Bản dịch
MND 16 — Diễn Giải Kinh Sāriputta
16. Sāriputtasuttaniddesa
Giờ phần diễn giải Kinh Sāriputta được nói đến:
Từ đây trở về trước, con chưa từng được thấy,
(Đại đức Sāriputta đã nói thế ấy),
hoặc chưa từng được nghe của bất cứ người nào.
Bậc Đạo Sư, vị có giọng nói êm dịu như thế,
bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā .
Từ đây trở về trước, con chưa từng được thấy : Từ đây trở về trước, đức Thế Tôn ấy chưa được thấy trước đây bởi chính tôi bằng con mắt này, bởi bản ngã này; vào lúc đức Thế Tôn, sau khi trải qua mùa (an cư) mưa ở cung trời Tam Thập, tại gốc cây san hô, nơi bảo tọa của đức Trời Sakka, được tháp tùng bởi hội chúng chư Thiên, đã ngự xuống thành Saṅkassa bằng cầu thang làm bằng ngọc ma-ni (đặt) ở chính giữa,; cảnh tượng này trước đây chưa được nhìn thấy; - ‘từ đây trở về trước, con chưa từng được thấy’ là như thế.
Đại đức Sāriputta đã nói thế ấy - Thế ấy : Từ ‘thế ấy’ này gọi là sự nối liền các câu văn, sự kết hợp các câu văn, sự làm đầy đủ các câu văn, sự gặp gỡ của các âm, trạng thái trau chuốt từ ngữ, tính chất tuần tự của các câu văn. Đại đức : Từ ‘đại đức’ này là lời nói yêu mến, lời nói kính trọng, lời nói có sự tôn kính, lời nói của sự phục tùng. Sāriputta : là tên của vị trưởng lão ấy, là sự ấn định, sự chỉ định, sự quy định, sự diễn tả, tên gọi, sự đặt tên, sự định danh, từ mô tả, tên hiệu, từ kêu gọi; - ‘đại đức Sāriputta đã nói thế ấy’ là như thế.
Hoặc chưa từng được nghe của bất cứ người nào - Chưa từng : là sự chối bỏ. Hoặc : Từ ‘hoặc’ này gọi là sự nối liền các câu văn, sự kết hợp các câu văn, sự làm đầy đủ các câu văn, sự gặp gỡ của các âm, trạng thái trau chuốt từ ngữ, tính chất tuần tự của các câu văn. Của bất cứ người nào : của bất cứ ai, của vị Sát-đế-lỵ, hoặc của vị Bà-la-môn, hoặc của người thương buôn, hoặc của kẻ nô lệ, hoặc của người gia chủ, hoặc của vị xuất gia, hoặc của vị Trời, hoặc của người nhân loại; - ‘hoặc chưa từng được nghe của bất cứ người nào’ là như thế.
Bậc Đạo Sư, vị có giọng nói êm dịu như thế : Giọng nói êm dịu như thế là giọng nói ngọt ngào, giọng nói đáng yêu, giọng nói đi vào tim, có âm thanh dịu dàng như tiếng hót của loài chim karavīka . Hơn nữa, âm thanh phát ra từ miệng của đức Thế Tôn ấy có tám yếu tố: không bị lắp bắp, có thể hiểu được, dịu dàng, nghe êm tai, chắc nịch, không bị loãng, sâu sắc, và có âm vang. Hơn nữa, đức Thế Tôn ấy giảng giải với giọng nói phù hợp với hội chúng; tiếng nói của Ngài không thoát ra bên ngoài của hội chúng. Hơn nữa, đức Thế Tôn ấy có âm thanh của Phạm Thiên, có giọng nói của loài chim karavīka ; - ‘vị có giọng nói êm dịu’ là như thế.
Bậc Đạo Sư : Bậc Đạo Sư là đức Thế Tôn, người chỉ đạo đoàn xe. Giống như người chỉ đạo đoàn xe giúp chúng sanh vượt qua hiểm lộ, giúp vượt qua hiểm lộ có trộm cướp, giúp vượt qua hiểm lộ có thú dữ, giúp vượt qua hiểm lộ có khó khăn về vật thực, giúp vượt qua hiểm lộ không có nước, giúp cho vượt lên, giúp cho vượt ra, giúp cho vượt khỏi, giúp cho đạt đến vùng đất hoàn toàn an ổn, tương tự như thế, đức Thế Tôn là người chỉ đạo đoàn xe giúp chúng sanh vượt qua hiểm lộ, giúp vượt qua hiểm lộ của sự sanh, giúp vượt qua hiểm lộ của sự già, giúp vượt qua hiểm lộ của sự bệnh, giúp vượt qua hiểm lộ của sự chết, giúp vượt qua hiểm lộ của sầu muộn, giúp vượt qua hiểm lộ của sự than vãn, giúp vượt qua hiểm lộ của sự khổ, giúp vượt qua hiểm lộ của ưu phiền và lo âu, giúp vượt qua hiểm lộ của luyến ái, giúp vượt qua hiểm lộ của sân hận, giúp vượt qua hiểm lộ của si mê, giúp vượt qua hiểm lộ của ngã mạn, giúp vượt qua hiểm lộ của tà kiến, giúp vượt qua hiểm lộ của ô nhiễm, giúp vượt qua hiểm lộ của uế hạnh, giúp vượt qua sự nắm giữ của luyến ái, giúp vượt qua sự nắm giữ của sân hận, giúp vượt qua sự nắm giữ của si mê, giúp vượt qua sự nắm giữ của ngã mạn, giúp vượt qua sự nắm giữ của tà kiến, giúp vượt qua sự nắm giữ của ô nhiễm, giúp vượt qua sự nắm giữ của uế hạnh, giúp cho vượt lên, giúp cho vượt ra, giúp cho vượt khỏi, giúp cho đạt đến vùng đất hoàn toàn an ổn, Bất Tử, Niết Bàn; ‘đức Thế Tôn, người chỉ đạo đoàn xe’ là như vậy.
Hơn nữa, đức Thế Tôn là bậc Hướng Đạo, bậc Hướng Dẫn, bậc Đoạn Nghi, bậc Truyền Đạt, bậc Truyền Thụ, bậc Khơi Mở, bậc Khởi Tín; - ‘đức Thế Tôn, người chỉ đạo đoàn xe’ còn là như vậy.
Hơn nữa, đức Thế Tôn là vị làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi, là vị làm sanh ra Đạo Lộ chưa được sanh ra, là vị tuyên thuyết Đạo Lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về Đạo Lộ, là vị hiểu rõ về Đạo Lộ, là vị rành rẽ về Đạo Lộ. Và hơn nữa, những người đi theo Đạo Lộ là các đệ tử của Ngài hiện nay đang an trú và sau này sẽ thành tựu (Đạo Lộ ấy); - ‘đức Thế Tôn, người chỉ đạo đoàn xe’ còn là như vậy; - ‘Bậc Đạo Sư, vị có giọng nói êm dịu như thế’ là như vậy.
Bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā : Đức Thế Tôn, sau khi lìa khỏi hội chúng Tusitā, có niệm, có sự nhận biết rõ, đang ngự xuống vào thai bào của người mẹ; - ‘bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā’ là như vậy. Hoặc là, nói đến chư Thiên được hoan hỷ. Các vị ấy vui thích, vui sướng, hoan hỷ, vui mừng, sanh tâm phỉ lạc; từ thế giới chư Thiên Ngài đã đi đến vị thế của bậc có đồ chúng; - ‘bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā’ còn là như vậy. Hoặc là, nói đến các vị A-la-hán được hoan hỷ. Các vị ấy vui thích, vui sướng, hoan hỷ, có tâm tư hoàn mãn; đối với các vị A-la-hán Ngài đã đi đến vị thế của bậc có đồ chúng; - ‘bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā’ còn là như vậy. Bậc có đồ chúng : Đức Thế Tôn là bậc có đồ chúng; ‘vị thầy của đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘bậc đạo sư của đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘vị chăm nom đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘vị giáo huấn đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘vị chỉ dạy đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘vị tự tin tiếp cận đồ chúng’ là bậc có đồ chúng; ‘vị thường lắng nghe, lóng tai nghe, nâng đỡ tâm mong muốn hiểu biết’ là bậc có đồ chúng; ‘vị đưa đồ chúng ra khỏi bất thiện pháp và sách tấn thiện pháp’ là bậc có đồ chúng; vị có đồ chúng thuộc chúng tỳ khưu; vị có đồ chúng thuộc chúng tỳ khưu ni; vị có đồ chúng thuộc chúng nam cư sĩ; vị có đồ chúng thuộc chúng nữ cư sĩ; vị có đồ chúng thuộc chúng vua chúa; — thuộc chúng Sát-đế-lỵ; — thuộc chúng Bà-la-môn; — thuộc chúng thương buôn; — thuộc chúng nô lệ; — thuộc chúng chư Thiên; vị có đồ chúng thuộc chúng Phạm Thiên; vị có hội chúng, vị có đồ chúng, vị thầy của đồ chúng. Đã đi đến : đã đi đến, đã đi đến gần, đã tiến đến gần, đã đạt đến thành Saṅkassa; - ‘bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā’ là như thế.
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Từ đây trở về trước, con chưa từng được thấy,
(Đại đức Sāriputta đã nói thế ấy),
hoặc chưa từng được nghe của bất cứ người nào,
Bậc Đạo Sư, vị có giọng nói êm dịu như thế,
bậc có đồ chúng, đã đi đến từ cõi trời Tusitā .”
Đối với thế gian có cả chư Thiên,
bậc Hữu Nhãn được nhìn thấy là như thế.
Sau khi xua đi tất cả tăm tối,
độc nhất Ngài đã đạt đến sự khoái cảm .
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Đối với thế gian có cả chư Thiên,
bậc Hữu Nhãn được nhìn thấy là như thế.
Sau khi xua đi tất cả tăm tối,
độc nhất Ngài đã đạt đến sự khoái cảm .”
Với ý định (hỏi) câu hỏi cho số đông đã được gắn bó ở đây, con đã đi đến gặp Ngài, – đức Phật, bậc không nương tựa, đấng tự tại, vị không lừa gạt, bậc có đồ chúng, – đã đi đến.
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Với ý định (hỏi) câu hỏi cho số đông đã được gắn bó ở đây, con đã đi đến gặp Ngài, – đức Phật, bậc không nương tựa, đấng tự tại, vị không lừa gạt, bậc có đồ chúng, – đã đi đến. ”
Đối với vị tỳ khưu đang nhờm gớm (sanh, già, bệnh, chết, v.v...) đang thân cận chỗ ngồi trống vắng, gốc cây, hoặc mộ địa, hoặc ở các hang động của những ngọn núi .
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Đối với vị tỳ khưu đang nhờm gớm (sanh, già, bệnh, chết, v.v...) đang thân cận chỗ ngồi trống vắng, gốc cây, hoặc mộ địa, hoặc ở các hang động của những ngọn núi .”
Ở những chỗ trú ngụ cao thấp, có bao nhiêu sự khiếp đảm ở nơi ấy mà vị tỳ khưu không nên run sợ ở chỗ nằm ngồi không tiếng động?
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Ở những chỗ trú ngụ cao thấp, có bao nhiêu sự khiếp đảm ở nơi ấy mà vị tỳ khưu không nên run sợ ở chỗ nằm ngồi không tiếng động? ”
Đối với vị đang đi đến khu vực chưa từng đi đến, có bao nhiêu hiểm họa ở thế gian mà vị tỳ khưu cần khắc phục ở các chỗ nằm ngồi xa vắng?
1. Tham là sự sanh ra điều tai hại, tham là sự kích động của tâm. Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
2. Người bị khởi tham không biết được sự tấn hóa, người bị khởi tham không nhìn thấy lý lẽ.
Tham ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
3. Sân là sự sanh ra điều tai hại, sân là sự dao động của tâm.
Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
4. Người bị nóng giận không biết được sự tấn hóa, người bị nóng giận không nhìn thấy lý lẽ.
Sự nóng giận ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
5. Si là sự sanh ra điều tai hại, si là sự dao động của tâm.
Người đời không thấu hiểu sự nguy hiểm ấy đã được sanh ra từ bên trong .
6. Người bị si mê không biết được sự tấn hóa, người bị si mê không nhìn thấy lý lẽ.
Si ngự trị người nào, lúc ấy người bị mù quáng tối tăm .
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
7. “ Tham sân và si, hiện hữu ở bản thân, hãm hại người có tâm ý xấu xa, tựa như việc kết trái hãm hại cây tre .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
8. “ Luyến ái, sân hận, và si mê có căn nguyên từ nơi (bản ngã) này.
Ghét, thương, sự rởn lông sanh lên từ nơi (bản ngã) này.
Sự suy tầm của tâm có nguồn sanh khởi từ nơi (bản ngã) này,
tựa như những bé trai buông lơi con quạ (bị cột chân bởi sợi chỉ dài) .”
Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy.
9. “ Giống như người mang đi cái bát dầu được chứa đầy ngang tới miệng,
người đang ước nguyện khu vực trước đây chưa đi đến (Niết Bàn) nên hộ trì tâm của mình như vậy .”
Đối với vị đang tiến đến, đang đi đến, đang tiến về khu vực trước đây chưa đi đến; – ‘đối với vị đang đi đến khu vực chưa từng đi đến’ là như thế.
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Đối với vị đang đi đến khu vực chưa từng đi đến, có bao nhiêu hiểm họa ở thế gian mà vị tỳ khưu cần khắc phục ở các chỗ nằm ngồi xa vắng? ”
Đối với vị này, cách thức nói năng nên là như thế nào? Đối với vị này, hành xứ ở đây nên là như thế nào? Đối với vị tỳ khưu có bản tánh cương quyết, giới và phận sự (của vị này) nên là như thế nào?
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Đối với vị này, cách thức nói năng nên là như thế nào? Đối với vị này, hành xứ ở đây nên là như thế nào? Đối với vị tỳ khưu có bản tánh cương quyết, giới và phận sự (của vị này) nên là như thế nào? ”
Vị ấy, sau khi thọ trì việc học tập gì,
mới có sự chuyên nhất (của tâm), chín chắn, có niệm,
có thể loại bỏ bụi bặm (ô nhiễm) của bản thân,
ví như người thợ kim hoàn có thể loại bỏ cáu bẩn của bạc? ”
Vì thế, trưởng lão Sāriputta đã nói rằng:
“ Vị ấy, sau khi thọ trì việc học tập gì,
mới có sự chuyên nhất (của tâm), chín chắn, có niệm,
có thể loại bỏ bụi bặm (ô nhiễm) của bản thân,
ví như người thợ kim hoàn có thể loại bỏ cáu bẩn của bạc? ”
(Đức Phật nói: “ Này Sāriputta, )
Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về điều ấy theo như Ta nhận biết, tức là sự thoải mái (an trú) dành cho vị nhờm gớm (sanh, già, bệnh, chết, v.v...), cho vị thật sự đang thân cận chỗ ngồi nằm trống vắng, có sự mong muốn quả vị giác ngộ thuận theo Giáo Pháp .”
(Đức Phật nói: “ Này Sāriputta, )
Ta sẽ tuyên thuyết cho ngươi về điều ấy theo như Ta nhận biết, tức là sự thoải mái (an trú) dành cho vị nhờm gớm (sanh, già, bệnh, chết, v.v...), cho vị thật sự đang thân cận chỗ ngồi nằm trống vắng, có sự mong muốn quả vị giác ngộ thuận theo Giáo Pháp .”
Vị tỳ khưu, sáng trí, có niệm, sống trong khuôn khổ, không nên sợ hãi đối với năm điều sợ hãi: đối với các loài nhặng và loài mòng, đối với các loài bò trườn, đối với các sự va chạm với con người, đối với các loài bốn chân.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị tỳ khưu, sáng trí, có niệm, sống trong khuôn khổ, không nên sợ hãi đối với năm điều sợ hãi: đối với các loài nhặng và loài mòng, đối với các loài bò trườn, đối với các sự va chạm với con người, đối với các loài bốn chân .”
Cũng không nên hoảng sợ đối với những kẻ theo các giáo phái khác, ngay cả sau khi nhìn thấy nhiều điều khiếp đảm của họ. Và vị tầm cầu điều tốt đẹp còn phải khắc phục những hiểm họa khác nữa
Cũng không nên hoảng sợ đối với những kẻ theo các giáo phái khác, ngay cả sau khi nhìn thấy nhiều điều khiếp đảm của họ – Những kẻ theo các giáo phái khác nói đến những người nào không tịnh tín với đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Chúng, trừ ra bảy hạng người đồng đạo. Họ có thể hỏi vị tỳ khưu câu hỏi, hoặc có thể lên án học thuyết, có thể sỉ vả, có thể chê bai, có thể gây khó chịu, có thể gây bực mình, có thể gây tổn hại, có thể hãm hại, có thể quấy rối, có thể ức hiếp, có thể giết hại, có thể phá hại, hoặc có thể gây nên sự phá hại. Sau khi nhìn thấy, hoặc sau khi nghe nhiều điều khiếp đảm của họ, thì không nên run rẩy, không nên run bắn lên, không nên rúng động, không nên run sợ, không nên hoảng sợ, không nên kinh sợ, không nên khiếp sợ, không nên sợ hãi, không nên rơi vào sự hoảng sợ, nên có tánh không nhút nhát, không kinh hoàng, không sợ sệt, không trốn chạy, nên sống, có sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ, có sự rởn lông đã được xa lìa; – ‘cũng không nên hoảng sợ đối với những kẻ theo các giáo phái khác, ngay cả sau khi nhìn thấy nhiều điều khiếp đảm của họ’ là như thế.
Và vị tầm cầu điều tốt đẹp còn phải khắc phục những hiểm họa khác nữa – Và còn có những việc khác nữa cần phải được kiềm chế, cần phải được chế ngự, cần phải được đè bẹp, cần phải được trấn áp, cần phải được chà đạp. Những hiểm họa : có hai loại hiểm họa: hiểm họa hiển hiện và hiểm họa khuất lấp. –nt– Các hiểm họa là vì ‘nơi ấy là chỗ trú’ còn là như vậy. Vị tầm cầu điều tốt đẹp : với vị đang tầm cầu, đang tìm tòi, đang tìm kiếm sự thực hành đúng đắn, sự thực hành phù hợp, sự thực hành không trái ngược, sự thực hành đưa đến lợi ích, –nt– đạo lộ thánh thiện tám chi phần, Niết Bàn, và sự thực hành đưa đến Niết Bàn, có những hiểm họa cần phải được kiềm chế, cần phải được chế ngự, cần phải được đè bẹp, cần phải được trấn áp, cần phải được chà đạp; – ‘và vị tầm cầu điều tốt đẹp còn phải khắc phục những hiểm họa khác nữa’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Cũng không nên hoảng sợ đối với những kẻ theo các giáo phái khác, ngay cả sau khi nhìn thấy nhiều điều khiếp đảm của họ. Và vị tầm cầu điều tốt đẹp còn phải khắc phục những hiểm họa khác nữa .”
Bị tác động bởi sự xúc chạm của bệnh tật, của cơn đói,
nên chịu đựng sự lạnh, sự nóng.
Bị tác động bởi những việc ấy dưới nhiều hình thức, vị ấy, bậc không trú xứ,
nên thể hiện sự nỗ lực tinh tấn một cách vững chãi .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bị tác động bởi sự xúc chạm của bệnh tật, của cơn đói,
nên chịu đựng sự lạnh, sự nóng.
Bị tác động bởi những việc ấy dưới nhiều hình thức, vị ấy, bậc không trú xứ,
nên thể hiện sự nỗ lực tinh tấn một cách vững chãi .”
Không nên thực hiện việc trộm cắp, không nên nói lời dối trá,
nên tiếp xúc với các loài yếu đuối hay mạnh bạo bằng từ tâm,
khi nào nhận biết được trạng thái bị khuấy động của tâm,
nên xua đi (nghĩ rằng): ‘Nó là phần đen tối. ’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên thực hiện việc trộm cắp, không nên nói lời dối trá,
nên tiếp xúc với các loài yếu đuối hay mạnh bạo bằng từ tâm,
khi nào nhận biết được trạng thái bị khuấy động của tâm,
nên xua đi (nghĩ rằng): ‘Nó là phần đen tối. ’”
Không nên rơi vào quyền lực của sự giận dữ và ngã mạn thái quá, nên đứng vững sau khi đào lên gốc rễ của chúng. Và trong khi khắc phục vật được yêu mến hoặc không được yêu mến, nên chế ngự chúng một cách chắc chắn .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên rơi vào quyền lực của sự giận dữ và ngã mạn thái quá, nên đứng vững sau khi đào lên gốc rễ của chúng. Và trong khi khắc phục vật được yêu mến hoặc không được yêu mến, nên chế ngự chúng một cách chắc chắn .”
Sau khi chú trọng về tuệ, với sự hoan hỷ về thiện pháp,
nên loại trừ các hiểm họa ấy,
nên khống chế sự không ưa thích ở chỗ trú ngụ xa vắng,
nên khống chế bốn pháp tạo nên sự than vãn .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi chú trọng về tuệ, với sự hoan hỷ về thiện pháp,
nên loại trừ các hiểm họa ấy,
nên khống chế sự không ưa thích ở chỗ trú ngụ xa vắng,
nên khống chế bốn pháp tạo nên sự than vãn .”
‘ Vậy ta sẽ ăn gì? Hoặc ta sẽ ăn ở đâu? Có thật chăng ta đã ngủ khổ sở? Hôm nay, ta sẽ ngủ ở đâu?’ Vị hữu học, không có sự vương vấn nhà ở, nên loại bỏ những suy tầm có tính chất than vãn này .
Vậy ta sẽ ăn gì? Hoặc ta sẽ ăn ở đâu? – Vậy ta sẽ ăn gì? (nghĩ rằng): ‘Tôi sẽ thọ thực vật gì, cơm, hay cháo chua, hay bánh bột, hay cá, hay thịt?’ – ‘Vậy ta sẽ ăn gì?’ là như thế. Hoặc ta sẽ ăn ở đâu? (nghĩ rằng): ‘Tôi sẽ thọ thực ở đâu, ở gia đình Sát-đế-lỵ, hoặc ở gia đình Bà-la-môn, hoặc ở gia đình thương buôn, hoặc ở gia đình nô lệ? – ‘Vậy ta sẽ ăn gì? Hoặc ta sẽ ăn ở đâu?’ là như thế.
Có thật chăng ta đã ngủ khổ sở? Hôm nay, ta sẽ ngủ ở đâu? – (nghĩ rằng): Đêm nay, tôi đã ngủ một cách khổ sở trên tấm ván, hoặc ở chiếc chiếu ngắn, hoặc ở mảnh da thú, hoặc ở thảm cỏ, hoặc ở thảm lá, hoặc ở thảm rơm. Đêm tới, tôi sẽ ngủ một cách sung sướng ở giường, hay ở ghế, hay ở nệm, hay ở cái gối, hay ở trú xá, hay ở nhà một mái, hay ở tòa lâu đài, hay ở tòa nhà dài, hay ở hang?’ – ‘Có thật chăng ta đã ngủ khổ sở? Hôm nay, ta sẽ ngủ ở đâu?’ là như thế.
Những suy tầm có tính chất than vãn này – Những suy tầm này : Hai suy tầm liên quan đến đồ ăn khất thực, hai suy tầm liên quan đến chỗ nằm ngồi. Có tính chất than vãn : có tính chất kể lể, có tính chất than vãn; – ‘những suy tầm có tính chất than vãn này’ là như vậy.
Vị hữu học, không có sự vương vấn nhà ở, nên loại bỏ – Vị hữu học : Vì lý do gì được gọi là hữu học? ‘Vị học tập’ là hữu học. Và học tập gì? Học tập về thắng giới, học tập về thắng tâm, học tập về thắng tuệ. Học tập về thắng giới là việc nào? –nt– việc này là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, vị ấy học tập; trong khi biết –nt–; trong khi thấy –nt–; trong khi quán xét lại –nt–; trong khi quyết định tâm, vị ấy học tập; trong khi hướng đến đức tin, vị ấy học tập; trong khi ra sức tinh tấn –nt–; trong khi thiết lập niệm –nt–; trong khi tập trung tâm –nt–; trong khi nhận biết bằng tuệ, vị ấy học tập; trong khi biết rõ các pháp cần được biết rõ, vị ấy học tập; trong khi biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện –nt–; trong khi dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ –nt–; trong khi tu tập các pháp cần được tu tập –nt–; trong khi chứng ngộ các pháp cần được chứng ngộ, vị ấy học tập, thực hành, hành theo, tiếp nhận và học tập. Vì lý do ấy, được gọi là hữu học. Vị hữu học nên học tập về thắng giới, nên học tập về thắng tâm, nên học tập về thắng tuệ nhằm loại bỏ, nhằm bài trừ, nhằm dứt bỏ, vì sự vắng lặng, vì sự buông bỏ, vì sự tịch tịnh. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, thì nên học tập; trong khi biết, –nt– trong khi chứng ngộ các pháp cần được chứng ngộ, thì nên học tập, nên thực hành, nên hành theo, nên tiếp nhận và duy trì; – ‘vị hữu học nên loại bỏ’ là như thế. Không có sự vương vấn nhà ở – Thế nào là có sự vương vấn nhà ở? Ở đây, một vị nào đó có sự vướng bận về gia tộc, –nt– vướng bận về đồ chúng, –nt– vướng bận về chỗ ngụ, –nt– vướng bận về y phục, –nt– vướng bận về đồ ăn khất thực, –nt– vướng bận về chỗ nằm ngồi, có sự vướng bận về vật dụng là thuốc men chữa bệnh. Có sự vương vấn nhà ở là như vậy. Thế nào là có sự không vương vấn nhà ở? Ở đây, vị tỳ khưu không có sự vướng bận về gia tộc, –nt– không vướng bận về đồ chúng, –nt– không vướng bận về chỗ ngụ, –nt– không vướng bận về y phục, –nt– không vướng bận về đồ ăn khất thực, –nt– không vướng bận về chỗ nằm ngồi, –nt– có sự không vướng bận về vật dụng là thuốc men chữa bệnh. Có sự không vương vấn nhà ở là như vậy.
1. Các vị đã đi đến Magadha, đã đi đến Kosala, còn một số vị ở lãnh địa xứ Vajjī, tựa như những con nai di chuyển không có sự quyến luyến, các vị tỳ khưu sống không có sự vướng bận .
2. Lành thay, người có tánh hạnh, lành thay việc đã khéo thực hành, cuộc sống không nhà luôn luôn là tốt đẹp, việc học hỏi về ý nghĩa, hành động cung kính, điều ấy là đời sống Sa-môn của vị không sở hữu vật gì . – ‘Vị hữu học, không có sự vương vấn nhà ở, nên loại bỏ’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“‘ Vậy ta sẽ ăn gì? Hoặc ta sẽ ăn ở đâu?
Có thật chăng ta đã ngủ khổ sở? Hôm nay, ta sẽ ngủ ở đâu?’
Vị hữu học, không có sự vương vấn nhà ở, nên loại bỏ
những suy tầm có tính chất than vãn này .”
Sau khi đạt được vật thực và y phục lúc đúng thời,
vị ấy nên biết chừng mực ở đây, với mục đích vừa lòng.
Vị ấy, được bảo vệ về các điều ấy, có đời sống thu thúc ở trong làng,
dầu cho bị xúc phạm, không nên nói lời nói thô lỗ .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi đạt được vật thực và y phục lúc đúng thời,
vị ấy nên biết chừng mực ở đây, với mục đích vừa lòng.
Vị ấy, được bảo vệ về các điều ấy, có đời sống thu thúc ở trong làng,
dầu cho bị xúc phạm, không nên nói lời nói thô lỗ .”
Có mắt nhìn xuống và không buông thả bàn chân (đi đó đây),
nên gắn bó với việc tham thiền, nên có nhiều tỉnh thức,
sau khi nỗ lực về hành xả, có bản thân định tĩnh,
nên cắt đứt chỗ trú của sự suy nghĩ và (nên cắt đứt) sự hối hận .
Có mắt nhìn xuống và không buông thả bàn chân (đi đó đây) – Thế nào là có mắt buông lung? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó buông thả con mắt, có trạng thái buông thả ở mắt (nghĩ rằng): ‘Nên thấy điều chưa thấy, nên bỏ qua điều đã thấy,’ rồi từ tu viện này đến tu viện khác, từ vườn hoa này đến vườn hoa khác, từ ngôi làng này đến ngôi làng khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, từ thành phố này đến thành phố khác, từ lãnh thổ này đến lãnh thổ khác, từ xứ sở này đến xứ sở khác, đeo đuổi cuộc du hành lâu dài, cuộc du hành không quay lại để nhìn ngắm cảnh sắc; có mắt buông lung là như vậy.
Và không buông thả bàn chân – Thế nào là buông thả bàn chân? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó buông thả bàn chân, có trạng thái buông thả ở bàn chân, rồi từ tu viện này đến tu viện khác, –nt– đeo đuổi cuộc du hành lâu dài, cuộc du hành không quay lại để nhìn ngắm cảnh sắc; buông thả bàn chân là như vậy. Hoặc là, vị tỳ khưu buông thả bàn chân, có trạng thái buông thả ở bàn chân, thậm chí ở bên trong tu viện của hội chúng: không phải vì sự lợi ích là nguyên nhân, không phải vì công việc là nguyên nhân, bị phóng túng, có tâm không được vắng lặng, rồi đi từ gian phòng này đến gian phòng khác, từ trú xá này –nt– nói về hữu và phi hữu là như vầy hay là như vầy; buông thả bàn chân còn là như vậy.
Hoặc là, (nghĩ rằng): ‘Ta là người không thực hành đầy đủ các giới,’ sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự bối rối của ý sanh lên; ‘Ta là người có các giác quan không được gìn giữ,’ – ‘Ta là người không biết chừng mực về vật thực,’ – ‘Ta không rèn luyện về tỉnh thức,’ – ‘Ta không đầy đủ niệm và sự nhận biết rõ,’ – ‘Ta không tu tập bốn sự thiết lập niệm,’ – ‘Ta không tu tập bốn chánh tinh tấn,’ – ‘Ta không tu tập bốn nền tảng của thần thông,’ – ‘Ta không tu tập năm quyền,’ – ‘Ta không tu tập năm lực,’ – ‘Ta không tu tập bảy yếu tố đưa đến giác ngộ,’ – ‘Ta không tu tập đạo lộ thánh thiện tám chi phần,’ – ‘Ta không biết toàn diện về Khổ,’ – ‘Ta chưa dứt bỏ Tập,’ – ‘Ta không tu tập Đạo,’ – ‘Ta chưa chứng ngộ Diệt,’ sự hối hận, sự ăn năn của tâm, sự bối rối của ý sanh lên. Nên cắt đứt chỗ trú của sự suy nghĩ và (nên cắt đứt) sự hối hận : Nên cắt, nên cắt rời, nên cắt lìa, nên dứt bỏ, nên xua đi, nên làm chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu sự suy nghĩ, chỗ trú của sự suy nghĩ, và sự hối hận; – ‘nên cắt đứt chỗ trú của sự suy nghĩ và (nên cắt đứt) sự hối hận’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Có mắt nhìn xuống và không buông thả bàn chân (đi đó đây),
nên gắn bó với việc tham thiền, nên có nhiều tỉnh thức,
sau khi nỗ lực về hành xả, có bản thân định tĩnh,
nên cắt đứt chỗ trú của sự suy nghĩ và (nên cắt đứt) sự hối hận .”
Bị quở trách bởi những lời nói, vị (tỳ khưu) có niệm nên hoan hỷ.
Nên phá vỡ sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh.
Nên thốt lên lời nói tốt lành, (lời nói) không vượt quá giới hạn.
Không nên suy nghĩ về chuyện phiếm luận của những người (khác) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bị quở trách bởi những lời nói, vị (tỳ khưu) có niệm nên hoan hỷ.
Nên phá vỡ sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh.
Nên thốt lên lời nói tốt lành, (lời nói) không vượt quá giới hạn.
Không nên suy nghĩ về chuyện phiếm luận của những người (khác) .”
Và hơn thế nữa, có năm loại bụi bặm ở thế gian; đối với chúng, vị có niệm nên học tập để loại bỏ. Nên khống chế sự luyến ái ở các sắc, ở các thinh, rồi ở các vị, ở các hương, ở các xúc .
Và hơn thế nữa, có năm loại bụi bặm ở thế gian – Và : Từ ‘và’ này là sự nối liền các câu văn, sự kết hợp các câu văn, sự làm đầy đủ các câu văn, sự gặp gỡ của các âm, trạng thái trau chuốt từ ngữ, tính chất tuần tự của các câu văn. Có năm loại bụi bặm : (luyến ái ở) sắc là bụi bặm, (luyến ái ở) thinh là bụi bặm, (luyến ái ở) hương là bụi bặm, (luyến ái ở) vị là bụi bặm, (luyến ái ở) xúc là bụi bặm.
1. Luyến ái là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của luyến ái.
Các vị sáng suốt, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
các vị ấy sống trong Giáo Pháp của Bậc đã xa lìa bụi bặm .
2. Sân hận là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của sân hận.
Các vị sáng suốt, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
các vị ấy sống trong Giáo Pháp của Bậc đã xa lìa bụi bặm .
3. Si mê là bụi bặm, nhưng không phải nói đến bụi đất,
từ ‘bụi bặm’ này là tên gọi của si mê.
Các vị sáng suốt, sau khi dứt bỏ hẳn bụi bặm này,
các vị ấy sống trong Giáo Pháp của Bậc đã xa lìa bụi bặm .
Ở thế gian : ở thế gian của khổ cảnh, ở thế gian của loài người, ở thế gian của chư Thiên, ở thế gian của các uẩn, ở thế gian của các giới, ở thế gian của các xứ; – ‘và hơn thế nữa, có năm loại bụi bặm ở thế gian’ là như thế.
Đối với chúng, vị có niệm nên học tập để loại bỏ – Đối với chúng : là đối với sự luyến ái ở sắc, đối với sự luyến ái ở thinh, đối với sự luyến ái ở hương, đối với sự luyến ái ở vị, đối với sự luyến ái ở xúc. Vị có niệm : Niệm là tùy niệm, niệm hiện tiền; niệm là sự nương tựa, sự ghi nhận, sự thâm nhập, sự không lơ là; niệm là niệm quyền, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi, con đường độc đạo; điều này được gọi là niệm. Người đã tiến đến, đã tiến gần, đã tiến vào, đã tiến sát, đã tiếp cận, đã tròn đủ, đã thành tựu niệm này, người ấy được gọi là có niệm. Nên học tập : Có ba sự học tập: học tập về thắng giới, học tập về thắng tâm, học tập về thắng tuệ. Việc nào là sự học tập về thắng giới? –nt– Việc này là sự học tập về thắng tuệ. Đối với chúng, vị có niệm nên học tập để loại bỏ : Người có niệm nên học tập về thắng giới, nên học tập về thắng tâm, nên học tập về thắng tuệ nhằm loại bỏ, nhằm bài trừ, nhằm dứt bỏ, nhằm vắng lặng, nhằm buông bỏ, nhằm tịch tịnh đối với chúng: đối với sự luyến ái ở sắc, đối với sự luyến ái ở thinh, đối với sự luyến ái ở hương, đối với sự luyến ái ở vị, đối với sự luyến ái ở xúc. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, thì nên học tập; trong khi biết, thì nên học tập; –nt– trong khi chứng ngộ các pháp cần được chứng ngộ, thì nên học tập, nên thực hành, nên hành theo, nên tiếp nhận và duy trì; - ‘đối với chúng, vị có niệm nên học tập để loại bỏ’ là như thế.
Nên khống chế sự luyến ái ở các sắc, ở các thinh, rồi ở các vị, ở các hương, ở các xúc : Nên khống chế, nên áp chế, nên chế ngự, nên đè bẹp, nên trấn áp, nên chà đạp sự luyến ái ở các sắc, ở các thinh, ở các vị, ở các hương, ở các xúc; – ‘nên khống chế sự luyến ái ở các sắc, ở các thinh, rồi ở các vị, ở các hương, ở các xúc’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Và hơn thế nữa, có năm loại bụi bặm ở thế gian; đối với chúng, vị có niệm nên học tập để loại bỏ. Nên khống chế sự luyến ái ở các sắc, ở các thinh, rồi ở các vị, ở các hương, ở các xúc .”
Vị tỳ khưu có niệm, có tâm khéo được giải thoát, nên loại bỏ sự mong muốn ở các pháp ấy. Vị ấy, đúng thời điểm, trong khi suy xét toàn diện một cách đúng đắn về Giáo Pháp, có trạng thái chuyên nhất (của tâm), vị ấy có thể diệt trừ sự tăm tối (Đức Thế Tôn nói như thế) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Vị tỳ khưu có niệm, có tâm khéo được giải thoát, nên loại bỏ sự mong muốn ở các pháp ấy. Vị ấy, đúng thời điểm, trong khi suy xét toàn diện một cách đúng đắn về Giáo Pháp, có trạng thái chuyên nhất (của tâm), vị ấy có thể diệt trừ sự tăm tối .”
Diễn Giải Kinh Sāriputta - Phần thứ Mười Sáu Được Đầy Đủ .
DỨT ĐẠI DIỄN GIẢI.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṃ vagguvado satthāti. Evaṃ vagguvado madhuravado pemanīyavado hadayaṅgamavado karavīkarutamañjughoso †. Aṭṭhaṅgasamannāgato kho pana tassa bhagavato mukhato ghoso niccharati – visaṭṭho ca viññeyyo ca mañju ca savanīyo ca bindu ca avisārī ca gambhīro ca ninnādi ca. Yathā parisaṃ kho pana so bhagavā sarena viññāpeti, na assa bahiddhā parisāya ghoso niccharati, brahmassaro kho pana so bhagavā karavīkabhāṇīti – evaṃ vagguvado.
“So sweetly speaking, the Teacher.” He is of pleasant speech, of sweet speech, of endearing speech, of speech that reaches the heart, with a lovely voice like the call of the karavīka bird. Moreover, the sound that issues from the Blessed One’s mouth is endowed with eight factors: it is clear, intelligible, pleasant, pleasing to the ear, compact, not diffuse, deep, and resonant. And in whatever way the Blessed One makes something known to an assembly with his voice, that sound does not go outside the assembly. Indeed, the Blessed One has a voice like Brahmā and speaks like the karavīka bird. This is the meaning of the phrase, “So sweetly speaking.”
Evaṃ vagguvado satthā (bậc Đạo Sư có lời nói dịu dàng như thế) có nghĩa là: Có lời nói dịu dàng, lời nói ngọt ngào, lời nói đáng yêu, lời nói đi vào lòng người, có âm thanh du dương như tiếng chim karavīka. Quả thật, âm thanh phát ra từ kim khẩu của đức Thế Tôn ấy hội đủ tám yếu tố: rõ ràng, dễ hiểu, du dương, dễ nghe, tròn trịa, không lan tỏa, sâu lắng, và vang vọng. Quả thật, đức Thế Tôn làm cho hội chúng hiểu bằng âm thanh của ngài, và âm thanh của ngài không vượt ra ngoài hội chúng. Quả thật, đức Thế Tôn ấy có Phạm âm, có tiếng nói như chim karavīka. Đây là ý nghĩa của evaṃ vagguvado.
Satthāti satthā bhagavā satthavāho. Yathā satthavāho satte kantāraṃ tāreti, corakantāraṃ tāreti, vāḷakantāraṃ tāreti, dubbhikkhakantāraṃ tāreti, nirudakakantāraṃ tāreti uttāreti nittāreti patāreti khemantabhūmiṃ sampāpeti; evameva bhagavā satthavāho satte kantāraṃ tāreti, jātikantāraṃ tāreti, jarākantāraṃ tāreti, byādhikantāraṃ…pe… maraṇakantāraṃ… sokaparidevadukkhadomanassupāyāsakantāraṃ tāreti rāgakantāraṃ tāreti dosakantāraṃ… mohakantāraṃ… mānakantāraṃ… diṭṭhikantāraṃ… kilesakantāraṃ… duccaritakantāraṃ tāreti, rāgagahanaṃ tāreti, dosagahanaṃ… mohagahanaṃ… mānagahanaṃ… diṭṭhigahanaṃ… kilesagahanaṃ… duccaritagahanaṃ tāreti uttāreti nittāreti patāreti khemantaṃ amataṃ nibbānaṃ sampāpetīti. Evampi bhagavā satthavāho.
Regarding 'Teacher' (Satthā): The Blessed One is the Teacher, the caravan leader (Satthavāha). Just as a caravan leader leads a caravan across a wilderness—across a wilderness of thieves, a wilderness of beasts, a wilderness of famine, a wilderness of drought—leads them forward and across, leads them out and across, leads them across in various ways, and brings them to a land of safety; in the same way, the Blessed One, the caravan leader, leads beings across a wilderness—across the wilderness of birth, the wilderness of aging, the wilderness of illness… the wilderness of death… the wilderness of sorrow, lamentation, pain, distress, and despair; across the wilderness of lust, the wilderness of hatred… delusion… conceit… views… defilements… misconduct; across the thicket of lust, the thicket of hatred… delusion… conceit… views… defilements… misconduct—He leads them forward and across, leads them out and across, leads them across in various ways, and brings them to the secure, the deathless, Nibbāna. In this way too, the Blessed One is a caravan leader.
Satthā có nghĩa là: Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư, là vị Dẫn Đường. Giống như vị dẫn đường cho đoàn lữ hành giúp các chúng sanh vượt qua vùng hoang địa, giúp vượt qua vùng hoang địa có trộm cướp, giúp vượt qua vùng hoang địa có thú dữ, giúp vượt qua vùng hoang địa bị đói kém, giúp vượt qua vùng hoang địa không có nước, giúp đưa qua, giúp đưa ra khỏi, giúp đưa đến nơi, giúp đưa đến tận cùng, làm cho đến được vùng đất an ổn; cũng giống như thế, Đức Thế Tôn là vị Dẫn Đường giúp các chúng sanh vượt qua vùng hoang địa, giúp vượt qua vùng hoang địa sanh, giúp vượt qua vùng hoang địa già, giúp vượt qua vùng hoang địa bệnh ...đến... giúp vượt qua vùng hoang địa chết ... giúp vượt qua vùng hoang địa sầu, bi, khổ, ưu, não, giúp vượt qua vùng hoang địa tham, giúp vượt qua vùng hoang địa sân ... si ... mạn ... tà kiến ... phiền não ... ác hạnh, giúp vượt qua khu rừng rậm tham, giúp vượt qua khu rừng rậm sân ... si ... mạn ... tà kiến ... phiền não ... ác hạnh, giúp đưa qua, giúp đưa ra khỏi, giúp đưa đến nơi, giúp đưa đến tận cùng, làm cho đến được nơi an ổn, bất tử, là Nibbāna. Do ý nghĩa này, Đức Thế Tôn là vị Dẫn Đường.
Atha vā bhagavā netā vinetā anunetā paññapetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetāti. Evampi bhagavā satthavāho.
Or alternatively, the Blessed One is one who leads, one who guides, one who persuades, one who makes known, one who causes to contemplate, one who causes to see, and one who inspires confidence. In this way too, the Blessed One is a caravan leader.
Hoặc là, Đức Thế Tôn là bậc Hướng Dẫn, là bậc Huấn Luyện, là bậc Khuyên Nhủ, là bậc làm cho hiểu rõ, là bậc làm cho thẩm sát, là bậc làm cho nhận thấy, là bậc làm cho tịnh tín. Do ý nghĩa này, Đức Thế Tôn là vị Dẫn Đường.
Atha vā bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatāti. Evampi bhagavā satthavāhoti – evaṃ vagguvado satthā.
Or alternatively, the Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the unproduced path, the declarer of the undeclared path. He is the knower of the path, the expert in the path, the one skilled in the path. And now his disciples dwell following the path and are endowed with it afterwards. In this way too, the Blessed One is a caravan leader—thus he is 'The Teacher with a lovely voice'.
Hoặc là, Đức Thế Tôn là bậc làm cho phát sanh con đường chưa từng phát sanh, là bậc làm cho sanh khởi con đường chưa từng sanh khởi, là bậc tuyên thuyết con đường chưa từng được tuyên thuyết. Ngài là bậc biết rõ con đường, bậc thông suốt con đường, bậc thiện xảo về con đường. Và hiện nay, các vị đệ tử là những người đi theo con đường, sống và thành tựu theo sau. Do ý nghĩa này, Đức Thế Tôn là vị Dẫn Đường. Như vậy, bậc Đạo Sư có lời nói dịu dàng.
Tusitā gaṇimāgatoti. Bhagavā tusitakāyā cavitvā sato sampajāno mātukucchiṃ okkantoti. Evampi tusitā gaṇimāgato.
Regarding 'Has come from Tusita with his company': The Blessed One, having passed away from the Tusita realm, mindfully and with full awareness, descended into his mother’s womb. In this way too, he 'has come from Tusita with his company'.
‘Đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng’ có nghĩa là: Đức Thế Tôn sau khi mạng chung từ cõi trời Tusita, đã nhập vào thai mẹ một cách chánh niệm và tỉnh giác. Do ý nghĩa này, gọi là ‘đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng’.
Atha vā devā vuccanti tusitā. Te tuṭṭhā santuṭṭhā attamanā pamuditā pītisomanassajātā devalokato gaṇiṃ āgatoti. Evampi tusitā gaṇimāgato. Atha vā arahanto vuccanti tusitā. Te tuṭṭhā santuṭṭhā attamanā paripuṇṇasaṅkappā arahantānaṃ gaṇiṃ āgatoti. Evampi tusitā gaṇimāgato. Gaṇīti gaṇī bhagavā. Gaṇācariyoti gaṇī, gaṇassa satthāti gaṇī, gaṇaṃ pariharatīti gaṇī, gaṇaṃ ovadatīti gaṇī, gaṇamanusāsatīti gaṇī, visārado gaṇaṃ upasaṅkamatīti gaṇī, gaṇassa † sussūsati sotaṃ odahati aññā cittaṃ upaṭṭhapetīti gaṇī, gaṇaṃ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetīti gaṇī, bhikkhugaṇassa gaṇī, bhikkhunigaṇassa gaṇī, upāsakagaṇassa gaṇī, upāsikāgaṇassa gaṇī, rājagaṇassa gaṇī, khattiyagaṇassa… brāhmaṇagaṇassa… vessagaṇassa… suddagaṇassa… devagaṇassa… brahmagaṇassa gaṇī, saṅghī gaṇī gaṇācariyo. Āgatoti upagato samupagato samupapanno † saṅkassanagaranti – tusitā gaṇimāgato.
Alternatively, the devas are called Tusitā. They, being pleased, content, joyful, delighted, and filled with rapture and happiness, have come from the deva world to the assembly. Thus, this is also the meaning of `tusitāgaṇimāgato`. Alternatively, the Arahants are called Tusitā. They, being pleased, content, joyful, and with fulfilled intentions, have come to the assembly of Arahants. Thus, this is also the meaning of `tusitāgaṇimāgato`. Regarding `Gaṇī`: the Blessed One is the leader of the assembly. He is called `Gaṇī` because he is the teacher of the assembly; because he is the teacher of the assembly; because he leads the assembly; because he advises the assembly; because he instructs the assembly; because he, being confident, approaches the assembly; because the assembly desires to hear his word, lends an ear, and establishes a mind for understanding; and because he raises the assembly from the unwholesome and establishes them in the wholesome. He has an assembly of monks; therefore, he is called `Gaṇī`. He has an assembly of nuns, an assembly of male lay followers, an assembly of female lay followers, an assembly of kings, an assembly of nobles, an assembly of brahmins, an assembly of merchants, an assembly of workers, an assembly of devas, and an assembly of brahmās; therefore, he is called `Gaṇī`. He has a community, he has an assembly, he is the teacher of the assembly. He has come to, approached, arrived at the city of Saṅkassa—this is the meaning of `tusitāgaṇimāgato`.
Hoặc là, chư thiên được gọi là ‘tusitā’ (những vị hoan hỷ). Các vị ấy được hoan hỷ, được thỏa thích, có ý vừa lòng, phấn khởi, sanh tâm hoan hỷ và vui mừng, từ cõi trời đã đến với đoàn chúng. Do ý nghĩa này, gọi là ‘đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng’. Hoặc là, các bậc A-la-hán được gọi là ‘tusitā’ (những vị hoan hỷ). Các vị ấy được hoan hỷ, được thỏa thích, có ý vừa lòng, có chí nguyện viên mãn, đã đến với đoàn chúng của các bậc A-la-hán. Do ý nghĩa này, gọi là ‘đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng’. ‘Gaṇī’ (có đoàn chúng) có nghĩa là: Đức Thế Tôn là bậc có đoàn chúng. Là vị thầy của hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Là bậc thầy của hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Dẫn dắt hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Giáo huấn hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Khuyên dạy hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Không run sợ khi đi đến hội chúng nên gọi là ‘gaṇī’. Hội chúng lắng nghe, ghé tai, chú tâm để hiểu biết lời dạy của Ngài nên gọi là ‘gaṇī’. Giúp hội chúng ra khỏi điều bất thiện và an trú trong điều thiện nên gọi là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng Tỳ-khưu nên là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng Tỳ-khưu-ni nên là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng nam cư sĩ nên là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng nữ cư sĩ nên là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng vua chúa nên là ‘gaṇī’. Ngài có đoàn chúng Sát-đế-lỵ ... Bà-la-môn ... Tỳ-xá ... Thủ-đà ... chư thiên ... Phạm thiên nên là ‘gaṇī’. Ngài có Tăng chúng, có hội chúng, là vị thầy của hội chúng. ‘Āgato’ (đã đến) có nghĩa là đã đi đến, đã tới gần, đã đạt đến thành Saṅkassa. Như vậy là ý nghĩa của ‘đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng’.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói rằng –
‘‘Na me diṭṭho ito pubbe, [iccāyasmā sāriputto]
Na suto uda kassaci;
Evaṃ vagguvado satthā, tusitā gaṇimāgato’’ti.
“Never before have I seen, [so said Venerable Sāriputta] nor heard from anyone at all, a teacher with such a lovely voice, a leader who has come from Tusitā.”
‘Trước đây con chưa từng thấy, [Tôn giả Sāriputta nói] cũng chưa từng nghe từ bất cứ ai, một bậc Đạo Sư có lời nói dịu dàng như thế, đến từ cõi Tusita, có đoàn chúng.’
191.
191.
191.
Sadevakassa lokassa, yathā dissati cakkhumā;
Sabbaṃ tamaṃ vinodetvā, ekova ratimajjhagā.
So that the world with its devas might see, the One with the Eye, having dispelled all darkness, alone attained delight.
Đối với thế gian cùng với chư thiên, bậc có Mắt (Trí tuệ) được thấy như thế nào; sau khi đã xua tan mọi bóng tối, một mình Ngài đã chứng đắc sự an vui.
Sadevakassa lokassāti sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāyāti – sadevakassa lokassa.
‘For the world with its devas’ (`sadevakassa lokassa`): for the world with its devas, its Māra, and its Brahmā; for this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans—this is the meaning of ‘for the world with its devas’.
‘Đối với thế gian cùng với chư thiên’ có nghĩa là: đối với thế gian cùng với chư thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên, cho chúng sanh cùng với Sa-môn và Bà-la-môn, cùng với chư thiên và nhân loại. Như vậy là ý nghĩa của ‘đối với thế gian cùng với chư thiên’.
Yathā dissati cakkhumāti yathā bhagavantaṃ tāvatiṃsabhavane pāricchattakamūle paṇḍukambalasilāyaṃ nisinnaṃ dhammaṃ desentaṃ devatā passanti tathā manussā passanti. Yathā manussā passanti tathā devatā passanti. Yathā devānaṃ dissati tathā manussānaṃ dissati. Yathā manussānaṃ dissati tathā devānaṃ dissatīti. Evampi yathā dissati cakkhumā. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā adantā dantavaṇṇena dissanti, asantā santavaṇṇena dissanti, anupasantā upasantavaṇṇena dissanti, anibbutā nibbutavaṇṇena dissanti.
As the One with Vision is seen: Just as the deities in the Tāvatiṃsa heaven see the Blessed One seated on the Paṇḍukambala stone at the foot of the Pāricchattaka tree, teaching the Dhamma, so humans see him. Just as humans see him, so the deities see him. Just as he appears to the deities, so he appears to humans. Just as he appears to humans, so he appears to the deities. In this way too, as the One with Vision is seen. Or, just as some venerable ascetics and brahmins, being untamed, appear with the semblance of the tamed; being unpeaceful, appear with the semblance of the peaceful; being unpacified, appear with the semblance of the pacified; being unextinguished, appear with the semblance of the extinguished.
‘Bậc có Mắt được thấy như thế nào’ có nghĩa là: Giống như chư thiên thấy Đức Thế Tôn đang ngồi thuyết Pháp trên phiến đá Paṇḍukambala dưới gốc cây Pāricchattaka ở cõi trời Tāvatiṃsa, loài người cũng thấy như vậy. Giống như loài người thấy, chư thiên cũng thấy như vậy. Giống như Ngài hiện ra cho chư thiên, Ngài cũng hiện ra cho loài người như vậy. Giống như Ngài hiện ra cho loài người, Ngài cũng hiện ra cho chư thiên như vậy. Do ý nghĩa này, gọi là ‘bậc có Mắt được thấy như thế nào’. Hoặc là, giống như một số Sa-môn, Bà-la-môn đáng kính không được điều phục nhưng lại hiện ra với vẻ ngoài được điều phục, không được an tịnh nhưng lại hiện ra với vẻ ngoài an tịnh, không được tịch tịnh nhưng lại hiện ra với vẻ ngoài tịch tịnh, không được tịch diệt nhưng lại hiện ra với vẻ ngoài tịch diệt.
‘‘Patirūpako mattikākuṇḍalova, lohaḍḍhamāsova † suvaṇṇachanno;
Caranti loke parivārachannā, anto asuddhā bahi sobhamānā’’ti †.
“Like a counterfeit clay earring, or a copper half-māsa coin covered with gold, they go about in the world surrounded by a retinue, impure within but outwardly beautiful.”
‘Giống như chiếc bông tai bằng đất sét, hay một nửa đồng tiền bằng sắt được mạ vàng; họ đi lại trong thế gian, được che đậy bởi đoàn tùy tùng, bên trong không trong sạch, bên ngoài lại rực rỡ.’
Na bhagavā evaṃ dissati. Bhagavā bhūtena tacchena tathena yāthāvena aviparītena sabhāvena danto dantavaṇṇena dissati, santo santavaṇṇena dissati, upasanto upasantavaṇṇena dissati, nibbuto nibbutavaṇṇena dissati, akappitairiyāpathā ca buddhā bhagavanto paṇidhisampannāti. Evampi yathā dissati cakkhumā.
The Blessed One is not seen in such a way. The Blessed One, with a true, actual, genuine, real, and undistorted nature, being tamed, is seen with the semblance of the tamed; being peaceful, is seen with the semblance of the peaceful; being pacified, is seen with the semblance of the pacified; being extinguished, is seen with the semblance of the extinguished. And the Buddhas, the Blessed Ones, possess uncontrived deportment and have fulfilled aspirations. In this way too, as the One with Vision is seen.
