Bản dịch
MND 1 — Diễn Giải Kinh Về Dục
1. Kāmasuttaniddesa
“ Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên là có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều người ước muốn .”
Đối với người ham muốn về dục : Dục theo sự phân hạng thì có hai loại dục: vật dục và ô nhiễm dục. Các loại nào là vật dục? Các sắc hợp ý, các thinh hợp ý, các hương hợp ý, các vị hợp ý, các xúc hợp ý, các vật trải lót, các vật đắp, các tôi trai và tớ gái, dê cừu, gà heo, voi bò ngựa lừa, ruộng, vườn, tiền vàng, vàng khối, làng, phố, kinh thành, lãnh thổ, xứ sở, khu trại, nhà kho, bất cứ vật gì đưa đến sự luyến ái là vật dục.
Thêm nữa là các dục quá khứ, các dục vị lại, các dục hiện tại, các dục nội phần, các dục ngoại phần, các dục nội và ngoại phần, các dục hạ liệt, các dục trung bình, các dục cao quý, các dục thuộc địa ngục, các dục thuộc loài người, các dục thuộc cõi Trời, các dục được hiện hữu, các dục được tạo ra, các dục được người khác tạo ra, các dục không được tạo ra, các dục thuộc sở hữu, các dục không thuộc sở hữu, các dục thuộc cá nhân, các dục không thuộc cá nhân, tính luôn tất cả các pháp Dục Giới, tất cả các pháp Sắc Giới, tất cả các pháp Vô Sắc Giới, các dục có nền tảng là ái, có cảnh giới là ái, với ý nghĩa là đưa đến sự ham muốn, với ý nghĩa là đưa đến sự luyến ái, với ý nghĩa là đưa đến sự say đắm. Các điều này được gọi là các vật dục.
Ô nhiễm dục là các loại nào? Mong muốn là dục, luyến ái là dục, mong muốn và luyến ái là dục, suy tầm là dục, luyến ái là dục, suy tầm và luyến ái là dục, sự mong muốn về dục, sự luyến ái về dục, niềm vui về dục, sự ham muốn về dục, sự thương yêu về dục, sự nồng nhiệt về dục, sự mê mẩn về dục, sự ràng buộc của dục, sự lôi cuốn của dục, sự gắn bó của dục, sự chấp thủ ở dục, sự che lấp do mong muốn ở các dục.
“ Này dục, ta đã nhìn thấy gốc rễ của ngươi. Này dục, ngươi sanh lên từ sự suy tầm. Ta sẽ không suy tầm về ngươi nữa. Này dục, như vậy ngươi sẽ không hiện hữu .”
Các điều này được gọi là ô nhiễm dục.
Đối với người ham muốn : đối với người đang ham muốn, đối với người đang ước muốn, đối với người đang ưng thuận, đối với người đang ước nguyện, đối với người đang mong cầu, đối với người đang khẩn cầu. Đối với người ham muốn về dục là như thế.
Nếu điều ấy thành tựu đến người ấy : Nếu ... đến người ấy tức là đến vị Sát-đế-lỵ, hoặc đến vị Bà-la-môn, hoặc đến người thương buôn, hoặc đến kẻ nô lệ, hoặc đến người gia chủ, hoặc đến vị xuất gia, hoặc đến vị Trời, hoặc đến người nhân loại ấy. Điều ấy tức là các vật dục được nói đến: các sắc hợp ý, các thinh hợp ý, các hương hợp ý, các vị hợp ý, các xúc hợp ý. Thành tựu tức là có kết quả, thành tựu, đạt được, nhận được, đạt đến, kiếm được. Nếu điều ấy thành tựu đến người ấy là như thế.
Đương nhiên là có ý vui mừng : Đương nhiên là lời nói nhất định, lời nói chắc chắn, lời nói không nghi ngờ, lời nói không hai nghĩa, lời nói không mâu thuẫn, lời nói bảo đảm, lời nói không sai trái, lời nói khẳng định; điều này là đương nhiên. Vui mừng là sự vui mừng, sự hoan hỷ, sự tùy hỷ, sự vui thích, sự cười đùa, sự hài hước, sự vui lòng, sự vui sướng, sự phấn khởi, sự vừa ý, sự sung sướng của tâm có liên quan đến năm loại dục. Ý tức là tâm; ý là tinh thần, là trái tim, là vật tinh khiết; ý là ý xứ, ý quyền, thức, thức uẩn, từ đó có ý thức giới; điều này được gọi là ý. Ý này với sự vui mừng này là đồng hành, đồng sanh, được liên kết, được gắn bó, cùng sanh, cùng diệt, chung một nền tảng, chung một đối tượng. Có ý vui mừng : Ý vui mừng là ý vui sướng, ý vui vẻ, ý thích thú, ý hài lòng, ý phấn khởi, ý tùy hỷ, ý vui thích. Đương nhiên là có ý vui mừng là như thế.
Sau khi đã đạt được điều người ước muốn : Sau khi đã đạt được là sau khi đạt được, sau khi đạt đến, sau khi kiếm được, sau khi nhận được. Người là chúng sanh, đàn ông, thanh niên, người nam, cá nhân, mạng sống, người còn sanh tử, con người, người đi theo nghiệp, nhân loại. Điều người ước muốn : Điều người ước muốn là điều người ưng thuận, điều người ước nguyện, điều người mong cầu, điều người khẩn cầu: hoặc là sắc, hoặc là thinh, hoặc là hương, hoặc là vị, hoặc là xúc. Điều người ước muốn là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên là có ý vui mừng sau khi đã đạt được điều người ước muốn .”
“Nếu đối với người ấy, --(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi,-- các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên . ”
Nếu đối với người ấy, (tức là) đối với người đang ham muốn : Nếu đối với người ấy tức là đối với vị Sát-đế-lỵ, hoặc đối với vị Bà-la-môn, hoặc đối với người thương buôn, hoặc đối với kẻ nô lệ, hoặc đối với người gia chủ, hoặc đối với vị xuất gia, hoặc đối với vị Trời, hoặc đối với người nhân loại ấy. Đối với người đang ham muốn là đối với người đang ước muốn, đối với người đang ưng thuận, đối với người đang ước nguyện, đối với người đang mong cầu, đối với người đang khẩn cầu về các dục, hoặc giả mà người bị đưa đi, bị dẫn đi, bị lôi đi, bị mang đi bởi sự thương yêu về dục. Giống như người bị đưa đi, bị dẫn đi, bị lôi đi, bị mang đi bằng phương tiện voi, bằng phương tiện ngựa, bằng phương tiện bò, bằng phương tiện lừa, bằng phương tiện cừu, bằng phương tiện lạc đà, tương tợ y như thế là người bị đưa đi, bị dẫn đi, bị lôi đi, bị mang đi bởi sự thương yêu về dục. Nếu đối với người ấy (tức là) đối với người đang ham muốn là như thế.
Đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi : Mong muốn là sự mong muốn về dục, sự luyến ái về dục, niềm vui về dục, sự khao khát về dục, sự thương yêu về dục, sự nồng nhiệt về dục, sự mê mẩn về dục, sự ràng buộc của dục, sự lôi cuốn của dục, sự gắn bó của dục, sự chấp thủ ở dục, sự che lấp do mong muốn ở các dục. Đối với người ấy sự mong muốn về dục đã sanh khởi, đã nảy sanh, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện. Đối với con người là đối với chúng sanh, đối với đàn ông, đối với thanh niên, đối với người nam, đối với cá nhân, đối với mạng sống, đối với người còn sanh tử, đối với con người, đối với người đi theo nghiệp, đối với nhân loại. Đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi là như thế.
Các dục ấy bị suy giảm : hoặc là các dục ấy bị suy giảm, hoặc là người ấy bị suy giảm về các dục. Các dục ấy bị suy giảm bằng cách nào? Ngay trong khi người ấy đang gìn giữ, các vị vua lấy đi các tài sản của người ấy, hoặc các kẻ trộm lấy đi, hoặc lửa thiêu đốt, hoặc nước cuốn trôi, hoặc những người thừa tự không được yêu thương lấy đi, hoặc không đạt được của chôn giấu, hoặc các công việc bị đổ vỡ do xử lý kém, hoặc kẻ phá gia xuất hiện ở gia đình làm phân tán, tàn phá, hủy hoại các tài sản ấy, tính luôn tính chất vô thường là thứ tám. Các dục ấy bị giảm bớt, bị suy giảm, bị mất mát, bị đổ vỡ, bị biến mất, bị tiêu hoại là như vậy.
Người ấy bị suy giảm về các dục bằng cách nào? Ngay trong khi các tài sản ấy còn đang tồn tại thì người ấy từ trần, chết đi, biến mất, tiêu hoại. Người ấy bị giảm bớt, bị suy giảm, bị mất mát, bị đổ vỡ, bị biến mất, bị tiêu hoại về các dục là như vậy.
1. “Các kẻ trộm, các vị vua lấy đi, lửa đốt, bị mất mát, rồi cuối cùng thì người cũng phải buông bỏ thân mạng cùng với vật sở hữu .
2. Biết được điều này, các bậc thông minh nên thọ dụng và nên bố thí. Sau khi bố thí và thọ dụng tùy theo khả năng thì không bị chê trách và đi đến chốn cõi trời .”
Các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên : Giống như bị đâm xuyên bởi mũi tên làm bằng sắt, hoặc bị đâm xuyên bởi mũi tên làm bằng xương, hay bởi mũi tên làm bằng ngà, hay bởi mũi tên làm bằng sừng, hay bởi mũi tên làm bằng gỗ thì bị khổ sở, bị bực bội, bị khó chịu, bị hành hạ, bị bệnh hoạn, bị ưu sầu, tương tợ y như thế các trạng thái bất thường do sự biến đổi của các vật dục là sầu bi khổ ưu não sanh lên. Bị đâm xuyên bởi mũi tên sầu muộn và bởi mũi tên dục vọng, người ấy bị khổ sở, bị bực bội, bị khó chịu, bị hành hạ, bị bệnh hoạn, bị ưu sầu. Bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“Nếu đối với người ấy, --(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với con người có sự mong muốn đã sanh khởi,-- các dục ấy bị suy giảm, thì (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên.”
“Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian .”
Người nào xa lánh các dục: Người nào là người như thế, được gắn bó như thế, được định đặt như thế, có biểu hiện như thế, đã đạt đến địa vị như thế, đã thành tựu phẩm chất như thế, hoặc là vị Sát-đế-lỵ, hoặc là vị Bà-la-môn, hoặc là người thương buôn, hoặc là kẻ nô lệ, hoặc là người gia chủ, hoặc là vị xuất gia, hoặc là vị Thiên nhân, hoặc là người nhân loại. Xa lánh các dục: Các dục theo sự phân hạng thì có hai loại dục: các vật dục và các ô nhiễm dục. —như trên— Các điều này được gọi là các vật dục. —như trên— Các điều này được gọi là các ô nhiễm dục.
Xa lánh các dục : Xa lánh các dục do hai nguyên nhân: do sự ngăn trở hoặc do sự đoạn trừ. Thế nào là do sự ngăn trở mà xa lánh các dục? Trong khi nhìn thấy “các dục như là bộ xương với ý nghĩa chút ít khoái lạc” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là miếng thịt với ý nghĩa vật chung của số đông” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là cây đuốc cỏ với ý nghĩa thiêu đốt” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là hố than cháy rực với ý nghĩa nóng bức dữ dội” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục.—
Trong khi nhìn thấy “các dục như là giấc mơ với ý nghĩa hiện diện ngắn ngủi” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là vật vay mượn với ý nghĩa tạm thời” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là trái trên cây với ý nghĩa gãy đổ” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là lò sát sanh với ý nghĩa chặt chém” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là mũi lao nhọn với ý nghĩa đâm thủng” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là đầu rắn độc với ý nghĩa có sự sợ hãi” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là đống lửa với ý nghĩa nóng bức dữ dội” thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục.
Ngay trong khi tu tập tùy niệm Phật thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Ngay trong khi tu tập tùy niệm Pháp —như trên— Ngay trong khi tu tập tùy niệm Tăng, ngay trong khi tu tập tùy niệm giới, ngay trong khi tu tập tùy niệm xả thí, ngay trong khi tu tập tùy niệm Thiên, ngay trong khi tu tập niệm hơi thở vào - hơi thở ra, ngay trong khi tu tập niệm sự chết, ngay trong khi tu tập niệm đặt ở thân, ngay trong khi tu tập tùy niệm Niết Bàn thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Ngay trong khi tu tập sơ thiền thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục, ngay trong khi tu tập nhị thiền, ngay trong khi tu tập tam thiền, ngay trong khi tu tập tứ thiền, ngay trong khi tu tập sự chứng đạt không vô biên xứ, ngay trong khi tu tập sự chứng đạt thức vô biên xứ, ngay trong khi tu tập sự chứng đạt vô sở hữu xứ, ngay trong khi tu tập sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ thì do sự ngăn trở mà xa lánh các dục. Do sự ngăn trở mà xa lánh các dục là như thế.
Thế nào là do sự đoạn trừ mà xa lánh các dục? Ngay trong khi tu tập Đạo Nhập Lưu thì do sự đoạn trừ mà xa lánh các dục đưa đến khổ cảnh. Ngay trong khi tu tập Đạo Nhất Lai thì do sự đoạn trừ mà xa lánh các dục thô thiển. Ngay trong khi tu tập Đạo Bất Lai thì do sự đoạn trừ mà xa lánh các dục có tính chất vi tế. Ngay trong khi tu tập Đạo A-la-hán thì do sự đoạn trừ mà xa lánh các dục bằng mọi cách, ở mọi nơi, một cách trọn vẹn, không còn dư sót. Người nào xa lánh các dục là như thế.
Tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn: Con rắn ( sappa ) được gọi là ahi . Con rắn với ý nghĩa gì? Sappo là vì “nó di chuyển theo lối bò trườn,” bhujago là vì “nó di chuyển ngoằn ngoèo,” urago là vì “nó di chuyển bằng ngực,” pannago là vì “nó di chuyển với cái đầu ở tư thế nằm,” siriṃsapo là vì “nó ngủ bằng cái đầu,” bilāsayo là vì “nó nằm trong động,” guhāsayo là vì “nó nằm trong hang,” dāṭhāvudho là vì “răng nanh của nó là vũ khí,” ghoraviso là vì “chất độc của nó là dữ dội,” dvijivho là vì “lưỡi của nó có hai phần,” dvirasaññū là vì “nó nếm vị bằng hai cái lưỡi.” [1] Người đàn ông ham muốn sống, ham muốn không bị chết, ham muốn lạc, chán ghét khổ nên tránh né, xa lánh, tránh thật xa cái đầu con rắn bằng bàn chân như thế nào thì người ham muốn lạc chán ghét khổ nên tránh né, tránh xa, xa lánh, tránh thật xa tương tợ y như thế. Tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn là như vậy.
[1] Ở Pāḷi các từ sappo, ahi, bhujago, urago, pannago, siriṃsapo, bilāsayo, guhāsayo, dāṭhāvudho, ghoraviso, dvijivho, dvirasaññū đều là tên gọi của loài rắn.
Người ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian : Người ấy là người xa lánh các dục. Sự vướng mắc gọi là ái, nghĩa là luyến ái, luyến ái mãnh liệt, say đắm, thuận thảo, niềm vui, niềm vui và luyến ái, sự luyến ái mãnh liệt của tâm, ước muốn, mê mẩn, bám víu, đeo bám, đeo cứng, quyến luyến, đắm chìm, níu kéo, xảo quyệt, liên quan tái sanh, tạo ra khổ, kết vào, có lưới bẫy, cuốn trôi, vướng mắc, sợi chỉ trói, sự lan rộng, có sự ra sức, bạn đời, mầm tái sanh, lối dẫn di tái sanh, cầu xin, bám lấy đối tượng, gắn bó, thương yêu, mong ước, thân mật, mong mỏi, khát vọng, trạng thái mong mỏi, mong mỏi về sắc, mong mỏi về thinh, mong mỏi về hương, mong mỏi về vị, mong mỏi về xúc, mong mỏi về lợi lộc, mong mỏi về tài sản, mong mỏi về con trai, mong mỏi về mạng sống, tham muốn, khởi tham, tham muốn tột độ, biểu hiện tham muốn, trạng thái tham muốn, tham lam, biểu hiện tham lam, trạng thái tham lam, xao xuyến, ham muốn vật vừa ý, luyến ái sai pháp, tham thất thường, đeo đuổi, biểu hiện đeo đuổi, ước nguyện, mong cầu, ước nguyện tốt đẹp, dục ái, hữu ái, phi hữu ái, ái cõi Sắc giới, ái cõi Vô sắc giới, ái Niết Bàn, ái cảnh sắc, ái cảnh thinh, ái cảnh khí, ái cảnh vị, ái cảnh xúc, ái cảnh pháp, dòng nước lũ, sự ràng buộc, cột trói, chấp thủ, che ngăn, che lấp, phủ lấp, trói buộc, làm ô nhiễm, tiềm ẩn, thâm nhập, quấn lấy, ham hố, cội nguồn của khổ, khởi đầu của khổ, nguồn sanh khổ, cạm bẫy của Ma Vương, lưỡi câu của Ma Vương, độc tố của Ma Vương, ái ví như dòng sông, ái ví như tấm lưới, ái ví như dây xích, ái ví như biển, tham đắm, tham, cội nguồn của bất thiện.
Sự vướng mắc : Sự vướng mắc với ý nghĩa gì? Vướng mắc là vì ‘được trải rộng;’ vướng mắc là vì ‘bao quát;’ vướng mắc là vì ‘được lan rộng;’ vướng mắc là vì ‘lôi kéo theo;’ vướng mắc là vì ‘mang lại chất độc;’ vướng mắc là vì ‘truyền bá chất độc;’ vướng mắc là vì ‘nhân độc hại;’ vướng mắc là vì ‘kết quả độc hại;’ vướng mắc là vì ‘sự thọ dụng độc hại.’ Hoặc hơn nữa, vướng mắc là vì ‘ái ấy là bao quát, được trải rộng, được lan rộng ở sắc, ở thinh, ở hương, ở vị, ở xúc, ở gia tộc, ở nhóm, ở chỗ ngụ, ở lợi lộc, ở danh tiếng, ở lời khen, ở hạnh phúc, ở y phục, ở đồ ăn khất thực, ở chỗ nằm ngồi, ở vật dụng là thuốc men chữa bệnh, ở dục giới, ở sắc giới, ở vô sắc giới, ở cõi dục, ở cõi sắc, ở cõi vô sắc, ở cõi hữu tưởng, ở cõi vô tưởng, ở cõi phi tưởng phi phi tưởng, ở cõi một uẩn, ở cõi bốn uẩn, ở cõi năm uẩn, ở quá khứ, ở vị lai, ở hiện tại, ở các pháp có thể thấy, nghe, cảm giác, và nhận thức.’
Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, ở thế gian của loài người, ở thế gian của chư Thiên, ở thế gian của các uẩn, ở thế gian của các giới, ở thế gian của các xứ.
Có niệm : Có niệm do bốn nguyên nhân: Có niệm trong khi tu tập sự thiết lập niệm ở việc quan sát thân ở thân, —như trên— ở các thọ, —như trên— ở tâm, có niệm trong khi tu tập sự thiết lập niệm ở việc quan sát pháp ở các pháp. Hơn nữa, có niệm còn do bốn nguyên nhân khác: Có niệm do xa lánh thất niệm, có niệm do trạng thái đã thực hành các pháp cần phải thực hành đối với niệm, có niệm do trạng thái đã tiêu diệt các pháp đối nghịch với niệm, có niệm do trạng thái không lơ là đối với các pháp ấn chứng của niệm. Hơn nữa, có niệm còn do bốn nguyên nhân khác: có niệm do trạng thái đã thành tựu về niệm, có niệm do trạng thái đã trú ở niệm, có niệm do trạng thái quen thuộc với niệm, có niệm do trạng thái không thối thất đối với niệm. Hơn nữa, có niệm còn do bốn nguyên nhân khác: có niệm do trạng thái tự tại, có niệm do trạng thái an tịnh, có niệm do trạng thái tĩnh lặng, có niệm do trạng thái đã thành tựu pháp của bậc chân nhân. Có niệm do tùy niệm Phật, có niệm do tùy niệm Pháp, có niệm do tùy niệm Tăng, có niệm do tùy niệm giới, có niệm do tùy niệm xả thí, có niệm do tùy niệm Thiên, có niệm do niệm hơi thở vào - hơi thở ra, có niệm do tùy niệm sự chết, có niệm do niệm đặt ở thân, có niệm do tùy niệm Niết Bàn . Niệm là tùy n iệm, niệm hiện tiền; niệm là sự nương tựa, sự ghi nhận, sự thâm nhập, sự không lơ là; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm; niệm là niệm giác chi, con đường độc đạo; điều này gọi là niệm. Người đã tiến đến, đã tiến gần, đã tiến vào, đã tiến sát, đã tiếp cận, đã tròn đủ, đã thành tựu nhờ vào niệm này, người ấy được gọi là có niệm.
