Bản dịch
MND 2 — Diễn Giải Kinh Nhóm Tám Về Hang
2. Guhaṭṭhakasuttaniddesa
Giờ Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Hang được nói đến.
“ Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm),
trong khi tồn tại, con người bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục).
N gười thuộc hạng như thế ấy quả thật cách xa sự viễn ly,
bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ .”
Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm) : Satto (với ý nghĩa ‘chúng sanh’) quả đã được nói đến. Hơn nữa, là lúc nên nói về từ guhā : Guhā được nói đến thân. ‘Thân’ hay là ‘hang,’ (hay là ‘thân thể’), hay là ‘thân hình,’ hay là ‘con thuyền,’ hay là ‘cỗ xe,’ hay là ‘lá cờ,’ hay là ‘ổ mối,’ hay là ‘thành phố,’ hay là ‘cái tổ,’ hay là ‘cái cốc,’ hay là ‘mụt nhọt,’ hay là ‘cái chum,’ (hay là ‘con voi), cái này là tên định đặt cho thân. [1]
[1] Các từ guh ā, deho , sandeho, nāvā, ratho, dhajo, vammiko, nagaraṃ, nīḍa ṃ, kuṭi, gaṇḍo, kumbho , nāgo đã được đức Phật sử dụng để ví von với cái thân ( kāyo ) này.
Bị dính mắc ở hang (thân xác) : là bị dính mắc, bị dính liền, bị dính vào, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở hang (thân xác). Giống như gói hàng bị dính mắc, bị dính liền, bị dính vào, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở chốt gắn trên tường hoặc ở móc ngà voi, tương tợ y như thế là bị dính mắc, bị dính liền, bị dính vào, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở hang (thân xác).
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này Rādha, quả vậy mong muốn nào, luyến ái nào, niềm vui nào, tham ái nào, các sự dính líu và chấp thủ nào ở sắc là sự quyết định-sự thiên về-sự nương tựa của tâm; bị dính mắc ( satto ) vào đó, bị dính liền ( visatto ) vào đó, vì thế được gọi là ‘ satto’ (chúng sanh). Này Rādha, quả vậy mong muốn nào, luyến ái nào, niềm vui nào, tham ái nào, các sự dính líu và chấp thủ nào ở thọ —như trên— ở tưởng —như trên— ở các hành —như trên— ở thức là sự quyết định-sự thiên về-sự nương tựa của tâm; bị dính mắc ( satto ) vào đó, bị dính liền ( visatto ) vào đó, vì thế được gọi là ‘ satto’ (chúng sanh). [2]
‘ Satto ’ là tên định đặt cho sự vướng vào. ‘Bị dính mắc ở hang (thân xác)’ là thế ấy.
[2] Từ Pāḷi ‘ satto ’ là quá khứ phân từ của sajjati với ý nghĩa ‘bị dính mắc,’ ‘ satto ’ còn có ý nghĩa là ‘chúng sanh.’ Đoạn văn trên giải thích rằng chúng sanh vì bị dính mắc ( satto ) ở xác thân ngũ uẩn nên từ ‘ satto ’ trở thành tên định đặt cho ‘chúng sanh.’
Bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm) là bị che đậy bởi nhiều ô nhiễm: bị che đậy bởi luyến ái, bị che đậy bởi sân hận, bị che đậy bởi si mê, bị che đậy bởi giận dữ, bị che đậy bởi thù hằn, bị che đậy bởi gièm pha, bị che đậy bởi ác ý, bị che đậy bởi ganh tỵ, bị che đậy bởi bỏn xẻn, bị che đậy bởi xảo trá, bị che đậy bởi bội bạc, bị che đậy bởi bướng bỉnh, bị che đậy bởi hung hăng, bị che đậy bởi ngã mạn, bị che đậy bởi kiêu căng, bị che đậy bởi đam mê, bị che đậy bởi xao lãng, bị che đậy, bị che đậy lên, bị bao bọc, bị bao kín, bị bao trùm, bị che lại, bị che kín, bị đậy kín bởi tất cả ô nhiễm, bởi tất cả việc làm ác, bởi mọi sự lo lắng, bởi mọi sự bực bội, bởi mọi sự nóng nảy, bởi mọi sự tạo tác bất thiện. ‘Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm)’ là thế ấy.
Trong khi tồn tại, con người bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục) - Trong khi tồn tại, con người : Lúc đang tồn tại, con người luyến ái tồn tại với tánh luyến ái, sân hận tồn tại với tánh sân hận, si mê tồn tại với tánh si mê, bảo thủ tồn tại với tánh ngã mạn, cố chấp tồn tại với tánh tà kiến, lãng mạn tồn tại với tánh phóng dật, không dứt khoát tồn tại với tánh hoài nghi, vững chải tồn tại với tánh tiềm ẩn; ‘trong khi tồn tại, con người’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, có các sắc được nhận thức bởi mắt là đáng mong, đáng yêu, đáng mến, đáng quý, liên hệ đến dục, gợi tình, nếu vị tỳ khưu thích thú điều ấy, tán thưởng, bám lấy rồi tồn tại. Này các tỳ khưu, có các tiếng được nhận thức bởi tai —như trên— các hương được nhận thức bởi mũi —như trên— các vị được nhận thức bởi lưỡi —như trên— các xúc được nhận thức bởi thân —như trên— các pháp được nhận thức bởi ý là đáng mong, đáng yêu, đáng mến, đáng quý, liên hệ đến dục, gợi tình, nếu vị tỳ khưu thích thú điều ấy, tán thưởng, bám lấy rồi tồn tại;” ‘trong khi tồn tại, con người’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, hoặc là có sự tiếp cận với sắc, trong khi tồn tại, thức tồn tại có đối tượng là sắc, có chỗ nâng đỡ là sắc, có sự rải rắc niềm vui, thì đạt đến sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh. Này các tỳ khưu, hoặc là có sự tiếp cận với thọ, —như trên— Này các tỳ khưu, hoặc là có sự tiếp cận với tưởng, —như trên— Này các tỳ khưu, hoặc là có sự tiếp cận với các hành, trong khi tồn tại, thức tồn tại có đối tượng là các hành, có chỗ nâng đỡ là các hành, có sự rải rắc niềm vui, thì đạt được sự phát triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh;” ‘trong khi tồn tại, con người’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, nếu ở đoàn thực mà có sự ái luyến, có sự vui mừng, có sự tham ái, thì ở nơi ấy thức được thiết lập, được tăng trưởng. Ở nơi nào thức được thiết lập, được tăng trưởng, ở nơi ấy có sự hạ sanh của danh sắc. Ở nơi nào có sự hạ sanh của danh sắc, ở nơi ấy có sự phát triển của các hành. Ở nơi nào có sự phát triển của các hành, ở nơi ấy có sự sanh ra và hiện hữu lần nữa trong tương lai. Ở nơi nào có sự sanh ra và hiện hữu lần nữa trong tương lai, ở nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Ở nơi nào có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có buồn phiền, có lo âu;” ‘trong khi tồn tại, con người’ còn là như vậy.
“Này các tỳ khưu, nếu ở xúc thực —như trên— “Này các tỳ khưu, nếu ở tư niệm thực —như trên— “Này các tỳ khưu, nếu ở thức thực mà có sự ái luyến, có sự vui mừng, có sự tham ái, thì ở nơi ấy thức được thiết lập, được tăng trưởng. Ở nơi nào thức được thiết lập, được tăng trưởng, ở nơi ấy có sự hạ sanh của danh sắc. Ở nơi nào có sự hạ sanh của danh sắc, ở nơi ấy có sự phát triển của các hành. Ở nơi nào có sự phát triển của các hành, ở nơi ấy có sự sanh ra và hiện hữu lần nữa trong tương lai. Ở nơi nào có sự sanh ra và hiện hữu lần nữa trong tương lai, ở nơi ấy có sanh-già-chết trong tương lai. Ở nơi nào có sanh-già-chết trong tương lai, này các tỳ khưu, ta nói rằng việc ấy có sầu muộn, có ưu phiền, có lo âu;” ‘trong khi tồn tại, con người’ còn là như vậy.
Bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục) - Các sự say mê được gọi là năm loại dục: Các sắc được nhận thức bởi mắt là đáng mong, đáng yêu, đáng mến, đáng quý, liên hệ đến dục, gợi tình, các tiếng được nhận thức bởi tai —như trên— các hương được nhận thức bởi mũi —như trên— các vị được nhận thức bởi lưỡi —như trên— các xúc được nhận thức bởi thân —như trên— các pháp được nhận thức bởi ý là đáng mong, đáng yêu, đáng mến, đáng quý, liên hệ đến dục, gợi tình. Vì lý do gì mà các sự say mê được gọi là năm loại dục? Phần nhiều chư Thiên và loài người mê mờ, mê đắm, mê mệt, bị mê mờ, bị mê đắm, bị mê mệt, bị vô minh làm mù, bị bao bọc, bị bao kín, bị bao trùm, bị che lại, bị che kín, bị đậy kín trong năm loại dục; vì lý do ấy mà các sự say mê được gọi là năm loại dục. Bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục) là bị đắm chìm, bị đắm xuống, bị chìm xuống trong sự say mê (ngũ dục). ‘Trong khi tồn tại, con người bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục)’ là thế ấy.
Người thuộc hạng như thế ấy quả thật cách xa sự viễn ly - Sự viễn ly : Có ba sự viễn ly: thân viễn ly, tâm viễn ly, sanh y viễn ly.
Thế nào là thân viễn ly? Ở đây, vị tỳ khưu thân cận chỗ trú ngụ vắng vẻ, khu rừng rậm, gốc cây, sườn núi, thung lũng, khe núi, bãi tha ma, khu rừng thưa, đồng trống, đống rơm, và sống cô quạnh về thân. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, đi vào làng để khất thực một mình, đi trở về một mình, ngồi cô độc một mình, quyết định kinh hành một mình, thực hành một mình, sống, cư xử, vận hành, bảo hộ, duy trì, nuôi dưỡng một mình. Đây là thân viễn ly.
Thế nào là tâm viễn ly? Đối với vị thể nhập sơ thiền, tâm được viễn ly các pháp che lấp. Đối với vị thể nhập nhị thiền, tâm được viễn ly tầm và tứ. Đối với vị thể nhập tam thiền, tâm được viễn ly hỷ. Đối với vị thể nhập tứ thiền, tâm được viễn ly lạc và khổ. Đối với vị thể nhập không vô biên xứ, tâm được viễn ly sắc tưởng, bất bình tưởng, dị biệt tưởng. Đối với vị thể nhập thức vô biên xứ, tâm được viễn ly không vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập vô sở hữu xứ, tâm được viễn ly thức vô biên xứ tưởng. Đối với vị thể nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm được viễn ly vô sở hữu xứ tưởng. Đối với vị Nhập Lưu, tâm được viễn ly sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và nghi thức, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị Nhất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị Bất Lai, tâm được viễn ly sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, và các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy. Đối với vị A-la-hán, tâm được viễn ly ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, (hữu ngủ ngầm,) vô minh ngủ ngầm, các phiền não cộng trú với mỗi pháp ấy, và mọi hiện tướng ở bên ngoài. Đây là tâm viễn ly.
Thế nào là sanh y viễn ly? Sanh y được nói đến các ô nhiễm, các uẩn, và cách hành. Sanh y viễn ly được nói đến Bất Tử, Niết Bàn, là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận tham ái, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Đây là sanh y viễn ly.
Thân viễn ly là đối với các vị có thân đã lui về nơi ẩn dật, đã thích thú trong việc xuất ly; tâm viễn ly là đối với các vị có tâm hoàn toàn thanh tịnh, đã đạt đến sự trong sạch tối cao; và sanh y viễn ly là đối với các cá nhân không còn mầm mống tái sanh, đã xa lìa các pháp tạo tác.
Quả thật cách xa sự viễn ly : Người nào bị dính mắc ở hang (thân xác), như vậy, và bị che đậy bởi nhiều ô nhiễm như vậy, bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục) như vậy, người ấy là cách xa thân viễn ly, cách xa tâm viễn ly, cách xa sanh y viễn ly, cách xa hẳn, cách xa lắm, không ở gần, không ở bên cạnh, không ở kề cận, ở nơi ẩn dật. Thuộc hạng như thế : là giống như thế, được tồn tại theo lối ấy, có kiểu cách ấy, tương tự cái ấy; người ấy bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục); ‘người thuộc hạng như thế ấy quả thật cách xa sự viễn ly’ là thế ấy.
Bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ - Các dục : theo sự phân hạng thì có hai loại dục: vật dục và ô nhiễm dục.
Các loại nào là vật dục? Các sắc hợp ý, các thinh hợp ý, các hương hợp ý, các vị hợp ý, các xúc hợp ý, các vật trải lót, các vật đắp, các tôi trai và tớ gái, dê cừu, gà heo, voi bò ngựa lừa, ruộng, vườn, tiền vàng, vàng khối, làng, phố, kinh thành, lãnh thổ, xứ sở, khu trại, nhà kho, bất cứ vật gì đưa đến sự luyến ái là vật dục.
Thêm nữa là các dục quá khứ, các dục vị lại, các dục hiện tại, các dục nội phần, các dục ngoại phần, các dục nội và ngoại phần, các dục hạ liệt, các dục trung bình, các dục cao quý, các dục thuộc địa ngục, các dục thuộc loài người, các dục thuộc cõi Trời, các dục được hiện hữu, các dục được tạo ra, các dục được người khác tạo ra, các dục không được tạo ra, các dục thuộc sở hữu, các dục không thuộc sở hữu, các dục thuộc cá nhân, các dục không thuộc cá nhân, tính luôn tất cả các pháp Dục Giới, tất cả các pháp Sắc Giới, tất cả các pháp Vô Sắc Giới, các dục có nền tảng là tham ái, có cảnh giới là tham ái, với ý nghĩa là đưa đến sự ham muốn, với ý nghĩa là đưa đến sự luyến ái, với ý nghĩa là đưa đến sự say đắm. Các điều này được gọi là các vật dục.
Ô nhiễm dục là các loại nào? Mong muốn là dục, luyến ái là dục, mong muốn và luyến ái là dục, suy tầm là dục, luyến ái là dục, suy tầm và luyến ái là dục, là sự mong muốn về dục, sự luyến ái về dục, niềm vui về dục, sự tham ái về dục, sự thương yêu về dục, sự nồng nhiệt về dục, sự mê mẩn về dục, sự ràng buộc về dục, sự lôi cuốn về dục, sự gắn bó với dục, sự chấp thủ về dục, sự che lấp do mong muốn về dục ở các dục.
“ Này dục, ta đã nhìn thấy gốc rễ của ngươi. Này dục, ngươi sanh lên từ sự suy tầm.
Ta sẽ không suy tầm về ngươi nữa. Này dục, như vậy ngươi sẽ không hiện hữu .”
Các điều này được gọi là ô nhiễm dục.
Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, ở thế gian của loài người, ở thế gian của chư Thiên, ở thế gian của các uẩn, ở thế gian của các giới, ở thế gian của các xứ. Bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ : Bởi vì các dục ở thế gian khó dứt bỏ, khó từ bỏ, khó từ bỏ hẳn, khó đè nén, khó tháo gỡ, khó tháo bỏ, khó vượt lên, khó vượt hẳn, khó vượt qua, khó kháng cự; ‘bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm),
trong khi tồn tại, con người bị đắm chìm trong sự say mê (ngũ dục).
Người thuộc hạng như thế ấy quả thật cách xa sự viễn ly,
bởi vì các dục ở thế gian thật không dễ gì dứt bỏ .”
Có ước muốn là căn nguyên, bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu,
đang mong ước về sau này hoặc luôn cả trước đây,
đang tham muốn chính các dục này đây hoặc ngay trước đây,
những kẻ ấy là khó giải thoát, đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát.
Có ước muốn là căn nguyên, bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu : Ước muốn được gọi là ái, nghĩa là luyến ái, luyến ái mãnh liệt, say đắm, thuận thảo, niềm vui, niềm vui và luyến ái, sự luyến ái mãnh liệt của tâm, ước muốn, mê mẩn, bám víu, đeo bám, đeo cứng, quyến luyến, đắm chìm, níu kéo, xảo quyệt, liên quan tái sanh, hoàn toàn liên quan tái sanh, sự tạo ra khổ, kết vào, có lưới bẫy, cuốn trôi, vướng mắc, sợi chỉ trói, sự lan rộng, có sự ra sức, bạn đời, mầm tái sanh, lối dẫn di tái sanh, cầu xin, bám lấy đối tượng, gắn bó, thương yêu, mong ước, thân mật, mong mỏi, khát vọng, trạng thái mong mỏi, mong mỏi về sắc, mong mỏi về thinh, mong mỏi về hương, mong mỏi về vị, mong mỏi về xúc, mong mỏi về lợi lộc, mong mỏi về tài sản, mong mỏi về con trai, mong mỏi về mạng sống, tham muốn, khởi tham muốn, tham muốn tột độ, biểu hiện tham muốn, trạng thái tham muốn, tham lam, biểu hiện tham lam, trạng thái tham lam, xao xuyến, ham muốn vật vừa ý, luyến ái sai pháp, tham thất thường, đeo đuổi, khao khát, ước nguyện, mong cầu, ước nguyện tốt đẹp, dục ái, hữu ái, phi hữu ái, ái cõi Sắc giới, ái cõi Vô sắc giới, ái Niết Bàn, ái cảnh sắc, ái cảnh thinh, ái cảnh khí, ái cảnh vị, ái cảnh xúc, ái cảnh pháp, dòng nước lũ, sự ràng buộc, cột trói, chấp thủ, che ngăn, che lấp, phủ lấp, trói buộc, làm ô nhiễm, tiềm ẩn, thâm nhập, quấn lấy, ham hố, cội nguồn của khổ, căn nguyên của khổ, nguồn sanh khổ, cạm bẫy của Ma Vương, lưỡi câu của Ma Vương, độc tố của Ma Vương, ái ví như dòng sông, ái ví như tấm lưới, ái ví như dây xích, ái ví như biển, tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện.
Có ước muốn là căn nguyên - Có ước muốn là căn nguyên: có ước muốn là nhân, có ước muốn là duyên, có ước muốn là lý do, có ước muốn là nguồn phát khởi; ‘có ước muốn là căn nguyên là thế ấy.’
Bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu : Một lạc thú ở hiện hữu: cảm thọ lạc. Hai lạc thú ở hiện hữu: cảm thọ lạc và sự việc được ước muốn. Ba lạc thú ở hiện hữu: tuổi trẻ, sức khỏe, mạng sống. Bốn lạc thú ở hiện hữu: lợi lộc, danh tiếng, lời khen, hạnh phúc. Năm lạc thú ở hiện hữu: các sắc hợp ý, các thinh hợp ý, các hương hợp ý, các vị hợp ý, các xúc hợp ý. Sáu lạc thú ở hiện hữu: sự thỏa mãn của mắt, sự thỏa mãn của tai, sự thỏa mãn của mũi, sự thỏa mãn của lưỡi, sự thỏa mãn của thân, sự thỏa mãn của ý. Bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu : bị dính mắc, bị trói buộc vào cảm thọ lạc, vào sự việc được ước muốn, bị trói buộc vào tuổi trẻ, bị trói buộc vào sức khỏe, bị trói buộc vào mạng sống, bị trói buộc vào lợi lộc, bị trói buộc vào danh tiếng, bị trói buộc vào lời khen, bị trói buộc vào hạnh phúc, bị trói buộc vào các sắc hợp ý, các thinh - các hương - các vị hợp ý, bị trói buộc vào các xúc hợp ý, bị trói buộc vào sự thỏa mãn của mắt, bị trói buộc vào sự thỏa mãn của tai, bị trói buộc vào sự thỏa mãn của mũi - lưỡi - thân - ý, bị trói chặt, bị trói vào, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại; ‘có ước muốn là căn nguyên, bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu’ là thế ấy.
Những kẻ ấy là khó giải thoát, đương nhiên không được giải thoát bởi những người khác : Các sự việc lạc thú ở hiện hữu ấy là khó giải thoát, hay là chúng sanh khó được giải thoát khỏi sự việc ấy.
Các sự việc lạc thú ở hiện hữu ấy là khó giải thoát nghĩa là thế nào? Cảm thọ lạc là khó giải thoát, sự việc được ước muốn là khó giải thoát, tuổi trẻ là khó giải thoát, sức khỏe là khó giải thoát, mạng sống là khó giải thoát, lợi lộc là khó giải thoát, danh tiếng là khó giải thoát, lời khen là khó giải thoát, hạnh phúc là khó giải thoát, các sắc hợp ý là khó giải thoát, các thinh - các hương - các vị - các xúc hợp ý là khó giải thoát, sự thỏa mãn của mắt là khó giải thoát, sự thỏa mãn của tai - mũi - lưỡi - thân - ý là khó giải thoát, khó được giải thoát, khó được phóng thích, khó tháo gỡ, khó tháo bỏ, khó vượt lên, khó vượt hẳn, khó vượt qua, khó vượt bứt. Các sự việc lạc thú ở hiện hữu ấy là khó giải thoát nghĩa là như vậy.
Chúng sanh khó được giải thoát khỏi sự việc ấy nghĩa là thế nào? Chúng sanh là khó được giải thoát khỏi cảm thọ lạc, khó được giải thoát khỏi sự việc được ước muốn, khó được giải thoát khỏi tuổi trẻ, khó được giải thoát khỏi sức khỏe, khó được giải thoát khỏi mạng sống, khó được giải thoát khỏi lợi lộc, khó được giải thoát khỏi danh tiếng, khó được giải thoát khỏi lời khen, khó được giải thoát khỏi hạnh phúc, khó được giải thoát khỏi các sắc hợp ý, khó được giải thoát khỏi các thinh - các hương - các vị - các xúc hợp ý, khó được giải thoát khỏi sự thỏa mãn của mắt, khó được giải thoát khỏi sự thỏa mãn của tai - mũi - lưỡi - thân - ý, khó được phóng thích, khó nâng lên, khó nâng bổng, khó nhấc lên, khó nhấc bổng, khó tháo gỡ, khó tháo bỏ, khó vượt lên, khó vượt hẳn, khó vượt qua, khó vượt bứt. Chúng sanh khó được giải thoát khỏi sự việc ấy nghĩa là như vậy.
Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát : Những kẻ ấy, tự thân đã bị lún ở bãi lầy, không thể nâng lên kẻ khác đã bị lún ở bãi lầy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này Cunda, thật vậy kẻ ấy, tự thân đã bị lún ở bãi lầy, sẽ nâng lên kẻ khác đã bị lún ở bãi lầy, sự kiện này không thể có được. Này Cunda, thật vậy kẻ ấy, tự thân không được thuần phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn tịch diệt, sẽ thuần phục, sẽ huấn luyện, sẽ giúp cho kẻ khác hoàn toàn tịch diệt, sự kiện này không thể có được.” ‘Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ còn là như vậy. Hoặc là, không có kẻ nào khác là người giúp cho giải thoát. Nếu họ có thể giải thoát, thì có thể giải thoát bằng sức mạnh của mình, bằng năng lực của mình, bằng tinh tấn của mình, bằng nỗ lực của mình, bằng sức mạnh con người của mình, bằng năng lực con người của mình, bằng tinh tấn con người của mình, bằng nỗ lực con người của mình, trong khi tự thân thực hành sự thực hành đúng đắn, sự thực hành phù hợp, sự thực hành không trái ngược, sự thực hành đưa đến lợi ích, sự thực hành đúng pháp và thuận pháp.’ ‘Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
1. “ Này Dhotaka, Ta sẽ không có khả năng trong việc giải thoát
cho kẻ nào ở thế gian có nỗi hoài nghi.
Nhưng trong khi biết rõ Giáo Pháp tối thượng,
như vậy ngươi có thể vượt qua dòng lũ này .”
‘Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
2. “ Việc ác đã được làm bởi chính bản thân, trở thành ô nhiễm bởi bản thân.
Việc ác đã không được làm bởi bản thân, trở thành trong sạch bởi chính bản thân.
Trong sạch (hay) không trong sạch liên quan đến cá nhân, không ai có thể làm cho người khác trở thành trong sạch .” ‘Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này Bà-la-môn, tương tợ y như thế, Niết Bàn quả là có thật, con đường đưa đến Niết Bàn là có thật, ta là người chỉ dẫn là có thật, và hơn nữa các đệ tử của ta, trong khi được ta giáo huấn như vậy, trong khi được chỉ dạy như vậy, một số đệ tử đạt đến mục đích tối hậu là Niết Bàn, một số không đạt đến. Này Bà-la-môn, ở đây ta làm được điều gì? Này Bà-la-môn, Như Lai là người chỉ đường. Đức Phật chỉ ra con đường. Chúng sanh, trong khi tự thân thực hành, thì có thể giải thoát.” ‘Đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ còn là như vậy. ‘Những kẻ ấy là khó giải thoát, đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát’ là thế ấy.
Đang mong ước về sau này hoặc luôn cả trước đây : Sau này được gọi là tương lai. Trước đây được gọi là quá khứ. Thêm nữa, so sánh với quá khứ, tương lai và hiện tại là sau này; so sánh với tương lai, quá khứ và hiện tại là trước đây.
Thế nào là tiến hành sự mong ước về trước đây? ‘Ta đã có sắc như vầy vào thời quá khứ, ’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy. ‘Ta đã có thọ như vầy —như trên— ‘Ta đã có tưởng như vầy —như trên— ‘Ta đã có hành như vầy —như trên— ‘Ta đã có thức như vầy vào thời quá khứ,’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy; như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về trước đây. Hoặc là - ‘Mắt của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các sắc đã là như vầy,’ thức bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái về điều ấy. Do trạng thái bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái của thức, rồi thích thú điều ấy. Trong khi thích thú về điều ấy, như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về trước đây. Hoặc là - ‘Tai của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các thinh đã là như vầy,’ —như trên— ‘Mũi của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các mùi đã là như vầy,’ —như trên— ‘Lưỡi của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các vị đã là như vầy,’ —như trên— ‘Thân của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các xúc đã là như vầy,’ —như trên— ‘Ý của ta đã là như vầy vào thời quá khứ, các pháp đã là như vầy,’ thức bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái về điều ấy. Do trạng thái bị trói buộc vào sự mong muốn và luyến ái của thức, rồi thích thú điều ấy. Trong khi thích thú về điều ấy, như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về trước đây. Hoặc là người ấy có các việc cười hớt, chuyện trò, đùa giỡn với người nữ lúc trước đây, rồi khoái cảm điều ấy, khao khát điều ấy, và do điều ấy đạt được sự vui lòng. Như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về trước đây.
Thế nào là tiến hành sự mong ước về sau này? ‘Ta sẽ có sắc như vầy vào thời vị lai,’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy. ‘Ta sẽ có thọ như vầy —như trên— ‘Ta sẽ có tưởng như vầy —như trên— ‘Ta sẽ có hành như vầy —như trên— ‘Ta sẽ có thức như vầy vào thời vị lai,’ rồi dẫn đến việc vui mừng về điều ấy; như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về sau này. Hoặc là - ‘Mắt của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các sắc sẽ là như vầy,’ rồi chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được. Do duyên chuyên chú của tâm, rồi thích thú điều ấy. Trong khi thích thú về điều ấy, như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về sau này. Hoặc là - ‘Tai của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các thinh sẽ là như vầy,’ —như trên— ‘Mũi của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các mùi sẽ là như vầy,’ —như trên— ‘Lưỡi của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các vị sẽ là như vầy,’ —như trên— ‘Thân của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các xúc sẽ là như vầy,’ —như trên— ‘Ý của ta sẽ là như vầy vào thời vị lai, các pháp sẽ là như vầy,’ rồi chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được. Do duyên chuyên chú của tâm, rồi thích thú điều ấy. Trong khi thích thú về điều ấy, như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về sau này. Hoặc là - ‘Với giới này, hay với phận sự này, hay với sự khắc khổ này, hay với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên Vương hoặc một Thiên nhân nào đó,’ rồi chuyên chú tâm vào việc đạt được điều chưa đạt được. Do duyên chuyên chú của tâm, rồi thích thú điều ấy. Trong khi thích thú về điều ấy, như vậy cũng là tiến hành sự mong ước về sau này; ‘đang mong ước về sau này hoặc luôn cả trước đây’ là thế ấy.
Đang tham muốn chính các dục này đây hoặc ngay trước đây - Chính các dục này đây : Trong khi ước muốn, trong khi ưng thuận, trong khi ước nguyện, trong khi tham muốn tột độ năm loại dục trong hiện tại. Đang tham muốn (các dục) ngay trước đây : Trong khi tham muốn, trong khi khởi tham muốn, trong khi tham muốn tột độ năm loại dục ở quá khứ; ‘đang tham muốn chính các dục này đây hoặc ngay trước đây’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Có ước muốn là căn nguyên, bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu,
đang mong ước về sau này hoặc luôn cả trước đây,
đang tham muốn chính các dục này đây hoặc ngay trước đây,
những kẻ ấy là khó giải thoát, đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát .”
Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm,
là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái.
Bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn:
‘Vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi đã chết từ nơi đây?
Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm - Các dục : theo sự phân hạng thì có hai loại dục: các vật dục và các ô nhiễm dục. —như trên— Các điều này được gọi là các vật dục. —như trên— Các điều này được gọi là các ô nhiễm dục. Thèm khát được gọi là tham ái, nghĩa là luyến ái, luyến ái mãnh liệt, —như trên— tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện. Bị luyến ái, bị thèm khát, bị cột trói, bị mê mẫn, bị gần gũi, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại ở ô nhiễm dục, ở các vật dục, ‘bị thèm khát ở các dục’ là thế ấy.
Bị đeo níu : Những kẻ nào tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các dục, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Những kẻ nào, do tác động của tham ái, tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Những kẻ nào, do tác động của tham ái, thọ nhận các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— thọ nhận các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Những kẻ nào, do tác động của tham ái, thọ hưởng các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— thọ hưởng các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Giống như người tạo ra sự cãi cọ thì bị đeo níu ở sự cãi cọ, người làm công việc thì bị đeo níu ở công việc, người đang sống ở nơi sinh sống thì bị đeo níu ở nơi sinh sống, người có thiền thì bị đeo níu bởi thiền, tương tợ như thế ấy những kẻ nào tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các dục, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục.
--Những kẻ nào, do tác động của tham ái, tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— tầm cầu, tim tòi, tìm kiếm các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Những kẻ nào, do tác động của tham ái, thọ nhận các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— thọ nhận các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục. Những kẻ nào, do tác động của tham ái, thọ hưởng các sắc —như trên— các thinh —như trên— các hương —như trên— các vị —như trên— thọ hưởng các xúc, rồi đi theo nó, phát triển theo nó, xem trọng nó, thiên về nó, chiều theo nó, xuôi theo nó, chú trọng nó, xem nó là chủ đạo, những kẻ ấy là bị đeo níu ở các dục.
Bị mê đắm : Phần nhiều chư Thiên và loài người mê mờ, mê đắm, mê muội, mê mệt, bị mê mờ, bị mê đắm, bị mê muội, bị mê mệt, bị vô minh làm mù, bị bao bọc, bị bao kín, bị bao trùm, bị che lại, bị che kín, bị đậy kín trong năm loại dục, ‘bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm’ là thế ấy.
Là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái - Những người thấp kém : ‘Những người đi xuống’ là những người thấp kém, những người bỏn xẻn được gọi là những người thấp kém, ‘những người không tiếp thu lời nói, lời giải thích, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của chư Phật, của chư Thinh Văn của đức Phật’ là những người thấp kém.
‘Những người đi xuống’ là những người thấp kém nghĩa là thế nào? ‘Những người đi xuống’ là những người đi đến địa ngục, [đi đến thai bào của loài thú,] đi đến cảnh giới ngạ quỷ, ‘những người đi xuống’ là những người thấp kém nghĩa là như vậy.
Những người bỏn xẻn được gọi là những người thấp kém nghĩa là thế nào? Có năm loại bỏn xẻn: bỏn xẻn về chỗ ở, bỏn xẻn về gia tộc, bỏn xẻn về lợi lộc, bỏn xẻn về danh tiếng, bỏn xẻn về Pháp; bỏn xẻ với hình thức như vầy là biểu hiện của bỏn xẻn, trạng thái của bỏn xẻn, sự hám lợi, keo kiệt, tính chất bủn xỉn, trạng thái nắm giữ của tâm, điều này được gọi là bỏn xẻn. Còn nữa, bỏn xẻn về uẩn cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về giới cũng là bỏn xẻn, bỏn xẻn về xứ cũng là bỏn xẻn, sự nắm lấy, điều này được gọi là bỏn xẻn. Do sự bỏn xẻn này, loài người bị xao lãng, không biết đến lời giảng huấn, ‘những người bỏn xẻn được gọi là những người thấp kém’ nghĩa là như vậy.
‘Những người không tiếp thu lời nói, lời giải thích, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của chư Phật, của chư Thinh Văn của đức Phật’ là những người thấp kém nghĩa là thế nào? ‘Những người không tiếp thu, không lắng nghe, không để tai, không lập tâm để hiểu lời nói, lời giải thích, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của chư Phật, của chư Thinh Văn của đức Phật, là những người không nghe theo, không làm theo lời dạy, có hành vi nghịch lại, quay mặt về hướng khác. ‘Những người không tiếp thu lời nói, lời giải thích, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của chư Phật, của chư Thinh Văn của đức Phật’ là những người thấp kém nghĩa là như vậy, ‘những người thấp kém’ là thế ấy.
Họ đã đi theo lối sai trái - Theo lối sai trái : Họ đã đi theo lối sai trái về thân nghiệp, đã đi theo lối sai trái về khẩu nghiệp, đã đi theo lối sai trái về ý nghiệp, đã đi theo lối sai trái về việc trộm cắp, đã đi theo lối sai trái về tà hạnh trong các dục, đã đi theo lối sai trái về việc nói dối, đã đi theo lối sai trái về việc nói đâm thọc, đã đi theo lối sai trái về việc nói độc ác, đã đi theo lối sai trái về việc nói nhảm nhí, đã đi theo lối sai trái về tham lam, đã đi theo lối sai trái về sân hận, đã đi theo lối sai trái về tà kiến, đã đi theo lối sai trái về các hành, đã đi theo lối sai trái về năm loại dục, đã đi theo lối sai trái về năm pháp che lấp, đã đi theo vào, đã thiết lập, đã bám vào, đã tiến vào, đã bám víu, đã chú trọng, máng vào, bị vướng vào, bị giữ lại, ‘là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái’ là thế ấy.
Bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn - Bị dẫn đến khổ đau : đã đi đến khổ đau, đã đạt đến khổ đau, đã tiến vào khổ đau, đã đi đến Ma Vương, đã đạt đến Ma Vương, đã tiến vào Ma Vương, đã đi đến sự chết, đã đạt đến sự chết, đã tiến vào sự chết. Họ than vãn : họ kể lể, lảm nhảm, sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, khóc nức nở, đi đến sự mê muội, ‘bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn’ là thế ấy.
Vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi đã chết từ nơi đây? nghĩa là sau khi chết từ nơi đây, chúng ta sẽ trở thành cái gì? Chúng ta sẽ trở thành người địa ngục? Sẽ trở thành hạng sanh vào thai bào của loài thú? Sẽ trở thành người ở cảnh giới ngạ quỷ? Sẽ trở thành loài người? Sẽ trở thành chư Thiên? Sẽ trở thành hữu hình? Sẽ trở thành vô hình? Sẽ trở thành hữu tưởng? Sẽ trở thành vô tưởng? Sẽ trở thành phi tưởng phi phi tưởng? Chúng ta sẽ hiện hữu trong thời vị lai? Sẽ không hiện hữu trong thời vị lai? Sẽ trở thành cái gì trong thời vị lai? Sẽ hiện hữu trong thời vị lai như thế nào? Sau khi trở thành cái gì rồi chúng ta sẽ trở thành cái gì trong thời vị lai? Họ bị rơi vào hoài nghi, bị rơi vào phân vân, bị sanh lên mâu thuẫn, họ kể lể, lảm nhảm, sầu muộn, mệt mỏi, than vãn, khóc nức nở, đi đến sự mê muội, ‘vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi đã chết từ nơi đây?’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm,
là những người thấp kém, họ đã đi theo lối sai trái.
Bị dẫn đến khổ đau, họ than vãn:
‘Vậy chúng ta sẽ trở thành cái gì sau khi đã chết từ nơi đây?
Chính vì điều ấy, con người ở ngay tại đây nên học tập
nên biết bất cứ điều gì là ‘sai trái’ ở thế gian,
không nên làm điều sai trái do nhân của điều ấy,
bởi vì các bậc sáng trí đã nói mạng sống này là ít ỏi .
Chính vì điều ấy, con người ở ngay tại đây nên học tập - Vì điều ấy : Vì điều ấy là bởi lý do ấy, bởi nhân ấy, bởi duyên ấy, bởi căn nguyên ấy, trong khi nhìn thấy điều bất lợi này ở các dục, ‘vì điều ấy’ là thế ấy. Nên học tập : Có ba sự học tập: học tập về tăng thượng giới, học tập về tăng thượng tâm, học tập về tăng thượng tuệ.
Cái gì là sự học tập về tăng thượng giới? Ở đây, vị tỳ khưu là vị có giới sống thu thúc trong sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha , thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học. Nhóm giới nhỏ, nhóm giới lớn, giới là nền tảng, phần khởi đầu, sự thực hành, sự chế ngự, sự thu thúc, sự mở đầu, sự dẫn đầu nhằm chứng đạt các thiện pháp. Điều này là tăng thượng giới.
Cái gì là sự học tập về tăng thượng tâm? Ở đây, vị tỳ khưu sau khi từ bỏ năm pháp che lấp này là các tùy phiền não của tâm làm tuệ trở nên yếu đuối, ngay sau khi tách ly các dục, tách ly các bất thiện pháp, đạt đến và trú thiền thứ nhất có tầm có tứ có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly; do sự vắng lặng của tầm và tứ, đạt đến và trú thiền thứ nhì có sự tĩnh lặng ở nội phần, có trạng thái chuyên nhất của tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc sanh lên do định; do sự không còn luyến ái ở hỷ, an trú xả, có niệm và có sự nhận biết rõ, và cảm nhận lạc bằng thân, đó là điều mà các bậc Thánh gọi là: ‘Có xả, có niệm, có sự trú vào lạc,’ đạt đến và trú thiền thứ ba; và do sự từ bỏ lạc, do sự từ bỏ khổ (ở thân), do sự biến mất của hỷ và ưu ở tâm (đã có) trước đây, đạt đến và trú thiền thứ tư có sự thanh tịnh của xả và niệm, không khổ không lạc. Điều này là tăng thượng tâm.
Cái gì là sự học tập về tăng thượng tuệ? Ở đây, vị tỳ khưu là vị có tuệ, thành tựu về tuệ dẫn đến sự sanh diệt, góp phần vào sự thấu triệt cao thượng, dẫn đến việc cạn kiệt hoàn toàn của khổ đau. Vị ấy nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận các lậu hoặc,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.’ Điều này là tăng thượng tuệ.
Đối với ba sự học tập này, vị đang nghĩ đến nên học tập, vị đang biết nên học tập, vị đang thấy nên học tập, vị đang quán xét lại nên học tập, vị đang phát nguyện nên học tập, vị đang thiên về đức tin nên học tập, vị đang ra sức tinh tấn nên học tập, vị đang thiết lập niệm nên học tập, vị đang tập trung tâm nên học tập, vị đang nhận biết bằng tuệ nên học tập, vị đang biết rõ các pháp cần được biết rõ nên học tập, vị đang biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện nên học tập, vị đang dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ nên học tập, vị đang tu tập các pháp cần được tu tập nên học tập, vị đang chứng ngộ các pháp cần được chứng ngộ nên học tập, nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, nên tiếp nhận và duy trì.
Ở tại đây : ở quan điểm này, ở sự chấp nhận này, ở sự ưa thích này, ở sự nắm giữ này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở giáo lý này, ở Phạm hạnh này, ở này, ở lời dạy của bậc Đạo Sư này, ở bản ngã này, ở thế giới loài người này, vì thế được gọi là ‘ở tại đây.’ Con người là chúng sanh, đàn ông, —như trên— nhân loại. ‘Chính vì điều ấy, con người ở ngay tại đây nên học tập’ là thế ấy.
Nên biết bất cứ điều gì là ‘sai trái’ ở thế gian - Bất cứ điều gì : tất cả theo mọi hình thức, tất cả theo mọi nơi, không thiếu sót, toàn thể, điều này là lối nói phóng đại. ‘Bất cứ điều gì’ là thế ấy. Nên biết là ‘sai trái’ : Nên biết thân nghiệp sai trái là ‘sai trái,’ nên biết khẩu nghiệp sai trái là ‘sai trái,’ nên biết ý nghiệp sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc giết hại mạng sống sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc trộm cắp sai trái là ‘sai trái,’ nên biết tà hạnh trong các dục sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc nói dối sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc nói đâm thọc sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc nói độc ác sai trái là ‘sai trái,’ nên biết việc nói nhảm nhí sai trái là ‘sai trái,’ nên biết tham lam sai trái là ‘sai trái,’ nên biết sân hận sai trái là ‘sai trái,’ nên biết tà kiến sai trái là ‘sai trái,’ nên biết các hành sai trái là ‘sai trái,’ nên biết năm loại dục sai trái là ‘sai trái,’ nên biết năm pháp che lấp sai trái là ‘sai trái,’ nên biết, nên hiểu biết, nên nhận thức, nên thừa nhận, nên thấu triệt. Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, —như trên— ở thế gian của các xứ. Nên biết bất cứ điều gì là ‘sai trái’ ở thế gian là thế ấy.
Không nên làm điều sai trái do nhân của điều ấy : Không nên làm điều sai trái do nhân của thân nghiệp sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của khẩu nghiệp sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của ý nghiệp sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc giết hại mạng sống sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc trộm cắp sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của tà hạnh trong các dục sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc nói dối sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc nói đâm thọc sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc nói độc ác sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của việc nói nhảm nhí sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của tham lam sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của sân hận sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của tà kiến sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của các hành sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của năm loại dục sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của năm pháp che lấp sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của ý định sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của ước nguyện sai trái, không nên làm điều sai trái do nhân của quyết tâm sai trái, không nên thực hành, không nên thực hành đúng đắn, không nên tiếp nhận và duy trì. ‘Không nên làm điều sai trái do nhân của điều ấy’ là thế ấy.
Bởi vì các bậc sáng trí đã nói mạng sống này là ít ỏi - Mạng sống : là tuổi thọ, sự tồn tại, sự nuôi sống, sự duy trì, sự di chuyển, sự duy trì, sự bảo hộ, mạng sống, mạng quyền. Thêm nữa, mạng sống là ít ỏi vì hai lý do: mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của sự tồn tại, hoặc là mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của phẩm chất. Mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của sự tồn tại nghĩa là thế nào? Người đã sống vào chập tâm ở quá khứ thì không thể ‘đang sống’ ở hiện tại, không thể ‘sẽ sống’ ở tương lai; người sẽ sống vào chập tâm ở tương lai thì không thể ‘đang sống’ ở hiện tại, không thể ‘đã sống’ ở quá khứ; người đang sống vào chập tâm ở hiện tại thì không thể ‘đã sống’ ở quá khứ, không thể ‘sẽ sống’ ở tương lai.
1. Mạng sống, bản ngã, và toàn bộ hạnh phúc và đau khổ được gắn liền với một (sát-na) tâm; và sát-na (tâm) trôi qua một cách nhanh chóng . [1]
[1] Đa phần các câu kệ ở đây được dịch dựa theo Chú Giải (ND).
2. Các vị Thiên nhân nào tồn tại 84.000 kiếp, tuy nhiên cũng không có trường hợp các vị ấy sinh tồn với hai tâm đã được kết hợp lại (trong cùng một sát-na, mà sinh tồn theo từng sát-na tâm một).
3. Các uẩn nào của người đã chết hoặc đang tồn tại ở thế gian này mà đã bị hoại diệt, hết thảy tất cả các uẩn ấy là tương tợ nhau, đã đi đến sự không thể kết hợp lại.
4. Và các uẩn đã bị tan rã liền trước đó, các uẩn sẽ bị tan rã ở tương lai, ở khoảng giữa của chúng và của các uẩn bị hoại diệt ở hiện tại, không có trạng thái không bằng nhau về tướng trạng.
5. Với uẩn chưa sanh khởi thì chưa được sanh ra. Con người sống với uẩn hiện tại. Do sự tan rã của tâm mà con người bị chết, là biểu hiện của ý nghĩa tuyệt đối.
6. Nước di chuyển đến các chỗ thấp như thế nào, thì con người bị thay đổi vì sự mong muốn như thế ấy. Các dòng chảy (của tâm) không bị đứt đoạn vận hành do duyên của sáu xứ.
7. Các uẩn không đi đến việc lưu trữ, chúng bị tan rã. Không có sự tích lũy của các uẩn ở tương lai. Chúng tồn tại ngay khi vừa được sanh lên, tương tự như hạt cải ở đầu mũi kim.
8. Và đối với các pháp đã được sanh lên, sự tan rã của chúng là ở phía trước. Các uẩn có trạng thái tiêu hoại, chúng tồn tại không bị trộn lẫn với các uẩn trước đó.
9. Chúng đi đến không được nhìn thấy, bị tan rã chúng ra đi không được nhìn thấy. Chúng sanh lên và diệt đi tựa như sự xuất hiện của tia chớp ở không trung .
Mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của sự tồn tại nghĩa là như vậy.
Mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của phẩm chất nghĩa là thế nào? Mạng sống được gắn liền với hơi thở vào, mạng sống được gắn liền với hơi thở ra, mạng sống được gắn liền với hơi thở vào và hơi thở ra, mạng sống được gắn liền với tứ đại, mạng sống được gắn liền với vật thực ăn uống, mạng sống được gắn liền với hơi nóng, mạng sống được gắn liền với thức, hơn nữa nguồn gốc của các pháp này là yếu ớt, nhân đầu tiên của các pháp này cũng là yếu ớt, các duyên (hỗ trợ) cũng là yếu ớt, các nguồn phát sanh cũng là yếu ớt, các pháp có cùng nguồn phát sanh với các pháp này cũng là yếu ớt, các pháp liên kết với các pháp này cũng là yếu ớt, các pháp đồng sanh của các pháp này cũng là yếu ớt, các pháp tiếp nối cũng là yếu ớt, các pháp này luôn yếu ớt giống như nhau, các pháp này không trụ lại cùng nhau, các pháp này tiêu hoại giống như nhau, không có sự bảo vệ giữa chúng với nhau, và các pháp này cũng không duy trì lẫn nhau, cái nào sản sinh ra (cái khác) thì nó không tồn tại nữa.
10. “ Và không có cái nào bị loại trừ bởi cái nào, bởi vì toàn bộ những cái này đều đạt đến sự tan rã. Do những cái trước mà những cái này được tạo ra, những cái là nguồn phát sanh trước đó rồi cũng bị chết đi, thậm chí những cái trước và luôn cả những cái sau không bao giờ nhìn thấy lẫn nhau .”
Mạng sống là ít ỏi vì tính chất ít ỏi của phẩm chất nghĩa là như vậy.
Thêm nữa, so sánh với mạng sống của chư Thiên ở Tứ Đại Thiên Vương thì loài người có mạng sống ngắn ngủi, có mạng sống ít ỏi, có mạng sống nhỏ nhoi, có mạng sống chút ít, có mạng sống đơn sơ, có mạng sống chóng qua, có mạng sống không lâu dài, có mạng sống không tồn tại lâu. So sánh với mạng sống của chư Thiên ở cõi Đạo Lợi —như trên— của chư Thiên ở cõi Dạ Ma —như trên— của chư Thiên ở cõi Đẩu Suất —như trên— của chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên —như trên— của chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại —như trên— của chư Thiên ở tập thể Phạm Thiên thì loài người có mạng sống ngắn ngủi, có mạng sống ít ỏi, có mạng sống nhỏ nhoi, có mạng sống chút ít, có mạng sống đơn sơ, có mạng sống chóng qua, có mạng sống không lâu dài, có mạng sống không tồn tại lâu.
Và điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, tuổi thọ này của loài người là ngắn ngủi, sẽ phải đi đến thế giới khác. Nên làm cho giác ngộ nhờ vào trí tuệ, nên làm việc thiện, nên thực hành Phạm hạnh. Đối với người đã được sanh ra không có sự không chết. Này các tỳ khưu, người sống lâu hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn một trăm năm.
11. Tuổi thọ của loài người là ngắn ngủi, người khôn ngoan nên xem thường điều ấy, nên thực hành như là người có cái đầu bị cháy rực. Việc không xảy đến cái chết là không có .
12. Ngày và đêm trôi qua, mạng sống tàn lụi dần. Tuổi thọ của những con người bị cạn kiệt, tựa như nước của những con rạch nhỏ .
Bởi vì các bậc sáng trí đã nói mạng sống này là ít ỏi - Các bậc sáng trí : ‘Có trí hiểu biết’ là các bậc sáng trí, ‘thành tựu trí hiểu biết’ là các bậc sáng trí, ‘nhờm gớm việc ác’ là các bậc sáng trí. Sáng trí được gọi là tuệ, là sự nhận biết, kiến thức, sự chọn lựa, sự khám phá, sự chọn lựa pháp, sự quan sát, sự suy xét, sự phân biệt, sự thông thái, sự thông thạo, sự khôn khéo, sự thông suốt, sự cân nhắc, sự có trí, sự rõ ràng, sự hiểu biết rộng rãi, pháp dẫn đầu, sự thấy rõ, sự tỉnh giác, vật xuyên thủng, tuệ là tuệ quyền, tuệ lực, tuệ là vũ khí, tuệ là lâu đài, tuệ là ánh sáng, tuệ là hào quang, tuệ là cây đèn, tuệ là báu vật, không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến, trạng thái thành tựu với tuệ ấy là sáng trí. Thêm nữa, sáng trí về uẩn, sáng trí về giới, sáng trí về xứ, sáng trí về tùy thuận duyên khởi, sáng trí về việc thiết lập niệm, sáng trí về chánh cần, [sáng trí về nền tảng của thần thông,] sáng trí về quyền, [sáng trí về lực,] sáng trí về chi phần đưa đến giác ngộ, sáng trí về Đạo, sáng trí về Quả, sáng trí về Niết Bàn.
Các bậc sáng trí ấy đã nói như vầy: ‘Loài người có mạng sống ngắn ngủi, có mạng sống ít ỏi, có mạng sống nhỏ nhoi, có mạng sống chút ít, có mạng sống đơn sơ, có mạng sống chóng qua, có mạng sống không lâu dài, có mạng sống không tồn tại lâu.’ Các vị đã nói như vậy, thuyết giảng như vậy, thốt ra như vậy, giảng giải như vậy, phát ngôn như vậy. Bởi vì các bậc sáng trí đã nói mạng sống này là ít ỏi’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Chính vì điều ấy, con người ở ngay tại đây nên học tập
nên biết bất cứ điều gì là ‘sai trái’ ở thế gian
không nên làm điều sai trái do nhân của điều ấy,
bởi vì các bậc sáng trí đã nói mạng sống này là ít ỏi .”
Ta nhìn thấy con người này, bị nhiễm tham ái trong các cõi, đang chao đảo ở thế gian. Những người thấp hèn, chưa xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu, rên rỉ ở cửa miệng Tử Thần .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Ta nhìn thấy con người này, bị nhiễm tham ái trong các cõi, đang chao đảo ở thế gian. Những người thấp hèn, chưa xa lìa tham ái ở hữu và phi hữu, rên rỉ ở cửa miệng Tử Thần .
Hãy nhìn xem những kẻ đang chao động ở trạng thái chấp là của tôi tựa như những con cá ở chỗ ít nước, ở dòng chảy bị cạn kiệt. Và sau khi nhìn thấy điều ấy, nên sống không chấp là của tôi, không tạo nên sự vướng bận ở các hữu .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Hãy nhìn xem những kẻ đang chao động ở trạng thái chấp là của tôi tựa như những con cá ở chỗ ít nước, ở dòng chảy bị cạn kiệt. Và sau khi nhìn thấy điều ấy, nên sống không chấp là của tôi, không tạo nên sự vướng bận ở các hữu .”
Nên dẹp bỏ sự mong muốn ở cả hai thái cực, sau khi biết toàn diện về xúc thì không còn thèm muốn, bản thân chê trách điều nào thì không làm điều ấy, người sáng trí không nhơ bẩn ở những điều đã được thấy đã được nghe .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nên dẹp bỏ sự mong muốn ở cả hai thái cực, sau khi biết toàn diện về xúc thì không còn thèm muốn, bản thân chê trách điều nào thì không làm điều ấy, người sáng trí không nhơ bẩn ở những điều đã được thấy đã được nghe .”
Sau khi biết toàn diện về tưởng, có thể băng qua dòng lũ,
bậc hiền trí không bị vấy bẩn ở các sự chấp giữ,
có mũi tên đã được lấy ra, không bị xao lãng trong khi hành xử,
không mong ước đời này và đời khác .
Sau khi biết toàn diện về tưởng, có thể băng qua dòng lũ - Tưởng : dục tưởng, hận tưởng, hại tưởng, xuất ly tưởng, vô hận tưởng, vô hại tưởng, sắc tưởng, thinh tưởng, khí tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng; sự nhận biết, sự tự nhận biết, trạng thái tự nhận biết có hình thức như thế được gọi là tưởng. Sau khi biết toàn diện về tưởng : Sau khi biết toàn diện về tưởng với ba trường hợp biết toàn diện: biết toàn diện về điều đã được biết, biết toàn diện về sự quyết đoán, biết toàn diện về sự dứt bỏ.
Biết toàn diện về điều đã được biết là những gì? Biết về tưởng. Biết rằng, thấy rằng: “Cái này là dục tưởng, cái này là hận tưởng, cái này là hại tưởng, cái này là xuất ly tưởng, cái này là vô hận tưởng, cái này là vô hại tưởng, cái này là sắc tưởng, cái này là thinh tưởng, cái này là khí tưởng, cái này là vị tưởng, cái này là xúc tưởng, cái này là pháp tưởng;” điều này là sự biết toàn diện về điều đã được biết.
Biết toàn diện về sự quyết đoán là những gì? Sau khi thực hiện điều đã được biết như thế, thì quyết đoán về tưởng, quyết đoán là vô thường, là khổ, là cơn bệnh, là mụt ghẻ, là mũi tên, là tai ương, là tật nguyền, là không sai khiến được, là tiêu hoại, là tai họa, là bất hạnh, là sợ hãi, là nguy hiểm, là thay đổi, là mảnh mai, —như trên— là nhân sanh khởi, là sự tiêu hoại, là sự khoái lạc, là sự bất lợi, là sự thoát ra; điều này là sự biết toàn diện về sự quyết đoán.
Biết toàn diện về sự dứt bỏ là những gì? Sau khi quyết đoán như vậy thì dứt bỏ, xua đi, làm chấm dứt, khiến cho không còn hiện hữu sự mong muốn và luyến ái ở tưởng.
Bởi vì, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, cái gì là sự mong muốn và luyến ái ở tưởng, các ngươi hãy dứt bỏ cái ấy. Như vậy tưởng ấy sẽ được dứt bỏ, có rễ được cắt lìa, như cây thốt nốt bị bứng gốc, khiến cho không còn hiện hữu, không còn điều kiện sanh khởi trong tương lai;” điều này là sự biết toàn diện về sự dứt bỏ.
Sau khi biết toàn diện về tưởng : Sau khi biết toàn diện về tưởng với ba trường hợp biết toàn diện. Có thể băng qua dòng lũ : có thể vượt, có thể vượt lên, có thể vượt hẳn, có thể vượt qua, có thể vượt bứt dòng lũ (ngũ) dục, dòng lũ của hữu, dòng lũ tà kiến, dòng lũ vô minh. ‘Sau khi biết toàn diện về tưởng, có thể băng qua dòng lũ’ là thế ấy.
Bậc hiền trí không bị vấy bẩn ở các sự chấp giữ - Các sự chấp giữ : có hai sự chấp giữ: sự chấp giữ do tham ái và sự chấp giữ do tà kiến. —như trên— Điều này là chấp giữ do tham ái. —như trên— Điều này là chấp giữ do tà kiến. Bậc hiền trí : bản thể hiền trí được gọi là trí, tức là tuệ, là sự nhận biết, —như trên— không si mê, sự chọn lựa pháp, chánh kiến, được thành tựu với trí ấy bậc hiền trí đạt đến bản thể hiền trí.
Ba hạnh của hiền trí: hiền trí hạnh về thân, hiền trí hạnh về khẩu, hiền trí hạnh về ý.
Hiền trí hạnh về thân là điều nào? Sự dứt bỏ ba loại ác hạnh về thân là hiền trí hạnh về thân, ba loại thiện hạnh về thân là hiền trí hạnh về thân, trí ở đối tượng thân là hiền trí hạnh về thân, sự biết toàn diện về thân là hiền trí hạnh về thân, Đạo đồng hành với sự biết toàn diện là hiền trí hạnh về thân, sự dứt bỏ mong muốn và luyến ái ở thân là hiền trí hạnh về thân, sự chứng đạt tứ thiền có sự diệt của thân hành là hiền trí hạnh về thân. Điều này là hiền trí hạnh về thân.
Hiền trí hạnh về khẩu là điều nào? Sự dứt bỏ bốn loại ác hạnh về khẩu là hiền trí hạnh về khẩu, bốn loại thiện hạnh về khẩu là hiền trí hạnh về khẩu, trí ở đối tượng khẩu là hiền trí hạnh về khẩu, sự biết toàn diện về khẩu là hiền trí hạnh về khẩu, Đạo đồng hành với sự biết toàn diện là hiền trí hạnh về khẩu, sự dứt bỏ mong muốn và luyến ái ở khẩu là hiền trí hạnh về khẩu, sự chứng đạt nhị thiền có sự diệt của khẩu hành là hiền trí hạnh về khẩu. Điều này là hiền trí hạnh về khẩu.
Hiền trí hạnh về ý là điều nào? Sự dứt bỏ ba loại ác hạnh về ý là hiền trí hạnh về ý, ba loại thiện hạnh về ý là hiền trí hạnh về ý, trí ở đối tượng tâm là hiền trí hạnh về ý, sự biết toàn diện về tâm là hiền trí hạnh về ý, Đạo đồng hành với sự biết toàn diện là hiền trí hạnh về ý, sự dứt bỏ mong muốn và luyến ái ở tâm là hiền trí hạnh về ý, sự chứng đạt diệt thọ tưởng có sự diệt của tâm hành là hiền trí hạnh về ý. Điều này là hiền trí hạnh về ý.
1. (Chư Phật) đã nói bậc hiền trí về thân, bậc hiền trí về khẩu, bậc hiền trí về ý, bậc không còn lậu hoặc,
bậc hiền trí thành tựu hiền trí hạnh là bậc có sự dứt bỏ tất cả .
2. (Chư Phật) đã nói bậc hiền trí về thân, bậc hiền trí về khẩu, bậc hiền trí về ý, bậc không còn lậu hoặc,
bậc hiền trí thành tựu hiền trí hạnh là bậc có điều ác đã được rửa sạch .
Được thành tựu ba pháp hiền trí hạnh này là sáu hạng hiền trí: các bậc hiền trí tại gia, các bậc hiền trí xuất gia, các bậc hiền trí Hữu Học, các bậc hiền trí Vô Học, các bậc hiền trí Độc Giác, các bậc hiền trí đích thực. Các bậc hiền trí tại gia là các hạng nào? Những người tại gia đã thấy Niết Bàn, đã nhận thức Giáo Pháp, là các bậc hiền trí tại gia. Các bậc hiền trí tại gia là các hạng nào? Những người xuất gia đã thấy Niết Bàn, đã nhận thức Giáo Pháp, là các bậc hiền trí xuất gia. Bảy hạng Hữu Học là các bậc hiền trí Hữu Học. Các vị A-la-hán là các bậc hiền trí Vô Học. Các vị Phật Độc Giác là các bậc hiền trí Độc Giác. Các đức Như Lai, A-la -hán, Chánh Đẳng Giác là các bậc hiền trí đích thực.
3. Kẻ có dáng vẻ khờ khạo, ngu dốt, dầu với trạng thái im lặng cũng không trở thành bậc hiền trí.
Nhưng người nào, tựa như người nắm lấy cái cân rồi chọn lấy vật quý giá, là người sáng trí .
4. Người lánh xa hẳn các điều ác, người ấy là bậc hiền trí, do việc ấy người ấy trở thành bậc hiền trí.
Người nào hiểu rõ cả hai thế giới, do việc ấy được gọi là bậc hiền trí.
5. Sau khi biết được pháp của những kẻ xấu và của những người tốt,
nội phần và ngoại phần, ở tất cả thế giới,
vị nào, được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại,
đã vượt qua sự ràng buộc và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí .
Nhơ bẩn - có hai sự nhơ bẩn: Nhơ bẩn do tham ái và nhơ bẩn do tà kiến. ―như trên― Điều này là nhơ bẩn do tham ái. ―như trên― Điều này là nhơ bẩn do tà kiến. Bậc hiền trí sau khi dứt bỏ nhơ bẩn do tham ái, sau khi xả bỏ nhơ bẩn do tà kiến, không nhơ bẩn ở các sự chấp giữ, không nhiễm bẩn, không vấy bẩn. Không bị nhơ bẩn, không bị nhiễm bẩn, không bị vấy bẩn, đã đi ra ngoài, đã được rời ra, đã được thoát khỏi, không bị ràng buộc, sống với tâm đã được làm trở thành không còn giới hạn. ‘Bậc hiền trí không bị vấy bẩn ở các sự chấp giữ’ là thế ấy.
Có mũi tên đã được lấy ra, không bị xao lãng trong khi hành xử - Mũi tên : Có bảy mũi tên: luyến ái là mũi tên, sân hận là mũi tên, si mê là mũi tên, ngã mạn là mũi tên, tà kiến là mũi tên, sầu muộn là mũi tên, ác hạnh là mũi tên. Đối với người nào những mũi tên này là được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được an tịnh, được yên lặng, không thể sanh khởi nữa, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, người ấy được gọi là có mũi tên đã được lấy lên, có mũi tên đã được lấy ra, có mũi tên đã được nhổ lên, có mũi tên đã được nhổ ra, có mũi tên đã được rút lên, có mũi tên đã được rút ra, có mũi tên đã được từ bỏ, có mũi tên đã được ói ra, có mũi tên đã được giải thoát, có mũi tên đã được dứt bỏ, có mũi tên đã được xả bỏ, không còn thèm khát, được tịch tịnh, có trạng thái mát lạnh, có sự nhận biết lạc, sống với trạng thái cao thượng tự thân. ‘Có mũi tên đã được lấy ra’ là thế ấy.
Trong khi hành xử : là đang hành xử, đang sống, đang cư xử, đang vận hành, đang bảo hộ, đang duy trì, đang nuôi dưỡng.
Không bị xao lãng : là có sự thực hành nghiêm trang, có sự thực hành liên tục, có sự thực hành không dừng lại, có thói quen không biếng nhác, không buông bỏ mong muốn, không buông bỏ bổn phận trong các thiện pháp. Trong trường hợp ấy, cái gì là sự mong muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chí, niệm, sự nhận biết rõ, sự năng nỗ, cần mẫn, quyết tâm, chuyên cần, không xao lãng trong các thiện pháp rằng: ‘Bằng cách nào ta có thể làm đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, hoặc bằng trí tuệ có thể bảo vệ giới uẩn đã được đầy đủ tại chỗ này chỗ này?’ ―như trên ― trong các thiện pháp rằng: ‘Bằng cách nào ta có thể làm đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, hoặc bằng trí tuệ có thể bảo vệ định uẩn đã được đầy đủ tại chỗ này chỗ này?’ Trong trường hợp ấy, cái gì là sự mong muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chí, niệm, sự nhận biết rõ, sự năng nỗ, cần mẫn, quyết tâm, chuyên cần, không xao lãng trong các thiện pháp rằng: ‘Bằng cách nào ta có thể làm đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ, ―như trên ― giải thoát uẩn ―như trên ― có thể làm đầy đủ tri kiến giải thoát uẩn chưa được đầy đủ, hoặc bằng trí tuệ có thể bảo vệ tri kiến giải thoát uẩn đã được đầy đủ tại chỗ này chỗ này?’ Trong trường hợp ấy, cái gì là sự mong muốn, tinh tấn, nỗ lực, gắng sức, không thối chí, niệm, sự nhận biết rõ, sự năng nỗ, cần mẫn, quyết tâm, chuyên cần, không xao lãng trong các thiện pháp rằng: ‘Bằng cách nào ta có thể biết toàn diện về Khổ chưa được biết toàn diện, hoặc có thể dứt bỏ Tập chưa được dứt bỏ, hoặc tu tập Đạo chưa được tu tập, hoặc chứng ngộ Diệt chưa được chứng ngộ?’ ‘Có mũi tên đã được lấy ra, không bị xao lãng trong khi hành xử’ là thế ấy.
Không mong ước đời này và đời khác - Không mong ước đời này tức là bản ngã của bản thân, không mong ước đời khác tức là bản ngã ở đời khác, không mong ước đời này tức là sắc thọ tưởng hành thức của bản thân, không mong ước đời khác tức là sắc thọ tưởng hành thức ở đời khác, không mong ước đời này tức là sáu nội xứ, không mong ước đời khác tức là sáu ngoại xứ, không mong ước đời này tức là thế giới loài người, không mong ước đời khác tức là thế giới chư Thiên, không mong ước đời này tức là dục giới, không mong ước đời khác tức là sắc giới, vô sắc giới, không mong ước đời này tức là dục giới, sắc giới, không mong ước đời khác tức là vô sắc giới, không mong ước, không ước muốn, không ưng thuận, không ước nguyện, không mong cầu, không quá tham muốn cảnh giới tái sinh, sự tái sinh, sự nối liền tái sanh, sự hiện hữu, sự luân hồi, hoặc sự xoay vòng. ‘Không mong ước đời này và đời khác’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi biết toàn diện về tưởng, có thể băng qua dòng lũ,
bậc hiền trí không bị vấy bẩn ở các sự chấp giữ,
có mũi tên đã được lấy ra, không bị xao lãng trong khi hành xử,
không mong ước đời này và đời khác .”
Diễn Giải Kinh Nhóm Tám về Hang là thứ nhì .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Satto guhāyaṃ bahunābhichannoti. Sattoti hi kho vuttaṃ, api ca guhā tāva vattabbā. Guhā vuccati kāyo. Kāyoti vā guhāti vā dehoti vā sandehoti vā nāvāti vā rathoti vā dhajoti vā vammikoti vā nagaranti vā niḍḍanti vā kuṭīti vā gaṇḍoti vā kumbhoti vā nāgoti vā kāyassetaṃ adhivacanaṃ. Satto guhāyanti guhāyaṃ satto visatto āsatto laggo laggito palibuddho. Yathā bhittikhile vā nāgadante vā gaṇḍaṃ sattaṃ visattaṃ āsattaṃ laggaṃ laggitaṃ palibuddhaṃ; evameva guhāyaṃ satto visatto āsatto laggo laggito palibuddho. Vuttañhetaṃ bhagavatā –
Regarding 'Attached in the cave, covered by many.' Although 'attached' is mentioned, 'cave' will be explained first. The cave is called the body. 'Body,' or 'cave,' 'form,' 'accumulation,' 'boat,' 'chariot,' 'banner,' 'anthill,' 'city,' 'nest,' 'hut,' 'boil,' 'pot,' or 'Nāga'—these are designations for the body. 'Attached in the cave' means: in the cave one is attached, especially attached, clinging, stuck, fastened, and entangled. Just as on a wall-peg or an elephant's tusk a boil is attached, especially attached, clinging, stuck, fastened, and entangled; even so, in the cave one is attached, especially attached, clinging, stuck, fastened, and entangled. And this was said by the Blessed One:
(Về câu) “Bị dính mắc trong hang động, bị bao phủ bởi nhiều (phiền não)”: Lẽ ra chỉ cần nói “bị dính mắc”, tuy nhiên, trước hết cần phải nói về “hang động”. “Hang động” được gọi là thân. “Thân” (kāyo), hay “hang động” (guhā), hay “thân thể” (deho), hay “tập hợp” (sandeho), hay “con thuyền” (nāvā), hay “cỗ xe” (ratho), hay “lá cờ” (dhajo), hay “tổ mối” (vammiko), hay “thành phố” (nagaraṃ), hay “tổ chim” (niḍḍaṃ), hay “cái lều” (kuṭi), hay “chỗ sưng” (gaṇḍo), hay “cái bình” (kumbho), hay “con rắn” (nāgo) – đây là những tên gọi khác của thân. “Bị dính mắc trong hang động” có nghĩa là: ở trong hang động, bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng víu, bị ràng buộc, bị trói buộc. Giống như ở trên cái chốt tường hay trên ngà voi, chỗ sưng bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng víu, bị ràng buộc, bị trói buộc; cũng vậy, ở trong hang động, bị dính mắc, bị đặc biệt dính mắc, bị bám chặt, bị vướng víu, bị ràng buộc, bị trói buộc. Điều này đã được đức Thế Tôn dạy rằng:
‘‘Rūpe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tatra satto tatra visatto; tasmā sattoti vuccati. Vedanāya kho, rādha…pe… saññāya kho, rādha… saṅkhāresu kho, rādha… viññāṇe kho, rādha, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā, tatra satto tatra visatto; tasmā sattoti vuccati. Sattoti lagganādhivacana’’nti – satto guhāyaṃ. Bahunābhichannoti bahukehi kilesehi channo, rāgena channo dosena channo mohena channo kodhena channo upanāhena channo makkhena channo paḷāsena channo issāya channo macchariyena channo māyāya channo sāṭheyyena channo thambhena channo sārambhena channo mānena channo atimānena channo madena channo pamādena channo. Sabbakilesehi sabbaduccaritehi sabbadarathehi sabbapariḷāhehi sabbasantāpehi sabbākusalābhisaṅkhārehi channo vichanno ucchanno āvuto nivuto ovuto † pihito paṭicchanno paṭikujjitoti – satto guhāyaṃ bahunābhichanno.
