Bản dịch
MND 4 — Diễn Giải Kinh Nhóm Tám Về Trong Sạch
4. Suddhaṭṭhakasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Trong Sạch được nói đến:
Ta nhìn thấy vị trong sạch là cao cả, vô bệnh,
do việc nhìn thấy mà con người có được sự thanh tịnh.
Trong khi biết rõ như vậy, sau khi biết được (việc ấy) là ‘cao cả,’
người có sự quan sát vị trong sạch trở về với trí .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
"Ta nhìn thấy vị trong sạch là cao cả, vô bệnh,
do việc nhìn thấy mà con người có được sự thanh tịnh.
Trong khi biết rõ như vậy, sau khi biết được (việc ấy) là ‘cao cả,’
người có sự quan sát vị trong sạch trở về với trí ."
Nếu do nhìn thấy mà con người có được sự trong sạch, hoặc do nhận biết mà người ấy dứt bỏ khổ đau, thì người ấy--người còn mầm mống tái sanh--được trong sạch do (đạo lộ) khác (so với Thánh Đạo), chính tà kiến (thế ấy) đã mớm lời cho người ấy trong khi nói như thế .
Nếu do nhìn thấy mà con người có được sự trong sạch - Nếu do sự nhận thức của mắt, do sự nhìn thấy của mắt, con người có được sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự thoát khỏi, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, con người được trong sạch, được thanh tịnh, được hoàn toàn thanh tịnh, được thoát khỏi, được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát. ‘Nếu do nhìn thấy mà con người có được sự trong sạch’ là thế ấy.
Hoặc do nhận biết mà người ấy dứt bỏ khổ đau - Nếu do sự nhận thức của mắt, do sự nhìn thấy của mắt, con người dứt bỏ khổ do sanh, dứt bỏ khổ do già, dứt bỏ khổ do bệnh, dứt bỏ khổ do chết, dứt bỏ khổ do sầu bi khổ ưu não. ‘Hoặc do nhận biết mà người ấy dứt bỏ khổ đau’ là thế ấy.
Thì người ấy--người còn mầm mống tái sanh--được trong sạch do (đạo lộ) khác (so với Thánh Đạo) - Do (đạo lộ) khác là do đạo lộ không trong sạch, do cách thực hành sai trái, do đường lối không dẫn dắt ra khỏi, ngoại trừ các sự thiết lập niệm, ngoại trừ các chánh tinh tấn, ngoại trừ các nền tảng của thần thông, ngoại trừ các quyền, ngoại trừ các lực, ngoại trừ các chi phần đưa đến giác ngộ, ngoại trừ Thánh đạo tám chi phần, con người được trong sạch, được thanh tịnh, được hoàn toàn thanh tịnh, được thoát khỏi, được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát. Còn mầm mống tái sanh là có luyến ái, có sân, có si, có ngã mạn, có tham ái, có tà kiến, có ô nhiễm, có chấp thủ. ‘Thì người ấy--người còn mầm mống tái sanh--được trong sạch do (đạo lộ) khác (so với Thánh Đạo)’ là thế ấy.
Chính tà kiến (thế ấy) đã mớm lời cho người ấy trong khi nói như thế - Và tà kiến ấy mớm lời cho nhân vật ấy rằng: ‘Và điều mà cá nhân người có tà kiến, có quan điểm sai lệch là thế ấy. Trong khi nói như thế : trong khi đang nói, đang thuyết giảng, đang thốt ra, đang giảng giải, đang phát ngôn như thế; ‘Thế giới là thường còn, chính điều này là chân lý, điều khác là rồ dại’ trong khi đang nói, đang thuyết giảng, đang thốt ra, đang giảng giải, đang phát ngôn như thế; ‘Thế giới là không thường còn,’ ‘Thế giới là có giới hạn,’ ‘Thế giới là không có giới hạn,’ ‘Thế giới là có giới hạn và không có giới hạn,’ ‘Thế giới không phải là có giới hạn và cũng không phải là không có giới hạn,’ ‘Mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy,’ ‘Mạng sống là vật khác thân thể là vật khác,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết,’ chính điều này là chân lý, điều khác là rồ dại’ trong khi đang nói, đang thuyết giảng, đang thốt ra, đang giảng giải, đang phát ngôn như thế. ‘Chính tà kiến (thế ấy) đã mớm lời cho người ấy trong khi nói như thế’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nếu do nhìn thấy mà con người có được sự trong sạch, hoặc do nhận biết mà người ấy dứt bỏ khổ đau, thì người ấy--người còn mầm mống tái sanh--được trong sạch do (đạo lộ) khác (so với Thánh Đạo), chính tà kiến (thế ấy) đã mớm lời cho người ấy trong khi nói như thế .”
Vị Bà-la-môn đã nói rằng sự trong sạch là không do (đạo lộ) khác, không liên quan đến điều đã được thấy, đến điều đã được nghe, đến giới và phận sự, hoặc đến điều đã được cảm giác, là người không bị vấy bẩn bởi phước và tội, buông bỏ tự ngã, không tạo tác (nghiệp gì) ở nơi đây .
(Đức Thế Tôn dạy Sabhiya rằng:)
Sau khi loại trừ tất cả các điều ác,
là người không còn bợn nhơ, tốt lành, định tỉnh, bản thân ổn định.
Sau khi vượt qua luân hồi, vị ấy đã thành tựu.
Không bị lệ thuộc, (vững chải) như thế ấy, vị ấy được gọi là Bà-la- môn .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
"Vị Bà-la-môn đã nói rằng sự trong sạch là không do (đạo lộ) khác, không liên quan đến điều đã được thấy, đến điều đã được nghe, đến giới và phận sự, hoặc đến điều đã được cảm giác, là người không bị vấy bẩn bởi phước và tội, buông bỏ tự ngã, không tạo tác (nghiệp gì) ở nơi đây ."
Buông bỏ cái trước rồi nương vào cái khác,
đeo đuổi dục vọng, những người ấy không vượt qua sự dính mắc.
Họ nắm bắt rồi rời bỏ,
tựa như con khỉ với việc nắm lấy cành cây trước mặt .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Buông bỏ cái trước rồi nương vào cái khác,
đeo đuổi dục vọng, những người ấy không vượt qua sự dính mắc.
Họ nắm bắt rồi rời bỏ,
tựa như con khỉ với việc nắm lấy cành cây trước mặt .”
Người sau khi tự mình thọ trì các phận sự
thì đi đến chỗ cao chỗ thấp, bị dính mắc vào tưởng;
còn người hiểu biết, với các sự hiểu biết, sau khi thông hiểu pháp
thì không đi đến chỗ cao chỗ thấp, là người có tuệ bao la .
(Đức Thế Tôn dạy Sabhiya rằng:)
“ Sau khi suy xét về toàn bộ các sự hiểu biết mà các Sa- môn và Bà-la- môn có được, đã xa lìa sự luyến ái đối với tất cả các cảm thọ, sau khi đã vượt qua mọi hiểu biết, vị ấy là người hiểu biết sâu sắc .”
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Người sau khi tự mình thọ trì các phận sự
thì đi đến chỗ cao chỗ thấp, bị dính mắc vào tưởng;
còn người hiểu biết, với các sự hiểu biết, sau khi thông hiểu pháp
thì không đi đến chỗ cao chỗ thấp, là người có tuệ bao la .”
Vị ấy, người diệt đạo binh ở tất cả các pháp,
về bất cứ điều gì đã được thấy, đã được nghe, hoặc đã được cảm giác.
Vi ấy, người có nhãn quan như thế, đang hành xử rõ ràng,
thì có thể chi phối vị ấy bởi điều gì ở thế gian này?
1. Các dục là đạo binh thứ nhất của ngươi, thứ nhì gọi là sự không hứng thú, thứ ba của ngươi là đói và khát, thứ tư gọi là tham ái .
2. Thứ năm của ngươi là dã dượi và buồn ngủ, thứ sáu gọi là sợ sệt, thứ bảy của ngươi là hoài nghi, thứ tám của ngươi là gièm pha, bướng bỉnh .
3. Lợi lộc, danh tiếng, tôn vinh, và danh vọng nào đã đạt được sai trái, kẻ nào đề cao bản thân và khi dễ những người khác , ...
4. Này Namuci, chúng là đạo binh của ngươi, là toán xung kích của Kaṇha. Kẻ khiếp nhược không chiến thắng nó, và sau khi chiến thắng thì đạt được sự an lạc .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị ấy, người diệt đạo binh ở tất cả các pháp,
về bất cứ điều gì đã thấy, đã nghe, hoặc đã cảm giác.
Vị ấy, người có nhãn quan như thế, đang hành xử rõ ràng,
thì có thể chi phối vị ấy bởi điều gì ở thế gian này? ”
Các vị ấy không tác động, không chú trọng,
không nói về sự trong sạch tột cùng.
Sau khi tháo gỡ sự trói buộc vào chấp thủ đã bị buộc trói,
các vị không tạo nên niềm mong mỏi ở bất cứ đâu ở thế gian .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Các vị ấy không tác động, không chú trọng,
không nói về sự trong sạch tột cùng.
Sau khi tháo gỡ sự trói buộc vào chấp thủ đã bị cột trói,
các vị không tạo nên niềm mong mỏi ở bất cứ đâu ở thế gian .”
Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có
điều gì được ôm giữ, sau khi đã biết và sau khi đã thấy,
không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục;
đối với vị ấy, điều tối thắng được ôm giữ là không có ở nơi đây .
Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có điều gì được ôm giữ, sau khi đã biết và sau khi đã thấy : Ranh giới - Có bốn ranh giới: sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và phận sự, tà kiến tiềm ẩn, hoài nghi tiềm ẩn, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy; đây là ranh giới thứ nhất. Sự ràng buộc của ái dục (sự luyến ái về dục) và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất thô thiển, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy; đây là ranh giới thứ nhì. Sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục tiềm ẩn và bất bình tiềm ẩn có tính chất vi tế, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy; đây là ranh giới thứ ba. Ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn tiềm ẩn, hữu ái tiềm ẩn, vô minh tiềm ẩn, các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy; đây là ranh giới thứ tư. Và từ khi vượt trội, vượt qua, vượt trên hẳn bốn ranh giới nhờ vào bốn Thánh Đạo này, vị ấy được gọi là có sự vượt quá ranh giới.
Vị Bà-la-môn : Bà-la-môn do trạng thái đã loại trừ bảy pháp: sự nhận thức sai trái về thân được loại trừ, sự hoài nghi được loại trừ, sự bám víu vào giới và phận sự được loại trừ, —như trên— Không bị lệ thuộc, (vững chải) như thế ấy, vị ấy được gọi là Bà-la-môn. Đối với vị ấy : Đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã cạn kiệt. Sau khi đã biết : Sau khi đã biết bằng trí biết tâm người khác hoặc sau khi đã biết bằng trí nhớ về các kiếp sống trước. Sau khi đã thấy : sau khi đã thấy bằng nhục nhãn hoặc sau khi đã thấy bằng Thiên nhẫn. Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có điều gì được ôm giữ, sau khi đã biết và sau khi đã thấy - Đối với vị ấy, điều đã nắm giữ, đã bám víu, đã cố chấp, đã hướng đến rằng: ‘Cái này là tối thắng, cao cả, nhất hạng, thù thắng, dẫn đầu, tối thượng, cao quý’ là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có điều gì được ôm giữ, sau khi đã biết và sau khi đã thấy’ là thế ấy.
Không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục - Bị luyến ái ở ái dục nói đến những người nào bị luyến ái, bị thèm khát, bị buộc trói, bị mê mẫn, bị gần gũi, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở năm loại dục. Bị luyến ái ở pháp ly ái dục nói đến những người nào bị luyến ái, bị thèm khát, bị buộc trói, bị mê mẫn, bị gần gũi, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở các sự thể nhập vào cảnh sắc giới và cảnh vô sắc giới. Không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục : Từ khi sự luyến ái ở dục giới, sự luyến ái ở sắc giới, và sự luyến ái ở vô sắc giới được dứt bỏ, có rễ được cắt lìa, như cây thốt nốt bị bứng gốc, khiến cho không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai, cho đến như thế là ‘không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục.’
Đối với vị ấy, điều tối thắng được ôm giữ là không có ở nơi đây - Đối với vị ấy : Đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã cạn kiệt. Đối với vị ấy, điều đã nắm giữ, đã bám víu, đã cố chấp, đã hướng đến rằng: ‘Cái này là tối thắng, cao cả, nhất hạng, thù thắng, dẫn đầu, tối thượng, cao quý’ là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Đối với vị ấy, điều tối thắng được ôm giữ là không có ở nơi đây’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có
điều gì được ôm giữ, sau khi đã biết và sau khi đã thấy,
không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục;
đối với vị ấy, điều tối thắng được ôm giữ là không có ở nơi đây .”
Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Trong Sạch là thứ tư . --ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Diṭṭhī hi naṃ pāva tathā vadānanti. Sāva diṭṭhi taṃ puggalaṃ pāvadati – iti vāyaṃ puggalo micchādiṭṭhiko viparītadassano. Tathā vadānanti tathā vadantaṃ kathentaṃ bhaṇantaṃ dīpayantaṃ voharantaṃ. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti tathā vadantaṃ kathentaṃ bhaṇantaṃ dīpayantaṃ voharantaṃ. ‘‘Asassato loko…pe… antavā loko… anantavā loko… taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ… aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ… hoti tathāgato paraṃ maraṇā… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti tathā vadantaṃ kathentaṃ bhaṇantaṃ dīpayantaṃ voharantanti – diṭṭhī hi naṃ pāva tathā vadānaṃ.