Người ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian : Việc dự vào thế gian là vướng mắc. Người có niệm, xa lánh, dứt bỏ, cắt đứt mầm mống, vượt qua, làm cho thui chột sự vướng mắc này ở ngay tại thế gian . ‘Ng ười ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian .”
“ Người nam nào thèm muốn ruộng, đất, hoặc vàng, gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu, người nữ, thân quyến, vô số các dục , —
Ruộng, đất, hoặc vàng : Ruộng là ruộng lúa sāli , ruộng lúa mùa, ruộng đậu xanh, ruộng đậu māsa , ruộng lúa mạch, ruộng lúa mì, ruộng mè. Đất là đất nhà, đất cổng ra vào, đất phía trước nhà, đất phía sau nhà, đất vườn, đất thổ cư. Vàng : vàng gọi là tiền vàng. ‘Ruộng, đất, hoặc vàng’ là thế ấy.
Gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu : Gia súc gọi là trâu bò. Ngựa gọi là các con dê, v.v... Tôi tớ : Có bốn loại tôi tớ: tôi tớ bẩm sinh, tôi tớ được mua bằng tài sản, hoặc tự nguyện trở thành tôi tớ, hoặc trở thành tôi tớ do sự ép buộc.
“ Nhiều người trở thành tôi tớ do mẹ là tôi tớ,
thậm chí do được mua bởi tài sản mà trở thành tôi tớ,
và nhiều người tự nguyện trở thành tôi tớ,
cũng có những người do sự sợ hãi mà bị bắt đi trở thành tôi tớ .”
Người hầu : Có ba hạng người hầu: người làm thuê, người làm công, người sống nhờ. ‘Gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu’ là thế ấy.
Người nữ, thân quyến, vô số các dục : Người nữ được gọi là có sự nhận lấy thân người nữ. Thân quyến : Có bốn loại thân quyến: thân quyến của cha mẹ là thân quyến, thân quyến của dòng tộc là thân quyến, thân quyến do (cùng học) chú thuật, thân quyến d0 (cùng học) nghề nghiệp. Vô số các dục là nhiều loại dục, vô số các dục này là: các sắc hợp ý, —như trên— các xúc hợp ý. ‘Người nữ, thân quyến, vô số các dục’ là thế ấy.
Người nam nào thèm muốn : Người nào là người như thế, được gắn bó như thế, được định đặt như thế, có biểu hiện như thế, đã đạt đến địa vị ấy, đã thành tựu phẩm chất ấy, hoặc là vị Sát-đế-lỵ, hoặc là vị Bà-la-môn, hoặc là người thương buôn, hoặc là kẻ nô lệ, hoặc là người gia chủ, hoặc là vị xuất gia, hoặc là vị Thiên nhân, hoặc là người nhân loại. Người nam là chúng sanh, đàn ông, thanh niên, nam nhân, cá nhân, mạng sống, người còn sanh t ử, con người , người đi theo nghiệp, nhân loại . T hèm muốn là thèm, thèm muốn, thèm thuồng ở các ô nhiễm dục, ở các vật dục. ‘Người nam nào thèm muốn’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
Người nam nào thèm muốn ruộng, đất, hoặc vàng, gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu, người nữ, thân quyến, vô số các dục, —
“— Các (ô nhiễm) yếu ớt thống trị người ấy, các hiểm họa chà đạp người ấy; do việc ấy khổ đau đi theo người ấy tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ .”
Các (ô nhiễm) yếu ớt khuất phục người ấy : Yếu ớt là các ô nhiễm yếu ớt, yếu sức, thiếu lực, thiếu dõng mãnh, thấp hèn, hèn kém, hèn mọn, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi. Các ô nhiễm ấy ngự trị, thống trị, chế ngự, đè bẹp, trấn áp, giẫm đạp cá nhân ấy; ‘các (ô nhiễm) yếu ớt khuất phục người ấy’ là như vậy. Hoặc là, (đề cập đến) nhân vật yếu ớt, yếu sức, thiếu lực, thiếu dõng mãnh, thấp hèn, hèn kém, hèn mọn, thấp kém, thấp thỏi, tồi tệ, nhỏ nhoi, là người không có tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, úy lực, các ô nhiễm ấy ngự trị, thống trị, chế ngự, đè bẹp, trấn áp, chà đạp cá nhân ấy; ‘các (ô nhiễm) yếu ớt khuất phục người ấy’ còn là như vậy.
Các hiểm họa chà đạp người ấy : Các hiểm họa thì có hai loại hiểm họa: hiểm họa được hiển hiện và hiểm họa được che đậy.
Các hiểm họa được hiển hiện là các hiểm họa nào? Các con sư tử, hổ, báo , gấu, chó rừng, chó sói, trâu rừng, voi, rắn, bò cạp, rết, hoặc có thể là các kẻ cướp hay những kẻ tàn bạo có hành động gây sự hoặc hành động ra đi gây sự, hoặc là bệnh ở mắt, bệnh ở tai trong, bệnh ở mũi, bệnh ở lưỡi, bệnh ở thân, bệnh ở đầu, bệnh ở lỗ tai, bệnh ở miệng, bệnh ở răng, ho, suyễn, sổ mũi, nhiệt, cảm sốt, đau bụng, xây xẩm, kiết lỵ, đau bụng bão, dịch tả, phong cùi, mụt nhọt, chàm, lao phổi, động kinh, mụt, nhọt, ghẻ ngứa, sảy, loét tay chân, ói ra máu, bệnh tiểu đường, bệnh trĩ, ghẻ lở, loét hậu môn, bệnh do mật, bệnh do đàm, bệnh do gió, (bệnh tổng hợp do mật, đàm, gió), bệnh sanh lên do thay đổi thời tiết, bệnh sanh lên do bốn oai nghi không đồng đều, bệnh cấp tính, bệnh sanh lên do quả của nghiệp, lạnh, nóng, đói, khát, tiêu, tiểu, các xúc chạm với ruồi muỗi gió nắng và các loài bò sát; các điều này được gọi là các hiểm họa được hiển hiện.
Các hiểm họa được che đậy là các hiểm họa nào? Việc làm ác do thân, việc làm ác do khẩu, việc làm ác do ý, pháp ngăn che ‘mong muốn dục,’ pháp ngăn che ‘bất bình,’ pháp ngăn che ‘dã dượi buồn ngủ,’ pháp ngăn che ‘phóng dật và hối hận,’ pháp ngăn che ‘hoài nghi,’ sự luyến ái, sân hận, si mê, giận dữ, thù hằn, gièm pha, ác ý, ganh tỵ, bỏn xẻn, xảo trá, bội bạc, bướng bỉnh, hung hăng, ngã mạn, kiêu căng, đam mê, xao lãng, tất cả ô nhiễm, tất cả việc làm ác, mọi sự lo lắng, mọi sự bực bội, (mọi sự nóng nảy), mọi sự tạo tác bất thiện; các điều này được gọi là các hiểm họa được che đậy.
Các hiểm họa : Các hiểm họa với ý nghĩa gì? Các hiểm họa là vì ‘chúng thống trị,’ các hiểm họa là vì ‘chúng dẫn đến sự buông bỏ,’ các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú.’
Các hiểm họa là vì ‘chúng thống trị’ nghĩa là thế nào? Các hiểm họa ấy ngự trị, thống trị, chế ngự, đè bẹp, trấn áp, giẫm đạp cá nhân ấy. Các hiểm họa là vì ‘chúng thống trị’ nghĩa là như vậy.
Các hiểm họa là vì ‘chúng dẫn đến sự buông bỏ’ nghĩa là thế nào? Các hiểm họa ấy dẫn đến sự buông bỏ, đến sự nguy hiểm đối với các thiện pháp.’ Đối với các thiện pháp nào? Đối với sự thực hành đúng đắn, đối với sự thực hành phù hợp, đối với sự thực hành không trái ngược, đối với sự thực hành không đối chọi, đối với sự thực hành đưa đến lợi ích, đối với sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, đối với việc làm đầy đủ các giới, đối với việc canh phòng các giác quan, đối với việc biết chừng mực về vật thực, đối với sự rèn luyện về tỉnh thức, đối với niệm và sự nhận biết rõ, đối với sự chuyên cần tu tập bốn sự thiết lập niệm, đối với sự chuyên cần tu tập bốn chánh cần, đối với sự chuyên cần tu tập bốn nền tảng thần thông, đối với sự chuyên cần tu tập năm quyền, đối với sự chuyên cần tu tập năm lực, đối với sự chuyên cần tu tập bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đối với sự chuyên cần tu tập Thánh Đạo tám chi phần, chúng dẫn đến sự buông bỏ, đến sự nguy hiểm đối với các thiện pháp này. Các hiểm họa là vì ‘chúng dẫn đến sự buông bỏ’ nghĩa là như vậy.
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ nghĩa là thế nào? Các ác bất thiện pháp này sanh lên, có sự nương tựa bản ngã ở nơi ấy. Giống như các sinh vật nương vào hang thì ngụ ở hang, các sinh vật nương vào nước thì ngụ ở nước, các sinh vật nương vào rừng thì ngụ ở rừng, các sinh vật nương vào cây cối thì ngụ ở cây cối, tương tự y như thế các ác bất thiện pháp này sanh lên, có sự nương tựa bản ngã ở nơi ấy. Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ nghĩa là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có đệ tử, có bạn đồng thầy dạy học, sống khổ sở không thoải mái. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có đệ tử, có bạn đồng thầy dạy học, sống khổ sở không thoải mái? Này các tỳ khưu, ở đây đối với vị tỳ khưu, sau khi nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, các ác bất thiện pháp nào nương vào đối tượng, có thể trói buộc, sanh khởi đến vị ấy, các ác bất thiện pháp ấy sống ở bên trong vị ấy, sống cùng với vị ấy; vì thế được gọi là có đệ tử. Chúng cư xử với vị ấy. Các ác bất thiện pháp cư xử với vị ấy; vì thế được gọi là có bạn đồng thầy dạy học. Và này các tỳ khưu, thêm nữa, đối với vị tỳ khưu, sau khi nghe âm thanh bằng tai, —như trên— sau khi ngửi mùi bằng mũi, —như trên— sau khi nếm vị bằng lưỡi, —như trên— sau khi chạm cảnh xúc bằng thân, —như trên— sau khi nhận thức pháp bằng ý, các ác bất thiện pháp nào nương vào đối tượng, có thể trói buộc, sanh khởi đến vị ấy, các ác bất thiện pháp ấy sống ở bên trong vị ấy, sống cùng với vị ấy; vì thế được gọi là có đệ tử. Chúng cư xử với vị ấy, các ác bất thiện pháp cư xử với vị ấy; vì thế được gọi là có bạn đồng thầy dạy học. Này các tỳ khưu, quả là như vậy, vị tỳ khưu có đệ tử, có bạn đồng thầy dạy học, sống khổ sở không thoải mái. Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, có ba pháp này là các bợn nhơ bên trong, các kẻ thù bên trong, các đối thủ bên trong, các kẻ giết chóc bên trong, các kẻ nghịch bên trong. Ba pháp nào? Này các tỳ khưu, tham là bợn nhơ bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ giết chóc bên trong, kẻ nghịch bên trong. Này các tỳ khưu, sân —như trên— Này các tỳ khưu, si là bợn nhơ bên trong, kẻ thù bên trong, đối thủ bên trong, kẻ giết chóc bên trong, kẻ nghịch bên trong.”
1. Tham là sự sanh ra điều bất lợi, tham là sự dao động của tâm. Người đời không nhận biết sự sợ hãi ấy đã được sanh ra từ bên trong .
2. Người bị khởi tham không biết được sự lợi ích, người bị khởi tham không nhìn thấy lý lẽ. Tham ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
3. Sân là sự sanh ra điều bất lợi, sân là sự dao động của tâm. Người đời không nhận biết sự sợ hãi ấy đã được sanh ra từ bên trong .
4. Người bị nóng giận không biết được sự lợi ích, người bị nóng giận không nhìn thấy lý lẽ. Sự nóng giận ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
5. Si là sự sanh ra điều bất lợi, si là sự dao động của tâm. Người đời không nhận biết sự sợ hãi ấy đã được sanh ra từ bên trong .
6. Người bị si mê không biết được sự lợi ích, người bị si mê không nhìn thấy lý lẽ. Si ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Tâu đại vương, quả thật có ba pháp, trong lúc sanh lên từ bên trong của con người, sanh lên sự bất lợi, khổ đau, sự sống không thoải mái. Ba pháp nào? Tâu đại vương, tham quả thật là pháp, trong lúc sanh lên từ bên trong của con người, sanh lên sự bất lợi, khổ đau, sự sống không thoải mái. Tâu đại vương, sân quả thật là pháp, trong lúc sanh lên từ bên trong của con người, sanh lên sự bất lợi, khổ đau, sự sống không thoải mái. Tâu đại vương, si quả thật là pháp, trong lúc sanh lên từ bên trong của con người, sanh lên sự bất lợi, khổ đau, sự sống không thoải mái.
Tâu đại vương, ba pháp này, trong lúc sanh lên từ bên trong của con người, sanh lên sự bất lợi, khổ đau, sự sống không thoải mái.”
7. “ Tham sân và si, hiện hữu ở bản thân, hãm hại người có tâm ý xấu xa, tựa như việc kết trái hãm hại cây tre .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
8. “ Luyến ái, sân hận, và si mê có căn nguyên từ nơi (bản ngã) này.
Ghét, thương, lông nổi ốc sanh lên từ nơi (bản ngã) này.
Sự suy tầm của tâm có nguồn sanh khởi từ nơi (bản ngã) này,
tựa như những bé trai buông lơi con quạ (bị cột chân bởi sợi chỉ dài) .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Các hiểm họa chà đạp người ấy : các hiểm họa ấy ngự trị, thống trị, chế ngự, đè bẹp, trấn áp, giẫm đạp cá nhân ấy; ‘các hiểm họa chà đạp người ấy’ là thế ấy.
Do việc ấy khổ đau đi theo người ấy : Do việc ấy là do hiểm họa từ việc ấy khổ đau đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ sanh đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ già đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ bệnh đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ chết đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ do sầu bi khổ ưu não đi theo, đi đến gần, đạt đến được; khổ ở địa ngục —như trên— khổ ở thai bào của loài thú —như trên— khổ ở cảnh giới ngạ quỷ —như trên— khổ ở nhân gian —như trên— khổ do việc nhập thai —như trên— khổ do việc trụ thai —như trên— khổ do việc ra khỏi thai —như trên— khổ gắn liền sau khi sanh ra —như trên— khổ do kẻ khác áp đặt sau khi sanh ra —như trên— khổ do sự hành xử của bản thân —như trên— khổ do sự hành xử của kẻ khác —như trên— khổ do (thọ) khổ đi theo, đi đến gần, đạt đến được, khổ do sự tạo tác —như trên— khổ do sự biến đổi —như trên— bệnh ở mắt, bệnh ở tai trong, bệnh ở mũi, bệnh ở lưỡi, bệnh ở thân, bệnh ở lỗ tai, bệnh ở miệng, bệnh ở răng, ho, suyễn, sổ mũi, nhiệt, cảm sốt, đau bụng, xây xẩm, kiết lỵ, đau bụng bão, dịch tả, phong cùi, mụt nhọt, chàm, lao phổi, động kinh, mụt, nhọt, ghẻ ngứa, sảy, loét tay chân, ói ra máu, bệnh tiểu đường, bệnh trĩ, ghẻ lở, loét hậu môn, bệnh do mật, bệnh do đàm, bệnh do gió, bệnh tổng hợp do mật-đàm-gió, bệnh sanh lên do thay đổi thời tiết, bệnh sanh lên do bốn oai nghi không đồng đều, bệnh cấp tính, bệnh sanh lên do quả của nghiệp, lạnh, nóng, đói, khát, tiêu, tiểu, các xúc chạm với ruồi muỗi gió nắng và các loài bò sát là khổ —như trên— cái chết của mẹ là khổ —như trên— cái chết của cha là khổ —như trên— cái chết của anh em trai là khổ —như trên— cái chết của chị em gái là khổ —như trên— cái chết của con trai là khổ —như trên— cái chết của con gái là khổ —như trên— sự mất mát về thân quyến là khổ —như trên— sự mất mát về của cải là khổ —như trên— sự mất mát vì bệnh tật là khổ —như trên— sự mất mát về giới là khổ —như trên— sự mất mát về kiến thức là khổ đi theo, đi đến gần, đạt đến được cá nhân ấy; ‘do việc ấy khổ đau đi theo người ấy’ là thế ấy.
Tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ : Giống như do sự xâm nhập của nước, nước từ chỗ này chỗ khác đi theo, đi đến gần, đạt đến được; nước từ bên trên đi theo, đi đến gần, đạt đến được; nước từ bên dưới đi theo, đi đến gần, đạt đến được; nước từ bên hông đi theo, đi đến gần, đạt đến được chiếc thuyền đã bị vỡ. Tương tợ y như thế, do hiểm họa từ việc này từ việc khác, khổ đau đi theo, đi đến gần, đạt đến được —như trên— sự mất mát về kiến thức là khổ đi theo, đi đến gần, đạt đến được cá nhân ấy; ‘tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Các (ô nhiễm) yếu ớt thống trị người ấy, các hiểm họa chà đạp người ấy; do việc ấy khổ đau đi theo người ấy tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đã bị vỡ .”
“ Do đó, người luôn luôn có niệm có thể xa lánh các dục, sau khi dứt bỏ chúng thì có thể vượt qua dòng lũ, tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia.”
Do đó, người luôn luôn có niệm : Do đó là do điều ấy, bởi lý do ấy, do nhân ấy, do duyên ấy, do căn nguyên ấy, trong khi nhìn thấy rõ sự nguy hại này ở các dục; ‘do đó’ là thế ấy. Người là chúng sanh, đàn ông, thanh niên, người nam, cá nhân, mạng sống, người còn sanh tử, con người, người đi theo nghiệp, nhân loại. Luôn luôn : Luôn luôn là mọi lúc, mọi thời, thường khi, luôn khi, thường xuyên, liên tục, không gián đoạn, tiếp nối liên tục, sanh lên tuần tự, không lưa thưa, không đứt khoảng, không ngừng lại, được liền lặn, trước bữa ăn, sau bữa ăn, canh đầu, canh giữa, canh cuối, vào hậu bán nguyệt, vào tiền bán nguyệt, trong mùa mưa, trong mùa lạnh, trong mùa nóng, ở tuổi thiếu niên, ở tuổi trung niên, ở tuổi lão niên. Có niệm : Có niệm do bốn nguyên nhân: Có niệm trong khi tu tập sự thiết lập niệm ở việc quan sát thân ở thân, —như trên— ở các thọ, —như trên— ở tâm, có niệm trong khi tu tập sự thiết lập niệm ở việc quan sát pháp ở các pháp. Hơn nữa, có niệm còn do bốn nguyên nhân khác: —như trên— người ấy được gọi là có niệm; ‘do đó, người luôn luôn có niệm’ là thế ấy.
Có thể xa lánh các dục: Các dục theo sự phân hạng thì có hai loại dục: các vật dục và các ô nhiễm dục. —như trên— Các điều này được gọi là các vật dục. —như trên— Các điều này được gọi là các ô nhiễm dục. Có thể xa lánh các dục : Có thể xa lánh các dục do hai nguyên nhân: do sự ngăn trở hoặc do sự đoạn trừ. Thế nào là do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục? Trong khi nhìn thấy “các dục như là bộ xương với ý nghĩa chút ít khoái lạc” thì do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là miếng thịt với ý nghĩa vật chung của số đông” thì do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục. Trong khi nhìn thấy “các dục như là cây đuốc cỏ với ý nghĩa thiêu đốt” thì do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục. —như trên— Ngay cả trong khi tu tập sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ thì do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục. Do sự ngăn trở mà có thể xa lánh các dục là như vậy. —như trên— Do sự đoạn trừ mà có thể xa lánh các dục là như vậy.
Sau khi dứt bỏ chúng có thể vượt qua dòng lũ : Chúng - Sau khi biết toàn diện về các vật dục, sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu các ô nhiễm dục; sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu pháp ngăn che ‘mong muốn dục;’ —như trên— pháp ngăn che ‘bất bình;’ —như trên— pháp ngăn che ‘dã dượi buồn ngủ;’ —như trên— pháp ngăn che ‘phóng dật và hối hận;’ sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu pháp ngăn che ‘hoài nghi,’ thì có thể vượt, có thể vượt lên, có thể vượt hẳn, có thể vượt qua, có thể vượt bứt dòng lũ (ngũ) dục, (dòng lũ của hữu), dòng lũ tà kiến, dòng lũ vô minh; ‘sau khi dứt bỏ chúng có thể vượt qua dòng lũ’ là thế ấy.
Tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia : Giống như sau khi tát cạn, sau khi tát sạch, sau khi đổ bỏ nước ra khỏi chiếc thuyền nặng nề đầy hàng hóa thì có thể nhanh chóng tức thời đi đến bờ kia bằng chiếc thuyền nhẹ nhàng chỉ với chút ít khó khăn, tương tợ y như thế sau khi biết toàn diện về các vật dục, sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu các ô nhiễm dục; —như trên— pháp ngăn che ‘mong muốn dục;’ —như trên— pháp ngăn che ‘bất bình;’ —như trên— pháp ngăn che ‘dã dượi buồn ngủ;’ —như trên— pháp ngăn che ‘phóng dật và hối hận;’ sau khi từ bỏ, sau khi dứt bỏ, sau khi xua đi, sau khi làm chấm dứt, sau khi khiến cho không còn hiện hữu pháp ngăn che ‘hoài nghi,’ thì có thể nhanh chóng tức thời đi đến bờ kia chỉ với chút ít khó khăn. Bờ kia gọi là Bất Tử, Niết Bàn. Pháp ấy là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận ái dục, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịch diệt, Niết Bàn. Có thể đi đến bờ kia : có thể chứng đắc bờ kia, có thể chạm đến bờ kia, có thể chứng ngộ bờ kia. Pāragū ( người đi đến bờ kia) : Luôn cả người nào có ý muốn đi đến bờ kia, người ấy cũng là pāragū ; luôn cả người nào đang đi đến bờ kia, người ấy cũng là pāragū ; luôn cả người nào đã đi đến bờ kia, người ấy cũng là pāragū .
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
“Này các tỳ khưu, quả vậy ‘người đã vượt được, đã đi đến bờ kia, đứng ở đất liền’ là Bà-la-môn;’ điều này là tên gọi cho vị A-la -hán. Vị ấy là pāragū (người đi đến bờ kia) do việc biết rõ, pāragū do việc biết toàn diện, pāragū do việc dứt bỏ, pāragū do việc tu tập, pāragū do việc chứng ngộ, pāragū do việc chứng đạt (các thiền); là pāragū do việc biết rõ tất cả các pháp, pāragū do việc biết toàn diện tất cả các khổ đau, pāragū do việc dứt bỏ tất cả các ô nhiễm, pāragū do việc phát triển bốn Thánh Đạo, pāragū do việc chứng ngộ sự tịch diệt, pāragū do việc chứng đạt mọi chứng đạt (về thiền định). Vị ấy đã đạt được năng lực đã đạt được sự toàn hảo ở Thánh giới, đã đạt được năng lực đã đạt được sự toàn hảo ở Thánh định, đã đạt được năng lực đã đạt được sự toàn hảo ở Thánh tuệ, đã đạt được năng lực đã đạt được sự toàn hảo ở Thánh giải thoát. Vị ấy đã đi đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia, đã đi đến điểm cuối, đã đạt đến điểm cuối, đã đi đến đỉnh, đã đạt đến đỉnh, đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng, đã đi đến sự hoàn tất, đã đạt đến sự hoàn tất, đã đi đến chốn bảo hộ, đã đạt đến chốn bảo hộ, đã đi đến chỗ trú ẩn, đã đạt đến chỗ trú ẩn, đã đi đến nơi nương nhờ, đã đạt đến nơi nương nhờ, đã đi đến sự không còn sợ hãi, đã đạt đến sự không còn sợ hãi, đã đi đến sự không chết, đã đạt đến sự không chết, đã đi đến Bất Tử, đã đạt đến Bất Tử, đã đi đến Niết Bàn, đã đạt đến Niết Bàn. Vị ấy đã sống cuộc sống (của bậc Thánh), đã thực hành tánh hạnh, đã đi đến cuộc hành trình, đã đi đến đỉnh chóp, đã hộ trì Phạm hạnh, đã đạt đến kiến tối thượng, đã phát triển Đạo, đã dứt bỏ ô nhiễm, đã thấu triệt sự không xao động, đã chứng ngộ Diệt đế, --
-- Khổ của vị ấy đã được biết toàn diện, có Tập đã được dứt bỏ, có Đạo đã được tu tập, có Diệt đã được chứng ngộ. Điều cần được biết rõ đã được biết rõ, điều cần được biết toàn diện đã được biết toàn diện, điều cần được dứt bỏ đã được biết dứt bỏ, điều cần được chứng ngộ đã được chứng ngộ. Vị ấy đã hất tung rào chắn (vô minh), đã san lấp mương rãnh (luân hồi tái sanh), đã nhổ lên cột trụ (tham ái), không còn chốt cửa, là thánh thiện, đã hạ xuống ngọn cờ (ngã mạn), đã đạt xuống gánh nặng, đã tháo khỏi ách, đã dứt bỏ hẳn năm dục, đã thành tựu sáu căn, có một sự bảo hộ (niệm), có bốn sự nâng đỡ, đã xua đi sự độc đoán, có sự tầm cầu đã được hoàn toàn cởi bỏ, có tâm tư không bị xáo trộn, có thân hành đã được an tịnh, có tâm khéo được giải thoát, có tuệ khéo được giải thoát, được đầy đủ, đã sống, là con người tối thượng, con người tột đỉnh, đã đạt được sự thành đạt tột đỉnh.
Vị ấy, không tích lũy (nghiệp) cũng không thủ tiêu, tồn tại sau khi đã thủ tiêu (ô nhiễm); không dứt bỏ (ô nhiễm) cũng không nắm giữ, tồn tại sau khi đã dứt bỏ; không vướng mắc (tham ái) cũng không khoe khoang, tồn tại sau khi đã gỡ rối; không dập tắt (lửa phiền não) cũng không đốt cháy, tồn tại sau khi đã dập tắt; tồn tại với trạng thái thành tựu về giới uẩn của bậc Vô Học, tồn tại với trạng thái thành tựu về định uẩn của bậc Vô Học, về tuệ uẩn của bậc Vô Học, về giải thoát uẩn của bậc Vô Học, về tri kiến giải thoát uẩn của bậc Vô Học; tồn tại sau khi đã thấu suốt Sự Thật, tồn tại sau khi đã vượt qua sự níu kéo (của tham ái), tồn tại sau khi đã loại trừ (lửa phiền não), tồn tại do không xoay vòng (ở luân hồi), tồn tại sau khi đã thọ trì lời giảng, tồn tại do thân cận với giải thoát, tồn tại với sự thanh tịnh của từ, tồn tại với sự thanh tịnh của bi của hỷ của xả, tồn tại với sự thanh tịnh vô biên, tồn tại với sự thanh tịnh của trạng thái không còn tham ái-tà kiến-ngã mạn, tồn tại với trạng thái đã được giải thoát, tồn tại với trạng thái đã được hài lòng, tồn tại trong giai đoạn cuối của các uẩn, tồn tại trong giai đoạn cuối của các giới, tồn tại trong giai đoạn cuối của các xứ, tồn tại trong giai đoạn cuối của cảnh giới tái sanh, tồn tại trong giai đoạn cuối của sự tái sanh, tồn tại trong giai đoạn cuối của sự nối liền tái sanh, (tồn tại trong giai đoạn cuối của hiện hữu), tồn tại trong giai đoạn cuối của luân hồi, tồn tại trong giai đoạn cuối của vòng quay, tồn tại trong kiếp sống cuối cùng, tồn tại trong xác thân cuối cùng, là vị A-la-hán với sự duy trì thân thể cuối cùng.
“ Đối với vị ấy, sự hiện hữu này là cuối cùng, xác thân này là sau chót, luân hồi sanh tử, việc hiện hữu lần nữa không có đối với vị ấy .”
‘Tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia’ là thế ấy.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Do đó, người luôn luôn có niệm có thể xa lánh các dục, sau khi dứt bỏ chúng thì có thể vượt qua dòng lũ, tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia .”
Diễn Giải Kinh về Dục - Phần thứ nhất đã được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Tassa ce taṃ samijjhatīti. Tassa ceti tassa khattiyassa vā brāhmaṇassa vā vessassa vā suddassa vā gahaṭṭhassa vā pabbajitassa vā devassa vā manussassa vā. Tanti vatthukāmā vuccanti – manāpikā rūpā manāpikā saddā manāpikā gandhā manāpikā rasā manāpikā phoṭṭhabbā. Samijjhatīti ijjhati samijjhati labhati paṭilabhati adhigacchati vindatīti – tassa ce taṃ samijjhati.
Regarding 'Tassa ce taṃ samijjhati' (If that is fulfilled for him): 'For him' (tassa) means for that noble, brahmin, merchant, worker, householder, renunciant, deva, or human. 'That' (taṃ) refers to sensual pleasures as objects: agreeable forms, agreeable sounds, agreeable odors, agreeable tastes, and agreeable tactile objects. 'Is fulfilled' (samijjhati) means it is fulfilled, it succeeds, is obtained, is acquired, is attained, or is gained. Thus, 'if that is fulfilled for him'.
Về câu ‘Nếu điều ấy của người ấy được thành tựu’: Về từ ‘của người ấy nếu,’ (có nghĩa là) của người Sát-đế-lỵ ấy, hoặc của người Bà-la-môn ấy, hoặc của người Phệ-xá ấy, hoặc của người Thủ-đà-la ấy, hoặc của người tại gia ấy, hoặc của người xuất gia ấy, hoặc của vị trời ấy, hoặc của người ấy. Về từ ‘điều ấy,’ dục đối tượng được nói đến – các sắc khả ý, các thanh khả ý, các hương khả ý, các vị khả ý, các xúc khả ý. Về từ ‘được thành tựu,’ (có nghĩa là) thành tựu, thành tựu tốt đẹp, đạt được, nhận được, chứng được, tìm thấy – (đó là ý nghĩa của) ‘nếu điều ấy của người ấy được thành tựu.’
Addhā pītimano hotīti. Addhāti ekaṃsavacanaṃ nissaṃsayavacanaṃ nikkaṅkhāvacanaṃ advejjhavacanaṃ adveḷhakavacanaṃ niyogavacanaṃ apaṇṇakavacanaṃ avatthāpanavacanametaṃ – addhāti. Pītīti yā pañcakāmaguṇapaṭisaññuttā pīti pāmujjaṃ āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti tuṭṭhi odagyaṃ attamanatā abhipharaṇatā cittassa. Manoti yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu, ayaṃ vuccati mano. Ayaṃ mano imāya pītiyā sahagato hoti sahajāto saṃsaṭṭho sampayutto ekuppādo ekanirodho ekavatthuko ekārammaṇo. Pītimano hotīti pītimano hoti tuṭṭhamano haṭṭhamano pahaṭṭhamano attamano udaggamano muditamano pamoditamano hotīti – addhā pītimano hoti.
Regarding 'Addhā pītimano hoti' (Indeed, he is joyful-minded): 'Indeed' (addhā) is a term of definiteness, a term of certainty, a term of no doubt, a term of non-duplicity, a term of no wavering, a term of determination, a term of indisputability, a term of establishment—this is 'indeed'. 'Joy' (pīti) is that joy associated with the five strands of sensual pleasure: joy (pīti), gladness (pāmojja), delight (āmodanā), rejoicing (pamodanā), laughter (hāso), mirth (pahāso), satisfaction (vitti), contentment (tuṭṭhi), elation (odagya), a state of gladness (attamanatā), a pervading of the mind (abhipharaṇatā cittassa). 'Mind' (mano) means that which is mind (citta), intellect (mano), mentality (mānasa), heart (hadaya), the pure (paṇḍara), the mind-base (manāyatana), the mind-faculty (manindriya), consciousness (viññāṇa), the consciousness aggregate (viññāṇakkhandha), and the corresponding mind-consciousness element (tajjā manoviññāṇadhātu); this is called 'mind'. This mind is accompanied by this joy, arisen together, mixed together, associated, having a single arising, a single ceasing, a single basis, and a single object. 'He is joyful-minded' (pītimano hoti) means he is joyful-minded, delighted-minded, happy-minded, very happy-minded, pleased-minded, uplifted-minded, gladdened-minded, rejoicing-minded. Thus, 'indeed, he is joyful-minded'.
Về câu ‘Chắc chắn người ấy có tâm hoan hỷ’: Về từ ‘chắc chắn,’ đây là từ chỉ sự chắc chắn, từ chỉ sự không nghi ngờ, từ chỉ sự không hoài nghi, từ chỉ sự không phân vân, từ chỉ sự không lưỡng lự, từ chỉ sự quyết định, từ chỉ sự không sai lầm, từ chỉ sự xác lập – đó là ‘chắc chắn.’ Về từ ‘hoan hỷ,’ đó là sự hoan hỷ, sự hân hoan, sự vui mừng, sự vui thích, sự tươi cười, sự cười lớn, sự thỏa thích, sự hài lòng, sự phấn chấn, sự vui lòng, sự tràn ngập của tâm, liên quan đến năm dục trưởng dưỡng. Về từ ‘tâm,’ đó là cái gọi là citta, mano, mānasa, hadaya, paṇḍara, mano, manāyatana, manindriya, viññāṇa, viññāṇakkhandha, và manoviññāṇadhātu tương ứng, đây được gọi là tâm (mano). Tâm này đi cùng với sự hoan hỷ này, đồng sinh, hòa trộn, tương ưng, đồng một sự sinh, đồng một sự diệt, đồng một đối tượng vật chất, đồng một đối tượng cảnh. Về câu ‘có tâm hoan hỷ,’ (có nghĩa là) có tâm hoan hỷ, có tâm hài lòng, có tâm vui vẻ, có tâm rất vui vẻ, có tâm thỏa mãn, có tâm phấn chấn, có tâm hân hoan, có tâm rất hân hoan – (đó là ý nghĩa của) ‘chắc chắn người ấy có tâm hoan hỷ.’
Laddhā macco yadicchatīti. Laddhāti labhitvā paṭilabhitvā adhigantvā vinditvā. Maccoti satto naro mānavo poso puggalo jīvo jāgu † jantu indagu † manujo. Yadicchatīti yaṃ icchati yaṃ sādiyati yaṃ pattheti yaṃ piheti yaṃ abhijappati, rūpaṃ vā saddaṃ vā gandhaṃ vā rasaṃ vā phoṭṭhabbaṃ vāti, laddhā macco yadicchati.
Regarding 'Laddhā macco yadicchati' (A mortal, having obtained what he wishes): 'Having obtained' (laddhā) means having gotten (labhitvā), having acquired (paṭilabhitvā), having attained (adhigantvā), or having found (vinditvā). 'A mortal' (macco) means a being (satto), a person (naro), a human (mānavo), a man (poso), an individual (puggalo), a living being (jīvo), one who transmigrates (jāgu), a creature (jantu), one who goes by the senses (indagu), or a human being (manujo). 'What he wishes' (yadicchati) means whatever he desires (yaṃ icchati), whatever he delights in (yaṃ sādiyati), whatever he yearns for (yaṃ pattheti), whatever he longs for (yaṃ piheti), or whatever he intensely craves (yaṃ abhijappati)—be it a form, a sound, an odor, a taste, or a tangible object. Thus, 'a mortal, having obtained what he wishes'.
Về câu ‘Người phải chết ấy đã đạt được điều mình mong muốn’: Về từ ‘đã đạt được,’ (có nghĩa là) đã nhận được, đã có được, đã chứng được, đã tìm thấy. Về từ ‘người phải chết,’ (có nghĩa là) chúng sinh, người, thanh niên, cá nhân, bổ-đặc-già-la, sinh vật, sinh linh, loài hữu tình, người đi theo các căn, con người. Về từ ‘điều mình mong muốn,’ (có nghĩa là) điều mà người ấy mong muốn, điều mà người ấy ưa thích, điều mà người ấy khao khát, điều mà người ấy thèm muốn, điều mà người ấy tham vọng, dù là sắc, thanh, hương, vị, hay xúc – (đó là ý nghĩa của) ‘người phải chết ấy đã đạt được điều mình mong muốn.’
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Kāmaṃ kāmayamānassa, tassa ce taṃ samijjhati;
Addhā pītimano hoti, laddhā macco yadicchatī’’ti.
“For one desiring sensual pleasure, if that is fulfilled for him, indeed, the mortal becomes joyful-minded, having obtained what he wishes.”
‘Đối với người mong cầu dục lạc, nếu điều ấy của người ấy được thành tựu; chắc chắn người ấy có tâm hoan hỷ, người phải chết ấy đã đạt được điều mình mong muốn.’
2.
2.
2.
Tassa ce kāmayānassa, chandajātassa jantuno;
Te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppati.
But if for that creature desiring, in whom desire has arisen, those sensual pleasures decline, he is afflicted like one pierced by a dart.
Nếu đối với chúng sinh đang mong cầu ấy, người có lòng tham dục đã khởi sinh, những dục lạc ấy bị suy giảm, người ấy đau khổ như bị mũi tên bắn trúng.
Tassa ce kāmayānassāti. Tassa ceti tassa khattiyassa vā brāhmaṇassa vā vessassa vā suddassa vā gahaṭṭhassa vā pabbajitassa vā devassa vā manussassa vā. Kāmayānassāti kāme icchamānassa sādiyamānassa patthayamānassa pihayamānassa abhijappamānassa. Atha vā kāmataṇhāya yāyati niyyati vuyhati saṃharīyati. Yathā hatthiyānena vā assayānena vā goyānena vā ajayānena vā meṇḍayānena vā oṭṭhayānena vā kharayānena vā yāyati niyyati vuyhati saṃharīyati; evamevaṃ kāmataṇhāya yāyati niyyati vuyhati saṃharīyatīti – tassa ce kāmayānassa.
Regarding 'Tassa ce kāmayānassa' (For that one who desires): 'For that one' (tassa) means for that Khattiya, or brahmin, or Vessa, or Sudda, or householder, or renunciant, or deva, or human being. 'Who desires' (kāmayānassa) means desiring, delighting in, yearning for, longing for, or intensely craving. Alternatively, by craving for sensual pleasures one is borne (yāyati), led (niyyati), swept away (vuyhati), and carried along (saṃharīyati). Just as one is borne, led, swept away, and carried along by an elephant vehicle, or a horse vehicle, or an ox vehicle, or a goat vehicle, or a ram vehicle, or a camel vehicle, or a donkey vehicle; in the very same way, by craving for sensual pleasures one is borne, led, swept away, and carried along. Thus, 'for that one who desires'.
Về câu ‘Nếu đối với người đang mong cầu ấy’: Về từ ‘của người ấy nếu,’ (có nghĩa là) của người Sát-đế-lỵ ấy, hoặc của người Bà-la-môn ấy, hoặc của người Phệ-xá ấy, hoặc của người Thủ-đà-la ấy, hoặc của người tại gia ấy, hoặc của người xuất gia ấy, hoặc của vị trời ấy, hoặc của người ấy. Về từ ‘đang mong cầu,’ (có nghĩa là) đang mong muốn các dục, đang ưa thích, đang khao khát, đang thèm muốn, đang tham vọng. Hoặc là, người ấy bị ái dục lôi đi, dẫn đi, cuốn đi, mang đi. Giống như người ta đi, được dẫn đi, được cuốn đi, được mang đi bằng xe voi, hoặc xe ngựa, hoặc xe bò, hoặc xe dê, hoặc xe cừu, hoặc xe lạc đà, hoặc xe lừa; cũng như vậy, người ấy bị ái dục lôi đi, dẫn đi, cuốn đi, mang đi – (đó là ý nghĩa của) ‘nếu đối với người đang mong cầu ấy.’
Chandajātassa jantunoti. Chandoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasneho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ, tassa so kāmacchando jāto hoti sañjāto nibbatto abhinibbatto pātubhūto. Jantunoti sattassa narassa mānavassa posassa puggalassa jīvassa jāgussa jantussa indagussa manujassāti – chandajātassa jantuno.
In the phrase, 'For the creature in whom desire has arisen': 'Desire' (chando) refers to whatever, regarding sensual pleasures, is sensual desire, sensual lust, sensual delight, sensual craving, sensual affection, sensual burning, sensual infatuation, sensual obsession, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, clinging to sensuality, or the hindrance of sensual desire. For that person, that sensual desire is born, well born, produced, fully produced, and manifested. 'For the creature' (jantuno) means for a being, a person, a human, a man, an individual, a living being, one who transmigrates, a creature, one who goes by the senses, or a human being. This is the meaning of 'For the creature in whom desire has arisen'.
Chandajātassa jantuno (Đối với chúng sanh có dục sanh khởi). Chando (Dục): Bất cứ dục tham (kāmacchando), dục ái (kāmarāgo), sự hoan hỷ trong dục (kāmanandī), sự khát ái về dục (kāmataṇhā), sự quyến luyến trong dục (kāmasneho), sự thiêu đốt của dục (kāmapariḷāho), sự mê đắm trong dục (kāmamucchā), sự chìm đắm trong dục (kāmajjhosānaṃ), bộc lưu của dục (kāmogho), ách của dục (kāmayogo), sự chấp thủ dục (kāmupādānaṃ), triền cái dục tham (kāmacchandanīvaraṇaṃ) nào ở trong các dục, đối với người ấy, dục tham ấy đã sanh khởi, đã phát sanh, đã hiện khởi, đã xuất hiện, đã hiển lộ. Jantuno (của chúng sanh): của chúng sanh (sattassa), của người (narassa), của thanh niên (mānavassa), của người nam (posassa), của cá nhân (puggalassa), của sinh vật (jīvassa), của chúng sanh (jāgussa), của chúng sanh (jantussa), của chúng sanh (indagussa), của con người (manujassāti) – (đây là ý nghĩa của) chandajātassa jantuno.