“Rādha, whatever desire, whatever passion, whatever delight, whatever craving, whatever attachments and clingings, resolutions, adherences, and underlying tendencies of the mind there are for form—one is attached there, one is especially attached there. Therefore, one is called a ‘being.’ Rādha, for feeling… for perception… for formations… Rādha, whatever desire, whatever passion, whatever delight, whatever craving, whatever attachments and clingings, resolutions, adherences, and underlying tendencies of the mind there are for consciousness—one is attached there, one is especially attached there. Therefore, one is called a ‘being.’ ‘Being’ is a term for being especially attached.” Thus, ‘attached in the cave.’ ‘Covered by many’ means covered by many defilements: covered by lust, covered by hatred, covered by delusion, covered by anger, covered by enmity, covered by contempt, covered by spite, covered by envy, covered by stinginess, covered by deceit, covered by craftiness, covered by obstinacy, covered by presumption, covered by conceit, covered by arrogance, covered by vanity, covered by negligence. Covered, especially covered, covered over, obstructed, shrouded, hindered, closed off, hidden, and turned upside down by all defilements, all misconducts, all vexations, all torments, all fevers, and all unwholesome volitional formations. Thus, ‘attached in the cave, covered by many.’
“Này Rādha, đối với sắc, phàm có dục, có tham, có hỷ, có ái, có những thiên chấp, cố chấp, và tùy miên của tâm, ở đó bị dính mắc, ở đó bị đặc biệt dính mắc; do đó được gọi là ‘chúng sanh’ (satto). Này Rādha, đối với thọ... (tương tự)... Này Rādha, đối với tưởng... Này Rādha, đối với các hành... Này Rādha, đối với thức, phàm có dục, có tham, có hỷ, có ái, có những thiên chấp, cố chấp, và tùy miên của tâm, ở đó bị dính mắc, ở đó bị đặc biệt dính mắc; do đó được gọi là ‘chúng sanh’ (satto). ‘Satto’ là tên gọi của sự dính mắc.” – (như vậy là nghĩa của) “bị dính mắc trong hang động”. (Về câu) “bị bao phủ bởi nhiều (phiền não)”: bị bao phủ bởi nhiều phiền não, bị bao phủ bởi tham, bị bao phủ bởi sân, bị bao phủ bởi si, bị bao phủ bởi phẫn nộ, bị bao phủ bởi oán hận, bị bao phủ bởi sự vô ơn, bị bao phủ bởi sự cạnh tranh, bị bao phủ bởi tật đố, bị bao phủ bởi bỏn xẻn, bị bao phủ bởi xảo trá, bị bao phủ bởi lừa lọc, bị bao phủ bởi sự cứng đầu, bị bao phủ bởi sự hiếu thắng, bị bao phủ bởi ngã mạn, bị bao phủ bởi quá mạn, bị bao phủ bởi say đắm, bị bao phủ bởi phóng dật. Bị bao phủ, bị đặc biệt bao phủ, bị che lấp, bị ngăn che, bị che đậy, bị bao bọc, bị đóng kín, bị che khuất, bị úp lại bởi tất cả phiền não, tất cả hành vi xấu, tất cả sự phiền muộn, tất cả sự nóng nảy, tất cả sự thiêu đốt, tất cả các hành bất thiện – (như vậy là nghĩa của) “bị dính mắc trong hang động, bị bao phủ bởi nhiều (phiền não)”.
Tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷhoti tiṭṭhanto naro ratto rāgavasena tiṭṭhati, duṭṭho dosavasena tiṭṭhati, mūḷho mohavasena tiṭṭhati, vinibaddho mānavasena tiṭṭhati, parāmaṭṭho diṭṭhivasena tiṭṭhati, vikkhepagato uddhaccavasena tiṭṭhati, aniṭṭhaṅgato vicikicchāvasena tiṭṭhati, thāmagato anusayavasena tiṭṭhati. Evampi tiṭṭhaṃ naro.
‘A person stands, immersed in delusion’: A person stands infatuated by the power of lust, corrupted by the power of hatred, deluded by the power of delusion, fettered by the power of conceit, wrongly grasping by the power of views, distracted by the power of restlessness, irresolute by the power of doubt, and firmly established by the power of underlying tendencies. In this way, too, ‘a person stands.’
(Về câu) “người đứng yên, chìm đắm trong si mê”: người đang đứng yên, người tham ái thì đứng yên do tham ái, người sân hận thì đứng yên do sân hận, người si mê thì đứng yên do si mê, người bị trói buộc thì đứng yên do ngã mạn, người chấp thủ sai lầm thì đứng yên do tà kiến, người có tâm tán loạn thì đứng yên do trạo cử, người không đi đến quyết định thì đứng yên do hoài nghi, người đã trở nên vững chắc thì đứng yên do tùy miên. “Người đứng yên” cũng có thể hiểu như vậy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Santi, bhikkhave, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā… manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhatī’’ti. Evampi tiṭṭhaṃ naro.
This was said by the Blessed One: “There are, bhikkhus, forms cognizable by the eye—desirable, agreeable, pleasant, delightful, endearing, connected with sensual desire, arousing passion. If a bhikkhu delights in them, welcomes them, and remains clinging to them... There are, bhikkhus, sounds cognizable by the ear... smells cognizable by the nose... tastes cognizable by the tongue... touches cognizable by the body... mental phenomena cognizable by the mind—desirable, agreeable, pleasant, delightful, endearing, connected with sensual desire, arousing passion. If a bhikkhu delights in them, welcomes them, and remains clinging to them...” In this way, too, ‘a person stands.’
Điều này đã được đức Thế Tôn dạy rằng: “Này các Tỳ khưu, có những sắc pháp do mắt nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ. Nếu vị Tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và dính mắc vào đó mà đứng yên. Này các Tỳ khưu, có những âm thanh do tai nhận biết... (tương tự)... có những hương do mũi nhận biết... có những vị do lưỡi nhận biết... có những vật xúc chạm do thân nhận biết... có những pháp do ý nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, đẹp đẽ, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ. Nếu vị Tỳ khưu hoan hỷ, tán dương, và dính mắc vào đó mà đứng yên.” “Người đứng yên” cũng có thể hiểu như vậy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘rūpūpayaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭhati, rūpārammaṇaṃ rūpapatiṭṭhaṃ nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjati. Vedanūpayaṃ vā, bhikkhave…pe… saññūpayaṃ… saṅkhārūpayaṃ vā, bhikkhave, viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭhati, saṅkhārārammaṇaṃ saṅkhārapatiṭṭhaṃ nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjatī’’ti. Evampi tiṭṭhaṃ naro.
This was said by the Blessed One: “Bhikkhus, when consciousness, resorting to form, is established, it stands; with form as its object, with form as its support, watered by delight, it attains growth, increase, and abundance. When consciousness, resorting to feeling… resorting to perception… resorting to mental formations, is established, it stands; with mental formations as its object, with mental formations as its support, watered by delight, it attains growth, increase, and abundance.” In this way also, ‘a person stands’.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, hoặc là thức đang an trú, an trú nương vào sắc, lấy sắc làm đối tượng, lấy sắc làm chỗ tựa, được tưới tẩm bởi hỷ, đi đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển. Này các tỳ khưu, hoặc là nương vào thọ ... ... nương vào tưởng ... Này các tỳ khưu, hoặc là thức đang an trú, an trú nương vào các hành, lấy các hành làm đối tượng, lấy các hành làm chỗ tựa, được tưới tẩm bởi hỷ, đi đến sự tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển.’ Theo cách này cũng là người đang đứng lại.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassāvakkanti. Yattha atthi nāmarūpassāvakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sarajaṃ saupāyāsanti vadāmī’’ti. Evampi tiṭṭhaṃ naro.
This too was said by the Blessed One: “Bhikkhus, if there is lust, if there is delight, if there is craving for the nutriment of physical food, consciousness is established there and grows. Where consciousness is established and grows, there is a descent of name-and-form. Where there is a descent of name-and-form, there is a growth of formations. Where there is a growth of formations, there is a future re-becoming and renewal of existence. Where there is a future re-becoming and renewal of existence, there is future birth, aging, and death. Where there is future birth, aging, and death, that, Bhikkhus, I say is with sorrow, with dust, and with despair.” In this way also, ‘a person stands’.
Điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái ở trong đoàn thực thì thức được an trú và tăng trưởng ở nơi ấy. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, có sự xuất hiện của danh-sắc ở nơi ấy. Nơi nào có sự xuất hiện của danh-sắc, có sự tăng trưởng của các hành ở nơi ấy. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, có sự tái sanh trong tương lai ở nơi ấy. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, có sanh, già, chết trong tương lai ở nơi ấy. Nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng điều ấy có sầu muộn, có bụi bặm, có não phiền.’ Theo cách này cũng là người đang đứng lại.
‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre…pe… manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre… viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassāvakkanti. Yattha atthi nāmarūpassāvakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sarajaṃ saupāyāsanti vadāmī’’ti. Evampi tiṭṭhaṃ naro.
“Bhikkhus, if for the nutriment that is contact… if for the nutriment that is mental volition… if for the nutriment that is consciousness, there is lust, there is delight, there is craving, consciousness is established there and grows. Where consciousness is established and grows, there is a descent of name-and-form. Where there is a descent of name-and-form, there is a growth of formations. Where there is a growth of formations, there is a future re-becoming and renewal of existence. Where there is a future re-becoming and renewal of existence, there is future birth, aging, and death. Where there is future birth, aging, and death, that, Bhikkhus, I say is with sorrow, with dust, and with despair.” In this way also, this is the meaning of ‘a person stands’.
‘Này các tỳ khưu, nếu có ở trong xúc thực ... ... Này các tỳ khưu, nếu có ở trong tư niệm thực ... Này các tỳ khưu, nếu có tham, có hỷ, có ái ở trong thức thực thì thức được an trú và tăng trưởng ở nơi ấy. Nơi nào thức được an trú và tăng trưởng, có sự xuất hiện của danh-sắc ở nơi ấy. Nơi nào có sự xuất hiện của danh-sắc, có sự tăng trưởng của các hành ở nơi ấy. Nơi nào có sự tăng trưởng của các hành, có sự tái sanh trong tương lai ở nơi ấy. Nơi nào có sự tái sanh trong tương lai, có sanh, già, chết trong tương lai ở nơi ấy. Nơi nào có sanh, già, chết trong tương lai, này các tỳ khưu, Ta nói rằng điều ấy có sầu muộn, có bụi bặm, có não phiền.’ Theo cách này cũng là người đang đứng lại.
Mohanasmiṃ pagāḷhoti. Mohanā vuccanti pañca kāmaguṇā. Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā; sotaviññeyyā saddā… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Kiṃ kāraṇā mohanā vuccanti pañca kāmaguṇā? Yebhuyyena devamanussā pañcasu kāmaguṇesu muyhanti sammuyhanti sampamuyhanti, mūḷhā sammūḷhā sampamūḷhā avijjāya andhīkatā āvutā nivutā ovutā pihitā paṭicchannā paṭikujjitā, taṃ kāraṇā mohanā vuccanti pañca kāmaguṇā. Mohanasmiṃ pagāḷhoti mohanasmiṃ pagāḷho ogāḷho ajjhogāḷho nimuggoti – tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho.
‘Immersed in delusion.’ The five cords of sensual pleasure are called ‘delusions.’ Forms cognizable by the eye that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual pleasure, and enticing; sounds cognizable by the ear… smells cognizable by the nose… tastes cognizable by the tongue… tangible objects cognizable by the body that are desirable, pleasing, agreeable, endearing, connected with sensual pleasure, and enticing. For what reason are the five cords of sensual pleasure called ‘delusions’? Because for the most part, gods and humans are deluded, utterly deluded, and completely deluded by the five cords of sensual pleasure; they are bewildered, utterly bewildered, and completely bewildered, blinded by ignorance, obstructed, hindered, enveloped, covered, concealed, and overturned. For that reason, the five cords of sensual pleasure are called ‘delusions.’ ‘Immersed in delusion’ means immersed, plunged, deeply plunged, and submerged in delusion. This is the meaning of: ‘a person stands, immersed in delusion.’
‘Bị chìm đắm trong si mê.’ Năm dục trưởng dưỡng được gọi là ‘si mê.’ Các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức là khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ; các âm thanh được nhận biết bởi nhĩ thức ... các hương được nhận biết bởi tỷ thức ... các vị được nhận biết bởi thiệt thức ... các vật xúc chạm được nhận biết bởi thân thức là khả ái, khả hỷ, khả lạc, có hình thức đáng yêu, liên hệ đến dục, có tính quyến rũ. Vì lý do gì năm dục trưởng dưỡng được gọi là ‘si mê’? Phần lớn chư thiên và nhân loại bị si mê, bị mê muội, bị mê đắm trong năm dục trưởng dưỡng; họ bị si mê, bị mê muội, bị mê đắm, bị làm cho mù quáng bởi vô minh, bị che đậy, bị ngăn che, bị bao phủ, bị đóng kín, bị che giấu, bị úp lại. Vì lý do ấy, năm dục trưởng dưỡng được gọi là ‘si mê.’ ‘Bị chìm đắm trong si mê’ có nghĩa là bị chìm đắm, bị nhấn chìm, bị lún sâu, bị ngập lụt trong si mê. – Người đang đứng lại, bị chìm đắm trong si mê.
Dūre vivekā hi tathāvidho soti. Vivekāti tayo vivekā – kāyaviveko, cittaviveko, upadhiviveko. Katamo kāyaviveko? Idha bhikkhu vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ rukkhamūlaṃ pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ palālapuñjaṃ. Kāyena vivitto viharati. So eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti. Ayaṃ kāyaviveko.
‘Far indeed from seclusion is such a one.’ ‘Seclusion’ refers to three kinds of seclusion: bodily seclusion, mental seclusion, and seclusion from the substrata of existence. What is bodily seclusion? Here, a bhikkhu resorts to a secluded lodging: a forest, the root of a tree, a mountain, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a woodland grove, an open space, or a heap of straw. He dwells secluded in body. He goes alone, stands alone, sits alone, makes his bed alone, enters the village for alms alone, returns alone, sits in solitude alone, and undertakes walking meditation alone. Alone he comports himself, dwells, carries on, maintains himself, sustains himself, and supports his life. This is bodily seclusion.
‘Vị ấy là người như thế, xa lìa các pháp viễn ly.’ ‘Viễn ly’ có ba loại viễn ly: thân viễn ly, tâm viễn ly, và sanh y viễn ly. Thế nào là thân viễn ly? Ở đây, vị tỳ khưu tìm đến chỗ ở thanh vắng: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang sâu, khe núi, nghĩa địa, vùng rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy sống viễn ly về thân. Vị ấy đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, đi vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi một mình ở nơi kín đáo, kinh hành một mình; vị ấy đi, sống, duy trì, tiếp tục, bảo tồn, nuôi mạng, tồn tại một mình. Đây là thân viễn ly.
Katamo cittaviveko? Paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa nīvaraṇehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pītiyā cittaṃ vivittaṃ hoti. Catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sukhadukkhehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti. Viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti. Ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti. Nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṃ vivittaṃ hoti. Sotāpannassa sakkāyadiṭṭhiyā vicikicchāya sīlabbataparāmāsā diṭṭhānusayā vicikicchānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Sakadāgāmissa oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Anāgāmissa anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Arahato rūpārūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā, tadekaṭṭhehi ca kilesehi bahiddhā ca sabbanimittehi cittaṃ vivittaṃ hoti. Ayaṃ cittaviveko.
What is mental seclusion? For one who has attained the first jhāna, the mind is secluded from the hindrances. For one who has attained the second jhāna, the mind is secluded from applied and sustained thought. For one who has attained the third jhāna, the mind is secluded from rapture. For one who has attained the fourth jhāna, the mind is secluded from pleasure and pain. For one who has attained the base of the infinity of space, the mind is secluded from the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity. For one who has attained the base of the infinity of consciousness, the mind is secluded from the perception of the base of the infinity of space. For one who has attained the base of nothingness, the mind is secluded from the perception of the base of the infinity of consciousness. For one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, the mind is secluded from the perception of the base of nothingness. For a stream-enterer, the mind is secluded from identity view, doubt, and grasping at precepts and practices, from the underlying tendency to views and the underlying tendency to doubt, and from the defilements associated with them. For a once-returner, the mind is secluded from the gross fetter of sensual lust and the fetter of aversion, from the gross underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to aversion, and from the defilements associated with them. For a non-returner, the mind is secluded from the subtle fetter of sensual lust and the fetter of aversion, from the subtle underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to aversion, and from the defilements associated with them. For an Arahant, the mind is secluded from lust for form and the formless, from conceit, restlessness, and ignorance, from the underlying tendency to conceit, the underlying tendency for existence, and the underlying tendency to ignorance, and from the defilements associated with them, and externally from all signs. This is mental seclusion.
Thế nào là tâm viễn ly? Đối với người đã chứng đắc sơ thiền, tâm được viễn ly khỏi các triền cái. Đối với người đã chứng đắc nhị thiền, tâm được viễn ly khỏi tầm và tứ. Đối với người đã chứng đắc tam thiền, tâm được viễn ly khỏi hỷ. Đối với người đã chứng đắc tứ thiền, tâm được viễn ly khỏi lạc và khổ. Đối với người đã chứng đắc Không vô biên xứ, tâm được viễn ly khỏi sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng sai biệt. Đối với người đã chứng đắc Thức vô biên xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng Không vô biên xứ. Đối với người đã chứng đắc Vô sở hữu xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng Thức vô biên xứ. Đối với người đã chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tâm được viễn ly khỏi tưởng Vô sở hữu xứ. Đối với bậc Nhập Lưu, tâm được viễn ly khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tùy miên tri kiến, và tùy miên hoài nghi, và khỏi các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc Nhất Lai, tâm được viễn ly khỏi kiết sử dục tham và kiết sử sân ở dạng thô, tùy miên dục tham và tùy miên sân ở dạng thô, và khỏi các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc Bất Lai, tâm được viễn ly khỏi kiết sử dục tham và kiết sử sân ở dạng vi tế, tùy miên dục tham và tùy miên sân ở dạng vi tế, và khỏi các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc A-la-hán, tâm được viễn ly khỏi tham ái đối với sắc và vô sắc, ngã mạn, trạo cử, vô minh, tùy miên ngã mạn, tùy miên hữu tham, tùy miên vô minh, và khỏi các phiền não cùng tồn tại với chúng, và khỏi tất cả các tướng bên ngoài. Đây là tâm viễn ly.
Katamo upadhiviveko? Upadhi vuccanti kilesā ca khandhā ca abhisaṅkhārā ca. Upadhiviveko vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Ayaṃ upadhiviveko. Kāyaviveko ca vivekaṭṭhakāyānaṃ † nekkhammābhiratānaṃ, cittaviveko ca parisuddhacittānaṃ paramavodānappattānaṃ, upadhiviveko ca nirūpadhīnaṃ puggalānaṃ visaṅkhāragatānaṃ.
What is seclusion from upadhi? Upadhi are called defilements, aggregates, and volitional formations. Seclusion from upadhi is called the Deathless, Nibbāna. It is the stilling of all formations, the relinquishing of all upadhi, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. This is seclusion from upadhi. Bodily seclusion is for those whose bodies are secluded and who delight in renunciation; mental seclusion is for those with purified minds who have attained supreme purity; and seclusion from upadhi is for those persons without upadhi who have attained the unconditioned.
Thế nào là viễn ly chấp thủ (upadhiviveko)? Chấp thủ (upadhi) được gọi là các phiền não, các uẩn, và các hành. Viễn ly chấp thủ được gọi là bất tử, là Níp-bàn. Sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt tận, Níp-bàn. Đây là viễn ly chấp thủ. Thân viễn ly có được đối với những vị có thân viễn ly, ưa thích sự xuất ly; tâm viễn ly có được đối với những vị có tâm thanh tịnh, đã đạt đến sự trong sạch tối thượng; viễn ly chấp thủ có được đối với những vị không còn chấp thủ, những bậc đã đạt đến vô hành.
Dūre vivekā hīti. Yo so evaṃ guhāyaṃ satto, evaṃ bahukehi kilesehi channo, evaṃ mohanasmiṃ pagāḷho, so kāyavivekāpi dūre, cittavivekāpi dūre, upadhivivekāpi dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā anāsanne vivekaṭṭhe †. Tathāvidhoti tādiso tassaṇṭhito tappakāro tappaṭibhāgo yo so mohanasmiṃ pagāḷhoti – dūre vivekā hi tathāvidho so.
‘Far indeed is seclusion for such a one.’ He who is thus attached in the cave of the body, thus covered by many defilements, thus immersed in sensual pleasures, is far from bodily seclusion, far from mental seclusion, and far from seclusion from upadhi—far, very far, exceedingly far; not near, not in the vicinity, not close, but established in remoteness. ‘Such a one’ means of such a kind, of such a state, of such a type, of such a portion—that is, he who is immersed in sensual pleasures; for such a one, seclusion is indeed far.
Thật xa cách sự viễn ly. Người nào bị dính mắc trong hang động (thân) như vậy, bị che lấp bởi nhiều phiền não như vậy, bị chìm đắm trong si mê như vậy, người ấy xa cách thân viễn ly, xa cách tâm viễn ly, xa cách viễn ly chấp thủ, rất xa, vô cùng xa, không gần, không kề cận, không ở gần, ở nơi xa cách. Người như vậy (tathāvidho) là người tương tự như thế, ở trong trạng thái như thế, có loại hình như thế, có phần như thế, là người chìm đắm trong si mê. – Thật xa cách sự viễn ly, người như vậy.
Ime vuccanti kilesakāmā. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke, khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Kāmā hi loke na hi suppahāyāti. Kāmā hi loke duppahāyā duccajjā duppariccajjā dunnimmadayā dunniveṭhayā dubbiniveṭhayā duttarā duppatarā dussamatikkamā dubbinivattāti – kāmā hi loke na hi suppahāyā.
These are called defilement-based sensual pleasures. ‘In the world’ means in the plane of misery, in the human world, in the deva world, in the world of aggregates, in the world of elements, in the world of sense bases. ‘For sensual pleasures in the world are not easily abandoned.’ For sensual pleasures in the world are hard to abandon, hard to relinquish, hard to give up completely, hard to be free from their intoxication, hard to escape from, hard to be freed from, hard to cross over, hard to traverse, hard to overcome, hard to turn back from—thus, ‘for sensual pleasures in the world are not easily abandoned.’
Những thứ này được gọi là dục phiền não. Trong đời (loke) là: trong cõi khổ, trong cõi người, trong cõi trời; trong uẩn giới, trong giới, trong xứ. Bởi vì các dục ở đời thật khó từ bỏ. Các dục ở đời thật khó từ bỏ, khó xả ly, khó đoạn tuyệt, khó trừ bỏ sự say đắm, khó thoát ra, khó gỡ ra, khó vượt qua, khó đi qua, khó vượt lên, khó thoát khỏi. – Bởi vì các dục ở đời thật khó từ bỏ.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Vì thế, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Satto guhāyaṃ bahunābhichanno, tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho;
Dūre vivekā hi tathāvidho so, kāmā hi loke na hi suppahāyā’’ti.
“A being attached in a cave, thickly covered, a person stands, deeply immersed in delusion; far indeed is seclusion for such a one, for sensual pleasures in the world are not easily abandoned.”
Người bị dính mắc trong hang động, bị che lấp bởi nhiều thứ, đứng chìm đắm trong si mê; người như vậy thật xa cách sự viễn ly, bởi vì các dục ở đời thật khó từ bỏ.
8.
8.
8.
Icchānidānā bhavasātabaddhā, te duppamuñcā na hi aññamokkhā;
Pacchā pure vāpi apekkhamānā, ime va kāme purime va jappaṃ.
Rooted in desire, bound by delight in existence, they are hard to release, for they are not liberated by any other means; longing for the future or the past, they crave these very sensual pleasures or former ones.
Do ái dục làm nhân, bị trói buộc vào khoái lạc trong các cõi hữu, họ khó được giải thoát, thật không thể giải thoát bằng cách khác; họ mong mỏi các dục trong tương lai hoặc quá khứ, khao khát chính những dục này hoặc những dục trước đây.
Icchānidānā bhavasātabaddhāti. Icchā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo anunayo anurodho nandī nandirāgo, cittassa sārāgo icchā mucchā ajjhosānaṃ gedho paligedho saṅgo paṅko, ejā māyā janikā sañjananī sibbinī jālinī saritā visattikā, suttaṃ visaṭā āyūhinī dutiyā paṇidhi bhavanetti, vanaṃ vanatho sandhavo sneho apekkhā paṭibandhu, āsā āsīsanā āsīsitattaṃ, rūpāsā saddāsā gandhāsā rasāsā phoṭṭhabbāsā, lābhāsā dhanāsā puttāsā jīvitāsā, jappā pajappā abhijappā jappanā jappitattaṃ loluppaṃ loluppāyanā loluppāyitattaṃ pucchañchikatā sādhukamyatā, adhammarāgo visamalobho nikanti nikāmanā patthanā pihanā sampatthanā, kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā, rūpataṇhā arūpataṇhā nirodhataṇhā, rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā, ogho yogo gantho upādānaṃ āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ chadanaṃ bandhanaṃ, upakkileso anusayo pariyuṭṭhānaṃ latā vevicchaṃ, dukkhamūlaṃ dukkhanidānaṃ dukkhappabhavo mārapāso mārabaḷisaṃ māravisayo, taṇhānadī taṇhājālaṃ taṇhāgaddulaṃ taṇhāsamuddo abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Icchānidānāti icchānidānakā icchāhetukā icchāpaccayā icchākāraṇā icchāpabhavāti – icchānidānā.
Regarding ‘Rooted in desire, bound by the delight in existence’: Craving (taṇhā) is called desire (icchā). It is passion, intense passion, fondness, compliance, delight, delight in passion, intense passion of the mind, desire, infatuation, engulfing, greed, intense greed, attachment, mire, agitation, deceit, producer, progenitress, seamstress, that which has a net, that which flows, adhesiveness, thread, that which is spread out, striving, a companion, aspiration, the guide to existence, forest, thicket, fetter, affection, longing, bond, hope, wishing, the state of wishing, hope for forms, hope for sounds, hope for smells, hope for tastes, hope for tangibles, hope for gains, hope for wealth, hope for sons, hope for life, yearning, intense yearning, excessive yearning, the act of yearning, the state of having yearned, voracity, the act of being voracious, the state of being voracious, fickleness, desire for what is pleasant, unrighteous passion, inordinate greed, delight, longing, aspiration, yearning, great aspiration, craving for sensual pleasures, craving for existence, craving for non-existence, craving for form, craving for the formless, craving for cessation, craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tangibles, craving for mind-objects, the flood, the yoke, the bond, clinging, obstruction, hindrance, covering, bondage, defilement, underlying tendency, obsession, the creeper, desire for various things, the root of suffering, the source of suffering, the origin of suffering, Māra’s snare, Māra’s hook, Māra’s domain, the river of craving, the net of craving, the leash of craving, the ocean of craving, covetousness, greed, the unwholesome root. ‘Rooted in desire’ means: having desire as its source, having desire as its cause, having desire as its condition, having desire as its reason, having desire as its origin—this is ‘rooted in desire’.
Về câu 'Do ái dục làm nhân, bị trói buộc vào khoái lạc trong các cõi hữu'. Ái dục (icchā) được gọi là tham ái (taṇhā). Bất cứ sự tham ái, sự tham đắm mãnh liệt, sự chiều theo, sự thuận theo, sự hoan hỷ, sự tham ái trong hoan hỷ, sự tham đắm mãnh liệt của tâm, sự ước muốn, sự mê đắm, sự ngấu nghiến, sự tham lam, sự tham lam mãnh liệt, sự dính mắc, vũng lầy, sự rung động, sự lừa dối, sự sinh ra, sự tạo ra, người thợ may, người giăng lưới, dòng sông, sự bám víu, sợi chỉ, sự lan tràn, người lôi kéo, người bạn đồng hành, sự nguyện cầu, dây dẫn đến cõi hữu, rừng rậm, bụi rậm, sự trói buộc, sự quyến luyến, sự trông mong, mối ràng buộc, sự hy vọng, sự mong mỏi, trạng thái mong mỏi, hy vọng vào sắc, hy vọng vào thanh, hy vọng vào hương, hy vọng vào vị, hy vọng vào xúc, hy vọng vào lợi lộc, hy vọng vào của cải, hy vọng vào con cái, hy vọng vào mạng sống, sự thì thầm, sự lẩm bẩm, sự lầm bầm, sự thì thầm, trạng thái thì thầm, sự thèm thuồng, sự ham muốn, trạng thái ham muốn, sự run rẩy, sự khao khát điều tốt, tham ái phi pháp, tham lam không chừng mực, sự ưa thích, sự khao khát, sự mong cầu, sự ao ước, sự mong mỏi, ái dục, hữu ái, phi hữu ái, sắc ái, vô sắc ái, diệt ái, ái đối với sắc, ái đối với thanh, ái đối với hương, ái đối với vị, ái đối với xúc, ái đối với pháp, bộc lưu, ách, triền phược, thủ, chướng ngại, triền cái, sự che đậy, sự trói buộc, tùy phiền não, tùy miên, sự bao vây, dây leo, sự đa dạng, gốc rễ của khổ, nguyên nhân của khổ, nguồn gốc của khổ, cạm bẫy của Ma vương, lưỡi câu của Ma vương, cảnh giới của Ma vương, sông ái, lưới ái, cũi ái, biển ái, tham lam, tham, gốc rễ của bất thiện. 'Do ái dục làm nhân' nghĩa là: có ái dục làm nhân, có ái dục làm nguyên nhân, có ái dục làm duyên, có ái dục làm lý do, có ái dục làm nguồn gốc – đó là 'do ái dục làm nhân'.
Bhavasātabaddhāti. Ekaṃ bhavasātaṃ – sukhā vedanā. Dve bhavasātāni – sukhā ca vedanā iṭṭhañca vatthu. Tīṇi bhavasātāni – yobbaññaṃ, ārogyaṃ, jīvitaṃ. Cattāri bhavasātāni – lābho, yaso, pasaṃsā, sukhaṃ. Pañca bhavasātāni – manāpikā rūpā, manāpikā saddā, manāpikā gandhā, manāpikā rasā, manāpikā phoṭṭhabbā. Cha bhavasātāni – cakkhusampadā, sotasampadā, ghānasampadā, jivhāsampadā, kāyasampadā, manosampadā. Bhavasātabaddhā, sukhāya vedanāya sātabaddhā, iṭṭhasmiṃ vatthusmiṃ baddhā, yobbaññe baddhā, ārogye baddhā, jīvite baddhā, lābhe baddhā, yase baddhā, pasaṃsāyaṃ baddhā, sukhe baddhā, manāpikesu rūpesu baddhā, saddesu… gandhesu… rasesu… manāpikesu phoṭṭhabbesu baddhā, cakkhusampadāya baddhā, sotaghānajivhākāyamanosampadāya baddhā, vibaddhā ābaddhā laggā laggitā palibaddhāti – icchānidānā bhavasātabaddhā.
Bound to the delights of existence. One delight of existence is pleasant feeling. Two delights of existence are pleasant feeling and a desirable object. Three delights of existence are youth, health, and life. Four delights of existence are gain, retinue, praise, and happiness. Five delights of existence are agreeable forms, agreeable sounds, agreeable odors, agreeable tastes, and agreeable tangible objects. Six delights of existence are excellence of the eye, excellence of the ear, excellence of the nose, excellence of the tongue, excellence of the body, and excellence of the mind. Bound to the delights of existence: they are bound to pleasant feeling, bound to a desirable object, bound to youth, bound to health, bound to life, bound to gain, bound to retinue, bound to praise, bound to happiness, bound to agreeable forms, sounds, odors, tastes, and agreeable tangible objects, bound to the excellence of the eye, bound to the excellence of the ear, nose, tongue, body, and mind; they are fettered, shackled, attached, clinging, obstructed—this is being bound to the delights of existence, which is caused by craving.
Bị trói buộc vào những khoái lạc của sự hiện hữu. Một khoái lạc của sự hiện hữu – là lạc thọ. Hai khoái lạc của sự hiện hữu – là lạc thọ và đối tượng khả ái. Ba khoái lạc của sự hiện hữu – là tuổi trẻ, sức khỏe, mạng sống. Bốn khoái lạc của sự hiện hữu – là lợi lộc, danh tiếng, tán dương, an lạc. Năm khoái lạc của sự hiện hữu – là các sắc khả ý, các tiếng khả ý, các mùi khả ý, các vị khả ý, các vật xúc chạm khả ý. Sáu khoái lạc của sự hiện hữu – là sự toàn hảo của mắt, sự toàn hảo của tai, sự toàn hảo của mũi, sự toàn hảo của lưỡi, sự toàn hảo của thân, sự toàn hảo của ý. Bị trói buộc vào những khoái lạc của sự hiện hữu, bị trói buộc vào lạc thọ, bị trói buộc vào đối tượng khả ái, bị trói buộc vào tuổi trẻ, bị trói buộc vào sức khỏe, bị trói buộc vào mạng sống, bị trói buộc vào lợi lộc, bị trói buộc vào danh tiếng, bị trói buộc vào tán dương, bị trói buộc vào an lạc, bị trói buộc vào các sắc khả ý, các tiếng... các mùi... các vị... bị trói buộc vào các vật xúc chạm khả ý, bị trói buộc vào sự toàn hảo của mắt, bị trói buộc vào sự toàn hảo của tai, mũi, lưỡi, thân, ý; bị trói buộc nhiều cách, bị trói buộc chặt chẽ, bị dính mắc, bị bám víu, bị sa lầy – bị trói buộc vào những khoái lạc của sự hiện hữu có ái dục làm nhân duyên.
Te duppamuñcā na hi aññamokkhāti te vā bhavasātavatthū duppamuñcā, sattā vā etto dummocayā. Kathaṃ te bhavasātavatthū duppamuñcā? Sukhā vedanā duppamuñcā, iṭṭhaṃ vatthu duppamuñcaṃ, yobbaññaṃ duppamuñcaṃ, ārogyaṃ duppamuñcaṃ, jīvitaṃ duppamuñcaṃ, lābho duppamuñco, yaso duppamuñco, pasaṃsā duppamuñcā, sukhaṃ duppamuñcaṃ, manāpikā rūpā duppamuñcā, manāpikā saddā… gandhā… rasā… phoṭṭhabbā duppamuñcā, cakkhusampadā duppamuñcā, sotaghānajivhākāyamanosampadā duppamuñcā dummocayā duppamocayā dunniveṭhayā dubbiniveṭhayā, duttarā duppatarā dussamatikkamā dubbinivattā. Evaṃ te bhavasātavatthū duppamuñcā.
