Bản dịch
MND 3 — Diễn Giải Kinh Nhóm Tám Về Xấu Xa
3. Duṭṭhaṭṭhakasuttaniddesa
Giờ sẽ nói đến Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Xấu Xa:
Thật vậy, một số người nói xấu với tâm ý xấu xa. Quả vậy, một số người có tâm ý chân thật cũng nói xấu. Bậc hiền trí không tiếp cận lời nói xấu đã khởi lên, bởi vậy bậc hiền trí không có bợn nhơ ở bất cứ đâu .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
" Thật vậy, một số người nói xấu với tâm ý xấu xa. Quả vậy, một số người có tâm ý chân thật cũng nói xấu. Bậc hiền trí không tiếp cận lời nói xấu đã khởi lên, bởi vậy bậc hiền trí không có bợn nhơ ở bất cứ đâu ."
Bị dẫn dắt bởi lòng mong muốn, đã đi theo sự ưa thích,
trong khi tự mình làm cho (các quan điểm trở nên) đầy đủ, làm thế nào có thể vượt quá quan điểm của chính mình? Bởi vì biết như thế nào thì nên nói như thế ấy .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
" Bị dẫn dắt bởi lòng mong muốn, đã đi theo sự ưa thích,
trong khi tự mình làm cho (các quan điểm trở nên) đầy đủ, làm thế nào có thể vượt quá quan điểm của chính mình? Bởi vì biết như thế nào thì nên nói như thế ấy ."
Người nào, dầu không được hỏi đến, mà nói với những người khác về giới và phận sự của bản thân, người nào tự chính mình nói về bản thân, các bậc thiện xảo đã nói vị ấy là không có Thánh pháp .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Người nào, dầu không được hỏi đến, mà nói với những người khác về giới và phận sự của bản thân, người nào tự chính mình nói về bản thân, các bậc thiện xảo đã nói vị ấy là không có Thánh pháp .
Và vị tỳ khưu an tịnh, có trạng thái đã được hoàn toàn diệt tắt, không khoe khoang về các giới rằng: ‘Tôi là thế này,’ đối với vị nào không có sự tích tụ ở bất cứ đâu ở thế gian, các bậc thiện xảo nói vị ấy là có Thánh pháp .
(Đức Thế Tôn dạy Sabhiya): Với đường lối đã được thực hành bởi bản thân, đã đạt đến sự hoàn toàn tịch diệt, có sự hoài nghi đã được xa lìa, sau khi dứt bỏ hẳn hữu và phi hữu, vị tỳ khưu ấy đã sống (Phạm hạnh), có sự tái sanh đã được cạn kiệt .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và vị tỳ khưu an tịnh, có trạng thái đã được hoàn toàn diệt tắt, không khoe khoang về các giới rằng: ‘Tôi là thế này,’ đối với vị nào không có sự tích tụ ở bất cứ đâu ở thế gian, các bậc thiện xảo nói vị ấy là có Thánh pháp .”
Các pháp của người nào được xét đoán, được tạo tác, được chú trọng, là (các pháp) không trong sạch, (người ấy) nhìn thấy điều nào là việc lợi ích cho bản thân, rồi đã nương vào điều ấy, (là) sự an tịnh bị thay đổi, tùy theo điều kiện .
Các pháp của người nào được xét đoán, được tạo tác: Sự xét đoán - Có hai sự xét đoán: xét đoán do tham ái và xét đoán do tà kiến. ―như trên― điều này là xét đoán do tham ái. ―như trên― điều này là xét đoán do tà kiến. Đây là hai sự xét đoán. Được tạo tác : được tạo tác, được tác thành, được sửa soạn, được thành lập, như thế cũng là được tạo tác. Hoặc các pháp hoại, các pháp diệt, các pháp lìa khỏi luyến ái, các pháp diệt tắt là không thường còn, được tạo tác, được sanh lên tùy theo điều kiện, như thế cũng là được tạo tác. Của người nào : của người có tà kiến. Các pháp gọi là 62 tà kiến. ‘Các pháp của người nào được xét đoán, được tạo tác’ là thế ấy.
Được chú trọng, là (các pháp) không trong sạch: Được chú trọng - Có hai sự chú trọng: chú trọng do tham ái và chú trọng do tà kiến. ―như trên― đều này là chú trọng do tham ái. ―như trên― điều này là chú trọng do tà kiến. Đối với vị ấy, sự chú trọng do tham ái không bị dứt bỏ, sự chú trọng do tà kiến không bị xả bỏ. Đối với vị ấy, do không dứt bỏ sự chú trọng do tham ái, do không xả bỏ sự chú trọng do tà kiến, người ấy sống, chú trọng cho tham ái hoặc tà kiến, có tham ái là ngọn cờ, có tham ái là biểu hiện, có tham ái là chủ đạo, có tà kiến là ngọn cờ, có tà kiến là biểu hiện, có tà kiến là chủ đạo, sống được vây quanh bởi tham ái hoặc bởi tà kiến. Là : là (nghĩa là) được biết đến, có, được nhận lấy. Không trong sạch : không trong sạch (nghĩa là) không trong trắng, không thanh tịnh, bị ô nhiễm, liên quan phiền não. ‘Được chú trọng, là (các pháp) không trong sạch’ là thế ấy.
(Người ấy) nhìn thấy điều nào là việc lợi ích cho bản thân - Điều nào ... cho bản thân : điều nào ở bản thân. Bản thân : đề cập đến việc đã theo tà kiến. Do tà kiến của bản thân, (người ấy) nhìn thấy hai sự lợi ích: lợi ích ở đời hiện tại và lợi ích ở đời vị lai.
Lợi ích ở đời hiện tại do tà kiến là lợi ích nào? Vị thầy có quan điểm nào thì các đệ tử có cùng quan điểm ấy. Các đệ tử trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, nể nang vị thầy có quan điểm ấy. Và do điều đó (vị thầy) nhận được các vật dụng về y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh. Điều này là lợi ích ở đời hiện tại do tà kiến.
Lợi ích ở đời vị lai do tà kiến là lợi ích nào? Là có sự mong mỏi quả thành tựu ở vị lai rằng: ‘Quan điểm này đủ để đưa đến bản thể loài rồng, hoặc đưa đến bản thể nhân điểu, hoặc đưa đến bản thể A-tu-la, hoặc đưa đến bản thể Càn-thát-bà, hoặc đưa đến bản thể đại vương, hoặc đưa đến bản thể Thiên chủ, hoặc đưa đến bản thể Phạm Thiên, hoặc đưa đến bản thể Thiên nhân. Quan điểm này đủ để đưa đến sự trong sạch, đưa đến sự thanh tịnh, đưa đến sự hoàn toàn thanh tịnh, đưa đến sự thoát khỏi, đưa đến sự giải thoát, đưa đến sự hoàn toàn giải thoát. Với quan điểm này, họ trở nên trong sạch, họ trở nên thanh tịnh, họ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, họ được thoát khỏi, họ được giải thoát, họ được hoàn toàn giải thoát. Với quan điểm này, ta sẽ trở nên trong sạch, ta sẽ trở nên thanh tịnh, ta sẽ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, ta sẽ được thoát khỏi, ta sẽ được giải thoát, ta sẽ được hoàn toàn giải thoát.’ Điều này là lợi ích ở đời vị lai do tà kiến. Với tà kiến của bản thân, (người ấy) nhìn thấy, nhìn ngắm, quan sát, suy xét, xem xét hai sự lợi ích này. ‘(Người ấy) nhìn thấy điều nào là việc lợi ích cho bản thân’ là thế ấy.
Rồi đã nương vào điều ấy, (vào) sự an tịnh bị thay đổi, tùy theo điều kiện - Có ba sự an tịnh: sự an tịnh tuyệt đối, sự an tịnh do chi phần ấy, sự an tịnh do quy định.
Sự an tịnh tuyệt đối là điều nào? Sự an tịnh tuyệt đối nói đến Bất Tử, Niết Bàn, sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Đây là sự an tịnh tuyệt đối.
Sự an tịnh do chi phần ấy là điều nào? Đối với vị đã thể nhập sơ thiền, các pháp che lấp (thiền định) được an tịnh. Đối với vị thể nhập nhị thiền, tầm và tứ được an tịnh. Đối với vị thể nhập tam thiền, hỷ được an tịnh. Đối với vị thể nhập tứ thiền, lạc và khổ được an tịnh. Đối với vị thể nhập không vô biên xứ, sắc tưởng, bất bình tưởng, dị biệt tưởng được an tịnh. Đối với vị thể nhập thức vô biên xứ, không vô biên xứ tưởng được an tịnh. Đối với vị thể nhập vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được an tịnh. Đối với vị thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được an tịnh. Đây là sự an tịnh do chi phần.
Sự an tịnh do quy định là điều nào? Sự an tịnh do quy định nói đến 62 tà kiến, các điều này là sự an tịnh của tà kiến. Hơn nữa, sự an tịnh do quy định là sự an tịnh được đề cập ở ý nghĩa này.
Rồi đã nương vào điều ấy, (vào) sự an tịnh bị thay đổi, tùy theo điều kiện : rồi đã nương vào, phụ thuộc vào, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám chặt, đã hướng đến sự an tịnh bị thay đổi, sự an tịnh bị khuấy động, sự an tịnh bị di động, sự an tịnh bị chuyển động, sự an tịnh bị dao động, sự an tịnh bị tác động, sự an tịnh được sắp xếp, sự an tịnh được xét đoán, sự an tịnh là pháp hoại, pháp diệt, pháp lìa khỏi luyến ái, pháp diệt tắt có tính chất không thường còn, được tạo tác, được sanh lên tùy theo điều kiện. ‘Rồi đã nương vào điều ấy, (vào) sự an tịnh bị thay đổi, tùy theo điều kiện’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Các pháp của người nào được xét đoán, được tạo tác, được chú trọng, là (các pháp) không trong sạch, (người ấy) nhìn thấy điều nào là việc lợi ích cho bản thân, rồi đã nương vào điều ấy, (vào) sự an tịnh bị thay đổi, tùy theo điều kiện .”
Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua sau khi đã suy xét điều đã được chọn lựa trong số các pháp (tà kiến). Vì thế, trong số các sự chấp chặt ấy, loài người rời bỏ và nắm giữ tà kiến (này đến tà kiến khác) .
Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua - Các sự chấp chặt vào tà kiến : Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thế giới là thường còn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không’ là sự chấp chặt vào tà kiến. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thế giới là không thường còn, thế giới là có giới hạn, thế giới là không có giới hạn, mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy, mạng sống là vật khác thân thể là vật khác, đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không’ là sự chấp chặt vào tà kiến. ‘Các sự chấp chặt vào tà kiến’ là thế ấy. Quả thật không dễ vượt qua : Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua, khó vượt qua, khó vượt lên, khó vượt hẳn, khó vượt trội, khó vượt trên hẳn. ‘Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua’ là thế ấy.
Sau khi đã suy xét điều đã được chọn lựa trong số các pháp - Trong số các pháp : trong số 62 tà kiến. Sau khi đã suy xét : sau khi suy xét, sau khi suy nghiệm, sau khi chọn lựa, sau khi chọn lọc, sau khi cân nhắc, sau khi xét đoán, sau khi phân biệt, sau khi làm rõ. Điều đã được chọn lựa là sự nắm lấy có giới hạn, sự nắm lấy từng phần, sự nắm lấy tối thượng, sự nắm lấy toàn phần, sự nắm lấy theo số lượng, sự nắm lấy tổng thể ở các sự chấp chặt rằng: ‘Điều này là sự thật, là đúng đắn, là như thế, là đang xảy ra, có bản thể như vậy, không bị sai lệch, được nắm giữ, được bám víu, được cố chấp, được bám chặt, được hướng đến. ‘Sau khi đã suy xét điều đã được chọn lựa trong số các pháp’ là thế ấy.
Vì thế, trong số các sự chấp chặt ấy, loài người - Vì thế : bởi điều ấy, bởi lý do ấy, bởi nhân ấy, bởi duyên ấy, bởi căn nguyên ấy. Loài người là chúng sanh, đàn ông, thanh niên, người nam, cá nhân, mạng sống, người còn sanh tử, con người, người đi theo nghiệp, nhân loại.
Rời bỏ và nắm giữ tà kiến: Rời bỏ - Rời bỏ bởi hai lý do: rời bỏ do sự can ngăn của người khác, hoặc là trong khi không thành tựu rồi rời bỏ.
Rời bỏ do sự can ngăn của người khác là thế nào? Người khác can ngăn rằng: ‘Vị thầy ấy không toàn tri, pháp không khéo được thuyết giảng, nhóm không khéo được huấn luyện, quan điểm không tốt lành, sự thực hành không khéo được quy định, đạo lộ không đưa đến giải thoát, sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn thanh tịnh, sự thoát khỏi, sự giải thoát, hay sự hoàn toàn giải thoát không có ở đây; họ trở nên trong sạch, trở nên thanh tịnh, trở nên hoàn toàn thanh tịnh, được thoát khỏi, được giải thoát, hoặc được hoàn toàn giải thoát không có ở đây, họ trở nên thấp hèn, hèn kém, hèn mọn, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi; người khác can ngăn là như vậy. Trong khi bị căn ngăn như vậy rồi rời bỏ vị thầy, rời bỏ sự thuyết giảng pháp, rời bỏ nhóm, rời bỏ quan điểm, rời bỏ sự thực hành, rời bỏ đạo lộ; rời bỏ do sự can ngăn của người khác là như vậy.
Trong khi không thành tựu rồi rời bỏ là thế nào? Trong khi không thành tựu giới rồi rời bỏ giới, trong khi không thành tựu phận sự rồi rời bỏ phận sự, trong khi không thành tựu giới và phận sự rồi rời bỏ giới và phận sự. Và nắm giữ tà kiến : Nắm lấy vị thầy, nắm lấy sự thuyết giảng pháp, nắm lấy nhóm, nắm lấy quan điểm, nắm lấy sự thực hành, nắm lấy đạo lộ, rồi bám víu, cố chấp. ‘Rời bỏ và nắm giữ tà kiến’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua
sau khi đã suy xét điều đã được chọn lựa trong số các pháp (tà kiến).
Vì thế, trong số các sự chấp chặt ấy, loài người
rời bỏ và nắm giữ tà kiến (này đến tà kiến khác) .”
Quả thật, đối với vị đã rủ sạch thì không có tư tưởng được sắp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian. Vị đã rủ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngã mạn, thì bởi điều gì mà vị ấy có thể ra đi khi vị ấy không có sự vướng bận?
Quả thật, đối với vị đã rủ sạch thì không có tư tưởng được sắp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian - Đã rủ sạch: đã rủ sạch được gọi là tuệ. Tuệ là sự nhận biết, kiến thức, sự chọn lựa, sự khám phá, sự chọn lựa pháp, sự quan sát, sự suy xét, sự phân biệt, sự thông thái, sự thông thạo, sự khôn khéo, sự thông suốt, sự cân nhắc, sự rõ ràng, sự hiểu biết rộng rãi, sự thông minh, pháp dẫn đầu, sự thấy rõ, sự tỉnh giác, vật xuyên thủng, tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ là vũ khí, tuệ là lâu đài, tuệ là ánh sáng, tuệ là hào quang, tuệ là báu vật, là sự không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến.
Vì lý do gì mà đã rủ sạch được gọi là tuệ? Nhờ vào tuệ ấy, uế hạnh về thân được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; uế hạnh về khẩu được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; uế hạnh về ý được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; sự luyến ái được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; sân hận ― si mê ― giận dữ ― thù hằn ― gièm pha ― ác ý được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; ganh tỵ được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; bội bạc được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; bướng bỉnh được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; hung hăng ― ngã mạn ― kiêu căng ― đam mê ― xao lãng được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; tất cả ô nhiễm ― tất cả uế hạnh ― mọi sự lo lắng ― mọi sự bực bội ― mọi sự nóng nảy ― mọi sự tạo tác bất thiện được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch. Vì lý do ấy mà đã rủ sạch được gọi là tuệ. Hoặc là nhờ vào chánh kiến, tà kiến được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; nhờ vào chánh tư duy, tà tư duy được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch; nhờ vào chánh ngữ, tà ngữ được rủ bỏ ― nhờ vào chánh nghiệp, tà nghiệp được rủ bỏ ― nhờ vào chánh mạng, tà mạng được rủ bỏ ― nhờ vào chánh tinh tấn, tà tinh tấn được rủ bỏ ― nhờ vào chánh niệm, tà niệm được rủ bỏ ― nhờ vào chánh định, tà định được rủ bỏ ― nhờ vào chánh trí, tà trí được rủ bỏ ― nhờ vào chánh giải thoát, tà giải thoát được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch. Hoặc là nhờ vào Thánh Đạo tám chi, tất cả ô nhiễm, tất cả uế hạnh, mọi sự lo lắng, mọi sự bực bội, mọi sự nóng nảy, mọi sự tạo tác bất thiện được rủ bỏ, được rủ sạch, được tẩy sạch, được gột sạch. Bậc A-la-hán đã tiến đến, đã tiến gần, đã tiến vào, đã tiến sát, đã tiếp cận, đã tròn đủ, đã thành tựu các pháp cần được rủ sạch này, vì thế bậc A-la-hán đã được rủ sạch. Vị ấy có ái luyến đã được rủ bỏ, có điều ác đã được rủ bỏ, có ô nhiễm đã được rủ bỏ, có sự bực bội đã được rủ bỏ. ‘Được rủ sạch’ là thế ấy.
Ở bất cứ đâu : ở bất cứ đâu, về bất cứ điều gì, ở bất cứ chỗ nào, nội phần hoặc ngoại phần hoặc nội phần và ngoại phần. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, ở thế gian của loài người, ở thế gian của chư Thiên, ở thế gian của các uẩn, ở thế gian của các giới, ở thế gian của các xứ. Được sắp đặt - Có hai sự sắp đặt: sắp đặt do tham ái và sắp đặt do tà kiến. ―như trên― điều này là sắp đặt do tham ái. ―như trên― điều này là sắp đặt do tà kiến. Đây là hai sự sắp đặt. Ở hữu và phi hữu : ở dục giới sắc giới vô sắc giới, ở cảnh giới của nghiệp, ở cảnh giới của sự tái sanh; ở cảnh giới của nghiệp là dục giới, ở cảnh giới của sự tái sanh là dục giới, ở cảnh giới của nghiệp là sắc giới, ở cảnh giới của sự tái sanh là sắc giới, ở cảnh giới của nghiệp là vô sắc giới, ở cảnh giới của sự tái sanh là vô sắc giới, ở sự sanh lên được tiếp diễn, ở cảnh giới tái sanh được tiếp diễn, ở sự tiếp nối tái sanh được tiếp diễn, ở sự tái sanh của bản ngã được tiếp diễn. Quả thật, đối với vị đã rủ sạch thì không có tư tưởng được sắp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian : đối với vị đã rủ sạch, tư tưởng đã được sắp đặt, đã được tác thành, đã được thành lập liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian thì không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Quả thật, đối với vị đã rủ sạch thì không có tư tưởng được sắp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian’ là thế ấy.
