Bản dịch
MND 15 — Diễn Giải Kinh Uế Hạnh Của Bản Thân
15. Attadaṇḍasuttaniddesa
Giờ phần Diễn Giải Kinh ‘Uế Hạnh của Bản Thân’ được nói đến:
Sự sợ hãi sanh lên do uế hạnh của bản thân.
Các ngươi hãy nhìn xem loài người đang gây gổ.
Ta sẽ thuật lại trạng thái chấn động
đúng theo sự việc đã làm cho Ta bị chấn động .
Sự sợ hãi sanh lên do uế hạnh của bản thân - Uế hạnh : Có ba uế hạnh: uế hạnh về thân, uế hạnh về khẩu, uế hạnh về ý. Ba loại hành động xấu xa của thân là uế hạnh về thân, bốn loại hành động xấu xa của khẩu là uế hạnh về khẩu, ba loại hành động xấu xa của ý là uế hạnh về ý. Sự sợ hãi : Có hai sự sợ hãi: sợ hãi liên quan đời này và sợ hãi liên quan đời sau.
Sợ hãi liên quan đời này là việc nào? Ở đây, một người nào đó làm hành động xấu xa bằng thân, làm hành động xấu xa bằng khẩu, làm hành động xấu xa bằng ý, giết hại mạng sống, lấy vật chưa được cho, đột nhập gia cư, mang đi vật cướp được, làm kẻ đạo tặc, đứng cướp đường, đi đến với vợ người khác, nói lời dối trá. Dân chúng sau khi bắt lấy kẻ ấy rồi trình lên đức vua: ‘Tâu bệ hạ, gã trộm cướp này là kẻ phạm tội. Đối với kẻ này, xin ngài hãy giáng hình phạt theo ý muốn. Đức vua mắng nhiếc kẻ ấy. Kẻ ấy, do duyên mắng nhiếc, khởi lên sự sợ hãi, cảm thọ khổ ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện.
Chỉ với chừng ấy, đức vua không được vui. Đức vua ra lệnh giam cầm kẻ ấy với việc trói bằng xiềng, hoặc trói bằng dây thừng, hoặc trói bằng dây xích, hoặc trói bằng dây mây, hoặc trói bằng dây leo, hoặc với việc giam trong hố, hoặc giam trong hào, hoặc giam trong làng, hoặc giam trong thị trấn, hoặc giam trong thành phố, hoặc giam trong quốc độ, hoặc giam trong xứ sở, thậm chí còn khuyên bảo rằng: ‘Ngươi không được phép ra khỏi nơi này.’ Kẻ ấy, do duyên giam cầm, cảm thọ khổ ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện.
Chỉ với chừng ấy, đức vua không được vui. Đức vua ra lệnh lấy đi tài sản của kẻ ấy: một trăm, một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Kẻ ấy, do duyên mất mát tài sản, cảm thọ khổ ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện.
Chỉ với chừng ấy, đức vua không được vui. Đức vua ra lệnh nhiều loại hình phạt ở thân: đánh bằng các cây roi, đánh bằng các dây mây, đánh bằng các gậy ngắn, chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, đốt nóng đầu, lột da đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm. Kẻ ấy, do duyên các hình phạt ở thân, cảm thọ khổ ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện. Đức vua là chúa tể của bốn hình phạt này.
Kẻ ấy, với nghiệp của mình, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Những người giữ địa ngục cho thực hiện hình phạt ‘trói buộc năm cách’ đối với kẻ ấy: Họ dùng cọc sắt đã được đốt nóng đóng vào ở bàn tay, họ dùng cọc sắt đã được đốt nóng đóng vào ở bàn tay thứ hai, họ dùng cọc sắt đã được đốt nóng đóng vào ở bàn chân, họ dùng cọc sắt đã được đốt nóng đóng vào ở bàn chân thứ hai, họ dùng cọc sắt đã được đốt nóng đóng vào ở giữa ngực. Kẻ ấy, ở tại nơi ấy, cảm nhận các thọ khổ, sắc bén, nhức nhối; nhưng kẻ ấy không thể chết đi chừng nào ác nghiệp ấy còn chưa chấm dứt. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện.
Những người giữ địa ngục bắt kẻ ấy nằm xuống và dùng những cái rìu thái mỏng. Kẻ ấy, ở tại nơi ấy, cảm nhận các thọ khổ, sắc bén, nhức nhối; nhưng kẻ ấy không thể chết đi chừng nào ác nghiệp ấy còn chưa chấm dứt. Những người giữ địa ngục nắm lấy kẻ ấy, chân phía trên đầu phía dưới, và dùng những cái búa thái mỏng. Những người giữ địa ngục cột kẻ ấy vào cỗ xe rồi cho kéo tới kéo lui ở trên đất đã được đốt cháy, sáng rực, đỏ rực. –nt– Những người giữ địa ngục bắt kẻ ấy trèo lên, trèo xuống ở ngọn núi than hừng to lớn đã được đốt cháy, sáng rực, đỏ rực. –nt– Những người giữ địa ngục nắm lấy kẻ ấy, chân phía trên đầu phía dưới, rồi ném vào chảo đồng đã được đốt nóng, đốt cháy, sáng rực, đỏ rực. Kẻ ấy, ở tại nơi ấy, bị nung nấu ở bọt nước sôi sục. Kẻ ấy, ở tại nơi ấy, trong khi bị nung nấu ở bọt nước sôi sục, lúc thì nổi lên trên, lúc thì chìm xuống dưới, lúc thì trôi ngang. Kẻ ấy, ở tại nơi ấy, cảm nhận các thọ khổ, sắc bén, nhức nhối; nhưng kẻ ấy không thể chết đi chừng nào ác nghiệp ấy còn chưa chấm dứt. Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện. Những người giữ địa ngục ném kẻ ấy vào đại địa ngục. Quả vậy, đại địa ngục ấy là:
1. (Đại địa ngục) có bốn góc, có bốn cửa lớn,
được chia thành các phần cân đối,
được bao quanh bằng tường sắt,
được đậy lại bằng mái sắt .
2. Nền của (đại địa ngục) làm bằng sắt,
được thiêu đốt, cháy với lửa ngọn,
luôn luôn tỏa khắp và tồn tại
xung quanh một trăm do-tuần .
3. (Các đại địa ngục) có sự đốt nóng khổ sở, ghê rợn, có ngọn lửa khó lại gần,
có hình dạng làm rởn lông, ghê rợn, gây ra sự sợ hãi, khó chịu .
4. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng đông,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng tây .
5. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng tây,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng đông .
6. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng bắc,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng nam .
7. Khối lửa được phát khởi ở bức tường hướng nam,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở hướng bắc .
8. Khối lửa khủng khiếp phát xuất từ bên dưới,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở mái che (bên trên) .
9. Khối lửa khủng khiếp phát xuất từ mái che,
trong khi thiêu đốt những kẻ có ác nghiệp, đi đến chạm vào (khối lửa) ở mặt đất (bên dưới) .
10. Cái chảo sắt đã được đốt cháy, nóng đỏ, sáng chói như thế nào
thì địa ngục Avīci, ở bên dưới, bên trên, và bên hông là như vậy .
11. Ở nơi ấy, những chúng sanh vô cùng hung dữ, đã gây ra trọng tội,
có hành động cực kỳ ác độc, bị nung nấu và không thể chết đi .
12. Thân thể của họ, những cư dân ở địa ngục, giống như ngọn lửa.
Hãy nhìn xem tính chất vững bền của nghiệp, không như tro, không như bụi .
13. Họ chạy về hướng đông, rồi từ đó chạy về hướng tây.
Họ chạy về hướng bắc, rồi từ đó họ chạy về hướng nam .
14. Họ chạy đến bất cứ hướng nào, cánh cửa hướng ấy đều được đóng lại.
Với niềm mong mỏi được thoát ra, các chúng sanh ấy có sự tìm kiếm lối thoát .
15. Họ không thể đi ra khỏi nơi ấy bởi vì nghiệp duyên,
khi ác nghiệp của họ đã tạo có nhiều và còn chưa trả xong .
Sự sợ hãi, khổ, ưu này do đâu mà sanh lên cho kẻ ấy? Do uế hạnh của bản thân mà việc ấy đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện. Những khổ đau ở địa ngục, những khổ đau ở thai bào của loài thú, những khổ đau ở cảnh giới ngạ quỷ, những khổ đau của loài người, những khổ đau ấy do đâu sanh ra, do đâu sanh khởi, do đâu hạ sanh, do đâu phát sanh, do đâu xuất hiện? Do uế hạnh của bản thân mà chúng đã sanh ra, đã sanh khởi, đã hạ sanh, đã phát sanh, đã xuất hiện; – ‘Sự sợ hãi sanh lên do uế hạnh của bản thân’ là như thế.
Các ngươi hãy nhìn xem loài người đang gây gổ – Các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các người tại gia, các vị xuất gia, chư Thiên, và nhân loại, các ngươi hãy nhìn xem, hãy nhìn ngắm, hãy quan sát, hãy suy xét, hãy xem xét loài người đang gây gỗ, loài người đang cãi cọ, loài người đang chống đối, loài người đang đối chọi, loài người đang hằn học, loài người đang thù hằn, loài người đang căm hờn, loài người đang thù hận; – ‘các ngươi hãy nhìn xem loài người đang gây gổ’ là như thế.
Ta sẽ thuật lại trạng thái chấn động – Trạng thái chấn động là sự hốt hoảng, sự khiếp sợ, sự sợ hãi, sự hành hạ, sự va chạm, sự bất hạnh, sự nguy hiểm. Ta sẽ thuật lại : Ta sẽ bộc lộ, Ta sẽ nêu ra, Ta sẽ thuyết giảng, Ta sẽ thông báo, Ta sẽ ấn định, Ta sẽ khai mở, Ta sẽ chia sẻ, Ta sẽ làm rõ, Ta sẽ bày tỏ; – ‘Ta sẽ thuật lại trạng thái chấn động’ là như thế.
Đúng theo sự việc đã làm cho Ta bị chấn động – Đúng theo sự việc đã làm cho chính bản thân Ta bị chấn động, bị hốt hoảng, bị đưa đến trạng thái chấn động; – ‘đúng theo sự việc đã làm cho Ta bị chấn động’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sự sợ hãi sanh lên do uế hạnh của bản thân.
Các ngươi hãy nhìn xem loài người đang gây gổ.
Ta sẽ thuật lại trạng thái chấn động
đúng theo sự việc đã làm cho Ta bị chấn động .”
Sau khi nhìn thấy nhân loại đang chao động tựa như những con cá ở chỗ ít nước,
sau khi nhìn thấy chúng chống đối lẫn nhau, sự sợ hãi đã xâm nhập Ta .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Sau khi nhìn thấy nhân loại đang chao động tựa như những con cá ở chỗ ít nước,
sau khi nhìn thấy chúng chống đối lẫn nhau, sự sợ hãi đã xâm nhập Ta .”
Toàn bộ thế giới là không có cốt lõi,
tất cả các phương đều bị chuyển động.
Trong khi ước muốn chỗ trú ngụ cho bản thân,
Ta đã không nhìn thấy (một nơi nào là) không bị áp chế .
Và điều này cũng đã được nói đến:
1. “ Mặc dầu cung điện ấy của ngài rực sáng,
trong khi đang chiếu sáng ở phương bắc.
Sau khi nhìn thấy khuyết tật ở sắc, luôn luôn biến đổi,
vì thế, bậc Thiện Trí không vui thích ở sắc .”
2. “ Thế gian bị hành hạ bởi sự chết, bị bao trùm bởi sự già,
bị đâm vào bởi mũi tên tham ái, luôn luôn cháy âm ỉ bởi ước muốn .”
3. Toàn bộ thế giới bị đốt cháy, toàn bộ thế giới bị bốc khói,
toàn bộ thế giới bị phát cháy, toàn bộ thế giới bị lay động .”
– ‘tất cả các phương đều bị chuyển động’ là như thế.
4. “ Lợi lộc và không lợi lộc, không danh tiếng và danh tiếng,
khen ngợi và chê bai, hạnh phúc và khổ đau,
các pháp này ở nơi loài người là vô thường,
không trường tồn, có tánh chất biến đổi ;”
– ‘Ta đã không nhìn thấy (một nơi nào là) không bị áp chế’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Toàn bộ thế giới là không có cốt lõi,
tất cả các phương đều bị chuyển động.
Trong khi ước muốn chỗ trú ngụ cho bản thân,
Ta đã không nhìn thấy (một nơi nào là) không bị áp chế .”
“ Nhưng sau khi nhìn thấy chúng chống chõi ở giai đoạn kết thúc, sự chán ngán đã khởi lên ở Ta. Và ở đây, Ta đã nhìn thấy mũi tên khó thể nhìn thấy đã được cắm vào trái tim (tâm thức) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng: “ Nhưng sau khi nhìn thấy chúng chống chõi ở giai đoạn kết thúc, sự chán ngán đã khởi lên ở Ta.
Và ở đây, Ta đã nhìn thấy mũi tên khó thể nhìn thấy đã được cắm vào trái tim (tâm thức) .”
Ở nơi ấy, các môn học tập được truyền tụng.
Những gì bị trói buộc ở thế gian,
không nên quan tâm đến chúng.
Sau khi thấu suốt các dục về mọi phương diện,
nên học tập về sự tịch diệt cho bản thân .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ở nơi ấy, các môn học tập được truyền tụng.
Những gì bị trói buộc ở thế gian,
không nên quan tâm đến chúng.
Sau khi thấu suốt các dục về mọi phương diện,
nên học tập về sự tịch diệt cho bản thân .”
Nên chân thật, không xấc xược, không xảo trá, việc nói đâm thọc không còn nữa,
không giận dữ, bậc hiền trí có thể vượt qua sự xấu xa của tham (và) sự keo kiệt .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Nên chân thật, không xấc xược, không xảo trá, việc nói đâm thọc không còn nữa,
không giận dữ, bậc hiền trí có thể vượt qua sự xấu xa của tham (và) sự keo kiệt .”
Người có tâm ý hướng Niết Bàn nên khắc phục trạng thái ngủ gà ngủ gật, sự uể oải, sự dã dượi, không nên cộng trú với sự xao lãng, không nên trụ lại ở sự ngã mạn thái quá .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Người có tâm ý hướng Niết Bàn nên khắc phục trạng thái ngủ gà ngủ gật, sự uể oải, sự dã dượi, không nên cộng trú với sự xao lãng, không nên trụ lại ở sự ngã mạn thái quá .”
Không nên bị lôi kéo vào việc nói lời dối trá,
không nên tạo ra sự yêu mến ở sắc,
và nên biết toàn diện về ngã mạn,
nên hành xử tránh xa sự vội vàng .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên bị lôi kéo vào việc nói lời dối trá,
không nên tạo ra sự yêu mến ở sắc,
và nên biết toàn diện về ngã mạn,
nên hành xử tránh xa sự vội vàng .”
Không nên thích thú cái cũ (ngũ uẩn quá khứ),
không nên tạo ra sự ưa chuộng cái mới (ngũ uẩn vị lai),
trong khi (cái gì) đang bị tiêu hoại, không nên sầu muộn,
không nên nương tựa hư không (tham ái) .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không nên thích thú cái cũ (ngũ uẩn quá khứ),
không nên tạo ra sự ưa chuộng cái mới (ngũ uẩn hiện tại),
trong khi (cái gì) đang bị tiêu hoại, không nên sầu muộn,
không nên nương tựa hư không (tham ái) .”
Ta gọi thèm khát là ‘dòng lũ lớn,’ Ta gọi tham muốn là dòng nước mạnh,
(sự bám vào) đối tượng là rung động, dục là bãi lầy khó vượt qua được .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ta gọi thèm khát là ‘dòng lũ lớn,’ Ta gọi tham muốn là dòng nước mạnh,
(sự bám vào) đối tượng là rung động, dục là bãi lầy khó vượt qua được .”
Không chệch khỏi sự thật (gọi là) bậc hiền trí, đứng ở đất liền (gọi là) vị Bà-la-môn.
Vị ấy sau khi xả bỏ tất cả, vị ấy quả thật được gọi là ‘bậc an tịnh.’
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không chệch khỏi sự thật (gọi là) bậc hiền trí,
đứng ở đất liền (gọi là) vị Bà-la-môn.
Vị ấy sau khi xả bỏ tất cả,
vị ấy quả thật được gọi là ‘bậc an tịnh .’”
Quả thật, vị ấy là bậc đã hiểu biết, vị ấy là bậc đã đạt được sự thông hiểu, sau khi biết được pháp, vị ấy không nương tựa (vào tham ái và tà kiến). Vị ấy, trong khi cư xử chân chánh ở thế gian, không mong cầu đối với bất cứ người nào ở nơi đây .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Quả thật, vị ấy là bậc đã hiểu biết, vị ấy là bậc đã đạt được sự thông hiểu, sau khi biết được pháp, vị ấy không nương tựa (vào tham ái và tà kiến). Vị ấy, trong khi cư xử chân chánh ở thế gian, không mong cầu đối với bất cứ người nào ở nơi đây .”
Ở đây, vị nào vượt qua các dục,
sự quyến luyến ở thế gian khó vượt qua được,
vị ấy không sầu muộn, không ưu tư,
có dòng chảy đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Ở đây, vị nào vượt qua các dục,
sự quyến luyến ở thế gian khó vượt qua được,
vị ấy không sầu muộn, không ưu tư,
có dòng chảy đã được cắt đứt, không còn sự trói buộc .”
Điều gì trước đây (quá khứ), ngươi hãy làm khô héo điều ấy.
Chớ có bất cứ điều gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai).
Nếu ngươi không nắm lấy (điều gì) ở khoảng giữa (hiện tại),
ngươi sẽ sống, được an tịnh .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Điều gì trước đây (quá khứ), ngươi hãy làm khô héo điều ấy. Chớ có bất cứ điều gì sanh khởi đến ngươi sau này (vị lai). Nếu ngươi không nắm lấy (điều gì) ở khoảng giữa (hiện tại), ngươi sẽ sống, được an tịnh .”
Đối với vị nào không có vật đã được chấp là của tôi
liên quan đến danh và sắc về mọi phương diện,
và (là vị) không sầu muộn do tình trạng không có,
vị ấy quả thật không bị thua thiệt ở thế gian .
1. Khi cỗ xe và ngựa, ngọc ma-ni và bông tai bị mất mát,
khi con và vợ bị mất mát tương tự y như thế,
khi tất cả của cải không còn được sử dụng,
tại sao ngài không buồn bực ở thời điểm của sầu muộn?
2. Các của cải rời bỏ con người trước (của cải bị mất mát lúc còn sống),
hoặc con người lìa bỏ các của cải trước (chết không đem theo của cải).
Này kẻ mong muốn ngũ dục, các của cải không được trường tồn,
vì thế, Ta không sầu muộn ở thời điểm của sầu muộn .
3. Mặt trăng mọc lên, tròn dần rồi lại khuyết.
Mặt trời sau khi lặn xuống thì biến mất.
Này Sattuka, các pháp thế gian đã được Ta nhận biết;
vì thế, Ta không sầu muộn ở thời điểm của sầu muộn .
4. “ Quả thật, sau một thời gian dài, chúng ta nhìn thấy vị Bà-la-môn đã được diệt tắt hoàn toàn, là vị tỳ khưu không có vui thích , không có phiền muộn, đã vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian .”
– ‘vị ấy quả thật không bị thua thiệt ở thế gian’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị nào không có vật đã được chấp là của tôi
liên quan đến danh và sắc về mọi phương diện,
và (là vị) không sầu muộn do tình trạng không có,
vị ấy quả thật không bị thua thiệt ở thế gian .”
Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’
hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì,
vị ấy, trong lúc không tìm kiếm trạng thái chấp là của tôi,
(biết rằng): ‘Không có gì là của ta,’ nhờ thế không sầu muộn .
Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì – Đối với vị nào : đối với vị A-la-hán có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Đối với vị nào, bất cứ điều gì hướng đến sắc, hướng đến thọ, hướng đến tưởng, hướng đến các hành, hướng đến thức đã được nắm lấy, đã được bám víu, đã được cố chấp, đã được bám chặt, đã được hướng đến (rằng): ‘Cái này là của tôi, cái này là của những người khác’ là không có, không hiện diện, không tìm thấy, không tồn tại, được dứt bỏ, được trừ tuyệt, được vắng lặng, được tịch tịnh, không thể sanh khởi nữa, đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ; –đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– là như vậy.
Bởi vì, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này các tỳ khưu, thân này không phải của các ngươi, cũng không phải của những người khác. Này các tỳ khưu, thân này nên được xem là nghiệp cũ đã được tạo tác, đã được cố ý, (và) được cảm thọ. Này các tỳ khưu, về điều ấy, vị đệ tử của các bậc Thánh, có sự nghe nhiều, khéo léo tác ý đúng đường lối về pháp tùy thuận duyên khởi như vầy: ‘Khi cái này có mặt, cái kia có mặt; do sự sanh khởi của cái này, cái kia sanh khởi. Khi cái này không có mặt, cái kia không có mặt; d0 sự diệt tận của cái này, cái kia diệt tận. Tức là, do duyên vô minh , các hành (sanh khởi); do duyên các hành , thức (sanh khởi); –nt– Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Nhưng chính do sự diệt tận hoàn toàn không còn luyến ái đối với vô minh, có sự diệt tận của các hành –nt– Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này;’ –đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
Bởi vì, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
1. “ Ngươi hãy xem xét thế giới là trống không,
này Mogharāja, hãy luôn luôn có niệm.
Sau khi nhổ lên tà kiến về bản ngã,
như vậy có thể vượt qua sự chết.
Người đang xem xét thế gian như vậy,
Thần Chết không nhìn thấy (người ấy) .”
– Đ ối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ đi ều gì – còn là như vậy.
