Bản dịch
MND 5 — Diễn Giải Kinh Nhóm Tám Về Tối Thắng
5. Paramaṭṭhakasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Tối Thắng được nói đến:
Trong khi sống trong các tà kiến (nghĩ là) ‘tối thắng,’
con người làm cho điều ấy nổi trội ở thế gian.
Kẻ đã nói so với điều ấy tất cả những cái khác là ‘thấp thỏi,’
vì thế không vượt lên trên các sự tranh luận .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Trong khi sống trong các tà kiến (nghĩ là) ‘tối thắng,’
con người làm cho điều ấy nổi trội ở thế gian.
Kẻ đã nói so với điều ấy tất cả những cái khác là ‘thấp thỏi,’
vì thế không vượt lên trên các sự tranh luận .
Người nhìn thấy cái gì đó ở điều đã được thấy, ở điều đã được nghe, ở giới và phận sự, hoặc ở điều đã được cảm giác là sự lợi ích cho bản thân, sau khi ôm giữ chính cái (tà kiến) ấy tại nơi đó, người ấy nhìn thấy mọi cái khác đều là hèn kém .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Người nhìn thấy cái gì đó là sự lợi ích cho bản thân ở điều đã được thấy, ở điều đã được nghe, ở giới và phận sự, hoặc ở điều đã được cảm giác là sự lợi ích cho bản thân, sau khi ôm giữ chính cái (tà kiến) ấy tại nơi đó, người ấy nhìn thấy mọi cái khác đều là hèn kém .”
Hơn nữa, điều ấy các bậc thiện xảo gọi là sự trói buộc, người bị nương tựa vào điều ấy nhìn thấy cái khác là thấp hèn. Chính vì thế, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều đã được thấy, điều đã được nghe, điều đã được cảm giác, hoặc vào giới và phận sự .
Hơn nữa, điều ấy các bậc thiện xảo gọi là sự trói buộc - Các bậc thiện xảo : Các bậc thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về tùy thuận sanh khởi, thiện xảo về việc thiết lập niệm, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về nền tảng của thần thông, thiện xảo về quyền, thiện xảo về lực, thiện xảo về chi phần đưa đến giác ngộ, thiện xảo về Đạo, thiện xảo về Quả, thiện xảo về Niết Bàn, các bậc thiện xảo ấy nói như vầy: ‘Điều này là sự trói buộc, điều này là sự dính mắc, điều này là sự cột trói, điều này là sự vướng bận,’ các vị nói như vậy, thuyết giảng như vậy, thốt ra như vậy, giảng giải như vậy, phát ngôn như vậy. ‘Hơn nữa, điều ấy các bậc thiện xảo gọi là sự trói buộc’ là thế ấy.
Người bị nương tựa vào điều ấy nhìn thấy cái khác là thấp hèn - Nương tựa vào điều ấy : là nương nhờ, nương tựa, bám vào, tiến vào, bám chặt, hướng đến bậc đạo sư, pháp thoại, hội chúng, quan điểm, lối thực hành, đạo lộ ấy. Nhìn thấy cái khác là thấp hèn : là nhìn xem, nhìn thấy, nhìn ngắm, quan sát, suy xét, nhận xét, xem xét bậc đạo sư, pháp thoại, hội chúng, quan điểm, lối thực hành, đạo lộ khác là thấp hèn, hèn kém, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi. ‘Người bị nương tựa vào điều ấy nhìn thấy cái khác là thấp hèn’ là thế ấy.
Chính vì thế, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều đã được thấy, điều đã được nghe, điều đã được cảm giác, hoặc vào giới và phận sự - Vì thế : là do điều ấy, bởi lý do ấy, do nhân ấy, do duyên ấy, do căn nguyên ấy, không nên nương tựa, không nên nắm lấy, không nên bám víu, không nên cố chấp vào điều đã được thấy hoặc sự trong sạch do thấy, vào điều đã được nghe hoặc sự trong sạch do nghe, vào điều đã được cảm giác hoặc sự trong sạch do cảm giác, vào giới hoặc sự trong sạch do giới, vào phận sự hoặc sự trong sạch do phận sự. ‘Chính vì thế, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều đã được thấy, điều đã được nghe, điều đã được cảm giác, hoặc vào giới và phận sự’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Hơn nữa, điều ấy các bậc thiện xảo gọi là sự trói buộc, người bị nương tựa vào điều ấy nhìn thấy cái khác là thấp hèn. Chính vì thế, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều đã được thấy, điều đã được nghe, điều đã được cảm giác, hoặc vào giới và phận sự .”
Cũng không nên xác lập ở thế gian quan điểm
dựa vào trí (chứng đắc) hoặc dựa vào giới và phận sự.
Không nên tự nhủ bản thân là ‘ngang bằng,’
không nên nghĩ mình là thấp hèn hoặc là có sự đặc biệt .
Cũng không nên xác lập ở thế gian quan điểm dựa vào trí (chứng đắc) hoặc dựa vào giới và phận sự : Không nên xác lập, không nên làm sanh ra, không nên làm sanh khởi, không nên làm hạ sanh, không nên làm phát sanh ra quan điểm dựa vào trí của tám sự chứng đạt (về thiền), hoặc dựa vào trí của năm thắng trí, hoặc dựa vào trí sái quấy, hoặc dựa vào giới, hoặc dựa vào phận sự, hoặc dựa vào giới và phận sự. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, —như trên— ở thế gian của các xứ.
Không nên tự nhủ bản thân là ‘ngang bằng’ - Không nên tự nhủ bản thân rằng: ‘Tôi là tương đương’ dựa vào sự xuất thân, dựa vào dòng dõi, dựa vào con nhà gia thế, dựa vào vẻ đẹp của vóc dáng, dựa vào tài sản, dựa vào học vấn, dựa vào công việc, dựa vào tài nghệ, dựa vào kiến thức, dựa vào sự học hỏi, dựa vào tài biện giải, hoặc dựa vào sự việc này khác. Không nên tự nhủ bản thân là ‘ngang bằng’ là thế ấy.
Không nên nghĩ mình là thấp hèn hoặc là có sự đặc biệt : Không nên cho rằng bản thân: ‘Tôi là thấp hèn’ dựa vào sự xuất thân, dựa vào dòng dõi, —như trên— hoặc dựa vào sự việc này khác. Không nên cho rằng bản thân: ‘Tôi là tốt hơn’ dựa vào sự xuất thân, dựa vào dòng dõi, —như trên— hoặc dựa vào sự việc này khác. ‘Không nên nghĩ mình là thấp hèn hoặc thậm chí là có sự đặc biệt’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cũng không nên xác lập ở thế gian quan điểm
dựa vào trí (chứng đắc) hoặc dựa vào giới và phận sự.
Không nên tự nhủ bản thân là ‘ngang bằng,’
không nên nghĩ mình là thấp hèn hoặc là có sự đặc biệt .”
Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ, không còn chấp thủ,
vị ấy không tiến hành sự nương tựa dầu là ở trí.
Quả vậy, giữa những người đã bị phân ly, vị ấy không theo phe nhóm,
vị ấy không trở lại bất cứ tà kiến nào nữa .
Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ, không còn chấp thủ - Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ : sau khi dứt bỏ tà kiến đã được chấp giữ. Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ là sau khi dứt bỏ sự nắm lấy đã được chấp giữ. Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ là sau khi dứt bỏ, sau khi từ bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu điều đã bị nắm lấy, đã bị bám víu, đã bị cố chấp, đã bị bám chặt, đã bị hướng đến bởi tác động của tham ái, bởi tác động của tà kiến. ‘Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ’ là thế ấy. Không còn chấp thủ : trong khi không còn chấp thủ, không còn nắm lấy, không còn bám víu, không còn cố chấp vào bốn điều chấp thủ. ‘Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ, không còn chấp thủ’ là thế ấy.
Vị ấy không tiến hành sự nương tựa dầu là ở trí : là không tiến hành, không làm sanh ra, không làm sanh khởi, không làm hạ sanh, không làm phát sanh ra sự nương tựa vào tham ái hoặc sự nương tựa vào tà kiến dựa vào trí của tám sự chứng đạt (về thiền), hoặc dựa vào trí của năm thắng trí, hoặc dựa vào trí sái quấy . ‘Vị ấy không tiến hành sự nương tựa dầu là ở trí’ là thế ấy.
Quả vậy, giữa những người đã bị phân ly, vị ấy không theo phe nhóm : Quả vậy, giữa những người đã bị phân ly, đã bị chia rẽ, đã bị phân thành hai, đã bị sanh làm hai, có quan điểm khác biệt, có sự chấp nhận khác biệt, có sự ưa thích khác biệt, có sự chọn lựa khác biệt, đã nương tựa vào những quan điểm khác biệt, giữa những người bị chi phối bởi sự ưa thích, bị chi phối bởi sự sân hận, bị chi phối bởi sự si mê, bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị ấy không bị chi phối bởi sự ưa thích, không bị chi phối bởi sự sân hận, không bị chi phối bởi sự si mê, không bị chi phối bởi sự sợ hãi, không bị tác động của luyến ái, không bị tác động của sân hận, không bị tác động của si mê, không bị tác động của ngã mạn, không bị tác động của tà kiến, không bị tác động của phóng dật, không bị tác động của hoài nghi, không bị tác động của pháp tiềm ẩn, không bị đưa đi, bị dẫn đi, bị lôi đi, bị mang đi bởi các pháp có tính chất phe nhóm. ‘Quả vậy, giữa những người đã bị phân ly, vị ấy không theo phe nhóm’ là thế ấy.
Vị ấy không trở lại bất cứ tà kiến nào nữa : Đối với vị ấy, 62 tà kiến đã được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không trở lại, không quay về lại bất cứ tà kiến nào nữa. ‘Vị ấy không trở lại bất cứ tà kiến nào nữa’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi dứt bỏ điều đã được chấp giữ, không còn chấp thủ,
vị ấy không tiến hành sự nương tựa dầu là ở trí.
Quả vậy, giữa những người đã bị phân ly, vị ấy không theo phe nhóm,
vị ấy không trở lại bất cứ tà kiến nào nữa .”
Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực,
về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau,
đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào
sau khi đã suy xét điều đã được ôm giữ trong số các pháp (tà kiến).
Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực, về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau - Đối với vị nào : đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Thái cực : Xúc là một thái cực, nhân sanh ra xúc là thái cực thứ hai. Quá khứ là một thái cực, vị lai là thái cực thứ hai. Cảm thọ lạc là một thái cực, cảm thọ khổ là thái cực thứ hai. Danh là một thái cực, sắc là thái cực thứ hai. Sáu nội xứ là một thái cực, sáu ngoại xứ là thái cực thứ hai. Sự chấp thân này là một thái cực, nhân sanh ra sự chấp thân này là thái cực thứ hai. Ước vọng: được gọi là tham ái , nghĩa là luyến ái, luyến ái mãnh liệt, —như trên— tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện. Về hữu và phi hữu : về dục giới sắc giới vô sắc giới, về cảnh giới của nghiệp, về cảnh giới của sự tái sanh; về cảnh giới của nghiệp là dục giới, về cảnh giới của sự tái sanh là dục giới, về cảnh giới của nghiệp là sắc giới, về cảnh giới của sự tái sanh là sắc giới, về cảnh giới của nghiệp là vô sắc giới, về cảnh giới của sự tái sanh là vô sắc giới, về sự sanh lên được tiếp diễn, về cảnh giới tái sanh được tiếp diễn, về sự tiếp nối tái sanh được tiếp diễn, về sự tái sanh của bản ngã được tiếp diễn. Đời này : là bản ngã của bản thân. Đời sau : là bản ngã của người khác. Đời này là sắc-thọ-tưởng-hành-thức của bản thân, đời sau là sắc-thọ-tưởng-hành-thức của người khác. Đời này là sáu nội xứ, đời sau là sáu ngoại xứ. Đời này là thế giới loài người, đời sau là thế giới chư Thiên. Đời này là dục giới, đời sau là sắc giới, vô sắc giới. Đời này là dục giới, sắc giới, đời sau là vô sắc giới.
Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực, về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau : đối với vị nào, ước vọng, tham ái về cả hai thái cực, về hữu và phi hữu, về đời này và đời sau là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực, về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau’ là thế ấy.
Đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào - Các sự chấp chặt : Có hai sự chấp chặt: sự chấp chặt do tham ái và sự chấp chặt do tà kiến. ―như trên― điều này là sự chấp chặt do tham ái. ―như trên― điều này là sự chấp chặt do tà kiến. Đối với vị ấy : đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào : Đối với vị ấy, bất cứ các sự chấp chặt nào là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào’ là thế ấy.