Te kāmā parihāyantīti – te vā kāmā parihāyanti, so vā kāmehi parihāyati. Kathaṃ te kāmā parihāyanti? Tassa tiṭṭhantasseva te bhoge rājāno vā haranti, corā vā haranti, aggi vā dahati, udakaṃ vā vahati, appiyā vā dāyādā haranti, nihitaṃ vā nādhigacchati, duppayuttā vā kammantā bhijjanti, kule vā kulaṅgāro uppajjati, yo te bhoge vikirati vidhamati † viddhaṃseti aniccatāyeva aṭṭhamī. Evaṃ te kāmā hāyanti parihāyanti paridhaṃsenti paripatanti antaradhāyanti vippalujjanti. Kathaṃ so kāmehi parihāyati? Tiṭṭhanteva te bhoge so cavati marati vippalujjati. Evaṃ so kāmehi hāyati parihāyati paridhaṃseti paripatati antaradhāyati vippalujjati.
Regarding the phrase 'Those sensual pleasures diminish': either the sensual pleasures diminish, or one diminishes from the sensual pleasures. How do those sensual pleasures diminish? While one's possessions still exist, kings take them, or thieves take them, or fire burns them, or water carries them away, or unloved heirs take them, or what was hidden is not found, or poorly managed enterprises are ruined, or a disgrace to the family arises in the family, who scatters, squanders, and destroys those possessions. Impermanence itself is the eighth. In this way, those sensual pleasures decline, diminish, deteriorate, fall away, vanish, and are destroyed. How does one diminish from the sensual pleasures? While those possessions still exist, one passes away, dies, and is destroyed. In this way, one declines, diminishes, deteriorates, falls away, vanishes, and is destroyed from the sensual pleasures.
Te kāmā parihāyanti (Các dục ấy bị suy giảm): Hoặc là các dục ấy bị suy giảm, hoặc là người ấy bị suy giảm khỏi các dục. Các dục ấy bị suy giảm như thế nào? Trong khi người ấy còn sống, các tài sản ấy hoặc bị vua chúa chiếm đoạt, hoặc bị trộm cướp lấy đi, hoặc bị lửa thiêu rụi, hoặc bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không được yêu mến lấy đi, hoặc của cải chôn giấu không tìm lại được, hoặc các công việc làm ăn thất bại, hoặc trong gia tộc sanh ra kẻ phá gia chi tử, kẻ ấy làm cho các tài sản đó bị phân tán, bị tiêu tan, bị hủy hoại; và chính sự vô thường là (nguyên nhân) thứ tám. Như vậy, các dục ấy bị giảm sút, bị suy giảm, bị tiêu tan, bị rơi rụng, bị biến mất, bị hủy hoại. Người ấy bị suy giảm khỏi các dục như thế nào? Trong khi các tài sản ấy vẫn còn, người ấy mệnh chung, qua đời, bị hủy hoại. Như vậy, người ấy bị giảm sút, bị suy giảm, bị tiêu tan, bị rơi rụng, bị biến mất, bị hủy hoại khỏi các dục.
Corā haranti rājāno, aggi dahati nassati;
Atha antena jahati †, sarīraṃ sapariggahaṃ;
Etadaññāya medhāvī, bhuñjetha ca dadetha ca.
Thieves take, and so do kings; fire burns, and things are lost; then in the end, one abandons the body together with its possessions. Understanding this, a wise person should both enjoy and give.
Trộm cướp lấy đi, vua chúa (chiếm đoạt), lửa thiêu rụi, (tài sản) bị mất đi; rồi cuối cùng, (người ấy) từ bỏ thân thể cùng với sở hữu của nó. Người có trí tuệ, sau khi biết được điều này, nên hưởng thụ và nên bố thí.
Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ, anindito saggamupeti ṭhānanti, te kāmā parihāyanti.
Having both given and enjoyed according to one's means, being blameless, one approaches the heavenly abode. This is the meaning of 'Those sensual pleasures diminish'.
Sau khi đã bố thí và hưởng thụ tùy theo khả năng, không bị chê trách, người ấy đi đến cảnh giới trời, là nơi an lạc – (đây là ý nghĩa của) các dục ấy bị suy giảm.
Sallaviddhova ruppatīti. Yathā ayomayena vā sallena viddho, aṭṭhimayena vā sallena dantamayena vā sallena visāṇamayena vā sallena kaṭṭhamayena vā sallena viddho ruppati kuppati ghaṭṭīyati pīḷīyati, byādhito domanassito hoti, evameva vatthukāmānaṃ vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. So kāmasallena ca sokasallena ca viddho, ruppati kuppati ghaṭṭīyati pīḷīyati byādhito domanassito hotīti – sallaviddhova ruppati.
Regarding the phrase 'He is afflicted as if pierced by a dart': Just as one pierced by a dart made of iron, or a dart made of bone, or a dart made of ivory, or a dart made of horn, or a dart made of wood is afflicted, agitated, vexed, and oppressed, becomes stricken and grief-stricken; even so, due to the change and alteration of sensual objects, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair arise. He, pierced by the dart of sensual pleasure and the dart of sorrow, is afflicted, agitated, vexed, and oppressed, becomes stricken and grief-stricken. This is the meaning of 'He is afflicted as if pierced by a dart'.
Sallaviddhova ruppati (Đau khổ như bị mũi tên bắn trúng): Giống như người bị bắn trúng bởi mũi tên làm bằng sắt, hoặc mũi tên làm bằng xương, hoặc mũi tên làm bằng ngà, hoặc mũi tên làm bằng sừng, hoặc mũi tên làm bằng gỗ, thì bị đau đớn, bị rung động, bị va chạm, bị bức bách, bị bệnh hoạn, bị ưu phiền; cũng vậy, do sự biến đổi và đổi khác của các đối tượng của dục, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Người ấy bị bắn trúng bởi mũi tên dục và mũi tên sầu, bị đau đớn, bị rung động, bị va chạm, bị bức bách, bị bệnh hoạn, bị ưu phiền – (đây là ý nghĩa của) sallaviddhova ruppati.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Tassa ce kāmayānassa, chandajātassa jantuno;
Te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppatī’’ti.
For that being who is desiring, in whom longing has arisen, if those sensual pleasures diminish, he is afflicted as if pierced by a dart.
‘Đối với chúng sanh ấy đang tìm cầu dục, có dục vọng sanh khởi; khi các dục ấy bị suy giảm, người ấy đau khổ như bị mũi tên bắn trúng.’
3.
3.
3.
Yo kāme parivajjeti, sappasseva padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattati.
One who avoids sensual pleasures, as one would a snake's head with the foot; that person, being mindful, overcomes this clinging in the world.
Người nào tránh xa các dục, như (người) dùng chân tránh đầu con rắn; người ấy, có chánh niệm, vượt qua được sự dính mắc này ở trên đời.
Yo kāme parivajjetīti. Yoti yo yādiso yathāyutto yathāvihito yathāpakāro yaṃṭhānappatto yaṃdhammasamannāgato khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā gahaṭṭho vā pabbajito vā devo vā manusso vā. Kāme parivajjetīti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Kāme parivajjetīti dvīhi kāraṇehi kāme parivajjeti – vikkhambhanato vā samucchedato vā. Kathaṃ vikkhambhanato kāme parivajjeti? ‘‘Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā appassādaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘maṃsapesūpamā kāmā bahusādhāraṇaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘tiṇukkūpamā kāmā anudahanaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘aṅgārakāsūpamā kāmā mahāpariḷāhaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘supinakūpamā kāmā ittarapaccupaṭṭhānaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘yācitakūpamā kāmā tāvakālikaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘rukkhaphalūpamā kāmā sambhañjanaparibhañjanaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘asisūnūpamā kāmā adhikuṭṭanaṭṭhenā’’ti † passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘sattisūlūpamā kāmā vinivijjhanaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘sappasirūpamā kāmā sappaṭibhayaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti, ‘‘aggikkhandhūpamā kāmā mahābhitāpanaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeti.
He who avoids sensual pleasures: 'He who' refers to anyone—of whatever nature, endowed with whatever distinction, constituted in whatever way, of whatever kind, having attained whatever position, endowed with whatever qualities—whether a noble, a brahmin, a merchant, a worker, a householder, a renunciant, a god, or a human. 'Avoids sensual pleasures': In summary, sensual pleasures are of two kinds: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements... These are called sensual pleasures as objects... These are called sensual pleasures as defilements. One avoids sensual pleasures for two reasons: by suppression or by eradication. How does one avoid sensual pleasures by suppression? By seeing that 'sensual pleasures are like a skeleton due to their lack of enjoyment,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a piece of meat due to being common to many,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a grass torch due to their burning nature,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a pit of glowing embers due to their great torment,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a dream due to their brief appearance,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like borrowed goods due to their temporary nature,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like the fruit of a tree due to their being broken and shattered,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a butcher's block due to their being chopped up,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a spear and stake due to their piercing nature,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a snake's head due to their being fraught with danger,' one avoids them by suppression. By seeing that 'sensual pleasures are like a mass of fire due to their great scorching heat,' one avoids them by suppression.
Yo kāme parivajjeti (Người nào tránh xa các dục). Yo (Người nào): Bất cứ ai, thuộc loại nào, có sự liên hệ nào, có cách sống nào, có đặc tính nào, đạt được địa vị nào, có đầy đủ pháp nào, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, tại gia, xuất gia, chư thiên, hay loài người. Kāme parivajjeti (Tránh xa các dục): Kāmā (Dục), nói tóm lại, có hai loại dục – đối tượng của dục (vatthukāmā) và phiền não dục (kilesakāmā)... đây được gọi là đối tượng của dục... đây được gọi là phiền não dục. Kāme parivajjeti (Tránh xa các dục): Người ấy tránh xa các dục bằng hai cách – bằng cách đè nén (chế ngự) hoặc bằng cách đoạn trừ. Tránh xa các dục bằng cách đè nén như thế nào? Thấy rằng: “Dục giống như bộ xương, vì có ít vị ngọt,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như miếng thịt, vì là của chung cho nhiều người,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như bó đuốc cỏ, vì thiêu đốt theo,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như hố than hừng, vì gây ra sự thiêu đốt lớn,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như giấc mộng, vì hiện hữu trong chốc lát,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như đồ mượn, vì chỉ là tạm thời,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như cây có quả, vì bị bẻ gãy, phá hoại,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như cái thớt, vì bị chặt, băm,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như ngọn giáo, cây cọc, vì đâm xuyên,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như đầu rắn, vì có sự nguy hiểm,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: “Dục giống như khối lửa, vì gây ra sự thiêu đốt lớn,” người ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén.
Buddhānussatiṃ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti, dhammānussatiṃ bhāventopi…pe… saṅghānussatiṃ bhāventopi… sīlānussatiṃ bhāventopi… cāgānussatiṃ bhāventopi… devatānussatiṃ bhāventopi… ānāpānassatiṃ † bhāventopi… maraṇassatiṃ bhāventopi… kāyagatāsatiṃ bhāventopi… upasamānussatiṃ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti.
By developing recollection of the Buddha, one avoids sensual pleasures by way of suppression. By developing recollection of the Dhamma… by developing recollection of the Sangha… by developing recollection of virtue… by developing recollection of generosity… by developing recollection of the deities… by developing mindfulness of breathing… by developing mindfulness of death… by developing mindfulness of the body… by developing recollection of peace, one avoids sensual pleasures by way of suppression.
Người tu tập niệm Phật cũng tránh xa các dục bằng cách đè nén, người tu tập niệm Pháp cũng vậy... người tu tập niệm Tăng cũng vậy... người tu tập niệm Giới cũng vậy... người tu tập niệm Thí cũng vậy... người tu tập niệm Thiên cũng vậy... người tu tập niệm hơi thở cũng vậy... người tu tập niệm sự chết cũng vậy... người tu tập niệm thân cũng vậy... người tu tập niệm sự tịch tịnh cũng tránh xa các dục bằng cách đè nén.
Paṭhamaṃ jhānaṃ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti, dutiyaṃ jhānaṃ bhāventopi…pe… tatiyaṃ jhānaṃ bhāventopi… catutthaṃ jhānaṃ bhāventopi… ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ bhāventopi… viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ bhāventopi… ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ bhāventopi … nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ bhāventopi vikkhambhanato kāme parivajjeti. Evaṃ vikkhambhanato kāme parivajjeti.
By developing the first jhāna, one avoids sensual pleasures by way of suppression. By developing the second jhāna… the third jhāna… the fourth jhāna… the attainment of the base of infinite space… the attainment of the base of infinite consciousness… the attainment of the base of nothingness… the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, one avoids sensual pleasures by way of suppression. Thus, one avoids sensual pleasures by way of suppression.
Người tu tập Sơ thiền cũng tránh xa các dục bằng cách đè nén, người tu tập Nhị thiền cũng vậy... người tu tập Tam thiền cũng vậy... người tu tập Tứ thiền cũng vậy... người tu tập Không Vô Biên Xứ định cũng vậy... người tu tập Thức Vô Biên Xứ định cũng vậy... người tu tập Vô Sở Hữu Xứ định cũng vậy... người tu tập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định cũng tránh xa các dục bằng cách đè nén. Như vậy là tránh xa các dục bằng cách đè nén.
Kathaṃ samucchedato kāme parivajjeti? Sotāpattimaggaṃ bhāventopi apāyagamanīye kāme samucchedato parivajjeti, sakadāgāmimaggaṃ bhāventopi oḷārike kāme samucchedato parivajjeti, anāgāmimaggaṃ bhāventopi anusahagate kāme samucchedato parivajjeti, arahattamaggaṃ bhāventopi sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ samucchedato kāme parivajjeti. Evaṃ samucchedato kāme parivajjetīti – yo kāme parivajjeti.
How does one avoid sensual pleasures by way of eradication? By developing the path of stream-entry, one avoids by way of eradication the sensual pleasures that lead to the lower realms. By developing the path of once-returning, one avoids by way of eradication the gross sensual pleasures. By developing the path of non-returning, one avoids by way of eradication the subtle sensual pleasures. By developing the path of arahantship, one avoids by way of eradication all sensual pleasures, in every way, entirely, in all its varieties, completely, without remainder, and without a trace. Thus, one avoids sensual pleasures by way of eradication. This is the meaning of the phrase 'one who avoids sensual pleasures'.
Làm thế nào vị ấy từ bỏ các dục bằng sự đoạn trừ? Trong khi tu tập Tuệ đạo Dự lưu, vị ấy từ bỏ bằng sự đoạn trừ các dục đưa đến đọa xứ. Trong khi tu tập Tuệ đạo Nhất lai, vị ấy từ bỏ bằng sự đoạn trừ các dục thô thiển. Trong khi tu tập Tuệ đạo Bất lai, vị ấy từ bỏ bằng sự đoạn trừ các dục vi tế đi kèm. Trong khi tu tập Tuệ đạo A-la-hán, vị ấy từ bỏ các dục bằng sự đoạn trừ một cách toàn diện, hoàn toàn, trong mọi phương diện, tất cả, không còn sót lại, không còn dấu vết. Như vậy là vị ấy từ bỏ các dục bằng sự đoạn trừ -- đó là ý nghĩa của câu ‘người nào từ bỏ các dục’.
Sappasseva padā siroti. Sappo vuccati ahi. Kenaṭṭhena sappo? Saṃsappanto gacchatīti sappo; bhujanto gacchatīti bhujago; urena gacchatīti urago; pannasiro gacchatīti pannago; sirena supatīti † sarīsapo †; bile sayatīti bilāsayo; guhāyaṃ sayatīti guhāsayo; dāṭhā tassa āvudhoti dāṭhāvudho; visaṃ tassa ghoranti ghoraviso; jivhā tassa duvidhāti dvijivho; dvīhi jivhāhi rasaṃ sāyatīti dvirasaññū. Yathā puriso jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikkūlo pādena sappasiraṃ vajjeyya vivajjeyya parivajjeyya abhinivajjeyya; evameva sukhakāmo dukkhapaṭikkūlo kāme vajjeyya vivajjeyya parivajjeyya abhinivajjeyyāti – sappasseva padā siro.
`Sappo` is called `ahi` (a snake). For what reason is it called `sappo`? It goes while slithering, thus it is a `sappo`; it goes while bending, thus it is a `bhujago`; it goes with its chest, thus it is an `urago`; it goes with its head lowered, thus it is a `pannago`; it sleeps with its head on its coil, thus it is a `sarīsapo`; it sleeps in a hole, thus it is a `bilāsayo`; it sleeps in a cave, thus it is a `guhāsayo`; its weapon is its fangs, thus it is a `dāṭhāvudho`; its poison is terrible, thus it is a `ghoraviso`; its tongue is twofold, thus it is a `dvijivho`; it knows flavor with two tongues, thus it is a `dvirasaññū`. Just as a person who desires to live, does not desire to die, desires happiness, and is averse to suffering would avoid, shun, thoroughly abandon, and utterly relinquish a snake's head with his foot; even so, one who desires happiness and is averse to suffering should avoid, shun, thoroughly abandon, and utterly relinquish sensual pleasures—like a snake's head with the foot.
‘Như chân tránh đầu rắn.’ Rắn được gọi là ‘ahi’. Do ý nghĩa nào là rắn (sappo)? Đi trườn tới nên là rắn (sappo). Đi cong vẹo nên là rắn (bhujago). Đi bằng ngực nên là rắn (urago). Đi với đầu cúi xuống nên là rắn (pannago). Ngủ với đầu nên là rắn (sarīsapo). Nằm trong hang nên là rắn (bilāsayo). Nằm trong động nên là rắn (guhāsayo). Nanh là vũ khí của nó nên là rắn (dāṭhāvudho). Nọc độc của nó ghê gớm nên là rắn (ghoraviso). Lưỡi của nó có hai nhánh nên là rắn (dvijivho). Nếm vị bằng hai lưỡi nên là rắn (dvirasaññū). Giống như người muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghét bỏ khổ đau, nên dùng chân tránh, xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ đầu rắn; cũng vậy, người muốn được an lạc, ghét bỏ khổ đau, nên tránh, xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ các dục -- đó là ý nghĩa của câu ‘như chân tránh đầu rắn’.
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatīti. Soti yo kāme parivajjeti. Visattikā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo anunayo anurodho nandī nandirāgo, cittassa sārāgo icchā mucchā ajjhosānaṃ gedho paligedho † saṅgo paṅko, ejā māyā janikā sañjananī sibbinī jālinī saritā visattikā, suttaṃ visatā āyūhinī † dutiyā paṇidhi bhavanetti, vanaṃ vanatho sandhavo sneho apekkhā paṭibandhu, āsā āsīsanā āsīsitattaṃ, rūpāsā saddāsā gandhāsā rasāsā phoṭṭhabbāsā, lābhāsā janāsā puttāsā jīvitāsā, jappā pajappā abhijappā jappanā jappitattaṃ loluppaṃ loluppāyanā loluppāyitattaṃ pucchañjikatā sādhukamyatā, adhammarāgo visamalobho nikanti nikāmanā patthanā pihanā sampatthanā, kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā, rūpataṇhā arūpataṇhā nirodhataṇhā, rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā, ogho yogo gantho upādānaṃ āvaraṇaṃ nīvaraṇaṃ chadanaṃ bandhanaṃ, upakkileso anusayo pariyuṭṭhānaṃ latā vevicchaṃ, dukkhamūlaṃ dukkhanidānaṃ dukkhappabhavo mārapāso mārabaḷisaṃ māravisayo, taṇhānadī taṇhājālaṃ taṇhāgaddulaṃ taṇhāsamuddo abhijjhā lobho akusalamūlaṃ.
The mindful one overcomes this clinging in the world. He is one who shuns sensual pleasures. Visattikā is called craving. It is passion, intense passion, fondness, compliance, delight, delight-passion, the mind's intense passion, desire, infatuation, clinging, greed, intense greed, entanglement, mire, longing, illusion, the producer, the generator, the seamstress, the net, the stream, that which clings, the thread, the spreader, that which draws forth, the second, aspiration, the conduit of becoming, the forest, the jungle, the tangle, affection, longing, the impediment, hope, aspiration, the state of aspiration, hope for forms, hope for sounds, hope for smells, hope for tastes, hope for tactile objects, hope for gain, hope for wealth, hope for children, hope for life, yearning, strong yearning, intense yearning, the act of yearning, the state of yearning, greediness, the tendency to greed, the state of greediness, agitation for what is obtained, desire for fine things, unrighteous passion, perverse greed, longing, strong desire, aspiration, pining, intense aspiration, craving for sensual pleasure, craving for existence, craving for non-existence, craving for form, craving for the formless, craving for cessation, craving for forms, craving for sounds, craving for smells, craving for tastes, craving for tactile objects, craving for mental objects, the flood, the yoke, the knot, clinging, the obstruction, the hindrance, the covering, the bond, defilement, underlying tendency, obsession, the creeper, diversification, the root of suffering, the origin of suffering, the source of suffering, Māra’s snare, Māra’s hook, Māra’s domain, the river of craving, the net of craving, the tether of craving, the ocean of craving, covetousness, greed, the root of the unwholesome.