Bởi vì, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: “Này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Thọ – Tưởng – Các hành – Thức không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ gì về điều ấy, là việc người ta có thể mang đi cỏ, củi, cành, lá ở khu rừng Jeta này, hoặc có thể đốt cháy chúng, hoặc có thể hành xử chúng tùy theo nhu cầu? Thậm chí ý nghĩ như vầy có thể khởi lên ở các ngươi rằng: ‘Có phải người ta mang chúng ta đi, hoặc đốt cháy chúng ta, hoặc hành xử chúng ta tùy theo nhu cầu không’?” “Bạch ngài, điều này không đúng.” “Điều ấy có nguyên nhân là gì?” “Bạch Ngài, bởi vì cái ấy (cỏ, củi, cành, lá) không phải là tự ngã của chúng con hoặc thuộc về tự ngã của chúng con.” “Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, cái gì không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải là của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi. Thọ – Tưởng – Các hành – Thức không phải là của các ngươi, các ngươi hãy dứt bỏ nó. Cái ấy, khi được các ngươi dứt bỏ, sẽ đưa đến sự lợi ích, sự hạnh phúc lâu dài cho các ngươi.” –đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
Bởi vì, điều này cũng đã được nói đến:
2. “ Này trưởng làng, đối với người đang nhìn thấy đúng theo bản thể sự sanh lên của các pháp một cách rõ rệt, sự liên tục của các hành một cách rõ rệt thì không có sự sợ hãi .
3. Khi nào bằng trí tuệ nhìn thấy thế gian giống như cỏ và củi, trong khi không tìm thấy trạng thái chấp là của tôi: ‘Không có gì thuộc về tôi,’ vị ấy không sầu muộn .”
–Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
Tỳ khưu ni Vajirā đã nói với Ma Vương ác độc điều này:
4. “ Này Ma Vương, sao ngươi khẳng định là ‘chúng sanh?’ Phải chăng đó là tà kiến của ngươi? Cái này thuần túy là sự chồng chất của các hành. Ở đây, chúng sanh không được tìm thấy .
5. Giống y như việc ráp chung lại các bộ phận thì có tiếng gọi là ‘cỗ xe,’ tương tợ như vậy, khi các uẩn hiện diện thì có sự công nhận là ‘con người’ .
6. Bởi vì chỉ có khổ được hình thành,
khổ tồn tại và tiêu hoại
không gì khác ngoại trừ khổ được hình thành
không cái gì khác ngoài khổ được diệt tận .”
–Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
“Này các tỳ khưu, tương tự y như thế, vị tỳ khưu quán sát sắc đến luôn cả tiến trình của sắc, quán sát thọ – tưởng – các hành – thức đến luôn cả tiến trình của thức. Trong khi vị ấy đang quán sát sắc đến luôn cả tiến trình của sắc, trong khi đang quán sát thọ – tưởng – các hành – thức đến luôn cả tiến trình của thức, ý niệm về ‘tôi’ hay ‘của tôi’ hay ‘tôi là’ đều không khởi lên ở vị ấy; –đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
Đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ‘thế giới là trống không , thế giới là trống không ’ là điều được nói đến. Bạch Ngài, cho đến như thế nào thì được gọi là: ‘Thế giới là trống không ’?” “Này Ānanda, bởi vì quả thật là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã; vì thế, được gọi là: ‘Thế giới là trống không .’ Và này Ānanda, cái gì là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã? Này Ānanda, Mắt là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã. Các sắc là trống không – Nhãn thức là trống không – Nhãn xúc là trống không – Cảm thọ nào sanh lên do duyên nhãn xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc; cảm thọ ấy cũng là trống không . Tai là trống không – Các thinh là trống không – Mũi là trống không – Các hương là trống không – Lưỡi là trống không – Các vị là trống không – Thân là trống không – Các xúc là trống không – Ý là trống không – Các pháp là trống không – Ý thức là trống không – Ý xúc là trống không – Cảm thọ nào sanh lên do duyên ý xúc, dầu là lạc, hay là khổ, hay là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã. Này Ānanda, bởi vì quả thật là trống không với tự ngã hoặc với cái thuộc về tự ngã; vì thế, được gọi là: ‘Thế giới là trống không .’ –Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’ hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì– còn là như vậy.
Vị ấy, trong lúc không tìm kiếm trạng thái chấp là của tôi : Trạng thái chấp là của tôi - có hai trạng thái chấp là của tôi: trạng thái chấp là của tôi do tham ái và trạng thái chấp là của tôi do tà kiến. —nt— điều này là trạng thái chấp là của tôi do tham ái. —nt— điều này là trạng thái chấp là của tôi do tà kiến. Sau khi dứt bỏ trạng thái chấp là của tôi do tham ái, sau khi xả bỏ trạng thái chấp là của tôi do tà kiến, trong khi không kiếm được, trong khi không tìm kiếm, trong khi không đạt đến, trong khi không đạt được; – ‘vị ấy, trong lúc không tìm kiếm trạng thái chấp là của tôi’ là như thế.
(Biết rằng): ‘Không có gì là của ta,’ nhờ thế không sầu muộn : (Vị ấy) không sầu muộn về vật đã bị biến đổi, không sầu muộn trong khi vật đang bị biến đổi. (Nghĩ rằng): ‘Mắt của ta đã bị biến đổi,’ vị ấy không sầu muộn. (Nghĩ rằng): ‘Tai của tôi —nt— ‘Những người cùng huyết thống của tôi đã bị biến đổi,’ vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than vãn, không khóc nức nở, không đi đến sự mê muội; – ‘(biết rằng): ‘Không có gì là của ta,’ nhờ thế không sầu muộn’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị nào, không có (ý nghĩ): ‘Cái này là của tôi,’
hoặc ‘(Cái này) là của những người khác’ về bất cứ điều gì,
vị ấy, trong lúc không tìm kiếm trạng thái chấp là của tôi,
(biết rằng): ‘Không có gì là của ta,’ nhờ thế không sầu muộn .”
Không ganh ghét, không thèm khát,
không dục vọng, bình đẳng ở mọi nơi,
điều ấy là sự lợi ích mà Ta nói,
khi được hỏi về vị không dao động .
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Không ganh ghét, không thèm khát,
không dục vọng, bình đẳng ở mọi nơi,
điều ấy là sự lợi ích mà Ta nói,
khi được hỏi về vị không dao động .”
Đối với vị không dục vọng, đang nhận thức, thì không có bất cứ sự tạo tác nào. Vị ấy, đã tránh xa khỏi sự tạo tác, nhìn thấy an toàn ở mọi nơi
.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Đối với vị không dục vọng, đang nhận thức, thì không có bất cứ sự tạo tác nào. Vị ấy, đã tránh xa khỏi sự tạo tác, nhìn thấy an toàn ở mọi nơi .”
“ Bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ngang bằng, (hay là) trong số những người thấp kém, (hay là) trong số những người ưu việt. Được an tịnh, đã xa lìa sự bỏn xẻn, vị ấy không nắm giữ, không buông lơi ” (Đức Thế Tôn nói vậy).
Bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ngang bằng, (hay là) trong số những người thấp kém, (hay là) trong số những người ưu việt – Bản thể hiền trí nói đến trí, –nt– đã vượt qua sự quyến luyến và mạng lưới (tham ái và tà kiến), vị ấy là hiền trí. Bậc hiền trí không mô tả, không thuyết, không phát ngôn, không diễn giải, không diễn tả rằng: ‘Tôi là ngang bằng,’ hoặc ‘Tôi là tốt hơn,’ hoặc ‘Tôi là thấp hèn;’ – ‘bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ngang bằng, (hay là) trong số những người thấp kém, (hay là) trong số những người ưu việt’ là như thế.
Được an tịnh, vị ấy đã xa lìa sự bỏn xẻn, – An tịnh : Trạng thái được an tịnh, trạng thái được yên lặng đối với luyến ái là an tịnh; trạng thái được an tịnh, trạng thái được yên lặng, trạng thái được vắng lặng, trạng thái được thiêu hủy, trạng thái được tịch diệt, trạng thái được tách lìa, trạng thái được tịch tịnh đối với sân hận – đối với si mê –nt– đối với tất cả các pháp tạo tác bất thiện là an tịnh, yên tịnh, vắng lặng, tịch diệt, tịch tịnh; – ‘vị ấy được an tịnh’ là như thế. Đã xa lìa sự bỏn xẻn – Có năm loại bỏn xẻn: bỏn xẻn về chỗ ở –nt– sự nắm lấy, điều này được gọi là bỏn xẻn. Đối với vị nào, sự bỏn xẻn này được dứt bỏ, được trừ tuyệt, –nt– đã được thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là có sự bỏn xẻn đã được xa lìa, có sự bỏn xẻn đã được tách lìa, có sự bỏn xẻn đã được từ bỏ, có sự bỏn xẻn đã được tẩy trừ, có sự bỏn xẻn đã được giải thoát, có sự bỏn xẻn đã được dứt bỏ, có sự bỏn xẻn đã được xả bỏ; – ‘được an tịnh, vị ấy đã xa lìa sự bỏn xẻn’ là như thế.
Vị ấy không nắm giữ, không buông lơi – Không nắm giữ : Vị ấy không nắm giữ, không chấp thủ, không nắm lấy, không bám víu, không cố chấp sắc. Vị ấy không nắm giữ, không chấp thủ, không nắm lấy, không bám víu, không cố chấp thọ – tưởng – các hành – thức – cảnh giới tái sinh – sự tái sinh – sự nối liền tái sanh – sự hiện hữu – sự luân hồi –sự xoay vòng; – ‘không nắm giữ’ là như thế. Không buông lơi : Vị ấy không dứt bỏ, không xua đi, không làm chấm dứt, không làm cho không còn hiện hữu sắc. Vị ấy không dứt bỏ, không xua đi, không làm chấm dứt, không làm cho không còn hiện hữu thọ – tưởng – các hành – thức – cảnh giới tái sinh – sự tái sinh – sự nối liền tái sanh – sự hiện hữu – sự luân hồi –sự xoay vòng. Đức Thế Tôn : là từ xưng hô với sự tôn kính. –nt– sự quy định do sự chứng ngộ, tức là ‘đức Thế Tôn; – ‘vị ấy không nắm giữ, không buông lơi’ là như thế.
Vì thế, đức Thế Tôn đã nói rằng:
“ Bậc hiền trí không mô tả (bản thân) là trong số những người ngang bằng, (hay là) trong số những người thấp kém, (hay là) trong số những người ưu việt. Được an tịnh, đã xa lìa sự bỏn xẻn, vị ấy không nắm giữ, không buông lơi ” (Đức Thế Tôn nói vậy).
Diễn Giải Kinh ‘Uế Hạnh của Bản Thân ’ - Phần thứ mười lăm được đầy đủ .
--ooOoo--
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda và các cộng sự. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Đại Diễn Giải (Mahāniddesa). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Attadaṇḍā bhayaṃ jātanti. Daṇḍāti tayo daṇḍā – kāyadaṇḍo, vacīdaṇḍo, manodaṇḍo. Tividhaṃ kāyaduccaritaṃ kāyadaṇḍo, catubbidhaṃ vacīduccaritaṃ vacīdaṇḍo, tividhaṃ manoduccaritaṃ manodaṇḍo. Bhayanti dve bhayāni – diṭṭhadhammikañca bhayaṃ samparāyikañca bhayaṃ. Katamaṃ diṭṭhadhammikaṃ bhayaṃ? Idhekacco kāyena duccaritaṃ carati, vācāya duccaritaṃ carati, manasā duccaritaṃ carati, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati. Tamenaṃ gahetvā rañño dassenti – ‘‘ayaṃ, deva, coro āgucārī. Imassa yaṃ icchasi taṃ daṇḍaṃ paṇehī’’ti. Tamenaṃ rājā paribhāsati. So paribhāsapaccayā bhayampi uppādeti, dukkhaṃ domanassaṃ † paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ.
“From one's own rod, fear is born.” As for ‘rod,’ there are three rods—the bodily rod, the verbal rod, and the mental rod. Threefold bodily misconduct is the bodily rod, fourfold verbal misconduct is the verbal rod, and threefold mental misconduct is the mental rod. As for ‘fear,’ there are two fears—fear in this very life and fear in the life to come. What is fear in this very life? Here, a certain person engages in bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. They kill living beings, take what is not given, break into houses, commit robbery, plunder a single house, stand on the highway, go to another's wife, and speak falsely. Having seized him, they present him to the king, saying: “Your Majesty, this is a thief, an offender. Inflict upon him whatever punishment you wish.” The king then rebukes him. On account of that rebuke, he experiences fear, suffering, and displeasure. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own rod, specially born, arisen, exceedingly arisen, and manifested.
“Attadaṇḍā bhayaṃ jātanti” (Sự sợ hãi sanh khởi từ bạo hành) có nghĩa là: “Daṇḍā” (Bạo hành) là có ba loại bạo hành: thân bạo hành, khẩu bạo hành, ý bạo hành. Ba loại thân ác hạnh là thân bạo hành, bốn loại khẩu ác hạnh là khẩu bạo hành, ba loại ý ác hạnh là ý bạo hành. “Bhayaṃ” (Sợ hãi) là có hai loại sợ hãi: sự sợ hãi trong hiện tại và sự sợ hãi trong tương lai. Sự sợ hãi trong hiện tại là gì? Ở đây, có người thực hành ác hạnh qua thân, thực hành ác hạnh qua lời, thực hành ác hạnh qua ý; sát sanh, lấy của không cho, phá nhà, cướp bóc, cướp một nhà, chặn đường, đi đến vợ người khác, nói dối. Người ta bắt kẻ ấy và trình lên vua: “Tâu đại vương, đây là tên trộm, kẻ phạm tội. Xin ngài hãy trừng phạt hắn theo ý muốn.” Vua khiển trách kẻ ấy. Do duyên bị khiển trách, kẻ ấy sanh khởi sự sợ hãi, cảm nhận sự khổ và ưu. Sự sợ hãi, khổ, ưu này của kẻ ấy từ đâu mà có? Nó được sanh ra, được phát sanh, được khởi sanh, được hiện khởi, được biểu hiện từ bạo hành của chính mình.
Ettakenapi rājā na tussati. Tamenaṃ rājā bandhāpeti andubandhanena vā rajjubandhanena vā saṅkhalikabandhanena vā vettabandhanena vā latābandhanena vā pakkhepabandhanena vā † parikkhepabandhanena vā gāmabandhanena vā nigamabandhanena vā nagarabandhanena vā raṭṭhabandhanena vā janapadabandhanena vā antamaso savacanīyampi karoti – ‘‘na te labbhā ito pakkamitu’’nti. So bandhanapaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ.
Even with this, the king is not satisfied. The king has him bound: with fetters, with ropes, with chains, with canes, or with creepers; with the binding of the townspeople, with binding in an enclosure, with binding in a village, with binding in a market town, with binding in a city, with binding in a country, or with binding in a province. At the very least, he makes a verbal declaration: “You are not allowed to depart from here.” On account of that bondage, he also experiences suffering and displeasure. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own wrongdoing, well-born, arisen, fully arisen, and manifested.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua ra lệnh trói người ấy lại, hoặc bằng cùm, hoặc bằng dây thừng, hoặc bằng xiềng xích, hoặc bằng dây mây, hoặc bằng dây leo, hoặc bị giam trong thành phố, hoặc bị giam trong vòng vây, hoặc bị giam trong làng, hoặc bị giam trong thị trấn, hoặc bị giam trong thành phố, hoặc bị giam trong xứ, hoặc bị giam trong quận, cho đến mức tối thiểu còn ra lời tuyên bố: "Ngươi không được phép rời khỏi nơi này". Do duyên bị trói buộc, người ấy cảm thọ sự đau khổ và ưu phiền. Sự sợ hãi, đau khổ, ưu phiền này đối với người ấy, từ đâu mà có? Do sự trừng phạt tự thân mà đã sanh, đã hiện khởi, đã phát sanh, đã phát sanh trọn vẹn, đã xuất hiện.
Ettakenapi rājā na tussati. Rājā tassa dhanaṃ āharāpeti – sataṃ vā sahassaṃ vā satasahassaṃ vā. So dhanajānipaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ.
Even with this, the king is not satisfied. The king has his wealth confiscated—a hundred, or a thousand, or a hundred thousand. On account of the loss of wealth, he also experiences suffering and displeasure. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own wrongdoing, well-born, arisen, fully arisen, and manifested.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua ra lệnh tịch thu tài sản của người ấy – hoặc một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Do duyên bị mất tài sản, người ấy cảm thọ sự đau khổ và ưu phiền. Sự sợ hãi, đau khổ, ưu phiền này đối với người ấy, từ đâu mà có? Do sự trừng phạt tự thân mà đã sanh, đã hiện khởi, đã phát sanh, đã phát sanh trọn vẹn, đã xuất hiện.
Ettakenapi rājā na tussati. Tamenaṃ rājā vividhā kammakāraṇā kārāpeti – kasāhipi tāḷeti, vettehipi tāḷeti, aḍḍhadaṇḍakehipi tāḷeti, hatthampi chindati, pādampi chindati, hatthapādampi chindati, kaṇṇampi chindati, nāsampi chindati, kaṇṇanāsampi chindati, bilaṅgathālikampi karoti, saṅkhamuṇḍikampi karoti, rāhumukhampi karoti, jotimālikampi karoti, hatthapajjotikampi karoti, erakapattikampi karoti, cīrakavāsikampi karoti, eṇeyyakampi karoti, baḷisamaṃsikampi karoti, kahāpaṇikampi karoti, khārāpatacchikampi karoti, palighaparivattakampi karoti, palālapīṭhakampi karoti, tattenapi telena osiñcati, sunakhehipi khādāpeti, jīvantampi sūle uttāseti, asināpi sīsaṃ chindati. So kammakāraṇapaccayāpi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ. Rājā imesaṃ catunnaṃ daṇḍānaṃ issaro.
Even with this, the king is not satisfied. The king has him subjected to various forms of judicial torture: they strike him with whips, they strike him with canes, they strike him with cudgels; they cut off his hand, they cut off his foot, they cut off his hands and feet; they cut off his ear, they cut off his nose, they cut off his ears and nose; they perform the ‘gruel-pot’ torture, the ‘polished-shell’ torture, the ‘flaming-garland’ torture, the ‘hand-torch’ torture, the ‘skinning-strip’ torture, the ‘bark-garment’ torture, the ‘antelope’ torture, the ‘meat-hook’ torture, the ‘coin-piece’ torture, the ‘alkaline-pickle’ torture, the ‘pivoting-on-a-bar’ torture, and the ‘straw-seat’ torture; they douse him with boiling oil, have him devoured by dogs, impale him alive on a stake, and cut off his head with a sword. On account of these judicial tortures, he also experiences suffering and displeasure. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own wrongdoing, well-born, arisen, fully arisen, and manifested. The king is the master of these four punishments.
Dù chỉ với chừng ấy, nhà vua vẫn không hài lòng. Nhà vua ra lệnh thực hiện nhiều loại hình phạt khác nhau đối với người ấy: đánh bằng roi, đánh bằng gậy mây, đánh bằng dùi cui, chặt tay, chặt chân, chặt tay chân, xẻo tai, xẻo mũi, xẻo tai mũi, thực hiện hình phạt 'nồi cháo dấm', thực hiện hình phạt 'cạo đầu bằng vỏ ốc', thực hiện hình phạt 'miệng La-hầu', thực hiện hình phạt 'vòng hoa lửa', thực hiện hình phạt 'ngọn đuốc tay', thực hiện hình phạt 'áo vỏ cây', thực hiện hình phạt 'mặc áo vỏ cây', thực hiện hình phạt 'con linh dương', thực hiện hình phạt 'móc câu thịt', thực hiện hình phạt 'đồng tiền', thực hiện hình phạt 'tẩm nước tro', thực hiện hình phạt 'xoay trên cọc', thực hiện hình phạt 'giường rơm', tưới dầu sôi, cho chó đói ăn thịt, đóng cọc xiên qua người khi còn sống, và dùng gươm chặt đầu. Do duyên bị các hình phạt, người ấy cảm thọ sự đau khổ và ưu phiền. Sự sợ hãi, đau khổ, ưu phiền này đối với người ấy, từ đâu mà có? Do sự trừng phạt tự thân mà đã sanh, đã hiện khởi, đã phát sanh, đã phát sanh trọn vẹn, đã xuất hiện. Nhà vua là người có quyền đối với bốn loại trừng phạt này.
So sakena kammena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjati. Tamenaṃ nirayapālā pañcavidhabandhanaṃ nāma kammakāraṇaṃ kārenti – tattaṃ ayokhilaṃ hatthe gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ dutiye hatthe gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ pāde gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ dutiye pāde gamenti, tattaṃ ayokhilaṃ majjhe urasmiṃ gamenti. So tattha dukkhā tibbā † kaṭukā vedanā vedeti; na ca tāva kālaṃkaroti yāva na taṃ pāpakammaṃ byantīhoti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ.
Because of his own action, with the breaking up of the body, after death, he is reborn in a state of deprivation, a bad destination, a place of ruin, in hell. There, the hell-wardens inflict on him the punishment called the fivefold binding: they drive a red-hot iron stake through one hand, they drive a red-hot iron stake through the second hand, they drive a red-hot iron stake through one foot, they drive a red-hot iron stake through the second foot, and they drive a red-hot iron stake through the middle of his chest. There he experiences painful, sharp, and agonizing feelings; yet he does not die so long as that evil deed is not exhausted. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own wrongdoing, well-born, arisen, fully arisen, and manifested.
Do nghiệp của chính mình, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các ngục tốt thực hiện hình phạt gọi là 'sự trói buộc năm phần' đối với người ấy: họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào tay, họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào tay thứ hai, họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào chân, họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào chân thứ hai, họ đóng một cọc sắt nung đỏ vào giữa ngực. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt; và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Sự sợ hãi, đau khổ, ưu phiền này đối với người ấy, từ đâu mà có? Do sự trừng phạt tự thân mà đã sanh, đã hiện khởi, đã phát sanh, đã phát sanh trọn vẹn, đã xuất hiện.