Sau khi đã suy xét điều đã được ôm giữ trong số các pháp - Trong số các pháp : là trong số 62 tà kiến. Sau khi đã suy xét : sau khi suy xét, sau khi chọn lựa, sau khi chọn lọc, sau khi cân nhắc, sau khi sắp đặt, sau khi phân biệt, sau khi làm rõ. Điều đã được ôm giữ : là sự nắm lấy có giới hạn, sự nắm lấy từng phần, sự nắm lấy tối thượng, sự nắm lấy toàn phần, sự nắm lấy theo số lượng, sự nắm lấy tổng thể rằng: ‘Điều này là sự thật, là đúng đắn, là như thế, là đang xảy ra, là chính xác, không bị sai lệch’ đã được nắm giữ, đã được bám víu, đã được cố chấp, đã được bám chặt, đã được hướng đến là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Sau khi đã suy xét điều đã được ôm giữ trong số các pháp’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực,
về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau,
đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào
sau khi đã suy xét điều đã được ôm giữ trong số các pháp (tà kiến) .”
Tưởng được xếp đặt liên quan đến điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác ở nơi đây dầu là nhỏ nhoi cũng không có đối với vị ấy; vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến, thì có thể chi phối vị ấy bởi điều gì ở thế gian này ?
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Tưởng được xếp đặt liên quan đến điều đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác ở nơi đây dầu là nhỏ nhoi cũng không có đối với vị ấy; vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến, thì có thể chi phối vị ấy bởi điều gì ở thế gian này y? ”
(Các bậc A-la-hán) không sắp xếp, không chú trọng
luôn cả các pháp (tà kiến), đối với các vị ấy, đều không được chấp nhận.
Vị Bà-la- môn không bị dẫn dắt đi bởi giới và phận sự,
đã đi đến bờ kia, không quay trở lại, là bậc tự tại .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“(Các bậc A-la-hán) không sắp xếp, không chú trọng
luôn cả các pháp (tà kiến), đối với các vị ấy, đều không được chấp nhận.
Vị Bà-la- môn không bị dẫn dắt đi bởi giới và phận sự,
đã đi đến bờ kia, không quay trở lại, là bậc tự tại .”
Diễn Giải Kinh về Tối Thắng. --ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Paramanti diṭṭhīsu paribbasānoti. Santeke samaṇabrāhmaṇā diṭṭhigatikā. Te dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatānaṃ aññataraññataraṃ diṭṭhigataṃ ‘‘idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavara’’nti gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā sakāya sakāya diṭṭhiyā vasanti pavasanti āvasanti parivasanti. Yathā āgārikā vā gharesu vasanti, sāpattikā vā āpattīsu vasanti, sakilesā vā kilesesu vasanti; evameva santeke samaṇabrāhmaṇā diṭṭhigatikā. Te dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatānaṃ aññataraññataraṃ diṭṭhigataṃ ‘‘idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavara’’nti gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā sakāya sakāya diṭṭhiyā vasanti pavasanti † āvasanti parivasantīti – paramanti diṭṭhīsu paribbasāno.
Steeped in views, holding them as supreme. There are some ascetics and brahmins who hold to views. They grasp one or another of the sixty-two views, take it up, seize upon it, adhere to it, and become entrenched in it, declaring: “This is supreme, foremost, best, distinguished, chief, highest, most excellent!” Thus they dwell, live, abide, and persist in their own respective views, just as householders dwell in their homes, offenders dwell in their offenses, or those with defilements dwell in their defilements. In the same way, there are some ascetics and brahmins who hold to views. They grasp one or another of the sixty-two views, take it up, seize upon it, adhere to it, and become entrenched in it, declaring: “This is supreme, foremost, best, distinguished, chief, highest, most excellent!” Thus they dwell, live, abide, and persist in their own respective views. This is the meaning of 'steeped in views, holding them as supreme.'
Paramanti diṭṭhīsu paribbasānoti (sống theo các tà kiến cho rằng ‘đây là tối thượng’). Có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người có tà kiến. Trong sáu mươi hai loại tà kiến, họ nắm giữ, chấp thủ, bám víu, xem xét, quyết đoán một loại tà kiến nào đó rồi cho rằng: ‘Điều này là tối thượng, là cao tột, là ưu việt, là đặc thù, là chủ yếu, là cao cả, là tuyệt hảo,’ và họ sống, trú ngụ, an trú, thường trú với tà kiến của riêng mình. Giống như người tại gia sống trong nhà, người có tội sống trong tội lỗi, người có phiền não sống trong phiền não; cũng vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người có tà kiến. Trong sáu mươi hai loại tà kiến, họ nắm giữ, chấp thủ, bám víu, xem xét, quyết đoán một loại tà kiến nào đó rồi cho rằng: ‘Điều này là tối thượng, là cao tột, là ưu việt, là đặc thù, là chủ yếu, là cao cả, là tuyệt hảo,’ và họ sống, trú ngụ, an trú, thường trú với tà kiến của riêng mình – (đây là ý nghĩa của) paramanti diṭṭhīsu paribbasāno (sống theo các tà kiến cho rằng ‘đây là tối thượng’).
Yaduttariṃ kurute jantu loketi. Yadanti yaṃ. Uttariṃ kuruteti uttariṃ karoti, aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti ‘‘ayaṃ satthā sabbaññū’’ti uttariṃ karoti, aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti. ‘‘Ayaṃ dhammo svākkhāto…, ayaṃ gaṇo suppaṭipanno…, ayaṃ diṭṭhi bhaddikā…, ayaṃ paṭipadā supaññattā…, ayaṃ maggo niyyāniko’’ti uttariṃ karoti, aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti nibbatteti abhinibbatteti. Jantūti satto naro…pe… manujo. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – yaduttariṃ kurute jantu loke.
Whatever a being makes supreme in the world. Here, 'whatever' means 'which'. 'Makes supreme' means one makes superior, makes it foremost, best, distinguished, chief, highest, excellent. For example: “This teacher is all-knowing”—thus one makes this view superior, makes it foremost, best, distinguished, chief, highest, excellent. “This Dhamma is well-proclaimed… this Sangha is practicing well… this view is good… this practice is well-prescribed… this path leads to release”—thus one makes these views superior, makes them foremost, best, distinguished, chief, highest, excellent, brings them into being, fully brings them into being. 'Being' means a creature, a person… and so on… a human. 'In the world' means in the world of woe… and so on… in the world of the sense bases. This is the meaning of 'whatever a being makes supreme in the world.'
Yaduttariṃ kurute jantu loketi (điều gì mà chúng sanh trong thế gian cho là vượt trội). Yadanti (điều gì) là yaṃ (cái nào). Uttariṃ kuruteti (cho là vượt trội) là làm cho vượt trội (uttariṃ karoti), làm cho cao tột, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, cao cả, tuyệt hảo. (Họ nói:) ‘Vị đạo sư này là bậc toàn tri,’ và họ làm cho (vị ấy) vượt trội, làm cho cao tột, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, cao cả, tuyệt hảo. (Họ nói:) ‘Giáo pháp này đã được khéo thuyết giảng…, Tăng chúng này đã khéo thực hành…, tri kiến này là tốt đẹp…, con đường thực hành này đã được khéo quy định…, đạo lộ này có khả năng đưa ra (khỏi khổ),’ và họ làm cho (những điều ấy) vượt trội, làm cho cao tột, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, cao cả, tuyệt hảo, họ tạo ra, họ sản sinh ra (điều đó). Jantūti (chúng sanh) là hữu tình, là người… cho đến… là nhân loại. Loketi (trong thế gian) là trong cõi khổ… cho đến… trong xứ thế gian – (đây là ý nghĩa của) yaduttariṃ kurute jantu loke (điều gì mà chúng sanh trong thế gian cho là vượt trội).
Hīnāti aññe tato sabbamāhāti attano satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ ṭhapetvā sabbe parappavāde khipati ukkhipati parikkhipati. ‘‘So satthā na sabbaññū, dhammo na svākkhāto, gaṇo na suppaṭipanno, diṭṭhi na bhaddikā, paṭipadā na supaññattā, maggo na niyyāniko, natthettha suddhi vā visuddhi vā parisuddhi vā mutti vā vimutti vā parimutti vā, natthettha sujjhanti vā visujjhanti vā parisujjhanti vā muccanti vā vimuccanti vā parimuccanti vā, hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā parittā’’ti evamāha evaṃ katheti evaṃ bhaṇati evaṃ dīpayati evaṃ voharatīti – hīnāti aññe tato sabbamāha.
He says all others are inferior to that. Setting aside his own teacher, the proclaimed Dhamma, the community, the view, the practice, and the path, he casts away, casts out, and disregards all the doctrines of others, saying: 'That teacher is not all-knowing, the Dhamma is not well-proclaimed, the community is not of good practice, the view is not good, the practice is not well-prescribed, the path does not lead out. Herein there is no purity, or purification, or utter purity; no release, or liberation, or complete liberation. Herein they are not purified, nor are they especially purified, nor are they utterly purified; they are not released, nor are they liberated, nor are they completely released. They are inferior, inferior in application, inferior in effort, inferior in cause, inferior in disposition, inferior in power.' Thus he says, thus he preaches, thus he speaks, thus he points out, thus he calls it. This is the meaning of 'He says all others are inferior to that'.
Hīnāti aññe tato sabbamāhāti (nó nói rằng tất cả những điều khác đều là thấp kém). Ngoại trừ vị đạo sư, lời dạy, tăng chúng, tri kiến, con đường thực hành, đạo lộ của mình, nó loại bỏ, vứt bỏ, bác bỏ tất cả các học thuyết khác. (Nó nói:) ‘Vị đạo sư kia không phải là bậc toàn tri, giáo pháp không được khéo thuyết giảng, tăng chúng không khéo thực hành, tri kiến không tốt đẹp, con đường thực hành không được khéo quy định, đạo lộ không có khả năng đưa ra. Ở đây không có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự triệt để giải thoát. Ở đây, họ không được thanh tịnh, không được trong sạch, không được hoàn toàn thanh tịnh, không được giải thoát, không được hoàn toàn giải thoát, không được triệt để giải thoát. (Họ là những kẻ) thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn.’ Nó nói như vậy, nó kể như vậy, nó phát biểu như vậy, nó trình bày như vậy, nó tuyên bố như vậy – (đây là ý nghĩa của) hīnāti aññe tato sabbamāha (nó nói rằng tất cả những điều khác đều là thấp kém).
Tasmā vivādāni avītivattoti. Tasmāti taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā. Vivādānīti diṭṭhikalahāni diṭṭhibhaṇḍanāni diṭṭhiviggahāni diṭṭhivivādāni diṭṭhimedhagāni ca. Avītivattoti anatikkanto asamatikkanto avītivattoti – tasmā vivādāni avītivatto.
Therefore, he has not gone beyond disputes. 'Therefore' means: for that reason, for that cause, conditioned by that, founded on that. 'Disputes' refers to quarrels over views, conflicts over views, wrangling over views, disputes over views, and contentions over views. 'Not gone beyond' means not having passed beyond, not having thoroughly passed beyond, not having passed beyond. This is the meaning of 'therefore, he has not gone beyond disputes'.
Tasmā vivādāni avītivattoti (do đó, nó không vượt qua được các cuộc tranh luận). Tasmāti (do đó) là vì nguyên nhân ấy, vì lý do ấy, vì duyên ấy, vì nền tảng ấy. Vivādānīti (các cuộc tranh luận) là các cuộc cãi vã về tà kiến, các cuộc xung đột về tà kiến, các cuộc tranh chấp về tà kiến, các cuộc tranh luận về tà kiến, các cuộc đấu đá về tà kiến. Avītivattoti (không vượt qua được) là không đi qua được, không vượt qua được, không thoát khỏi được – (đây là ý nghĩa của) tasmā vivādāni avītivatto (do đó, nó không vượt qua được các cuộc tranh luận).
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Paramanti diṭṭhīsu paribbasāno, yaduttariṃ kurute jantu loke;
Hīnāti aññe tato sabbamāha, tasmā vivādāni avītivatto’’ti.
“Steeped in views, holding ‘this is supreme,’ whatever a being makes supreme in the world, he says all others are inferior to that; therefore, he has not gone beyond disputes.”
‘Chúng sanh trong thế gian, khi sống theo các tà kiến (cho rằng) ‘(Đây là) tối thượng,’ điều gì mà nó cho là vượt trội, thì nó nói rằng tất cả những điều khác đều là thấp kém; do đó, nó không vượt qua được các cuộc tranh luận.’
32.
32.
32.