‘Vị ấy, chánh niệm, vượt qua sự dính mắc ở đời.’ ‘Vị ấy’ là người từ bỏ các dục. ‘Sự dính mắc’ (visattikā) được gọi là ái (taṇhā). Cái nào là tham (rāgo), tham luyến (sārāgo), sự thuận theo (anunayo), sự tùy thuận (anurodho), sự hoan hỷ (nandī), tham ái đi kèm hoan hỷ (nandirāgo), sự tham luyến của tâm (cittassa sārāgo), sự mong muốn (icchā), sự mê muội (mucchā), sự nắm giữ (ajjhosānaṃ), sự tham đắm (gedho), sự tham đắm hoàn toàn (paligedho), sự dính mắc (saṅgo), vũng lầy (paṅko), sự rung động (ejā), ảo thuật (māyā), người tạo ra (janikā), người sanh ra (sañjananī), người may vá (sibbinī), người giăng lưới (jālinī), dòng sông (saritā), sự dính mắc (visattikā), sợi chỉ (suttaṃ), sự lan tràn (visatā), người lôi kéo (āyūhinī), người bạn đồng hành (dutiyā), sự ước nguyện (paṇidhi), dây dẫn đến tái sanh (bhavanetti), rừng rậm (vanaṃ), bụi rậm (vanatho), sự liên kết (sandhavo), chất keo (sneho), sự trông mong (apekkhā), sự trói buộc (paṭibandhu), sự hy vọng (āsā), sự mong mỏi (āsīsanā), trạng thái mong mỏi (āsīsitattaṃ), hy vọng vào sắc (rūpāsā), hy vọng vào tiếng (saddāsā), hy vọng vào hương (gandhāsā), hy vọng vào vị (rasāsā), hy vọng vào vật xúc chạm (phoṭṭhabbāsā), hy vọng vào lợi lộc (lābhāsā), hy vọng vào tài sản (dhanāsā), hy vọng vào con cái (puttāsā), hy vọng vào sự sống (jīvitāsā), sự lẩm bẩm (jappā), sự thì thầm (pajappā), sự khao khát (abhijappā), sự lẩm bẩm (jappanā), trạng thái lẩm bẩm (jappitattaṃ), sự tham lam (loluppaṃ), hành vi tham lam (loluppāyanā), trạng thái tham lam (loluppāyitattaṃ), sự bám víu (pucchañjikatā), sự ham muốn điều tốt đẹp (sādhukamyatā), tham ái bất chính (adhammarāgo), tham lam sai trái (visamalobho), sự ưa thích (nikanti), sự ham muốn (nikāmanā), sự cầu mong (patthanā), sự khao khát (pihanā), sự mong ước (sampatthanā), dục ái (kāmataṇhā), hữu ái (bhavataṇhā), phi hữu ái (vibhavataṇhā), sắc ái (rūpataṇhā), vô sắc ái (arūpataṇhā), ái trong sự đoạn diệt (nirodhataṇhā), ái đối với sắc (rūpataṇhā), ái đối với tiếng (saddataṇhā), ái đối với hương (gandhataṇhā), ái đối với vị (rasataṇhā), ái đối với vật xúc chạm (phoṭṭhabbataṇhā), ái đối với pháp (dhammataṇhā), bộc lưu (ogho), ách (yogo), triền phược (gantho), thủ (upādānaṃ), chướng ngại (āvaraṇaṃ), triền cái (nīvaraṇaṃ), sự che đậy (chadanaṃ), sự trói buộc (bandhanaṃ), tùy phiền não (upakkileso), tùy miên (anusayo), sự ám ảnh (pariyuṭṭhānaṃ), dây leo (latā), sự ham muốn đa dạng (vevicchaṃ), cội rễ của khổ (dukkhamūlaṃ), nguồn gốc của khổ (dukkhanidānaṃ), nguyên nhân của khổ (dukkhappabhavo), cạm bẫy của ma (mārapāso), lưỡi câu của ma (mārabaḷisaṃ), cảnh giới của ma (māravisayo), sông ái (taṇhānadī), lưới ái (taṇhājālaṃ), cũi ái (taṇhāgaddulaṃ), biển ái (taṇhāsamuddo), tham dục (abhijjhā), tham (lobho), gốc rễ bất thiện (akusalamūlaṃ).
Visattikāti. Kenaṭṭhena visattikā? Visatāti visattikā; visālāti visattikā; visaṭāti visattikā; visakkatīti visattikā; visaṃharatīti visattikā; visaṃvādikāti visattikā; visamūlāti visattikā; visaphalāti visattikā; visaparibhogoti visattikā; visālā vā pana sā taṇhā rūpe sadde gandhe rase phoṭṭhabbe, kule gaṇe āvāse lābhe yase, pasaṃsāya sukhe cīvare piṇḍapāte senāsane gilānapaccayabhesajjaparikkhāre, kāmadhātuyā rūpadhātuyā arūpadhātuyā, kāmabhave rūpabhave arūpabhave, saññābhave asaññābhave nevasaññānāsaññābhave, ekavokārabhave catuvokārabhave pañcavokārabhave, atīte anāgate paccuppanne, diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu visaṭā vitthatāti visattikā.
Regarding Visattikā. In what sense is it Visattikā? It is Visattikā because it spreads out; it is Visattikā because it is extensive; it is Visattikā because it pervades; it is Visattikā because it entangles; it is Visattikā because it brings suffering; it is Visattikā because it is deceptive; it is Visattikā because it is the root of suffering; it is Visattikā because its fruit is suffering; it is Visattikā because its enjoyment is suffering. Or else, that craving is extensive, and in regard to forms, sounds, smells, tastes, tactile objects; families, groups, dwellings, gains, fame; praise, pleasure, robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites for the sick; the sense-sphere realm, the form-sphere realm, the formless-sphere realm; sense-sphere existence, form-sphere existence, formless-sphere existence; existence with perception, existence without perception, existence with neither perception nor non-perception; one-constituent existence, four-constituent existence, five-constituent existence; the past, future, and present; and in regard to things seen, heard, sensed, and cognized, it pervades and spreads out—therefore, it is called Visattikā.
‘Sự dính mắc’ (visattikā). Do ý nghĩa nào là sự dính mắc? Vì nó lan tràn (visatā) nên là sự dính mắc. Vì nó rộng lớn (visālā) nên là sự dính mắc. Vì nó khuếch tán (visaṭā) nên là sự dính mắc. Vì nó bám víu (visakkati) nên là sự dính mắc. Vì nó mang lại nọc độc (visaṃharati) nên là sự dính mắc. Vì nó lừa dối (visaṃvādikā) nên là sự dính mắc. Vì nó có gốc rễ độc hại (visamūlā) nên là sự dính mắc. Vì nó có quả độc hại (visaphalā) nên là sự dính mắc. Vì nó hưởng thụ nọc độc (visaparibhogo) nên là sự dính mắc. Hoặc lại, ái ấy rộng lớn (visālā), nó lan tràn (visaṭā), lan rộng (vitthatā) trong sắc, tiếng, hương, vị, vật xúc chạm; trong gia tộc, đoàn thể, trú xứ, lợi lộc, danh vọng, lời tán dương, sự an lạc; trong y, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; trong cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc; trong Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu; trong Tưởng hữu, Vô tưởng hữu, Phi tưởng phi phi tưởng hữu; trong hữu một uẩn, hữu bốn uẩn, hữu năm uẩn; trong quá khứ, vị lai, hiện tại; trong các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, nó lan tràn, lan rộng, vì vậy gọi là sự dính mắc (visattikā).
Loketi apāyaloke manussaloke devaloke, khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu…pe… citte… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato.
Regarding 'in the world' (loke): this refers to the plane of misery, the human plane, and the divine plane; the world of the aggregates, the world of the elements, and the world of the sense bases. Regarding 'mindful' (sato): one is mindful for four reasons—by developing the establishment of mindfulness by contemplating the body in the body, one is mindful; [and similarly for] feelings... mind... and by developing the establishment of mindfulness by contemplating phenomena in phenomena, one is mindful.
‘Ở đời’ (loke) là trong thế giới khổ đau, thế giới loài người, thế giới chư thiên; trong thế giới các uẩn, thế giới các giới, thế giới các xứ. ‘Chánh niệm’ (sato) là chánh niệm do bốn lý do: vị ấy chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân; trong các cảm thọ... trong tâm... vị ấy chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp.
Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – asatiparivajjanāya sato, satikaraṇīyānaṃ dhammānaṃ katattā sato, satiparibandhānaṃ dhammānaṃ hatattā sato, satinimittānaṃ dhammānaṃ asammuṭṭhattā sato.
Also for another four reasons, one is mindful: one is mindful by avoiding unmindfulness; one is mindful because of having done those things that are to be done with mindfulness; one is mindful because of having destroyed the hindrances to mindfulness; one is mindful because of not being forgetful of the basis for mindfulness.
Vị ấy chánh niệm cũng do bốn lý do khác: vị ấy chánh niệm vì từ bỏ sự thất niệm; vị ấy chánh niệm vì đã làm các pháp cần phải làm với chánh niệm; vị ấy chánh niệm vì đã phá hủy các pháp là chướng ngại cho chánh niệm; vị ấy chánh niệm vì không quên lãng các pháp là nhân của chánh niệm.
Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – satiyā samannāgatattā sato, satiyā vasitattā sato, satiyā pāguññatāya sato, satiyā apaccorohaṇatāya † sato.
Also for another four reasons, one is mindful: by being possessed of mindfulness, by having mastery over mindfulness, by being skilled in mindfulness, and by the non-decline of mindfulness.
Vị ấy chánh niệm cũng do bốn lý do khác: vị ấy chánh niệm vì đã thành tựu chánh niệm; vị ấy chánh niệm vì đã thuần thục trong chánh niệm; vị ấy chánh niệm vì đã thiện xảo trong chánh niệm; vị ấy chánh niệm vì không bị suy thoái trong chánh niệm.
Aparehipi catūhi kāraṇehi sato – sattattā sato, santattā sato, samitattā sato, santadhammasamannāgatattā sato. Buddhānussatiyā sato, dhammānussatiyā sato, saṅghānussatiyā sato, sīlānussatiyā sato, cāgānussatiyā sato, devatānussatiyā sato, ānāpānassatiyā sato, maraṇassatiyā sato, kāyagatāsatiyā sato, upasamānussatiyā sato. Yā sati anussati paṭissati sati saraṇatā dhāraṇatā apilāpanatā asammussanatā sati satindriyaṃ satibalaṃ sammāsati satisambojjhaṅgo ekāyanamaggo, ayaṃ vuccati sati. Imāya satiyā upeto hoti samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato, so vuccati sato.
Also for another four reasons, one is mindful: because of the state of being, one is mindful; because of being tranquil, one is mindful; because of being pacified, one is mindful; because of being endowed with the qualities of the virtuous, one is mindful. One is mindful through recollection of the Buddha, recollection of the Dhamma, recollection of the Saṅgha, recollection of virtue, recollection of generosity, recollection of the deities, mindfulness of breathing, mindfulness of death, mindfulness of the body, and recollection of peace. Whatever is mindfulness, recollection, re-mindfulness, the state of remembering, the state of bearing in mind, non-superficiality, non-confusion, the faculty of mindfulness, the power of mindfulness, right mindfulness, the enlightenment factor of mindfulness, the direct path—this is called mindfulness. One who is possessed of this mindfulness, fully possessed, has attained it, fully attained it, is endowed with it, accomplished in it, and furnished with it, is called 'mindful'.
Vị ấy chánh niệm cũng do bốn lý do khác: vị ấy chánh niệm vì là bậc chân nhân (sattattā); vị ấy chánh niệm vì có sự an tịnh (santattā); vị ấy chánh niệm vì có sự lắng dịu (samitattā); vị ấy chánh niệm vì đã thành tựu pháp của bậc chân nhân. Vị ấy chánh niệm nhờ niệm Phật, vị ấy chánh niệm nhờ niệm Pháp, vị ấy chánh niệm nhờ niệm Tăng, vị ấy chánh niệm nhờ niệm Giới, vị ấy chánh niệm nhờ niệm Thí, vị ấy chánh niệm nhờ niệm Thiên, vị ấy chánh niệm nhờ niệm hơi thở, vị ấy chánh niệm nhờ niệm sự chết, vị ấy chánh niệm nhờ niệm thân, vị ấy chánh niệm nhờ niệm sự tịch tịnh. Cái nào là niệm (sati), tùy niệm (anussati), tái niệm (paṭissati), sự ghi nhớ (saraṇatā), sự duy trì (dhāraṇatā), sự không trôi nổi (apilāpanatā), sự không quên lãng (asammussanatā), niệm, niệm quyền (satindriyaṃ), niệm lực (satibalaṃ), chánh niệm (sammāsati), niệm giác chi (satisambojjhaṅgo), con đường độc nhất (ekāyanamaggo), đây được gọi là niệm. Vị ấy đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã đi đến, đã hoàn toàn đi đến, đã thành tựu, đã hoàn toàn thành tựu, đã đầy đủ niệm này, vị ấy được gọi là người chánh niệm (sato).
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatīti. Loke vā sā visattikā, loke vā taṃ visattikaṃ sato tarati uttarati patarati samatikkamati vītivattatīti – somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattati.
Regarding the line, 'The mindful one transcends this attachment in the world': Whatever attachment there is in the world, that attachment in the world the mindful one crosses over, transcends, passes beyond, overcomes, and surmounts. Thus, 'The mindful one transcends this attachment in the world'.
Người chánh niệm vượt qua ái nhiễm này trong thế gian. Hoặc là, ái nhiễm ấy ở trong thế gian, hoặc là, người chánh niệm vượt qua, vượt lên, vượt khỏi, vượt thoát, vượt hẳn ái nhiễm ấy trong thế gian – (cho nên nói) người chánh niệm vượt qua ái nhiễm này trong thế gian.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Yo kāme parivajjeti, sappasseva padā siro;
Somaṃ visattikaṃ loke, sato samativattatī’’ti.
“He who avoids sensual pleasures, as one would avoid a snake’s head with the foot; that one, being mindful, transcends this attachment in the world.”
‘Vị nào tránh xa các dục, như (tránh) đầu rắn bằng chân; vị ấy, người chánh niệm, vượt qua ái nhiễm này trong thế gian.’
4.
4.
4.
Khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vā, gavāssaṃ dāsaporisaṃ;
Thiyo bandhū puthu kāme, yo naro anugijjhati.
Fields, land, or gold, cattle and horses, slaves and servants, women and relatives—whatever various pleasures a person greedily desires,
Người nào tham đắm ruộng, đất, hoặc vàng, bò ngựa, tôi tớ người làm, đàn bà, bà con, (và) nhiều dục lạc.
Khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vāti. Khettanti sālikkhettaṃ vīhikkhettaṃ muggakkhettaṃ māsakkhettaṃ yavakkhettaṃ godhumakkhettaṃ tilakkhettaṃ. Vatthunti gharavatthuṃ koṭṭhakavatthuṃ purevatthuṃ pacchāvatthuṃ ārāmavatthuṃ vihāravatthuṃ. Hiraññanti hiraññaṃ vuccati kahāpaṇoti – khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vā.
Regarding 'fields, land, or gold': 'Field' means a field of fine rice, a field of paddy, a field of green gram, a field of beans, a field of barley, a field of wheat, or a field of sesame. 'Land' means a house-site, a granary-site, land in front of a house, land behind a house, park-land, or a monastery-site. Regarding 'gold,' a coin is what is meant. Thus, 'fields, land, or gold'.
(Về câu) ‘Ruộng, đất, hoặc vàng.’ ‘Ruộng’ là ruộng lúa sāli, ruộng lúa vīhi, ruộng đậu xanh, ruộng đậu đen, ruộng đại mạch, ruộng lúa mì, ruộng mè. ‘Đất’ là đất nhà, đất kho, đất trước nhà, đất sau nhà, đất vườn, đất tịnh xá. ‘Vàng’ là vàng, được gọi là đồng kahāpaṇa – (cho nên nói) ‘ruộng, đất, hoặc vàng.’
Gavāssaṃ dāsaporisanti. Gavanti gavā † vuccanti. Assāti pasukādayo vuccanti. Dāsāti cattāro dāsā – antojātako dāso, dhanakkītako dāso, sāmaṃ vā dāsabyaṃ upeti, akāmako vā dāsavisayaṃ upeti.
Regarding 'cattle, horses, slaves, and servants': By 'cattle' are meant cows. By 'horses' are meant livestock and the like. By 'slaves' are meant four kinds of slaves: one born in the household, one bought with money, one who enters slavery of his own accord, or one who falls into the state of a slave against his will.
(Về câu) ‘Bò ngựa, tôi tớ người làm.’ ‘Bò’ được gọi là các con bò. ‘Ngựa’ được gọi là các gia súc v.v... ‘Tôi tớ’ là có bốn loại tôi tớ: tôi tớ sinh trong nhà, tôi tớ được mua bằng tiền, hoặc người tự nguyện làm tôi tớ, hoặc người không muốn mà phải làm tôi tớ.
‘‘Āmāya dāsāpi bhavanti heke, dhanena kītāpi bhavanti dāsā;
Sāmañca eke upayanti dāsyaṃ, bhayāpanuṇṇāpi bhavanti dāsā’’ti.
“Some become slaves born in the house, some become slaves bought with wealth; some approach slavery of their own accord, and some become slaves driven by fear.”
‘Có những người là tôi tớ bẩm sinh, có những người là tôi tớ được mua bằng tiền; có những người tự nguyện làm tôi tớ, và có những người làm tôi tớ do bị sợ hãi xua đuổi.’
Purisāti tayo purisā – bhatakā, kammakarā, upajīvinoti – gavāssaṃ dāsaporisaṃ.
By 'servants' are meant three kinds of persons: hired men, laborers, and dependents. Thus, 'cattle, horses, slaves, and servants'.
‘Người làm’ là có ba loại người làm: người làm thuê, người thợ, và người sống nương tựa – (cho nên nói) ‘bò ngựa, tôi tớ người làm.’
Thiyo bandhū puthu kāmeti. Thiyoti itthipariggaho vuccati. Bandhūti cattāro bandhū – ñātibandhavāpi bandhu, gottabandhavāpi bandhu, mantabandhavāpi bandhu, sippabandhavāpi bandhu. Puthu kāmeti bahū kāme. Ete puthu kāmā manāpikā rūpā…pe… manāpikā phoṭṭhabbāti – thiyo bandhū puthu kāme.
Regarding 'women, relatives, and various pleasures': By 'women' is meant the possession of women. By 'relatives' are meant four kinds of relatives: relatives by blood, relatives by lineage, relatives by shared teaching, and relatives by craft. By 'various pleasures' are meant many pleasures. These various pleasures are agreeable forms… and agreeable tactile sensations. Thus, 'women, relatives, and various pleasures'.
(Về câu) ‘Đàn bà, bà con, nhiều dục lạc.’ ‘Đàn bà’ được gọi là người vợ. ‘Bà con’ là có bốn loại bà con: bà con do thân tộc, bà con do thị tộc, bà con do học cùng thầy, bà con do cùng nghề. ‘Nhiều dục lạc’ là nhiều đối tượng của dục. Những đối tượng của dục này là các sắc khả ý... cho đến... các xúc khả ý – (cho nên nói) ‘đàn bà, bà con, nhiều dục lạc.’
Yo naro anugijjhatīti. Yoti yo yādiso yathāyutto yathāvihito yathāpakāro yaṃṭhānappatto yaṃdhammasamannāgato khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā gahaṭṭho vā pabbajito vā devo vā manusso vā. Naroti satto naro mānavo poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujo. Anugijjhatīti kilesakāmena vatthukāmesu gijjhati anugijjhati paligijjhati palibajjhatīti – yo naro anugijjhati.
Regarding 'the person who greedily desires': By 'who' is meant: whoever, of whatever kind, however engaged, however disposed, in whatever way, having attained whatever status, endowed with whatever qualities—whether a noble, a brahmin, a merchant, a worker, a householder, a renunciate, a deva, or a human being. By 'person' is meant: a being, a person, a human, an individual, a person, a living being, a creature that is born, a creature, one that goes by the senses, a human being. By 'greedily desires' is meant: with the craving of defilement, for the objects of craving, he craves, repeatedly craves, and intensely craves. Thus, 'the person who greedily desires'.