Đức Thế Tôn không hiện ra như vậy. Đức Thế Tôn, với bản chất chân thật, xác thực, đúng đắn, đúng như thật, không sai khác, Ngài được điều phục và hiện ra với vẻ ngoài được điều phục, Ngài an tịnh và hiện ra với vẻ ngoài an tịnh, Ngài tịch tịnh và hiện ra với vẻ ngoài tịch tịnh, Ngài tịch diệt và hiện ra với vẻ ngoài tịch diệt. Chư Phật, các bậc Thế Tôn có oai nghi không giả tạo và có nguyện lực viên mãn. Do ý nghĩa này, gọi là ‘bậc có Mắt được thấy như thế nào’.
Atha vā bhagavā visuddhasaddo gatakittisaddasiloko † nāgabhavane ca supaṇṇabhavane ca yakkhabhavane ca asurabhavane ca gandhabbabhavane ca mahārājabhavane ca indabhavane ca brahmabhavane ca devabhavane ca ediso ca tādiso ca tato ca bhiyyoti. Evampi yathā dissati cakkhumā.
Alternatively, the Blessed One has a pure reputation, and the fame of his renown has spread. In the realm of the Nāgas, the realm of the Supaṇṇas, the realm of the Yakkhas, the realm of the Asuras, the realm of the Gandharvas, the realm of the Great Kings, the realm of Indra, the realm of Brahmā, and the realm of the devas, he is of such a nature, of that nature, and even greater than that. In this way too, as the One with Vision is seen.
Hoặc là, Đức Thế Tôn có danh tiếng trong sạch, có tiếng tăm lừng lẫy lan truyền ở cõi rồng, cõi kim xí điểu, cõi dạ xoa, cõi a-tu-la, cõi càn-thát-bà, cõi Tứ Đại Thiên Vương, cõi của trời Đế Thích, cõi Phạm thiên, và cõi chư thiên. Danh tiếng của Ngài như thế này, như thế kia, và còn hơn thế nữa. Do ý nghĩa này, gọi là ‘bậc có Mắt được thấy như thế nào’.
Atha vā bhagavā dasahi balehi samannāgato, catūhi vesārajjehi, catūhi paṭisambhidāhi, chahi abhiññāhi, chahi buddhadhammehi, tejena ca balena ca guṇena ca vīriyena ca paññāya ca dissati ñāyati paññāyati.
Alternatively, the Blessed One is endowed with the ten powers, with the four confidences, with the four analytical knowledges, with the six supernormal knowledges, and with the six qualities of a Buddha. He is seen, known, and discerned through his splendor, strength, virtue, energy, and wisdom.
Hoặc là, Đức Thế Tôn thành tựu mười lực, bốn vô sở úy, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí, sáu Phật pháp. Ngài được thấy, được biết, được nhận biết qua uy lực, sức mạnh, phẩm hạnh, tinh tấn, và trí tuệ.
‘‘Dūre santo pakāsenti, himavantova pabbato;
Asantettha na dissanti, rattiṃ khittā † yathā sarā’’ti.
“The virtuous shine from afar, like the Himālaya mountain; the unvirtuous are not seen here, like arrows shot in the night.”
‘Bậc thiện trí ở xa vẫn hiển hiện, như núi Hy-mã-lạp. Kẻ bất thiện ở gần không được thấy, như mũi tên bắn trong đêm.’
Evampi yathā dissati cakkhumā.
Thus too is the One with Vision seen.
Do ý nghĩa này, gọi là ‘bậc có Mắt được thấy như thế nào’.
Cakkhumāti bhagavā pañcahi cakkhūhi cakkhumā – maṃsacakkhunāpi cakkhumā, dibbacakkhunāpi cakkhumā, paññācakkhunāpi cakkhumā, buddhacakkhunāpi cakkhumā, samantacakkhunāpi cakkhumā.
The Blessed One is 'the One with Vision' because he possesses five kinds of eyes: he is the one with the physical eye, he is the one with the divine eye, he is the one with the eye of wisdom, he is the one with the Buddha-eye, and he is the one with the all-seeing eye.
Thế nào là bậc Hữu Nhãn? Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn vì có năm loại mắt: là bậc Hữu Nhãn với nhục nhãn, là bậc Hữu Nhãn với thiên nhãn, là bậc Hữu Nhãn với tuệ nhãn, là bậc Hữu Nhãn với Phật nhãn, là bậc Hữu Nhãn với toàn nhãn.
Kathaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi cakkhumā? Maṃsacakkhumhi bhagavato pañca vaṇṇā saṃvijjanti – nīlo ca vaṇṇo, pītako ca vaṇṇo, lohitako ca vaṇṇo, kaṇho ca vaṇṇo, odāto ca vaṇṇo. Akkhilomāni ca bhagavato. Yattha ca akkhilomāni patiṭṭhitāni taṃ nīlaṃ hoti sunīlaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ umāpupphasamānaṃ. Tassa parato pītakaṃ hoti supītakaṃ suvaṇṇavaṇṇaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ kaṇikārapupphasamānaṃ. Ubhato akkhikūṭāni bhagavato lohitakāni honti sulohitakāni pāsādikāni dassaneyyāni indagopakasamānāni. Majjhe kaṇhaṃ hoti sukaṇhaṃ alūkhaṃ suddhaṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ addāriṭṭhakasamānaṃ. Tassa parato odātaṃ hoti suodātaṃ setaṃ paṇḍaraṃ pāsādikaṃ dassaneyyaṃ osadhitārakasamānaṃ. Tena bhagavā pākatikena maṃsacakkhunā attabhāvapariyāpannena purimasucaritakammābhinibbattena samantā yojanaṃ passati divā ceva rattiñca. Yadāpi caturaṅgasamannāgato andhakāro hoti sūriyo ca atthaṅgato hoti; kāḷapakkho ca uposatho hoti, tibbo ca vanasaṇḍo hoti, mahā ca kāḷamegho abbhuṭṭhito hoti. Evarūpepi caturaṅgasamannāgate andhakāre samantā yojanaṃ passati. Natthi so kuṭṭo vā kavāṭaṃ vā pākāro vā pabbato vā gaccho vā latā vā āvaraṇaṃ rūpānaṃ dassanāya. Ekañce tilaphalaṃ nimittaṃ katvā tilavāhe pakkhipeyya, taññeva tilaphalaṃ uddhareyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato pākatikamaṃsacakkhu. Evaṃ bhagavā maṃsacakkhunāpi cakkhumā.
How is the Blessed One also endowed with the physical eye? In the Blessed One’s physical eye, five colors are present: blue, yellow, red, black, and white. And the Blessed One has eyelashes. Where the eyelashes are rooted, that part is blue—deep blue, lovely and pleasing to behold, like an umā flower. Beyond that, it is yellow—bright yellow, golden colored, lovely and pleasing to behold, like a kaṇikāra flower. On both sides, the corners of the Blessed One’s eyes are red—deep red, lovely and pleasing to behold, like an indagopaka insect. In the middle, it is black—deep black, smooth, pure, lovely and pleasing to behold, like a soap nut. Beyond that, it is white—bright white, very white, lovely and pleasing to behold, like the morning star. Thus, with his natural physical eye—inherent in his being and produced by his past good deeds—the Blessed One sees a yojana all around, both day and night. Even when there is a darkness endowed with four factors—the sun has set, it is the Uposatha day of the dark fortnight, there is a dense forest thicket, and a great black cloud has arisen—even in such a darkness endowed with four factors, he sees a yojana all around. There is no wall, door, rampart, mountain, bush, or creeper that obstructs the sight of forms. If one were to mark a sesame seed and toss it into a cartload of sesame, he could pick out that very sesame seed. So pure is the Blessed One’s natural physical eye. Thus, the Blessed One is also endowed with the physical eye.
Thế nào là Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn với nhục nhãn? Trong nhục nhãn của Đức Thế Tôn có năm màu sắc hiện hữu: màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu đen, và màu trắng. Và lông mi của Đức Thế Tôn. Nơi lông mi mọc, chỗ ấy có màu xanh, xanh đậm, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như hoa đậu biếc. Xung quanh đó có màu vàng, vàng óng, màu sắc như vàng ròng, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như hoa kaṇikāra. Hai khóe mắt của Đức Thế Tôn có màu đỏ, đỏ thắm, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như con bọ rùa. Ở giữa có màu đen, đen nhánh, không thô, trong sạch, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như quả bồ hòn. Xung quanh đó có màu trắng, trắng ngần, trắng tinh, trắng sáng, đẹp đẽ, đáng chiêm ngưỡng, giống như sao mai. Do đó, Đức Thế Tôn với nhục nhãn tự nhiên, thuộc về thân thể, được tạo ra bởi nghiệp thiện đã làm trong quá khứ, nhìn thấy một do tuần xung quanh, cả ngày lẫn đêm. Ngay cả khi bóng tối gồm bốn yếu tố hiện hữu: mặt trời đã lặn, là ngày trai giới của hắc nguyệt, là khu rừng rậm rạp, và đám mây đen lớn kéo đến. Ngay cả trong bóng tối gồm bốn yếu tố như vậy, Ngài vẫn nhìn thấy một do tuần xung quanh. Không có bức tường, cánh cửa, thành lũy, ngọn núi, bụi cây, hay dây leo nào có thể che khuất tầm nhìn đối với các sắc. Nếu đánh dấu một hạt mè rồi bỏ vào trong một xe mè, Ngài có thể nhặt ra đúng hạt mè ấy. Như vậy, nhục nhãn tự nhiên của Đức Thế Tôn thật trong sạch. Như vậy, Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn với nhục nhãn.
Kathaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate; yathākammūpage satte pajānāti – ‘‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā’’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate; yathākammūpage satte pajānāti. Ākaṅkhamāno ca bhagavā ekampi lokadhātuṃ passeyya, dvepi lokadhātuyo passeyya, tissopi lokadhātuyo passeyya, catassopi lokadhātuyo passeyya, pañcapi lokadhātuyo passeyya, dasapi lokadhātuyo passeyya, vīsampi † lokadhātuyo passeyya, tiṃsampi lokadhātuyo passeyya, cattālīsampi lokadhātuyo passeyya, paññāsampi lokadhātuyo passeyya, satampi lokadhātuṃ passeyya, sahassimpi cūḷanikaṃ lokadhātuṃ passeyya, dvisahassimpi majjhimikaṃ lokadhātuṃ passeyya, tisahassimpi lokadhātuṃ passeyya, mahāsahassimpi lokadhātuṃ passeyya, yāvatakaṃ pana ākaṅkheyya tāvatakaṃ passeyya. Evaṃ parisuddhaṃ bhagavato dibbacakkhu. Evaṃ bhagavā dibbena cakkhunāpi cakkhumā.
How is the Blessed One endowed with the divine eye? The Blessed One, with the divine eye, purified and surpassing the human, sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good and bad destinations; he understands beings faring according to their kamma: 'Indeed, these worthy beings were possessed of misconduct of body, speech, and mind, reviled the noble ones, held wrong view, and undertook actions based on wrong view. On the breakup of the body, after death, they have been reborn in a state of loss, a bad destination, a state of ruin, in hell. But these other worthy beings were possessed of good conduct of body, speech, and mind, did not revile the noble ones, held right view, and undertook actions based on right view. On the breakup of the body, after death, they have been reborn in a good destination, a heavenly world.' Thus, with the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good and bad destinations; he understands beings faring according to their kamma. And if the Blessed One wishes, he can see one world-system, two world-systems, three world-systems, four world-systems, five world-systems, ten world-systems, twenty world-systems, thirty world-systems, forty world-systems, fifty world-systems, a hundred world-systems, a small thousandfold world-system, a middling two-thousandfold world-system, a three-thousandfold world-system, a great thousandfold world-system; as far as he wishes, he can see. Thus purified is the Blessed One’s divine eye. In this way, the Blessed One is endowed with the divine eye.
Thế nào là Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn với thiên nhãn? Đức Thế Tôn với thiên nhãn trong sạch, vượt xa mắt người thường, nhìn thấy các chúng sanh đang chết đi, đang sanh ra, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đến cõi lành, đến cõi dữ; Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ: ‘Chư vị ơi, những chúng sanh này đã thực hành thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành vi theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị ơi, những chúng sanh này đã thực hành thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện hạnh, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành vi theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi lành, thiên giới.’ Như vậy, với thiên nhãn trong sạch, vượt xa mắt người thường, Ngài nhìn thấy các chúng sanh đang chết đi, đang sanh ra, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, đến cõi lành, đến cõi dữ; Ngài biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Và khi mong muốn, Đức Thế Tôn có thể thấy một thế giới, có thể thấy hai thế giới, có thể thấy ba thế giới, có thể thấy bốn thế giới, có thể thấy năm thế giới, có thể thấy mười thế giới, có thể thấy hai mươi thế giới, có thể thấy ba mươi thế giới, có thể thấy bốn mươi thế giới, có thể thấy năm mươi thế giới, có thể thấy một trăm thế giới, có thể thấy tiểu thiên thế giới, có thể thấy trung thiên thế giới, có thể thấy tam thiên thế giới, có thể thấy đại thiên thế giới, và Ngài có thể thấy bao nhiêu tùy theo ý muốn. Như vậy, thiên nhãn của Đức Thế Tôn thật trong sạch. Như vậy, Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn với thiên nhãn.
Kathaṃ bhagavā paññācakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā mahāpañño puthupañño hāsapañño javanapañño tikkhapañño nibbedhikapañño paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññapetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā. So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
How is the Blessed One endowed with the eye of wisdom? The Blessed One is of great wisdom, broad wisdom, joyful wisdom, quick wisdom, sharp wisdom, penetrating wisdom; skilled in the distinctions of wisdom, possessed of discriminating knowledge, having attained the analytical knowledges, having reached the four assurances, the bearer of the ten powers; a bull among men, a lion among men, a nāga among men, a thoroughbred among men, a bearer of the yoke among men; of boundless knowledge, boundless power, boundless retinue; affluent, of great wealth, wealthy; a leader, a trainer, a guide, one who makes things known, one who makes things clear, one who causes to see, one who inspires faith. Indeed, that Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the ungenerated path, the declarer of the undeclared path. He is the knower of the path, the expert in the path, skilled in the path. And now his disciples dwell following the path, and those who come after are endowed.
Thế nào là Đức Thế Tôn là bậc Hữu Nhãn với tuệ nhãn? Đức Thế Tôn có trí tuệ vĩ đại, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ hoan hỷ, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ sắc bén, trí tuệ xuyên thấu, thiện xảo về các loại trí tuệ, có trí tuệ phân tích, đã chứng đắc các Vô ngại giải, đã đạt đến bốn Vô sở úy, mang mười lực, là bậc Ngưu vương, là bậc Sư tử giữa loài người, là bậc Long tượng giữa loài người, là bậc Thắng nhân, là bậc Điều ngự, có trí tuệ vô biên, có uy lực vô biên, có danh tiếng vô biên, là bậc phú quý, là bậc đại phú, là bậc giàu có, là người dẫn dắt, là người huấn luyện, là người khuyến dụ, là người làm cho hiểu rõ, là người làm cho quyết đoán, là người làm cho thấy, là người làm cho hoan hỷ. Vị Thế Tôn ấy quả thật là người làm cho con đường chưa sanh được sanh khởi, làm cho con đường chưa thành được hình thành, là người tuyên thuyết con đường chưa được tuyên thuyết, là bậc biết đường, bậc hiểu đường, bậc thiện xảo về đường. Và nay, các vị đệ tử là những người đi theo con đường, sống với đầy đủ các phẩm chất về sau.
So hi bhagavā jānaṃ jānāti, passaṃ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. Natthi tassa bhagavato aññātaṃ adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya. Atītaṃ anāgataṃ paccuppannaṃ upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṃ āgacchanti. Yaṃ kiñci neyyaṃ nāma atthi jānitabbaṃ † attattho vā, parattho vā, ubhayattho vā, diṭṭhadhammiko vā attho, samparāyiko vā attho, uttāno vā attho, gambhīro vā attho, gūḷho vā attho, paṭicchanno vā attho, neyyo vā attho, nīto vā attho, anavajjo vā attho, nikkileso vā attho, vodāno vā attho, paramattho vā attho, sabbaṃ taṃ antobuddhañāṇe parivattati.
Indeed, that Blessed One knows what is to be known and sees what is to be seen. He is the eye, he is knowledge, he is the Dhamma, he is the Supreme One. He is the speaker, the proclaimer, the elucidator of meaning, the giver of the Deathless, the Lord of the Dhamma, the Tathāgata. There is nothing for that Blessed One that is unknown, unseen, unperceived, unrealized, or untouched by wisdom. With respect to the past, future, and present, all phenomena in all their aspects come into the range of the Blessed Buddha's knowledge. Whatever is to be understood—whether for one’s own benefit, for the benefit of others, or for both; whether a benefit in this present life or in a future life; whether obvious or profound; hidden or concealed; to be inferred or directly known; whether blameless, stainless, purified, or ultimate—all of it revolves within the Buddha’s knowledge.
Thật vậy, đức Thế Tôn ấy biết điều cần biết, thấy điều cần thấy, là vị đã trở thành con mắt, đã trở thành trí tuệ, đã trở thành Chánh pháp, đã trở thành Phạm thiên, là vị thuyết giảng, là vị tuyên bố, là vị dẫn giải ý nghĩa, là vị ban cho sự bất tử, là bậc Pháp vương, là đấng Như Lai. Đối với đức Thế Tôn ấy, không có gì là không được biết, không được thấy, không được tỏ tường, không được chứng ngộ, không được trí tuệ chạm đến. Liên quan đến quá khứ, vị lai, và hiện tại, tất cả các pháp theo mọi phương diện đều đi vào phạm vi trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn. Bất cứ điều gì gọi là đối tượng cần được biết, cần phải biết, dù là lợi ích cho bản thân, lợi ích cho người khác, hay lợi ích cho cả hai; dù là ý nghĩa thuộc đời này, ý nghĩa thuộc đời sau; dù là ý nghĩa nông cạn, ý nghĩa sâu xa; dù là ý nghĩa kín đáo, ý nghĩa che giấu; dù là ý nghĩa suy diễn, ý nghĩa trực tiếp; dù là ý nghĩa không có lỗi lầm, ý nghĩa không có phiền não, ý nghĩa trong sạch, hay ý nghĩa tối thượng; tất cả những điều ấy đều xoay chuyển bên trong trí tuệ của đức Phật.
Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ, anāgate appaṭihataṃ ñāṇaṃ, paccuppanne appaṭihataṃ ñāṇaṃ. Sabbaṃ kāyakammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti. Sabbaṃ vacīkammaṃ… sabbaṃ manokammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ; neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ; neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi; aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Yathā dvinnaṃ samuggapaṭalānaṃ sammāphusitānaṃ heṭṭhimaṃ samuggapaṭalaṃ uparimaṃ nātivattati, uparimaṃ samuggapaṭalaṃ heṭṭhimaṃ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino; evamevaṃ buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ, neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ; neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ na pavattati, ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi; aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
The knowledge of the Buddha, the Blessed One, is unobstructed in the past; the knowledge is unobstructed in the future; the knowledge is unobstructed in the present. All bodily action of the Buddha, the Blessed One, follows upon knowledge. All verbal action… all mental action of the Buddha, the Blessed One, follows upon knowledge. To the extent that there is the knowable, to that extent there is knowledge; to the extent that there is knowledge, to that extent there is the knowable. The knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable; beyond knowledge, there is no path of the knowable. These phenomena stand within each other's limits. Just as with two well-fitted halves of a casket, the lower half does not go beyond the upper, and the upper half does not go beyond the lower—they stand within each other's limits; even so, for the Buddha, the Blessed One, the knowable and knowledge stand within each other's limits. To the extent that there is the knowable, to that extent there is knowledge; to the extent that there is knowledge, to that extent there is the knowable. The knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable; beyond knowledge, there is no path of the knowable. These phenomena stand within each other's limits.
Trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, là không bị ngăn ngại trong quá khứ, không bị ngăn ngại trong vị lai, không bị ngăn ngại trong hiện tại. Mọi hành động về thân của đức Phật, đức Thế Tôn, đều diễn ra theo sau trí tuệ. Mọi hành động về lời nói… mọi hành động về ý của đức Phật, đức Thế Tôn, đều diễn ra theo sau trí tuệ. Đối tượng cần biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu, trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng cần biết có bấy nhiêu; trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn; trí tuệ không vượt qua đối tượng cần biết, không có con đường cho đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ; các pháp ấy đứng trong giới hạn của nhau. Giống như hai nắp của một cái hộp vừa khít nhau, nắp dưới không vượt qua nắp trên, nắp trên không vượt qua nắp dưới, chúng đứng trong giới hạn của nhau; cũng vậy, đối tượng cần biết và trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, đứng trong giới hạn của nhau. Đối tượng cần biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu, trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng cần biết có bấy nhiêu, trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn; trí tuệ không vượt qua đối tượng cần biết, không có con đường cho đối tượng cần biết vượt qua trí tuệ; các pháp ấy đứng trong giới hạn của nhau.
Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanapaṭibaddhā ākaṅkhapaṭibaddhā manasikārapaṭibaddhā cittuppādapaṭibaddhā. Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbesaṃ sattānaṃ bhagavā āsayaṃ jānāti, anusayaṃ jānāti, caritaṃ jānāti, adhimuttiṃ jānāti, apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti. Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
The knowledge of the Buddha, the Blessed One, extends to all phenomena. All phenomena are connected with the adverting of the Buddha, the Blessed One; connected with His aspiration; connected with His attention; connected with His arising of thought. The knowledge of the Buddha, the Blessed One, extends to all beings. The Blessed One knows the inclinations, underlying tendencies, conduct, and resolutions of all beings. He understands beings with little dust in their eyes and those with much dust, those with keen faculties and those with dull faculties, those of good disposition and those of bad disposition, those easy to instruct and those difficult to instruct, the capable and the incapable. The world with its gods, with Māra, with Brahmā; the populace with its ascetics and brahmins, gods and humans—all revolve within the knowledge of the Buddha.
Trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, vận hành trong tất cả các pháp. Tất cả các pháp đều gắn liền với sự hướng tâm, gắn liền với ý muốn, gắn liền với sự tác ý, gắn liền với sự khởi tâm của đức Phật, đức Thế Tôn. Trí tuệ của đức Phật, đức Thế Tôn, vận hành trong tất cả chúng sanh. Đức Thế Tôn biết rõ khuynh hướng, biết rõ tùy miên, biết rõ hạnh kiểm, biết rõ chí hướng của tất cả chúng sanh; Ngài biết rõ các chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, có căn tánh sắc bén, có căn tánh nhu nhuyến, có tướng mạo tốt, có tướng mạo xấu, dễ được chỉ dạy, khó được chỉ dạy, có khả năng và không có khả năng giác ngộ. Thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, loài người và chư thiên đều xoay chuyển bên trong trí tuệ của đức Phật.
Yathā ye keci macchakacchapā antamaso timitimiṅgalaṃ upādāya antomahāsamudde parivattanti; evameva sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati. Yathā ye keci pakkhī antamaso garuḷaṃ venateyyaṃ upādāya ākāsassa padese parivattanti; evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti; buddhañāṇaṃ devamanussānaṃ paññaṃ pharitvā abhibhavitvā tiṭṭhati. Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhe abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṃ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca. Kathitā visajjitāva te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā upakkhittakā ca. Te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavāva tattha atirocati, yadidaṃ paññāyāti. Evaṃ bhagavā paññācakkhunāpi cakkhumā.
Just as all fish and turtles, at the very least beginning with the timi fish and the timiṅgala fish, move about within the great ocean; so too does the world with its devas, Māra, and Brahmā, the populace with its ascetics and brahmins, devas and humans, revolve within the Buddha’s knowledge. Just as all birds, at the very least beginning with the Garuḷa, the descendant of Vinatā, move about in a region of the sky; so too do even those who are equal to Sāriputta in wisdom revolve in a region of the Buddha’s knowledge. The Buddha’s knowledge, having pervaded and overcome the wisdom of devas and humans, stands. And whoever are those wise khattiyas, wise brahmins, wise householders, and wise ascetics who are subtle, skilled in refuting the doctrines of others, like archers who can pierce a horse-hair, they speak as if shattering views with their wisdom. They, having prepared and arranged questions again and again, approach the Tathāgata and ask hidden and concealed questions. Those very questions are spoken of and answered by the Blessed One, their reasons pointed out. And those wise ones attain the accomplishment of being lay followers of the Blessed One. Then, the Blessed One alone shines forth exceedingly in that matter, that is to say, in wisdom. Thus, the Blessed One is endowed with the eye, that is, with the eye of wisdom.
Giống như bất cứ loài cá và rùa nào, cho đến cả loài cá Timitimiṅgala, đều xoay chuyển bên trong đại dương; cũng vậy, thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, loài người và chư thiên đều xoay chuyển bên trong trí tuệ của đức Phật. Giống như bất cứ loài chim nào, cho đến cả loài chim Garuḷa con của bà Vinatā, đều bay lượn trong không gian của bầu trời; cũng vậy, ngay cả những vị có trí tuệ như ngài Sāriputta cũng xoay chuyển trong một phạm vi của trí tuệ đức Phật; trí tuệ của đức Phật bao trùm và vượt qua trí tuệ của chư thiên và loài người. Ngay cả những vị học giả dòng Sát-đế-lỵ, học giả dòng Bà-la-môn, học giả dòng gia chủ, học giả dòng sa-môn, là những người tinh tế, đã thực hành việc phản bác các quan điểm của người khác, giống như những người có tài bắn tên xuyên qua sợi lông, họ đi khắp nơi, tưởng rằng có thể phá tan các tà kiến bằng trí tuệ của mình; sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng các câu hỏi, họ đến gần đấng Như Lai và hỏi những điều kín đáo và che giấu. Những câu hỏi ấy đã được đức Thế Tôn nói ra và giải đáp, với lý do được chỉ rõ, và họ đã bị bác bỏ. Họ trở thành những người thành tựu nơi đức Thế Tôn. Và rồi, chính đức Thế Tôn lại tỏa sáng hơn cả ở nơi ấy, tức là về phương diện trí tuệ. Như vậy, đức Thế Tôn là bậc có mắt, ngay cả với con mắt trí tuệ.
Kathaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi cakkhumā? Bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento † addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino viharante appekacce naparalokavajjabhayadassāvino viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni antonimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni samodakaṃ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakaṃ accuggamma tiṭṭhanti anupalittāni udakena; evamevaṃ bhagavā buddhacakkhunā lokaṃ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino viharante appekacce naparalokavajjabhayadassāvino viharante. Jānāti bhagavā – ‘‘ayaṃ puggalo rāgacarito, ayaṃ dosacarito, ayaṃ mohacarito, ayaṃ vitakkacarito, ayaṃ saddhācarito, ayaṃ ñāṇacarito’’ti. Rāgacaritassa bhagavā puggalassa asubhakathaṃ katheti; dosacaritassa bhagavā puggalassa mettābhāvanaṃ ācikkhati; mohacaritassa bhagavā puggalassa uddese paripucchāya kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya garusaṃvāse niveseti; vitakkacaritassa bhagavā puggalassa ānāpānassatiṃ ācikkhati; saddhācaritassa bhagavā puggalassa pasādanīyaṃ nimittaṃ ācikkhati buddhasubodhiṃ dhammasudhammataṃ saṅghasuppaṭipattiṃ sīlāni ca attano; ñāṇacaritassa bhagavā puggalassa vipassanānimittaṃ ācikkhati aniccākāraṃ dukkhākāraṃ anattākāraṃ.
How is the Blessed One also one with vision by means of the Buddha-eye? The Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct, some dwelling while seeing the danger and fault in the next world, and some dwelling while not seeing the danger and fault in the next world. Just as in a pond of blue lotuses, or a pond of red lotuses, or a pond of white lotuses, some blue lotuses, red lotuses, or white lotuses are born in the water, grow in the water, and remain not risen above the water, nourished from within the water; some blue lotuses, red lotuses, or white lotuses are born in the water, grow in the water, and stand level with the water; and some blue lotuses, red lotuses, or white lotuses are born in the water, grow in the water, and rise above the water, unsullied by the water—so too, the Blessed One, surveying the world with the Buddha-eye, saw beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with keen faculties and dull faculties, with good dispositions and bad dispositions, easy to instruct and hard to instruct, some dwelling while seeing the danger and fault in the next world, and some dwelling while not seeing the danger and fault in the next world. The Blessed One knows: “This person has a lustful temperament, this one has a hateful temperament, this one has a deluded temperament, this one has a discursive temperament, this one has a faithful temperament, this one has a wise temperament.” To the person of lustful temperament, the Blessed One gives a discourse on the unbeautiful; to the person of hateful temperament, the Blessed One teaches the development of loving-kindness; to the person of deluded temperament, the Blessed One establishes them in recitation, in questioning, in timely hearing of the Dhamma, in timely discussion of the Dhamma, and in living close to a teacher; to the person of discursive temperament, the Blessed One teaches mindfulness of breathing; to the person of faithful temperament, the Blessed One teaches an inspiring sign—the perfect awakening of the Buddha, the good Dhamma-nature of the Dhamma, the good practice of the Sangha, and his own moral virtues; to the person of wise temperament, the Blessed One teaches the sign for insight—the aspect of impermanence, the aspect of suffering, and the aspect of non-self.
Thế nào là Thế Tôn có mắt, tức là có Phật nhãn? Khi Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát thế gian, Ngài thấy có chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn, có tướng tốt, có tướng xấu, dễ dạy, khó dạy; có một số chúng sanh sống thấy sự sợ hãi và lỗi lầm ở đời sau, có một số chúng sanh sống không thấy sự sợ hãi và lỗi lầm ở đời sau. Ví như trong hồ sen xanh, hoặc hồ sen hồng, hoặc hồ sen trắng, có những hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, chưa vươn khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng khi còn chìm trong nước; có những hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang mặt nước; có những hoa sen xanh, hoặc hoa sen hồng, hoặc hoa sen trắng sanh trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm lấm bẩn. Cũng vậy, khi Thế Tôn dùng Phật nhãn quán sát thế gian, Ngài thấy có chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn, có tướng tốt, có tướng xấu, dễ dạy, khó dạy; có một số chúng sanh sống thấy sự sợ hãi và lỗi lầm ở đời sau, có một số chúng sanh sống không thấy sự sợ hãi và lỗi lầm ở đời sau. Thế Tôn biết rằng: ‘Người này có tánh tham, người này có tánh sân, người này có tánh si, người này có tánh tầm, người này có tánh tín, người này có tánh trí.’ Đối với người có tánh tham, Thế Tôn thuyết về đề mục bất tịnh; đối với người có tánh sân, Thế Tôn chỉ dạy về sự tu tập tâm từ; đối với người có tánh si, Thế Tôn đặt họ vào việc học thuộc lòng, hỏi han, vào việc đúng thời nghe pháp, đúng thời thảo luận pháp, vào việc sống gần gũi bậc thầy; đối với người có tánh tầm, Thế Tôn chỉ dạy về niệm hơi thở; đối với người có tánh tín, Thế Tôn chỉ dạy về tướng trạng đáng tịnh tín: sự giác ngộ hoàn toàn của Đức Phật, diệu pháp của Chánh pháp, sự diệu hạnh của Tăng chúng, và giới đức của chính Ngài; đối với người có tánh trí, Thế Tôn chỉ dạy về tướng trạng của minh sát: tướng vô thường, tướng khổ, tướng vô ngã.
‘‘Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, yathāpi passe janataṃ samantato;
Tathūpamaṃ dhammamayaṃ sumedha, pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṃ janatamapetasoko, avekkhassu jātijarābhibhūta’’nti.
“As one with sight, standing on a mountain peak of solid rock, might see the people all around, so too, O wise one, O All-Seeing One, having ascended the palace made of the Dhamma, you who are free from sorrow, look down upon the people immersed in sorrow, overcome by birth and old age.”
‘Như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy dân chúng khắp bốn phương; cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, sau khi đã leo lên lâu đài Chánh pháp, Ngài là bậc đã thoát ly sầu muộn, xin hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục.’
Evaṃ bhagavā buddhacakkhunāpi cakkhumā.
Thus, the Blessed One is one with vision also by means of the Buddha-eye.
Như vậy, Thế Tôn có mắt, tức là có Phật nhãn.
Kathaṃ bhagavā samantacakkhunāpi cakkhumā? Samantacakkhu vuccati sabbaññutañāṇaṃ. Bhagavā sabbaññutañāṇena upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato.
How is the Blessed One one with vision also by means of the all-seeing eye? The all-seeing eye is said to be the knowledge of omniscience. The Blessed One is endowed with the knowledge of omniscience, well endowed with it, has attained it, has well attained it, possesses it, is well possessed of it, and is endowed with it.
Thế nào là Thế Tôn có mắt, tức là có Toàn nhãn? Toàn nhãn được gọi là trí tuệ nhất thiết chủng trí. Thế Tôn đã đạt đến, đã hoàn toàn đạt đến, đã đến gần, đã hoàn toàn đến gần, đã sanh khởi, đã viên mãn, đã thành tựu trí tuệ nhất thiết chủng trí.
‘‘Na tassa adiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhū’’ti.
“There is nothing here unseen by him, nor anything unknown or unknowable. He has directly known all that is knowable; therefore, the Tathāgata is the All-Seeing One.”
‘Đối với vị ấy, không có gì ở đây là chưa được thấy, cũng không có gì là chưa được biết, chưa thể biết. Tất cả những gì cần phải biết, Ngài đều đã thắng tri. Do đó, Như Lai là bậc Toàn Nhãn.’
Evaṃ bhagavā samantacakkhunāpi cakkhumāti – yathā dissati cakkhumā.
Thus the Blessed One is one with vision also by means of the all-seeing eye; this is the meaning of 'as one with vision sees'.
Như vậy, Thế Tôn có mắt, tức là có Toàn nhãn – đây là ý nghĩa của câu ‘như được thấy, là bậc có mắt’.
Sabbaṃ tamaṃ vinodetvāti sabbaṃ rāgatamaṃ dosatamaṃ mohatamaṃ mānatamaṃ diṭṭhitamaṃ kilesatamaṃ duccaritatamaṃ andhakaraṇaṃ acakkhukaraṇaṃ aññāṇakaraṇaṃ paññānirodhikaṃ vighātapakkhikaṃ anibbānasaṃvattanikaṃ nuditvā panuditvā jahitvā pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvāti – sabbaṃ tamaṃ vinodetvā.
‘Having dispelled all darkness’ means: having dispelled all the darkness of lust, the darkness of hatred, the darkness of delusion, the darkness of conceit, the darkness of views, the darkness of defilements, the darkness of misconduct—that which makes for blindness, makes for non-vision, makes for non-knowledge, obstructs wisdom, is on the side of vexation, and leads away from Nibbāna—having dispelled, thoroughly dispelled, abandoned, relinquished, dispelled, annihilated, and brought to non-existence. This is the meaning of ‘having dispelled all darkness’.
‘Đã xua tan mọi bóng tối’ nghĩa là: đã xua tan, đã hoàn toàn xua tan, đã từ bỏ, đã hoàn toàn từ bỏ, đã loại trừ, đã chấm dứt, đã làm cho không còn sanh khởi trở lại tất cả bóng tối của tham, bóng tối của sân, bóng tối của si, bóng tối của mạn, bóng tối của tà kiến, bóng tối của phiền não, bóng tối của ác hạnh, là cái làm cho mù quáng, làm cho không có mắt, làm cho không có trí tuệ, làm cho trí tuệ bị diệt tận, thuộc phe phái của sự tổn hại, dẫn đến việc không chứng ngộ Niết-bàn – đây là ý nghĩa của câu ‘đã xua tan mọi bóng tối’.
Ekova ratimajjhagāti. Ekoti bhagavā pabbajjāsaṅkhātena eko, adutiyaṭṭhena eko, taṇhāya pahānaṭṭhena eko, ekantavītarāgoti eko, ekantavītadosoti eko, ekantavītamohoti eko, ekantanikkilesoti eko, ekāyanamaggaṃ gatoti eko, anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti eko.
As for ‘Alone he went to delight’: As for ‘Alone’ (eko): the Blessed One is ‘one’ by the count of renunciation; ‘one’ in the sense of having no second; ‘one’ in the sense of having abandoned craving. Because he is completely free from lust, therefore he is ‘one’. Because he is completely free from hatred, therefore he is ‘one’. Because he is completely free from delusion, therefore he is ‘one’. Because he is completely free from defilements, therefore he is ‘one’. Because he has gone on the one-way path, therefore he is ‘one’. Because he has fully awakened to the unsurpassed perfect self-awakening, therefore he is ‘one’.
‘Vị ấy là độc nhất, đã đạt được sự hoan hỷ.’ ‘Độc nhất’ nghĩa là: Thế Tôn là độc nhất theo ý nghĩa là một vị xuất gia; là độc nhất theo ý nghĩa không có người thứ hai; là độc nhất theo ý nghĩa đã đoạn tận ái dục; là độc nhất vì đã hoàn toàn ly tham; là độc nhất vì đã hoàn toàn ly sân; là độc nhất vì đã hoàn toàn ly si; là độc nhất vì đã hoàn toàn không còn phiền não; là độc nhất vì đã đi trên con đường độc nhất; là độc nhất vì đã tự mình giác ngộ đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Kathaṃ bhagavā pabbajjāsaṅkhātena eko? Bhagavā daharova samāno susu kāḷakeso bhadrena † yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṃ mātāpitūnaṃ assumukhānaṃ rudantānaṃ vilapantānaṃ ñātisaṅghaṃ pahāya sabbaṃ gharāvāsapalibodhaṃ chinditvā puttadārapalibodhaṃ chinditvā ñātipalibodhaṃ chinditvā mittāmaccapalibodhaṃ chinditvā sannidhipalibodhaṃ chinditvā kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajitvā akiñcanabhāvaṃ upagantvā eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti – evaṃ bhagavā pabbajjāsaṅkhātena eko.
How is the Blessed One 'one' by the measure of renunciation? The Blessed One, while still young, a youth with black hair, endowed with excellent youth, in the prime of life—while his unwilling parents, with tearful faces, were weeping and lamenting—having abandoned his circle of relatives, having severed all the impediments of household life, having severed the impediment of children and wife, having severed the impediment of relatives, having severed the impediment of friends and advisors, having severed the impediment of possessions, having shaved off his hair and beard, having donned the ochre robes, having gone forth from the household life into homelessness, having reached the state of having nothing, he wanders alone, dwells alone, moves alone, conducts himself alone, maintains himself alone, subsists alone, and sustains himself alone—thus the Blessed One is 'one' by the measure of renunciation.
Thế nào là Thế Tôn độc nhất theo ý nghĩa là một vị xuất gia? Thế Tôn, khi còn trẻ, là một thanh niên tóc còn đen nhánh, đầy đủ tuổi xuân tốt đẹp, trong thời kỳ đầu của cuộc đời, trong khi cha mẹ không mong muốn, mặt đẫm lệ, đang khóc lóc than van, Ngài đã từ bỏ quyến thuộc, cắt đứt mọi ràng buộc của đời sống gia đình, cắt đứt ràng buộc vợ con, cắt đứt ràng buộc quyến thuộc, cắt đứt ràng buộc bạn bè và các quan chức, cắt đứt ràng buộc của sự tích trữ, đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên mình tấm y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã đạt đến trạng thái vô sở hữu, Ngài đi một mình, sống một mình, hành động, sinh hoạt, duy trì, tiếp tục, và làm cho tiếp tục một mình – như vậy, Thế Tôn là độc nhất theo ý nghĩa là một vị xuất gia.
Kathaṃ bhagavā adutiyaṭṭhena eko? So evaṃ pabbajito samāno eko araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni. So eko carati, eko gacchati, eko tiṭṭhati, eko nisīdati, eko seyyaṃ kappeti, eko gāmaṃ piṇḍāya pavisati, eko paṭikkamati, eko raho nisīdati, eko caṅkamaṃ adhiṭṭhāti, eko carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti – evaṃ bhagavā adutiyaṭṭhena eko.
How is the Blessed One 'one' in the sense of being without a second? Having thus gone forth, being alone, he frequents remote wilderness and forest groves, secluded lodgings that are quiet, with little noise, free from the disturbance of people, hidden from human view, and suitable for solitude. He wanders alone, goes alone, stands alone, sits alone, lies down alone, enters the village for alms alone, returns alone, sits in seclusion alone, and undertakes walking meditation alone. He wanders alone, dwells alone, moves alone, conducts himself alone, maintains himself alone, subsists alone, and sustains himself alone—thus the Blessed One is 'one' in the sense of being without a second.
Thế nào là Thế Tôn độc nhất theo ý nghĩa không có người thứ hai? Vị ấy, sau khi đã xuất gia như vậy, một mình tìm đến những trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, xa xôi, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng bóng người, kín đáo, thích hợp cho việc độc cư. Vị ấy đi một mình, đến một mình, đứng một mình, ngồi một mình, nằm một mình, vào làng khất thực một mình, trở về một mình, ngồi một mình nơi kín đáo, kinh hành một mình. Ngài đi một mình, sống một mình, hành động, sinh hoạt, duy trì, tiếp tục, và làm cho tiếp tục một mình – như vậy, Thế Tôn là độc nhất theo ý nghĩa không có người thứ hai.
Kathaṃ bhagavā taṇhāya pahānaṭṭhena eko? So evaṃ eko adutiyo appamatto ātāpī pahitatto viharanto najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle mahāpadhānaṃ padahanto māraṃ sasenaṃ kaṇhaṃ namuciṃ pamattabandhuṃ vidhamitvā taṇhājāliniṃ visaritaṃ visattikaṃ pajahasi vinodesi byantiṃ akāsi anabhāvaṃ gamesi.
How is the Blessed One 'one' in the sense of abandoning craving? Dwelling thus alone, without a second, heedful, ardent, and resolute, exerting great effort by the bank of the Nerañjarā River at the foot of the Bodhi tree, having shattered Māra with his army—the Dark One, Namuci, the kinsman of the heedless—he abandoned, dispelled, made an end of, and brought to non-existence the far-spreading, clinging net of craving.
Thế nào là Đức Thế Tôn độc nhất theo ý nghĩa đoạn trừ ái dục? Vị ấy như vầy, là độc nhất, không có người thứ hai, không dể duôi, có sự tinh cần, có tâm hướng đến, trong khi đang trú tại bờ sông Nerañjarā, dưới cội cây bồ-đề, đang thực hiện sự tinh tấn lớn lao, sau khi đã nhiếp phục Ma vương cùng với quân đội, kẻ đen tối, Namuci, kẻ trói buộc bằng sự dể duôi, đã từ bỏ, đã loại trừ, đã làm cho chấm dứt, đã làm cho không còn tồn tại lưới ái dục lan rộng và dính mắc.
‘‘Taṇhādutiyo puriso, dīghamaddhānasaṃsaraṃ;
Itthabhāvaññathābhāvaṃ †, saṃsāraṃ nātivattati.
“A person with craving as a companion, wandering for a long time through saṃsāra, from this state to another state, does not overcome saṃsāra.”
“Người có ái dục làm bạn đồng hành, trong suốt thời gian dài của vòng luân hồi, (trải qua) trạng thái này và trạng thái khác, không thể vượt qua được vòng luân hồi.
‘‘Etamādīnavaṃ ñatvā, taṇhaṃ dukkhassa sambhavaṃ;
Vītataṇho anādāno, sato bhikkhu paribbaje’’ti.
“Having known this danger, that craving is the origin of suffering, a bhikkhu, free from craving, without clinging, and mindful, should wander forth.”
“Sau khi biết được sự nguy hại này, (rằng) ái dục là nguồn sanh của khổ đau, vị Tỳ khưu đã thoát ly ái dục, không còn chấp thủ, có chánh niệm, nên sống đời sống viễn ly.”
Evaṃ bhagavā taṇhāya pahānaṭṭhena eko.
Thus, the Blessed One is supreme on account of the abandoning of craving.
Như vậy, Đức Thế Tôn là độc nhất theo ý nghĩa đoạn trừ ái dục.
Kathaṃ bhagavā ekantavītarāgoti eko? Rāgassa pahīnattā ekantavītarāgoti eko, dosassa pahīnattā ekantavītadosoti eko, mohassa pahīnattā ekantavītamohoti eko, kilesānaṃ pahīnattā ekantanikkilesoti eko.
How is the Blessed One supreme for being utterly free from passion? Because passion is abandoned, He is utterly free from passion; therefore, He is supreme. Because aversion is abandoned, He is utterly free from aversion; therefore, He is supreme. Because delusion is abandoned, He is utterly free from delusion; therefore, He is supreme. Because the defilements are abandoned, He is utterly without defilements; therefore, He is supreme.
Thế nào là Đức Thế Tôn độc nhất vì hoàn toàn ly tham? Vì đã đoạn trừ tham, nên Ngài hoàn toàn ly tham, do đó là độc nhất. Vì đã đoạn trừ sân, nên Ngài hoàn toàn ly sân, do đó là độc nhất. Vì đã đoạn trừ si, nên Ngài hoàn toàn ly si, do đó là độc nhất. Vì đã đoạn trừ các phiền não, nên Ngài hoàn toàn không còn phiền não, do đó là độc nhất.
Kathaṃ bhagavā ekāyanamaggaṃ gatoti eko? Ekāyanamaggo vuccati cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
How is the Blessed One supreme for having gone to the one-way path? The one-way path is said to be: the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the noble eightfold path.
Thế nào là Đức Thế Tôn độc nhất vì đã đi trên con đường độc nhất? Con đường độc nhất được gọi là: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy giác chi, và Thánh đạo tám ngành.
‘‘Ekāyanaṃ jātikhayantadassī, maggaṃ pajānāti hitānukampī;
Etena maggena tariṃsu † pubbe, tarissanti ye ca taranti ogha’’nti.
“Compassionate for the welfare of others, the seer of the end of birth knows the one-way path. By this path they crossed the flood in the past; and by it they will cross, and are now crossing.”
“Bậc thấy được sự đoạn tận của sanh, bậc có lòng thương tưởng đến lợi ích (của chúng sanh), biết rõ con đường độc nhất. Nhờ con đường này, các vị trong quá khứ đã vượt qua, và những vị sẽ vượt qua, và những vị đang vượt qua bộc lưu.”
Evaṃ bhagavā ekāyanamaggaṃ gatoti eko.
Thus, the Blessed One is supreme for having gone to the one-way path.
Như vậy, Đức Thế Tôn là độc nhất vì đã đi trên con đường độc nhất.
Kathaṃ bhagavā eko anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti eko? Bodhi vuccati catūsu maggesu ñāṇaṃ paññindriyaṃ paññābalaṃ dhammavicayasambojjhaṅgo vīmaṃsā vipassanā sammādiṭṭhi. Bhagavā tena bodhiñāṇena ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā’’ti bujjhi, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti bujjhi, ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti bujjhi, ‘‘avijjāpaccayā saṅkhārā’’ti bujjhi…pe… ‘‘jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti bujjhi; ‘‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’’ti bujjhi…pe… ‘‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’’ti bujjhi; ‘‘idaṃ dukkha’’nti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti bujjhi, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti bujjhi; ‘‘ime āsavā’’ti bujjhi…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti bujjhi; ‘‘ime dhammā pariññeyyā’’ti bujjhi… pahātabbāti… bhāvetabbāti… sacchikātabbāti bujjhi, channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca bujjhi, pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca bujjhi, catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca bujjhi, ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti bujjhi.
How is it that the Blessed One, being supreme, has fully awakened to the unsurpassed perfect self-awakening, and is therefore supreme? Awakening is said to be: knowledge in the four paths, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the enlightenment factor of investigation of phenomena, investigation, insight, and right view. By means of that knowledge of awakening, the Blessed One understood: 'All formations are impermanent'; He understood: 'All formations are suffering'; He understood: 'All phenomena are not-self'; He understood: 'From ignorance as condition, formations arise'... He understood: 'From birth as condition, aging and death arise'; He understood: 'From the cessation of ignorance, there is the cessation of formations'... He understood: 'From the cessation of birth, there is the cessation of aging and death'; He understood: 'This is suffering'; He understood: 'This is the origin of suffering'; He understood: 'This is the cessation of suffering'; He understood: 'This is the path leading to the cessation of suffering'; He understood: 'These are the taints'... He understood: 'This is the path leading to the cessation of the taints'; He understood: 'These phenomena are to be fully understood'... 'are to be abandoned'... 'are to be developed'... 'are to be realized.' He understood the arising, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in regard to the six sense bases. He understood the arising, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in regard to the five aggregates subject to clinging. He understood the arising, the passing away, the gratification, the danger, and the escape in regard to the four great elements. He understood: 'Whatever is of the nature to arise, all that is of the nature to cease.'
Thế nào là Đức Thế Tôn độc nhất vì đã tự mình giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Giác ngộ được gọi là trí tuệ trong bốn đạo, là tuệ quyền, tuệ lực, trạch pháp giác chi, trạch tuệ, minh sát, chánh kiến. Đức Thế Tôn nhờ trí tuệ giác ngộ ấy đã liễu tri: “Tất cả các pháp hữu vi là vô thường”, đã liễu tri: “Tất cả các pháp hữu vi là khổ”, đã liễu tri: “Tất cả các pháp là vô ngã”; đã liễu tri: “Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi”... cho đến... đã liễu tri: “Do sanh làm duyên, già-chết (sanh khởi)”; đã liễu tri: “Do vô minh diệt, các hành diệt”... cho đến... đã liễu tri: “Do sanh diệt, già-chết diệt”; đã liễu tri: “Đây là khổ”, đã liễu tri: “Đây là nguyên nhân của khổ”, đã liễu tri: “Đây là sự diệt khổ”, đã liễu tri: “Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ”; đã liễu tri: “Đây là các lậu hoặc”... cho đến... đã liễu tri: “Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc”; đã liễu tri: “Các pháp này cần được liễu tri”, ... “cần được đoạn trừ”, ... “cần được tu tập”, ... “cần được chứng ngộ”; đã liễu tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của sáu xứ xúc; đã liễu tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm thủ uẩn; đã liễu tri sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của bốn đại chủng; đã liễu tri rằng: “Bất cứ pháp nào có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh đoạn diệt”.
Atha vā yaṃ kiñci bujjhitabbaṃ anubujjhitabbaṃ paṭibujjhitabbaṃ sambujjhitabbaṃ adhigantabbaṃ phassitabbaṃ sacchikātabbaṃ, sabbaṃ taṃ tena bodhiñāṇena bujjhi anubujjhi paṭibujjhi sambujjhi sammābujjhi adhigacchi phassesi sacchākāsi. Evaṃ bhagavā eko anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti eko.
Or alternatively, whatever was to be understood, to be subsequently understood, to be further understood, to be fully understood, to be attained, to be experienced, and to be realized—all that he understood, subsequently understood, further understood, fully understood, perfectly understood, attained, experienced, and realized by means of that knowledge of awakening. Thus, the Blessed One, being supreme, has fully awakened to the unsurpassed perfect self-awakening, and is therefore supreme.
Lại nữa, bất cứ điều gì cần được liễu tri, cần được giác ngộ theo, cần được giác ngộ đối diện, cần được giác ngộ trọn vẹn, cần được chứng đắc, cần được xúc chạm, cần được chứng thực, tất cả những điều ấy, Ngài đã liễu tri, đã giác ngộ theo, đã giác ngộ đối diện, đã giác ngộ trọn vẹn, đã giác ngộ một cách chân chánh, đã chứng đắc, đã xúc chạm, đã chứng thực bằng trí tuệ giác ngộ ấy. Như vậy, Đức Thế Tôn là độc nhất vì đã tự mình giác ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Ratimajjhagāti. Ratinti nekkhammaratiṃ vivekaratiṃ upasamaratiṃ sambodhiratiṃ ajjhagā samajjhagā adhigacchi phassesi sacchākāsīti – ekova ratimajjhagā.
“He has attained delight.” “Delight” means the delight in renunciation, the delight in seclusion, the delight in serenity, and the delight in awakening. He has reached, well reached, attained, experienced, and realized it. Thus, he alone has attained delight.
Ngài đã đạt được sự hỷ lạc. Hỷ lạc (ở đây) là: hỷ lạc của sự xuất ly, hỷ lạc của sự viễn ly, hỷ lạc của sự tịch tịnh, hỷ lạc của sự giác ngộ. Ngài đã đạt đến, đã đạt đến một cách trọn vẹn, đã chứng đắc, đã xúc chạm, đã chứng thực – (như vậy có nghĩa là) một mình Ngài đã đạt được sự hỷ lạc.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói:
‘‘Sadevakassa lokassa, yathā dissati cakkhumā;
Sabbaṃ tamaṃ vinodetvā, ekova ratimajjhagā’’ti.
“As the one with vision appears to the world with its devas, having dispelled all darkness, he alone attained delight.”
“Đối với thế gian cùng với chư thiên, Bậc có mắt (trí tuệ) được thấy như thế nào; sau khi đã xua tan mọi bóng tối (vô minh), một mình Ngài đã đạt được sự hỷ lạc.”
192.
192.
192.
Taṃ buddhaṃ asitaṃ tādiṃ, akuhaṃ gaṇimāgataṃ;
Bahūnamidha baddhānaṃ, atthi pañhena āgamaṃ.
To that Buddha, unattached, steadfast, without deceit, the teacher of a group who has come; I have come with a question for the many who are bound in this world.
Con đã đến với một câu hỏi, tìm đến bậc Giác Ngộ, bậc không dính mắc, bậc như vậy, không lừa dối, vị thầy của hội chúng đã đến đây, (con là một) trong số nhiều người bị trói buộc ở đời này.
Taṃ buddhaṃ asitaṃ tādinti. Buddhoti yo so bhagavā sayambhū anācariyako pubbe ananussutesu dhammesu sāmaṃ saccāni abhisambujjhi, tattha ca sabbaññutaṃ pāpuṇi †, balesu ca vasībhāvaṃ pāpuṇi. Buddhoti kenaṭṭhena buddho? Bujjhitā saccānīti buddho, bodhetā pajāyāti buddho, sabbaññutāya buddho, sabbadassāvitāya buddho, anaññaneyyatāya buddho, visavitāya buddho, khīṇāsavasaṅkhātena buddho, nirupakkilesasaṅkhātena buddho, ekantavītarāgoti buddho, ekantavītadosoti buddho, ekantavītamohoti buddho, ekantanikkilesoti buddho, ekāyanamaggaṃ gatoti buddho, eko anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti buddho, abuddhivihatattā buddhipaṭilābhattā buddho. Buddhoti netaṃ mātarā kataṃ na pitarā kataṃ, na bhātarā kataṃ, na bhaginiyā kataṃ, na mittāmaccehi kataṃ, na ñātisālohitehi kataṃ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ, na devatāhi kataṃ. Vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti, yadidaṃ buddhoti – taṃ buddhaṃ. Asitanti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca. Katamo taṇhānissayo? Yāva taṇhāsaṅkhātena sīmakataṃ odhikataṃ † pariyantakataṃ pariggahitaṃ mamāyitaṃ – idaṃ mama, etaṃ mama, ettakaṃ mama, ettāvatā mama, mama rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, attharaṇā pāvuraṇā dāsidāsā ajeḷakā kukkuṭasūkarā hatthigavāssavaḷavā, khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ suvaṇṇaṃ, gāmanigamarājadhāniyo raṭṭhañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca, kevalampi mahāpathaviṃ taṇhāvasena mamāyati, yāvatā aṭṭhasataṃ taṇhāvicaritaṃ – ayaṃ taṇhānissayo.