Tamenaṃ nirayapālā saṃvesetvā † kuṭhārīhi † tacchenti. So tattha dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedeti; na ca tāva kālaṃkaroti yāva na taṃ pāpakammaṃ byantīhoti. Tamenaṃ nirayapālā uddhaṃpādaṃ † adhosiraṃ gahetvā vāsīhi tacchenti. Tamenaṃ nirayapālā rathe yojetvā ādittāya pathaviyā sampajjalitāya sajotibhūtāya sārentipi paccāsārentipi † …pe… tamenaṃ nirayapālā mahantaṃ aṅgārapabbataṃ ādittaṃ sampajjalitaṃ sajotibhūtaṃ āropentipi oropentipi…pe… tamenaṃ nirayapālā uddhaṃpādaṃ adhosiraṃ gahetvā tattāya lohakumbhiyā pakkhipanti ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya. So tattha pheṇuddehakaṃ paccati. So tattha pheṇuddehakaṃ paccamāno sakimpi uddhaṃ gacchati, sakimpi adho gacchati, sakimpi tiriyaṃ gacchati. So tattha dukkhā tibbā kaṭukā vedanā vedeti; na ca tāva kālaṃkaroti yāva na taṃ pāpakammaṃ byantīhoti. Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ. Tamenaṃ nirayapālā mahāniraye pakkhipanti. So kho pana mahānirayo –
Then the hell-wardens lay him down and chop him with axes. There he experiences painful, sharp, and agonizing feelings; yet he does not die so long as that evil deed is not exhausted. Then the hell-wardens seize him feet-up and head-down and chop him with adzes. Then the hell-wardens harness him to a chariot and drive him back and forth across burning, blazing, and glowing ground... Then the hell-wardens make him climb up and down a great mountain of burning, blazing, and glowing coals... Then the hell-wardens seize him feet-up and head-down and plunge him into a hot iron cauldron, burning, blazing, and glowing. There he is boiled, frothing up. As he is boiled there, frothing up, he sometimes goes up, sometimes goes down, and sometimes goes sideways. There he experiences painful, sharp, and agonizing feelings; yet he does not die so long as that evil deed is not exhausted. From where do this fear, suffering, and displeasure arise for him? It is born from his own wrongdoing, well-born, arisen, fully arisen, and manifested. Then the hell-wardens throw him into the Great Hell. And that Great Hell is:
Các ngục tốt bắt người ấy nằm xuống rồi dùng rìu đẽo. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt; và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Các ngục tốt nắm lấy người ấy, chân hướng lên, đầu chúc xuống, rồi dùng búa đẽo. Các ngục tốt thắng người ấy vào cỗ xe rồi cho kéo tới kéo lui trên mặt đất bằng sắt đang bốc cháy, rực lửa, sáng rực... Các ngục tốt bắt người ấy leo lên rồi đi xuống một ngọn núi than hồng vĩ đại đang bốc cháy, rực lửa, sáng rực... Các ngục tốt nắm lấy người ấy, chân hướng lên, đầu chúc xuống, rồi ném vào một cái vạc đồng đang sôi sùng sục, bốc cháy, rực lửa, sáng rực. Ở đó, người ấy bị nấu, sủi bọt. Khi bị nấu, sủi bọt ở đó, có lúc người ấy trồi lên, có lúc chìm xuống, có lúc đi ngang. Ở đó, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, dữ dội, khốc liệt; và người ấy không chết cho đến khi ác nghiệp ấy chưa được trả hết. Sự sợ hãi, đau khổ, ưu phiền này đối với người ấy, từ đâu mà có? Do sự trừng phạt tự thân mà đã sanh, đã hiện khởi, đã phát sanh, đã phát sanh trọn vẹn, đã xuất hiện. Các ngục tốt ném người ấy vào đại địa ngục. Và đại địa ngục ấy, thật vậy –
‘‘Catukkaṇṇo catudvāro, vibhatto bhāgaso mito;
Ayopākārapariyanto †, ayasā paṭikujjito.
“Four-cornered, with four gates, divided into portions, measured out; surrounded by an iron wall, covered over with iron.”
"Bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần cân đối; được bao quanh bởi tường sắt, được che đậy bằng mái sắt.
‘‘Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
“Its ground is made of iron, burning, and endowed with heat; extending a hundred leagues all around, it always stands.”
"Nền đất của nó làm bằng sắt, bốc cháy, tràn đầy lửa nóng; luôn luôn lan tỏa khắp bốn phía một trăm do-tuần.
‘‘Kadariyātapanā ghorā, accimanto durāsadā;
Lomahaṃsanarūpā ca, bhismā paṭibhayā dukhā.
“Scorching, dreadful, flaming, and hard to approach; hair-raising, terrifying, fearful, and painful.”
"Luôn nóng bức, thiêu đốt, kinh khiếp, rực lửa, khó đến gần; có hình dạng làm dựng tóc gáy, hãi hùng, đáng sợ, và đau khổ.
‘‘Puratthimāya bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Dahanto pāpakammante, pacchimāya paṭihaññati.
“From the eastern wall, a mass of flame arises; burning the evil-doers, it strikes against the western wall.”
"Từ bức tường phía đông, một khối lửa bốc lên, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập vào bức tường phía tây.
‘‘Pacchimāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Dahanto pāpakammante, puratthimāya paṭihaññati.
“And from the western wall, a mass of flame arises; burning the evil-doers, it strikes against the eastern wall.”
"Và từ bức tường phía tây, một khối lửa bốc lên, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập vào bức tường phía đông.
‘‘Uttarāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Dahanto pāpakammante, dakkhiṇāya paṭihaññati.
“And from the northern wall, a mass of flame arises; burning the evil-doers, it strikes against the southern wall.”
"Và từ bức tường phía bắc, một khối lửa bốc lên, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập vào bức tường phía nam.
‘‘Dakkhiṇāya ca bhittiyā, accikkhandho samuṭṭhito;
Dahanto pāpakammante, uttarāya paṭihaññati.
“And from the southern wall, a mass of flame arises; burning the evil-doers, it strikes against the northern wall.”
"Và từ bức tường phía nam, một khối lửa bốc lên, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập vào bức tường phía bắc.
‘‘Heṭṭhato ca samuṭṭhāya, accikkhandho bhayānako;
Dahanto pāpakammante, chadanasmiṃ paṭihaññati.
“And having arisen from below, a terrifying mass of flame, burning the evil-doers, strikes against the roof.”
"Và từ bên dưới bốc lên, một khối lửa kinh hoàng, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập vào mái nhà.
‘‘Chadanamhā samuṭṭhāya, accikkhandho bhayānako;
Dahanto pāpakammante, bhūmiyaṃ paṭihaññati.
“Having arisen from the roof, a terrifying mass of flame, burning the evil-doers, strikes upon the ground.”
"Từ mái nhà bốc lên, một khối lửa kinh hoàng, thiêu đốt những kẻ làm ác, rồi đập xuống nền đất.
‘‘Ayokapālamādittaṃ, santattaṃ jalitaṃ yathā;
Evaṃ avīcinirayo, heṭṭhā upari passato.
Just as an iron pan is blazing, glowing hot, and flaming, so the Avīci hell is flaming from below, above, and from the sides.
‘Giống như chảo sắt đang bốc cháy, nóng rực, và rực lửa; cũng vậy, địa ngục A-tỳ, từ bên dưới, bên trên, và các phía, đều rực lửa.
‘‘Tattha sattā mahāluddā, mahākibbisakārino;
Accantapāpakammantā, paccanti na ca miyyare †.
There, beings who are very cruel, doers of great evil, having done extremely wicked deeds, are cooked, but they do not die.
‘Ở nơi ấy, các chúng sanh vô cùng hung dữ, những kẻ làm điều tội lỗi lớn lao, những kẻ có hành vi cực kỳ xấu ác, bị nấu chín nhưng không chết.
‘‘Jātavedasamo kāyo, tesaṃ nirayavāsinaṃ;
Passa kammānaṃ daḷhattaṃ, na bhasmā hoti napī masi.
The body of those hell-dwellers is like fire. Behold the firmness of their kamma: they do not become ash, nor do they become soot.
‘Thân của những chúng sanh trong địa ngục ấy giống như lửa. Hãy xem sự vững chắc của các nghiệp, (thân) không trở thành tro, cũng không thành muội than.
‘‘Puratthimenapi dhāvanti, tato dhāvanti pacchimaṃ;
Uttarenapi dhāvanti, tato dhāvanti dakkhiṇaṃ.
They run to the east; from there, they run to the west. They run to the north; from there, they run to the south.
‘Họ chạy về phía đông, rồi từ đó họ chạy về phía tây. Họ cũng chạy về phía bắc, rồi từ đó họ chạy về phía nam.
‘‘Yaṃ yaṃ disaṃ padhāvanti †, taṃ taṃ dvāraṃ pidhīyati †;
Abhinikkhamitāsā te, sattā mokkhagavesino.
Whichever direction they run towards, that very door is shut. Those beings, desiring to escape, are seekers of release.
‘Bất cứ phương hướng nào họ chạy đến, cánh cửa ở đó liền đóng lại. Những chúng sanh ấy, những người tìm kiếm sự giải thoát, mong muốn thoát ra ngoài.
‘‘Na te tato nikkhamituṃ, labhanti kammapaccayā;
Tesañca pāpakammantaṃ, avipakkaṃ kataṃ bahu’’nti.
They do not get to exit from there on account of their kamma. And for them, much evil action that was done is still unripened.
‘Do duyên của nghiệp, họ không thể thoát ra khỏi nơi đó. Và còn nhiều hành vi xấu ác của họ đã làm mà chưa trổ quả.’
Etaṃ bhayaṃ dukkhaṃ domanassaṃ kuto tassa? Attadaṇḍato jātaṃ sañjātaṃ nibbattaṃ abhinibbattaṃ pātubhūtaṃ. Yāni ca nerayikāni dukkhāni yāni ca tiracchānayonikāni dukkhāni yāni ca pettivisayikāni dukkhāni yāni ca mānusikāni dukkhāni; tāni kuto jātāni kuto sañjātāni kuto nibbattāni kuto abhinibbattāni kuto pātubhūtāni? Attadaṇḍato jātāni sañjātāni nibbattāni abhinibbattāni pātubhūtānīti – attadaṇḍā bhayaṃ jātaṃ.
This fear, suffering, and displeasure—whence is it for that person? It is born from the rod within oneself, it has arisen, it is produced, it is fully produced, it has manifested. And whatever sufferings there are in hell, whatever sufferings there are in the animal realm, whatever sufferings there are in the realm of ghosts, and whatever sufferings there are among humans—whence are they born? Whence have they arisen? Whence are they produced? Whence are they fully produced? Whence have they manifested? They are born from the rod within oneself, they have arisen, they are produced, they are fully produced, they have manifested. Thus: from the rod within oneself, fear is born.
Sự sợ hãi, khổ đau, ưu phiền này của người ấy từ đâu mà có? (Nó) được sanh ra, được phát sanh, được khởi sanh, được sanh khởi hoàn toàn, được biểu hiện từ sự trừng phạt của tự thân. Và những khổ đau ở địa ngục, những khổ đau ở loài bàng sanh, những khổ đau ở cõi ngạ quỷ, và những khổ đau ở cõi người; chúng từ đâu được sanh ra, từ đâu được phát sanh, từ đâu được khởi sanh, từ đâu được sanh khởi hoàn toàn, từ đâu được biểu hiện? (Chúng) được sanh ra, được phát sanh, được khởi sanh, được sanh khởi hoàn toàn, được biểu hiện từ sự trừng phạt của tự thân – do sự trừng phạt của tự thân mà sự sợ hãi được sanh ra.
Janaṃ passatha medhaganti. Jananti khattiyā ca brāhmaṇā ca vessā ca suddā ca gahaṭṭhā ca pabbajitā ca devā ca manussā ca medhagaṃ janaṃ kalahaṃ janaṃ viruddhaṃ janaṃ paṭiviruddhaṃ janaṃ āhataṃ janaṃ paccāhataṃ janaṃ āghātitaṃ janaṃ paccāghātitaṃ janaṃ passatha dakkhatha oloketha nijjhāyetha upaparikkhathāti – janaṃ passatha medhagaṃ.
Behold the people in conflict. 'People' means: nobles, brahmins, merchants, laborers, householders, renunciants, gods, and humans. People in conflict, people in strife, people in opposition, people opposed in turn, people who are struck, people who are struck back, people who bear grudges, people who bear grudges in turn. Behold, see with wisdom, look, observe intently, investigate—behold the people in conflict.
Hãy nhìn xem chúng sanh đang xung đột. ‘Chúng sanh’ là: các vị Sát-đế-lỵ, các vị Bà-la-môn, các vị Phệ-xá, các vị Thủ-đà-la, các vị tại gia, các vị xuất gia, các vị chư thiên, và loài người. Hãy nhìn xem chúng sanh đang xung đột, chúng sanh đang cãi vã, chúng sanh đang chống đối, chúng sanh đang đối nghịch nhau, chúng sanh đang va chạm, chúng sanh đang va chạm lẫn nhau, chúng sanh đang thù hận, chúng sanh đang thù hận lẫn nhau; hãy thấy, hãy nhận thức, hãy quan sát, hãy chiêm nghiệm, hãy thẩm xét – ấy là ‘hãy nhìn xem chúng sanh đang xung đột’.
Saṃvegaṃ kittayissāmīti. Saṃvegaṃ ubbegaṃ utrāsaṃ bhayaṃ pīḷanaṃ ghaṭṭanaṃ upaddavaṃ upasaggaṃ. Kittayissāmīti pakittayissāmi ācikkhissāmi desessāmi paññapessāmi paṭṭhapessāmi vivarissāmi vibhajissāmi uttānīkarissāmi pakāsissāmīti – saṃvegaṃ kittayissāmi.
I will proclaim a sense of spiritual urgency. 'A sense of spiritual urgency' means agitation, terror, fear, oppression, friction, calamity, and danger. 'I will proclaim' means: I will declare, I will explain, I will teach, I will make known, I will set forth, I will reveal, I will analyze, I will make plain, I will make manifest—I will proclaim a sense of spiritual urgency.
Ta sẽ kể về sự xúc động. ‘Sự xúc động’ là sự kinh sợ, sự kinh hãi, sự sợ hãi, sự bức bách, sự va chạm, sự tai ương, sự nguy hiểm. ‘Ta sẽ kể’ là ta sẽ tuyên thuyết, ta sẽ chỉ rõ, ta sẽ thuyết giảng, ta sẽ làm cho biết, ta sẽ thiết lập, ta sẽ khai mở, ta sẽ phân tích, ta sẽ làm cho rõ ràng, ta sẽ công bố – ấy là ‘ta sẽ kể về sự xúc động’.
Yathā saṃvijitaṃ mayāti. Yathā mayā attanāyeva attānaṃ saṃvejito ubbejito saṃvegamāpāditoti – yathā saṃvijitaṃ mayā.
As it was experienced with urgency by me. Just as I, by my very self, was stirred to agitation, greatly stirred to agitation, and brought to a state of spiritual urgency—thus, as it was experienced with urgency by me.
Như đã được ta xúc động. ‘Như đã được ta xúc động’ là như cách ta, bởi chính tự thân, đã làm cho tự thân xúc động, đã làm cho kinh sợ, đã đạt đến sự xúc động – ấy là ‘như đã được ta xúc động’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Attadaṇḍā bhayaṃ jātaṃ, janaṃ passatha medhagaṃ;
Saṃvegaṃ kittayissāmi, yathā saṃvijitaṃ mayā’’ti.
From taking up the rod, fear is born; behold the people in conflict. I will proclaim a sense of spiritual urgency, as it was experienced with urgency by me.
‘Do sự trừng phạt của tự thân mà sự sợ hãi được sanh ra, hãy nhìn xem chúng sanh đang xung đột. Ta sẽ kể về sự xúc động, như ta đã cảm thấy xúc động.’
171.
171.
171.
Phandamānaṃ pajaṃ disvā, macche appodake yathā;
Aññamaññehi byāruddhe, disvā maṃ bhayamāvisi.
Seeing the populace trembling, like fish in little water; seeing them in opposition to one another, fear entered into me.
Thấy chúng sanh đang run rẩy, giống như loài cá trong vũng nước cạn; thấy họ xung đột với nhau, sự sợ hãi đã xâm chiếm ta.
Phandamānaṃ pajaṃ disvāti. Pajāti sattādhivacanaṃ. Pajaṃ taṇhāphandanāya phandamānaṃ diṭṭhiphandanāya phandamānaṃ kilesaphandanāya phandamānaṃ duccaritaphandanāya phandamānaṃ payogaphandanāya phandamānaṃ vipākaphandanāya phandamānaṃ rattaṃ rāgena phandamānaṃ duṭṭhaṃ dosena phandamānaṃ mūḷhaṃ mohena phandamānaṃ vinibaddhaṃ mānena phandamānaṃ parāmaṭṭhaṃ diṭṭhiyā phandamānaṃ vikkhepagataṃ uddhaccena phandamānaṃ aniṭṭhaṅgataṃ vicikicchāya phandamānaṃ thāmagataṃ anusayehi phandamānaṃ lābhena phandamānaṃ alābhena phandamānaṃ yasena phandamānaṃ ayasena phandamānaṃ pasaṃsāya phandamānaṃ nindāya phandamānaṃ sukhena phandamānaṃ dukkhena phandamānaṃ jātiyā phandamānaṃ jarāya phandamānaṃ byādhinā phandamānaṃ maraṇena phandamānaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi phandamānaṃ nerayikena dukkhena phandamānaṃ tiracchānayonikena dukkhena phandamānaṃ pettivisayikena dukkhena phandamānaṃ mānusikena dukkhena phandamānaṃ gabbhokkantimūlakena dukkhena… gabbhaṭṭhitimūlakena † dukkhena… gabbhāvuṭṭhānamūlakena dukkhena… jātassūpanibandhakena dukkhena… jātassa parādheyyakena dukkhena… attūpakkamena dukkhena… parūpakkamena dukkhena… dukkhadukkhena… saṅkhāradukkhena… vipariṇāmadukkhena… cakkhurogena dukkhena… sotarogena … ghānarogena… jivhārogena … kāyarogena… sīsarogena … kaṇṇarogena… mukharogena… dantarogena… kāsena… sāsena… pināsena… ḍāhena… jarena… kucchirogena… mucchāya… pakkhandikāya… sūlāya… visūcikāya… kuṭṭhena… gaṇḍena… kilāsena… sosena… apamārena… dadduyā… kaṇḍuyā… kacchuyā… rakhasāya… vitacchikāya… lohitena… pittena… madhumehena… aṃsāya… pīḷakāya… bhagandalena… pittasamuṭṭhānena ābādhena… semhasamuṭṭhānena ābādhena… vātasamuṭṭhānena ābādhena… sannipātikena ābādhena… utupariṇāmajena ābādhena… visamaparihārajena ābādhena … opakkamikena ābādhena… kammavipākajena ābādhena… sītena… uṇhena… jighacchāya… pipāsāya… uccārena… passāvena… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassena dukkhena… mātumaraṇena dukkhena… pitumaraṇena dukkhena… bhātumaraṇena dukkhena… bhaginimaraṇena dukkhena… puttamaraṇena dukkhena… dhītumaraṇena dukkhena… ñātimaraṇena dukkhena… bhogabyasanena dukkhena… rogabyasanena dukkhena… sīlabyasanena dukkhena… diṭṭhibyasanena dukkhena phandamānaṃ samphandamānaṃ vipphandamānaṃ vedhamānaṃ pavedhamānaṃ sampavedhamānaṃ. Disvāti disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – phandamānaṃ pajaṃ disvā.
Seeing the trembling beings. 'Beings' is a designation for sentient creatures. Beings trembling with the trembling of craving, trembling with the trembling of views, trembling with the trembling of defilements, trembling with the trembling of misconduct, trembling with the trembling of exertion, trembling with the trembling of results; trembling, impassioned by passion; trembling, corrupted by hatred; trembling, deluded by delusion; trembling, bound by conceit; trembling, misapprehended by wrong view; trembling, scattered by restlessness; trembling, unresolved through doubt; trembling, empowered by underlying tendencies; trembling with gain, trembling with loss, trembling with fame, trembling with lack of fame, trembling with praise, trembling with blame, trembling with pleasure, trembling with pain, trembling with birth, trembling with aging, trembling with sickness, trembling with death, trembling with sorrow, lamentation, pain, grief, and despair; trembling with the suffering of hell, trembling with the suffering of the animal realm, trembling with the suffering of the realm of petas, trembling with human suffering; trembling with suffering rooted in descending into the womb, trembling with suffering rooted in remaining in the womb, trembling with suffering rooted in emerging from the womb, trembling with the suffering that is binding for one who is born, trembling with the suffering of being dependent on others for one who is born, trembling with suffering caused by one's own exertion, trembling with suffering caused by others' exertion, trembling with suffering-as-suffering, trembling with the suffering of formations, trembling with the suffering of change; trembling with eye disease, trembling with ear disease, trembling with nose disease, trembling with tongue disease, trembling with body disease, trembling with head disease, trembling with ear disease, trembling with mouth disease, trembling with tooth disease, trembling with cough, trembling with asthma, trembling with catarrh, trembling with burning sensation, trembling with fever, trembling with stomach disease, trembling with fainting, trembling with dysentery, trembling with sharp pain, trembling with cholera, trembling with leprosy, trembling with boils, trembling with eczema, trembling with consumption, trembling with epilepsy, trembling with ringworm, trembling with itching, trembling with scabies, trembling with scratches, trembling with chapped skin, trembling with hemorrhagic bile, trembling with diabetes, trembling with shoulder sores, trembling with abscesses, trembling with fistulas; trembling with ailments originating from bile, trembling with ailments originating from phlegm, trembling with ailments originating from wind, trembling with ailments originating from their combination, trembling with ailments originating from a change of season, trembling with ailments originating from improper care, trembling with ailments originating from assault, trembling with ailments originating from karmic results; trembling with cold, trembling with heat, trembling with hunger, trembling with thirst, trembling with excrement, trembling with urine, trembling with suffering from contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; trembling with the death of a mother, trembling with the death of a father, trembling with the death of a brother, trembling with the death of a sister, trembling with the death of a son, trembling with the death of a daughter, trembling with the death of relatives, trembling with the loss of wealth, trembling with the affliction of disease, trembling with the loss of virtue, trembling with the loss of right view—trembling, thoroughly trembling, variously trembling, shaking, violently shaking, and thoroughly shaking. 'Seeing' means having seen, having looked, having weighed, having investigated, having made clear, and having made manifest—thus, seeing the trembling beings.