Vị đã rủ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngã mạn - xảo quyệt nói đến các hành vi lường gạt; ở đây có người sau khi làm uế hạnh bằng thân, sau khi làm uế hạnh bằng lời nói, sau khi làm uế hạnh bằng ý, vì nguyên nhân che đậy việc ấy, xác quyết ước muốn xấu xa: (Vị ấy) ước muốn rằng: ‘Chớ ai biết về tôi,’ suy tư rằng: ‘Chớ ai biết về tôi,’ nói lời rằng: ‘Chớ ai biết về tôi,’ nỗ lực bằng thân rằng: ‘Chớ ai biết về tôi.’ Sự xảo quyệt với hình thức như vầy là có trạng thái xảo quyệt, là việc tội lỗi, lường gạt, gian lận, thay đổi, tránh né, cất giấu, che giấu, che đậy, che đậy kín, không phơi bày, không làm rõ, khéo che đậy, việc làm ác, điều này gọi là xảo quyệt.
Ngã mạn - Ngã mạn theo một loại: là sự cao ngạo của tâm. Ngã mạn theo hai loại: ngã mạn do tâng bốc bản thân và ngã mạn do khinh bỉ người khác. Ngã mạn theo ba loại: ngã mạn (với ý nghĩ) ‘Tôi tốt hơn,’ ngã mạn (với ý nghĩ) ‘Tôi ngang bằng,’ ngã mạn (với ý nghĩ) ‘Tôi thấp hèn.’ Ngã mạn theo bốn loại: do lợi lộc rồi sanh khởi ngã mạn, do danh vọng rồi sanh khởi ngã mạn, do khen ngợi rồi sanh khởi ngã mạn, do sung sướng rồi sanh khởi ngã mạn. Ngã mạn theo năm loại: (nghĩ rằng:) ‘Ta đạt được các sắc thích ý’ rồi sanh khởi ngã mạn, (nghĩ rằng:) ‘Ta đạt được các thinh ― các hương ― các vị ― các xúc thích ý’ rồi sanh khởi ngã mạn. Ngã mạn theo sáu loại: Do sự thành tựu của mắt rồi sanh khởi ngã mạn, do sự thành tựu của tai ― do sự thành tựu của mũi ― do sự thành tựu của lưỡi ― do sự thành tựu của thân ― do sự thành tựu của ý rồi sanh khởi ngã mạn. Ngã mạn theo bảy loại: ngã mạn, cống cao, cống cao dựa trên ngã mạn, tự ti, ngã mạn thái quá, ngã mạn về bản thân, ngã mạn do hiểu biết sai trái. Ngã mạn theo tám loại: do lợi lộc rồi sanh khởi ngã mạn, do không có lợi lộc rồi sanh khởi tự ti, do danh tiếng rồi sanh khởi ngã mạn, do không có danh tiếng rồi sanh khởi tự ti, do khen ngợi rồi sanh khởi ngã mạn, do chê trách rồi sanh khởi tự ti, do sung sướng rồi sanh khởi ngã mạn, do khổ đau rồi sanh khởi tự ti. Ngã mạn theo chín loại: Người tốt hơn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi tốt hơn,’ người tốt hơn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi ngang bằng,’ người tốt hơn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi thấp hèn,’ người ngang bằng có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi tốt hơn,’ người ngang bằng có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi ngang bằng,’ người ngang bằng có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi thấp hèn,’ người thấp hèn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi tốt hơn,’ người thấp hèn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi ngang bằng,’ người thấp hèn có sự ngã mạn (nghĩ rằng) ‘Tôi thấp hèn,’ Ngã mạn theo mười loại: Ở đây có người sanh khởi ngã mạn về xuất thân, về dòng dõi, về con nhà gia thế, về vẻ đẹp của vóc dáng, về tài sản, về học vấn, về công việc, về tài nghệ, về kiến thức, về sự học hỏi, về tài biện giải, hoặc về sự việc này khác.’ Ngã mạn với hình thức như vầy là biểu hiện của ngã mạn, bản thể của ngã mạn, sự cao ngạo, sự nâng cao, (như) ngọn cờ, sự tự nâng lên, sự khoe khoang tự đắc của tâm, điều này gọi là ngã mạn. Vị đã rủ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngã mạn - Vị đã rủ sạch sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu xảo quyệt và ngã mạn. ‘Vị đã rủ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngã mạn’ là thế ấy.
Bởi điều gì mà vị ấy có thể ra đi khi vị ấy không có sự vướng bận? - Sự vướng bận - Có hai sự vướng bận: sự vướng bận do tham ái và sự vướng bận do tà kiến. ―như trên― điều này là sự vướng bận do tham ái. ―như trên― điều này là sự vướng bận do tà kiến. Đây là hai sự vướng bận. Đối với vị ấy, sự vướng bận do tham ái được dứt bỏ, sự vướng bận do tà kiến được xả bỏ. Do tình trạng dứt bỏ sự vướng bận do tham ái, do tình trạng xả bỏ sự vướng bận do tà kiến, thì vị không có sự vướng bận có thể ra đi bởi sự luyến ái gì, có thể ra đi bởi sự sân hận gì, có thể ra đi bởi sự si mê gì, có thể ra đi bởi sự ngã mạn gì, có thể ra đi bởi tà kiến gì, có thể ra đi bởi sự phóng dật gì, có thể ra đi bởi hoài nghi gì, có thể ra đi bởi các pháp tiềm ẩn gì, có phải là người bị luyến ái, hoặc bị sân hận, hoặc bị si mê, hoặc bị bảo thủ, hoặc bị bám víu, hoặc vững chải? Các sự tạo tác ấy được dứt bỏ. Do tình trạng dứt bỏ của các pháp tạo tác, thì vị ấy có thể ra đi về cảnh giới tái sanh gì, hay (trở thành) người địa ngục, hoặc hạng sanh vào thai bào của loài thú, hoặc người ở cảnh giới ngạ quỷ, hoặc loài người, hoặc chư Thiên, hoặc hữu hình, hoặc vô hình, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc phi tưởng phi phi tưởng? Vị ấy không có nhân, không có duyên, không có lý do, mà vì điều ấy có thể ra đi. ‘Bởi điều gì mà vị ấy có thể ra đi khi vị ấy không có sự vướng bận?’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Quả thật, đối với vị đã rủ sạch thì không có tư tưởng được sắp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian. Vị đã rủ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngã mạn, thì bởi điều gì mà vị ấy có thể ra đi khi vị ấy không có sự vướng bận? ”
Quả thật, người vướng bận tiếp cận sự tranh luận về các pháp,
vì điều gì, bằng cách nào có thể nói về người không vướng bận?
Bởi vì điều được nắm lấy và được rời bỏ là không có đối với vị ấy;
vị ấy đã rũ bỏ mọi tà kiến ở ngay tại nơi đây .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Quả thật, người vướng bận tiếp cận sự tranh luận về các pháp,
vì điều gì, bằng cách nào có thể nói về người không vướng bận?
Bởi vì điều được nắm lấy và được rời bỏ là không có đối với vị ấy;
vị ấy đã rũ bỏ mọi tà kiến ở ngay tại nơi đây .”
Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Xấu Xa là thứ ba . --ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Vādañca jātaṃ muni no upetīti. So vādo jāto hoti sañjāto nibbatto abhinibbatto pātubhūto paratoghoso akkoso upavādo bhagavato ca bhikkhusaṅghassa ca abhūtenāti – vādañca jātaṃ. Muni no upetīti. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi, tena ñāṇena samannāgato muni monappatto…pe… saṅgajālamaticca so muni. Yo vādaṃ upeti so dvīhi kāraṇehi vādaṃ upeti – kārako kārakatāya vādaṃ upeti, atha vā vuccamāno upavadiyamāno kuppati byāpajjati patiṭṭhiyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. Akārakomhīti yo vādaṃ upeti so imehi dvīhi kāraṇehi vādaṃ upeti. Muni dvīhi kāraṇehi vādaṃ na upeti – akārako muni akārakatāya vādaṃ na upeti, atha vā vuccamāno upavadiyamāno na kuppati na byāpajjati na patiṭṭhiyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti. Akārakomhīti muni imehi dvīhi kāraṇehi vādaṃ na upeti na upagacchati na gaṇhāti na parāmasati na abhinivisatīti – vādañca jātaṃ muni no upeti.
“And the sage does not approach a dispute that has arisen.” That dispute has arisen, been born, produced, fully produced, manifested; it is a sound from another, abuse, and censure against the Blessed One and the Sangha of monks based on what is not real—thus, “a dispute that has arisen.” “The sage does not approach.” As to “sage”: knowledge is called mona. That which is wisdom, understanding, non-delusion, investigation of the Dhamma, right view—the sage is one endowed with that knowledge, who has attained mona… having transcended the net of entanglements, that is the sage. One who approaches a dispute does so for two reasons: being the perpetrator, on account of being the perpetrator, he approaches the dispute; or, when spoken to and censured, he becomes angry, hostile, and obstinate, and he makes manifest anger, ill will, and displeasure. One who approaches a dispute thinking, “I am not the perpetrator,” does so for these two reasons. The sage does not approach a dispute for two reasons: the sage, being a non-perpetrator, on account of being a non-perpetrator, does not approach the dispute; or, when spoken to and censured, he does not become angry, is not hostile, is not obstinate, and does not make manifest anger, ill will, and displeasure. Thinking, “I am not the perpetrator,” the sage, for these two reasons, does not approach a dispute, does not go near it, does not take it up, does not grasp it, and does not settle upon it—thus, “And the sage does not approach a dispute that has arisen.”
Và bậc ẩn sĩ không đi đến lời tranh luận đã được sanh khởi. Lời tranh luận ấy đã được sanh khởi, đã được sanh khởi tốt đẹp, đã được hoàn thành, đã được hoàn thành trọn vẹn, đã được hiển lộ. Tiếng ồn ào từ người khác, sự mắng nhiếc, sự phỉ báng đối với đức Thế Tôn và đối với Tăng chúng Tỳ khưu bằng điều không có thật – (đây là ý nghĩa của) lời tranh luận đã được sanh khởi. Bậc ẩn sĩ không đi đến. Về bậc ẩn sĩ. Trí tuệ được gọi là sự tĩnh lặng (mona). Trí tuệ nào là sự hiểu biết, sự không si mê, sự thẩm sát Pháp, chánh kiến; bậc ẩn sĩ là người đã thành tựu trí tuệ ấy, đã đạt đến sự tĩnh lặng... vượt qua mạng lưới của sự dính mắc, đó là bậc ẩn sĩ. Người nào đi đến lời tranh luận, người ấy đi đến lời tranh luận do hai nguyên nhân: là người đã làm (điều sai trái), do đã làm (điều sai trái) nên đi đến lời tranh luận; hoặc là, khi bị nói, khi bị phỉ báng, người ấy tức giận, bị tổn hại, cố chấp, và biểu lộ sự phẫn nộ, sự sân hận, và sự bất bình. Người nào đi đến lời tranh luận (với ý nghĩ) 'Ta không phải là người đã làm', người ấy đi đến lời tranh luận do hai nguyên nhân này. Bậc ẩn sĩ không đi đến lời tranh luận do hai nguyên nhân: bậc ẩn sĩ là người không làm (điều sai trái), do không làm (điều sai trái) nên không đi đến lời tranh luận; hoặc là, khi bị nói, khi bị phỉ báng, vị ấy không tức giận, không bị tổn hại, không cố chấp, không biểu lộ sự phẫn nộ, sự sân hận, và sự bất bình. (Với ý nghĩ) 'Ta không phải là người đã làm', bậc ẩn sĩ do hai nguyên nhân này không đi đến lời tranh luận, không tiếp cận, không nắm giữ, không chấp thủ, không bám víu – (đây là ý nghĩa của) và bậc ẩn sĩ không đi đến lời tranh luận đã được sanh khởi.
Tasmā munī natthi khilo kuhiñcīti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānaṃ munino āhatacittatā khilajātatāpi natthi. Pañcapi cetokhilā natthi, tayopi khilā natthi. Rāgakhilo dosakhilo mohakhilo natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vāti – tasmā munī natthi khilo kuhiñcīti.
“Therefore, for the sage, there is no mental thorn anywhere.” ‘Therefore’ means for that reason, that cause, that condition, that origin, for the sage there is no afflicted state of mind, nor the state of being a mental thorn. The five mental thorns are absent, and the three thorns are absent. The thorn of lust, the thorn of hatred, and the thorn of delusion do not exist, are not present, are not found, are not perceived; they are abandoned, cut off at the root, pacified, quieted, incapable of arising again, burned by the fire of knowledge. ‘Anywhere’ means anywhere, in anything, in any place, whether internal, or external, or both internal and external—thus, “therefore, for the sage, there is no mental thorn anywhere.”
Do đó, bậc ẩn sĩ không có sự chai cứng ở bất cứ đâu. Về 'do đó'. Do đó, vì nguyên nhân ấy, vì lý do ấy, vì duyên cớ ấy, vì nguyên do ấy, đối với bậc ẩn sĩ, không có trạng thái tâm bị tổn thương, cũng không có trạng thái chai cứng đã sanh khởi. Năm sự chai cứng của tâm cũng không có, ba sự chai cứng cũng không có. Sự chai cứng do tham, sự chai cứng do sân, sự chai cứng do si không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; chúng đã được từ bỏ, đã được đoạn tận, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Về 'ở bất cứ đâu'. Ở bất cứ đâu, trong bất cứ điều gì, ở bất cứ nơi nào, hoặc ở bên trong, hoặc ở bên ngoài, hoặc ở cả bên trong và bên ngoài – (đây là ý nghĩa của) do đó, bậc ẩn sĩ không có sự chai cứng ở bất cứ đâu.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Vadanti ve duṭṭhamanāpi eke, athopi ve saccamanā vadanti;
Vādañca jātaṃ muni no upeti, tasmā munī natthi khilo kuhiñcī’’ti.
“Some indeed speak with malicious minds, and others indeed speak with truthful minds; but the sage does not engage in a dispute that has arisen, therefore the sage has no mental thorn anywhere.”
‘Quả thật, một số người nói với tâm ác độc, và quả thật, (một số người khác) cũng nói với tâm chân thật. Bậc ẩn sĩ không đi đến lời tranh luận đã được sanh khởi, do đó, bậc ẩn sĩ không có sự chai cứng ở bất cứ đâu.’
16.
16.
16.
Sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya, chandānunīto ruciyā niviṭṭho;
Sayaṃ samattāni pakubbamāno, yathā hi jāneyya tathā vadeyya.
“For how could one transcend one's own view, being led by zeal, fixed on liking? Perfecting them for oneself, as one might know, so one would speak.”
‘Làm sao người ấy có thể vượt qua được tà kiến của chính mình? (Bởi vì) người ấy được dẫn dắt bởi dục vọng, an trú trong sở thích. Tự mình hoàn thiện (các quan điểm), người ấy biết như thế nào, quả thật người ấy nói như thế ấy.’
Sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyyāti. Yaṃ te titthiyā sundariparibbājikaṃ hantvā samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ avaṇṇaṃ pakāsayitvā ‘‘evaṃ etaṃ lābhaṃ yasasakkāraṃ sammānaṃ paccāharissāmā’’ti te evaṃdiṭṭhikā evaṃkhantikā evaṃrucikā evaṃladdhikā evaṃajjhāsayā evaṃadhippāyā, te nāsakkhiṃsu sakaṃ diṭṭhiṃ sakaṃ khantiṃ sakaṃ ruciṃ sakaṃ laddhiṃ sakaṃ ajjhāsayaṃ sakaṃ adhippāyaṃ atikkamituṃ; atha kho sveva ayaso te paccāgatoti, evampi – sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya. Atha vā ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti yo so evaṃvādo, so sakaṃ diṭṭhiṃ sakaṃ khantiṃ sakaṃ ruciṃ sakaṃ laddhiṃ sakaṃ ajjhāsayaṃ sakaṃ adhippāyaṃ kathaṃ accayeyya atikkameyya samatikkameyya vītivatteyya? Taṃ kissa hetu? Tassa sā diṭṭhi tathā samattā samādinnā gahitā parāmaṭṭhā abhiniviṭṭhā ajjhositā adhimuttāti. Evampi – sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya? ‘‘Asassato loko…pe… antavā loko… anantavā loko… taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ… aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ… hoti tathāgato paraṃ maraṇā… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti yo so evaṃ vādo, so sakaṃ diṭṭhiṃ sakaṃ khantiṃ sakaṃ ruciṃ sakaṃ laddhiṃ sakaṃ ajjhāsayaṃ sakaṃ adhippāyaṃ kathaṃ accayeyya atikkameyya samatikkameyya vītivatteyya? Taṃ kissa hetu? Tassa sā diṭṭhi tathā samattā samādinnā gahitā parāmaṭṭhā abhiniviṭṭhā ajjhositā adhimuttāti. Evampi – sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya.
“How could one transcend one's own view?” Because those sectarians, having killed the female wanderer Sundarī and then made known the disrepute of the Sakyan ascetics, thinking, “Thus we shall regain profit, fame, honor, and respect”—those of such views, such tolerance, such preferences, such tenets, such inclinations, and such intentions—they were unable to transcend their own view, their own tolerance, their own preference, their own tenet, their own inclination, their own intention. But instead, that very disgrace returned to them. Thus also—how could one transcend one's own view? Or, for one who has the doctrine, “The world is eternal; this alone is true, all else is vain”—how could such a one transcend, go beyond, pass beyond, or overcome their own view, their own tolerance, their own preference, their own tenet, their own inclination, their own intention? For what reason? Because that view of theirs is thus thoroughly taken up, undertaken, grasped, adhered to, resolved upon, settled upon, and decided upon. Thus also—how could one transcend one's own view? “The world is not eternal… the world is finite… the world is infinite… the soul and the body are the same… the soul and the body are different… the Tathāgata exists after death… the Tathāgata does not exist after death… the Tathāgata both exists and does not exist after death… the Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, all else is vain.” How could one who has such a doctrine transcend, go beyond, pass beyond, or overcome their own view, their own tolerance, their own preference, their own tenet, their own inclination, their own intention? For what reason? Because that view of theirs is thus thoroughly taken up, undertaken, grasped, adhered to, resolved upon, settled upon, and decided upon. Thus also—how could one transcend one's own view?