‘For his view declares him thus.’ That very view declares that person: ‘This person holds wrong view, has perverse vision.’ ‘Thus declaring’ means thus speaking, stating, uttering, explaining, expressing. ‘The world is eternal; this alone is true, anything else is vain’—thus speaking, stating, uttering, explaining, expressing. ‘The world is not eternal… the world is finite… the world is infinite… the soul is the same as the body… the soul is different from the body… the Tathāgata exists after death… the Tathāgata does not exist after death… the Tathāgata both exists and does not exist after death… the Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, anything else is vain’—thus speaking, stating, uttering, explaining, expressing. This is the meaning of ‘for his view declares him thus.’
Và chính tà kiến đã nói lên điều ấy về người đó. Chính tà kiến ấy đã nói lên về người ấy rằng: ‘Người này là người có tà kiến, có cái thấy sai lạc.’ Người nói lên như vậy có nghĩa là người nói, người kể, người tuyên bố, người trình bày, người diễn đạt như vậy. Người nói, người kể, người tuyên bố, người trình bày, người diễn đạt như vầy: ‘Thế gian là thường còn, chỉ điều này là thật, ngoài ra là giả dối.’ Người nói, người kể, người tuyên bố, người trình bày, người diễn đạt như vầy: ‘Thế gian là không thường còn... (cho đến)... Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại, chỉ điều này là thật, ngoài ra là giả dối’ – (đây là ý nghĩa của câu) và chính tà kiến đã nói lên điều ấy về người đó.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Diṭṭhena ce suddhi narassa hoti, ñāṇena vā so pajahāti dukkhaṃ;
Aññena so sujjhati sopadhīko, diṭṭhī hi naṃ pāva tathā vadāna’’nti.
“If a person’s purification comes about by seeing, or if by knowledge one abandons suffering, then one is purified by another means, though with acquisitions still, for one’s very view declares one thus.”
‘Nếu do cái thấy mà con người được thanh tịnh, hoặc do trí tuệ mà người ấy từ bỏ khổ đau; thì người ấy, vẫn còn sanh y, được thanh tịnh bởi một pháp khác; và chính tà kiến đã nói lên điều ấy về người đó.’
25.
25.
25.
Na brāhmaṇo aññato suddhimāha, diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Puññe ca pāpe ca anūpalitto, attañjaho nayidha pakubbamāno.
“A brahmin does not declare purity from another source—from what is seen or heard, from virtue and vows, or from what is sensed. Unstained by both merit and evil, having abandoned self, he does not fashion anything here.”
Vị Bà-la-môn không tuyên bố sự thanh tịnh từ nơi khác, từ cái thấy, cái nghe, giới cấm, hay cái cảm nhận; không dính mắc trong phước và tội, đã từ bỏ tự ngã, không tạo tác ở đời này.
Na brāhmaṇo aññato suddhimāha diṭṭhe sute sīlavate mute vāti. Nāti paṭikkhepo. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo – sakkāyadiṭṭhi bāhitā hoti, vicikicchā bāhitā hoti, sīlabbataparāmāso bāhito hoti, rāgo bāhito hoti, doso bāhito hoti, moho bāhito hoti, māno bāhito hoti. Bāhitāssa honti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
‘A brahmin does not declare purity from another source, in what is seen, heard, virtue and vows, or what is sensed.’ ‘Not’ is a negation. A brahmin is so called because he has banished seven things: self-identity view is banished, doubt is banished, adherence to rites and rituals is banished, lust is banished, hatred is banished, delusion is banished, and conceit is banished. Banished are his evil, unwholesome qualities—defiling, leading to renewed existence, fraught with distress, ripening in suffering, leading to future birth, aging, and death.
Vị Bà-la-môn không tuyên bố sự thanh tịnh từ nơi khác, từ cái thấy, cái nghe, giới cấm, hay cái cảm nhận. ‘Không’ là sự phủ định. ‘Bà-la-môn’ là do đã loại bỏ bảy pháp nên được gọi là Bà-la-môn – thân kiến đã được loại bỏ, hoài nghi đã được loại bỏ, giới cấm thủ đã được loại bỏ, tham đã được loại bỏ, sân đã được loại bỏ, si đã được loại bỏ, mạn đã được loại bỏ. Các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền muộn, có quả là khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai của vị ấy đã được loại bỏ.
Bāhitvā sabbapāpakāni, [sabhiyāti bhagavā]
Vimalo sādhusamāhito ṭhitatto;
Saṃsāramaticca kevalī so, asito † tādi pavuccate sa brahmā.
O Sabhiya, whoever, having banished all evils, is stainless, well-composed, and of steadfast mind; having transcended saṃsāra, is complete, unattached, and imperturbable—that one is called a Brahmā.
(Này Sabhiya, Đức Thế Tôn phán): ‘Sau khi đã loại bỏ tất cả các điều ác, không còn cấu uế, khéo định tĩnh, tâm vững vàng; vị ấy đã vượt qua luân hồi, đã hoàn thiện, không còn nương tựa, là bậc như vậy, được gọi là Phạm thiên.’
Na brāhmaṇo aññato suddhimāhāti. Brāhmaṇo aññena asuddhimaggena micchāpaṭipadāya aniyyānikapathena aññatra satipaṭṭhānehi aññatra sammappadhānehi aññatra iddhipādehi aññatra indriyehi aññatra balehi aññatra bojjhaṅgehi aññatra ariyena aṭṭhaṅgikena maggena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ, muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ, nāha na katheti na bhaṇati na dīpayati na voharatīti – na brāhmaṇo aññato suddhimāha.
‘A brahmin does not declare purity from another source.’ A brahmin does not declare, state, utter, explain, or express purity, thorough purity, or perfect purity—nor release, complete release, or all-round release—by any other impure path, by wrong practice, by a path that does not lead to deliverance, apart from the establishments of mindfulness, apart from the right exertions, apart from the bases of spiritual power, apart from the faculties, apart from the powers, apart from the enlightenment factors, or apart from the Noble Eightfold Path. Thus, ‘a brahmin does not declare purity from another source.’
Vị Bà-la-môn không tuyên bố sự thanh tịnh từ nơi khác. Vị Bà-la-môn không nói, không kể, không trình bày, không diễn đạt về sự thanh tịnh, sự đặc biệt thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự giải thoát trọn vẹn bằng một con đường khác, là con đường không thanh tịnh, là tà hạnh, là con đường không đưa đến sự xuất ly, ngoại trừ Tứ Niệm Xứ, ngoại trừ Tứ Chánh Cần, ngoại trừ Tứ Thần Túc, ngoại trừ Ngũ Căn, ngoại trừ Ngũ Lực, ngoại trừ Thất Giác Chi, ngoại trừ Bát Thánh Đạo – (đây là ý nghĩa của câu) vị Bà-la-môn không tuyên bố sự thanh tịnh từ nơi khác.
Diṭṭhe sute sīlavate mute vāti. Santeke samaṇabrāhmaṇā diṭṭhisuddhikā. Te ekaccānaṃ rūpānaṃ dassanaṃ maṅgalaṃ paccenti, ekaccānaṃ rūpānaṃ dassanaṃ amaṅgalaṃ paccenti. Katamesaṃ rūpānaṃ dassanaṃ maṅgalaṃ paccenti? Te kālato vuṭṭhahitvā abhimaṅgalagatāni rūpāni passanti – cāṭakasakuṇaṃ † passanti, phussaveḷuvalaṭṭhiṃ passanti, gabbhinitthiṃ passanti, kumārakaṃ khandhe āropetvā gacchantaṃ passanti, puṇṇaghaṭaṃ passanti, rohitamacchaṃ passanti, ājaññaṃ passanti, ājaññarathaṃ passanti, usabhaṃ passanti, gokapilaṃ passanti. Evarūpānaṃ rūpānaṃ dassanaṃ maṅgalaṃ paccenti. Katamesaṃ rūpānaṃ dassanaṃ amaṅgalaṃ paccenti? Palālapuñjaṃ passanti, takkaghaṭaṃ passanti, rittaghaṭaṃ passanti, naṭaṃ passanti, naggasamaṇakaṃ passanti, kharaṃ passanti, kharayānaṃ passanti, ekayuttayānaṃ passanti, kāṇaṃ passanti, kuṇiṃ passanti, khañjaṃ passanti, pakkhahataṃ † passanti, jiṇṇakaṃ passanti, byādhikaṃ † passanti. Evarūpānaṃ rūpānaṃ dassanaṃ amaṅgalaṃ paccenti. Ime te samaṇabrāhmaṇā diṭṭhisuddhikā. Te diṭṭhena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti.
There are some ascetics and brahmins who hold the view of purification by sight. They consider the sight of certain forms auspicious and the sight of others inauspicious. Which forms do they consider auspicious? Rising early, they see especially auspicious forms: they see a cāṭaka bird; they see a tender young bamboo grown under the Phussa constellation; they see a pregnant woman; they see a person going with a young boy placed on their shoulder; they see a full pot; they see a rohita fish; they see a thoroughbred horse; they see a chariot drawn by thoroughbreds; they see a bull; they see a lowing cow. They consider the sight of such forms auspicious. Which forms do they consider inauspicious? They see a heap of straw; they see a pot of buttermilk; they see an empty pot; they see a dancer; they see a naked ascetic; they see a donkey; they see a donkey-cart; they see a single-yoked vehicle; they see a one-eyed person; they see a person with a crooked hand; they see a lame person; they see a paralyzed person; they see an old person; they see a sick person. They consider the sight of such forms inauspicious. These are those ascetics and brahmins who hold the view of purification by sight. Through what is seen, they believe in purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release.
Về điều được thấy, được nghe, giới cấm, điều được cảm nhận. Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở kiến. Họ tin rằng việc thấy một số sắc là điềm lành, việc thấy một số sắc khác là điềm chẳng lành. Việc thấy những sắc nào họ tin là điềm lành? Họ thức dậy sớm và nhìn những sắc được cho là điềm lành – họ thấy chim sáo, họ thấy cây tre non mọc vào sao Phussa, họ thấy phụ nữ mang thai, họ thấy người cõng đứa bé trên vai đi ngang, họ thấy bình đầy nước, họ thấy cá chép đỏ, họ thấy ngựa nòi, họ thấy xe ngựa nòi, họ thấy bò đực tót, họ thấy bò cái màu nâu vàng. Việc thấy những sắc như vậy họ tin là điềm lành. Việc thấy những sắc nào họ tin là điềm chẳng lành? Họ thấy đống rơm, họ thấy hũ sữa đông, họ thấy bình rỗng, họ thấy vũ công, họ thấy Sa-môn lõa thể, họ thấy con lừa, họ thấy xe lừa kéo, họ thấy xe một con vật kéo, họ thấy người chột mắt, họ thấy người cụt tay, họ thấy người què chân, họ thấy người bại liệt, họ thấy người già, họ thấy người bệnh. Việc thấy những sắc như vậy họ tin là điềm chẳng lành. Đây là những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở kiến. Họ tin rằng nhờ sở kiến mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát.
Santeke samaṇabrāhmaṇā sutasuddhikā. Te ekaccānaṃ saddānaṃ savanaṃ maṅgalaṃ paccenti, ekaccānaṃ saddānaṃ savanaṃ amaṅgalaṃ paccenti. Katamesaṃ saddānaṃ savanaṃ maṅgalaṃ paccenti? Te kālato vuṭṭhahitvā abhimaṅgalagatāni saddāni suṇanti – vaḍḍhāti vā vaḍḍhamānāti vā puṇṇāti vā phussāti vā asokāti vā sumanāti vā sunakkhattāti vā sumaṅgalāti vā sirīti vā sirīvaḍḍhāti vā. Evarūpānaṃ saddānaṃ savanaṃ maṅgalaṃ paccenti. Katamesaṃ saddānaṃ savanaṃ amaṅgalaṃ paccenti? Kāṇoti vā kuṇīti vā khañjoti vā pakkhahatoti vā jiṇṇakoti vā byādhikoti vā matoti vā chindanti vā bhindanti vā daḍḍhanti vā naṭṭhanti vā natthīti vā. Evarūpānaṃ saddānaṃ savanaṃ amaṅgalaṃ paccenti. Ime te samaṇabrāhmaṇā sutasuddhikā. Te sutena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti.
There are some ascetics and brahmins who seek purity through hearing. They consider the hearing of certain sounds auspicious and the hearing of others inauspicious. Which sounds do they consider auspicious? They hear sounds such as: “Growth!” or “Prospering!” or “Full!” or “Flowering!” or “Sorrowless!” or “Happy!” or “Lucky Star!” or “Auspicious!” or “Glory!” or “Increasing Glory!” They consider the hearing of such sounds auspicious. Which sounds do they consider inauspicious? They hear sounds such as: “One-eyed!” or “Crooked!” or “Lame!” or “Paralyzed!” or “Decrepit!” or “Sick!” or “Dead!” or “Cutting!” or “Breaking!” or “Burning!” or “Perishing!” or “Non-existent!” They consider the hearing of such sounds inauspicious. These are those ascetics and brahmins who seek purity through hearing. Through hearing, they are convinced of purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release.
Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở văn. Họ tin rằng việc nghe một số âm thanh là điềm lành, việc nghe một số âm thanh khác là điềm chẳng lành. Việc nghe những âm thanh nào họ tin là điềm lành? Họ thức dậy sớm và lắng nghe những âm thanh được cho là điềm lành – như là ‘tăng trưởng,’ hay ‘đang tăng trưởng,’ hay ‘viên mãn,’ hay ‘Phussa,’ hay ‘vô ưu,’ hay ‘ý lành,’ hay ‘sao tốt,’ hay ‘điềm lành,’ hay ‘phước đức,’ hay ‘phước đức tăng trưởng.’ Việc nghe những âm thanh như vậy họ tin là điềm lành. Việc nghe những âm thanh nào họ tin là điềm chẳng lành? Như là ‘chột,’ hay ‘cụt,’ hay ‘què,’ hay ‘bại liệt,’ hay ‘già,’ hay ‘bệnh,’ hay ‘chết,’ hay ‘cắt đứt,’ hay ‘phá vỡ,’ hay ‘cháy,’ hay ‘mất mát,’ hay ‘không có.’ Việc nghe những âm thanh như vậy họ tin là điềm chẳng lành. Đây là những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở văn. Họ tin rằng nhờ sở văn mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát.
Santeke samaṇabrāhmaṇā sīlasuddhikā. Te sīlamattena saṃyamamattena saṃvaramattena avītikkamamattena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti. Samaṇomuṇḍikāputto † evamāha – ‘‘catūhi kho ahaṃ, gahapati †, dhammehi samannāgataṃ purisapuggalaṃ paññāpemi sampannakusalaṃ paramakusalaṃ uttamapattippattaṃ samaṇaṃ ayojjaṃ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, na kāyena pāpakaṃ kammaṃ karoti, na pāpakaṃ vācaṃ bhāsati, na pāpakaṃ saṅkappaṃ saṅkappati, na pāpakaṃ ājīvaṃ ājīvati. Imehi kho ahaṃ, gahapati, catūhi dhammehi samannāgataṃ purisapuggalaṃ paññāpemi sampannakusalaṃ paramakusalaṃ uttamapattippattaṃ samaṇaṃ ayojjaṃ’’. Evameva santeke samaṇabrāhmaṇā sīlasuddhikā, te sīlamattena saṃyamamattena saṃvaramattena avītikkamamattena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti.
There are some ascetics and brahmins who desire purity through virtue. They are convinced of purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release through mere virtue, mere restraint, mere control, and mere non-transgression. The ascetic Muṇḍikāputta says this: “Householder, I declare a person endowed with four qualities to be one of accomplished skill, supreme skill, one who has attained the highest attainment, an invincible ascetic. With which four? Here, householder, one does no evil deed with the body, speaks no evil speech, thinks no evil thought, and lives no evil livelihood. Householder, I declare a person endowed with these four qualities to be one of accomplished skill, supreme skill, one who has attained the highest attainment, an invincible ascetic.” In the same way, there are some ascetics and brahmins who desire purity through virtue; they are convinced of purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release through mere virtue, mere restraint, mere control, and mere non-transgression.
Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng giới. Họ tin rằng chỉ bằng giới, chỉ bằng sự tự chế, chỉ bằng sự phòng hộ, chỉ bằng sự không vi phạm mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát. Sa-môn Muṇḍikāputta nói như sau: ‘Này gia chủ, ta tuyên bố một người nam được thành tựu bốn pháp là người có thiện xảo viên mãn, có thiện xảo tối thượng, đã đạt đến thành tựu tối thượng, là một Sa-môn không thể bị đánh bại. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, này gia chủ, vị ấy không làm điều ác bằng thân, không nói lời ác, không có tư duy ác, không nuôi mạng bằng tà mạng. Này gia chủ, ta tuyên bố một người nam được thành tựu bốn pháp này là người có thiện xảo viên mãn, có thiện xảo tối thượng, đã đạt đến thành tựu tối thượng, là một Sa-môn không thể bị đánh bại.’ Tương tự như vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng giới, họ tin rằng chỉ bằng giới, chỉ bằng sự tự chế, chỉ bằng sự phòng hộ, chỉ bằng sự không vi phạm mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát.
Santeke samaṇabrāhmaṇā vatasuddhikā. Te hatthivatikā vā honti, assavatikā vā honti, govatikā vā honti, kukkuravatikā vā honti, kākavatikā vā honti, vāsudevavatikā vā honti, baladevavatikā vā honti, puṇṇabhaddavatikā vā honti, maṇibhaddavatikā vā honti, aggivatikā vā honti, nāgavatikā vā honti, supaṇṇavatikā vā honti, yakkhavatikā vā honti, asuravatikā vā honti, gandhabbavatikā vā honti, mahārājavatikā vā honti, candavatikā vā honti, sūriyavatikā vā honti, indavatikā vā honti, brahmavatikā vā honti, devavatikā vā honti, disāvatikā vā honti. Ime te samaṇabrāhmaṇā vatasuddhikā. Te vatena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti.
There are some ascetics and brahmins who desire purity through vows. They undertake the elephant-practice, or they undertake the horse-practice, or they undertake the cow-practice, or they undertake the dog-practice, or they undertake the crow-practice, or they undertake the Vāsudeva-practice, or they undertake the Baladeva-practice, or they undertake the Puṇṇabhadda-practice, or they undertake the Maṇibhadda-practice, or they undertake the fire-practice, or they undertake the Nāga-practice, or they undertake the Supaṇṇa-practice, or they undertake the Asura-practice, or they undertake the Gandhabba-practice, or they undertake the Mahārāja-practice, or they undertake the moon-practice, or they undertake the sun-practice, or they undertake the Inda-practice, or they undertake the Brahmā-practice, or they undertake the deva-practice, or they undertake the direction-practice. These are those ascetics and brahmins who desire purity through vows. They are convinced of purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release through vows.
Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng khổ hạnh. Họ thực hành khổ hạnh của voi, hoặc khổ hạnh của ngựa, hoặc khổ hạnh của bò, hoặc khổ hạnh của chó, hoặc khổ hạnh của quạ, hoặc khổ hạnh của Vāsudeva, hoặc khổ hạnh của Baladeva, hoặc khổ hạnh của Puṇṇabhadda, hoặc khổ hạnh của Maṇibhadda, hoặc khổ hạnh của thần Lửa, hoặc khổ hạnh của Nāga, hoặc khổ hạnh của Supaṇṇa, hoặc khổ hạnh của Yakkha, hoặc khổ hạnh của Asura, hoặc khổ hạnh của Gandhabba, hoặc khổ hạnh của Tứ Đại Thiên Vương, hoặc khổ hạnh của thần Mặt Trăng, hoặc khổ hạnh của thần Mặt Trời, hoặc khổ hạnh của thần Indra, hoặc khổ hạnh của Phạm Thiên, hoặc khổ hạnh của chư Thiên, hoặc khổ hạnh thờ các phương. Đây là những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng khổ hạnh. Họ tin rằng nhờ khổ hạnh mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát.
Santeke samaṇabrāhmaṇā mutasuddhikā. Te kālato uṭṭhahitvā pathaviṃ āmasanti, haritaṃ āmasanti, gomayaṃ āmasanti, kacchapaṃ āmasanti, phālaṃ akkamanti, tilavāhaṃ āmasanti, phussatilaṃ khādanti, phussatelaṃ makkhenti, phussadantakaṭṭhaṃ khādanti, phussamattikāya nhāyanti, phussasāṭakaṃ nivāsenti, phussaveṭhanaṃ veṭhenti. Ime te samaṇabrāhmaṇā mutasuddhikā. Te mutena suddhiṃ visuddhiṃ parisuddhiṃ muttiṃ vimuttiṃ parimuttiṃ paccenti. Na brāhmaṇo aññato suddhimāha.
There are some ascetics and brahmins who hold to purity through contact. Rising early, they touch the earth, they touch green grass, they touch cow dung, they touch a tortoise, they step on a ploughshare, they touch sesame, they eat auspicious sesame, they anoint themselves with auspicious oil, they chew an auspicious tooth-stick, they bathe with auspicious clay, they wear an auspicious cloth, and they wrap themselves with an auspicious turban. These are those ascetics and brahmins who hold to purity through contact. Through contact, they are convinced of purity, special purity, all-round purity, release, special release, and all-round release. The brahmin does not declare purity from any other source.
Có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở xúc. Họ thức dậy sớm và chạm vào đất, chạm vào cỏ xanh, chạm vào phân bò, chạm vào con rùa, dẫm lên lưỡi cày, chạm vào cây mè, ăn mè tốt lành, xoa dầu mè tốt lành, nhai tăm xỉa răng tốt lành, tắm bằng đất sét tốt lành, mặc y phục tốt lành, quấn khăn tốt lành. Đây là những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thanh tịnh bằng sở xúc. Họ tin rằng nhờ sở xúc mà có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự viên mãn giải thoát. Vị Bà-la-môn không tuyên bố sự thanh tịnh đến từ nguồn nào khác.
Diṭṭhe sute sīlavate mute vāti. Brāhmaṇo diṭṭhasuddhiyāpi suddhiṃ nāha, sutasuddhiyāpi suddhiṃ nāha, sīlasuddhiyāpi suddhiṃ nāha, vatasuddhiyāpi suddhiṃ nāha, mutasuddhiyāpi suddhiṃ nāha na katheti na bhaṇati na dīpayati na voharatīti – na brāhmaṇo aññato suddhimāha diṭṭhe sute sīlavate mute vā.
‘Or by what is seen, heard, by precepts and vows, or by what is cognized.’ The brahmin does not declare purity even by purity of what is seen, nor does he declare purity even by purity of what is heard, nor does he declare purity even by purity of precepts, nor does he declare purity even by purity of vows, nor does he declare purity even by purity of what is cognized—he does not state it, does not speak of it, does not make it known, does not proclaim it. Thus: ‘The brahmin does not declare purity from any other source, whether by what is seen, heard, by precepts and vows, or by what is cognized.’
Diṭṭhe sute sīlavate mute vā (ở điều được thấy, được nghe, giới cấm, điều được nhận thức). Vị Bà-la-môn không nói đến sự thanh tịnh bởi sự thanh tịnh của điều được thấy, không nói đến sự thanh tịnh bởi sự thanh tịnh của điều được nghe, không nói đến sự thanh tịnh bởi sự thanh tịnh của giới, không nói đến sự thanh tịnh bởi sự thanh tịnh của cấm giới, không nói đến sự thanh tịnh bởi sự thanh tịnh của điều được nhận thức, vị ấy không nói, không trình bày, không tuyên bố, không đề cập đến. (Như vậy là) na brāhmaṇo aññato suddhimāha diṭṭhe sute sīlavate mute vā (vị Bà-la-môn không nói đến sự thanh tịnh từ nơi khác, ở điều được thấy, được nghe, giới cấm, điều được nhận thức).
Puññe ca pāpe ca anūpalittoti. Puññaṃ vuccati yaṃ kiñci tedhātukaṃ kusalābhisaṅkhāraṃ, apuññaṃ vuccati sabbaṃ akusalaṃ. Yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā; ettāvatā puññe ca pāpe ca na limpati na palimpati na upalimpati alitto apalitto anūpalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – puññe ca pāpe ca anūpalitto.
‘Unsullied by merit and demerit.’ Merit is said to be any wholesome volitional formation pertaining to the three realms; demerit is said to be all that is unwholesome. When the volitional formation of merit, the volitional formation of demerit, and the imperturbable volitional formation are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and are of a nature not to arise again in the future—to this extent one is not stained by, not smeared with, nor tainted by merit and demerit; unstained, unsmeared, unsullied, escaped, cast off, completely released, disjoined, one dwells with a mind that has its boundaries removed. Thus: ‘Unsullied by merit and demerit.’
Puññe ca pāpe ca anūpalitto (không bị ô nhiễm ở phước và tội). Puññaṃ (phước) được gọi là bất cứ hành thiện nào thuộc ba giới. Apuññaṃ (phi phước) được gọi là tất cả điều bất thiện. Kể từ khi các phước hành, phi phước hành, và bất động hành đã được đoạn trừ, đã bị cắt đứt gốc rễ, đã được làm cho giống như thân cây ta-la, đã được làm cho không hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; do đó, vị ấy không bị dính mắc, không bị dính mắc hoàn toàn, không bị ô nhiễm ở phước và tội, là người không bị vấy bẩn, không bị vấy bẩn hoàn toàn, không bị ô nhiễm, đã thoát ra, đã tách rời, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, sống với tâm đã được giải thoát khỏi các giới hạn. (Như vậy là) puññe ca pāpe ca anūpalitto (không bị ô nhiễm ở phước và tội).
Attañjaho nayidha pakubbamānoti. Attañjahoti attadiṭṭhijaho. Attañjahoti gāhaṃ jaho †. Attañjahoti taṇhāvasena diṭṭhivasena gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ, sabbaṃ taṃ cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ. Nayidha pakubbamānoti puññābhisaṅkhāraṃ vā apuññābhisaṅkhāraṃ vā āneñjābhisaṅkhāraṃ vā apakubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamānoti – attañjaho nayidha pakubbamāno.