Regarding 'They are hard to release, for they are not freed by any other means': this means that either the bases for the delights of existence are hard to be released from, or beings are hard to be liberated from them. How are these bases for the delights of existence hard to be released from? Pleasant feeling is hard to be released from, a desirable object is hard to be released from, youth is hard to be released from, health is hard to be released from, life is hard to be released from, gain is hard to be released from, retinue is hard to be released from, praise is hard to be released from, happiness is hard to be released from, agreeable forms are hard to be released from, agreeable sounds, odors, tastes, and tangible objects are hard to be released from. The excellence of the eye is hard to be released from, the excellence of the ear, nose, tongue, body, and mind is hard to be released from; they are hard to be liberated from, very hard to be liberated from, hard to disentangle from, very hard to disentangle from, hard to cross over, very hard to cross over, hard to overcome, and hard to surmount. Thus, these bases for the delights of existence are hard to be released from.
Chúng khó được giải thoát, không có sự giải thoát nào khác. Hoặc là các đối tượng khoái lạc của sự hiện hữu ấy khó được giải thoát, hoặc là các chúng sanh khó được giải thoát khỏi chúng. Thế nào là các đối tượng khoái lạc của sự hiện hữu ấy khó được giải thoát? Lạc thọ khó được giải thoát, đối tượng khả ái khó được giải thoát, tuổi trẻ khó được giải thoát, sức khỏe khó được giải thoát, mạng sống khó được giải thoát, lợi lộc khó được giải thoát, danh tiếng khó được giải thoát, tán dương khó được giải thoát, an lạc khó được giải thoát, các sắc khả ý khó được giải thoát, các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm khả ý khó được giải thoát, sự toàn hảo của mắt khó được giải thoát, sự toàn hảo của tai, mũi, lưỡi, thân, ý khó được giải thoát; khó được buông bỏ, rất khó được buông bỏ, khó thoát ra, rất khó thoát ra, khó vượt qua, rất khó vượt qua, khó khắc phục, khó từ bỏ. Như vậy, các đối tượng khoái lạc của sự hiện hữu ấy khó được giải thoát.
Kathaṃ sattā etto dummocayā? Sukhāya vedanāya sattā dummocayā, iṭṭhasmā vatthusmā dummocayā, yobbaññā dummocayā, ārogyā dummocayā, jīvitā dummocayā, lābhā dummocayā, yasā dummocayā, pasaṃsāya dummocayā, sukhā dummocayā, manāpikehi rūpehi dummocayā, manāpikehi saddehi… gandhehi… rasehi… phoṭṭhabbehi dummocayā, cakkhusampadāya dummocayā, sotaghānajivhākāyamanosampadāya dummocayā duruddharā †, dussamuddharā dubbuṭṭhāpayā dussamuṭṭhāpayā dunniveṭhayā dubbiniveṭhayā duttarā duppatarā dussamatikkamā dubbinivattā. Evaṃ sattā etto dummocayāti – te duppamuñcā.
How are beings hard to free from this? Beings are hard to free from pleasant feeling, hard to free from desirable objects, hard to free from youth, hard to free from health, hard to free from life, hard to free from gain, hard to free from retinue, hard to free from praise, hard to free from happiness, hard to free from agreeable forms, hard to free from agreeable sounds, odors, tastes, and tangible objects, hard to free from the excellence of the eye, hard to free from the excellence of the ear, nose, tongue, body, and mind—difficult to draw out, difficult to uproot, difficult to raise up, difficult to lift up, difficult to unwind, difficult to untwist, difficult to cross, very difficult to cross, difficult to overcome, difficult to turn back from. Thus, beings are hard to free from this—they are hard to release.
Thế nào là các chúng sanh khó được giải thoát khỏi chúng? Các chúng sanh khó được giải thoát khỏi lạc thọ, khó được giải thoát khỏi đối tượng khả ái, khó được giải thoát khỏi tuổi trẻ, khó được giải thoát khỏi sức khỏe, khó được giải thoát khỏi mạng sống, khó được giải thoát khỏi lợi lộc, khó được giải thoát khỏi danh tiếng, khó được giải thoát khỏi tán dương, khó được giải thoát khỏi an lạc, khó được giải thoát khỏi các sắc khả ý, khó được giải thoát khỏi các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm khả ý, khó được giải thoát khỏi sự toàn hảo của mắt, khó được giải thoát khỏi sự toàn hảo của tai, mũi, lưỡi, thân, ý; khó được kéo ra, rất khó được kéo ra, khó đứng dậy, rất khó đứng dậy, khó thoát ra, rất khó thoát ra, khó vượt qua, rất khó vượt qua, khó khắc phục, khó từ bỏ. Như vậy, các chúng sanh khó được giải thoát khỏi chúng – chúng khó được giải thoát.
Na hi aññamokkhāti te attanā palipapalipannā na sakkonti paraṃ palipapalipannaṃ uddharituṃ. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘so vata, cunda, attanā palipapalipanno paraṃ palipapalipannaṃ uddharissatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjati. So vata, cunda, attanā adanto avinīto aparinibbuto paraṃ damessati vinessati parinibbāpessatīti netaṃ ṭhānaṃ vijjatī’’ti. Evampi na hi aññamokkhā.
There is no liberation by another. They, being mired themselves, are not able to pull out another who is mired. For this was said by the Blessed One: “It is impossible, Cunda, that one who is oneself mired should pull out another who is mired. It is impossible, Cunda, that one who is oneself untamed, undisciplined, and unquenched should tame, discipline, or quench another.” In this way also, there is no liberation by another.
Không có sự giải thoát nào khác có nghĩa là những người tự mình bị sa lầy trong vũng bùn thì không thể kéo người khác cũng bị sa lầy trong vũng bùn ra được. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này Cunda, thật vậy, người tự mình bị sa lầy trong vũng bùn mà có thể kéo người khác cũng bị sa lầy trong vũng bùn ra, trường hợp này không xảy ra. Này Cunda, thật vậy, người tự mình không được điều phục, không được rèn luyện, không được tịch tịnh mà có thể điều phục, rèn luyện, làm cho tịch tịnh người khác, trường hợp này không xảy ra.' Theo nghĩa này cũng là không có sự giải thoát nào khác.
Atha vā natthañño koci mocetā. Te yadi muñceyyuṃ, sakena thāmena sakena balena sakena vīriyena sakena parakkamena sakena purisathāmena sakena purisabalena sakena purisavīriyena sakena purisaparakkamena attanā sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ dhammānudhammapaṭipadaṃ paṭipajjamānā muñceyyunti. Evampi na hi aññamokkhā.
Alternatively, there is no other liberator. If they were to be liberated, it would be by their own steadfastness, their own strength, their own energy, their own effort, their own manly steadfastness, their own manly strength, their own manly energy, and their own manly effort—by practicing the right practice, the concordant practice, the unopposed practice, the practice in line with the meaning, the practice in conformity with the Dhamma, they would be liberated. In this way also, there is no liberation by another.
Hoặc là, không có ai khác là người giải thoát. Nếu họ có thể được giải thoát, là do họ thực hành con đường chân chánh, con đường thuận theo, con đường không đối nghịch, con đường phù hợp với ý nghĩa, con đường thuận theo Pháp và tùy Pháp, bằng chính sức lực của mình, bằng chính năng lực của mình, bằng chính sự tinh tấn của mình, bằng chính sự nỗ lực của mình, bằng chính sức lực của người nam, bằng chính năng lực của người nam, bằng chính sự tinh tấn của người nam, bằng chính sự nỗ lực của người nam, thì họ mới có thể được giải thoát. Theo nghĩa này cũng là không có sự giải thoát nào khác.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā –
And this was said by the Blessed One:
Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói:
‘‘Nāhaṃ sahissāmi pamocanāya, kathaṃkathiṃ dhotaka kiñci loke;
Dhammañca seṭṭhaṃ abhijānamāno, evaṃ tuvaṃ oghamimaṃ taresī’’ti.
“I am not able, Dhotaka, to bring about the release of anyone in the world who is in doubt. But by knowing the supreme Dhamma, you shall cross this flood.”
'Này Dhotaka, Ta không thể giải thoát cho bất cứ ai trong thế gian còn có sự nghi ngờ; Khi đã biết được Pháp tối thượng này, ngươi hãy tự mình vượt qua dòng bộc lưu này như vậy.'
Evampi na hi aññamokkhā.
In this way also, there is no liberation by another.
Theo nghĩa này cũng là không có sự giải thoát nào khác.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā –
And this was said by the Blessed One:
Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói:
‘‘Attanāva kataṃ pāpaṃ, attanā saṃkilissati;
Attanā akataṃ pāpaṃ, attanāva visujjhati;
Suddhī asuddhi paccattaṃ, nāñño aññaṃ visodhaye’’ti.
“By oneself is evil done; by oneself is one defiled. By oneself is evil not done; by oneself is one purified. Purity and impurity are personal matters; no one can purify another.”
'Tự mình làm điều ác, tự mình bị ô nhiễm; Tự mình không làm điều ác, tự mình được thanh tịnh; Thanh tịnh, ô nhiễm là việc riêng mỗi người, không ai có thể làm cho người khác thanh tịnh.'
Evampi na hi aññamokkhā.
In this way also, there is no liberation by another.
Theo nghĩa này cũng là không có sự giải thoát nào khác.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘evameva kho, brāhmaṇa, tiṭṭhateva nibbānaṃ, tiṭṭhati nibbānagāmimaggo, tiṭṭhāmahaṃ samādapetā. Atha ca pana mama sāvakā mayā evaṃ ovadiyamānā evaṃ anusāsiyamānā appekacce accantaniṭṭhaṃ nibbānaṃ ārādhenti, ekacce nārādhenti. Ettha kyāhaṃ, brāhmaṇa, karomi? Maggakkhāyī, brāhmaṇa, tathāgato. Maggaṃ buddho ācikkhati. Attanā paṭipajjamānā muñceyyu’’nti. Evampi na hi aññamokkhāti – te duppamuñcā na hi aññamokkhā.
And this was said by the Blessed One: ‘Just so, brahmin, Nibbāna exists, the path leading to Nibbāna exists, and I exist as one who encourages. And yet, when my disciples are thus advised and instructed by me, some attain the ultimate goal, Nibbāna, while some do not. In this matter, brahmin, what am I to do? The Tathāgata, brahmin, is one who points out the path. By practicing for themselves, they can be freed.’ In this way also, there is no liberation by another. They are hard to release; indeed, there is no liberation by another.
Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này Bà-la-môn, cũng vậy, Niết-bàn vẫn có đó, con đường đưa đến Niết-bàn vẫn có đó, và Ta là người chỉ dẫn vẫn có đó. Tuy nhiên, các đệ tử của Ta, được Ta khuyên dạy như vậy, được Ta chỉ bảo như vậy, một số đạt đến Niết-bàn, mục đích cuối cùng, một số không đạt đến. Này Bà-la-môn, ở đây Ta có thể làm gì? Này Bà-la-môn, Như Lai là người chỉ đường. Đức Phật chỉ ra con đường. Tự mình thực hành, họ mới có thể được giải thoát.' Theo nghĩa này cũng là không có sự giải thoát nào khác – chúng khó được giải thoát, không có sự giải thoát nào khác.
Pacchā pure vāpi apekkhamānāti. Pacchā vuccati anāgataṃ, pure vuccati atītaṃ. Api ca atītaṃ upādāya anāgatañca paccuppannañca pacchā, anāgataṃ upādāya atītañca paccuppannañca pure. Kathaṃ pure apekkhaṃ karoti? ‘‘Evaṃrūpo ahosiṃ atītamaddhāna’’nti tattha nandiṃ samannāneti. ‘‘Evaṃvedano ahosiṃ… evaṃsañño ahosiṃ… evaṃsaṅkhāro ahosiṃ… evaṃviññāṇo ahosiṃ atītamaddhāna’’nti tattha nandiṃ samannāneti. Evampi pure apekkhaṃ karoti.
Considering what is later or what was formerly. 'Later' refers to the future; 'formerly' refers to the past. Furthermore, with the past as a basis, the future and the present are 'later'; with the future as a basis, the past and the present are 'formerly'. How does one consider what was 'formerly'? Thinking, ‘I was of such a form in the past,’ one brings forth delight in that. Thinking, ‘I had such a feeling… such a perception… such formations… such a consciousness in the past,’ one brings forth delight in that. In this way, one considers what was 'formerly'.
Mong đợi về sau hay trước. 'Sau' được gọi là tương lai, 'trước' được gọi là quá khứ. Hơn nữa, dựa vào quá khứ thì tương lai và hiện tại là 'sau'; dựa vào tương lai thì quá khứ và hiện tại là 'trước'. Thế nào là mong đợi về 'trước'? 'Ta đã có sắc như vậy trong quá khứ,' người ấy mang lại sự hoan hỷ ở nơi đó. 'Ta đã có thọ như vậy... ta đã có tưởng như vậy... ta đã có các hành như vậy... ta đã có thức như vậy trong quá khứ,' người ấy mang lại sự hoan hỷ ở nơi đó. Theo nghĩa này cũng là mong đợi về 'trước'.
Atha vā ‘‘iti me cakkhu ahosi atītamaddhānaṃ, iti rūpā’’ti – tattha chandarāgapaṭibaddhaṃ hoti viññāṇaṃ. Chandarāgapaṭibaddhattā viññāṇassa tadabhinandati. Tadabhinandanto evampi pure apekkhaṃ karoti. ‘‘Iti me sotaṃ ahosi atītamaddhānaṃ, iti saddā’’ti…pe… ‘‘iti me ghānaṃ ahosi atītamaddhānaṃ, iti gandhā’’ti… ‘‘iti me jivhā ahosi atītamaddhānaṃ, iti rasā’’ti… ‘‘iti me kāyo ahosi atītamaddhānaṃ, iti phoṭṭhabbā’’ti… ‘‘iti me mano ahosi atītamaddhānaṃ, iti dhammā’’ti – tattha chandarāgapaṭibaddhaṃ hoti viññāṇaṃ. Chandarāgapaṭibaddhattā viññāṇassa tadabhinandati. Tadabhinandanto evampi pure apekkhaṃ karoti.
Or, ‘Thus was my eye-sensitivity in the past, thus were forms,’ and consciousness connected with desire and passion arises there. Because of the consciousness being connected with desire and passion, one delights in that. Delighting in that, one thus looks back to the past. ‘Thus was my ear-sensitivity in the past, thus were sounds…’ … ‘Thus was my nose-sensitivity in the past, thus were smells…’ ‘Thus was my tongue-sensitivity in the past, thus were tastes…’ ‘Thus was my body-sensitivity in the past, thus were tangible objects…’ ‘Thus was my mind in the past, thus were mental objects,’ and consciousness connected with desire and passion arises there. Because of the consciousness being connected with desire and passion, one delights in that. Delighting in that, one thus looks back to the past.
Hoặc là: ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, con mắt của ta đã là như thế này, các sắc (trần) đã là như thế này.’ – ở nơi đó, thức bị trói buộc bởi tham dục khởi sanh. Vì thức bị trói buộc bởi tham dục nên hoan hỷ điều ấy. Trong khi hoan hỷ điều ấy, người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về quá khứ như vậy. ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, tai của ta đã là như thế này, các tiếng đã là như thế này.’... cho đến... ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, mũi của ta đã là như thế này, các mùi đã là như thế này.’... ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, lưỡi của ta đã là như thế này, các vị đã là như thế này.’... ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, thân của ta đã là như thế này, các vật xúc chạm đã là như thế này.’... ‘Trong khoảng thời gian quá khứ, ý của ta đã là như thế này, các pháp (trần) đã là như thế này.’ – ở nơi đó, thức bị trói buộc bởi tham dục khởi sanh. Vì thức bị trói buộc bởi tham dục nên hoan hỷ điều ấy. Trong khi hoan hỷ điều ấy, người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về quá khứ như vậy.
Atha vā yānissa tāni pubbe mātugāmena saddhiṃ hasitalapitakīḷitāni tadassādeti taṃ nikāmeti, tena ca vittiṃ āpajjati. Evampi pure apekkhaṃ karoti.
Or, whatever laughter, talk, and play one had in the past with a woman, one relishes that, one desires that, and thereby one attains delight. In this way also, one looks back to the past.
Hoặc là, những sự cười giỡn, nói chuyện, vui đùa nào của người ấy trước kia cùng với người nữ, người ấy thưởng thức điều ấy, mong muốn điều ấy, và do đó đạt đến sự vui thích. Người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về quá khứ như vậy.
Kathaṃ pacchā apekkhaṃ karoti? ‘‘Evaṃrūpo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ samannāneti. ‘‘Evaṃvedano siyaṃ… evaṃsañño siyaṃ… evaṃsaṅkhāro siyaṃ… evaṃviññāṇo siyaṃ anāgatamaddhāna’’nti tattha nandiṃ samannāneti. Evampi pacchā apekkhaṃ karoti.
How does one look to the future? ‘May I be of such form in the future,’ and one brings about delight in that. ‘May I be of such feeling… such perception… such formations… such consciousness in the future,’ and one brings about delight in that. In this way, one looks to the future.
Người ấy tạo ra sự trông ngóng về tương lai như thế nào? ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai ta sẽ có sắc như thế này,’ ở nơi đó, người ấy mang lại sự hoan hỷ. ‘Mong rằng ta sẽ có thọ như thế này... mong rằng ta sẽ có tưởng như thế này... mong rằng ta sẽ có các hành như thế này... mong rằng trong khoảng thời gian vị lai ta sẽ có thức như thế này,’ ở nơi đó, người ấy mang lại sự hoan hỷ. Người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về tương lai như vậy.
Atha vā ‘‘iti me cakkhu siyā anāgatamaddhānaṃ, iti rūpā’’ti – appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ paṇidahati. Cetaso paṇidhānapaccayā tadabhinandati. Tadabhinandanto evampi pacchā apekkhaṃ karoti. ‘‘Iti me sotaṃ siyā anāgatamaddhānaṃ, iti saddā’’ti… ‘‘iti me ghānaṃ siyā anāgatamaddhānaṃ, iti gandhā’’ti… ‘‘iti me jivhā siyā anāgatamaddhānaṃ, iti rasā’’ti… ‘‘iti me kāyo siyā anāgatamaddhānaṃ, iti phoṭṭhabbā’’ti… ‘‘iti me mano siyā anāgatamaddhānaṃ, iti dhammā’’ti – appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ paṇidahati. Cetaso paṇidhānapaccayā tadabhinandati. Tadabhinandanto evampi pacchā apekkhaṃ karoti.
Or again, one directs one’s mind to gain what has not been gained, thinking: ‘May my eye be thus in the future, and forms thus.’ Because of the aspiration of the mind, one delights in that. Delighting in that, one also looks forward to the future. ‘May my ear be thus in the future, and sounds thus’… ‘May my nose be thus in the future, and smells thus’… ‘May my tongue be thus in the future, and tastes thus’… ‘May my body be thus in the future, and tangible objects thus’… ‘May my mind be thus in the future, and mental objects thus’—one directs one’s mind to gain what has not been gained. Because of the aspiration of the mind, one delights in that. Delighting in that, one also looks forward to the future.
Hoặc là: ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, con mắt của ta sẽ là như thế này, các sắc (trần) sẽ là như thế này.’ – người ấy hướng tâm để đạt được điều chưa đạt được. Do duyên hướng tâm, người ấy hoan hỷ điều ấy. Trong khi hoan hỷ điều ấy, người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về tương lai như vậy. ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, tai của ta sẽ là như thế này, các tiếng sẽ là như thế này.’... ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, mũi của ta sẽ là như thế này, các mùi sẽ là như thế này.’... ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, lưỡi của ta sẽ là như thế này, các vị sẽ là như thế này.’... ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, thân của ta sẽ là như thế này, các vật xúc chạm sẽ là như thế này.’... ‘Mong rằng trong khoảng thời gian vị lai, ý của ta sẽ là như thế này, các pháp (trần) sẽ là như thế này.’ – người ấy hướng tâm để đạt được điều chưa đạt được. Do duyên hướng tâm, người ấy hoan hỷ điều ấy. Trong khi hoan hỷ điều ấy, người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về tương lai như vậy.
Atha vā ‘‘imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’’ti – appaṭiladdhassa paṭilābhāya cittaṃ paṇidahati. Cetaso paṇidhānapaccayā tadabhinandati. Tadabhinandanto evampi pacchā apekkhaṃ karotīti – pacchā pure vāpi apekkhamānā.
Or again, one directs one’s mind to gain what has not been gained, thinking: ‘By this virtue, or observance, or austerity, or holy life, I shall become a god or some other god.’ Because of the aspiration of the mind, one delights in that. Delighting in that, one also in this way looks forward to the future. This is the meaning of the phrase ‘looking forward to the future or back to the past.’
Hoặc là: ‘Với giới này, hoặc với hạnh đầu đà này, hoặc với khổ hạnh này, hoặc với phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hoặc một vị trời nào khác.’ – người ấy hướng tâm để đạt được điều chưa đạt được. Do duyên hướng tâm, người ấy hoan hỷ điều ấy. Trong khi hoan hỷ điều ấy, người ấy cũng tạo ra sự trông ngóng về tương lai như vậy – (đây là ý nghĩa của) ‘trông ngóng về tương lai hoặc quá khứ’.
Ime va kāme purime va jappanti. Ime va kāmeti paccuppanne pañca kāmaguṇe icchantā sādiyantā patthayantā pihayantā abhijappantā. Purime va jappanti atīte pañca kāmaguṇe jappantā pajappantā abhijappantāti – ime va kāme purime va jappaṃ.
They praise these very sensual pleasures and those of the past. ‘These very sensual pleasures’ means desiring, enjoying, wishing for, longing for, and intensely praising the five present strands of sensual pleasure. ‘And those of the past they praise’ means praising, praising in detail, and intensely praising the five past strands of sensual pleasure. This is the meaning of the phrase ‘praising these very sensual pleasures and those of the past.’
Họ lẩm bẩm về chính những dục này và những dục trước kia. ‘Chính những dục này’ có nghĩa là mong muốn, chấp nhận, ao ước, khao khát, lẩm bẩm ca tụng năm dục trưởng dưỡng ở hiện tại. ‘Lẩm bẩm về những (dục) trước kia’ có nghĩa là lẩm bẩm, lẩm bẩm nhiều, lẩm bẩm đặc biệt về năm dục trưởng dưỡng trong quá khứ – (đây là ý nghĩa của) ‘họ lẩm bẩm về chính những dục này và những dục trước kia’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Icchānidānā bhavasātabaddhā, te duppamuñcā na hi aññamokkhā;
Pacchā pure vāpi apekkhamānā, ime va kāme purime va jappa’’nti.
“Rooted in craving, bound by delight in existence, they are hard to release, for there is no other deliverance. Looking forward to the future or back to the past, they praise these very sensual pleasures and those of the past.”
“Có ham muốn làm nhân, bị trói buộc vào sự vui thích trong các cõi hữu, họ khó được giải thoát, vì không có sự giải thoát nào khác; trông ngóng về tương lai hoặc quá khứ, họ lẩm bẩm về chính những dục này và những dục trước kia.”
9.
9.
9.
Kāmesu giddhā pasutā pamūḷhā, avadāniyā te visame niviṭṭhā;
Dukkhūpanītā paridevayanti, kiṃsū bhavissāma ito cutāse.
Greedy for sensual pleasures, devoted, deluded, and incorrigible, they are entrenched in the wrong path. Afflicted by suffering, they lament: “What shall we become after passing away from here?”
“Tham đắm trong các dục, chuyên tâm, si mê, họ là những người cứng đầu, an trú trong tà vạy; bị đau khổ áp bức, họ than khóc: ‘Sau khi chết từ đây, chúng ta sẽ ra sao?’”
Kāmesu giddhā pasutā pamūḷhāti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Kilesakāmena vatthukāmesu rattā giddhā gadhitā mucchitā ajjhosannā † laggā laggitā palibuddhāti – kāmesu giddhā.
‘Greedy for sensual pleasures, devoted, deluded.’ Sensual pleasures are twofold by way of enumeration: object-based sensual pleasures and defilement-based sensual pleasures… These are called object-based sensual pleasures… These are called defilement-based sensual pleasures. Greed is called craving. That which is passion, intense passion… covetousness, greed, the unwholesome root. Those who are enamored, greedy, obsessed, infatuated, engrossed, stuck, clinging, and ensnared in object-based sensual pleasures by means of defilement-based sensual pleasures—this is the meaning of ‘greedy for sensual pleasures.’
(Giải thích câu) ‘Tham đắm trong các dục, chuyên tâm, si mê’. Về ‘dục’, tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não... cho đến... những thứ này được gọi là dục đối tượng... cho đến... những thứ này được gọi là dục phiền não. Sự tham lam được gọi là ái dục. Tham, tham ái... cho đến... tham lam, tham, căn bất thiện. Do dục phiền não đối với các dục đối tượng mà bị nhiễm, tham đắm, khao khát, say mê, chìm đắm, dính mắc, bị trói buộc, bị ràng buộc – (đây là ý nghĩa của) ‘tham đắm trong các dục’.
Pasutāti yepi kāme esanti gavesanti pariyesanti, taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe esanti gavesanti pariyesanti… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe…pe… pariyesanti taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe paṭilabhanti… sadde… gandhe … rase… phoṭṭhabbe paṭilabhanti taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe paribhuñjanti … sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paribhuñjanti taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yathā kalahakārako kalahapasuto, kammakārako kammapasuto, gocare caranto gocarapasuto, jhāyī jhānapasuto; evameva yepi kāme esanti gavesati pariyesanti, taccaritā tabbahulā taggarukā tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe esanti gavesanti pariyesanti… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe…pe… pariyesanti taccaritā tabbahulā taggarukā tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe paṭilabhanti… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paṭilabhanti taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā. Yepi taṇhāvasena rūpe paribhuñjanti… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe paribhuñjanti taccaritā tabbahulā taggarukā, tanninnā tappoṇā tappabbhārā tadadhimuttā tadadhipateyyā, tepi kāmapasutā.
‘Devoted’: Those who seek, search, and pursue sensual pleasures, who are habituated to them, much given to them, esteeming them, inclined toward them, bent on them, wholly given over to them, intent upon them, and dominated by them—they too are devoted to sensual pleasures. Those who, driven by craving, seek, search, and pursue forms… sounds… smells… tastes… tangible objects… who are habituated to them, much given to them, esteeming them, inclined toward them, bent on them, wholly given over to them, intent upon them, and dominated by them—they too are devoted to sensual pleasures. Those who, driven by craving, obtain forms… sounds… smells… tastes… tangible objects… who are habituated to them, much given to them, esteeming them, inclined toward them, bent on them, wholly given over to them, intent upon them, and dominated by them—they too are devoted to sensual pleasures. Those who, driven by craving, indulge in forms… sounds… smells… tastes… tangible objects… who are habituated to them, much given to them, esteeming them, inclined toward them, bent on them, wholly given over to them, intent upon them, and dominated by them—they too are devoted to sensual pleasures. Just as one who makes quarrels is devoted to quarrels, one who does work is devoted to work, one who frequents a domain is devoted to that domain, and one who meditates is devoted to meditation; even so, those who seek, search, and pursue sensual pleasures, who are habituated to them, much given to them, esteeming them, inclined toward them, bent on them, wholly given over to them, intent upon them, and dominated by them—they too are devoted to sensual pleasures.
Chuyên chú (pasutā) là gì? Những ai mong muốn (esanti), tìm kiếm (gavesanti), truy cầu (pariyesanti) các dục; thực hành theo đó (taccaritā), làm cho nhiều (tabbahulā), tôn trọng điều đó (taggarukā), nghiêng về đó (tanninnā), xu hướng về đó (tappoṇā), chuyên chú vào đó (tappabbhārā), quyết tâm theo đó (tadadhimuttā), lấy đó làm chủ (tadadhipateyyā); những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục (kāmapasutā). Những ai do năng lực của ái dục mà mong muốn, tìm kiếm, truy cầu các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm... truy cầu, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Những ai do năng lực của ái dục mà đạt được (paṭilabhanti) các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... đạt được các vật xúc chạm, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Những ai do năng lực của ái dục mà hưởng thụ (paribhuñjanti) các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... hưởng thụ các vật xúc chạm, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Giống như người gây gổ thì chuyên chú việc gây gổ (kalahapasuto), người làm việc thì chuyên chú việc làm (kammapasuto), người đi trong cảnh giới thì chuyên chú cảnh giới (gocarapasuto), người thiền thì chuyên chú thiền (jhānapasuto); cũng vậy, những ai mong muốn, tìm kiếm, truy cầu các dục; thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Những ai do năng lực của ái dục mà mong muốn, tìm kiếm, truy cầu các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm... truy cầu, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Những ai do năng lực của ái dục mà đạt được các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... đạt được các vật xúc chạm, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục. Những ai do năng lực của ái dục mà hưởng thụ các sắc... các tiếng... các mùi... các vị... hưởng thụ các vật xúc chạm, thực hành theo đó, làm cho nhiều, tôn trọng điều đó, nghiêng về đó, xu hướng về đó, chuyên chú vào đó, quyết tâm theo đó, lấy đó làm chủ; những người ấy được gọi là chuyên chú trong các dục.
Pamūḷhāti yebhuyyena devamanussā pañcasu kāmaguṇesu muyhanti sammuyhanti sampamuyhanti mūḷhā sammūḷhā sampamūḷhā avijjāya andhīkatā āvutā nivutā ovutā pihitā paṭicchannā paṭikujjitāti – kāmesu giddhā pasutā pamūḷhā.
‘Deluded’: For the most part, gods and humans are deluded, utterly deluded, completely deluded in the five sensual pleasures; they are deluded, utterly deluded, completely deluded, blinded by ignorance, enveloped, wrapped, covered, obscured, concealed, and turned upside down. Thus, ‘greedy for sensual pleasures, devoted, and deluded.’
Si mê (pamūḷhā) là gì? Phần lớn chư thiên và loài người bị mê mờ (muyhanti), bị mê mờ hoàn toàn (sammuyhanti), bị mê mờ khắp cả (sampamuyhanti) trong năm dục công đức. Họ là những người si mê (mūḷhā), si mê hoàn toàn (sammūḷhā), si mê khắp cả (sampamūḷhā). Do vô minh (avijjāya), họ bị làm cho mù quáng (andhīkatā), bị che lấp (āvutā), bị ngăn che (nivutā), bị bao phủ (ovutā), bị đậy kín (pihitā), bị che giấu (paṭicchannā), bị úp xuống (paṭikujjitā). (Như vậy là ý nghĩa của) ‘tham đắm, chuyên chú, si mê trong các dục’.
Avadāniyā te visame niviṭṭhāti. Avadāniyāti avagacchantītipi avadāniyā, maccharinopi vuccanti avadāniyā, buddhānaṃ sāvakānaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusiṭṭhiṃ nādiyantīti – avadāniyā. Kathaṃ avagacchantīti avadāniyā? Nirayaṃ gacchanti, tiracchānayoniṃ gacchanti, pettivisayaṃ gacchantīti, evaṃ āgacchantīti – avadāniyā. Kathaṃ maccharino vuccanti avadāniyā? Pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ, kulamacchariyaṃ, lābhamacchariyaṃ, vaṇṇamacchariyaṃ, dhammamacchariyaṃ. Yaṃ evarūpaṃ macchariyaṃ maccharāyanā maccharāyitattaṃ vevicchaṃ kadariyaṃ kaṭukañcukatā aggahitattaṃ cittassa, idaṃ vuccati macchariyaṃ. Api ca, khandhamacchariyampi macchariyaṃ, dhātumacchariyampi macchariyaṃ, āyatanamacchariyampi macchariyaṃ gāho. Idaṃ vuccati macchariyaṃ. Iminā macchariyena avadaññutāya samannāgatā janā pamattā. Evaṃ maccharino vuccanti avadāniyā. Kathaṃ buddhānaṃ sāvakānaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusiṭṭhiṃ nādiyantīti – avadāniyā? Buddhānaṃ sāvakānaṃ vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusiṭṭhiṃ na ādiyanti na sussusanti, na sotaṃ odahanti, na aññā cittaṃ upaṭṭhapenti, anassavā avacanakarā paṭilomavuttino, aññeneva mukhaṃ karonti. Evaṃ buddhānaṃ sāvakānaṃ † vacanaṃ byappathaṃ desanaṃ anusiṭṭhiṃ nādiyantīti avadāniyāti – avadāniyā.
‘Those bound for decline, they are entrenched in the uneven.’ As for ‘bound for decline’ (avadāniyā): they are avadāniyā because they go downwards (avagacchanti); the miserly are also called avadāniyā; and they are avadāniyā because they do not accept the concise speech, the detailed speech, the teaching, and the instruction of the Buddhas and their disciples. How are they avadāniyā because they go downwards? They go to hell, they go to the animal realm, they go to the realm of ghosts; thus, because they go to these lower realms, they are called avadāniyā. How are the miserly called avadāniyā? There are five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings, stinginess regarding supporter families, stinginess regarding gains, stinginess regarding beauty, and stinginess regarding the Dhamma. Whatever stinginess of this sort—being miserly, the state of being a miser, avarice, ignobility, hard-heartedness, the mind’s lack of generosity—this is called stinginess. Furthermore, stinginess regarding the aggregates is also stinginess, stinginess regarding the elements is also stinginess, and stinginess regarding the sense bases is also a grasping. This is called stinginess. Heedless people are endowed with this stinginess and with not knowing the teaching. Thus, the miserly are called avadāniyā. How are they avadāniyā because they do not accept the concise speech, the detailed speech, the teaching, and the instruction of the Buddhas and their disciples? They do not accept, do not listen to, do not lend an ear to, and do not apply their minds to understanding the concise speech, the detailed speech, the teaching, and the instruction of the Buddhas and their disciples. They are unhearing, disobedient, acting contrarily; they simply turn their faces away. Thus, because they do not accept the concise speech, the detailed speech, the teaching, and the instruction of the Buddhas and their disciples, they are called avadāniyā.