Về câu 'Làm sao người ấy có thể vượt qua được tà kiến của chính mình?'. Bởi vì các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi đã giết nữ du sĩ Sundarī, đã công bố điều không tốt đẹp về các vị Sa-môn Thích tử, (với ý nghĩ rằng): 'Bằng cách này, chúng ta sẽ mang về lại lợi lộc, danh tiếng, sự cúng dường, và sự tôn kính này.' Họ có tà kiến như vậy, có sự kham nhẫn như vậy, có sở thích như vậy, có chủ thuyết như vậy, có khuynh hướng như vậy, có ý định như vậy. Họ đã không thể vượt qua được tà kiến của chính mình, sự kham nhẫn của chính mình, sở thích của chính mình, chủ thuyết của chính mình, khuynh hướng của chính mình, ý định của chính mình. Trái lại, chính sự tai tiếng ấy đã quay trở lại với họ. Theo cách này cũng vậy – (đây là ý nghĩa của) 'Làm sao người ấy có thể vượt qua được tà kiến của chính mình?'. Hoặc là, người nào có chủ trương rằng: 'Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là chân thật, điều khác là vô ích,' làm sao người ấy có thể vượt qua, có thể đi qua, có thể siêu việt, có thể thoát khỏi tà kiến của chính mình, sự kham nhẫn của chính mình, sở thích của chính mình, chủ thuyết của chính mình, khuynh hướng của chính mình, ý định của chính mình? Vì lý do gì? Bởi vì tà kiến ấy của người đó đã được nắm giữ, đã được chấp nhận, đã được bám víu, đã được chấp thủ, đã được cố chấp, đã được quyết định, đã được tin chắc như vậy. Theo cách này cũng vậy – (đây là ý nghĩa của) 'Làm sao người ấy có thể vượt qua được tà kiến của chính mình?'. (Tương tự đối với các quan điểm:) 'Thế gian là không thường hằng... cho đến... Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ điều này là chân thật, điều khác là vô ích,' người nào có chủ trương như vậy, làm sao người ấy có thể vượt qua... tà kiến của chính mình...? Vì lý do gì? Bởi vì tà kiến ấy của người đó đã được nắm giữ, đã được chấp nhận, đã được bám víu, đã được chấp thủ, đã được cố chấp, đã được quyết định, đã được tin chắc như vậy. Theo cách này cũng vậy – (đây là ý nghĩa của) 'Làm sao người ấy có thể vượt qua được tà kiến của chính mình?'.
Chandānunīto ruciyā niviṭṭhoti. Chandānunītoti sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā yāyati niyyati vuyhati saṃharīyati. Yathā hatthiyānena vā assayānena vā rathayānena vā goyānena vā ajayānena vā meṇḍayānena vā oṭṭhayānena vā kharayānena vā yāyati niyyati vuyhati saṃharīyati, evameva sakāya diṭṭhiyā sakāya khantiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā yāyati niyyati vuyhati saṃharīyatīti – chandānunīto. Ruciyā niviṭṭhoti sakāya diṭṭhiyā sakāya ruciyā sakāya laddhiyā niviṭṭho patiṭṭhito allīno upagato ajjhosito adhimuttoti – chandānunīto ruciyā niviṭṭho.
“Led by zeal, fixed on liking.” ‘Led by zeal’ means one is carried along, led, borne away, and conveyed by one's own view, one's own tolerance, one's own liking, one's own doctrine. Just as one is carried along, led, borne away, and conveyed by a vehicle—whether an elephant vehicle, a horse vehicle, a chariot vehicle, an ox vehicle, a goat vehicle, a ram vehicle, a camel vehicle, or a donkey vehicle—even so one is carried along, led, borne away, and conveyed by one's own view, one's own tolerance, one's own liking, one's own doctrine—this is ‘led by zeal.’ ‘Fixed on liking’ means one is fixed, established, attached, closely adhering, intent, and resolved on one's own view, one's own liking, and one's own doctrine—this is ‘led by zeal, fixed on liking.’
Về câu 'được dẫn dắt bởi dục vọng, an trú trong sở thích'. Về 'được dẫn dắt bởi dục vọng'. (Người ấy) bị đi theo, bị dẫn dắt, bị mang đi, bị cuốn đi bởi tà kiến của chính mình, bởi sự kham nhẫn của chính mình, bởi sở thích của chính mình, bởi chủ thuyết của chính mình. Giống như người ta đi, được dẫn dắt, được mang đi, được cuốn đi bằng xe voi, hoặc xe ngựa, hoặc xe song mã, hoặc xe bò, hoặc xe dê, hoặc xe cừu, hoặc xe lạc đà, hoặc xe lừa; cũng vậy, (người ấy) bị đi theo, bị dẫn dắt, bị mang đi, bị cuốn đi bởi tà kiến của chính mình, bởi sự kham nhẫn của chính mình, bởi sở thích của chính mình, bởi chủ thuyết của chính mình – (đây là ý nghĩa của) được dẫn dắt bởi dục vọng. Về 'an trú trong sở thích'. (Người ấy) an trú, thiết lập, bám víu, tiếp cận, quyết định, tin chắc vào tà kiến của chính mình, sở thích của chính mình, chủ thuyết của chính mình – (đây là ý nghĩa của) được dẫn dắt bởi dục vọng, an trú trong sở thích.
Sayaṃ samattāni pakubbamānoti. Sayaṃ samattaṃ karoti paripuṇṇaṃ karoti anomaṃ karoti aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti. ‘‘Ayaṃ satthā sabbaññū’’ti sayaṃ samattaṃ karoti paripuṇṇaṃ karoti anomaṃ karoti aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti. ‘‘Ayaṃ dhammo svākkhāto…pe… ayaṃ gaṇo suppaṭipanno… ayaṃ diṭṭhi bhaddikā… ayaṃ paṭipadā supaññattā… ayaṃ maggo niyyāniko’’ti sayaṃ samattaṃ karoti paripuṇṇaṃ karoti anomaṃ karoti aggaṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ pāmokkhaṃ uttamaṃ pavaraṃ karoti janeti sañjaneti nibbatteti abhinibbattetīti – sayaṃ samattāni pakubbamāno.
Making perfect for oneself. He himself makes perfect, makes complete, makes peerless, makes supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, and sublime. He himself makes perfect, makes complete, makes peerless, makes supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, and sublime, saying, 'This Teacher is all-knowing.' 'This Dhamma is well-proclaimed... this Sangha is practicing the good way... this view is auspicious... this practice is well-declared... this path leads to liberation,' he himself makes perfect, makes complete, makes peerless, makes supreme, excellent, distinguished, foremost, highest, and sublime; he generates, produces, brings forth, and manifests—thus, 'making perfect for oneself.'
Thế nào là tự mình làm cho được hoàn hảo? Tự mình làm cho hoàn hảo, làm cho trọn vẹn, làm cho không thấp kém, làm cho thành cao cả, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, tối thượng, cao quý. (Nói rằng:) “Vị Đạo Sư này là bậc Toàn Tri,” rồi tự mình làm cho hoàn hảo, làm cho trọn vẹn, làm cho không thấp kém, làm cho thành cao cả, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, tối thượng, cao quý. (Nói rằng:) “Giáo Pháp này đã được khéo thuyết giảng... (v.v.)... Chúng Tăng này là bậc Thiện Hạnh... Tri kiến này là tốt lành... Con đường thực hành này đã được khéo quy định... Con đường này có khả năng đưa ra khỏi (khổ đau),” rồi tự mình làm cho hoàn hảo, làm cho trọn vẹn, làm cho không thấp kém, làm cho thành cao cả, ưu việt, đặc thù, chủ yếu, tối thượng, cao quý, làm cho sanh khởi, làm cho phát sanh, làm cho hiện hữu, làm cho được sanh ra. Như thế là tự mình làm cho được hoàn hảo.
Yathā hi jāneyya tathā vadeyyāti yathā jāneyya, tathā vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyya. ‘‘Sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti yathā jāneyya, tathā vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyya. ‘‘Asassato loko…pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti yathā jāneyya, tathā vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyyāti – yathā hi jāneyya tathā vadeyya.
As one knows, so one should speak. As one knows, so one should speak, declare, explain, illuminate, or proclaim. 'The world is eternal; this alone is true, all else is false'—as one knows, so one should speak, declare, explain, illuminate, or proclaim. 'The world is not eternal... a Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, all else is false'—as one knows, so one should speak, declare, explain, illuminate, or proclaim. Thus, as one knows, so one should speak.
Thế nào là biết như thế nào, nói như thế ấy? Biết như thế nào, nói như thế ấy, kể như thế ấy, phát biểu như thế ấy, trình bày như thế ấy, diễn đạt như thế ấy. (Nói rằng:) “Thế gian là thường hằng, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,” biết như thế nào, nói như thế ấy, kể như thế ấy, phát biểu như thế ấy, trình bày như thế ấy, diễn đạt như thế ấy. (Nói rằng:) “Thế gian là không thường hằng... (v.v.)... Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có, chỉ điều này là sự thật, điều khác là sai lầm,” biết như thế nào, nói như thế ấy, kể như thế ấy, phát biểu như thế ấy, trình bày như thế ấy, diễn đạt như thế ấy. Như thế là biết như thế nào, nói như thế ấy.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Sakañhi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya, chandānunīto ruciyā niviṭṭho;
Sayaṃ samattāni pakubbamāno, yathā hi jāneyya tathā vadeyyā’’ti.
"How could one overcome one's own view, being led by desire, settled in one's preference? Perfecting it for oneself, as one knows, so one would speak."
“Làm sao vượt qua tri kiến của mình, khi xuôi theo dục vọng, an trú vào sở thích? Tự mình làm cho (tri kiến ấy) được hoàn hảo, biết như thế nào, người ấy nói như thế ấy.”
17.
17.
17.
Yo attano sīlavatāni jantu, anānupuṭṭhova † paresa pāva pāvā (sī. syā.) ;
Anariyadhammaṃ kusalā tamāhu, yo ātumānaṃ sayameva pāva † .
He who, though unasked, proclaims his own precepts and practices to others; the wise call that an ignoble practice, for one to praise oneself.
Chúng sanh nào không được hỏi mà lại, tuyên thuyết giới và hạnh của mình cho người khác; Các bậc thiện xảo gọi đó là pháp phi Thánh, đối với người tự mình tuyên thuyết về chính mình.
Yo attano sīlavatāni jantūti. Yoti yo yādiso yathāyutto yathāvihito yathāpakāro yaṃṭhānappatto yaṃdhammasamannāgato khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā gahaṭṭho vā pabbajito vā devo vā manusso vā. Sīlavatānīti atthi sīlañceva vatañca †, atthi vataṃ na sīlaṃ. Katamaṃ sīlañceva vatañca? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yo tattha saṃyamo saṃvaro avītikkamo, idaṃ sīlaṃ. Yaṃ samādānaṃ taṃ vataṃ. Saṃvaraṭṭhena sīlaṃ; samādānaṭṭhena vataṃ – idaṃ vuccati sīlañceva vatañca. Katamaṃ vataṃ, na sīlaṃ? Aṭṭha dhutaṅgāni – āraññikaṅgaṃ, piṇḍapātikaṅgaṃ, paṃsukūlikaṅgaṃ, tecīvarikaṅgaṃ, sapadānacārikaṅgaṃ, khalupacchābhattikaṅgaṃ, nesajjikaṅgaṃ, yathāsanthatikaṅgaṃ – idaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. Vīriyasamādānampi vuccati vataṃ, na sīlaṃ. ‘‘Kāmaṃ taco ca nhāru † ca aṭṭhi ca avasissatu †, sarīre upassussatu maṃsalohitaṃ. Yaṃ taṃ purisathāmena purisabalena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṃ, na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṃ bhavissatī’’ti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpaṃ vīriyasamādānaṃ – idaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ.
Regarding 'A being who has his own virtues and observances...': 'Whoever' (Yo) refers to any individual, of whatever kind, as they are engaged, as they are disposed, as they are inclined, whatever position they have attained, whatever qualities they possess—whether a noble, a brahmin, a merchant, a laborer, a householder, or a renunciant, a god or a human. By 'virtues and observances' (sīlavatāni) is meant that there is both virtue and observance, and there is observance but not virtue. What is both virtue and observance? Here, a monk is virtuous, restrained by the restraint of the Pātimokkha, perfect in conduct and resort, seeing danger in the slightest faults, and undertaking and training in the training rules. The restraint, control, and non-transgression therein—this is virtue. The undertaking is observance. By the meaning of restraint, it is virtue; by the meaning of undertaking, it is observance—this is called both virtue and observance. What is observance, but not virtue? The eight ascetic practices: the forest-dwelling practice, the alms-food practice, the rag-robe practice, the three-robes practice, the practice of going for alms from house to house, the practice of refusing food offered after one has started eating, the sitter's practice, and the practice of using whatever lodging is offered—this is called observance, but not virtue. The undertaking of energy is also called observance, but not virtue. 'Let only skin, sinews, and bones remain; let the flesh and blood dry up in the body. Whatever can be achieved by human strength, human effort, human vigor, human exertion—without reaching that, there will be no relaxing of energy.' Thus, one rouses the mind and makes an effort. Such an undertaking of energy—this is called observance, but not virtue.
Thế nào là chúng sanh nào (tuyên bố) về giới và hạnh của mình? Về từ nào: là người nào, hạng người nào, người có sự liên hệ nào, người có cách sống nào, người có loại hình nào, người đã đạt đến địa vị nào, người có được pháp nào, là Sát-đế-lỵ hay Bà-la-môn hay Phệ-xá hay Thủ-đà-la, là tại gia hay xuất gia, là chư thiên hay là người. Về từ giới và hạnh: có cả giới và hạnh, có hạnh mà không phải giới. Thế nào là cả giới và hạnh? Ở đây, vị tỳ khưu là người có giới, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự đáng sợ trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và tu học trong các học giới. Sự chế ngự, sự thu thúc, sự không vi phạm ở trong ấy, đây là giới. Sự thọ trì nào, đó là hạnh. Với ý nghĩa thu thúc là giới; với ý nghĩa thọ trì là hạnh – đây được gọi là cả giới và hạnh. Thế nào là hạnh, không phải giới? Tám pháp đầu-đà – hạnh ở rừng, hạnh đi khất thực, hạnh mặc y phấn tảo, hạnh ba y, hạnh đi khất thực theo thứ tự, hạnh không ăn sau khi đã từ chối, hạnh ngồi, hạnh ở nơi nào đã được sắp đặt – đây được gọi là hạnh, không phải giới. Sự thọ trì tinh tấn cũng được gọi là hạnh, không phải giới. (Nghĩ rằng:) “Dù cho chỉ còn da, gân, và xương; dù cho thịt và máu trong thân này khô cạn đi, cái gì có thể đạt được bằng sức người, bằng lực người, bằng tinh tấn người, bằng nỗ lực người, nếu chưa đạt được điều ấy thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn,” rồi nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy – đây được gọi là hạnh, không phải giới.
‘‘Nāsissaṃ na pivissāmi, vihārato na nikkhame;
Napi passaṃ nipātessaṃ, taṇhāsalle anūhate’’ti.
“I will not eat, I will not drink, I will not leave the dwelling; nor will I lay down my side, until the dart of craving is removed.”
“Ta sẽ không ăn, sẽ không uống, sẽ không đi ra khỏi tịnh xá, cũng sẽ không ngả lưng, khi mũi tên ái dục chưa được nhổ lên.”
Cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. ‘‘Na tāvāhaṃ imaṃ pallaṅkaṃ bhindissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatī’’ti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. ‘‘Na tāvāhaṃ imamhā āsanā vuṭṭhahissāmi, caṅkamā orohissāmi, vihārā nikkhamissāmi, aḍḍhayogā nikkhamissāmi, pāsādā nikkhamissāmi, hammiyā nikkhamissāmi, guhāya nikkhamissāmi, leṇā nikkhamissāmi, kuṭiyā nikkhamissāmi, kūṭāgārā nikkhamissāmi, aṭṭā nikkhamissāmi, māḷā nikkhamissāmi, uddaṇḍā † nikkhamissāmi upaṭṭhānasālāya nikkhamissāmi maṇḍapā nikkhamissāmi, rukkhamūlā nikkhamissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatī’’ti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. ‘‘Imasmiññeva pubbaṇhasamayaṃ ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmī’’ti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. ‘‘Imasmiññeva majjhanhikasamayaṃ, sāyanhasamayaṃ, purebhattaṃ, pacchābhattaṃ, purimaṃ yāmaṃ, majjhimaṃ yāmaṃ, pacchimaṃ yāmaṃ, kāḷe, juṇhe, vasse, hemante, gimhe, purime vayokhandhe, majjhime vayokhandhe, pacchime vayokhandhe ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmī’’ti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. Jantūti satto naro mānavo † poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujoti – yo attano sīlavatāni jantu.
He rouses his mind and makes an effort. Such an undertaking of energy is also called an observance, not virtue. 'I shall not break this cross-legged posture until my mind is liberated from the cankers without clinging'—he rouses his mind and makes an effort. Such an undertaking of energy is also called an observance, not virtue. 'I shall not rise from this seat, descend from the walking path, depart from the monastery, depart from the half-gabled house, depart from the mansion, depart from the flat-roofed house, depart from the cave, depart from the rock-shelter, depart from the hut, depart from the gabled hall, depart from the watchtower, depart from the upper chamber, depart from the raised platform, depart from the service hall, depart from the pavilion, depart from the foot of a tree, until my mind is liberated from the cankers without clinging'—he rouses his mind and makes an effort. Such an undertaking of energy is also called an observance, not virtue. 'In this very morning period, I will bring forth, gather, attain, touch, and realize the Noble Dhamma'—he rouses his mind and makes an effort. Such an undertaking of energy is also called an observance, not virtue. 'In this very midday period, evening period, before the meal, after the meal, the first watch of the night, the middle watch of the night, the last watch of the night, during the dark fortnight, during the bright fortnight, during the rainy season, during the winter season, during the summer season, during the first stage of life, during the middle stage of life, during the final stage of life, I will bring forth, gather, attain, touch, and realize the Noble Dhamma'—he rouses his mind and makes an effort. Such an undertaking of energy is also called an observance, not virtue. 'Being' (jantu) means: a being, a person, a man, a human, an individual, a living being, a creature, a being, one of Indra's folk, one born of Manu—this is the 'being' in 'A being who has his own virtues and observances'.
Vị ấy nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh, không phải giới. (Nghĩ rằng:) “Ta sẽ không phá vỡ thế ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ,” rồi nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh, không phải giới. (Nghĩ rằng:) “Ta sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này, sẽ không đi xuống khỏi nơi kinh hành, sẽ không đi ra khỏi tịnh xá, sẽ không đi ra khỏi nhà một mái, sẽ không đi ra khỏi lầu đài, sẽ không đi ra khỏi lầu son, sẽ không đi ra khỏi hang động, sẽ không đi ra khỏi sơn động, sẽ không đi ra khỏi cốc, sẽ không đi ra khỏi nhà có nóc nhọn, sẽ không đi ra khỏi tháp canh, sẽ không đi ra khỏi nhà sàn, sẽ không đi ra khỏi nhà kho, sẽ không đi ra khỏi giảng đường, sẽ không đi ra khỏi nhà tròn, sẽ không đi ra khỏi gốc cây này cho đến khi tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ,” rồi nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh, không phải giới. (Nghĩ rằng:) “Ngay trong buổi sáng này, ta sẽ mang lại, sẽ thâu hoạch, sẽ chứng ngộ, sẽ xúc chạm, sẽ thực chứng Thánh pháp,” rồi nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh, không phải giới. (Nghĩ rằng:) “Ngay trong buổi trưa này, buổi chiều này, trước bữa ăn, sau bữa ăn, canh đầu, canh giữa, canh cuối, trong hắc nguyệt, trong bạch nguyệt, trong mùa mưa, trong mùa đông, trong mùa hạ, trong giai đoạn đầu của tuổi tác, trong giai đoạn giữa của tuổi tác, trong giai đoạn cuối của tuổi tác, ta sẽ mang lại, sẽ thâu hoạch, sẽ chứng ngộ, sẽ xúc chạm, sẽ thực chứng Thánh pháp,” rồi nâng đỡ tâm, nỗ lực. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh, không phải giới. Về từ chúng sanh: là hữu tình, người, thanh niên, nhân, cá nhân, sinh mạng, sinh vật, chúng sanh, con của Indra, người. Như thế là chúng sanh nào (tuyên bố) về giới và hạnh của mình.