‘One who has abandoned self, not creating here.’ ‘One who has abandoned self’ means one who has abandoned the view of self. ‘One who has abandoned self’ means one who has abandoned grasping. ‘One who has abandoned self’ means that for such a person, whatever is grasped, misapprehended, adhered to, held on to, and resolved upon by the power of craving and by the power of views—all that is relinquished, vomited, released, abandoned, and fully given up. ‘Not creating here’ means not creating, not generating, not producing, not bringing forth, and not bringing into full existence either meritorious formations, demeritorious formations, or imperturbable formations. Thus: ‘One who has abandoned self, not creating here.’
Attañjaho nayidha pakubbamāno (người từ bỏ ngã và không tạo tác ở đây). Attañjaho (người từ bỏ ngã) là người từ bỏ ngã kiến. Attañjaho là người từ bỏ sự chấp thủ. Attañjaho có nghĩa là tất cả những gì đã được nắm giữ, đã bị chấp thủ sai lầm, đã bị cố chấp, đã bị tham ái, đã bị quyết định bởi năng lực của ái dục và tà kiến, tất cả những điều ấy đã được từ bỏ, đã được nôn ra, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly. Nayidha pakubbamāno (không tạo tác ở đây) có nghĩa là không tạo tác, không làm sanh khởi, không sản sanh, không làm cho hiện hữu, không làm cho phát sanh các phước hành, phi phước hành, hay bất động hành. (Như vậy là) attañjaho nayidha pakubbamāno (người từ bỏ ngã và không tạo tác ở đây).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Na brāhmaṇo aññato suddhimāha, diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Puññe ca pāpe ca anūpalitto, attañjaho nayidha pakubbamāno’’ti.
“A brahmin does not declare purity from another source—from what is seen or heard, from virtues and observances, or from what is cognized. Unsullied by merit and demerit, having abandoned self, one does not create here.”
‘Vị Bà-la-môn không nói đến sự thanh tịnh từ nơi khác, ở điều được thấy, được nghe, giới cấm, điều được nhận thức; không bị ô nhiễm ở phước và tội, người từ bỏ ngã và không tạo tác ở đây.’
26.
26.
26.
Purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse, ejānugā te na taranti saṅgaṃ;
Te uggahāyanti nirassajanti, kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ † gahāya.
Abandoning the former, they resort to another; as followers of craving, they do not cross over attachment. They grasp and they release, like a monkey letting go of a branch to grasp another.
Từ bỏ cái trước, họ nương tựa cái sau, đi theo sự rung động, họ không vượt qua được sự ràng buộc. Họ nắm giữ rồi lại buông bỏ, như con khỉ chuyền cành, buông ra để nắm lấy.
Purimaṃ pahāya aparaṃ sitāseti. Purimaṃ satthāraṃ pahāya paraṃ satthāraṃ nissitā; purimaṃ dhammakkhānaṃ pahāya aparaṃ dhammakkhānaṃ nissitā; purimaṃ gaṇaṃ pahāya aparaṃ gaṇaṃ nissitā; purimaṃ diṭṭhiṃ pahāya aparaṃ diṭṭhiṃ nissitā; purimaṃ paṭipadaṃ pahāya aparaṃ paṭipadaṃ nissitā; purimaṃ maggaṃ pahāya aparaṃ maggaṃ nissitā sannissitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttāti – purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse.
‘Abandoning the former, they resort to another.’ Having abandoned the former teacher, they depend on another teacher; having abandoned the former declaration of the Dhamma, they depend on another declaration of the Dhamma; having abandoned the former group, they depend on another group; having abandoned the former view, they depend on another view; having abandoned the former practice, they depend on another practice; having abandoned the former path, they depend on another path. They are well-dependent, clinging, have approached, are attached, and are resolved. Thus: ‘Abandoning the former, they resort to another.’
Purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse (từ bỏ cái trước, họ nương tựa cái sau). Từ bỏ vị thầy trước, họ nương tựa vị thầy khác; từ bỏ lời dạy trước, họ nương tựa lời dạy khác; từ bỏ giáo phái trước, họ nương tựa giáo phái khác; từ bỏ tà kiến trước, họ nương tựa tà kiến khác; từ bỏ con đường thực hành trước, họ nương tựa con đường thực hành khác; từ bỏ đạo lộ trước, họ nương tựa đạo lộ khác, họ đã nương tựa, đã dính mắc, đã đến gần, đã tham ái, đã quyết định. (Như vậy là) purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse (từ bỏ cái trước, họ nương tựa cái sau).
Ejānugā te na taranti saṅganti. Ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Ejānugāti ejānugā ejānugatā ejānusaṭā ejāya pannā patitā abhibhūtā pariyādinnacittā. Te na taranti saṅganti rāgasaṅgaṃ dosasaṅgaṃ mohasaṅgaṃ mānasaṅgaṃ diṭṭhisaṅgaṃ kilesasaṅgaṃ duccaritasaṅgaṃ na taranti na uttaranti na pataranti na samatikkamanti na vītivattantīti – ejānugā te na taranti saṅgaṃ.
‘Those who follow craving do not cross the bond.’ ‘Ejā’ is called craving. That is, lust, strong passion… and so forth… covetousness, greed, the unwholesome root. ‘Those who follow craving’ means they follow craving, are led by craving, are permeated by craving, are sunk into craving, have fallen, are overcome, and their minds are consumed by craving. They do not cross the bond of lust, the bond of hatred, the bond of delusion, the bond of conceit, the bond of views, the bond of defilements, or the bond of misconduct. They do not cross, do not cross beyond, do not traverse, do not transcend, do not pass beyond—thus, ‘those who follow craving do not cross the bond.’
Ejānugā te na taranti saṅgaṃ (đi theo sự rung động, họ không vượt qua được sự ràng buộc). Ejā (sự rung động) được gọi là ái dục. Bất cứ sự tham ái, sự tham luyến nào... (cho đến)... sự tham lam, tham lam, gốc rễ của bất thiện. Ejānugā (đi theo sự rung động) là những người đi theo sự rung động, đã đi theo sự rung động, đã lan tràn theo sự rung động, đã chìm đắm, đã sa ngã, đã bị chế ngự, có tâm bị chiếm đoạt bởi sự rung động. Te na taranti saṅgaṃ (họ không vượt qua được sự ràng buộc) có nghĩa là họ không vượt qua, không vượt lên, không vượt thoát, không vượt qua hoàn toàn, không đi qua khỏi sự ràng buộc của tham, sự ràng buộc của sân, sự ràng buộc của si, sự ràng buộc của mạn, sự ràng buộc của tà kiến, sự ràng buộc của phiền não, sự ràng buộc của ác hạnh. (Như vậy là) ejānugā te na taranti saṅgaṃ (đi theo sự rung động, họ không vượt qua được sự ràng buộc).
Te uggahāyanti nirassajantīti satthāraṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ satthāraṃ gaṇhanti; dhammakkhānaṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ dhammakkhānaṃ gaṇhanti; gaṇaṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇaṃ gaṇhanti; diṭṭhiṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ diṭṭhiṃ gaṇhanti; paṭipadaṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ paṭipadaṃ gaṇhanti; maggaṃ gaṇhanti, taṃ muñcitvā aññaṃ maggaṃ gaṇhanti; gaṇhanti ca muñcanti ca ādiyanti ca nirassajanti cāti – te uggahāyanti nirassajanti.
‘They grasp and reject.’ They grasp a teacher, then having released that, they grasp another teacher; they grasp a Dhamma exposition, then having released that, they grasp another Dhamma exposition; they grasp a group, then having released that, they grasp another group; they grasp a view, then having released that, they grasp another view; they grasp a practice, then having released that, they grasp another practice; they grasp a path, then having released that, they grasp another path. They grasp and release, they adopt and discard—thus, ‘they grasp and reject.’
Te uggahāyanti nirassajanti (họ nắm giữ rồi lại buông bỏ). Họ nắm giữ vị thầy, rồi buông bỏ vị ấy để nắm giữ vị thầy khác; họ nắm giữ lời dạy, rồi buông bỏ lời dạy ấy để nắm giữ lời dạy khác; họ nắm giữ giáo phái, rồi buông bỏ giáo phái ấy để nắm giữ giáo phái khác; họ nắm giữ tà kiến, rồi buông bỏ tà kiến ấy để nắm giữ tà kiến khác; họ nắm giữ con đường thực hành, rồi buông bỏ con đường ấy để nắm giữ con đường thực hành khác; họ nắm giữ đạo lộ, rồi buông bỏ đạo lộ ấy để nắm giữ đạo lộ khác. Họ nắm giữ và họ buông bỏ, họ chấp nhận và họ từ chối. (Như vậy là) te uggahāyanti nirassajanti (họ nắm giữ rồi lại buông bỏ).
Kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ gahāyāti. Yathā makkaṭo araññe pavane caramāno sākhaṃ gaṇhāti, taṃ muñcitvā aññaṃ sākhaṃ gaṇhāti. Evameva puthusamaṇabrāhmaṇā puthudiṭṭhigatāni gaṇhanti ca muñcanti ca ādiyanti ca nirassajanti cāti – kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ gahāya.
‘Like a monkey letting go of a branch to grasp another.’ Just as a monkey, moving about in a forest grove, grasps a branch, and having released that, grasps another branch; in the same way, various ascetics and brahmins with their various views grasp and release, adopt and discard—thus, ‘like a monkey letting go of a branch to grasp another.’
Kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ gahāya (như con khỉ chuyền cành, buông ra để nắm lấy). Giống như con khỉ đi lại trong rừng, trong khu rừng vắng, nó nắm lấy một cành cây, rồi buông cành đó ra để nắm lấy cành khác. Cũng vậy, các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác nhau với các tà kiến khác nhau, họ nắm giữ rồi buông bỏ, họ chấp nhận rồi từ chối. (Như vậy là) kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ gahāya (như con khỉ chuyền cành, buông ra để nắm lấy).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse, ejānugā te na taranti saṅgaṃ;
Te uggahāyanti nirassajanti, kapīva sākhaṃ pamuñcaṃ gahāyā’’ti.
“Abandoning the former, they resort to another; as followers of craving, they do not cross over attachment. They grasp and they release, like a monkey letting go of a branch to grasp another.”
‘Từ bỏ cái trước, họ nương tựa cái sau, đi theo sự rung động, họ không vượt qua được sự ràng buộc. Họ nắm giữ rồi lại buông bỏ, như con khỉ chuyền cành, buông ra để nắm lấy.’
27.
27.
27.
Sayaṃ samādāya vatāni jantu, uccāvacaṃ gacchati saññasatto;
Vidvā ca vedehi samecca dhammaṃ, na uccāvacaṃ gacchati bhūripañño.
A being attached to perceptions, undertaking vows by himself, goes to high and low states. But the wise one, the one of vast wisdom, having understood the Dhamma through knowledge, does not go to high and low states.
Chúng sanh tự mình thực hành các giới cấm, bị ràng buộc bởi tưởng, nên đi đến các cảnh giới cao thấp. Còn bậc trí tuệ rộng lớn, người có trí tuệ, đã thấu hiểu Chánh pháp bằng các tuệ giác, thì không đi đến các cảnh giới cao thấp.
Sayaṃ samādāya vatāni jantūti. Sayaṃ samādāyāti sāmaṃ samādāya. Vatānīti hatthivataṃ vā assavataṃ vā govataṃ vā kukkūravataṃ vā kākavataṃ vā vāsudevavataṃ vā baladevavataṃ vā puṇṇabhaddavataṃ vā maṇibhaddavataṃ vā aggivataṃ vā nāgavataṃ vā supaṇṇavataṃ vā yakkhavataṃ vā asuravataṃ vā…pe… disāvataṃ vā ādāya samādāya ādiyitvā samādiyitvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvā. Jantūti satto naro …pe… manujoti – sayaṃ samādāya vatāni jantu.
‘A being who undertakes vows by himself.’ ‘By himself undertakes’ means undertaking on one's own. ‘Vows’ refers to the vows of an elephant, or the vows of a horse, or the vows of a cow, or the vows of a dog, or the vows of a crow, or the vows of Vāsudeva, or the vows of Baladeva, or the vows of Puṇṇabhadda, or the vows of Maṇibhadda, or the vows of fire, or the vows of a nāga, or the vows of a supaṇṇa, or the vows of a yakkha, or the vows of an asura… and so on… or the vows of venerating the directions—having taken them up, having well undertaken them, having made them an obligation, having well made them an obligation, having grasped them, having adhered to them, and having settled upon them. ‘Being’ means a sentient being, a person… and so on… a human being. Thus, ‘a being who undertakes vows by himself.’