‘Họ là những người không chấp nhận, đã an trú trong sự bất bình đẳng’ (avadāniyā te visame niviṭṭhā). ‘Không chấp nhận’ (avadāniyā) là gì? Họ là những người đi xuống (avagacchanti), vì thế được gọi là ‘avadāniyā’. Những người keo kiệt (maccharino) cũng được gọi là ‘avadāniyā’. Họ không chấp nhận (nādiyanti) lời nói (vacanaṃ), lời giải rộng (byappathaṃ), lời thuyết giảng (desanaṃ), lời giáo huấn (anusiṭṭhiṃ) của các vị Phật và các vị Thánh đệ tử, vì thế được gọi là ‘avadāniyā’. Thế nào là ‘họ là những người đi xuống’ nên được gọi là ‘avadāniyā’? Họ đi đến địa ngục (nirayaṃ), đi đến loài bàng sanh (tiracchānayoniṃ), đi đến cảnh giới ngạ quỷ (pettivisayaṃ); như vậy, họ đi xuống, vì thế được gọi là ‘avadāniyā’. Thế nào là ‘những người keo kiệt được gọi là avadāniyā’? Có năm sự keo kiệt: keo kiệt về trú xứ, keo kiệt về gia đình, keo kiệt về lợi lộc, keo kiệt về dung sắc, keo kiệt về Pháp. Bất cứ sự keo kiệt (macchariyaṃ), hành vi keo kiệt (maccharāyanā), bản chất keo kiệt (maccharāyitattaṃ), sự bủn xỉn (vevicchaṃ), sự bần tiện (kadariyaṃ), sự cau có khó chịu (kaṭukañcukatā), sự không rộng lượng của tâm (aggahitattaṃ cittassa) nào như vậy, đây được gọi là sự keo kiệt. Hơn nữa, sự keo kiệt về các uẩn cũng là keo kiệt, sự keo kiệt về các giới cũng là keo kiệt, sự keo kiệt về các xứ cũng là keo kiệt, là sự nắm giữ. Đây được gọi là sự keo kiệt. Những chúng sanh dể duôi này có sự keo kiệt và sự không biết điều thiện (avadaññutā). Như vậy, những người keo kiệt được gọi là ‘avadāniyā’. Thế nào là ‘họ không chấp nhận lời nói, lời giải rộng, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của các vị Phật và các vị Thánh đệ tử’ nên được gọi là ‘avadāniyā’? Họ không chấp nhận, không lắng nghe, không để tai nghe, không chú tâm để hiểu biết lời nói, lời giải rộng, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của các vị Phật và các vị Thánh đệ tử; họ là những người không nghe lời, không làm theo lời dạy, có hành vi chống đối, quay mặt đi nơi khác. Như vậy, ‘họ không chấp nhận lời nói, lời giải rộng, lời thuyết giảng, lời giáo huấn của các vị Phật và các vị Thánh đệ tử’ nên được gọi là ‘avadāniyā’.
Te visame niviṭṭhāti visame kāyakamme niviṭṭhā, visame vacīkamme niviṭṭhā, visame manokamme niviṭṭhā, visame pāṇātipāte niviṭṭhā, visame adinnādāne niviṭṭhā, visame kāmesumicchācāre niviṭṭhā, visame musāvāde niviṭṭhā, visamāya pisuṇāya vācāya niviṭṭhā, visamāya pharusāya vācāya… visame samphappalāpe… visamāya abhijjhāya niviṭṭhā, visame byāpāde… visamāya micchādiṭṭhiyā niviṭṭhā, visamesu saṅkhāresu niviṭṭhā, visamesu pañcasu kāmaguṇesu niviṭṭhā, visamesu pañcasu nīvaraṇesu niviṭṭhā viniviṭṭhā patiṭṭhitā allīnā upagatā ajjhositā adhimuttā laggā laggitā palibuddhāti – avadāniyā te visame niviṭṭhā.
‘They are entrenched in what is wrong’: They are entrenched in wrong bodily action, entrenched in wrong verbal action, and entrenched in wrong mental action. They are entrenched in killing living beings, which is wrong; entrenched in taking what is not given, which is wrong; entrenched in sexual misconduct, which is wrong; entrenched in false speech, which is wrong; entrenched in divisive speech, which is wrong; entrenched in harsh speech, which is wrong… entrenched in idle chatter, which is wrong… entrenched in covetousness, which is wrong; entrenched in ill will, which is wrong… entrenched in wrong view, which is wrong. They are entrenched in the five wrong strands of sensual pleasure and entrenched in the five wrong hindrances. They are thoroughly entrenched, established, clinging, become subject to, obsessed, resolved, stuck, fastened, and entangled. Thus: ‘Those bound for decline, they are entrenched in what is wrong.’
‘Họ đã an trú trong sự bất bình đẳng’ (te visame niviṭṭhā) là gì? Họ đã an trú (niviṭṭhā) trong thân nghiệp bất bình đẳng (visame kāyakamme), đã an trú trong khẩu nghiệp bất bình đẳng (visame vacīkamme), đã an trú trong ý nghiệp bất bình đẳng (visame manokamme). Họ đã an trú trong sự sát sanh bất bình đẳng, đã an trú trong sự trộm cắp bất bình đẳng, đã an trú trong sự tà dâm bất bình đẳng, đã an trú trong sự nói dối bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói đâm thọc bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói thô ác bất bình đẳng, đã an trú trong lời nói vô ích bất bình đẳng, đã an trú trong lòng tham lam bất bình đẳng, đã an trú trong lòng sân hận bất bình đẳng, đã an trú trong tà kiến bất bình đẳng. Họ đã an trú trong các hành bất bình đẳng (visamesu saṅkhāresu), đã an trú trong năm dục công đức bất bình đẳng, đã an trú trong năm triền cái bất bình đẳng. Họ đã hoàn toàn an trú (viniviṭṭhā), đã thiết lập (patiṭṭhitā), đã dính mắc (allīnā), đã đạt đến (upagatā), đã chấp thủ (ajjhositā), đã quyết tâm (adhimuttā), đã bám víu (laggā), đã dính chặt (laggitā), đã bị trói buộc (palibuddhā). (Như vậy là ý nghĩa của) ‘họ là những người không chấp nhận, đã an trú trong sự bất bình đẳng’.
Dukkhūpanītā paridevayantīti. Dukkhūpanītāti dukkhappattā dukkhasampattā dukkhūpagatā, mārappattā mārasampattā mārūpagatā, maraṇappattā maraṇasampattā maraṇūpagatā. Paridevayantīti lapanti lālapanti †, socanti kilamanti paridevanti urattāḷiṃ kandanti sammohaṃ āpajjantīti – dukkhūpanītā paridevayanti.
‘Afflicted by suffering, they lament.’ ‘Afflicted by suffering’ means they have reached suffering, attained suffering, become subject to suffering; they have reached Māra, attained Māra, become subject to Māra; they have reached death, attained death, become subject to death. ‘Lamenting’ means they wail, they wail aloud, they grieve, they are distressed, they lament, they cry while beating their breasts, and they fall into bewilderment. Thus, ‘afflicted by suffering, they lament.’
‘Bị khổ đau áp bức, họ than khóc’ (dukkhūpanītā paridevayanti). ‘Bị khổ đau áp bức’ (dukkhūpanītā) là gì? Là đã đạt đến khổ đau (dukkhappattā), đã hoàn toàn đạt đến khổ đau (dukkhasampattā), đã đi đến khổ đau (dukkhūpagatā); đã đạt đến ma (mārappattā), đã hoàn toàn đạt đến ma (mārasampattā), đã đi đến ma (mārūpagatā); đã đạt đến sự chết (maraṇappattā), đã hoàn toàn đạt đến sự chết (maraṇasampattā), đã đi đến sự chết (maraṇūpagatā). ‘Họ than khóc’ (paridevayanti) là gì? Họ than vãn (lapanti), than vãn thảm thiết (lālapanti), sầu muộn (socanti), mệt mỏi (kilamanti), than khóc (paridevanti), đấm ngực khóc lóc (urattāḷiṃ kandanti), rơi vào mê mờ (sammohaṃ āpajjanti). (Như vậy là ý nghĩa của) ‘bị khổ đau áp bức, họ than khóc’.
Kiṃsū bhavissāma ito cutāseti ito cutā kiṃ bhavissāma? Nerayikā bhavissāma, tiracchānayonikā bhavissāma, pettivisayikā bhavissāma, manussā bhavissāma, devā bhavissāma, rūpī bhavissāma, arūpī bhavissāma, saññī bhavissāma, asaññī bhavissāma, nevasaññīnāsaññī bhavissāma, ‘‘bhavissāma nu kho mayaṃ anāgatamaddhānaṃ, nanu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṃ, kiṃ nu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho bhavissāma anāgatamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ bhavissāma nu kho mayaṃ anāgatamaddhāna’’nti saṃsayapakkhandā vimatipakkhandā dveḷhakajātā lapanti lālapanti, socanti kilamanti paridevanti urattāḷiṃ kandanti sammohaṃ āpajjantīti – kiṃsū bhavissāma ito cutāse.
‘What shall we become after passing away from here?’ means: After passing away from here, what shall we become? Shall we become hell-beings? Shall we become animals? Shall we become petas? Shall we become humans? Shall we become devas? Shall we become beings with form? Shall we become formless beings? Shall we become beings with perception? Shall we become beings without perception? Shall we become beings with neither perception nor non-perception? ‘Shall we indeed exist in the future? Shall we indeed not exist in the future? What indeed shall we become in the future? In what way indeed shall we become in the future? Having become what king, what brahmin shall we indeed become in the future?’ Thus, having rushed into doubt, having fallen into uncertainty, having become of two minds, they wail, they lament intensely, they grieve, they become weary, they lament aloud, they beat their chests and cry, they fall into bewilderment. This is the meaning of ‘What shall we become after passing away from here?’
“Sau khi chết đi từ đây, chúng ta sẽ là gì?” có nghĩa là: Sau khi chết đi từ đây, chúng ta sẽ là gì? Chúng ta sẽ là chúng sanh địa ngục, chúng ta sẽ là loài bàng sanh, chúng ta sẽ là loài ngạ quỷ, chúng ta sẽ là chư thiên, chúng ta sẽ là chúng sanh có sắc, chúng ta sẽ là chúng sanh không có sắc, chúng ta sẽ là chúng sanh có tưởng, chúng ta sẽ là chúng sanh không có tưởng, chúng ta sẽ là chúng sanh không có tưởng cũng không phải không có tưởng? “Trong khoảng thời gian vị lai, liệu chúng ta có hiện hữu chăng? Trong khoảng thời gian vị lai, liệu chúng ta không hiện hữu chăng? Trong khoảng thời gian vị lai, chúng ta sẽ là gì? Trong khoảng thời gian vị lai, chúng ta sẽ như thế nào? Sau khi đã là gì, chúng ta sẽ là gì?” Do rơi vào hoài nghi, do rơi vào phân vân, do sanh khởi sự lưỡng lự, họ nói lảm nhảm, họ nói lảm nhảm một cách thảm thiết, họ sầu muộn, họ mệt mỏi, họ than khóc, họ đấm ngực khóc than, họ đi đến si mê. Đây là ý nghĩa của câu: “Sau khi chết đi từ đây, chúng ta sẽ là gì?”
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Kāmesu giddhā pasutā pamūḷhā, avadāniyā te visame niviṭṭhā;
Dukkhūpanītā paridevayanti, kiṃsū bhavissāma ito cutāse’’ti.
“Greedy for sensual pleasures, engrossed, deluded, and impure, they are established in what is uneven. Afflicted by suffering, they lament: ‘What shall we become after passing away from here?’”
“Những ai tham đắm, dính mắc, si mê trong các dục, không trong sạch, đã an trú trong sự không đồng đều; bị khổ đau áp bức, họ than khóc rằng: ‘Sau khi chết đi từ đây, chúng ta sẽ là gì?’”
10.
10.
10.
Tasmā hi sikkhetha idheva jantu, yaṃ kiñci jaññā visamanti loke;
Na tassa hetū visamaṃ careyya, appañhidaṃ jīvitamāhu dhīrā.
Therefore, a being should train right here. Whatever in the world one might know as ‘uneven,’ one should not practice what is uneven on account of that. For the wise have said that this life is short.
Do vậy, chúng sanh nên học tập ngay tại đây. Bất cứ điều gì ở đời mà người ấy biết là không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều vì nguyên nhân ấy. Các bậc hiền trí đã nói rằng mạng sống này thì ngắn ngủi.
Tasmā hi sikkhetha idheva jantūti. Tasmāti taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā tannidānā, etamādīnavaṃ sampassamāno kāmesūti – tasmā. Sikkhethāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā.
“Therefore, a being should train right here.” “Therefore” means: for that reason, seeing this danger in sensual pleasures. “Should train” refers to the three trainings: the training in higher virtue, the training in higher mind, the training in higher wisdom.
“Do vậy, chúng sanh nên học tập ngay tại đây.” (Tasmā hi sikkhetha idheva jantu): “Do vậy” (Tasmā) có nghĩa là: vì nguyên nhân ấy, vì lý do ấy, vì duyên cớ ấy, vì nền tảng ấy, do thấy rõ sự nguy hại này trong các dục. “Nên học tập” (Sikkhetha) có nghĩa là ba sự học tập: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Katamā adhisīlasikkhā? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Khuddako sīlakkhandho, mahanto sīlakkhandho, sīlaṃ patiṭṭhā ādi caraṇaṃ saṃyamo saṃvaro mokkhaṃ pāmokkhaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ samāpattiyā – ayaṃ adhisīlasikkhā.
What is the training in higher virtue? Here, a bhikkhu is virtuous; he dwells restrained with the restraint of the Pātimokkha, endowed with proper conduct and resort, seeing danger in the slightest faults; he trains by undertaking the training rules. The minor aggregate of virtue, the major aggregate of virtue; virtue is the foundation, the beginning, the basis, restraint, control, the opening, the foremost for the attainment of wholesome states—this is the training in higher virtue.
Tăng thượng giới học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có giới hạnh, sống được phòng hộ bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới. Giới uẩn nhỏ, giới uẩn lớn, giới là nền tảng, là khởi đầu, là cơ sở, là sự chế ngự, là sự thu thúc, là cửa ngõ, là sự dẫn đầu cho sự thành tựu các thiện pháp – đây là tăng thượng giới học.
Katamā adhicittasikkhā? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati – ayaṃ adhicittasikkhā.
What is the training in higher mind? Here, a bhikkhu, secluded from sensual pleasures and unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which is accompanied by thought and examination, with rapture and happiness born of seclusion. With the stilling of thought and examination, he enters and dwells in the second jhāna, which has internal confidence and unification of mind, is without thought and examination, and has rapture and happiness born of concentration. With the fading away of rapture, dwelling equanimous, mindful, and clearly comprehending, and experiencing happiness with the body, he enters and dwells in the third jhāna, a state of which the Noble Ones declare: ‘Equanimous, mindful, one dwells in happiness.’ With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous disappearance of joy and grief, he enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither painful nor pleasant and has purity of mindfulness due to equanimity. This is the training in higher mind.
Tăng thượng tâm học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sanh. Do làm cho lắng dịu tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm, không tứ, với hỷ và lạc do định sanh. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm nhận sự lạc bằng thân, chứng và trú thiền thứ ba, tầng thiền mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’. Do xả lạc và xả khổ, do diệt trừ hỷ và ưu đã có từ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh – đây là tăng thượng tâm học.
Katamā adhipaññāsikkhā? Idha bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato, ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā. So ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. ‘‘Ime āsavā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ āsavasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ āsavanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti – ayaṃ adhipaññāsikkhā.
What is the training in higher wisdom? Here, a bhikkhu is wise, endowed with the wisdom that leads to the arising and passing away of phenomena, which is noble, penetrative, and leads to the complete destruction of suffering. He understands as it actually is: "This is suffering," "This is the origin of suffering," "This is the cessation of suffering," "This is the path leading to the cessation of suffering." He understands as it actually is: "These are the taints," "This is the origin of the taints," "This is the cessation of the taints," "This is the path leading to the cessation of the taints." This is the training in higher wisdom.
Tăng thượng tuệ học là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có trí tuệ, có trí tuệ thấy rõ sự sanh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng đâm thủng, đưa đến sự đoạn tận khổ một cách chân chánh. Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là khổ.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là khổ tập.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là khổ diệt.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là các lậu hoặc.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc.’ Vị ấy như thật tuệ tri: ‘Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc’ – đây là tăng thượng tuệ học.
Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya, passanto sikkheyya, paccavekkhanto sikkheyya, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkheyya, saddhāya adhimuccanto sikkheyya, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkheyya, satiṃ upaṭṭhapento sikkheyya, cittaṃ samādahanto sikkheyya, paññāya pajānanto sikkheyya, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkheyya, pariññeyyaṃ parijānanto sikkheyya, pahātabbaṃ pajahanto sikkheyya, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkheyya, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyya.
Reflecting on these three trainings, one should train; knowing, one should train; seeing, one should train; reviewing, one should train; making the mind steadfast, one should train; being resolved through faith, one should train; exerting energy, one should train; establishing mindfulness, one should train; concentrating the mind, one should train; understanding with wisdom, one should train; directly knowing what is to be directly known, one should train; fully understanding what is to be fully understood, one should train; abandoning what is to be abandoned, one should train; developing what is to be developed, one should train; realizing what is to be realized, one should train. One should practice the higher virtue; one should practice the higher mind; undertaking the higher wisdom, one should practice.
Vị ấy nên học tập trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, nên học tập trong khi biết, nên học tập trong khi thấy, nên học tập trong khi quán xét, nên học tập trong khi quyết định tâm, nên học tập trong khi có lòng tin vững chắc, nên học tập trong khi nỗ lực tinh tấn, nên học tập trong khi thiết lập chánh niệm, nên học tập trong khi định tâm, nên học tập trong khi tuệ tri với trí tuệ, nên học tập trong khi thắng tri điều cần thắng tri, nên học tập trong khi liễu tri điều cần liễu tri, nên học tập trong khi đoạn trừ điều cần đoạn trừ, nên học tập trong khi tu tập điều cần tu tập, nên học tập trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ, nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, nên chấp nhận và hành trì.
Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṃ ādāye imasmiṃ dhamme imasmiṃ vinaye imasmiṃ dhammavinaye imasmiṃ pāvacane imasmiṃ brahmacariye imasmiṃ satthusāsane imasmiṃ attabhāve imasmiṃ manussaloke – tena vuccati idhāti. Jantūti satto naro…pe… manujoti – tasmā hi sikkhetha idheva jantu.
"Here" means: in this view, in this forbearance, in this inclination, in this undertaking, in this Dhamma, in this discipline, in this Dhamma-Vinaya, in this teaching, in this holy life, in this Teacher’s instruction, in this state of existence, in this human world—for that reason, it is called 'here.' 'A being' means a sentient being, a person... a human being. Thus: 'Therefore, right here a being should train.'
“Tại đây” (Idha) có nghĩa là: trong quan điểm này, trong sự kham nhẫn này, trong sở thích này, trong sự chấp thủ này, trong Pháp này, trong Luật này, trong Pháp và Luật này, trong lời dạy này, trong phạm hạnh này, trong giáo pháp của bậc Đạo Sư này, trong thân mạng này, trong cõi người này – do đó được gọi là “tại đây”. “Chúng sanh” (Jantu) có nghĩa là: hữu tình, người... cho đến... con người. – Do vậy, chúng sanh nên học tập ngay tại đây.
Yaṃ kiñci jaññā visamanti loketi. Yaṃ kiñcīti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ † – yaṃ kiñcīti. Visamanti jaññāti visamaṃ kāyakammaṃ visamanti jāneyya, visamaṃ vacīkammaṃ visamanti jāneyya, visamaṃ manokammaṃ visamanti jāneyya, visamaṃ pāṇātipātaṃ visamoti jāneyya, visamaṃ adinnādānaṃ visamanti jāneyya, visamaṃ kāmesumicchācāraṃ visamoti jāneyya, visamaṃ musāvādaṃ visamoti jāneyya, visamaṃ pisuṇaṃ vācaṃ visamāti jāneyya, visamaṃ pharusaṃ vācaṃ visamāti jāneyya, visamaṃ samphappalāpaṃ visamoti jāneyya, visamaṃ abhijjhaṃ visamāti jāneyya, visamaṃ byāpādaṃ visamoti jāneyya, visamaṃ micchādiṭṭhiṃ visamāti jāneyya, visame saṅkhāre visamāti jāneyya, visame pañca kāmaguṇe visamāti jāneyya, visame pañca nīvaraṇe visamāti jāneyya ājāneyya vijāneyya paṭivijāneyya paṭivijjheyya. Loketi apāyaloke…pe… āyatanaloketi – yaṃ kiñci jaññā visamanti loke.
Whatever one may know as uneven in the world. Herein, 'Whatever' is a term of complete inclusion, meaning: completely, in all respects, without remainder, without omission. 'One should know as uneven': one should know uneven bodily action as 'uneven,' uneven verbal action as 'uneven,' uneven mental action as 'uneven,' uneven destruction of life as 'uneven,' uneven taking of what is not given as 'uneven,' uneven sexual misconduct as 'uneven,' uneven false speech as 'uneven,' uneven divisive speech as 'uneven,' uneven harsh speech as 'uneven,' uneven idle chatter as 'uneven,' uneven covetousness as 'uneven,' uneven ill will as 'uneven,' uneven wrong view as 'uneven,' uneven formations as 'uneven,' the five uneven strands of sensual pleasure as 'uneven,' and the five uneven hindrances as 'uneven.' One should know it directly, know it distinctly, know it repeatedly, and penetrate it. 'In the world' means in the world of woe... (etc.)... in the world of the sense bases. Thus, 'Whatever one may know as uneven in the world.'
Bất cứ điều gì người ấy nên biết là không đồng đều ở trong đời. 'Bất cứ điều gì' (yaṃ kiñci) có nghĩa là tất cả một cách trọn vẹn, tất cả trong mọi phương diện, không còn sót lại, không có dư sót; đây là từ ngữ bao hàm trọn vẹn — ấy là 'bất cứ điều gì'. 'Nên biết là không đồng đều' (visamanti jaññā) có nghĩa là: người ấy nên biết thân nghiệp không đồng đều là không đồng đều, nên biết khẩu nghiệp không đồng đều là không đồng đều, nên biết ý nghiệp không đồng đều là không đồng đều, nên biết sự sát sanh không đồng đều là không đồng đều, nên biết sự lấy của không cho không đồng đều là không đồng đều, nên biết sự tà dâm trong các dục không đồng đều là không đồng đều, nên biết sự nói dối không đồng đều là không đồng đều, nên biết lời nói đâm thọc không đồng đều là không đồng đều, nên biết lời nói thô ác không đồng đều là không đồng đều, nên biết lời nói vô ích không đồng đều là không đồng đều, nên biết lòng tham không đồng đều là không đồng đều, nên biết sân hận không đồng đều là không đồng đều, nên biết tà kiến không đồng đều là không đồng đều, nên biết các pháp hành không đồng đều là không đồng đều, nên biết năm dục trưởng dưỡng không đồng đều là không đồng đều, nên biết năm triền cái không đồng đều là không đồng đều, nên biết rõ, nên biết tường tận, nên biết thấu đáo, nên liễu tri. 'Ở trong đời' (loke) có nghĩa là ở trong cõi khổ... cho đến... ở trong xứ thế gian. — ấy là 'bất cứ điều gì người ấy nên biết là không đồng đều ở trong đời'.
Na tassa hetū visamaṃ careyyāti. Visamassa kāyakammassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa vacīkammassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa manokammassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa pāṇātipātassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa adinnādānassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa kāmesumicchācārassa hetu visamaṃ na careyya, visamassa musāvādassa hetu visamaṃ na careyya, visamāya pisuṇāya vācāya hetu visamaṃ na careyya, visamāya pharusāya vācāya hetu visamaṃ na careyya, visamassa samphappalāpassa hetu visamaṃ na careyya, visamāya abhijjhāya hetu visamaṃ na careyya, visamassa byāpādassa hetu visamaṃ na careyya, visamāya micchādiṭṭhiyā hetu visamaṃ na careyya, visamānaṃ saṅkhārānaṃ hetu visamaṃ na careyya, visamānaṃ pañcannaṃ kāmaguṇānaṃ hetu visamaṃ na careyya, visamānaṃ pañcannaṃ nīvaraṇānaṃ hetu visamaṃ na careyya, visamāya cetanāya hetu visamaṃ na careyya, visamāya patthanāya hetu visamaṃ na careyya, visamāya paṇidhiyā hetu visamaṃ na careyya na ācareyya na samācareyya na samādāya vatteyyāti – na tassa hetū visamaṃ careyya.
One should not act unevenly on that account. One should not act unevenly on account of uneven bodily action; one should not act unevenly on account of uneven verbal action; one should not act unevenly on account of uneven mental action; one should not act unevenly on account of killing living beings; one should not act unevenly on account of taking what is not given; one should not act unevenly on account of sexual misconduct; one should not act unevenly on account of false speech; one should not act unevenly on account of divisive speech; one should not act unevenly on account of harsh speech; one should not act unevenly on account of idle chatter; one should not act unevenly on account of covetousness; one should not act unevenly on account of ill will; one should not act unevenly on account of wrong view; one should not act unevenly on account of uneven formations; one should not act unevenly on account of the five uneven strands of sensual pleasure; one should not act unevenly on account of the five uneven hindrances; one should not act unevenly on account of uneven intention; one should not act unevenly on account of uneven aspiration; one should not act unevenly on account of uneven resolve. One should not practice it, engage in it, undertake it, or persist in it. Thus, one should not act unevenly on that account.
Không nên vì nguyên nhân ấy mà thực hành điều không đồng đều. Vì nguyên nhân của thân nghiệp không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của khẩu nghiệp không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của ý nghiệp không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự sát sanh không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự lấy của không cho không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự tà dâm trong các dục không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự nói dối không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của lời nói đâm thọc không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của lời nói thô ác không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của lời nói vô ích không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của lòng tham không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sân hận không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của tà kiến không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của các pháp hành không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của năm dục trưởng dưỡng không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của năm triền cái không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của tác ý không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự mong cầu không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; vì nguyên nhân của sự nguyện ước không đồng đều, không nên thực hành điều không đồng đều; không nên thực hành, không nên thực hành một cách trọn vẹn, không nên thọ trì và thực hành. — ấy là 'không nên vì nguyên nhân ấy mà thực hành điều không đồng đều'.
Appañhidaṃ jīvitamāhu dhīrāti. Jīvitanti āyu ṭhiti yapanā yāpanā iriyanā vattanā pālanā jīvitaṃ jīvitindriyaṃ. Api ca, dvīhi kāraṇehi appakaṃ jīvitaṃ – ṭhitiparittatāya vā appakaṃ jīvitaṃ, sarasaparittatāya vā appakaṃ jīvitaṃ. Kathaṃ ṭhitiparittatāya appakaṃ jīvitaṃ? Atīte cittakkhaṇe jīvittha, na jīvati na jīvissati; anāgate cittakkhaṇe jīvissati, na jīvati na jīvittha; paccuppanne cittakkhaṇe jīvati, na jīvittha na jīvissati.
The wise say that this life is short. 'Life' means age, duration, sustenance, maintenance, carrying on, proceeding, preservation, vitality, the life faculty. Moreover, life is short for two reasons: because of limited duration or because of limited essence. How is life short because of limited duration? In a past moment of consciousness, one lived, but one does not live now, nor will one live in the future; in a future moment of consciousness, one will live, but one does not live now, nor did one live in the past; in a present moment of consciousness, one lives, but one did not live in the past, nor will one live in the future.
Các bậc hiền trí nói rằng mạng sống này ngắn ngủi. 'Mạng sống' (jīvita) là tuổi thọ, sự tồn tại, sự duy trì, sự bảo dưỡng, sự diễn tiến, sự tiếp diễn, sự bảo tồn, mạng sống, mạng quyền. Hơn nữa, mạng sống là ngắn ngủi do hai nguyên nhân: mạng sống ngắn ngủi do sự ngắn ngủi về thời gian tồn tại, hoặc mạng sống ngắn ngủi do sự ít ỏi về thực chất. Mạng sống ngắn ngủi do sự ngắn ngủi về thời gian tồn tại là thế nào? Trong sát-na tâm quá khứ, người ấy đã sống, không đang sống, sẽ không sống; trong sát-na tâm vị lai, người ấy sẽ sống, không đang sống, đã không sống; trong sát-na tâm hiện tại, người ấy đang sống, đã không sống, sẽ không sống.
‘‘Jīvitaṃ attabhāvo ca, sukhadukkhā ca kevalā;
Ekacittasamāyuttā, lahuso vattate khaṇo.
Life and individuality, and mere pleasure and pain, are associated with a single mind-moment; the moment passes swiftly.
Mạng sống và thân thể, cùng lạc và khổ đơn thuần; đều tương ưng với một tâm, khoảnh khắc diễn ra nhanh chóng.
‘‘Cullāsītisahassāni, kappā tiṭṭhanti ye marū;
Natveva tepi jīvanti, dvīhi cittehi saṃyutā.
Those deities who endure for eighty-four thousand aeons, even they do not live associated with two mind-moments.
Những vị trời nào tồn tại tám mươi bốn ngàn kiếp; ngay cả họ cũng không sống, khi được liên kết với hai tâm (cùng lúc).
‘‘Ye niruddhā marantassa, tiṭṭhamānassa vā idha;
Sabbepi sadisā khandhā, gatā appaṭisandhikā.
Whether for one who is dying or for one who is remaining here, all those aggregates that have ceased are similar, having gone without relinking.
Những uẩn nào đã diệt của người đang chết, hay của người đang sống ở đây; tất cả các uẩn ấy đều tương tự nhau, đã ra đi không còn tái tục.
‘‘Anantarā ca ye bhaggā †, ye ca bhaggā anāgatā;
Tadantare niruddhānaṃ, vesamaṃ natthi lakkhaṇe.
Those aggregates that have immediately broken up and those that will break up in the future—for those that have ceased in between, there is no difference in their characteristic.
Những uẩn nào vừa mới hoại diệt, và những uẩn nào sẽ hoại diệt trong tương lai; ở giữa đó, đối với các uẩn đã diệt, không có sự khác biệt về đặc tính.
‘‘Anibbattena na jāto, paccuppannena jīvati;
Cittabhaggā mato loko, paññatti paramatthiyā.
One is not born by the unarisen; one lives by the present. The world is considered dead due to the breaking up of the mind; this is a designation in the ultimate sense.
Không sanh ra bởi cái chưa sanh, sống nhờ vào cái hiện tại; thế gian chết do tâm hoại diệt, đây là chế định theo nghĩa chân đế.
‘‘Yathā ninnā pavattanti, chandena pariṇāmitā;
Acchinnadhārā vattanti, saḷāyatanapaccayā.
As things flow to a low-lying place, so do those inclined by desire proceed; unbroken streams occur, conditioned by the six sense bases.
Như (nước) chảy theo sườn dốc, được hướng đi bởi ý muốn; dòng chảy không gián đoạn tiếp diễn, do sáu xứ làm duyên.
‘‘Anidhānagatā bhaggā, puñjo natthi anāgate;
Nibbattā ye ca † tiṭṭhanti, āragge sāsapūpamā.
Having perished without being stored, there is no accumulation in the future; and those that have arisen remain like a mustard seed on the point of an awl.
Đã hoại diệt mà không đi đến tích trữ, không có sự tích tụ trong tương lai; những gì đã sanh và tồn tại, giống như hạt cải trên đầu mũi dùi.
‘‘Nibbattānañca dhammānaṃ, bhaṅgo nesaṃ purakkhato;
Palokadhammā tiṭṭhanti, purāṇehi amissitā.
For phenomena that have arisen, their dissolution is imminent; they stand as things of a perishable nature, unmixed with previous ones.
Đối với các pháp đã sanh, sự hoại diệt của chúng được đặt ở phía trước; các pháp có bản chất tan rã tồn tại, không pha trộn với những cái cũ.
‘‘Adassanato āyanti, bhaṅgā gacchanti dassanaṃ;
Vijjuppādova ākāse, uppajjanti vayanti cā’’ti.
From the unseen they come; having perished, they go to the unseen. Like the appearance of lightning in the sky, they arise and perish.
Chúng đến từ nơi không thấy, khi hoại diệt chúng đi vào nơi không thấy; như tia chớp lóe lên trên trời, chúng sanh lên rồi diệt đi.
Evaṃ ṭhitiparittatāya appakaṃ jīvitaṃ.
Thus, due to the brevity of its duration, life is short.
Như vậy, do sự ngắn ngủi về thời gian tồn tại, mạng sống là ngắn ngủi.
Kathaṃ sarasaparittatāya appakaṃ jīvitaṃ? Assāsūpanibandhaṃ jīvitaṃ, passāsūpanibandhaṃ jīvitaṃ, assāsapassāsūpanibandhaṃ jīvitaṃ, mahābhūtūpanibandhaṃ jīvitaṃ, kabaḷīkārāhārūpanibandhaṃ jīvitaṃ, usmūpanibandhaṃ jīvitaṃ, viññāṇūpanibandhaṃ jīvitaṃ. Mūlampi imesaṃ dubbalaṃ, pubbahetūpi imesaṃ dubbalā. Ye paccayā tepi dubbalā, yepi pabhāvikā tepi dubbalā. Sahabhūmi imesaṃ dubbalā, sampayogāpi imesaṃ dubbalā, sahajāpi imesaṃ dubbalā, yāpi payojikā sāpi dubbalā, aññamaññaṃ ime niccadubbalā, aññamaññaṃ anavaṭṭhitā ime. Aññamaññaṃ paripātayanti ime, aññamaññassa hi natthi tāyitā, na cāpi ṭhapenti aññamaññaṃ ime. Yopi nibbattako so na vijjati.
How is life short due to its limited essence? Life is dependent on inhalation, life is dependent on exhalation, life is dependent on inhalation and exhalation, life is dependent on the great elements, life is dependent on physical nutriment, life is dependent on heat, and life is dependent on consciousness. Their root is also weak, and their prior causes are also weak. Those conditions are also weak, and those that are influential are also weak. Their co-arisen factors are also weak, their associated factors are also weak, their co-nascent factors are also weak, and the impelling factor is also weak. These are constantly weak in relation to each other; these are unstable in relation to each other. These cause each other to fall away, for there is no protector for one another, nor do these establish one another. And the producer of these is not found.
Mạng sống ngắn ngủi do sự ít ỏi về thực chất là thế nào? Mạng sống bị ràng buộc bởi hơi thở vào, mạng sống bị ràng buộc bởi hơi thở ra, mạng sống bị ràng buộc bởi hơi thở vào và hơi thở ra, mạng sống bị ràng buộc bởi các đại chủng, mạng sống bị ràng buộc bởi đoàn thực, mạng sống bị ràng buộc bởi hơi ấm, mạng sống bị ràng buộc bởi thức. Cội rễ của những thứ này cũng yếu ớt, các nguyên nhân trong quá khứ của chúng cũng yếu ớt. Những duyên nào có mặt, chúng cũng yếu ớt; những gì tạo ra chúng cũng yếu ớt. Những gì đồng hữu với chúng cũng yếu ớt, những gì tương ưng với chúng cũng yếu ớt, những gì đồng sanh với chúng cũng yếu ớt, cái gì là tác nhân thúc đẩy cũng yếu ớt. Những thứ này luôn yếu ớt đối với nhau, chúng không bền vững đối với nhau. Chúng từ bỏ lẫn nhau, vì không có sự bảo vệ cho nhau, và chúng cũng không thể thiết lập cho nhau. Và cái tạo tác ra chúng cũng không tồn tại.
‘‘Na ca kenaci koci hāyati, gandhabbā ca ime hi sabbaso;
Purimehi pabhāvikā ime, yepi pabhāvikā te pure matā;
Purimāpi ca pacchimāpi ca, aññamaññaṃ na kadāci maddasaṃsū’’ti.
And not any one [dhamma] is diminished by any other; indeed, these are in every way conjoined for cessation. These [present dhammas] are produced by preceding [causes]; and those which were produced, they ceased before. And neither the preceding nor the succeeding ever saw one another.