Anānupuṭṭhova paresa pāvāti. Paresanti paresaṃ khattiyānaṃ brāhmaṇānaṃ vessānaṃ suddānaṃ gahaṭṭhānaṃ pabbajitānaṃ devānaṃ manussānaṃ. Anānupuṭṭhoti apuṭṭho apucchito ayācito anajjhesito apasādito. Pāvāti attano sīlaṃ vā vataṃ vā sīlabbataṃ vā pāvadati. Ahamasmi sīlasampannoti vā, vatasampannoti vā, sīlabbatasampannoti vā jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena † vā sutena vā paṭibhānena † vā aññataraññatarena vā vatthunā, uccā kulā pabbajitoti vā, mahākulā pabbajitoti vā, mahābhogakulā pabbajitoti vā, uḷārabhogakulā pabbajitoti vā, ñāto yasassī sagahaṭṭhapabbajitānanti vā, lābhimhi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārāna’’nti vā, suttantikoti vā, vinayadharoti vā, dhammakathikoti vā, āraññikoti vā, piṇḍapātikoti vā, paṃsukūlikoti vā, tecīvarikoti vā, sapadānacārikoti vā, khalupacchābhattikoti vā, nesajjikoti vā, yathāsanthatikoti vā, paṭhamassa jhānassa lābhīti vā, dutiyassa jhānassa lābhīti vā, tatiyassa jhānassa lābhīti vā, catutthassa jhānassa lābhīti vā, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā pāvadati katheti bhaṇati dīpayati voharatīti – anānupuṭṭhova paresaṃ pāva.
Regarding the phrase 'Without being asked, he proclaims to others.' 'To others' (paresaṃ) refers to other khattiyas, brahmins, vessas, suddas, householders, renunciants, devas, and humans. 'Without being asked' (anānupuṭṭho) means not being asked, not being questioned, not being requested, not being entreated, not being solicited. 'Proclaims' (pāvati) means declaring one's own virtue, observance, or virtuous conduct. He declares, 'I am endowed with virtue,' or 'I am endowed with observance,' or 'I am endowed with virtuous conduct,' or by birth, clan, being of good family, beauty of complexion, wealth, study, field of action, craft, field of knowledge, erudition, ready wit, or any other thing, 'I have gone forth from a high family,' or 'from a great family,' or 'from a prosperous family,' or 'from an affluent family,' or 'I am well-known and famous among householders and renunciants,' or 'I am one who obtains robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick,' or 'I am a Suttantika,' or 'I am a Vinayadhara,' or 'I am a preacher of the Dhamma,' or 'I am a forest-dweller,' or 'I am an alms-goer,' or 'I am a rag-robe wearer,' or 'I am a triple-robe wearer,' or 'I am one who walks for alms without skipping houses,' or 'I am one who refuses later food,' or 'I am a sitter,' or 'I am one who is content with whatever lodging is offered,' or 'I have attained the first jhāna,' or 'the second jhāna,' or 'the third jhāna,' or 'the fourth jhāna,' or 'I have attained the base of infinite space,' or 'the base of infinite consciousness,' or 'the base of nothingness,' or 'the base of neither perception nor non-perception'—he proclaims, speaks, declares, explains, or utters. This is 'proclaiming to others without being asked.'
Không được hỏi mà lại nói cho người khác nghe có nghĩa là: Người khác ở đây là những người khác gồm Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và nhân loại. Không được hỏi có nghĩa là không được hỏi, không được chất vấn, không được yêu cầu, không được thỉnh mời, không được khuyến khích. Nói cho nghe có nghĩa là nói về giới hạnh của mình, hoặc hạnh tu của mình, hoặc giới và hạnh tu của mình. Hoặc nói rằng: ‘Tôi là người có đầy đủ giới hạnh,’ hoặc ‘là người có đầy đủ hạnh tu,’ hoặc ‘là người có đầy đủ giới và hạnh tu,’ hoặc về dòng dõi, hoặc về thị tộc, hoặc về gia thế, hoặc về dung sắc, hoặc về tài sản, hoặc về học vấn, hoặc về nghề nghiệp, hoặc về kỹ năng, hoặc về kiến thức, hoặc về sự nghe nhiều, hoặc về tài biện luận, hoặc về một sự việc nào đó khác; hoặc nói rằng: ‘Tôi đã xuất gia từ dòng dõi cao quý,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi lớn,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi có nhiều của cải,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi có của cải dồi dào,’ hoặc ‘là người nổi tiếng, có danh vọng đối với cả tại gia và xuất gia,’ hoặc ‘là người được nhận y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh,’ hoặc ‘là người thông thuộc Kinh Tạng,’ hoặc ‘là người thông thuộc Luật Tạng,’ hoặc ‘là người thuyết pháp,’ hoặc ‘là người sống ở rừng,’ hoặc ‘là người đi khất thực,’ hoặc ‘là người mặc y phấn tảo,’ hoặc ‘là người chỉ dùng ba y,’ hoặc ‘là người đi khất thực từng nhà,’ hoặc ‘là người không ăn thêm sau khi đã từ chối,’ hoặc ‘là người thực hành hạnh không nằm,’ hoặc ‘là người ở bất cứ chỗ nào được sắp đặt,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ nhất,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ hai,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ ba,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ tư,’ hoặc ‘là người đắc Không Vô Biên Xứ,’ hoặc ‘là người đắc Thức Vô Biên Xứ,’ hoặc ‘là người đắc Vô Sở Hữu Xứ,’ hoặc ‘là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ,’ người ấy nói, kể, phát biểu, trình bày, diễn đạt. Như vậy là không được hỏi mà lại nói cho người khác nghe.
Anariyadhammaṃ kusalā tamāhūti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā, te kusalā evamāhaṃsu – ‘‘anariyānaṃ eso dhammo, neso dhammo ariyānaṃ; bālānaṃ eso dhammo, neso dhammo paṇḍitānaṃ; asappurisānaṃ eso dhammo, neso dhammo sappurisāna’’nti. Evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – anariyadhammaṃ kusalā tamāhu.
The wise call that an ignoble practice. 'The wise' are those skilled in the aggregates, elements, sense bases, dependent origination, foundations of mindfulness, right efforts, bases of psychic power, faculties, powers, factors of enlightenment, the path, the fruits, and Nibbāna. Those wise ones speak thus: 'This is a practice of the ignoble, not of the noble; this is a practice of fools, not of the wise; this is a practice of inferior persons, not of superior persons.' Thus they speak, thus they relate, thus they state, thus they explain, thus they express—thus, 'the wise call that an ignoble practice'.
Các bậc thiện xảo gọi đó là pháp không phải của bậc Thánh có nghĩa là: Các bậc thiện xảo là những vị thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về niệm xứ, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về thần túc, thiện xảo về quyền, thiện xảo về lực, thiện xảo về giác chi, thiện xảo về đạo, thiện xảo về quả, thiện xảo về Niết-bàn. Các bậc thiện xảo ấy đã nói như sau: ‘Đó là pháp của những người không phải bậc Thánh, đó không phải là pháp của các bậc Thánh; đó là pháp của kẻ ngu, đó không phải là pháp của bậc trí; đó là pháp của người không chân chánh, đó không phải là pháp của người chân chánh.’ Họ đã nói như vậy, kể như vậy, phát biểu như vậy, trình bày như vậy, diễn đạt như vậy. Như vậy là các bậc thiện xảo gọi đó là pháp không phải của bậc Thánh.
Yo ātumānaṃ sayameva pāvāti. Ātumā vuccati attā. Sayameva pāvāti sayameva attānaṃ pāvadati – ‘‘ahamasmi sīlasampannoti vā, vatasampannoti vā, sīlabbatasampannoti vā, jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā, uccā kulā pabbajitoti vā, mahākulā pabbajitoti vā, mahābhogakulā pabbajitoti vā, uḷārabhogakulā pabbajitoti vā, ñāto yasassī sagahaṭṭhapabbajitānanti vā, lābhimhi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti vā, suttantikoti vā, vinayadharoti vā, dhammakathikoti vā, āraññikoti vā, piṇḍapātikoti vā, paṃsukūlikoti vā, tecīvarikoti vā, sapadānacārikoti vā, khalupacchābhattikoti vā, nesajjikoti vā, yathāsanthatikoti vā, paṭhamassa jhānassa lābhīti vā, dutiyassa jhānassa lābhīti vā, tatiyassa jhānassa lābhīti vā, catutthassa jhānassa lābhīti vā, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā lābhīti vā,
Regarding the phrase 'He who proclaims himself by himself.' Ātumā is said to be the self. 'He proclaims himself by himself' means he proclaims his own self—'I am endowed with virtue,' or 'I am endowed with observance,' or 'I am endowed with virtue and observance'; or by birth, or by clan, or by being of good family, or by beauty of complexion, or by wealth, or by study, or by field of action, or by craft, or by field of knowledge, or by erudition, or by ready wit, or by any other thing; or 'I have gone forth from a high family,' or 'from a great family,' or 'from a family of great wealth,' or 'from a family of abundant wealth'; or 'I am well-known and famous among householders and renunciants'; or 'I am one who obtains robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick'; or 'I am a Suttantika,' or 'I am a Vinayadhara,' or 'I am a preacher of the Dhamma'; or 'I am a forest-dweller,' or 'I am an alms-goer,' or 'I am a rag-robe wearer,' or 'I am a triple-robe wearer,' or 'I am one who walks for alms without skipping houses,' or 'I am one who refuses food offered later,' or 'I am a sitter,' or 'I am one who is content with whatever lodging is offered'; or 'I have attained the first jhāna,' or 'I have attained the second jhāna,' or 'I have attained the third jhāna,' or 'I have attained the fourth jhāna'; or 'I have attained the base of infinite space,' or 'I have attained the base of infinite consciousness,'
Người nào tự mình nói về bản thân có nghĩa là: Bản thân được gọi là tự ngã. Tự mình nói có nghĩa là tự mình nói về bản thân rằng: ‘Tôi là người có đầy đủ giới hạnh,’ hoặc ‘là người có đầy đủ hạnh tu,’ hoặc ‘là người có đầy đủ giới và hạnh tu,’ hoặc về dòng dõi, hoặc về thị tộc, hoặc về gia thế, hoặc về dung sắc, hoặc về tài sản, hoặc về học vấn, hoặc về nghề nghiệp, hoặc về kỹ năng, hoặc về kiến thức, hoặc về sự nghe nhiều, hoặc về tài biện luận, hoặc về một sự việc nào đó khác; hoặc nói rằng: ‘Tôi đã xuất gia từ dòng dõi cao quý,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi lớn,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi có nhiều của cải,’ hoặc ‘đã xuất gia từ dòng dõi có của cải dồi dào,’ hoặc ‘là người nổi tiếng, có danh vọng đối với cả tại gia và xuất gia,’ hoặc ‘là người được nhận y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh,’ hoặc ‘là người thông thuộc Kinh Tạng,’ hoặc ‘là người thông thuộc Luật Tạng,’ hoặc ‘là người thuyết pháp,’ hoặc ‘là người sống ở rừng,’ hoặc ‘là người đi khất thực,’ hoặc ‘là người mặc y phấn tảo,’ hoặc ‘là người chỉ dùng ba y,’ hoặc ‘là người đi khất thực từng nhà,’ hoặc ‘là người không ăn thêm sau khi đã từ chối,’ hoặc ‘là người thực hành hạnh không nằm,’ hoặc ‘là người ở bất cứ chỗ nào được sắp đặt,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ nhất,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ hai,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ ba,’ hoặc ‘là người đắc thiền thứ tư,’ hoặc ‘là người đắc Không Vô Biên Xứ,’ hoặc ‘là người đắc Thức Vô Biên Xứ,’
Vibhavañca bhavañca vippahāya, vusitavā khīṇapunabbhavo sa bhikkhū’’ti.
Having abandoned both non-becoming and becoming, that monk has lived the holy life, with rebirth destroyed.
Vị ấy đã từ bỏ cả phi hữu và sự hiện hữu, đã sống đời phạm hạnh, đã đoạn tận sự tái sanh, vị ấy là tỳ khưu.’
Ākiñcaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā’’ pāvadati katheti bhaṇati dīpayati voharatīti – yo ātumānaṃ sayameva pāvāti.
or 'I have attained the base of nothingness,' or 'I have attained the base of neither-perception-nor-non-perception'—he proclaims, speaks, declares, explains, and utters. This is 'he who proclaims himself by himself.'
hoặc ‘là người đắc Vô Sở Hữu Xứ,’ hoặc ‘là người đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ,’ người ấy nói, kể, phát biểu, trình bày, diễn đạt. Như vậy là người nào tự mình nói về bản thân.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Yo attano sīlavatāni jantu, anānupuṭṭhova paresa pāva;
Anariyadhammaṃ kusalā tamāhu, yo ātumānaṃ sayameva pāvā’’ti.
“That being who, though unasked, proclaims his own virtues and observances to others—the wise call that an ignoble practice, this proclaiming of oneself by oneself.”
‘Chúng sanh nào, không được hỏi mà lại, nói cho người khác nghe về giới và hạnh của mình; Các bậc thiện xảo gọi đó là pháp không phải của bậc Thánh, người nào tự mình nói về bản thân.’
18.
18.
18.
Santo ca bhikkhu abhinibbutatto, itihanti sīlesu akatthamāno;
Tamariyadhammaṃ kusalā vadanti, yassussadā natthi kuhiñci loke.
But the monk who is peaceful, with self utterly cooled, not boasting about his virtues, saying, 'Thus I am'—this the wise call a noble practice; for him there are no upsurges anywhere in the world.
Vị tỳ khưu an tịnh, có tự thân đã được dập tắt, không khoe khoang về các giới hạnh rằng: ‘Như thế này;’ Các bậc thiện xảo nói rằng đó là pháp của bậc Thánh, người không có sự kiêu mạn ở bất cứ nơi đâu trong thế gian.
Santo ca bhikkhu abhinibbutattoti. Santoti rāgassa samitattā santo, dosassa samitattā santo, mohassa samitattā santo, kodhassa…pe… upanāhassa… makkhassa… paḷāsassa † … issāya… macchariyassa… māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ… sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti – santo. Bhikkhūti sattannaṃ dhammānaṃ bhinnattā bhikkhu – sakkāyadiṭṭhi bhinnā hoti, vicikicchā bhinnā hoti, sīlabbataparāmāso bhinno hoti, rāgo bhinno hoti, doso bhinno hoti, moho bhinno hoti, māno bhinno hoti. Bhinnāssa honti pāpakā akusalā dhammā saṃkilesikā ponobhavikā † sadarā dukkhavipākā āyatiṃ jātijarāmaraṇiyā.
And a monk is peaceful, with his being utterly cooled. Peaceful: because of the stilling of lust, he is peaceful; because of the stilling of hatred, he is peaceful; because of the stilling of delusion, he is peaceful; because of the stilling of anger… resentment… contempt… insolence… envy… stinginess… deceit… fraud… obstinacy… rivalry… conceit… arrogance… intoxication… heedlessness… all defilements… all misconduct… all distress… all fevers… all torments… all unwholesome volitional formations—because they have been stilled, calmed, tranquilized, extinguished, cooled, departed, and pacified—he is peaceful, calmed, tranquilized, cooled, and pacified. Thus, he is peaceful. Monk: because of the breaking of seven things, he is a monk—identity view is broken, doubt is broken, adherence to rites and rituals is broken, lust is broken, hatred is broken, delusion is broken, and conceit is broken. His evil, unwholesome qualities—which are defiling, lead to renewed existence, are accompanied by distress, result in suffering, and lead to future birth, aging, and death—have been broken.
Vị tỳ khưu được an tịnh và có tự thân tịch tịnh. An tịnh là do tham được lắng dịu nên an tịnh, do sân được lắng dịu nên an tịnh, do si được lắng dịu nên an tịnh, do phẫn nộ... cho đến... do hiềm hận... do gièm pha... do cạnh tranh... do tật đố... do bỏn xẻn... do xảo trá... do gian manh... do ngoan cố... do hung hăng... do mạn... do quá mạn... do say đắm... do phóng dật... do tất cả các phiền não... do tất cả các hành vi xấu ác... do tất cả các sự nóng nảy... do tất cả các sự thiêu đốt... do tất cả các sự nhiệt não... do tất cả các hành động bất thiện được an tịnh, được lắng dịu, được dập tắt, được làm cho nguội lạnh, được tịch tịnh, được lìa khỏi, được làm cho lắng xuống nên là an tịnh, được lắng dịu, được dập tắt, được tịch tịnh, được làm cho lắng xuống. Tỳ khưu là do đã phá vỡ bảy pháp nên là tỳ khưu: thân kiến đã được phá vỡ, hoài nghi đã được phá vỡ, giới cấm thủ đã được phá vỡ, tham đã được phá vỡ, sân đã được phá vỡ, si đã được phá vỡ, mạn đã được phá vỡ. Các pháp ác, bất thiện, gây ô nhiễm, dẫn đến tái sanh, gây phiền não, có quả khổ, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai của vị ấy đã được phá vỡ.
‘‘Pajjena katena attanā, [sabhiyāti bhagavā]
Parinibbānagato vitiṇṇakaṅkho;
Vibhavañca † bhavañca vippahāya,
Vusitavā khīṇapunabbhavo sa bhikkhū’’ti.
By the path he himself has made, [said the Blessed One to Sabhiya,] gone to final Nibbāna, having crossed beyond doubt; having abandoned both non-becoming and becoming, he has lived the holy life, with renewed existence exhausted—such is the monk.
(Thế Tôn nói với Sabhiya): “Bằng con đường do tự mình tạo ra, vị ấy đã đạt đến sự tịch tịnh hoàn toàn, đã vượt qua hoài nghi; đã từ bỏ cả phi hữu và hiện hữu, đã sống đời phạm hạnh, đã đoạn tận sự tái sanh, vị ấy chính là tỳ khưu.”
Santo ca bhikkhu abhinibbutattoti rāgassa nibbāpitattā abhinibbutatto, dosassa nibbāpitattā abhinibbutatto, mohassa nibbāpitattā abhinibbutatto, kodhassa…pe… upanāhassa… makkhassa… paḷāsassa… issāya… macchariyassa… māyāya… sāṭheyyassa… thambhassa… sārambhassa… mānassa… atimānassa… madassa… pamādassa… sabbakilesānaṃ… sabbaduccaritānaṃ… sabbadarathānaṃ… sabbapariḷāhānaṃ… sabbasantāpānaṃ… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ nibbāpitattā abhinibbutattoti – santo ca bhikkhu abhinibbutatto.