In the passage: 'That Buddha, the unattached, the steadfast...' As for 'Buddha': that Blessed One who is self-arisen, without a teacher, by Himself previously awakened to the Truths concerning things not heard before, and therein attained omniscience and attained mastery in the ten powers. For what reason is he called 'Buddha'? Because he has understood the Truths, he is 'Buddha'; because he awakens beings, he is 'Buddha'; because of omniscience, he is 'Buddha'; because of all-seeingness, he is 'Buddha'; because of not being led by another, he is 'Buddha'; because of being blossomed with virtues, he is 'Buddha'; by reason of the destruction of the cankers, he is 'Buddha'; by reason of being without defilements, he is 'Buddha'; because he is completely free from lust, he is 'Buddha'; because he is completely free from hatred, he is 'Buddha'; because he is completely free from delusion, he is 'Buddha'; because he is completely without defilements, he is 'Buddha'; because he has gone on the one-way path, he is 'Buddha'; because he alone has perfectly awakened to the unsurpassed, perfect self-awakening, he is 'Buddha'; because of having destroyed non-wisdom and having attained wisdom, he is 'Buddha'. This name 'Buddha' was not given by his mother, not given by his father, not given by his brother, not given by his sister, not given by friends and colleagues, not given by kinsmen and relatives, not given by ascetics and brahmins, not given by deities. This is a designation for the Buddhas, the Blessed Ones, that is final in liberation, realized at the root of the Bodhi tree together with the attainment of the knowledge of omniscience—that is, 'Buddha'. As for 'unattached': there are two dependencies—the dependency on craving and the dependency on views. What is the dependency on craving? To whatever extent, by the proliferation of craving, things are defined, limited, bounded, grasped, and appropriated—'This is mine, that is mine, this much is mine, up to this is mine; my forms, sounds, smells, tastes, tactile objects; my coverings and cloaks, male and female slaves, goats and sheep, fowl and pigs, elephants, cattle, horses, and mares; my field and land, silver and gold; villages, towns, and royal capitals, the country and the countryside, the treasury and the storehouse'—and one appropriates even the entire great earth through the power of craving, as far as the one hundred and eight proliferations of craving extend—this is the dependency on craving.
Về câu ‘Vị Phật ấy không nương tựa, là bậc Tādi’. Phật là gì? Vị Thế Tôn ấy là bậc Tự Giác, không có thầy chỉ dạy, đã tự mình giác ngộ các chân lý đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, và ở đó đã đạt đến toàn giác, và đã đạt đến sự thuần thục các năng lực. Do ý nghĩa nào mà gọi là Phật? Là Phật vì đã giác ngộ các chân lý, là Phật vì làm cho chúng sanh giác ngộ, là Phật vì có trí toàn giác, là Phật vì thấy được tất cả, là Phật vì không bị người khác dẫn dắt, là Phật vì các đức tính đã nở rộ, là Phật vì đã đoạn tận các lậu hoặc, là Phật vì không còn phiền não nhiễm ô, là Phật vì hoàn toàn ly tham, là Phật vì hoàn toàn ly sân, là Phật vì hoàn toàn ly si, là Phật vì hoàn toàn không còn phiền não, là Phật vì đã đi trên con đường độc nhất, là Phật vì một mình tự chứng ngộ đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là Phật vì đã phá tan vô minh và đã thành tựu trí tuệ. Danh hiệu Phật này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè thân hữu đặt, không phải do quyến thuộc huyết thống đặt, không phải do Sa-môn Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt. Đây là một danh hiệu chế định, có thật, phát sinh cho các vị Phật, các bậc Thế Tôn, tại cội Bồ-đề, vào lúc cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự thành tựu trí toàn giác, danh hiệu ấy là Phật – đó là vị Phật ấy. Không nương tựa là gì? Có hai sự nương tựa – nương tựa vào ái và nương tựa vào tà kiến. Thế nào là nương tựa vào ái? Bất cứ những gì được phân định ranh giới, được xác định giới hạn, được khoanh vùng, được chiếm hữu, được xem là ‘của ta’ bởi ái – đây là của ta, cái kia là của ta, chừng này là của ta, đến mức này là của ta; sắc, thanh, hương, vị, xúc là của ta; vật trải, vật đắp, tôi trai, tớ gái, dê, cừu, gà, heo, voi, bò, ngựa đực, ngựa cái, ruộng, đất, bạc, vàng, làng, thị trấn, kinh đô, xứ, quốc độ, kho tàng, và kho lẫm. Ngay cả toàn bộ đại địa này, người ấy cũng xem là ‘của ta’ do năng lực của ái, cho đến một trăm lẻ tám sự vận hành của ái – đây là sự nương tựa vào ái.
Katamo diṭṭhinissayo? Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, dasavatthukā micchādiṭṭhi, dasavatthukā antaggāhikā diṭṭhi. Yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyāsaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho ‘‘ayāthāvakasmiṃ yāthāvaka’’nti gāho yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni – ayaṃ diṭṭhinissayo.
What is the dependency on view? The personality-view with twenty bases, the wrong view with ten bases, and the view that grasps at extremes with ten bases. Whatever view of this sort—a viewpoint, a thicket of views, a wilderness of views, a spike of views, an agitation of views, the fetter of view, grasping, firm grasping, insistence, adherence, a wrong path, a wrong way, wrongness, a sectarian foundation, inverted grasping, perverse grasping, distorted grasping, wrong grasping, grasping 'the unfactual as factual'—insofar as there are the sixty-two kinds of views: this is the dependency on view.
Thế nào là nương tựa vào tà kiến? Thân kiến có hai mươi đối tượng, tà kiến có mười đối tượng, biên kiến có mười đối tượng. Bất cứ loại tà kiến nào như vậy, (gọi là) tà kiến, sự cố chấp tà kiến, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, sự co giật của tà kiến, sự quằn quại của tà kiến, triền phược tà kiến, sự nắm giữ, sự bám víu, sự chấp chặt, sự chấp thủ sai lầm, con đường xấu, con đường sai lầm, sự sai lầm, nơi nương náu của ngoại đạo, sự nắm giữ điên đảo, sự nắm giữ trái ngược, sự nắm giữ xuyên tạc, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ rằng ‘cái không có thật là có thật’, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến – đây là sự nương tựa vào tà kiến.
Buddhassa bhagavato taṇhānissayo pahīno, diṭṭhinissayo paṭinissaṭṭho; taṇhānissayassa pahīnattā diṭṭhinissayassa paṭinissaṭṭhattā bhagavā cakkhuṃ asito, sotaṃ… ghānaṃ… jivhaṃ… kāyaṃ… manaṃ asito, rūpe… sadde… gandhe… rase… phoṭṭhabbe… kulaṃ… gaṇaṃ… āvāsaṃ… lābhaṃ… yasaṃ… pasaṃsaṃ… sukhaṃ… cīvaraṃ… piṇḍapātaṃ… senāsanaṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ… kāmadhātuṃ… rūpadhātuṃ… arūpadhātuṃ … kāmabhavaṃ… rūpabhavaṃ… arūpabhavaṃ… saññābhavaṃ… asaññābhavaṃ… nevasaññānāsaññābhavaṃ… ekavokārabhavaṃ… catuvokārabhavaṃ… pañcavokārabhavaṃ… atītaṃ… anāgataṃ… paccuppannaṃ… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme asito anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – taṃ buddhaṃ asitaṃ.
For the Blessed One, the Buddha, the dependency on craving is abandoned and the dependency on view is relinquished. Because the dependency on craving is abandoned and the dependency on view is relinquished, the Blessed One is unattached to the eye, unattached to the ear… the nose… the tongue… the body… the mind; unattached to forms… sounds… smells… tastes… tactile objects… a clan… a group… a dwelling… gain… fame… praise… pleasure… a robe… almsfood… a lodging… the requisite of medicine for the sick… the sense-sphere… the form-sphere… the formless-sphere… sense-existence… form-existence… formless-existence… existence with perception… existence without perception… existence with neither perception nor non-perception… existence with one constituent… existence with four constituents… existence with five constituents… the past… the future… the present… He is unattached to, not dependent on, not clinging to, not approaching, not engrossed in, not resolved on things seen, heard, sensed, and cognized. He has gone forth, is released, completely freed, disjoined, and dwells with a mind without boundaries. Such is that Buddha, the unattached one.
Đối với đức Phật, bậc Thế Tôn, sự nương tựa vào ái đã được đoạn trừ, sự nương tựa vào tà kiến đã được từ bỏ; do đã đoạn trừ sự nương tựa vào ái, do đã từ bỏ sự nương tựa vào tà kiến, nên bậc Thế Tôn không nương tựa vào mắt, tai... mũi... lưỡi... thân... ý; không nương tựa vào sắc... thanh... hương... vị... xúc... gia tộc... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh vọng... tán dương... lạc thú... y... vật thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh... cõi Dục... cõi Sắc... cõi Vô Sắc... Dục hữu... Sắc hữu... Vô Sắc hữu... Tưởng hữu... Vô Tưởng hữu... Phi Tưởng Phi Phi Tưởng hữu... Nhất Uẩn hữu... Tứ Uẩn hữu... Ngũ Uẩn hữu... quá khứ... vị lai... hiện tại... các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức. Ngài không y chỉ, không dính mắc, không đi đến, không chìm đắm, không quyết định; đã thoát ra, đã tách rời, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, Ngài an trú với tâm không còn giới hạn – đó là ý nghĩa ‘vị Phật ấy không nương tựa’.
Tādinti bhagavā pañcahākārehi tādī – iṭṭhāniṭṭhe tādī, cattāvīti tādī, tiṇṇāvīti tādī, muttāvīti tādī, taṃniddesā tādī.
As for 'steadfast': the Blessed One is steadfast in five ways: steadfast with regard to the agreeable and disagreeable; steadfast in having abandoned; steadfast in having crossed over; steadfast in being liberated; steadfast by that designation.
Về từ ‘Tādi’, bậc Thế Tôn là Tādi theo năm phương diện: là Tādi đối với điều mong muốn và không mong muốn, là Tādi vì đã từ bỏ, là Tādi vì đã vượt qua, là Tādi vì đã giải thoát, là Tādi vì được chỉ định như vậy.
Kathaṃ bhagavā iṭṭhāniṭṭhe tādī? Bhagavā lābhepi tādī, alābhepi tādī, yasepi tādī, ayasepi tādī, pasaṃsāyapi tādī nindāyapi tādī, sukhepi tādī, dukkhepi tādī; ekacce bāhaṃ gandhena limpeyyuṃ, ekacce bāhaṃ vāsiyā taccheyyuṃ, amukasmiṃ natthi rāgo, amukasmiṃ natthi paṭighaṃ, anunayapaṭighavippahīno ugghātinigghātivītivatto anurodhavirodhaṃ samatikkanto. Evaṃ bhagavā iṭṭhāniṭṭhe tādī.
How is the Blessed One steadfast with regard to the agreeable and disagreeable? The Blessed One is steadfast in gain and in loss, in fame and in disrepute, in praise and in blame, in pleasure and in pain. Some might anoint one of his arms with perfume, while others might chop one of his arms with an adze—yet in the former case, there is no lust, and in the latter case, there is no aversion. He has abandoned attraction and repulsion, has overcome exaltation and degradation, and has transcended fondness and aversion. Thus is the Blessed One steadfast with regard to the agreeable and disagreeable.
Thế nào là bậc Thế Tôn là Tādi đối với điều mong muốn và không mong muốn? Bậc Thế Tôn là Tādi khi được lợi lộc, là Tādi khi không được lợi lộc; là Tādi khi được danh vọng, là Tādi khi không được danh vọng; là Tādi khi được tán dương, là Tādi khi bị chê bai; là Tādi khi được an lạc, là Tādi khi bị đau khổ. Có người có thể thoa nước hoa lên một cánh tay của Ngài, có người có thể dùng rìu chặt cánh tay kia; đối với việc trước, không có tham ái; đối với việc sau, không có sân hận. Ngài đã từ bỏ thuận ý và nghịch ý, đã vượt qua sự nâng đỡ và đàn áp, đã siêu việt sự thiên vị và chống đối. Như vậy, bậc Thế Tôn là Tādi đối với điều mong muốn và không mong muốn.
Kathaṃ bhagavā cattāvīti tādī? Bhagavatā † rāgo catto vanto mutto pahīno paṭinissaṭṭho, doso…pe… moho… kodho… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe darathā… sabbe pariḷāhā… sabbe santāpā … sabbākusalābhisaṅkhārā cattā vantā muttā pahīnā paṭinissaṭṭhā. Evaṃ bhagavā cattāvīti tādī.
How is the Blessed One steadfast on account of having abandoned? By the Blessed One, lust has been abandoned, disgorged, released, given up, and relinquished; so too hatred, delusion, anger, enmity, contempt, spite, envy, miserliness, deceit, craftiness, obstinacy, contention, conceit, arrogance, vanity, and heedlessness; all defilements, all misconduct, all vexations, all fevers, all torments, and all unwholesome volitional formations have been abandoned, disgorged, released, given up, and relinquished. Thus, on account of having abandoned, the Blessed One is steadfast.
Thế nào là bậc Thế Tôn là Tādi vì đã từ bỏ? Bậc Thế Tôn đã từ bỏ, đã từ khước, đã giải thoát, đã đoạn trừ, đã xả ly tham, sân... si... phẫn... hận... phú... não... tật... xan... man... trá... ngoan cố... hiếu thắng... mạn... quá mạn... kiêu... dật... tất cả phiền não... tất cả ác hạnh... tất cả phiền muộn... tất cả nhiệt não... tất cả thiêu đốt... tất cả các hành bất thiện đã được từ bỏ, đã được từ khước, đã được giải thoát, đã được đoạn trừ, đã được xả ly. Như vậy, bậc Thế Tôn là Tādi vì đã từ bỏ.
Kathaṃ bhagavā tiṇṇāvīti tādī? Bhagavā kāmoghaṃ tiṇṇo, bhavoghaṃ tiṇṇo, diṭṭhoghaṃ tiṇṇo, avijjoghaṃ tiṇṇo, sabbaṃ saṃsārapathaṃ tiṇṇo uttiṇṇo nittiṇṇo atikkanto samatikkanto vītivatto. So vuṭṭhavāso ciṇṇacaraṇo gataddho gatadiso gatakoṭiyo pālitabrahmacariyo uttamadiṭṭhippatto bhāvitamaggo pahīnakileso paṭividdhākuppo sacchikatanirodho. Dukkhaṃ tassa pariññātaṃ, samudayo pahīno, maggo bhāvito, nirodho sacchikato, abhiññeyyaṃ abhiññātaṃ, pariññeyyaṃ pariññātaṃ, pahātabbaṃ pahīnaṃ, bhāvetabbaṃ bhāvitaṃ, sacchikātabbaṃ sacchikataṃ. So ukkhittapaḷigho † saṃkiṇṇaparikkho abbūḷhesiko niraggaḷo ariyo pannaddhajo pannabhāro visaññutto pañcaṅgavippahīno chaḷaṅgasamannāgato ekārakkho caturāpasseno panuṇṇapaccekasacco samavayasaṭṭhesano anāvilasaṅkappo passaddhakāyasaṅkhāro suvimuttacitto suvimuttapañño kevalī vusitavā uttamapuriso paramapuriso paramapattippatto. So nevācinati, nāpacinati; apacinitvā ṭhito neva pajahati, na upādiyati; pajahitvā ṭhito neva saṃsibbati, na usineti; visinetvā ṭhito neva vidhūpeti, na sandhūpeti; vidhūpetvā ṭhito, asekhena sīlakkhandhena samannāgatattā ṭhito, asekhena samādhikkhandhena samannāgatattā ṭhito, asekhena paññākkhandhena samannāgatattā ṭhito, asekhena vimuttikkhandhena samannāgatattā ṭhito, asekhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgatattā ṭhito, saccaṃ sampaṭipādiyitvā ṭhito, ejaṃ samatikkamitvā ṭhito, kilesaggiṃ pariyādiyitvā ṭhito, aparigamanatāya ṭhito, kaṭaṃ samādāya ṭhito, muttapaṭisevanatāya ṭhito, mettāya pārisuddhiyā ṭhito, karuṇāya pārisuddhiyā ṭhito, muditāya pārisuddhiyā ṭhito, upekkhāya pārisuddhiyā ṭhito, accantapārisuddhiyā ṭhito, atammayatāya pārisuddhiyā ṭhito, vimuttattā ṭhito, santusitattā ṭhito, khandhapariyante ṭhito, dhātupariyante ṭhito, āyatanapariyante ṭhito, gatipariyante ṭhito, upapattipariyante ṭhito, paṭisandhipariyante ṭhito, bhavapariyante ṭhito, saṃsārapariyante ṭhito, vaṭṭapariyante ṭhito, antime bhave ṭhito, antime samussaye ṭhito, antimadehadharo bhagavā.
How is the Blessed One 'Such a one' in having crossed over? The Blessed One has crossed over the flood of sensuality, crossed over the flood of existence, crossed over the flood of views, crossed over the flood of ignorance. He has crossed over, completely crossed over, thoroughly crossed over, transcended, fully transcended, and gone beyond the entire path of saṃsāra. He is one whose spiritual journey is completed, whose practice is fulfilled, who has traversed the long course, who has reached the destination, who has reached the ultimate end, whose holy life is fulfilled, who has reached the highest vision, who has developed the path, who has abandoned defilements, who has penetrated the unshakable, who has realized cessation. Suffering has been fully understood by him, its origin has been abandoned, the path has been developed, cessation has been realized. What is to be directly known has been directly known, what is to be fully understood has been fully understood, what is to be abandoned has been abandoned, what is to be developed has been developed, what is to be realized has been realized. He has lifted the bar, filled in the moat, drawn out the stake, is without a bolt, a noble one with banner lowered, burden laid down, unfettered. He has abandoned the five factors, is endowed with the six factors, with one protection, with four supports, who has dispelled individual truths, who has abandoned all seeking, whose resolve is undisturbed, whose bodily formations are calmed, whose mind is well-liberated, whose wisdom is well-liberated, a consummate one, one who has lived the life, the ultimate person, the supreme person, one who has reached the supreme attainment. He neither accumulates nor removes; having destroyed, he stands firm. He neither abandons nor grasps; having abandoned, he stands firm. He neither weaves nor is arrogant; having become dispassionate, he stands firm. He neither extinguishes nor kindles; having extinguished, he stands firm. He stands firm, being endowed with the aggregate of virtue of one beyond training; he stands firm, being endowed with the aggregate of concentration of one beyond training; he stands firm, being endowed with the aggregate of wisdom of one beyond training; he stands firm, being endowed with the aggregate of liberation of one beyond training; he stands firm, being endowed with the aggregate of knowledge and vision of liberation of one beyond training. Having fulfilled the truth, he stands firm; having transcended agitation, he stands firm; having extinguished the fire of defilements, he stands firm. He stands firm through non-returning, having done what was to be done, through non-partaking, through the purity of loving-kindness, through the purity of compassion, through the purity of gladness, through the purity of equanimity, through ultimate purity, through the purity of non-identification, through being liberated, through being content. He stands firm at the limit of the aggregates, at the limit of the elements, at the limit of the sense bases, at the limit of destinies, at the limit of rebirth, at the limit of relinking, at the limit of existence, at the limit of saṃsāra, at the limit of the round of existence, in his last existence, in his final embodiment; the Blessed One bears his final body.
Thế nào là Thế Tôn đã vượt qua nên là Tādi? Thế Tôn đã vượt qua bộc lậu của dục, đã vượt qua bộc lậu của hữu, đã vượt qua bộc lậu của kiến, đã vượt qua bộc lậu của vô minh, đã vượt qua, đã vượt thoát, đã hoàn toàn vượt thoát, đã đi qua, đã hoàn toàn đi qua, đã vượt khỏi tất cả con đường luân hồi. Vị ấy đã sống xong phạm hạnh, đã thực hành xong, đã đi hết quãng đường, đã đến được phương sở, đã đến được điểm cuối cùng, đã bảo hộ phạm hạnh, đã đạt đến chánh kiến tối thượng, đã tu tập đạo lộ, đã đoạn trừ phiền não, đã chứng ngộ sự bất động, đã thực chứng sự diệt tận. Đối với vị ấy, khổ đã được liễu tri, tập đã được đoạn tận, đạo đã được tu tập, diệt đã được thực chứng. Điều cần được thắng tri đã được thắng tri, điều cần được liễu tri đã được liễu tri, điều cần được đoạn tận đã được đoạn tận, điều cần được tu tập đã được tu tập, điều cần được thực chứng đã được thực chứng. Vị ấy đã nhổ lên thanh chắn cửa, đã lấp đầy hào sâu, đã rút lên cột trụ, không còn chướng ngại, là bậc Thánh, đã hạ cờ, đã đặt gánh nặng xuống, đã không còn dính mắc, đã từ bỏ năm chi phần, đã thành tựu sáu chi phần, có sự phòng hộ duy nhất, có bốn nơi nương tựa, đã loại trừ các chân lý riêng lẻ, đã từ bỏ sự tìm cầu một cách đồng đều, có tư duy không vẩn đục, có thân hành đã được an tịnh, có tâm được giải thoát hoàn toàn, có tuệ được giải thoát hoàn toàn, là bậc toàn giác, đã sống xong phạm hạnh, là bậc tối thượng, là bậc vô thượng, đã đạt đến sự chứng đắc tối hậu. Vị ấy không tích lũy, cũng không tiêu trừ; sau khi đã tiêu trừ (phiền não) thì an trú. Vị ấy không từ bỏ, cũng không chấp thủ; sau khi đã từ bỏ (tham ái và tà kiến) thì an trú. Vị ấy không khâu vá, cũng không dệt thêm; sau khi đã dệt xong thì an trú. Vị ấy không làm cho tắt, cũng không làm cho cháy lên; sau khi đã làm cho tắt (ngọn lửa tham ái) thì an trú. Vị ấy an trú do đã thành tựu uẩn giới vô học, an trú do đã thành tựu uẩn định vô học, an trú do đã thành tựu uẩn tuệ vô học, an trú do đã thành tựu uẩn giải thoát vô học, an trú do đã thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học. Vị ấy an trú sau khi đã hoàn thành chân lý, an trú sau khi đã vượt qua sự rung động, an trú sau khi đã dập tắt ngọn lửa phiền não, an trú do không còn quay trở lại, an trú sau khi đã nắm giữ điều đã làm, an trú do không còn thọ dụng những gì đã giải thoát, an trú trong sự thanh tịnh của từ, an trú trong sự thanh tịnh của bi, an trú trong sự thanh tịnh của hỷ, an trú trong sự thanh tịnh của xả, an trú trong sự thanh tịnh tuyệt đối, an trú trong sự thanh tịnh do không bị lệ thuộc, an trú do đã giải thoát, an trú do đã tri túc, an trú nơi tận cùng của các uẩn, an trú nơi tận cùng của các giới, an trú nơi tận cùng của các xứ, an trú nơi tận cùng của các cõi, an trú nơi tận cùng của sự tái sanh, an trú nơi tận cùng của sự nối liền, an trú nơi tận cùng của các hữu, an trú nơi tận cùng của luân hồi, an trú nơi tận cùng của vòng luân chuyển, an trú trong kiếp sống cuối cùng, an trú trong thân thể cuối cùng, là người mang thân cuối cùng, là Thế Tôn.
‘‘Tassāyaṃ pacchimako bhavo, carimoyaṃ samussayo;
Jātimaraṇasaṃsāro, natthi tassa punabbhavo’’ti.
For him, this is the final existence, this is the last embodiment. The round of birth and death is ended; for him there is no further becoming.
‘Đối với vị ấy, đây là kiếp sống cuối cùng, đây là thân thể sau rốt; vòng luân hồi sanh tử, sự tái sanh đối với vị ấy là không còn nữa.’”
Evaṃ bhagavā tiṇṇāvīti tādī.
Thus, because the Blessed One has crossed over, he is called 'Such a one' (Tādi).
Như vậy, Thế Tôn đã vượt qua nên là Tādi.
Kathaṃ bhagavā muttāvīti tādī? Bhagavato rāgā cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, dosā cittaṃ… mohā cittaṃ… kodhā… upanāhā… makkhā… paḷāsā… issāya… macchariyā… māyāya… sāṭheyyā… thambhā… sārambhā… mānā… atimānā… madā… pamādā… sabbakilesehi… sabbaduccaritehi… sabbadarathehi… sabbapariḷāhehi… sabbasantāpehi… sabbākusalābhisaṅkhārehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ. Evaṃ bhagavā muttāvīti tādī.
How is the Blessed One 'Such a one' because he is liberated? The Blessed One’s mind is liberated, especially liberated, and well-liberated from lust; likewise, his mind is liberated from hatred, from delusion, from anger, from enmity, from contempt, from insolence, from envy, from stinginess, from deceit, from craftiness, from stubbornness, from contention, from conceit, from arrogance, from intoxication, from heedlessness, from all defilements, from all misconduct, from all distress, from all fevers, from all torments, and from all unwholesome formations, the mind is liberated, especially liberated, and well-liberated. Thus, because the Blessed One is liberated, he is 'Such a one' (Tādi).
Thế nào là Thế Tôn đã giải thoát nên là Tādi? Tâm của Thế Tôn đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát khỏi tham ái; tâm ... khỏi sân hận; tâm ... khỏi si mê; khỏi phẫn nộ, ... khỏi oán hận, ... khỏi sự gièm pha, ... khỏi sự cạnh tranh, ... khỏi tật đố, ... khỏi bỏn xẻn, ... khỏi xảo trá, ... khỏi gian manh, ... khỏi ngoan cố, ... khỏi hiếu thắng, ... khỏi mạn, ... khỏi quá mạn, ... khỏi say đắm, ... khỏi dể duôi; tâm đã được giải thoát, đã được hoàn toàn giải thoát, đã được khéo giải thoát khỏi tất cả phiền não, ... khỏi tất cả hành vi xấu ác, ... khỏi tất cả sự phiền muộn, ... khỏi tất cả sự nóng bức, ... khỏi tất cả sự thiêu đốt, ... khỏi tất cả các hành bất thiện. Như vậy, Thế Tôn đã giải thoát nên là Tādi.
Kathaṃ bhagavā taṃniddesā tādī? Bhagavā sīle sati sīlavāti taṃniddesā tādī, saddhāya sati saddhoti taṃniddesā tādī, vīriye sati vīriyavāti taṃniddesā tādī, satiyā sati satimāti taṃniddesā tādī, samādhismiṃ sati samāhitoti taṃniddesā tādī, paññāya sati paññavāti taṃniddesā tādī, vijjāya sati tevijjoti taṃniddesā tādī, abhiññāya sati chaḷabhiññoti taṃniddesā tādī, dasabale sati dasabaloti taṃniddesā tādī. Evaṃ bhagavā taṃniddesā tādīti – taṃ buddhaṃ asitaṃ tādiṃ.
How is the Blessed One 'Such a one' (Tādi) by such designation? The Blessed One, when virtue is present, is called 'virtuous'; because of that designation, he is 'Such a one'. When faith is present, he is called 'faithful'; because of that designation, he is 'Such a one'. When energy is present, he is called 'energetic'; because of that designation, he is 'Such a one'. When mindfulness is present, he is called 'mindful'; because of that designation, he is 'Such a one'. When concentration is present, he is called 'concentrated'; because of that designation, he is 'Such a one'. When wisdom is present, he is called 'wise'; because of that designation, he is 'Such a one'. When knowledge is present, he is called 'possessor of the threefold knowledge'; because of that designation, he is 'Such a one'. When direct knowledge is present, he is called 'possessor of the sixfold direct knowledge'; because of that designation, he is 'Such a one'. When the ten powers are present, he is called 'possessor of the ten powers'; because of that designation, he is 'Such a one'. Thus, the Blessed One is 'Such a one' by such designation. This explains the phrase: 'that Buddha, unattached, Such a one'.
Thế nào là Thế Tôn là Tādi do sự chỉ định ấy? Khi có giới, Thế Tôn là bậc có giới, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có tín, vị ấy là bậc có tín, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có tinh tấn, vị ấy là bậc có tinh tấn, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có niệm, vị ấy là bậc có niệm, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có định, vị ấy là bậc có định, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có tuệ, vị ấy là bậc có tuệ, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có minh, vị ấy là bậc tam minh, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có thắng trí, vị ấy là bậc lục thông, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Khi có mười lực, vị ấy là bậc có mười lực, do sự chỉ định ấy nên là Tādi. Như vậy, Thế Tôn là Tādi do sự chỉ định ấy – vị Phật ấy không bị dính mắc, là bậc Tādi.
Akuhaṃ gaṇimāgatanti. Akuhoti tīṇi kuhanavatthūni – paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu, sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
Regarding the phrase 'Not deceitful, come to the multitude': 'Not deceitful' (akuho) refers to the absence of the three grounds for deceit. These are: the ground for deceit designated as the partaking of requisites, the ground for deceit designated as deportment, and the ground for deceit designated as insinuation.
Về câu (vị ấy) không lừa dối, đã đi đến giữa hội chúng. Không lừa dối có nghĩa là ba cơ sở của sự lừa dối: cơ sở của sự lừa dối được gọi là sự thọ dụng các vật dụng, cơ sở của sự lừa dối được gọi là oai nghi, cơ sở của sự lừa dối được gọi là lời nói bóng gió.
Katamaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idha gahapatikā bhikkhuṃ nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi. So pāpiccho icchāpakato atthiko † cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṃ bhiyyokamyataṃ upādāya cīvaraṃ paccakkhāti, piṇḍapātaṃ paccakkhāti, senāsanaṃ paccakkhāti, gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paccakkhāti. So evamāha – ‘‘kiṃ samaṇassa mahagghena cīvarena! Etaṃ sāruppaṃ, yaṃ samaṇo susānā vā saṅkārakūṭā vā pāpaṇikā vā nantakāni uccinitvā saṅghāṭiṃ karitvā dhāreyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena piṇḍapātena! Etaṃ sāruppaṃ, yaṃ samaṇo uñchācariyāya piṇḍiyālopena jīvitaṃ kappeyya. Kiṃ samaṇassa mahagghena senāsanena! Etaṃ sāruppaṃ, yaṃ samaṇo rukkhamūliko vā assa sosāniko vā abbhokāsiko vā. Kiṃ samaṇassa mahagghena gilānapaccayabhesajjaparikkhārena! Etaṃ sāruppaṃ, yaṃ samaṇo pūtimuttena haritakīkhaṇḍena osadhaṃ kareyyā’’ti tadupādāya lūkhaṃ cīvaraṃ dhāreti, lūkhaṃ piṇḍapātaṃ paribhuñjati, lūkhaṃ senāsanaṃ paṭisevati, lūkhaṃ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭisevati. Tamenaṃ gahapatikā evaṃ jānanti – ‘‘ayaṃ samaṇo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo dhutavādo’’ti bhiyyo bhiyyo nimantenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārehi. So evamāha – ‘‘tiṇṇaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, saddhāya sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, deyyadhammassa sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati, dakkhiṇeyyānaṃ sammukhībhāvā saddho kulaputto bahuṃ puññaṃ pasavati. Tumhākañcevāyaṃ saddhā atthi, deyyadhammo ca saṃvijjati, ahañca paṭiggāhako. Sace ahaṃ na paṭiggahessāmi, evaṃ tumhe puññena paribāhirā † bhavissatha, na mayhaṃ iminā attho, api ca tumhākaṃyeva anukampāya paṭiggaṇhāmī’’ti. Tadupādāya bahumpi cīvaraṃ paṭiggaṇhāti †, bahumpi piṇḍapātaṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi senāsanaṃ paṭiggaṇhāti, bahumpi gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭiggaṇhāti. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ paccayapaṭisevanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the basis of deceit called the partaking of requisites? Here, householders invite a monk with robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites. That monk, being of evil desires, overcome by longing, and desirous of an abundance of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites, on that account refuses robes, refuses almsfood, refuses lodging, and refuses medicinal requisites. He says thus: 'What need has a renunciate for a costly robe? It is suitable that a renunciate, having gathered rags from a charnel ground, a rubbish heap, or a shop-front, and having made a patchwork robe, should wear it. What need has a renunciate for costly almsfood? It is suitable that a renunciate should maintain his life on lumps of food obtained by gleaning. What need has a renunciate for costly lodging? It is suitable that a renunciate should dwell at the foot of a tree, in a charnel ground, or in the open air. What need has a renunciate for costly medicinal requisites? It is suitable that a renunciate should make medicine with fermented urine and a piece of myrobalan.' On that account, he wears a coarse robe, consumes coarse almsfood, uses coarse lodging, and partakes of coarse medicinal requisites. The householders invite him again and again with robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites. He then says thus: 'Due to the presence of three things, a faithful clansman generates much merit: due to the presence of faith, a faithful clansman generates much merit; due to the presence of a gift, a faithful clansman generates much merit; due to the presence of worthy recipients, a faithful clansman generates much merit. You have this faith, a gift is available, and I am the recipient. If I do not accept, you will thus be deprived of merit. I have no need for this, but I accept out of compassion for you alone.' On that account, he accepts many robes, accepts much almsfood, accepts much lodging, and accepts many medicinal requisites. Such scowling, frowning, deception, scheming, and duplicity—this is the basis of deceit called the partaking of requisites.
Thế nào là sự việc lừa dối được gọi là sự thọ dụng các vật dụng? Ở đây, các gia chủ thỉnh mời vị tỳ khưu với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc. Vị ấy có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chi phối, là người có lòng tham, do nương vào sự mong muốn nhiều hơn đối với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc nên đã từ chối y phục, từ chối vật thực khất thực, từ chối sàng tọa, từ chối dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc. Vị ấy nói như vầy: ‘Đối với vị sa-môn, y phục đắt tiền để làm gì! Điều này là thích hợp, tức là vị sa-môn sau khi lượm lặt các miếng giẻ rách từ nghĩa địa, hoặc từ đống rác, hoặc từ cửa tiệm rồi làm thành y phấn tảo để mặc. Đối với vị sa-môn, vật thực khất thực đắt tiền để làm gì! Điều này là thích hợp, tức là vị sa-môn nên duy trì mạng sống bằng miếng ăn nhận được do hạnh lượm lặt. Đối với vị sa-môn, sàng tọa đắt tiền để làm gì! Điều này là thích hợp, tức là vị sa-môn nên là người sống ở gốc cây, hoặc là người sống ở nghĩa địa, hoặc là người sống ở ngoài trời. Đối với vị sa-môn, dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc đắt tiền để làm gì! Điều này là thích hợp, tức là vị sa-môn nên làm thuốc bằng nước tiểu mục và một miếng kha tử.’ Do nương vào điều ấy, vị ấy mặc y thô xấu, thọ dụng vật thực khất thực thô xấu, sử dụng sàng tọa thô xấu, sử dụng dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc thô xấu. Các gia chủ biết về vị ấy như vầy: ‘Vị sa-môn này thiểu dục, biết đủ, sống viễn ly, không giao du, tinh tấn, là người thuyết về hạnh đầu-đà,’ rồi lại càng thỉnh mời nhiều hơn nữa với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc. Vị ấy nói như vầy: ‘Do sự hiện diện của ba điều, người thiện nam tử có đức tin tạo ra được nhiều phước báu. Do sự hiện diện của đức tin, người thiện nam tử có đức tin tạo ra được nhiều phước báu. Do sự hiện diện của vật thí, người thiện nam tử có đức tin tạo ra được nhiều phước báu. Do sự hiện diện của những vị đáng được cúng dường, người thiện nam tử có đức tin tạo ra được nhiều phước báu. Quý vị đây có đức tin ấy, và vật thí cũng hiện có, còn tôi là người thọ nhận. Nếu tôi không thọ nhận thì như vậy quý vị sẽ bị ra ngoài phước báu. Tôi không có nhu cầu về việc này, tuy nhiên tôi thọ nhận chỉ vì lòng thương tưởng đến quý vị.’ Do nương vào điều ấy, vị ấy thọ nhận nhiều y phục, thọ nhận nhiều vật thực khất thực, thọ nhận nhiều sàng tọa, thọ nhận nhiều dược phẩm trị bệnh cùng các vật phụ thuộc. Bất cứ sự cau có, trạng thái cau có, sự lừa dối, hành vi lừa dối, bản chất lừa dối có bản chất như vậy – đây là sự việc lừa dối được gọi là sự thọ dụng các vật dụng.
Katamaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo, ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti gamanaṃ saṇṭhapeti, ṭhānaṃ saṇṭhapeti, nisajjaṃ saṇṭhapeti, sayanaṃ saṇṭhapeti, paṇidhāya gacchati, paṇidhāya tiṭṭhati, paṇidhāya nisīdati, paṇidhāya seyyaṃ kappeti, samāhito viya gacchati, samāhito viya tiṭṭhati, samāhito viya nisīdati, samāhito viya seyyaṃ kappeti, āpāthakajjhāyīva hoti. Yā evarūpā iriyāpathassa āṭhapanā ṭhapanā saṇṭhapanā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ iriyāpathasaṅkhātaṃ kuhanavatthu.
What is the basis of deception called 'deportment'? Here, a certain person—being of evil desire, overcome by evil desire, and aspiring to be esteemed—thinking, 'Thus people will esteem me,' establishes a way of walking, establishes a way of standing, establishes a way of sitting, and establishes a way of lying down. Having made a resolve, they walk; having made a resolve, they stand; having made a resolve, they sit; having made a resolve, they arrange their lying down. They walk as if composed, they stand as if composed, they sit as if composed, they arrange their lying down as if composed; they appear to onlookers as if absorbed in jhāna. Whatever such placing, setting up, and well-establishing of deportment; frowning and the state of frowning; deception, the manner of deception, and the state of being a deceiver—this is the basis of deception called 'deportment'.
Thế nào là sự việc lừa dối được gọi là oai nghi? Ở đây, có người có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chi phối, có chủ ý muốn được tôn trọng, với ý nghĩ rằng: ‘Như vầy, người ta sẽ tôn trọng ta,’ rồi sắp đặt việc đi, sắp đặt việc đứng, sắp đặt việc ngồi, sắp đặt việc nằm. Vị ấy đi một cách có chủ tâm, đứng một cách có chủ tâm, ngồi một cách có chủ tâm, sửa soạn chỗ nằm một cách có chủ tâm. Vị ấy đi dường như có định, đứng dường như có định, ngồi dường như có định, sửa soạn chỗ nằm dường như có định. Vị ấy giống như là người đang nhập thiền một cách giả tạo. Bất cứ sự sắp đặt, sự bố trí, sự dàn dựng oai nghi, sự cau có, trạng thái cau có, sự lừa dối, hành vi lừa dối, bản chất lừa dối có bản chất như vậy – đây là sự việc lừa dối được gọi là oai nghi.
Katamaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu? Idhekacco pāpiccho icchāpakato sambhāvanādhippāyo ‘‘evaṃ maṃ jano sambhāvessatī’’ti, ariyadhammasannissitaṃ vācaṃ bhāsati. ‘‘Yo evarūpaṃ cīvaraṃ dhāreti so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpaṃ pattaṃ dhāreti… lohathālakaṃ dhāreti… dhammakaraṇaṃ † dhāreti… parissāvanaṃ dhāreti… kuñcikaṃ dhāreti… upāhanaṃ dhāreti… kāyabandhanaṃ dhāreti… āyogaṃ dhāreti, so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yassa evarūpo upajjhāyo so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yassa evarūpo ācariyo… evarūpā samānupajjhāyakā… samānācariyakā… mittā… sandiṭṭhā… sambhattā… sahāyā, so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpe vihāre vasati, so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati; ‘‘yo evarūpe aḍḍhayoge vasati… pāsāde vasati… hammiye vasati… guhāyaṃ vasati… leṇe vasati… kuṭiyā vasati… kūṭāgāre vasati… aṭṭe vasati … māḷe vasati… uddaṇḍe vasati… upaṭṭhānasālāyaṃ vasati… maṇḍape vasati… rukkhamūle vasati, so samaṇo mahesakkho’’ti bhaṇati.
What is the basis of deception called 'allusive talk'? Here, someone with evil desires, overcome by longing, aiming for esteem, thinking, 'Thus people will esteem me,' speaks words connected with the speech of the Noble Ones. He says: 'A monk who wears such a robe is a monk of great power.' He says: 'A monk who carries such a bowl... a bronze bowl... a water pot with a filter... a water strainer... an iron hook... sandals... a girdle... a cloth band is a monk of great power.' He says: 'A monk whose preceptor is such is a monk of great power.' He says: 'A monk whose teacher... whose fellow preceptors... whose fellow teachers... whose friends... whose acquaintances... whose intimates... whose companions are such is a monk of great power.' He says: 'A monk who dwells in such a monastery is a monk of great power.' He says: 'A monk who dwells in such a half-gabled building... a storied building... an upper story... a cave... a gabled building... a watchtower... a terrace... a storehouse... an assembly hall... a pavilion... at the foot of a tree is a monk of great power.'
Thế nào là sự việc lừa dối được gọi là lời nói bóng gió? Ở đây, có người có ước muốn xấu xa, bị ước muốn chi phối, có chủ ý muốn được tôn trọng, với ý nghĩ rằng: ‘Như vầy, người ta sẽ tôn trọng ta,’ rồi nói ra lời nói có liên quan đến Thánh Pháp. Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào mặc loại y phục như vậy là người có đại thần lực;’ Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào mang loại bát như vậy… mang cái đĩa bằng đồng… mang cái lọc nước… mang cái lọc nước… mang chìa khóa… mang giày… mang dây thắt lưng… mang tấm vải āyoga, vị sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào có vị thầy tế độ như vậy là người có đại thần lực;’ Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào có vị thầy dạy dỗ như vậy… có các vị đồng thầy tế độ… có các vị đồng thầy dạy dỗ… có các bạn bè… có các người quen biết… có các người thân thiết… có các bạn đồng hành, vị sa-môn ấy là người có đại thần lực;’ Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào sống ở trong ngôi tịnh xá như vậy là người có đại thần lực;’ Vị ấy nói rằng: ‘Vị sa-môn nào sống ở trong ngôi nhà một mái như vậy… sống ở trong lâu đài… sống ở trong lầu son… sống ở trong hang động… sống ở trong sơn động… sống ở trong cái am… sống ở trong ngôi nhà có nóc nhọn… sống ở trong tháp canh… sống ở trong sảnh đường… sống ở trong nhà kho… sống ở trong nhà hội… sống ở trong nhà tạ… sống ở dưới gốc cây, vị sa-môn ấy là người có đại thần lực.’
Atha vā korajikakorajiko, bhākuṭikabhākuṭiko, kuhakakuhako, lapakalapako, mukhasambhāvito ‘‘ayaṃ samaṇo imāsaṃ evarūpānaṃ vihārasamāpattīnaṃ lābhī’’ti. Tādisaṃ gambhīraṃ gūḷhaṃ nipuṇaṃ paṭicchannaṃ lokuttaraṃ suññatāpaṭisaññuttaṃ kathaṃ katheti. Yā evarūpā bhākuṭikā bhākuṭiyaṃ kuhanā kuhāyanā kuhitattaṃ – idaṃ sāmantajappanasaṅkhātaṃ kuhanavatthu. Buddhassa bhagavato imāni tīṇi kuhanavatthūni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni. Tasmā buddho akuhoti – akuhaṃ.
Or alternatively, being one who constantly scowls, constantly frowns, is utterly deceitful, and exceedingly talkative, one praised by his own mouth, implying, 'This monk is a gainer of such meditative attainments,' he speaks such profound, hidden, subtle, concealed, supramundane talk connected with emptiness. Whatever such frowning, the act of frowning, deception, the manner of deception, and the state of being a deceiver—this is the basis of deception called 'allusive talk.' For the Blessed Buddha, these three bases of deception have been abandoned, cut off, stilled, pacified, are incapable of arising, and have been burned by the fire of knowledge. Therefore, the Buddha is without deception—the Undeceptive.
Hoặc là, (người ấy) là người rất hay làm ra vẻ nghiêm nghị, là người rất hay cau mày, là người rất hay lừa dối, là người rất hay ba hoa, được tán dương bởi miệng của mình rằng: “Vị Sa-môn này là người chứng đắc các thiền chứng an trú như thế này.” (Vị ấy) nói lên lời nói như thế, thâm sâu, kín đáo, vi tế, che đậy, siêu thế, tương ưng với tánh không. Sự cau mày như thế, việc cau mày, sự lừa dối, cách thức lừa dối, bản chất của người lừa dối – đây là căn cớ của sự lừa dối được gọi là sự nói gần. Đối với đức Phật, Thế Tôn, ba căn cớ của sự lừa dối này đã được đoạn tận, đã được cắt đứt, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng tái sanh, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. Do đó, đức Phật là người không lừa dối – (nên gọi là) Akuhaṃ.
Gaṇimāgatanti. Gaṇīti gaṇī bhagavā. Gaṇācariyoti gaṇī, gaṇassa satthāti gaṇī, gaṇaṃ pariharatīti gaṇī, gaṇaṃ ovadatīti gaṇī, gaṇaṃ anusāsatīti gaṇī, visārado gaṇaṃ upasaṅkamatīti gaṇī, gaṇassa sussūsati sotaṃ odahati aññā cittaṃ upaṭṭhapetīti gaṇī, gaṇaṃ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetīti gaṇī, bhikkhugaṇassa gaṇī, bhikkhunīgaṇassa gaṇī, upāsakagaṇassa gaṇī, upāsikāgaṇassa gaṇī, rājagaṇassa gaṇī, khattiyagaṇassa gaṇī, brāhmaṇagaṇassa gaṇī, vessagaṇassa gaṇī, suddagaṇassa gaṇī, brahmagaṇassa gaṇī, devagaṇassa gaṇī, saṅghiṃ † gaṇiṃ gaṇācariyaṃ. Āgatanti upagataṃ samupagataṃ samupapannaṃ † saṅkassanagaranti – akuhaṃ gaṇimāgataṃ.
Regarding `gaṇimāgataṃ`. `Gaṇī`: The Blessed One is a `gaṇī` (leader). He is a `gaṇī` because he is the teacher of a group; he is a `gaṇī` because he is the instructor of the group; he is a `gaṇī` because he guides the group; he is a `gaṇī` because he advises the group; he is a `gaṇī` because he instructs the group; he is a `gaṇī` because, being confident, he approaches the group; he is a `gaṇī` because the group is eager to hear him, lends an ear, and applies the mind for the purpose of understanding; he is a `gaṇī` because, having raised the group from unwholesome states, he establishes them in wholesome states. He is the leader of the group of monks, the group of nuns, the group of male lay followers, the group of female lay followers, the group of kings, the group of nobles, the group of brahmins, the group of merchants, the group of commoners, the group of Brahmās, and the group of devas. He has a following, has a group, and is the teacher of a group. `Āgataṃ` means come to, approached, well approached, arrived at the city of Saṅkassa. Thus: `akuhaṃ gaṇimāgataṃ`.
Về câu Gaṇimāgataṃ. Gaṇī có nghĩa là Thế Tôn là bậc có chúng hội. Là bậc Đạo sư của chúng hội, nên là Gaṇī. Là bậc Thầy giáo huấn chúng hội, nên là Gaṇī. Dẫn dắt chúng hội, nên là Gaṇī. Giáo giới chúng hội, nên là Gaṇī. Chỉ dạy chúng hội, nên là Gaṇī. Một cách vô úy, đi đến chúng hội, nên là Gaṇī. Chúng hội lắng nghe, chú tâm, thiết lập tâm để hiểu biết lời dạy của Ngài, nên là Gaṇī. Khiến chúng hội ra khỏi điều bất thiện và an lập trong điều thiện, nên là Gaṇī. Ngài là bậc có chúng hội Tỳ-khưu, có chúng hội Tỳ-khưu-ni, có chúng hội nam cận sự, có chúng hội nữ cận sự, có chúng hội vua chúa, có chúng hội Sát-đế-lỵ, có chúng hội Bà-la-môn, có chúng hội thương gia, có chúng hội thường dân, có chúng hội Phạm thiên, có chúng hội chư thiên. (Ngài là) bậc có đoàn thể, có chúng hội, là bậc Đạo sư của chúng hội. Āgataṃ có nghĩa là đã đến, đã đi đến, đã đi đến gần, đã đạt đến thành Saṅkassa. – (Đây là ý nghĩa của) akuhaṃ gaṇimāgataṃ.
Bahūnamidha baddhānanti. Bahūnaṃ khattiyānaṃ brāhmaṇānaṃ vessānaṃ suddānaṃ gahaṭṭhānaṃ pabbajitānaṃ devānaṃ manussānaṃ. Baddhānanti baddhānaṃ baddhacarānaṃ paricārakānaṃ sissānanti – bahūnamidha baddhānaṃ.
Regarding `bahūnamidha baddhānaṃ`. Of many here—nobles, brahmins, merchants, commoners, householders, renunciates, devas, and humans. Regarding `baddhānaṃ`: of those who are associated, of those whose conduct is devoted, of the attendants, of the disciples. Thus: `bahūnamidha baddhānaṃ`.
Về câu Bahūnamidha baddhānaṃ. Của nhiều người thuộc dòng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương gia, thường dân, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. Baddhānaṃ có nghĩa là của những người đã gắn bó, những người có hành vi gắn bó, những người phục vụ, những người đệ tử. – (Đây là ý nghĩa của) bahūnamidha baddhānaṃ.
Atthi pañhena āgamanti. Pañhena atthiko āgatomhi †, pañhaṃ pucchitukāmo āgatomhi, pañhaṃ sotukāmo āgatomhīti. Evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā pañhatthikānaṃ pañhaṃ pucchitukāmānaṃ pañhaṃ sotukāmānaṃ āgamanaṃ abhikkamanaṃ upasaṅkamanaṃ payirupāsanaṃ † siyā atthīti. Evampi atthi pañhena āgamaṃ. Atha vā pañhāgamo tuyhaṃ atthi, tvampi pahu †, tvamasi alamattho mayā pucchitaṃ kathetuṃ visajjetuṃ ‘‘vahassetaṃ bhāra’’nti. Evampi atthi pañhena āgamaṃ.
Regarding `atthi pañhena āgamaṃ`. 'We have come with need of a question; we have come desiring to ask a question; we have come desiring to hear a question.' This is one meaning of `atthi pañhena āgamaṃ`. Or alternatively, for those who have need of a question, who desire to ask a question, who desire to hear a question, there may be a coming, an approaching, a drawing near, an attending upon. This is also a meaning of `atthi pañhena āgamaṃ`. Or alternatively, 'One with a question has come to you; you are capable, you are competent to state and to explain what is asked by me. Bear this burden.' This is also a meaning of `atthi pañhena āgamaṃ`.
Về câu Atthi pañhena āgamaṃ. "Tôi đã đến vì có nhu cầu về câu hỏi", "Tôi đã đến vì muốn hỏi câu hỏi", "Tôi đã đến vì muốn nghe câu hỏi". Theo cách này cũng là ý nghĩa của atthi pañhena āgamaṃ. Hoặc là, có sự đến, sự đi tới, sự tiếp cận, sự hầu cận của những người có nhu cầu về câu hỏi, của những người muốn hỏi câu hỏi, của những người muốn nghe câu hỏi. Theo cách này cũng là ý nghĩa của atthi pañhena āgamaṃ. Hoặc là, "Ngài có sự đến của người hỏi, Ngài cũng có khả năng, Ngài có đủ năng lực để nói, để giải đáp điều được tôi hỏi. Xin hãy gánh vác gánh nặng này". Theo cách này cũng là ý nghĩa của atthi pañhena āgamaṃ.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói:
‘‘Taṃ buddhaṃ asitaṃ tādiṃ, akuhaṃ gaṇimāgataṃ;
Bahūnamidha baddhānaṃ, atthi pañhena āgama’’nti.
“To that Buddha, the unattached, the Such One, the Undeceptive, who has come as the leader of a group; for the many here who are devoted, we have come with a question.”
“Vị Phật ấy, không bị trói buộc, bậc như vậy, không lừa dối, đã đến giữa chúng hội; của nhiều người đã gắn bó ở đây, chúng con đến vì có câu hỏi.”
193.
193.
193.
Bhikkhuno vijigucchato, bhajato rittamāsanaṃ;
Rukkhamūlaṃ susānaṃ vā, pabbatānaṃ guhāsu vā.
For a monk who feels revulsion, resorting to a secluded seat, the root of a tree or a charnel ground, or the caves of mountains.
Đối với vị Tỳ-khưu đang ghê tởm, đang lui tới chỗ ở vắng vẻ; hoặc gốc cây, hoặc nghĩa địa, hoặc trong các hang động của núi.
Bhikkhuno vijigucchatoti. Bhikkhunoti puthujjanakalyāṇassa vā bhikkhuno sekkhassa vā bhikkhuno. Vijigucchatoti jātiyā vijigucchato, jarāya… byādhinā… maraṇena… sokehi… paridevehi… dukkhehi… domanassehi… upāyāsehi vijigucchato, nerayikena dukkhena… tiracchānayonikena dukkhena… pettivisayikena dukkhena… mānusikena † dukkhena… gabbhokkantimūlakena dukkhena… gabbhaṭṭhitimūlakena dukkhena… gabbhavuṭṭhānamūlakena dukkhena… jātassūpanibandhakena dukkhena… jātassa parādheyyakena dukkhena… attūpakkamena dukkhena… parūpakkamena dukkhena… dukkhadukkhena… saṅkhāradukkhena … vipariṇāmadukkhena… cakkhurogena dukkhena… sotarogena dukkhena… ghānarogena dukkhena… jivhārogena dukkhena… kāyarogena dukkhena… sīsarogena dukkhena… kaṇṇarogena dukkhena… mukharogena dukkhena… dantarogena dukkhena… kāsena… sāsena… pināsena… ḍāhena… jarena… kucchirogena… mucchāya… pakkhandikāya… sūlāya… visūcikāya… kuṭṭhena… gaṇḍena… kilāsena… sosena… apamārena… dadduyā… kaṇḍuyā… kacchuyā… rakhasāya… vitacchikāya… lohitena… pittena… madhumehena… aṃsāya… piḷakāya… bhagandalena… pittasamuṭṭhānena ābādhena… semhasamuṭṭhānena ābādhena… vātasamuṭṭhānena ābādhena… sannipātikena ābādhena… utupariṇāmajena ābādhena… visamaparihārajena ābādhena… opakkamikena ābādhena… kammavipākajena ābādhena… sītena… uṇhena… jighacchāya… pipāsāya… uccārena … passāvena… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassena dukkhena… mātumaraṇena dukkhena… pitumaraṇena dukkhena… bhātumaraṇena… bhaginimaraṇena… puttamaraṇena … dhītumaraṇena… ñātibyasanena… bhogabyasanena… rogabyasanena… sīlabyasanena… diṭṭhibyasanena dukkhena vijigucchato aṭṭīyato harāyato jigucchatoti – bhikkhuno vijigucchato.