Không có gì bị suy giảm bởi bất cứ điều gì, và những chúng sanh trong cõi trung gian này cũng vậy một cách hoàn toàn. Những (pháp) này được tạo ra bởi những (pháp) trước đó; những (pháp) nào được tạo ra, những (pháp nguyên nhân) ấy đã chết trước rồi. Cả những (pháp) trước và những (pháp) sau chưa bao giờ nhìn thấy nhau.
Evaṃ sarasaparittatāya appakaṃ jīvitaṃ.
Thus, life is short due to having little functional essence.
Như vậy, do sự ít ỏi về công năng nên mạng sống là ít ỏi.
Api ca cātumahārājikānaṃ devānaṃ jīvitaṃ upādāya manussānaṃ appakaṃ jīvitaṃ parittakaṃ jīvitaṃ thokaṃ † jīvitaṃ khaṇikaṃ jīvitaṃ lahukaṃ jīvitaṃ ittaraṃ jīvitaṃ anaddhanīyaṃ jīvitaṃ naciraṭṭhitikaṃ jīvitaṃ. Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ…pe… yāmānaṃ devānaṃ… tusitānaṃ devānaṃ… nimmānaratīnaṃ devānaṃ… paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ… brahmakāyikānaṃ devānaṃ jīvitaṃ upādāya manussānaṃ appakaṃ jīvitaṃ parittakaṃ jīvitaṃ thokaṃ jīvitaṃ khaṇikaṃ jīvitaṃ lahukaṃ jīvitaṃ ittaraṃ jīvitaṃ anaddhanīyaṃ jīvitaṃ naciraṭṭhitikaṃ jīvitaṃ.
Moreover, in comparison with the lifespan of the devas of the Four Great Kings, the life of humans is scant, limited, trifling, momentary, fleeting, transient, not long-lasting, and does not endure for long. In comparison with the lifespan of the Tāvatiṃsa devas… the Yāma devas… the Tusita devas… the Nimmānaratī devas… the Paranimmitavasavattī devas… the Brahmakāyika devas, the life of humans is scant, limited, trifling, momentary, fleeting, transient, not long-lasting, and does not endure for long.
Lại nữa, so với mạng sống của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, mạng sống của loài người là ít ỏi, mạng sống là nhỏ nhoi, mạng sống là ngắn ngủi, mạng sống là chốc lát, mạng sống là nhanh chóng, mạng sống là tạm bợ, mạng sống là không lâu dài, mạng sống là không bền vững. So với mạng sống của chư thiên ở cõi Đao Lợi... (cho đến)... chư thiên ở cõi Dạ Ma... chư thiên ở cõi Đâu Suất... chư thiên ở cõi Hóa Lạc... chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại... chư thiên ở cõi Phạm Thiên, mạng sống của loài người là ít ỏi, mạng sống là nhỏ nhoi, mạng sống là ngắn ngủi, mạng sống là chốc lát, mạng sống là nhanh chóng, mạng sống là tạm bợ, mạng sống là không lâu dài, mạng sống là không bền vững.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói đến như sau:
‘‘Appamidaṃ, bhikkhave, manussānaṃ āyu. Gamaniyo samparāyo mantāya boddhabbaṃ, kattabbaṃ kusalaṃ, caritabbaṃ brahmacariyaṃ, natthi jātassa amaraṇaṃ. Yo, bhikkhave, ciraṃ jīvati so vassasataṃ appaṃ vā bhiyyo’’.
“Brief, O monks, is this life of humans. The next world is to be gone to; it should be understood with wisdom. The wholesome should be done, the holy life should be lived; for one who is born, there is no non-dying. Whoever, O monks, lives long, lives for a hundred years, or a little less, or a little more.”
Này các Tỳ khưu, tuổi thọ này của loài người là ít ỏi. Phải đi đến thế giới bên kia, nên được biết bằng trí tuệ, nên làm điều thiện, nên thực hành phạm hạnh. Không có sự bất tử cho người đã sanh. Này các Tỳ khưu, người nào sống lâu, người ấy sống được một trăm năm, hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn một chút.
‘‘Appamāyu manussānaṃ, hīḷeyya naṃ suporiso;
Careyyādittasīsova natthi maccussanāgamo.
“The life of humans is short; a noble person should disdain it. One should live as if one’s head were ablaze; there is no non-arrival of death.”
Tuổi thọ của loài người là ít ỏi, người hiền trí nên xem thường nó. Nên sống như người có đầu đang bốc cháy, không có ai là không đến với thần chết.
‘‘Accayanti ahorattā, jīvitaṃ uparujjhati;
Āyu khiyyati maccānaṃ, kunnadīnaṃva odaka’’nti.
“Days and nights pass by, life is brought to an end; the lifespan of mortals wastes away, like the water of small rivers.”
Ngày và đêm trôi qua, mạng sống bị chấm dứt. Tuổi thọ của chúng sanh bị hao mòn, như nước của những dòng sông nhỏ.
Appañhidaṃ jīvitamāhu dhīrāti. Dhīrāti dhīrā, dhitimāti dhīrā, dhitisampannāti dhīrā, dhīkatapāpāti dhīrā. Dhī vuccati paññā. Yā paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo sallakkhaṇā upalakkhaṇā paccupalakkhaṇā paṇḍiccaṃ kosallaṃ nepuññaṃ vebhabyā cintā upaparikkhā bhūri medhā pariṇāyikā vipassanā sampajaññaṃ patodo paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ paññāsatthaṃ paññāpāsādo paññāāloko paññāobhāso paññāpajjoto paññāratanaṃ amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi, tāya paññāya samannāgatattā dhīrā. Api ca khandhadhīrā dhātudhīrā āyatanadhīrā, paṭiccasamuppādadhīrā satipaṭṭhānadhīrā sammappadhānadhīrā iddhipādadhīrā, indriyadhīrā baladhīrā bojjhaṅgadhīrā maggadhīrā phaladhīrā nibbānadhīrā. Te dhīrā evamāhaṃsu – ‘‘manussānaṃ appakaṃ jīvitaṃ, parittakaṃ jīvitaṃ, thokaṃ jīvitaṃ, khaṇikaṃ jīvitaṃ, lahukaṃ jīvitaṃ, ittaraṃ jīvitaṃ, anaddhanīyaṃ jīvitaṃ, naciraṭṭhitikaṃ jīvita’’nti. Evamāhaṃsu evaṃ kathenti evaṃ bhaṇanti evaṃ dīpayanti evaṃ voharantīti – appañhidaṃ jīvitamāhu dhīrā.
The wise say that this life is short. ‘Dhīrā’ means the wise; because they are resolute, they are ‘dhīrā’; because they are endowed with resolution, they are ‘dhīrā’; because they have blocked evil, they are ‘dhīrā’. ‘Dhī’ is said to be wisdom. That which is wisdom, understanding, investigation, thorough investigation, investigation of phenomena, discernment, marking, close marking, repeated close marking, proficiency, skill, expertise, discrimination, thought, examination, breadth, sagacity, guidance, insight, clear comprehension, a goad, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the sword of wisdom, the palace of wisdom, the light of wisdom, the radiance of wisdom, the splendor of wisdom, the jewel of wisdom, non-delusion, investigation of phenomena, and right view—because they are endowed with that wisdom, they are ‘dhīrā’. Moreover, they are wise regarding the aggregates, wise regarding the elements, wise regarding the sense bases, wise regarding dependent origination, wise regarding the right exertions, wise regarding the bases of spiritual power, wise regarding the faculties, wise regarding the powers, wise regarding the factors of enlightenment, wise regarding the path, wise regarding the fruits, and wise regarding Nibbāna. Those wise ones have spoken thus: ‘The life of humans is short, life is limited, life is brief, life is momentary, life is swift, life is transient, life is not long-lasting, life is not of long duration.’ Thus they have spoken, thus they say, thus they speak, thus they make it clear, thus they designate it: ‘The wise say that this life is short.’
Bậc hiền trí nói rằng mạng sống này là ít ỏi. Bậc hiền trí (dhīrā) là những người có trí tuệ, bậc hiền trí là những người có sự kiên định, bậc hiền trí là những người đầy đủ sự kiên định, bậc hiền trí là những người đã ngăn chặn điều ác. 'Dhī' được gọi là trí tuệ. Trí tuệ nào là sự hiểu biết, sự thẩm sát, sự thẩm sát chi tiết, trạch pháp, sự ghi nhận đặc tính, sự nhận biết, sự nhận biết nhiều lần, sự thông thái, sự khéo léo, sự tinh xảo, sự sáng suốt, sự suy tư, sự quán xét, sự rộng lớn, sự sắc bén, sự hướng dẫn, sự quán chiếu, sự tỉnh giác, cái thúc giục, trí tuệ, trí tuệ quyền, trí tuệ lực, trí tuệ kiếm, trí tuệ lầu đài, trí tuệ ánh sáng, trí tuệ quang minh, trí tuệ ngọn đuốc, trí tuệ báu vật, sự không si mê, trạch pháp, chánh kiến; do sở hữu trí tuệ ấy nên được gọi là bậc hiền trí. Lại nữa, có bậc hiền trí về uẩn, hiền trí về giới, hiền trí về xứ, hiền trí về duyên khởi, hiền trí về niệm xứ, hiền trí về chánh cần, hiền trí về thần túc, hiền trí về quyền, hiền trí về lực, hiền trí về giác chi, hiền trí về đạo, hiền trí về quả, hiền trí về Niết-bàn. Những bậc hiền trí ấy đã nói như vầy: 'Mạng sống của loài người là ít ỏi, mạng sống là nhỏ nhoi, mạng sống là ngắn ngủi, mạng sống là chốc lát, mạng sống là nhanh chóng, mạng sống là tạm bợ, mạng sống là không lâu dài, mạng sống là không bền vững.' Họ đã nói như vậy, họ đã kể như vậy, họ đã tuyên bố như vậy, họ đã làm sáng tỏ như vậy, họ đã gọi tên như vậy – (đó là ý nghĩa của câu) 'Bậc hiền trí nói rằng mạng sống này là ít ỏi'.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tasmā hi sikkhetha idheva jantu, yaṃ kiñci jaññā visamanti loke;
Na tassa hetū visamaṃ careyya, appañhidaṃ jīvitamāhu dhīrā’’ti.
“Therefore, let a being train right here. Whatever one might know to be unrighteous in the world, one should not practice unrighteousness on account of that. The wise say that this life is short.”
Do đó, chúng sanh nên học hỏi ngay tại đây, bất cứ điều gì được biết là bất bình đẳng trong thế gian; không nên vì lý do đó mà hành xử bất bình đẳng. Bậc hiền trí nói rằng mạng sống này là ít ỏi.
11.
11.
11.
Passāmi loke pariphandamānaṃ, pajaṃ imaṃ taṇhagataṃ bhavesu;
Hīnā narā maccumukhe lapanti, avītataṇhāse bhavābhavesu.
“I see this generation in the world trembling, afflicted by craving for states of existence. Lowly people lament in the mouth of Death, their craving for the various states of existence unabandoned.”
Ta thấy trong thế gian chúng sanh này đang run rẩy, bị ái dục chi phối trong các cõi hữu. Những người thấp kém than khóc trong miệng thần chết, không thoát khỏi ái dục trong các cõi hữu.
Passāmi loke pariphandamānanti. Passāmīti maṃsacakkhunāpi passāmi, dibbacakkhunāpi passāmi, paññācakkhunāpi passāmi, buddhacakkhunāpi passāmi, samantacakkhunāpi passāmi dakkhāmi olokemi nijjhāyāmi upaparikkhāmi. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloke.
Regarding 'I see in the world trembling': 'I see' means: I see with the physical eye, I see with the divine eye, I see with the eye of wisdom, I see with the Buddha-eye, I see with the all-seeing eye—I see, I behold, I look, I contemplate, I examine. 'In the world' means: in the world of woe, in the human world, in the divine world, in the world of aggregates, in the world of elements, in the world of sense-bases.
Ta thấy trong thế gian chúng sanh đang run rẩy. (Nghĩa là) 'Ta thấy': Ta thấy bằng nhục nhãn, Ta thấy bằng thiên nhãn, Ta thấy bằng tuệ nhãn, Ta thấy bằng Phật nhãn, Ta thấy bằng toàn nhãn, Ta thấy (sanh tử), Ta nhìn (Tứ đế), Ta quán xét (ngũ quyền), Ta xem xét (ngũ minh). 'Trong thế gian' (nghĩa là): trong ác đạo, trong cõi người, trong cõi trời, trong uẩn giới, trong giới (dhātu), trong xứ giới.
Pariphandamānanti taṇhāphandanāya phandamānaṃ, diṭṭhiphandanāya phandamānaṃ, kilesaphandanāya phandamānaṃ, payogaphandanāya phandamānaṃ, vipākaphandanāya phandamānaṃ, duccaritaphandanāya phandamānaṃ, rattaṃ rāgena phandamānaṃ, duṭṭhaṃ dosena phandamānaṃ, mūḷhaṃ mohena phandamānaṃ, vinibaddhaṃ mānena phandamānaṃ, parāmaṭṭhaṃ diṭṭhiyā phandamānaṃ, vikkhepagataṃ uddhaccena phandamānaṃ, aniṭṭhaṅgataṃ vicikicchāya phandamānaṃ, thāmagataṃ anusayehi phandamānaṃ, lābhena phandamānaṃ, alābhena phandamānaṃ, yasena phandamānaṃ, ayasena phandamānaṃ, pasaṃsāya phandamānaṃ, nindāya phandamānaṃ, sukhena phandamānaṃ, dukkhena phandamānaṃ, jātiyā phandamānaṃ, jarāya phandamānaṃ, byādhinā phandamānaṃ, maraṇena phandamānaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi phandamānaṃ, nerayikena dukkhena phandamānaṃ, tiracchānayonikena dukkhena phandamānaṃ, pettivisayikena dukkhena phandamānaṃ, mānusikena dukkhena phandamānaṃ, gabbhokkantimūlakena dukkhena phandamānaṃ, gabbhe ṭhitimūlakena dukkhena phandamānaṃ, gabbhā vuṭṭhānamūlakena dukkhena phandamānaṃ, jātassūpanibandhakena dukkhena phandamānaṃ, jātassa parādheyyakena dukkhena phandamānaṃ, attūpakkamena dukkhena phandamānaṃ, parūpakkamena dukkhena phandamānaṃ, dukkhadukkhena phandamānaṃ, saṅkhāradukkhena phandamānaṃ, vipariṇāmadukkhena phandamānaṃ, cakkhurogena dukkhena phandamānaṃ, sotarogena dukkhena phandamānaṃ, ghānarogena dukkhena…pe… jivhārogena… kāyarogena… sīsarogena… kaṇṇarogena… mukharogena… dantarogena… kāsena… sāsena… pināsena… dāhena… jarena… kucchirogena… mucchāya… pakkhandikāya… sūlāya … visucikāya… kuṭṭhena… gaṇḍena… kilāsena… sosena… apamārena… dadduyā… kaṇḍuyā… kacchuyā… rakhasāya… vitacchikāya… lohitena… pittena… madhumehena… aṃsāya… piḷakāya… bhagandalena † … pittasamuṭṭhānena ābādhena… semhasamuṭṭhānena ābādhena… vātasamuṭṭhānena ābādhena… sannipātikena ābādhena… utupariṇāmajena ābādhena… visamaparihārajena ābādhena… opakkamikena ābādhena … kammavipākajena ābādhena… sītena… uṇhena… jighacchāya… pipāsāya … uccārena… passāvena… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassena dukkhena… mātumaraṇena dukkhena… pitumaraṇena dukkhena… bhātumaraṇena dukkhena… bhaginimaraṇena dukkhena… puttamaraṇena dukkhena… dhītumaraṇena dukkhena… ñātibyasanena… bhogabyasanena… rogabyasanena… sīlabyasanena… diṭṭhibyasanena dukkhena phandamānaṃ samphandamānaṃ vipphandamānaṃ vedhamānaṃ pavedhamānaṃ sampavedhamānaṃ passāmi dakkhāmi olokemi nijjhāyāmi upaparikkhāmīti – passāmi loke pariphandamānaṃ.
‘Agitated’ means trembling with the trembling of craving, trembling with the trembling of views, trembling with the trembling of defilements, trembling with the trembling of resultants, trembling with the trembling of misconduct; trembling, impassioned by attachment; trembling, corrupted by hatred; trembling, bewildered by delusion; trembling, bound by conceit; trembling, grasped by views; trembling, gone to distraction through restlessness; trembling, gone to uncertainty through doubt; trembling, firmly established in latent tendencies; trembling from gain, trembling from loss, trembling from fame, trembling from disrepute, trembling from praise, trembling from blame, trembling from pleasure, trembling from pain; trembling from birth, trembling from aging, trembling from sickness, trembling from death; trembling from sorrow, lamentation, pain, grief, and despair; trembling from the suffering of hell, trembling from the suffering of the animal realm, trembling from the suffering of the realm of ghosts, trembling from human suffering; trembling from suffering rooted in conception, trembling from suffering rooted in abiding in the womb, trembling from suffering rooted in emerging from the womb, trembling from the suffering that binds one who is born, trembling from the suffering of being dependent after birth; trembling from suffering of self-inflicted pain, trembling from suffering of pain inflicted by others; trembling from the suffering of pain, trembling from the suffering of formations, trembling from the suffering of change; trembling from the suffering of eye disease, trembling from the suffering of ear disease, trembling from the suffering of nose disease… (and so on for the rest of the body’s ailments)… trembling from the suffering of a mother’s death, trembling from the suffering of a father’s death, trembling from the suffering of a brother’s death, trembling from the suffering of a sister’s death, trembling from the suffering of a son’s death, trembling from the suffering of a daughter’s death; trembling from the loss of relatives, trembling from the loss of wealth, trembling from the affliction of disease, trembling from the loss of virtue, trembling from the loss of right view—trembling, quivering, shaking, shuddering, convulsing, violently convulsing. I see, I behold, I examine, I scrutinize, I investigate. Thus: ‘I see the world agitated.’
Đang run rẩy (pariphandamānaṃ) là đang run rẩy bởi sự rung động của ái, đang run rẩy bởi sự rung động của tà kiến, đang run rẩy bởi sự rung động của phiền não, đang run rẩy bởi sự rung động của sự cố gắng, đang run rẩy bởi sự rung động của quả dị thục, đang run rẩy bởi sự rung động của ác hạnh, đang run rẩy do bị tham ái nhuộm, đang run rẩy do bị sân hận làm cho hư hoại, đang run rẩy do bị si mê làm cho mê muội, đang run rẩy do bị mạn trói buộc, đang run rẩy do bị tà kiến chấp thủ, đang run rẩy do bị trạo cử làm cho tán loạn, đang run rẩy do bị hoài nghi làm cho không quyết đoán, đang run rẩy do bị các tùy miên làm cho mạnh mẽ, đang run rẩy bởi được lợi, đang run rẩy bởi không được lợi, đang run rẩy bởi được danh, đang run rẩy bởi không được danh, đang run rẩy bởi được tán thán, đang run rẩy bởi bị chê bai, đang run rẩy bởi được lạc, đang run rẩy bởi bị khổ, đang run rẩy bởi sanh, đang run rẩy bởi già, đang run rẩy bởi bệnh, đang run rẩy bởi chết, đang run rẩy bởi sầu, bi, khổ, ưu, não, đang run rẩy bởi khổ ở địa ngục, đang run rẩy bởi khổ ở loài bàng sanh, đang run rẩy bởi khổ ở cảnh giới ngạ quỷ, đang run rẩy bởi khổ ở loài người, đang run rẩy bởi khổ có gốc rễ từ sự nhập thai, đang run rẩy bởi khổ có gốc rễ từ sự lưu lại trong thai, đang run rẩy bởi khổ có gốc rễ từ sự ra khỏi thai, đang run rẩy bởi khổ trói buộc người đã sanh, đang run rẩy bởi khổ phụ thuộc vào người khác của người đã sanh, đang run rẩy bởi khổ do tự mình gây ra, đang run rẩy bởi khổ do người khác gây ra, đang run rẩy bởi khổ khổ, đang run rẩy bởi hành khổ, đang run rẩy bởi hoại khổ, đang run rẩy bởi khổ do bệnh mắt, đang run rẩy bởi khổ do bệnh tai, đang run rẩy bởi khổ do bệnh mũi, ... (v.v) ... bệnh lưỡi ... bệnh thân ... bệnh đầu ... bệnh tai ... bệnh miệng ... bệnh răng ... do ho ... do hen suyễn ... do sổ mũi ... do sốt nóng ... do sốt rét ... do bệnh dạ dày ... do ngất xỉu ... do kiết lỵ ... do đau nhói ... do thổ tả ... do bệnh cùi ... do ung nhọt ... do bệnh bạch biến ... do bệnh lao ... do bệnh động kinh ... do bệnh hắc lào ... do bệnh ghẻ ngứa ... do ghẻ lở ... do bệnh nứt da ... do bệnh vảy nến ... do bệnh về máu ... do bệnh về mật ... do bệnh tiểu đường ... do mụn nhọt ... do mụn nhọt ... do bệnh rò hậu môn ... do bệnh phát sanh từ mật ... do bệnh phát sanh từ đàm ... do bệnh phát sanh từ gió ... do bệnh phát sanh từ sự kết hợp (của ba thứ) ... do bệnh phát sanh từ sự thay đổi thời tiết ... do bệnh phát sanh từ sự sinh hoạt không điều độ ... do bệnh phát sanh từ sự tấn công ... do bệnh phát sanh từ quả của nghiệp ... do lạnh ... do nóng ... do đói ... do khát ... do đại tiện ... do tiểu tiện ... đang run rẩy bởi khổ do sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát ... đang run rẩy bởi khổ do mẹ chết ... do cha chết ... do anh/em trai chết ... do chị/em gái chết ... do con trai chết ... do con gái chết ... do sự hoại diệt của thân quyến ... do sự hoại diệt của tài sản ... do sự hoại diệt của bệnh tật ... do sự hoại diệt của giới ... đang run rẩy bởi khổ do sự hoại diệt của tà kiến, đang run rẩy, đang run rẩy không ngừng, đang run rẩy nhiều cách, đang rung động, đang rung động mạnh, đang rung động mạnh mẽ nhiều lần. Tôi thấy, tôi nhận thấy, tôi nhìn, tôi quán xét, tôi xem xét kỹ – (như vậy là ý nghĩa của) ‘tôi thấy chúng sanh đang run rẩy trong thế gian’.
Pajaṃ imaṃ taṇhagataṃ bhavesūti. Pajāti sattādhivacanaṃ. Taṇhāti rūpataṇhā, saddataṇhā, gandhataṇhā, rasataṇhā, phoṭṭhabbataṇhā, dhammataṇhā. Taṇhagatanti taṇhāgataṃ taṇhānugataṃ taṇhāyānusaṭaṃ taṇhāyāsannaṃ taṇhāya pātitaṃ abhibhūtaṃ pariyādinnacittaṃ. Bhavesūti kāmabhave rūpabhave arūpabhaveti – pajaṃ imaṃ taṇhagataṃ bhavesu.
This generation, entangled in craving in the existences. 'Generation' is a designation for beings. 'Craving' means craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, and craving for mental phenomena. 'Entangled in craving' means caused by craving, following after craving, pervaded by craving, sunk in craving, cast down by craving, overwhelmed, and with a mind seized and consumed. 'In the existences' means in the sensual-sphere existence, the form-sphere existence, and the formless-sphere existence—this generation, entangled in craving in the existences.
(Về câu) ‘chúng sanh này bị ái lôi kéo trong các cõi hữu.’ Pajā là tên gọi cho chúng sanh. Taṇhā là ái đối với sắc, ái đối với thanh, ái đối với hương, ái đối với vị, ái đối với xúc, ái đối với pháp. Taṇhāgataṃ (bị ái lôi kéo) là đã đến do ái, đã đi theo ái, đã bị ái lan khắp, đã bị chìm đắm trong ái, đã bị ái xô ngã, đã bị (ái) chế ngự, có tâm bị (ái) chiếm đoạt. Bhavesu (trong các cõi hữu) là trong cõi dục, trong cõi sắc, trong cõi vô sắc – (như vậy là ý nghĩa của) ‘chúng sanh này bị ái lôi kéo trong các cõi hữu.’
Hīnā narā maccumukhe lapantīti. Hīnā narāti hīnā narā hīnena kāyakammena samannāgatāti hīnā narā, hīnena vacīkammena samannāgatāti hīnā narā, hīnena manokammena samannāgatāti hīnā narā, hīnena pāṇātipātena samannāgatāti hīnā narā, hīnena adinnādānena…pe… hīnena kāmesumicchācārena… hīnena musāvādena… hīnāya pisuṇāya vācāya… hīnāya pharusāya vācāya… hīnena samphappalāpena… hīnāya abhijjhāya… hīnena byāpādena… hīnāya micchādiṭṭhiyā… hīnehi saṅkhārehi… hīnehi pañcahi kāmaguṇehi nīvaraṇehi… hīnāya cetanāya… hīnāya patthanāya… hīnāya paṇidhiyā samannāgatāti hīnā narā hīnā nihīnā ohīnā omakā lāmakā chatukkā parittāti – hīnā narā. Maccumukhe lapantīti. Maccumukheti māramukhe maraṇamukhe, maccuppattā maccusampattā maccūpāgatā, mārappattā mārasampattā mārūpāgatā, maraṇappattā maraṇasampattā maraṇūpāgatā lapanti lālapanti socanti kilamanti paridevanti urattāḷiṃ kandanti sammohaṃ āpajjantīti – hīnā narā maccumukhe lapanti.
Lowly people wail in the mouth of death. ‘Lowly people’ means those endowed with lowly bodily action, lowly verbal action, and lowly mental action; those endowed with lowly killing of living beings, lowly taking what is not given, lowly sexual misconduct, lowly false speech, lowly divisive speech, lowly harsh speech, lowly idle chatter, lowly covetousness, lowly ill will, and lowly wrong view; those endowed with lowly formations, with the five lowly strands of sensual pleasure and the five lowly hindrances; with lowly intention, lowly aspiration, and lowly resolve—thus they are lowly people. They are lowly, of low practice, of low capacity, of low effort, of low nature, of low disposition, and of low strength—thus they are ‘lowly people’. ‘They wail in the mouth of death’: ‘in the mouth of death’ means in the mouth of Māra, at the entrance of death. They have reached, arrived near, and approached death; they have reached, arrived near, and approached Māra; they have reached, arrived near, and approached dying. They wail, they wail intensely, they grieve, they become weary, they lament, beating their breasts they cry, and they fall into confusion—thus, lowly people wail in the mouth of death.
(Về câu) ‘những người thấp hèn than khóc trong miệng của thần chết.’ Hīnā narā (những người thấp hèn) là những người thấp hèn; những người thấp hèn là những người có thân nghiệp thấp hèn, những người thấp hèn là những người có khẩu nghiệp thấp hèn, những người thấp hèn là những người có ý nghiệp thấp hèn, những người thấp hèn là những người có hành vi sát sanh thấp hèn, những người thấp hèn là những người có hành vi trộm cắp thấp hèn, ... (v.v) ... tà dâm trong các dục ... nói dối ... nói lời đâm thọc ... nói lời thô ác ... nói lời vô ích ... có tham lam ... có sân hận ... có tà kiến thấp hèn ... có các hành thấp hèn ... có năm dục trưởng dưỡng và các triền cái thấp hèn ... có tư tâm thấp hèn ... có sự mong cầu thấp hèn ... có sự ước nguyện thấp hèn. Do đó, (họ là) những người thấp hèn, rất thấp hèn, hạ liệt, ti tiện, đê tiện, khốn khổ, nhỏ mọn – (như vậy là ý nghĩa của) hīnā narā. (Về câu) ‘than khóc trong miệng của thần chết.’ Maccumukhe (trong miệng của thần chết) là trong miệng của ma vương, trong miệng của sự chết; đã đến sự chết, đã đến gần sự chết, đã đi đến sự chết; đã đến ma vương, đã đến gần ma vương, đã đi đến ma vương; đã đến sự chết, đã đến gần sự chết, đã đi đến sự chết; họ than khóc, họ kêu la, họ sầu muộn, họ mệt mỏi, họ than van, họ đấm ngực khóc lóc, họ rơi vào si mê – (như vậy là ý nghĩa của) ‘những người thấp hèn than khóc trong miệng của thần chết.’
Avītataṇhāse bhavābhavesūti. Taṇhāti rūpataṇhā…pe… dhammataṇhā. Bhavābhavesūti bhavābhave kammabhave punabbhave kāmabhave, kammabhave kāmabhave punabbhave rūpabhave, kammabhave rūpabhave punabbhave arūpabhave, kammabhave arūpabhave punabbhave punappunabbhave, punappunagatiyā punappunaupapattiyā punappunapaṭisandhiyā punappunaattabhāvābhinibbattiyā, avītataṇhā avigatataṇhā acattataṇhā avantataṇhā. Amuttataṇhā appahīnataṇhā appaṭinissaṭṭhataṇhāti – avītataṇhāse bhavābhavesu.
They are not free from craving in states of becoming. 'Craving' means craving for forms... and craving for mental phenomena. 'In states of becoming' means: in the various states of becoming (sensual, form, and formless); in kamma-becoming and in resultant-becoming; in kamma-becoming of the sensual sphere and resultant-becoming of the sensual sphere; in kamma-becoming of the form sphere and resultant-becoming of the form sphere; in kamma-becoming of the formless sphere and resultant-becoming of the formless sphere; in repeated becoming, in repeated destinies, in repeated rebirth, in repeated relinking, and in the repeated manifestation of individual existence. They have craving that has not departed, craving that has not gone away, craving that is not given up, craving that is not vomited out, craving that is not released, craving that is not abandoned, and craving that is not relinquished. Thus, 'they are not free from craving in states of becoming'.
Avītataṇhāse bhavābhavesūti (Họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi hữu và phi hữu). Taṇhāti (Ái dục là): sắc ái... cho đến... pháp ái. Bhavābhavesūti (Trong các cõi hữu và phi hữu là): trong cõi hữu này và cõi hữu khác, trong nghiệp hữu, trong tái hữu; trong dục hữu, trong nghiệp hữu của dục hữu, trong tái hữu của dục hữu; trong sắc hữu, trong nghiệp hữu của sắc hữu, trong tái hữu của sắc hữu; trong vô sắc hữu, trong nghiệp hữu của vô sắc hữu, trong tái hữu của vô sắc hữu; trong sự tái sanh lại nhiều lần, trong sự đi đến các cõi nhiều lần, trong sự tái sanh nhiều lần, trong sự kết nối nhiều lần, trong sự biểu hiện của tự thân nhiều lần; avītataṇhā (chưa từ bỏ ái dục), avigatataṇhā (chưa lìa ái dục), acattataṇhā (chưa xả ly ái dục), avantataṇhā (chưa nôn ra ái dục). Amuttataṇhā (chưa giải thoát khỏi ái dục), appahīnataṇhā (chưa đoạn tận ái dục), appaṭinissaṭṭhataṇhā (chưa từ bỏ hoàn toàn ái dục) – (như vậy có nghĩa là) avītataṇhāse bhavābhavesu (họ là những người chưa từ bỏ ái dục trong các cõi hữu và phi hữu).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Passāmi loke pariphandamānaṃ, pajaṃ imaṃ taṇhagataṃ bhavesu;
Hīnā narā maccumukhe lapanti, avītataṇhāse bhavābhavesū’’ti.
“I see the world agitated, this generation gone to craving in states of becoming; lowly people wail in the jaws of death, they are not free from craving in states of becoming.”
“Ta thấy chúng sanh trong đời đang run rẩy, thế hệ này bị ái dục chi phối trong các cõi hữu; Những kẻ thấp hèn than khóc trong miệng tử thần, vì họ chưa từ bỏ ái dục trong các cõi hữu và phi hữu.”
12.
12.
12.
Mamāyite passatha phandamāne, maccheva † appodake khīṇasote;
Etampi disvā amamo careyya, bhavesu āsattimakubbamāno.
See those who tremble over what is cherished as 'mine,' like fish in little water, with dwindling streams. Seeing even this, one should fare on unattached, not creating attachment to states of becoming.
Hãy nhìn những kẻ đang run rẩy trong những gì họ ái luyến, như cá trong dòng nước cạn, ít nước; Thấy được điều này, người không còn 'cái của tôi' nên sống, không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu.
Mamāyite passatha phandamāneti. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca. Katamaṃ taṇhāmamattaṃ? Yāvatā taṇhāsaṅkhātena sīmakataṃ mariyādikataṃ odhikataṃ pariyantakataṃ pariggahitaṃ mamāyitaṃ. Idaṃ mamaṃ, etaṃ mamaṃ, ettakaṃ mamaṃ, ettāvatā mamaṃ, mama rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, attharaṇā pāvuraṇā dāsidāsā ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigavāssavaḷavā khettaṃ vatthu hiraññaṃ suvaṇṇaṃ gāmanigamarājadhāniyo raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, kevalampi mahāpathaviṃ taṇhāvasena mamāyati. Yāvatā aṭṭhasataṃ taṇhāvicaritaṃ, idaṃ taṇhāmamattaṃ.
In the phrase 'See those who tremble over what is cherished as 'mine'': 'Mine-making' is twofold: the 'mine-making' of craving and the 'mine-making' of wrong view. What is the 'mine-making' of craving? To whatever extent something is marked off, limited, bounded, confined, possessed, and cherished as 'mine' by way of craving—'this is mine, that is mine, so much is mine, up to this point is mine': my forms, sounds, smells, tastes, tactile objects; my floor coverings and robes; my male and female slaves; my goats and sheep; my chickens and pigs; my elephants, cattle, horses, and mares; my fields and land; my silver and gold; my villages, towns, and royal cities; my country and district; my treasury and storehouse—one even cherishes the entire great earth as 'mine' through craving. To whatever extent there are the one hundred and eight proliferations of craving, this is the 'mine-making' of craving.
Mamāyite passatha phandamāneti (Hãy nhìn những kẻ đang run rẩy trong những gì họ ái luyến). Mamattāti (Sự ái luyến 'của tôi' là): có hai loại ái luyến – taṇhāmamattañca (ái luyến do tham ái) và diṭṭhimamattañca (ái luyến do tà kiến). Katamaṃ taṇhāmamattaṃ? (Thế nào là ái luyến do tham ái?). Bất cứ những gì được phân định ranh giới, được xác định giới hạn, được khoanh vùng, được giới hạn phạm vi, được nắm giữ, được ái luyến bởi cái được gọi là tham ái. (Như là:) ‘Cái này là của tôi’, ‘cái kia là của tôi’, ‘chừng này là của tôi’, ‘bấy nhiêu là của tôi’, ‘sắc của tôi, thanh, hương, vị, xúc của tôi, vật trải, vật đắp của tôi, tôi trai tôi tớ của tôi, dê và cừu của tôi, gà và heo của tôi, voi, bò, ngựa, ngựa cái của tôi, ruộng, đất, vàng, bạc của tôi, làng, thị trấn, kinh đô của tôi, quốc độ và xứ sở của tôi, kho tàng và kho lẫm của tôi’, và ngay cả toàn bộ trái đất này, người ấy cũng ái luyến do năng lực của tham ái. Bất cứ một trăm lẻ tám sự vận hành của tham ái nào, đây gọi là ái luyến do tham ái.