And a monk is peaceful, with his being utterly cooled: he is one whose being is utterly cooled because of the extinguishing of lust, he is one whose being is utterly cooled because of the extinguishing of hatred, he is one whose being is utterly cooled because of the extinguishing of delusion, he is one whose being is utterly cooled because of the extinguishing of anger… resentment… contempt… insolence… envy… stinginess… deceit… fraud… obstinacy… rivalry… conceit… arrogance… intoxication… heedlessness… all defilements… all misconduct… all distress… all fevers… all torments… all unwholesome volitional formations. Thus, a monk is peaceful, with his being utterly cooled.
Vị tỳ khưu được an tịnh và có tự thân tịch tịnh là do tham đã được dập tắt nên có tự thân tịch tịnh, do sân đã được dập tắt nên có tự thân tịch tịnh, do si đã được dập tắt nên có tự thân tịch tịnh, do phẫn nộ... cho đến... do hiềm hận... do gièm pha... do cạnh tranh... do tật đố... do bỏn xẻn... do xảo trá... do gian manh... do ngoan cố... do hung hăng... do mạn... do quá mạn... do say đắm... do phóng dật... do tất cả các phiền não... do tất cả các hành vi xấu ác... do tất cả các sự nóng nảy... do tất cả các sự thiêu đốt... do tất cả các sự nhiệt não... do tất cả các hành động bất thiện đã được dập tắt nên có tự thân tịch tịnh. Như vậy là vị tỳ khưu được an tịnh và có tự thân tịch tịnh.
Itihanti sīlesu akatthamānoti. Itihanti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ † – itihanti. Sīlesu akatthamānoti. Idhekacco katthī hoti vikatthī. So katthati vikatthati. Ahamasmi sīlasampannoti vā, vatasampannoti vā, sīlabbatasampannoti vā, jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā lābhīti vā katthati vikatthati. Evaṃ na katthati na vikatthati. Katthanā ārato virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – itihanti sīlesu akatthamāno.
Not boasting 'Thus I am' in regard to virtues. Itihanti: this is the joining of words, the connection of terms, the completion of phrases, the harmony of syllables, the smoothness of consonants, the sequence of words—this is itihanti. Not boasting about virtues: Here, some individual is a boaster, a braggart. He boasts and brags: 'I am accomplished in virtue,' or 'I am accomplished in observance,' or 'I am accomplished in virtue and observance,' or about birth, lineage, family status, excellence of complexion... [and so on]... or 'I am an attainer of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception.' He does not boast or brag in this way. He abstains from boasting, refrains, desists, withdraws, departs, is released, detached, and dwells with a mind free from boundaries—this is 'not boasting "Thus I am" in regard to virtues'.
Và như thế, không khoe khoang về giới hạnh. ‘Và như thế’ là sự nối kết câu, sự liên kết câu, sự bổ sung cho câu, sự tập hợp các chữ cái, sự gắn kết các phụ âm, đây là sự tiếp nối của các câu – và như thế. Không khoe khoang về giới hạnh là ở đây, có người hay khoe khoang, hay tự tán dương. Người ấy khoe khoang, tự tán dương rằng: ‘Ta là người có đầy đủ giới hạnh,’ hoặc ‘có đầy đủ hạnh nguyện,’ hoặc ‘có đầy đủ giới và hạnh nguyện,’ hoặc về dòng dõi, về gia tộc, về gia thế, về dung sắc... cho đến... hoặc là người đã chứng đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Vị ấy không khoe khoang, không tự tán dương như vậy. Vị ấy đã xa lìa, đã từ bỏ, đã tránh xa, đã thoát ra, đã dứt bỏ, đã giải thoát, đã không còn ràng buộc, sống với tâm không còn giới hạn khỏi sự khoe khoang. Như vậy là và như thế, không khoe khoang về giới hạnh.
Tamariyadhammaṃ kusalā vadantīti. Kusalāti ye te khandhakusalā dhātukusalā āyatanakusalā paṭiccasamuppādakusalā satipaṭṭhānakusalā sammappadhānakusalā iddhipādakusalā indriyakusalā balakusalā bojjhaṅgakusalā maggakusalā phalakusalā nibbānakusalā, te kusalā evaṃ vadanti – ‘‘ariyānaṃ eso dhammo, neso dhammo anariyānaṃ; paṇḍitānaṃ eso dhammo, neso dhammo bālānaṃ; sappurisānaṃ eso dhammo, neso dhammo asappurisāna’’nti. Evaṃ vadanti, ariyānaṃ evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – tamariyadhammaṃ kusalā vadanti.
The skilled call this the Ariyan Dhamma. Skilled: those who are skilled in the aggregates, skilled in the elements, skilled in the sense bases, skilled in dependent origination, skilled in the foundations of mindfulness, skilled in the right exertions, skilled in the bases of spiritual power, skilled in the faculties, skilled in the powers, skilled in the factors of enlightenment, skilled in the path, skilled in the fruit, skilled in Nibbāna. These skilled ones speak thus: 'This is the Dhamma of the noble ones, not the Dhamma of the ignoble; this is the Dhamma of the wise, not the Dhamma of the fools; this is the Dhamma of true persons, not the Dhamma of untrue persons.' Thus they speak, thus they declare, thus they expound, thus they illuminate, thus they express it—the skilled call this the Ariyan Dhamma.
Các bậc thiện xảo gọi đó là pháp của bậc Thánh. Thiện xảo là những vị thiện xảo về uẩn, thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi, thiện xảo về niệm xứ, thiện xảo về chánh cần, thiện xảo về thần túc, thiện xảo về căn, thiện xảo về lực, thiện xảo về giác chi, thiện xảo về đạo, thiện xảo về quả, thiện xảo về Niết-bàn. Các bậc thiện xảo ấy nói như vầy: “Đây là pháp của các bậc Thánh, không phải là pháp của những kẻ không phải bậc Thánh; đây là pháp của các bậc hiền trí, không phải là pháp của những kẻ ngu si; đây là pháp của các bậc chân nhân, không phải là pháp của những kẻ không phải chân nhân.” Họ nói như vậy, họ kể như vậy, họ tuyên bố như vậy, họ trình bày như vậy, họ diễn đạt như vậy. Như vậy là các bậc thiện xảo gọi đó là pháp của bậc Thánh.
Yassussadā natthi kuhiñci loketi. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Ussadāti sattussadā – rāgussado, dosussado, mohussado, mānussado, diṭṭhussado, kilesussado, kammussado. Yassime † ussadā natthi na santi na vijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vā. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloketi – yassussadā natthi kuhiñci loke.
For whom there are no upsurges anywhere in the world. For whom: for the Arahant, the one whose taints are destroyed. Upsurges: the seven upsurges—the upsurge of lust, the upsurge of hatred, the upsurge of delusion, the upsurge of conceit, the upsurge of views, the upsurge of defilements, and the upsurge of kamma. For whom these upsurges do not exist, are not present, are not found, are not perceived; they have been abandoned, cut off, stilled, allayed, are incapable of future arising, and have been burned by the fire of knowledge. Anywhere: in any place, in any thing, in any respect—internally, externally, or both internally and externally. In the world: in the world of woe, the human world, the divine world, the world of aggregates, the world of elements, or the world of sense bases—for whom there are no upsurges anywhere in the world.
Vị nào không có các sự trồi lên ở bất cứ nơi đâu trong thế gian. ‘Vị nào’ là vị A-la-hán, bậc đã đoạn tận các lậu hoặc. ‘Sự trồi lên’ là bảy sự trồi lên: sự trồi lên của tham, sự trồi lên của sân, sự trồi lên của si, sự trồi lên của mạn, sự trồi lên của tà kiến, sự trồi lên của phiền não, sự trồi lên của nghiệp. Vị nào không có, không hiện hữu, không tìm thấy, không có được những sự trồi lên này; chúng đã được từ bỏ, đã được cắt đứt, đã được lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. ‘Ở bất cứ nơi đâu’ là ở bất cứ đâu, trong bất cứ cái gì, tại bất cứ nơi nào, ở bên trong, hoặc ở bên ngoài, hoặc cả bên trong và bên ngoài. ‘Trong thế gian’ là trong thế gian khổ cảnh, trong thế gian loài người, trong thế gian chư thiên, trong thế gian của các uẩn, trong thế gian của các giới, trong thế gian của các xứ. Như vậy là vị nào không có các sự trồi lên ở bất cứ nơi đâu trong thế gian.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, Thế Tôn đã nói:
‘‘Santo ca bhikkhu abhinibbutatto, itihanti sīlesu akatthamāno;
Tamariyadhammaṃ kusalā vadanti, yassussadā natthi kuhiñci loke’’ti.
“The peaceful monk, with his being utterly cooled, not boasting ‘Thus I am’ in regard to virtues; the skilled call this the Ariyan Dhamma, for whom there are no upsurges anywhere in the world.”
“Vị tỳ khưu được an tịnh và có tự thân tịch tịnh, và như thế, không khoe khoang về giới hạnh; các bậc thiện xảo gọi đó là pháp của bậc Thánh, vị nào không có các sự trồi lên ở bất cứ nơi đâu trong thế gian.”
19.
19.
19.
Pakappitā saṅkhatā yassa dhammā, purakkhatā † santi avīvadātā;
Yadattani passati ānisaṃsaṃ, taṃ nissito kuppapaṭiccasantiṃ.
For one whose doctrines are fabricated and conditioned, held foremost and unpurified; seeing an advantage in what pertains to self, he relies on a peace dependent on the unstable.
Vị nào có các pháp được tưởng tượng, được tạo tác, được đặt ở phía trước, và không trong sạch; khi thấy lợi ích nào đó ở nơi tự thân, vị ấy nương tựa vào đó, vào sự an tịnh phụ thuộc vào điều kiện bất ổn.
Pakappitā saṅkhatā yassa dhammāti. Pakappanāti dve pakappanā – taṇhāpakappanā ca diṭṭhipakappanā ca…pe… ayaṃ taṇhāpakappanā…pe… ayaṃ diṭṭhipakappanā. Saṅkhatāti saṅkhatā abhisaṅkhatā saṇṭhapitātipi – saṅkhatā. Atha vā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammātipi – saṅkhatā. Yassāti diṭṭhigatikassa. Dhammā vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatānīti – pakappitā saṅkhatā yassa dhammā.
One whose doctrines are fabricated and conditioned. Fabricated: there are two kinds of fabrication—fabrication by craving and fabrication by views... This is fabrication by craving... This is fabrication by views. Conditioned: constructed, prepared, established—thus, conditioned. Alternatively, impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to decay, subject to fading away, subject to cessation—thus, conditioned. Of whom: of one who holds views. Doctrines: the sixty-two kinds of views—thus, one whose doctrines are fabricated and conditioned.
Vị nào có các pháp được tưởng tượng, được tạo tác. ‘Sự tưởng tượng’ là có hai sự tưởng tượng: sự tưởng tượng của ái và sự tưởng tượng của tà kiến... cho đến... đây là sự tưởng tượng của ái... cho đến... đây là sự tưởng tượng của tà kiến. ‘Được tạo tác’ là được tạo tác, được cố ý tạo tác, được thiết lập – cũng là được tạo tác. Hoặc là, vô thường, được tạo tác, do duyên sanh, có bản chất hủy diệt, có bản chất biến mất, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt – cũng là được tạo tác. ‘Vị nào’ là người có tà kiến. ‘Các pháp’ được nói là sáu mươi hai loại tà kiến. Như vậy là vị nào có các pháp được tưởng tượng, được tạo tác.
Purakkhatā santi avīvadātāti. Purakkhatāti dve purekkhārā – taṇhāpurekkhāro ca diṭṭhipurekkhāro ca…pe… ayaṃ taṇhāpurekkhāro…pe… ayaṃ diṭṭhipurekkhāro. Tassa taṇhāpurekkhāro appahīno, diṭṭhipurekkhāro appaṭinissaṭṭho. Tassa taṇhāpurekkhārassa appahīnattā, diṭṭhipurekkhārassa appaṭinissaṭṭhattā so taṇhaṃ vā diṭṭhiṃ vā purato katvā carati taṇhādhajo taṇhāketu taṇhādhipateyyo, diṭṭhidhajo diṭṭhiketu diṭṭhādhipateyyo, taṇhāya vā diṭṭhiyā vā parivārito caratīti – purakkhatā. Santīti santi saṃvijjanti atthi upalabbhanti. Avīvadātāti avevadātā avodātā aparisuddhā saṃkiliṭṭhā saṃkilesikāti – purakkhatā santi avīvadātā.
They are held foremost and are unpurified. 'Held foremost': there are two kinds of holding foremost—holding foremost of craving and holding foremost of views... This is holding foremost of craving... This is holding foremost of views. For him, holding foremost of craving is not abandoned, holding foremost of views is not relinquished. Because his holding foremost of craving is not abandoned and his holding foremost of views is not relinquished, he acts with craving or views placed foremost—a banner of craving, a standard of craving, under the sovereignty of craving; a banner of views, a standard of views, under the sovereignty of views; surrounded by craving or views—thus, 'held foremost'. 'They are': means they are, they exist, are present, are found. 'Unpurified': means not purified, not cleansed, impure, defiled, defiling—thus, they are held foremost and are unpurified.
Purakkhatā santi avīvadātāti (Những pháp được đặt ở phía trước, hiện hữu, không trong sạch). Về (những pháp) được đặt ở phía trước: Có hai sự đặt ở phía trước – sự đặt ái dục ở phía trước và sự đặt tà kiến ở phía trước… cho đến… đây là sự đặt ái dục ở phía trước… cho đến… đây là sự đặt tà kiến ở phía trước. Đối với người ấy, sự đặt ái dục ở phía trước là chưa được đoạn trừ, sự đặt tà kiến ở phía trước là chưa được từ bỏ. Do vì sự đặt ái dục ở phía trước chưa được đoạn trừ, do vì sự đặt tà kiến ở phía trước chưa được từ bỏ, người ấy đi lại với việc đã đặt ái dục hoặc tà kiến ở phía trước, có ái dục làm ngọn cờ, có ái dục làm biểu tượng, có ái dục làm chủ thể; có tà kiến làm ngọn cờ, có tà kiến làm biểu tượng, có tà kiến làm chủ thể; đi lại trong khi được bao quanh bởi ái dục hoặc bởi tà kiến – (như vậy là) được đặt ở phía trước. Về (chúng) hiện hữu: (Chúng) hiện hữu, (chúng) có mặt, (chúng) hiện có, (chúng) được tìm thấy. Về (chúng) không trong sạch: (Chúng) không trong sạch, không thanh tịnh, không thuần khiết, bị ô nhiễm, thuộc về phiền não – (như vậy là) được đặt ở phía trước, hiện hữu, không trong sạch.
Yadattani passati ānisaṃsanti. Yadattanīti yaṃ attani. Attā vuccati diṭṭhigataṃ. Attano diṭṭhiyā dve ānisaṃse passati – diṭṭhadhammikañca ānisaṃsaṃ, samparāyikañca ānisaṃsaṃ. Katamo diṭṭhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso? Yaṃdiṭṭhiko satthā hoti, taṃdiṭṭhikā sāvakā honti. Taṃdiṭṭhikaṃ satthāraṃ sāvakā sakkaronti garuṃ karonti † mānenti pūjenti apacitiṃ karonti. Labhati ca tatonidānaṃ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ – ayaṃ diṭṭhiyā diṭṭhadhammiko ānisaṃso. Katamo diṭṭhiyā samparāyiko ānisaṃso? Ayaṃ diṭṭhi alaṃ nāgattāya vā supaṇṇattāya vā yakkhattāya vā asurattāya vā gandhabbattāya vā mahārājattāya vā indattāya vā brahmattāya vā devattāya vā. Ayaṃ diṭṭhi suddhiyā visuddhiyā parisuddhiyā, muttiyā vimuttiyā parimuttiyā. Imāya diṭṭhiyā sujjhanti visujjhanti parisujjhanti muccanti vimuccanti parimuccanti. Imāya diṭṭhiyā sujjhissāmi visujjhissāmi parisujjhissāmi, muccissāmi vimuccissāmi parimuccissāmīti āyatiṃ phalapāṭikaṅkhī hoti – ayaṃ diṭṭhiyā samparāyiko ānisaṃso. Attano diṭṭhiyā ime dve ānisaṃse passati dakkhati oloketi nijjhāyati upaparikkhatīti – yadattani passati ānisaṃsaṃ.
Seeing an advantage in what pertains to self. 'What pertains to self': that which is in the self. 'Self' is said to be a view. He sees two advantages in his own view: an advantage in this present life and an advantage in the future life. What is the advantage of a view in this present life? A teacher holds such a view, and his disciples hold such a view. The disciples honor, respect, revere, venerate, and pay homage to the teacher who holds such a view. And because of that, he obtains robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick—this is the advantage of a view in this present life. What is the advantage of a view in the future life? This view is sufficient for becoming a nāga, a supaṇṇa, a yakkha, an asura, a gandhabba, a great king, an Indra, a Brahmā, or a deva. This view is for purity, for utter purity, for complete purity; for liberation, for deliverance, for final liberation. Through this view, beings are purified, utterly purified, completely purified; are liberated, delivered, finally liberated. He anticipates a future fruit, thinking, 'Through this view, I will be purified, utterly purified, completely purified; I will be liberated, delivered, finally liberated.'—this is the advantage of a view in the future life. He sees these two advantages in his own view, perceives, observes, examines, scrutinizes, and investigates—thus, seeing an advantage in what pertains to self.
Yadattani passati ānisaṃsanti (Thấy được lợi ích nào ở nơi tự thân). Về (câu) ‘nào ở nơi tự thân’: (Nghĩa là) cái nào ở nơi tự thân. Tự thân được gọi là sở kiến. (Người ấy) thấy được hai lợi ích ở nơi tà kiến của mình – lợi ích trong hiện tại và lợi ích trong tương lai. Lợi ích trong hiện tại của tà kiến là gì? Vị đạo sư có tà kiến nào thì các đệ tử có tà kiến ấy. Các đệ tử tôn trọng, kính nể, quý mến, cúng dường, sùng kính vị đạo sư có tà kiến ấy. Và do nhân duyên ấy, vị ấy nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng – đây là lợi ích trong hiện tại của tà kiến. Lợi ích trong tương lai của tà kiến là gì? (Nghĩ rằng:) ‘Tà kiến này là đủ để trở thành nāga (rồng), hoặc supaṇṇa (kim xí điểu), hoặc yakkha (dạ-xoa), hoặc asura (a-tu-la), hoặc gandhabba (càn-thát-bà), hoặc mahārāja (đại vương), hoặc Inda (Đế Thích), hoặc Brahmā (Phạm Thiên), hoặc deva (chư thiên). Tà kiến này là để cho sự trong sạch, sự thanh tịnh, sự hoàn toàn trong sạch; cho sự giải thoát, sự hoàn toàn giải thoát, sự triệt để giải thoát. Do tà kiến này, họ trở nên trong sạch, thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch; họ được giải thoát, hoàn toàn giải thoát, triệt để giải thoát. Do tà kiến này, ta sẽ trở nên trong sạch, thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch; ta sẽ được giải thoát, hoàn toàn giải thoát, triệt để giải thoát,’ người ấy trở thành người mong đợi kết quả trong tương lai – đây là lợi ích trong tương lai của tà kiến. (Người ấy) thấy, nhận thấy, quan sát, xem xét, thẩm xét hai lợi ích này ở nơi tà kiến của mình – (như vậy là) thấy được lợi ích nào ở nơi tự thân.