Regarding 'Of a monk, being disgusted': 'Of a monk' means of a monk who is a virtuous worldling, or of a monk who is a learner. 'Being disgusted' means being disgusted with birth, with aging, with sickness, with death, with sorrows, with lamentations, with pains, with griefs, with despairs; being disgusted with the suffering in hell, with the suffering in the animal realm, with the suffering in the peta realm, with the suffering in the human realm, with the suffering rooted in descending into the womb, with the suffering rooted in remaining in the womb, with the suffering rooted in emerging from the womb, with the suffering tied to a newborn, with the suffering of a newborn being dependent on others, with the suffering caused by oneself, with the suffering caused by others, with suffering as pain, with the suffering of formations, with the suffering due to change, with the suffering from eye-disease, with the suffering from ear-disease, with the suffering from nose-disease, with the suffering from tongue-disease, with the suffering from body-disease, with the suffering from head-disease, with the suffering from ear-disease, with the suffering from mouth-disease, with the suffering from tooth-disease, with coughing, with asthma, with catarrh, with burning fever, with fever, with stomach-disease, with fainting, with dysentery, with sharp pains, with cholera, with leprosy, with tumors, with skin disease, with consumption, with epilepsy, with eczema, with the itch, with scabies, with sores from scratching, with chaps on hands and feet, with a disorder of blood and bile, with diabetes, with boils, with pustules, with fistula in the anus, with illness originating from bile, with illness originating from phlegm, with illness originating from wind, with illness originating from a combination of the humors, with illness caused by change of season, with illness caused by improper conduct, with illness caused by assault, with illness caused by the result of kamma, with cold, with heat, with hunger, with thirst, with feces, with urine, with the suffering from contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things, with the suffering from the death of one's mother, with the suffering from the death of one's father, with the death of one's brother, with the death of one's sister, with the death of one's son, with the death of one's daughter, with the loss of relatives, with the loss of wealth, with the affliction by disease, with the loss of virtue, with the loss of right view. Being disgusted, afflicted, ashamed, and loathing—this is the meaning of 'of a monk, being disgusted'.
Về câu Bhikkhuno vijigucchato. Bhikkhuno có nghĩa là đối với vị Tỳ-khưu là phàm phu thiện, hoặc đối với vị Tỳ-khưu là bậc hữu học. Vijigucchato có nghĩa là đang ghê tởm sự sanh, đang ghê tởm sự già... bệnh... chết... sầu... bi... khổ... ưu... não; đang ghê tởm khổ ở địa ngục... khổ ở bàng sanh... khổ ở cõi ngạ quỷ... khổ ở cõi người... khổ có gốc rễ từ sự nhập thai... khổ có gốc rễ từ sự lưu lại trong thai... khổ có gốc rễ từ sự ra khỏi thai... khổ do sự ràng buộc của người được sanh ra... khổ do sự lệ thuộc vào người khác của người được sanh ra... khổ do tự mình nỗ lực... khổ do người khác nỗ lực... khổ khổ... hành khổ... hoại khổ... khổ do bệnh mắt... bệnh tai... bệnh mũi... bệnh lưỡi... bệnh thân... bệnh đầu... bệnh tai (vành tai)... bệnh miệng... bệnh răng... ho... hen suyễn... sổ mũi... nóng sốt... sốt rét... bệnh bụng... ngất xỉu... kiết lỵ... đau nhói... thổ tả... bệnh cùi... ung nhọt... lang ben... lao phổi... động kinh... ghẻ lở... ngứa... mụn nhọt... bệnh nứt nẻ da... bệnh nứt nẻ tay chân... bệnh mật có máu... bệnh tiểu đường... bệnh ở vai... mụn nhọt... bệnh rò hậu môn... bệnh do mật sanh khởi... bệnh do đàm sanh khởi... bệnh do gió sanh khởi... bệnh do sự kết hợp (của ba thứ trên) sanh khởi... bệnh do thời tiết thay đổi sanh khởi... bệnh do sự chăm sóc không đồng đều sanh khởi... bệnh do sự tấn công (từ bên ngoài) sanh khởi... bệnh do quả của nghiệp sanh khởi... khổ do lạnh... nóng... đói... khát... phân... nước tiểu... khổ do sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát... khổ do mẹ chết... cha chết... anh/em trai chết... chị/em gái chết... con trai chết... con gái chết... sự tổn thất bà con... sự tổn thất tài sản... sự tổn thất do bệnh tật... sự tổn thất giới... sự tổn thất tri kiến; đang ghê tởm, đang chán ngán, đang hổ thẹn, đang ghê tởm. – (Đây là ý nghĩa của) bhikkhuno vijigucchato.
Bhajato rittamāsananti. Āsanaṃ vuccati yattha nisīdati – mañco pīṭhaṃ bhisi taṭṭikā cammakhaṇḍo tiṇasanthāro paṇṇasanthāro palālasanthāro †. Taṃ āsanaṃ asappāyarūpadassanena rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ, asappāyasaddassavanena rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ, asappāyehi pañcahi kāmaguṇehi rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ. Taṃ pavivittaṃ āsanaṃ bhajato sambhajato sevato nisevato saṃsevato paṭisevatoti – bhajato rittamāsanaṃ.
Frequenting a secluded seat: A seat is called that on which one sits—a couch, a chair, a cushion, a mat, a piece of leather, a grass spread, a leaf spread, or a straw spread. That seat is empty, secluded, and utterly secluded from the sight of unsuitable forms; empty, secluded, and utterly secluded from the sound of unsuitable sounds; empty, secluded, and utterly secluded from the five unsuitable strands of sensual pleasure. For one who frequents, frequents well, resorts to, resorts to well, resorts to repeatedly, and resorts to intimately that utterly secluded seat—thus, 'frequenting a secluded seat'.
Thân cận chỗ ở trống vắng (Bhajato rittamāsananti). Chỗ ở (āsanaṃ) được gọi là nơi mà vị ấy ngồi – giường, ghế đẩu, nệm bông gòn, chiếu da, mảnh da thú, thảm cỏ, thảm lá cây, thảm rơm. Chỗ ở ấy là trống không, vắng lặng, hoàn toàn vắng lặng đối với việc nhìn thấy các sắc không thích hợp; là trống không, vắng lặng, hoàn toàn vắng lặng đối với việc nghe thấy các tiếng không thích hợp; là trống không, vắng lặng, hoàn toàn vắng lặng đối với năm dục trưởng dưỡng không thích hợp. Vị ấy thân cận, gần gũi, lui tới, thường lui tới, giao du, phục vụ chỗ ở hoàn toàn vắng lặng ấy – (cho nên được gọi là) thân cận chỗ ở trống vắng.
Rukkhamūlaṃ susānaṃ vāti. Rukkhamūlaṃyeva rukkhamūlaṃ, susānaṃyeva susānanti – rukkhamūlaṃ susānaṃ vā. Pabbatānaṃ guhāsu vāti. Pabbatāyeva pabbatā, kandarāyeva kandarā, giriguhāyeva giriguhā. Pabbatantarikāyo vuccanti pabbatapabbhārāti – pabbatānaṃ guhāsu vā.
The root of a tree, or a charnel ground: The root of a tree is just the root of a tree, a charnel ground is just a charnel ground—thus, 'the root of a tree, or a charnel ground'. Or in the caves of mountains: Mountains are just mountains, ravines are just ravines, mountain caves are just mountain caves. The spaces between mountains are called mountain slopes—thus, 'or in the caves of mountains'.
Hay gốc cây, nghĩa địa (Rukkhamūlaṃ susānaṃ vā). Gốc cây chính là gốc cây, nghĩa địa chính là nghĩa địa – (cho nên được gọi là) hay gốc cây, nghĩa địa. Hay trong các hang núi (Pabbatānaṃ guhāsu vā). Núi chính là núi, khe núi chính là khe núi, hang động chính là hang động. Các sườn núi được gọi là các khe núi – (cho nên được gọi là) hay trong các hang núi.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói –
‘‘Bhikkhuno vijigucchato, bhajato rittamāsanaṃ;
Rukkhamūlaṃ susānaṃ vā, pabbatānaṃ guhāsu vā’’ti.
“For a monk who is disgusted, who frequents a secluded seat; the root of a tree, a charnel ground, or in the caves of mountains.”
‘Đối với vị tỳ khưu đang nhàm chán, đang thân cận chỗ ở trống vắng; hay gốc cây, nghĩa địa, hay trong các hang núi.’
194.
194.
194.
Uccāvacesu sayanesu, kivanto † tattha bheravā;
Ye hi bhikkhu na vedheyya, nigghose sayanāsane.
In lodgings high and low, there are terrors making sounds; at which a monk should not tremble, in a quiet dwelling.
Trong các chỗ ở cao thấp, có bao nhiêu điều kinh sợ ở nơi ấy; vị tỳ khưu không nên run sợ trước những điều ấy, tại chỗ ở và chỗ ngồi không tiếng động.
Uccāvacesu sayanesūti. Uccāvacesūti uccāvacesu hīnappaṇītesu chekapāpakesu. Sayanaṃ vuccati senāsanaṃ vihāro aḍḍhayogo pāsādo hammiyaṃ guhāti – uccāvacesu sayanesu. Kivanto tattha bheravāti. Kivantoti kivanto † kūjanto nadanto saddaṃ karonto. Atha vā kivantoti kati kittakā kīvatakā kīvabahukā te. Bheravāti sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā hatthī ahi vicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vāti – kivanto tattha bheravā.
Regarding 'in high and low resting places': 'High and low' means in inferior and superior, in excellent and base lodgings. 'Resting place' refers to a lodging: a monastery, a half-gabled building, a long-galleried building, a storied building, or a cave—thus, 'in high and low resting places'. Regarding 'terrors making sounds there': 'Making sounds' (kivanto) means making sounds, cooing, roaring, making a noise. Alternatively, 'how many' (kivanto) means: how many? what number? what measure? how numerous are they? 'Terrors' refers to: lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or they might be thieves, violent men, housebreakers, or those who go out to steal—thus, 'terrors making sounds there'.
Trong các chỗ ở cao thấp (Uccāvacesu sayanesu). Cao thấp (uccāvacesu) có nghĩa là trong các chỗ ở cao thấp, thấp kém và cao thượng, khéo léo và tồi tệ. Chỗ ở (sayanaṃ) được gọi là chỗ trú ngụ: tịnh xá, nhà một mái, lâu đài, nhà có gác thượng, hang động – (cho nên được gọi là) trong các chỗ ở cao thấp. Có bao nhiêu điều kinh sợ ở nơi ấy (Kivanto tattha bheravā). Bao nhiêu (kivanto) có nghĩa là bao nhiêu, đang rên rỉ, đang gầm rống, đang gây ra tiếng động. Hoặc là, bao nhiêu (kivanto) có nghĩa là bao nhiêu (kati), số lượng bao nhiêu (kittakā), chừng nào (kīvatakā), nhiều đến đâu (kīvabahukā). Những điều kinh sợ (bheravā) là: sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu rừng, voi, rắn, bọ cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, kẻ hung bạo, kẻ đã gây án, hoặc kẻ chưa gây án – (cho nên được gọi là) có bao nhiêu điều kinh sợ ở nơi ấy.
Ye hi bhikkhu na vedheyyāti. Ye hīti ye hi bherave passitvā vā suṇitvā vā na vedheyya nappavedheyya na sampavedheyya na taseyya na uttaseyya na parittaseyya na bhāyeyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa acchambhī anutrāsī apalāyī, pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – ye hi bhikkhu na vedheyya.
Regarding 'At which a monk should not tremble': This means: those who, having seen or heard terrors, would not tremble, would not tremble violently, would not tremble all around; would not be startled, would not be terrified, would not be frightened all around; would not be afraid, would not fall into terror. He would be fearless, unflinching, undaunted, and not one to flee; he would dwell having abandoned fear and dread, with his goosebumps gone—thus, 'at which a monk should not tremble'.
Vị tỳ khưu không nên run sợ trước những điều ấy (Ye hi bhikkhu na vedheyya). Trước những điều ấy (ye hi) có nghĩa là sau khi đã thấy hoặc đã nghe những điều kinh sợ ấy, vị ấy không nên run sợ, không nên dao động, không nên hoàn toàn dao động, không nên kinh hãi, không nên quá kinh hãi, không nên hoàn toàn kinh hãi, không nên sợ hãi, không nên rơi vào sự hoảng loạn; vị ấy nên là người không sợ hãi, không sững sờ, không kinh hoàng, không bỏ chạy; vị ấy nên sống với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được đoạn trừ, với sự dựng tóc gáy đã biến mất – (cho nên được gọi là) vị tỳ khưu không nên run sợ trước những điều ấy.
Nigghose sayanāsaneti. Appasadde appanigghose vijanavāte manussarāhasseyyake paṭisallānasāruppe senāsaneti – nigghose sayanāsane.
Regarding 'in a quiet lodging': This means in a lodging with little sound, free from noise, secluded from the comings and goings of people, private for humans, and suitable for solitude—thus, 'in a quiet lodging'.
Tại chỗ ở và chỗ ngồi không tiếng động (Nigghose sayanāsane). Tại chỗ trú ngụ ít tiếng động, ít ồn ào, vắng người, kín đáo đối với con người, thích hợp cho việc độc cư – (cho nên được gọi là) tại chỗ ở và chỗ ngồi không tiếng động.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói –
‘‘Uccāvacesu sayanesu, kivanto tattha bheravā;
Ye hi bhikkhu na vedheyya, nigghose sayanāsane’’ti.
“In lodgings high and low, how many terrors are there? A monk should not tremble at them in a quiet lodging.”
‘Trong các chỗ ở cao thấp, có bao nhiêu điều kinh sợ ở nơi ấy; vị tỳ khưu không nên run sợ trước những điều ấy, tại chỗ ở và chỗ ngồi không tiếng động.’
195.
195.
195.
Kati parissayā loke, gacchato agataṃ disaṃ;
Ye bhikkhu abhisambhave, pantamhi sayanāsane.
How many perils are there in the world for one going to the unreached destination? Which perils a monk should overcome in a remote lodging.
Có bao nhiêu hiểm nguy trong thế gian, đối với người đang đi đến phương trời chưa từng đến; những hiểm nguy mà vị tỳ khưu nên khắc phục, tại chỗ ở và chỗ ngồi nơi biên địa.
Kati parissayā loketi. Katīti kati kittakā kīvatakā kīvabahukā. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca. Katame pākaṭaparissayā? Sīhā byagghā dīpī acchā taracchā kokā mahiṃsā hatthī ahi vicchikā satapadī, corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā, cakkhurogo sotarogo ghānarogo jivhārogo kāyarogo sīsarogo kaṇṇarogo mukharogo dantarogo kāso sāso pināso ḍāho jaro kucchirogo mucchā pakkhandikā sūlā visūcikā kuṭṭhaṃ gaṇḍo kilāso soso apamāro daddu kaṇḍu kacchu rakhasā vitacchikā lohitaṃ pittaṃ madhumeho aṃsā piḷakā bhagandalā, pittasamuṭṭhānā ābādhā…pe… sītaṃ uṇhaṃ jighacchā pipāsā uccāro passāvo ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassā – ime vuccanti pākaṭaparissayā.
Regarding 'how many perils are there in the world?': 'Kati' means: how many? how much? of what measure? how numerous? 'Parissayā' means: there are two kinds of perils—manifest perils and concealed perils. What are the manifest perils? Lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, elephants, snakes, scorpions, centipedes; or thieves, or violent men, or burglars, or robbers; eye-disease, ear-disease, nose-disease, tongue-disease, body-disease, head-disease, ear-disease, mouth-disease, tooth-disease; cough, asthma, catarrh, burning sensation, fever, stomach-disease, fainting, dysentery, colic, cholera; leprosy, boils, eczema, consumption, epilepsy; ringworm, itch, scabies, scratches, fissures; blood-and-bile disease, diabetes; shoulder-blade disease, pimples, fistula; ailments arising from bile… and so on… cold, heat, hunger, thirst, defecation, urination; contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things—these are called manifest perils.
Có bao nhiêu hiểm nguy trong thế gian (Kati parissayā loke). Bao nhiêu (kati) có nghĩa là bao nhiêu (kati), số lượng bao nhiêu (kittakā), chừng nào (kīvatakā), nhiều đến đâu (kīvabahukā). Hiểm nguy (parissayā) có nghĩa là có hai loại hiểm nguy: hiểm nguy hiển nhiên và hiểm nguy che giấu. Những hiểm nguy hiển nhiên là gì? Sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu rừng, voi, rắn, bọ cạp, rết; hoặc là kẻ trộm, kẻ hung bạo, kẻ đã gây án, hoặc kẻ chưa gây án; bệnh mắt, bệnh tai, bệnh mũi, bệnh lưỡi, bệnh thân, bệnh đầu, bệnh tai, bệnh miệng, bệnh răng, ho, hen suyễn, sổ mũi, sốt, sốt rét, bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, dịch tả, bệnh hủi, ung nhọt, bệnh bạch biến, bệnh lao, động kinh, hắc lào, ghẻ, ngứa, ghẻ lở, nứt nẻ, bệnh máu, bệnh mật, tiểu đường, bệnh trĩ, mụn nhọt, bệnh rò; các bệnh do mật khởi sanh... lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát – những điều này được gọi là hiểm nguy hiển nhiên.
Katame paṭicchannaparissayā? Kāyaduccaritaṃ vacīduccaritaṃ manoduccaritaṃ kāmacchandanīvaraṇaṃ byāpādanīvaraṇaṃ thinamiddhanīvaraṇaṃ uddhaccakukkuccanīvaraṇaṃ vicikicchānīvaraṇaṃ rāgo doso moho kodho upanāho makkho paḷāso issā macchariyaṃ māyā sāṭheyyaṃ thambho sārambho māno atimāno mado pamādo, sabbe kilesā sabbe duccaritā sabbe darathā sabbe pariḷāhā sabbe santāpā sabbākusalābhisaṅkhārā – ime vuccanti paṭicchannaparissayā.
What are the concealed perils? Misconduct of body, misconduct of speech, and misconduct of mind; the hindrance of sensual desire, the hindrance of ill-will, the hindrance of sloth and torpor, the hindrance of restlessness and remorse, and the hindrance of doubt; greed, hatred, delusion, anger, resentment, contempt, spite, envy, stinginess, deceit, craftiness, obstinacy, contention, conceit, arrogance, vanity, and heedlessness; all defilements, all misconducts, all torments, all fevers, all anguish, and all unwholesome formations—these are called the concealed perils.
Những hiểm nguy che giấu là gì? Thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái hoài nghi, tham, sân, si, phẫn nộ, oán hận, gièm pha, cạnh tranh, tật đố, bỏn xẻn, xảo trá, gian manh, ngoan cố, hiếu thắng, ngã mạn, quá mạn, say sưa, phóng dật; tất cả phiền não, tất cả ác hành, tất cả phiền muộn, tất cả nóng nảy, tất cả thiêu đốt, tất cả bất thiện hành – những điều này được gọi là hiểm nguy che giấu.
Parissayāti kenaṭṭhena parissayā? Parisahantīti parissayā, parihānāya saṃvattantīti parissayā, tatrāsayāti parissayā.
Regarding 'perils'—in what sense are they perils? They oppress, thus they are perils. They conduce to decline, thus they are perils. They are an abode of fear therein, thus they are perils.
Hiểm nguy (parissayā). Do ý nghĩa nào mà gọi là hiểm nguy? Chúng áp đảo, vì thế gọi là hiểm nguy. Chúng dẫn đến sự suy giảm, vì thế gọi là hiểm nguy. Chúng là nơi trú ẩn của sự sợ hãi, vì thế gọi là hiểm nguy.
Kathaṃ parisahantīti parissayā? Te parissayā taṃ puggalaṃ sahanti parisahanti abhibhavanti ajjhottharanti pariyādiyanti maddanti. Evaṃ parisahantīti – parissayā.
How is it that 'they oppress, thus they are perils'? These perils oppress that person, they thoroughly oppress, they overwhelm, they submerge, they consume, and they crush. In this way they oppress—thus, they are perils.
Làm thế nào chúng áp đảo nên gọi là hiểm nguy? Những hiểm nguy ấy chịu đựng, áp đảo, chế ngự, bao trùm, chiếm đoạt, nghiền nát cá nhân ấy. Như vậy, chúng áp đảo, vì thế gọi là hiểm nguy.
Kathaṃ parihānāya saṃvattantīti parissayā? Te parissayā kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Katamesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ? Sammāpaṭipadāya anulomapaṭipadāya apaccanīkapaṭipadāya aviruddhapaṭipadāya anvatthapaṭipadāya dhammānudhammapaṭipadāya sīlesu paripūrakāritāya indriyesu guttadvāratāya bhojane mattaññutāya jāgariyānuyogassa satisampajaññassa catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ bhāvanānuyogassa catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanānuyogassa – imesaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ antarāyāya parihānāya saṃvattanti. Evaṃ parihānāya saṃvattantīti – parissayā.
How is it that 'they conduce to decline, thus they are perils'? These perils conduce to the obstruction and decline of wholesome states. Of which wholesome states? Of right practice, conformable practice, non-antagonistic practice, non-conflicting practice, practice in accordance with the goal, practice in accordance with the Dhamma; of the state of fulfilling the virtues, of guarding the sense-doors, of knowing moderation in eating, of devotion to wakefulness, of mindfulness and clear comprehension; of devotion to the development of the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and of devotion to the development of the noble eightfold path—they conduce to the obstruction and decline of these wholesome states. In this way 'they conduce to decline,' thus they are perils.
Thế nào là các hiểm nguy (parissayā) vì chúng dẫn đến sự tổn giảm? Các hiểm nguy ấy dẫn đến sự biến mất, đến sự tổn giảm của các pháp thiện. Của những pháp thiện nào? Của sự thực hành đúng đắn, của sự thực hành thuận theo, của sự thực hành không đối nghịch, của sự thực hành không mâu thuẫn, của sự thực hành theo đúng ý nghĩa, của sự thực hành pháp tùy pháp, của việc thực hiện trọn vẹn các giới, của việc hộ trì các căn, của sự tiết độ trong ăn uống, của sự chuyên tâm cảnh giác, của chánh niệm và tỉnh giác, của sự chuyên tâm tu tập bốn niệm xứ, của bốn chánh cần, của bốn như ý túc, của năm căn, của năm lực, của bảy giác chi, của sự chuyên tâm tu tập Thánh đạo Tám ngành – chúng dẫn đến sự biến mất, đến sự tổn giảm của các pháp thiện này. Như vậy, vì chúng dẫn đến sự tổn giảm nên được gọi là các hiểm nguy.
Kathaṃ tatrāsayāti parissayā? Tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayā. Yathā bile bilāsayā pāṇā sayanti, dake dakāsayā pāṇā sayanti, vane vanāsayā pāṇā sayanti, rukkhe rukkhāsayā pāṇā sayanti; evameva tatthete pāpakā akusalā dhammā uppajjanti attabhāvasannissayāti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
How is it that 'they arise therein' means 'perils'? Therein, these evil, unwholesome states arise, being dependent on the personality-existence. Just as creatures that dwell in holes lie in a hole, creatures that dwell in water lie in water, creatures that dwell in the forest lie in the forest, and creatures that dwell in trees lie in a tree; even so, therein these evil, unwholesome states arise, being dependent on the personality-existence. Thus also, 'they arise therein' means 'they are perils'.
Thế nào là các hiểm nguy (parissayā) vì chúng trú ngụ ở đó (tatrāsayā)? Ở đó, các pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thể. Giống như các loài chúng sanh sống trong hang trú ngụ trong hang, các loài chúng sanh sống trong nước trú ngụ trong nước, các loài chúng sanh sống trong rừng trú ngụ trong rừng, các loài chúng sanh sống trên cây trú ngụ trên cây; cũng vậy, ở đó, các pháp ác, bất thiện này sanh khởi, nương vào tự thể. Như vậy, vì chúng trú ngụ ở đó nên được gọi là các hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Thế Tôn nói đến –
‘‘Sāntevāsiko, bhikkhave, bhikkhu sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati. Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharati? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cakkhunā rūpaṃ disvā uppajjanti pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti, samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati.
“Monks, a bhikkhu with an inner-dweller, with a companion, dwells in suffering, not at ease. And how, monks, does a bhikkhu with an inner-dweller, with a companion, dwell in suffering, not at ease? Here, monks, when a bhikkhu sees a form with the eye, evil, unwholesome states arise—thoughts that move to various objects, which are a basis for the fetters. Those evil, unwholesome states dwell within him and flow along with his mental continuum. Therefore, he is called 'one with an inner-dweller'. They assail him; those evil, unwholesome states assail him. Therefore, he is called 'one with a companion'.”
‘Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có người ở cùng (sāntevāsika), có người đồng hành (sācariyaka) thì sống khổ sở, không thoải mái. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu có người ở cùng, có người đồng hành, sống khổ sở, không thoải mái? Ở đây, này các Tỳ khưu, sau khi thấy sắc bằng mắt, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái, thuộc về kiết sử sanh khởi nơi vị Tỳ khưu. Các pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong và tuôn chảy theo vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là có người ở cùng. Chúng hành hạ vị ấy, các pháp ác, bất thiện ấy hành hạ vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là có người đồng hành.
‘‘Puna caparaṃ, bhikkhave, bhikkhuno sotena saddaṃ sutvā…pe… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā… manasā dhammaṃ viññāya uppajjanti pāpakā akusalā dhammā sarasaṅkappā saññojaniyā, tyassa anto vasanti anvāssavanti pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sāntevāsikoti vuccati. Te naṃ samudācaranti, samudācaranti naṃ pāpakā akusalā dhammāti. Tasmā sācariyakoti vuccati. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sāntevāsiko sācariyako dukkhaṃ na phāsu viharatī’’ti. Evampi tatrāsayāti – parissayā.
“Furthermore, monks, when a bhikkhu, having heard a sound with the ear… having smelled an odor with the nose… having tasted a flavor with the tongue… having touched a tangible object with the body… having cognized a mental object with the mind, evil, unwholesome states arise—thoughts that move to various objects, which are a basis for the fetters. Those evil, unwholesome states dwell within him and flow along with his mental continuum. Therefore, he is called 'one with an inner-dweller'. They assail him; those evil, unwholesome states assail him. Therefore, he is called 'one with a companion'. Thus indeed, monks, a bhikkhu with an inner-dweller, with a companion, dwells in suffering, not at ease.” Thus also, 'they arise therein' means 'they are perils'.
‘Lại nữa, này các Tỳ khưu, sau khi nghe tiếng bằng tai... ngửi hương bằng mũi... nếm vị bằng lưỡi... cảm xúc đối tượng xúc chạm bằng thân... nhận biết pháp bằng ý, các pháp ác, bất thiện, những tư duy luyến ái, thuộc về kiết sử sanh khởi nơi vị Tỳ khưu. Các pháp ác, bất thiện ấy trú ngụ bên trong và tuôn chảy theo vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là có người ở cùng. Chúng hành hạ vị ấy, các pháp ác, bất thiện ấy hành hạ vị ấy. Do đó, vị ấy được gọi là có người đồng hành. Này các Tỳ khưu, như vậy đó, vị Tỳ khưu có người ở cùng, có người đồng hành thì sống khổ sở, không thoải mái.’ Như vậy, vì chúng trú ngụ ở đó nên được gọi là các hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Thế Tôn nói đến –
‘‘Tayome, bhikkhave, antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā. Katame tayo? Lobho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko, doso, bhikkhave…pe… moho, bhikkhave, antarāmalo antarāamitto antarāsapatto antarāvadhako antarāpaccatthiko. Ime kho, bhikkhave, tayo antarāmalā antarāamittā antarāsapattā antarāvadhakā antarāpaccatthikā’’.
“Monks, these are three internal taints, internal enemies, internal adversaries, internal killers, internal opponents. Which three? Greed, monks, is an internal taint, an internal enemy, an internal adversary, an internal killer, an internal opponent. Hatred, monks… Delusion, monks, is an internal taint, an internal enemy, an internal adversary, an internal killer, an internal opponent. These, monks, are the three internal taints, internal enemies, internal adversaries, internal killers, internal opponents.”
‘Này các Tỳ khưu, có ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong này. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, tham là cấu uế bên trong, là kẻ thù bên trong, là địch thủ bên trong, là kẻ sát nhân bên trong, là kẻ đối nghịch bên trong. Sân, này các Tỳ khưu... Si, này các Tỳ khưu, là cấu uế bên trong, là kẻ thù bên trong, là địch thủ bên trong, là kẻ sát nhân bên trong, là kẻ đối nghịch bên trong. Này các Tỳ khưu, đây là ba thứ cấu uế bên trong, kẻ thù bên trong, địch thủ bên trong, kẻ sát nhân bên trong, kẻ đối nghịch bên trong’.
‘‘Anatthajanano lobho, lobho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Greed begets harm, greed corrupts the mind; fear is born from within—that, people do not understand.
‘Tham sanh ra điều vô ích, tham làm khuấy động tâm; Mối nguy sanh từ bên trong, người đời không nhận biết.
‘‘Luddho atthaṃ na jānāti, luddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ † tadā hoti, yaṃ lobho sahate naraṃ.
“The greedy person does not know the benefit, the greedy person does not see the Dhamma; then there is blinding darkness, when greed overwhelms a person.
‘Kẻ tham không biết lợi ích, kẻ tham không thấy Pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, khi tham ái áp đảo người.
‘‘Anatthajanano doso, doso cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Hatred begets harm, hatred corrupts the mind; fear is born from within—that, people do not understand.
‘Sân sanh ra điều vô ích, sân làm khuấy động tâm; Mối nguy sanh từ bên trong, người đời không nhận biết.
‘‘Kuddho atthaṃ na jānāti, kuddho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ doso sahate naraṃ.
“The angry person does not know the benefit, the angry person does not see the Dhamma; then there is blinding darkness, when anger overwhelms a person.
‘Kẻ sân không biết lợi ích, kẻ sân không thấy Pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, khi sân hận áp đảo người.
‘‘Anatthajanano moho, moho cittappakopano;
Bhayamantarato jātaṃ, taṃ jano nāvabujjhati.
“Delusion begets harm, delusion corrupts the mind; fear is born from within—that, people do not understand.
‘Si sanh ra điều vô ích, si làm khuấy động tâm; Mối nguy sanh từ bên trong, người đời không nhận biết.
‘‘Mūḷho atthaṃ na jānāti, mūḷho dhammaṃ na passati;
Andhantamaṃ tadā hoti, yaṃ moho sahate nara’’nti.
“The deluded person does not know the benefit, the deluded person does not see the Dhamma; then there is blinding darkness, when delusion overwhelms a person.”
‘Kẻ si không biết lợi ích, kẻ si không thấy Pháp; Khi ấy là bóng tối mịt mù, khi si mê áp đảo người.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā. Vuttañhetaṃ bhagavatā –
Thus also, 'they arise therein' means 'they are perils'. For this was said by the Blessed One:
Như vậy, vì chúng trú ngụ ở đó nên được gọi là các hiểm nguy. Điều này đã được Thế Tôn nói đến –
‘‘Tayo kho, mahārāja, purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Katame tayo? Lobho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya; doso kho, mahārāja…pe… moho kho, mahārāja, purisassa dhammo ajjhattaṃ uppajjamāno uppajjati ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāya. Ime kho, mahārāja, tayo purisassa dhammā ajjhattaṃ uppajjamānā uppajjanti ahitāya dukkhāya aphāsuvihārāyā’’ti.
“Great king, there are these three qualities that, arising internally in a person, arise for harm, for suffering, for discomfort. What three? Greed, great king, is a quality that, arising internally in a person, arises for harm, for suffering, for discomfort; hatred, great king… delusion, great king, is a quality that, arising internally in a person, arises for harm, for suffering, for discomfort. These, great king, are the three qualities that, arising internally in a person, arise for harm, for suffering, for discomfort.”
‘Tâu Đại vương, có ba pháp này khi sanh khởi bên trong một người thì chúng sanh khởi vì bất hạnh, vì đau khổ, vì không thoải mái. Thế nào là ba? Tâu Đại vương, tham là pháp khi sanh khởi bên trong một người thì nó sanh khởi vì bất hạnh, vì đau khổ, vì không thoải mái; sân, tâu Đại vương... si, tâu Đại vương, là pháp khi sanh khởi bên trong một người thì nó sanh khởi vì bất hạnh, vì đau khổ, vì không thoải mái. Tâu Đại vương, ba pháp này khi sanh khởi bên trong một người thì chúng sanh khởi vì bất hạnh, vì đau khổ, vì không thoải mái.’
‘‘Lobho doso ca moho ca, purisaṃ pāpacetasaṃ;
Hiṃsanti attasambhūtā, tacasāraṃva samphala’’nti.
“Greed, hatred, and delusion, born of oneself, harm a person of evil mind, just as its own fruit destroys a bamboo.”
‘Tham, sân và si, sanh từ chính mình, làm hại người có tâm ác, như quả của cây tre lõi vỏ làm hại chính nó.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā.
Thus also, 'they arise therein' means 'they are perils'.
Như vậy, vì chúng trú ngụ ở đó nên được gọi là các hiểm nguy.
Vuttañhetaṃ bhagavatā –
For this was said by the Blessed One:
Điều này đã được Thế Tôn nói đến –
‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā, aratī ratī lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā, kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti.
“Lust and hatred have this as their source; discontent, delight, and hair-standing-on-end are born from this. Arising from this, thoughts of the mind are sent forth, just as children release a crow.”
‘Tham ái và sân hận có nguồn từ đây, bất mãn, thích thú, và sởn gai ốc sanh từ đây; Sanh khởi từ đây là những tầm của ý, chúng phóng đi như trẻ con thả con quạ.’
Evampi tatrāsayāti – parissayā. Loketi manussaloketi – kati parissayā loke.
Thus also, 'they arise therein' means 'they are perils'. As for 'in the world' (loke), it means in the human world; this is the meaning of the term 'perils in the world' (parissayā loke).
Như vậy, vì chúng trú ngụ ở đó nên được gọi là các hiểm nguy. (Nói) ‘trên đời’ (loke) là (nói) ‘trong cõi người’. – (Đây là câu hỏi) ‘có bao nhiêu hiểm nguy trên đời’.
Gacchato agataṃ disanti. Agatā disā vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Agatapubbā sā disā na sā disā gatapubbā iminā dīghena addhunā.
‘For one who is going, the ungone direction.’ The ungone direction is said to be the deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all formations, the relinquishing of all substrates of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. That direction has not been gone to before; that direction has not been gone to in this long stretch of time.
Gacchato agataṃ disanti (đối với người đang đi đến phương xứ chưa được đi đến). Phương xứ chưa được đi đến được gọi là bất tử, là Nibbāna. Pháp ấy là sự tịch tịnh của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận của ái dục, sự ly tham, sự đoạn diệt, là Nibbāna. Phương xứ ấy là nơi chưa từng được đi đến, phương xứ ấy chưa từng được đi đến trong suốt khoảng thời gian dài lâu này.
‘‘Samatittikaṃ anavasesaṃ, telapattaṃ yathā parihareyya;
Evaṃ sacittamanurakkhe, patthayāno † disaṃ agatapubbaṃ’’.
“Just as one would carry a bowl of oil filled to the brim, without spilling any, so should one guard one's own mind, aspiring for the direction not gone to before.”
‘Như người ta mang đi bát dầu đầy đến miệng, không để sót lại; Cũng vậy, người đang mong mỏi phương xứ chưa từng được đi đến, nên hộ trì tâm của mình’.
Agatapubbaṃ disaṃ vajato gacchato abhikkamatoti – gacchato agataṃ disaṃ.
For one approaching the direction not gone to before by means of the path, for one going in the moment of the cognitive process, for one advancing from the arising of fruition—this is the meaning of ‘for one who is going, the ungone direction.’
Đối với người đang tiến đến, đang đi, đang tiến lên phương xứ chưa từng được đi đến – (đó là ý nghĩa của câu) đối với người đang đi đến phương xứ chưa được đi đến.
Ye bhikkhu abhisambhaveti. Yeti ye parissaye abhisambhaveyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – ye bhikkhu abhisambhave.
‘Which a monk should overcome.’ As for ‘which’ (ye): whichever dangers (parissaye) one should overcome (abhisambhaveyya), overpower (abhibhaveyya), overwhelm (ajjhotthareyya), master (pariyādiyeyya), and crush (maddeyya)—this is the meaning of ‘which a monk should overcome’ (ye bhikkhu abhisambhave).
Ye bhikkhu abhisambhaveti (vị tỳ khưu nào có thể chinh phục). Ở đây, ‘ye’ có nghĩa là: những hiểm nguy nào mà vị ấy nên chinh phục, nên chế ngự, nên vượt qua, nên làm cho cạn kiệt, nên nhiếp phục – (đó là ý nghĩa của câu) ye bhikkhu abhisambhave.
Pantamhi sayanāsaneti. Ante pante pariyante selante vā vanante vā nadante vā udakante vā yattha na kasīyati na vapīyati, janantaṃ atikkamitvā manussānaṃ anupacāre senāsaneti – pantamhi sayanāsane.
As for 'in a secluded dwelling' (pantamhi sayanāsane): At the edge, in a remote place, at the border—whether at the end of a mountain, the end of a forest, the end of a river, or the end of the water—where there is no plowing and no sowing, having gone beyond the area of people, in a dwelling not frequented by humans. This is the meaning of 'in a secluded dwelling'.
Pantamhi sayanāsaneti (tại chỗ ở xa vắng). (Nghĩa là) tại nơi biên địa, xa vắng, xa xôi; hoặc ở bìa núi, hoặc ở bìa rừng, hoặc ở bờ sông, hoặc ở bờ nước; nơi mà người ta không cày cấy, không gieo trồng; vượt qua khỏi nơi ở của dân chúng, tại chỗ ở không phải là nơi lui tới của loài người – (đó là ý nghĩa của câu) pantamhi sayanāsane.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói rằng –
‘‘Kati parissayā loke, gacchato agataṃ disaṃ;
Ye bhikkhu abhisambhave, pantamhi sayanāsane’’ti.
“How many dangers are there in the world for one going to the ungone direction, which a monk, dwelling in a secluded lodging, should overcome?”
‘Có bao nhiêu hiểm nguy ở trong đời, đối với người đang đi đến phương xứ chưa được đi đến, mà vị tỳ khưu có thể chinh phục, tại chỗ ở xa vắng?’
196.
196.
196.
Kyāssa byappathayo assu, kyāssassu idha gocarā;
Kāni sīlabbatānāssu, pahitattassa bhikkhuno.
“What should be his modes of speech? What should be his haunts here? What virtuous practices and observances should there be for a monk of resolute mind?”
Đối với vị tỳ khưu có tâm đã được gởi đi (tinh tấn), những lời nói của vị ấy nên như thế nào, những hành xứ của vị ấy ở đây nên như thế nào, những giới và hạnh của vị ấy nên là gì?
Kyāssa byappathayo assūti. Kīdisena byappathena samannāgato assa kiṃsaṇṭhitena kiṃpakārena kiṃpaṭibhāgenāti vacīpārisuddhiṃ pucchati. Katamā vacīpārisuddhi? Idha bhikkhu musāvādaṃ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṃvādako lokassa. Pisuṇaṃ vācaṃ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ akkhātā amūsaṃ bhedāya, iti bhinnānaṃ vā sandhātā, sahitānaṃ vā anuppadātā samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ vācaṃ bhāsitā hoti. Pharusaṃ vācaṃ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti; yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṃ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṃ vācaṃ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasaṃhitaṃ. Catūhi vacīsucaritehi samannāgato catudosāpagataṃ vācaṃ bhāsati, bāttiṃsāya tiracchānakathāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharati. Dasa kathāvatthūni katheti, seyyathidaṃ – appicchakathaṃ santuṭṭhikathaṃ pavivekakathaṃ asaṃsaggakathaṃ vīriyārambhakathaṃ sīlakathaṃ samādhikathaṃ paññākathaṃ vimuttikathaṃ vimuttiñāṇadassanakathaṃ satipaṭṭhānakathaṃ sammappadhānakathaṃ iddhipādakathaṃ indriyakathaṃ balakathaṃ bojjhaṅgakathaṃ maggakathaṃ phalakathaṃ nibbānakathaṃ katheti. Vācāya yato yatto paṭiyatto gutto gopito rakkhito saṃvuto – ayaṃ vacīpārisuddhi. Edisāya vacīpārisuddhiyā samannāgato assāti – kyāssa byappathayo assu.
The phrase ‘What should be his modes of speech?’ asks about the purity of speech: With what kind of speech should he be endowed? With what kind of nature, what kind of characteristic, what kind of quality should he be endowed? What is purity of speech? Here, a monk, having abandoned false speech, abstains from false speech; he is a speaker of truth, devoted to the truth, firm, reliable, and not a deceiver of the world. Having abandoned slanderous speech, he abstains from slanderous speech. What he has heard here, he does not repeat there to cause division among these people; or what he has heard there, he does not repeat to these people to cause division among those. Thus, he is a reconciler of those who are divided and a promoter of stability for those who are united. He delights in concord, rejoices in concord, takes pleasure in concord, and speaks words that create concord. Having abandoned harsh speech, he abstains from harsh speech. He speaks such words as are flawless, pleasing to the ear, affectionate, going to the heart, urbane, liked by many, and agreeable to many. Having abandoned frivolous chatter, he abstains from frivolous chatter. He speaks at the proper time, speaks what is true, speaks what is beneficial, speaks in accordance with the Dhamma, and speaks in accordance with the Vinaya. He speaks words worth treasuring, spoken at the right time, with reason, with a limit, and connected with benefit. He is endowed with the four kinds of good verbal conduct; he speaks speech that is free from the four faults. From the thirty-two kinds of worldly talk, he is aloof, abstains, refrains, has departed, is released, is fully released, and is detached; he dwells with a mind without boundaries. He speaks on the ten topics for discussion, namely: talk on fewness of wishes, talk on contentment, talk on seclusion, talk on non-association, talk on arousing energy, talk on virtue, talk on concentration, talk on wisdom, talk on liberation, and talk on the knowledge and vision of liberation. He speaks on the foundations of mindfulness, the right efforts, the bases of psychic power, the faculties, the powers, the factors of enlightenment, and Nibbāna. By speech, he is restrained, guarded, well-guarded, protected, secured, watched over, and well-restrained—this is purity of speech. He should be endowed with such purity of speech. This is the meaning of ‘What should be his modes of speech?’
Kyāssa byappathayo assūti (những lời nói của vị ấy nên như thế nào?). (Nghĩa là) vị ấy nên thành tựu lời nói có tính chất như thế nào, có trạng thái như thế nào, có thể loại như thế nào, có phần nào? (Như vậy là) hỏi về khẩu thanh tịnh. Khẩu thanh tịnh là gì? Ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ nói dối, từ bỏ việc nói dối; là người nói thật, liên hệ đến sự thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Vị ấy từ bỏ lời nói đâm thọc, từ bỏ việc nói lời đâm thọc; nghe điều gì ở đây, không đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này; hoặc nghe điều gì ở nơi kia, không đi nói lại cho những người này để gây chia rẽ những người kia; như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc là người củng cố những ai đã hòa hợp, ưa thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, là người nói lời tạo ra sự hòa hợp. Vị ấy từ bỏ lời nói thô ác, từ bỏ việc nói lời thô ác; vị ấy nói những lời ôn hòa, dễ nghe, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, được nhiều người quý mến. Vị ấy từ bỏ lời nói vô ích, từ bỏ việc nói lời vô ích; là người nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời hợp pháp, nói lời hợp luật; là người nói lời đáng được ghi nhớ, có lý do hợp thời, có sự phân định, có liên quan đến mục đích. Vị ấy thành tựu bốn loại khẩu thiện hành, nói lời thoát khỏi bốn lỗi lầm. Vị ấy xa lìa, từ bỏ, tránh xa, thoát ra, giải thoát, hoàn toàn giải thoát, không liên hệ với ba mươi hai loại chuyện thế gian, sống với tâm không bị giới hạn. Vị ấy nói về mười đề tài câu chuyện, đó là: chuyện về ít ham muốn, chuyện về biết đủ, chuyện về sống độc cư, chuyện về không giao du, chuyện về tinh tấn, chuyện về giới, chuyện về định, chuyện về tuệ, chuyện về giải thoát, chuyện về giải thoát tri kiến, chuyện về Tứ Niệm Xứ, chuyện về Tứ Chánh Cần, chuyện về Tứ Thần Túc, chuyện về Ngũ Căn, chuyện về Ngũ Lực, chuyện về Thất Giác Chi, chuyện về Nibbāna. Vị ấy được chế ngự, được phòng hộ, được gìn giữ, được bảo vệ, được che chở, được trông nom, được thu thúc về lời nói – đây là khẩu thanh tịnh. Vị ấy nên thành tựu khẩu thanh tịnh như vậy – (đó là ý nghĩa của câu) kyāssa byappathayo assu.
Kyāssassu idha gocarāti. Kīdisena gocarena samannāgato assa kiṃsaṇṭhitena kiṃpakārena kiṃpaṭibhāgenāti gocaraṃ pucchati. Atthi gocaro, atthi agocaro.
“What should his pasture be here?” He asks about the pasture: “With what kind of pasture should he be endowed, with what characteristics, with what qualities, and with what attributes?” There is a pasture, and there is an improper pasture.
Kyāssassu idha gocarāti (những hành xứ của vị ấy ở đây nên như thế nào?). (Nghĩa là) vị ấy nên thành tựu hành xứ có tính chất như thế nào, có trạng thái như thế nào, có thể loại như thế nào, có phần nào? (Như vậy là) hỏi về hành xứ. Có hành xứ (nên lui tới), và có phi hành xứ (không nên lui tới).
Katamo agocaro? Idhekacco vesiyāgocaro vā hoti, vidhavāgocaro vā hoti, thullakumārīgocaro † vā hoti, paṇḍakagocaro vā hoti, bhikkhunīgocaro vā hoti, pānāgāragocaro vā hoti, saṃsaṭṭho viharati rājūhi rājamahāmattehi titthiyehi titthiyasāvakehi ananulomikena saṃsaggena. Yāni vā pana tāni kulāni assaddhāni appasannāni anopānabhūtāni akkosakaparibhāsakāni anatthakāmāni ahitakāmāni aphāsukāmāni ayogakkhemakāmāni bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ, tathārūpāni kulāni sevati bhajati payirupāsati – ayaṃ vuccati agocaro.
What is improper pasture? Here, someone frequents the haunts of prostitutes, or of widows, or of mature maidens, or of eunuchs, or of nuns, or he frequents taverns. He lives in close association with kings, royal ministers, sectarians, or disciples of sectarians in an unsuitable manner. Or he resorts to, associates with, and repeatedly visits such families that are faithless, displeased, not like a watering place, abusive and reviling, wishing for what is not beneficial, wishing for what is not for one's welfare, wishing for discomfort, and wishing for what is not safe from bondage for monks, nuns, male lay followers, and female lay followers. This is called improper pasture.
Phi hành xứ là gì? Ở đây, có người có hành xứ là kỹ nữ, hoặc là góa phụ, hoặc là thiếu nữ lớn tuổi, hoặc là người ái nam ái nữ, hoặc là tỳ khưu ni, hoặc là quán rượu; vị ấy sống giao du với vua chúa, các đại thần, các người ngoại đạo, các đệ tử của người ngoại đạo, với sự giao du không thích hợp. Lại nữa, những gia đình nào không có đức tin, không có tịnh tín, không giống như bến nước, hay mắng nhiếc chửi rủa, không mong cầu lợi ích, không mong cầu hạnh phúc, không mong cầu sự an ổn, không mong cầu sự an toàn khỏi các ách cho các tỳ khưu, tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ, vị ấy thân cận, giao du, thường xuyên lui tới những gia đình như vậy – đây được gọi là phi hành xứ.
Atha vā antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno asaṃvuto gacchati, hatthiṃ olokento, assaṃ olokento, rathaṃ olokento, pattiṃ olokento, itthiyo olokento, purise olokento, kumārikāyo olokento, kumārake olokento, antarāpaṇaṃ olokento, gharamukhāni olokento, uddhaṃ olokento †, adho olokento, disāvidisaṃ vipekkhamāno gacchati – ayampi vuccati agocaro.
Or else, having entered a village and gone onto a street, he goes unrestrained, looking at an elephant, looking at a horse, looking at a chariot, looking at a foot-soldier, looking at women, looking at men, looking at young girls, looking at young boys, looking at a shop, looking at doorways, looking upwards, looking downwards, he goes looking about in the cardinal and intermediate directions—this too is called improper pasture.
Hoặc là, khi đã vào trong làng, đi trên đường, vị ấy đi không có sự thu thúc; nhìn ngắm voi, nhìn ngắm ngựa, nhìn ngắm xe, nhìn ngắm bộ binh, nhìn ngắm phụ nữ, nhìn ngắm đàn ông, nhìn ngắm thiếu nữ, nhìn ngắm thiếu niên, nhìn ngắm hàng quán, nhìn ngắm cửa nhà, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn ngang nhìn dọc mà đi – đây cũng được gọi là phi hành xứ.
Atha vā cakkhunā rūpaṃ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ…pe… manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhā domanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa na saṃvarāya paṭipajjati, na rakkhati manindriyaṃ manindriye na saṃvaraṃ āpajjati – ayampi vuccati agocaro.
Or else, having seen a form with the eye, he is one who grasps the signs and secondary characteristics. Because of that, while he dwells with the mind faculty unguarded, covetousness, dejection, and evil, unwholesome states would flow in upon him. He does not practice for its restraint, he does not guard the mind faculty, he does not attain restraint in the mind faculty—this too is called improper pasture.
Hoặc là, sau khi thấy sắc bằng mắt, vị ấy trở thành người nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà khi vị ấy sống không thu thúc ý căn, các pháp ác bất thiện là tham và ưu sẽ xâm nhập vào, vị ấy không thực hành để thu thúc ý căn ấy, không phòng hộ ý căn, không đạt đến sự thu thúc trong ý căn – đây cũng được gọi là phi hành xứ.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ pāṇissaraṃ vetāḷaṃ kumbhathūṇaṃ sobhanakaṃ caṇḍālaṃ vaṃsaṃ dhovanaṃ hatthiyuddhaṃ assayuddhaṃ mahiṃsayuddhaṃ usabhayuddhaṃ ajayuddhaṃ meṇḍayuddhaṃ kukkuṭayuddhaṃ vaṭṭakayuddhaṃ daṇḍayuddhaṃ muṭṭhiyuddhaṃ nibbuddhaṃ uyyodhikaṃ balaggaṃ senābyūhaṃ anīkadassanaṃ iti vā iti, evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyutto hoti – ayampi vuccati agocaro.
Or again, some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith, dwell engaged in such improper spectacles; that is to say: dancing, singing, instrumental music, shows, recitations, hand-clapping, chanting with cymbals, drumming on a pot, pantomime, acrobatic feats by outcasts, flute-playing, bone-washing games, elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights, stick fights, boxing, wrestling, mock battles, troop musters, army formations, and army reviews. He is engaged in such an improper spectacle. This too is called improper pasture.
Lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, họ sống chuyên tâm vào các loại trình diễn không thích hợp như vầy, tức là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, vỗ tay, nhạc cụ gõ, đánh trống nồi, nhào lộn, múa rối, thổi sáo, rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, chọi gà, chọi cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, duyệt binh, tập hợp quân đội, dàn trận, xem diễu binh, vân vân; vị ấy chuyên tâm vào các loại trình diễn không thích hợp như vậy – điều này cũng được gọi là phi hành xứ.
Pañcapi kāmaguṇā agocarā. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘mā, bhikkhave, agocare caratha paravisaye. Agocare, bhikkhave, carataṃ paravisaye lacchati māro otāraṃ, lacchati māro ārammaṇaṃ. Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo? Yadidaṃ pañca kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo’’ – ayampi vuccati agocaro.
The five strands of sensual pleasure are also an improper pasture. For this has been said by the Blessed One: “Monks, do not wander in an improper pasture, in the domain of others. For those who wander in an improper pasture, the domain of others, Māra gains an opportunity, Māra gains a foothold. And what, monks, is an improper pasture, the domain of others, for a monk? It is the five strands of sensual pleasure. Which five? Forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, pleasing, connected with sensual pleasure, and arousing lust; sounds cognizable by the ear... smells cognizable by the nose... tastes cognizable by the tongue... tangibles cognizable by the body that are wished for, desired, agreeable, pleasing, connected with sensual pleasure, and arousing lust. This, monks, is called an improper pasture, the domain of others, for a monk.” This too is called improper pasture.
Năm dục trưởng dưỡng cũng là phi hành xứ. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ khưu, chớ đi vào phi hành xứ, vào cảnh giới của kẻ khác. Này các Tỳ khưu, đối với những ai đi vào phi hành xứ, vào cảnh giới của kẻ khác, Ma vương sẽ có cơ hội, Ma vương sẽ có đối tượng. Này các Tỳ khưu, thế nào là phi hành xứ, là cảnh giới của kẻ khác đối với Tỳ khưu? Tức là năm dục trưởng dưỡng này. Năm loại nào? Các sắc pháp do nhãn thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, có khả năng làm phát sinh tham ái; các thanh do nhĩ thức nhận biết... các hương do tỷ thức nhận biết... các vị do thiệt thức nhận biết... các xúc do thân thức nhận biết, khả ái, khả hỷ, khả ý, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục, có khả năng làm phát sinh tham ái. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là phi hành xứ, là cảnh giới của kẻ khác đối với Tỳ khưu' – điều này cũng được gọi là phi hành xứ.
Katamo gocaro? Idha bhikkhu na vesiyāgocaro hoti, na vidhavāgocaro hoti, na thullakumārīgocaro hoti, na paṇḍakagocaro hoti, na bhikkhunīgocaro hoti, na pānāgāragocaro hoti, asaṃsaṭṭho viharati rājūhi rājamahāmattehi titthiyehi titthiyasāvakehi ananulomikena saṃsaggena. Yāni vā pana tāni kulāni saddhāni pasannāni opānabhūtāni kāsāvapajjotāni isivātapaṭivātāni atthakāmāni hitakāmāni phāsukāmāni yogakkhemakāmāni bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ, tathārūpāni kulāni sevati bhajati payirupāsati – ayampi vuccati gocaro.
What is the resort? Here, a bhikkhu does not resort to prostitutes, widows, spinsters, eunuchs, bhikkhunīs, or taverns. He dwells unassociated with kings, royal ministers, heretics, and disciples of heretics through unsuitable association. But those families that have faith, are devoted, are like a public well, are illumined by the saffron robe, have the wind from the coming and going of ascetics, and desire the benefit, welfare, comfort, and security from bondage for bhikkhus, bhikkhunīs, male lay-followers, and female lay-followers—such families he resorts to, associates with, and attends upon. This too is called the resort.
Thế nào là hành xứ? Ở đây, vị Tỳ khưu không có hành xứ là kỹ nữ, không có hành xứ là góa phụ, không có hành xứ là thiếu nữ quá lứa, không có hành xứ là người ái nam ái nữ, không có hành xứ là Tỳ khưu ni, không có hành xứ là quán rượu; vị ấy sống không giao du với các vua chúa, các đại thần, các ngoại đạo, các đệ tử ngoại đạo bằng sự giao du không thích hợp. Lại nữa, những gia đình nào có đức tin, có lòng tịnh tín, như bến nước, rực rỡ bởi màu y ca-sa, có gió thổi qua lại của các bậc ẩn sĩ, mong cầu lợi ích, mong cầu hạnh phúc, mong cầu sự an ổn, mong cầu sự an ổn khỏi các ách phược cho các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vị ấy thân cận, giao du, thường xuyên lui tới những gia đình như vậy – điều này cũng được gọi là hành xứ.
Atha vā bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno saṃvuto gacchati, na hatthiṃ olokento, na assaṃ olokento, na rathaṃ olokento, na pattiṃ olokento…pe… na disāvidisaṃ vipekkhamāno gacchati – ayampi vuccati gocaro.
Or else, a bhikkhu, having entered the area among the houses and set out on a street, proceeds restrained, not looking at an elephant, not looking at a horse, not looking at a chariot, not looking at a foot-soldier... and so on... not looking around at the cardinal and intermediate directions. This too is called the resort.