Sayaṃ samādāya vatāni jantu (chúng sanh tự mình thực hành các giới cấm). Sayaṃ samādāya (tự mình thực hành) có nghĩa là tự mình đảm nhận. Vatāni (các giới cấm) là giới cấm của voi, giới cấm của ngựa, giới cấm của bò, giới cấm của chó, giới cấm của quạ, giới cấm của Vāsudeva, giới cấm của Baladeva, giới cấm của Puṇṇabhadda, giới cấm của Maṇibhadda, giới cấm của lửa, giới cấm của rồng, giới cấm của garuḍa, giới cấm của dạ-xoa, giới cấm của a-tu-la... (cho đến)... giới cấm của các phương hướng, sau khi đã nhận lấy, đã đảm nhận, đã chấp nhận, đã thực hành, đã nắm giữ, đã chấp thủ sai lầm, đã quyết tâm thực hành. Jantu (chúng sanh) là chúng sanh, là người... (cho đến)... là con người. (Như vậy là) sayaṃ samādāya vatāni jantu (chúng sanh tự mình thực hành các giới cấm).
Uccāvacaṃ gacchati saññasattoti satthārato satthāraṃ gacchati; dhammakkhānato dhammakkhānaṃ gacchati; gaṇato gaṇaṃ gacchati; diṭṭhiyā diṭṭhiṃ gacchati; paṭipadāya paṭipadaṃ gacchati; maggato maggaṃ gacchati. Saññasattoti kāmasaññāya byāpādasaññāya vihiṃsāsaññāya diṭṭhisaññāya satto visatto āsatto laggo laggito palibuddho. Yathā bhittikhile vā nāgadante vā bhaṇḍaṃ sattaṃ visattaṃ āsattaṃ laggaṃ laggitaṃ palibuddhaṃ, evameva kāmasaññāya byāpādasaññāya vihiṃsāsaññāya diṭṭhisaññāya satto visatto āsatto laggo laggito palibuddhoti – uccāvacaṃ gacchati saññasatto.
‘Attached to perceptions, one goes to high and low states’: One goes from teacher to teacher, from Dhamma exposition to Dhamma exposition, from group to group, from view to view, from practice to practice, from path to path. ‘Attached to perceptions’ means one is attached, clinging, fixed, fastened, and ensnared by perceptions of sensuality, perceptions of ill will, perceptions of harm, and perceptions of views. Just as a package is attached, clinging, fixed, fastened, and ensnared on a wall peg or an elephant’s tusk, even so, one is attached, clinging, fixed, fastened, and ensnared by perceptions of sensuality, perceptions of ill will, perceptions of harm, and perceptions of views—thus, ‘attached to perceptions, one goes to high and low states’.
Bị dính mắc vào tưởng nên đi đến cao thấp có nghĩa là: đi từ vị thầy này đến vị thầy khác; đi từ sự thuyết giảng Pháp này đến sự thuyết giảng Pháp khác; đi từ giáo phái này đến giáo phái khác; đi từ tà kiến này đến tà kiến khác; đi từ con đường thực hành này đến con đường thực hành khác; đi từ con đường này đến con đường khác. Bị dính mắc vào tưởng có nghĩa là: bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng mắc, bị mắc kẹt, bị trói buộc vào dục tưởng, vào sân tưởng, vào hại tưởng, vào tà kiến tưởng. Giống như vật dụng bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng mắc, bị mắc kẹt, bị trói buộc vào cái cọc trên tường hay vào cái ngà voi, cũng vậy, bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng mắc, bị mắc kẹt, bị trói buộc vào dục tưởng, vào sân tưởng, vào hại tưởng, vào tà kiến tưởng – (như thế gọi là) bị dính mắc vào tưởng nên đi đến cao thấp.
Vidvā ca vedehi samecca dhammanti. Vidvāti vidvā vijjāgato ñāṇī vibhāvī medhāvī. Vedehīti vedā vuccanti catūsu maggesu ñāṇaṃ paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo vīmaṃsā vipassanā sammādiṭṭhi. Tehi vedehi jātijarāmaraṇassa antagato antappatto, koṭigato koṭippatto, pariyantagato pariyantappatto, vosānagato vosānappatto, tāṇagato tāṇappatto, leṇagato leṇappatto, saraṇagato saraṇappatto, abhayagato abhayappatto, accutagato accutappatto, amatagato amatappatto, nibbānagato nibbānappatto. Vedānaṃ vā antagatoti vedagū, vedehi vā antagatoti vedagū, sattannaṃ vā dhammānaṃ viditattā vedagū. Sakkāyadiṭṭhi viditā hoti, vicikicchā viditā hoti, sīlabbataparāmāso vidito hoti, rāgo vidito hoti, doso vidito hoti, moho vidito hoti, māno vidito hoti, viditāssa honti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
‘The wise one, having understood the Dhamma through knowledge.’ Herein, ‘the wise one’ (vidvā) means one who is wise, who has attained special knowledge, who is endowed with wisdom, who investigates with wisdom, who possesses intelligence. ‘Through knowledge’ (vedehi): ‘Knowledges’ (vedā) are said to be the knowledge in the four paths, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the enlightenment factor of investigation of states, investigation, insight, and right view. By means of these knowledges, one has gone to the end of birth, aging, and death, has reached the end; has gone to the extremity, has reached the extremity; has gone to the limit, has reached the limit; has gone to the conclusion, has reached the conclusion; has gone to protection, has reached protection; has gone to shelter, has reached shelter; has gone to refuge, has reached refuge; has gone to security, has reached security; has gone to the immutable, has reached the immutable; has gone to the deathless, has reached the deathless; has gone to Nibbāna, has reached Nibbāna. Or, one is a vedagū because one has gone to the end of knowable things; or, one is a vedagū because one has gone to the end by means of the knowledges; or, one is a vedagū because of having understood the seven things. For him, personality view has been understood, doubt has been understood, grasping of precepts and practices has been understood, lust has been understood, hatred has been understood, delusion has been understood, and conceit has been understood. For him, evil, unwholesome states—which are defiling, productive of renewed existence, accompanied by distress, resulting in suffering, and in the future are the cause of birth, aging, and death—have been understood.
Bậc trí tuệ và đã thấu hiểu các pháp bằng các tuệ. Bậc trí tuệ có nghĩa là: bậc trí tuệ, người đã đạt đến minh, người có trí, người có khả năng phân tích, người có tuệ giác. Bằng các tuệ có nghĩa là: các tuệ được gọi là trí tuệ trong bốn đạo, là tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, trạch pháp, minh sát, chánh kiến. Bằng các tuệ ấy, vị ấy đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng của sanh, lão, tử; đã đi đến cực điểm, đã đạt đến cực điểm; đã đi đến giới hạn, đã đạt đến giới hạn; đã đi đến sự chấm dứt, đã đạt đến sự chấm dứt; đã đi đến nơi nương tựa, đã đạt đến nơi nương tựa; đã đi đến nơi ẩn náu, đã đạt đến nơi ẩn náu; đã đi đến nơi quy y, đã đạt đến nơi quy y; đã đi đến nơi vô úy, đã đạt đến nơi vô úy; đã đi đến nơi bất biến, đã đạt đến nơi bất biến; đã đi đến nơi bất tử, đã đạt đến nơi bất tử; đã đi đến Nibbāna, đã đạt đến Nibbāna. Hoặc, người đã đi đến tận cùng của các tuệ nên là người thông suốt tuệ; hoặc, người đã đi đến tận cùng bằng các tuệ nên là người thông suốt tuệ; hoặc, người thông suốt tuệ là do đã biết rõ bảy pháp. Thân kiến đã được vị ấy biết rõ, hoài nghi đã được vị ấy biết rõ, giới cấm thủ đã được vị ấy biết rõ, tham đã được vị ấy biết rõ, sân đã được vị ấy biết rõ, si đã được vị ấy biết rõ, mạn đã được vị ấy biết rõ, các pháp ác, bất thiện, làm ô nhiễm, đưa đến tái sanh, có phiền não, có quả là khổ, đưa đến sanh, lão, tử trong tương lai đã được vị ấy biết rõ.
Vedāni viceyya kevalāni, [sabhiyāti bhagavā]
Samaṇānaṃ yānīdhatthi † brāhmaṇānaṃ;
Sabbavedanāsu vītarāgo, sabbaṃ vedamaticca vedagū soti.
The Blessed One said: 'Sabhiya, having investigated all the knowable things that exist here for ascetics and brahmins; being dispassionate towards all feelings, and having overcome all enmity, such a one is a vedagū.'
Này Sabhiya, bậc Thế Tôn gọi. Này Sabhiya, ở đây, đối với các vị Sa-môn và Bà-la-môn, những tuệ nào có mặt, hiện hữu, (vị ấy) đã phân tích tất cả các tuệ ấy, đã vượt qua mọi sự thù nghịch, đã ly tham ở trong tất cả các cảm thọ, do đó vị ấy được gọi là người thông suốt tuệ.
Vidvā ca vedehi samecca dhammanti. Samecca abhisamecca dhammaṃ. Sabbe saṅkhārā aniccāti samecca abhisamecca dhammaṃ; sabbe saṅkhārā dukkhāti samecca abhisamecca dhammaṃ; sabbe dhammā anattāti samecca abhisamecca dhammaṃ; avijjāpaccayā saṅkhārāti samecca abhisamecca dhammaṃ; saṅkhārapaccayā viññāṇanti samecca abhisamecca dhammaṃ; viññāṇapaccayā nāmarūpanti…pe… nāmarūpapaccayā saḷāyatananti… saḷāyatanapaccayā phassoti… phassapaccayā vedanāti… vedanāpaccayā taṇhāti… taṇhāpaccayā upādānanti… upādānapaccayā bhavoti… bhavapaccayā jātīti… jātipaccayā jarāmaraṇanti samecca abhisamecca dhammaṃ; avijjānirodhā saṅkhāranirodhoti samecca abhisamecca dhammaṃ; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti samecca abhisamecca dhammaṃ; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodhoti… nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti… saḷāyatananirodhā phassanirodhoti… phassanirodhā vedanānirodhoti… vedanānirodhā taṇhānirodhoti… taṇhānirodhā upādānanirodhoti… upādānanirodhā bhavanirodhoti… bhavanirodhā jātinirodhoti… jātinirodhā jarāmaraṇanirodhoti samecca abhisamecca dhammaṃ; idaṃ dukkhanti samecca abhisamecca dhammaṃ; ayaṃ dukkhasamudayoti… ayaṃ dukkhanirodhoti… ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti samecca abhisamecca dhammaṃ; ime āsavāti samecca abhisamecca dhammaṃ; ayaṃ āsavasamudayoti… ayaṃ āsavanirodhoti… ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadāti samecca abhisamecca dhammaṃ; ime dhammā abhiññeyyāti samecca abhisamecca dhammaṃ; ime dhammā pariññeyyāti… ime dhammā pahātabbāti… ime dhammā bhāvetabbāti … ime dhammā sacchikātabbāti samecca abhisamecca dhammaṃ. Channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca samecca abhisamecca dhammaṃ. Pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca samecca abhisamecca dhammaṃ. Catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca samecca abhisamecca dhammaṃ. Yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhammanti samecca abhisamecca dhammanti – vidvā ca vedehi samecca dhammaṃ.
‘The wise one, having understood the Dhamma with knowledge.’ ‘Having understood’ means having fully understood and penetrated the Dhamma. ‘All conditioned things are impermanent’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘All conditioned things are suffering’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘All phenomena are not-self’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With ignorance as condition, volitional formations arise’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With volitional formations as condition, consciousness arises’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With consciousness as condition, name-and-form arises’… and so forth… ‘With name-and-form as condition, the six sense bases arise’… ‘With the six sense bases as condition, contact arises’… ‘With contact as condition, feeling arises’… ‘With feeling as condition, craving arises’… ‘With craving as condition, clinging arises’… ‘With clinging as condition, becoming arises’… ‘With becoming as condition, birth arises’… ‘With birth as condition, aging-and-death arises’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With the cessation of ignorance, the cessation of volitional formations’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With the cessation of volitional formations, the cessation of consciousness’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘With the cessation of consciousness, the cessation of name-and-form’… ‘With the cessation of name-and-form, the cessation of the six sense bases’… ‘With the cessation of the six sense bases, the cessation of contact’… ‘With the cessation of contact, the cessation of feeling’… ‘With the cessation of feeling, the cessation of craving’… ‘With the cessation of craving, the cessation of clinging’… ‘With the cessation of clinging, the cessation of becoming’… ‘With the cessation of becoming, the cessation of birth’… ‘With the cessation of birth, the cessation of aging-and-death’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘This is suffering’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘This is the origin of suffering’… ‘This is the cessation of suffering’… ‘This is the path leading to the cessation of suffering’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘These are the taints’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘This is the origin of the taints’… ‘This is the cessation of the taints’… ‘This is the path leading to the cessation of the taints’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘These things are to be known directly’—one has fully understood and penetrated the Dhamma; ‘These things are to be fully understood’… ‘These things are to be abandoned’… ‘These things are to be developed’… ‘These things are to be realized’—one has fully understood and penetrated the Dhamma. One has fully understood and penetrated the Dhamma regarding the origin, passing away, gratification, danger, and escape of the six sense bases. One has fully understood and penetrated the Dhamma regarding the origin, passing away, gratification, danger, and escape of the five aggregates subject to clinging. One has fully understood and penetrated the Dhamma regarding the origin, passing away, gratification, danger, and escape of the four great elements. ‘Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease’—one has fully understood and penetrated the Dhamma—thus, ‘the wise one, having understood the Dhamma with knowledge’.