Taṃ nissito kuppapaṭiccasantinti. Tisso santiyo – accantasanti, tadaṅgasanti, sammutisanti. Katamā accantasanti? Accantasanti vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Ayaṃ accantasanti. Katamā tadaṅgasanti? Paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa nīvaraṇā santā honti; dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā santā honti; tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pīti santā hoti; catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sukhadukkhā santā honti; ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññā paṭighasaññā nānattasaññā santā hoti; viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā santā hoti; ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā santā hoti; nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā santā hoti. Ayaṃ tadaṅgasanti. Katamā sammutisanti? Sammutisantiyo vuccanti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni diṭṭhisantiyo. Api ca sammutisanti imasmiṃ atthe adhippetā santīti. Taṃ nissito kuppapaṭiccasantinti. Kuppasantiṃ pakuppasantiṃ eritasantiṃ sameritasantiṃ calitasantiṃ ghaṭṭitasantiṃ kappitasantiṃ pakappitasantiṃ aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammaṃ, santiṃ nissito asito allīno upagato ajjhosito adhimuttoti – taṃ nissito kuppapaṭiccasantiṃ.
He is dependent on an unstable, conditioned peace. There are three kinds of peace: ultimate peace, temporary peace, and conventional peace. What is ultimate peace? Ultimate peace is called the Deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. This is ultimate peace. What is temporary peace? For one who has attained the first jhāna, the hindrances are at peace; for one who has attained the second jhāna, initial and sustained thought are at peace; for one who has attained the third jhāna, rapture is at peace; for one who has attained the fourth jhāna, pleasure and pain are at peace; for one who has attained the base of infinite space, the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity are at peace; for one who has attained the base of infinite consciousness, the perception of the base of infinite space is at peace; for one who has attained the base of nothingness, the perception of the base of infinite consciousness is at peace; for one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, the perception of the base of nothingness is at peace. This is temporary peace. What is conventional peace? The sixty-two speculative views are called conventional peace, the peace of views. However, in this context, 'peace' is intended as conventional peace. 'Dependent on an unstable, conditioned peace': A peace that is unstable, very unstable, agitated, thoroughly agitated, wavering, disturbed, contrived, and thoroughly contrived—a peace that is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, subject to cessation—one who depends on, relies on, clings to, resorts to, is attached to, and is resolved upon such peace—thus, 'he is dependent on an unstable, conditioned peace'.
Taṃ nissito kuppapaṭiccasantinti (Nương tựa vào đó, đạt được sự an tịnh duyên sinh và có thể bị rúng động). Có ba sự an tịnh – sự an tịnh tuyệt đối, sự an tịnh nhất thời, sự an tịnh quy ước. Sự an tịnh tuyệt đối là gì? Sự an tịnh tuyệt đối được gọi là trạng thái bất tử, là Nibbāna. Đó là sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các cơ sở của sự tái sanh, sự đoạn tận của ái dục, sự ly tham, sự chấm dứt, là Nibbāna. Đây là sự an tịnh tuyệt đối. Sự an tịnh nhất thời là gì? Đối với người đã nhập Sơ thiền, các triền cái được an tịnh; đối với người đã nhập Nhị thiền, tầm và tứ được an tịnh; đối với người đã nhập Tam thiền, hỷ được an tịnh; đối với người đã nhập Tứ thiền, lạc và khổ được an tịnh; đối với người đã nhập Không Vô Biên Xứ, sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng đa dạng được an tịnh; đối với người đã nhập Thức Vô Biên Xứ, tưởng về Không Vô Biên Xứ được an tịnh; đối với người đã nhập Vô Sở Hữu Xứ, tưởng về Thức Vô Biên Xứ được an tịnh; đối với người đã nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được an tịnh. Đây là sự an tịnh nhất thời. Sự an tịnh quy ước là gì? Sáu mươi hai tà kiến được gọi là những sự an tịnh quy ước, những sự an tịnh của tà kiến. Hơn nữa, sự an tịnh quy ước là sự an tịnh được ngụ ý trong ý nghĩa này. Về (câu) ‘Nương tựa vào đó, (đạt được) sự an tịnh duyên sinh và có thể bị rúng động’: (Người ấy) nương tựa, bám víu, dính mắc, đi đến, quyến luyến, quyết tâm vào sự an tịnh có thể bị rúng động, rất dễ bị rúng động, bị khuấy động, rất dễ bị khuấy động, bị dao động, bị va chạm, được tạo tác, được cấu thành, là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp duyên sinh, có bản chất bị hủy diệt, có bản chất tan biến, có bản chất phai nhạt, có bản chất chấm dứt – (như vậy là) nương tựa vào đó, (đạt được) sự an tịnh duyên sinh và có thể bị rúng động.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Pakappitā saṅkhatā yassa dhammā, purakkhatā santi avīvadātā;
Yadattani passati ānisaṃsaṃ, taṃ nissito kuppapaṭiccasanti’’nti.
“For whom doctrines are contrived and conditioned, held foremost and unpurified; seeing an advantage for himself in that, he relies on an unstable, conditioned peace.”
‘Các pháp của người nào được tạo tác, được cấu thành, được đặt ở phía trước, hiện hữu, không trong sạch; người ấy thấy được lợi ích nào ở nơi tự thân (trong tà kiến ấy), nương tựa vào đó, (đạt được) sự an tịnh duyên sinh và có thể bị rúng động.’
20.
20.
20.
Diṭṭhīnivesā na hi svātivattā, dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Tasmā naro tesu nivesanesu, nirassatī ādiyatī ca dhammaṃ.
Adherences to views are indeed not easily transcended, being that which is decisively determined and firmly grasped among doctrines; therefore, a person, in those adherences, both discards and adopts a doctrine.
Sự cố chấp vào các tà kiến quả thật không dễ gì vượt qua, (sau khi) đã quyết đoán và nắm giữ (một học thuyết) giữa các pháp; do đó, con người ở trong những sự cố chấp ấy, vừa loại bỏ lại vừa chấp nhận một giáo pháp.
Diṭṭhīnivesā na hi svātivattāti. Diṭṭhīnivesāti ‘‘sassato loko, idameva saccaṃ moghamañña’’nti abhinivesaparāmāso diṭṭhinivesanaṃ. ‘‘Asassato loko…pe… antavā loko… anantavā loko … taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ… aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ… hoti tathāgato paraṃ maraṇā… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā… hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā… neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ moghamañña’’nti abhinivesaparāmāso diṭṭhinivesananti. Diṭṭhīnivesā na hi svātivattāti diṭṭhinivesā na hi svātivattā durativattā duttarā duppatarā dussamatikkamā dubbinivattāti – † diṭṭhīnivesā na hi svātivattā.
Adherences to views are indeed not easily transcended. 'Adherence to views': the mental application and grasping of such views as: 'The world is eternal; this alone is true, all else is false'; 'The world is not eternal'... and so on... 'the Tathāgata neither exists nor does not exist after death; this alone is true, all else is false.' This mental application and grasping is called adherence to views. 'Adherences to views are indeed not easily transcended' means that adherences to views are not easily transcended; they are difficult to transcend, difficult to cross over, very difficult to cross over, difficult to overcome, and difficult to turn away from. Thus, 'Adherences to views are indeed not easily transcended'.
Diṭṭhīnivesā na hi svātivattāti (Sự cố chấp vào các tà kiến quả thật không dễ gì vượt qua). Về sự cố chấp vào các tà kiến: Sự bám víu và chấp thủ rằng: ‘Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ đó là sự cố chấp vào tà kiến. (Hoặc) sự bám víu và chấp thủ rằng: ‘Thế giới là không thường hằng… cho đến… thế giới là hữu biên… thế giới là vô biên … sinh mạng ấy chính là thân thể ấy… sinh mạng là khác, thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết… Như Lai vừa không tồn tại cũng không phải là không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là chân lý, điều khác là sai lầm,’ đó là sự cố chấp vào tà kiến. Về (câu) ‘Sự cố chấp vào các tà kiến quả thật không dễ gì vượt qua’: Sự cố chấp vào các tà kiến quả thật không dễ gì vượt qua, khó vượt qua, khó vượt qua, rất khó vượt qua, khó siêu việt, khó từ bỏ – (như vậy là) sự cố chấp vào các tà kiến quả thật không dễ gì vượt qua.
Dhammesu niccheyya samuggahītanti. Dhammesūti dvāsaṭṭhi diṭṭhigatesu. Niccheyyāti nicchinitvā vinicchinitvā vicinitvā pavicinitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Samuggahītanti nivesanesu odhiggāho bilaggāho varaggāho koṭṭhāsaggāho uccayaggāho samuccayaggāho. Idaṃ saccaṃ tacchaṃ tathaṃ bhūtaṃ yāthāvaṃ aviparītaṃ gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttanti – dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
What is meant by 'having decisively determined and firmly grasped among doctrines'? 'Among doctrines' refers to the sixty-two views. 'Having decisively determined' means having ascertained, scrutinized, thoroughly examined, investigated, weighed, judged, analyzed, and made distinct. 'Firmly grasped' refers to adherences such as limited grasping, grasping in bulk, grasping the choice part, grasping by division, grasping by accumulation, and complete grasping. 'This is true, real, so, actual, as it is, not distorted—it is grasped, held to, adhered to, clung to, and resolved upon'—this is 'having decisively determined and firmly grasped among doctrines'.
Dhammesu niccheyya samuggahītanti. Dhammesūti có nghĩa là trong sáu mươi hai loại tà kiến. Niccheyyāti có nghĩa là sau khi đã quyết định, sau khi đã phán quyết, sau khi đã tìm cầu, sau khi đã tìm cầu kỹ lưỡng, sau khi đã cân nhắc, sau khi đã thẩm xét, sau khi đã làm cho sáng tỏ, sau khi đã làm cho hiển lộ. Samuggahītanti có nghĩa là trong các sự an trú, sự nắm giữ có giới hạn, sự nắm giữ toàn bộ, sự nắm giữ điều cao quý, sự nắm giữ từng phần, sự nắm giữ theo cách tích tập, sự nắm giữ theo cách thu gom. (Nghĩ rằng:) ‘Điều này là chân thật, là xác thực, là như thế, là sự thật, là đúng như thực, là không sai khác,’ (đây là) sự nắm giữ, sự chấp thủ, sự kiên trì, sự bám víu, sự quyết tâm – (đây là ý nghĩa của) dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.
Tasmā naro tesu nivesanesūti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānaṃ. Naroti satto naro mānavo poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujo. Tesu nivesanesūti tesu diṭṭhinivesanesūti – tasmā naro tesu nivesanesu.
What is meant by 'therefore, a person in those adherences'? 'Therefore' means for that reason, because of that cause, dependent on that condition, rooted in that origin. 'A person' means a being, a human, a man, an individual, a living being, a life-goer, a creature, a human being. 'In those adherences' means in those adherences to views—thus, 'therefore, a person in those adherences'.
Tasmā naro tesu nivesanesūti. Tasmāti có nghĩa là: do vì thế, do nguyên nhân ấy, do duyên cớ ấy, do lý do ấy. Naroti có nghĩa là: chúng sanh, người, thanh niên, nam nhân, cá thể, sinh vật, sinh linh, con vật, sinh vật của Indra, con người. Tesu nivesanesūti có nghĩa là: trong những sự an trú của tà kiến ấy – (đây là ý nghĩa của) tasmā naro tesu nivesanesu.
Nirassatī ādiyatī ca dhammanti. Nirassatīti dvīhi kāraṇehi nirassati – paravicchindanāya vā nirassati, anabhisambhuṇanto vā nirassati. Kathaṃ paravicchindanāya nirassati? Paro vicchindeti – so satthā na sabbaññū, dhammo na svākkhāto, gaṇo na suppaṭipanno, diṭṭhi na bhaddikā, paṭipadā na supaññattā, maggo na niyyāniko, natthettha suddhi vā visuddhi vā parisuddhi vā mutti vā vimutti vā parimutti vā, natthettha sujjhanti vā visujjhanti vā parisujjhanti vā muccanti vā vimuccanti vā parimuccanti vā, hīnā nihīnā omakā lāmakā chatukkā † parittāti – evaṃ paro vicchindeti. Evaṃ vicchindiyamāno satthāraṃ nirassati, dhammakkhānaṃ nirassati, gaṇaṃ nirassati, diṭṭhiṃ nirassati, paṭipadaṃ nirassati, maggaṃ nirassati. Evaṃ paravicchindanāya nirassati. Kathaṃ anabhisambhuṇanto nirassati? Sīlaṃ anabhisambhuṇanto sīlaṃ nirassati, vataṃ anabhisambhuṇanto vataṃ nirassati, sīlabbataṃ anabhisambhuṇanto sīlabbataṃ nirassati. Evaṃ anabhisambhuṇanto nirassati. Ādiyatī ca dhammanti. Satthāraṃ gaṇhāti, dhammakkhānaṃ gaṇhāti, gaṇaṃ gaṇhāti, diṭṭhiṃ gaṇhāti, paṭipadaṃ gaṇhāti, maggaṃ gaṇhāti parāmasati abhinivisatīti – nirassatī ādiyatī ca dhammaṃ.
'One rejects and takes up a doctrine.' 'One rejects' means one rejects for two reasons: by being induced by another to abandon it, or by being unable to fulfill it. How does one reject by being induced by another to abandon it? Another causes dissociation, saying: 'That teacher is not all-knowing, that doctrine is not well-proclaimed, that group is not of good practice, that view is not good, that practice is not well-prescribed, that path does not lead out. Herein there is no purity, or special purity, or complete purity, or release, or liberation, or complete liberation. Herein none are purified, or specially purified, or completely purified, or released, or liberated, or completely liberated. They are inferior, base, of little effort, of poor cause, of inferior disposition, of little power.' Thus another causes dissociation. Being caused to dissociate in this way, one rejects the teacher, one rejects the teaching of the doctrine, one rejects the group, one rejects the view, one rejects the practice, one rejects the path. Thus one rejects by being induced by another to abandon it. How does one reject by being unable to fulfill it? Being unable to fulfill virtue, one rejects virtue. Being unable to fulfill an observance, one rejects the observance. Being unable to fulfill virtue and observance, one rejects virtue and observance. Thus one rejects by being unable to fulfill it. 'And takes up a doctrine' means: one takes up the teacher, one takes up the teaching of the doctrine, one takes up the group, one takes up the view, one takes up the practice, one takes up the path; one grasps it, one adheres to it—this is 'one rejects and takes up a doctrine'.
Nirassatī ādiyatī ca dhammanti. Nirassatīti có nghĩa là từ bỏ do hai nguyên nhân – hoặc từ bỏ do sự cắt đứt của người khác, hoặc từ bỏ do không thể thực hành được. Từ bỏ do sự cắt đứt của người khác là thế nào? Người khác làm cho cắt đứt (bằng cách nói rằng): ‘Vị đạo sư ấy không phải là bậc toàn tri, giáo pháp ấy không được khéo thuyết, hội chúng ấy không phải là bậc thiện hành, tà kiến ấy không tốt đẹp, con đường thực hành ấy không được khéo chế định, đạo lộ ấy không đưa đến sự giải thoát, ở đây không có sự thanh tịnh, sự trong sạch, sự hoàn toàn trong sạch, hay sự giải thoát, sự thoát ly, sự hoàn toàn thoát ly; ở đây không có những người được thanh tịnh, được trong sạch, được hoàn toàn trong sạch, hay được giải thoát, được thoát ly, được hoàn toàn thoát ly; (các pháp ấy) là thấp kém, là hạ liệt, là tầm thường, là tồi tệ, là đáng khinh, là nhỏ nhoi.’ – Như vậy, người khác làm cho cắt đứt. Bị cắt đứt như vậy, người ấy từ bỏ vị đạo sư, từ bỏ lời thuyết pháp, từ bỏ hội chúng, từ bỏ tà kiến, từ bỏ con đường thực hành, từ bỏ đạo lộ. Như vậy là từ bỏ do sự cắt đứt của người khác. Từ bỏ do không thể thực hành được là thế nào? Không thể thực hành được giới, người ấy từ bỏ giới; không thể thực hành được hạnh, người ấy từ bỏ hạnh; không thể thực hành được giới hạnh, người ấy từ bỏ giới hạnh. Như vậy là từ bỏ do không thể thực hành được. Ādiyatī ca dhammanti có nghĩa là: chấp nhận một vị đạo sư, chấp nhận một lời thuyết pháp, chấp nhận một hội chúng, chấp nhận một tà kiến, chấp nhận một con đường thực hành, chấp nhận một đạo lộ, bám víu, kiên trì vào đó – (đây là ý nghĩa của) nirassatī ādiyatī ca dhammaṃ.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Diṭṭhīnivesā na hi svātivattā, dhammesu niccheyya samuggahītaṃ;
Tasmā naro tesu nivesanesu, nirassatī ādiyatī ca dhamma’’nti.
“For adherences to views are not easily overcome, nor is that which has been decided upon and well-grasped among doctrines. Therefore a person, amidst those adherences, rejects one doctrine and takes up another.”
“Bởi vì những sự an trú trong tà kiến không dễ gì vượt qua, (đó là) sự chấp thủ sau khi đã quyết định trong các pháp; Do đó, người ấy ở trong những sự an trú ấy, từ bỏ rồi lại chấp nhận một pháp.”
21.
21.
21.
Dhonassa hi natthi kuhiñci loke, pakappitā diṭṭhi bhavābhavesu;
Māyañca mānañca pahāya dhono, sa kena gaccheyya anūpayo so.
For the purified one, there is nowhere in the world a specifically conceived view concerning various states of becoming. Having abandoned deceit and conceit, that purified one, being devoid of grasping—by what would he proceed?
Đối với bậc đã gột rửa, quả vậy, không có tà kiến nào được tạo tác bất cứ nơi đâu trong thế gian, trong các cõi hữu và vô hữu; Bậc đã gột rửa, sau khi đã từ bỏ ma lậu và mạn, vị ấy là người không còn chấp thủ, sẽ đi về đâu bằng (pháp) nào?
Dhonassa hi natthi kuhiñci loke pakappitā diṭṭhi bhavābhavesūti. Dhonoti. Dhonā vuccati paññā – yā paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo sallakkhaṇā upalakkhaṇā paccupalakkhaṇā paṇḍiccaṃ kosallaṃ nepuññaṃ vebhabyā cintā upaparikkhā bhūri medhā pariṇāyikā vipassanā sampajaññaṃ patodo paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ paññāsatthaṃ paññāpāsādo paññāāloko paññāobhāso paññāpajjoto paññāratanaṃ amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi. Kiṃkāraṇā dhonā vuccati paññā? Tāya paññāya kāyaduccaritaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca; vacīduccaritaṃ… manoduccaritaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca; rāgo dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; doso…pe… moho… kodho… upanāho… makkho… paḷāso dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; issā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca; macchariyaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca; māyā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca; sāṭheyyaṃ dhutañca dhotañca sandhotañca niddhotañca; thambho dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; sabbe kilesā, sabbe duccaritā, sabbe darathā, sabbe pariḷāhā, sabbe santāpā, sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Taṃkāraṇā dhonā vuccati paññā.