(Về câu) ‘Người nào tham đắm.’ ‘Nào’ là bất cứ ai, bất cứ loại nào, bất cứ thành phần nào, bất cứ cách thức nào, bất cứ địa vị nào, bất cứ ai có được các pháp nào, hoặc là Sát-đế-lỵ, hoặc là Bà-la-môn, hoặc là Phệ-xá, hoặc là Thủ-đà-la, hoặc là tại gia, hoặc là xuất gia, hoặc là chư thiên, hoặc là nhân loại. ‘Người’ là chúng sanh, người, thanh niên, người nuôi dưỡng, cá nhân, sinh mạng, sinh vật, sinh linh, người đi theo các căn, con người. ‘Tham đắm’ là do dục phiền não mà tham muốn, tham đắm, tham luyến, tham chấp vào các dục vật – (cho nên nói) ‘người nào tham đắm.’
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vā, gavāssaṃ dāsaporisaṃ;
Thiyo bandhū puthu kāme, yo naro anugijjhatī’’ti.
“A field, property, or gold; cattle, horses, slaves, and servants; women, relatives, and many sense pleasures—the person who greedily desires these.”
‘Người nào tham đắm ruộng, đất, hoặc vàng, bò ngựa, tôi tớ người làm, đàn bà, bà con, (và) nhiều dục lạc.’
5.
5.
5.
Abalā naṃ balīyanti, maddante naṃ parissayā;
Tato naṃ dukkhamanveti, nāvaṃ bhinnamivodakaṃ.
The weak overpower him, dangers crush him; then suffering follows him, as water enters a broken boat.
Những (phiền não) yếu ớt chế ngự người ấy, các hiểm nguy đè bẹp người ấy; do đó, khổ đau đi theo người ấy, như nước (tràn vào) chiếc thuyền bị vỡ.
Abalā naṃ balīyantīti. Abalāti abalā kilesā dubbalā appabalā appathāmakā hīnā nihīnā ( ) † omakā lāmakā chatukkā parittā. Te kilesā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddantīti, evampi abalā naṃ balīyanti. Atha vā, abalaṃ puggalaṃ dubbalaṃ appabalaṃ appathāmakaṃ hīnaṃ nihīnaṃ omakaṃ lāmakaṃ chatukkaṃ parittaṃ, yassa natthi saddhābalaṃ vīriyabalaṃ satibalaṃ samādhibalaṃ paññābalaṃ hiribalaṃ ottappabalaṃ. Te kilesā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddantīti – evampi abalā naṃ balīyantīti.
Regarding 'The weak overpower him': By 'the weak' are meant the defilements that are weak, feeble, lacking strength, lacking force, inferior, abject, paltry, wretched, contemptible, and trifling. These defilements assail, oppress, overpower, overwhelm, ensnare, and crush that person—thus, 'The weak overpower him.' Alternatively, 'the weak' refers to a person who is weak, feeble, lacking strength, lacking force, inferior, abject, paltry, wretched, contemptible, and trifling; one who lacks the strength of faith, the strength of energy, the strength of mindfulness, the strength of concentration, the strength of wisdom, the strength of moral shame, and the strength of moral dread. These defilements assail, oppress, overpower, overwhelm, ensnare, and crush that person—thus also, 'The weak overpower him.'
(Về câu) ‘Những (phiền não) yếu ớt chế ngự người ấy.’ ‘Yếu ớt’ là các phiền não yếu ớt, yếu đuối, ít sức mạnh, ít năng lực, thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn. Các phiền não ấy áp đảo, hoàn toàn áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, đè bẹp cá nhân ấy. Như vậy cũng là ‘những (phiền não) yếu ớt chế ngự người ấy.’ Hoặc là, (chúng chế ngự) cá nhân yếu ớt, yếu đuối, ít sức mạnh, ít năng lực, thấp kém, hạ liệt, tầm thường, tồi tệ, đáng khinh, nhỏ mọn, là người không có tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, tàm lực, quý lực. Các phiền não ấy áp đảo, hoàn toàn áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, đè bẹp cá nhân ấy – như vậy cũng là ‘những (phiền não) yếu ớt chế ngự người ấy.’
Maddante naṃ parissayāti. Dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca. Katame pākaṭaparissayā? Sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā † hatthī ahivicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā, cakkhurogo sotarogo ghānarogo jivhārogo kāyarogo sīsarogo kaṇṇarogo mukharogo dantarogo, kāso sāso pināso ḍāho jaro, kucchirogo mucchā pakkhandikā sūlā visūcikā, kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso soso apamāro, daddu kaṇḍu kacchu rakhasā † vitacchikā lohitapittaṃ, madhumeho aṃsā piḷakā bhagandalā, pittasamuṭṭhānā ābādhā semhasamuṭṭhānā ābādhā vātasamuṭṭhānā ābādhā sannipātikā ābādhā utupariṇāmajā ābādhā visamaparihārajā ābādhā, opakkamikā ābādhā kammavipākajā ābādhā, sītaṃ uṇhaṃ jighacchā pipāsā uccāro passāvo ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassā iti vā – ime vuccanti pākaṭaparissayā.
Regarding 'Dangers crush him': There are two kinds of dangers: manifest dangers and hidden dangers. What are the manifest dangers? Lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or robbers, or violent men, perpetrators, or would-be perpetrators; eye diseases, ear diseases, nose diseases, tongue diseases, body diseases, head diseases, ear diseases, mouth diseases, tooth diseases; cough, asthma, catarrh, burning, fever; stomach diseases, fainting, dysentery, colic, cholera; leprosy, boils, eczema, consumption, epilepsy; ringworm, itching, scabies, scratches, sores on hands and feet, disorders of the blood and bile; diabetes, shoulder ailments, pimples, fistulas; ailments arising from bile, ailments arising from phlegm, ailments arising from wind, ailments arising from a combination of the humors, ailments arising from seasonal changes, ailments arising from imbalanced postures, ailments caused by external attack, ailments resulting from karmic retribution; cold, heat, hunger, thirst, excrement, urine; contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping creatures—these are called manifest dangers.
(Về câu) ‘Các hiểm nguy đè bẹp người ấy.’ Có hai loại hiểm nguy: hiểm nguy hiển hiện và hiểm nguy che giấu. Thế nào là các hiểm nguy hiển hiện? Sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu, voi, rắn, bọ cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, hoặc là người bạo hành, hoặc là người đã phạm tội, hoặc là người chưa phạm tội; bệnh mắt, bệnh tai, bệnh mũi, bệnh lưỡi, bệnh thân, bệnh đầu, bệnh tai, bệnh miệng, bệnh răng; ho, suyễn, sổ mũi, sốt, nóng trong người; bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, thổ tả; bệnh hủi, ung nhọt, bạch biến, lao phổi, động kinh; hắc lào, ghẻ ngứa, ghẻ lở, nứt nẻ, nứt da; bệnh xuất huyết, tiểu đường, mụn nhọt, mụn mủ, bệnh rò; các bệnh do mật gây ra, các bệnh do đờm gây ra, các bệnh do gió gây ra, các bệnh do ba thứ kết hợp, các bệnh do thời tiết thay đổi, các bệnh do sinh hoạt không điều độ, các bệnh do bị tấn công, các bệnh do quả của nghiệp; lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát. Những thứ này được gọi là các hiểm nguy hiển hiện.
Katame paṭicchannaparissayā? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ, kāmacchandanīvaraṇaṃ byāpādanīvaraṇaṃ thinamiddhanīvaraṇaṃ uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ vicikicchānīvaraṇaṃ, rāgo doso moho kodho upanāho makkho paḷāso issā macchariyaṃ, māyā sāṭheyyaṃ thambho sārambho māno atimāno mado pamādo, sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā – ime vuccanti paṭicchannaparissayā.
What are the hidden dangers? Misconduct of body, misconduct of speech, misconduct of mind; the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill will, the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, the hindrance of doubt; greed, hatred, delusion, anger, resentment, denigration, spite, envy, stinginess; deceit, treachery, stubbornness, contention, conceit, arrogance, intoxication, heedlessness; all defilements, all misconducts, all anxieties, all fevers, all torments, all unwholesome volitional formations—these are called hidden dangers.
Thế nào là các hiểm nguy che giấu? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm-thụy miên, triền cái trạo cử-hối quá, triền cái hoài nghi; tham, sân, si, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, man, cuống, ngoan cố, tranh cạnh, mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật; tất cả phiền não, tất cả ác hành, tất cả phiền muộn, tất cả nhiệt não, tất cả thiêu đốt, tất cả bất thiện hành – những thứ này được gọi là các hiểm nguy che giấu.
Parissayāti kenaṭṭhena parissayā? Parisahantīti parissayā, parihānāya saṃvattantīti parissayā, tatrāsayāti parissayā. Kathaṃ parisahantīti parissayā? Te parissayā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddanti. Evaṃ parisahantīti parissayā. Kathaṃ parihānāya saṃvattantīti parissayā? Te parissayā kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Katamesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ? Sammāpaṭipadāya anulomapaṭipadāya apaccanīkapaṭipadāya aviruddhapaṭipadāya anvatthapaṭipadāya dhammānudhammapaṭipadāya, sīlesu paripūrikāritāya indriyesu guttadvāratāya bhojane mattaññutāya, jāgariyānuyogassa satisampajaññassa, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogassa catunnaṃ sammappadhānānaṃ bhāvanānuyogassa catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvanānuyogassa, pañcannaṃ indriyānaṃ bhāvanānuyogassa pañcannaṃ balānaṃ bhāvanānuyogassa, sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ bhāvanānuyogassa ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogassa – imesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Evaṃ parihānāya saṃvattantīti – parissayā.
In what sense are they dangers? They are dangers because they oppress, because they lead to decline, because they have their abode therein. How are they dangers because they oppress? These dangers oppress, thoroughly oppress, overwhelm, completely envelop, seize, and crush that person. Thus, they are dangers because they oppress. How are they dangers because they lead to decline? These dangers lead to the obstruction and decline of wholesome qualities. Of which wholesome qualities? Of right practice, practice in conformity, unoppositional practice, non-conflicting practice, practice according to the goal, practice in accordance with the Dhamma; of fulfillment in virtues, of guarding the sense doors, of moderation in eating; of devotion to wakefulness, of mindfulness and clear comprehension; of the development of the four foundations of mindfulness, of the development of the four right strivings, of the development of the four bases of spiritual power, of the development of the five faculties, of the development of the five powers, of the development of the seven factors of enlightenment, and of the development of the Noble Eightfold Path—these dangers lead to the obstruction and decline of such wholesome qualities. Thus, they are dangers because they lead to decline.
Parissayā (hiểm nguy), do ý nghĩa nào mà là parissayā? Chúng áp đảo nên là parissayā, chúng dẫn đến sự suy giảm nên là parissayā, chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā. Thế nào là chúng áp đảo nên là parissayā? Những hiểm nguy ấy áp bức, áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, nghiền nát cá nhân ấy. Như vậy là chúng áp đảo nên là parissayā. Thế nào là chúng dẫn đến sự suy giảm nên là parissayā? Những hiểm nguy ấy dẫn đến sự biến mất và suy giảm của các thiện pháp. Của những thiện pháp nào? Của chánh hạnh, của hạnh thuận thứ, của hạnh không đối nghịch, của hạnh không mâu thuẫn, của hạnh phù hợp với mục đích, của hạnh tùy pháp hành pháp, của sự viên mãn trong các giới, của sự hộ trì các căn môn, của sự tiết độ trong ăn uống, của sự chuyên tâm cảnh giác, của chánh niệm và tỉnh giác, của sự chuyên tâm tu tập bốn niệm xứ, của sự chuyên tâm tu tập bốn chánh cần, của sự chuyên tâm tu tập bốn như ý túc, của sự chuyên tâm tu tập năm căn, của sự chuyên tâm tu tập năm lực, của sự chuyên tâm tu tập bảy giác chi, của sự chuyên tâm tu tập Thánh đạo Tám ngành – (chúng) dẫn đến sự biến mất và suy giảm của những thiện pháp này. Như vậy là chúng dẫn đến sự suy giảm nên là parissayā.
Kathaṃ tatrāsayāti parissayā? Tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayā. Yathā bile bilāsayā pāṇā sayanti, dake dakāsayā pāṇā sayanti, vane vanāsayā pāṇā sayanti, rukkhe rukkhāsayā pāṇā sayanti, evameva tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayā. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
How are they dangers because they have their abode therein? Therein these evil, unwholesome states arise dependent on personal existence. Just as creatures that dwell in holes lie in holes, creatures that dwell in water lie in water, creatures that dwell in the forest lie in the forest, and creatures that dwell in trees lie in trees, even so, therein these evil, unwholesome states arise dependent on personal existence. In this way also, they are dangers because they have their abode therein.
Thế nào là chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā? Ở đó, những pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thân. Giống như các loài vật sống trong hang trú ngụ trong hang, các loài vật sống dưới nước trú ngụ dưới nước, các loài vật sống trong rừng trú ngụ trong rừng, các loài vật sống trên cây trú ngụ trên cây, cũng vậy, ở đó, những pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thân. Cũng như vậy là chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói rằng –
‘‘Sāntevāsiko, bhikkhave, bhikkhu sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjanti ye pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāsavanti pāpakā akusalā dhammāti – tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti. Samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti – tasmā sācariyakoti vuccati.
“Monks, a bhikkhu with an inner resident and a companion dwells in suffering, not at ease. And how, monks, does a bhikkhu with an inner resident and a companion dwell in suffering, not at ease? Here, monks, when a bhikkhu sees a form with the eye, there arise evil, unwholesome states, lustful thoughts that are connected with the fetters. These evil, unwholesome states dwell within him and flow along with him—therefore he is called ‘one with an inner resident.’ They assail him. These evil, unwholesome states assail him—therefore he is called ‘one with a companion.’”
‘Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có nội trú, có thầy, sống khổ, không an lạc. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có nội trú, có thầy, sống khổ, không an lạc? Ở đây, này các Tỳ khưu, sau khi thấy sắc bằng mắt, những pháp ác, bất thiện, những tư duy liên quan đến tham ái, có tính cách trói buộc nào sanh khởi nơi vị Tỳ khưu, những pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ, tiềm ẩn bên trong vị ấy – vì vậy được gọi là ‘có nội trú’. Chúng hành xử với vị ấy. Những pháp ác, bất thiện hành xử với vị ấy – vì vậy được gọi là ‘có thầy’.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno sotena saddaṃ sutvā, ghānena gandhaṃ ghāyitvā, jivhāya rasaṃ sāyitvā, kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā, manasā dhammaṃ viññāya uppajjanti ye pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāsavanti pāpakā akusalā dhammāti – tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti. Samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti – tasmā sācariyakoti vuccati. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharatī’’ti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
“Furthermore, monks, when a bhikkhu, having heard a sound with the ear, having smelled an odor with the nose, having tasted a flavor with the tongue, having felt a tangible object with the body, or having cognized a mental object with the mind, there arise evil, unwholesome states, lustful thoughts that are connected with the fetters. These evil, unwholesome states dwell within him and flow along with him—therefore he is called ‘one with an inner resident.’ They assail him. These evil, unwholesome states assail him—therefore he is called ‘one with a companion.’ In this way, monks, a bhikkhu with an inner resident and a companion dwells in suffering, not at ease.” In this way also, they are dangers because they have their abode therein.
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nghe tiếng bằng tai, ngửi hương bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, cảm xúc bằng thân, nhận biết pháp bằng ý, những pháp ác, bất thiện, những tư duy liên quan đến tham ái, có tính cách trói buộc nào sanh khởi nơi vị Tỳ khưu, những pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ, tiềm ẩn bên trong vị ấy – vì vậy được gọi là ‘có nội trú’. Chúng hành xử với vị ấy. Những pháp ác, bất thiện hành xử với vị ấy – vì vậy được gọi là ‘có thầy’. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị Tỳ khưu có nội trú, có thầy, sống khổ, không an lạc.’ Cũng như vậy là chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Đức Thế Tôn nói rằng –
‘‘Tayome, bhikkhave, antarāmalā – antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalaṃ † antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Doso…pe… moho, bhikkhave, antarāmalaṃ antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā – antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā.
“Monks, these are three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal killers, internal opponents. Which three? Greed, monks, is an internal stain, an internal enemy, an internal adversary, an internal killer, an internal opponent. Hatred… delusion, monks, is an internal stain, an internal enemy, an internal adversary, an internal killer, an internal opponent. These, monks, are the three internal stains, internal enemies, internal adversaries, internal killers, internal opponents.”
‘Này các Tỳ khưu, có ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, kẻ địch bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ đối nghịch bên trong này. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, tham là cấu uế bên trong, là kẻ thù bên trong, là kẻ địch bên trong, là kẻ sát hại bên trong, là kẻ đối nghịch bên trong. Sân... si, này các Tỳ khưu, là cấu uế bên trong, là kẻ thù bên trong, là kẻ địch bên trong, là kẻ sát hại bên trong, là kẻ đối nghịch bên trong. Này các Tỳ khưu, đây là ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, kẻ địch bên trong, kẻ sát hại bên trong, kẻ đối nghịch bên trong.
‘‘Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Greed brings about what is not beneficial, greed agitates the mind; danger is born from within, that the common person does not understand.”
‘Tham lam sanh ra điều bất lợi, tham lam làm dao động tâm; sự sợ hãi sanh từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
‘‘Luddho atthaṃ na jānāti, luddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ † tadā hoti, yaṃ lobho sahate naraṃ.
“A greedy person does not know what is beneficial, a greedy person does not see the Dhamma; it is then utter darkness when greed overpowers a person.”
‘Người tham không biết lợi ích, người tham không thấy được Pháp; khi ấy là bóng tối mịt mù, khi tham lam áp đảo con người.
‘‘Anatthajanano doso, doso cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Hatred brings about what is not beneficial, hatred agitates the mind; danger is born from within, that the common person does not understand.”
‘Sân hận sanh ra điều bất lợi, sân hận làm dao động tâm; sự sợ hãi sanh từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
‘‘Kuddho atthaṃ na jānāti, kuddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ doso sahate naraṃ.
“An angry person does not know what is beneficial, an angry person does not see the Dhamma; it is then utter darkness when hatred overpowers a person.”
‘Người sân không biết lợi ích, người sân không thấy được Pháp; khi ấy là bóng tối mịt mù, khi sân hận áp đảo con người.
‘‘Anatthajanano moho, moho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Delusion brings about what is not beneficial, delusion agitates the mind; danger is born from within, that the common person does not understand.”
‘Si mê sanh ra điều bất lợi, si mê làm dao động tâm; sự sợ hãi sanh từ bên trong, người đời không hiểu rõ điều đó.
‘‘Mūḷho atthaṃ na jānāti, mūḷho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ moho sahate nara’’nti.
“A deluded person does not know what is beneficial, a deluded person does not see the Dhamma; it is then utter darkness when delusion overpowers a person.”
‘Người si không biết lợi ích, người si không thấy được Pháp; khi ấy là bóng tối mịt mù, khi si mê áp đảo con người.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
In this way also, they are dangers because they have their abode therein.
Cũng như vậy là chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘tayo kho, mahārāja, purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti, ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Katame tayo? Lobho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati, ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Doso kho, mahārāja…pe… moho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati, ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Ime kho, mahārāja, tayo purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti, ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya.
This too was spoken by the Blessed One: “Great king, three qualities of a person, arising internally, arise for what is not beneficial, for suffering, and for an uncomfortable abiding. Which three? Greed, great king, is a quality of a person that, arising internally, arises for what is not beneficial, for suffering, and for an uncomfortable abiding. Hatred, great king… delusion, great king, is a quality of a person that, arising internally, arises for what is not beneficial, for suffering, and for an uncomfortable abiding. These, great king, are the three qualities of a person that, arising internally, arise for what is not beneficial, for suffering, and for an uncomfortable abiding.”
Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói rằng: ‘Tâu Đại vương, có ba pháp này của một người, khi sanh khởi bên trong, chúng sanh khởi vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an lạc. Thế nào là ba? Tâu Đại vương, tham là pháp của một người, khi sanh khởi bên trong, nó sanh khởi vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an lạc. Tâu Đại vương, sân... Tâu Đại vương, si là pháp của một người, khi sanh khởi bên trong, nó sanh khởi vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an lạc. Tâu Đại vương, ba pháp này của một người, khi sanh khởi bên trong, chúng sanh khởi vì không lợi ích, vì đau khổ, vì không an lạc.
‘‘Lobho doso ca moho ca, purisaṃ pāpacetasaṃ;
Hiṃsanti attasambhūtā, tacasāraṃva samphala’’nti.
“Greed, hatred, and delusion, born of oneself, injure the person of evil mind, just as its own fruit destroys the bamboo.”
‘Tham, sân và si, sanh từ chính người có tâm ác, làm hại người ấy, như trái của chính nó làm hại cây tre.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
In this way also, they are dangers because they have their abode therein.
Cũng như vậy là chúng trú ngụ ở đó nên là parissayā.