Bậc trí tuệ và đã thấu hiểu các pháp bằng các tuệ. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi.’ ... (tương tự cho đến) ... ‘Do sanh làm duyên, lão và tử (sanh khởi).’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Do vô minh diệt, các hành diệt.’ ... (tương tự cho đến) ... ‘Do sanh diệt, lão và tử diệt.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Đây là khổ.’ ... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Đây là các lậu hoặc.’ ... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Các pháp này cần được thắng tri.’ ... ‘Các pháp này cần được chứng ngộ.’ Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp về sự sanh khởi và sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ tiếp xúc. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp về sự sanh khởi và sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm uẩn chấp thủ. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp về sự sanh khởi và sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của bốn đại hiển. Đã thấu hiểu, đã chứng ngộ pháp rằng: ‘Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất đoạn diệt.’ – (như thế gọi là) bậc trí tuệ và đã thấu hiểu các pháp bằng các tuệ.
Na uccāvacaṃ gacchati bhūripaññoti na satthārato satthāraṃ gacchati, na dhammakkhānato dhammakkhānaṃ gacchati, na gaṇato gaṇaṃ gacchati, na diṭṭhiyā diṭṭhiṃ gacchati, na paṭipadāya paṭipadaṃ gacchati, na maggato maggaṃ gacchati. Bhūripaññoti bhūripañño mahāpañño puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño. Bhūri vuccati pathavī. Tāya pathavisamāya paññāya vipulāya vitthatāya samannāgatoti – na uccāvacaṃ gacchati bhūripañño.
‘The one of vast wisdom does not go to high and low states’ means: one does not go from one teacher to another teacher, one does not go from one Dhamma exposition to another Dhamma exposition, one does not go from one group to another group, one does not go from one view to another view, one does not go from one practice to another practice, one does not go from one path to another path. ‘One of vast wisdom’ means one who has wisdom like the earth (bhūripañño), one with great wisdom (mahāpañño), one with diverse wisdom (puthupañño), one with bright wisdom (hāsapañño), one with swift wisdom (javanapañño), one with sharp wisdom (tikkhapañño), one with penetrating wisdom (nibbedhikapañño). ‘Bhūri’ is said to be the earth. One is endowed with wisdom like that earth, which is extensive and widespread—thus, ‘the one of vast wisdom does not go to high and low states’.
Bậc có trí tuệ rộng lớn không đi đến cao thấp có nghĩa là: không đi từ vị thầy này đến vị thầy khác, không đi từ sự thuyết giảng Pháp này đến sự thuyết giảng Pháp khác, không đi từ giáo phái này đến giáo phái khác, không đi từ tà kiến này đến tà kiến khác, không đi từ con đường thực hành này đến con đường thực hành khác, không đi từ con đường này đến con đường khác. Bậc có trí tuệ rộng lớn có nghĩa là: người có trí tuệ rộng lớn, người có trí tuệ vĩ đại, người có trí tuệ đa dạng, người có trí tuệ hoan hỷ, người có trí tuệ nhanh nhạy, người có trí tuệ sắc bén, người có trí tuệ xuyên thấu. Bhūri được gọi là đất. Vị ấy có được trí tuệ giống như đất ấy, rộng rãi, bao la – (như thế gọi là) bậc có trí tuệ rộng lớn không đi đến cao thấp.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sayaṃ samādāya vatāni jantu, uccāvacaṃ gacchati saññasatto;
Vidvā ca vedehi samecca dhammaṃ, na uccāvacaṃ gacchati bhūripañño’’ti.
“A being attached to perceptions, having undertaken vows by oneself, goes to high and low states; but the wise one, having penetrated the Dhamma with the knowledges, does not go to high and low states—the one of vast wisdom.”
“Chúng sanh bị dính mắc vào các tưởng, tự mình thọ trì các giới cấm, đi đến (cảnh giới) cao thấp. Còn bậc trí tuệ rộng lớn, bậc hiền trí sau khi đã liễu tri Chánh pháp bằng các trí tuệ, vị ấy không đi đến (cảnh giới) cao thấp.”
28.
28.
28.
Sa sabbadhammesu visenibhūto, yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Tameva dassiṃ vivaṭaṃ carantaṃ, kenīdha lokasmi vikappayeyya.
He stands having vanquished the army in regard to all dhammas—whatever is seen, heard, or sensed. Regarding that very one who sees purity, who fares with the veil uncovered—by what could anyone in this world conceptualize him?
Vị ấy đã giải trừ quân đội (Ma vương) trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận. Chính vị ấy là người thấy, đang sống với (tâm) được mở ra, do đâu ở thế gian này người ta có thể phân loại được vị ấy?
Sa sabbadhammesu visenibhūto yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vāti. Senā vuccati mārasenā. Kāyaduccaritaṃ mārasenā, vacīduccaritaṃ mārasenā, manoduccaritaṃ mārasenā, rāgo mārasenā, doso mārasenā, moho mārasenā, kodho mārasenā, upanāho…pe… sabbākusalābhisaṅkhārā mārasenā.
‘He stands having vanquished the army in regard to all dhammas—whatever is seen, heard, or sensed.’ ‘Army’ refers to Māra’s army. Bodily misconduct is Māra’s army, verbal misconduct is Māra’s army, mental misconduct is Māra’s army, lust is Māra’s army, hatred is Māra’s army, delusion is Māra’s army, anger is Māra’s army, resentment… all unwholesome formations are Māra’s army.
Vị ấy đã giải trừ quân đội trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận. (Ở đây) quân đội được gọi là quân đội của Ma vương. Thân ác hạnh là quân đội của Ma vương, khẩu ác hạnh là quân đội của Ma vương, ý ác hạnh là quân đội của Ma vương, tham là quân đội của Ma vương, sân là quân đội của Ma vương, si là quân đội của Ma vương, phẫn nộ là quân đội của Ma vương, oán hận... cho đến... tất cả các hành bất thiện là quân đội của Ma vương.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘‘Kāmā te paṭhamā senā, dutiyā arati vuccati;
Tatiyā khuppipāsā te, catutthī taṇhā vuccati.
“Sensual pleasures are your first army, the second is called discontent; your third is hunger and thirst, the fourth is called craving.
“Các dục là đạo quân thứ nhất của ngươi, sự không hoan hỷ được gọi là (đạo quân) thứ hai. Đói và khát là đạo quân thứ ba của ngươi, ái dục được gọi là (đạo quân) thứ tư.
‘‘Pañcamī thinamiddhaṃ te, chaṭṭhā bhīrū pavuccati;
Sattamī vicikicchā te, makkho thambho te aṭṭhamo.
“Your fifth is sloth and torpor, the sixth is said to be fear; your seventh is doubt, your eighth is hypocrisy and obstinacy.
“Hôn trầm và thụy miên là (đạo quân) thứ năm của ngươi, sự khiếp sợ được gọi là (đạo quân) thứ sáu. Hoài nghi là (đạo quân) thứ bảy của ngươi, sự giả dối và cứng đầu là (đạo quân) thứ tám của ngươi.
‘‘Lābho siloko sakkāro, micchāladdho ca yo yaso;
Yo cattānaṃ samukkaṃse, pare ca avajānati.
“Gain, renown, and honor, and fame wrongly gained; and whoever exalts himself and disparages others—
“Lợi lộc, danh tiếng, sự cung kính, và bất cứ danh vọng nào có được một cách sai trái; kẻ nào tán dương bản thân và chê bai người khác.
‘‘Esā namuci te senā, kaṇhassābhippahārinī;
Na naṃ asuro jināti, jetvāva labhate sukha’’nti.
“This, Namuci, is your army, the striking force of the Dark One. One who is not a hero cannot conquer it, but having conquered it, one obtains bliss.”
“Này Namuci, đó là đạo quân của ngươi, của Kẻ Đen Tối, kẻ tấn công. Kẻ không phải là anh hùng không chiến thắng được nó, nhưng sau khi chiến thắng nó, người ta đạt được hạnh phúc.”
Yato catūhi ariyamaggehi sabbā ca mārasenā sabbe ca paṭisenikarā kilesā jitā ca parājitā ca bhaggā vippaluggā parammukhā, so vuccati visenibhūto. So diṭṭhe visenibhūto, sute visenibhūto, mute visenibhūto, viññāte visenibhūtoti – sa sabbadhammesu visenibhūto yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā.
When, by the four noble paths, all of Māra’s army and all opposing defilements are conquered, defeated, broken, pulverized, and routed, he is called 'one who has vanquished the army.' He is without defilements in regard to the seen, without defilements in regard to the heard, without defilements in regard to the sensed, and without defilements in regard to the cognized. Thus it is said: ‘He stands having vanquished the army in regard to all dhammas—whatever is seen, heard, or sensed.’
Khi nào do bốn Thánh đạo mà tất cả quân đội của Ma vương và tất cả các phiền não đối nghịch đã được chiến thắng, đã được đánh bại, đã bị phá vỡ, đã bị tan rã, đã bị đẩy lui, vị ấy được gọi là người đã giải trừ quân đội. Vị ấy đã giải trừ quân đội đối với cái được thấy, đã giải trừ quân đội đối với cái được nghe, đã giải trừ quân đội đối với cái được cảm nhận, đã giải trừ quân đội đối với cái được nhận thức. Như vậy là: Vị ấy đã giải trừ quân đội trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận.
Tameva dassiṃ vivaṭaṃ carantanti. Tameva suddhadassiṃ visuddhadassiṃ parisuddhadassiṃ vodātadassiṃ pariyodātadassiṃ. Atha vā, suddhadassanaṃ visuddhadassanaṃ parisuddhadassanaṃ vodātadassanaṃ pariyodātadassanaṃ. Vivaṭanti taṇhāchadanaṃ diṭṭhichadanaṃ kilesachadanaṃ duccaritachadanaṃ avijjāchadanaṃ. Tāni chadanāni vivaṭāni honti viddhaṃsitāni ugghāṭitāni samugghāṭitāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. Carantanti carantaṃ vicarantaṃ viharantaṃ iriyantaṃ vattentaṃ pālentaṃ yapentaṃ yāpentanti – tameva dassiṃ vivaṭaṃ carantaṃ.
‘Regarding that very one, the seer, faring unveiled.’ ‘That very one, the seer’ means one who is a pure seer, an exceptionally pure seer, a completely pure seer, a cleansed seer, a thoroughly cleansed seer. Alternatively, it means pure seeing, exceptionally pure seeing, completely pure seeing, cleansed seeing, thoroughly cleansed seeing. ‘Unveiled’ means that the covering of craving, the covering of views, the covering of defilements, the covering of misconduct, and the covering of ignorance—those coverings are opened, destroyed, uprooted, eradicated, abandoned, cut off, pacified, stilled; they have become incapable of arising and are burned by the fire of knowledge. ‘Faring’ means dwelling, maintaining a posture, carrying on, protecting, sustaining, keeping going—thus, ‘regarding that very one, the seer, faring unveiled.’
Chính vị ấy là người thấy, đang sống với (tâm) được mở ra. Chính vị ấy là người thấy thanh tịnh, người thấy rất thanh tịnh, người thấy hoàn toàn thanh tịnh, người thấy trong sạch, người thấy hoàn toàn trong sạch. Hoặc là, sự thấy thanh tịnh, sự thấy rất thanh tịnh, sự thấy hoàn toàn thanh tịnh, sự thấy trong sạch, sự thấy hoàn toàn trong sạch. Được mở ra (nghĩa là) sự che đậy của ái dục, sự che đậy của tà kiến, sự che đậy của phiền não, sự che đậy của ác hạnh, sự che đậy của vô minh. Những sự che đậy ấy đã được mở ra, đã bị phá hủy, đã được nhổ lên, đã được nhổ lên hoàn toàn, đã được từ bỏ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Đang sống (nghĩa là) đang đi, đang di chuyển, đang trú, đang thực hành oai nghi, đang duy trì, đang bảo tồn, đang nuôi mạng, đang làm cho sống. Như vậy là: Chính vị ấy là người thấy, đang sống với (tâm) được mở ra.
Kenīdha lokasmi vikappayeyyāti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tassa taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho. Taṇhākappassa pahīnattā diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā kena rāgena kappeyya, kena dosena kappeyya, kena mohena kappeyya, kena mānena kappeyya, kāya diṭṭhiyā kappeyya, kena uddhaccena kappeyya, kāya vicikicchāya kappeyya, kehi anusayehi kappeyya – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā pahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyo kena kappeyya – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi, paccayo natthi, kāraṇaṃ natthi, yena kappeyya vikappeyya vikappaṃ āpajjeyya. Lokasminti apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloketi – kenīdha lokasmiṃ vikappayeyya.
“By what, here in the world, would one conceive?” As for ‘conception,’ there are two conceptions: the conception of craving and the conception of views… this is the conception of craving… this is the conception of views. For that one, the conception of craving is abandoned, the conception of views is relinquished. With the conception of craving abandoned and the conception of views relinquished, by what lust would he conceive, by what hatred would he conceive, by what delusion would he conceive, by what conceit would he conceive, by what view would he conceive, by what restlessness would he conceive, by what doubt would he conceive, by what underlying tendencies would he conceive—as one who is lustful, or hostile, or deluded, or bound, or grasping, or distracted, or undecided, or entrenched? Those formations are abandoned. With the formations abandoned, by what would he be conceived in the destinations—as a hell-being, or an animal, or one in the realm of ghosts, or a human, or a deva, or one with form, or one without form, or one with perception, or one without perception, or one with neither-perception-nor-non-perception? That cause does not exist, that condition does not exist, that reason does not exist, by which one would conceive, differentiate, or arrive at a conception. “In the world” means in the world of woe, the human world, the deva world, the world of aggregates, the world of elements, the world of sense bases—by what, here in the world, would one conceive?