For the purified one, there is indeed no constructed view anywhere in the world concerning various states of becoming. Herein, what is meant by 'the purified'? Wisdom is called 'the purified'—that wisdom which is understanding, investigation, thorough investigation, discernment of phenomena, examination, close examination, detailed examination, sagacity, skill, ingenuity, precision, thought, consideration, breadth of intelligence, intelligence, guidance, insight, clear comprehension, the goad, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the sword of wisdom, the palace of wisdom, the light of wisdom, the radiance of wisdom, the lamp of wisdom, the jewel of wisdom, non-delusion, investigation of phenomena, and right view. Why is wisdom called 'the purified'? Because through that wisdom, bodily misconduct is shaken off, washed off, thoroughly cleansed, and completely cleansed; verbal misconduct and mental misconduct are shaken off, washed off, thoroughly cleansed, and completely cleansed; greed is shaken off, washed off, thoroughly cleansed, and completely cleansed; so too are hatred, delusion, anger, resentment, denigration, spite, envy, stinginess, deceit, fraud, obstinacy, rivalry, conceit, arrogance, intoxication, and heedlessness shaken off, washed off, thoroughly cleansed, and completely cleansed; all defilements, all misconduct, all distresses, all fevers, all torments, and all unwholesome formations are shaken off, washed off, thoroughly cleansed, and completely cleansed. For this reason, wisdom is called 'the purified'.
Dhonassa hi natthi kuhiñci loke pakappitā diṭṭhi bhavābhavesūti. Dhonoti. Dhonā được gọi là trí tuệ – trí tuệ ấy là sự hiểu biết, sự thẩm sát, sự thẩm sát kỹ lưỡng, sự trạch pháp, sự ghi nhận đặc tính, sự nhận biết, sự nhận biết lặp lại, sự thông thái, sự khéo léo, sự tinh xảo, sự sáng suốt, sự suy tư, sự quán sát, sự rộng lớn, sự minh mẫn, sự hướng dẫn, sự quán chiếu, sự tỉnh giác, cái đâm thúc, trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, tuệ kiếm, tuệ lầu đài, tuệ ánh sáng, tuệ quang minh, tuệ ngọn đuốc, tuệ bảo, sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến. Vì lý do gì trí tuệ được gọi là dhonā? Bởi trí tuệ ấy, thân ác hạnh được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; khẩu ác hạnh… ý ác hạnh được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; tham được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; sân… si… phẫn… não… tật… xan… lận… ma lậu… xảo trá… kiêu căng… chấp trước… mạn… quá mạn… say đắm… phóng dật được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; tất cả các phiền não, tất cả các ác hạnh, tất cả các sự nóng nảy, tất cả các sự thiêu đốt, tất cả các sự phiền muộn, tất cả các bất thiện hành đều được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch. Vì lý do đó, trí tuệ được gọi là dhonā.
Atha vā sammādiṭṭhiyā micchādiṭṭhi dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca; sammāsaṅkappena micchāsaṅkappo dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; sammāvācāya micchāvācā dhutā ca dhotā ca…pe… sammākammantena micchākammanto dhuto ca… sammāājīvena micchāājīvo dhuto ca… sammāvāyāmena micchāvāyāmo dhuto ca… sammāsatiyā micchāsati dhutā ca… sammāsamādhinā micchāsamādhi dhuto ca dhoto ca sandhoto ca niddhoto ca; sammāñāṇena micchāñāṇaṃ dhutaṃ ca… sammāvimuttiyā micchāvimutti dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca.
Alternatively, by right view associated with the path, wrong view is shaken off, washed, thoroughly cleansed, and completely cleansed; by right thought, wrong thought is shaken off, washed, thoroughly cleansed, and completely cleansed; by right speech, wrong speech is shaken off, washed... and so on... by right action, wrong action is shaken off... by right livelihood, wrong livelihood is shaken off... by right effort, wrong effort is shaken off... by right mindfulness, wrong mindfulness is shaken off... by right concentration associated with the path, wrong concentration is shaken off, washed, thoroughly cleansed, and completely cleansed; by right knowledge associated with the path, perverted and incorrect knowledge is shaken off... by liberation through cutting off, perverted and incorrect liberation is shaken off, washed, thoroughly cleansed, and completely cleansed.
Hoặc là, bởi chánh kiến, tà kiến được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; bởi chánh tư duy, tà tư duy được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; bởi chánh ngữ, tà ngữ được rũ sạch, được gột rửa…; bởi chánh nghiệp, tà nghiệp được rũ sạch…; bởi chánh mạng, tà mạng được rũ sạch…; bởi chánh tinh tấn, tà tinh tấn được rũ sạch…; bởi chánh niệm, tà niệm được rũ sạch…; bởi chánh định, tà định được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch; bởi chánh trí, tà trí được rũ sạch…; bởi chánh giải thoát, tà giải thoát được rũ sạch, được gột rửa, được tẩy sạch, được làm cho trong sạch.
Atha vā ariyena aṭṭhaṅgikena maggena sabbe kilesā, sabbe duccaritā, sabbe darathā, sabbe pariḷāhā, sabbe santāpā, sabbākusalābhisaṅkhārā dhutā ca dhotā ca sandhotā ca niddhotā ca. Arahā imehi dhoneyyehi dhammehi upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato; tasmā arahā dhono. So dhutarāgo dhutapāpo dhutakileso dhutapariḷāhoti – dhono. Kuhiñcīti kuhiñci kimhici katthaci ajjhattaṃ vā bahiddhā vā ajjhattabahiddhā vā. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloke.
Or, by the noble path endowed with eight factors, all defilements, all misconducts, all distresses, all fevers, all torments, and all unwholesome formations are shaken off, washed, well cleansed, and especially cleansed. The Arahant is endowed with these qualities that cleanse, is well endowed, has approached, has well approached, has arisen, has well arisen, and has attained to perfect endowment. Therefore, the Arahant is called 'Dhona' (the cleansed one). He has shaken off lust, shaken off evil, shaken off defilements, shaken off burning—thus, he is 'Dhona'. 'Anywhere' means in any one thing, in any place, whether internally, or externally, or both internally and externally. 'In the world' means in the world of woe... and so on... in the world of the sense bases.
Hoặc giả, do bởi Thánh đạo gồm tám chi phần, tất cả các phiền não, tất cả các tà hạnh, tất cả các sự phiền muộn, tất cả các sự nóng bức, tất cả các sự thiêu đốt, tất cả các bất thiện hành đã được rũ sạch, đã được gột rửa, đã được tẩy sạch, đã được làm cho trong sạch. Vị A-la-hán đã được thành tựu, đã được đầy đủ, đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã chứng đắc, đã hoàn toàn chứng đắc, đã viên mãn với các pháp có khả năng tẩy sạch này; do đó, vị A-la-hán là bậc đã tẩy sạch (dhona). Vị ấy là người đã rũ sạch tham ái, đã rũ sạch điều ác, đã rũ sạch phiền não, đã rũ sạch sự nóng bức – (cho nên gọi là) bậc đã tẩy sạch. (Từ) ‘bất cứ nơi đâu’ (kuhiñcīti) có nghĩa là: bất cứ nơi đâu, trong bất cứ điều gì, ở bất cứ chỗ nào, hoặc là ở bên trong, hoặc là ở bên ngoài, hoặc là ở cả bên trong và bên ngoài. (Từ) ‘ở trong thế gian’ (loketi) có nghĩa là: ở trong thế gian khổ cảnh... vân vân... ở trong thế gian xứ.
Pakappitāti dve pakappanā – taṇhāpakappanā ca diṭṭhipakappanā ca…pe… ayaṃ taṇhāpakappanā…pe… ayaṃ diṭṭhipakappanā. Bhavābhavesūti bhavābhave kammabhave punabbhave kāmabhave, kammabhave kāmabhave punabbhave rūpabhave, kammabhave rūpabhave punabbhave arūpabhave, kammabhave arūpabhave punabbhave punappunabhave punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā. Dhonassa hi natthi kuhiñci loke pakappitā diṭṭhi bhavābhavesūti dhonassa kuhiñci loke bhavābhavesu ca kappitā pakappitā abhisaṅkhatā saṇṭhapitā diṭṭhi natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – dhonassa hi natthi kuhiñci loke pakappitā diṭṭhi bhavābhavesu.
‘Conceived’: there are two conceptions—conception through craving and conception through views… This is conception through craving… This is conception through views. ‘In states of existence’: in great and small existences, in kamma-existence, in renewed existence, in sensual existence; in kamma-existence, in sensual existence, in renewed existence, in form existence; in kamma-existence, in form existence, in renewed existence, in formless existence; in kamma-existence, in formless existence, in renewed existence; in repeated existence, in repeated destiny, in repeated arising, in repeated relinking, in the repeated production of individuality. ‘For the cleansed one, there is indeed no conceived view anywhere in the world regarding states of existence’: For the cleansed one, anywhere in the world and in great and small existences, a view that is devised, conceived, fabricated, or established does not exist, is not present, is not found. It has been abandoned, cut off, appeased, calmed, is incapable of arising again, and has been burned by the fire of wisdom. This is the meaning of ‘For the cleansed one, there is indeed no conceived view anywhere in the world regarding states of existence.’
(Từ) ‘được tưởng tượng’ (pakappitāti) có nghĩa là: có hai sự tưởng tượng – sự tưởng tượng do tham ái và sự tưởng tượng do tà kiến... vân vân... đây là sự tưởng tượng do tham ái... vân vân... đây là sự tưởng tượng do tà kiến. (Từ) ‘trong các cõi tồn tại’ (bhavābhavesūti) có nghĩa là: trong các cõi tồn tại lớn nhỏ, trong cõi nghiệp hữu, trong cõi tái hữu, trong cõi dục hữu, trong cõi nghiệp hữu ở cõi dục, trong cõi tái hữu ở cõi dục, trong cõi sắc hữu, trong cõi nghiệp hữu ở cõi sắc, trong cõi tái hữu ở cõi sắc, trong cõi vô sắc hữu, trong cõi nghiệp hữu ở cõi vô sắc, trong cõi tái hữu ở cõi vô sắc, trong sự tồn tại lập đi lập lại, trong các cảnh giới lập đi lập lại, trong sự tái sanh lập đi lập lại, trong sự nối liền lập đi lập lại, trong sự hình thành tự thể lập đi lập lại. (Câu) ‘Đối với bậc đã tẩy sạch, thật vậy, không có tà kiến nào được tưởng tượng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian, trong các cõi tồn tại’ (Dhonassa hi natthi kuhiñci loke pakappitā diṭṭhi bhavābhavesūti) có nghĩa là: đối với bậc đã tẩy sạch, tà kiến được tạo tác, được tưởng tượng, được hình thành, được thiết lập ở bất cứ nơi đâu trong thế gian và trong các cõi tồn tại là không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, không thể có được; đã được từ bỏ, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho yên tịnh, không có khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đó là nghĩa của câu) ‘Đối với bậc đã tẩy sạch, thật vậy, không có tà kiến nào được tưởng tượng ở bất cứ nơi đâu trong thế gian, trong các cõi tồn tại’.
Māyañca mānañca pahāya dhonoti. Māyā vuccati vañcanikā cariyā. Idhekacco kāyena duccaritaṃ caritvā, vācāya duccaritaṃ caritvā, manasā duccaritaṃ caritvā tassa paṭicchādanahetu pāpikaṃ icchaṃ paṇidahati – ‘‘mā maṃ jaññā’’ti icchati, ‘‘mā maṃ jaññā’’ti saṅkappeti, ‘‘mā maṃ jaññā’’ti vācaṃ bhāsati, ‘‘mā maṃ jaññā’’ti kāyena parakkamati. Yā evarūpā māyā māyāvitā accasarā vañcanā nikati nikiraṇā pariharaṇā gūhanā parigūhanā chādanā paricchādanā anuttānikammaṃ anāvikammaṃ vocchādanā pāpakiriyā, ayaṃ vuccati māyā.
‘Having abandoned deceit and conceit, the cleansed one’: Deceit is called deceptive conduct. Here, someone, having engaged in misconduct by body, misconduct by speech, and misconduct by mind, establishes an evil wish for the sake of concealing it. He wishes, ‘May they not know me’; he intends, ‘May they not know me’; he speaks words, ‘May they not know me’; he strives with his body, ‘May they not know me.’ Whatever is of such a nature—deceit, deceitfulness, transgression, deception, fraud, dissimulation, evasion, hiding, concealment, covering, thorough covering, not making things plain, not making things manifest, obscuring, evil-doing—this is called deceit.
(Câu) ‘Bậc đã tẩy sạch là người đã từ bỏ sự lừa dối và ngã mạn’ (Māyañca mānañca pahāya dhonoti). Sự lừa dối (māyā) được gọi là hành vi gian trá. Ở đây, có người sau khi thực hành tà hạnh về thân, thực hành tà hạnh về lời nói, thực hành tà hạnh về ý, vì muốn che giấu điều ấy nên đã phát khởi ước muốn xấu xa: người ấy mong muốn rằng: ‘Mong rằng họ không biết về ta,’ người ấy suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết về ta,’ người ấy nói lời rằng: ‘Mong rằng họ không biết về ta,’ người ấy cố gắng bằng thân rằng: ‘Mong rằng họ không biết về ta.’ Bất cứ sự lừa dối, sự xảo trá, sự quá đáng, sự gian trá, sự gian lận, sự che đậy, sự lảng tránh, sự giấu giếm, sự che giấu kỹ, sự bao che, sự che đậy hoàn toàn, việc không làm cho rõ ràng, việc không làm cho hiển lộ, sự che giấu kỹ lưỡng, hành vi xấu xa nào có bản chất như vậy, điều này được gọi là sự lừa dối (māyā).
Mānoti ekavidhena māno – yā cittassa unnati †. Duvidhena māno – attukkaṃsanamāno, paravambhanamāno. Tividhena māno – ‘‘seyyohamasmī’’ti māno, ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, ‘‘hīnohamasmī’’ti māno. Catubbidhena māno – lābhena mānaṃ janeti, yasena mānaṃ janeti, pasaṃsāya mānaṃ janeti, sukhena mānaṃ janeti. Pañcavidhena māno – ‘‘lābhimhi manāpikānaṃ rūpāna’’nti mānaṃ janeti, ‘‘lābhimhi manāpikānaṃ saddānaṃ…pe… gandhānaṃ… rasānaṃ… phoṭṭhabbāna’’nti mānaṃ janeti. Chabbidhena māno – cakkhusampadāya mānaṃ janeti, sotasampadāya… ghānasampadāya… jivhāsampadāya… kāyasampadāya… manosampadāya mānaṃ janeti. Sattavidhena māno – māno, atimāno, mānātimāno, omāno, adhimāno, asmimāno, micchāmāno. Aṭṭhavidhena māno – lābhena mānaṃ janeti, alābhena omānaṃ janeti, yasena mānaṃ janeti, ayasena omānaṃ janeti, pasaṃsāya mānaṃ janeti, nindāya omānaṃ janeti, sukhena mānaṃ janeti, dukkhena omānaṃ janeti. Navavidhena māno – seyyassa seyyohamasmīti māno, seyyassa sadisohamasmīti māno, seyyassa hīnohamasmīti māno, sadisassa seyyohamasmīti māno, sadisassa sadisohamasmīti māno, sadisassa hīnohamasmīti māno, hīnassa seyyohamasmīti māno, hīnassa sadisohamasmīti māno, hīnassa hīnohamasmīti māno. Dasavidhena māno – idhekacco mānaṃ janeti jātiyā vā gottena vā kolaputtiyena vā vaṇṇapokkharatāya vā dhanena vā ajjhenena vā kammāyatanena vā sippāyatanena vā vijjāṭṭhānena vā sutena vā paṭibhānena vā aññataraññatarena vā vatthunā. Yo evarūpo māno maññanā maññitattaṃ unnati unnāmo † dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassa – ayaṃ vuccati māno. Māyañca mānañca pahāya dhonoti. Dhono māyañca mānañca pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – māyañca mānañca pahāya dhono.
Conceit: in one way, conceit is the exaltation of the mind. Conceit is of two kinds: conceit that exalts oneself, and conceit that disparages others. Conceit is of three kinds: the conceit 'I am superior,' the conceit 'I am equal,' and the conceit 'I am inferior.' Conceit is of four kinds: one generates conceit from gain, generates conceit from fame, generates conceit from praise, and generates conceit from pleasure. Conceit is of five kinds: one generates conceit thinking, 'I am a gainer of agreeable sights'; one generates conceit thinking, 'I am a gainer of agreeable sounds... smells... tastes... touches.' Conceit is of six kinds: one generates conceit from excellence of the eye faculty, from excellence of the ear faculty... nose faculty... tongue faculty... body faculty... mind faculty. Conceit is of seven kinds: conceit, excessive conceit, conceit of superiority over a former equal, inferiority conceit, overweening conceit, the conceit 'I am,' and wrong conceit. Conceit is of eight kinds: one generates conceit from gain, one generates inferiority conceit from loss; one generates conceit from fame, one generates inferiority conceit from disgrace; one generates conceit from praise, one generates inferiority conceit from blame; one generates conceit from pleasure, and one generates inferiority conceit from pain. Conceit is of nine kinds: the conceit 'I am superior to a superior person,' the conceit 'I am equal to a superior person,' the conceit 'I am inferior to a superior person'; the conceit 'I am superior to an equal person,' the conceit 'I am equal to an equal person,' the conceit 'I am inferior to an equal person'; the conceit 'I am superior to an inferior person,' the conceit 'I am equal to an inferior person,' and the conceit 'I am inferior to an inferior person.' Conceit is of ten kinds: here, a certain person generates conceit due to birth, or lineage, or high birth, or excellence of complexion, or wealth, or study, or occupation, or skill, or knowledge, or learning, or intelligence, or due to some other reason. Whatever conceit of this sort—conceiving, the state of being conceited, exaltation, arrogance, a banner of pride, self-exaltation, the mind's desire for prominence—this is called conceit. ‘Having abandoned deceit and conceit, the cleansed one’: The cleansed one is one who has abandoned deceit and conceit, having relinquished them, dispelled them, destroyed them, and brought them to non-existence. This is the meaning of 'the cleansed one, having abandoned deceit and conceit'.