Vuttampi cetaṃ bhagavatā –
And this too was spoken by the Blessed One:
Và điều này cũng đã được Đức Thế Tôn nói rằng –
‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā, arati rati lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti †.
Lust and hatred have their origin here; discontent, delight, and horripilation are born from this. Arising from this, thoughts of the mind are sent forth, like boys letting a crow fly off.
‘Tham và sân có nguyên nhân từ đây, sự không hoan hỷ, sự hoan hỷ, sự dựng tóc gáy được sanh ra từ đây. Các tư duy về tâm khởi lên từ đây, (và) chúng buông thả tâm trí, giống như những đứa trẻ buông thả con quạ.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā. Maddante naṃ parissayāti. Te parissayā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddantīti – maddante naṃ parissayā.
In this way also: its haunts are perils. ‘The perils crush him’: those perils afflict, completely afflict, overcome, overwhelm, exhaust, and crush that person—thus, ‘the perils crush him.’
Cũng như vậy, (ý nghĩa của) tatrāsayā là các hiểm họa. (Ý nghĩa của) Maddante naṃ parissayā (là như sau): Những hiểm họa ấy áp đảo, hoàn toàn áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, và giày vò cá nhân ấy. – (Đây là ý nghĩa của) maddante naṃ parissayā.
Tato naṃ dukkhamanvetīti. Tatoti tato tato parissayato taṃ puggalaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, jātidukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, jarādukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, byādhidukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, maraṇadukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, nerayikaṃ dukkhaṃ, tiracchānayonikaṃ dukkhaṃ, pettivisayikaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, mānusikaṃ dukkhaṃ… gabbhokkantimūlakaṃ dukkhaṃ… gabbhe ṭhitimūlakaṃ dukkhaṃ… gabbhā vuṭṭhānamūlakaṃ dukkhaṃ… jātassūpanibandhakaṃ dukkhaṃ… jātassa parādheyyakaṃ dukkhaṃ… attūpakkamaṃ dukkhaṃ… parūpakkamaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, dukkhadukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, saṅkhāradukkhaṃ… vipariṇāmadukkhaṃ … cakkhurogo sotarogo ghānarogo jivhārogo kāyarogo sīsarogo kaṇṇarogo mukharogo dantarogo, kāso sāso pināso ḍāho jaro, kucchirogo mucchā pakkhandikā sūlā visūcikā, kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso soso apamāro, daddu kaṇḍu kacchu rakhasā vitacchikā lohitapittaṃ, madhumeho aṃsā piḷakā bhagandalā pittasamuṭṭhānā ābādhā semhasamuṭṭhānā ābādhā vātasamuṭṭhānā ābādhā sannipātikā ābādhā utupariṇāmajā ābādhā visamaparihārajā ābādhā, opakkamikā ābādhā kammavipākajā ābādhā, sītaṃ uṇhaṃ jighacchā pipāsā uccāro passāvo ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassadukkhaṃ… mātumaraṇaṃ dukkhaṃ… pitumaraṇaṃ dukkhaṃ… bhātumaraṇaṃ dukkhaṃ… bhaginimaraṇaṃ dukkhaṃ… puttamaraṇaṃ dukkhaṃ… dhītumaraṇaṃ dukkhaṃ … ñātibyasanaṃ dukkhaṃ… bhogabyasanaṃ dukkhaṃ… rogabyasanaṃ dukkhaṃ… sīlabyasanaṃ dukkhaṃ… diṭṭhibyasanaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hotīti – tato naṃ dukkhamanveti.
‘Then suffering follows him.’ ‘Then’ means: from this or that peril, suffering follows that person, accompanies him, and is attendant on him. The suffering of birth follows him, accompanies him, and is attendant on him. The suffering of aging follows him… The suffering of illness… The suffering of death… The suffering of sorrow, lamentation, pain, grief, and despair follows him… The suffering of hell… the suffering of the animal realm… the suffering of the sphere of ghosts… human suffering… suffering rooted in conception… suffering rooted in remaining in the womb… suffering rooted in emerging from the womb… suffering connected with the care of a newborn… suffering of a newborn's dependence on others… suffering caused by oneself… suffering caused by others… the suffering of pain… the suffering of formations… the suffering of change… eye-disease, ear-disease, nose-disease, tongue-disease, body-disease, head-disease, ear-disease, mouth-disease, tooth-disease; cough, asthma, catarrh, burning, fever; stomach-ache, fainting, dysentery, colic, cholera; leprosy, boils, eczema, consumption, epilepsy; ringworm, itching, scabies, sores from scratching, chapping of hands and feet; bleeding disorder, diabetes, piles, abscesses, fistula; ailments arising from bile, from phlegm, from wind, from their combination; ailments produced by change of climate, by imbalanced conduct, by external assault, or as the result of kamma; cold, heat, hunger, thirst, defecation, urination; suffering from contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles… the death of one’s mother is suffering… the death of one’s father… the death of one’s brother… the death of one’s sister… the death of one’s son… the death of one’s daughter… the calamity of relatives is suffering… the calamity of wealth… the calamity of disease… the calamity of virtue… the calamity of view follows him, accompanies him, and is attendant on him—thus, ‘then suffering follows him.’
Do đó, khổ đau đi theo vị ấy. Tato có nghĩa là: từ hiểm họa này hay hiểm họa khác, khổ đau đi theo, bám sát, trở thành hệ quả cho cá nhân ấy. Khổ sanh đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ già đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ bệnh đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ chết đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ sầu, bi, khổ, ưu, não đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ ở địa ngục, khổ ở loài súc sanh, khổ ở cõi ngạ quỷ đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ ở cõi người... khổ có gốc rễ từ việc nhập thai... khổ có gốc rễ từ việc ở trong thai... khổ có gốc rễ từ việc ra khỏi thai... khổ ràng buộc với người đã sanh... khổ phụ thuộc vào người khác của người đã sanh... khổ do tự mình nỗ lực... khổ do người khác nỗ lực đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Khổ khổ đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Hành khổ... hoại khổ... bệnh mắt, bệnh tai, bệnh mũi, bệnh lưỡi, bệnh thân, bệnh đầu, bệnh tai, bệnh miệng, bệnh răng, ho, suyễn, sổ mũi, sốt, nóng, bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, thổ tả, hủi, ung nhọt, bạch biến, lao, động kinh, ghẻ lở, ngứa, ghẻ cóc, ghẻ sần, nứt nẻ, bệnh máu mủ, tiểu đường, trĩ, mụn nhọt, rò, các bệnh do mật sanh, các bệnh do đàm sanh, các bệnh do gió sanh, các bệnh do hợp thể sanh, các bệnh do thời tiết thay đổi sanh, các bệnh do sinh hoạt không điều độ sanh, các bệnh do ngoại cảnh tác động sanh, các bệnh do quả của nghiệp sanh, lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, khổ do sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát... khổ do mẹ chết... khổ do cha chết... khổ do anh em trai chết... khổ do chị em gái chết... khổ do con trai chết... khổ do con gái chết... khổ do tai họa cho quyến thuộc... khổ do tai họa cho tài sản... khổ do tai họa do bệnh tật... khổ do tai họa do giới bị hư hoại... khổ do tai họa do tà kiến đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. – (Đây là ý nghĩa của) tato naṃ dukkhamanveti.
Nāvaṃ bhinnamivodakanti. Yathā bhinnaṃ nāvaṃ dakamesiṃ † tato tato udakaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, puratopi udakaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, pacchatopi… heṭṭhatopi… passatopi udakaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti; evameva tato tato parissayato taṃ puggalaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti, jātidukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hoti…pe… diṭṭhibyasanaṃ dukkhaṃ anveti anugacchati anvāyikaṃ hotīti – nāvaṃ bhinnamivodakaṃ.
‘Like water into a broken boat.’ Just as water enters a broken boat, and from this place and that the water follows, accompanies, and is attendant on it; as water follows, accompanies, and is attendant on it from the front, and from the back… from below… and from the sides water follows, accompanies, and is attendant on it; just so, from this and that peril, suffering follows, accompanies, and is attendant on that person; the suffering of birth follows, accompanies, and is attendant on him… the suffering of the calamity of view follows, accompanies, and is attendant on him—thus, ‘like water into a broken boat.’
(Giống như) nước (tràn vào) con thuyền bị vỡ. Giống như nước đi vào con thuyền bị vỡ từ chỗ này chỗ kia, đi theo, bám sát, trở thành hệ quả; nước đi vào từ phía trước, đi theo, bám sát, trở thành hệ quả; từ phía sau... từ phía dưới... từ hai bên, nước đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. Cũng vậy, từ hiểm họa này hay hiểm họa khác, khổ đau đi theo, bám sát, trở thành hệ quả cho cá nhân ấy. Khổ sanh đi theo, bám sát, trở thành hệ quả... cho đến... khổ do tai họa do tà kiến đi theo, bám sát, trở thành hệ quả. – (Đây là ý nghĩa của) nāvaṃ bhinnamivodakaṃ.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Abalā naṃ balīyanti, maddante naṃ parissayā;
Tato naṃ dukkhamanveti, nāvaṃ bhinnamivodaka’’nti.
“Weaknesses overpower him, perils crush him; then suffering follows him, like water into a broken boat.”
‘Những kẻ mạnh mẽ áp đảo người yếu đuối ấy, các hiểm họa giày vò vị ấy. Do đó, khổ đau đi theo vị ấy, giống như nước tràn vào con thuyền bị vỡ.’
6.
6.
6.
Tasmā jantu sadā sato, kāmāni parivajjaye;
Te pahāya tare oghaṃ, nāvaṃ sitvāva pāragū.
Therefore a being, ever mindful, should avoid sensual pleasures; having abandoned them, they would cross the flood, like one who, having bailed out the boat, has gone to the far shore.
Do đó, chúng sanh luôn chánh niệm, nên tránh xa các dục. Từ bỏ chúng, vị ấy nên vượt qua bộc lưu, giống như người tát cạn thuyền và đi đến bờ kia.
Tasmā jantu sadā satoti. Tasmāti tasmā taṃkāraṇā taṃhetu tappaccayā taṃnidānā etaṃ ādīnavaṃ sampassamāno kāmesūti – tasmā. Jantūti satto naro mānavo poso puggalo jīvo jāgu jantu indagu manujo. Sadāti sadā sabbadā sabbakālaṃ niccakālaṃ dhuvakālaṃ satataṃ samitaṃ abbokiṇṇaṃ poṅkhānupoṅkhaṃ udakūmikajātaṃ avīci santati sahitaṃ phassitaṃ †, purebhattaṃ pacchābhattaṃ purimayāmaṃ majjhimayāmaṃ pacchimayāmaṃ, kāḷe juṇhe vasse hemante gimhe, purime vayokhandhe majjhime vayokhandhe pacchime vayokhandhe. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu… citte… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato. Aparehi catūhi kāraṇehi sato…pe… so vuccati satoti – tasmā jantu sadā sato.
‘Therefore a being, always mindful.’ ‘Therefore’ means: for that reason, on that account, for that cause, from that source—seeing this danger in sensual pleasures—therefore. ‘A being’ means: a creature, a man, a young man, a person, an individual, a living being, a creature, a being, a creature of Indra, a human. ‘Always’ means: always, at all times, perpetually, continuously, constantly, ceaselessly, without interruption, in close succession, like a series of water waves, an unbroken continuity, connected, in contact—before the meal, after the meal, in the first watch of the night, the middle watch, the last watch; in the dark fortnight, the bright fortnight; in the rainy season, the winter, the summer; in the first stage of life, the middle stage, the last stage. ‘Mindful’ means: one is mindful for four reasons: one is mindful while developing the establishment of mindfulness by contemplating the body in the body, by contemplating feelings in feelings… by contemplating mind in the mind… by contemplating phenomena in phenomena. For another four reasons one is mindful… and so on… thus one is called mindful. Thus: ‘Therefore a being, always mindful.’
(Giải thích câu) Tasmā jantu sadā sato. Tasmā có nghĩa là: do đó, vì nguyên nhân ấy, vì lý do ấy, vì duyên ấy, vì nhân duyên ấy, do thấy rõ sự nguy hại này trong các dục – (đó là ý nghĩa của) tasmā. Jantu có nghĩa là: chúng sanh, người, thanh niên, người nam, cá nhân, sinh vật, sinh linh, chúng sanh, sinh vật nhỏ, con người. Sadā có nghĩa là: luôn luôn, mọi lúc, mọi thời, thường xuyên, hằng hữu, liên tục, không gián đoạn, không bị xen lẫn, nối tiếp nhau, như sóng nước, không gián đoạn, tiếp nối, liên kết, xúc chạm, buổi sáng, buổi chiều, canh đầu, canh giữa, canh cuối, trong kỳ trăng khuyết, trong kỳ trăng tròn, trong mùa mưa, trong mùa đông, trong mùa hạ, trong giai đoạn đầu của cuộc đời, trong giai đoạn giữa của cuộc đời, trong giai đoạn cuối của cuộc đời. Sato có nghĩa là: có chánh niệm do bốn lý do – có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trong thân; (khi tu tập quán) thọ... tâm... pháp, có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán pháp trong các pháp. Có chánh niệm do bốn lý do khác... cho đến... vị ấy được gọi là người có chánh niệm. – (Đây là ý nghĩa của) tasmā jantu sadā sato.
Kāmāni parivajjayeti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Kāmāni parivajjayeti dvīhi kāraṇehi kāme parivajjeyya – vikkhambhanato vā samucchedato vā. Kathaṃ vikkhambhanato kāme parivajjeyya? ‘‘Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā appassādaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeyya, ‘‘maṃsapesūpamā kāmā bahusādhāraṇaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeyya, ‘‘tiṇukkūpamā kāmā anudahanaṭṭhenā’’ti passanto vikkhambhanato kāme parivajjeyya…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ bhāvento vikkhambhanato kāme parivajjeyya. Evaṃ vikkhambhanato kāme parivajjeyya…pe… evaṃ samucchedato kāme parivajjeyyāti – kāmāni parivajjaye.
Regarding 'One should avoid sensual pleasures.' Regarding 'sensual pleasures': by way of summary, there are two kinds of sensual pleasures—sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements... [etc.]... These are called sensual pleasures as objects... [etc.]... These are called sensual pleasures as defilements. Regarding 'One should avoid sensual pleasures': one should avoid sensual pleasures for two reasons—either by suppression or by eradication. How does one avoid sensual pleasures by suppression? Seeing, 'Sensual pleasures are like a skeleton because they are unsavoury,' one avoids sensual pleasures by suppression. Seeing, 'Sensual pleasures are like a piece of meat because they are common to many,' one avoids sensual pleasures by suppression. Seeing, 'Sensual pleasures are like a grass torch because they burn,' one avoids sensual pleasures by suppression... [etc.]... Developing the attainment of neither-perception-nor-non-perception, one avoids sensual pleasures by suppression. Thus, one avoids sensual pleasures by suppression... [etc.]... Thus, one should avoid sensual pleasures by eradication. This is [the meaning of] 'one should avoid sensual pleasures'.
Nên tránh xa các dục (Kāmāni parivajjaye). Về từ 'dục' (kāmā), tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng (vatthukāma) và dục phiền não (kilesakāma)... (v.v.)... những thứ này được gọi là dục đối tượng... (v.v.)... những thứ này được gọi là dục phiền não. Về câu 'nên tránh xa các dục' (Kāmāni parivajjaye), nên tránh xa các dục vì hai lý do: hoặc bằng cách đè nén, hoặc bằng cách đoạn trừ. Làm thế nào để tránh xa các dục bằng cách đè nén? Thấy rằng: 'Các dục ví như bộ xương khô vì ý nghĩa ít vị ngọt', vị ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: 'Các dục ví như miếng thịt vì ý nghĩa chung cho nhiều người', vị ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén. Thấy rằng: 'Các dục ví như bó đuốc cỏ vì ý nghĩa thiêu đốt', vị ấy tránh xa các dục bằng cách đè nén... (v.v.)... Vị ấy tu tập thiền chứng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tránh xa các dục bằng cách đè nén. Như vậy, vị ấy nên tránh xa các dục bằng cách đè nén... (v.v.)... Như vậy, vị ấy nên tránh xa các dục bằng cách đoạn trừ. – (Đây là ý nghĩa của) nên tránh xa các dục.
Te pahāya tare oghanti. Teti vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gamitvā; kāmacchandanīvaraṇaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gamitvā; byāpādanīvaraṇaṃ…pe… thinamiddhanīvaraṇaṃ… uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ… vicikicchānīvaraṇaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gamitvā kāmoghaṃ bhavoghaṃ diṭṭhoghaṃ avijjoghaṃ tareyya uttareyya patareyya samatikkameyya vītivatteyyāti – te pahāya tare oghaṃ.
Regarding 'Having abandoned them, one should cross the flood.' Regarding 'them': having fully known sensual pleasures as objects by means of full understanding as investigation, and having abandoned sensual pleasures as defilements by means of full understanding as abandoning—having relinquished them, dispelled them, brought them to an end, and brought them to non-existence; and having abandoned the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill will... [etc.]... the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, and the hindrance of doubt—having relinquished them, dispelled them, brought them to an end, and brought them to non-existence; one should cross over, go beyond, traverse, transcend, and pass beyond the flood of sensuality, the flood of existence, the flood of views, and the flood of ignorance. This is [the meaning of] 'Having abandoned them, one should cross the flood'.
Từ bỏ chúng, vượt qua bộc lưu (Te pahāya tare oghaṃ). 'Chúng' (te) có nghĩa là: sau khi đã liễu tri các dục đối tượng, đã từ bỏ, xả ly, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại các dục phiền não; đã từ bỏ, xả ly, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại triền cái tham dục; triền cái sân hận... (v.v.)... triền cái hôn trầm thụy miên... triền cái trạo cử hối quá... đã từ bỏ, xả ly, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại triền cái hoài nghi; vị ấy nên vượt qua, nên vượt lên, nên bơi qua, nên đi qua, nên thoát khỏi dục bộc, hữu bộc, kiến bộc, và vô minh bộc. – (Đây là ý nghĩa của) từ bỏ chúng, vượt qua bộc lưu.
Nāvaṃ sitvāva pāragūti. Yathā garukaṃ nāvaṃ bhārikaṃ udakaṃ sitvā † osiñcitvā chaḍḍetvā lahukāya nāvāya khippaṃ lahuṃ appakasireneva pāraṃ gaccheyya; evameva vatthukāme parijānitvā kilesakāme pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gamitvā; kāmacchandanīvaraṇaṃ… byāpādanīvaraṇaṃ… thinamiddhanīvaraṇaṃ… uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ… vicikicchānīvaraṇaṃ pahāya pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gamitvā khippaṃ lahuṃ appakasireneva pāraṃ gaccheyya. Pāraṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Pāraṃ gaccheyyāti – pāraṃ adhigaccheyya, pāraṃ phuseyya, pāraṃ sacchikareyya. Pāragūti yopi pāraṃ gantukāmo sopi pāragū; yopi pāraṃ gacchati sopi pāragū; yopi pāraṃ gato, sopi pāragū.
‘Having bailed out the boat, one has gone to the far shore.’ Just as, having bailed out, poured out, and discarded the water from a heavy, laden boat, one would quickly and lightly reach the far shore with little effort by means of a light boat; so too, having fully understood sensual pleasures as objects, and having abandoned, relinquished, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence sensual pleasures as defilements; and having abandoned, relinquished, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill will, the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, and the hindrance of doubt, one would quickly and lightly reach the far shore with little effort. The far shore is called the Deathless, Nibbāna. That is the calming of all formations, the relinquishment of all attachments, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. To go to the far shore means to attain the far shore, to touch the far shore, to realize the far shore. One who has gone to the far shore is one who desires to go to the far shore, one who is going to the far shore, and one who has gone to the far shore.