Yadattanī passati ānisaṃsaṃ, diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Tadeva so tattha samuggahāya, nihīnato passati sabbamaññaṃ.
Whatever benefit one sees in oneself—in what is seen, heard, in virtuous conduct and observances, or in what is cognized—grasping that very thing therein, one sees all else as inferior.
Lợi ích nào mà người ấy thấy cho bản thân mình, trong cái được thấy, được nghe, giới và hạnh, hay được nhận thức; thì người ấy, sau khi chấp thủ chính điều ấy ở đó, liền xem tất cả những điều khác là thấp kém.
Yadattanī passati ānisaṃsaṃ, diṭṭhe sute sīlavate mute vāti. Yadattanīti yaṃ attani. Attā vuccati diṭṭhigataṃ. Attano diṭṭhiyā dve ānisaṃse passati – diṭṭhadhammikañca ānisaṃsaṃ, samparāyikañca ānisaṃsaṃ. Katamo diṭṭhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso? Yaṃdiṭṭhiko satthā hoti, taṃdiṭṭhikā sāvakā honti. Taṃdiṭṭhikaṃ satthāraṃ sāvakā sakkaronti garuṃ karonti mānenti pūjenti, labhati ca tatonidānaṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ. Ayaṃ diṭṭhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso. Katamo diṭṭhiyā samparāyiko ānisaṃso? Ayaṃ diṭṭhi alaṃ nāgattāya vā supaṇṇattāya vā yakkhattāya vā asurattāya vā gandhabbattāya vā mahārājattāya vā indattāya vā brahmattāya vā devattāya vā; ayaṃ diṭṭhi alaṃ suddhiyā visuddhiyā parisuddhiyā muttiyā vimuttiyā parimuttiyā; imāya diṭṭhiyā sujjhanti visujjhanti parisujjhanti muccanti vimuccanti parimuccanti; imāya diṭṭhiyā sujjhissāmi visujjhissāmi parisujjhissāmi muccissāmi vimuccissāmi parimuccissāmi āyatiṃ phalapāṭikaṅkhī hoti. Ayaṃ diṭṭhiyā samparāyiko ānisaṃso. Attano diṭṭhiyā ime dve ānisaṃse passati, diṭṭhasuddhiyāpi dve ānisaṃse passati, sutasuddhiyāpi dve ānisaṃse passati, sīlasuddhiyāpi dve ānisaṃse passati, vatasuddhiyāpi dve ānisaṃse passati, mutasuddhiyāpi dve ānisaṃse passati – diṭṭhadhammikañca ānisaṃsaṃ samparāyikañca ānisaṃsaṃ. Katamo mutasuddhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso? Yaṃdiṭṭhiko satthā hoti taṃdiṭṭhikā sāvakā honti…pe… ayaṃ mutasuddhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso. Katamo mutasuddhiyā samparāyiko ānisaṃso? Ayaṃ diṭṭhi alaṃ nāgattāya vā…pe… ayaṃ mutasuddhiyā samparāyiko ānisaṃso. Mutasuddhiyāpi ime dve ānisaṃse passati dakkhati oloketi nijjhāyati upaparikkhatīti – yadattanī passati ānisaṃsaṃ diṭṭhe sute sīlavate mute vā.
Regarding the passage: 'Whatever benefit one sees in oneself, in what is seen, heard, in virtue and observances, or in what is sensed.' Herein, 'in oneself' means in one's own view. 'Self' refers to a viewpoint. In one's own view, one sees two benefits: a benefit in the present life and a benefit in a future life. What is the benefit in the present life from one's view? When a teacher holds a certain view, his disciples hold that same view. The disciples honor, respect, revere, and venerate the teacher who holds that view, and because of that, he receives robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick. This is the benefit in the present life from one's view. What is the benefit in a future life from one's view? This view is sufficient for becoming a nāga, a supaṇṇa, a yakkha, an asura, a gandhabba, a great king, an Indra, a Brahmā, or a deva. This view is sufficient for purity, for complete purity, for utter purity; for freedom, for release, for full release. Through this view, they are purified, completely purified, and utterly purified; they are freed, released, and fully released. Through this view, one anticipates a future fruit, thinking, 'I will be purified, I will be completely purified, I will be utterly purified; I will be freed, I will be released, I will be fully released.' This is the benefit in a future life from one's view. In one's own view, one sees these two benefits. Likewise, from purity in what is seen, one sees two benefits; from purity in what is heard, one sees two benefits; from purity in virtue, one sees two benefits; from purity in observances, one sees two benefits; and from purity in what is sensed, one sees two benefits—that is, a benefit in the present life and a benefit in a future life. What is the benefit in the present life from purity in what is sensed? When a teacher holds a certain view, his disciples hold that same view… and so on… This is the benefit in the present life from purity in what is sensed. What is the benefit in a future life from purity in what is sensed? This view is sufficient for becoming a nāga… and so on… This is the benefit in a future life from purity in what is sensed. From purity in what is sensed, one also sees, beholds, observes, scrutinizes, and thoroughly examines these two benefits. This is the meaning of: 'Whatever benefit one sees in oneself, in what is seen, heard, in virtue and observances, or in what is sensed.'
Yadattanī passati ānisaṃsaṃ, diṭṭhe sute sīlavate mute vā có nghĩa là: (Vị ấy) thấy được quả phúc ở nơi tự thân, trong điều được thấy, được nghe, trong giới cấm, hoặc trong điều được cảm nhận. Yadattanīti có nghĩa là yaṃ attani (điều nào ở nơi tự thân). Attā được gọi là sở kiến. Vị ấy thấy được hai quả phúc trong sở kiến của mình: quả phúc trong hiện tại và quả phúc trong tương lai. Quả phúc trong hiện tại của sở kiến là gì? Vị đạo sư có sở kiến nào thì các vị đệ tử có sở kiến ấy. Các vị đệ tử cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị đạo sư có sở kiến ấy, và do nhân duyên ấy vị ấy nhận được y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Đây là quả phúc trong hiện tại của sở kiến. Quả phúc trong tương lai của sở kiến là gì? Sở kiến này là đủ để trở thành Nāga (rồng), hoặc Supaṇṇa (kim xí điểu), hoặc Yakkha (dạ xoa), hoặc Asura (a-tu-la), hoặc Gandhabba (càn-thát-bà), hoặc Mahārāja (vị trời Đại Vương), hoặc Inda (vị trời Đế Thích), hoặc Brahmā (Phạm Thiên), hoặc Deva (chư thiên); sở kiến này là đủ để được thanh tịnh, được trong sạch, được hoàn toàn trong sạch, được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát, được triệt để giải thoát; nhờ sở kiến này mà họ được thanh tịnh, được trong sạch, được hoàn toàn trong sạch, được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát, được triệt để giải thoát; (vị ấy nghĩ rằng:) “Nhờ sở kiến này, ta sẽ được thanh tịnh, sẽ được trong sạch, sẽ được hoàn toàn trong sạch, sẽ được giải thoát, sẽ được hoàn toàn giải thoát, sẽ được triệt để giải thoát,” và vị ấy mong mỏi kết quả trong tương lai. Đây là quả phúc trong tương lai của sở kiến. Vị ấy thấy được hai quả phúc này trong sở kiến của mình, vị ấy cũng thấy được hai quả phúc trong sự thanh tịnh của điều được thấy, vị ấy cũng thấy được hai quả phúc trong sự thanh tịnh của điều được nghe, vị ấy cũng thấy được hai quả phúc trong sự thanh tịnh của giới, vị ấy cũng thấy được hai quả phúc trong sự thanh tịnh của hạnh tu, vị ấy cũng thấy được hai quả phúc trong sự thanh tịnh của điều được cảm nhận: quả phúc trong hiện tại và quả phúc trong tương lai. Quả phúc trong hiện tại của sự thanh tịnh của điều được cảm nhận là gì? Vị đạo sư có sở kiến nào thì các vị đệ tử có sở kiến ấy... (như trên)... đây là quả phúc trong hiện tại của sự thanh tịnh của điều được cảm nhận. Quả phúc trong tương lai của sự thanh tịnh của điều được cảm nhận là gì? Sở kiến này là đủ để trở thành Nāga (rồng), hoặc... (như trên)... đây là quả phúc trong tương lai của sự thanh tịnh của điều được cảm nhận. Vị ấy cũng thấy, nhận biết, quan sát, xem xét, thẩm tra hai quả phúc này trong sự thanh tịnh của điều được cảm nhận. (Đó là ý nghĩa của câu:) yadattanī passati ānisaṃsaṃ diṭṭhe sute sīlavate mute vā.
Tadeva so tattha samuggahāyāti. Tadevāti taṃ diṭṭhigataṃ. Tatthāti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā. Samuggahāyāti idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaranti gahetvā uggahetvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvāti – tadeva so tattha samuggahāya.
Regarding the passage: 'That very thing he clings to there.' Herein, 'that very thing' means that viewpoint. 'There' means in his own view, his own forbearance, his own inclination, his own conviction. 'Clings to' means taking it, seizing it, grasping it, adhering to it, and insisting on it as: ‘This is supreme, best, most excellent, distinguished, foremost, highest, and finest.’ This is the meaning of 'that very thing he clings to there.'
Tadeva so tattha samuggahāyāti. Tadevāti có nghĩa là sở kiến ấy. Tatthāti có nghĩa là trong sở kiến của mình, trong sự kham nhẫn của mình, trong sự ưa thích của mình, trong chủ thuyết của mình. Samuggahāyāti có nghĩa là sau khi đã nắm giữ, đã chấp thủ, đã bám víu, đã xem xét, đã quyết định rằng: “Điều này là tối thượng, là hàng đầu, là tốt nhất, là đặc biệt, là chủ yếu, là cao cả, là ưu việt.” (Đó là ý nghĩa của câu:) tadeva so tattha samuggahāya.
Nihīnato passati sabbamaññanti. Aññaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato dissati passati dakkhati oloketi nijjhāyati upaparikkhatīti – nihīnato passati sabbamaññaṃ.
Regarding the passage: 'He sees all others as inferior.' This means he sees another teacher, another teaching, another community, another view, another practice, or another path as inferior, low, worthless, base, paltry, and limited. He perceives, sees, beholds, observes, scrutinizes, and thoroughly examines them as such. This is the meaning of 'he sees all others as inferior.'
Nihīnato passati sabbamaññanti có nghĩa là: Vị ấy thấy vị đạo sư khác, lời giảng pháp khác, giáo phái khác, sở kiến khác, thực hành khác, con đường khác là thấp kém, là hạ liệt, là tầm thường, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ mọn; vị ấy nhận thấy, thấy, nhận biết, quan sát, xem xét, thẩm tra. (Đó là ý nghĩa của câu:) nihīnato passati sabbamaññaṃ.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Yadattanī passati ānisaṃsaṃ, diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Tadeva so tattha samuggahāya, nihīnato passati sabbamañña’’nti.
“Whatever benefit one sees in oneself— in what is seen, heard, in virtue and observances, or in what is sensed— that very thing he clings to there, and sees all others as inferior.”
“Quả phúc nào vị ấy thấy ở nơi mình, trong điều được thấy, nghe, giới cấm, cảm nhận; Chính điều ấy vị ấy chấp thủ vào đó, rồi xem tất cả những điều khác là thấp kém.”
33.
33.
33.
Taṃ vāpi † ganthaṃ kusalā vadanti, yaṃ nissito passati hīnamaññaṃ;
Tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyya.
The skilled call that a bond, relying on which one sees others as inferior. Therefore, a monk should not rely on what is seen, heard, or sensed, or on virtue and observances.
“Các bậc thiện xảo gọi đó là sự trói buộc, điều mà vị ấy nương tựa rồi xem người khác là thấp kém; Do đó, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều được thấy, hoặc được nghe, được cảm nhận, hoặc giới cấm.”
Taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadantīti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā, te kusalā evaṃ vadanti – ‘‘gantho eso, lagganaṃ etaṃ, bandhanaṃ etaṃ, palibodho eso’’ti. Evaṃ vadanti evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadanti.
Regarding the passage: 'The skilled call that too a bond.' Herein, 'skilled' refers to those who are skilled in the aggregates, skilled in the elements, skilled in the sense bases, skilled in dependent origination, skilled in the foundations of mindfulness, skilled in the right exertions, skilled in the bases of power, skilled in the faculties, skilled in the powers, skilled in the factors of enlightenment, skilled in the path, skilled in the fruits, and skilled in Nibbāna. Those skilled ones say thus: ‘This is a bond, this is a clinging, this is a binding, this is an obstruction.’ Thus they say, thus they relate, thus they speak, thus they clarify, thus they express it. This is the meaning of 'the skilled call that too a bond.'
Taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadantīti. Kusalāti có nghĩa là những vị thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về niệm xứ, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về thần túc, thiện xảo về căn, thiện xảo về lực, thiện xảo về giác chi, thiện xảo về đạo, thiện xảo về quả, thiện xảo về Niết-bàn. Các vị thiện xảo ấy nói như vầy: “Đây là sự trói buộc, đây là sự dính mắc, đây là sự ràng buộc, đây là sự chướng ngại.” Họ nói như vậy, họ kể như vậy, họ phát biểu như vậy, họ trình bày như vậy, họ tuyên bố như vậy. (Đó là ý nghĩa của câu:) taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadanti.
Yaṃ nissito passati hīnamaññanti. Yaṃ nissitoti yaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ nissito sannissito allīno upagato ajjhosito adhimutto. Passati hīnamaññanti aññaṃ satthāraṃ dhammakkhānaṃ gaṇaṃ diṭṭhiṃ paṭipadaṃ maggaṃ hīnato nihīnato omakato lāmakato chatukkato parittato dissati passati dakkhati oloketi nijjhāyati upanijjhāyati upaparikkhatīti – yaṃ nissito passati hīnamaññaṃ.
Regarding the passage: 'Relying on which, one sees others as inferior.' Herein, 'relying on which' means relying on, depending on, clinging to, approaching, being attached to, or being resolved upon a certain teacher, teaching, community, view, practice, or path. 'Sees others as inferior' means one perceives another teacher, teaching, community, view, practice, or path as inferior, low, base, worthless, wretched, or insignificant; one sees, perceives, beholds, observes, contemplates, closely considers, or thoroughly examines it. This is the meaning of 'relying on which, one sees others as inferior.'
Yaṃ nissito passati hīnamaññanti. Yaṃ nissitoti có nghĩa là vị ấy nương tựa, phụ thuộc, dính mắc, gần gũi, bám víu, quyết tâm theo vị đạo sư, lời giảng pháp, giáo phái, sở kiến, thực hành, con đường nào. Passati hīnamaññanti có nghĩa là vị ấy nhận thấy, thấy, nhận biết, quan sát, xem xét, suy xét, thẩm tra vị đạo sư khác, lời giảng pháp khác, giáo phái khác, sở kiến khác, thực hành khác, con đường khác là thấp kém, là hạ liệt, là tầm thường, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ mọn. (Đó là ý nghĩa của câu:) yaṃ nissito passati hīnamaññaṃ.
Tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyyāti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā diṭṭhaṃ vā diṭṭhasuddhiṃ vā sutaṃ vā sutasuddhiṃ vā mutaṃ vā mutasuddhiṃ vā sīlaṃ vā sīlasuddhiṃ vā vataṃ vā vatasuddhiṃ vā na nissayeyya na gaṇheyya na parāmaseyya nābhiniveseyyāti – tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyya.
Regarding the passage: 'Therefore, a monk should not rely on what is seen, heard, or sensed, or on virtue and observances.' Herein, 'therefore' means: for that reason, for that cause, from that condition, from that source. A monk should not rely on, grasp, hold to, or be intent upon what is seen or the purity of what is seen; what is heard or the purity of what is heard; what is sensed or the purity of what is sensed; virtue or the purity of virtue; or an observance or the purity of an observance. This is the meaning of 'Therefore, a monk should not rely on what is seen, heard, or sensed, or on virtue and observances.'
Tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyyāti. Tasmāti có nghĩa là do đó, vì nguyên nhân đó, vì lý do đó, vì duyên đó, vì nguồn gốc đó, vị ấy không nên nương tựa, không nên nắm giữ, không nên xem xét, không nên quyết định theo điều được thấy hoặc sự thanh tịnh của điều được thấy, điều được nghe hoặc sự thanh tịnh của điều được nghe, điều được cảm nhận hoặc sự thanh tịnh của điều được cảm nhận, giới hoặc sự thanh tịnh của giới, hạnh tu hoặc sự thanh tịnh của hạnh tu. (Đó là ý nghĩa của câu:) tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyya.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã thuyết rằng:
‘‘Taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadanti, yaṃ nissito passati hīnamaññaṃ;
Tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā, sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyyā’’ti.
“The skilled call that too a bond, relying on which one sees others as inferior. Therefore, a monk should not rely on what is seen, heard, or sensed, or on virtue and observances.”
“Các bậc thiện xảo gọi đó là sự trói buộc, điều mà vị ấy nương tựa rồi xem người khác là thấp kém; Do đó, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều được thấy, hoặc được nghe, được cảm nhận, hoặc giới cấm.”
34.
34.
34.
Diṭṭhimpi lokasmiṃ na kappayeyya, ñāṇena vā sīlavatena vāpi;
Samoti attānamanūpaneyya, hīno na maññetha visesi vāpi.
One should not form a view in the world, either through knowledge or through virtue and observance. One should not present oneself as equal, nor think oneself inferior or superior.
“Vị ấy không nên tạo ra sở kiến ở trong đời, bằng trí tuệ hoặc bằng giới cấm; Không nên tự cho mình là ‘bằng người,’ không nên nghĩ mình là ‘thấp kém’ hay là ‘hơn người.’”
Diṭṭhimpi lokasmiṃ na kappayeyya, ñāṇena vā sīlavatena vāpīti. Aṭṭhasamāpattiñāṇena vā pañcābhiññāñāṇena vā micchāñāṇena vā, sīlena vā vatena vā sīlabbatena vā, diṭṭhiṃ na kappayeyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya na abhinibbatteyya. Lokasminti apāyaloke…pe… āyatanaloketi – diṭṭhimpi lokasmiṃ na kappayeyya ñāṇena vā sīlavatena vāpi.
‘In the world, one should not form a view, either by knowledge or by virtue and observance.’ This means that whether through the knowledge of the eight attainments, the five higher knowledges, or wrong knowledge, or through virtue, observances, or virtue-and-observances, one should not form a view, generate it, produce it, bring it forth, or cause it to arise. Regarding `lokasmiṃ` (in the world): this means in the plane of misery, the human world, the deva world, the world of aggregates, the world of elements, or the world of sense bases. This is the meaning of ‘in the world, one should not form a view, either by knowledge or by virtue and observance’.
Cũng không nên tạo ra tà kiến trong thế gian, hoặc bằng trí tuệ, hoặc bằng giới và hạnh. Hoặc bằng trí tuệ về tám thiền chứng, hoặc bằng trí tuệ về năm thắng trí, hoặc bằng tà trí; hoặc bằng giới, hoặc bằng hạnh, hoặc bằng giới cấm thủ, không nên tạo ra, không nên làm cho sanh khởi, không nên làm cho sanh khởi tốt đẹp, không nên làm cho phát sanh, không nên làm cho phát sanh một cách rõ rệt tà kiến. Trong thế gian (lokasmiṃ) là trong cõi khổ ... cho đến ... trong xứ thế gian. – Cũng không nên tạo ra tà kiến trong thế gian, hoặc bằng trí tuệ, hoặc bằng giới và hạnh.
Samoti attānamanūpaneyyāti. Sadisohamasmīti attānaṃ na upaneyya jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunāti – samoti attānamanūpaneyya.
Regarding ‘One should not compare oneself as equal’: One should not compare oneself thinking, ‘I am equal,’ by way of birth, clan, noble lineage, beauty of complexion, wealth, study, sphere of action, sphere of craft, basis of knowledge, learning, ready wit, or by any other reason whatsoever. This is the meaning of ‘one should not compare oneself as equal’.
Không nên so sánh mình là bằng (samoti attānamanūpaneyya). Không nên so sánh mình rằng: ‘Ta là người bằng,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, hoặc do gia thế cao quý, hoặc do dung sắc, hoặc do tài sản, hoặc do học vấn, hoặc do cơ sở của việc làm, hoặc do cơ sở của nghề nghiệp, hoặc do nền tảng của minh thuật, hoặc do sự nghe nhiều, hoặc do trí tuệ biện tài, hoặc do một vật nào đó khác. – Không nên so sánh mình là bằng.
Hīno na maññetha visesi vāpīti. Hīnohamasmīti attānaṃ na upaneyya jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Seyyohamasmīti attānaṃ na upaneyya jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunāti – hīno na maññetha visesi vāpi.
Regarding ‘One should not think oneself inferior or even superior’: One should not compare oneself thinking, ‘I am inferior,’ by way of birth, clan, and so on, or by any other reason whatsoever. Nor should one compare oneself thinking, ‘I am superior,’ by way of birth, clan, and so on, or by any other reason whatsoever. This is the meaning of ‘one should not think oneself inferior or even superior’.
Không nên nghĩ mình là thấp kém, hoặc là hơn (hīno na maññetha visesi vāpi). Không nên so sánh mình rằng: ‘Ta là người thấp kém,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, ... cho đến ... hoặc do một vật nào đó khác. Không nên so sánh mình rằng: ‘Ta là người hơn,’ hoặc do dòng dõi, hoặc do thị tộc, ... cho đến ... hoặc do một vật nào đó khác. – Không nên nghĩ mình là thấp kém, hoặc là hơn.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Diṭṭhimpi lokasmiṃ na kappayeyya, ñāṇena vā sīlavatena vāpi;
Samoti attānamanūpaneyya, hīno na maññetha visesi vāpī’’ti.
“One should not form any view in the world, whether by knowledge or by virtue and observances. One should not compare oneself as equal, nor think oneself inferior or even superior.”
‘Cũng không nên tạo ra tà kiến trong thế gian, hoặc bằng trí tuệ, hoặc bằng giới và hạnh; không nên so sánh mình là bằng, không nên nghĩ mình là thấp kém, hoặc là hơn.’
35.
35.
35.
Attaṃ pahāya anupādiyāno, ñāṇenapi so nissayaṃ no karoti;
Sa ve viyattesu na vaggasārī, diṭṭhimpi so na pacceti kiñci.
Having abandoned the self, not clinging, he makes no support even of knowledge. Indeed, amidst the various factions, he is no partisan; he does not revert to any view whatsoever.
Vị ấy, từ bỏ cái ‘tôi,’ không còn chấp thủ, cũng không tạo ra nơi nương tựa bằng trí tuệ; vị ấy thật sự không theo bè phái trong các quan điểm khác nhau, cũng không quay lại bất cứ tà kiến nào.
Attaṃ pahāya anupādiyānoti. Attaṃ pahāyāti attadiṭṭhiṃ pahāya. Attaṃ pahāyāti gāhaṃ † pahāya. Attaṃ pahāyāti taṇhāvasena diṭṭhivasena gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – attaṃ pahāya. Anupādiyānoti catūhi upādānehi anupādiyamāno agaṇhamāno aparāmāsamāno anabhinivisamānoti – attaṃ pahāya anupādiyāno.
Regarding ‘Having abandoned the self, not clinging’: ‘Having abandoned the self’ means having abandoned the view of self. ‘Having abandoned the self’ means having abandoned grasping. ‘Having abandoned the self’ means having abandoned, relinquished, dispelled, brought to an end, and caused to disappear that which—by the power of craving and by the power of views—is grasped, misapprehended, adhered to, mentally consumed, and resolved upon. This is the meaning of ‘having abandoned the self’. ‘Not clinging’ means not clinging by way of the four kinds of clinging, not grasping, not misapprehending, not adhering. This is the meaning of ‘having abandoned the self, not clinging’.
Từ bỏ cái ‘tôi,’ không còn chấp thủ (attaṃ pahāya anupādiyāno). Từ bỏ cái ‘tôi’ (attaṃ pahāya) là từ bỏ ngã kiến. Từ bỏ cái ‘tôi’ là từ bỏ sự chấp thủ. Từ bỏ cái ‘tôi’ là từ bỏ, đoạn trừ, xua tan, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại cái đã được nắm giữ, đã được chấp chặt, đã được quyết tâm, đã được nuốt chửng, đã được giải thoát vào do năng lực của tham ái, do năng lực của tà kiến – đó là từ bỏ cái ‘tôi.’ Không còn chấp thủ (anupādiyāno) là không còn bị chấp thủ bởi bốn loại thủ, không còn nắm giữ, không còn chấp chặt, không còn quyết tâm – đó là từ bỏ cái ‘tôi,’ không còn chấp thủ.
Ñāṇenapi so nissayaṃ no karotīti aṭṭhasamāpattiñāṇena vā pañcābhiññāñāṇena vā micchāñāṇena vā taṇhānissayaṃ vā diṭṭhinissayaṃ vā na karoti na janeti na sañjaneti na nibbatteti na abhinibbattetīti – ñāṇenapi so nissayaṃ no karoti.