Hoặc là, vị Tỳ khưu khi đi vào trong làng, đi trên đường, vị ấy đi một cách có thu thúc, không nhìn ngó voi, không nhìn ngó ngựa, không nhìn ngó xe, không nhìn ngó bộ binh... vân vân... đi mà không nhìn ngó các phương và các hướng phụ – điều này cũng được gọi là hành xứ.
Atha vā bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti…pe… manindriye saṃvaraṃ āpajjati – ayampi vuccati gocaro.
Or else, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is not one who grasps at signs... and so on... he attains restraint in the mind-faculty. This too is called the resort.
Hoặc là, vị Tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không nắm giữ tướng chung... vân vân... thực hành sự thu thúc trong ý căn – điều này cũng được gọi là hành xứ.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ ananuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ…pe… anīkadassanaṃ iti vā iti, evarūpā visūkadassanā paṭivirato hoti – ayampi vuccati gocaro.
Or again, some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith, dwell unengaged in such improper spectacles as these—namely, dancing, singing, instrumental music... the viewing of armies, and so on; he is one who abstains from such improper spectacles. This too is called the resort.
Lại nữa, một số Sa-môn, Bà-la-môn, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, họ sống không chuyên tâm vào các loại trình diễn không thích hợp như vầy, tức là: múa, hát, nhạc... vân vân... xem diễu binh, vân vân; vị ấy từ bỏ các loại trình diễn không thích hợp như vậy – điều này cũng được gọi là hành xứ.
Cattāropi satipaṭṭhānā gocaro. Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye. Gocare, bhikkhave, carataṃ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṃ, na lacchati māro ārammaṇaṃ. Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo? Yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā. Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati, vedanāsu…pe. … citte…pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Ayaṃ vuccati, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo – ayampi vuccati gocaro. Edisena gocarena samannāgato assā’’ti – kyāssassu idha gocarā.
The four foundations of mindfulness are also a pasture. For this has been said by the Blessed One: “Bhikkhus, dwell in your own pasture, your paternal domain. For those who dwell in your own pasture, their paternal domain, Māra will not find an opening, Māra will not find a foothold. And what, bhikkhus, is a bhikkhu’s own pasture, his paternal domain? It is the four foundations of mindfulness. What four? Here, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body... feelings... mind... phenomena in phenomena—ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. This, bhikkhus, is called a bhikkhu’s own pasture, his paternal domain. This too is called a pasture. ‘He should be endowed with such a pasture’—this is the meaning of the phrase ‘what are his pastures here?’.”
Bốn niệm xứ cũng là hành xứ. Điều này đã được Đức Thế Tôn nói: 'Này các Tỳ khưu, hãy đi trong hành xứ của mình, trong cảnh giới của tổ tiên. Này các Tỳ khưu, đối với những ai đi trong hành xứ của mình, trong cảnh giới của tổ tiên, Ma vương sẽ không có cơ hội, Ma vương sẽ không có đối tượng. Này các Tỳ khưu, thế nào là hành xứ, là cảnh giới của tổ tiên của Tỳ khưu? Tức là bốn niệm xứ này. Bốn loại nào? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống quán thân trên thân, ...quán thọ trên các thọ..., ...quán tâm trên tâm..., sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là hành xứ, là cảnh giới của tổ tiên của Tỳ khưu – điều này cũng được gọi là hành xứ. Vị ấy nên được trang bị hành xứ như vậy' – (để trả lời câu hỏi) 'Hành xứ của vị ấy ở đây là gì?'
Kāni sīlabbatānāssūti. Kīdisena sīlabbatena samannāgato assa kiṃsaṇṭhitena kiṃpakārena kiṃpaṭibhāgenāti sīlabbatapārisuddhiṃ pucchati. Katamā sīlabbatapārisuddhi? Atthi sīlañceva vatañca, atthi vataṃ na sīlaṃ. Katamaṃ sīlañceva vatañca? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yo tattha saññamo saṃvaro avītikkamo – idaṃ sīlaṃ. Yaṃ samādānaṃ – taṃ vataṃ. Saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, samādānaṭṭhena vataṃ – idaṃ vuccati sīlañceva vatañca.
What are his virtues and practices? Endowed with what kind of virtues and practices, established in what manner, of what nature, of what kind—this asks about the purity of virtues and practices. What is the purity of virtues and practices? There is virtue and practice, and there is practice but not virtue. What is virtue and practice? Here, a bhikkhu is virtuous, restrained by the Pātimokkha restraint, perfect in conduct and resort, seeing danger in the slightest faults, undertaking and training in the training rules. The restraint, control, and non-transgression therein—this is virtue. The undertaking—that is the practice. Virtue in the sense of restraint, practice in the sense of undertaking—this is called virtue and practice.
Câu 'Giới và hạnh của vị ấy là gì?' có nghĩa là: Vị ấy nên được trang bị giới và hạnh như thế nào, có trạng thái nào, có loại nào, có phần nào? Tức là hỏi về sự thanh tịnh của giới và hạnh. Thế nào là sự thanh tịnh của giới và hạnh? Có cái vừa là giới vừa là hạnh, có cái là hạnh mà không phải là giới. Thế nào là cái vừa là giới vừa là hạnh? Ở đây, vị Tỳ khưu có giới, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong các học giới. Ở đó, sự chế ngự, sự thu thúc, sự không vi phạm nào, đó là giới. Sự thọ trì nào, đó là hạnh. Là giới vì có ý nghĩa thu thúc, là hạnh vì có ý nghĩa thọ trì – điều này được gọi là vừa là giới vừa là hạnh.
Katamaṃ vataṃ na sīlaṃ? Aṭṭha dhutaṅgāni – āraññikaṅgaṃ, piṇḍapātikaṅgaṃ, paṃsukūlikaṅgaṃ, tecīvarikaṅgaṃ, sapadānacārikaṅgaṃ, khalupacchābhattikaṅgaṃ, nesajjikaṅgaṃ, yathāsanthatikaṅgaṃ – idaṃ vuccati vataṃ na sīlaṃ. Vīriyasamādānampi vuccati vataṃ na sīlaṃ. Kāmaṃ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upasussatu maṃsalohitaṃ, yaṃ taṃ purisathāmena purisabalena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṃ na taṃ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṃ bhavissatīti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ na sīlaṃ.
What is a practice, but not virtue? The eight ascetic practices—the forest-dweller's practice, the alms-food-eater's practice, the refuse-rag-wearer's practice, the triple-robe-wearer's practice, the house-to-house-seeker's practice, the later-refuser's practice, the sitter's practice, and the any-bed-user's practice—this is called a practice, but not virtue. The undertaking of energy is also called a practice, but not virtue. 'Willingly, let only skin, sinews, and bone remain, and let the flesh and blood in my body dry up; there will be no relaxing of my energy until I have attained that which is to be attained by human stamina, by human strength, by human energy, and by human exertion'—thus one arouses and exerts the mind. Such an undertaking of energy is also called a practice, but not virtue.
Thế nào là hạnh mà không phải là giới? Tám pháp đầu-đà – hạnh ở rừng, hạnh khất thực, hạnh mặc y phấn tảo, hạnh tam y, hạnh khất thực theo thứ tự, hạnh không ăn thêm sau khi đã thôi, hạnh ngồi, hạnh ở chỗ nào cũng được – điều này được gọi là hạnh mà không phải là giới. Sự thọ trì tinh tấn cũng được gọi là hạnh mà không phải là giới. (Như khi vị ấy quyết tâm rằng:) 'Dầu cho chỉ còn lại da, gân, và xương, thịt và máu trong thân có khô cạn đi, nếu chưa đạt được điều gì có thể đạt được bằng sức lực, năng lực, tinh tấn, nỗ lực của con người, thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn' – vị ấy sách tấn, quyết tâm. Sự thọ trì tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh mà không phải là giới.
‘‘Nāsissaṃ na pivissāmi, vihārato na nikkhame †;
Napi passaṃ nipātessaṃ, taṇhāsalle anūhate’’ti.
“I will not eat, I will not drink, I will not leave the monastery; nor will I lay down my side, until the dart of craving is removed.”
'Ta sẽ không ăn, sẽ không uống, sẽ không ra khỏi tịnh xá; cũng sẽ không ngả lưng, khi mũi tên ái dục chưa được nhổ ra'.
Cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ na sīlaṃ. Na tāvāhaṃ imaṃ pallaṅkaṃ bhindissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatīti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. Na tāvāhaṃ imamhā āsanā vuṭṭhahissāmi… na tāvāhaṃ imamhā caṅkamā orohissāmi… vihārā nikkhamissāmi… aḍḍhayogā nikkhamissāmi… pāsādā nikkhamissāmi… hammiyā… guhāya… leṇā… kuṭiyā… kūṭāgārā… aṭṭā… māḷā… uddaṇḍā… upaṭṭhānasālāya… maṇḍapā… rukkhamūlā nikkhamissāmi yāva me na anupādāya āsavehi cittaṃ vimuccissatīti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. Imasmiññeva pubbaṇhasamayaṃ ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmīti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ. Imasmiññeva majjhanhikasamayaṃ… sāyanhasamayaṃ … purebhattaṃ… pacchābhattaṃ… purimayāmaṃ… majjhimayāmaṃ… pacchimayāmaṃ… kāḷe… juṇhe… vasse… hemante… gimhe… purime vayokhandhe… majjhime vayokhandhe… pacchime vayokhandhe ariyadhammaṃ āharissāmi samāharissāmi adhigacchissāmi phassayissāmi sacchikarissāmīti – cittaṃ paggaṇhāti padahati. Evarūpampi vīriyasamādānaṃ vuccati vataṃ, na sīlaṃ – ayaṃ sīlabbatapārisuddhi. Edisāya † sīlabbatapārisuddhiyā samannāgato assāti – kāni sīlabbatānāssu.
He rouses his mind and exerts himself. Even such an undertaking of effort is called a practice, not virtue. “I will not break this cross-legged posture until my mind is liberated from the taints without clinging”—he rouses his mind and exerts himself. Even such an undertaking of effort is called a practice, not virtue. “I will not rise from this seat... I will not descend from this promenade... I will not leave this monastery... I will not leave this lean-to... I will not leave this mansion... this terrace... this cave... this lodging... this hut... this peaked house... this watchtower... this hall... this open shed... this assembly hall... this pavilion... this foot of the tree until my mind is liberated from the taints without clinging”—he rouses his mind and exerts himself. Even such an undertaking of effort is called a practice, not virtue. “This very morning, I will bring forth, accomplish, attain, experience, and realize the noble Dhamma”—he rouses his mind and exerts himself. Even such an undertaking of effort is called a practice, not virtue. “This very midday... evening... before the meal... after the meal... first watch of the night... middle watch of the night... last watch of the night... in the dark fortnight... in the bright fortnight... in the rainy season... in the winter... in the summer... in the first stage of life... in the middle stage of life... in the last stage of life, I will bring forth, accomplish, attain, experience, and realize the noble Dhamma”—he rouses his mind and exerts himself. Even such an undertaking of effort is called a practice, not virtue. This is the purity of virtue and practices. That he should be endowed with such purity of virtue and practices—this is the meaning of ‘What are his virtues and practices?’.
Vị ấy nỗ lực, thiết lập tâm. Sự thực hành tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh nguyện, không phải là giới. ‘Chừng nào tâm của ta chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ, chừng ấy ta sẽ không rời khỏi thế ngồi kiết-già này’ – vị ấy nỗ lực, thiết lập tâm. Sự thực hành tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh nguyện, không phải là giới. ‘Chừng nào tâm của ta chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ, chừng ấy ta sẽ không đứng lên khỏi chỗ ngồi này… chừng ấy ta sẽ không đi xuống khỏi nơi kinh hành này… sẽ không đi ra khỏi ngôi tịnh xá… sẽ không đi ra khỏi ngôi nhà một mái… sẽ không đi ra khỏi ngôi lầu đài… khỏi lầu son… khỏi hang động… khỏi sơn động… khỏi cái am… khỏi ngôi nhà có nóc nhọn… khỏi vọng gác… khỏi sảnh đường… khỏi nhà trống… khỏi trai đường… khỏi nhà मंडप… sẽ không đi ra khỏi gốc cây’ – vị ấy nỗ lực, thiết lập tâm. Sự thực hành tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh nguyện, không phải là giới. ‘Ngay trong buổi sáng hôm nay, ta sẽ thành tựu, sẽ hoàn thành, sẽ chứng đắc, sẽ tiếp xúc, sẽ chứng ngộ Thánh pháp’ – vị ấy nỗ lực, thiết lập tâm. Sự thực hành tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh nguyện, không phải là giới. ‘Ngay trong buổi trưa hôm nay… buổi chiều… trước bữa ăn… sau bữa ăn… canh đầu… canh giữa… canh cuối… trong kỳ hắc nguyệt… trong kỳ bạch nguyệt… trong mùa mưa… trong mùa đông… trong mùa hạ… trong giai đoạn đầu của tuổi tác… trong giai đoạn giữa của tuổi tác… trong giai đoạn cuối của tuổi tác, ta sẽ thành tựu, sẽ hoàn thành, sẽ chứng đắc, sẽ tiếp xúc, sẽ chứng ngộ Thánh pháp’ – vị ấy nỗ lực, thiết lập tâm. Sự thực hành tinh tấn như vậy cũng được gọi là hạnh nguyện, không phải là giới – đây là sự trong sạch của giới và hạnh nguyện. Vị ấy nên là người thành tựu sự trong sạch của giới và hạnh nguyện như thế – (đây là ý nghĩa của) ‘những giới và hạnh nguyện nào của vị ấy?’.
Pahitattassa bhikkhunoti. Pahitattassāti āraddhavīriyassa thāmagatassa daḷhaparakkamassa anikkhittacchandassa anikkhittadhurassa kusalesu dhammesu. Atha vā pesitattassa yassatthāya pesito attatthe ca ñāye ca lakkhaṇe ca kāraṇe ca ṭhānāṭhāne ca. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti pesitattassa, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti pesitattassa, ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti pesitattassa, ‘‘avijjāpaccayā saṅkhārā’’ti pesitattassa …pe… ‘‘jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti pesitattassa, ‘‘avijjānirodhā saṅkhāranirodho’’ti pesitattassa…pe… ‘‘jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’’ti pesitattassa, ‘‘idaṃ dukkha’’nti pesitattassa…pe… ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti pesitattassa, ‘‘ime āsavā’’ti pesitattassa…pe… ‘‘ayaṃ āsavanirodhagāminī paṭipadā’’ti pesitattassa, ‘‘ime dhammā abhiññeyyā’’ti pesitattassa…pe… ‘‘ime dhammā sacchikātabbā’’ti pesitattassa, channaṃ phassāyatanānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca pesitattassa, pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ… catunnaṃ mahābhūtānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca pesitattassa, ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti pesitattassa. Bhikkhunoti puthujjanakalyāṇakassa vā bhikkhuno sekkhassa vā bhikkhunoti – pahitattassa bhikkhuno.
“Of a monk with a resolute self.” ‘Of one with a resolute self’ means: of one who has aroused energy, has reached a state of strength, possesses firm effort, has not abandoned zeal, and has not laid down the burden regarding wholesome qualities. Or alternatively, of one who has sent forth his being. One has sent forth his being for the sake of his own benefit, the faultless path, the characteristics, the cause, and for what is a cause and what is not a cause. One has sent forth his being by contemplating: “All formations are impermanent,” “All formations are suffering,” “All phenomena are not-self,” “Conditioned by ignorance are formations”…and so on… “Conditioned by birth is aging and death,” “With the cessation of ignorance comes the cessation of formations”…and so on… “With the cessation of birth comes the cessation of aging and death,” “This is suffering”…and so on… “This is the path leading to the cessation of suffering,” “These are the taints”…and so on… “This is the path leading to the cessation of the taints,” “These phenomena are to be known by direct knowledge”…and so on… “These phenomena are to be realized,” the origin and passing away, the gratification, the danger, and the escape concerning the six sense bases, the five aggregates of clinging, and the four great elements, and by contemplating “Whatever has the nature to arise, all that has the nature to cease.” ‘Of a monk’ means of a virtuous worldling monk or of a trainee monk. This is the meaning of ‘of a monk with a resolute self’.
Của vị tỳ khưu có tự thân đã được sai đi (pahitattassa bhikkhuno) là như sau: Của vị có tự thân đã được sai đi (pahitattassa) có nghĩa là của vị có tinh tấn đã được khởi sự, có sức mạnh, có sự nỗ lực kiên cố, không từ bỏ ý muốn, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Hoặc là, của vị có tự thân đã được hiến dâng (pesitattassa) vì mục đích mà tự thân đã được hiến dâng, trong lợi ích của bản thân, trong phương pháp, trong đặc tính, trong nguyên nhân, và trong phải và không phải trường hợp. Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Tất cả các pháp là vô ngã.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi.’ ... Tóm tắt ... Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Do sanh làm duyên, già và chết (sanh khởi).’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Do vô minh diệt, các hành diệt.’ ... Tóm tắt ... Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Do sanh diệt, già và chết diệt.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Đây là khổ.’ ... Tóm tắt ... Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Đây là các lậu hoặc.’ ... Tóm tắt ... Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Các pháp này cần được thắng tri.’ ... Tóm tắt ... Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Các pháp này cần được chứng ngộ.’ Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét) sự sanh khởi và sự diệt tận, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xứ xúc. Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét) ... của năm uẩn thủ ... của bốn đại chủng. Của vị có tự thân đã được hiến dâng (với sự quán xét rằng): ‘Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất diệt tận.’ Của vị tỳ khưu (bhikkhuno) có nghĩa là của vị tỳ khưu là phàm phu thiện hoặc của vị tỳ khưu là bậc hữu học – (đây là ý nghĩa của) của vị tỳ khưu có tự thân đã được sai đi.
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói rằng –
‘‘Kyāssa byappathayo assu, kyāssassu idha gocarā;
Kāni sīlabbatānāssu, pahitattassa bhikkhuno’’ti.
“What should be his endeavors, what his resort here? What should be the virtues and observances for a monk with a resolute self?”
‘Những nỗ lực nào của vị ấy nên có, những hành xứ nào của vị ấy nên có ở đây? Những giới và hạnh nguyện nào nên có, của vị tỳ khưu có tự thân đã được sai đi?’
197.
197.
197.
Kaṃ so sikkhaṃ samādāya, ekodi nipako sato;
Kammāro rajatasseva, niddhame malamattano.
What training should he undertake, being unified, wise, and mindful? Like a smith of silver, he should blow away his own impurity.
Vị ấy nên thực hành học giới nào, là người chuyên nhất, trí tuệ, chánh niệm, để loại bỏ cấu uế của tự thân, như người thợ bạc (loại bỏ cặn bã) của bạc?
Kaṃ so sikkhaṃ samādāyāti kaṃ so sikkhaṃ ādāya samādāya ādiyitvā samādiyitvā gaṇhitvā parāmasitvā abhinivisitvāti – kaṃ so sikkhaṃ samādāya.
Regarding 'What training should he undertake?': What training does that person take up, take up well, undertake, undertake well, grasp, review, and become firmly committed to? This is the meaning of 'What training should he undertake?'.
Vị ấy nên thực hành học giới nào (kaṃ so sikkhaṃ samādāya) có nghĩa là: Vị ấy nên thực hành học giới nào, sau khi thọ nhận, sau khi thọ nhận một cách tốt đẹp, sau khi thực hành, sau khi thực hành một cách tốt đẹp, sau khi nắm giữ, sau khi xem xét, sau khi hướng tâm đến? – (đây là ý nghĩa của) vị ấy nên thực hành học giới nào.
Ekodi nipako satoti. Ekodīti ekaggacitto avikkhittacitto avisāhaṭamānaso samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ…pe… sammāsamādhi. Nipakoti nipako paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu…pe… citte…pe… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato. So vuccati satoti – sato. Kaṃ so sikkhaṃ samādāyāti adhisīlasikkhaṃ pucchati. Ekodīti adhicittasikkhaṃ pucchati. Nipakoti adhipaññāsikkhaṃ pucchati. Satoti pārisuddhiṃ pucchatīti – kaṃ so sikkhaṃ samādāya, ekodi nipako sato.
“Unified, wise, and mindful.” “Unified” means having a unified mind, an undistracted mind, a mind unscattered—tranquility, the faculty of concentration, the power of concentration... right concentration. “Wise” means being discerning, wise, possessing wisdom, intelligent, knowledgeable, brilliant, sagacious. “Mindful” means being mindful for four reasons: being mindful while developing the establishment of mindfulness of the body in the body, mindful while developing... on feelings... on the mind... on mental qualities. He is called 'mindful'—mindful. “What training should he undertake?” asks about the training in higher virtue. “Unified” asks about the training in higher mind. “Wise” asks about the training in higher wisdom. “Mindful” asks about the purity of mindfulness—thus, “What training should he undertake, being unified, wise, and mindful?”
Là người chuyên nhất, trí tuệ, chánh niệm (ekodi nipako sato) là như sau: Chuyên nhất (ekodi) có nghĩa là có tâm chuyên nhất, có tâm không phân tán, có ý không dao động, là sự vắng lặng, là định quyền, là định lực, ... tóm tắt ... là chánh định. Trí tuệ (nipako) có nghĩa là người có trí tuệ, là bậc hiền trí, là người có tuệ, là người có giác, là người có trí, là người có tuệ phân tích, là người có tuệ quán. Chánh niệm (sato) có nghĩa là có chánh niệm do bốn lý do – là người có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân; là người có chánh niệm khi tu tập ... trên các cảm thọ ... trên tâm ... niệm xứ quán pháp trên các pháp. Vị ấy được gọi là người có chánh niệm – (đây là ý nghĩa của) chánh niệm. ‘Vị ấy nên thực hành học giới nào’ là hỏi về tăng thượng giới học. ‘Chuyên nhất’ là hỏi về tăng thượng tâm học. ‘Trí tuệ’ là hỏi về tăng thượng tuệ học. ‘Chánh niệm’ là hỏi về sự trong sạch (của niệm) – (đây là ý nghĩa của) vị ấy nên thực hành học giới nào, là người chuyên nhất, trí tuệ, chánh niệm.
Kammāro rajatasseva, niddhame malamattanoti. Kammāro vuccati suvaṇṇakāro, rajataṃ vuccati jātarūpaṃ. Yathā suvaṇṇakāro jātarūpassa oḷārikampi malaṃ dhamati sandhamati niddhamati, majjhimakampi malaṃ dhamati sandhamati niddhamati, sukhumakampi malaṃ dhamati sandhamati niddhamati; evameva bhikkhu attano oḷārikepi kilese dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti, majjhimakepi kilese… sukhumakepi kilese dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti.
“Like a smith of silver, he should blow away his own impurity.” A smith is called a goldsmith, and silver is called gold. Just as a goldsmith blows, thoroughly blows, and repeatedly blows away the coarse impurities from gold, the medium impurities, and the subtle impurities; in the same way, a bhikkhu removes, thoroughly removes, repeatedly removes, abandons, dispels, brings to an end, and causes to not arise again his own coarse defilements, his medium defilements..., and his subtle defilements.
Như người thợ bạc (loại bỏ cặn bã) của bạc, nên loại bỏ cấu uế của tự thân (kammāro rajatasseva, niddhame malamattano) là như sau: Người thợ vàng được gọi là kammāro, vàng được gọi là rajataṃ. Giống như người thợ vàng thổi, thổi mạnh, thổi sạch cả cặn bã thô của vàng; thổi, thổi mạnh, thổi sạch cả cặn bã trung bình; thổi, thổi mạnh, thổi sạch cả cặn bã vi tế; cũng tương tự như thế, vị tỳ khưu thổi, thổi mạnh, thổi sạch, từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, đưa đến sự không còn tồn tại cả những phiền não thô của tự thân; cả những phiền não trung bình… cả những phiền não vi tế, vị ấy thổi, thổi mạnh, thổi sạch, từ bỏ, loại trừ, chấm dứt, đưa đến sự không còn tồn tại.
Atha vā bhikkhu attano rāgamalaṃ dosamalaṃ mohamalaṃ mānamalaṃ diṭṭhimalaṃ kilesamalaṃ duccaritamalaṃ andhakaraṇaṃ acakkhukaraṇaṃ aññāṇakaraṇaṃ paññānirodhikaṃ vighātapakkhikaṃ anibbānasaṃvattanikaṃ dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti.
Or, a bhikkhu expels, thoroughly expels, repeatedly expels, abandons, dispels, destroys, and causes to not arise again his own stain of lust, stain of hatred, stain of delusion, stain of conceit, stain of wrong views, stain of defilements, and stain of misconduct—which are blinding, sightless-making, ignorance-making, wisdom-obstructing, allied with distress, and not conducive to Nibbāna.
Hoặc là, vị tỳ khưu thổi bay, thổi bay kỹ lưỡng, thổi bay hoàn toàn, từ bỏ, loại trừ, làm cho biến mất, làm cho không còn hiện hữu cấu uế tham, cấu uế sân, cấu uế si, cấu uế mạn, cấu uế tà kiến, cấu uế phiền não, cấu uế ác hạnh của bản thân, là các pháp làm cho mù quáng, làm cho không có mắt, làm cho không có trí, ngăn che trí tuệ, thuộc phe phái của sự hủy hoại, không đưa đến Níp-bàn.
Atha vā sammādiṭṭhiyā micchādiṭṭhiṃ dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti. Sammāsaṅkappena micchāsaṅkappaṃ…pe… sammāvācāya micchāvācaṃ… sammākammantena micchākammantaṃ… sammāājīvena micchāājīvaṃ… sammāvāyāmena micchāvāyāmaṃ… sammāsatiyā micchāsatiṃ… sammāsamādhinā micchāsamādhiṃ… sammāñāṇena micchāñāṇaṃ… sammāvimuttiyā micchāvimuttiṃ dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti.
Or, by right view, one expels, thoroughly expels, repeatedly expels, abandons, dispels, destroys, and causes to not arise again wrong view. By right intention, wrong intention… by right speech, wrong speech… by right action, wrong action… by right livelihood, wrong livelihood… by right effort, wrong effort… by right mindfulness, wrong mindfulness… by right concentration, wrong concentration… by right knowledge, wrong knowledge… by right liberation, one expels, thoroughly expels, repeatedly expels, abandons, dispels, destroys, and causes to not arise again wrong liberation.
Hoặc là, vị ấy thổi bay, thổi bay kỹ lưỡng, thổi bay hoàn toàn, từ bỏ, loại trừ, làm cho biến mất, làm cho không còn hiện hữu tà kiến bằng chánh kiến. Vị ấy thổi bay ... tà tư duy bằng chánh tư duy ... tà ngữ bằng chánh ngữ ... tà nghiệp bằng chánh nghiệp ... tà mạng bằng chánh mạng ... tà tinh tấn bằng chánh tinh tấn ... tà niệm bằng chánh niệm ... tà định bằng chánh định ... tà trí bằng chánh trí ... vị ấy thổi bay, thổi bay kỹ lưỡng, thổi bay hoàn toàn, từ bỏ, loại trừ, làm cho biến mất, làm cho không còn hiện hữu tà giải thoát bằng chánh giải thoát.
Atha vā ariyena aṭṭhaṅgikena maggena sabbe kilese sabbe duccarite sabbe darathe sabbe pariḷāhe sabbe santāpe sabbākusalābhisaṅkhāre dhamati sandhamati niddhamati pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gametīti – kammāro rajatasseva niddhame malamattano.
Or, by the Noble Eightfold Path, one expels, thoroughly expels, repeatedly expels, abandons, dispels, destroys, and causes to not arise again all defilements, all misconduct, all vexations, all fevers, all torments, and all unwholesome volitional formations. This is the meaning of the verse: 'As a smith removes dross from silver, so should one remove one's own stain.'
Hoặc là, vị ấy thổi bay, thổi bay kỹ lưỡng, thổi bay hoàn toàn, từ bỏ, loại trừ, làm cho biến mất, làm cho không còn hiện hữu tất cả phiền não, tất cả ác hạnh, tất cả sự phiền muộn, tất cả sự nóng nảy, tất cả sự thiêu đốt, tất cả các hành bất thiện bằng Thánh đạo Tám ngành. Như thế là ý nghĩa của câu: ‘Như người thợ bạc thổi sạch cấu uế của chính mình.’
Tenāha thero sāriputto –
Therefore, the Elder Sāriputta said:
Do đó, Trưởng lão Sāriputta đã nói rằng –
‘‘Kaṃ so sikkhaṃ samādāya, ekodi nipako sato;
Kammāro rajatasseva, niddhame malamattano’’ti.
“Having undertaken which training, should he—one-pointed, discerning, and mindful—remove his own stain, as a smith removes dross from silver?”
“Vị ấy đã thọ trì học giới nào, được nhất tâm, khôn khéo, chánh niệm; như người thợ bạc thổi sạch, cấu uế của chính mình?”
198.
198.
198.
Vijigucchamānassa yadidaṃ phāsu, [sāriputtāti bhagavā]
Rittāsanaṃ sayanaṃ sevato ve;
Sambodhikāmassa yathānudhammaṃ, taṃ te pavakkhāmi yathā pajānaṃ.
Sāriputta, [the Blessed One said], for one feeling revulsion, for one who resorts to an empty seat and lodging, for one who desires full awakening, there is this ease that is in accordance with the Dhamma. That I shall indeed declare to you, as I understand it.
Này Sāriputta, đối với người có sự ghê tởm, người lui tới chỗ ở và chỗ nằm trống vắng, người có mong muốn giác ngộ, có sự thoải mái nào phù hợp với pháp, Ta sẽ tuyên thuyết điều ấy cho các ngươi đúng theo sự hiểu biết.
Vijigucchamānassa yadidaṃ phāsūti. Vijigucchamānassāti jātiyā vijigucchamānassa, jarāya… byādhinā… maraṇena… sokehi … paridevehi… dukkhehi… domanassehi… upāyāsehi…pe… diṭṭhibyasanena dukkhena vijigucchamānassa aṭṭīyamānassa † harāyamānassāti – vijigucchamānassa. Yadidaṃ phāsūti yaṃ phāsuvihāraṃ taṃ kathayissāmi. Katamo phāsuvihāro? Sammāpaṭipadā anulomapaṭipadā apaccanīkapaṭipadā aviruddhapaṭipadā anvatthapaṭipadā dhammānudhammapaṭipadā sīlesu paripūrakāritā indriyesu guttadvāratā bhojane mattaññutā jāgariyānuyogo satisampajaññaṃ cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo nibbānañca nibbānagāminī ca paṭipadā – ayaṃ phāsuvihāroti – vijigucchamānassa yadidaṃ phāsu.
For one who is disgusted, this is ease. 'For one who is disgusted' means: for one who is disgusted by birth, by aging, by sickness, by death, by sorrow, by lamentation, by suffering, by grief, by despair… by the suffering that is the calamity of wrong view, for one who is weary and ashamed—this is the meaning of 'for one who is disgusted'. 'This is ease' means: I will declare that which is a comfortable abiding. What is the comfortable abiding? Right practice, suitable practice, non-antagonistic practice, practice in accordance with the meaning, fulfillment in the virtues, guarding the doors of the sense faculties, moderation in eating, devotion to wakefulness, mindfulness and clear comprehension, the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the Noble Eightfold Path, and Nibbāna and the practice leading to Nibbāna—this is the comfortable abiding. Thus, for one who is disgusted, this is ease.
‘Đối với người có sự ghê tởm, có sự thoải mái nào.’ ‘Người có sự ghê tởm’ có nghĩa là người có sự ghê tởm đối với sanh, có sự ghê tởm đối với già... bệnh... chết... sầu... bi... khổ... ưu... não... người có sự ghê tởm, khổ não, hổ thẹn đối với sự đau khổ do tai họa của tà kiến. Như thế là ‘người có sự ghê tởm.’ ‘Có sự thoải mái nào’ có nghĩa là Ta sẽ nói về sự an trú thoải mái nào. Sự an trú thoải mái là gì? Là chánh đạo, là thuận đạo, là đạo không đối nghịch, là đạo không mâu thuẫn, là đạo thuận theo mục đích, là đạo thuận theo các pháp, là sự thực hành viên mãn các giới, là sự hộ trì các căn, là sự biết tiết độ trong ăn uống, là sự thực hành tỉnh thức, là chánh niệm và tỉnh giác, là bốn niệm xứ, là bốn chánh cần, là bốn như ý túc, là năm căn, là năm lực, là bảy giác chi, là Thánh đạo Tám ngành, và là Níp-bàn và con đường đưa đến Níp-bàn. Đây là sự an trú thoải mái. Như thế là ‘đối với người có sự ghê tởm, có sự thoải mái nào.’
Sāriputtāti bhagavāti. Taṃ theraṃ nāmenālapati. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ. Api ca bhaggarāgoti bhagavā, bhaggadosoti bhagavā, bhaggamohoti bhagavā, bhaggamānoti bhagavā, bhaggadiṭṭhīti bhagavā, bhaggakaṇḍakoti bhagavā, bhaggakilesoti bhagavā, bhaji vibhaji pavibhaji † dhammaratananti bhagavā, bhavānaṃ antakaroti bhagavā, bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapaññoti bhagavā; bhaji vā bhagavā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppānīti bhagavā, bhāgī vā bhagavā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā attharasassa dhammarasassa vimuttirasassa adhisīlassa adhicittassa adhipaññāyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ jhānānaṃ catunnaṃ appamaññānaṃ catunnaṃ āruppasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā aṭṭhannaṃ vimokkhānaṃ aṭṭhannaṃ abhiññāyatanānaṃ navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ saññābhāvanānaṃ dasannaṃ kasiṇasamāpattīnaṃ ānāpānassatisamādhissa asubhasamāpattiyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ tathāgatabalānaṃ catunnaṃ vesārajjānaṃ catunnaṃ paṭisambhidānaṃ channaṃ abhiññānaṃ channaṃ buddhadhammānanti bhagavā; bhagavāti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ, na pitarā kataṃ, na bhātarā kataṃ, na bhaginiyā kataṃ, na mittāmaccehi kataṃ, na ñātisālohitehi kataṃ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ, na devatāhi kataṃ; vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – sāriputtāti bhagavā.
“Sāriputta,” the Blessed One addressed that elder by name. “Bhagavā” is a term of reverence. Moreover, the Blessed One is so called because he has broken lust; the Blessed One is so called because he has broken hatred; the Blessed One is so called because he has broken delusion; the Blessed One is so called because he has broken conceit; the Blessed One is so called because he has broken wrong views; the Blessed One is so called because he has broken the thorn; the Blessed One is so called because he has broken the defilements; the Blessed One is so called because he attended to, analyzed, and classified the jewel of the Dhamma; the Blessed One is so called because he is the end-maker of existences; the Blessed One is so called because he has a developed body, developed virtue, developed mind, and developed wisdom. Or, the Blessed One is so called because he resorted to remote lodgings in forests and woodlands—secluded, with little sound, with little disturbance, devoid of the presence of people, suitable for retreat, and appropriate for seclusion. Or, the Blessed One is so called because he is a distributor of robes, almsfood, lodgings, and medicines and requisites for the sick. Or, the Blessed One is so called because he is one who analyzes the flavor of meaning, the flavor of the Dhamma, the flavor of liberation, higher virtue, higher mind, and higher wisdom. Or, the Blessed One is so called because he is one who analyzes the four jhānas, the four immeasurables, and the four formless attainments. Or, the Blessed One is so called because he is one who analyzes the eight liberations, the eight spheres of mastery, and the nine successive attainments of dwelling. Or, the Blessed One is so called because he is one who divides and analyzes the ten developments of perception, the ten kasiṇa attainments, the concentration of mindfulness of breathing, and the attainment of the perception of foulness. Or, the Blessed One is so called because he is one who divides and analyzes the four foundations of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path. Or, the Blessed One is so called because he is one who divides and analyzes the ten powers of a Tathāgata, the four grounds of self-confidence, the four analytical knowledges, the six supernormal knowledges, and the six qualities of a Buddha. This name, “Bhagavā,” was not given by his mother, not by his father, not by his brother, not by his sister, not by friends and companions, not by relatives and kinsmen, not by ascetics and brahmins, not by deities; it is a designation realized at the culmination of liberation by the Buddhas, the Blessed Ones, at the root of the Bodhi tree, together with the attainment of omniscient knowledge—that is, “Bhagavā.” This is the meaning of “Sāriputta” and “Bhagavā.”
‘Này Sāriputta, Đức Thế Tôn.’ Ngài gọi vị Trưởng lão bằng tên. ‘Thế Tôn’ là từ ngữ tôn kính. Hơn nữa, vì đã bẻ gãy tham nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy sân nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy si nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy mạn nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy tà kiến nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy gai góc nên là Thế Tôn, vì đã bẻ gãy phiền não nên là Thế Tôn. Vì đã phân tích, phân chia, phân loại pháp bảo nên là Thế Tôn. Vì đã chấm dứt các cõi hữu nên là Thế Tôn. Vì đã tu tập thân, tu tập giới, tu tập tâm, tu tập tuệ nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn đã lui tới các trú xứ trong rừng, nơi hoang vắng, hẻo lánh, ít tiếng động, không ồn ào, vắng người, kín đáo cho con người, thích hợp cho việc độc cư nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về y, vật thực khất thực, trú xứ, dược phẩm trị bệnh và các vật dụng nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về nghĩa vị, pháp vị, giải thoát vị, về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn định vô sắc nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định tuần tự trú nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về mười tưởng tu tập, mười định biến xứ, định niệm hơi thở vô ra, định bất tịnh nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành nên là Thế Tôn. Hoặc, vì Đức Thế Tôn là người có phần về mười lực của Như Lai, bốn vô sở úy, bốn tuệ phân tích, sáu thắng trí, sáu pháp của bậc Phật nên là Thế Tôn. Danh xưng ‘Thế Tôn’ này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè thân hữu đặt, không phải do quyến thuộc huyết thống đặt, không phải do Sa-môn, Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt; đây là danh xưng được chế định, được chứng ngộ vào lúc giải thoát dưới cội Bồ-đề cùng với sự chứng đắc toàn giác trí, đó là ‘Thế Tôn.’ Như thế là ‘Này Sāriputta, Đức Thế Tôn.’
Rittāsanaṃ sayanaṃ sevato veti. Āsanaṃ vuccati yattha nisīdati – mañco pīṭhaṃ bhisi taṭṭikā cammakhaṇḍo tiṇasanthāro paṇṇasanthāro palālasanthāro. Sayanaṃ vuccati senāsanaṃ vihāro aḍḍhayogo pāsādo hammiyaṃ guhā. Taṃ sayanāsanaṃ asappāyarūpadassanena rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ, asappāyasaddassavanena…pe… asappāyehi pañcahi kāmaguṇehi rittaṃ vivittaṃ pavivittaṃ. Taṃ sayanāsanaṃ sevato nisevato saṃsevato paṭisevatoti – rittāsanaṃ sayanaṃ sevato ve.
Regarding the phrase, 'One who resorts to an empty seat and lodging.' A 'seat' is defined as where one sits: a couch, a stool, a cushion, a mat, a piece of hide, a grass spread, a leaf spread, or a straw spread. A 'lodging' is defined as a dwelling: a monastery, a lean-to, a palace, a storied building, or a cave. That seat and lodging is empty, secluded, and thoroughly secluded, being devoid of the sight of unsuitable forms, the sound of unsuitable sounds... and so on... devoid of the five unsuitable strands of sensual pleasure. For one who resorts to, constantly resorts to, properly resorts to, and repeatedly resorts to such a seat and lodging—this is the meaning of 'one who resorts to an empty seat and lodging.'
Rittāsanaṃ sayanaṃ sevato ve (thường lui tới chỗ ở và chỗ ngồi trống vắng). Āsanaṃ (chỗ ngồi) được gọi là nơi người ấy ngồi – giường, ghế, nệm, chiếu, tấm da, thảm cỏ, thảm lá, thảm rơm. Sayanaṃ (chỗ ở) được gọi là sàng tọa, tịnh xá, nhà một mái, lầu đài, lầu son, hang động. Chỗ ở và chỗ ngồi ấy là trống vắng, thanh vắng, đặc biệt thanh vắng do (không có) việc nhìn thấy các sắc không thích hợp, do (không có) việc nghe thấy các tiếng không thích hợp... v.v... là trống vắng, thanh vắng, đặc biệt thanh vắng khỏi năm dục trưởng dưỡng không thích hợp. Đối với người thường lui tới, thường xuyên lui tới, khéo lui tới, lui tới nhiều lần chỗ ở và chỗ ngồi ấy – (đây là ý nghĩa của) rittāsanaṃ sayanaṃ sevato ve.
Sambodhikāmassa yathānudhammanti. Sambodhi vuccati catūsu maggesu ñāṇaṃ paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ…pe… dhammavicayasambojjhaṅgo vīmaṃsā vipassanā sammādiṭṭhi. Taṃ sambodhiṃ bujjhitukāmassa anubujjhitukāmassa paṭibujjhitukāmassa sambujjhitukāmassa adhigantukāmassa phassitukāmassa sacchikātukāmassāti – sambodhikāmassa.
Regarding 'For one who desires enlightenment.' 'Enlightenment' (sambodhi) is defined as the knowledge in the four paths, which is wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom... the enlightenment factor of investigation of phenomena, examination, insight, and right view. For one who desires to understand that enlightenment, desires to understand it accordingly, desires to awaken to it, desires to understand it fully, desires to attain it, desires to experience it, and desires to realize it for oneself—this is the meaning of 'for one who desires enlightenment.'
Sambodhikāmassa yathānudhammanti (đối với người mong cầu sự giác ngộ, một cách tùy pháp). Sambodhi (giác ngộ) được gọi là trí tuệ trong bốn đạo: là tuệ, tuệ quyền, tuệ lực... v.v... trạch pháp giác chi, sự thẩm sát, tuệ quán, chánh kiến. Đối với người mong muốn giác ngộ, mong muốn tùy giác, mong muốn liễu tri, mong muốn chánh giác, mong muốn chứng đạt, mong muốn xúc chứng, mong muốn tự mình chứng ngộ sự giác ngộ ấy – (đây là ý nghĩa của) sambodhikāmassa (đối với người mong cầu sự giác ngộ).
Yathānudhammanti katame bodhiyā anudhammā? Sammāpaṭipadā anulomapaṭipadā apaccanīkapaṭipadā aviruddhapaṭipadā anvatthapaṭipadā dhammānudhammapaṭipadā sīlesu paripūrakāritā indriyesu guttadvāratā bhojane mattaññutā jāgariyānuyogo satisampajaññaṃ – ime vuccanti bodhiyā anudhammā. Atha vā catunnaṃ maggānaṃ pubbabhāge vipassanā – ime vuccanti bodhiyā anudhammāti – sambodhikāmassa yathānudhammaṃ.
Regarding 'in accordance with the Dhamma.' What are the principles in accordance with enlightenment? They are: right practice, conforming practice, non-opposing practice, non-conflicting practice, practice that follows the goal, practice in accordance with the Dhamma; fulfillment in virtues, guardedness of the sense faculties, moderation in eating, application to wakefulness, and mindfulness with clear comprehension—these are called the principles in accordance with enlightenment. Or alternatively, the insight that is the preliminary stage of the four paths—these are called the principles in accordance with enlightenment. This is the meaning of 'for one who desires enlightenment, in accordance with the Dhamma.'
Yathānudhammanti (một cách tùy pháp). Những pháp nào là tùy pháp của sự giác ngộ? Chánh hạnh, thuận hạnh, vô nghịch hạnh, vô vi nghịch hạnh, tùy nghĩa hạnh, pháp tùy pháp hạnh, sự viên mãn trong các giới, sự hộ trì các căn, sự tiết độ trong ăn uống, sự chuyên tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác – những điều này được gọi là tùy pháp của sự giác ngộ. Hoặc là, tuệ quán trong giai đoạn đầu của bốn đạo – những điều này được gọi là tùy pháp của sự giác ngộ – (đây là ý nghĩa của) sambodhikāmassa yathānudhammaṃ (đối với người mong cầu sự giác ngộ, một cách tùy pháp).
Taṃ te pavakkhāmi yathā pajānanti. Tanti bodhiyā anudhammaṃ. Pavakkhāmīti pavakkhāmi ācikkhissāmi desessāmi paññapessāmi paṭhapessāmi vivarissāmi vibhajissāmi uttānīkarissāmi pakāsissāmi. Yathā pajānanti yathā pajānaṃ yathā pajānanto ājānanto vijānanto paṭivijānanto paṭivijjhanto na itihitihaṃ na itikirāya na paramparāya na piṭakasampadāya na takkahetu na nayahetu na ākāraparivitakkena na diṭṭhinijjhānakkhantiyā sāmaṃ sayamabhiññātaṃ attapaccakkhaṃ dhammaṃ, taṃ kathayissāmīti – taṃ te pavakkhāmi yathā pajānaṃ.
"That I will declare to you as I know it." Herein, "That" is the Dhamma in accordance with enlightenment. "I will declare" means: I will speak, I will speak in detail, I will announce, I will teach, I will make known, I will establish, I will reveal, I will analyze, I will make plain, I will make manifest. "As I know it" means: as I know, knowing well, knowing distinctly, knowing repeatedly, knowing by penetration; not by hearsay, not by tradition, not by lineage, not by scriptural authority, not by reasoning, not by inference, not by reflecting on reasons, nor through approval of a view after pondering, but the Dhamma that is directly known by myself, personally experienced—that Dhamma I will teach. This is the meaning of the phrase, "That I will declare to you as I know it."
Taṃ te pavakkhāmi yathā pajānanti (Ta sẽ nói cho ngươi điều ấy, như người ta biết). Taṃ (điều ấy) là tùy pháp của sự giác ngộ. Pavakkhāmi (Ta sẽ nói) nghĩa là: Ta sẽ nói, Ta sẽ nói rõ, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ thuyết giảng, Ta sẽ trình bày, Ta sẽ thiết lập, Ta sẽ khai mở, Ta sẽ phân tích, Ta sẽ làm cho rõ ràng, Ta sẽ hiển thị. Yathā pajānanti (như người ta biết) nghĩa là: như người biết, như người đang biết, đang hiểu rõ, đang thắng tri, đang liễu tri, đang thông đạt; không phải do truyền khẩu, không phải do truyền thống, không phải do kế thừa, không phải do y cứ tạng điển, không phải do lý luận, không phải do suy diễn, không phải do cân nhắc hình tướng, không phải do kham nhẫn theo tri kiến đã thẩm xét, mà là pháp được tự mình thắng tri, được tự thân chứng nghiệm, Ta sẽ nói pháp ấy – (đây là ý nghĩa của) taṃ te pavakkhāmi yathā pajānaṃ.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Vijigucchamānassa yadidaṃ phāsu, [sāriputtāti bhagavā]
Rittāsanaṃ sayanaṃ sevato ve;
Sambodhikāmassa yathānudhammaṃ, taṃ te pavakkhāmi yathā pajāna’’nti.
"For one who is disgusted, this is what is ease, [O Sāriputta," said the Blessed One,]—frequenting an empty seat and lodging. For one desiring supreme awakening, in accordance with the Dhamma, that I will declare to you as I know it."
“Đối với người đang nhàm chán, điều này là thoải mái, [này Sāriputta, đức Thế Tôn phán] là thường lui tới chỗ ở và chỗ ngồi trống vắng; đối với người mong cầu sự giác ngộ, một cách tùy pháp, Ta sẽ nói cho ngươi điều ấy, như người ta biết.”
199.
199.
199.
Pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāye, bhikkhu sato sapariyantacārī;
Ḍaṃsādhipātānaṃ sarīsapānaṃ †, manussaphassānaṃ catuppadānaṃ.
A wise monk, mindful and practicing within limits, should not fear five dangers: of gadflies and attacking insects, of crawling creatures, of contact with humans, and of four-footed beasts.
“Bậc trí không nên sợ hãi năm nỗi sợ, vị tỳ khưu chánh niệm, sống trong giới hạn; (đó là) ruồi muỗi và côn trùng bay, các loài bò sát, sự xúc chạm của con người, và các loài bốn chân.”
Pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāyeti. Dhīroti dhīro paṇḍito paññavā buddhimā ñāṇī vibhāvī medhāvī. Dhīro pañcannaṃ bhayānaṃ na bhāyeyya na taseyya na santaseyya na uttaseyya na parittaseyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāye.
"The wise one should not fear the five dangers." "Wise" means: steadfast, learned, discerning, intelligent, knowledgeable, insightful, sagacious. The wise one should not fear the five dangers, should not tremble, be terrified, panic, or be alarmed, nor fall into agitation. They should dwell fearless, unshaken, undaunted, and not fleeing, having abandoned fear and terror, free from hair-raising fear. This is the meaning of "The wise one should not fear the five dangers."
Pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāyeti (bậc trí không nên sợ hãi năm nỗi sợ). Dhīroti (bậc trí) là người hiền trí, bậc hiền triết, người có trí tuệ, người có giác tuệ, người có tri kiến, người sáng suốt, người thông tuệ. Bậc trí không nên sợ hãi, không nên run sợ, không nên kinh hãi, không nên hoảng hốt, không nên khiếp sợ năm nỗi sợ, không nên rơi vào sự kinh hoàng; vị ấy nên là người không sợ hãi, không kinh ngạc, không run rẩy, không bỏ chạy, nên trú với sự sợ hãi và kinh hoàng đã được đoạn trừ, với sự dựng tóc gáy đã biến mất – (đây là ý nghĩa của) pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāye.
Bhikkhu sato sapariyantacārīti. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā bhikkhu sekkho vā bhikkhu. Satoti catūhi kāraṇehi sato – kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato, vedanāsu…pe… citte… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ bhāvento sato – so vuccati sato. Sapariyantacārīti cattāro pariyantā – sīlasaṃvarapariyanto, indriyasaṃvarapariyanto, bhojane mattaññutāpariyanto, jāgariyānuyogapariyanto.
"A bhikkhu who is mindful and acts within boundaries." Here, "bhikkhu" is a bhikkhu who is a virtuous worldling or a bhikkhu in training. "Mindful" means mindful for four reasons: mindful by developing the establishment of mindfulness as contemplation of the body in the body; mindful by developing... regarding feelings... mind... the establishment of mindfulness as contemplation of phenomena in phenomena—he is called "mindful." "One who acts within boundaries" refers to four boundaries: the boundary of restraint in virtue, the boundary of restraint of the sense faculties, the boundary of moderation in food, and the boundary of application to wakefulness.
Bhikkhu sato sapariyantacārīti (vị tỳ khưu chánh niệm, sống trong giới hạn). Bhikkhūti (tỳ khưu) là vị tỳ khưu thiện phàm phu hoặc vị tỳ khưu hữu học. Satoti (chánh niệm) là có chánh niệm do bốn lý do – có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán thân trên thân, (quán) thọ... v.v... (quán) tâm... có chánh niệm khi tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp – vị ấy được gọi là người có chánh niệm. Sapariyantacārīti (sống trong giới hạn) là có bốn giới hạn – giới hạn của sự phòng hộ giới, giới hạn của sự phòng hộ các căn, giới hạn của sự tiết độ trong ăn uống, giới hạn của sự chuyên tâm cảnh giác.
Katamo sīlasaṃvarapariyanto? Idha bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Antopūtibhāvaṃ paccavekkhamāno anto sīlasaṃvarapariyante carati, mariyādaṃ na bhindati – ayaṃ sīlasaṃvarapariyanto.
What is the boundary of restraint in virtue? Here, a bhikkhu is virtuous; he dwells restrained by the restraint of the Pātimokkha, is endowed with right conduct and resort, sees danger in the slightest faults, and trains by undertaking the training rules. Reflecting on the state of inner rottenness, he acts within the boundary of restraint in virtue and does not break the boundary. This is the boundary of restraint in virtue.
Giới hạn của sự phòng hộ giới là gì? Ở đây, vị tỳ khưu có giới, trú với sự phòng hộ của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới. Quán xét tình trạng thối rữa bên trong, vị ấy hành xử trong giới hạn của sự phòng hộ giới, không phá vỡ ranh giới – đây là giới hạn của sự phòng hộ giới.
Katamo indriyasaṃvarapariyanto? Idha bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ…pe… cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Sotena saddaṃ sutvā… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā… manasā dhammaṃ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ susaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā nānvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjati. Ādittapariyāyaṃ paccavekkhamāno anto indriyasaṃvarapariyante carati, mariyādaṃ na bhindati – ayaṃ indriyasaṃvarapariyanto.
What is the boundary of restraint of the sense faculties? Here, a bhikkhu, seeing a form with the eye, is not a grasper of signs, nor a grasper of details. Since, if he were to dwell with the eye faculty unrestrained... he attains restraint in the eye faculty. Hearing a sound with the ear... smelling an odor with the nose... tasting a flavor with the tongue... feeling a tangible object with the body... cognizing a mental object with the mind, he is not a grasper of signs, nor a grasper of details. Since, if he were to dwell with the mind faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure would flow in, he practices for its restraint, guards the mind faculty, and attains restraint in the mind faculty. Reflecting on the Ādittapariyāya, he acts within the boundary of restraint of the sense faculties and does not break the boundary. This is the boundary of restraint of the sense faculties.
Giới hạn của sự phòng hộ các căn là gì? Ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào... v.v... vị ấy thực hành sự phòng hộ nhãn căn. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào, nếu vị ấy trú với ý căn không được phòng hộ, các pháp bất thiện, xấu ác là tham ái và ưu phiền sẽ tuôn chảy vào, vị ấy thực hành để phòng hộ ý căn, hộ trì ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Quán xét bài kinh về sự bốc cháy, vị ấy hành xử trong giới hạn của sự phòng hộ các căn, không phá vỡ ranh giới – đây là giới hạn của sự phòng hộ các căn.
Katamo bhojane mattaññutāpariyanto? Idha bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāreti neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cāti. Akkhabbhañjanavaṇapaṭicchādanaputtamaṃsūpamaṃ paccavekkhamāno anto bhojane mattaññutāpariyante carati, mariyādaṃ na bhindati – ayaṃ bhojane mattaññutāpariyanto.
What is the limit of moderation in food? Here, a bhikkhu, reflecting wisely, consumes food: not for amusement, not for intoxication, not for adornment, not for beautification, but only for the maintenance of this body, for its sustenance, for ending the affliction of hunger, and for the support of the holy life. He reflects, 'Thus I will dispel the old feeling and not give rise to a new feeling. And for me there will be sustenance, blamelessness, and a comfortable abiding.' Reflecting on the similes of greasing the axle, covering a wound, and a son's flesh, he conducts himself within the limit of moderation in food; he does not break the boundary. This is the limit of moderation in food.
Thế nào là giới hạn của sự tiết độ trong ăn uống? Ở đây, vị tỳ khưu, sau khi suy xét một cách như lý, thọ dụng vật thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp, mà chỉ để cho thân này được duy trì, được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não (do đói khát), và để hỗ trợ cho phạm hạnh. (Vị ấy suy xét rằng:) 'Như vậy, ta sẽ dập tắt cảm thọ cũ (cơn đói) và sẽ không để cảm thọ mới (do ăn quá no) phát sinh, và sự sống của ta sẽ được duy trì, không có lỗi lầm, và được an ổn.' Sau khi quán xét ví dụ về việc thoa dầu vào trục xe, việc băng bó vết thương, và việc ăn thịt con, vị ấy hành xử trong giới hạn của sự tiết độ trong ăn uống, không vi phạm giới hạn – đây là giới hạn của sự tiết độ trong ăn uống.
Katamo jāgariyānuyogapariyanto? Idha bhikkhu divasaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti, rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti, rattiyā majjhimaṃ yāmaṃ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappeti pāde pādaṃ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṃ manasi karitvā, rattiyā pacchimaṃ yāmaṃ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti. Bhaddekarattavihāraṃ † paccavekkhamāno anto jāgariyānuyogapariyante carati, mariyādaṃ na bhindati – ayaṃ jāgariyānuyogapariyantoti – bhikkhu sato sapariyantacārī.