‘Phandamānaṃ pajaṃ disvāti’ (Thấy chúng sanh đang run rẩy). ‘Pajā’ là danh từ chỉ cho chúng sanh. (Thấy) chúng sanh đang run rẩy do sự rung động của ái dục, đang run rẩy do sự rung động của tà kiến, đang run rẩy do sự rung động của phiền não, đang run rẩy do sự rung động của ác hạnh, đang run rẩy do sự rung động của sự cố gắng, đang run rẩy do sự rung động của quả dị thục, đang run rẩy do tham ái đã bị nhiễm, đang run rẩy do sân hận đã bị tổn hại, đang run rẩy do si mê đã bị mê mờ, đang run rẩy do ngã mạn đã bị trói buộc, đang run rẩy do tà kiến đã bị chấp thủ, đang run rẩy do trạo cử đã đi đến tán loạn, đang run rẩy do hoài nghi đã không đi đến quyết định, đang run rẩy do các tùy miên đã đi đến sức mạnh, đang run rẩy do lợi lộc, đang run rẩy do không lợi lộc, đang run rẩy do danh vọng, đang run rẩy do không danh vọng, đang run rẩy do tán thán, đang run rẩy do chê bai, đang run rẩy do lạc, đang run rẩy do khổ, đang run rẩy do sanh, đang run rẩy do già, đang run rẩy do bệnh, đang run rẩy do chết, đang run rẩy do sầu, bi, khổ, ưu, não, đang run rẩy do khổ ở địa ngục, đang run rẩy do khổ ở loài bàng sanh, đang run rẩy do khổ ở cảnh giới ngạ quỷ, đang run rẩy do khổ ở cõi người, đang run rẩy do khổ lấy việc nhập thai làm gốc rễ… do khổ lấy việc trú trong thai làm gốc rễ… do khổ lấy việc ra khỏi thai làm gốc rễ… do khổ trói buộc kẻ được sanh ra… do khổ phụ thuộc vào người khác của kẻ được sanh ra… do khổ do tự mình nỗ lực… do khổ do người khác nỗ lực… do khổ khổ… do hành khổ… do hoại khổ… do khổ của bệnh mắt… bệnh tai… bệnh mũi… bệnh lưỡi… bệnh thân… bệnh đầu… bệnh tai… bệnh miệng… bệnh răng… do ho, suyễn, viêm mũi, nóng sốt, sốt rét, bệnh bụng, ngất xỉu, kiết lỵ, đau nhói, thổ tả, phong cùi, ung nhọt, bạch biến, lao, động kinh, ghẻ lở, ngứa, mụn nhọt, phát ban, nứt nẻ, bệnh máu, bệnh mật, tiểu đường, đau vai, mụn nhọt, trĩ, bệnh do mật sanh khởi… bệnh do đàm sanh khởi… bệnh do gió sanh khởi… bệnh do ba thứ (đàm, mật, gió) hợp lại… bệnh do thời tiết thay đổi… bệnh do sinh hoạt không điều độ… bệnh do bị tấn công… bệnh do quả của nghiệp… do lạnh… do nóng… do đói… do khát… do đại tiện… do tiểu tiện… do khổ bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát… do khổ vì mẹ chết… do khổ vì cha chết… do khổ vì anh em trai chết… do khổ vì chị em gái chết… do khổ vì con trai chết… do khổ vì con gái chết… do khổ vì quyến thuộc chết… do khổ vì tài sản tổn thất… do khổ vì bệnh tật tổn thất… do khổ vì giới hạnh tổn thất… do khổ vì tri kiến tổn thất, đang run rẩy, đang rung động, đang rung chuyển, đang lay động, đang chấn động, đang rung lắc. ‘Disvāti’ (thấy) là: đã thấy, đã quan sát, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ. – (Đây là ý nghĩa của) ‘phandamānaṃ pajaṃ disvā’.
Macche appodake yathāti yathā macchā appodake udakapariyādāne kākehi vā kulalehi vā balākāhi vā paripātiyamānā ukkhipiyamānā khajjamānā phandanti samphandanti vipphandanti vedhanti pavedhanti sampavedhanti; evameva pajā taṇhāphandanāya phandanti…pe… diṭṭhibyasanena dukkhena phandanti samphandanti vipphandanti vedhanti pavedhanti sampavedhantīti – macche appodake yathā.
Just as fish in little water: as fish in little water, when the water is exhausted, being pecked at by crows, or ospreys, or herons, being taken out, and being eaten, tremble, tremble violently, tremble in various ways, shake, shake in various ways, and shake violently; in this same way, beings tremble with the trembling that is craving... with the suffering from the calamity of views, they tremble, tremble violently, tremble in various ways, shake, shake in various ways, and shake violently. This is the meaning of 'just as fish in little water'.
‘Macche appodake yathā’ (Như cá trong nước cạn) có nghĩa là: Giống như các loài cá trong nước cạn, khi nước đã cạn kiệt, bị các loài quạ, hoặc diều hâu, hoặc cò mổ, lôi ra, và ăn thịt, chúng run rẩy, rung động, rung chuyển, lay động, chấn động, rung lắc; cũng tương tự như thế, chúng sanh run rẩy do sự rung động của ái dục... (vân vân)... run rẩy do khổ vì tri kiến tổn thất, chúng run rẩy, rung động, rung chuyển, lay động, chấn động, rung lắc. – (Đây là ý nghĩa của) ‘macche appodake yathā’.
Aññamaññehi byāruddheti aññamaññaṃ sattā viruddhā paṭiviruddhā āhatā paccāhatā āghātitā paccāghātitā. Rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatīpi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhaginīpi bhaginiyā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginipi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati; te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṃ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti, te tattha maraṇampi nigacchanti maraṇamattampi dukkhanti – aññamaññehi byāruddhe.
Mutually opposed: beings are opposed to one another, mutually opposed, striking and striking back, afflicting and afflicting back. Kings also dispute with kings, nobles also dispute with nobles, brahmins also dispute with brahmins, householders also dispute with householders. A mother also disputes with her son, a son also with his mother; a father also disputes with his son, a son also with his father; a brother also disputes with a brother, a sister also disputes with a sister; a brother also disputes with a sister, a sister also disputes with a brother; a friend also disputes with a friend. They, having fallen into quarreling, contention, and disputes, attack one another with hands, with clods, with rods, and with weapons. There, they reach death or suffering equivalent to death. This is the meaning of 'mutually opposed'.
‘Aññamaññehi byāruddhe’ (Mâu thuẫn với nhau) có nghĩa là: Các chúng sanh mâu thuẫn, đối nghịch lẫn nhau, đả thương và đả thương lại, hãm hại và hãm hại lại. Các vị vua cũng tranh chấp với các vị vua, các Sát-đế-lỵ cũng tranh chấp với các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn cũng tranh chấp với các Bà-la-môn, các gia chủ cũng tranh chấp với các gia chủ, mẹ cũng tranh chấp với con trai, con trai cũng tranh chấp với mẹ, cha cũng tranh chấp với con trai, con trai cũng tranh chấp với cha, anh em trai cũng tranh chấp với anh em trai, chị em gái cũng tranh chấp với chị em gái, anh trai cũng tranh chấp với em gái, chị gái cũng tranh chấp với em trai, bạn bè cũng tranh chấp với bạn bè; họ ở trong đó, rơi vào cãi vã, xung đột, tranh chấp, rồi tấn công lẫn nhau bằng tay, tấn công bằng đất đá, tấn công bằng gậy gộc, tấn công bằng vũ khí. Họ ở trong đó, đi đến cái chết hoặc (chịu) sự đau khổ tương đương với cái chết. – (Đây là ý nghĩa của) ‘aññamaññehi byāruddhe’.
Disvā maṃ bhayamāvisīti. Disvāti disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā bhayaṃ pīḷanaṃ ghaṭṭanaṃ upaddavo upasaggo āvisīti † – disvā maṃ bhayamāvisi.
'Having seen, fear entered me': 'Having seen' means having seen, having observed, having weighed, having investigated, having made clear, and having made manifest. 'Fear' is oppression, impact, calamity, and peril. 'Entered' means it entered and was established. This is the meaning of the phrase 'having seen, fear entered me'.
‘Disvā maṃ bhayamāvisi’ (Thấy vậy, sự sợ hãi xâm chiếm tôi). ‘Disvāti’ (thấy) là: đã thấy, đã quan sát, đã cân nhắc, đã thẩm xét, đã làm cho rõ ràng, đã làm cho hiển lộ. Sự sợ hãi, sự bức bách, sự va chạm, tai ương, hiểm họa đã xâm chiếm. – (Đây là ý nghĩa của) ‘disvā maṃ bhayamāvisi’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Phandamānaṃ pajaṃ disvā, macche appodake yathā;
Aññamaññehi byāruddhe, disvā maṃ bhayamāvisī’’ti.
“Seeing the trembling populace, like fish in little water, and mutually opposed, fear entered me.”
“Thấy chúng sanh đang run rẩy, như loài cá trong nước cạn; Thấy họ mâu thuẫn với nhau, sự sợ hãi xâm chiếm tôi.”
172.
172.
172.
Samantamasāro loko, disā sabbā sameritā;
Icchaṃ bhavanamattano, nāddasāsiṃ anositaṃ.
All around, the world is without essence; all directions are shaken. Desiring a refuge for myself, I saw no place unassailed.
Thế gian khắp nơi không cốt lõi, mọi phương trời đều rúng động; Mong tìm một nơi nương náu cho mình, tôi không thấy nơi nào không bị chiếm hữu.
Samantamasāro lokoti. Lokoti nirayaloko tiracchānayoniloko pettivisayaloko manussaloko devaloko, khandhaloko dhātuloko āyatanaloko, ayaṃ loko paro loko, brahmaloko devaloko – ayaṃ vuccati loko. Nirayaloko asāro nissāro sārāpagato niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Tiracchānayoniloko…pe… pettivisayaloko… manussaloko… devaloko… khandhaloko… dhātuloko… āyatanaloko… ayaṃ loko… paro loko… brahmaloko… devaloko asāro nissāro sārāpagato niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā.
The world is entirely without essence. Herein, 'the world' refers to: the hell world, the animal-womb world, the ghost-realm world, the human world, the deva world; the world of aggregates, the world of elements, the world of sense-bases; this world, the next world; the Brahma world, the deva world—this is called 'the world'. The hell world is without essence, entirely without essence, devoid of essence; it is devoid of the essence of permanence, or the essence of pleasure, or the essence of self, or of permanence, or of stability, or of eternality, or of an unchanging nature. The animal-womb world... and so on... the ghost-realm world... the human world... the deva world... the world of aggregates... the world of elements... the world of sense-bases... this world... the next world... the Brahma world... the deva world is without essence, entirely without essence, devoid of essence; it is devoid of the essence of permanence, or the essence of pleasure, or the essence of self, or of permanence, or of stability, or of eternality, or of an unchanging nature.
Thế giới hoàn toàn không có cốt lõi (Samantamasāro loko'ti). Thế giới (loko'ti) là: thế giới địa ngục, thế giới súc sanh, thế giới ngạ quỷ, thế giới loài người, thế giới chư thiên; thế giới các uẩn, thế giới các giới, thế giới các xứ; thế giới này, thế giới sau; thế giới Phạm thiên, thế giới chư thiên – đây được gọi là thế giới. Thế giới địa ngục không có cốt lõi (asāro), hoàn toàn không có cốt lõi (nissāro), đã lìa cốt lõi (sārāpagato), đã lìa khỏi cốt lõi thường hằng, hoặc cốt lõi an lạc, hoặc cốt lõi tự ngã, hoặc (đã lìa khỏi) sự thường hằng, sự bền vững, sự vĩnh cửu, hoặc bản chất không biến đổi. Thế giới súc sanh... (v.v.)... thế giới ngạ quỷ... thế giới loài người... thế giới chư thiên... thế giới các uẩn... thế giới các giới... thế giới các xứ... thế giới này... thế giới sau... thế giới Phạm thiên... thế giới chư thiên không có cốt lõi, hoàn toàn không có cốt lõi, đã lìa cốt lõi, đã lìa khỏi cốt lõi thường hằng, hoặc cốt lõi an lạc, hoặc cốt lõi tự ngã, hoặc (đã lìa khỏi) sự thường hằng, sự bền vững, sự vĩnh cửu, hoặc bản chất không biến đổi.
Yathā pana naḷo asāro nissāro sārāpagato, yathā eraṇḍo asāro nissāro sārāpagato, yathā udumbaro asāro nissāro sārāpagato, yathā setakaccho asāro nissāro sārāpagato, yathā pāribhaddako asāro nissāro sārāpagato, yathā pheṇapiṇḍo asāro nissāro sārāpagato, yathā udakapubbuḷaṃ † asāraṃ nissāraṃ sārāpagataṃ, yathā marīci asārā nissārā sārāpagatā, yathā kadalikkhandho asāro nissāro sārāpagato, yathā māyā asārā nissārā sārāpagatā; evameva nirayaloko asāro nissāro sārāpagato niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā.
Just as a reed is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a castor-oil plant is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a fig tree is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a white climbing plant is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a coral tree is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a lump of foam is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a water bubble is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as a mirage is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as the trunk of a plantain tree is without essence, entirely without essence, devoid of essence; just as an illusion is without essence, entirely without essence, devoid of essence; even so, the hell world is without essence, entirely without essence, devoid of essence; it is devoid of the essence of permanence, or the essence of pleasure, or the essence of self, or of permanence, or of stability, or of eternality, or of an unchanging nature.
Ví như cây sậy không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như cây thầu dầu không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như cây sung không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như cây setakaccha không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như cây vông nem không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như cục bọt không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như bong bóng nước không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như ảo ảnh không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như thân cây chuối không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; ví như ảo thuật không có lõi, hoàn toàn không có lõi, đã lìa lõi; cũng vậy, thế giới địa ngục không có cốt lõi, hoàn toàn không có cốt lõi, đã lìa cốt lõi, đã lìa khỏi cốt lõi thường hằng, hoặc cốt lõi an lạc, hoặc cốt lõi tự ngã, hoặc (đã lìa khỏi) sự thường hằng, sự bền vững, sự vĩnh cửu, hoặc bản chất không biến đổi.
Tiracchānayoniloko… pettivisayaloko… manussaloko… devaloko asāro nissāro sārāpagato niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Khandhaloko… dhātuloko… āyatanaloko… ayaṃ loko… paro loko… brahmaloko… devaloko asāro nissāro sārāpagato niccasārasārena vā sukhasārasārena vā attasārasārena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vāti – samantamasāro loko.
The animal-womb world… the ghost-realm world… the human world… the deva world is without essence, entirely without essence, devoid of essence; it is devoid of the essence of permanence, or the essence of pleasure, or the essence of self, or of permanence, or of stability, or of eternality, or of an unchanging nature. The world of aggregates… the world of elements… the world of sense-bases… this world… the next world… the Brahma world… the deva world is without essence, entirely without essence, devoid of essence; it is devoid of the essence of permanence, or the essence of pleasure, or the essence of self, or of permanence, or of stability, or of eternality, or of an unchanging nature. This is the meaning of 'the world is entirely without essence'.
Thế giới súc sanh... thế giới ngạ quỷ... thế giới loài người... thế giới chư thiên không có cốt lõi, hoàn toàn không có cốt lõi, đã lìa cốt lõi, đã lìa khỏi cốt lõi thường hằng, hoặc cốt lõi an lạc, hoặc cốt lõi tự ngã, hoặc (đã lìa khỏi) sự thường hằng, sự bền vững, sự vĩnh cửu, hoặc bản chất không biến đổi. Thế giới các uẩn... thế giới các giới... thế giới các xứ... thế giới này... thế giới sau... thế giới Phạm thiên... thế giới chư thiên không có cốt lõi, hoàn toàn không có cốt lõi, đã lìa cốt lõi, đã lìa khỏi cốt lõi thường hằng, hoặc cốt lõi an lạc, hoặc cốt lõi tự ngã, hoặc (đã lìa khỏi) sự thường hằng, sự bền vững, sự vĩnh cửu, hoặc bản chất không biến đổi – (như vậy là ý nghĩa của) thế giới hoàn toàn không có cốt lõi.
Disā sabbā sameritāti. Ye puratthimāya disāya saṅkhārā, tepi eritā sameritā calitā ghaṭṭitā aniccatāya jātiyā anugatā jarāya anusaṭā byādhinā abhibhūtā maraṇena abbhāhatā dukkhe patiṭṭhitā atāṇā aleṇā asaraṇā asaraṇībhūtā. Ye pacchimāya disāya saṅkhārā…pe… ye uttarāya disāya saṅkhārā… ye dakkhiṇāya disāya saṅkhārā… ye puratthimāya anudisāya saṅkhārā… ye pacchimāya anudisāya saṅkhārā… ye uttarāya anudisāya saṅkhārā… ye dakkhiṇāya anudisāya saṅkhārā… ye heṭṭhimāya disāya saṅkhārā… ye uparimāya disāya saṅkhārā… ye dasasu disāsu saṅkhārā, tepi eritā sameritā calitā ghaṭṭitā aniccatāya jātiyā anugatā jarāya anusaṭā byādhinā abhibhūtā maraṇena abbhāhatā dukkhe patiṭṭhitā atāṇā aleṇā asaraṇā asaraṇībhūtā. Bhāsitampi cetaṃ –
Regarding 'All directions are shaken': Whatever formations exist in the eastern direction, they too are shaken, thoroughly shaken, trembling, and afflicted; due to impermanence, they are beset by birth, pervaded by aging, overwhelmed by sickness, struck down by death, and established in suffering; they are without protection, without shelter, without refuge, and unable to be a refuge. Whatever formations exist in the western direction… and so on… in the northern direction… in the southern direction… in the northeastern direction… in the southwestern direction… in the northwestern direction… in the southeastern direction… in the downward direction… in the upward direction… whatever formations exist in these ten directions, they too are shaken, thoroughly shaken, trembling, and afflicted; due to impermanence, they are beset by birth, pervaded by aging, overwhelmed by sickness, struck down by death, and established in suffering; they are without protection, without shelter, without refuge, and unable to be a refuge. And this was spoken:
Mọi phương đều bị rung chuyển (Disā sabbā sameritā'ti). Những pháp hữu vi nào ở phương đông, chúng cũng bị rung động (eritā), rung chuyển mạnh (sameritā), lay động (calitā), bị va chạm (ghaṭṭitā) bởi sự vô thường, bị sanh theo sau, bị già lan khắp, bị bệnh chinh phục, bị chết tấn công, an trú trong khổ, không nơi che chở, không nơi ẩn náu, không nơi nương tựa, không thể tự làm nơi nương tựa. Những pháp hữu vi nào ở phương tây... (v.v.)... những pháp hữu vi nào ở phương bắc... những pháp hữu vi nào ở phương nam... những pháp hữu vi nào ở phương đông nam... những pháp hữu vi nào ở phương tây bắc... những pháp hữu vi nào ở phương đông bắc... những pháp hữu vi nào ở phương tây nam... những pháp hữu vi nào ở phương dưới... những pháp hữu vi nào ở phương trên... những pháp hữu vi nào ở mười phương, chúng cũng bị rung động, rung chuyển mạnh, lay động, bị va chạm bởi sự vô thường, bị sanh theo sau, bị già lan khắp, bị bệnh chinh phục, bị chết tấn công, an trú trong khổ, không nơi che chở, không nơi ẩn náu, không nơi nương tựa, không thể tự làm nơi nương tựa. Và điều này cũng đã được nói đến –
‘‘Kiñcāpi cetaṃ jalatī vimānaṃ, obhāsayaṃ uttariyaṃ disāya;
Rūpe raṇaṃ disvā sadā pavedhitaṃ, tasmā na rūpe ramatī sumedho.
“Though this palace is blazing, shining, most excellent in the direction, having seen the strife in form, it is always trembling. Therefore, the one of good wisdom does not delight in form.”
‘Dầu cho thiên cung này rực rỡ, chiếu sáng vượt trội khắp các phương; Thấy sự phiền não trong các sắc, (thế giới) luôn bị rung chuyển, do đó người có trí không hoan hỷ trong các sắc.’
‘‘Maccunābbhāhato loko, jarāya parivārito;
Taṇhāsallena otiṇṇo, icchādhūmāyito † sadā.
“The world is struck down by death, surrounded by aging; pierced by the arrow of craving, always fuming with desire.”
‘Thế giới bị thần chết tấn công, bị sự già nua bao vây; Bị mũi tên ái dục đâm vào, luôn bị khói của dục vọng bao phủ.’
‘‘Sabbo ādīpito loko, sabbo loko padhūpito;
Sabbo pajjalito loko, sabbo loko pakampito’’ti.
“The whole world is ablaze, the whole world is smoking; the whole world is aflame, the whole world is trembling.”
‘Toàn thể thế giới bị bốc cháy, toàn thể thế giới bốc khói; Toàn thể thế giới bừng cháy, toàn thể thế giới rung chuyển.’
Disā sabbā sameritā.
This is the meaning of 'All directions are shaken'.