Do đâu ở thế gian này người ta có thể phân loại được vị ấy? Sự phân loại (kappa) có hai loại: sự phân loại do ái dục và sự phân loại do tà kiến... cho đến... đây là sự phân loại do ái dục... cho đến... đây là sự phân loại do tà kiến. Đối với vị ấy, sự phân loại do ái dục đã được từ bỏ, sự phân loại do tà kiến đã được xả ly. Do đã từ bỏ sự phân loại do ái dục, do đã xả ly sự phân loại do tà kiến, người ta có thể phân loại vị ấy bằng tham nào, bằng sân nào, bằng si nào, bằng mạn nào, bằng tà kiến nào, bằng trạo cử nào, bằng hoài nghi nào, bằng các tùy miên nào? (Hoặc phân loại là) người tham ái, hay người sân hận, hay người si mê, hay người bị trói buộc, hay người chấp thủ, hay người bị phân tán, hay người chưa đi đến quyết định, hay người đã đạt đến sức mạnh? Các hành ấy đã được từ bỏ. Do đã từ bỏ các hành, người ta có thể phân loại các cõi đi của vị ấy bằng cách nào? (Là) chúng sanh địa ngục, hay loài bàng sanh, hay cõi ngạ quỷ, hay là người, hay là trời, hay là chúng sanh có sắc, hay là chúng sanh không có sắc, hay là chúng sanh có tưởng, hay là chúng sanh không có tưởng, hay là chúng sanh phi tưởng phi phi tưởng? Nhân ấy không có, duyên ấy không có, lý do ấy không có, mà do đó người ta có thể phân loại, có thể phân biệt, có thể đi đến sự phân loại. Trong thế gian (nghĩa là) trong ác giới, trong thế giới loài người, trong thế giới chư thiên, trong thế giới của các uẩn, trong thế giới của các giới, trong thế giới của các xứ. Như vậy là: Do đâu ở thế gian này người ta có thể phân loại được vị ấy?
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sa sabbadhammesu visenibhūto, yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā;
Tameva dassiṃ vivaṭaṃ carantaṃ, kenīdha lokasmi vikappayeyyā’’ti.
“He stands having vanquished the army in regard to all dhammas—whatever is seen, heard, or sensed. Regarding that very one who sees purity, who fares with the veil uncovered—by what could anyone in this world conceptualize him?”
“Vị ấy đã giải trừ quân đội (Ma vương) trong tất cả các pháp, đối với bất cứ điều gì được thấy, hoặc được nghe, hoặc được cảm nhận. Chính vị ấy là người thấy, đang sống với (tâm) được mở ra, do đâu ở thế gian này người ta có thể phân loại được vị ấy?”
29.
29.
29.
Na kappayanti na purekkharonti, accantasuddhīti na te vadanti;
Ādānaganthaṃ gathitaṃ visajja, āsaṃ na kubbanti kuhiñci loke.
They do not form conceptions, they do not put anything forward; they do not speak of ‘utter purity.’ Having let go of the binding tie of grasping, they form no craving anywhere in the world.
Các vị ấy không phân loại, không đặt lên hàng đầu. Các vị ấy không nói rằng: ‘Đây là sự thanh tịnh tuyệt đối.’ Sau khi đã tháo gỡ sự trói buộc của chấp thủ, các vị ấy không tạo ra hy vọng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian.
Na kappayanti na purekkharontīti. Kappāti dve kappā – taṇhākappo ca diṭṭhikappo ca…pe… ayaṃ taṇhākappo…pe… ayaṃ diṭṭhikappo. Tesaṃ taṇhākappo pahīno, diṭṭhikappo paṭinissaṭṭho. Taṇhākappassa pahīnattā, diṭṭhikappassa paṭinissaṭṭhattā taṇhākappaṃ vā diṭṭhikappaṃ vā na kappenti na janenti na sañjanenti na nibbattenti nābhinibbattentīti – na kappayanti. Na purekkharontīti. Purekkhārāti dve purekkhārā – taṇhāpurekkhāro ca diṭṭhipurekkhāro ca…pe… ayaṃ taṇhāpurekkhāro…pe… ayaṃ diṭṭhipurekkhāro. Tesaṃ taṇhāpurekkhāro pahīno, diṭṭhipurekkhāro paṭinissaṭṭho. Taṇhāpurekkhārassa pahīnattā, diṭṭhipurekkhārassa paṭinissaṭṭhattā na taṇhaṃ vā na diṭṭhiṃ vā purato katvā caranti, na taṇhādhajā na taṇhāketū na taṇhādhipateyyā, na diṭṭhidhajā na diṭṭhiketū na diṭṭhādhipateyyā, na taṇhāya vā na diṭṭhiyā vā parivāritā carantīti – na kappayanti na purekkharonti.
‘They do not conceive, they do not give precedence.’ Conceiving is of two kinds: the conceiving of craving and the conceiving of view… this is the conceiving of craving… this is the conceiving of view. For them, the conceiving of craving is abandoned, the conceiving of view is relinquished. Because the conceiving of craving is abandoned and the conceiving of view is relinquished, they do not conceive, generate, produce, bring into being, or cause to arise the conceiving of craving or the conceiving of view—thus, ‘they do not conceive.’ ‘They do not give precedence.’ Giving precedence is of two kinds: giving precedence to craving and giving precedence to view… this is giving precedence to craving… this is giving precedence to view. For them, giving precedence to craving is abandoned, giving precedence to view is relinquished. Because giving precedence to craving is abandoned and giving precedence to view is relinquished, they do not go about having placed craving or view foremost; they are without craving's banner, without craving's standard, without craving's dominion; without view's banner, without view's standard, without view's dominion; they do not go about surrounded by craving or by view—thus, ‘they do not conceive, they do not give precedence.’
Các vị ấy không phân loại, không đặt lên hàng đầu. Sự phân loại (kappa) có hai loại: sự phân loại do ái dục và sự phân loại do tà kiến... cho đến... đây là sự phân loại do ái dục... cho đến... đây là sự phân loại do tà kiến. Đối với các vị ấy, sự phân loại do ái dục đã được từ bỏ, sự phân loại do tà kiến đã được xả ly. Do đã từ bỏ sự phân loại do ái dục, do đã xả ly sự phân loại do tà kiến, các vị ấy không phân loại, không sanh ra, không làm cho sanh khởi, không tạo ra, không làm cho phát sanh sự phân loại do ái dục hoặc sự phân loại do tà kiến. Như vậy là: các vị ấy không phân loại. Các vị ấy không đặt lên hàng đầu. Sự đặt lên hàng đầu (purekkhāra) có hai loại: sự đặt ái dục lên hàng đầu và sự đặt tà kiến lên hàng đầu... cho đến... đây là sự đặt ái dục lên hàng đầu... cho đến... đây là sự đặt tà kiến lên hàng đầu. Đối với các vị ấy, sự đặt ái dục lên hàng đầu đã được từ bỏ, sự đặt tà kiến lên hàng đầu đã được xả ly. Do đã từ bỏ sự đặt ái dục lên hàng đầu, do đã xả ly sự đặt tà kiến lên hàng đầu, các vị ấy không đi với ái dục hay tà kiến được đặt ở phía trước, không có ái dục làm cờ hiệu, không có ái dục làm biểu tượng, không bị ái dục chi phối, không có tà kiến làm cờ hiệu, không có tà kiến làm biểu tượng, không bị tà kiến chi phối, không đi với sự bao quanh của ái dục hay tà kiến. Như vậy là: các vị ấy không phân loại, không đặt lên hàng đầu.
Accantasuddhīti na te vadantīti accantasuddhiṃ saṃsārasuddhiṃ akiriyadiṭṭhiṃ sassatavādaṃ na vadanti na kathenti na bhaṇanti na dīpayanti na voharantīti – accantasuddhīti na te vadanti.
‘They do not say, “It is absolute purity.”’ They do not say, teach, recite, explain, or speak of absolute purity, purity from saṃsāra, the view of non-action, or the doctrine of eternalism—thus, ‘they do not say, “It is absolute purity.”’
“Họ không nói về sự thanh tịnh tuyệt đối” có nghĩa là: Họ không nói, không thuyết giảng, không đọc tụng, không trình bày, không tuyên bố về sự thanh tịnh tuyệt đối, sự thanh tịnh khỏi vòng luân hồi, tà kiến vô hành, và thường kiến. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ không nói về sự thanh tịnh tuyệt đối”.
Ādānaganthaṃ gathitaṃ visajjāti. Ganthāti cattāro ganthā – abhijjhā kāyagantho, byāpādo kāyagantho, sīlabbataparāmāso kāyagantho, idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Attano diṭṭhiyā rāgo abhijjhā kāyagantho; paravādesu āghāto appaccayo byāpādo kāyagantho; attano sīlaṃ vā vataṃ vā sīlavataṃ vā parāmasantīti sīlabbataparāmāso kāyagantho, attano diṭṭhi idaṃsaccābhiniveso kāyagantho. Kiṃkāraṇā vuccati ādānagantho? Tehi ganthehi rūpaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti; vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ … upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāravaṭṭaṃ ādiyanti upādiyanti gaṇhanti parāmasanti abhinivisanti. Taṃkāraṇā vuccati ādānagantho. Visajjāti ganthe vosajjitvā vā – visajja. Atha vā ganthe gadhite ganthite bandhe vibandhe ābandhe lagge laggite palibuddhe bandhane poṭayitvā – † visajja. Yathā vayhaṃ vā rathaṃ vā sakaṭaṃ vā sandamānikaṃ vā sajjaṃ visajjaṃ karonti vikopenti; evameva ganthe vosajjitvā – visajja. Atha vā ganthe gadhite ganthite bandhe vibandhe ābandhe lagge laggite palibuddhe bandhane poṭayitvā visajjāti – ādānaganthaṃ gathitaṃ visajja.
Regarding 'One should abandon the grasping-knot that is tied': The knots are four: the bodily knot of covetousness, the bodily knot of ill-will, the bodily knot of clinging to precepts and vows, and the bodily knot of dogmatic adherence that 'this alone is truth'. Lust for one's own views is the bodily knot of covetousness; hatred and displeasure towards the words of others is the bodily knot of ill-will; clinging to one's own precepts, vows, or precepts and vows is the bodily knot of clinging to precepts and vows; adherence to one's own view that 'this alone is truth' is the bodily knot of dogmatic adherence. Why are they called 'grasping-knots'? Because through these knots, one takes up, clings to, grasps, misapprehends, and dogmatically adheres to form… feeling… perception… formations… consciousness… destiny… rebirth… re-linking… existence… the round of saṃsāra. For this reason, they are called 'grasping-knots'. 'One should abandon' means having well cut off the knots—one should abandon. Or, having shaken off the knots that are seized, tied, bound, especially bound, multiply bound, stuck, adhered, obstructed, and are a bond—one should abandon. Just as one might un-harness a burden, a chariot, a cart, or a palanquin, or dismantle it, so too, having well cut off the knots—one should abandon. Or, having shaken off the knots that are seized, tied, bound, especially bound, multiply bound, stuck, adhered, obstructed, and are a bond, one should abandon the grasping-knot that is tied.
“Từ bỏ sự trói buộc của chấp thủ đã được thắt chặt”. Về “trói buộc”, có bốn sự trói buộc – tham thân kết, sân thân kết, giới cấm thủ thân kết, và “chỉ đây là sự thật” chấp thân kết. Tham ái đối với tà kiến của mình là tham thân kết; sự ác ý, không hài lòng đối với lời nói của người khác là sân thân kết; chấp thủ vào giới hoặc cấm của mình là giới cấm thủ thân kết; tà kiến của mình là “chỉ đây là sự thật” chấp thân kết. Tại sao gọi là “sự trói buộc của chấp thủ”? Bởi vì qua những sự trói buộc ấy, họ chấp thủ, bám víu, nắm giữ, dính mắc, và cố chấp vào sắc; vào thọ… vào tưởng… vào các hành… vào thức… vào cảnh giới… vào sự tái sanh… vào sự hiện hữu… vào vòng luân hồi. Vì lý do đó, chúng được gọi là “sự trói buộc của chấp thủ”. “Từ bỏ” có nghĩa là sau khi đã tháo gỡ các trói buộc, hãy từ bỏ. Hoặc là, sau khi đã rũ bỏ các trói buộc, các thắt nút, các ràng buộc, các cột trói, các dính mắc, các vướng víu, các trở ngại, các xiềng xích, hãy từ bỏ. Giống như người ta tháo dỡ, phá bỏ cỗ xe, xe bò, xe ngựa, hoặc kiệu; cũng vậy, sau khi đã tháo gỡ các trói buộc, hãy từ bỏ. Hoặc là, sau khi đã rũ bỏ các trói buộc, các thắt nút, các ràng buộc, các cột trói, các dính mắc, các vướng víu, các trở ngại, các xiềng xích, hãy từ bỏ. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Từ bỏ sự trói buộc của chấp thủ đã được thắt chặt”.