Regarding ‘He makes no support even of knowledge’: By means of the knowledge of the eight attainments, or the knowledge of the five supernormal powers, or wrong knowledge, he does not create, generate, produce, bring into existence, or fully bring into existence a support based on craving or a support based on views. This is the meaning of ‘he makes no support even of knowledge’.
Cũng không tạo ra nơi nương tựa bằng trí tuệ (ñāṇenapi so nissayaṃ no karoti) là hoặc bằng trí tuệ về tám thiền chứng, hoặc bằng trí tuệ về năm thắng trí, hoặc bằng tà trí, vị ấy không tạo ra, không làm cho sanh khởi, không làm cho sanh khởi tốt đẹp, không làm cho phát sanh, không làm cho phát sanh một cách rõ rệt nơi nương tựa là tham ái hoặc nơi nương tựa là tà kiến. – Đó là cũng không tạo ra nơi nương tựa bằng trí tuệ.
Sa ve viyattesu na vaggasārīti sa ve viyattesu bhinnesu dvejjhāpannesu dveḷhakajātesu nānādiṭṭhikesu nānākhantikesu nānārucikesu nānāladdhikesu nānādiṭṭhinissayaṃ nissitesu chandāgatiṃ gacchantesu dosāgatiṃ gacchantesu mohāgatiṃ gacchantesu bhayāgatiṃ gacchantesu na chandāgatiṃ gacchati na dosāgatiṃ gacchati na mohāgatiṃ gacchati na bhayāgatiṃ gacchati na rāgavasena gacchati na dosavasena gacchati na mohavasena gacchati na mānavasena gacchati na diṭṭhivasena gacchati na uddhaccavasena gacchati na vicikicchāvasena gacchati na anusayavasena gacchati na vaggehi dhammehi yāyati niyyati vuyhati saṃharīyatīti – sa ve viyattesu na vaggasārī.
Regarding ‘Truly, among those at variance, he is not one to take sides’: This means that among those who are divided, who have fallen into doubt, who have become of two minds, who hold diverse views, diverse inclinations, diverse preferences, diverse doctrines, who rely on the support of diverse views, who go the wrong way through desire, who go the wrong way through hatred, who go the wrong way through delusion, who go the wrong way through fear—he does not go the wrong way through desire, he does not go the wrong way through hatred, he does not go the wrong way through delusion, he does not go the wrong way through fear; he does not go by way of lust, nor by way of hatred, nor by way of delusion, nor by way of conceit, nor by way of views, nor by way of agitation, nor by way of doubt, nor by way of underlying tendencies. He is not moved, not led, not carried away, not seized by factional things. This is the meaning of ‘Truly, among those at variance, he is not one to take sides’.
Vị ấy thật sự không theo bè phái trong các quan điểm khác nhau (sa ve viyattesu na vaggasārī) là: vị ấy, trong các quan điểm khác nhau, chia rẽ, rơi vào sự phân đôi, sanh ra sự lưỡng lự, có các tà kiến khác nhau, có các sự kham nhẫn khác nhau, có các sở thích khác nhau, có các chủ thuyết khác nhau, nương tựa vào nơi nương tựa là các tà kiến khác nhau, trong những người đi vào thiên vị do dục, đi vào thiên vị do sân, đi vào thiên vị do si, đi vào thiên vị do sợ, vị ấy không đi vào thiên vị do dục, không đi vào thiên vị do sân, không đi vào thiên vị do si, không đi vào thiên vị do sợ; không đi theo năng lực của tham, không đi theo năng lực của sân, không đi theo năng lực của si, không đi theo năng lực của mạn, không đi theo năng lực của tà kiến, không đi theo năng lực của trạo cử, không đi theo năng lực của hoài nghi, không đi theo năng lực của tùy miên; không bị dẫn dắt, không bị lôi kéo, không bị cuốn trôi, không bị mang đi bởi các pháp thuộc bè phái. – Đó là vị ấy thật sự không theo bè phái trong các quan điểm khác nhau.
Diṭṭhimpi so na pacceti kiñcīti. Tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So kiñci diṭṭhigataṃ na pacceti na paccāgacchatīti – diṭṭhimpi so na pacceti kiñci.
Regarding ‘He does not adhere to any view whatsoever’: This means that for him, the sixty-two kinds of views have been abandoned, cut off, pacified, stilled, made incapable of arising, and burned by the fire of knowledge. He does not resort to or return to any view whatsoever. This is the meaning of ‘He does not adhere to any view whatsoever’.
Vị ấy cũng không quay lại bất cứ tà kiến nào (diṭṭhimpi so na pacceti kiñci). Đối với vị ấy, sáu mươi hai loại tà kiến đã được từ bỏ, đã được đoạn tận, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy không quay lại, không trở lại bất cứ tà kiến nào. – Đó là vị ấy cũng không quay lại bất cứ tà kiến nào.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Attaṃ pahāya anupādiyāno, ñāṇenapi so nissayaṃ no karoti;
Sa ve viyattesu na vaggasārī, diṭṭhimpi so na pacceti kiñcī’’ti.
“Having abandoned self, not grasping, he makes no support even of knowledge. Truly, among those at variance, he is not one to take sides; he does not adhere to any view whatsoever.”
‘Vị ấy, từ bỏ cái ‘tôi,’ không còn chấp thủ, cũng không tạo ra nơi nương tựa bằng trí tuệ; vị ấy thật sự không theo bè phái trong các quan điểm khác nhau, cũng không quay lại bất cứ tà kiến nào.’
36.
36.
36.
Yassūbhayante paṇidhīdha natthi, bhavābhavāya idha vā huraṃ vā;
Nivesanā tassa na santi keci, dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
For whom there is no longing in this world regarding the two extremes, for existence or non-existence, either here or hereafter; for him, there are no settled attachments, nor anything grasped with certainty among the views.
Đối với vị nào ở đây không có sự mong cầu ở hai cực đoan, vì sự hiện hữu và không hiện hữu, hoặc ở đây hoặc ở nơi khác; đối với vị ấy, không có bất cứ sự an trú nào, sau khi đã quyết đoán về các pháp được chấp thủ.
Yassūbhayante paṇidhīdha natthi, bhavābhavāya idha vā huraṃ vāti yassāti arahato khīṇāsavassa. Antoti † phasso eko anto, phassasamudayo dutiyo anto; atīto eko anto, anāgato dutiyo anto; sukhā vedanā eko anto, dukkhā vedanā dutiyo anto; nāmaṃ eko anto, rūpaṃ dutiyo anto; cha ajjhattikāni āyatanāni eko anto, cha bāhirāni āyatanāni dutiyo anto; sakkāyo eko anto, sakkāyasamudayo dutiyo anto. Paṇidhi vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ.
Regarding ‘For whom there is no longing here for either extreme, for existence or non-existence, here or hereafter’: ‘For whom’ means for the Arahant whose taints are destroyed. ‘Extreme’ means: contact as one extreme, the origin of contact as the second extreme; the past as one extreme, the future as the second extreme; pleasant feeling as one extreme, painful feeling as the second extreme; name as one extreme, form as the second extreme; the six internal sense bases as one extreme, the six external sense bases as the second extreme; the existing body as one extreme, the origin of the existing body as the second extreme. ‘Longing’ is said to be craving: that which is passion, intense passion, and so on, covetousness, greed, the unwholesome root.
Đối với vị nào ở đây không có sự mong cầu ở hai cực đoan, vì sự hiện hữu và không hiện hữu, hoặc ở đây hoặc ở nơi khác (yassūbhayante paṇidhīdha natthi, bhavābhavāya idha vā huraṃ vā). Đối với vị nào (yassā) là đối với bậc A-la-hán, bậc đã tận trừ các lậu hoặc. Cực đoan (anto) là: xúc là một cực đoan, tập khởi của xúc là cực đoan thứ hai; quá khứ là một cực đoan, vị lai là cực đoan thứ hai; thọ lạc là một cực đoan, thọ khổ là cực đoan thứ hai; danh là một cực đoan, sắc là cực đoan thứ hai; sáu nội xứ là một cực đoan, sáu ngoại xứ là cực đoan thứ hai; thân kiến là một cực đoan, tập khởi của thân kiến là cực đoan thứ hai. Sự mong cầu (paṇidhi) được gọi là tham ái. Tham ái nào, sự tham luyến, ... cho đến ... sự tham lam, lòng tham, gốc rễ bất thiện.
Bhavābhavāyāti bhavābhavāya kammabhavāya punabbhavāya kāmabhavāya, kammabhavāya kāmabhavāya punabbhavāya rūpabhavāya, kammabhavāya rūpabhavāya punabbhavāya arūpabhavāya, kammabhavāya arūpabhavāya punabbhavāya punappunabhavāya punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā. Idhāti sakattabhāvo, hurāti parattabhāvo; idhāti sakarūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ, hurāti pararūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ; idhāti cha ajjhattikāni āyatanāni, hurāti cha bāhirāni āyatanāni; idhāti manussaloko, hurāti devaloko; idhāti kāmadhātu, hurāti rūpadhātu arūpadhātu; idhāti kāmadhātu rūpadhātu. Hurāti arūpadhātu. Yassūbhayante paṇidhīdha natthi bhavābhavāya idha vā huraṃ vāti. Yassa ubho ante ca bhavābhavāya ca idha hurañca paṇidhi taṇhā natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – yassūbhayante paṇidhīdha natthi bhavābhavāya idha vā huraṃ vā.
‘For great and small existence’ (`bhavābhavāya`): for kamma-existence, for renewed existence; for kamma-existence in the sense-sphere, for renewed existence in the sense-sphere; for kamma-existence in the form-sphere, for renewed existence in the form-sphere; for kamma-existence in the formless-sphere, for renewed existence in the formless-sphere; for existence again and again, for going to a destination again and again, for arising again and again, for relinking again and again, for the repeated production of individual existence. ‘Here’ (`idha`) means one's own individual existence; ‘hereafter’ (`huraṃ`) means another's individual existence. ‘Here’ means one's own form, feeling, perception, formations, and consciousness; ‘hereafter’ means another's form, feeling, perception, formations, and consciousness. ‘Here’ means the six internal sense bases; ‘hereafter’ means the six external sense bases. ‘Here’ means the human world; ‘hereafter’ means the deva world. ‘Here’ means the sense-sphere; ‘hereafter’ means the form-sphere and the formless-sphere. ‘Here’ means the sense-sphere and the form-sphere; ‘hereafter’ means the formless-sphere. Regarding ‘For whom there is no longing here for either extreme, for great and small existence, here or hereafter’: For whom there is no longing (`paṇidhi`), that is, craving (`taṇhā`), for both extremes, for great and small existence, for here and for hereafter—they do not exist, are not found, are not obtainable; they are abandoned, extirpated, stilled, calmed, incapable of arising again, burned by the fire of knowledge. This is the meaning of ‘For whom there is no longing here for either extreme, for great and small existence, here or hereafter’.
Bhavābhavāyāti: (Giải thích) về bhavābhavāya (cho sự hiện hữu và không hiện hữu). Bhavābhavāya: cho sự hiện hữu này hay hiện hữu khác, cho nghiệp hữu, cho tái hữu, cho dục hữu, cho nghiệp hữu, cho dục hữu, cho tái hữu, cho sắc hữu, cho nghiệp hữu, cho sắc hữu, cho tái hữu, cho vô sắc hữu, cho nghiệp hữu, cho vô sắc hữu, cho tái hữu, cho sự hiện hữu lập đi lập lại, cho cảnh giới lập đi lập lại, cho sự sanh khởi lập đi lập lại, cho sự tái sanh lập đi lập lại, cho sự phát sanh tự thể lập đi lập lại. Idha: là tự thể của mình, hurā: là tự thể của người khác; idha: là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, hurā: là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của người khác; idha: là sáu xứ nội, hurā: là sáu xứ ngoại; idha: là cõi người, hurā: là cõi trời; idha: là cõi dục, hurā: là cõi sắc và cõi vô sắc; idha: là cõi dục và cõi sắc. Hurā: là cõi vô sắc. Yassūbhayante paṇidhīdha natthi bhavābhavāya idha vā huraṃ vāti: Đối với vị nào không có sự mong cầu, tức là ái dục, về cả hai cực đoan, và về sự hiện hữu này hay hiện hữu khác, và ở đây hay ở nơi khác, (vị ấy) không có, không hiện hữu, không tìm thấy được; (ái dục ấy) đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được từ bỏ, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) "Đối với vị nào ở đây không có sự mong cầu về hai cực đoan, cho sự hiện hữu này hay hiện hữu khác, ở đây hay ở nơi khác."