What is the limit of devotion to wakefulness? Here, a bhikkhu purifies his mind of obstructive qualities by walking and sitting during the day. In the first watch of the night, he purifies his mind of obstructive qualities by walking and sitting. In the middle watch of the night, he adopts the lion's posture on his right side, placing one foot on the other, mindful and fully aware, having established in his mind the perception of rising. In the last watch of the night, having risen, he purifies his mind of obstructive qualities by walking and sitting. Reflecting on dwelling well for an excellent night, he conducts himself within the limit of devotion to wakefulness; he does not break the boundary. This is the limit of devotion to wakefulness. A bhikkhu is one who is mindful and practices within limits.
Thế nào là giới hạn của sự chuyên tâm tỉnh thức? Ở đây, vị tỳ khưu, vào ban ngày, bằng cách đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh đầu của đêm, bằng cách đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Vào canh giữa của đêm, vị ấy nằm xuống trong tư thế con sư tử, về phía hông bên phải, đặt chân này lên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến tưởng về sự đứng dậy. Vào canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, bằng cách đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại. Sau khi quán xét về trú xứ của một đêm tốt lành, vị ấy hành xử trong giới hạn của sự chuyên tâm tỉnh thức, không vi phạm giới hạn – đây là giới hạn của sự chuyên tâm tỉnh thức – vị tỳ khưu chánh niệm, hành xử trong giới hạn.
Ḍaṃsādhipātānaṃ sarīsapānanti. Ḍaṃsā vuccanti piṅgalamakkhikāyo. Adhipātakā vuccanti sabbāpi makkhikāyo. Kiṃkāraṇā adhipātakā vuccanti sabbāpi makkhikāyo? Tā uppatitvā uppatitvā khādanti; taṃkāraṇā adhipātakā vuccanti sabbāpi makkhikāyo. Sarīsapā vuccanti ahīti – ḍaṃsādhipātānaṃ sarīsapānaṃ.
'Of gadflies, attacking insects, and reptiles.' Gadflies are said to be piṅgala flies. Attacking insects are said to be all flies. For what reason are all flies called attacking insects? They fly up again and again and bite; for that reason, all flies are called attacking insects. Snakes are said to be reptiles. Thus: 'of gadflies, attacking insects, and reptiles.'
Về các loài ruồi trâu, các loài bay lượn, và các loài bò sát. 'Ruồi trâu' được gọi là các loài ruồi vàng. 'Các loài bay lượn' được gọi là tất cả các loài ruồi. Vì lý do gì tất cả các loài ruồi được gọi là 'các loài bay lượn'? Chúng bay lên, bay lên rồi cắn; vì lý do đó, tất cả các loài ruồi được gọi là 'các loài bay lượn'. 'Các loài bò sát' được gọi là rắn – về các loài ruồi trâu, các loài bay lượn, và các loài bò sát.
Manussaphassānaṃ catuppadānanti. Manussaphassā vuccanti corā vā assu mānavā vā katakammā vā akatakammā vā. Te bhikkhuṃ pañhaṃ vā puccheyyuṃ vādaṃ vā āropeyyuṃ akkoseyyuṃ paribhāseyyuṃ roseyyuṃ viroseyyuṃ hiṃseyyuṃ vihiṃseyyuṃ heṭheyyuṃ viheṭheyyuṃ ghāteyyuṃ upaghāteyyuṃ upaghātaṃ vā kareyyuṃ. Yo koci manussato upaghāto – manussaphasso. Catuppadānanti sīhā byagghā dīpi acchā taracchā kokā mahiṃsā hatthī. Te bhikkhuṃ maddeyyuṃ khādeyyuṃ hiṃseyyuṃ vihiṃseyyuṃ heṭheyyuṃ viheṭheyyuṃ ghāteyyuṃ upaghāteyyuṃ upaghātaṃ vā kareyyuṃ. Catuppadato upaghāto yaṃ kiñci catuppadabhayanti – manussaphassānaṃ catuppadānaṃ.
'Of human contact and of quadrupeds.' Human contact means: there may be thieves, or oppressive persons, or those who have set out to do a deed, or those who have not yet set out to do a deed. They may question the monk, or raise a dispute, or scold, or revile, or restrain, or especially restrain, or harm, or especially harm, or oppress, or especially oppress, or kill, or approach and kill, or they may commit the act of approaching and killing. Any harm whatsoever from a human is called 'human contact'. 'Of quadrupeds' means: lions, tigers, leopards, bears, hyenas, wolves, buffaloes, and elephants. They may trample the monk, or devour, or harm, or especially harm, or oppress, or especially oppress, or kill, or approach and kill, or they may commit the act of approaching and killing. Any harm whatsoever from a quadruped is called 'danger from quadrupeds'. This is the meaning of the phrase 'of human contact and of quadrupeds'.
Về sự xúc chạm của con người và của các loài bốn chân. 'Sự xúc chạm của con người' được gọi là: có thể là kẻ trộm, có thể là những người hung bạo, có thể là những người đã làm ác nghiệp hoặc chưa làm ác nghiệp. Họ có thể hỏi vị tỳ khưu một câu hỏi, hoặc có thể áp đặt một quan điểm, có thể mắng nhiếc, có thể lăng mạ, có thể làm phiền, có thể quấy nhiễu, có thể làm hại, có thể gây tổn thương, có thể làm khổ, có thể gây đau đớn, có thể giết, có thể sát hại, hoặc có thể gây ra sự sát hại. Bất cứ sự sát hại nào từ con người – đó là sự xúc chạm của con người. 'Của các loài bốn chân' là: sư tử, cọp, báo, gấu, linh cẩu, chó sói, trâu rừng, voi. Chúng có thể chà đạp, ăn thịt, làm hại, gây tổn thương, làm khổ, gây đau đớn, giết, sát hại, hoặc gây ra sự sát hại vị tỳ khưu. Bất cứ sự sát hại nào từ loài bốn chân, bất cứ nỗi sợ hãi nào từ loài bốn chân – về sự xúc chạm của con người và của các loài bốn chân.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Pañcannaṃ dhīro bhayānaṃ na bhāye, bhikkhu sato sapariyantacārī;
Ḍaṃsādhipātānaṃ sarīsapānaṃ, manussaphassānaṃ catuppadāna’’nti.
“A wise monk, mindful and dwelling within limits, should not be afraid of the five dangers: of gadflies and attacking insects, of reptiles, of human contact, and of quadrupeds.”
“Bậc trí không nên sợ hãi năm nỗi sợ, vị tỳ khưu chánh niệm, hành xử trong giới hạn; (đó là) các loài ruồi trâu, các loài bay lượn, các loài bò sát, sự xúc chạm của con người, và của các loài bốn chân.”
200.
200.
200.
Paradhammikānampi na santaseyya, disvāpi tesaṃ bahubheravāni;
Athāparāni abhisambhaveyya, parissayāni kusalānuesī.
He should not be frightened of those of other doctrines, even upon seeing their many terrors. Furthermore, the seeker of the wholesome should overcome other dangers.
Cũng không nên run sợ trước những người theo pháp khác, dù thấy nhiều điều kinh khủng từ họ; người tìm cầu điều thiện lành nên vượt qua những hiểm nguy khác nữa.
Paradhammikānampi na santaseyya, disvāpi tesaṃ bahubheravānīti. Paradhammikā vuccanti satta sahadhammike ṭhapetvā ye keci buddhe dhamme saṅghe appasannā. Te bhikkhuṃ pañhaṃ vā puccheyyuṃ vādaṃ vā āropeyyuṃ akkoseyyuṃ paribhāseyyuṃ roseyyuṃ viroseyyuṃ hiṃseyyuṃ vihiṃseyyuṃ heṭheyyuṃ viheṭheyyuṃ ghāteyyuṃ upaghāteyyuṃ upaghātaṃ vā kareyyuṃ. Tesaṃ bahubherave passitvā vā suṇitvā vā na vedheyya na pavedheyya na sampavedheyya na taseyya na santaseyya na uttaseyya na parittaseyya na bhāyeyya na santāsaṃ āpajjeyya, abhīrū assa acchambhī anutrāsī apalāyī pahīnabhayabheravo vigatalomahaṃso vihareyyāti – paradhammikānampi na santaseyya disvāpi tesaṃ bahubheravāni.
‘One should not be intimidated by those of other doctrines, even having seen their many terrors.’ ‘Those of other doctrines’ are said to be any who, setting aside the seven co-religionists, are not devoted to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha. They might question a monk or raise a dispute; they might scold, insult, confine, especially confine, harm, especially harm, oppress, especially oppress, kill, kill by approaching, or commit killing by approaching. Having seen or heard their many terrors, one should not be shaken, agitated, greatly agitated, frightened, intimidated, alarmed, terrified, or afraid, nor should one fall into anxiety. One should be fearless, unstartled, undismayed, not fleeing; one should dwell having abandoned fear and terror, with goosebumps gone. This is the meaning of ‘One should not be intimidated by those of other doctrines, even having seen their many terrors.’
Cũng không nên run sợ trước những người theo pháp khác, dù thấy nhiều điều kinh khủng từ họ, nghĩa là: 'Những người theo pháp khác' được gọi là bất cứ ai không có niềm tin vào Phật, Pháp, và Tăng, ngoại trừ bảy vị đồng phạm hạnh. Họ có thể hỏi vị tỳ khưu một câu hỏi, hoặc có thể áp đặt một quan điểm, có thể mắng nhiếc, có thể lăng mạ, có thể làm phiền, có thể quấy nhiễu, có thể làm hại, có thể gây tổn thương, có thể làm khổ, có thể gây đau đớn, có thể giết, có thể sát hại, hoặc có thể gây ra sự sát hại. Sau khi thấy hoặc nghe về nhiều điều kinh khủng của họ, vị ấy không nên run rẩy, không nên dao động, không nên chấn động, không nên sợ hãi, không nên kinh hãi, không nên khiếp sợ, không nên hoảng sợ, không nên sợ sệt, không nên rơi vào kinh hoàng; vị ấy nên là người không sợ hãi, không rụt rè, không kinh hãi, không bỏ chạy, đã từ bỏ sợ hãi và kinh hoàng, đã vượt qua sự dựng tóc gáy, và nên an trú – cũng không nên run sợ trước những người theo pháp khác, dù thấy nhiều điều kinh khủng từ họ.
Athāparāni abhisambhaveyya, parissayāni kusalānuesīti. Athāparānipi atthi abhisambhotabbāni abhibhavitabbāni ajjhottharitabbāni pariyādiyitabbāni madditabbāni. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca…pe… evampi tatrāsayāti – parissayā. Kusalānuesīti sammāpaṭipadaṃ anulomapaṭipadaṃ apaccanīkapaṭipadaṃ aviruddhapaṭipadaṃ anvatthapaṭipadaṃ…pe… ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ nibbānañca nibbānagāminiñca paṭipadaṃ esantena gavesantena pariyesantena parissayā abhisambhotabbā abhibhavitabbā ajjhottharitabbā pariyādiyitabbā madditabbāti – athāparāni abhisambhaveyya parissayāni kusalānuesī.
‘Furthermore, one seeking the wholesome should overcome other perils.’ Furthermore, there are other things to be overcome, mastered, overwhelmed, completely grasped, and crushed. Regarding ‘perils’: there are two kinds of perils—manifest perils and concealed perils… Thus, they are apt to arise in one; therefore, they are called ‘perils.’ Regarding ‘one seeking the wholesome’: by one seeking, searching for, and investigating the right practice, the conforming practice, the unopposed practice, the non-conflicting practice, the practice that follows the meaning… the noble eightfold path, and Nibbāna, and the practice leading to Nibbāna, perils are to be overcome, mastered, overwhelmed, completely grasped, and crushed. This is the meaning of ‘Furthermore, one seeking the wholesome should overcome other perils.’
Người tìm cầu điều thiện lành nên vượt qua những hiểm nguy khác nữa, nghĩa là: Cũng có những (hiểm nguy) khác cần phải vượt qua, cần phải chế ngự, cần phải chinh phục, cần phải nắm giữ, cần phải đè bẹp. 'Hiểm nguy' là có hai loại hiểm nguy – hiểm nguy rõ ràng và hiểm nguy che giấu... v.v... như vậy, chúng phát sinh ở đó – do đó gọi là 'hiểm nguy'. 'Người tìm cầu điều thiện lành' là người đang tìm kiếm, truy tầm, tìm tòi con đường chân chánh, con đường thuận theo, con đường không đối nghịch, con đường không mâu thuẫn, con đường phù hợp với mục đích... v.v... Bát Chánh Đạo cao thượng, và Niết Bàn, và con đường đưa đến Niết Bàn, thì các hiểm nguy cần phải được vượt qua, cần phải được chế ngự, cần phải được chinh phục, cần phải được nắm giữ, cần phải được đè bẹp – người tìm cầu điều thiện lành nên vượt qua những hiểm nguy khác nữa.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Paradhammikānampi na santaseyya, disvāpi tesaṃ bahubheravāni;
Athāparāni abhisambhaveyya, parissayāni kusalānuesī’’ti.
“One should not be intimidated by those of other doctrines, even upon seeing their many terrors; and, seeking the wholesome, one should overcome further perils.”
“Cũng không nên run sợ trước những người theo pháp khác, dù thấy nhiều điều kinh khủng từ họ; người tìm cầu điều thiện lành nên vượt qua những hiểm nguy khác nữa.”
201.
201.
201.
Ātaṅkaphassena khudāya phuṭṭho, sītaṃ athuṇhaṃ † adhivāsayeyya;
So tehi phuṭṭho bahudhā anoko, vīriyaparakkamaṃ daḷhaṃ kareyya.
Though touched by the affliction of illness and by hunger, one should endure cold and heat. Being touched by these in many ways, and being homeless, one should make one's energy and exertion firm.
Bị xúc chạm bởi bệnh tật và đói khát, vị ấy nên chịu đựng cái lạnh và cả cái nóng. Bị chúng xúc chạm nhiều cách, không nhà, vị ấy nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc.
Ātaṅkaphassena khudāya phuṭṭhoti. Ātaṅkaphasso vuccati rogaphasso. Rogaphassena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assa; cakkhurogena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assa, sotarogena… ghānarogena… jivhārogena… kāyarogena…pe… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assa. Khudā vuccati chātako. Chātakena phuṭṭho pareto samohito samannāgato assāti – ātaṅkaphassena khudāya phuṭṭho.
'By the touch of illness and by hunger' (Ātaṅkaphassena khudāya phuṭṭho). 'Ātaṅkaphassa' is said to be the touch of disease. One may be touched, oppressed, beset, and endowed by the touch of disease; one may be touched, oppressed, beset, and endowed by eye disease, by ear disease, by nose disease, by tongue disease, by body disease... or by the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun's heat, and creeping things, one may be touched, oppressed, beset, and endowed. Starvation is what is called 'khudā'. One may be touched, oppressed, beset, and endowed by starvation. This is the meaning of 'by the touch of illness and by hunger'.
Bị xúc chạm bởi bệnh tật và đói khát là thế nào? Sự xúc chạm của bệnh tật được gọi là sự xúc chạm của bệnh. Vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi sự xúc chạm của bệnh; vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi bệnh mắt, bởi bệnh tai... bởi bệnh mũi... bởi bệnh lưỡi... bởi bệnh thân... v.v... vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát. Đói khát được gọi là sự đói. Vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi sự đói. – (Đây là nghĩa của) bị xúc chạm bởi bệnh tật và đói khát.
Sītaṃ athuṇhaṃ adhivāsayeyyāti. Sītanti dvīhi kāraṇehi sītaṃ hoti – abbhantaradhātuppakopavasena † vā sītaṃ hoti, bahiddhā utuvasena vā sītaṃ hoti. Uṇhanti dvīhi kāraṇehi uṇhaṃ hoti – abbhantaradhātuppakopavasena vā uṇhaṃ hoti, bahiddhā utuvasena vā uṇhaṃ hotīti – sītaṃ athuṇhaṃ. Adhivāsayeyyāti khamo assa sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṃ duruttānaṃ durāgatānaṃ vacanapathānaṃ uppannānaṃ sārīrikānaṃ vedanānaṃ dukkhānaṃ tibbānaṃ † kharānaṃ kaṭukānaṃ asātānaṃ amanāpānaṃ pāṇaharānaṃ adhivāsakajātiko assāti – sītaṃ athuṇhaṃ adhivāsayeyya.
'One should endure cold and heat' (Sītaṃ athuṇhaṃ adhivāsayeyya). As for 'cold' (sītaṃ), cold occurs for two reasons: cold occurs either due to the disturbance of the internal elements, or cold occurs externally due to the climate. As for 'heat' (uṇhaṃ), heat occurs for two reasons: heat occurs either due to the disturbance of the internal elements, or heat occurs externally due to the climate. This is the meaning of 'cold and heat'. 'One should endure' (adhivāsayeyya) means: one should be enduring of cold, heat, hunger, thirst, and the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun's heat, and creeping things; of ill-spoken, ill-come paths of speech; and of arisen bodily feelings that are painful, sharp, harsh, bitter, disagreeable, unpleasant, and life-taking; one should be of an enduring nature. This is the meaning of 'one should endure cold and heat'.
Nên chịu đựng lạnh và nóng là thế nào? Lạnh là: Lạnh phát sinh do hai nguyên nhân – hoặc lạnh phát sinh do sự rối loạn của các yếu tố bên trong, hoặc lạnh phát sinh do thời tiết bên ngoài. Nóng là: Nóng phát sinh do hai nguyên nhân – hoặc nóng phát sinh do sự rối loạn của các yếu tố bên trong, hoặc nóng phát sinh do thời tiết bên ngoài. – (Đây là nghĩa của) lạnh và nóng. Nên chịu đựng là: Vị ấy có thể kham nhẫn đối với lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát; có bản chất chịu đựng những lời nói khó nghe, khó chịu, những cảm thọ đau đớn, dữ dội, khốc liệt, cay đắng, khó chịu, không vừa ý, có thể đoạt mạng sống đã phát sinh nơi thân. – (Đây là nghĩa của) nên chịu đựng lạnh và nóng.
So tehi phuṭṭho bahudhā anokoti. So tehīti ātaṅkaphassena ca khudāya ca sītena ca uṇhena ca phuṭṭho pareto samohito samannāgato assāti – so tehi phuṭṭho. Bahudhāti anekavidhehi ākārehi phuṭṭho pareto samohito samannāgato assāti – so tehi phuṭṭho bahudhā. Anokoti abhisaṅkhārasahagataviññāṇassa okāsaṃ na karotītipi – anoko. Atha vā kāyaduccaritassa vacīduccaritassa manoduccaritassa okāsaṃ na karotītipi – anokoti – so tehi phuṭṭho bahudhā anoko.
“He, touched by these in many ways, is one without a home”: “By these” means one might be touched, afflicted, beset, and endowed with the touch of illness, with hunger, with cold, and with heat—thus, “he, touched by these.” “In many ways” means one might be touched, afflicted, beset, and endowed in numerous manners—thus, “he, touched by these in many ways.” “One without a home” means one does not make a dwelling place for consciousness accompanied by volitional formations; therefore, one is “without a home.” Alternatively, one does not give an opportunity for bodily misconduct, verbal misconduct, or mental misconduct; therefore, one is “without a home”—thus, “he, touched by these in many ways, is one without a home.”
Vị ấy bị những điều ấy xúc chạm nhiều cách, không nhà là thế nào? Vị ấy bị những điều ấy là: vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi sự xúc chạm của bệnh tật, bởi đói khát, bởi lạnh, và bởi nóng. – (Đây là nghĩa của) vị ấy bị những điều ấy xúc chạm. Nhiều cách là: vị ấy bị xúc chạm, bị áp bức, bị vây khổn, bị đầy đủ bởi nhiều loại, nhiều cách thức. – (Đây là nghĩa của) vị ấy bị những điều ấy xúc chạm nhiều cách. Không nhà là: vị ấy không tạo cơ hội cho thức đi cùng với hành động có chủ ý, vì thế gọi là không nhà. Hoặc là, vị ấy không tạo cơ hội cho thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, vì thế gọi là không nhà. – (Đây là nghĩa của) vị ấy bị những điều ấy xúc chạm nhiều cách, không nhà.
Vīriyaparakkamaṃ daḷhaṃ kareyyāti. Vīriyaparakkamo vuccati yo cetasiko vīriyārambho nikkamo parakkamo uyyāmo vāyāmo ussāho ussoḷhī appaṭivānī thāmo dhiti asithilaparakkamatā anikkhittacchandatā anikkhittadhuratā dhurasampaggāho vīriyaṃ vīriyindriyaṃ vīriyabalaṃ sammāvāyāmo. Vīriyaparakkamaṃ daḷhaṃ kareyyāti. Vīriyaṃ parakkamaṃ daḷhaṃ kareyya thiraṃ kareyya, daḷhasamādāno assa avatthitasamādānoti – vīriyaparakkamaṃ daḷhaṃ kareyya.
“One should make one's effort and exertion firm”: What is called “effort and exertion” is the mental arousal of energy, striving, exertion, endeavor, vigor, persistence, great exertion, perseverance, strength, steadfastness, the state of one whose exertion is not slack, the state of having unremitting wholesome desire, the state of not having laid down the burden, the firm undertaking of the burden, energy, the faculty of energy, the power of energy, and right effort. “One should make one's effort and exertion firm” means: one should make one's energy and exertion firm; one should make it steadfast; one should be of firm undertaking; one should be of resolute undertaking—thus, “one should make one's effort and exertion firm.”
Nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc là thế nào? Nỗ lực tinh tấn được gọi là: sự khởi đầu tinh tấn thuộc về tâm, sự tiến tới, sự cố gắng, sự nỗ lực, sự gắng sức, sự hăng hái, sự kiên trì, sự không lùi bước, sức mạnh, sự bền chí, sự nỗ lực không lơi lỏng, sự không từ bỏ ý muốn, sự không từ bỏ gánh nặng, sự đảm đương gánh nặng, tinh tấn, tấn căn, tấn lực, chánh tinh tấn. Nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc là: nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc, nên làm cho kiên cố; vị ấy nên có sự chấp nhận vững chắc, có sự chấp nhận không lay chuyển. – (Đây là nghĩa của) nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Ātaṅkaphassena khudāya phuṭṭho, sītaṃ athuṇhaṃ adhivāsayeyya;
So tehi phuṭṭho bahudhā anoko, vīriyaparakkamaṃ daḷhaṃ kareyyā’’ti.
“Touched by the affliction of illness and by hunger, one should endure cold and heat. He, touched by these in many ways, without a home, should make his effort and exertion firm.”
“Bị xúc chạm bởi bệnh tật và đói khát, nên chịu đựng lạnh và nóng. Bị những điều ấy xúc chạm nhiều cách, không nhà, nên nỗ lực tinh tấn một cách vững chắc.”
202.
202.
202.
Theyyaṃ na kāre na musā bhaṇeyya, mettāya phasse tasathāvarāni;
Yadāvilattaṃ manaso vijaññā, kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya.
One should not steal, nor speak falsehood; one should touch the trembling and the steadfast with loving-kindness. When one discerns the mind's defilement, one should dispel it as being of the Dark One's faction.
Không nên trộm cắp, không nên nói dối, nên dùng tâm từ tiếp xúc với chúng sanh động và bất động. Khi biết được sự vẩn đục của tâm, nên loại bỏ nó vì đó là phe của hắc ám.
Theyyaṃ na kāre na musā bhaṇeyyāti. Theyyaṃ na kāreti idha bhikkhu adinnādānaṃ pahāya adinnādānā paṭivirato assa dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā vihareyyāti – theyyaṃ na kāre. Na musā bhaṇeyyāti idha bhikkhu musāvādaṃ pahāya musāvādā paṭivirato assa saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṃvādako lokassāti – theyyaṃ na kāre na musā bhaṇeyya.
One should not steal; one should not speak falsely. 'One should not steal' means: Herein, a monk, having abandoned the taking of what is not given, should be one who refrains from taking what is not given. He should be one who is accustomed to taking only what is given, one who desires only what is given. He should dwell with a self that is non-thieving and has become pure. This is the meaning of 'One should not steal'. 'One should not speak falsely' means: Herein, a monk, having abandoned false speech, should be one who refrains from false speech. He should be a speaker of truth, one whose speech is connected with truth, steadfast, trustworthy, and one who does not deceive the world. This is the meaning of 'One should not steal; one should not speak falsely'.
Không nên trộm cắp, không nên nói dối là thế nào? Không nên trộm cắp là: ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ việc lấy của không cho, từ bỏ việc lấy của không cho; vị ấy nhận vật đã được cho, mong đợi vật được cho; vị ấy sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. – (Đây là nghĩa của) không nên trộm cắp. Không nên nói dối là: ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ lời nói dối, từ bỏ lời nói dối; vị ấy nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, kiên định, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. – (Đây là nghĩa của) không nên trộm cắp, không nên nói dối.
Mettāya phasse tasathāvarānīti. Mettāti yā sattesu metti mettāyanā mettāyitattaṃ anudayā anudayanā anudayitattaṃ † hitesitā anukampā abyāpādo abyāpajjo † adoso kusalamūlaṃ. Tasāti yesaṃ tasitā taṇhā appahīnā, yesañca bhayabheravā appahīnā. Kiṃkāraṇā vuccanti tasā? Te tasanti uttasanti paritasanti bhāyanti santāsaṃ āpajjanti; taṃkāraṇā vuccanti tasā. Thāvarāti yesaṃ tasitā taṇhā pahīnā, yesañca bhayabheravā pahīnā. Kiṃkāraṇā vuccanti thāvarā? Te na tasanti na uttasanti na paritasanti na bhāyanti santāsaṃ na āpajjanti; taṃkāraṇā vuccanti thāvarā. Mettāya phasse tasathāvarānīti. Tase ca thāvare ca mettāya phasseyya phareyya, mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihareyyāti – mettāya phasse tasathāvarāni.
With loving-kindness one should touch the trembling and the steadfast. 'Loving-kindness' means: that which is loving-kindness towards beings, the nature of loving-kindness, the state of having loving-kindness, care, the nature of caring, the state of having care, the desire for their welfare, compassion, non-ill-will, non-malevolence, non-hatred, the wholesome root. 'The trembling' means: those for whom trembling craving is not abandoned, and for whom fear and terror are not abandoned. For what reason are they called 'the trembling'? They tremble, are greatly agitated, are thoroughly agitated, are afraid, and fall into terror; for that reason, they are called 'the trembling'. 'The steadfast' means: those for whom trembling craving is abandoned, and for whom fear and terror are abandoned. For what reason are they called 'the steadfast'? They do not tremble, are not greatly agitated, are not thoroughly agitated, are not afraid, and do not fall into terror; for that reason, they are called 'the steadfast'. 'With loving-kindness one should touch the trembling and the steadfast' means: One should touch and pervade both the trembling and the steadfast with loving-kindness. One should dwell, having pervaded with a mind accompanied by loving-kindness that is extensive, exalted, immeasurable, free from enmity, and free from affliction. This is the meaning of 'With loving-kindness one should touch the trembling and the steadfast'.
Nên dùng tâm từ tiếp xúc với chúng sanh động và bất động là thế nào? Tâm từ là: lòng thương yêu, thái độ thương yêu, bản chất thương yêu, sự quan tâm, thái độ quan tâm, bản chất quan tâm, mong muốn lợi ích, lòng bi mẫn, không sân hận, không ác ý, không oán ghét, là thiện căn đối với chúng sanh. Chúng sanh động là: những chúng sanh chưa từ bỏ ái dục gây run sợ, và chưa từ bỏ sự sợ hãi kinh hoàng. Vì sao gọi là chúng sanh động? Họ run sợ, kinh hãi, hoảng sợ, lo sợ, rơi vào trạng thái kinh hoàng; vì lý do đó, họ được gọi là chúng sanh động. Chúng sanh bất động là: những chúng sanh đã từ bỏ ái dục gây run sợ, và đã từ bỏ sự sợ hãi kinh hoàng. Vì sao gọi là chúng sanh bất động? Họ không run sợ, không kinh hãi, không hoảng sợ, không lo sợ, không rơi vào trạng thái kinh hoàng; vì lý do đó, họ được gọi là chúng sanh bất động. Nên dùng tâm từ tiếp xúc với chúng sanh động và bất động là: nên tiếp xúc, nên biến mãn chúng sanh động và bất động với tâm từ; nên sống bằng cách biến mãn với tâm từ bi rộng lớn, cao cả, vô lượng, không oán thù, không sân hận. – (Đây là nghĩa của) nên dùng tâm từ tiếp xúc với chúng sanh động và bất động.
Yadāvilattaṃ manaso vijaññāti. Yadāti yadā. Manasoti yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu. Kāyaduccaritena cittaṃ āvilaṃ hoti luḷitaṃ eritaṃ ghaṭṭitaṃ calitaṃ bhantaṃ avūpasantaṃ. Vacīduccaritena…pe… manoduccaritena… rāgena… dosena… mohena… kodhena… upanāhena… makkhena… paḷāsena… issāya… macchariyena… māyāya… sāṭheyyena… thambhena… sārambhena… mānena… atimānena… madena… pamādena… sabbakilesehi… sabbaduccaritehi… sabbadarathehi… sabbapariḷāhehi… sabbasantāpehi… sabbākusalābhisaṅkhārehi cittaṃ āvilaṃ hoti luḷitaṃ eritaṃ ghaṭṭitaṃ calitaṃ bhantaṃ avūpasantaṃ. Yadāvilattaṃ manaso vijaññāti. Cittassa āvilabhāvaṃ jāneyya ājāneyya vijāneyya paṭivijāneyya paṭivijjheyyāti – yadāvilattaṃ manaso vijaññā.
When one should know the turbidity of the mind. Herein, ‘when’ means when. ‘Of the mind’ refers to that which is mind, mental, heart, the pure, mind, mind-base, mind-faculty, consciousness, the aggregate of consciousness, and the corresponding mind-consciousness-element. Through bodily misconduct, the mind becomes turbid, disturbed, unsettled, agitated, shaken, wandering, and unpacified. Through verbal misconduct… through mental misconduct… through lust… through hatred… through delusion… through anger… through hostility… through denigration… through contempt… through envy… through stinginess… through deceit… through craftiness… through obstinacy… through presumption… through conceit… through excessive conceit… through intoxication… through heedlessness… through all defilements… through all misconduct… through all vexations… through all fevers… through all torments… through all unwholesome formations, the mind becomes turbid, disturbed, unsettled, agitated, shaken, wandering, and unpacified. ‘When one should know the turbidity of the mind’ means: one should know the turbid state of the mind, know it well, know it distinctly, know it repeatedly, and penetrate it. This is the meaning of ‘when one should know the turbidity of the mind’.
Yadāvilattaṃ manaso vijaññā (Khi biết được tâm bị vẩn đục). Yadā có nghĩa là khi nào. Manaso (của tâm) là cái gọi là tâm (citta), ý (mano), tâm sanh (mānasa), trái tim (hadaya), trong trắng (paṇḍara), tâm (mano), tâm xứ (manāyatana), tâm căn (manindriya), thức (viññāṇa), thức uẩn (viññāṇakkhandho), ý thức giới tương ưng (tajjā manoviññāṇadhātu). Do thân ác hành, tâm trở nên vẩn đục (āvilaṃ), bị khuấy động (luḷitaṃ), bị dao động (eritaṃ), bị va chạm (ghaṭṭitaṃ), bị rung động (calitaṃ), bị quay cuồng (bhantaṃ), không an tịnh (avūpasantaṃ). Do khẩu ác hành... (v.v.)... do ý ác hành... do tham... do sân... do si... do phẫn nộ... do oán hận... do phỉ báng... do cạnh tranh... do tật đố... do bỏn xẻn... do xảo trá... do gian manh... do ngoan cố... do hiếu thắng... do mạn... do quá mạn... do say đắm... do dể duôi... do tất cả các phiền não... do tất cả các ác hành... do tất cả các sự phiền muộn... do tất cả các sự nóng nảy... do tất cả các sự thiêu đốt... do tất cả các hành bất thiện, tâm trở nên vẩn đục, bị khuấy động, bị dao động, bị va chạm, bị rung động, bị quay cuồng, không an tịnh. Yadāvilattaṃ manaso vijaññā (Khi biết được tâm bị vẩn đục). Nên biết (jāneyya), nên biết rõ (ājāneyya), nên biết một cách đặc biệt (vijāneyya), nên biết đi biết lại (paṭivijāneyya), nên thâm nhập (paṭivijjheyya) trạng thái vẩn đục của tâm. – (Đây là ý nghĩa của) yadāvilattaṃ manaso vijaññā.
Kaṇhassa pakkhoti vinodayeyyāti. Kaṇhoti yo so māro kaṇho adhipati antagu namuci pamattabandhu. Kaṇhassa pakkho mārapakkho mārapāso mārabaḷisaṃ mārāmisaṃ māravisayo māranivāso māragocaro mārabandhananti pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti. Evampi kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya. Atha vā kaṇhassa pakkho mārapakkho akusalapakkho dukkhuddayo dukkhavipāko nirayasaṃvattaniko tiracchānayonisaṃvattaniko pettivisayasaṃvattanikoti pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti. Evampi kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya.
‘One should dispel the faction of the Dark One.’ Herein, the Dark One is that Māra who is dark, the overlord, the end-maker, Namuci, the kinsman of the heedless. The faction of the Dark One is Māra's faction, Māra's snare, Māra's hook, Māra's bait, Māra's domain, Māra's abode, Māra's pasture, and Māra's bond. This should be abandoned, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence. This is one meaning of ‘one should dispel the faction of the Dark One.’ Or alternatively, the faction of the Dark One is Māra's faction, the unwholesome faction; it is bound up with suffering, has suffering as its result, conduces to hell, conduces to the animal realm, and conduces to the realm of ghosts. This should be abandoned, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence. This is also a meaning of ‘one should dispel the faction of the Dark One.’
Kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya (Nên loại bỏ phe phái của hắc ám). Kaṇho (hắc ám) là Ma vương ấy, là hắc ám (kaṇho), là chúa tể (adhipati), là kẻ đưa đến kết thúc (antagu), là Namuci, là bạn của sự dể duôi (pamattabandhu). Phe phái của hắc ám (kaṇhassa pakkho) là phe phái của Ma vương (mārapakkho), là cạm bẫy của Ma vương (mārapāso), là lưỡi câu của Ma vương (mārabaḷisaṃ), là mồi của Ma vương (mārāmisaṃ), là cảnh giới của Ma vương (māravisayo), là nơi ở của Ma vương (māranivāso), là nơi đi lại của Ma vương (māragocaro), là sự trói buộc của Ma vương (mārabandhanaṃ). (Về điều này) nên từ bỏ (pajaheyya), nên loại trừ (vinodeyya), nên làm cho chấm dứt (byantiṃ kareyya), nên làm cho không còn tồn tại (anabhāvaṃ gameyya). Đây cũng là ý nghĩa của kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya. Hoặc là, phe phái của hắc ám (kaṇhassa pakkho) là phe phái của Ma vương (mārapakkho), là phe phái của bất thiện (akusalapakkho), có khổ làm quả (dukkhuddayo), có quả là khổ (dukkhavipāko), dẫn đến địa ngục (nirayasaṃvattaniko), dẫn đến loài bàng sanh (tiracchānayonisaṃvattaniko), dẫn đến cõi ngạ quỷ (pettivisayasaṃvattaniko). (Về điều này) nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại. Đây cũng là ý nghĩa của kaṇhassa pakkhoti vinodayeyya.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Theyyaṃ na kāre na musā bhaṇeyya, mettāya phasse tasathāvarāni;
Yadāvilattaṃ manaso vijaññā, kaṇhassa pakkhoti vinodayeyyā’’ti.
“One should not engage in theft, nor should one speak falsehood; with loving-kindness, one should touch the trembling and the steadfast. When one discerns the turbidity of the mind, one should dispel it as being of the Dark One's faction.”
“Không nên trộm cắp, không nên nói dối, nên tiếp xúc với chúng sanh động và bất động bằng tâm từ; khi biết được tâm bị vẩn đục, nên loại bỏ vì đó là phe phái của hắc ám.”
203.
203.
203.
Kodhātimānassa vasaṃ na gacche, mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe;
Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhaveyya.
One should not come under the power of anger and excessive conceit; having dug up their root, one should stand firm. Furthermore, one should surely overcome both the agreeable and the disagreeable.
Không nên đi vào quyền lực của phẫn nộ và quá mạn, nên đứng vững sau khi đã đào lên cả gốc rễ của chúng; và rồi, đối với điều khả ái hay không khả ái, chắc chắn nên chế ngự, nên hoàn toàn chế ngự.
Kodhātimānassa vasaṃ na gaccheti. Kodhoti yo cittassa āghāto paṭighāto…pe… caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa. Atimānoti idhekacco paraṃ atimaññati jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Kodhātimānassa vasaṃ na gaccheti. Kodhassa ca atimānassa ca vasaṃ na gaccheyya, kodhañca atimānañca pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – kodhātimānassa vasaṃ na gacche.
Regarding the phrase, ‘One should not come under the power of anger and excessive conceit’: Herein, anger is vexation of the mind, repugnance… harshness, ill-will, and discontent of the mind. Excessive conceit is when someone here despises another on account of birth, clan… or some other reason. ‘One should not come under the power of anger and excessive conceit’ means that one should not come under the power of both anger and excessive conceit; one should abandon anger and excessive conceit, dispel them, bring them to an end, and bring them to non-existence. This is the meaning of the phrase, ‘one should not come under the power of anger and excessive conceit.’
Kodhātimānassa vasaṃ na gacche (Không nên đi vào quyền lực của phẫn nộ và quá mạn). Kodho (phẫn nộ) là sự tức giận (āghāto), sự chống đối (paṭighāto) của tâm... (v.v.)... tính hung dữ (caṇḍikkaṃ), sự không hài lòng (asuropo), sự bất mãn của tâm (anattamanatā cittassa). Atimāno (quá mạn) là ở đây, có người coi thường (atimaññati) người khác về dòng dõi (jātiyā), hoặc về gia tộc (gottena)... (v.v.)... hoặc về một phương diện nào đó (aññataraññatarena vā vatthunā). Kodhātimānassa vasaṃ na gacche (Không nên đi vào quyền lực của phẫn nộ và quá mạn) có nghĩa là: không nên đi vào quyền lực của phẫn nộ và của quá mạn; nên từ bỏ (pajaheyya), nên loại trừ (vinodeyya), nên làm cho chấm dứt (byantiṃ kareyya), nên làm cho không còn tồn tại (anabhāvaṃ gameyya) phẫn nộ và quá mạn. – (Đây là ý nghĩa của) kodhātimānassa vasaṃ na gacche.
Mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭheti. Katamaṃ kodhassa mūlaṃ? Avijjā mūlaṃ, ayoniso manasikāro mūlaṃ, asmimāno mūlaṃ, ahirikaṃ mūlaṃ, anottappaṃ mūlaṃ, uddhaccaṃ mūlaṃ – idaṃ kodhassa mūlaṃ. Katamaṃ atimānassa mūlaṃ? Avijjā mūlaṃ, ayoniso manasikāro mūlaṃ, asmimāno mūlaṃ, ahirikaṃ mūlaṃ, anottappaṃ mūlaṃ, uddhaccaṃ mūlaṃ – idaṃ atimānassa mūlaṃ. Mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭheti. Kodhassa ca atimānassa ca mūlaṃ palikhaṇitvā uddharitvā samuddharitvā uppāṭayitvā samuppāṭayitvā pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā tiṭṭheyya santiṭṭheyyāti – mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe.
Regarding the phrase, ‘Having dug up even their root, one should stand firm’: What is the root of anger? Ignorance is the root, unwise attention is the root, the conceit ‘I am’ is the root, shamelessness is the root, lack of moral dread is the root, and restlessness is the root—this is the root of anger. What is the root of excessive conceit? Ignorance is the root, unwise attention is the root, the conceit ‘I am’ is the root, shamelessness is the root, lack of moral dread is the root, and restlessness is the root—this is the root of excessive conceit. ‘Having dug up even their root, one should stand firm’ means: having dug out, lifted up, thoroughly extracted, torn out, completely torn out, abandoned, dispelled, brought to an end, and brought to non-existence the root of both anger and excessive conceit, one should stand, one should stand firm. This is the meaning of the phrase, ‘having dug up even their root, one should stand firm.’
Mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe (Nên đứng vững sau khi đã đào lên cả gốc rễ của chúng). Gốc rễ của phẫn nộ là gì? Vô minh là gốc rễ, tác ý không như lý là gốc rễ, ngã mạn là gốc rễ, vô tàm là gốc rễ, vô quý là gốc rễ, trạo cử là gốc rễ – đây là gốc rễ của phẫn nộ. Gốc rễ của quá mạn là gì? Vô minh là gốc rễ, tác ý không như lý là gốc rễ, ngã mạn là gốc rễ, vô tàm là gốc rễ, vô quý là gốc rễ, trạo cử là gốc rễ – đây là gốc rễ của quá mạn. Mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe (Nên đứng vững sau khi đã đào lên cả gốc rễ của chúng) có nghĩa là: sau khi đã đào lên (palikhaṇitvā), nhổ lên (uddharitvā), nhổ sạch (samuddharitvā), phá hủy (uppāṭayitvā), phá hủy hoàn toàn (samuppāṭayitvā), từ bỏ (pajahitvā), loại trừ (vinodetvā), làm cho chấm dứt (byantiṃ karitvā), làm cho không còn tồn tại (anabhāvaṃ gametvā) gốc rễ của phẫn nộ và của quá mạn, nên đứng vững (tiṭṭheyya), nên đứng vững chắc (santiṭṭheyya). – (Đây là ý nghĩa của) mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe.
Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhavैyyāti. Athāti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – athāti. Piyāti dve piyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā piyā? Idha yāssa † te honti atthakāmā hitakāmā phāsukāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā puttā vā dhītā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā – ime sattā piyā. Katame saṅkhārā piyā? Manāpikā rūpā manāpikā saddā… gandhā… rasā… phoṭṭhabbā – ime saṅkhārā piyā. Appiyāti dve appiyā – sattā vā saṅkhārā vā. Katame sattā appiyā? Idha yāssa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukāmā ayogakkhemakāmā jīvitā voropetukāmā – ime sattā appiyā. Katame saṅkhārā appiyā? Amanāpikā rūpā amanāpikā saddā, gandhā… rasā… phoṭṭhabbā – ime saṅkhārā appiyā. Addhāti ekaṃsavacanaṃ nissaṃsayavacanaṃ nikkaṅkhavacanaṃ advejjhavacanaṃ adveḷhakavacanaṃ niyyānikavacanaṃ apaṇṇakavacanaṃ avatthāpanavacanametaṃ – addhāti. Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhaveyyāti. Piyāppiyaṃ sātāsātaṃ sukhadukkhaṃ somanassadomanassaṃ iṭṭhāniṭṭhaṃ abhisambhavanto vā abhibhaveyya adhibhavanto vā abhisambhaveyyāti – athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā addhā bhavanto abhisambhaveyya.
Regarding the phrase, ‘Furthermore, one should surely overcome both the agreeable and the disagreeable’: Herein, ‘furthermore’ is a conjunction of words, a combination of words, a completion of a word, a harmony of letters, a smoothness of consonants; this word ‘furthermore’ indicates a sequence of words. ‘Agreeable’ refers to two agreeable things: beings or formations. Which beings are agreeable? Here, for a person, there are those who desire his benefit, desire his welfare, desire his comfort, desire his security from the yokes: a mother, a father, a brother, a sister, a son, a daughter, friends, ministers, maternal relatives, or paternal relatives—these beings are agreeable. Which formations are agreeable? Delightful forms, delightful sounds… smells… tastes… tangible objects—these formations are agreeable. ‘Disagreeable’ refers to two disagreeable things: beings or formations. Which beings are disagreeable? Here, for a person, there are those who do not desire his benefit, do not desire his welfare, do not desire his comfort, do not desire his security from the yokes, and who desire to deprive him of life—these beings are disagreeable. Which formations are disagreeable? Non-delightful forms, non-delightful sounds… smells… tastes… tangible objects—these formations are disagreeable. ‘Surely’ is a word of certainty, a word without doubt, a word without uncertainty, a word without ambiguity, a word without vacillation, a word that is a means of escape, a word without fault, a word of affirmation. ‘Furthermore, one should surely overcome both the agreeable and the disagreeable’ means: regarding the agreeable and disagreeable, the pleasant and unpleasant, happiness and suffering, joy and sorrow, the desirable and undesirable—one should overcome by conquering, or one should overcome by mastering. This is the meaning of ‘Furthermore, one should surely overcome both the agreeable and the disagreeable.’
Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhaveyyā (Và rồi, đối với điều khả ái hay không khả ái, chắc chắn nên chế ngự). Athā là sự nối từ (padasandhi), sự kết hợp từ (padasaṃsaggo), sự làm đầy đủ từ (padapāripūrī), sự tập hợp chữ cái (akkharasamavāyo), sự trôi chảy của phụ âm (byañjanasiliṭṭhatā), đây là sự tuần tự của từ (padānupubbatā) – đó là athā. Piyā (khả ái): có hai loại khả ái – chúng sanh hoặc các hành. Chúng sanh nào là khả ái? Ở đây, những ai đối với người ấy là người mong muốn lợi ích (atthakāmā), mong muốn hạnh phúc (hitakāmā), mong muốn an lạc (phāsukāmā), mong muốn an ổn khỏi các ách (yogakkhemakāmā), là mẹ, hoặc cha, hoặc anh, hoặc chị, hoặc con trai, hoặc con gái, hoặc bạn bè, hoặc quan chức, hoặc bà con, hoặc họ hàng – những chúng sanh này là khả ái. Các hành nào là khả ái? Các sắc khả ý (manāpikā rūpā), các thanh khả ý (manāpikā saddā)... các hương... các vị... các xúc – những hành này là khả ái. Appiyā (không khả ái): có hai loại không khả ái – chúng sanh hoặc các hành. Chúng sanh nào là không khả ái? Ở đây, những ai đối với người ấy là người không mong muốn lợi ích (anatthakāmā), không mong muốn hạnh phúc (ahitakāmā), không mong muốn an lạc (aphāsukāmā), không mong muốn an ổn khỏi các ách (ayogakkhemakāmā), muốn tước đoạt mạng sống (jīvitā voropetukāmā) – những chúng sanh này là không khả ái. Các hành nào là không khả ái? Các sắc không khả ý (amanāpikā rūpā), các thanh không khả ý (amanāpikā saddā), các hương... các vị... các xúc – những hành này là không khả ái. Addhā (chắc chắn) là lời nói chắc chắn (ekaṃsavacanaṃ), lời nói không nghi ngờ (nissaṃsayavacanaṃ), lời nói không hoài nghi (nikkaṅkhavacanaṃ), lời nói không có hai lỗi (advejjhavacanaṃ), lời nói không có hai nguyên nhân (adveḷhakavacanaṃ), lời nói dẫn đến giải thoát (niyyānikavacanaṃ), lời nói không trống rỗng (apaṇṇakavacanaṃ), đây là lời nói xác quyết (avatthāpanavacanaṃ) – đó là addhā. Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhaveyyā (Và rồi, đối với điều khả ái hay không khả ái, chắc chắn nên chế ngự) có nghĩa là: nên chế ngự (abhisambhavanto) hoặc áp đảo (abhibhaveyya) điều khả ái và không khả ái (piyāppiyaṃ), điều dễ chịu và không dễ chịu (sātāsātaṃ), khổ và lạc (sukhadukkhaṃ), ưu và hỷ (somanassadomanassaṃ), điều mong muốn và không mong muốn (iṭṭhāniṭṭhaṃ); hoặc nên chế ngự (adhibhavanto) hoặc áp đảo hoàn toàn (abhisambhaveyya). – (Đây là ý nghĩa của) athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā addhā bhavanto abhisambhaveyya.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Kodhātimānassa vasaṃ na gacche, mūlampi tesaṃ palikhañña tiṭṭhe;
Athappiyaṃ vā pana appiyaṃ vā, addhā bhavanto abhisambhaveyyā’’ti.
“One should not come under the power of anger and excessive conceit; having dug up their root, one should stand firm. Furthermore, one should surely overcome both the agreeable and the disagreeable.”
“Không nên đi vào quyền lực của phẫn nộ và quá mạn, nên đứng vững sau khi đã đào lên cả gốc rễ của chúng; và rồi, đối với điều khả ái hay không khả ái, chắc chắn nên chế ngự, nên hoàn toàn chế ngự.”
204.
204.
204.
Paññaṃ purakkhatvā kalyāṇapīti, vikkhambhaye tāni parissayāni;
Aratiṃ sahetha sayanamhi pante, caturo sahetha paridevadhamme.
He who has wholesome joy, having placed wisdom at the forefront, should dispel those dangers. He should abandon discontent in a secluded lodging; he should abandon the four things that are causes for lamentation.
Người có hỷ thiện lành, đặt trí tuệ lên trước, nên chế ngự những hiểm nguy ấy; nên chịu đựng sự không hoan hỷ ở nơi trú ngụ xa vắng, nên chịu đựng bốn pháp sầu muộn.
Paññaṃ purakkhatvā kalyāṇapītīti. Paññāti yā paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo…pe… amoho sammādiṭṭhi. Paññaṃ purakkhatvāti idhekacco paññaṃ purato katvā carati paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo pekkhāyanabahulo † sampekkhāyanabahulo † vibhūtavihārī taccarito tabbahulo taggaruko tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyoti. Evampi paññaṃ purakkhatvā.
“Placing wisdom foremost, wholesome joy.” Wisdom is that which is wisdom: understanding, investigation, special investigation, investigation of the Dhamma… non-delusion, right view. “Placing wisdom foremost” means: here, a certain person, placing wisdom as foremost, conducts himself; one with wisdom as a banner, wisdom as a standard, wisdom as sovereignty, given to much investigation, given to much special investigation, given to much contemplation, given to much thorough consideration, dwelling distinctly, practicing in accordance with that, abounding in that, respecting that, inclined to that, tending to that, sloping towards that, resolved on that, with that as sovereignty. This too is the meaning of “placing wisdom foremost”.
Về câu ‘Người có hỷ thiện lành, đặt trí tuệ lên trước’. Trí tuệ là: trí tuệ nào là sự hiểu biết, sự thẩm sát, sự thẩm sát kỹ lưỡng, sự trạch pháp... sự không si mê, chánh kiến. ‘Đặt trí tuệ lên trước’ là: ở đây, có người sau khi đặt trí tuệ lên trước rồi thực hành, có trí tuệ làm ngọn cờ, có trí tuệ làm biểu ngữ, có trí tuệ làm chủ, có nhiều sự thẩm sát, có nhiều sự thẩm sát kỹ lưỡng, có nhiều sự quán xét, có nhiều sự tìm tòi, sống một cách rõ ràng, chuyên tâm vào điều đó, thực hành nhiều điều đó, tôn trọng điều đó, hướng về điều đó, xuôi về điều đó, nghiêng về điều đó, giải thoát nhờ điều đó, lấy điều đó làm chủ. Như vậy cũng là ‘đặt trí tuệ lên trước’.
Atha vā gacchanto vā ‘‘gacchāmī’’ti pajānāti, ṭhito vā ‘‘ṭhitomhī’’ti pajānāti, nisinno vā ‘‘nisinnomhī’’ti pajānāti, sayāno vā ‘‘sayānomhī’’ti pajānāti, yathā yathā vā panassa kāyo paṇihito hoti tathā tathā naṃ pajānātīti. Evampi paññaṃ purakkhatvā.
Or, when walking, one knows, “I am walking”; when standing, one knows, “I am standing”; when sitting, one knows, “I am sitting”; when lying down, one knows, “I am lying down.” And in whatever way his body is disposed, he knows it in that very way. This too is the meaning of “placing wisdom foremost”.
Hoặc là, khi đang đi, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang đi’; hoặc khi đang đứng, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang đứng’; hoặc khi đang ngồi, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang ngồi’; hoặc khi đang nằm, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang nằm’; hoặc thân này của vị ấy được an trú như thế nào, vị ấy biết nó như thế ấy. Như vậy cũng là ‘đặt trí tuệ lên trước’.
Atha vā abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhibhāve sampajānakārī hotīti. Evampi paññaṃ purakkhatvā.
Or, one acts with clear comprehension when going forward or back; when looking ahead or around; when bending or stretching; when bearing the outer robe, bowl, and robe; when eating, drinking, chewing, or tasting; when defecating or urinating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, or remaining silent. This too is the meaning of “placing wisdom foremost”.
Hoặc là, khi đi tới, đi lui, vị ấy là người có tỉnh giác; khi nhìn thẳng, nhìn nghiêng, vị ấy là người có tỉnh giác; khi co vào, duỗi ra, vị ấy là người có tỉnh giác; trong việc mang y tăng-già-lê, bát, và y, vị ấy là người có tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm, vị ấy là người có tỉnh giác; trong việc đại tiện, tiểu tiện, vị ấy là người có tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, vị ấy là người có tỉnh giác. Như vậy cũng là ‘đặt trí tuệ lên trước’.
Kalyāṇapītīti buddhānussativasena uppajjati pīti pāmojjaṃ † – kalyāṇapītīti. Dhammānussati saṅghānussati sīlānussati cāgānussati devatānussati ānāpānassati maraṇassati kāyagatāsativasena upasamānussativasena uppajjati pīti pāmojjaṃ – kalyāṇapītīti – paññaṃ purakkhatvā kalyāṇapīti.
“Wholesome joy” means: through recollection of the Buddha, rapture and gladness arise—this is wholesome joy. Through recollection of the Dhamma, recollection of the Sangha, recollection of virtue, recollection of generosity, recollection of devas, mindfulness of breathing, recollection of death, mindfulness directed to the body, and through recollection of peace, rapture and gladness arise—this is wholesome joy. This is the meaning of “placing wisdom foremost, wholesome joy”.
Về câu ‘hỷ thiện lành’: do năng lực của sự tùy niệm Phật mà hỷ và hân hoan sanh khởi – đó là ‘hỷ thiện lành’. Do năng lực của sự tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm giới, tùy niệm thí, tùy niệm hơi thở vô-ra, tùy niệm sự chết, niệm thân hành, tùy niệm sự tịch tịnh mà hỷ và hân hoan sanh khởi – đó là ‘hỷ thiện lành’. (Đây là ý nghĩa của) ‘người có hỷ thiện lành, đặt trí tuệ lên trước’.
Vikkhambhaye tāni parissayānīti. Parissayāti dve parissayā – pākaṭaparissayā ca paṭicchannaparissayā ca…pe… ime vuccanti pākaṭaparissayā…pe… ime vuccanti paṭicchannaparissayā…pe… evampi tatrāsayāti – parissayā. Vikkhambhaye tāni parissayānīti. Tāni parissayāni vikkhambheyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – vikkhambhaye tāni parissayāni.
“He should dispel those dangers.” Regarding 'dangers': there are two kinds of dangers—manifest dangers and concealed dangers... (and so on)... these are called manifest dangers... (and so on)... these are called concealed dangers... (and so on)... Thus, because they lie in wait therein, they are 'dangers'. “He should dispel those dangers” means: he should dispel, overcome, overwhelm, bring to an end, and crush those dangers. This is the meaning of the phrase, “He should dispel those dangers.”
