vuccati padumapattaṃ. Vāri vuccati udakaṃ. Yathā vāri padumapattaṃ na limpati na palimpati na upalimpati alittaṃ apalittaṃ anupalittaṃ, evameva tasmiṃ puggale arahante khīṇāsave paridevo macchariyañca na limpati na palimpati na upalimpati alittā apalittā anupalittā. So ca puggalo arahanto tehi kilesehi na limpati na palimpati na upalimpati alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – tasmiṃ paridevamaccharaṃ paṇṇe vāri yathā na limpati.
Like water on a leaf does not cling. 'Leaf' (paṇṇa) is said of a lotus leaf. 'Water' (vāri) is said of water. Just as water does not cling to, is not smeared on, and is not sullied on a lotus leaf—it is unclung, unsmeared, and unsullied—even so, in that person, the Arahant, one whose cankers are destroyed, lamentation and stinginess do not cling, are not smeared, and are not sullied; they are unclung, unsmeared, and unsullied. And that person, the Arahant, is not smeared by those defilements, not besmeared by them, not sullied by them; he is unsmeared, unbesmeared, unsullied, departed, cast off, well released, disjoined; he dwells with a mind without boundaries. This is the meaning of the passage: 'In him, lamentation and stinginess do not cling, like water on a leaf.'
Về ‘Như nước trên lá sen không bám dính’. Lá sen được gọi là ‘lá’ (paṇṇa). Nước được gọi là ‘nước’ (vāri). Giống như nước không dính, không bám, không vấy bẩn lá sen, không bị dính, không bị bám, không bị vấy bẩn; cũng vậy, nơi cá nhân ấy, vị A-la-hán, bậc Lậu Tận, sầu muộn và keo kiệt không dính, không bám, không vấy bẩn, không bị dính, không bị bám, không bị vấy bẩn. Và cá nhân ấy, vị A-la-hán, không bị dính, không bị bám, không bị vấy bẩn bởi những phiền não ấy, không bị dính, không bị bám, không bị vấy bẩn, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, sống với tâm không có giới hạn. Như vậy là ý nghĩa của ‘nơi vị ấy, sầu muộn và keo kiệt không bám dính, như nước trên lá sen’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sabbattha munī anissito, na piyaṃ kubbati nopi appiyaṃ;
Tasmiṃ paridevamaccharaṃ, paṇṇe vāri yathā na limpatī’’ti.
“Everywhere the sage is unattached; he makes nothing dear nor undear. In him, lamentation and stinginess do not cling, just as water does not cling to a leaf.”
“Vị ẩn sĩ không nương tựa vào bất cứ đâu, không tạo ra điều khả ái cũng không tạo ra điều không khả ái; nơi vị ấy, sầu muộn và keo kiệt không bám dính, như nước trên lá sen.”
47.
47.
47.
Udabindu yathāpi pokkhare, padume vāri yathā na limpati;
Evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu † vā.
Just as a drop of water does not cling to a lotus leaf, or water to a lotus flower, so the sage is not sullied by whatever is seen, heard, or sensed.
“Giống như giọt nước trên lá sen, như nước không dính trên hoa sen; cũng vậy, vị ẩn sĩ không bị vấy bẩn, bởi những gì được thấy, được nghe, hoặc được cảm nhận.”
Udabindu yathāpi pokkhareti. Udabindu vuccati udakathevo. Pokkharaṃ vuccati padumapattaṃ. Yathā udabindu padumapatte na limpati na palimpati na upalimpati alittaṃ apalittaṃ anupalittanti – udabindu yathāpi pokkhare. Padume vāri yathā na limpatīti. Padumaṃ vuccati padumapupphaṃ. Vāri vuccati udakaṃ. Yathā vāri padumapupphaṃ na limpati na palimpati na upalimpati alittaṃ apalittaṃ anupalittanti – padume vāri yathā na limpati.
‘Just as a water drop on a lotus leaf.’ ‘Udabindu’ is said to be a drop of water. ‘Pokkhara’ is said to be a lotus leaf. Just as a drop of water on a lotus leaf is not smeared, not thoroughly smeared, not clung to—it is unsmeared, thoroughly unsmeared, not clung to—thus, ‘just as a water drop on a lotus leaf.’ ‘Just as water is not smeared on a lotus.’ ‘Paduma’ is said to be a lotus flower. ‘Vāri’ is said to be water. Just as water on a lotus flower is not smeared, not thoroughly smeared, not clung to—it is unsmeared, thoroughly unsmeared, not clung to—thus, ‘just as water is not smeared on a lotus.’