Nivesanā tassa na santi kecīti. Nivesanāti dve nivesanā – taṇhānivesanā ca diṭṭhinivesanā ca…pe… ayaṃ taṇhānivesanā…pe… ayaṃ diṭṭhinivesanā. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Nivesanā tassa na santi kecīti nivesanā tassa na santi keci natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – nivesanā tassa na santi keci.
Regarding ‘For him there are no settlings whatsoever’: ‘Settlings’ (`nivesanā`) refers to two kinds of settlings: the settling of craving and the settling of view. This is the settling of craving... this is the settling of view. ‘His’ (`tassa`) refers to the Arahant whose cankers are destroyed. ‘For him there are no settlings whatsoever’ means that for him, no settlings whatsoever exist; they are not found, are not obtainable; they are abandoned, completely cut off, stilled, relinquished, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of ‘For him there are no settlings whatsoever’.
Nivesanā tassa na santi kecīti: (Giải thích câu) "Đối với vị ấy không có bất cứ sự an trú nào." Nivesanāti: Nivesanā (sự an trú) có hai loại: sự an trú của ái dục và sự an trú của tà kiến... Này là sự an trú của ái dục... Này là sự an trú của tà kiến. Tassāti: Tassa (đối với vị ấy) là đối với vị A-la-hán, bậc đã tận diệt các lậu hoặc. Nivesanā tassa na santi kecīti: Đối với vị ấy không có bất cứ sự an trú nào, không có, không hiện hữu, không tìm thấy được, không thể có được; (chúng) đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được từ bỏ, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) "Đối với vị ấy không có bất cứ sự an trú nào."
Dhammesu niccheyya samuggahītanti. Dhammesūti dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatesu. Niccheyyāti nicchinitvā vinicchinitvā vicinitvā pavicinitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Samuggahītanti odhiggāho bilaggāho varaggāho koṭṭhāsaggāho uccayaggāho samuccayaggāho, ‘‘idaṃ saccaṃ tacchaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparīta’’nti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
Regarding ‘What is grasped after having made a decision among doctrines’: ‘Among doctrines’ (`dhammesu`) refers to the sixty-two kinds of wrong views. ‘After having made a decision’ (`niccheyya`) means having decided, having determined, having investigated, having thoroughly investigated, having weighed, having assessed, having made distinct, and having made manifest. ‘What is grasped’ (`samuggahītaṃ`) refers to limited grasping, grasping in a lump, grasping as the best, grasping in part, grasping in a heap, and collective grasping; that which is grasped, misapprehended, adhered to, settled upon, and resolved upon, thinking, ‘This is true, real, so, existent, as it is, not otherwise’—this does not exist, is not found, is not obtainable; it is abandoned, completely cut off, stilled, relinquished, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of ‘what is grasped after having made a decision among doctrines’.
Dhammesu niccheyya samuggahītanti: (Giải thích câu) "Sau khi đã quyết đoán trong các pháp, không có điều gì được chấp thủ." Dhammesūti: Dhammesu (trong các pháp) là trong sáu mươi hai loại tà kiến. Niccheyyāti: Niccheyya (sau khi đã quyết đoán) là sau khi đã quyết định, sau khi đã phân định, sau khi đã tìm hiểu, sau khi đã thẩm tra, sau khi đã cân nhắc, sau khi đã phán xét, sau khi đã làm cho rõ ràng, sau khi đã làm cho hiển lộ. Samuggahītanti: Samuggahītaṃ (được chấp thủ) là sự chấp thủ một phần, chấp thủ toàn bộ, chấp thủ điều cao tột, chấp thủ từng phần, chấp thủ theo nhóm, chấp thủ một cách đặc biệt, (với ý nghĩ rằng): "Điều này là chân thật, là xác thực, là như vậy, là có thật, là đúng như thực, là không sai khác." Sự nắm giữ, sự chấp thủ, sự cố chấp, sự ám ảnh, sự tin chắc như vậy không có, không hiện hữu, không tìm thấy được, không thể có được; (nó) đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được từ bỏ, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) "Sau khi đã quyết đoán trong các pháp, không có điều gì được chấp thủ."
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yassūbhayante paṇidhīdha natthi, bhavābhavāya idha vā huraṃ vā;
Nivesanā tassa na santi keci, dhammesu niccheyya samuggahīta’’nti.
“For whom there is no longing here for either extreme, for this state of being or that, whether here or hereafter; for him there are no settlings whatsoever, nor anything grasped after having made a decision among doctrines.”
“Đối với vị nào ở đây không có sự mong cầu về hai cực đoan, cho sự hiện hữu này hay hiện hữu khác, ở đây hay ở nơi khác; Đối với vị ấy không có bất cứ sự an trú nào, sau khi đã quyết đoán trong các pháp, không có điều gì được chấp thủ.”
37.
37.
37.
Tassīdha diṭṭhe va sute mute vā, pakappitā natthi aṇūpi saññā;
Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānaṃ, kenīdha lokasmiṃ vikappayeyya.
“For him, here, in regard to what is seen, heard, or sensed, not even a subtle perception is formed. That brahmin, not taking up any view, by what could anyone in this world classify him?”
Đối với vị ấy, ở đây, trong cái được thấy, được nghe, hay được biết, không có một ý niệm nào, dù là nhỏ nhiệm, được tạo tác. Vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến, do đâu trong thế gian này mà có thể bị phân biệt.
Tassīdha diṭṭhe va sute mute vā, pakappitā natthi aṇūpi saññāti. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Tassa diṭṭhe vā diṭṭhasuddhiyā vā sute vā sutasuddhiyā vā mute vā mutasuddhiyā vā saññāpubbaṅgamatā saññāvikappayeyyatā saññāviggahena saññāya uṭṭhapitā samuṭṭhapitā kappitā pakappitā saṅkhatā abhisaṅkhatā saṇṭhapitā, diṭṭhi natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – tassīdha diṭṭhe va sute mute vā pakappitā natthi aṇūpi saññā.
Regarding ‘For him, here, in what is seen, heard, or sensed, not even a subtle perception is fabricated’: ‘For him’ (`tassa`) means for the Arahant whose cankers are destroyed. For him, in what is seen or in the purity of the seen, in what is heard or in the purity of the heard, in what is sensed or in the purity of the sensed—a view that is preceded by perception, specially fabricated by perception, and, through the special grasping of perception, is raised up, well raised up, fabricated, specially fabricated, formed, volitionally formed, and established—such a view does not exist, is not found, cannot be apprehended; it is abandoned, extirpated, stilled, relinquished, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of ‘For him, here, in what is seen, heard, or sensed, not even a subtle perception is fabricated’.
Tassīdha diṭṭhe va sute mute vā, pakappitā natthi aṇūpi saññāti: (Giải thích câu) "Đối với vị ấy, ở đây, trong cái được thấy, được nghe, hay được biết, không có một ý niệm nào, dù là nhỏ nhiệm, được tạo tác." Tassāti: Tassa (đối với vị ấy) là đối với vị A-la-hán, bậc đã tận diệt các lậu hoặc. Tassa diṭṭhe vā diṭṭhasuddhiyā vā sute vā sutasuddhiyā vā mute vā mutasuddhiyā vā: Đối với vị ấy, trong sự thanh tịnh của cái thấy, hay trong sự thanh tịnh của cái nghe, hay trong sự thanh tịnh của cái biết, tà kiến mà có sự nhận thức đi trước, có sự tạo tác của nhận thức, có sự chấp thủ qua nhận thức, được sanh khởi bởi nhận thức, được làm cho sanh khởi, được tạo tác, được đặc biệt tạo tác, được cấu thành, được đặc biệt cấu thành, được thiết lập, thì không có, không hiện hữu, không tìm thấy được, không thể có được; (tà kiến ấy) đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được từ bỏ, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) "Đối với vị ấy, ở đây, trong cái được thấy, được nghe, hay được biết, không có một ý niệm nào, dù là nhỏ nhiệm, được tạo tác."
Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānanti. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo – sakkāyadiṭṭhi bāhitā hoti…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānanti. Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyantaṃ agaṇhantaṃ aparāmasantaṃ anabhinivesantanti – taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānaṃ.
Regarding ‘That brahmin, not adopting views’: ‘Brahmin’ means one who has banished seven things; identity view is banished... He is called ‘unattached’ and ‘such-like’ (`tādi`), he is a Brahmā. ‘That brahmin, not adopting views’ means that brahmin who is not adopting, not grasping, not misapprehending, and not adhering to a view. This is the meaning of ‘that brahmin, not adopting views’.
Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānanti: (Giải thích câu) "Vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến." Brāhmaṇoti: Brāhmaṇa (Bà-la-môn) là do đã loại trừ bảy pháp. Thân kiến đã được loại trừ... không bị dính mắc, bậc như vậy được gọi là Bà-la-môn. Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānanti: Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānaṃ (Vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến) có nghĩa là vị Bà-la-môn ấy không chấp nhận, không nắm giữ, không bám víu, không cố chấp vào tà kiến – (đây là ý nghĩa của câu) "Vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến."
Kenīdha lokasmiṃ vikappayeyyāti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tassa taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho. Taṇhākappassa pahīnattā, diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā kena rāgena kappeyya kena dosena kappeyya kena mohena kappeyya kena mānena kappeyya kāya diṭṭhiyā kappeyya kena uddhaccena kappeyya kāya vicikicchāya kappeyya kehi anusayehi kappeyya – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā pahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyo kena kappeyya – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi, yena kappeyya vikappeyya vikappaṃ āpajjeyya. Lokasminti apāyaloke…pe… āyatanaloketi – kenīdha lokasmiṃ vikappayeyya.
Regarding ‘By what here in the world could he be classified?’: As for ‘conception’ (`kappā`), there are two conceptions: the conception of craving and the conception of views... this is the conception of craving... this is the conception of views. For that Arahant, the conception of craving is abandoned, the conception of views is relinquished. Due to the conception of craving having been abandoned, and due to the conception of views having been relinquished, by what lust could he be classified? By what hatred could he be classified? By what delusion could he be classified? By what conceit could he be classified? By what view could he be classified? By what restlessness could he be classified? By what doubt could he be classified? By what underlying tendencies could he be classified—as one who is ‘attached,’ or ‘hateful,’ or ‘deluded,’ or ‘firmly bound,’ or ‘misapprehending,’ or ‘gone to distraction,’ or ‘undecided,’ or ‘powerful’? Those formations are abandoned. Due to the formations having been abandoned, into what destination could he be classified—as a ‘hell-being,’ or one in the ‘animal realm,’ or one in the ‘realm of ghosts,’ or a ‘human,’ or a ‘deva,’ or ‘one with form,’ or ‘one without form,’ or ‘one with perception,’ or ‘one without perception,’ or ‘one with neither perception nor non-perception’? That cause does not exist, that condition does not exist, that reason does not exist, by which he could be classified, specially classified, or would fall into a special classification. ‘In the world’ means in the world of woe... in the world of the sense bases. This is the meaning of ‘By what here in the world could he be classified?’
Kenīdha lokasmiṃ vikappayeyyāti: (Giải thích câu) "Do đâu trong thế gian này mà có thể bị phân biệt?" Kappāti: Kappā (sự tạo tác) có hai loại: sự tạo tác của ái dục và sự tạo tác của tà kiến... Này là sự tạo tác của ái dục... Này là sự tạo tác của tà kiến. Đối với vị ấy, sự tạo tác của ái dục đã được đoạn trừ, sự tạo tác của tà kiến đã được từ bỏ. Do sự tạo tác của ái dục đã được đoạn trừ, do sự tạo tác của tà kiến đã được từ bỏ, nên do tham nào mà có thể tạo tác? Do sân nào mà có thể tạo tác? Do si nào mà có thể tạo tác? Do mạn nào mà có thể tạo tác? Do tà kiến nào mà có thể tạo tác? Do trạo cử nào mà có thể tạo tác? Do hoài nghi nào mà có thể tạo tác? Do các tùy miên nào mà có thể tạo tác? (Vị ấy) có thể bị tạo tác là người tham ái, hay là người sân hận, hay là người si mê, hay là người bị trói buộc, hay là người chấp thủ, hay là người bị phân tán, hay là người chưa đi đến quyết định, hay là người đã đi đến chỗ kiên cố (với tùy miên) chăng? Các hành ấy đã được đoạn trừ. Do các hành đã được đoạn trừ, nên do đâu mà các cảnh giới có thể được tạo tác? (Vị ấy) có thể được tạo tác là chúng sanh địa ngục, hay là loài bàng sanh, hay là loài ngạ quỷ, hay là người, hay là trời, hay là chúng sanh có sắc, hay là chúng sanh vô sắc, hay là chúng sanh có tưởng, hay là chúng sanh vô tưởng, hay là chúng sanh phi tưởng phi phi tưởng chăng? Nguyên nhân ấy không có, duyên ấy không có, lý do ấy không có, mà do đó vị ấy có thể bị tạo tác, bị phân biệt, hay rơi vào sự phân loại. Lokasminti: Lokasmiṃ (trong thế gian) là trong thế gian khổ cảnh... trong thế gian của các xứ. – (đây là ý nghĩa của câu) "Do đâu trong thế gian này mà có thể bị phân biệt?"