Tát cạn thuyền, là người đến bờ kia (Nāvaṃ sitvāva pāragū). Giống như người tát nước, múc nước, vứt bỏ nước ra khỏi chiếc thuyền nặng nề, đầy gánh nặng, rồi có thể đi đến bờ bên kia một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng, không mấy khó khăn bằng chiếc thuyền nhẹ; cũng vậy, sau khi đã liễu tri các dục đối tượng, đã từ bỏ, xả ly, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại các dục phiền não; (đã từ bỏ) triền cái tham dục... triền cái sân hận... triền cái hôn trầm thụy miên... triền cái trạo cử hối quá... đã từ bỏ, xả ly, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn tồn tại triền cái hoài nghi, vị ấy có thể đi đến bờ bên kia một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng, không mấy khó khăn. Bờ bên kia được gọi là bất tử, là Níp-bàn. Cái ấy là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt tận, là Níp-bàn. 'Đi đến bờ bên kia' có nghĩa là: nên chứng đắc bờ bên kia, nên xúc chạm bờ bên kia, nên thực chứng bờ bên kia. 'Người đến bờ kia' (pāragū) có nghĩa là: người nào muốn đi đến bờ bên kia, người ấy cũng là người đến bờ kia; người nào đang đi đến bờ bên kia, người ấy cũng là người đến bờ kia; người nào đã đi đến bờ bên kia, người ấy cũng là người đến bờ kia.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā –
Indeed, this was also said by the Blessed One:
Điều này cũng đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng rằng –
Tiṇṇo pāraṅgato thale tiṭṭhati brāhmaṇoti. Brāhmaṇoti kho, bhikkhave, arahato etaṃ adhivacanaṃ. So abhiññāpāragū pariññāpāragū pahānapāragū bhāvanāpāragū sacchikiriyāpāragū samāpattipāragū. Abhiññāpāragū sabbadhammānaṃ, pariññāpāragū sabbadukkhānaṃ, pahānapāragū sabbakilesānaṃ, bhāvanāpāragū catunnaṃ ariyamaggānaṃ, sacchikiriyāpāragū nirodhassa, samāpattipāragū sabbasamāpattīnaṃ. So vasippatto pāramippatto ariyasmiṃ sīlasmiṃ, vasippatto pāramippatto ariyasmiṃ samādhismiṃ, vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya, vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā. So pāraṃ gato pārappatto antagato antappatto koṭigato koṭippatto pariyantagato pariyantappatto vosānagato vosānappatto tāṇagato tāṇappatto leṇagato leṇappatto saraṇagato saraṇappatto abhayagato abhayappatto accutagato accutappatto amatagato amatappatto nibbānagato nibbānappatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo gataddho gatadiso gatakoṭiko pālitabrahmacariyo uttamadiṭṭhippatto bhāvitamaggo pahīnakileso paṭividdhākuppo sacchikatanirodho, dukkhaṃ tassa pariññātaṃ, samudayo pahīno, maggo bhāvito, nirodho sacchikato, abhiññeyyaṃ abhiññātaṃ, pariññeyyaṃ pariññātaṃ, pahātabbaṃ pahīnaṃ, bhāvetabbaṃ bhāvitaṃ, sacchikātabbaṃ sacchikataṃ.
‘Having crossed over and gone to the far shore, a brahmin stands on dry land.’ For, monks, ‘brahmin’ is a designation for the Arahant. He is one who has reached the far shore in direct knowledge, in full understanding, in abandoning, in development, in realization, and in meditative attainment. He has reached the far shore in direct knowledge of all things, in full understanding of all suffering, in abandoning all defilements, in development of the four noble paths, in realization of cessation, and in meditative attainment of all meditative attainments. He has attained mastery and perfection in noble virtue, in noble concentration, in noble wisdom, and in noble liberation. He has gone to the far shore by the path and reached the far shore by the fruit; gone to the end by the path and reached the end by the fruit; gone to the limit by the path and reached the limit by the fruit; gone to the boundary by the path and reached the boundary by the fruit; gone to the conclusion by the path and reached the conclusion by the fruit; gone to protection by the path and reached protection by the fruit; gone to shelter by the path and reached shelter by the fruit; gone to refuge by the path and reached refuge by the fruit; gone to the fearless by the path and reached the fearless by the fruit; gone to the immutable by the path and reached the immutable by the fruit; gone to the deathless by the path and reached the deathless by the fruit; gone to Nibbāna by the path and reached Nibbāna by the fruit. He has completed the living of the holy life, is accomplished in conduct, has traversed the journey, has reached the destination, has arrived at the limit, has guarded the holy life, has attained the supreme view, has developed the path, has abandoned the defilements, has penetrated the unshakeable, and has realized cessation. Suffering has been fully understood by him, the origin has been abandoned, the path has been developed, and cessation has been realized. What was to be directly known has been directly known, what was to be fully understood has been fully understood, what was to be abandoned has been abandoned, what was to be developed has been developed, and what was to be realized has been realized.
'Vị Bà-la-môn đã vượt qua, đã đến bờ kia, đứng trên đất liền.' Này các Tỳ khưu, 'Bà-la-môn' chính là tên gọi của bậc A-la-hán. Vị ấy là người đến bờ kia bằng thắng trí, đến bờ kia bằng liễu tri, đến bờ kia bằng đoạn tận, đến bờ kia bằng tu tập, đến bờ kia bằng thực chứng, đến bờ kia bằng thiền chứng. Vị ấy đến bờ kia bằng thắng trí về tất cả các pháp, đến bờ kia bằng liễu tri về tất cả khổ, đến bờ kia bằng đoạn tận tất cả phiền não, đến bờ kia bằng tu tập bốn Thánh đạo, đến bờ kia bằng thực chứng sự diệt, đến bờ kia bằng thiền chứng tất cả các thiền chứng. Vị ấy đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh giới; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh định; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh tuệ; đã đạt đến sự thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo trong Thánh giải thoát. Vị ấy đã đi đến bờ kia, đã đạt đến bờ kia; đã đi đến tận cùng, đã đạt đến tận cùng; đã đi đến đỉnh cao, đã đạt đến đỉnh cao; đã đi đến giới hạn, đã đạt đến giới hạn; đã đi đến kết thúc, đã đạt đến kết thúc; đã đi đến nơi nương tựa, đã đạt đến nơi nương tựa; đã đi đến nơi ẩn náu, đã đạt đến nơi ẩn náu; đã đi đến nơi quy y, đã đạt đến nơi quy y; đã đi đến nơi vô úy, đã đạt đến nơi vô úy; đã đi đến nơi bất động, đã đạt đến nơi bất động; đã đi đến nơi bất tử, đã đạt đến nơi bất tử; đã đi đến Níp-bàn, đã đạt đến Níp-bàn. Vị ấy đã sống xong đời sống (thánh), đã hoàn thành phạm hạnh, đã đi hết con đường, đã đến nơi chưa từng đến, đã đến điểm cuối cùng, đã bảo vệ phạm hạnh, đã đạt được chánh kiến tối thượng, đã tu tập đạo, đã đoạn trừ phiền não, đã thâm nhập vào (pháp) bất động, đã thực chứng sự diệt. Khổ đã được vị ấy liễu tri, tập đã được đoạn tận, đạo đã được tu tập, diệt đã được thực chứng. Điều cần thắng tri đã được thắng tri, điều cần liễu tri đã được liễu tri, điều cần đoạn tận đã được đoạn tận, điều cần tu tập đã được tu tập, điều cần thực chứng đã được thực chứng.
So ukkhittapaligho saṃkiṇṇaparikkho abbuḷhesiko niraggaḷo ariyo pannaddhajo pannabhāro visaññutto pañcaṅgavippahīno chaḷaṅgasamannāgato ekārakkho caturāpasseno panuṇṇapaccekasacco samavayasaṭṭhesano anāvilasaṅkappo passaddhakāyasaṅkhāro suvimuttacitto suvimuttapañño kevalī vusitavā uttamapuriso paramapuriso paramapattippatto. So nevācinati † nāpacinati, apacinitvā ṭhito. Neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito. Neva saṃsibbati † na ussineti, visinitvā ṭhito. Neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito. Asekkhena sīlakkhandhena samannāgatattā ṭhito. Asekkhena samādhikkhandhena… asekkhena paññākkhandhena… asekkhena vimuttikkhandhena… asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgatattā ṭhito. Saccaṃ sampaṭipādiyitvā ṭhito. Ejaṃ samatikkamitvā ṭhito. Kilesaggiṃ pariyādiyitvā ṭhito, aparigamanatāya ṭhito, kaṭaṃ samādāya ṭhito, muttipaṭisevanatāya ṭhito, mettāya pārisuddhiyā ṭhito, karuṇāya… muditāya… upekkhāya pārisuddhiyā ṭhito, accantapārisuddhiyā ṭhito, akammayatāya † pārisuddhiyā ṭhito, vimuttattā ṭhito, santussitattā ṭhito, khandhapariyante ṭhito, dhātupariyante ṭhito, āyatanapariyante ṭhito, gatipariyante ṭhito, upapattipariyante ṭhito, paṭisandhipariyante ṭhito, (bhavapariyante ṭhito, saṃsārapariyante ṭhito vaṭṭapariyante ṭhito, antime bhave ṭhito,) † antime samussaye ṭhito, antimadehadharo arahā.
He is one with the door-bolt lifted up, the moat uncluttered, the city-pillar pulled out, unbarred; the noble one, with banner lowered, burden laid down, and detached. He has abandoned the five factors, is endowed with the six factors, is guarded by one, is supported by four, has dispelled individual truths, has abandoned the quest of craving, has unclouded thought, has bodily formations calmed, a mind well liberated, and wisdom well liberated. He is an accomplished one, one who has lived the holy life, the supreme person, the highest person, one who has reached the ultimate attainment. He neither accumulates nor destroys; having destroyed the defilements, he stands. He neither abandons nor grasps; having abandoned, he stands. He is not sewn together by craving nor puffed up by conceit; having become un-puffed up, he stands. He neither extinguishes nor makes blaze the fire of defilements; having extinguished it, he stands. He stands, being endowed with the aggregate of virtue of one beyond training. He stands, being endowed with the aggregate of concentration of one beyond training… with the aggregate of wisdom… with the aggregate of liberation… with the aggregate of the knowledge and vision of liberation of one beyond training. He stands, having realized the Truths. He stands, having transcended agitation. He stands, having extinguished the fire of defilements. He stands through non-return. He stands, having undertaken what was to be done. He stands by partaking with liberation. He stands with the purity of loving-kindness, with the purity of compassion, of sympathetic joy, and of equanimity. He stands in utter purity. He stands with the purity that is free from craving and conceit. He stands through being liberated. He stands through being content. He stands at the end of the aggregates, at the end of the elements, at the end of the sense bases, at the end of destinations, at the end of rebirths, at the end of re-linking, at the end of existence, at the end of the cycle of existence, at the end of the round, in the final existence, at the end of the final composite. He is the bearer of the final body, an Arahant.
Vị ấy đã nhổ then cài (vô minh), đã lấp bằng hào luỹ (nghiệp hữu), đã nhổ lên cột trụ (ái dục), không có thanh chắn (năm hạ phần kiết sử), là bậc Thánh, đã hạ cờ (ngã mạn), đã đặt gánh nặng (các uẩn) xuống, đã được giải thoát, đã từ bỏ năm chi phần (năm triền cái), đã thành tựu sáu chi phần (xả đối với sáu trần), có sự phòng hộ duy nhất (niệm), có bốn nơi nương tựa (trí tuệ khi dùng bốn vật dụng), đã loại bỏ các chân lý riêng lẻ (tà kiến), đã lắng dịu sự tìm cầu (ái dục), có các ý định không vẩn đục, có thân hành đã được an tịnh, có tâm được khéo giải thoát, có tuệ được khéo giải thoát, là bậc toàn diện, đã sống đời sống phạm hạnh, là bậc tối thượng, là bậc tối cao, đã đạt đến thành tựu tối hậu. Vị ấy không tích lũy cũng không phá hủy; sau khi đã phá hủy (phiền não), vị ấy an trú. Vị ấy không từ bỏ cũng không chấp thủ; sau khi đã từ bỏ, vị ấy an trú. Vị ấy không khâu vá (với ái) cũng không dệt (với tà kiến); sau khi đã tháo gỡ, vị ấy an trú. Vị ấy không dập tắt cũng không làm bùng cháy; sau khi đã dập tắt (lửa phiền não), vị ấy an trú. Do đã thành tựu uẩn giới vô học, vị ấy an trú. Do đã thành tựu uẩn định vô học... uẩn tuệ vô học... uẩn giải thoát vô học... uẩn giải thoát tri kiến vô học, vị ấy an trú. Sau khi đã thực chứng chân lý, vị ấy an trú. Sau khi đã vượt qua sự rung động (ái dục), vị ấy an trú. Sau khi đã dập tắt lửa phiền não, vị ấy an trú. Do không còn quay trở lại, vị ấy an trú. Sau khi đã đảm nhận điều đã làm, vị ấy an trú. Do thực hành sự giải thoát, vị ấy an trú. Với từ ái thanh tịnh, vị ấy an trú. Với bi... hỷ... xả thanh tịnh, vị ấy an trú. Với sự thanh tịnh tuyệt đối, vị ấy an trú. Với sự thanh tịnh không còn tạo tác, vị ấy an trú. Do đã được giải thoát, vị ấy an trú. Do đã biết đủ, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của các uẩn, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của các giới, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của các xứ, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của các cõi, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của sự sinh khởi, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của sự tái sanh, vị ấy an trú. (Ở nơi tận cùng của các cõi tồn tại, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của luân hồi, vị ấy an trú. Ở nơi tận cùng của vòng luân chuyển, vị ấy an trú. Ở trong kiếp sống cuối cùng, vị ấy an trú.) Ở nơi thân thể cuối cùng, vị ấy an trú, là người mang thân cuối cùng, là bậc A-la-hán.
‘‘Tassāyaṃ pacchimako bhavo, carimoyaṃ samussayo;
Jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavo’’ti.
This is his last becoming, this is his final aggregation; for him, the wandering on of birth and death, the further becoming, is no more.
“Đối với vị ấy, đây là kiếp sống cuối cùng, đây là thân thể sau rốt. Vòng luân hồi sanh tử, sự tái sanh không còn có đối với vị ấy nữa.”
Nāvaṃ sitvāva pāragūti. Tenāha bhagavā –
Having bailed out the boat, one has gone to the far shore. Therefore, the Blessed One said:
(Có nghĩa là) người đã đến bờ bên kia sau khi đã tát cạn thuyền. Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Tasmā jantu sadā sato, kāmāni parivajjaye;
Te pahāya tare oghaṃ, nāvaṃ sitvāva pāragū’’ti.
“Therefore, a person, ever mindful, should avoid sensual pleasures; having abandoned them, one crosses the flood; having bailed out the boat, one has gone to the far shore.”
“Do đó, người có chánh niệm luôn luôn nên tránh xa các dục vọng. Sau khi từ bỏ chúng, vị ấy vượt qua bộc lưu; sau khi đã tát cạn thuyền, vị ấy là người đã đến bờ bên kia.”
The First Exposition of the Kāma Sutta.
Phần giải thích kinh Dục Vọng, chương thứ nhất.
2. Exposition of the Guhaṭṭhaka Sutta
2. Phần giải thích kinh Guhaṭṭhaka (Hang Động)
Atha guhaṭṭhakasuttaniddesaṃ vakkhati –
2. Now, the exposition of the Guhaṭṭhaka Sutta will be expounded:
Tiếp theo, phần giải thích kinh Guhaṭṭhaka sẽ được trình bày:
7.
7.
7.
Satto guhāyaṃ bahunābhichanno, tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho;
Dūre vivekā hi tathāvidho so, kāmā hi loke na hi suppahāyā.
Attached in the cave, covered by many, a person stands immersed in what is deluding. Far from seclusion indeed is such a one, for sensual pleasures in the world are not easily abandoned.
Kẻ bị dính mắc trong hang động, bị bao phủ bởi nhiều (phiền não), người đứng yên, chìm đắm trong si mê. Người như vậy thật xa lánh sự viễn ly, vì các dục vọng ở đời quả thật không dễ dàng từ bỏ.
Kāmā hi loke na hi suppahāyāti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca. Katame vatthukāmā? Manāpikā rūpā manāpikā saddā manāpikā gandhā manāpikā rasā manāpikā phoṭṭhabbā, attharaṇā pāvuraṇā dāsidāsā ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigavāssavaḷavā, khettaṃ vatthu hiraññaṃ suvaṇṇaṃ, gāmanigamarājadhāniyo raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, yaṃ kiñci rajanīyaṃ vatthu – vatthukāmā. Api ca atītā kāmā anāgatā kāmā paccuppannā kāmā, ajjhattā kāmā bahiddhā kāmā ajjhattabahiddhā kāmā, hīnā kāmā majjhimā kāmā paṇītā kāmā, āpāyikā kāmā mānusikā kāmā dibbā kāmā paccupaṭṭhitā kāmā, nimmitā kāmā animmitā kāmā paranimmitā kāmā, pariggahitā kāmā apariggahitā kāmā, mamāyitā kāmā amamāyitā kāmā, sabbepi kāmāvacarā dhammā, sabbepi rūpāvacarā dhammā, sabbepi arūpāvacarā dhammā, taṇhāvatthukā taṇhārammaṇā kāmanīyaṭṭhena rajanīyaṭṭhena madanīyaṭṭhena kāmā. Ime vuccanti vatthukāmā.
‘Indeed, sensual pleasures in the world are not easily abandoned.’ As for sensual pleasures, by way of summary, there are two kinds: object-based sensual pleasures and defilement-based sensual pleasures. What are object-based sensual pleasures? Appealing sights, appealing sounds, appealing smells, appealing tastes, appealing tactile objects; spreads, coverings, male and female slaves, goats and sheep, fowl and pigs, elephants, cattle, horses, and mares; fields, land, silver, and gold; villages, market towns, and royal capitals; the country and the province; the treasury and the storehouse; and whatever object is worthy of attachment—these are object-based sensual pleasures. Moreover: past sensual pleasures, future sensual pleasures, present sensual pleasures; internal sensual pleasures, external sensual pleasures, internal-and-external sensual pleasures; inferior sensual pleasures, middling sensual pleasures, superior sensual pleasures; sensual pleasures of the woeful states, human sensual pleasures, divine sensual pleasures; immediately present sensual pleasures; created sensual pleasures, uncreated sensual pleasures, sensual pleasures created by others; possessed sensual pleasures, unpossessed sensual pleasures; sensual pleasures made ‘mine’, sensual pleasures not made ‘mine’; also all phenomena of the sense-sphere realm, all phenomena of the form realm, and all phenomena of the formless realm—being a basis for craving and an object of craving—are kāmā (sensual pleasures) in the sense of being desirable, infatuating, and intoxicating. These are called object-based sensual pleasures.
Bởi vì các dục ở đời thật khó từ bỏ. Dục (kāmā), nói tóm lại, có hai loại dục: dục đối tượng (vatthukāmā) và dục phiền não (kilesakāmā). Thế nào là dục đối tượng? Các sắc khả ý, các thanh khả ý, các hương khả ý, các vị khả ý, các xúc khả ý; giường nệm, y phục, tôi trai tớ gái, dê cừu, gà heo, voi bò ngựa lừa; ruộng đất, nhà cửa, bạc, vàng; làng mạc, thị trấn, kinh thành, xứ sở và quốc độ, ngân khố và kho tàng; và bất cứ vật gì đáng ưa thích – đó là dục đối tượng. Lại nữa, các dục quá khứ, các dục vị lai, các dục hiện tại; các dục nội phần, các dục ngoại phần, các dục cả nội và ngoại phần; các dục hạ liệt, các dục trung bình, các dục cao thượng; các dục ở cõi khổ, các dục ở cõi người, các dục ở cõi trời; các dục đã hiện hữu, các dục được hóa hiện, các dục không được hóa hiện, các dục do người khác hóa hiện; các dục đã được chiếm hữu, các dục chưa được chiếm hữu; các dục bị xem là 'của ta', các dục không bị xem là 'của ta'; tất cả các pháp thuộc cõi dục, tất cả các pháp thuộc cõi sắc, tất cả các pháp thuộc cõi vô sắc; là đối tượng của ái, là cảnh của ái; được gọi là dục theo nghĩa đáng được khao khát, theo nghĩa đáng được tham đắm, theo nghĩa gây say mê. Những thứ này được gọi là dục đối tượng.
Katame kilesakāmā? Chando kāmo rāgo kāmo chandarāgo kāmo, saṅkappo kāmo rāgo kāmo saṅkapparāgo kāmo, yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasneho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ.
What are the defilement-based sensual pleasures? Desire is kāma, lust is kāma, desire-and-lust is kāma; thought is kāma, lust is kāma, thought-and-lust is kāma; whatever sensual desire for sensual pleasures, sensual lust, delight in sensual pleasures, craving for sensual pleasures, affection for sensual pleasures, burning for sensual pleasures, infatuation with sensual pleasures, obsession with sensual pleasures, the flood of sensual pleasures, the yoke of sensual pleasures, clinging to sensual pleasures, the hindrance of sensual desire.
Thế nào là dục phiền não? Dục là sự ước muốn, dục là sự tham ái, dục là sự tham muốn; dục là sự tầm cầu, dục là sự tham ái, dục là sự tham ái trong tầm cầu; bất cứ dục tham nào trong các dục, tham dục, hỷ dục, ái dục, quyến luyến dục, nhiệt não dục, mê đắm dục, ngấu nghiến dục, bộc lưu của dục, ách của dục, thủ của dục, triền cái tham dục.
‘‘Addasaṃ kāma te mūlaṃ, saṅkappā kāma jāyasi;
Na taṃ saṅkappayissāmi, evaṃ kāma na hohisī’’ti. –
“I have seen your root, O sensual desire; from intention you are born, O sensual desire. I will not form that intention, and thus, O sensual desire, you will be no more.”
Này Dục, ta đã thấy gốc rễ của ngươi, ngươi sinh ra từ sự tầm cầu. Ta sẽ không tầm cầu về ngươi nữa, như vậy, này Dục, ngươi sẽ không tồn tại.