Āsaṃ na kubbanti kuhiñci loketi. Āsā vuccati taṇhā yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Āsaṃ na kubbantīti āsaṃ na kubbanti na janenti na sañjanenti na nibbattenti na abhinibbattenti. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – āsaṃ na kubbanti kuhiñci loke.
“They do not create craving anywhere in the world.” `Āsā` is a term for craving (`taṇhā`)—that is, lust, strong lust… covetousness, greed, the unwholesome root. “They do not create craving” means they do not create, generate, well generate, bring into existence, or bring forth craving. “Anywhere” means anywhere, in any respect, in any place—whether internal, external, or both internal and external. “In the world” refers to the world of the states of deprivation… the world of the sense-bases—they do not create craving anywhere in the world.
“Họ không tạo ra hy vọng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian”. “Hy vọng” được gọi là ái dục, là sự tham ái, sự tham luyến… tham lam, tham, căn bất thiện. “Họ không tạo ra hy vọng” có nghĩa là họ không tạo ra, không làm phát sanh, không làm khởi sanh, không làm cho hiện hữu, không làm cho sinh khởi hy vọng. “Bất cứ nơi đâu” có nghĩa là ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ cái gì, ở bất cứ chỗ nào, dù là bên trong, bên ngoài, hay cả bên trong lẫn bên ngoài. “Trong thế gian” có nghĩa là trong cõi khổ… trong thế giới xứ. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Họ không tạo ra hy vọng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Na kappayanti na purekkharonti, accantasuddhīti na te vadanti;
Ādānaganthaṃ gathitaṃ visajja, āsaṃ na kubbanti kuhiñci loke’’ti.
“They do not form theories, they do not put anything forward; they do not speak of ‘absolute purity.’ Having released the tied-up knot of grasping, they form no hope anywhere in the world.”
“Họ không tạo tác, không đặt lên trước, họ không nói về sự thanh tịnh tuyệt đối; từ bỏ sự trói buộc của chấp thủ đã được thắt chặt, họ không tạo ra hy vọng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian.”
30.
30.
30.
Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi, ñatvā ca disvā ca samuggahītaṃ;
Na rāgarāgī na virāgaratto, tassīdha natthi paramuggahītaṃ.
For the brahmin who has gone beyond boundaries, there is nothing grasped based on what is known and seen. Not impassioned by passion, nor impassioned by desire for the higher realms, for him, here in this Dispensation, there is no grasping of anything as supreme.
Vị Bà-la-môn đã vượt qua các giới hạn, đối với vị ấy, không có gì được chấp thủ sau khi đã biết và đã thấy. Không tham đắm trong dục vọng, không đam mê trong sự ly dục, đối với vị ấy, ở đây không có sự chấp thủ điều gì là tối thượng.
Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi, ñatvā ca disvā ca samuggahītanti. Sīmāti catasso sīmāyo – sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, tadekaṭṭhā ca kilesā – ayaṃ paṭhamā sīmā. Oḷārikaṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, oḷāriko kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, tadekaṭṭhā ca kilesā – ayaṃ dutiyā sīmā. Anusahagataṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, anusahagato kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, tadekaṭṭhā ca kilesā – ayaṃ tatiyā sīmā. Rūparāgo arūparāgo māno uddhaccaṃ avijjā, mānānusayo bhavarāgānusayo avijjānusayo, tadekaṭṭhā ca kilesā – ayaṃ catutthā sīmā. Yato ca catūhi ariyamaggehi imā catasso sīmāyo atikkanto hoti samatikkanto vītivatto, so vuccati sīmātigo. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo – sakkāyadiṭṭhi bāhitā hoti, vicikicchā bāhitā hoti, sīlabbataparāmāso bāhito hoti…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Tassāti arahato khīṇāsavassa.
Regarding ‘For the brahmin who has gone beyond boundaries, there is nothing grasped based on what is known and seen’: Boundaries: there are four boundaries—identity view, doubt, clinging to rites and observances, the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, and the defilements associated with them—this is the first boundary. The gross fetter of sensual desire, the fetter of aversion, the gross underlying tendency to sensual desire, the underlying tendency to aversion, and the defilements associated with them—this is the second boundary. The subtle fetter of sensual desire, the subtle fetter of aversion, the subtle underlying tendency to sensual desire, the subtle underlying tendency to aversion, and the defilements associated with them—this is the third boundary. Desire for form, desire for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to craving for existence, the underlying tendency to ignorance, and the defilements associated with them—this is the fourth boundary. When one has transcended these four boundaries through the four noble paths, fully transcended and gone beyond, he is called one who has gone beyond boundaries. Brahmin: because of having put away seven things, he is a brahmin—identity view is put away, doubt is put away, clinging to rites and observances is put away… he is called unattached, such a one is called Brahma. For him: for the Arahant whose taints are destroyed.
(Giải thích câu) “Vị Bà-la-môn đã vượt qua các giới hạn, đối với vị ấy, không có gì được chấp thủ sau khi đã biết và đã thấy”. Về “giới hạn”, có bốn giới hạn – (1) Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tà kiến tuỳ miên, hoài nghi tuỳ miên, và các phiền não đi kèm – đây là giới hạn thứ nhất. (2) Dục ái kiết sử thô, sân kiết sử, dục ái tuỳ miên thô, sân tuỳ miên, và các phiền não đi kèm – đây là giới hạn thứ hai. (3) Dục ái kiết sử vi tế, sân kiết sử, dục ái tuỳ miên vi tế, sân tuỳ miên, và các phiền não đi kèm – đây là giới hạn thứ ba. (4) Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, mạn tuỳ miên, hữu ái tuỳ miên, vô minh tuỳ miên, và các phiền não đi kèm – đây là giới hạn thứ tư. Khi một người đã vượt qua, đã đi qua, đã thoát khỏi bốn giới hạn này bằng bốn Thánh đạo, người ấy được gọi là “người đã vượt qua các giới hạn”. Về “Bà-la-môn”, vị ấy là Bà-la-môn vì đã loại bỏ bảy pháp – thân kiến đã được loại bỏ, hoài nghi đã được loại bỏ, giới cấm thủ đã được loại bỏ… vị ấy không bị dính mắc, điềm tĩnh, được gọi là Bà-la-môn. “Đối với vị ấy” có nghĩa là đối với vị A-la-hán, vị đã tận trừ các lậu hoặc.
Ñatvāti paracittañāṇena vā ñatvā pubbenivāsānussatiñāṇena vā ñatvā. Disvāti maṃsacakkhunā vā disvā dibbacakkhunā vā disvā. Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi, ñatvā ca disvā ca samuggahītanti. Tassa idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ † pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaranti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi ñatvā ca disvā ca samuggahītaṃ.
As for 'knowing': having known through the knowledge of others’ minds or having known through the knowledge of recollection of past lives. As for 'seeing': having seen with the fleshly eye or having seen with the divine eye. As for 'The brahmin who has gone beyond boundaries, for him there is nothing grasped through knowing and seeing': For that one, this is not grasped, misapprehended, insisted upon, dwelled upon, or resolved upon as supreme, highest, best, distinguished, foremost, most excellent, or sublime. It does not exist, is not present, is not found, is not obtainable; it is abandoned, cut off, calmed, fully pacified, incapable of arising, and burned by the fire of knowledge. This is the meaning of 'the brahmin who has gone beyond boundaries, for him there is nothing grasped through knowing and seeing.'
“Sau khi đã biết” có nghĩa là biết bằng tha tâm trí hoặc biết bằng túc mạng minh trí. “Sau khi đã thấy” có nghĩa là thấy bằng mắt thịt hoặc thấy bằng thiên nhãn. (Giải thích câu) “Vị Bà-la-môn đã vượt qua các giới hạn, đối với vị ấy, không có gì được chấp thủ sau khi đã biết và đã thấy” có nghĩa là: Đối với vị ấy, không có, không tồn tại, không hiện hữu, không tìm thấy sự nắm giữ, sự chấp thủ, sự cố chấp, sự bám víu, sự quyết định rằng “cái này là tối thượng, là hàng đầu, là cao quý, là đặc biệt, là chủ yếu, là ưu việt, là tuyệt vời”. (Sự chấp thủ ấy) đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được lắng dịu, đã được an tịnh, đã trở nên không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. – (Đây là ý nghĩa của câu) “Vị Bà-la-môn đã vượt qua các giới hạn, đối với vị ấy, không có gì được chấp thủ sau khi đã biết và đã thấy”.
Na rāgarāgī na virāgarattoti. Rāgarattā vuccanti ye pañcasu kāmaguṇesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Virāgarattā vuccanti ye rūpāvacaraarūpāvacarasamāpattīsu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā laggā laggitā palibuddhā. Na rāgarāgī na virāgarattoti yato kāmarāgo ca rūparāgo ca arūparāgo ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā † āyatiṃ anuppādadhammā. Ettāvatā na rāgarāgī na virāgaratto.
Not impassioned by passion, nor attached to dispassion. 'Impassioned by passion' are called those who are infatuated, greedy, obsessed, engrossed, clinging, stuck, and bound to the five strands of sensual pleasure. 'Attached to dispassion' are called those who are infatuated, greedy, obsessed, engrossed, clinging, stuck, and bound to the attainments of the form and formless realms. 'Not impassioned by passion, nor attached to dispassion' means that because sensual passion, passion for form, and passion for the formless have been abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise in the future. To this extent, one is not impassioned by passion, nor attached to dispassion.
(Giải thích câu) “Không tham đắm trong dục vọng, không đam mê trong sự ly dục”. “Những người tham đắm trong dục vọng” được gọi là những người tham đắm, say mê, bị trói buộc, mê muội, chìm đắm, dính mắc, vướng víu, bị cản trở trong năm dục trưởng dưỡng. “Những người đam mê trong sự ly dục” được gọi là những người tham đắm, say mê, bị trói buộc, mê muội, chìm đắm, dính mắc, vướng víu, bị cản trở trong các thiền chứng sắc giới và vô sắc giới. “Không tham đắm trong dục vọng, không đam mê trong sự ly dục” có nghĩa là khi dục ái, sắc ái, và vô sắc ái đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho như thân cây thốt nốt, đã được đưa đến chỗ không còn hiện hữu, và có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Do đó, (vị ấy) không tham đắm trong dục vọng, không đam mê trong sự ly dục.
Tassīdha natthi paramuggahītanti. Tassāti arahato khīṇāsavassa. Tassa idaṃ paramaṃ aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaranti gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti – tassīdha natthi paramuggahītaṃ.
For him, here, there is nothing supremely grasped. 'For him' means: for the Arahant, the one with taints destroyed. For him, this is not grasped, misapprehended, insisted upon, dwelled upon, or resolved upon as supreme, highest, best, distinguished, foremost, most excellent, or sublime; it does not exist, is not present, is not found, is not obtainable—it is abandoned, cut off, calmed, fully pacified, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. Thus, for him, here, there is nothing supremely grasped.
Tassīdha natthi paramuggahītanti (đối với vị ấy, ở đây không có sự chấp thủ tối thượng). Tassāti (đối với vị ấy) là đối với vị A-la-hán, bậc lậu tận. Tassa (đối với vị ấy), sự nắm giữ (gahitaṃ), sự chấp thủ (parāmaṭṭhaṃ), sự quyết đoán (abhiniviṭṭhaṃ), sự bám víu (ajjhositaṃ), sự tin chắc (adhimuttaṃ) rằng: ‘Điều này (idaṃ) là tối thượng (paramaṃ), là cao tột (aggaṃ), là ưu việt (seṭṭhaṃ), là đặc thù (visiṭṭhaṃ), là chủ yếu (pāmokkhaṃ), là cao cả (uttamaṃ), là tuyệt hảo (pavaraṃ)’ là không có (natthi), không hiện hữu (na santi), không được tìm thấy (na saṃvijjati), không thể đạt được (nupalabbhati); đã được đoạn trừ (pahīnaṃ), đã được cắt đứt (samucchinnaṃ), đã được lắng dịu (vūpasantaṃ), đã được làm cho an tịnh (paṭipassaddhaṃ), đã trở thành không có khả năng tái sanh (abhabbuppattikaṃ), đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ (ñāṇagginā daḍḍhaṃ) – (đây là ý nghĩa của) tassīdha natthi paramuggahītaṃ (đối với vị ấy, ở đây không có sự chấp thủ tối thượng).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã thuyết rằng –
‘‘Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi, ñatvā ca disvā ca samuggahītaṃ;
Na rāgarāgī na virāgaratto, tassīdha natthi paramuggahīta’’nti.
“The brahmin who has gone beyond boundaries, for him there is nothing grasped through knowing and seeing. Not impassioned by passion, nor delighting in dispassion, for him, here, there is nothing supremely grasped.”
‘Vị Bà-la-môn đã vượt qua các giới hạn, đối với vị ấy không có sự chấp thủ đã được nhận biết và đã được thấy; không tham ái trong sự tham ái, không ưa thích trong sự ly tham, đối với vị ấy, ở đây không có sự chấp thủ tối thượng.’
The Exposition of the Suddhaṭṭhaka Sutta is the fourth.
Phần giải thích kinh Suddhaṭṭhaka, chương thứ tư.