Về câu ‘nên chế ngự những hiểm nguy ấy’. Về ‘hiểm nguy’: có hai loại hiểm nguy – hiểm nguy hiển lộ và hiểm nguy che giấu... những điều này được gọi là hiểm nguy hiển lộ... những điều này được gọi là hiểm nguy che giấu... như vậy, chúng có xu hướng nằm tiềm ẩn ở đó, nên gọi là ‘hiểm nguy’. Về câu ‘nên chế ngự những hiểm nguy ấy’: nên chế ngự, nên áp đảo, nên vượt qua, nên làm cho cạn kiệt, nên nghiền nát những hiểm nguy ấy – đó là ý nghĩa của ‘nên chế ngự những hiểm nguy ấy’.
Aratiṃ sahetha sayanamhi panteti. Aratīti yā arati aratitā anabhirati anabhiramaṇā † ukkaṇṭhitā paritassitā. Sayanamhi panteti pantesu vā senāsanesu aññataraññataresu vā adhikusalesu dhammesu aratiṃ saheyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – aratiṃ sahetha sayanamhi pante.
“He should abandon discontent in a secluded lodging.” 'Discontent' means: that which is discontent, the state of discontent, non-delight, lack of enjoyment, dissatisfaction, and anguish. “In a secluded lodging” means: in remote lodgings, or in any of the higher wholesome states, one should abandon discontent, overcome it, overwhelm it, bring it to an end, and crush it. This is the meaning of the phrase, “He should abandon discontent in a secluded lodging.”
Về câu ‘nên chịu đựng sự không hoan hỷ ở nơi trú ngụ xa vắng’. Về ‘sự không hoan hỷ’: sự không hoan hỷ nào, tình trạng không hoan hỷ, sự không thích thú, sự không vui thích, sự chán nản, sự lo sợ. Về câu ‘ở nơi trú ngụ xa vắng’: ở những sàng tọa xa vắng, hoặc trong các pháp thiện siêu việt nào đó, nên chịu đựng, nên áp đảo, nên vượt qua, nên làm cho cạn kiệt, nên nghiền nát sự không hoan hỷ – đó là ý nghĩa của ‘nên chịu đựng sự không hoan hỷ ở nơi trú ngụ xa vắng’.
Caturo sahetha paridevadhammeti. Cattāro paridevanīye dhamme saheyya parisaheyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – caturo sahetha paridevadhamme.
“He should abandon the four states that are grounds for lamentation.” He should abandon, thoroughly abandon, overcome, overwhelm, bring to an end, and crush the four states that are grounds for lamentation. This is the meaning of the phrase, “He should abandon the four states that are grounds for lamentation.”
Về câu ‘nên chịu đựng bốn pháp sầu muộn’: nên chịu đựng, nên chịu đựng hoàn toàn, nên áp đảo, nên vượt qua, nên làm cho cạn kiệt, nên nghiền nát bốn pháp là nhân của sầu muộn – đó là ý nghĩa của ‘nên chịu đựng bốn pháp sầu muộn’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Paññaṃ purakkhatvā kalyāṇapīti, vikkhambhaye tāni parissayāni;
Aratiṃ sahetha sayanamhi pante, caturo sahetha paridevadhamme’’ti.
“He who has wholesome joy, having placed wisdom at the forefront, should dispel those dangers; he should abandon discontent in a secluded lodging, and abandon the four states that are grounds for lamentation.”
‘Người có hỷ thiện lành, đặt trí tuệ lên trước, nên chế ngự những hiểm nguy ấy; nên chịu đựng sự không hoan hỷ ở nơi trú ngụ xa vắng, nên chịu đựng bốn pháp sầu muộn’.
205.
205.
205.
Kiṃsū asissaṃ kuva vā † asissaṃ, dukkhaṃ vata settha kuvajja sessaṃ;
Ete vitakke paridevaneyye, vinayetha sekho aniketacārī † .
“What shall I eat, or where shall I eat? Alas, I slept in suffering! Where shall I sleep tonight? A trainee, wandering without a home, should dispel these thoughts which are grounds for lamentation.”
‘Ta sẽ ăn gì đây, hay ta sẽ ăn ở đâu? Đêm qua đã ngủ thật khổ sở, đêm nay sẽ ngủ ở đâu đây?’ Bậc hữu học, sống không gia đình, nên nhiếp phục những tầm tư sầu muộn này.
Kiṃsū asissaṃ kuva vā asissanti. Kiṃsū asissāmīti kiṃ bhuñjissāmi odanaṃ vā kummāsaṃ vā sattuṃ vā macchaṃ vā maṃsaṃ vāti – kiṃsū asissaṃ. Kuva vā asissanti kattha bhuñjissāmi khattiyakule vā brāhmaṇakule vā vessakule vā suddakule vāti – kiṃsū asissaṃ kuva vā asissaṃ.
“What shall I eat, or where shall I eat?” “What shall I eat?” means: what shall I eat—cooked rice, or gruel, or flour cakes, or fish, or meat? This is the meaning of “What shall I eat?”. “Or where shall I eat?” means: where shall I eat—in a warrior-noble family, or a brahmin family, or a merchant family, or a worker family? This is the meaning of “What shall I eat, or where shall I eat?”.
Về câu ‘Ta sẽ ăn gì đây, hay ta sẽ ăn ở đâu?’. Về câu ‘Ta sẽ ăn gì đây?’: ta sẽ ăn gì, cơm, hay cháo lúa mạch, hay bột rang, hay cá, hay thịt? – đó là ý nghĩa của ‘Ta sẽ ăn gì đây?’. Về câu ‘Hay ta sẽ ăn ở đâu?’: ta sẽ ăn ở đâu, trong gia tộc Sát-đế-lỵ, hay gia tộc Bà-la-môn, hay gia tộc Phệ-xá, hay gia tộc Thủ-đà-la? – đó là ý nghĩa của ‘Ta sẽ ăn gì đây, hay ta sẽ ăn ở đâu?’.
Dukkhaṃ vata settha kuvajja sessanti imaṃ rattiṃ dukkhaṃ sayittha phalake vā taṭṭikāya vā cammakhaṇḍe vā tiṇasanthāre vā paṇṇasanthāre vā palālasanthāre vā. Āgāmirattiṃ † kattha sukhaṃ sayissāmi mañce vā pīṭhe vā bhisiyā vā bimbohane vā vihāre vā aḍḍhayoge vā pāsāde vā hammiye vā guhāya vāti – dukkhaṃ vata settha kuvajja sessaṃ.
“Alas, I slept in suffering! Where shall I sleep tonight?” means: “Last night, I slept in suffering on a plank, or on a mat of woven reeds, or on a piece of hide, or on a grass spread, or on a leaf spread, or on a straw spread. On the coming night, where shall I sleep in comfort? On a bed, or on a stool, or on a mattress, or on a bolster, or in a monastery, or in a lean-to, or in a palace, or in a gabled mansion, or in a cave?” This is the meaning of the phrase, “Alas, I slept in suffering! Where shall I sleep tonight?”
Về câu ‘Đêm qua đã ngủ thật khổ sở, đêm nay sẽ ngủ ở đâu đây?’: đêm nay đã ngủ thật khổ sở trên tấm ván, hay trên chiếu tre, hay trên mảnh da, hay trên thảm cỏ, hay trên thảm lá, hay trên thảm rơm. Trong đêm sắp tới, ta sẽ ngủ an lạc ở đâu? Trên giường, hay trên ghế, hay trên nệm, hay trên gối, hay trong tịnh xá, hay trong nhà một mái, hay trong lâu đài, hay trên lầu thượng, hay trong hang động? – đó là ý nghĩa của ‘Đêm qua đã ngủ thật khổ sở, đêm nay sẽ ngủ ở đâu đây?’.
Ete vitakke paridevaneyyeti. Ete vitakketi dve piṇḍapātapaṭisaññutte vitakke, dve senāsanapaṭisaññutte vitakke. Paridevaneyyeti ādevaneyye paridevaneyyeti – ete vitakke paridevaneyye.
“These thoughts which are grounds for lamentation.” ‘These thoughts’ refers to the two thoughts connected with alms-food and the two thoughts connected with lodging. ‘Grounds for lamentation’ means they are causes for special lamentation, causes for thorough lamentation. Thus, “these thoughts which are grounds for lamentation.”
Về câu ‘những tầm tư sầu muộn này’. Về ‘những tầm tư này’: hai tầm tư liên quan đến vật thực khất thực, hai tầm tư liên quan đến sàng tọa. Về ‘sầu muộn’: là nhân của than van, là nhân của sầu muộn – đó là ý nghĩa của ‘những tầm tư sầu muộn này’.
Vinayetha sekho aniketacārīti. Sekhoti kiṃkāraṇā vuccati sekho? Sikkhatīti – sekho. Kiñca sikkhati? Adhisīlampi sikkhati, adhicittampi sikkhati, adhipaññampi sikkhati. Katamā adhisīlasikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati, jānanto passanto paccavekkhanto cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkhati, saddhāya adhimuccanto sikkhati, vīriyaṃ paggaṇhanto, satiṃ upaṭṭhapento, cittaṃ samādahanto, paññāya pajānanto sikkhati, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkhati, pariññeyyaṃ parijānanto, pahātabbaṃ pajahanto, bhāvetabbaṃ bhāvento, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati ācarati samācarati samādāya sikkhati. Taṃkāraṇā vuccati – sekho. Vinayāya paṭivinayāya pahānāya vūpasamāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya, adhicittampi sikkheyya, adhipaññampi sikkheyya. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya jānanto…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – vinayetha sekho.
"The trainee, wandering without a home, should train." Why is one called a 'trainee' (sekho)? Because one trains (sikkhati)—thus, a 'trainee'. And what does one train in? One trains in higher virtue, one trains in higher mind, and one trains in higher wisdom. What is the training in higher virtue?… This is the training in higher wisdom. One trains by attending to these three trainings; one trains by knowing, seeing, reviewing, and resolving the mind; one trains by being resolved through faith; one trains by exerting energy, establishing mindfulness, concentrating the mind, and understanding with wisdom. One trains by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by developing what is to be developed, and by realizing what is to be realized; one practices, conducts oneself well, and trains having undertaken it. For that reason, one is called a 'trainee'. For the sake of discipline, for counteracting, for abandoning, for calming, for relinquishing, and for tranquilizing, one should train in higher virtue, one should train in higher mind, and one should train in higher wisdom. One should train by attending to these three trainings, by knowing… one should train by realizing what is to be realized; one should practice, conduct oneself well, and live having undertaken it. This is the meaning of "the trainee should train."
Về câu ‘Vị hữu học nên nhiếp phục, là người sống không gia đình.’ Về ‘vị hữu học,’ vì lý do gì được gọi là ‘vị hữu học’? Vị ấy học tập, vì thế là ‘vị hữu học.’ Và vị ấy học tập điều gì? Vị ấy học tập về tăng thượng giới, vị ấy học tập về tăng thượng tâm, vị ấy học tập về tăng thượng tuệ. Tăng thượng giới học là gì? … cho đến … đây là tăng thượng tuệ học. Vị ấy học tập bằng cách hướng tâm đến ba học pháp này, học tập bằng cách biết, bằng cách thấy, bằng cách quán xét, bằng cách quyết định tâm, học tập bằng cách hướng tâm đến với đức tin, học tập bằng cách nỗ lực tinh tấn, bằng cách an trú niệm, bằng cách định tâm, bằng cách hiểu rõ với trí tuệ, học tập bằng cách thắng tri điều cần được thắng tri, bằng cách liễu tri điều cần được liễu tri, bằng cách đoạn tận điều cần được đoạn tận, bằng cách tu tập điều cần được tu tập, bằng cách chứng ngộ điều cần được chứng ngộ, vị ấy thực hành, thực hành đúng đắn, sau khi đã chấp nhận, vị ấy học tập. Vì lý do ấy, được gọi là ‘vị hữu học.’ Vị ấy nên học tập về tăng thượng giới, nên học tập về tăng thượng tâm, nên học tập về tăng thượng tuệ để nhiếp phục, để chế ngự, để đoạn tận, để làm cho an tịnh, để từ bỏ, để làm cho lắng dịu. Vị ấy nên học tập bằng cách hướng tâm đến ba học pháp này, bằng cách biết … cho đến … vị ấy nên học tập bằng cách chứng ngộ điều cần được chứng ngộ, nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, sau khi đã chấp nhận, vị ấy nên hành xử. Như vậy là ý nghĩa của câu: ‘Vị hữu học nên nhiếp phục.’
Aniketacārīti. Kathaṃ niketacārī hoti? Idhekacco kulapalibodhena samannāgato hoti, gaṇapalibodhena… āvāsapalibodhena… cīvarapalibodhena… piṇḍapātapalibodhena… senāsanapalibodhena… gilānapaccayabhesajjaparikkhārapalibodhena samannāgato hoti. Evaṃ niketacārī hoti. Kathaṃ aniketacārī hoti? Idha bhikkhu na kulapalibodhena samannāgato hoti, na gaṇapalibodhena… na āvāsapalibodhena… na cīvarapalibodhena… na piṇḍapātapalibodhena… na senāsanapalibodhena… na gilānapaccayabhesajjaparikkhārapalibodhena samannāgato hoti. Evaṃ aniketacārī hoti.
One who wanders without a home. How is one a wanderer with a home? Here, a certain person is possessed of the impediment of family, the impediment of a group, the impediment of a dwelling, the impediment of robes, the impediment of alms-food, the impediment of lodging, and the impediment of medicines and requisites for the sick. Thus one is a wanderer with a home. How is one a wanderer without a home? Here, a monk is not possessed of the impediment of family, nor of a group, nor of a dwelling, nor of robes, nor of alms-food, nor of lodging, nor of medicines and requisites for the sick. Thus one is a wanderer without a home.
Về ‘người sống không gia đình.’ Thế nào là người sống có gia đình? Ở đây, có người bị ràng buộc bởi gia đình, bị ràng buộc bởi hội chúng… bị ràng buộc bởi trú xứ… bị ràng buộc bởi y phục… bị ràng buộc bởi vật thực khất thực… bị ràng buộc bởi sàng tọa… bị ràng buộc bởi dược phẩm trị bệnh. Như vậy là người sống có gia đình. Thế nào là người sống không gia đình? Ở đây, vị tỳ khưu không bị ràng buộc bởi gia đình, không bị ràng buộc bởi hội chúng… không bị ràng buộc bởi trú xứ… không bị ràng buộc bởi y phục… không bị ràng buộc bởi vật thực khất thực… không bị ràng buộc bởi sàng tọa… không bị ràng buộc bởi dược phẩm trị bệnh. Như vậy là người sống không gia đình.
‘‘Magadhaṃ gatā kosalaṃ gatā, ekacciyā pana vajjibhūmiyā;
Migā viya asaṅghacārino †, aniketā viharanti bhikkhavo.
Having gone to Magadha, having gone to Kosala, and some from the land of the Vajjis; like deer not moving in herds, the monks dwell without a home.
“Đã đi đến xứ Magadha, đã đi đến xứ Kosala, và từ một phần của xứ Vajji; các vị tỳ khưu sống không gia đình, đi một mình không hội chúng, giống như loài nai.”
‘‘Sādhu caritakaṃ sādhu sucaritaṃ, sādhu sadā aniketavihāro;
Atthapucchanaṃ padakkhiṇaṃ kammaṃ, etaṃ sāmaññaṃ akiñcanassā’’ti.
Good is conduct, good is good conduct, good is always dwelling without a home; asking the meaning is a proper action, this is the recluseship for one who has nothing.
“Lành thay, sự thực hành! Lành thay, sự thực hành tốt đẹp! Lành thay, sự luôn sống không gia đình! Việc hỏi han ý nghĩa là hành động cao thượng. Đây là đời sống Sa-môn của người vô sở hữu.”
Vinayetha sekho aniketacārī. Tenāha bhagavā –
The trainee, wandering without a home, should subdue them. Therefore, the Blessed One said:
Vị hữu học, người sống không gia đình, nên nhiếp phục. Do vậy, Đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Kiṃsū asissaṃ kuva vā asissaṃ, dukkhaṃ vata settha kuvajja sessaṃ;
Ete vitakke paridevaneyye, vinayetha sekho aniketacārī’’ti.
“‘What indeed shall I eat, or where shall I eat? It was painful, alas, where I slept! Where shall I sleep today?’—These thoughts connected with lamentation, the trainee, wandering without a home, should subdue.”
“‘Ta sẽ ăn gì đây, hay ta sẽ ăn ở đâu? Khổ thay, ta đã ngủ không yên! Hôm nay ta sẽ ngủ ở đâu?’ Vị hữu học, người sống không gia đình, nên nhiếp phục những tầm tư và than van này.”
206.
206.
206.
Annañca laddhā vasanañca kāle, mattaṃ sa jaññā † idha tosanatthaṃ;
So tesu gutto yatacāri gāme, rusitopi † vācaṃ pharusaṃ na vajjā.
Having received food and robes in due time, he should know moderation here for contentment; guarded in these, restrained in his conduct in the village, even if provoked, he should not utter harsh words.
“Sau khi nhận được vật thực và y phục đúng thời, vị ấy nên biết chừng mực ở đây để được tri túc. Vị ấy, được phòng hộ trong các vật dụng ấy, đi vào làng với sự chế ngự, dù bị chọc tức cũng không nói lời thô ác.”
Annañca laddhā vasanañca kāleti. Annanti odano kummāso sattu maccho maṃsaṃ. Vasananti cha cīvarāni – khomaṃ, kappāsikaṃ, koseyyaṃ, kambalaṃ, sāṇaṃ, bhaṅgaṃ. Annañca laddhā vasanañca kāleti. Cīvaraṃ labhitvā piṇḍapātaṃ labhitvā na kuhanāya, na lapanāya, na nemittikatāya, na nippesikatāya, na lābhena lābhaṃ nijigīsanatāya, na dārudānena, na veḷudānena, na pattadānena, na pupphadānena, na phaladānena, na sinānadānena, na cuṇṇadānena, na mattikādānena, na dantakaṭṭhadānena, na mukhodakadānena, na cātukamyatāya, na muggasūpyatāya, na pāribhaṭyatāya, na pīṭhamaddikatāya, na vatthuvijjāya, na tiracchānavijjāya, na aṅgavijjāya, na nakkhattavijjāya, na dūtagamanena, na pahiṇagamanena, na jaṅghapesanikena, na vejjakammena, na piṇḍapaṭipiṇḍakena, na dānānuppadānena dhammena samena laddhā labhitvā adhigantvā vinditvā paṭilabhitvāti – annañca laddhā vasanañca kāle.
"Having obtained food and clothing in due time." "Food" means cooked rice, barley-meal, flour, fish, and meat. "Clothing" means the six kinds of robes: linen, cotton, silk, wool, hemp, and a blend of threads. "Having obtained food and clothing in due time" means having obtained robes and alms-food not through deceit, flattery, hinting, or scheming, nor by pursuing gain with gain; not by giving gifts of wood, bamboo, leaves, flowers, fruit, bathing powder, powder, clay, tooth-sticks, or water for washing the face; not by currying favor, inconsistent talk, fostering children, or massaging the back; not by knowledge of auspicious sites, worldly arts, divination by limbs, or astrology; not by acting as a messenger, running errands, or acting as a courier; not by medical practice, exchanging alms-food for alms-food, or giving a gift in return for a gift—but having obtained them righteously and justly, having acquired, attained, found, and received them. This is the meaning of "having obtained food and clothing in due time."
Về câu ‘Sau khi nhận được vật thực và y phục đúng thời.’ ‘Vật thực’ là cơm, cháo, bột, cá, thịt. ‘Y phục’ là sáu loại y: vải lanh, vải bông, vải lụa, vải len, vải gai, vải hỗn hợp. ‘Sau khi nhận được vật thực và y phục đúng thời’ có nghĩa là: Sau khi nhận được y, sau khi nhận được vật thực khất thực, không phải bằng sự lừa dối, không phải bằng sự nói nhiều, không phải bằng cách ra dấu, không phải bằng cách mạ lị, không phải bằng cách lấy lợi đổi lợi, không phải bằng cách cho củi, không phải bằng cách cho tre, không phải bằng cách cho lá, không phải bằng cách cho hoa, không phải bằng cách cho quả, không phải bằng cách cho vật liệu tắm, không phải bằng cách cho bột thơm, không phải bằng cách cho đất sét, không phải bằng cách cho tăm xỉa răng, không phải bằng cách cho nước rửa mặt, không phải bằng sự tâng bốc, không phải bằng lời nói bóng gió, không phải bằng cách nuôi nấng trẻ con, không phải bằng cách xoa bóp, không phải bằng nghề xem đất, không phải bằng tà thuật, không phải bằng nghề xem tướng, không phải bằng nghề xem sao, không phải bằng việc đưa tin, không phải bằng việc đi sứ, không phải bằng việc chạy việc vặt, không phải bằng nghề y, không phải bằng cách đổi vật thực, không phải bằng cách cho đi cho lại; mà là đã nhận được, đã thâu hoạch, đã đạt được, đã tìm được, đã nhận lại một cách hợp pháp, một cách công bằng. Như vậy là ý nghĩa của câu: ‘Sau khi nhận được vật thực và y phục đúng thời.’
Mattaṃ sa jaññā idha tosanatthanti. Mattaṃ sa jaññāti dvīhi kāraṇehi mattaṃ jāneyya – paṭiggahaṇato vā paribhogato vā. Kathaṃ paṭiggahaṇato mattaṃ jānāti? Thokepi diyyamāne kulānudayāya † kulānurakkhāya kulānukampāya paṭiggaṇhāti, bahukepi diyyamāne kāyaparihārikaṃ cīvaraṃ paṭiggaṇhāti kucchiparihārikaṃ piṇḍapātaṃ paṭiggaṇhāti. Evaṃ paṭiggahaṇato mattaṃ jānāti. Kathaṃ paribhogato mattaṃ jānāti?
"He should know moderation here for the sake of contentment." "He should know moderation" means he should know moderation in two ways: in receiving or in using. How does he know moderation in receiving? Even when little is given, he accepts it out of compassion for the family, for the protection of the family, and out of sympathy for the family. Even when much is given, he accepts only the robe that is sufficient for the maintenance of the body and the alms-food that is sufficient for the sustenance of the belly. Thus, he knows moderation in receiving. How does he know moderation in using?
Về câu ‘Vị ấy nên biết chừng mực ở đây để được tri túc.’ ‘Vị ấy nên biết chừng mực’ có nghĩa là vị ấy nên biết chừng mực qua hai phương diện: hoặc là qua sự thọ nhận, hoặc là qua sự sử dụng. Thế nào là biết chừng mực qua sự thọ nhận? Dù được cúng dường ít, vị ấy vẫn thọ nhận vì lòng thương tưởng đến gia đình, vì để bảo vệ gia đình, vì lòng bi mẫn đối với gia đình. Dù được cúng dường nhiều, vị ấy chỉ thọ nhận y phục vừa đủ để bảo trì thân thể, chỉ thọ nhận vật thực khất thực vừa đủ để bảo trì bụng. Như vậy là biết chừng mực qua sự thọ nhận. Thế nào là biết chừng mực qua sự sử dụng?
Paṭisaṅkhā yoniso cīvaraṃ paṭisevati yāvadeva sītassa paṭighātāya uṇhassa paṭighātāya ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṃ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīnapaṭicchādanatthaṃ.
Reflecting wisely, one uses robes only for protection from the cold, for protection from the heat, for protection from the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things, and solely for the purpose of covering the private parts.
Vị ấy, sau khi quán xét một cách như lý, sử dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, để ngăn ngừa nóng, để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; và chỉ để che đậy sự hổ thẹn.
Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṃ paṭisevati neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca.
Reflecting wisely, one partakes of alms-food, not for amusement, not for intoxication, not for adornment, not for beautification, but only for the maintenance of this body, for its sustenance, for the cessation of the affliction of hunger, and for the support of the holy life, considering: 'Thus I shall dispel the old feeling and not allow a new feeling to arise. And there will be for me sustenance, blamelessness, and a comfortable abiding.'
Vị ấy, sau khi quán xét một cách như lý, sử dụng vật thực khất thực không phải để vui đùa, không phải để say sưa, không phải để trang điểm, không phải để làm đẹp; mà chỉ để thân này được duy trì, để được bảo dưỡng, để chấm dứt sự khổ não, để hỗ trợ cho đời sống phạm hạnh. Nghĩ rằng: ‘Như vậy, ta sẽ làm dịu đi cảm thọ cũ và sẽ không để cảm thọ mới phát sinh. Ta sẽ được sống thọ, không bị chê trách, và sống được an ổn.’
Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṃ paṭisevati yāvadeva sītassa paṭighātāya uṇhassa paṭighātāya ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṃ paṭighātāya, yāvadeva utuparissayavinodanapaṭisallānārāmatthaṃ.
Reflecting wisely, one uses a lodging only to ward off cold, to ward off heat, to ward off the touch of gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things; and only for dispelling the dangers of the climate and for delighting in seclusion.
Vị ấy, sau khi quán xét một cách như lý, sử dụng sàng tọa chỉ để ngăn ngừa lạnh, để ngăn ngừa nóng, để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; và chỉ để xua tan sự nguy hiểm của thời tiết và để hưởng sự độc cư.
Paṭisaṅkhā yoniso gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ paṭisevati yāvadeva uppannānaṃ veyyābyādhikānaṃ † vedanānaṃ paṭighātāya abyāpajjaparamatāya.
Reflecting wisely, one uses the requisite of medicinal support for the sick only to ward off arisen feelings of bodily affliction and for the supreme state of being free from affliction.
Vị ấy sau khi suy xét một cách như lý, thọ dụng vật dụng thuốc men trị bệnh, chỉ để ngăn trừ các cảm thọ bệnh hoạn đã sanh khởi, với mục đích cao nhất là không bị phiền não.
Evaṃ paribhogato mattaṃ jānāti. Mattaṃ sa jaññāti. Imehi dvīhi kāraṇehi mattaṃ jāneyya ājāneyya paṭivijāneyya paṭivijjheyyāti – mattaṃ sa jaññā.
Thus, in partaking, one knows the measure. One knows the measure. By these two reasons, one should know the measure, know it well, know it distinctly, know it repeatedly, and penetrate it. Thus, one knows the measure.
Như vậy, do việc thọ dụng, vị ấy biết sự chừng mực. Vị ấy nên biết sự chừng mực. Bởi hai lý do này, vị ấy nên biết, nên biết rõ, nên biết một cách đặc biệt, nên biết đi biết lại, nên biết một cách thấu suốt về sự chừng mực – (đây là ý nghĩa của) vị ấy nên biết sự chừng mực.
Idha tosanatthanti. Idha bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena cīvarena itarītaracīvarasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca cīvarahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati; aladdhā ca cīvaraṃ na paritassati, laddhā ca cīvaraṃ agadhito amucchito anajjhāpanno, ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītaracīvarasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti, na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato – ayaṃ vuccati bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito.
Here, it is for the purpose of contentment. Here, a monk is content with whatever kind of robe, speaks in praise of contentment with whatever kind of robe, and on account of a robe does not fall into an unsuitable and improper search. Not having obtained a robe, he is not distressed; and having obtained a robe, he uses it without greed, without infatuation, and without being overcome, seeing the danger and with wisdom of the escape. And by means of that contentment with whatever kind of robe, he neither exalts himself nor disparages others. Whoever is skilled therein, not lazy, clearly comprehending, and mindful—this monk is said to be established in the ancient, foremost, noble lineage.
Về câu 'ở đây, vì mục đích tri túc'. Ở đây, vị tỳ khưu là người tri túc với bất kỳ y phục nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ y phục nào; và không rơi vào sự tìm kiếm không thích hợp vì lý do y phục; và khi không nhận được y phục, không lo lắng; và khi đã nhận được y phục, vị ấy thọ dụng mà không tham đắm, không say mê, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly; và do sự tri túc với bất kỳ y phục nào ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không biếng nhác, có tỉnh giác, có chánh niệm – vị tỳ khưu này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh nhân, cổ xưa, cao quý.
Puna caparaṃ bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena piṇḍapātena itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca piṇḍapātahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati, aladdhā ca piṇḍapātaṃ na paritassati, laddhā ca piṇḍapātaṃ agadhito amucchito anajjhāpanno, ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarapiṇḍapātasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti, na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato – ayaṃ vuccati bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito.
Furthermore, a monk is content with any kind of almsfood and praises contentment with any kind of almsfood. He does not, for the sake of almsfood, fall into unsuitable, improper seeking. Not having obtained almsfood, he is not agitated; and having obtained it, he partakes of it ungreedily, uninfatuated, and unattached, seeing the danger and understanding the escape. By means of that contentment with any kind of almsfood, he neither exalts himself nor disparages others. Whoever is skilled therein, not lazy, clearly comprehending, and mindful—this monk is said to be established in the ancient, foremost lineage of the noble ones.
Lại nữa, vị tỳ khưu là người tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào; và không rơi vào sự tìm kiếm không thích hợp vì lý do vật thực khất thực; và khi không nhận được vật thực khất thực, không lo lắng; và khi đã nhận được vật thực khất thực, vị ấy thọ dụng mà không tham đắm, không say mê, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly; và do sự tri túc với bất kỳ vật thực khất thực nào ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không biếng nhác, có tỉnh giác, có chánh niệm – vị tỳ khưu này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh nhân, cổ xưa, cao quý.
Puna caparaṃ bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena senāsanena itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca senāsanahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati, aladdhā ca senāsanaṃ na paritassati, laddhā ca senāsanaṃ agadhito amucchito anajjhāpanno, ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītarasenāsanasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti, na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato – ayaṃ vuccati bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhito.
Furthermore, a monk is content with any kind of lodging and praises contentment with any kind of lodging. He does not, for the sake of lodging, fall into unsuitable, improper seeking. Not having obtained lodging, he is not anxious; and having obtained it, he uses it ungreedily, uninfatuated, and unattached, seeing the danger and understanding the escape. By means of that contentment with any kind of lodging, he neither exalts himself nor disparages others. Whoever is skilled therein, not lazy, clearly comprehending, and mindful—this monk is said to be established in the ancient, foremost lineage of the noble ones.
Lại nữa, vị tỳ khưu là người tri túc với bất kỳ sàng tọa nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ sàng tọa nào; và không rơi vào sự tìm kiếm không thích hợp vì lý do sàng tọa; và khi không nhận được sàng tọa, không lo lắng; và khi đã nhận được sàng tọa, vị ấy thọ dụng mà không tham đắm, không say mê, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly; và do sự tri túc với bất kỳ sàng tọa nào ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không biếng nhác, có tỉnh giác, có chánh niệm – vị tỳ khưu này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh nhân, cổ xưa, cao quý.
Puna caparaṃ bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarena gilānapaccayabhesajjaparikkhārena, itarītaragilānapaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā ca vaṇṇavādī, na ca gilānapaccayabhesajjaparikkhārahetu anesanaṃ appatirūpaṃ āpajjati, aladdhā ca gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ na paritassati, laddhā ca gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṃ agadhito amucchito anajjhāpanno, ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati; tāya ca pana itarītaragilānapaccayabhesajjaparikkhārasantuṭṭhiyā nevattānukkaṃseti, na paraṃ vambheti. Yo hi tattha dakkho analaso sampajāno paṭissato – ayaṃ vuccati bhikkhu porāṇe aggaññe ariyavaṃse ṭhitoti – mattaṃ sa jaññā idha tosanatthaṃ.
Furthermore, a bhikkhu is content with any kind of requisite of medicine as a support for the sick. He speaks in praise of contentment with any kind of requisite of medicine as a support for the sick. And he does not, for the sake of a requisite of medicine as a support for the sick, fall into unsuitable, improper searching. And not having obtained a requisite of medicine as a support for the sick, he is not distressed. And having obtained a requisite of medicine as a support for the sick, he partakes of it ungreedily, uninfatuatedly, and unattachedly, seeing the danger and understanding the escape. And by means of that contentment with any kind of requisite of medicine as a support for the sick, he neither exalts himself nor disparages others. Whoever in this regard is skilled, not lazy, clearly comprehending, and mindful—this bhikkhu is said to stand in the ancient, foremost noble lineage. This is the meaning of the phrase: 'He would know moderation here for the sake of contentment.'
Lại nữa, vị tỳ khưu là người tri túc với bất kỳ vật dụng thuốc men trị bệnh nào, và là người tán thán sự tri túc với bất kỳ vật dụng thuốc men trị bệnh nào; và không rơi vào sự tìm kiếm không thích hợp vì lý do vật dụng thuốc men trị bệnh; và khi không nhận được vật dụng thuốc men trị bệnh, không lo lắng; và khi đã nhận được vật dụng thuốc men trị bệnh, vị ấy thọ dụng mà không tham đắm, không say mê, không dính mắc, thấy rõ sự nguy hại, có trí tuệ về sự xuất ly; và do sự tri túc với bất kỳ vật dụng thuốc men trị bệnh nào ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không chê bai người khác. Vị nào ở đây khéo léo, không biếng nhác, có tỉnh giác, có chánh niệm – vị tỳ khưu này được gọi là người an trú trong dòng dõi Thánh nhân, cổ xưa, cao quý – (đây là ý nghĩa của) vị ấy nên biết sự chừng mực, ở đây, vì mục đích tri túc.
So tesu gutto yatacāri gāmeti. So tesu guttoti cīvare piṇḍapāte senāsane gilānapaccayabhesajjaparikkhāre gutto gopito rakkhito saṃvutoti. Evampi so tesu gutto. Atha vā āyatanesu gutto gopito rakkhito saṃvutoti. Evampi so tesu gutto.
Regarding the phrase: 'He is guarded in regard to these; he conducts himself with restraint in the village.' Herein, 'He is guarded in regard to these' means: he is guarded, protected, preserved, and restrained in regard to the robe, almsfood, lodging, and the requisite of medicine as a support for the sick. In this way, too, 'He is guarded in regard to these.' Or alternatively, he is guarded, protected, preserved, and restrained in regard to the sense bases. In this way, too, 'He is guarded in regard to these.'
Về câu 'vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy, có hạnh kiểm được chế ngự ở trong làng'. 'Vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy' có nghĩa là được hộ trì, được bảo vệ, được gìn giữ, được phòng hộ trong y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, vật dụng thuốc men trị bệnh. Như vậy cũng là 'vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy'. Hoặc là, được hộ trì, được bảo vệ, được gìn giữ, được phòng hộ trong các căn. Như vậy cũng là 'vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy'.
Yatacāri gāmeti gāme yato yatto paṭiyatto gutto gopito rakkhito saṃvutoti – so tesu gutto yatacāri gāme.
'He conducts himself with restraint in the village' means: in the village, he is restrained, firmly restrained, well-restrained, guarded, protected, preserved, and controlled. This is the meaning of the full phrase: 'He is guarded in regard to these; he conducts himself with restraint in the village.'
'Có hạnh kiểm được chế ngự ở trong làng' có nghĩa là ở trong làng, vị ấy được chế ngự, được chế ngự vững chắc, được chế ngự hoàn toàn, được hộ trì, được bảo vệ, được gìn giữ, được phòng hộ – (đây là ý nghĩa của) 'vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy, có hạnh kiểm được chế ngự ở trong làng'.
Rusitopi vācaṃ pharusaṃ na vajjāti. Dūsito khuṃsito vambhito ghaṭṭito garahito upavadito pharusena kakkhaḷena nappaṭivajjā nappaṭibhaṇeyya, akkosantaṃ na paccakkoseyya, rosantaṃ nappaṭiroseyya, bhaṇḍantaṃ na paṭibhaṇḍeyya, na kalahaṃ kareyya, na bhaṇḍanaṃ kareyya, na viggahaṃ kareyya, na vivādaṃ kareyya, na medhagaṃ kareyya, kalahaṃ bhaṇḍanaṃ viggahaṃ vivādaṃ medhagaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, kalahabhaṇḍanaviggahavivādamedhagā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – rusitopi vācaṃ pharusaṃ na vajjā.
Even when harmed, one should not speak harsh speech. Being harmed, reviled, threatened, impinged upon, contemptuously blamed, or scolded with harsh, rough speech, one should not speak back, should not retort. One should not scold back at one who scolds; one should not be angry in return at one who is angry; one should not quarrel in return with one who quarrels. One should not make a dispute, should not make a quarrel, should not make a conflict, should not make a debate, should not make a contention. One should abandon, dispel, bring to an end, and cause to not exist any dispute, quarrel, conflict, debate, or contention. One should be aloof, abstaining, refraining, gone forth, escaped, especially released, and disjoined from disputes, quarrels, conflicts, debates, and contentions. One should dwell with a mind without boundaries. This is the meaning of the phrase: 'Even when harmed, one should not speak harsh speech.'
Về câu 'dù bị chọc tức cũng không nói lời thô ác'. Bị làm hại, bị mắng nhiếc, bị dọa nạt, bị xúc phạm, bị khiển trách, bị phỉ báng, vị ấy không nên nói lại, không nên đáp lại bằng lời nói thô ác, cộc cằn; không nên mắng nhiếc lại người đang mắng nhiếc, không nên tức giận lại người đang tức giận, không nên cãi lại người đang cãi vã; không nên tranh cãi, không nên gây gổ, không nên tranh chấp, không nên luận쟁, không nên gây xung đột. Vị ấy nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại sự tranh cãi, sự gây gổ, sự tranh chấp, sự luận쟁, sự xung đột. Vị ấy nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên giải thoát, nên hoàn toàn giải thoát, nên không còn liên hệ với sự tranh cãi, sự gây gổ, sự tranh chấp, sự luận쟁, sự xung đột; nên sống với tâm không còn giới hạn – (đây là ý nghĩa của) 'dù bị chọc tức cũng không nói lời thô ác'.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Annañca laddhā vasanañca kāle, mattaṃ sa jaññā idha tosanatthaṃ;
So tesu gutto yatacāri gāme, rusitopi vācaṃ pharusaṃ na vajjā’’ti.
"Having obtained food and clothing at the proper time, one should know moderation herein for the sake of contentment. He, being guarded in these and of restrained conduct in the village, even when provoked, should not speak harsh speech."
“Khi nhận được vật thực và y phục đúng thời, vị ấy nên biết chừng mực, ở đây, vì mục đích tri túc; vị ấy hộ trì trong các vật dụng ấy, có hạnh kiểm được chế ngự ở trong làng, dù bị chọc tức cũng không nói lời thô ác.”
207.
207.
207.
Okkhittacakkhu na ca pādalolo, jhānānuyutto bahujāgarassa;
Upekkhamārabbha samāhitatto, takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde † .
With downcast eyes and not fickle-footed, one should be devoted to jhāna and very wakeful. Having aroused equanimity, with a concentrated mind, one should cut off the tendency towards sensual thoughts and remorse.
Có mắt nhìn xuống và không có chân đi lăng xăng, chuyên tâm vào thiền định, nên là người thường xuyên tỉnh thức; phát khởi tâm xả, có tâm định tĩnh, nên cắt đứt những khuynh hướng tầm cầu và sự hối hận.
Okkhittacakkhu na ca pādaloloti. Kathaṃ khittacakkhu hoti? Idhekacco bhikkhu cakkhulolo, cakkhuloliyena samannāgato hoti, ‘‘adiṭṭhaṃ dakkhitabbaṃ, diṭṭhaṃ samatikkamitabba’’nti ārāmena ārāmaṃ uyyānena uyyānaṃ gāmena gāmaṃ nigamena nigamaṃ nagarena nagaraṃ raṭṭhena raṭṭhaṃ janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ anuyutto ca hoti rūpadassanāya. Evampi khittacakkhu hoti.
As to 'With downcast eyes and not fickle-footed.' How is one of scattered eyes? Here, a certain bhikkhu is fickle-eyed, endowed with fickleness of eye, thinking, 'What is unseen should be seen; what has been seen should be surpassed.' He is devoted to seeing forms, undertaking long and unsettled wandering from park to park, from garden to garden, from village to village, from market town to market town, from city to city, from country to country, from province to province. In this way, too, one is of scattered eyes.
Về câu 'có mắt nhìn xuống và không có chân đi lăng xăng'. Thế nào là có mắt phóng dật? Ở đây, có vị tỳ khưu nọ có mắt phóng dật, có sự phóng dật của mắt, với ý nghĩ 'cái chưa thấy thì phải thấy, cái đã thấy thì phải vượt qua', vị ấy đi lang thang xa, đi lang thang không ổn định từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác, từ làng này đến làng khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, từ thành phố này đến thành phố khác, từ xứ này đến xứ khác, từ vùng này đến vùng khác, và chuyên tâm vào việc ngắm nhìn các sắc. Như vậy cũng là có mắt phóng dật.
Atha vā bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno asaṃvuto gacchati hatthiṃ olokento, assaṃ olokento, rathaṃ olokento, pattiṃ olokento, itthiyo olokento, purise olokento, kumārake olokento, kumārikāyo olokento, antarāpaṇaṃ olokento, gharamukhāni olokento, uddhaṃ olokento, adho olokento, disāvidisaṃ vipekkhamāno † gacchati. Evampi khittacakkhu hoti.
Or, a bhikkhu, having entered the interior of a village and come upon a street, walks unrestrained. He goes along looking at an elephant, looking at a horse, looking at a chariot, looking at foot soldiers, looking at women, looking at men, looking at young boys, looking at young girls, looking at a market, looking at doorways, looking up, looking down, and glancing at the directions and intermediate directions. In this way, too, one has a scattered eye.
Lại nữa, vị tỳ khưu đã đi vào trong xóm làng, đã đi đến con đường, đi không có sự thu thúc, đi nhìn ngắm voi, nhìn ngắm ngựa, nhìn ngắm xe, nhìn ngắm bộ binh, nhìn ngắm phụ nữ, nhìn ngắm đàn ông, nhìn ngắm các bé trai, nhìn ngắm các bé gái, nhìn ngắm khu chợ, nhìn ngắm các cửa nhà, nhìn lên, nhìn xuống, đi nhìn ngó các phương và các hướng phụ. Như vậy cũng là người có mắt phóng dật.
Atha vā bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā nimittaggāhī hoti anubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya nappaṭipajjati, na rakkhati cakkhundriyaṃ, cakkhundriye na saṃvaraṃ āpajjati. Evampi khittacakkhu hoti.
Or, a bhikkhu, having seen a form with the eye, grasps its signs and secondary characteristics. Because he dwells with the eye faculty unrestrained, evil, unwholesome states of covetousness and displeasure might assail him. He does not practice for its restraint, he does not guard the eye faculty, he does not undertake restraint of the eye faculty. In this way, too, one has a scattered eye.
Lại nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, là người nắm giữ tướng chung, là người nắm giữ tướng riêng. Do nhân nào mà các pháp bất thiện tội lỗi là tham ái và ưu phiền có thể tuôn chảy vào vị ấy đang sống không thu thúc nhãn quyền, vị ấy không thực hành sự thu thúc nhãn quyền ấy, không hộ trì nhãn quyền, không đi đến sự thu thúc ở nhãn quyền. Như vậy cũng là người có mắt phóng dật.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā viharanti, seyyathidaṃ – naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ pāṇissaraṃ vetāḷaṃ kumbhathūṇaṃ sobhanakaṃ caṇḍālaṃ vaṃsaṃ dhovanaṃ hatthiyuddhaṃ assayuddhaṃ mahiṃsayuddhaṃ usabhayuddhaṃ ajayuddhaṃ meṇḍayuddhaṃ kukkuṭayuddhaṃ vaṭṭakayuddhaṃ daṇḍayuddhaṃ muṭṭhiyuddhaṃ nibbuddhaṃ uyyodhikaṃ balaggaṃ senābyūhaṃ anīkadassanaṃ iti vā. Evampi khittacakkhu hoti.
Or, just as some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith, dwell engaged in watching such unsuitable shows, that is to say: dancing, singing, instrumental music, theatrical shows, recitations, hand-music, chanting accompanied by cymbals, drumming, pantomimes, acrobatic feats, bamboo-pole feats, bone-washing ceremonies, elephant fights, horse fights, buffalo fights, bull fights, goat fights, ram fights, cock fights, quail fights, stick-fighting, boxing, wrestling, mock fights, troop reviews, battle arrays, and reviewing army divisions. In this way, too, one has a scattered eye.
Hoặc như một số sa-môn, bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường, họ sống chuyên tâm vào việc xem các cảnh tượng như thế này, ví như là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, vỗ tay, nhạc cụ gõ, trống, trình diễn nghệ thuật, nhào lộn, múa tre, rửa xương, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò, đấu dê, đấu cừu, chọi gà, chọi cút, đấu gậy, đấu vật, đấu quyền, diễn tập quân sự, duyệt binh, dàn trận, hoặc xem các binh chủng. Như vậy cũng là người có mắt phóng dật.
Kathaṃ na khittacakkhu hoti? Idhekacco bhikkhu na cakkhulolo na cakkhuloliyena samannāgato hoti ‘‘adiṭṭhaṃ dakkhitabbaṃ diṭṭhaṃ samatikkamitabba’’nti na ārāmena ārāmaṃ na uyyānena uyyānaṃ na gāmena gāmaṃ na nigamena nigamaṃ na nagarena nagaraṃ na raṭṭhena raṭṭhaṃ na janapadena janapadaṃ dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ ananuyutto ca hoti rūpadassanāya. Evampi na khittacakkhu hoti.
How is one not of scattered eyes? Here, a certain bhikkhu is not restless-eyed, not endowed with restlessness of the eyes. He is not one who, for the sake of seeing forms, undertakes long and unsettled wandering from park to park, from garden to garden, from village to village, from town to town, from city to city, from state to state, from district to district, thinking, 'What has not been seen should be seen; what has been seen should be surpassed.' In this way, too, one is not of scattered eyes.
Thế nào là người không có mắt phóng dật? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó không có mắt láo liên, không có tánh mắt láo liên, không đi từ khu vườn này đến khu vườn khác, không đi từ công viên này đến công viên khác, không đi từ làng này đến làng khác, không đi từ thị trấn này đến thị trấn khác, không đi từ thành phố này đến thành phố khác, không đi từ xứ này đến xứ khác, không đi từ vùng này đến vùng khác, và không chuyên tâm vào việc đi lang thang xa, đi không ổn định để xem sắc với ý nghĩ 'cái chưa thấy thì nên thấy, cái đã thấy thì nên vượt qua'. Như vậy là người không có mắt phóng dật.
Atha vā bhikkhu antaragharaṃ paviṭṭho vīthiṃ paṭipanno saṃvuto gacchati na hatthiṃ olokento…pe… na disāvidisaṃ vipekkhamāno gacchati. Evampi na khittacakkhu hoti.
Or again, a bhikkhu, having entered a village and proceeding along a road, walks restrained, not looking at an elephant... not looking around at the cardinal and intermediate directions as he walks. In this way, too, one is not of scattered eyes.
Lại nữa, vị tỳ khưu đã đi vào trong xóm làng, đã đi đến con đường, đi có sự thu thúc, đi không nhìn ngắm voi... vân vân... đi không nhìn ngó các phương và các hướng phụ. Như vậy cũng là người không có mắt phóng dật.
Atha vā bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti…pe… cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati. Evampi na khittacakkhu hoti.
Or again, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is not one who grasps its signs... he enters upon restraint of the eye faculty. In this way, too, one is not of scattered eyes.
Lại nữa, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc pháp bằng mắt, không là người nắm giữ tướng chung... vân vân... đi đến sự thu thúc ở nhãn quyền. Như vậy cũng là người không có mắt phóng dật.
Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni bhuñjitvā…pe… anīkadassanaṃ iti vā. Evarūpā visūkadassanānuyogā paṭivirato hoti. Evampi na khittacakkhu hotīti – okkhittacakkhu.
Or just as some venerable ascetics and brahmins, having eaten food given in faith... do not go to see military arrays. He is one who abstains from such devotion to improper shows. In this way, too, one is not of scattered eyes. This is the meaning of 'one whose eyes are cast down' (okkhittacakkhu).
Hoặc như một số sa-môn, bà-la-môn đáng kính, sau khi dùng các vật thực do tín thí cúng dường... vân vân... hoặc xem các binh chủng. Vị ấy là người từ bỏ việc chuyên tâm xem các cảnh tượng như vậy. Như vậy cũng là người không có mắt phóng dật – đó là (ý nghĩa của) mắt nhìn xuống.
Na ca pādaloloti. Kathaṃ pādalolo hoti? Idhekacco bhikkhu pādalolo pādaloliyena samannāgato hoti, ārāmena ārāmaṃ…pe… dīghacārikaṃ anavaṭṭhitacārikaṃ anuyutto hoti rūpadassanāya. Evampi pādalolo hoti.
And not fickle-footed. How is one fickle-footed? Here, a certain bhikkhu is fickle-footed, endowed with fickleness of foot; for the sake of seeing forms, he is devoted to long and unsettled wandering from park to park... In this way, too, one is fickle-footed.
Và không có chân đi láo liên. Thế nào là người có chân đi láo liên? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó có chân đi láo liên, có tánh chân đi láo liên, đi từ khu vườn này đến khu vườn khác... vân vân... chuyên tâm vào việc đi lang thang xa, đi không ổn định để xem sắc. Như vậy là người có chân đi láo liên.
Atha vā bhikkhu antopi saṅghārāme pādalolo pādaloliyena samannāgato hoti, na atthahetu na kāraṇahetu uddhato avūpasantacitto pariveṇato pariveṇaṃ gacchati. Vihārato…pe… iti bhavābhavakathaṃ katheti. Evampi pādalolo hoti.
Or again, a bhikkhu, even within the monastery grounds, is fickle-footed, endowed with fickleness of foot; not for any purpose, not for any reason, being agitated and with an unpacified mind, he goes from cell-block to cell-block, from dwelling to dwelling... and speaks on such topics as existence and non-existence. In this way, too, one is fickle-footed.
Lại nữa, vị tỳ khưu ngay cả ở trong tu viện cũng có chân đi láo liên, có tánh chân đi láo liên, không vì lợi ích, không vì lý do, dao động, với tâm không an tịnh, đi từ khu vực này đến khu vực khác. Từ tịnh xá... vân vân... nói những chuyện về thường kiến và đoạn kiến. Như vậy là người có chân đi láo liên.
Na ca pādaloloti. Pādaloliyaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, pādaloliyā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyya, paṭisallānārāmo assa paṭisallānarato ajjhattaṃ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgāraṃ jhāyī jhānarato ekattamanuyutto sadatthagarukoti – okkhittacakkhu na ca pādalolo.
And not fickle-footed. He should abandon, dispel, eliminate, and bring to an end fickleness of foot; he should be aloof, detached, abstaining, refraining, withdrawn, separate, released, and disjoined from fickleness of foot, and he should dwell with a mind free from boundaries. He should delight in seclusion, be devoted to seclusion, be intent on inner serenity of mind, not rejecting jhāna, be endowed with insight, cultivate empty places, be a meditator, delighting in jhāna, devoted to solitude, and valuing his own welfare—[he is] one whose eyes are cast down, not fickle-footed.
Và không có chân đi láo liên. (Vị ấy) nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu tánh chân đi láo liên; nên xa lánh, nên từ bỏ, nên tránh xa, nên thoát ra, nên dứt bỏ, nên giải thoát, nên không còn liên hệ khỏi tánh chân đi láo liên; nên sống với tâm không còn giới hạn; nên là người thích thú nơi độc cư, nên là người hoan hỷ nơi độc cư, nên chuyên tâm vào sự an tịnh của nội tâm, không xao lãng thiền định, có đầy đủ tuệ quán, làm cho các trú xứ thanh vắng được phát triển, là người thiền định, hoan hỷ trong thiền định, chuyên tâm vào sự độc cư, xem trọng lợi ích của mình – đó là (ý nghĩa của) mắt nhìn xuống và không có chân đi láo liên.
Jhānānuyutto bahujāgarassāti. Jhānānuyuttoti dvīhi kāraṇehi jhānānuyutto – anuppannassa vā paṭhamassa jhānassa uppādāya yutto payutto āyutto samāyutto, anuppannassa vā dutiyassa jhānassa… tatiyassa jhānassa… catutthassa jhānassa uppādāya yutto payutto āyutto samāyuttoti. Evampi jhānānuyutto. Atha vā uppannaṃ vā paṭhamaṃ jhānaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti †, uppannaṃ vā dutiyaṃ jhānaṃ … tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ āsevati bhāveti bahulīkarotīti. Evampi jhānānuyutto.
Devoted to jhāna, ever wakeful: "Devoted to jhāna" means devoted to jhāna in two ways: he is engaged, applied, intent, and committed to the arising of the first jhāna that has not yet arisen, or to the arising of the second jhāna... the third jhāna... the fourth jhāna that has not yet arisen. In this way too, he is devoted to jhāna. Or alternatively, he cultivates, develops, and frequently practices the first jhāna that has arisen, or the second jhāna... the third jhāna... the fourth jhāna that has arisen. In this way too, he is devoted to jhāna.
Về câu 'chuyên tâm thiền định, thường tỉnh thức'. 'Chuyên tâm thiền định' là chuyên tâm thiền định do hai lý do: hoặc là chuyên cần, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức để làm phát sinh thiền thứ nhất chưa phát sinh; hoặc là chuyên cần, nỗ lực, tinh tấn, gắng sức để làm phát sinh thiền thứ hai... thiền thứ ba... thiền thứ tư chưa phát sinh. Như vậy là chuyên tâm thiền định. Lại nữa, hoặc là vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn thiền thứ nhất đã phát sinh; hoặc là vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn thiền thứ hai... thiền thứ ba... thiền thứ tư đã phát sinh. Như vậy cũng là chuyên tâm thiền định.
Bahujāgarassāti idha bhikkhu divasaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti, rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodheti, rattiyā majjhimaṃ yāmaṃ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṃ kappeti pāde pādaṃ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṃ manasi katvā, rattiyā pacchimaṃ yāmaṃ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṃ parisodhetīti – jhānānuyutto bahujāgarassa.
"Ever wakeful" means that here a bhikkhu purifies his mind of obstructive states by walking and sitting during the day. In the first watch of the night, he purifies his mind of obstructive states by walking and sitting. In the middle watch of the night, he adopts the lion's posture, lying down on his right side, placing one foot upon the other, mindful and clearly aware, keeping the thought of rising in mind. In the last watch of the night, having arisen, he purifies his mind of obstructive states by walking and sitting—thus he is devoted to jhāna and ever wakeful.
Về câu 'thường tỉnh thức'. Ở đây, vị tỳ khưu suốt ban ngày gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi; trong canh đầu của đêm, vị ấy gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi; trong canh giữa của đêm, vị ấy nằm xuống trong tư thế con sư tử về phía hông phải, đặt chân này lên chân kia một chút, chánh niệm và tỉnh giác, tác ý đến tưởng về sự thức dậy; trong canh cuối của đêm, sau khi thức dậy, vị ấy gột sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại bằng cách đi kinh hành và ngồi – đó là (ý nghĩa của) 'chuyên tâm thiền định, thường tỉnh thức'.
Upekkhamārabbha samāhitattoti. Upekkhāti yā catutthe jhāne upekkhā upekkhanā ajjhupekkhanā cittasamatā cittappassaddhatā majjhattatā cittassa. Samāhitattoti yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti avisāhāro avikkhepo avisāhaṭamānasatā samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhi. Upekkhamārabbha samāhitattoti. Catutthe jhāne upekkhaṃ ārabbha ekaggacitto avikkhittacitto avisāhaṭamānasoti – upekkhamārabbha samāhitatto.