“Udabindu yathāpi pokkhare” (Như giọt nước trên lá sen). Udabindu được gọi là giọt nước. Pokkhara được gọi là lá sen. Giống như giọt nước ở trên lá sen không dính, không dính chặt, không bị dính vào, không bị dính, không bị dính chặt, không bị dính vào – (đó là ý nghĩa của) “udabindu yathāpi pokkhare”. “Padume vāri yathā na limpati” (Như nước trên hoa sen không dính). Paduma được gọi là hoa sen. Vāri được gọi là nước. Giống như nước ở trên hoa sen không dính, không dính chặt, không bị dính vào, không bị dính, không bị dính chặt, không bị dính vào – (đó là ý nghĩa của) “padume vāri yathā na limpati”.
Evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vāti. Evanti opammasampaṭipādanaṃ. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Lepāti dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo…pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Muni taṇhālepaṃ pahāya diṭṭhilepaṃ paṭinissajjitvā diṭṭhe na limpati, sute na limpati, mute na limpati, viññāte na limpati na palimpati na upalimpati alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā.
‘Thus the sage is not smeared by whatever is seen, heard, or sensed.’ ‘Thus’ is the completion of the simile. ‘Sage’: Knowledge is called ‘mona’ (sagehood)… having transcended the net of attachments, he is a sage. ‘Smearings’: There are two smearings—the smearing of craving and the smearing of views… this is the smearing of craving… this is the smearing of views. The sage, having abandoned the smearing of craving and relinquished the smearing of views, is not smeared by the seen, is not smeared by the heard, is not smeared by the sensed, is not smeared by the cognized; he is not thoroughly smeared, not clung to; he is unsmeared, thoroughly unsmeared, not clung to, has gone forth, is cast off, is completely freed, is disjoined, and dwells with a mind that has its boundaries removed. Thus, ‘the sage is not smeared by whatever is seen, heard, or sensed.’
“Evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā” (Cũng vậy, bậc ẩn sĩ không bị dính mắc, đối với những gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận này). “Evaṃ” là sự hoàn tất của ví dụ. Về “Muni”. Mona được gọi là trí tuệ... (vân vân)... vượt qua lưới trói buộc, vị ấy là bậc ẩn sĩ. Về “Lepa” (sự dính mắc), có hai loại dính mắc: sự dính mắc của ái và sự dính mắc của tà kiến... (vân vân)... đây là sự dính mắc của ái... (vân vân)... đây là sự dính mắc của tà kiến. Bậc ẩn sĩ, sau khi từ bỏ sự dính mắc của ái, sau khi xả ly sự dính mắc của tà kiến, không dính mắc trong cái được thấy, không dính mắc trong cái được nghe, không dính mắc trong cái được cảm nhận, không dính mắc trong cái được nhận thức, không dính chặt, không bị dính vào, không bị dính, không bị dính chặt, không bị dính vào, đã thoát ra, đã rũ bỏ, đã giải thoát, đã không còn liên kết, trú với tâm không có giới hạn – (đó là ý nghĩa của) “evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Udabindu yathāpi pokkhare, padume vāri yathā na limpati;
Evaṃ muni nopalimpati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā’’ti.
“Just as a drop of water is not smeared on a lotus leaf, or as water is not smeared on a lotus, so the sage is not smeared by whatever is seen, heard, or sensed.”
“Như giọt nước trên lá sen, như nước trên hoa sen không dính; cũng vậy, bậc ẩn sĩ không dính mắc, đối với những gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận này.”
48.
48.
48.
Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā;
Nāññena visuddhimicchati, na hi so rajjati no virajjati.
The cleansed one does not conceive by means of that, whatever is seen, heard, or sensed; he does not desire purification through another, for he is not impassioned, nor is he dispassionate.
Bậc đã thanh lọc không quan niệm bởi điều ấy, tức là những gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận; vị ấy không mong cầu sự thanh tịnh bằng cách khác, vị ấy không tham đắm, cũng không chán ghét.
Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vāti. Dhonoti dhonā vuccati paññā. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Kiṃkāraṇā dhonā vuccati paññā? Tāya paññāya kāyaduccaritaṃ dhutañca dhota ca sandhotañca niddhotañca, vacīduccaritaṃ…pe… manoduccaritaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca, rāgo dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca, doso… moho… kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Taṃkāraṇā dhonā vuccati paññā.