Ngã mạn (mānoti) có nghĩa là: Ngã mạn theo một cách – đó là sự tự cao của tâm. Ngã mạn theo hai cách – ngã mạn tự tôn và ngã mạn miệt thị người khác. Ngã mạn theo ba cách – ngã mạn ‘ta hơn,’ ngã mạn ‘ta bằng,’ ngã mạn ‘ta thua.’ Ngã mạn theo bốn cách – sanh khởi ngã mạn do lợi lộc, sanh khởi ngã mạn do danh vọng, sanh khởi ngã mạn do lời tán dương, sanh khởi ngã mạn do sự an lạc. Ngã mạn theo năm cách – sanh khởi ngã mạn rằng: ‘Ta là người được các sắc khả ý,’ sanh khởi ngã mạn rằng: ‘Ta là người được các thanh khả ý... vân vân... các hương... các vị... các xúc khả ý.’ Ngã mạn theo sáu cách – sanh khởi ngã mạn do sự toàn hảo của mắt, do sự toàn hảo của tai... mũi... lưỡi... thân... ý. Ngã mạn theo bảy cách – ngã mạn (māno), quá mạn (atimāno), mạn quá mạn (mānātimāno), ty liệt mạn (omāno), tăng thượng mạn (adhimāno), ngã mạn (asmimāno), tà mạn (micchāmāno). Ngã mạn theo tám cách – sanh khởi ngã mạn do lợi lộc, sanh khởi ty liệt mạn do không lợi lộc; sanh khởi ngã mạn do danh vọng, sanh khởi ty liệt mạn do không danh vọng; sanh khởi ngã mạn do lời tán dương, sanh khởi ty liệt mạn do lời chê bai; sanh khởi ngã mạn do sự an lạc, sanh khởi ty liệt mạn do sự đau khổ. Ngã mạn theo chín cách – đối với người hơn, có ngã mạn ‘ta hơn;’ đối với người hơn, có ngã mạn ‘ta bằng;’ đối với người hơn, có ngã mạn ‘ta thua;’ đối với người bằng, có ngã mạn ‘ta hơn;’ đối với người bằng, có ngã mạn ‘ta bằng;’ đối với người bằng, có ngã mạn ‘ta thua;’ đối với người thua, có ngã mạn ‘ta hơn;’ đối với người thua, có ngã mạn ‘ta bằng;’ đối với người thua, có ngã mạn ‘ta thua.’ Ngã mạn theo mười cách – ở đây, có người sanh khởi ngã mạn do dòng dõi, hoặc do gia tộc, hoặc do gia thế, hoặc do dung sắc, hoặc do tài sản, hoặc do học vấn, hoặc do lĩnh vực công việc, hoặc do nghề nghiệp, hoặc do kiến thức chuyên môn, hoặc do sự uyên bác, hoặc do tài biện luận, hoặc do một lý do nào khác. Bất cứ sự ngã mạn, sự tưởng rằng, trạng thái tưởng rằng, sự tự cao, sự kiêu ngạo, sự phất cờ, sự tự đề cao, sự mong muốn nổi bật của tâm nào có bản chất như vậy – điều này được gọi là ngã mạn. (Câu) ‘Bậc đã tẩy sạch là người đã từ bỏ sự lừa dối và ngã mạn’ (Māyañca mānañca pahāya dhonoti) có nghĩa là: Bậc đã tẩy sạch là người đã từ bỏ, đã đoạn trừ, đã xua tan, đã chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu sự lừa dối và ngã mạn – (đó là nghĩa của câu) ‘Bậc đã tẩy sạch là người đã từ bỏ sự lừa dối và ngã mạn.’
Sa kena gaccheyya anūpayo soti. Upayāti dve upayā – taṇhūpayo ca diṭṭhūpayo ca…pe… ayaṃ taṇhūpayo…pe… ayaṃ diṭṭhūpayo. Tassa taṇhūpayo pahīno, diṭṭhūpayo paṭinissaṭṭho. Taṇhūpayassa pahīnattā, diṭṭhūpayassa paṭinissaṭṭhattā anūpayo puggalo kena rāgena gaccheyya, kena dosena gaccheyya, kena mohena gaccheyya, kena mānena gaccheyya, kāya diṭṭhiyā gaccheyya, kena uddhaccena gaccheyya, kāya vicikicchāya gaccheyya, kehi anusayehi gaccheyya – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā pahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyo kena gaccheyya – nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi paccayo natthi kāraṇaṃ natthi, yena gaccheyyāti – sa kena gaccheyya anūpayo so.
“By what would he go, one without support?” Here, ‘support’ refers to two kinds of support: the support of craving and the support of views… This is the support of craving… This is the support of views. For him, the support of craving is abandoned, the support of views is relinquished. Because the support of craving is abandoned and because the support of views is relinquished, by what passion could the person without support go, by what aversion could he go, by what delusion could he go, by what conceit could he go, by what view could he go, by what restlessness could he go, by what doubt could he go, by what underlying tendencies could he go—as one impassioned, or hostile, or deluded, or bound, or clinging, or scattered, or one who has reached indecision, or one who has become forceful? Those formations are abandoned. Because the formations are abandoned, by what would he go to the destinations—as a hell-being, or one in the animal realm, or one in the realm of spirits, or a human, or a deva, or one with form, or one without form, or one with perception, or one without perception, or one with neither-perception-nor-non-perception? That cause does not exist, that condition does not exist, that reason does not exist, by which he would go. Thus: “By what would he go, one without support?”
Vị ấy không còn nương tựa, do đâu mà đi đến? (Sa kena gaccheyya anūpayo so). Về từ ‘nương tựa’ (upaya), có hai sự nương tựa: nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào ái... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Đối với vị ấy, sự nương tựa vào ái đã được đoạn trừ, sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ. Do vì sự nương tựa vào ái đã được đoạn trừ, do vì sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ, nên cá nhân không còn nương tựa ấy sẽ đi đến do bởi tham nào, sẽ đi đến do bởi sân nào, sẽ đi đến do bởi si nào, sẽ đi đến do bởi mạn nào, sẽ đi đến do bởi tà kiến nào, sẽ đi đến do bởi trạo cử nào, sẽ đi đến do bởi hoài nghi nào, sẽ đi đến do bởi các tùy miên nào? Hoặc là (đi đến) như là người tham ái, hoặc là người sân hận, hoặc là người si mê, hoặc là người bị trói buộc, hoặc là người chấp thủ, hoặc là người bị phân tán, hoặc là người chưa đi đến quyết định, hoặc là người đã đi đến sức mạnh? Các hành ấy đã được đoạn trừ. Do vì các hành đã được đoạn trừ, vị ấy sẽ đi đến các cõi do bởi cái gì? Hoặc là chúng sanh địa ngục, hoặc là loài bàng sanh, hoặc là cõi ngạ quỷ, hoặc là loài người, hoặc là chư thiên, hoặc là loài hữu sắc, hoặc là loài vô sắc, hoặc là loài hữu tưởng, hoặc là loài vô tưởng, hoặc là loài phi tưởng phi phi tưởng? Nhân ấy không có, duyên ấy không có, nguyên nhân ấy không có, do bởi cái ấy mà vị ấy sẽ đi đến. (Đó là ý nghĩa của câu:) Vị ấy không còn nương tựa, do đâu mà đi đến?
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Dhonassa hi natthi kuhiñci loke, pakappitā diṭṭhi bhavābhavesu;
Māyañca mānañca pahāya dhono, sa kena gaccheyya anūpayo so’’ti.
“For the cleansed one, indeed, there is no fabricated view anywhere in the world concerning states of existence. That cleansed one, having abandoned deceit and conceit, being without support—by what would he go?”
‘Đối với bậc đã gột sạch, không có ở bất cứ đâu trong thế gian, tà kiến được sắp đặt về các cõi hữu; Bậc đã gột sạch, sau khi đã từ bỏ sự lừa dối và lòng kiêu mạn, vị ấy không còn nương tựa, do đâu mà đi đến?’
22.
22.
22.
Upayo hi dhammesu upeti vādaṃ, anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyya;
Attā nirattā na hi tassa atthi, adhosi so diṭṭhimidheva sabbaṃ.
“Indeed, one who has supports enters into disputes about doctrines. Of one without support, by what and how could one speak? For him, there is neither ‘self’ nor ‘non-self.’ He has cast off all views right here.”
Vì rằng người có nương tựa đi đến sự tranh luận về các pháp, đối với người không nương tựa, do đâu và thế nào để có thể nói đến? Đối với vị ấy, không có ‘tự ngã’ và ‘phi ngã,’ vị ấy đã rũ bỏ tất cả tà kiến ngay tại đây.
Upayo hi dhammesu upeti vādanti. Upayāti dve upayā – taṇhūpayo ca diṭṭhūpayo ca…pe… ayaṃ taṇhūpayo…pe… ayaṃ diṭṭhūpayo. Tassa taṇhūpayo appahīno, diṭṭhūpayo appaṭinissaṭṭho. Taṇhūpayassa appahīnattā, diṭṭhūpayassa appaṭinissaṭṭhattā dhammesu vādaṃ upeti – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā appahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ appahīnattā gatiyā vādaṃ upeti. Nerayikoti vā tiracchānayonikoti vā pettivisayikoti vā manussoti vā devoti vā rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā vādaṃ upeti upagacchati gaṇhāti parāmasati abhinivisatīti – upayo hi dhammesu upeti vādaṃ.
“One who has supports, indeed, engages in assertion regarding phenomena.” Here, 'support' refers to two kinds of support: the support of craving and the support of views... This is the support of craving... This is the support of views. For that person, the support of craving is not abandoned, and the support of views is not relinquished. Because the support of craving is not abandoned and the support of views is not relinquished, one engages in assertion regarding phenomena—as one who is impassioned, hostile, deluded, bound, grasping, distracted, irresolute, or forceful. Those formations are not abandoned. Because the formations are not abandoned, one engages in assertion regarding one's destination—as a hell-being, one born in the animal realm, one in the sphere of spirits, a human being, a deva, a being with form, a formless being, a being with perception, a being without perception, or a being with neither-perception-nor-non-perception. One engages in assertion, approaches, grasps, misapprehends, and adheres to it. Thus: “One who has supports, indeed, engages in assertion regarding phenomena.”
Vì rằng người có nương tựa đi đến sự tranh luận về các pháp (Upayo hi dhammesu upeti vādaṃ). Về từ ‘nương tựa’ (upaya), có hai sự nương tựa: nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào ái... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Đối với người ấy, sự nương tựa vào ái chưa được đoạn trừ, sự nương tựa vào tà kiến chưa được từ bỏ. Do vì sự nương tựa vào ái chưa được đoạn trừ, do vì sự nương tựa vào tà kiến chưa được từ bỏ, nên người ấy đi đến sự tranh luận về các pháp: hoặc là người tham ái, hoặc là người sân hận, hoặc là người si mê, hoặc là người bị trói buộc, hoặc là người chấp thủ, hoặc là người bị phân tán, hoặc là người chưa đi đến quyết định, hoặc là người đã đi đến sức mạnh. Các hành ấy chưa được đoạn trừ. Do vì các hành chưa được đoạn trừ, người ấy đi đến sự tranh luận về các cõi. Hoặc là chúng sanh địa ngục, hoặc là loài bàng sanh, hoặc là cõi ngạ quỷ, hoặc là loài người, hoặc là chư thiên, hoặc là loài hữu sắc, hoặc là loài vô sắc, hoặc là loài hữu tưởng, hoặc là loài vô tưởng, hoặc là loài phi tưởng phi phi tưởng, người ấy đi đến sự tranh luận, tiếp cận, nắm giữ, chấp thủ, và quyết tâm tin tưởng. (Đó là ý nghĩa của câu:) Vì rằng người có nương tựa đi đến sự tranh luận về các pháp.
Anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyyāti. Upayāti dve upayā – taṇhūpayo ca diṭṭhūpayo ca…pe… ayaṃ taṇhūpayo…pe… ayaṃ diṭṭhūpayo. Tassa taṇhūpayo pahīno, diṭṭhūpayo paṭinissaṭṭho. Taṇhūpayassa pahīnattā, diṭṭhūpayassa paṭinissaṭṭhattā anūpayaṃ puggalaṃ kena rāgena vadeyya, kena dosena vadeyya, kena mohena vadeyya, kena mānena vadeyya, kāya diṭṭhiyā vadeyya, kena uddhaccena vadeyya, kāya vicikicchāya vadeyya, kehi anusayehi vadeyya – rattoti vā duṭṭhoti vā mūḷhoti vā vinibaddhoti vā parāmaṭṭhoti vā vikkhepagatoti vā aniṭṭhaṅgatoti vā thāmagatoti vā. Te abhisaṅkhārā pahīnā. Abhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyo kena vadeyya – nerayikoti vā…pe… nevasaññīnāsaññīti vā. So hetu natthi, paccayo natthi, kāraṇaṃ natthi, yena vadeyya katheyya bhaṇeyya dīpayeyya vohareyyāti – anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyya.
“Regarding one without support, by what and how could one speak?” Here, 'support' refers to two kinds of support: the support of craving and the support of views… This is the support of craving… This is the support of views. For that person, the support of craving is abandoned, and the support of views is relinquished. Because the support of craving is abandoned and the support of views is relinquished, by what could one speak of a person without support? By what passion could one speak, by what aversion could one speak, by what delusion could one speak, by what conceit could one speak, by what view could one speak, by what restlessness could one speak, by what doubt could one speak, by what underlying tendencies could one speak—as one who is impassioned, hostile, deluded, bound, grasping, distracted, irresolute, or forceful? Those formations are abandoned. Because the formations are abandoned, by what could one speak of one's destination—as a hell-being… or as a being with neither-perception-nor-non-perception? That cause does not exist, that condition does not exist, that reason does not exist, by which one could speak, discuss, declare, explain, or designate. Thus: “Regarding one without support, by what and how could one speak?”
Đối với người không nương tựa, do đâu và thế nào để có thể nói đến? (Anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyya). Về từ ‘nương tựa’ (upaya), có hai sự nương tựa: nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào ái... (v.v.)... đây là sự nương tựa vào tà kiến. Đối với vị ấy, sự nương tựa vào ái đã được đoạn trừ, sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ. Do vì sự nương tựa vào ái đã được đoạn trừ, do vì sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ, nên có thể nói về cá nhân không còn nương tựa ấy do bởi tham nào, do bởi sân nào, do bởi si nào, do bởi mạn nào, do bởi tà kiến nào, do bởi trạo cử nào, do bởi hoài nghi nào, do bởi các tùy miên nào? Hoặc là (nói rằng) người tham ái, hoặc là người sân hận, hoặc là người si mê, hoặc là người bị trói buộc, hoặc là người chấp thủ, hoặc là người bị phân tán, hoặc là người chưa đi đến quyết định, hoặc là người đã đi đến sức mạnh? Các hành ấy đã được đoạn trừ. Do vì các hành đã được đoạn trừ, có thể nói về các cõi do bởi cái gì? Hoặc là chúng sanh địa ngục... (v.v.)... hoặc là loài phi tưởng phi phi tưởng? Nhân ấy không có, duyên ấy không có, nguyên nhân ấy không có, do bởi cái ấy mà người ta có thể nói, kể, phát biểu, chỉ rõ, hay gọi tên. (Đó là ý nghĩa của câu:) Đối với người không nương tựa, do đâu và thế nào để có thể nói đến?
Attā nirattā na hi tassa atthīti. Attāti attānudiṭṭhi natthi. Nirattāti ucchedadiṭṭhi natthi. Attāti gahitaṃ natthi. Nirattāti muñcitabbaṃ natthi. Yassatthi gahitaṃ, tassatthi muñcitabbaṃ; yassatthi muñcitabbaṃ, tassatthi gahitaṃ. Gahaṇaṃ muñcanā samatikkanto arahā buddhiparihānivītivatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo gataddho gatadiso jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavoti – attā nirattā na hi tassa atthi.
“For him there is neither self nor non-self.” 'Self' means the view of self does not exist. 'Non-self' means the annihilationist view does not exist. 'Self' means nothing is grasped. 'Non-self' means there is nothing to be released. For one for whom there is something grasped, for him there is something to be released; for one for whom there is something to be released, for him there is something grasped. The Arahant has transcended grasping and releasing; he has gone beyond growth and decline. He has completed the dwelling, fulfilled the practice, gone beyond the long course, and reached the destination. For him, the saṃsāra of birth and death, that is, further becoming, does not exist. Thus, “for him there is neither self nor non-self.”
Đối với vị ấy, không có ‘tự ngã’ và ‘phi ngã’ (Attā nirattā na hi tassa atthi). ‘Tự ngã’ (attā) có nghĩa là không có tà kiến về tự ngã. ‘Phi ngã’ (nirattā) có nghĩa là không có tà kiến đoạn diệt. ‘Tự ngã’ có nghĩa là không có sự nắm giữ. ‘Phi ngã’ có nghĩa là không có điều cần phải buông bỏ. Người nào có sự nắm giữ, người ấy có điều cần phải buông bỏ; người nào có điều cần phải buông bỏ, người ấy có sự nắm giữ. Vị A-la-hán đã vượt qua sự nắm giữ và buông bỏ, đã vượt qua sự tăng trưởng và suy tàn. Vị ấy đã sống xong phạm hạnh, đã thực hành xong giới hạnh, đã đi đến cuối con đường, đã đạt đến đích, đối với vị ấy không còn tái sanh trong vòng luân hồi sanh tử nữa. (Đó là ý nghĩa của câu:) Đối với vị ấy, không có ‘tự ngã’ và ‘phi ngã’.
Adhosi so diṭṭhimidheva sabbanti tassa dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. So sabbadiṭṭhigataṃ idheva adhosi dhuni sandhuni niddhuni pajahi vinodesi byantiṃ akāsi anabhāvaṃ gamesīti – adhosi so diṭṭhimidheva sabbaṃ.
“He shook off all views right here.” For him, the sixty-two kinds of views have been abandoned, completely cut off, stilled, pacified, rendered incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge. He shook off, shook, shook well, shook out completely, abandoned, dispelled, brought to destruction, and caused to not arise again all wrong views right in this very existence. Thus, “he shook off all views right here.”
Vị ấy đã rũ bỏ tất cả tà kiến ngay tại đây (Adhosi so diṭṭhimidheva sabbaṃ). Đối với vị ấy, sáu mươi hai loại tà kiến đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Vị ấy đã rũ bỏ, đã giũ sạch, đã giũ sạch hoàn toàn, đã giũ sạch triệt để, đã từ bỏ, đã xua tan, đã chấm dứt, đã làm cho không còn tồn tại tất cả tà kiến ngay tại đây. (Đó là ý nghĩa của câu:) Vị ấy đã rũ bỏ tất cả tà kiến ngay tại đây.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Upayo hi dhammesu upeti vādaṃ, anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyya;
Attā nirattā na hi tassa atthi, adhosi so diṭṭhimidheva sabba’’nti.
“Indeed, one who has supports engages in disputes about doctrines; but of one without support, by what means and how could one speak? For him, there is neither a view of self nor of non-self; he has shaken off all views right in this very life.”
‘Vì rằng người có nương tựa đi đến sự tranh luận về các pháp, đối với người không nương tựa, do đâu và thế nào để có thể nói đến? Đối với vị ấy, không có ‘tự ngã’ và ‘phi ngã,’ vị ấy đã rũ bỏ tất cả tà kiến ngay tại đây.’
The Exposition of the Duṭṭhaṭṭhaka Sutta: The Third.
Phần giải thích Kinh Tám Về Kẻ Xấu, chương thứ ba, đã hoàn tất.