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tassīdha diṭṭhe va sute mute vā, pakappitā natthi aṇūpi saññā;
Taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānaṃ, kenīdha lokasmiṃ vikappayeyyā’’ti.
“For him, here, in what is seen, heard, or sensed, there is not even the slightest conceived perception. That brahmin, not grasping at any view, by what, here in the world, could one characterize him?”
Vị ấy ở đây, đối với điều được thấy, được nghe, hoặc được biết, không có một tưởng nào dù là nhỏ nhặt được tạo tác. Vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ quan điểm, do đâu ở thế gian này người ta có thể phân biệt được vị ấy?
38.
38.
38.
Na kappayanti na purekkharonti, dhammāpi tesaṃ na paṭicchitāse;
Na brāhmaṇo sīlavatena neyyo, pāraṅgato na pacceti tādī.
They do not conceive, they do not place anything before them; even doctrines are not accepted by them. A brahmin is not to be led by morality and vows; having gone to the far shore, such a one does not return.
Họ không tạo tác, không đề cao. Các pháp cũng không được họ chấp nhận. Vị Bà-la-môn không bị dẫn dắt bởi giới và hạnh. Bậc như vậy đã đến bờ kia, không còn quay trở lại.
Na kappayanti na purekkharontīti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca. Katamo taṇhākappo? Yāvatā taṇhāsaṅkhātena sīmakataṃ mariyādikataṃ odhikataṃ pariyantakataṃ pariggahitaṃ mamāyitaṃ – ‘‘idaṃ mamaṃ, etaṃ mamaṃ, ettakaṃ mamaṃ, ettāvatā mamaṃ, mama rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, attharaṇā pāvuraṇā dāsidāsā † ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigavāssavaḷavā khettaṃ vatthu hiraññaṃ suvaṇṇaṃ gāmanigamarājadhāniyo raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, kevalampi mahāpathaviṃ taṇhāvasena mamāyati, yāvatā aṭṭhasatataṇhāvicaritaṃ – ayaṃ taṇhākappo. Katamo diṭṭhikappo? Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, dasavatthukā micchādiṭṭhi, dasavatthukā antaggāhikādiṭṭhi, yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāraṃ diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyāsaggāho † viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho, ayāthāvakasmiṃ yāthāvakanti gāho, yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni – ayaṃ diṭṭhikappo. Tesaṃ taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho. Taṇhākappassa pahīnattā, diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā na kappenti na janenti na sañjanenti na nibbattenti na abhinibbattentīti – na kappayanti.
They do not conceive nor place anything before them. 'Conceiving' refers to two kinds of conceiving: the conceiving of craving and the conceiving of views. What is the conceiving of craving? To the extent that something is marked off, bounded, limited, confined, grasped, or appropriated by what is called craving—thinking, 'This is mine, this belongs to me, this much is mine, up to this extent is mine; my forms, sounds, smells, tastes, tangibles; my coverings, garments, male and female slaves, goats and sheep, fowl and swine, elephants, cattle, horses, and mares; fields, lands, silver and gold; villages, towns, and royal capitals; the realm and the countryside; the treasury and the storehouse'—indeed, the entire great earth is appropriated through craving. To the extent of all the one hundred and eight courses of craving: this is the conceiving of craving. What is the conceiving of views? The identity-view with twenty bases, the wrong view with ten bases, the view of extremes with ten bases; whatever such view, viewpoint, thicket of views, wilderness of views, contortion of views, vacillation of views, fetter of views, grasping, adherence, inclination, misapprehension, a bad path, a wrong path, wrongness, sectarian stronghold, perverted grasping, contrary grasping, distorted grasping, wrong grasping; grasping what is not real as real, up to the sixty-two kinds of views: this is the conceiving of views. For them, the conceiving of craving is abandoned, the conceiving of views is relinquished. Because the conceiving of craving is abandoned and the conceiving of views is relinquished, they do not conceive, produce, generate, create, or bring forth either the conceiving of craving or the conceiving of views. Thus, 'they do not conceive'.
‘Không tạo tác, không đề cao.’ ‘Tạo tác’ có hai loại tạo tác: tạo tác do tham ái và tạo tác do tà kiến. Thế nào là tạo tác do tham ái? Bất cứ điều gì được phân định, được giới hạn, được xác định, được hạn định, được nắm giữ, được xem là của ta bởi cái gọi là tham ái – ‘đây là của tôi, cái này là của tôi, chừng này là của tôi, bấy nhiêu là của tôi, sắc, thanh, hương, vị, xúc của tôi, giường nằm, áo choàng, tớ trai tớ gái, dê cừu, gà heo, voi bò ngựa, ruộng vườn, đất đai, vàng bạc, làng mạc, thị trấn, kinh đô, xứ sở, quốc độ, kho tàng, vựa lẫm của tôi,’ và ngay cả toàn thể đại địa này cũng được xem là của ta do năng lực của tham ái; bất cứ điều gì thuộc về một trăm lẻ tám cách vận hành của tham ái – đây là tạo tác do tham ái. Thế nào là tạo tác do tà kiến? Thân kiến có hai mươi trường hợp, tà kiến có mười trường hợp, biên kiến có mười trường hợp, và bất cứ tà kiến nào tương tự như vậy: quan điểm, sự chấp thủ quan điểm, rừng rậm quan điểm, hoang địa quan điểm, sự rối rắm của quan điểm, sự trói buộc của quan điểm, sự nắm giữ, sự bám víu, sự dấn sâu, sự chấp thủ sai lầm, con đường xấu, con đường sai lạc, sự sai lầm, nơi nương tựa của các tà thuyết, sự nắm bắt sai lệch, sự nắm bắt ngược lại, sự nắm bắt xuyên tạc, sự nắm bắt sai lầm, sự nắm bắt điều không có thật như là có thật, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến – đây là tạo tác do tà kiến. Đối với các vị ấy, tạo tác do tham ái đã được đoạn trừ, tạo tác do tà kiến đã được từ bỏ. Do đã đoạn trừ tạo tác do tham ái, do đã từ bỏ tạo tác do tà kiến, nên các vị ấy không tạo tác, không sinh khởi, không làm cho sinh khởi, không phát sinh, không làm cho phát sinh tạo tác do tham ái hay tạo tác do tà kiến – như vậy là ‘không tạo tác.’
Na purekkharontīti. Purekkhārāti dve purekkhārā – taṇhāpurekkhāro ca diṭṭhipurekkhāro ca…pe… ayaṃ taṇhāpurekkhāro…pe… ayaṃ diṭṭhipurekkhāro. Tesaṃ taṇhāpurekkhāro pahīno, diṭṭhipurekkhāro paṭinissaṭṭho. Taṇhāpurekkhārassa pahīnattā, diṭṭhipurekkhārassa paṭinissaṭṭhattā na taṇhaṃ vā na diṭṭhiṃ vā purato katvā caranti na taṇhādhajā na taṇhāketū na taṇhādhipateyyā na diṭṭhidhajā na diṭṭhiketū na diṭṭhādhipateyyā. Na taṇhāya vā na diṭṭhiyā vā parivāretvā carantīti – na kappayanti na purekkharonti.
They do not place anything before them. 'Placing before' refers to two kinds of placing before: placing craving before and placing views before... This is placing craving before... This is placing views before. For them, placing craving before is abandoned, and placing views before is relinquished. Because placing craving before is abandoned and placing views before is relinquished, they do not conduct themselves having placed craving or views before them. They are not those with the banner of craving, not those with the standard of craving, not under the dominion of craving; not those with the banner of views, not those with the standard of views, not under the dominion of views. They do not conduct themselves surrounded by craving or by views—thus, 'they do not conceive, they do not place anything before them'.
‘Không đề cao.’ ‘Sự đề cao’ có hai loại: sự đề cao tham ái và sự đề cao tà kiến... đây là sự đề cao tham ái... đây là sự đề cao tà kiến. Đối với các vị ấy, sự đề cao tham ái đã được đoạn trừ, sự đề cao tà kiến đã được từ bỏ. Do đã đoạn trừ sự đề cao tham ái, do đã từ bỏ sự đề cao tà kiến, nên các vị ấy không đi theo với tham ái hay tà kiến được đặt lên trước, không lấy tham ái làm cờ xí, không lấy tham ái làm biểu tượng, không lấy tham ái làm chủ tể; không lấy tà kiến làm cờ xí, không lấy tà kiến làm biểu tượng, không lấy tà kiến làm chủ tể. Các vị ấy không đi lại với tham ái hay tà kiến vây quanh – như vậy là ‘không tạo tác, không đề cao.’
Dhammāpi tesaṃ na paṭicchitāseti. Dhammā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Tesanti tesaṃ arahantānaṃ khīṇāsavānaṃ. Na paṭicchitāseti ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti na paṭicchitāse. ‘‘Asassato loko… antavā loko… anantavā loko… taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ… aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ… hoti tathāgato paraṃ maraṇā… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti na paṭicchitāseti – dhammāpi tesaṃ na paṭicchitāse.
Even doctrines are not accepted by them. 'Doctrines' refers to the sixty-two views. 'By them' means by those arahants, whose taints are destroyed. 'Are not accepted' means they do not accept such views as: 'The world is eternal, this alone is true, all else is false'; 'The world is not eternal... the world is finite... the world is infinite... the soul is the same as the body... the soul is different from the body... a Tathāgata exists after death... a Tathāgata does not exist after death... a Tathāgata both exists and does not exist after death... a Tathāgata neither exists nor does not exist after death, this alone is true, all else is false'—thus, 'even doctrines are not accepted by them'.
‘Các pháp cũng không được họ chấp nhận.’ ‘Các pháp’ được gọi là sáu mươi hai loại tà kiến. ‘Của họ’ tức là của các vị A-la-hán, các bậc đã tận diệt lậu hoặc. ‘Không được chấp nhận’ có nghĩa là các vị ấy không chấp nhận rằng: ‘Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là chân thật, ngoài ra là sai lầm.’ Các vị ấy không chấp nhận rằng: ‘Thế gian là vô thường... thế gian là hữu biên... thế gian là vô biên... sinh mạng và thân thể là một... sinh mạng và thân thể là khác... Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại sau khi chết... Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là chân thật, ngoài ra là sai lầm’ – như vậy là ‘các pháp cũng không được họ chấp nhận.’
Na brāhmaṇo sīlavatena neyyoti. Nāti paṭikkhepo. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo – sakkāyadiṭṭhi bāhitā hoti…pe… asito tādi vuccate sa brahmā. Na brāhmaṇo sīlavatena neyyoti. Brāhmaṇo sīlena vā vatena vā sīlabbatena vā na yāyati na niyyati na vuyhati na saṃharīyatīti – na brāhmaṇo sīlavatena neyyo.
A brahmin is not to be led by morality and observances. 'Na' is a negation. A brahmin is so called because he has banished seven things—identity view is banished... and so on... unattached, such a one is called a brahmin. 'A brahmin is not to be led by morality and observances' means: a brahmin is not moved, not led, not carried away, not drawn along by morality, or by observances, or by morality and observances—thus, 'a brahmin is not to be led by morality and observances'.
‘Vị Bà-la-môn không bị dẫn dắt bởi giới và hạnh.’ ‘Na’ là sự phủ định. ‘Bà-la-môn’ là do đã loại trừ bảy pháp nên được gọi là Bà-la-môn – thân kiến đã được loại trừ... bậc ấy không bị tham ái và tà kiến dính mắc, bậc như vậy được gọi là Phạm thiên. ‘Vị Bà-la-môn không bị dẫn dắt bởi giới và hạnh’ có nghĩa là: Vị Bà-la-môn không đi theo, không bị dẫn dắt, không bị cuốn đi, không bị mang đi bởi giới, hoặc bởi hạnh, hoặc bởi giới và hạnh – như vậy là ‘vị Bà-la-môn không bị dẫn dắt bởi giới và hạnh.’