‘The cleansed one does not conceive by means of that, whatever is seen, heard, or sensed.’ ‘Cleanser’: wisdom is called the cleanser. That wisdom is understanding... non-delusion, investigation of phenomena, right view. For what reason is wisdom called the cleanser? By that wisdom, bodily misconduct is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed; verbal misconduct... mental misconduct is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed; lust is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed; hatred... delusion... anger... enmity... contempt... spite... envy... stinginess... deceit... craftiness... obstinacy... rivalry... conceit... excessive conceit... intoxication... heedlessness... all defilements... all misconducts... all vexations... all fevers... all torments... all unwholesome volitional formations are shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed. For that reason, wisdom is called the cleanser.
“Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā” (Bậc đã thanh lọc không quan niệm bởi điều ấy, tức là những gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận). Về “Dhona”, dhonā được gọi là trí tuệ. Trí tuệ nào là sự hiểu biết... (vân vân)... không si mê, trạch pháp, chánh kiến. Vì lý do gì dhonā được gọi là trí tuệ? Bởi trí tuệ ấy, thân ác hạnh được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn; khẩu ác hạnh... (vân vân)... ý ác hạnh được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn; tham được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn; sân... si... phẫn nộ... oán hận... gièm pha... cạnh tranh... tật đố... keo kiệt... xảo trá... lừa lọc... ngoan cố... tranh cãi... ngã mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả phiền muộn... tất cả thiêu đốt... tất cả nóng nảy... tất cả bất thiện hành đều được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn. Vì lý do đó, dhonā được gọi là trí tuệ.
Atha vā sammādiṭṭhiyā micchādiṭṭhi dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca, sammāsaṅkappena micchāsaṅkappo dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca, sammāvācāya micchāvācā dhutā ca… sammākammantena micchākammanto dhuto ca… sammāājīvena micchāājīvo dhuto ca… sammāvāyāmena micchāvāyāmo dhuto ca… sammāsatiyā micchāsati dhutā ca… sammāsamādhinā micchāsamādhi dhuto ca… sammāñāṇena micchāñāṇaṃ dhutañca… sammāvimuttiyā micchāvimutti dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca.
Alternatively, by right view, wrong view is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed; by right thought, wrong thought is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed; by right speech, wrong speech is shaken off...; by right action, wrong action is shaken off...; by right livelihood, wrong livelihood is shaken off...; by right effort, wrong effort is shaken off...; by right mindfulness, wrong mindfulness is shaken off...; by right concentration, wrong concentration is shaken off...; by right knowledge, wrong knowledge is shaken off...; by right liberation, wrong liberation is shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed.
Hoặc là, bởi chánh kiến, tà kiến được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn; bởi chánh tư duy, tà tư duy được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn; bởi chánh ngữ, tà ngữ được rũ bỏ...; bởi chánh nghiệp, tà nghiệp được rũ bỏ...; bởi chánh mạng, tà mạng được rũ bỏ...; bởi chánh tinh tấn, tà tinh tấn được rũ bỏ...; bởi chánh niệm, tà niệm được rũ bỏ...; bởi chánh định, tà định được rũ bỏ...; bởi chánh trí, tà trí được rũ bỏ...; bởi chánh giải thoát, tà giải thoát được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn.
Atha vā ariyena aṭṭhaṅgikena maggena sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Arahā imehi dhonehi dhammehi upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato. Tasmā arahā dhono. So dhutarāgo dhutapāpo dhutakileso dhutapariḷāhoti – dhono.
Alternatively, by the noble eightfold path, all defilements... all misconducts... all vexations... all fevers... all torments... all unwholesome volitional formations are shaken off, washed, well washed, and thoroughly washed. The Arahant is endowed with these cleansing qualities, fully endowed, approached, fully approached, attained, fully attained, and possessed of them. Therefore, the Arahant is a cleansed one. He is one who has shaken off lust, shaken off evil, shaken off defilements, shaken off fever—thus, he is a ‘cleansed one’.
Hoặc là, bởi Thánh đạo Tám ngành, tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả phiền muộn... tất cả thiêu đốt... tất cả nóng nảy... tất cả bất thiện hành đều được rũ bỏ, được gột rửa, được gột rửa sạch, được gột rửa hoàn toàn. Bậc A-la-hán được trang bị, được trang bị đầy đủ, đã đạt đến, đã đạt đến trọn vẹn, đã thành tựu, đã thành tựu trọn vẹn, đã có đủ những pháp thanh lọc này. Do đó, bậc A-la-hán là bậc đã thanh lọc (dhono). Vị ấy là người đã rũ bỏ tham, đã rũ bỏ ác, đã rũ bỏ phiền não, đã rũ bỏ sự thiêu đốt – (đó là ý nghĩa của) “dhono”.
Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vāti. Dhono diṭṭhaṃ na maññati, diṭṭhasmiṃ na maññati, diṭṭhato na maññati, diṭṭhā meti na maññati; sutaṃ na maññati, sutasmiṃ na maññati, sutato na maññati, sutaṃ meti na maññati; mutaṃ na maññati, mutasmiṃ na maññati, mutato na maññati, mutaṃ meti na maññati; viññātaṃ na maññati, viññātasmiṃ na maññati, viññātato na maññati, viññātaṃ meti na maññati. Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘asmīti, bhikkhave, maññitametaṃ, ayamahamasmīti maññitametaṃ, bhavissanti maññitametaṃ, na bhavissanti maññitametaṃ, rūpī bhavissanti maññitametaṃ, arūpī bhavissanti maññitametaṃ, saññī bhavissanti maññitametaṃ, asaññī bhavissanti maññitametaṃ, nevasaññīnāsaññī bhavissanti maññitametaṃ. Maññitaṃ †, bhikkhave, rogo, maññitaṃ gaṇḍo, maññitaṃ sallaṃ, maññitaṃ upaddavo. Tasmātiha, bhikkhave, amaññamānena cetasā viharissāmāti, evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabba’’nti – dhono na hi tena maññati yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā.
‘The cleansed one does not conceive by means of that, whatever is seen, heard, or sensed.’ The cleansed one does not conceive the seen, does not conceive in the seen, does not conceive from the seen, does not conceive 'the seen is mine'; does not conceive the heard, does not conceive in the heard, does not conceive from the heard, does not conceive 'the heard is mine'; does not conceive the sensed, does not conceive in the sensed, does not conceive from the sensed, does not conceive 'the sensed is mine'; does not conceive the cognized, does not conceive in the cognized, does not conceive from the cognized, does not conceive 'the cognized is mine'. For this has been said by the Blessed One: ‘Monks, “I am” is a conceiving; “I am this” is a conceiving; “I shall be” is a conceiving; “I shall not be” is a conceiving; “I shall be possessed of form” is a conceiving; “I shall be formless” is a conceiving; “I shall be percipient” is a conceiving; “I shall be non-percipient” is a conceiving; “I shall be neither percipient nor non-percipient” is a conceiving. Conceiving, monks, is a disease, conceiving is a tumor, conceiving is a dart, conceiving is an affliction. Therefore, monks, you should train thus: “We will dwell with a mind free from conceiving.”’ Thus, ‘the cleansed one does not conceive by means of that, whatever is seen, heard, or sensed.’
“Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā” (Bậc đã thanh lọc không quan niệm bởi điều ấy, tức là những gì được thấy, được nghe, hay được cảm nhận). Bậc đã thanh lọc không quan niệm cái được thấy, không quan niệm trong cái được thấy, không quan niệm từ cái được thấy, không quan niệm 'cái được thấy là của ta'; không quan niệm cái được nghe, không quan niệm trong cái được nghe, không quan niệm từ cái được nghe, không quan niệm 'cái được nghe là của ta'; không quan niệm cái được cảm nhận, không quan niệm trong cái được cảm nhận, không quan niệm từ cái được cảm nhận, không quan niệm 'cái được cảm nhận là của ta'; không quan niệm cái được nhận thức, không quan niệm trong cái được nhận thức, không quan niệm từ cái được nhận thức, không quan niệm 'cái được nhận thức là của ta'. Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ kheo, 'tôi là' là một sự quan niệm, 'đây là tôi' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ là' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ không là' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ có sắc' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ không có sắc' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ có tưởng' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ không có tưởng' là một sự quan niệm, 'tôi sẽ không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng' là một sự quan niệm. Này các Tỳ kheo, sự quan niệm là bệnh tật, sự quan niệm là khối u, sự quan niệm là mũi tên, sự quan niệm là tai họa. Do đó, này các Tỳ kheo, các con phải học tập rằng: 'Chúng ta sẽ trú với tâm không quan niệm'. Này các Tỳ kheo, các con phải học tập như vậy.” – (đó là ý nghĩa của) “dhono na hi tena maññati yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā”.
Nāññena visuddhimicchatīti. Dhono aññena asuddhimaggena micchāpaṭipadāya aniyyānikapathena aññatra satipaṭṭhānehi aññatra sammappadhānehi aññatra iddhipādehi aññatra indriyehi aññatra balehi aññatra bojjhaṅgehi aññatra ariyā aṭṭhaṅgikā maggā suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ na icchati na sādiyati na pattheti na piheti nābhijappatīti – nāññena visuddhimicchati.