Mọi phương đều bị rung chuyển.
Icchaṃ bhavanamattanoti. Attano bhavanaṃ tāṇaṃ leṇaṃ saraṇaṃ gatiṃ parāyanaṃ icchanto sādiyanto patthayanto pihayanto abhijappantoti – icchaṃ bhavanamattano. Nāddasāsiṃ anositanti. Ajjhositaṃyeva addasaṃ, anajjhositaṃ nāddasaṃ, sabbaṃ yobbaññaṃ jarāya ositaṃ, sabbaṃ ārogyaṃ byādhinā ositaṃ, sabbaṃ jīvitaṃ maraṇena ositaṃ, sabbaṃ lābhaṃ alābhena ositaṃ, sabbaṃ yasaṃ ayasena ositaṃ, sabbaṃ pasaṃsaṃ nindāya ositaṃ, sabbaṃ sukhaṃ dukkhena ositaṃ.
Regarding 'Desiring a dwelling for oneself': One who desires, approves of, longs for, yearns for, and intensely craves one's own dwelling, protection, shelter, refuge, destination, and final resort—this is the meaning of 'desiring a dwelling for oneself.' Regarding 'I did not see one that was unafflicted': I saw only the afflicted; I did not see the unafflicted. All youth is overcome by aging, all health is overcome by sickness, all life is overcome by death, all gain is overcome by loss, all fame is overcome by lack of fame, all praise is overcome by blame, all happiness is overcome by suffering.
Mong muốn một nơi trú ẩn cho bản thân (Icchaṃ bhavanamattano'ti). (Nghĩa là) mong muốn, chấp nhận, ước ao, khao khát, tham muốn nơi trú ẩn, nơi che chở, nơi ẩn náu, nơi nương tựa, cảnh giới, nơi nương tựa cuối cùng cho bản thân – (đó là ý nghĩa của) mong muốn một nơi trú ẩn cho bản thân. Tôi đã không thấy nơi nào không bị chi phối (Nāddasāsiṃ anositan'ti). Tôi chỉ thấy cái bị chi phối, tôi đã không thấy cái không bị chi phối. Toàn bộ tuổi trẻ bị sự già chi phối, toàn bộ sức khỏe bị bệnh tật chi phối, toàn bộ mạng sống bị cái chết chi phối, toàn bộ lợi lộc bị sự không lợi lộc chi phối, toàn bộ danh tiếng bị sự không danh tiếng chi phối, toàn bộ sự tán dương bị sự chê bai chi phối, toàn bộ sự an lạc bị sự đau khổ chi phối.
‘‘Lābho alābho yaso ayaso ca, nindā pasaṃsā ca sukhaṃ dukhañca;
Ete aniccā manujesu dhammā, asassatā vipariṇāmadhammā’’ti.
“Gain and loss, fame and disrepute, censure and praise, pleasure and pain—these conditions among humans are impermanent, not lasting, and subject to change.”
‘Được và mất, danh và không danh, chê và khen, lạc và khổ; Những pháp này nơi loài người là vô thường, không vĩnh cửu, có bản chất biến đổi.’
Nāddasāsiṃ anositaṃ.
This is the meaning of 'I did not see one that was unafflicted'.
Tôi đã không thấy nơi nào không bị chi phối.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Samantamasāro loko, disā sabbā sameritā;
Icchaṃ bhavanamattano, nāddasāsiṃ anosita’’nti.
“The world is without essence all around; all directions are shaken. Desiring a dwelling for myself, I did not see one that was unafflicted.”
‘Thế giới hoàn toàn không có cốt lõi, mọi phương đều bị rung chuyển; Mong muốn một nơi trú ẩn cho bản thân, tôi đã không thấy nơi nào không bị chi phối.’
173.
173.
173.
Osāne tveva byāruddhe, disvā me aratī ahu;
Athettha sallamaddakkhiṃ, duddasaṃ hadayassitaṃ.
Seeing beings afflicted by things that come to an end, discontent arose in me. Then, herein, I saw the dart, hard to see, lodged in the heart.
Khi thấy (chúng sanh) bị cản trở, sắp đi đến chỗ kết thúc, sự không hoan hỷ đã phát sanh nơi tôi; Rồi ở đây, tôi đã thấy mũi tên khó thấy, nằm ẩn trong tim.
Osāne tveva byāruddheti. Osāne tvevāti sabbaṃ yobbaññaṃ jarā osāpeti, sabbaṃ ārogyaṃ byādhi osāpeti, sabbaṃ jīvitaṃ maraṇaṃ osāpeti, sabbaṃ lābhaṃ alābho osāpeti, sabbaṃ yasaṃ ayaso osāpeti, sabbaṃ pasaṃsaṃ nindā osāpeti, sabbaṃ sukhaṃ dukkhaṃ osāpetīti – osāne tveva. Byāruddheti yobbaññakāmā sattā jarāya paṭiviruddhā, ārogyakāmā sattā byādhinā paṭiviruddhā, jīvitukāmā sattā maraṇena paṭiviruddhā, lābhakāmā sattā alābhena paṭiviruddhā, yasakāmā sattā ayasena paṭiviruddhā, pasaṃsakāmā sattā nindāya paṭiviruddhā, sukhakāmā sattā dukkhena paṭiviruddhā āhatā paccāhatā āghātitā paccāghātitāti – osāne tveva byāruddhe.
‘Because it comes to an end, and because they are afflicted.’ ‘Because it comes to an end’ means: all youth is brought to an end by aging, all health is brought to an end by sickness, all life is brought to an end by death, all gain is brought to an end by loss, all fame is brought to an end by lack of fame, all praise is brought to an end by blame, all happiness is brought to an end by suffering—this is the meaning of ‘because it comes to an end.’ ‘Because they are afflicted’ means: beings who desire youth are opposed by aging, beings who desire health are opposed by sickness, beings who desire life are opposed by death, beings who desire gain are opposed by loss, beings who desire fame are opposed by lack of fame, beings who desire praise are opposed by blame, and beings who desire happiness are opposed by suffering; they are struck, struck back, afflicted, and afflicted again—this is the meaning of ‘because it comes to an end, and because they are afflicted.’
Osāne tveva byāruddheti (bị kết thúc và bị chống đối). Osāne tveva (bị kết thúc) có nghĩa là: Sự già nua làm kết thúc tất cả tuổi trẻ, bệnh tật làm kết thúc tất cả sự không bệnh, sự chết làm kết thúc tất cả sự sống, sự không được lợi làm kết thúc tất cả sự được lợi, sự không danh tiếng làm kết thúc tất cả danh tiếng, sự chê bai làm kết thúc tất cả sự tán dương, sự đau khổ làm kết thúc tất cả sự an lạc. Như thế là ý nghĩa của osāne tveva. Byāruddhe (bị chống đối) có nghĩa là: Các chúng sanh mong muốn tuổi trẻ thì bị chống đối bởi sự già nua, các chúng sanh mong muốn sự không bệnh thì bị chống đối bởi bệnh tật, các chúng sanh mong muốn sự sống thì bị chống đối bởi sự chết, các chúng sanh mong muốn sự được lợi thì bị chống đối bởi sự không được lợi, các chúng sanh mong muốn danh tiếng thì bị chống đối bởi sự không danh tiếng, các chúng sanh mong muốn sự tán dương thì bị chống đối bởi sự chê bai, các chúng sanh mong muốn sự an lạc thì bị chống đối bởi sự đau khổ, bị đả thương, bị đả thương nhiều lần, bị hành hạ, bị hành hạ nhiều lần. Như thế là ý nghĩa của osāne tveva byāruddhe.
Disvā me aratī ahūti. Disvāti disvā passitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvāti – disvā. Me aratīti yā arati yā anabhirati yā anabhiramanā yā ukkaṇṭhitā yā paritasitā ahūti – disvā me aratī ahu.
‘Seeing, for me discontent arose.’ `Disvā` means: having seen, having observed, having weighed, having investigated, having made clear, having made manifest. `Me aratī ahu` means: whatever discontent, whatever non-delight, whatever state of not delighting, whatever weariness, whatever anxiety arose. This is the meaning of ‘Seeing, for me discontent arose.’
Disvā me aratī ahūti (sau khi thấy, sự không hoan hỷ đã sanh khởi đến tôi). Disvā (sau khi thấy) có nghĩa là: Sau khi thấy, sau khi quan sát, sau khi cân nhắc, sau khi phán đoán, sau khi làm cho rõ ràng, sau khi đã làm cho hiển hiện. Như thế là ý nghĩa của disvā. Me aratī ahu (sự không hoan hỷ đã sanh khởi đến tôi) có nghĩa là: Sự không hoan hỷ nào, sự không thích thú nào, sự không vui thích nào, sự chán nản nào, sự kinh sợ nào đã sanh khởi. Như thế là ý nghĩa của disvā me aratī ahu.
Athettha sallamaddakkhinti. Athāti padasandhi…pe… padānupubbatāpetaṃ – athāti. Etthāti sattesu. Sallanti satta sallāni – rāgasallaṃ, dosasallaṃ, mohasallaṃ, mānasallaṃ, diṭṭhisallaṃ, sokasallaṃ, kathaṃkathāsallaṃ. Addakkhinti addasaṃ adakkhiṃ apassiṃ paṭivijjhinti – athettha sallamaddakkhiṃ.
‘Then here I saw the dart.’ `Atha` is a word conjunction… this is the sequence of words. `Ettha` means: in beings. `Sallaṃ`: there are seven darts—the dart of lust, the dart of hatred, the dart of delusion, the dart of conceit, the dart of views, the dart of sorrow, the dart of doubt. `Addakkhiṃ`: I saw, I looked, I observed, I knew by penetration. This is the meaning of ‘then here I saw the dart.’
Athettha sallamaddakkhinti (rồi ở đây, tôi đã thấy mũi tên). Atha là sự nối kết các từ ... cho đến ... đây là sự tuần tự của các từ. Như thế là ý nghĩa của atha. Ettha (ở đây) có nghĩa là: Ở nơi các chúng sanh. Sallaṃ (mũi tên) có nghĩa là: Bảy mũi tên – mũi tên tham ái, mũi tên sân hận, mũi tên si mê, mũi tên mạn, mũi tên tà kiến, mũi tên sầu muộn, mũi tên hoài nghi. Addakkhiṃ (tôi đã thấy) có nghĩa là: Tôi đã thấy, tôi đã nhận thấy, tôi đã quan sát, tôi đã thâm nhập. Như thế là ý nghĩa của athettha sallamaddakkhiṃ.
Duddasaṃ hadayassitanti. Duddasanti duddasaṃ duddakkhaṃ duppassaṃ dubbujjhaṃ duranubujjhaṃ duppaṭivijjhanti – duddasaṃ. Hadayassitanti hadayaṃ vuccati cittaṃ. Yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu. Hadayassitanti hadayanissitaṃ cittasitaṃ cittanissitaṃ cittena sahagataṃ sahajātaṃ saṃsaṭṭhaṃ sampayuttaṃ ekuppādaṃ ekanirodhaṃ ekavatthukaṃ ekārammaṇanti – duddasaṃ hadayassitaṃ.
‘Hard to see, lodged in the heart.’ `Duddasaṃ` means: hard to see, very difficult to see, hard to observe, hard to know, very hard to understand, very hard to penetrate. `Hadayassitaṃ` (lodged in the heart): the heart is said to be the mind. That which is mind (`citta`), `mano`, `mānasaṃ`, heart (`hadaya`), pure (`paṇḍara`), `mano`, the mind-base (`manāyatana`), the mind-faculty (`manindriya`), consciousness (`viññāṇa`), the consciousness-aggregate (`viññāṇakkhandha`), and the mind-consciousness-element (`manoviññāṇadhātu`) that arises in correspondence with them. `Hadayassitaṃ` means: based on the heart, adhering to the mind, dependent on the mind, accompanied by the mind, co-arisen, associated, conjoined, of single arising, of single ceasing, having a single base, and having a single object. This is the meaning of ‘hard to see, lodged in the heart.’
Duddasaṃ hadayassitanti (khó thấy, nằm trong tâm). Duddasaṃ (khó thấy) có nghĩa là: Khó thấy, rất khó thấy, khó quan sát, khó hiểu, rất khó hiểu, rất khó thâm nhập. Như thế là ý nghĩa của duddasaṃ. Hadayassitaṃ (nằm trong tâm) có nghĩa là: Hadaya (tâm) được gọi là citta (tâm). Cái nào là tâm (citta), ý (mano), tâm tư (mānasaṃ), tâm (hadayaṃ), trong sạch (paṇḍaraṃ), ý (mano), ý xứ (manāyatanaṃ), ý quyền (manindriyaṃ), thức (viññāṇaṃ), thức uẩn (viññāṇakkhandho), và ý thức giới tương ứng với chúng. Hadayassitaṃ (nằm trong tâm) có nghĩa là: Nương tựa nơi tâm, dính liền với tâm, nương tựa nơi tâm, đi cùng với tâm, đồng sanh, hòa trộn, tương ưng, đồng một sự sanh khởi, đồng một sự diệt tận, đồng một vật nương, đồng một đối tượng. Như thế là ý nghĩa của duddasaṃ hadayassitaṃ.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Osāne tveva byāruddhe, disvā me aratī ahu;
Athettha sallamaddakkhiṃ, duddasaṃ hadayassita’’nti.
‘At the end, indeed, when obstructed, seeing, for me discontent arose; then here I saw the dart, hard to see, lodged in the heart.’
“Khi bị kết thúc và bị chống đối, sau khi thấy, sự không hoan hỷ đã sanh khởi đến tôi; rồi ở đây, tôi đã thấy mũi tên, khó thấy, nằm trong tâm.”
174.
174.
174.
Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvati;
Tameva sallamabbuyha, na dhāvati na sīdati.
Pierced by which dart, one runs to all directions; having plucked out that very dart, one neither runs nor sinks.
“Bị mũi tên nào đâm trúng, người ấy chạy khắp mọi phương hướng; sau khi nhổ ra chính mũi tên ấy, người ấy không chạy, không chìm đắm.”
Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvatīti. Sallanti. Satta sallāni – rāgasallaṃ, dosasallaṃ, mohasallaṃ, mānasallaṃ, diṭṭhisallaṃ, sokasallaṃ, kathaṃkathāsallaṃ. Katamaṃ rāgasallaṃ? Yo rāgo sārāgo anunayo anurodho nandirāgo cittassa sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ – idaṃ rāgasallaṃ.
Regarding the line: ‘Pierced by which dart, one runs to all directions.’ `Sallaṃ` means: the dart. There are seven darts: the dart of lust, the dart of hatred, the dart of delusion, the dart of conceit, the dart of views, the dart of sorrow, and the dart of doubt. What is the dart of lust? Whatever lust, strong lust, affection, fondness, lustful delight, strong attachment of the mind… covetousness, greed, an unwholesome root—this is the dart of lust.
Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvati (Bị mũi tên nào đâm trúng, người ấy chạy khắp mọi phương hướng). Sallaṃ (mũi tên) có nghĩa là: Bảy mũi tên – mũi tên tham ái, mũi tên sân hận, mũi tên si mê, mũi tên mạn, mũi tên tà kiến, mũi tên sầu muộn, mũi tên hoài nghi. Mũi tên tham ái là gì? Sự tham ái nào, sự tham ái mãnh liệt, sự thuận theo, sự chống đối, sự tham ái trong hoan hỷ, sự tham ái mãnh liệt của tâm ... cho đến ... sự tham lam, lòng tham, gốc rễ bất thiện – đây là mũi tên tham ái.
Katamaṃ dosasallaṃ? ‘‘Anatthaṃ me acarī’’ti āghāto jāyati ‘‘anatthaṃ me caratī’’ti āghāto jāyati, ‘‘anatthaṃ me carissatī’’ti āghāto jāyati…pe… caṇḍikkaṃ asuropo anattamanatā cittassa – idaṃ dosasallaṃ.
What is the dart of aversion? Resentment arises thus: “He has done me harm.” Resentment arises thus: “He is doing me harm.” Resentment arises thus: “He will do me harm.” …pe… fierceness, hostility, and displeasure of mind—this is the dart of aversion.
Mũi tên sân hận là gì? Oán hận sanh khởi rằng: “Nó đã làm điều bất lợi cho ta.” Oán hận sanh khởi rằng: “Nó đang làm điều bất lợi cho ta.” Oán hận sanh khởi rằng: “Nó sẽ làm điều bất lợi cho ta.” ... cho đến ... sự hung dữ, lời nói xấu xa, sự không hài lòng của tâm – đây là mũi tên sân hận.
Katamaṃ mohasallaṃ? Dukkhe aññāṇaṃ…pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṃ, pubbante aññāṇaṃ, aparante aññāṇaṃ, pubbantāparante aññāṇaṃ, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu aññāṇaṃ. Yaṃ evarūpaṃ adassanaṃ anabhisamayo ananubodho asambodho appaṭivedho asaṅgāhaṇā apariyogāhaṇā † asamapekkhanā apaccavekkhanā apaccakkhakammaṃ dummejjhaṃ bālyaṃ moho pamoho sammoho avijjā avijjogho avijjāyogo avijjānusayo avijjāpariyuṭṭhānaṃ avijjālaṅgī moho akusalamūlaṃ – idaṃ mohasallaṃ.
What is the dart of delusion? Ignorance of suffering…pe… ignorance of the path leading to the cessation of suffering; ignorance of the past, ignorance of the future, ignorance of both the past and the future; ignorance of phenomena that are dependently arisen through specific conditionality. Whatever is such non-seeing, non-realization, non-understanding, non-awakening, non-penetration, non-comprehension, non-fathoming, non-consideration, non-reflection, lack of direct experience, dullness, foolishness, delusion, great delusion, utter delusion, ignorance, the flood of ignorance, the yoke of ignorance, the obsession of ignorance, the bolt of ignorance, delusion, an unwholesome root—this is the dart of delusion.
Mũi tên si mê là gì? Sự không biết về khổ ... cho đến ... sự không biết về con đường đưa đến sự diệt khổ, sự không biết về quá khứ, sự không biết về tương lai, sự không biết về quá khứ và tương lai, sự không biết về các pháp sanh khởi do duyên này qua duyên khác (lý duyên khởi). Bất cứ sự không thấy, không chứng ngộ, không giác ngộ, không liễu tri, không thâm nhập, không nắm bắt, không thấu hiểu, không xem xét, không quán xét, không trực nhận, trí tuệ kém cỏi, sự ngu dốt, sự si mê, sự mê muội, sự hôn mê, vô minh, bộc lưu vô minh, ách縛 vô minh, tùy miên vô minh, triền cái vô minh, then cài vô minh, si mê, gốc rễ bất thiện nào có hình thái như vậy – đây là mũi tên si mê.
Katamaṃ mānasallaṃ? ‘‘Seyyohamasmī’’ti māno, ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, ‘‘hīnohamasmī’’ti māno. Yo evarūpo māno maññanā maññitattaṃ unnati unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassa – idaṃ mānasallaṃ.
What is the dart of conceit? The conceit ‘I am superior,’ the conceit ‘I am equal,’ the conceit ‘I am inferior.’ Whatever conceit of such kind, the act of conceiving, the state of conceiving, loftiness, arrogance, a banner, overestimation, and haughtiness of mind—this is the dart of conceit.
Mũi tên mạn là gì? Mạn rằng: “Ta hơn người.” Mạn rằng: “Ta bằng người.” Mạn rằng: “Ta thua người.” Bất cứ sự mạn, sự ngã mạn, tình trạng ngã mạn, sự tự cao, sự kiêu căng, sự phất cờ, sự chấp thủ, sự mong muốn nổi bật của tâm nào có hình thái như vậy – đây là mũi tên mạn.
Katamaṃ diṭṭhisallaṃ? Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi, dasavatthukā micchādiṭṭhi, dasavatthukā antaggāhikā diṭṭhi. Yā evarūpā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ diṭṭhikantāro diṭṭhivisūkāyikaṃ diṭṭhivipphanditaṃ diṭṭhisaññojanaṃ gāho paṭiggāho abhiniveso parāmāso kummaggo † micchāpatho micchattaṃ titthāyatanaṃ vipariyāsaggāho viparītaggāho vipallāsaggāho micchāgāho ayāthāvakasmiṃ ‘‘yāthāvaka’’nti gāho yāvatā dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni – idaṃ diṭṭhisallaṃ.
What is the dart of wrong view? The identity view with twenty bases, the wrong view with ten bases, and the view of extremes with ten bases. Whatever view of this kind: a viewpoint, a thicket of views, a wilderness of views, a contortion of views, a vacillation of views, the fetter of views, grasping, taking up, adherence, dogmatic adherence, a wrong path, a false path, wrongness, a sectarian foothold, perverse grasping, contrary grasping, distorted grasping, wrong grasping, grasping the unreal as real—insofar as there are the sixty-two viewpoints—this is the dart of wrong view.
Mũi tên tà kiến là gì? Thân kiến có hai mươi đối tượng, tà kiến có mười đối tượng, biên kiến có mười đối tượng. Bất cứ tà kiến, sự chấp giữ tà kiến, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, sự quằn quại của tà kiến, sự vùng vẫy của tà kiến, kiết sử tà kiến, sự nắm giữ, sự bám víu, sự cố chấp, sự chấp thủ sai lầm, con đường sai lầm, lối đi sai lầm, sự sai lầm, cơ sở của ngoại đạo, sự nắm giữ điên đảo, sự nắm giữ trái ngược, sự nắm giữ xuyên tạc, sự nắm giữ sai lầm, sự nắm giữ “đúng như thật” trong cái không đúng như thật nào có hình thái như vậy, cho đến sáu mươi hai loại tà kiến – đây là mũi tên tà kiến.
Katamaṃ sokasallaṃ? Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko antoḍāho antopariḍāho cetaso parijjhāyanā domanassaṃ – idaṃ sokasallaṃ.