Pāraṅgato na pacceti tādīti. Pāraṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. So pāraṅgato pārappatto antagato antappatto koṭigato koṭippatto [vitthāro] jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavoti – pāraṅgato. Na paccetīti sotāpattimaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Sakadāgāmimaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Anāgāmimaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchati. Arahattamaggena ye kilesā pahīnā, te kilese na puneti na pacceti na paccāgacchatīti – pāraṅgato na pacceti. Tādīti arahā pañcahākārehi tādī – iṭṭhāniṭṭhe tādī, cattāvīti tādī, tiṇṇāvīti tādī, muttāvīti tādī, taṃniddesā tādī.
Having gone to the far shore, such a one does not return. The far shore is called the deathless, Nibbāna: the stilling of all formations, the relinquishing of all substrates, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. He has gone to the far shore, reached the far shore, gone to the end, reached the end, gone to the summit, reached the summit; for him there is no further becoming—thus, 'having gone to the far shore'. 'Does not return' means: he does not return to, does not go back to, does not revert to those defilements that were abandoned by the path of stream-entry. He does not return to... those defilements that were abandoned by the path of once-returning. He does not return to... those defilements that were abandoned by the path of non-returning. He does not return to... those defilements that were abandoned by the path of arahantship—thus, 'having gone to the far shore, he does not return'. 'Such a one' (tādī) means: an arahant is 'tādī' in five ways: he is 'tādī' in regard to the agreeable and disagreeable; he is 'tādī' because he has abandoned (cattāvī); he is 'tādī' because he has crossed over (tiṇṇāvī); he is 'tādī' because he is liberated (muttāvī); he is 'tādī' because he is so designated (taṃniddesā).
‘Bậc như vậy đã đến bờ kia, không còn quay trở lại.’ ‘Bờ kia’ được gọi là trạng thái bất tử, là Niết-bàn. Đó là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của tham ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, là Niết-bàn. Vị ấy đã đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia, đã đến điểm cuối, đã đạt đến điểm cuối, đã đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng của vòng luân hồi sanh tử, vị ấy không còn tái sanh nữa – như vậy là ‘đã đến bờ kia.’ ‘Không còn quay trở lại’ có nghĩa là: những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tu-đà-hoàn đạo, vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi ngược lại với những phiền não ấy. Những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi Tư-đà-hàm đạo, vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi ngược lại với những phiền não ấy. Những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi A-na-hàm đạo, vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi ngược lại với những phiền não ấy. Những phiền não nào đã được đoạn trừ bởi A-la-hán đạo, vị ấy không quay lại, không trở lại, không đi ngược lại với những phiền não ấy – như vậy là ‘đã đến bờ kia, không còn quay trở lại.’ ‘Bậc như vậy’ có nghĩa là: vị A-la-hán là ‘bậc như vậy’ theo năm phương diện – là bậc như vậy đối với điều ưa thích và không ưa thích, là bậc như vậy vì đã từ bỏ, là bậc như vậy vì đã vượt qua, là bậc như vậy vì đã giải thoát, là bậc như vậy vì được mô tả như thế.
Kathaṃ arahā iṭṭhāniṭṭhe tādī? Arahā lābhepi tādī, alābhepi tādī, yasepi tādī, ayasepi tādī, pasaṃsāyapi tādī, nindāyapi tādī, sukhepi tādī, dukkhepi tādī. Ekacce bāhaṃ † gandhena limpeyyuṃ, ekacce bāhaṃ † vāsiyā taccheyyuṃ – amusmiṃ natthi rāgo, amusmiṃ natthi paṭighaṃ, anunayapaṭighavippahīno ugghātinighātivītivatto anurodhavirodhasamatikkanto. Evaṃ arahā iṭṭhāniṭṭhe tādī.
How is an arahant 'tādī' in regard to the agreeable and disagreeable? An arahant is 'tādī' in gain and in loss, in status and in disgrace, in praise and in blame, in pleasure and in pain. If some were to anoint one arm with perfumes, and others were to scrape the other arm with an adze—in the former case there is no lust, and in the latter case there is no aversion. He has abandoned attraction and repulsion, has overcome exaltation and denigration, and has fully transcended liking and disliking. In this way, an arahant is 'tādī' in regard to the agreeable and disagreeable.
Thế nào là vị A-la-hán là ‘bậc như vậy’ đối với điều ưa thích và không ưa thích? Vị A-la-hán là bậc như vậy khi được lợi, là bậc như vậy khi không được lợi; là bậc như vậy khi có danh, là bậc như vậy khi không có danh; là bậc như vậy khi được tán thán, là bậc như vậy khi bị chê bai; là bậc như vậy khi có lạc, là bậc như vậy khi có khổ. Nếu có người thoa nước hoa lên một cánh tay, và có người dùng rìu chặt một cánh tay khác – đối với việc này không có tham ái, đối với việc kia không có sân hận; vị ấy đã từ bỏ sự ưa thích và ghét bỏ, đã vượt qua sự nâng lên và hạ xuống, đã vượt khỏi sự thuận theo và chống đối. Như vậy, vị A-la-hán là ‘bậc như vậy’ đối với điều ưa thích và không ưa thích.
Kathaṃ arahā cattāvīti tādī? Arahato rāgo catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho. Doso…pe… moho… kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā… sabbākusalābhisaṅkhārā cattā vantā muttā pahīnā paṭinissaṭṭhā. Evaṃ arahā cattāvīti tādī.
How is an Arahant 'such' because of having abandoned? For an Arahant, lust is abandoned, vomited, released, eradicated, and relinquished. So too are hatred... delusion... anger... resentment... denigration of merit... malice... envy... stinginess... deceit... fraud... obstinacy... rivalry... conceit... arrogance... intoxication... heedlessness... all defilements... all misconducts... all distresses... all burnings... all torments... all unwholesome volitional formations—abandoned, vomited, released, eradicated, and relinquished. Thus, an Arahant is 'such' because of having abandoned.
Thế nào là bậc A-la-hán là bậc như thế (tādī) do đã từ bỏ (cattāvī)? Đối với bậc A-la-hán, tham ái đã được từ bỏ, đã được nôn ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly. Sân hận... si mê... phẫn nộ... hiềm hận... gièm pha... cạnh tranh... tật đố... bỏn xẻn... xảo trá... gian manh... ngoan cố... tranh cạnh... kiêu mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... tất cả phiền não... tất cả hành vi xấu ác... tất cả sự phiền muộn... tất cả sự nóng nảy... tất cả sự thiêu đốt... tất cả các bất thiện hành đã được từ bỏ, đã được nôn ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly. Như vậy, bậc A-la-hán là bậc như thế do đã từ bỏ.
Kathaṃ arahā tiṇṇāvīti tādī? Arahā kāmoghaṃ tiṇṇo bhavoghaṃ tiṇṇo diṭṭhoghaṃ tiṇṇo avijjoghaṃ tiṇṇo sabbaṃ saṃsārapathaṃ tiṇṇo uttiṇṇo nittiṇṇo atikkanto samatikkanto vītivatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavoti. Evaṃ arahā tiṇṇāvīti tādī.
How is an Arahant 'such' because of having crossed over? An Arahant has crossed the flood of sensual desire, crossed the flood of existence, crossed the flood of views, and crossed the flood of ignorance; he has crossed, crossed further, crossed completely, gone beyond, completely gone beyond, and surmounted the entire path of saṃsāra. He has lived the holy life and is perfected in conduct; for him, the saṃsāra of birth and death, which is renewed existence, is no more. Thus, an Arahant is 'such' because of having crossed over.
Thế nào là bậc A-la-hán là bậc như thế (tādī) do đã vượt qua (tiṇṇāvī)? Bậc A-la-hán đã vượt qua bộc lưu của dục, đã vượt qua bộc lưu của hữu, đã vượt qua bộc lưu của tà kiến, đã vượt qua bộc lưu của vô minh; đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt thoát, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã siêu việt tất cả con đường luân hồi. Vị ấy đã sống xong đời sống phạm hạnh, đã thực hành xong những điều cần thực hành. Đối với vị ấy, không còn có sự tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử nữa. Như vậy, bậc A-la-hán là bậc như thế do đã vượt qua.
Kathaṃ arahā muttāvīti tādī? Arahato rāgā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, dosā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, mohā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, kodhā…pe… upanāhā… makkhā… paḷāsā… issāya… macchariyā… māyāya… sāṭheyyā… thambhā… sārambhā… mānā… atimānā… madā… pamādā… sabbakilesehi… sabbaduccaritehi… sabbadarathehi… sabbapariḷāhehi… sabbasantāpehi… sabbākusalābhisaṅkhārehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ. Evaṃ arahā muttāvīti tādī.
How is an Arahant 'such' because of being liberated? For an Arahant, the mind is freed, especially freed, and well freed from lust; the mind is freed, especially freed, and well freed from hatred; the mind is freed, especially freed, and well freed from delusion; from anger... from resentment... from denigration of merit... from malice... from envy... from stinginess... from deceit... from fraud... from obstinacy... from rivalry... from conceit... from arrogance... from intoxication... from heedlessness... from all defilements... from all misconducts... from all distresses... from all burnings... from all torments... from all unwholesome volitional formations, the mind is freed, especially freed, and well freed. Thus, an Arahant is 'such' because of being liberated.
Thế nào là bậc A-la-hán là bậc như thế (tādī) do đã giải thoát (muttāvī)? Đối với bậc A-la-hán, tâm đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát khỏi tham ái; tâm đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát khỏi sân hận; tâm đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát khỏi si mê; khỏi phẫn nộ... hiềm hận... gièm pha... cạnh tranh... tật đố... bỏn xẻn... xảo trá... gian manh... ngoan cố... tranh cạnh... kiêu mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... khỏi tất cả phiền não... khỏi tất cả hành vi xấu ác... khỏi tất cả sự phiền muộn... khỏi tất cả sự nóng nảy... khỏi tất cả sự thiêu đốt... khỏi tất cả các bất thiện hành, tâm đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát. Như vậy, bậc A-la-hán là bậc như thế do đã giải thoát.
Kathaṃ arahā taṃniddesā tādī? Arahā sīle sati sīlavāti taṃniddesā tādī; saddhāya sati saddhoti taṃniddesā tādī; vīriye sati vīriyavāti taṃniddesā tādī; satiyā sati satimāti taṃniddesā tādī; samādhimhi sati samāhitoti taṃniddesā tādī; paññāya sati paññavāti taṃniddesā tādī; vijjāya sati tevijjoti taṃniddesā tādī; abhiññāya sati chaḷabhiññoti taṃniddesā tādī. Evaṃ arahā taṃniddesā tādīti – pāraṅgato na pacceti tādī.
How is an Arahant 'such' because of that designation? When virtue is present, an Arahant is called 'virtuous'; because of that designation, he is 'such'. When faith is present, he is called 'faithful'; because of that designation, he is 'such'. When energy is present, he is called 'energetic'; because of that designation, he is 'such'. When mindfulness is present, he is called 'mindful'; because of that designation, he is 'such'. When concentration is present, he is called 'concentrated'; because of that designation, he is 'such'. When wisdom is present, he is called 'wise'; because of that designation, he is 'such'. When knowledge is present, he is called 'one endowed with the three knowledges'; because of that designation, he is 'such'. When direct knowledge is present, he is called 'one endowed with the six direct knowledges'; because of that designation, he is 'such'. Thus, an Arahant is 'such' because of that designation, as in the verse: 'Having gone to the far shore, he does not return, such a one'.
Thế nào là bậc A-la-hán là bậc như thế (tādī) do sự chỉ định ấy (taṃniddesā)? Bậc A-la-hán, khi có giới, là bậc có giới, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có đức tin, là bậc có đức tin, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có tinh tấn, là bậc có tinh tấn, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có niệm, là bậc có niệm, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có định, là bậc có định, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có tuệ, là bậc có tuệ, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có minh, là bậc có tam minh, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế; khi có thắng trí, là bậc có lục thông, do sự chỉ định ấy nên là bậc như thế. Như vậy, bậc A-la-hán là bậc như thế do sự chỉ định ấy – đã đến bờ kia, không quay trở lại, là bậc như thế.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Na kappayanti na purekkharonti, dhammāpi tesaṃ na paṭicchitāse;
Na brāhmaṇo sīlavatena neyyo, pāraṅgato na pacceti tādī’’ti.
“They do not form concepts nor put them forward; doctrines are not accepted by them. A brahmin is not to be led by virtue and vows; having gone to the far shore, such a one does not return.”
‘Các vị ấy không tạo tác, không đặt lên trước, các pháp cũng không được các vị ấy chấp nhận; vị Bà-la-môn không thể được dẫn dắt bởi giới và cấm, đã đến bờ kia, không quay trở lại, là bậc như thế.’
The Fifth, the Exposition of the Paramaṭṭhaka Sutta.
Phần giải thích kinh Paramaṭṭhaka, thứ năm.