He does not seek purification through another. The cleansed one does not wish for, delight in, aspire to, yearn for, or crave purity, purification, complete purity, liberation, release, or total release by any other means—that is, by an impure path, by wrong practice, by a path that does not lead out—apart from the foundations of mindfulness, apart from the right efforts, apart from the bases of spiritual power, apart from the spiritual faculties, apart from the powers, apart from the factors of enlightenment, and apart from the Noble Eightfold Path. This is the meaning of 'he does not seek purification through another.'
Nāññena visuddhimicchatīti (không mong cầu sự thanh tịnh bằng phương cách khác): Vị đã gột rửa (dhono) không mong cầu (na icchati), không chấp nhận (na sādiyati), không ước nguyện (na pattheti), không khao khát (na piheti), không tham muốn (nābhijappati) sự trong sạch (suddhiṃ), sự thanh tịnh (visuddhiṃ), sự hoàn toàn thanh tịnh (parisuddhiṃ), sự giải thoát (muttiṃ), sự hoàn toàn giải thoát (vimuttiṃ), sự giải thoát triệt để (parimuttiṃ) bằng phương cách khác (aññena), bằng con đường không trong sạch (asuddhimaggena), bằng sự thực hành sai lầm (micchāpaṭipadāya), bằng con đường không đưa đến giải thoát (aniyyānikapathena), ngoại trừ (aññatra) các niệm xứ (satipaṭṭhānehi), ngoại trừ các chánh cần (sammappadhānehi), ngoại trừ các như ý túc (iddhipādehi), ngoại trừ các quyền (indriyehi), ngoại trừ các lực (balehi), ngoại trừ các giác chi (bojjhaṅgehi), ngoại trừ thánh đạo tám ngành (ariyā aṭṭhaṅgikā maggā). – (Như thế là ý nghĩa của) nāññena visuddhimicchati.
Na hi so rajjati no virajjatīti. Sabbe bālaputhujjanā rajjanti, puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya satta sekkhā virajjanti; arahā neva rajjati no virajjati. Viratto so khayā rāgassa vītarāgattā, khayā dosassa vītadosattā, khayā mohassa vītamohattā. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo…pe… jātijarāmaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavoti – na hi so rajjati no virajjati.
Regarding 'For he is neither impassioned nor dispassionate': All foolish worldlings are impassioned; beginning with the virtuous worldling, the seven trainees become dispassionate. The Arahant is neither impassioned nor dispassionate. He is dispassionate due to the destruction of lust, being free from lust; due to the destruction of hatred, being free from hatred; due to the destruction of delusion, being free from delusion. That one, having lived the holy life and fulfilled the practice… for him there is no future existence, which is the saṃsāra of birth, aging, and death. This is the meaning of 'For he is neither impassioned nor dispassionate.'
Na hi so rajjati no virajjatīti (vị ấy không tham đắm cũng không ly tham): Tất cả (sabbe) kẻ phàm phu ngu dốt (bālaputhujjanā) đều tham đắm (rajjanti). Bảy bậc hữu học (satta sekkhā), kể cả bậc thiện phàm phu (puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya), thì ly tham (virajjanti). Vị A-la-hán (arahā) không tham đắm (neva rajjati) cũng không ly tham (no virajjati). Vị ấy đã ly tham (viratto so) do đã đoạn tận tham ái (khayā rāgassa vītarāgattā), do đã đoạn tận sân hận (khayā dosassa vītadosattā), do đã đoạn tận si mê (khayā mohassa vītamohattā). Vị ấy đã sống trọn vẹn phạm hạnh (vuṭṭhavāso), đã thực hành viên mãn (ciṇṇacaraṇo)... (v.v.)... vòng luân hồi sanh, già, chết (jātijarāmaraṇasaṃsāro), sự tái sanh (punabbhavo) đối với vị ấy (tassa) không còn nữa (natthi). – (Như thế là ý nghĩa của) na hi so rajjati no virajjati.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Dhono na hi tena maññati, yadidaṃ diṭṭhasutamutesu vā;
Nāññena visuddhimicchati, na hi so rajjati no virajjatī’’ti.
“The cleansed one does not conceive by means of that, which is the seen, heard, or cognized; he does not desire purification by another means, for he is neither impassioned nor dispassionate.”
‘Bậc đã gột rửa không ngã mạn, qua những gì được thấy, nghe, hay biết; Không mong thanh tịnh bằng cách khác, vị ấy không đắm, cũng không ly.’
The sixth exposition of the Jarā Sutta is concluded.
Phần giải thích kinh Già, chương thứ sáu.