Katamaṃ diṭṭhimamattaṃ? Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, dasavatthukā micchādiṭṭhi, dasavatthukā antaggāhikā diṭṭhi; yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphandikaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyesaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho ‘‘ayāthāvakasmiṃ yāthāvaka’’nti gāho. Yāvatā dvāsaṭṭhidiṭṭhigatāni, idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Mamāyite passatha phandamāneti mamāyitaṃ vatthuṃ acchedasaṃkinopi phandanti, acchindantepi phandanti, acchinnepi phandanti, mamāyitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṃkinopi phandanti, vipariṇāmantepi phandanti, vipariṇatepi phandanti paphandanti samphandanti vipphandanti vedhanti † pavedhanti sampavedhanti. Evaṃ phandamāne paphandamāne samphandamāne vipphandamāne vedhamāne pavedhamāne sampavedhamāne passatha dakkhatha oloketha nijjhāyatha upaparikkhathāti – mamāyite passatha phandamāne.
What is the 'mine-making' of wrong view? The personality-view with twenty bases, the wrong view with ten bases, the view that grasps at extremes with ten bases; whatever view is of such a kind: a view-point, a jungle of views, a wilderness of views, a thorn of a view, a vacillating view, the fetter of views, grasping, a stronghold, adherence, misapprehension, a wrong path, a wrong way, wrongness, a resort of sectarians, perverted grasping, grasping what is contrary to the true nature, distorted grasping, wrong grasping, the grasping that 'in what is not the reality, there is reality.' Insofar as there are the sixty-two kinds of views, this is the 'mine-making' of wrong view. 'See those who tremble over what is cherished as 'mine'': Those who are apprehensive that a cherished object will be taken away tremble; even while it is being taken away, they tremble; even when it has been taken away, they tremble. Those who are apprehensive that a cherished object will change tremble; even while it is changing, they tremble; even when it has changed, they tremble, they tremble exceedingly, they tremble all around, they tremble violently, they quake, they quake exceedingly, they quake thoroughly. Thus, regarding those who are trembling, trembling exceedingly, trembling all around, trembling violently, quaking, quaking exceedingly, quaking thoroughly: see them, perceive them, behold them, contemplate them, investigate them—this is the meaning of 'See those who tremble over what is cherished as 'mine'.'
Katamaṃ diṭṭhimamattaṃ? (Thế nào là ái luyến do tà kiến?). Thân kiến có hai mươi đối tượng, tà kiến có mười đối tượng, biên kiến có mười đối tượng; bất cứ tà kiến nào như vậy, (đó là) sự rơi vào tà kiến, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, sự co giật của tà kiến, sự vùng vẫy của tà kiến, triền phược tà kiến, sự nắm giữ, sự bám chặt, sự quyết đoán, sự chấp thủ, con đường xấu, con đường sai lầm, sự sai lầm, cơ sở của ngoại đạo, sự nắm giữ sai lạc, sự nắm giữ ngược lại, sự nắm giữ xuyên tạc, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ rằng ‘trong cái không có thực lại có thực’. Bất cứ sáu mươi hai loại tà kiến nào, đây gọi là ái luyến do tà kiến. Mamāyite passatha phandamāneti (Hãy nhìn những kẻ đang run rẩy trong những gì họ ái luyến): họ run rẩy vì nghi ngờ vật ái luyến sẽ bị cướp đoạt, họ run rẩy khi đang bị cướp đoạt, họ run rẩy khi đã bị cướp đoạt. Họ run rẩy vì nghi ngờ vật ái luyến sẽ bị biến hoại, họ run rẩy khi nó đang biến hoại, họ run rẩy khi nó đã biến hoại, họ run rẩy mạnh, họ run rẩy khắp nơi, họ run rẩy dữ dội, họ rung động, họ rung động mạnh, họ rung động khắp nơi. Evaṃ phandamāne... passatha... (Hãy thấy, hãy nhận ra, hãy quan sát, hãy chiêm nghiệm, hãy xem xét những kẻ đang run rẩy, đang run rẩy mạnh, đang run rẩy khắp nơi, đang run rẩy dữ dội, đang rung động, đang rung động mạnh, đang rung động khắp nơi như vậy) – (đó là ý nghĩa của) mamāyite passatha phandamāne.
Maccheva appodake khīṇasoteti. Yathā macchā appodake parittodake udakapariyādāne kākehi vā kulalehi vā balākāhi vā paripātiyamānā ukkhipiyamānā khajjamānā phandanti paphandanti samphandanti vipphandanti vedhanti pavedhanti sampavedhanti; evameva pajā mamāyitaṃ vatthuṃ acchedasaṃkinopi phandanti, acchindantepi phandanti, acchinnepi phandanti, mamāyitaṃ vatthuṃ vipariṇāmasaṃkinopi phandanti, vipariṇāmantepi phandanti, vipariṇatepi phandanti paphandanti samphandanti vipphandanti vedhanti pavedhanti sampavedhantīti – maccheva appodake khīṇasote.
'Like fish in little water, in a depleted stream.' Just as fish in a place with little water, in scant water, in water that is exhausted, being harassed, pulled out, and eaten by crows, or by kites, or by cranes, tremble, tremble exceedingly, tremble all around, tremble violently, quake, quake exceedingly, and quake thoroughly; in the very same way, beings, being apprehensive that a cherished object will be taken away, tremble; even while it is being taken away, they tremble; even when it has been taken away, they tremble. Being apprehensive that a cherished object will change, they tremble; even while it is changing, they tremble; even when it has changed, they tremble, they tremble exceedingly, they tremble all around, they tremble violently, they quake, they quake exceedingly, and they quake thoroughly. This is the meaning of 'like fish in little water, in a depleted stream.'
Maccheva appodake khīṇasoteti (Như cá trong dòng nước cạn, ít nước). Giống như những con cá trong nơi ít nước, nơi nước cạn, khi nước đã cạn kiệt, bị quạ, diều hâu, hoặc cò mổ, bị lôi lên, bị ăn thịt, chúng run rẩy, run rẩy mạnh, run rẩy khắp nơi, run rẩy dữ dội, rung động, rung động mạnh, rung động khắp nơi; cũng vậy, chúng sanh run rẩy vì nghi ngờ vật ái luyến sẽ bị cướp đoạt, họ run rẩy khi đang bị cướp đoạt, họ run rẩy khi đã bị cướp đoạt. Họ run rẩy vì nghi ngờ vật ái luyến sẽ bị biến hoại, họ run rẩy khi nó đang biến hoại, họ run rẩy khi nó đã biến hoại, họ run rẩy mạnh, họ run rẩy khắp nơi, họ run rẩy dữ dội, họ rung động, họ rung động mạnh, họ rung động khắp nơi – (đó là ý nghĩa của) maccheva appodake khīṇasote.
Etampi disvā amamo careyyāti. Etaṃ ādīnavaṃ disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā † vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā mamattesūti – etampi disvā. Amamo careyyāti mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca…pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Taṇhāmamattaṃ pahāya diṭṭhimamattaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ amamāyanto sotaṃ amamāyanto ghānaṃ amamāyanto jivhaṃ amamāyanto kāyaṃ amamāyanto manaṃ amamāyanto rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… dhamme… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ… kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ… nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme amamāyanto agaṇhanto aparāmasanto anabhinivisanto careyya vihareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – etampi disvā amamo careyya.
“Seeing this also, one should fare on without possessiveness.” Having seen, perceived, weighed, judged, discerned, and made manifest this danger in possessiveness—this is “seeing this also.” “One should fare on without possessiveness”: “Possessiveness” refers to two kinds of possessiveness—the possessiveness of craving and the possessiveness of views… this is the possessiveness of craving… this is the possessiveness of views. Having abandoned the possessiveness of craving and having relinquished the possessiveness of views, not making the eye one’s own, not making the ear one’s own, not making the nose one’s own, not making the tongue one’s own, not making the body one’s own, not making the mind one’s own; not making forms… sounds… smells… tastes… tactile objects… mental phenomena… family… group… dwelling… gain… fame… praise… pleasure… robes… almsfood… lodging… requisites of medicine for the sick… the sense-sphere realm… the form-sphere realm… the formless-sphere realm… sense-sphere existence… form-sphere existence… formless-sphere existence… existence with perception… existence without perception… existence with neither perception nor non-perception… existence with one constituent… existence with four constituents… existence with five constituents… the past… the future… the present… or things seen, heard, sensed, and cognized one’s own; not grasping, not clinging to, not adhering, one should fare on, dwell, conduct oneself, act, maintain, and sustain oneself. This is the meaning of “Seeing this also, one should fare on without possessiveness.”
Etampi disvā amamo careyyāti (Thấy được điều này, người không còn 'cái của tôi' nên sống). Thấy được sự nguy hại này, nhận ra, cân nhắc, phán đoán, làm cho rõ ràng, làm cho hiển lộ trong những sự ái luyến – (đó là ý nghĩa của) etampi disvā. Amamo careyyāti (Người không còn 'cái của tôi' nên sống): mamattāti (sự ái luyến 'của tôi' là) có hai loại ái luyến – taṇhāmamattañca (ái luyến do tham ái) và diṭṭhimamattañca (ái luyến do tà kiến)... cho đến... đây là ái luyến do tham ái... cho đến... đây là ái luyến do tà kiến. Từ bỏ ái luyến do tham ái, xả ly ái luyến do tà kiến, vị ấy sống không ái luyến con mắt, không ái luyến tai, không ái luyến mũi, không ái luyến lưỡi, không ái luyến thân, không ái luyến ý; không ái luyến sắc... thanh... hương... vị... xúc... pháp... gia đình... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh vọng... tán dương... hạnh phúc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... dục giới... sắc giới... vô sắc giới... dục hữu... sắc hữu... vô sắc hữu... tưởng hữu... vô tưởng hữu... phi tưởng phi phi tưởng hữu... nhất uẩn hữu... tứ uẩn hữu... ngũ uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; không ái luyến, không nắm giữ, không chấp thủ, không quyết đoán, vị ấy nên sống, nên trú, nên hành xử, nên thực hành, nên bảo hộ, nên duy trì, nên tiếp tục – (đó là ý nghĩa của) etampi disvā amamo careyya.
Bhavesu āsattimakubbamānoti. Bhavesūti kāmabhave rūpabhave arūpabhave. Āsatti vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Bhavesu āsattimakubbamānoti. Bhavesu āsattiṃ akubbamāno, chandaṃ pemaṃ rāgaṃ khantiṃ akubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamānoti – bhavesu āsattimakubbamāno.
“Not making an attachment in existences.” “In existences” means in the sense-sphere existence, the form-sphere existence, and the formless-sphere existence. “Attachment” is a term for craving. Whatever is lust, passion… greed, the unwholesome root. “Not making an attachment in existences” means: not making an attachment in existences; not making, not generating, not producing, not bringing into being, not causing to arise desire, affection, passion, or approval. Thus, “not making an attachment in existences.”
Bhavesu āsattimakubbamāno (Không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu). ‘Bhavesu’ (trong các cõi hữu) là trong cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. ‘Āsatti’ (sự dính mắc) được gọi là ái dục. Bất cứ sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt nào… (vân vân)… sự tham lam, lòng tham, căn nguyên bất thiện. ‘Bhavesu āsattimakubbamāno’ (Không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu) nghĩa là: không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu, không tạo ra dục, ái, tham, sự chấp nhận; không làm cho sanh khởi, không làm cho đặc biệt sanh khởi, không làm cho phát sanh, không làm cho hoàn toàn phát sanh – (đó là ý nghĩa của) ‘bhavesu āsattimakubbamāno’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Mamāyite passatha phandamāne, maccheva appodake khīṇasote;
Etampi disvā amamo careyya, bhavesu āsattimakubbamāno’’ti.
“‘See those who tremble over what is held as ‘mine,’ like fish in the scant water of a dried-up stream. Seeing this also, one should fare on without possessiveness, not making an attachment in existences.’”
“Hãy nhìn những chúng sanh đang run rẩy trong những gì được ái luyến, như loài cá trong dòng nước cạn, dòng suối đã khô; Thấy được điều này, người không còn chấp thủ nên sống, không tạo ra sự dính mắc trong các cõi hữu.”
13.
13.
13.
Ubhosu antesu vineyya chandaṃ, phassaṃ pariññāya anānugiddho;
Yadattagarahī tadakubbamāno, na limpatī † diṭṭhasutesu dhīro.
Having dispelled desire for both extremes, having fully understood contact and being unattached, not doing that which is blameworthy to oneself, the steadfast one is not tainted by what is seen or heard.
Nhiếp phục dục tham ở cả hai cực đoan, liễu tri về xúc, không còn tham đắm; Không làm điều mà tự mình chê trách, bậc trí không nhiễm ô trong những gì được thấy và nghe.
Ubhosu antesu vineyya chandanti. Antāti phasso eko anto phassasamudayo dutiyo anto, atīto eko anto anāgato dutiyo anto, sukhā vedanā eko anto dukkhā vedanā dutiyo anto, nāmaṃ eko anto rūpaṃ dutiyo anto, cha ajjhattikāni āyatanāni eko anto cha bāhirāni āyatanāni dutiyo anto, sakkāyo eko anto sakkāyasamudayo dutiyo anto. Chandoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasneho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ. Ubhosu antesu vineyya chandanti ubhosu antesu chandaṃ vineyya paṭivineyya pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – ubhosu antesu vineyya chandaṃ.
“Having dispelled desire for both extremes.” As for “extremes”: contact is one extreme, the origin of contact is the second extreme; the past is one extreme, the future is the second extreme; pleasant feeling is one extreme, painful feeling is the second extreme; name is one extreme, form is the second extreme; the six internal sense bases are one extreme, the six external sense bases are the second extreme; the existing body is one extreme, the origin of the existing body is the second extreme. As for “desire”: whatever in regard to sensual pleasures is sensual desire, sensual lust, sensual delight, sensual craving, sensual affection, sensual burning, sensual infatuation, sensual engulfing, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, sensual grasping, the hindrance of sensual desire. “Having dispelled desire for both extremes” means: having dispelled, having removed, having abandoned, having gotten rid of, having brought to an end, having brought to non-existence the desire for both extremes. Thus, “Having dispelled desire for both extremes.”
Ubhosu antesu vineyya chandaṃ (Nhiếp phục dục tham ở cả hai cực đoan). ‘Antā’ (cực đoan) là: xúc là một cực đoan, tập khởi của xúc là cực đoan thứ hai; quá khứ là một cực đoan, vị lai là cực đoan thứ hai; thọ lạc là một cực đoan, thọ khổ là cực đoan thứ hai; danh là một cực đoan, sắc là cực đoan thứ hai; sáu xứ nội là một cực đoan, sáu xứ ngoại là cực đoan thứ hai; thân kiến là một cực đoan, tập khởi của thân kiến là cực đoan thứ hai. ‘Chando’ (dục) là: bất cứ dục tham, tham ái, hỷ lạc, ái dục, quyến luyến, nhiệt não, mê đắm, nuốt chửng, bộc lưu, ách phược, chấp thủ, triền cái dục tham nào trong các dục. ‘Ubhosu antesu vineyya chandaṃ’ (Nhiếp phục dục tham ở cả hai cực đoan) nghĩa là: nên nhiếp phục, nên chế ngự, nên từ bỏ, nên xua tan, nên chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu dục tham ở cả hai cực đoan – (đó là ý nghĩa của) ‘ubhosu antesu vineyya chandaṃ’.
Phassaṃ pariññāya anānugiddhoti. Phassoti cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso, adhivacanasamphasso, paṭighasamphasso, sukhavedanīyo samphasso dukkhavedanīyo samphasso adukkhamasukhavedanīyo samphasso, kusalo phasso akusalo phasso abyākato phasso, kāmāvacaro phasso rūpāvacaro phasso arūpāvacaro phasso, suññato phasso animitto phasso appaṇihito phasso, lokiyo phasso lokuttaro phasso, atīto phasso anāgato phasso paccuppanno phasso, yo evarūpo phasso phusanā samphusanā samphusitattaṃ – ayaṃ vuccati phasso.
“Having fully understood contact, being unattached.” As for “contact”: eye-contact, ear-contact, nose-contact, tongue-contact, body-contact, mind-contact; designation-contact, impingement-contact; contact associated with pleasant feeling, contact associated with painful feeling, contact associated with neither-painful-nor-pleasant feeling; wholesome contact, unwholesome contact, indeterminate contact; sense-sphere contact, form-sphere contact, formless-sphere contact; contact that is void, contact that is signless, contact that is aimless; worldly contact, supramundane contact; past contact, future contact, present contact; whatever is such contact, touching, the state of having been in contact—this is called “contact.”
Phassaṃ pariññāya anānugiddho (Liễu tri về xúc, không còn tham đắm). ‘Phasso’ (xúc) là: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc; tăng ngữ xúc, đối ngại xúc; xúc tương ưng với thọ lạc, xúc tương ưng với thọ khổ, xúc tương ưng với thọ bất khổ bất lạc; xúc thiện, xúc bất thiện, xúc vô ký; xúc thuộc cõi dục, xúc thuộc cõi sắc, xúc thuộc cõi vô sắc; xúc không, xúc vô tướng, xúc vô nguyện; xúc hiệp thế, xúc siêu thế; xúc quá khứ, xúc vị lai, xúc hiện tại. Bất cứ sự xúc chạm, sự tiếp xúc, trạng thái tiếp xúc nào có tính chất như vậy – đây được gọi là xúc.
Phassaṃ pariññāyāti phassaṃ tīhi pariññāhi parijānitvā – ñātapariññāya, tīraṇapariññāya †, pahānapariññāya. Katamā ñātapariññā? Phassaṃ jānāti – ayaṃ cakkhusamphasso, ayaṃ sotasamphasso, ayaṃ ghānasamphasso, ayaṃ jivhāsamphasso, ayaṃ kāyasamphasso, ayaṃ manosamphasso, ayaṃ adhivacanasamphasso, ayaṃ paṭighasamphasso, ayaṃ sukhavedanīyo phasso, ayaṃ dukkhavedanīyo phasso, ayaṃ adukkhamasukhavedanīyo phasso, ayaṃ kusalo phasso, ayaṃ akusalo phasso, ayaṃ abyākato phasso, ayaṃ kāmāvacaro phasso, ayaṃ rūpāvacaro phasso, ayaṃ arūpāvacaro phasso, ayaṃ suññato phasso, ayaṃ animitto phasso, ayaṃ appaṇihito phasso, ayaṃ lokiyo phasso, ayaṃ lokuttaro phasso, ayaṃ atīto phasso, ayaṃ anāgato phasso, ayaṃ paccuppanno phassoti jānāti passati – ayaṃ ñātapariññā.
By “full understanding of contact” is meant having fully known contact through three full understandings: full understanding as the known, full understanding as investigation, and full understanding as abandoning. What is full understanding as the known? One knows contact: ‘This is eye-contact, this is ear-contact, this is nose-contact, this is tongue-contact, this is body-contact, this is mind-contact, this is designation-contact, this is impingement-contact, this is contact to be felt as pleasant, this is contact to be felt as painful, this is contact to be felt as neither-painful-nor-pleasant, this is wholesome contact, this is unwholesome contact, this is indeterminate contact, this is sense-sphere contact, this is form-sphere contact, this is formless-sphere contact, this is contact that is void, this is contact that is signless, this is contact that is aimless, this is worldly contact, this is supramundane contact, this is past contact, this is future contact, this is present contact.’ Thus one knows and sees. This is full understanding as the known.
‘Phassaṃ pariññāya’ (Liễu tri về xúc) nghĩa là liễu tri về xúc bằng ba loại liễu tri – liễu tri bằng sự biết rõ (ñātapariññā), liễu tri bằng sự thẩm sát (tīraṇapariññā), liễu tri bằng sự đoạn trừ (pahānapariññā). Thế nào là liễu tri bằng sự biết rõ? Vị ấy biết về xúc – đây là nhãn xúc, đây là nhĩ xúc, đây là tỷ xúc, đây là thiệt xúc, đây là thân xúc, đây là ý xúc, đây là tăng ngữ xúc, đây là đối ngại xúc, đây là xúc tương ưng với thọ lạc, đây là xúc tương ưng với thọ khổ, đây là xúc tương ưng với thọ bất khổ bất lạc, đây là xúc thiện, đây là xúc bất thiện, đây là xúc vô ký, đây là xúc thuộc cõi dục, đây là xúc thuộc cõi sắc, đây là xúc thuộc cõi vô sắc, đây là xúc không, đây là xúc vô tướng, đây là xúc vô nguyện, đây là xúc hiệp thế, đây là xúc siêu thế, đây là xúc quá khứ, đây là xúc vị lai, đây là xúc hiện tại. Vị ấy biết và thấy như vậy – đây là liễu tri bằng sự biết rõ.
Katamā tīraṇapariññā? Evaṃ ñātaṃ katvā phassaṃ tīreti. Aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto adhuvato atāṇato aleṇato asaraṇato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātijarābyādhimaraṇadhammato sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammato saṃkilesadhammato samudayato atthaṅgamato assādato ādīnavato nissaraṇato tīreti – ayaṃ tīraṇapariññā.
What is full understanding as investigation? Having thus known, one investigates contact. One investigates it as impermanent, as suffering, as a disease, as a boil, as a dart, as misfortune, as an affliction, as other, as perishable, as a calamity, as a disaster, as fear, as a peril, as unsteady, as fragile, as not lasting, as without protection, as without shelter, as without refuge, as destitute, as worthless, as empty, as not-self, as a danger, as subject to change, as without substance, as the root of misfortune, as a murderer, as subject to destruction, as with taints, as conditioned, as Māra's bait, as subject to birth, aging, sickness, and death, as subject to sorrow, lamentation, pain, grief, and despair, as subject to defilement, as origin, as cessation, as gratification, as danger, and as escape. This is full understanding as investigation.
Thế nào là liễu tri bằng sự thẩm sát? Sau khi đã biết như vậy, vị ấy thẩm sát về xúc. Vị ấy thẩm sát (xúc) là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là tật ách, là ngoại vật, là hoại diệt, là tai ương, là tai họa, là đáng sợ, là nguy hiểm, là dao động, là mong manh, là không bền vững, là không có nơi che chở, là không có nơi ẩn náu, là không có nơi nương tựa, là trống rỗng, là rỗng không, là không, là vô ngã, là nguy hiểm, là có bản chất biến hoại, là không có lõi cây, là cội nguồn của bất hạnh, là kẻ sát nhân, là có sự tiêu vong, là có lậu hoặc, là pháp hữu vi, là mồi của Ma vương, là có bản chất sanh-già-bệnh-chết, là có bản chất sầu-bi-khổ-ưu-não, là có bản chất ô nhiễm, là tập khởi, là đoạn diệt, là vị ngọt, là sự nguy hại, là sự xuất ly – đây là liễu tri bằng sự thẩm sát.
Katamā pahānapariññā? Evaṃ tīrayitvā phasse chandarāgaṃ pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘yo, bhikkhave, phassesu chandarāgo taṃ pajahatha. Evaṃ so phasso pahīno bhavissati ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃ kato āyatiṃ anuppādadhammo’’ti – ayaṃ pahānapariññā. Phassaṃ pariññāyāti. Phassaṃ imāhi tīhi pariññāhi parijānitvā. Anānugiddhoti. Gedhovuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yasseso gedho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati agiddho. So rūpe agiddho sadde agiddho gandhe agiddho rase agiddho phoṭṭhabbe agiddho kule… gaṇe… āvāse… lābhe… yase… pasaṃsāya… sukhe… cīvare… piṇḍapāte… senāsane… gilānapaccayabhesajjaparikkhāre agiddho kāmadhātuyā… rūpadhātuyā… arūpadhātuyā… kāmabhave… rūpabhave… arūpabhave… saññābhave… asaññābhave… nevasaññānāsaññābhave… ekavokārabhave… catuvokārabhave… pañcavokārabhave… atīte… anāgate… paccuppanne… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu agiddho agadhito amucchito anajjhāpanno vītagedho vigatagedho cattagedho vantagedho muttagedho pahīnagedho paṭinissaṭṭhagedho vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo nicchāto nibbuto sītibhūto sukhapaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – phassaṃ pariññāya anānugiddho.
What is comprehension by abandonment? Having thus discerned, one abandons, dispels, eradicates, and causes to vanish the desire and passion for contact. For this has been said by the Blessed One: 'Monks, whatever desire and passion there is for contacts, abandon that. Thus, that contact will be abandoned, with its root cut off, made like a palm stump, brought to non-existence, and of a nature not to arise again in the future.' This is comprehension by abandonment. ‘Having fully comprehended contact’ means having fully comprehended contact by means of these three comprehensions. ‘Not clinging’: ‘Clinging’ (gedha) is a term for craving. That which is lust, strong passion… covetousness, greed, the unwholesome root. For whom this clinging is abandoned, eradicated, pacified, calmed, incapable of arising, and burned by the fire of knowledge—such a one is called ‘one who is not clinging.’ He is not clinging to forms, sounds, smells, tastes, or touches; not clinging to family, group, dwelling, gain, fame, praise, pleasure, robes, alms-food, lodgings, or medicinal requisites; not clinging to the sensual realm, the realm of form, or the formless realm; not clinging to sensual existence, form existence, formless existence, existence of perception, existence of non-perception, existence of neither-perception-nor-non-perception, one-constituent existence, four-constituent existence, or five-constituent existence; not clinging to the past, the future, or the present. In regard to things seen, heard, sensed, and cognized, he is not clinging, not greedy, not infatuated, and unattached. He is with clinging gone, with clinging departed, with clinging given up, with clinging relinquished, with clinging released, with clinging abandoned, with clinging cast off; he is without lust, with lust departed, with lust given up, with lust relinquished, with lust released, with lust abandoned, with lust cast off. He is without thirst, extinguished, become cool, and dwells with a self that has become sublime. This is the meaning of ‘having fully comprehended contact, one is not clinging.’
Thế nào là đoạn tận biến tri? Sau khi thẩm sát như vậy, vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại dục tham ở nơi xúc. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, dục tham nào có ở nơi các xúc, các thầy hãy từ bỏ điều ấy. Như vậy, xúc ấy sẽ được đoạn tận, bị cắt đứt tận gốc rễ, được làm cho như thân cây ta-la, được làm cho không còn tồn tại, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai.’ – Đây là đoạn tận biến tri. (Nói rằng) ‘do liễu tri xúc.’ (Nghĩa là) do liễu tri xúc bằng ba loại biến tri này. (Nói rằng) ‘không tham đắm.’ Sự tham ái được gọi là sự thèm muốn. Dục nào, tham nào, ... cho đến ... lòng tham, tham lam, là gốc rễ bất thiện. Vị nào đã đoạn tận, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, sự thèm muốn này, vị ấy được gọi là người không tham đắm. Vị ấy không tham đắm sắc, không tham đắm tiếng, không tham đắm mùi, không tham đắm vị, không tham đắm vật xúc chạm, không tham đắm gia đình, ... hội chúng, ... trú xứ, ... lợi lộc, ... danh vọng, ... tán thán, ... lạc, ... y, ... vật thực khất thực, ... sàng tọa, ... dược phẩm trị bệnh và vật dụng, không tham đắm ở cõi dục, ... cõi sắc, ... cõi vô sắc, ... cõi dục, ... cõi sắc, ... cõi vô sắc, ... cõi tưởng, ... cõi vô tưởng, ... cõi phi tưởng phi phi tưởng, ... cõi một uẩn, ... cõi bốn uẩn, ... cõi năm uẩn, ... ở quá khứ, ... ở tương lai, ... ở hiện tại, ... ở các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, không tham đắm, không thèm muốn, không say mê, không chìm đắm, đã lìa sự thèm muốn, đã từ bỏ sự thèm muốn, đã xả ly sự thèm muốn, đã nôn ra sự thèm muốn, đã giải thoát khỏi sự thèm muốn, đã đoạn tận sự thèm muốn, đã vất bỏ sự thèm muốn, đã lìa tham, đã từ bỏ tham, đã xả ly tham, đã nôn ra tham, đã giải thoát khỏi tham, đã đoạn tận tham, đã vất bỏ tham, không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã trở nên mát lạnh, cảm nhận sự an lạc, sống với tự thân đã trở thành thanh cao. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘do liễu tri xúc, không tham đắm.’
Yadattagarahī tadakubbamānoti. Yadanti yaṃ. Attagarahīti dvīhi kāraṇehi attānaṃ garahati – katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati? Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucaritanti – attānaṃ garahati. Kataṃ me vacīduccaritaṃ, akataṃ me vacīsucaritanti – attānaṃ garahati. Kataṃ me manoduccaritaṃ, akataṃ me manosucaritanti – attānaṃ garahati. Kato me pāṇātipāto, akatā me pāṇātipātā veramaṇīti – attānaṃ garahati. Kataṃ me adinnādānaṃ, akatā me adinnādānā veramaṇīti – attānaṃ garahati. Kato me kāmesumicchācāro, akatā me kāmesumicchācārā veramaṇīti – attānaṃ garahati. Kato me musāvādo, akatā me musāvādā veramaṇīti – attānaṃ garahati. Katā me pisuṇā vācā, akatā me pisuṇāya vācāya veramaṇīti – attānaṃ garahati. Katā me pharusā vācā, akatā me pharusāya vācāya veramaṇīti – attānaṃ garahati. Kato me samphappalāpo, akatā me samphappalāpā veramaṇīti – attānaṃ garahati. Katā me abhijjhā, akatā me anabhijjhāti – attānaṃ garahati. Kato me byāpādo, akato me abyāpādoti – attānaṃ garahati. Katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhīti – attānaṃ garahati. Evaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati. Atha vā, sīlesumhi na paripūrakārīti – attānaṃ garahati. Indriyesumhi aguttadvāroti – attānaṃ garahati. Bhojanemhi † amattaññūti – attānaṃ garahati. Jāgariyaṃ ananuyuttoti – attānaṃ garahati. Satisampajaññena asamannāgatoti – attānaṃ garahati. Abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānāti – attānaṃ garahati. Abhāvitā me cattāro sammappadhānāti – attānaṃ garahati. Abhāvitā me cattāro iddhipādāti – attānaṃ garahati. Abhāvitāni me pañcindriyānīti – attānaṃ garahati. Abhāvitāni me pañca balānīti – attānaṃ garahati. Abhāvitā me satta bojjhaṅgāti – attānaṃ garahati. Abhāvito me ariyo aṭṭhaṅgiko maggoti – attānaṃ garahati. Dukkhaṃ me apariññātanti – attānaṃ garahati. Samudayo me appahīnoti – attānaṃ garahati. Maggo me abhāvitoti – attānaṃ garahati. Nirodho me asacchikatoti – attānaṃ garahati. Evaṃ katattā ca akatattā ca attānaṃ garahati. Evaṃ attagarahitaṃ kammaṃ akubbamāno ajanayamāno asañjanayamāno anibbattayamāno anabhinibbattayamānoti – yadattagarahī tadakubbamāno. Na limpatī diṭṭhasutesu dhīroti. Lepoti dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo…pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Dhīroti paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Dhīro taṇhālepaṃ pahāya diṭṭhilepaṃ paṭinissajjitvā diṭṭhe na limpati, sute na limpati, mute na limpati, viññāte na limpati, na palimpati †, na upalimpati. Alitto apalitto † anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – na limpatī diṭṭhasutesu dhīroti.
‘Not doing what is self-reproachable’: ‘what’ means that which. ‘Self-reproachable’ means one reproaches oneself for two reasons: for what has been done and for what has not been done. How does one reproach oneself for what has been done and what has not been done? ‘I have committed bodily misconduct; I have not performed bodily good conduct’—thus one reproaches oneself. ‘I have committed verbal misconduct; I have not performed verbal good conduct’—thus one reproaches oneself. ‘I have committed mental misconduct; I have not performed mental good conduct’—thus one reproaches oneself. ‘I have killed living beings; I have not abstained from killing living beings’—thus one reproaches oneself. ‘I have taken what is not given; I have not abstained from taking what is not given’—thus one reproaches oneself. ‘I have engaged in sexual misconduct; I have not abstained from sexual misconduct’—thus one reproaches oneself. ‘I have spoken falsely; I have not abstained from false speech’—thus one reproaches oneself. ‘I have spoken divisively; I have not abstained from divisive speech’—thus one reproaches oneself. ‘I have spoken harshly; I have not abstained from harsh speech’—thus one reproaches oneself. ‘I have engaged in idle chatter; I have not abstained from idle chatter’—thus one reproaches oneself. ‘I have harbored covetousness; I have not cultivated non-covetousness’—thus one reproaches oneself. ‘I have harbored ill will; I have not cultivated non-ill will’—thus one reproaches oneself. ‘I have held wrong views; I have not cultivated right view’—thus one reproaches oneself. In this way, one reproaches oneself for what has been done and what has not been done. Alternatively: ‘I have not fulfilled virtuous conduct’—thus one reproaches oneself. ‘I have not guarded the sense doors’—thus one reproaches oneself. ‘I have not known moderation in eating’—thus one reproaches oneself. ‘I have not applied myself to wakefulness’—thus one reproaches oneself. ‘I am not endowed with mindfulness and clear comprehension’—thus one reproaches oneself. ‘The four foundations of mindfulness have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The four right efforts have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The four bases of spiritual power have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The five faculties have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The five powers have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The seven factors of enlightenment have not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘The Noble Eightfold Path has not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘Suffering has not been fully comprehended by me’—thus one reproaches oneself. ‘The origin has not been abandoned by me’—thus one reproaches oneself. ‘The path has not been developed by me’—thus one reproaches oneself. ‘Cessation has not been realized by me’—thus one reproaches oneself. In this way, one reproaches oneself for what has been done and what has not been done. Thus, not doing, not generating, not producing, not bringing forth, not giving rise to such self-reproachable action—this is what is meant by ‘not doing what is self-reproachable.’ ‘The wise one is not smeared by what is seen or heard.’ ‘Smear’ refers to two types of smears: the smear of craving and the smear of views… This is the smear of craving… This is the smear of views. ‘The wise one’ means one who is sagacious, discerning, intelligent, knowledgeable, insightful, and astute. The wise one, having abandoned the smear of craving and relinquished the smear of views, is not smeared by the seen, is not smeared by the heard, is not smeared by the sensed, is not smeared by the cognized; he is not further smeared, nor is he thoroughly smeared. Unsmeared, unsoiled, untainted, gone forth, detached, completely liberated, disjoined, one dwells with a mind that has transcended limitations. This is what is meant by ‘the wise one is not smeared by what is seen or heard.’