What is the dart of sorrow? For one afflicted by the destruction of relatives, or afflicted by the destruction of wealth, or afflicted by the destruction of health, or afflicted by the destruction of virtue, or afflicted by the destruction of views—for one endowed with any such destruction, afflicted by any such painful state, there is sorrow, sorrowing, the state of being sorrowful, inner sorrow, inner anguish, inner burning, inner torment, brooding of the mind, displeasure—this is the dart of sorrow.
Mũi tên sầu muộn là gì? Đối với người bị ảnh hưởng bởi sự mất mát quyến thuộc, hoặc bị ảnh hưởng bởi sự mất mát do bệnh tật, hoặc bị ảnh hưởng bởi sự mất mát của cải, hoặc bị ảnh hưởng bởi sự mất mát giới hạnh, hoặc bị ảnh hưởng bởi sự mất mát chánh kiến, hoặc người gặp phải một sự mất mát nào đó khác, hoặc người bị ảnh hưởng bởi một pháp đau khổ nào đó khác, thì có sự sầu muộn, sự than khóc, tình trạng sầu muộn, nỗi sầu bên trong, nỗi sầu muộn sâu sắc bên trong, sự thiêu đốt bên trong, sự thiêu đốt sâu sắc bên trong, sự phiền muộn của tâm, sự ưu phiền – đây là mũi tên sầu muộn.
Katamaṃ kathaṃkathāsallaṃ? Dukkhe kaṅkhā, dukkhasamudaye kaṅkhā, dukkhanirodhe kaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya kaṅkhā, pubbante kaṅkhā, aparante kaṅkhā, pubbantāparante kaṅkhā, idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu kaṅkhā. Yā evarūpā kaṅkhā kaṅkhāyanā kaṅkhāyitattaṃ vimati vicikicchā dveḷhakaṃ dvedhāpatho saṃsayo anekaṃsaggāho āsappanā parisappanā apariyogāhaṇā chambhitattaṃ cittassa manovilekho – idaṃ kathaṃkathāsallaṃ.
What is the dart of doubt? Doubt concerning suffering, doubt concerning the origin of suffering, doubt concerning the cessation of suffering, doubt concerning the path leading to the cessation of suffering, doubt concerning the past, doubt concerning the future, doubt concerning both the past and the future, doubt concerning specifically conditioned, dependently arisen phenomena. Whatever is such doubt, doubting, doubtfulness, uncertainty, wavering, indecision, ambivalence, perplexity, grasping at various alternatives, floundering, floundering about, non-penetration, rigidity of mind, vexation of mind—this is called the dart of doubt.
Mũi tên ‘làm sao, làm sao’ là gì? Là sự hoài nghi về Khổ, hoài nghi về Khổ Tập, hoài nghi về Khổ Diệt, hoài nghi về con đường đưa đến Khổ Diệt, hoài nghi về quá khứ, hoài nghi về tương lai, hoài nghi về quá khứ và tương lai, hoài nghi về các pháp được sanh khởi do duyên này làm nền tảng. Sự hoài nghi, sự phân vân, tình trạng hoài nghi, sự do dự, sự nghi ngờ, sự lưỡng lự, sự phân hai ngả, sự ngờ vực, sự không nắm bắt chắc chắn, sự sờ soạng, sự mò mẫm, sự không thâm nhập, sự cứng đờ của tâm, sự khắc khoải của ý như thế này – đây được gọi là mũi tên ‘làm sao, làm sao’.
Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvatīti. Rāgasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato kāyena duccaritaṃ carati, vācāya duccaritaṃ carati, manasā duccaritaṃ carati, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati; evampi rāgasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati. Atha vā rāgasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato bhoge pariyesanto nāvāya mahāsamuddaṃ pakkhandati. Sītassa purakkhato uṇhassa purakkhato ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassehi pīḷiyamāno † khuppipāsāya miyyamāno tigumbaṃ gacchati, takkolaṃ gacchati, takkasīlaṃ gacchati, kāḷamukhaṃ gacchati, purapūraṃ gacchati, vesuṅgaṃ gacchati, verāpathaṃ gacchati, javaṃ gacchati, tāmaliṃ gacchati, vaṅkaṃ gacchati, eḷabandhanaṃ gacchati, suvaṇṇakūṭaṃ gacchati, suvaṇṇabhūmiṃ gacchati, tambapaṇṇiṃ gacchati, suppādakaṃ † gacchati, bhārukacchaṃ gacchati, suraṭṭhaṃ gacchati, bhaṅgalokaṃ † gacchati, bhaṅgaṇaṃ † gacchati, paramabhaṅgaṇaṃ gacchati, yonaṃ gacchati, paramayonaṃ gacchati, vinakaṃ gacchati, mūlapadaṃ gacchati, marukantāraṃ gacchati, jaṇṇupathaṃ gacchati, ajapathaṃ gacchati, meṇḍapathaṃ gacchati, saṅkupathaṃ gacchati, chattapathaṃ gacchati, vaṃsapathaṃ gacchati, sakuṇapathaṃ gacchati, mūsikapathaṃ gacchati, daripathaṃ gacchati, vettācāraṃ gacchati; pariyesanto na labhati, alābhamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti, pariyesanto labhati, laddhā ārakkhamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti ‘‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṃ na corā hareyyuṃ na aggi daheyya na udakaṃ vaheyya na appiyā dāyādā hareyyu’’nti. Tassa evaṃ ārakkhato gopayato te bhogā vippalujjanti, so vippayogamūlakampi dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvedeti. Evampi rāgasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
‘Overcome by which dart, one runs to all directions.’ Overcome by the dart of lust, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed, one engages in misconduct with body, misconduct with speech. One kills living beings, takes what is not given, breaks into houses, commits robbery, plunders a single house, lies in ambush, commits adultery, and speaks falsely. Thus, being overcome by the dart of lust, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed, one runs, rushes about, races, and wanders on through the round of rebirths. Or else, overcome by the dart of lust, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed, one seeks wealth and plunges into the great ocean on a ship. Enduring cold and heat, afflicted by gadflies, mosquitoes, wind, sun, and creeping things, tormented by hunger and thirst, one travels to Tigumba, Takkola, Takkasīla, Kāḷamukha, Pūra, Vesuṅga, Verāpatha, Java, Tāmali, Vaṅka, Suvaṇṇabhūmi, Tambapaṇṇi, Suppādaka, Bhārukaccha, Suraṭṭha, Bhaṅgaloka, Bhaṅgaṇa, Paramabhaṅgaṇa, Yona, Paramayona, Vinaka, Mūlapada, Marukantāra, Jaṇṇupatha, Ajapatha, Meṇḍapatha, Saṅkupatha, Chattapatha, Vaṃsapatha, Sakuṇapatha, Mūsikapatha, Daripatha, and Vettācāra. Seeking but not finding, one experiences suffering and sorrow rooted in non-acquisition. Seeking and finding, one experiences suffering and sorrow rooted in guarding it: ‘How might it be that my wealth is not taken by kings, nor by thieves, nor burned by fire, nor carried away by water, nor taken by unloved heirs?’ While one is thus guarding and protecting, those possessions are lost, and one experiences suffering and sorrow rooted in separation. Thus also, being overcome by the dart of lust, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed, one runs, rushes about, races, and wanders on through the round of rebirths.
Bị mũi tên nào đâm trúng, nó chạy tán loạn khắp mọi phương. Bị mũi tên tham ái đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy thực hành tà hạnh bằng thân, thực hành tà hạnh bằng lời nói, thực hành tà hạnh bằng ý, giết hại sanh mạng, lấy của không cho, cắt tường khoét vách, cướp giật, trộm cướp một nhà, đứng chặn đường, đi đến vợ người khác, nói dối; như vậy, bị mũi tên tham ái đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy chạy tới, chạy lui, chạy vòng quanh, luân chuyển. Hoặc là, bị mũi tên tham ái đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, trong khi tìm kiếm của cải, người ấy đi thuyền ra biển lớn. Bất chấp lạnh, bất chấp nóng, bị hành hạ bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát, chết vì đói khát, người ấy đi đến Tigumba, đi đến Takkola, đi đến Takkasīla, đi đến Kāḷamukha, đi đến Purapūra, đi đến Vesuṅga, đi đến Verāpatha, đi đến Java, đi đến Tāmali, đi đến Vaṅka, đi đến Eḷabandhana, đi đến Suvaṇṇakūṭa, đi đến Suvaṇṇabhūmi, đi đến Tambapaṇṇi, đi đến Suppādaka, đi đến Bhārukaccha, đi đến Suraṭṭha, đi đến Bhaṅgaloka, đi đến Bhaṅgaṇa, đi đến Paramabhaṅgaṇa, đi đến Yona, đi đến Paramayona, đi đến Vinaka, đi đến Mūlapada, đi đến Marukantāra, đi đến Jaṇṇupatha, đi đến Ajapatha, đi đến Meṇḍapatha, đi đến Saṅkupatha, đi đến Chattapatha, đi đến Vaṃsapatha, đi đến Sakuṇapatha, đi đến Mūsikapatha, đi đến Daripatha, đi đến Vettācāra; trong khi tìm kiếm, không có được, người ấy cảm nhận khổ và ưu có gốc rễ từ việc không có được; trong khi tìm kiếm, có được, sau khi có được, người ấy cảm nhận khổ và ưu có gốc rễ từ việc bảo vệ rằng: ‘Làm sao để của cải của ta không bị vua chúa lấy đi, không bị trộm cướp lấy đi, không bị lửa thiêu, không bị nước cuốn, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?’ Trong khi người ấy bảo vệ, gìn giữ như vậy, những của cải ấy bị tiêu tan, người ấy cảm nhận khổ và ưu có gốc rễ từ sự chia ly. Như vậy, bị mũi tên tham ái đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy chạy tới, chạy lui, chạy vòng quanh, luân chuyển.
Dosasallena…pe… mohasallena… mānasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato kāyena duccaritaṃ carati, vācāya duccaritaṃ carati, manasā duccaritaṃ carati, pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati. Evaṃ mānasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
Overcome by the dart of hatred... by the dart of delusion... by the dart of conceit—being overcome, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed—one engages in misconduct with body, misconduct with speech, and misconduct with mind. One kills living beings, takes what is not given, breaks into houses, commits robbery, plunders a single house, lies in ambush, commits adultery, and speaks falsely. Thus, being overcome, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed with the dart of conceit—one runs, rushes about, races, and wanders on through the round of rebirths.
Bị mũi tên sân hận... bị mũi tên si mê... bị mũi tên ngã mạn đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy thực hành tà hạnh bằng thân, thực hành tà hạnh bằng lời nói, thực hành tà hạnh bằng ý, giết hại sanh mạng, lấy của không cho, cắt tường khoét vách, cướp giật, trộm cướp một nhà, đứng chặn đường, đi đến vợ người khác, nói dối. Như vậy, bị mũi tên ngã mạn đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy chạy tới, chạy lui, chạy vòng quanh, luân chuyển.
Diṭṭhisallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano †, na ehibhadantiko, na tiṭṭhabhadantiko; nābhihaṭaṃ, na uddissakataṃ, na nimantanaṃ sādiyati, so na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti, na kaḷopimukhā † paṭiggaṇhāti, na eḷakamantaraṃ, na daṇḍamantaraṃ, na musalamantaraṃ, na dvinnaṃ bhuñjamānānaṃ, na gabbhiniyā, na pāyamānāya, na purisantaragatāya, na saṃkittīsu, na yattha sā upaṭṭhito hoti, na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī. Na macchaṃ na maṃsaṃ na suraṃ na merayaṃ na thusodakaṃ pivati. So ekāgāriko vā hoti ekālopiko, dvāgāriko vā hoti dvālopiko…pe… sattāgāriko vā hoti sattālopiko. Ekissāpi bhattiyā yāpeti, dvīhipi bhattīhi yāpeti…pe… sattahipi bhattīhi yāpeti. Ekāhikampi āhāraṃ āhāreti, dvīhikampi āhāraṃ āhāreti…pe… sattāhikampi āhāraṃ āhāreti. Iti evarūpaṃ aḍḍhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. Evampi diṭṭhisallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
Overcome by the dart of wrong view—being overcome, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed—he becomes a naked ascetic, one who follows loose practices, licking his hands; he does not come when asked, ‘Come, venerable sir,’ nor stop when asked, ‘Stay, venerable sir’; he accepts nothing brought forward, nothing specially prepared, and no invitation. He does not accept food from the mouth of a pot or from the mouth of a basket; nor food given across a threshold, across a stick, or across a pestle; nor from one of two people eating together; nor from a pregnant woman, a nursing woman, or a woman who is with a man; nor from food collected by subscription; nor from where a dog is waiting, or where flies are swarming. He eats no fish or meat; he drinks no liquor, spirits, or fermented gruel. He is one who takes alms from only one house and is satisfied with one morsel, or from two houses and is satisfied with two morsels… or from seven houses and is satisfied with seven morsels. He subsists on one small bowlful, or on two small bowlfuls… or on seven small bowlfuls. He takes food daily, or once every two days… or once every seven days. Thus he dwells, committed to the practice of eating meals at set intervals, up to once a fortnight. In this way, being overcome, pierced, struck, oppressed, beset, and endowed by the dart of wrong view—he runs, rushes about, races, and wanders on through the round of rebirths.
Bị mũi tên tà kiến đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy trở thành người không mặc quần áo, có hành vi buông thả, liếm tay; không phải là người ‘xin mời ngài đến,’ không phải là người ‘xin mời ngài đứng lại;’ không chấp nhận vật thực được mang đến, không chấp nhận vật thực được làm riêng cho mình, không vui thích với lời mời. Vị ấy không nhận từ miệng nồi, không nhận từ miệng giỏ, không nhận (vật thực được đặt) ở giữa ngưỡng cửa, không nhận ở giữa cây gậy, không nhận ở giữa cái chày, không nhận từ một trong hai người đang ăn, không nhận từ người phụ nữ có thai, không nhận từ người phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ người phụ nữ đang giao hợp với người đàn ông, không nhận ở những nơi hẹn hò, không nhận ở nơi có con chó đứng đợi, không nhận ở nơi có ruồi bu lại. Không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống rượu men, không uống nước gạo lên men. Vị ấy là người chỉ đi một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc là người đi hai nhà, ăn hai miếng;... hoặc là người đi bảy nhà, ăn bảy miếng. Vị ấy sống bằng một phần ăn, sống bằng hai phần ăn,... sống bằng bảy phần ăn. Vị ấy ăn một ngày một lần, ăn hai ngày một lần,... ăn bảy ngày một lần. Như vậy, vị ấy sống thực hành theo lối ăn theo phiên, thậm chí là nửa tháng một lần. Như vậy, bị mũi tên tà kiến đâm trúng, bị bắn, bị chạm, bị áp đảo, bị bao trùm, bị đầy đủ, người ấy chạy tới, chạy lui, chạy vòng quanh, luân chuyển.
Atha vā diṭṭhisallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato so sākabhakkho vā hoti, sāmākabhakkho vā hoti, nīvārabhakkho vā hoti, daddulabhakkho vā hoti, haṭabhakkho vā hoti, kaṇabhakkho vā hoti, ācāmabhakkho vā hoti, piññākabhakkho vā hoti, tilabhakkho vā hoti, tiṇabhakkho vā hoti, gomayabhakkho vā hoti, vanamūlaphalāhāro yāpeti pavattaphalabhojano. So sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi dhāreti, chavadussānipi dhāreti, paṃsukūlānipi dhāreti, tirīṭānipi dhāreti, ajinānipi dhāreti, ajinakkhipampi dhāreti, kusacīrampi dhāreti, vākacīrampi dhāreti, phalakacīrampi dhāreti, kesakambalampi dhāreti, ulūkapakkhampi dhāreti, kesamassulocakopi hoti, kesamassulocanānuyogamanuyutto viharati. Ubbhaṭṭhakopi hoti āsanapaṭikkhitto, ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto, kaṇṭakāpassayiko hoti, kaṇṭakāpassaye seyyaṃ kappeti, phalakaseyyampi kappeti, thaṇḍilaseyyampi kappeti, ekāpassayiko hoti rajojalladharo, abbhokāsikopi hoti yathāsanthatiko, vekaṭikopi hoti vikaṭabhojanānuyogamanuyutto, apānakopi hoti apānakattamanuyutto, sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Iti evarūpaṃ anekavihitaṃ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. Evampi diṭṭhisallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
Or else, overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of wrong view, he becomes one who eats leafy greens, coarse millet, wild rice, rotten hide, water plants, husk-powder, rice scum, oil-cake, sesame, grass, or cow-dung. He maintains himself on forest roots and fruits, living on fallen fruits. He wears hempen garments, coarse mixed-fabric garments, shroud-cloths, rags from a dust-heap, garments of tree-bark, antelope hides, a covering of antelope hides, kusa-grass garments, bark-strip garments, wood-chip garments, blankets of human hair, or a garment of owl’s wings. He is one who plucks out his hair and beard, and he dwells devoted to the practice of plucking out hair and beard. He is one who stands continuously, rejecting seats. He is one who squats, and he dwells devoted to the exertion of squatting. He is one who lies on a bed of thorns; he makes his bed on thorns. He also makes his bed on a wooden plank or on the bare ground. He is one who lies on one side, a wearer of dust and dirt. He is one who lives in the open air, staying in whatever spot is allotted. He is one who eats filth, and he dwells devoted to the practice of eating filth. He is one who abstains from drinking, and he dwells devoted to the practice of abstaining from drinking. He dwells devoted to the practice of entering the water three times a day, including the evening. Thus, in these various ways, he dwells devoted to the practice of tormenting and mortifying the body. In this way too, overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of wrong view, he runs, rushes about, runs on, and transmigrates.
Hoặc nữa, người bị mũi tên tà kiến xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp đảo, bị bao vây, được trang bị (với tà kiến), vị ấy ăn rau, hoặc ăn lúa hoang, hoặc ăn lúa dại, hoặc ăn da mục, hoặc ăn rêu, hoặc ăn cám, hoặc ăn nước cơm, hoặc ăn bã mè, hoặc ăn mè, hoặc ăn cỏ, hoặc ăn phân bò; nuôi mạng bằng rễ và trái cây trong rừng, sống bằng trái cây rụng. Vị ấy mặc vải gai, hoặc mặc vải dệt bằng lông thú, hoặc mặc vải liệm tử thi, hoặc mặc vải lượm từ đống rác, hoặc mặc vải vỏ cây, hoặc mặc da thú, hoặc mặc y phục bằng da thú có móng, hoặc mặc y phục bằng cỏ kusa, hoặc mặc y phục bằng vỏ cây, hoặc mặc y phục bằng mảnh gỗ, hoặc mặc chăn dệt bằng tóc người, hoặc mặc y phục kết bằng lông cú; vị ấy là người nhổ tóc và râu, sống chuyên tâm thực hành việc nhổ tóc và râu. Vị ấy là người đứng thẳng, từ chối chỗ ngồi; vị ấy là người ngồi xổm, sống chuyên tâm tinh tấn trong tư thế ngồi xổm; vị ấy là người nằm trên gai, thực hành việc nằm trên giường gai; cũng thực hành việc nằm trên tấm ván; cũng thực hành việc nằm trên đất trống; vị ấy là người nằm một bên, mình mang bụi bặm và cáu bẩn; vị ấy là người ở ngoài trời, chấp nhận bất cứ chỗ nào được sắp đặt cho; vị ấy là người ăn đồ bẩn, sống chuyên tâm thực hành việc ăn đồ bẩn; vị ấy là người không uống nước, sống chuyên tâm thực hành việc không uống nước; vị ấy sống chuyên tâm thực hành việc tắm ba lần mỗi ngày (kể cả buổi tối). Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm thực hành nhiều loại khổ hạnh làm nóng và thiêu đốt thân thể như thế. Cũng vậy, người bị mũi tên tà kiến xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp đảo, bị bao vây, được trang bị (với tà kiến) thì chạy tới, chạy lui, chạy vòng quanh, luân hồi.
Sokasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato socati kilamati paridevati urattāḷiṃ kandati sammohaṃ āpajjati. Vuttañhetaṃ bhagavatā –
Overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of sorrow, he sorrows, becomes weary, and laments; he cries out, beating his breast, and falls into confusion. For this was said by the Blessed One:
Người bị mũi tên sầu muộn xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp bức, bị bao trùm, bị chi phối, thì sầu não, mệt mỏi, than van, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê muội. Điều này đã được đức Thế Tôn nói đến –
‘‘Bhūtapubbaṃ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā mātā kālamakāsi. Sā tassā kālaṃ kiriyāya ummattikā khittacittā rathiyāya rathiyaṃ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ upasaṅkamitvā evamāha – ‘api me mātaraṃ addassatha, api me mātaraṃ addassathā’ti.
“Brahmin, once before, right in this Sāvatthī, a certain woman's mother died. On account of her death, that woman, having become mad and with a distracted mind, went from street to street and from crossroads to crossroads, and approaching, she said thus: ‘Have you seen my mother? Have you seen my mother?’”
“Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, mẹ của một người phụ nữ nọ đã qua đời. Do cái chết của mẹ, người phụ nữ ấy trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, đến gần và nói như vầy: ‘Quý vị có thấy mẹ tôi không, quý vị có thấy mẹ tôi không?’”
‘‘Bhūtapubbaṃ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā pitā kālamakāsi… bhātā kālamakāsi… bhaginī kālamakāsi… putto kālamakāsi… dhītā kālamakāsi… sāmiko kālamakāsi. Sā tassa kālaṃ kiriyāya ummattikā khittacittā rathiyāya rathiyaṃ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ upasaṅkamitvā evamāha – ‘api me sāmikaṃ addassatha, api me sāmikaṃ addassathā’ti.
“Brahmin, once before, right in this Sāvatthī, a certain woman's father died… her brother died… her sister died… her son died… her daughter died… her husband died. On account of his death, she, having become mad and with a distracted mind, went from street to street and from crossroads to crossroads, and approaching, she said thus: ‘Have you seen my husband? Have you seen my husband?’”
“Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, cha của một người phụ nữ nọ đã qua đời... anh trai đã qua đời... chị/em gái đã qua đời... con trai đã qua đời... con gái đã qua đời... người chồng đã qua đời. Do cái chết của người chồng, người phụ nữ ấy trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, đến gần và nói như vầy: ‘Quý vị có thấy chồng tôi không, quý vị có thấy chồng tôi không?’”
‘‘Bhūtapubbaṃ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarassa purisassa mātā kālamakāsi. So tassā kālaṃ kiriyāya ummattako khittacitto rathiyāya rathiyaṃ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ upasaṅkamitvā evamāha – ‘api me mātaraṃ addassatha, api me mātaraṃ addassathā’ti.
“Brahmin, once before, right in this Sāvatthī, a certain man's mother died. On account of her death, he, having become mad and with a distracted mind, went from street to street and from crossroads to crossroads, and approaching, he said thus: ‘Have you seen my mother? Have you seen my mother?’”
“Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, mẹ của một người đàn ông nọ đã qua đời. Do cái chết của mẹ, người đàn ông ấy trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, đến gần và nói như vầy: ‘Quý vị có thấy mẹ tôi không, quý vị có thấy mẹ tôi không?’”
‘‘Bhūtapubbaṃ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarassa purisassa pitā kālamakāsi… bhātā kālamakāsi… bhaginī kālamakāsi… putto kālamakāsi… dhītā kālamakāsi… pajāpati kālamakāsi. So tassā kālaṃ kiriyāya ummattako khittacitto rathiyāya rathiyaṃ, siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ upasaṅkamitvā evamāha – ‘api me pajāpatiṃ addassatha, api me pajāpatiṃ addassathā’ti.
“Brahmin, once before, right in this Sāvatthī, a certain man's father died… his brother died… his sister died… his son died… his daughter died… his wife died. On account of her death, he, having become mad and with a distracted mind, went from street to street and from crossroads to crossroads, and approaching, he said thus: ‘Have you seen my wife? Have you seen my wife?’”
“Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, cha của một người đàn ông nọ đã qua đời... anh trai đã qua đời... chị/em gái đã qua đời... con trai đã qua đời... con gái đã qua đời... người vợ đã qua đời. Do cái chết của người vợ, người đàn ông ấy trở nên điên loạn, tâm trí rối bời, đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, đến gần và nói như vầy: ‘Quý vị có thấy vợ tôi không, quý vị có thấy vợ tôi không?’”
‘‘Bhūtapubbaṃ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarā itthī ñātikulaṃ agamāsi. Tassā te ñātakā sāmikaṃ acchinditvā aññassa dātukāmā, sā ca naṃ na icchati. Atha kho sā itthī sāmikaṃ etadavoca – ‘ime, ayyaputta, ñātakā tava acchinditvā aññassa dātukāmā, ubho mayaṃ marissāmā’ti. Atha kho so puriso taṃ itthiṃ dvidhā chetvā attānaṃ opāteti – ‘ubho pecca bhavissāmā’’’ti. Evaṃ sokasallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
“Brahmin, it has happened in the past, right here in Sāvatthī, that a certain woman went to her relatives' home. Her relatives wanted to take her from her husband and give her to another. Then that woman said this to her husband: 'Noble son, these relatives want to take me from you and give me to another. Let us both die.' Then that man, having cut the woman in two, killed himself, thinking, 'We both shall be in the next existence.' Thus, overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of sorrow, one runs forward, runs about, runs on, and transmigrates.
“Này Bà-la-môn, thuở xưa, ngay tại thành Sāvatthī này, có một người phụ nữ nọ đi đến nhà bà con. Những người bà con của cô ấy muốn đoạt lấy người chồng rồi gả (cô) cho người khác, nhưng cô ấy không đồng ý. Bấy giờ, người phụ nữ ấy nói với chồng mình rằng: ‘Thưa phu quân, những người bà con này muốn đoạt ngài khỏi (em) rồi gả (em) cho người khác, cả hai chúng ta hãy cùng chết.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đã chém người phụ nữ kia làm hai đoạn, rồi tự sát và nói: ‘Cả hai chúng ta sẽ (bên nhau) ở đời sau.’ Như vậy, người bị mũi tên sầu muộn xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp bức, bị bao trùm, bị chi phối, thì chạy tới, chạy lui, chạy tiếp, và tiếp tục luân hồi.”
Kathaṃkathāsallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato saṃsayapakkhando hoti vimatipakkhando dveḷhakajāto – ‘‘ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ, nanu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kiṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ ahosiṃ nu kho atītamaddhānaṃ, bhavissāmi nu kho ahaṃ anāgatamaddhānaṃ, nanu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kiṃ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho bhavissāmi anāgatamaddhānaṃ, kiṃ hutvā kiṃ bhavissāmi nu kho anāgatamaddhānaṃ, etarahi vā paccuppannaṃ addhānaṃ ajjhattaṃ kathaṃkathī hoti, ahaṃ nu khosmi, no nu khosmi, kiṃ nu khosmi kathaṃ nu khosmi, ayaṃ nu kho satto kuto āgato, so kuhiṃ gāmī bhavissatī’’ti. Evaṃ kathaṃkathāsallena otiṇṇo viddho phuṭṭho pareto samohito samannāgato dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsarati.
Overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of doubt, one plunges into uncertainty, plunges into wavering, and becomes beset by perplexity: ‘Did I exist in the past? Did I not exist in the past? What was I in the past? In what way was I in the past? Having been what, what did I become in the past? Shall I exist in the future? Shall I not exist in the future? What shall I be in the future? In what way shall I be in the future? Having been what, what shall I become in the future?’ Or now, regarding the present time, one is inwardly doubtful: ‘Am I? Am I not? What am I? In what way am I? From where has this being come? Where will it go?’ Thus, overcome, struck, afflicted, oppressed, fully beset, and possessed by the dart of doubt, one runs forward, runs about, runs on, and transmigrates.
Người bị mũi tên hoài nghi xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp bức, bị bao trùm, bị chi phối, thì trở nên nhảy vào sự nghi ngờ, nhảy vào sự phân vân, sinh tâm lưỡng lự: ‘Ta có thật sự đã tồn tại trong quá khứ chăng? Hay ta đã không tồn tại trong quá khứ? Ta đã là gì trong quá khứ? Ta đã như thế nào trong quá khứ? Đã là gì rồi trở thành gì trong quá khứ? Ta có thật sự sẽ tồn tại trong tương lai chăng? Hay ta sẽ không tồn tại trong tương lai? Ta sẽ là gì trong tương lai? Ta sẽ như thế nào trong tương lai? Sẽ là gì rồi trở thành gì trong tương lai?’ Hoặc ngay bây giờ, trong hiện tại, người ấy hoài nghi về tự thân: ‘Ta có thật sự tồn tại chăng? Hay ta không tồn tại? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?’ Như vậy, người bị mũi tên hoài nghi xâm nhập, bị đâm, bị chạm phải, bị áp bức, bị bao trùm, bị chi phối, thì chạy tới, chạy lui, chạy tiếp, và tiếp tục luân hồi.
Te salle abhisaṅkharoti; te salle abhisaṅkharonto sallābhisaṅkhāravasena puratthimaṃ disaṃ dhāvati, pacchimaṃ disaṃ dhāvati, uttaraṃ disaṃ dhāvati, dakkhiṇaṃ disaṃ dhāvati. Te sallābhisaṅkhārā appahīnā; sallābhisaṅkhārānaṃ appahīnattā gatiyā dhāvati, niraye dhāvati, tiracchānayoniyā dhāvati, pettivisaye dhāvati, manussaloke dhāvati, devaloke dhāvati, gatiyā gatiṃ, upapattiyā upapattiṃ, paṭisandhiyā paṭisandhiṃ, bhavena bhavaṃ, saṃsārena saṃsāraṃ, vaṭṭena vaṭṭaṃ dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsaratīti – yena sallena otiṇṇo disā sabbā vidhāvati.
He fabricates those darts; fabricating those darts, by means of the fabrication of darts, he runs to the east, he runs to the west, he runs to the north, he runs to the south. Those fabrications of darts are unabandoned; because of the non-abandonment of the fabrications of darts, he runs to a destination, he runs in hell, he runs in the animal realm, he runs in the realm of ghosts, he runs in the human world, he runs in the world of gods; from destination to destination, from arising to arising, from relinking to relinking, from existence to existence, from wandering to wandering, from the round to the round, he runs, runs about, runs on, and wanders on. Thus: ‘Pierced by which dart, one runs about to all directions.’
Vị ấy tạo tác các mũi tên ấy; trong khi tạo tác các mũi tên ấy, do năng lực của sự tạo tác các mũi tên, vị ấy chạy đến phương đông, chạy đến phương tây, chạy đến phương bắc, chạy đến phương nam. Các sự tạo tác mũi tên ấy chưa được đoạn trừ; do vì các sự tạo tác mũi tên chưa được đoạn trừ, vị ấy chạy trong các cõi, chạy trong địa ngục, chạy trong loài bàng sanh, chạy trong cảnh giới ngạ quỷ, chạy trong thế giới loài người, chạy trong thế giới chư thiên; từ cõi này đến cõi khác, từ sự tái sanh này đến sự tái sanh khác, từ sự nối liền này đến sự nối liền khác, từ kiếp sống này đến kiếp sống khác, từ vòng luân hồi này đến vòng luân hồi khác, từ vòng quay này đến vòng quay khác, vị ấy chạy, chạy tán loạn, chạy vội, tiếp tục luân chuyển. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Bị mũi tên nào đâm trúng, vị ấy chạy tán loạn khắp các phương.’
Tameva sallamabbuyha, na dhāvati na sīdatīti. Tameva rāgasallaṃ dosasallaṃ mohasallaṃ mānasallaṃ diṭṭhisallaṃ sokasallaṃ kathaṃkathāsallaṃ abbuyha abbuhitvā uddharitvā samuddharitvā uppāṭayitvā samuppāṭayitvā † pajahitvā vinodetvā byantiṃ karitvā anabhāvaṃ gametvā neva puratthimaṃ disaṃ dhāvati na pacchimaṃ disaṃ dhāvati na uttaraṃ disaṃ dhāvati na dakkhiṇaṃ disaṃ dhāvati. Te sallābhisaṅkhārā pahīnā; sallābhisaṅkhārānaṃ pahīnattā gatiyā na dhāvati, niraye na dhāvati, tiracchānayoniyā na dhāvati, pettivisaye na dhāvati, manussaloke na dhāvati, devaloke na dhāvati, na gatiyā gatiṃ, na upapattiyā upapattiṃ, na paṭisandhiyā paṭisandhiṃ, na bhavena bhavaṃ, na saṃsārena saṃsāraṃ, na vaṭṭena vaṭṭaṃ dhāvati vidhāvati sandhāvati saṃsaratīti – tameva sallamabbuyha na dhāvati. Na sīdatīti kāmoghe na sīdati, bhavoghe na sīdati, diṭṭhoghe na sīdati, avijjoghe na sīdati, na saṃsīdati na osīdati na avasīdati na gacchati na avagacchatīti – tameva sallamabbuyha, na dhāvati na sīdati.
Having pulled out that very dart, one does not run or sink. Having pulled out, extracted, lifted out, thoroughly lifted out, uprooted, completely uprooted, abandoned, dispelled, made an end of, and brought to non-existence that very dart—the dart of lust, the dart of hatred, the dart of delusion, the dart of conceit, the dart of views, the dart of sorrow, the dart of doubt—one does not run to the eastern direction, nor to the western, nor to the northern, nor to the southern. Those fabrications of darts are abandoned; because of the abandonment of the fabrications of darts, one does not run in a destination, nor in hell, nor in the animal realm, nor in the realm of ghosts, nor in the human world, nor in the world of gods. One does not run from destination to destination, from arising to arising, from relinking to relinking, from existence to existence, from wandering to wandering, from the round to the round; one does not run, run about, run on, or wander on. Thus: ‘having pulled out that very dart, one does not run.’ ‘One does not sink’ means: one does not sink in the flood of sensuality, one does not sink in the flood of existence, one does not sink in the flood of views, one does not sink in the flood of ignorance. One does not sink completely, does not sink down, does not go under, does not drift, does not drift down. Thus: ‘having pulled out that very dart, one does not run or sink.’
‘Sau khi đã nhổ chính mũi tên ấy, vị ấy không chạy, không chìm đắm.’ Sau khi đã nhổ, đã rút ra, đã lấy ra, đã lấy ra hoàn toàn, đã nhổ bật, đã nhổ bật hoàn toàn, đã đoạn trừ, đã loại bỏ, đã chấm dứt, đã làm cho không còn hiện hữu chính mũi tên tham ái, mũi tên sân hận, mũi tên si mê, mũi tên ngã mạn, mũi tên tà kiến, mũi tên sầu muộn, mũi tên hoài nghi ấy, vị ấy không chạy đến phương đông, không chạy đến phương tây, không chạy đến phương bắc, không chạy đến phương nam. Các sự tạo tác mũi tên ấy đã được đoạn trừ; do vì các sự tạo tác mũi tên đã được đoạn trừ, vị ấy không chạy trong các cõi, không chạy trong địa ngục, không chạy trong loài bàng sanh, không chạy trong cảnh giới ngạ quỷ, không chạy trong thế giới loài người, không chạy trong thế giới chư thiên; không (chạy) từ cõi này đến cõi khác, không (chạy) từ sự tái sanh này đến sự tái sanh khác, không (chạy) từ sự nối liền này đến sự nối liền khác, không (chạy) từ kiếp sống này đến kiếp sống khác, không (chạy) từ vòng luân hồi này đến vòng luân hồi khác, không (chạy) từ vòng quay này đến vòng quay khác, vị ấy không chạy, không chạy tán loạn, không chạy vội, không tiếp tục luân chuyển. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Sau khi đã nhổ chính mũi tên ấy, vị ấy không chạy.’ ‘Không chìm đắm’ có nghĩa là không chìm đắm trong bộc lưu của dục vọng, không chìm đắm trong bộc lưu của hữu, không chìm đắm trong bộc lưu của tà kiến, không chìm đắm trong bộc lưu của vô minh; không chìm ngập, không chìm xuống, không lặn mất, không trôi đi, không trôi giạt. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Sau khi đã nhổ chính mũi tên ấy, vị ấy không chạy, không chìm đắm.’
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yena sallena otiṇṇo, disā sabbā vidhāvati;
Tameva sallamabbuyha, na dhāvati na sīdatī’’ti.
“Pierced by which dart, one runs about to all directions; having pulled out that very dart, one neither runs nor sinks.”
‘Bị mũi tên nào đâm trúng, vị ấy chạy tán loạn khắp các phương; Sau khi đã nhổ chính mũi tên ấy, vị ấy không chạy, không chìm đắm.’
175.
175.
175.
Tattha sikkhānugīyanti, yāni loke gadhitāni;
Na tesu pasuto siyā, nibbijjha sabbaso kāme;
Sikkhe nibbānamattano.
Regarding those things in the world that are greedily clung to, trainings are pursued; one should not be devoted to them. Having thoroughly penetrated all sensual pleasures, one should train for one's own Nibbāna.
Những gì được tham ái trong thế gian, các sự học hỏi được ca tụng ở đó; Không nên chuyên tâm vào những điều ấy, sau khi đã thấu triệt các dục một cách toàn diện; nên học hỏi về Niết-bàn cho chính mình.
Tattha sikkhānugīyanti, yāni loke gadhitānīti. Sikkhāti hatthisikkhā assasikkhā rathasikkhā dhanusikkhā sālākiyaṃ sallakattiyaṃ kāyatikicchaṃ bhūtiyaṃ komārabhaccaṃ †. Anugīyantīti gīyanti niggīyanti kathīyanti bhaṇīyanti dīpīyanti voharīyanti. Atha vā gīyanti gaṇhīyanti uggaṇhīyanti dhārīyanti upadhārīyanti upalakkhīyanti gadhitapaṭilābhāya. Gadhitā vuccanti pañca kāmaguṇā – cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā…pe… ghānaviññeyyā gandhā… jivhāviññeyyā rasā… kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā. Kiṃkāraṇā gadhitā vuccanti pañca kāmaguṇā? Yebhuyyena devamanussā pañca kāmaguṇe icchanti sādiyanti patthayanti pihayanti abhijappanti taṃkāraṇā gadhitā vuccanti pañca kāmaguṇā. Loketi manussaloketi – tattha sikkhānugīyanti, yāni loke gadhitāni.
‘Regarding those things in the world that are greedily clung to, trainings are pursued.’ ‘Training’ refers to elephant training, horse training, chariot training, archery training, ophthalmology, surgery, general medicine, demonology, and pediatrics. ‘Are pursued’ means are recited, are chanted, are spoken, are declared, are explained, are designated. Or alternatively, are recited, are taken up, are learned, are retained, are closely retained, are discerned for the sake of obtaining what is greedily clung to. ‘What is greedily clung to’ refers to the five strands of sensual pleasure: forms cognizable by the eye that are wished for, desired, agreeable, pleasing, connected with sensual desire, and arousing… tangible objects cognizable by the body that are wished for, desired, agreeable, pleasing, connected with sensual desire, and arousing. For what reason are the five strands of sensual pleasure called ‘what is greedily clung to’? For the most part, gods and humans desire, enjoy, long for, yearn for, and intensely crave the five strands of sensual pleasure; for that reason, the five strands of sensual pleasure are called ‘what is greedily clung to’. ‘In the world’ means in the human world. Thus: ‘Regarding those things in the world that are greedily clung to, trainings are pursued.’
‘Những gì được tham ái trong thế gian, các sự học hỏi được ca tụng ở đó.’ ‘Sự học hỏi’ là: học thuật về voi, học thuật về ngựa, học thuật về xe, học thuật về cung; khoa mắt, khoa phẫu thuật, khoa nội, khoa trừ tà, khoa nhi. ‘Được ca tụng’ có nghĩa là được hát lên, được xướng lên, được nói đến, được tuyên bố, được làm cho sáng tỏ, được gọi tên. Hoặc là, ‘được ca tụng’ có nghĩa là được nắm giữ, được học hỏi, được ghi nhớ, được duy trì, được nhận biết để thành tựu những điều được tham ái. ‘Những điều được tham ái’ được gọi là năm loại dục trưởng dưỡng: các sắc pháp được nhận biết qua mắt, khả ái, đáng thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ; các âm thanh được nhận biết qua tai... (v.v.) ... các hương được nhận biết qua mũi... các vị được nhận biết qua lưỡi... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân, khả ái, đáng thích, đáng hài lòng, có hình tướng đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, có tính chất quyến rũ. Vì lý do gì năm loại dục trưởng dưỡng được gọi là ‘những điều được tham ái’? Phần lớn chư thiên và loài người mong muốn, ưa thích, khao khát, thèm muốn, tham đắm năm loại dục trưởng dưỡng; vì lý do đó, năm loại dục trưởng dưỡng được gọi là ‘những điều được tham ái.’ ‘Trong thế gian’ có nghĩa là trong thế giới loài người. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Những gì được tham ái trong thế gian, các sự học hỏi được ca tụng ở đó.’
Na tesu pasuto siyāti. Tāsu vā sikkhāsu tesu vā pañcasu kāmaguṇesu na pasuto siyā, na tanninno assa, na tappoṇo, na tappabbhāro, na tadadhimutto, na tadadhipateyyoti – na tesu pasuto siyā.
‘One should not be devoted to them.’ One should not be devoted to those trainings or to those five strands of sensual pleasure; one should not be inclined towards them, not leaning towards them, not bent on them, not intent on them, not dominated by them. Thus: ‘One should not be devoted to them.’
‘Không nên chuyên tâm vào những điều ấy.’ Không nên chuyên tâm vào các sự học hỏi ấy hoặc vào năm loại dục trưởng dưỡng ấy; không nên hướng về chúng, không nên nghiêng về chúng, không nên thiên về chúng, không nên quyết tâm theo chúng, không nên bị chúng chi phối. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Không nên chuyên tâm vào những điều ấy.’
Nibbijjha sabbaso kāmeti. Nibbijjhāti paṭivijjhitvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti paṭivijjhitvā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti paṭivijjhitvā…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti paṭivijjhitvā. Sabbasoti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – sabbasoti. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmāti – nibbijjha sabbaso kāme.
‘Having thoroughly penetrated all sensual pleasures.’ ‘Having thoroughly penetrated’ means having pierced through. Having pierced through that ‘All formations are impermanent’; having pierced through that ‘All formations are suffering’; … having pierced through that ‘Whatever is of a nature to arise, all that is of a nature to cease.’ ‘Thoroughly’ means entirely, completely, in every way, without remainder, without exception; this is a term of complete comprehension. ‘Sensual pleasures’ means that in summary there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements. … These are called sensual pleasures as objects. … These are called sensual pleasures as defilements. Thus: ‘Having thoroughly penetrated all sensual pleasures.’
‘Sau khi đã thấu triệt các dục một cách toàn diện.’ ‘Thấu triệt’ có nghĩa là sau khi đã thâm nhập. Sau khi đã thâm nhập rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường;’ sau khi đã thâm nhập rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ;’ ... (v.v.) ... sau khi đã thâm nhập rằng: ‘Bất cứ pháp nào có bản chất sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có bản chất đoạn diệt.’ ‘Một cách toàn diện’ có nghĩa là tất cả trong tất cả, tất cả bằng mọi cách, không còn sót lại, không có dư sót; ‘một cách toàn diện’ là từ ngữ bao hàm trọn vẹn. ‘Các dục,’ tóm lại có hai loại dục: dục đối tượng và dục phiền não... (v.v.) ... những thứ này được gọi là dục đối tượng... (v.v.) ... những thứ này được gọi là dục phiền não. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Sau khi đã thấu triệt các dục một cách toàn diện.’