Regarding the phrase, 'Having established equanimity, one is composed': 'Equanimity' refers to the equanimity in the fourth jhāna: the state of being equanimous, close observation with equanimity, mental balance, tranquility of mind, and impartiality of mind. 'Composed' refers to the mind’s steadiness, stability, fixity, immovability, non-distraction, the state of having an unperturbed mind, calm, the faculty of concentration, the power of concentration, and right concentration. 'Having established equanimity, one is composed' means that in the fourth jhāna, based on equanimity, one’s mind is one-pointed, undistracted, and unperturbed—thus, one is composed, having established equanimity.
Upekkhamārabbha samāhitattoti (có tâm định tĩnh nhờ nương vào trạng thái xả). Upekkhā (trạng thái xả) là: Trạng thái xả nào ở trong tầng thiền thứ tư, sự thờ ơ, sự thờ ơ một cách trọn vẹn, sự quân bình của tâm, sự lắng dịu của tâm, sự trung lập của tâm. Samāhitatto (trạng thái định tĩnh) là: Sự an trú nào của tâm, sự an trú vững chắc, sự an trú kiên cố, sự không lay động, sự không phân tán, trạng thái tâm không bị lôi kéo, sự tĩnh lặng, định quyền, định lực, chánh định. Upekkhamārabbha samāhitattoti (có tâm định tĩnh nhờ nương vào trạng thái xả) là: Lấy trạng thái xả trong tầng thiền thứ tư làm đối tượng, có tâm nhất điểm, có tâm không phân tán, có tâm không bị lôi kéo – (đó là ý nghĩa của) upekkhamārabbha samāhitatto.
Takkāsayaṃ kukkuccañcupacchindeti. Takkāti nava vitakkā – kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṃsāvitakko, ñātivitakko, janapadavitakko, amaravitakko, parānudayatāpaṭisaññutto vitakko, lābhasakkārasilokapaṭisaññutto vitakko, anavaññattipaṭisaññutto vitakko – ime vuccanti nava vitakkā. Kāmavitakkānaṃ kāmasaññāsayo, byāpādavitakkānaṃ byāpādasaññāsayo, vihiṃsāvitakkānaṃ vihiṃsāsaññāsayo. Atha vā takkānaṃ vitakkānaṃ saṅkappānaṃ avijjāsayo, ayoniso manasikāro āsayo, asmimāno āsayo, anottappaṃ āsayo, uddhaccaṃ āsayo.
Regarding the phrase, 'One should cut off remorse that has reasoning as its basis': 'Reasoning' refers to nine kinds of thoughts: sensual thought, thought of ill-will, thought of harming, thought about relatives, thought about countries, thought of immortality, thought associated with compassion for others, thought associated with gain, honor, and renown, and thought associated with not being despised. These are called the nine thoughts. The basis for sensual thoughts is sensual perception; the basis for thoughts of ill-will is the perception of ill-will; the basis for thoughts of harming is the perception of harm. Alternatively, for reasonings, thoughts, and intentions, ignorance is the basis, unwise attention is the basis, the conceit ‘I am’ is the basis, lack of moral dread is the basis, and restlessness is the basis.
Takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde (nên đoạn trừ nơi nương tựa của tầm và hối quá). Takkā (tầm) là: Có chín loại tầm – dục tầm, sân tầm, hại tầm, tầm về quyến thuộc, tầm về xứ sở, tầm về sự bất tử, tầm liên quan đến lòng thương xót người khác, tầm liên quan đến lợi lộc, cung kính, danh tiếng, tầm liên quan đến việc không bị khinh thường – những điều này được gọi là chín loại tầm. Dục tưởng là nơi nương tựa của các dục tầm, sân tưởng là nơi nương tựa của các sân tầm, hại tưởng là nơi nương tựa của các hại tầm. Hoặc là, vô minh là nơi nương tựa của các sự suy nghĩ, các tầm, các tư duy; tác ý không như lý là nơi nương tựa; ngã mạn là nơi nương tựa; vô quý là nơi nương tựa; trạo cử là nơi nương tựa.
Kukkuccanti hatthakukkuccampi kukkuccaṃ pādakukkuccampi kukkuccaṃ hatthapādakukkuccampi kukkuccaṃ, akappiye kappiyasaññitā kappiye akappiyasaññitā, avajje vajjasaññitā, vajje avajjasaññitā. Yaṃ evarūpaṃ kukkuccaṃ kukkuccāyanā kukkuccāyitattaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – idaṃ vuccati kukkuccaṃ.
Regarding 'remorse': Remorse can be remorse about the hands, remorse about the feet, and remorse about the hands and feet. It is perceiving the unallowable as allowable, the allowable as unallowable, the blameless as blameworthy, and the blameworthy as blameless. Whatever remorse of such a kind, the act of feeling remorse, the state of having felt remorse, mental regret, and vexation of mind—this is called remorse.
Kukkuccaṃ (hối quá) là: Sự hối hận về tay cũng là hối quá, sự hối hận về chân cũng là hối quá, sự hối hận về tay chân cũng là hối quá; tưởng điều không thích hợp là thích hợp, tưởng điều thích hợp là không thích hợp; tưởng điều không có lỗi là có lỗi, tưởng điều có lỗi là không có lỗi. Sự hối hận nào có hình thức như vậy, sự ray rứt, trạng thái ray rứt, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm – điều này được gọi là hối quá.
Api ca dvīhi kāraṇehi uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho – katattā ca akatattā ca. Kathaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho? ‘‘Kataṃ me kāyaduccaritaṃ, akataṃ me kāyasucarita’’nti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. ‘‘Kataṃ me vacīduccaritaṃ… kataṃ me manoduccaritaṃ… kato me pāṇātipāto, akatā me pāṇātipātā veramaṇī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. ‘‘Kataṃ me adinnādānaṃ… kato me kāmesumicchācāro… kato me musāvādo… katā me pisuṇavācā… katā me pharusavācā… kato me samphappalāpo… katā me abhijjhā… kato me byāpādo… katā me micchādiṭṭhi, akatā me sammādiṭṭhī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Evaṃ katattā ca akatattā ca uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho.
Furthermore, remorse, mental regret, and vexation of mind arise for two reasons: because of what has been done and because of what has not been done. How do remorse, mental regret, and vexation of mind arise because of what has been done and because of what has not been done? Remorse, mental regret, and vexation of mind arise thus: “Bodily misconduct has been done by me; bodily good conduct has not been done by me.” Remorse, mental regret, and vexation of mind arise thus: “Verbal misconduct has been done by me… mental misconduct has been done by me… the destruction of life has been done by me; abstinence from the destruction of life has not been done by me.” Remorse, mental regret, and vexation of mind arise thus: “The taking of what is not given has been done by me… sexual misconduct has been done by me… false speech has been done by me… slanderous speech has been done by me… harsh speech has been done by me… frivolous chatter has been done by me… covetousness has been done by me… ill will has been done by me… wrong view has been held by me; right view has not been held by me.” In this way, remorse, mental regret, and vexation of mind arise because of what has been done and because of what has not been done.
Lại nữa, do hai nguyên nhân mà sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi – do đã làm và do đã không làm. Do đã làm và do đã không làm mà sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi như thế nào? (Nghĩ rằng:) ‘Thân ác hạnh đã được ta làm, thân thiện hạnh đã không được ta làm,’ sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm… ý ác hạnh đã được ta làm… sự sát sanh đã được ta làm, sự từ bỏ sát sanh đã không được ta làm,’ sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi. (Nghĩ rằng:) ‘Sự trộm cắp đã được ta làm… sự tà dâm trong các dục đã được ta làm… sự nói dối đã được ta làm… lời nói đâm thọc đã được ta nói… lời nói thô ác đã được ta nói… lời nói vô ích đã được ta nói… tham lam đã được ta làm… sân hận đã được ta làm… tà kiến đã được ta làm, chánh kiến đã không được ta làm,’ sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi. Như vậy, do đã làm và do đã không làm mà sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi.
Atha vā ‘‘sīlesumhi na paripūrakārī’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho; ‘‘indriyesumhi aguttadvāro’’ti… ‘‘bhojane amattaññūmhī’’ti… ‘‘jāgariyaṃ ananuyuttomhī’’ti… ‘‘na satisampajaññena samannāgatomhī’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro satipaṭṭhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro sammappadhānā’’ti… ‘‘abhāvitā me cattāro iddhipādā’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañcindriyānī’’ti… ‘‘abhāvitāni me pañca balānī’’ti… ‘‘abhāvitā me satta bojjhaṅgā’’ti… ‘‘abhāvito me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’’ti… ‘‘dukkhaṃ me apariññāta’’nti… ‘‘dukkhasamudayo me appahīno’’ti… ‘‘maggo me abhāvito’’ti… ‘‘nirodho me asacchikato’’ti uppajjati kukkuccaṃ cetaso vippaṭisāro manovilekho. Takkāsayaṃ kukkuccañcupacchindeti. Takkañca takkāsayañca kukkuccañca upacchindeyya chindeyya ucchindeyya samucchindeyya pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde.
Or else, remorse, mental regret, and vexation of mind arise thus: 'I have not been a fulfiller of the moral precepts.' ... 'I have unguarded doors in the sense-faculties.' ... 'I do not know the proper measure in eating.' ... 'I am not devoted to wakefulness.' ... 'I am not endowed with mindfulness and clear comprehension.' ... 'The four foundations of mindfulness have not been developed by me.' ... 'The four right strivings have not been developed by me.' ... 'The four bases of spiritual power have not been developed by me.' ... 'The five faculties have not been developed by me.' ... 'The five powers have not been developed by me.' ... 'The seven factors of enlightenment have not been developed by me.' ... 'The noble eightfold path has not been developed by me.' ... 'Suffering has not been fully understood by me.' ... 'The origin of suffering has not been abandoned by me.' ... 'The path has not been developed by me.' ... 'Cessation has not been realized by me.' Thus arise remorse, mental regret, and vexation of mind. Regarding the phrase, 'One should cut off remorse that has reasoning as its basis': One should cut off, sever, utterly sever, thoroughly sever, abandon, dispel, bring to an end, and cause to go to non-existence reasoning, the basis of reasoning, and remorse. This is the meaning of 'one should cut off remorse that has reasoning as its basis.'
Hoặc là, (nghĩ rằng:) ‘Ta không phải là người thực hành viên mãn các giới,’ sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi; (nghĩ rằng:) ‘Ta là người không phòng hộ các căn’… ‘Ta là người không biết tiết độ trong ăn uống’… ‘Ta là người không chuyên tâm vào sự tỉnh thức’… ‘Ta không phải là người thành tựu chánh niệm tỉnh giác’… ‘Bốn niệm xứ đã không được ta tu tập’… ‘Bốn chánh cần đã không được ta tu tập’… ‘Bốn như ý túc đã không được ta tu tập’… ‘Năm quyền đã không được ta tu tập’… ‘Năm lực đã không được ta tu tập’… ‘Bảy giác chi đã không được ta tu tập’… ‘Bát Thánh Đạo đã không được ta tu tập’… ‘Khổ (đế) đã không được ta liễu tri’… ‘Tập (đế) đã không được ta đoạn tận’… ‘Đạo (đế) đã không được ta tu tập’… ‘Diệt (đế) đã không được ta chứng ngộ,’ sự hối quá, sự ăn năn của tâm, sự day dứt của tâm sanh khởi. Takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde (nên đoạn trừ nơi nương tựa của tầm và hối quá) là: Nên cắt đứt, nên chặt đứt, nên tận diệt, nên đoạn tuyệt, nên từ bỏ, nên xua tan, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu cả tầm, nơi nương tựa của tầm, và hối quá – (đó là ý nghĩa của) takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Okkhittacakkhu na ca pādalolo, jhānānuyutto bahujāgarassa;
Upekkhamārabbha samāhitatto, takkāsayaṃ kukkuccañcupacchinde’’ti.
“With eyes downcast and not restless with the feet, devoted to meditation and greatly wakeful; having established equanimity, with a composed mind, one should cut off remorse that has reasoning as its basis.”
“Với mắt nhìn xuống, không có chân tay lăng xăng, chuyên tâm vào thiền định, có nhiều sự tỉnh thức; có tâm định tĩnh nhờ nương vào trạng thái xả, nên đoạn trừ nơi nương tựa của tầm và hối quá.”
208.
208.
208.
Cudito vacībhi satimābhinande, sabrahmacārīsu khilaṃ pabhinde;
Vācaṃ pamuñce kusalaṃ nātivelaṃ, janavādadhammāya na cetayeyya.
“When reproved with words, being mindful, one should greatly rejoice; one should break down stubbornness towards one's fellow practitioners in the holy life. One should utter skillful speech, not excessively; one should not be intent on the ways of worldly talk.”
Khi bị khiển trách bởi lời nói, người có chánh niệm nên hoan hỷ, nên phá bỏ sự cứng cỏi đối với các bạn đồng phạm hạnh; nên nói lời thiện lành, không quá thời, không nên khởi tâm với pháp đưa đến lời nói của thế gian.
Cudito vacībhi satimābhinandeti. Cuditoti upajjhāyā vā ācariyā vā samānupajjhāyakā vā samānācariyakā vā mittā vā sandiṭṭhā vā sambhattā vā sahāyā vā codenti – ‘‘idaṃ te, āvuso, ayuttaṃ, idaṃ te appattaṃ, idaṃ te asāruppaṃ, idaṃ te asīlaṭṭha’’nti. Satiṃ upaṭṭhapetvā taṃ codanaṃ nandeyya abhinandeyya modeyya anumodeyya iccheyya sādiyeyya patthayeyya pihayeyya abhijappeyya. Yathā itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanajātiko sīsaṃnhāto uppalamālaṃ vā vassikamālaṃ vā adhimuttakamālaṃ vā labhitvā ubhohi hatthehi paṭiggahetvā uttamaṅge sirasmiṃ patiṭṭhāpetvā nandeyya abhinandeyya modeyya anumodeyya iccheyya sādiyeyya patthayeyya pihayeyya abhijappeyya; evameva satiṃ upaṭṭhapetvā taṃ codanaṃ nandeyya abhinandeyya modeyya anumodeyya iccheyya sādiyeyya patthayeyya pihayeyya abhijappeyya.
Regarding the phrase, 'When reproved with words, being mindful, one should greatly rejoice': 'Reproved' means that preceptors, teachers, fellow disciples under the same preceptor, fellow disciples under the same teacher, friends, acquaintances, intimates, or companions reprove one, saying: 'Friend, this is unsuitable for you, this is inappropriate for you, this is unseemly for you, this is not in keeping with virtue.' Having established mindfulness, one should delight in that reproof, welcome it, rejoice in it, greatly rejoice in it, desire it, accept it, aspire to it, yearn for it, and greatly aspire to it. Just as a woman or a man, young and fond of adornment, having washed their head and received a lotus garland, a jasmine garland, or an adhimuttaka garland, would take it with both hands and place it on their head, the highest limb, and would delight in it, welcome it, rejoice in it, greatly rejoice in it, desire it, accept it, aspire to it, yearn for it, and greatly aspire to it; even so, having established mindfulness, one should delight in that reproof, welcome it, rejoice in it, greatly rejoice in it, desire it, accept it, aspire to it, yearn for it, and greatly aspire to it.
Cudito vacībhi satimābhinande (khi bị khiển trách bởi lời nói, người có chánh niệm nên hoan hỷ). Cudito (bị khiển trách) là: Các vị thầy tế độ, hoặc các vị thầy giáo thọ, hoặc các vị đồng thầy tế độ, hoặc các vị đồng thầy giáo thọ, hoặc bạn bè, hoặc người quen biết, hoặc người thân thiết, hoặc bằng hữu khiển trách rằng: ‘Này hiền giả, điều này của bạn là không đúng, điều này của bạn là không đáng, điều này của bạn là không thích hợp, điều này của bạn là không hợp với giới hạnh.’ An trú chánh niệm, nên vui mừng, nên hoan hỷ, nên hân hoan, nên tán thưởng, nên mong muốn, nên chấp nhận, nên ước ao, nên khao khát, nên nhiệt thành mong mỏi lời khiển trách ấy. Giống như người nữ hay người nam, trẻ trung, thanh xuân, có tính trang điểm, đã gội đầu sạch sẽ, khi nhận được vòng hoa sen, hoặc vòng hoa nhài, hoặc vòng hoa adhimuttaka, nhận lấy bằng cả hai tay, đặt lên trên đầu là phần cao quý nhất, rồi vui mừng, hoan hỷ, hân hoan, tán thưởng, mong muốn, chấp nhận, ước ao, khao khát, nhiệt thành mong mỏi; cũng giống như vậy, an trú chánh niệm, nên vui mừng, nên hoan hỷ, nên hân hoan, nên tán thưởng, nên mong muốn, nên chấp nhận, nên ước ao, nên khao khát, nên nhiệt thành mong mỏi lời khiển trách ấy.
‘‘Nidhīnaṃva † pavattāraṃ, yaṃ passe vajjadassinaṃ;
Niggayhavādiṃ medhāviṃ, tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje.
Should one see a seer of faults, a wise one who speaks reprovingly, one should associate with such a learned person, who is like a revealer of treasures.
Như người chỉ kho tàng, nên thấy người chỉ lỗi; bậc trí tuệ hay khiển trách, nên thân cận bậc hiền trí như vậy.
‘‘Tādisaṃ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo;
Ovadeyyānusāseyya, asabbhā ca nivāraye;
Satañhi so piyo hoti, asataṃ hoti appiyo’’ti.
For one who associates with such a person, it is better, not worse; he would advise and instruct, and restrain one from what is unwholesome. Indeed, he is dear to the good, but not dear to the bad.
Đối với người thân cận bậc như vậy, điều tốt hơn xảy ra, không phải xấu hơn; vị ấy nên khuyên dạy, nên chỉ bảo, và nên ngăn cản điều không tốt lành. Vị ấy quả là người thân yêu của bậc thiện nhân, là người không thân yêu của kẻ bất lương’.
Cudito vacībhi satimābhinande, sabrahmacārīsu khilaṃ pabhindeti. Sabrahmacārīti ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatā. Sabrahmacārīsu khilaṃ pabhindeti. Sabrahmacārīsu āhatacittataṃ khilajātataṃ pabhindeyya, pañcapi cetokhile bhindeyya, tayopi cetokhile bhindeyya, rāgakhilaṃ dosakhilaṃ mohakhilaṃ bhindeyya pabhindeyya sambhindeyyāti – sabrahmacārīsu khilaṃ pabhinde.
Regarding the line: 'Being reproved with words, one should welcome it with mindfulness; one should break down hardness of heart among fellow spiritual practitioners.' 'Fellow spiritual practitioners' means having the same action, the same recitation, and the state of having the same training. 'One should break down hardness of heart among fellow spiritual practitioners' means one should break down, among fellow spiritual practitioners, the state of having an offended mind and the state of being hardened. One should break down the five kinds of mental hardness; one should break down the three kinds of mental hardness: the hardness of lust, the hardness of hatred, and the hardness of delusion. One should break, thoroughly break, and completely break them. This is the meaning of 'one should break down hardness of heart among fellow spiritual practitioners.'
Bị khiển trách bởi lời nói, người có chánh niệm nên hoan hỷ, nên phá tan sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh. Đồng phạm hạnh là cùng hành động, cùng tụng đọc, cùng học giới. Nên phá tan sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh. Nên phá tan tâm bị tổn thương, sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh, nên phá vỡ năm tâm hoang vu, nên phá vỡ ba tâm hoang vu, nên phá vỡ, nên đập tan, nên hủy diệt sự cứng cỏi của tham, sự cứng cỏi của sân, sự cứng cỏi của si – (đó là) nên phá tan sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh.
Vācaṃ pamuñce kusalaṃ nātivelanti. Ñāṇasamuṭṭhitaṃ vācaṃ muñceyya, atthūpasaṃhitaṃ dhammūpasaṃhitaṃ kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ vācaṃ muñceyya pamuñceyyāti – vācaṃ pamuñce kusalaṃ. Nātivelanti. Velāti dve velā – kālavelā ca sīlavelā ca. Katamā kālavelā? Kālātikkantaṃ vācaṃ na bhāseyya, velātikkantaṃ vācaṃ na bhāseyya, kālavelātikkantaṃ vācaṃ na bhāseyya, kālaṃ asampattaṃ vācaṃ na bhāseyya, velaṃ asampattaṃ vācaṃ na bhāseyya, kālavelaṃ asampattaṃ vācaṃ na bhāseyya.
Regarding 'One should utter skillful speech, not beyond the limit.' One should utter speech that is arisen from wisdom, connected with benefit, connected with the Dhamma, timely, with an illustration, and limited. One should utter it, should utter it forth. This is the meaning of 'one should utter skillful speech'. As for 'not beyond the limit': 'limit' (velā) means there are two limits—the limit of time (kālavelā) and the limit of virtue (sīlavelā). What is the limit of time? One should not speak words that have passed the time, one should not speak words that have passed the limit, one should not speak words that have passed the limit of time; one should not speak words when the time has not yet arrived, one should not speak words when the limit has not yet been reached, one should not speak words when the limit of time has not yet been reached.
Nên nói lời thiện xảo, không quá thời. Nên nói lời phát sinh từ trí tuệ, lời liên quan đến lợi ích, liên quan đến Pháp, đúng thời, có dẫn chứng, có giới hạn – (đó là) nên nói lời thiện xảo. Không quá thời. Thời là có hai thời – thời gian và thời giới hạnh. Thế nào là thời gian? Không nên nói lời đã quá thời gian, không nên nói lời đã quá giới hạn, không nên nói lời đã quá thời gian và giới hạn, không nên nói lời chưa đến thời gian, không nên nói lời chưa đến giới hạn, không nên nói lời chưa đến thời gian và giới hạn.
‘‘Yo ve † kāle asampatte, ativelañca bhāsati;
Evaṃ so nihato seti, kokilāyeva † atrajo’’ti.
“Whoever indeed speaks before the time has arrived and speaks beyond the limit, that person comes to ruin, just like the cuckoo's own offspring.”
‘Vị nào nói khi thời chưa đến, và nói quá mức; vị ấy nằm bị hủy hoại, như con của chim tu hú được nuôi dưỡng vậy’.
Ayaṃ kālavelā. Katamā sīlavelā? Ratto vācaṃ na bhāseyya, duṭṭho vācaṃ na bhāseyya, mūḷho vācaṃ na bhāseyya, musāvādaṃ na bhāseyya, pisuṇavācaṃ na bhāseyya, pharusavācaṃ na bhāseyya, samphappalāpaṃ na bhāseyya na katheyya na bhaṇeyya na dīpayeyya na vohareyya. Ayaṃ sīlavelāti – vācaṃ pamuñce kusalaṃ nātivelaṃ.
This is the limit of time. What is the limit of virtue? A lustful person should not speak, a hateful person should not speak, a deluded person should not speak. One should not speak falsehood, one should not speak divisive speech, one should not speak harsh speech, one should not speak frivolous talk; one should not tell it, should not recite it, should not explain it, should not utter it. This is the limit of virtue. Thus, this is the meaning of 'one should utter skillful speech, not beyond the limit'.
Đây là thời gian. Thế nào là thời giới hạnh? Người tham ái không nên nói, người sân hận không nên nói, người si mê không nên nói, không nên nói lời dối trá, không nên nói lời đâm thọc, không nên nói lời thô ác, không nên nói lời vô ích, không nên kể, không nên đọc, không nên trình bày, không nên sử dụng. Đây là thời giới hạnh – (đó là) nên nói lời thiện xảo, không quá thời.
Janavādadhammāya na cetayeyyāti. Janāti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca. Janassa vādāya upavādāya nindāya garahāya akittiyā avaṇṇahārikāya sīlavipattiyā vā ācāravipattiyā vā diṭṭhivipattiyā vā ājīvavipattiyā vā na cetayeyya cetanaṃ na uppādeyya cittaṃ na uppādeyya saṅkappaṃ na uppādeyya manasikāraṃ na uppādeyyāti – janavādadhammāya na cetayeyya.
Regarding 'One should not have an intention for the sake of criticizing people.' 'People' means nobles, brahmins, merchants, workers, householders, renunciants, gods, and humans. For the sake of criticizing people, for blaming, for censuring, for reproaching, for disrepute, for bringing dispraise, or for the corruption of virtue, the corruption of conduct, the corruption of view, or the corruption of livelihood, one should not intend, should not produce volition, should not produce a thought, should not produce a resolve, should not produce attention. Thus, 'one should not have an intention for the sake of criticizing people'.
Không nên có ý định về pháp luận bàn của quần chúng. Quần chúng là dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. Không nên có ý định, không nên khởi lên tác ý, không nên khởi lên tâm, không nên khởi lên tư duy, không nên khởi lên sự tác ý trong tâm về việc tranh luận, chỉ trích, khiển trách, chê bai, làm mất danh tiếng, mang lại tiếng xấu cho quần chúng, hoặc về sự hư hỏng giới hạnh, hư hỏng hạnh kiểm, hư hỏng tri kiến, hay hư hỏng sinh kế – (đó là) không nên có ý định về pháp luận bàn của quần chúng.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Cudito vacībhi satimābhinande, sabrahmacārīsu khilaṃ pabhinde;
Vācaṃ pamuñce kusalaṃ nātivelaṃ, janavādadhammāya na cetayeyyā’’ti.
“When reproved with words, one should mindfully rejoice; one should break down hardness of heart towards fellow spiritual practitioners. One should utter skillful speech, not beyond the limit; one should not have an intention for the sake of criticizing people.”
‘Bị khiển trách bởi lời nói, người có chánh niệm nên hoan hỷ, nên phá tan sự cứng cỏi đối với các vị đồng phạm hạnh; nên nói lời thiện xảo, không quá thời, không nên có ý định về pháp luận bàn của quần chúng’.
209.
209.
209.
Athāparaṃ pañca rajāni loke, yesaṃ satīmā vinayāya sikkhe;
Rūpesu saddesu atho rasesu, gandhesu phassesu sahetha rāgaṃ.
Furthermore, there are five dusts in the world, for the dispelling of which the mindful one should train; in forms, sounds, and also in tastes, in smells and touches, one should overcome passion.
Lại nữa, có năm thứ bụi bẩn ở đời, người có chánh niệm nên học tập để loại trừ chúng; đối với sắc, thanh, hương, vị, và xúc, vị ấy nên chế ngự tham ái.
Athāparaṃ pañca rajāni loketi. Athāti padasandhi padasaṃsaggo padapāripūrī akkharasamavāyo byañjanasiliṭṭhatā padānupubbatāpetaṃ – athāti. Pañca rajānīti rūparajo, saddarajo, gandharajo, rasarajo, phoṭṭhabbarajo.
Regarding 'Furthermore, there are five dusts in the world': 'Atha' is a conjunction of words, a combination of words, a completion of a phrase, a harmony of letters, a smoothness of consonants, a word that follows in sequence. As for 'the five dusts': the dust of form, the dust of sound, the dust of smell, the dust of taste, and the dust of touch.
Lại nữa, có năm thứ bụi bẩn ở đời. Atha là sự nối kết từ, sự liên kết từ, sự bổ sung từ, sự kết hợp chữ cái, sự trôi chảy của phụ âm, đây là sự tuần tự của các từ – đó là atha. Năm thứ bụi bẩn là bụi sắc, bụi thanh, bụi hương, bụi vị, bụi xúc.
‘‘Rāgo rajo na ca pana reṇu vuccati, rāgassetaṃ adhivacanaṃ rajoti;
Etaṃ rajaṃ vippajahitvā † paṇḍitā, viharanti te vigatarajassa sāsane.
Passion is called dust, but it is not called 'reṇu'; 'rajo' is a designation for passion. Having abandoned this dust, the wise ones dwell in the Dispensation of the one free from dust.
‘Tham ái là bụi bẩn, chứ không phải là bụi phấn, bụi bẩn là tên gọi của tham ái; các bậc hiền trí sau khi từ bỏ bụi bẩn này, họ sống trong giáo pháp của vị đã thoát ly bụi bẩn.
‘‘Doso rajo na ca pana reṇu vuccati…pe…;
Viharanti te vigatarajassa sāsane.
Hatred is called dust, but it is not called 'reṇu'… and so on… they dwell in the Dispensation of the one free from dust.
‘Sân hận là bụi bẩn, chứ không phải là bụi phấn... họ sống trong giáo pháp của vị đã thoát ly bụi bẩn.
‘‘Moho rajo na ca pana reṇu vuccati…pe…;
Viharanti te vigatarajassa sāsane’’.
Delusion is called dust, but it is not called 'reṇu'… and so on… they dwell in the Dispensation of the one free from dust.
‘Si mê là bụi bẩn, chứ không phải là bụi phấn... họ sống trong giáo pháp của vị đã thoát ly bụi bẩn’.
Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloketi – athāparaṃ pañca rajāni loke.
As for 'in the world': it means in the world of misery, the human world, the deva world, the world of the aggregates, the world of the elements, and the world of the sense bases. This is the meaning of the phrase 'Furthermore, there are five dusts in the world'.
Ở đời là ở trong cõi khổ, cõi người, cõi trời, trong thế giới uẩn, thế giới giới, thế giới xứ – (đó là) lại nữa, có năm thứ bụi bẩn ở đời.
Yesaṃ satīmā vinayāya sikkheti. Yesanti rūparāgassa saddarāgassa gandharāgassa rasarāgassa phoṭṭhabbarāgassa. Satīmāti yā sati anussati paṭissati sati saraṇatā dhāraṇatā apilāpanatā asammussanatā satindriyaṃ satibalaṃ sammāsati satisambojjhaṅgo ekāyanamaggo – ayaṃ vuccati sati. Imāya satiyā upeto samupeto upagato samupagato upapanno samupapanno samannāgato. So vuccati satimā. Sikkheti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā. Katamā adhisīlasikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Yesaṃ satīmā vinayāya sikkheti. Satimā puggalo yesaṃ rūparāgassa saddarāgassa gandharāgassa rasarāgassa phoṭṭhabbarāgassa vinayāya paṭivinayāya pahānāya vūpasamāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya adhicittampi sikkheyya adhipaññampi sikkheyya, imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya, jānanto sikkheyya…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – yesaṃ satīmā vinayāya sikkhe.
Regarding 'For the subduing of which the mindful one should train.' 'For which' refers to the lust for forms, the lust for sounds, the lust for smells, the lust for tastes, and the lust for tangibles. 'Mindful' means: that which is mindfulness, recollection, remembrance, memory, retention, non-superficiality, non-confusion, the faculty of mindfulness, the power of mindfulness, right mindfulness, the enlightenment factor of mindfulness, the direct path—this is called mindfulness. One endowed with this mindfulness, well-endowed, who has attained it, well-attained it, is possessed of it, well-possessed of it, and furnished with it, is called 'mindful.' 'Should train' refers to the threefold training: the training in higher virtue, the training in higher mind, and the training in higher wisdom. What is the training in higher virtue… and so on… this is the training in higher wisdom. 'For the subduing of which the mindful one should train' means: a mindful person should train in higher virtue, higher mind, and higher wisdom for the subduing, for the utter subduing, for the abandoning, for the appeasement, for the relinquishment, for the stilling of the lust for forms, the lust for sounds, the lust for smells, the lust for tastes, and the lust for tangibles. Reflecting on these three trainings, one should train; knowing, one should train… and so on… realizing what is to be realized, one should train; one should practice, practice well, and having undertaken it, conduct oneself. This is the meaning of 'for the subduing of which the mindful one should train.'
Người có chánh niệm nên học tập để loại trừ chúng. Chúng là tham ái đối với sắc, tham ái đối với thanh, tham ái đối với hương, tham ái đối với vị, tham ái đối với xúc. Người có chánh niệm là: niệm, tùy niệm, đối niệm, sự ghi nhớ, sự gìn giữ, không trôi nổi, không quên lãng, niệm căn, niệm lực, chánh niệm, niệm giác chi, con đường độc nhất – đây được gọi là niệm. Người đã đạt đến, đã thành tựu, đã đến gần, đã hoàn toàn đến gần, đã phát sinh, đã hoàn toàn phát sinh, đã được trang bị với niệm này. Vị ấy được gọi là người có chánh niệm. Nên học tập là ba học giới – tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Thế nào là tăng thượng giới học... đây là tăng thượng tuệ học. Người có chánh niệm nên học tập để loại trừ chúng. Người có chánh niệm nên học tập cả tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ để loại trừ, để chế ngự, để từ bỏ, để làm cho lắng dịu, để xả ly, để làm cho an tịnh tham ái đối với sắc, tham ái đối với thanh, tham ái đối với hương, tham ái đối với vị, tham ái đối với xúc; nên học tập bằng cách hướng tâm đến ba học giới này, nên học tập bằng cách biết... nên học tập bằng cách thực chứng điều cần thực chứng, nên thực hành, nên thực hành tốt, nên thọ trì và sống theo – (đó là) người có chánh niệm nên học tập để loại trừ chúng.
Rūpesu saddesu atho rasesu, gandhesu phassesu sahetha rāganti. Rūpesu saddesu gandhesu rasesu phoṭṭhabbesu rāgaṃ saheyya parisaheyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – rūpesu saddesu atho rasesu gandhesu phassesu sahetha rāgaṃ.
Regarding 'In forms, sounds, and also in tastes, in smells and touches, one should overcome passion.' In forms, sounds, smells, tastes, and tangibles, one should overcome passion, thoroughly overcome it, suppress it, overwhelm it, cause it to be exhausted, and crush it. This is the meaning of 'in forms, sounds, and also in tastes, in smells and touches, one should overcome passion.'
Đối với sắc, thanh, hương, vị, và xúc, vị ấy nên chế ngự tham ái. Nên chế ngự, nên hoàn toàn chế ngự, nên áp đảo, nên bao trùm, nên tiêu diệt, nên nghiền nát tham ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc – (đó là) đối với sắc, thanh, hương, vị, và xúc, vị ấy nên chế ngự tham ái.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Athāparaṃ pañca rajāni loke, yesaṃ satīmā vinayāya sikkhe;
Rūpesu saddesu atho rasesu, gandhesu phassesu sahetha rāga’’nti.
“Furthermore, there are these five defilements in the world, for the subduing of which the mindful one should train; in forms, sounds, and also tastes, in smells and touches, one should overcome lust.”
‘Lại nữa, có năm thứ bụi bặm ở trong đời, vị có chánh niệm nên học tập để loại trừ chúng. Vị ấy nên chế ngự lòng tham dục đối với các sắc, các tiếng, và cả các vị, các hương, các xúc.’
210.
210.
210.
Etesu dhammesu vineyya chandaṃ, bhikkhu satimā suvimuttacitto;
Kāle so sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno, ekodibhūto vihane tamaṃ so. [iti bhagavā]
Having dispelled desire for these things, a mindful monk with a well-liberated mind, rightly examining the Dhamma at the proper time and having become unified, should dispel the darkness. [Thus spoke the Blessed One.]
Vị tỳ khưu có chánh niệm, với tâm khéo giải thoát, sau khi đã nhiếp phục lòng ham muốn trong các pháp ấy, vào đúng thời điểm, trong khi đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn, vị ấy trở nên nhất tâm, nên loại trừ bóng tối ấy. [Thế Tôn đã nói như vậy].
Etesu dhammesu vineyya chandanti. Etesūti rūpesu saddesu gandhesu rasesu phoṭṭhabbesu. Chandoti yo kāmesu kāmacchando kāmarāgo kāmanandī kāmataṇhā kāmasneho kāmapariḷāho kāmamucchā kāmajjhosānaṃ kāmogho kāmayogo kāmupādānaṃ…pe… kāmacchandanīvaraṇaṃ. Etesu dhammesu vineyya chandanti. Etesu dhammesu chandaṃ vineyya paṭivineyya pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – etesu dhammesu vineyya chandaṃ.
Regarding 'One should dispel desire for these things': 'These things' refers to forms, sounds, smells, tastes, and tangibles. 'Desire' refers to whatever sensual desire for sensual pleasures, sensual lust, delight in sensuality, craving for sensuality, affection for sensuality, fever of sensuality, infatuation with sensuality, being consumed by sensuality, the flood of sensuality, the yoke of sensuality, the clinging to sensuality... the hindrance of sensual desire. 'One should dispel desire for these things' means that for these phenomena, one should dispel desire, again dispel it, abandon it, remove it, bring it to an end, and cause it to reach non-existence. This is the meaning of 'one should dispel desire for these things'.
Trong câu ‘Sau khi đã nhiếp phục lòng ham muốn trong các pháp ấy’: ‘Trong các pháp ấy’ là trong các sắc, các tiếng, các hương, các vị, các xúc. ‘Lòng ham muốn’ là cái nào trong các dục là dục tham, dục ái, dục hỷ, dục ái, dục ái luyến, dục nhiệt não, dục mê say, dục tham đắm, bộc lưu của dục, ách phược của dục, chấp thủ của dục ... cho đến ... triền cái tham dục. Trong câu ‘Sau khi đã nhiếp phục lòng ham muốn trong các pháp ấy’: Trong các pháp ấy, nên nhiếp phục, nên nhiếp phục lại, nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn sanh khởi lòng ham muốn – đây là ý nghĩa của câu ‘Sau khi đã nhiếp phục lòng ham muốn trong các pháp ấy’.
Bhikkhu satimā suvimuttacittoti. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā bhikkhu, sekho vā bhikkhu. Satimāti yā sati anussati…pe… sammāsati satisambojjhaṅgo ekāyanamaggo – ayaṃ vuccati sati. Imāya satiyā upeto samupeto…pe… so vuccati satimā.
Regarding 'A mindful monk with a well-liberated mind': 'Monk' means a monk who is either a virtuous worldling or a trainee. 'Mindful' means that mindfulness, recollection... right mindfulness, the enlightenment factor of mindfulness, the direct path—this is called mindfulness. One who is endowed with this mindfulness, fully endowed... such a one is called 'mindful'.
Trong câu ‘Vị tỳ khưu có chánh niệm, với tâm khéo giải thoát’: ‘Vị tỳ khưu’ là vị tỳ khưu phàm phu thiện hoặc vị tỳ khưu hữu học. ‘Có chánh niệm’ là niệm nào, tùy niệm nào ... cho đến ... chánh niệm, niệm giác chi, con đường độc nhất – đây được gọi là niệm. Vị đã thành tựu, đã đầy đủ niệm này ... cho đến ... vị ấy được gọi là có chánh niệm.
Bhikkhu satimā suvimuttacittoti. Paṭhamaṃ jhānaṃ samāpannassa nīvaraṇehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, tatiyaṃ jhānaṃ samāpannassa pītiyā ca cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa sukhadukkhehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ; ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṃ… ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṃ… nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ; sotāpannassa sakkāyadiṭṭhiyā vicikicchāya sīlabbataparāmāsā diṭṭhānusayā vicikicchānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, sakadāgāmissa oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, anāgāmissa anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttaṃ, arahato rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā tadekaṭṭhehi ca kilesehi bahiddhā ca sabbanimittehi cittaṃ muttaṃ vimuttaṃ suvimuttanti – bhikkhu satimā suvimuttacitto.
‘A mindful monk with a well-liberated mind’. For one who has attained the first jhāna, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the hindrances. For one who has attained the second jhāna, the mind is freed, liberated, and well-liberated from thought and examination. For one who has attained the third jhāna, the mind is freed, liberated, and well-liberated from rapture. For one who has attained the fourth jhāna, the mind is freed, liberated, and well-liberated from pleasure and pain. For one who has attained the base of infinite space, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity. For one who has attained the base of infinite consciousness, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the perception of the base of infinite space. For one who has attained the base of nothingness, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the perception of the base of infinite consciousness. For one who has attained the base of neither-perception-nor-non-perception, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the perception of the base of nothingness. For a stream-enterer, the mind is freed, liberated, and well-liberated from identity view, doubt, adherence to rites and rituals, the underlying tendency of views, the underlying tendency of doubt, and from the defilements that coexist with them. For a once-returner, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the coarse underlying tendency of sensual lust, the underlying tendency of aversion, and from the defilements that coexist with them. For a non-returner, the mind is freed, liberated, and well-liberated from the subtle fetter of sensual lust, the fetter of aversion, the subtle underlying tendency of sensual lust, the underlying tendency of aversion, and from the defilements that coexist with them. For an arahant, the mind is freed, liberated, and well-liberated from lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of craving for existence, the underlying tendency of ignorance, from the defilements that coexist with them, and also from all external signs—thus, ‘a mindful monk with a well-liberated mind’.
Trong câu ‘Vị tỳ khưu có chánh niệm, với tâm khéo giải thoát’: Đối với vị đã chứng đắc Sơ thiền, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi các triền cái. Đối với vị đã chứng đắc Nhị thiền, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi tầm và tứ. Đối với vị đã chứng đắc Tam thiền, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi hỷ. Đối với vị đã chứng đắc Tứ thiền, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi lạc và khổ. Đối với vị đã chứng đắc Không Vô Biên Xứ, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi sắc tưởng, đối ngại tưởng, các tưởng sai khác. Đối với vị đã chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, tâm ... khỏi tưởng Không Vô Biên Xứ. Đối với vị đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, tâm ... khỏi tưởng Thức Vô Biên Xứ. Đối với vị đã chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi tưởng Vô Sở Hữu Xứ. Đối với bậc Dự lưu, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tùy miên tà kiến, tùy miên hoài nghi, và các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc Nhất lai, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi tùy miên tham dục và tùy miên sân hận loại thô, và các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc Bất lai, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi kiết sử tham dục và kiết sử sân hận loại vi tế, tùy miên tham dục và tùy miên sân hận loại vi tế, và các phiền não cùng tồn tại với chúng. Đối với bậc A-la-hán, tâm được giải thoát, được đặc biệt giải thoát, được khéo giải thoát khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, tùy miên mạn, tùy miên hữu ái, tùy miên vô minh, và các phiền não cùng tồn tại với chúng, và khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài – đây là ý nghĩa của câu ‘Vị tỳ khưu có chánh niệm, với tâm khéo giải thoát’.
Kālena so sammā dhammaṃ parivīmaṃsamānoti. Kālenāti uddhate citte samathassa † kālo, samāhite citte vipassanāya kālo.
‘Rightly examining the Dhamma at the proper time’. ‘At the proper time’ means: when the mind is agitated, it is the time for tranquility; when the mind is composed, it is the time for insight.
Trong câu ‘Vào đúng thời điểm, vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn’: ‘Vào đúng thời điểm’ có nghĩa là khi tâm bị trạo cử, đó là thời điểm của chỉ; khi tâm được định tĩnh, đó là thời điểm của quán.
‘‘Kāle paggaṇhati cittaṃ, niggaṇhati punāpare †;
Sampahaṃsati kālena, kāle cittaṃ samādahe.
At the proper time, he uplifts the mind; and again, at another time, he restrains it. At the proper time, he gladdens it; at the proper time, he should concentrate the mind.
‘Vào đúng lúc, vị ấy sách tấn tâm; rồi vào lúc khác, vị ấy dằn giữ lại. Vào đúng thời điểm, vị ấy làm cho hoan hỷ; vào đúng lúc, vị ấy định tĩnh tâm.
‘‘Ajjhupekkhati kālena, so yogī kālakovido;
Kimhi kālamhi paggāho, kimhi kāle viniggaho.
That yogi, skilled in times, regards with equanimity at the proper time. At what time is there uplifting? At what time is there restraint?
‘Vào đúng thời điểm, vị ấy xả bỏ; vị hành giả ấy là người thiện xảo về thời điểm. Vào lúc nào là sự sách tấn? Vào lúc nào là sự dằn giữ?
‘‘Kimhi pahaṃsanākālo, samathakālo ca kīdiso;
Upekkhākālaṃ cittassa, kathaṃ dasseti yogino.
And at what time is the time for gladdening? Of what sort is the time for tranquility? How is the time for equanimity of mind indicated for the yogi?
‘Vào lúc nào là thời điểm làm cho hoan hỷ? Và thời điểm của chỉ thì như thế nào? Thời điểm xả bỏ của tâm, làm thế nào để chỉ ra cho vị hành giả?’
‘‘Līne cittamhi paggāho, uddhatasmiṃ viniggaho;
Nirassādagataṃ cittaṃ, sampahaṃseyya tāvade.
When the mind is sluggish, there is uplifting; when it is agitated, there is restraint. The mind that has become devoid of relish, one should gladden at that very moment.
‘Khi tâm bị thụ động, đó là sự sách tấn; khi bị trạo cử, đó là sự dằn giữ. Tâm đã trở nên vô vị, ngay lúc ấy nên làm cho hoan hỷ.
‘‘Sampahaṭṭhaṃ yadā cittaṃ, alīnaṃ bhavatinuddhataṃ;
Samathassa ca so † kālo, ajjhattaṃ ramaye mano.
When the mind is well gladdened, it is neither sluggish nor agitated. That is the time for tranquility; one should cause the mind to delight internally.
‘Khi tâm đã được hoan hỷ, trở nên không thụ động, không trạo cử, đó là thời điểm của chỉ, nên làm cho tâm được an vui ở bên trong.
‘‘Etena mevupāyena, yadā hoti samāhitaṃ;
Samāhitacittamaññāya, ajjhupekkheyya tāvade.
By this very method, when it becomes concentrated, having known 'the mind is concentrated,' one should then regard it with equanimity.
‘Cũng bằng phương tiện ấy, khi tâm được định tĩnh, sau khi biết được tâm đã định tĩnh, ngay lúc ấy nên xả bỏ.
‘‘Evaṃ kālavidū dhīro, kālaññū kālakovido;
Kālena kālaṃ cittassa, nimittamupalakkhaye’’ti.
Thus the wise one, knowing the time for uplifting, knowing the time for restraining, skilled in these times, should from time to time properly discern the sign of the mind.
‘Như vậy, bậc trí tuệ, người biết thời điểm, người hiểu thời điểm, người thiện xảo về thời điểm, nên tùy thời mà ghi nhận đặc điểm của tâm.’
Kālena so sammā dhammaṃ parivīmaṃsamānoti. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno, ‘‘sabbe dhammā anattā’’ti sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti – sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno.
He, at the proper time, rightly examines the Dhamma. Rightly examining the Dhamma thus: 'All formations are impermanent'; rightly examining the Dhamma thus: 'All formations are suffering'; rightly examining the Dhamma thus: 'All dhammas are not-self'... and so on... Rightly examining the Dhamma thus: 'Whatever is a thing subject to arising, all that is a thing subject to cessation'.
Trong câu ‘Vào đúng thời điểm, vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn’: Vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường,’ vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ,’ vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn rằng: ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ ... cho đến ... vị ấy đang thẩm sát các pháp một cách đúng đắn rằng: ‘Phàm cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái ấy đều có bản chất đoạn diệt.’
Ekodibhūto vihane tamaṃ so, iti bhagavāti. Ekodīti ekaggacitto avikkhittacitto avisāhaṭamānaso samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhīti – ekodibhūto. Vihane tamaṃ soti rāgatamaṃ dosatamaṃ mohatamaṃ diṭṭhitamaṃ mānatamaṃ kilesatamaṃ duccaritatamaṃ andhakaraṇaṃ acakkhukaraṇaṃ aññāṇakaraṇaṃ paññānirodhikaṃ vighātapakkhikaṃ anibbānasaṃvattanikaṃ haneyya vihaneyya pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya.
He, having become unified, would dispel that darkness, so said the Blessed One. 'Unified' means: having a one-pointed mind, an unscattered mind, an un-displaced mind, tranquility, the faculty of concentration, the power of concentration, right concentration—this is 'having become unified'. 'He would dispel that darkness' means: he should destroy, should utterly destroy, should abandon, should dispel, should make an end of, should cause to go to non-existence the darkness of lust, the darkness of hatred, the darkness of delusion, the darkness of views, the darkness of conceit, the darkness of defilements, the darkness of misconduct; that which makes for blindness, makes for non-vision, makes for ignorance, is obstructive to wisdom, is on the side of vexation, and does not lead to Nibbāna.
Trong câu ‘Vị ấy trở nên nhất tâm, nên loại trừ bóng tối ấy. Thế Tôn đã nói như vậy’: ‘Nhất tâm’ là nhất tâm, tâm không phân tán, ý không dao động, là chỉ, là định quyền, là định lực, là chánh định – đây là ý nghĩa của ‘trở nên nhất tâm.’ Trong câu ‘Nên loại trừ bóng tối ấy’: Nên đánh bại, nên đặc biệt đánh bại, nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn sanh khởi bóng tối của tham, bóng tối của sân, bóng tối của si, bóng tối của tà kiến, bóng tối của mạn, bóng tối của phiền não, bóng tối của ác hạnh, cái làm cho mù lòa, cái làm cho không có mắt, cái làm cho không có trí tuệ, cái làm cho trí tuệ bị đoạn diệt, cái thuộc về phe của sự tổn hại, cái không đưa đến Nibbāna.
Bhagavāti gāravādhivacanaṃ. Api ca bhaggarāgoti bhagavā, bhaggadosoti bhagavā, bhaggamohoti bhagavā, bhaggamānoti bhagavā, bhaggadiṭṭhīti bhagavā, bhaggakaṇḍakoti bhagavā, bhaggakilesoti bhagavā, bhaji vibhaji pavibhaji dhammaratananti bhagavā, bhavānaṃ antakaroti bhagavā, bhāvitakāyo bhāvitasīlo bhāvitacitto bhāvitapaññoti bhagavā, bhaji vā bhagavā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppānīti bhagavā, bhāgī vā bhagavā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā attharasassa dhammarasassa vimuttirasassa adhisīlassa adhicittassa adhipaññāyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ jhānānaṃ catunnaṃ appamaññānaṃ catunnaṃ arūpasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā aṭṭhannaṃ vimokkhānaṃ aṭṭhannaṃ abhibhāyatanānaṃ navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnanti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ saññābhāvanānaṃ dasannaṃ kasiṇasamāpattīnaṃ ānāpānassatisamādhissa asubhasamāpattiyāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ catunnaṃ sammappadhānānaṃ catunnaṃ iddhipādānaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ pañcannaṃ balānaṃ sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassāti bhagavā, bhāgī vā bhagavā dasannaṃ tathāgatabalānaṃ catunnaṃ vesārajjānaṃ catunnaṃ paṭisambhidānaṃ channaṃ abhiññānaṃ channaṃ buddhadhammānanti bhagavā, bhagavāti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ na pitarā kataṃ na bhātarā kataṃ na bhaginiyā kataṃ na mittāmaccehi kataṃ na ñātisālohitehi kataṃ na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ na devatāhi kataṃ; vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti – ekodibhūto vihane tamaṃ so iti bhagavā.
The Blessed One is a term of reverence. Furthermore, the Blessed One is so called because he has destroyed lust; the Blessed One is so called because he has destroyed aversion; the Blessed One is so called because he has destroyed delusion; the Blessed One is so called because he has destroyed conceit; the Blessed One is so called because he has destroyed wrong views; the Blessed One is so called because he has destroyed the thorns; the Blessed One is so called because he has destroyed defilements; the Blessed One is so called because he apportioned, divided, and distributed the jewel of the Dhamma; the Blessed One is so called because he makes an end to becomings; the Blessed One is so called because he has developed body, developed virtue, developed mind, and developed wisdom; the Blessed One is so called because he frequents remote lodgings in forests and woodlands, secluded and quiet, free from noise, solitary, fit for human solitude, suitable for retreat; the Blessed One is so called because he partakes of robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites; the Blessed One is so called because he partakes of the taste of meaning, the taste of the Dhamma, the taste of liberation, higher virtue, higher mind, and higher wisdom; the Blessed One is so called because he partakes of the four jhānas, the four immeasurables, and the four formless attainments; the Blessed One is so called because he partakes of the eight liberations, the eight spheres of mastery, and the nine successive abidings; the Blessed One is so called because he partakes of the ten kasiṇa concentrations, mindfulness of breathing concentration, and the foulness concentration; the Blessed One is so called because he partakes of the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path; the Blessed One is so called because he partakes of the ten powers of a Tathāgata, the four intrepidities, the four analytical knowledges, the six kinds of higher knowledge, and the six Buddha-qualities; this name ‘Blessed One’ was not given by his mother, nor by his father, nor by his brother, nor by his sister, nor by his friends and companions, nor by his relatives, nor by ascetics and brahmins, nor by deities. This is a designation for Buddhas, Blessed Ones, directly realized at the culmination of liberation at the root of the Bodhi Tree, along with the attainment of omniscience—the name ‘Blessed One.’ Having become unified, he would dispel that darkness; thus, he is the Blessed One.
Bhagavā là danh xưng tôn kính. Hơn nữa: vì đã bẻ gãy tham ái nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy sân hận nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy si mê nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy ngã mạn nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy tà kiến nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy gai góc nên là Bhagavā; vì đã bẻ gãy phiền não nên là Bhagavā; vì đã phân tích, phân chia, phân loại Pháp bảo nên là Bhagavā; vì đã chấm dứt các cõi hữu nên là Bhagavā; vì đã phát triển thân, phát triển giới, phát triển tâm, phát triển tuệ nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn đã thường lui tới các trú xứ trong rừng sâu, xa xôi, ít tiếng động, không có tiếng ồn ào, vắng bóng người, thích hợp cho việc riêng tư của con người, thích hợp cho việc độc cư, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về y phục, vật thực khất thực, trú xứ, và dược phẩm trị bệnh, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về vị của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát, về tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về bốn thiền, bốn vô lượng tâm, và bốn thiền vô sắc, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về tám giải thoát, tám thắng xứ, và chín thứ đệ trú thiền, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về mười sự tu tập về tưởng, mười sự chứng đạt biến xứ, định niệm hơi thở, và sự chứng đạt về tưởng bất tịnh, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, và Thánh đạo tám ngành, nên là Bhagavā. Hoặc, Đức Thế Tôn là người có phần về mười Như Lai lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, sáu thắng trí, và sáu Phật pháp, nên là Bhagavā. Danh xưng ‘Bhagavā’ này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em trai đặt, không phải do chị em gái đặt, không phải do bạn bè và quan chức đặt, không phải do bà con huyết thống đặt, không phải do Sa-môn và Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt; đây là danh xưng được chế định, được chứng ngộ, có ở cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự chứng đắc Toàn Giác Trí tại cội Bồ-đề của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, đó là ‘Bhagavā’. – Vị ấy, sau khi đã trở nên nhất tâm, loại bỏ được bóng tối ấy, vì thế là Bhagavā.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Etesu dhammesu vineyya chandaṃ, bhikkhu satimā suvimuttacitto;
Kālena so sammā dhammaṃ parivīmaṃsamāno, ekodibhūto vihane tamaṃ so’’. [iti bhagavāti]
“Having disciplined desire for these things, a mindful bhikkhu with a well-liberated mind, rightly investigating the Dhamma in due time, becoming unified, would dispel that darkness.”
‘Vị tỳ khưu có chánh niệm, tâm được khéo giải thoát, sau khi nhiếp phục lòng tham muốn trong các pháp này, vị ấy, vào thời điểm thích hợp, trong khi đang thẩm sát đúng đắn về Pháp, trở nên nhất tâm, loại bỏ được bóng tối ấy.’
The Exposition of the Sāriputta Sutta, the sixteenth.
Phần giải thích kinh Xá-lợi-phất, thứ mười sáu.
Aṭṭhakavaggamhi soḷasa suttaniddesā samattā.
In the Aṭṭhakavagga, the sixteen sutta expositions are complete.
Trong Phẩm Tám, mười sáu phần giải thích kinh đã được hoàn tất.
The Pāḷi of the Mahāniddesa is concluded.
Kinh Pāli Đại Diễn Giải đã kết thúc.