(Nói rằng) ‘điều gì đáng tự trách, vị ấy không làm điều ấy.’ (Nói rằng) ‘điều gì’ có nghĩa là cái nào. (Nói rằng) ‘đáng tự trách’ có nghĩa là tự trách mình vì hai lý do: vì đã làm và vì đã không làm. Thế nào là tự trách mình vì đã làm và vì đã không làm? ‘Thân ác hạnh đã được ta làm, thân thiện hạnh đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm, khẩu thiện hạnh đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Ý ác hạnh đã được ta làm, ý thiện hạnh đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Sự sát sanh đã được ta làm, sự từ bỏ sát sanh đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Sự lấy của không cho đã được ta làm, sự từ bỏ lấy của không cho đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Tà hạnh trong các dục đã được ta làm, sự từ bỏ tà hạnh trong các dục đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Sự nói dối đã được ta làm, sự từ bỏ nói dối đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Lời nói đâm thọc đã được ta làm, sự từ bỏ lời nói đâm thọc đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Lời nói thô ác đã được ta làm, sự từ bỏ lời nói thô ác đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Lời nói vô ích đã được ta làm, sự từ bỏ lời nói vô ích đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Lòng tham đã được ta làm, sự không tham đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Sân hận đã được ta làm, sự không sân hận đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Tà kiến đã được ta làm, chánh kiến đã không được ta làm’ – (vị ấy) tự trách mình. Như vậy, (vị ấy) tự trách mình vì đã làm và vì đã không làm. Hoặc là, ‘ta không phải là người thực hành viên mãn các giới’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Ta không hộ trì các căn’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Ta không biết tiết độ trong ăn uống’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Ta không chuyên tâm vào sự tỉnh thức’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Ta không có đủ niệm và tỉnh giác’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Bốn niệm xứ đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Bốn chánh cần đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Bốn như ý túc đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Năm căn đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Năm lực đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Bảy giác chi đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Thánh đạo tám ngành đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Khổ đã không được ta liễu tri’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Tập đã không được ta đoạn tận’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Đạo đã không được ta tu tập’ – (vị ấy) tự trách mình. ‘Diệt đã không được ta chứng ngộ’ – (vị ấy) tự trách mình. Như vậy, (vị ấy) tự trách mình vì đã làm và vì đã không làm. Không làm, không tạo ra, không tích lũy, không phát sanh, không làm cho phát sanh nghiệp đáng tự trách như vậy. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘điều gì đáng tự trách, vị ấy không làm điều ấy.’ (Nói rằng) ‘bậc trí không nhiễm trước trong những gì được thấy, được nghe.’ (Nói rằng) ‘sự nhiễm trước’ có hai loại nhiễm trước: nhiễm trước do tham ái và nhiễm trước do tà kiến ... cho đến ... đây là nhiễm trước do tham ái ... cho đến ... đây là nhiễm trước do tà kiến. (Nói rằng) ‘bậc trí’ là người có trí tuệ, có tuệ, có giác, có trí, có sự sáng suốt, có minh mẫn. Bậc trí, sau khi từ bỏ sự nhiễm trước do tham ái, sau khi vất bỏ sự nhiễm trước do tà kiến, không nhiễm trước trong cái được thấy, không nhiễm trước trong cái được nghe, không nhiễm trước trong cái được cảm nhận, không nhiễm trước trong cái được nhận thức, không bị dính mắc, không bị bám víu. Không bị dính, không bị dính mắc, không bị bám víu, đã thoát ra, đã lìa bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên hệ, sống với tâm không còn giới hạn. – (Đây là ý nghĩa của câu) ‘bậc trí không nhiễm trước trong những gì được thấy, được nghe.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Ubhosu antesu vineyya chandaṃ, phassaṃ pariññāya anānugiddho;
Yadattagarahī tadakubbamāno, na limpatī diṭṭhasutesu dhīro’’ti.
Having disciplined desire for both extremes, having fully comprehended contact, and being unattached; not doing that which is self-reproachable, the wise one is not smeared by what is seen and heard.
Bậc trí sau khi nhiếp phục được dục tham ở hai cực đoan, liễu tri về xúc, không tham đắm; không làm điều tự mình chê trách, vị ấy không bị ô nhiễm trong các điều được thấy và được nghe.
14.
14.
14.
Saññaṃ pariññā vitareyya oghaṃ, pariggahesu muni nopalitto;
Abbūḷhasallo caramappamatto, nāsīsatī lokamimaṃ parañca.
Having fully comprehended perception, one may cross the flood; the sage is not defiled by attachments. Having extracted the dart, practicing heedfully, he does not yearn for this world or the next.
Vị nào do liễu tri tưởng có thể vượt qua bộc lưu, bậc ẩn sĩ không bị ô nhiễm trong các sở thủ; đã nhổ lên mũi tên, sống không phóng dật, vị ấy không mong cầu đời này và đời khác.
Saññaṃ pariññā vitareyya oghanti. Saññāti kāmasaññā byāpādasaññā vihiṃsāsaññā nekkhammasaññā abyāpādasaññā avihiṃsāsaññā rūpasaññā saddasaññā gandhasaññā rasasaññā phoṭṭhabbasaññā dhammasaññā – yā evarūpā saññā sañjānanā sañjānitattaṃ – ayaṃ vuccati saññā. Saññaṃ pariññāti saññaṃ tīhi pariññāhi parijānitvā – ñātapariññāya, tīraṇapariññāya, pahānapariññāya.
Regarding 'Having fully comprehended perception, one may cross the flood': Herein, 'perception' means: perception of sensual pleasure, perception of ill-will, perception of cruelty, perception of renunciation, perception of non-ill-will, perception of non-cruelty, perception of form, perception of sound, perception of odor, perception of taste, perception of tangible objects, and perception of mental objects. Whatever such perception, act of perceiving, or state of being a perceiver—this is called 'perception'. 'Having fully comprehended perception' means having fully known perception by means of three full understandings: full understanding as the known, full understanding as judgment, and full understanding as abandoning.
‘Do liễu tri tưởng có thể vượt qua bộc lưu.’ ‘Tưởng’ là: dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, xuất ly tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng – phàm có loại tưởng như vậy, sự tri nhận, trạng thái đã tri nhận – điều này được gọi là tưởng. ‘Do liễu tri tưởng’ là sau khi đã biết rõ tưởng bằng ba loại liễu tri – bằng biến tri, bằng thẩm sát tri, bằng đoạn tận tri.
Katamā ñātapariññā? Saññaṃ jānāti – ayaṃ kāmasaññā, ayaṃ byāpādasaññā, ayaṃ vihiṃsāsaññā, ayaṃ nekkhammasaññā, ayaṃ abyāpādasaññā, ayaṃ avihiṃsāsaññā, ayaṃ rūpasaññā, ayaṃ saddasaññā, ayaṃ gandhasaññā, ayaṃ rasasaññā, ayaṃ phoṭṭhabbasaññā, ayaṃ dhammasaññāti jānāti passati – ayaṃ ñātapariññā.
What is full understanding as the known? One knows perception thus: ‘This is perception of sensual pleasure, this is perception of ill-will, this is perception of cruelty, this is perception of renunciation, this is perception of non-ill-will, this is perception of non-cruelty, this is perception of form, this is perception of sound, this is perception of odor, this is perception of taste, this is perception of tangible objects, this is perception of mental objects.’ One knows and sees in this way. This is full understanding as the known.
Thế nào là biến tri? Vị ấy biết về tưởng: ‘Đây là dục tưởng, đây là sân tưởng, đây là hại tưởng, đây là xuất ly tưởng, đây là vô sân tưởng, đây là vô hại tưởng, đây là sắc tưởng, đây là thanh tưởng, đây là hương tưởng, đây là vị tưởng, đây là xúc tưởng, đây là pháp tưởng.’ Vị ấy biết, vị ấy thấy như vậy – đây là biến tri.
Katamā tīraṇapariññā? Evaṃ ñātaṃ katvā saññaṃ tīreti. Aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto…pe… samudayato atthaṅgamato assādato ādīnavato nissaraṇato tīreti – ayaṃ tīraṇapariññā.
What is full understanding as judgment? Having known it thus, one judges perception. One judges it as impermanent, as suffering, as a disease, as a boil, as a dart, as a misfortune, as an affliction, as other, as perishable, as a calamity, as a danger, as fear, as a disaster, as unsteady, as fragile... as origination, as passing away, as gratification, as disadvantage, and as escape. This is full understanding as judgment.
Thế nào là thẩm sát tri? Sau khi đã biết như vậy, vị ấy thẩm sát tưởng. Vị ấy thẩm sát (tưởng) là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là tật ách, là cái khác, là hoại diệt, là tai ương, là phiền não, là đáng sợ, là hiểm họa, là dao động, là mong manh... là tập khởi, là đoạn diệt, là vị ngọt, là sự nguy hại, là sự xuất ly – đây là thẩm sát tri.
Katamā pahānapariññā? Evaṃ tīrayitvā saññāya chandarāgaṃ pajahati vinodeti anabhāvaṃ gameti. Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘yo, bhikkhave, saññāya chandarāgo, taṃ pajahatha. Evaṃ sā saññā pahīnā bhavissati ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃ katā āyatiṃ anuppādadhammā’’ti – ayaṃ pahānapariññā. Saññaṃ pariññāti saññaṃ imāhi tīhi pariññāhi parijānitvā. Vitareyya oghanti kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tareyya uttareyya patareyya samatikkameyya vītivatteyyāti – saññaṃ pariññā vitareyya oghaṃ.
What is full understanding by abandonment? Having thus discerned, one abandons, dispels, and brings to non-existence the desire and passion for perception. And this was said by the Blessed One: 'Monks, whatever desire and passion there is for perception, that you should abandon. Thus, that perception will be abandoned, its root cut off, made like a palm stump, brought to non-existence, and subject to no further arising in the future.' This is full understanding by abandonment. ‘Having fully comprehended perception’ means having fully comprehended perception by means of these three full comprehensions. ‘One should cross the flood’ means one should cross, go beyond, pass over, overcome, and transcend the flood of sensual desire, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. This is the meaning of 'having fully comprehended perception, one should cross the flood'.
Thế nào là đoạn tận tri? Sau khi thẩm sát như vậy, vị ấy từ bỏ, loại trừ, làm cho không còn tồn tại dục và tham đối với tưởng. Điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, phàm có dục và tham nào đối với tưởng, các ông hãy từ bỏ nó. Như vậy, tưởng ấy sẽ được đoạn tận, bị cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không còn tồn tại, không có pháp sanh khởi trong tương lai.’ – đây là đoạn tận tri. ‘Do liễu tri tưởng’ là sau khi đã biết rõ tưởng bằng ba loại liễu tri này. ‘Có thể vượt qua bộc lưu’ là có thể vượt qua, vượt lên, vượt khỏi, siêu việt, đi qua khỏi dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, vô minh bộc – như vậy là ‘do liễu tri tưởng có thể vượt qua bộc lưu’.
Pariggahesu muni nopalittoti. Pariggahāti dve pariggahā – taṇhāpariggaho ca diṭṭhipariggaho ca…pe… ayaṃ taṇhāpariggaho…pe… ayaṃ diṭṭhipariggaho. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ. Yā paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi, tena ñāṇena samannāgato muni monappattoti. Tīṇi moneyyāni – kāyamoneyyaṃ, vacīmoneyyaṃ, manomoneyyaṃ.
‘The sage is not defiled by attachments.’ ‘Attachments’ refers to two attachments: attachment by craving and attachment by views… This is attachment by craving… This is attachment by views. ‘The sage’—‘sagacity’ is a term for knowledge. That which is wisdom, understanding… non-delusion, investigation of phenomena, right view. A sage is one endowed with such knowledge, one who has attained sagacity. There are three kinds of sagacity: sagacity of body, sagacity of speech, and sagacity of mind.
‘Bậc ẩn sĩ không bị ô nhiễm trong các sở thủ.’ ‘Sở thủ’ có hai loại sở thủ: sở thủ do ái và sở thủ do kiến... đây là sở thủ do ái... đây là sở thủ do kiến. ‘Bậc ẩn sĩ (Muni).’ Trí tuệ được gọi là ‘sự ẩn sĩ’ (mona). Phàm là tuệ, sự hiểu biết... vô si, trạch pháp, chánh kiến, người nào thành tựu trí tuệ ấy là bậc ẩn sĩ, đã đạt đến sự ẩn sĩ. Có ba loại ẩn sĩ hạnh (moneyya): thân ẩn sĩ hạnh, khẩu ẩn sĩ hạnh, ý ẩn sĩ hạnh.
Katamaṃ kāyamoneyyaṃ? Tividhakāyaduccaritānaṃ pahānaṃ kāyamoneyyaṃ, tividhaṃ kāyasucaritaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyārammaṇe ñāṇaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyapariññā kāyamoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo kāyamoneyyaṃ, kāye chandarāgassa pahānaṃ kāyamoneyyaṃ, kāyasaṅkhāranirodho catutthajjhānasamāpatti kāyamoneyyaṃ – idaṃ kāyamoneyyaṃ.
What is sagacity of body? The abandoning of threefold bodily misconduct is sagacity of body; threefold bodily good conduct is sagacity of body; knowledge with the body as object is sagacity of body; full comprehension of the body is sagacity of body; the path accompanied by full comprehension is sagacity of body; the abandoning of desire and passion for the body is sagacity of body; the cessation of the bodily formation, which is the attainment of the fourth jhāna, is sagacity of body—this is sagacity of body.
Thế nào là thân ẩn sĩ hạnh? Sự đoạn trừ ba loại thân ác hạnh là thân ẩn sĩ hạnh, ba loại thân thiện hạnh là thân ẩn sĩ hạnh, trí tuệ về thân làm đối tượng là thân ẩn sĩ hạnh, sự liễu tri về thân là thân ẩn sĩ hạnh, đạo lộ đi kèm với liễu tri là thân ẩn sĩ hạnh, sự đoạn trừ dục và tham đối với thân là thân ẩn sĩ hạnh, sự diệt của thân hành tức là sự chứng đắc Tứ thiền là thân ẩn sĩ hạnh – đây là thân ẩn sĩ hạnh.
Katamaṃ vacīmoneyyaṃ? Catubbidhavacīduccaritānaṃ pahānaṃ vacīmoneyyaṃ, catubbidhaṃ vacīsucaritaṃ vacīmoneyyaṃ, vācārammaṇe ñāṇaṃ vacīmoneyyaṃ, vācāpariññā vacīmoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo vacīmoneyyaṃ, vācāya chandarāgassa pahānaṃ vacīmoneyyaṃ, vacīsaṅkhāranirodho dutiyajjhānasamāpatti vacīmoneyyaṃ – idaṃ vacīmoneyyaṃ.
What is sagacity of speech? The abandoning of fourfold verbal misconduct is sagacity of speech; fourfold verbal good conduct is sagacity of speech; knowledge with speech as object is sagacity of speech; full comprehension of speech is sagacity of speech; the path accompanied by full comprehension is sagacity of speech; the abandoning of desire and passion for speech is sagacity of speech; the cessation of the verbal formation, which is the attainment of the second jhāna, is sagacity of speech—this is sagacity of speech.
Thế nào là khẩu ẩn sĩ hạnh? Sự đoạn trừ bốn loại khẩu ác hạnh là khẩu ẩn sĩ hạnh, bốn loại khẩu thiện hạnh là khẩu ẩn sĩ hạnh, trí tuệ về lời nói làm đối tượng là khẩu ẩn sĩ hạnh, sự liễu tri về lời nói là khẩu ẩn sĩ hạnh, đạo lộ đi kèm với liễu tri là khẩu ẩn sĩ hạnh, sự đoạn trừ dục và tham đối với lời nói là khẩu ẩn sĩ hạnh, sự diệt của khẩu hành tức là sự chứng đắc Nhị thiền là khẩu ẩn sĩ hạnh – đây là khẩu ẩn sĩ hạnh.
Katamaṃ manomoneyyaṃ? Tividhamanoduccaritānaṃ pahānaṃ manomoneyyaṃ, tividhaṃ manosucaritaṃ manomoneyyaṃ, cittārammaṇe ñāṇaṃ manomoneyyaṃ, cittapariññā manomoneyyaṃ, pariññāsahagato maggo manomoneyyaṃ, citte chandarāgassa pahānaṃ manomoneyyaṃ, cittasaṅkhāranirodho saññāvedayitanirodhaṃ manomoneyyaṃ – idaṃ manomoneyyaṃ.
What is sagacity of mind? The abandoning of threefold mental misconduct is sagacity of mind; threefold mental good conduct is sagacity of mind; knowledge with the mind as object is sagacity of mind; full comprehension of the mind is sagacity of mind; the path accompanied by full comprehension is sagacity of mind; the abandoning of desire and passion for the mind is sagacity of mind; the cessation of the mental formation, which is the attainment of the cessation of perception and feeling, is sagacity of mind—this is sagacity of mind.
Thế nào là ý ẩn sĩ hạnh? Sự đoạn trừ ba loại ý ác hạnh là ý ẩn sĩ hạnh, ba loại ý thiện hạnh là ý ẩn sĩ hạnh, trí tuệ về tâm làm đối tượng là ý ẩn sĩ hạnh, sự liễu tri về tâm là ý ẩn sĩ hạnh, đạo lộ đi kèm với liễu tri là ý ẩn sĩ hạnh, sự đoạn trừ dục và tham đối với tâm là ý ẩn sĩ hạnh, sự diệt của tâm hành tức là Diệt Thọ Tưởng Định là ý ẩn sĩ hạnh – đây là ý ẩn sĩ hạnh.
‘‘Kāyamuniṃ vācāmuniṃ, manomunimanāsavaṃ;
Muniṃ moneyyasampannaṃ, āhu sabbappahāyinaṃ.
Him who is a sage of body, a sage of speech, a sage of mind without taints; a sage endowed with sagacity, they call one who has abandoned all.
Bậc ẩn sĩ về thân, bậc ẩn sĩ về khẩu, bậc ẩn sĩ về ý, không còn lậu hoặc; bậc ẩn sĩ thành tựu ẩn sĩ hạnh, họ nói rằng, là người đã từ bỏ tất cả.
‘‘Kāyamuniṃ vācāmuniṃ, manomunimanāsavaṃ;
Muniṃ moneyyasampannaṃ, āhu ninhātapāpaka’’nti †.
Him who is a sage of body, a sage of speech, a sage of mind without taints; a sage endowed with sagacity, they call one who has washed away evil.
Bậc ẩn sĩ về thân, bậc ẩn sĩ về khẩu, bậc ẩn sĩ về ý, không còn lậu hoặc; bậc ẩn sĩ thành tựu ẩn sĩ hạnh, họ nói rằng, là người đã gột sạch điều ác.
Imehi tīhi moneyyehi dhammehi samannāgatā cha munino † – agāramunino, anagāramunino, sekhamunino, asekhamunino, paccekamunino, munimuninoti. Katame agāramunino? Ye te agārikā diṭṭhapadā viññātasāsanā – ime agāramunino. Katame anagāramunino? Ye te pabbajitā diṭṭhapadā viññātasāsanā – ime anagāramunino. Satta sekhā sekhamunino. Arahanto asekhamunino. Paccekabuddhā paccekamunino. Munimunino vuccanti tathāgatā arahanto sammāsambuddhā.
Endowed with these three qualities of sagacity, there are six kinds of sages: householder sages, homeless sages, trainee sages, non-trainee sages, individual sages, and the sage of sages. Who are the householder sages? Those householders who have seen the state [Nibbāna] and have understood the teaching—these are the householder sages. Who are the homeless sages? Those who have gone forth, have seen the state [Nibbāna], and have understood the teaching—these are the homeless sages. The seven kinds of trainees are the trainee sages. The Arahants are the non-trainee sages. The Paccekabuddhas are the individual sages. The sage of sages are called the Tathāgatas, Arahants, the Perfectly Self-Enlightened Ones.
Có sáu bậc ẩn sĩ thành tựu ba pháp ẩn sĩ hạnh này: tại gia ẩn sĩ, xuất gia ẩn sĩ, hữu học ẩn sĩ, vô học ẩn sĩ, độc giác ẩn sĩ, và ẩn sĩ của các ẩn sĩ. Thế nào là tại gia ẩn sĩ? Những người tại gia đã thấy được Thánh quả, đã hiểu rõ giáo pháp – đây là các tại gia ẩn sĩ. Thế nào là xuất gia ẩn sĩ? Những người đã xuất gia, đã thấy được Thánh quả, đã hiểu rõ giáo pháp – đây là các xuất gia ẩn sĩ. Bảy bậc hữu học là hữu học ẩn sĩ. Các vị A-la-hán là vô học ẩn sĩ. Các vị Phật Độc Giác là độc giác ẩn sĩ. Các vị Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác được gọi là ẩn sĩ của các ẩn sĩ.
‘‘Na monena muni hoti, mūḷharūpo aviddasu;
Yo ca tulaṃva paggayha, varamādāya paṇḍito.
One does not become a sage by silence, if one is of a deluded nature and unknowing. But the wise person who, as if holding up a scale, takes what is excellent...
Không phải do im lặng mà thành bậc ẩn sĩ, nếu kẻ ấy có bản chất si mê và không hiểu biết; nhưng bậc trí, như người cầm cán cân, đã chọn lấy điều cao thượng.
‘‘Pāpāni parivajjeti, sa muni tena so muni;
Yo munāti ubho loke, muni tena pavuccati.
...avoids evil deeds; for that reason he is a sage. He who knows both worlds—for that reason he is called a sage.
Vị ấy tránh xa các điều ác, vị ấy là bậc ẩn sĩ, do đó vị ấy là bậc ẩn sĩ; vị nào thấu hiểu cả hai thế giới, do đó được gọi là bậc ẩn sĩ.
‘‘Asatañca satañca ñatvā dhammaṃ, ajjhattaṃ bahiddhā ca sabbaloke;
Devamanussehi pūjito yo, saṅgajālamaticca so munī’’ti.
Having known the principle of the wicked and the virtuous, internally and externally, in the entire world; he who is honored by gods and humans, having transcended the net of attachments—he is the sage.
Sau khi biết được pháp của người bất thiện và của người thiện, ở bên trong và bên ngoài trong tất cả thế gian; vị nào được chư thiên và loài người cúng dường, đã vượt qua lưới ái trước, vị ấy là bậc ẩn sĩ.
Lepāti dve lepā – taṇhālepo ca diṭṭhilepo ca…pe… ayaṃ taṇhālepo…pe… ayaṃ diṭṭhilepo. Muni taṇhālepaṃ pahāya diṭṭhilepaṃ paṭinissajjitvā pariggahesu na limpati na palimpati na upalimpati. Alitto apalitto anupalitto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – pariggahesu muni nopalitto.
Regarding 'smearing,' there are two kinds of smearing: the smearing of craving and the smearing of views... This is the smearing of craving... This is the smearing of views. The sage, having abandoned the smearing of craving and having relinquished the smearing of views, is not smeared, not thoroughly smeared, and not defiled by acquisitions. Unsullied, untarnished, unwetted, escaped, cast off, well-freed, disjoined, he dwells with a mind that has been made boundless. Thus, 'the sage is not defiled by acquisitions.'
Về sự vấy bẩn, có hai sự vấy bẩn – sự vấy bẩn do tham ái và sự vấy bẩn do tà kiến… v.v… Đây là sự vấy bẩn do tham ái… v.v… Đây là sự vấy bẩn do tà kiến. Bậc ẩn sĩ, sau khi đã từ bỏ sự vấy bẩn do tham ái, sau khi đã xả ly sự vấy bẩn do tà kiến, vị ấy không bị vấy bẩn, không bị vấy bẩn đặc biệt, không bị vấy bẩn (bởi sự dính líu) trong các sự chấp thủ. Vị ấy không bị vấy bẩn, không bị vấy bẩn đặc biệt, không bị vấy bẩn (bởi sự dính líu), đã thoát ra, đã rũ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn tương ưng, trú ngụ với tâm đã được làm cho không còn giới hạn. Như vậy – bậc ẩn sĩ không bị vấy bẩn trong các sự chấp thủ.
Abbūḷhasallo caramappamattoti. Sallanti satta sallāni – rāgasallaṃ, dosasallaṃ, mohasallaṃ, mānasallaṃ, diṭṭhisallaṃ, sokasallaṃ, kathaṃkathāsallaṃ †. Yassete sallā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati abbūḷhasallo abbahitasallo uddhatasallo samuddhatasallo uppāṭitasallo samuppāṭitasallo cattasallo vantasallo muttasallo pahīnasallo paṭinissaṭṭhasallo nicchāto nibbuto sītibhūto sukhapaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – abbūḷhasallo.
Regarding 'Having drawn out the dart, he wanders heedful': As for 'dart,' there are seven darts: the dart of lust, the dart of hatred, the dart of delusion, the dart of conceit, the dart of views, the dart of sorrow, and the dart of doubt. For whom these seven darts are abandoned, well cut off, pacified, stilled, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge, he is called 'one with the dart drawn out,' 'one with the dart cast out,' 'one with the dart extracted,' 'one with the dart well extracted,' 'one with the dart uprooted,' 'one with the dart well uprooted,' 'one with the dart discarded,' 'one with the dart vomited out,' 'one with the dart released,' 'one with the dart abandoned,' and 'one with the dart relinquished.' He is without craving, extinguished, cooled, experiencing happiness, and dwells with a sublime self. Thus, 'one with the dart drawn out.'
Về câu "Đã nhổ mũi tên, hành trì không buông lung". Về mũi tên, có bảy mũi tên – mũi tên tham, mũi tên sân, mũi tên si, mũi tên mạn, mũi tên tà kiến, mũi tên sầu, mũi tên hoài nghi. Vị nào mà các mũi tên này đã được từ bỏ, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, đã trở thành không có khả năng sanh khởi, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người đã nhổ mũi tên, người đã rút mũi tên, người đã kéo ra mũi tên, người đã kéo ra hoàn toàn mũi tên, người đã nhổ bật mũi tên, người đã nhổ bật hoàn toàn mũi tên, người đã từ bỏ mũi tên, người đã nôn ra mũi tên, người đã giải thoát khỏi mũi tên, người đã đoạn trừ mũi tên, người đã xả ly mũi tên; vị ấy không còn khao khát, đã tịch tịnh, đã trở nên mát mẻ, cảm thọ lạc, trú ngụ với tự thân đã trở thành Phạm thiên. Như vậy – người đã nhổ mũi tên.
Caranti caranto viharanto iriyanto vattanto pālento yapento yāpento. Appamattoti sakkaccakārī sātaccakārī aṭṭhitakārī anolīnavuttiko anikkhittacchando anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. ‘‘Kathāhaṃ aparipūraṃ vā sīlakkhandhaṃ paripūreyyaṃ, paripūraṃ vā sīlakkhandhaṃ tattha tattha paññāya anuggaṇheyya’’nti yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivāni ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesu. ‘‘Kathāhaṃ aparipūraṃ vā samādhikkhandhaṃ paripūreyyaṃ, paripūraṃ vā samādhikkhandhaṃ tattha tattha paññāya anuggaṇheyya’’nti…pe… kusalesu dhammesu. ‘‘Kathāhaṃ aparipūraṃ vā paññākkhandhaṃ paripūreyyaṃ… vimuttikkhandhaṃ… vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ paripūreyyaṃ, paripūraṃ vā vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ tattha tattha paññāya anuggaṇheyya’’nti yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivāni ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesu. ‘‘Kathāhaṃ apariññātaṃ vā dukkhaṃ parijāneyyaṃ, appahīne vā kilese pajaheyyaṃ, abhāvitaṃ vā maggaṃ bhāveyyaṃ, asacchikataṃ vā nirodhaṃ sacchikareyya’’nti yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivāni ca sati ca sampajaññañca ātappaṃ padhānaṃ adhiṭṭhānaṃ anuyogo appamādo kusalesu dhammesūti – abbūḷhasallo caramappamatto.
Regarding 'wandering': wandering, dwelling, moving, conducting oneself, maintaining, sustaining, continuing. Regarding 'heedful': one who acts earnestly, acts persistently, acts resolutely, whose conduct is not slack, who has not laid down his desire, who has not laid down his burden in wholesome states. ‘How might I fulfill the aggregate of virtue that is incomplete, or how might I support with wisdom in various instances the aggregate of virtue that is complete?’—herein, whatever desire, effort, exertion, striving, unflagging persistence, mindfulness, clear comprehension, ardor, endeavor, determination, application, and heedfulness there is toward wholesome states. ‘How might I fulfill the aggregate of concentration that is incomplete, or how might I support with wisdom in various instances the aggregate of concentration that is complete?’… and heedfulness there is toward wholesome states. ‘How might I fulfill the aggregate of wisdom that is incomplete… the aggregate of liberation… fulfill the aggregate of the knowledge and vision of liberation, or how might I support with wisdom in various instances the aggregate of the knowledge and vision of liberation that is complete?’—herein, whatever desire, effort, exertion, striving, unflagging persistence, mindfulness, clear comprehension, ardor, endeavor, determination, application, and heedfulness there is toward wholesome states. ‘How might I fully comprehend suffering that has not been fully comprehended, abandon defilements that have not been abandoned, develop the path that has not been developed, and realize cessation that has not been realized?’—herein, whatever desire, effort, exertion, striving, unflagging persistence, mindfulness, clear comprehension, ardor, endeavor, determination, application, and heedfulness there is toward wholesome states—thus, 'having drawn out the dart, he wanders heedful.'
Về "hành trì", là đang đi, đang trú, đang cử động, đang sống, đang bảo hộ, đang duy trì, đang làm cho duy trì. Về "không buông lung", là người hành động một cách tôn trọng, hành động một cách liên tục, hành động một cách kiên cố, có cách sống không co rút, không từ bỏ ý muốn, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. "Làm thế nào ta có thể làm cho trọn vẹn giới uẩn chưa trọn vẹn, hoặc có thể hỗ trợ giới uẩn đã trọn vẹn bằng trí tuệ ở các phương diện khác nhau?" – đối với điều ấy, phàm có sự mong muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự phấn đấu, sự không thối chuyển, có niệm, có tỉnh giác, có sự nhiệt tâm, sự tinh tấn, sự quyết định, sự chuyên chú, đó là sự không buông lung trong các thiện pháp. "Làm thế nào ta có thể làm cho trọn vẹn định uẩn chưa trọn vẹn, hoặc có thể hỗ trợ định uẩn đã trọn vẹn bằng trí tuệ ở các phương diện khác nhau?"... v.v... trong các thiện pháp. "Làm thế nào ta có thể làm cho trọn vẹn tuệ uẩn chưa trọn vẹn... giải thoát uẩn... giải thoát tri kiến uẩn, hoặc có thể hỗ trợ giải thoát tri kiến uẩn đã trọn vẹn bằng trí tuệ ở các phương diện khác nhau?" – đối với điều ấy, phàm có sự mong muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự phấn đấu, sự không thối chuyển, có niệm, có tỉnh giác, có sự nhiệt tâm, sự tinh tấn, sự quyết định, sự chuyên chú, đó là sự không buông lung trong các thiện pháp. "Làm thế nào ta có thể liễu tri khổ chưa được liễu tri, hoặc có thể đoạn trừ các phiền não chưa được đoạn trừ, hoặc có thể tu tập con đường chưa được tu tập, hoặc có thể chứng ngộ sự diệt chưa được chứng ngộ?" – đối với điều ấy, phàm có sự mong muốn, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự phấn đấu, sự không thối chuyển, có niệm, có tỉnh giác, có sự nhiệt tâm, sự tinh tấn, sự quyết định, sự chuyên chú, đó là sự không buông lung trong các thiện pháp. Như vậy – người đã nhổ mũi tên, hành trì không buông lung.
Nāsīsatī lokamimaṃ parañcāti imaṃ lokaṃ nāsīsati sakattabhāvaṃ, paralokaṃ nāsīsati parattabhāvaṃ; imaṃ lokaṃ nāsīsati sakarūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ, paraṃ lokaṃ nāsīsati pararūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇaṃ; imaṃ lokaṃ nāsīsati cha ajjhattikāni āyatanāni, paraṃ lokaṃ nāsīsati cha bāhirāni āyatanāni; imaṃ lokaṃ nāsīsati manussalokaṃ, paraṃ lokaṃ nāsīsati devalokaṃ. Imaṃ lokaṃ nāsīsati kāmadhātuṃ, paraṃ lokaṃ nāsīsati rūpadhātuṃ arūpadhātuṃ; imaṃ lokaṃ nāsīsati kāmadhātuṃ rūpadhātuṃ, paraṃ lokaṃ nāsīsati arūpadhātuṃ. Puna gatiṃ vā upapattiṃ vā paṭisandhiṃ vā bhavaṃ vā saṃsāraṃ vā vaṭṭaṃ vā nāsīsati na icchati na sādiyati na pattheti na piheti nātijappatīti – nāsīsatī lokamimaṃ parañcāti.
Regarding 'He does not long for this world or the next': He does not long for this world, which is his own state of being; he does not long for the next world, which is another's state of being. He does not long for this world, which is his own form, feeling, perception, formations, and consciousness; he does not long for the next world, which is another's form, feeling, perception, formations, and consciousness. He does not long for this world, which is the six internal sense bases; he does not long for the next world, which is the six external sense bases. He does not long for this world, which is the human world; he does not long for the next world, which is the deva world. He does not long for this world, which is the sense-sphere realm; he does not long for the next world, which is the form-sphere realm and the formless-sphere realm. He does not long for this world, which is the sense-sphere realm and the form-sphere realm; he does not long for the next world, which is the formless-sphere realm. He does not long for a new destiny, or arising, or relinking, or existence, or the round of rebirth, or the cycle; he does not wish for it, does not delight in it, does not yearn for it, does not crave it, does not cherish it. Thus, 'He does not long for this world or the next'.
Về câu "Không mong cầu thế giới này và thế giới khác", vị ấy không mong cầu thế giới này tức là tự thân, không mong cầu thế giới khác tức là thân người khác; vị ấy không mong cầu thế giới này tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình, không mong cầu thế giới khác tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức của người khác; vị ấy không mong cầu thế giới này tức là sáu nội xứ, không mong cầu thế giới khác tức là sáu ngoại xứ; vị ấy không mong cầu thế giới này tức là cõi người, không mong cầu thế giới khác tức là cõi trời. Vị ấy không mong cầu thế giới này tức là Dục giới, không mong cầu thế giới khác tức là Sắc giới và Vô Sắc giới; vị ấy không mong cầu thế giới này tức là Dục giới và Sắc giới, không mong cầu thế giới khác tức là Vô Sắc giới. Vị ấy không mong cầu, không muốn, không chấp nhận, không cầu mong, không khao khát, không ước ao cõi đi, hoặc sự tái sanh, hoặc sự nối liền, hoặc sự hiện hữu, hoặc luân hồi, hoặc vòng luân chuyển. Như vậy – không mong cầu thế giới này và thế giới khác.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Saññaṃ pariññā vitareyya oghaṃ, pariggahesu muni nopalitto;
Abbūḷhasallo caramappamatto, nāsīsatī lokamimaṃ parañcā’’ti.
“Having fully known perception, one may cross over the flood; the sage, unstained by acquisitions, with dart removed, wandering heedfully, does not long for this world or the next.”
"Liễu tri tưởng, vị ấy có thể vượt qua bộc lưu, bậc ẩn sĩ không bị vấy bẩn trong các sự chấp thủ; đã nhổ mũi tên, hành trì không buông lung, vị ấy không mong cầu thế giới này và thế giới khác."
The Exposition of the Guhaṭṭhaka Sutta, the second, is concluded.
Phần giải thích kinh Guhaṭṭhaka, chương thứ hai, đã chấm dứt.