Sikkhe nibbānamattanoti. Sikkhāti tisso sikkhā – adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā…pe… ayaṃ adhipaññāsikkhā. Nibbānamattanoti attano rāgassa nibbāpanāya dosassa nibbāpanāya mohassa nibbāpanāya…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ samāya upasamāya vūpasamāya nibbāpanāya paṭinissaggāya paṭipassaddhiyā adhisīlampi sikkheyya adhicittampi sikkheyya adhipaññampi sikkheyya, imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkheyya jānanto sikkheyya…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkheyya ācareyya samācareyya samādāya vatteyyāti – sikkhe nibbānamattano.
‘One should train for one's own Nibbāna.’ ‘Training’ refers to the three trainings: the training in higher virtue, the training in higher mind, and the training in higher wisdom. … This is the training in higher wisdom. ‘For one's own Nibbāna’ means for the extinguishing of one's own lust, for the extinguishing of hatred, for the extinguishing of delusion… for the calming, pacifying, stilling, extinguishing, relinquishing, and tranquillizing of all unwholesome formations, one should train in higher virtue, one should train in higher mind, and one should train in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, one should train; knowing, one should train… realizing what is to be realized, one should train. One should practice, practice thoroughly, and having undertaken it, one should so conduct oneself. Thus: ‘one should train for one's own Nibbāna.’
‘Nên học hỏi về Niết-bàn cho chính mình.’ ‘Học hỏi’ là ba sự học hỏi: tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học... (v.v.) ... đây là tăng thượng tuệ học. ‘Niết-bàn cho chính mình’ có nghĩa là để dập tắt tham, sân, si của chính mình... (v.v.) ... để làm cho lắng dịu, để làm cho an tịnh, để làm cho yên lặng, để dập tắt, để từ bỏ, để làm cho nguôi ngoai tất cả các sự tạo tác bất thiện; nên thực hành cả tăng thượng giới học, nên thực hành cả tăng thượng tâm học, nên thực hành cả tăng thượng tuệ học. Nên thực hành ba sự học hỏi này trong khi hướng tâm, trong khi biết... (v.v.) ... nên thực hành trong khi chứng ngộ điều cần được chứng ngộ; nên thực hành, nên thực hành đúng đắn, nên thực hành sau khi đã thọ trì. (Đây là ý nghĩa của câu:) ‘Nên học hỏi về Niết-bàn cho chính mình.’
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Tattha sikkhānugīyanti, yāni loke gadhitāni;
Na tesu pasuto siyā, nibbijjha sabbaso kāme;
Sikkhe nibbānamattano’’ti.
“Regarding those things in the world that are greedily clung to, trainings are pursued; one should not be devoted to them. Having thoroughly penetrated all sensual pleasures, one should train for one's own Nibbāna.”
‘Những gì được tham ái trong thế gian, các sự học hỏi được ca tụng ở đó; Không nên chuyên tâm vào những điều ấy, sau khi đã thấu triệt các dục một cách toàn diện; nên học hỏi về Niết-bàn cho chính mình.’
176.
176.
176.
Sacco siyā appagabbho, amāyo rittapesuṇo;
Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare muni.
A sage should be truthful, not insolent, without deceit, devoid of slander, and free from anger; he should overcome evil greed and stinginess.
Bậc ẩn sĩ nên là người chân thật, không thô lỗ, không xảo trá, không nói lời đâm thọc; không phẫn nộ, vị ấy vượt qua lòng tham ác và sự bỏn xẻn.
Sacco siyā appagabbhoti. Sacco siyāti saccavācāya samannāgato siyā, sammādiṭṭhiyā samannāgato siyā, ariyena aṭṭhaṅgikena maggena samannāgato siyāti – sacco siyā. Appagabbhoti tīṇi pāgabbhiyāni – kāyikaṃ pāgabbhiyaṃ, vācasikaṃ pāgabbhiyaṃ, cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ…pe… idaṃ cetasikaṃ pāgabbhiyaṃ. Yassimāni tīṇi pāgabbhiyāni pahīnāni samucchinnāni vūpasantāni paṭipassaddhāni abhabbuppattikāni ñāṇagginā daḍḍhāni, so vuccati appagabbhoti – sacco siyā appagabbho.
"One should be truthful, not insolent." "One should be truthful" means: one should be endowed with truthful speech, one should be endowed with right view, one should be endowed with the Noble Eightfold Path—thus, "one should be truthful." "Not insolent" refers to three kinds of insolence: bodily insolence, verbal insolence, and mental insolence... this is mental insolence. One for whom these three kinds of insolence have been abandoned, cut off, stilled, pacified, made incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge, is called "not insolent"—thus, "one should be truthful, not insolent."
Sacco siyā appagabbhoti (Nên là người chân thật, không thô lỗ). Sacco siyāti (Nên là người chân thật) có nghĩa là: nên thành tựu lời nói chân thật, nên thành tựu chánh kiến, nên thành tựu Thánh đạo Tám ngành – (như vậy là) sacco siyā (nên là người chân thật). Appagabbhoti (Không thô lỗ) có nghĩa là: có ba sự thô lỗ – sự thô lỗ về thân, sự thô lỗ về lời nói, sự thô lỗ về tâm ý… cho đến… đây là sự thô lỗ về tâm ý. Vị nào đã đoạn tận ba sự thô lỗ này, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là appagabbho (người không thô lỗ) – (như vậy là) sacco siyā appagabbho (nên là người chân thật, không thô lỗ).
Amāyo rittapesuṇoti. Māyā vuccati vañcanikā cariyā. Idhekacco kāyena duccaritaṃ caritvā vācāya duccaritaṃ caritvā manasā duccaritaṃ caritvā tassa paṭicchādanahetu pāpikaṃ icchaṃ paṇidahati, mā maṃ jaññāti icchati, mā maṃ jaññāti saṅkappeti, mā maṃ jaññāti vācaṃ bhāsati, mā maṃ jaññāti kāyena parakkamati. Yā evarūpā māyā māyāvitā accasarā vañcanā nikati nikiraṇā pariharaṇā gūhanā parigūhanā chādanā paricchādanā anuttānīkammaṃ anāvikammaṃ vocchādanā pāpakiriyā – ayaṃ vuccati māyā. Yassesā māyā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati amāyo. Rittapesuṇoti pesuññanti idhekacco pisuṇavāco hoti…pe… evaṃ bhedādhippāyena pesuññaṃ upasaṃharati. Yassetaṃ pesuññaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati rittapesuṇo vivittapesuṇo pavivittapesuṇoti – amāyo rittapesuṇo.
"Without deceit and void of slander." Deceit is called deceitful conduct. Here, someone, having engaged in misconduct by body, having engaged in misconduct by speech, and having engaged in misconduct by mind, for the sake of concealing it, forms a base desire. One resolves, "May they not know me"; one desires, "May they not know me"; one conceives, "May they not know me"; one utters speech, "May they not know me"; one makes an effort with the body, "May they not know me." Whatever deceit of such a kind, deceitfulness, cunning, fraud, trickery, deception, evasion, hiding, complete hiding, covering up, complete covering up, un-revealing deeds, un-manifesting deeds, dissimulation, or evil actions—this is called deceit. One for whom this deceit has been abandoned, cut off, stilled, pacified, made incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge, is called "one without deceit." "Void of slander": Slander is when someone here is of slanderous speech... and so on... thus one employs slander with the intention of causing division. One for whom this slander has been abandoned, cut off, stilled, pacified, made incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge, is called "one void of slander," "secluded from slander," "completely secluded from slander"—thus, "without deceit and void of slander."
Amāyo rittapesuṇoti (Không xảo trá, không nói lời đâm thọc). Māyā (sự xảo trá) được gọi là hành vi lừa dối. Ở đây, có người sau khi làm điều ác bằng thân, làm điều ác bằng lời, làm điều ác bằng ý, vì muốn che giấu điều đó, bèn khởi lên ý muốn xấu xa, mong rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ nói lời rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta,’ cố gắng bằng thân (để che giấu) rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta.’ Bất cứ sự xảo trá, sự gian xảo, sự lừa gạt, sự lừa dối, sự gian trá, sự che đậy, sự giấu giếm, sự che giấu kỹ, sự che đậy, sự che đậy kỹ, hành vi không làm cho rõ ràng, hành vi không phơi bày, sự che lấp, hành vi xấu xa nào như vậy – đây được gọi là māyā (sự xảo trá). Vị nào đã đoạn tận sự xảo trá này, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là amāyo (người không xảo trá). Rittapesuṇoti (Không nói lời đâm thọc) có nghĩa là: Ở đây, có người nói lời đâm thọc… cho đến… như vậy, người ấy nói lời đâm thọc với ý định gây chia rẽ. Vị nào đã đoạn tận lời nói đâm thọc này, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là rittapesuṇo (người không nói lời đâm thọc), vivittapesuṇo (người xa lìa lời nói đâm thọc), pavivittapesuṇo (người hoàn toàn xa lìa lời nói đâm thọc) – (như vậy là) amāyo rittapesuṇo (không xảo trá, không nói lời đâm thọc).
Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare munīti. Akkodhanoti hi kho vuttaṃ, api ca kodho tāva vattabbo. Dasahākārehi kodho jāyati. ‘‘Anatthaṃ me acarī’’ti kodho jāyati…pe… yasseso kodho pahīno samucchinno vūpasanto paṭipassaddho abhabbuppattiko ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati akkodhano. Kodhassa pahīnattā akkodhano, kodhavatthussa pariññātattā akkodhano, kodhahetussa upacchinnattā akkodhano. Lobhoti yo lobho lubbhanā lubbhitattaṃ…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Vevicchaṃ vuccati pañca macchariyāni – āvāsamacchariyaṃ…pe… gāho vuccati macchariyaṃ. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare munīti. Muni lobhapāpañca vevicchañca atari uttari patari samatikkami vītivattayīti † – akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare muni.
"Being without anger, the sage should overcome evil greed and stinginess." As for "one without anger," it is indeed said. Alternatively, anger should be spoken of first. Anger arises from ten causes. "They have harmed me"—thus anger arises... and so on. One for whom this anger has been abandoned, cut off, stilled, pacified, made incapable of future arising, and burned by the fire of knowledge, is called "one without anger." Because anger is abandoned, one is without anger. Because the basis of anger is fully understood, one is without anger. Because the cause of anger is cut off, one is without anger. As for "greed," it is that which is greed, the act of being greedy, the state of being greedy... covetousness, greed, an unwholesome root. "Stinginess" refers to the five kinds of miserliness: miserliness regarding dwellings... and so on... grasping is called miserliness. As for "the sage": `Mona` is called knowledge... having gone beyond the net of attachment, one is a sage. "Being without anger, the sage should overcome evil greed and stinginess": The sage has crossed over, gone beyond, variously crossed over, completely crossed over, and passed beyond both evil greed and stinginess—thus, "Being without anger, the sage should overcome evil greed and stinginess."
Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare munīti (Bậc ẩn sĩ không sân hận, vượt qua tham lam xấu xa và keo kiệt). Akkodhanoti (Không sân hận) đã được nói đến, tuy nhiên, trước hết nên nói về sân hận. Sân hận sanh khởi do mười nguyên nhân. Sân hận sanh khởi (với ý nghĩ): ‘Nó đã làm điều bất lợi cho ta’… cho đến… Vị nào đã đoạn tận sân hận này, đã cắt đứt, đã làm cho lắng dịu, đã làm cho an tịnh, không còn khả năng sanh khởi lại, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là akkodhano (người không sân hận). Do đã đoạn tận sân hận nên là người không sân hận, do đã liễu tri đối tượng của sân hận nên là người không sân hận, do đã cắt đứt nguyên nhân của sân hận nên là người không sân hận. Lobhoti (Tham lam) là bất cứ sự tham lam, sự ham muốn, trạng thái ham muốn nào… cho đến… tham ái, tham lam, là gốc rễ bất thiện. Vevicchaṃ (Keo kiệt) được gọi là năm loại bỏn xẻn – bỏn xẻn về trú xứ… cho đến… sự chấp thủ được gọi là bỏn xẻn. Munīti (Bậc ẩn sĩ). Monaṃ (sự tĩnh lặng) được gọi là ñāṇaṃ (trí tuệ)… cho đến… vượt qua mạng lưới ái luyến, vị ấy là bậc ẩn sĩ. Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare munīti (Bậc ẩn sĩ không sân hận, vượt qua tham lam xấu xa và keo kiệt) có nghĩa là: Bậc ẩn sĩ đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt thoát, đã vượt khỏi, đã đi qua khỏi tham lam xấu xa và keo kiệt – (như vậy là) akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare muni (bậc ẩn sĩ không sân hận, vượt qua tham lam xấu xa và keo kiệt).
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Sacco siyā appagabbho, amāyo rittapesuṇo;
Akkodhano lobhapāpaṃ, vevicchaṃ vitare munī’’ti.
“One should be truthful, not arrogant, without deceit, and devoid of slander; being without anger, a sage should overcome evil greed and stinginess.”
“Nên là người chân thật, không thô lỗ, không xảo trá, không nói lời đâm thọc; bậc ẩn sĩ không sân hận, vượt qua tham lam xấu xa và keo kiệt.”
177.
177.
177.
Niddaṃ tandiṃ sahe thīnaṃ, pamādena na saṃvase;
Atimāne na tiṭṭheyya, nibbānamanaso naro.
A person whose mind is intent on Nibbāna should overcome sleepiness, sloth, and torpor; they should not dwell with heedlessness and should not stand on excessive conceit.
Người có tâm hướng về Niết-bàn, nên nhiếp phục buồn ngủ, lười biếng, và hôn trầm; không nên sống trong sự dễ duôi; không nên an trú trong sự quá mạn.
Niddaṃ tandiṃ sahe thīnanti. Niddāti yā kāyassa akalyatā akammaññatā onāho pariyonāho antosamorodho middhaṃ suppaṃ pacalāyikā suppaṃ suppanā suppitattaṃ. Tandinti yā tandī † tandiyanā tandiyitattaṃ tandimanakatā ālasyaṃ ālasyāyatā ālasyāyitattaṃ. Thīnanti yā cittassa akalyatā akammaññatā olīyanā sallīyanā līnaṃ līyanā līyitattaṃ, thinaṃ thiyanā thiyitattaṃ cittassa. Niddaṃ tandiṃ sahe thīnanti. Niddañca tandiñca thinañca sahe saheyya parisaheyya abhibhaveyya ajjhotthareyya pariyādiyeyya maddeyyāti – niddaṃ tandiṃ sahe thīnaṃ.
As for 'One should overcome sleepiness, sloth, and torpor.' 'Sleepiness' is the body's incapacity, its unworkability, sinking down, being enveloped, internal obstruction, drowsiness, sleep, nodding, the act of sleeping, and the state of being asleep. 'Sloth' is sluggishness, the act of being sluggish, the state of being sluggish, having a sluggish mind, laziness, the act of being lazy, and the state of being lazy. 'Torpor' is the mind's incapacity, its unworkability, shrinking, the act of shrinking, sluggishness, the act of being sluggish, the state of being sluggish, compactness, the act of being compact, and the state of the mind's compactness. As for 'One should overcome sleepiness, sloth, and torpor': one should abandon, thoroughly abandon, overcome, overwhelm, bring to an end, and crush sleepiness, sloth, and torpor—thus, 'One should overcome sleepiness, sloth, and torpor.'
Niddaṃ tandiṃ sahe thīnanti (Nên nhiếp phục buồn ngủ, lười biếng, và hôn trầm). Niddāti (Buồn ngủ) là bất cứ sự không khỏe mạnh, sự không thích ứng của thân, sự co rút, sự co rút hoàn toàn, sự co rút bên trong, sự hôn trầm, sự ngủ, sự gật gù, sự ngủ, sự ngủ nghỉ, trạng thái ngủ. Tandinti (Lười biếng) là bất cứ sự lười biếng, sự uể oải, trạng thái uể oải, tâm trạng uể oải, sự biếng nhác, sự biếng nhác, trạng thái biếng nhác nào. Thīnanti (Hôn trầm) là bất cứ sự không khỏe mạnh, sự không thích ứng của tâm, sự co rút, sự co rút hoàn toàn, sự chìm đắm, sự co rút, trạng thái co rút, sự hôn trầm, sự hôn trầm, trạng thái hôn trầm của tâm. Niddaṃ tandiṃ sahe thīnanti (Nên nhiếp phục buồn ngủ, lười biếng, và hôn trầm) có nghĩa là: nên nhiếp phục, nên hoàn toàn nhiếp phục, nên chế ngự, nên áp đảo, nên làm cho tiêu tan, nên đè nén cả buồn ngủ, lười biếng, và hôn trầm – (như vậy là) niddaṃ tandiṃ sahe thīnaṃ (nên nhiếp phục buồn ngủ, lười biếng, và hôn trầm).
Pamādena na saṃvaseti. Pamādo vattabbo kāyaduccarite vā vacīduccarite vā manoduccarite vā pañcasu vā kāmaguṇesu. Cittassa vosaggo vosaggānuppādanaṃ † vā kusalānaṃ vā dhammānaṃ bhāvanāya asakkaccakiriyatā asātaccakiriyatā anaṭṭhitakiriyatā olīnavuttitā nikkhittacchandatā nikkhittadhuratā anāsevanā abhāvanā abahulīkammaṃ anadhiṭṭhānaṃ ananuyogo pamādo. Yo evarūpo pamādo pamajjanā pamajjitattaṃ – ayaṃ vuccati pamādo. Pamādena na saṃvaseti pamādena na vaseyya na saṃvaseyya na āvaseyya na parivaseyya, pamādaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, pamādā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – pamādena na saṃvase.
"One should not dwell with heedlessness." Heedlessness is spoken of in relation to misconduct of body, speech, or mind, or in relation to the five sensual pleasures. It is the letting go of the mind, the failure to arouse it; or, in the development of wholesome states, it is the lack of respectful action, lack of persistent action, lack of steadfast action, sluggish conduct, the state of having abandoned desire, the state of having abandoned the burden, non-cultivation, non-development, not making much of it, non-resolution, and non-application. This is heedlessness. Whatever heedlessness of such a nature—negligence, the state of being negligent—this is called heedlessness. "One should not dwell with heedlessness" means: one should not live with heedlessness, should not co-reside with it, should not repeatedly abide in it, should not dwell surrounded by it. One should abandon heedlessness, dispel it, bring it to an end, cause it to reach non-existence. One should be aloof from heedlessness, refrained from it, completely refrained from it, gone out from it, having cast it off, released from it, and disjoined from it; one should dwell with a mind without boundaries. Thus, "one should not dwell with heedlessness."
Pamādena na saṃvaseti (Không nên sống trong sự dễ duôi). Pamādo (sự dễ duôi) nên được nói đến: (đó là) trong thân ác hạnh, hoặc khẩu ác hạnh, hoặc ý ác hạnh, hoặc trong năm dục trưởng dưỡng. Sự buông thả của tâm, sự liên tục buông thả, hoặc sự không thực hành một cách kính cẩn, sự không thực hành một cách liên tục, sự không thực hành một cách kiên định trong việc tu tập các pháp thiện, thái độ co rút, sự từ bỏ ý muốn, sự từ bỏ gánh nặng (tinh tấn), sự không thực hành, sự không tu tập, sự không làm cho sung mãn, sự không quyết tâm, sự không chuyên chú, (đó là) sự dễ duôi. Bất cứ sự dễ duôi, sự lơ là, trạng thái lơ là nào như vậy – đây được gọi là pamādo (sự dễ duôi). Pamādena na saṃvaseti (Không nên sống trong sự dễ duôi) có nghĩa là: không nên sống, không nên chung sống, không nên trú ngụ, không nên quanh quẩn với sự dễ duôi; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho không còn tồn tại sự dễ duôi; nên xa lánh, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ, nên thoát ra, nên rũ bỏ, nên giải thoát, nên không còn liên hệ với sự dễ duôi; nên sống với tâm không còn giới hạn (bởi phiền não) – (như vậy là) pamādena na saṃvase (không nên sống trong sự dễ duôi).
Atimāne na tiṭṭheyyāti. Atimānoti idhekacco paraṃ atimaññati jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Yo evarūpo māno maññanā maññitattaṃ unnati unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassa – ayaṃ vuccati atimāno. Atimāne na tiṭṭheyyāti. Atimāne na tiṭṭheyya na saṃtiṭṭheyya, atimānaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, atimānā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – atimāne na tiṭṭheyya.
One should not stand upon over-conceit. Herein, over-conceit is when a certain person looks down upon another on account of birth, or clan... or on account of some other thing. Whatever such conceit, conceiving, the state of being conceited, loftiness, haughtiness, the banner, the thorough grasping, and the desire for prominence of the mind—this is called over-conceit. 'One should not stand upon over-conceit' means: one should not stand upon over-conceit, should not be firmly established in it. One should abandon over-conceit, dispel it, bring it to an end, cause it to reach non-existence. One should be aloof from over-conceit, refrained from it, completely refrained from it, gone out from it, having cast it off, released from it, and disjoined from it; one should dwell with a mind without boundaries. Thus, one should not stand upon over-conceit.
Atimāne na tiṭṭheyyāti (Không nên an trú trong sự quá mạn). Atimāno (sự quá mạn) là: Ở đây, có người xem thường người khác về dòng dõi, về gia tộc, ... hay về một phương diện nào đó. Bất cứ sự kiêu mạn, sự tưởng là, tánh chất tưởng là, sự vươn lên, sự ngẩng cao, sự phất cờ, sự chấp thủ hoàn toàn, sự muốn phất cờ của tâm như thế này – điều này được gọi là atimāno (sự quá mạn). Atimāne na tiṭṭheyyāti (Không nên an trú trong sự quá mạn) có nghĩa là: Không nên an trú, không nên đứng vững trong sự quá mạn; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu sự quá mạn; nên xa lìa, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ, nên thoát ra, nên rũ bỏ, nên giải thoát, nên không còn liên hệ với sự quá mạn; nên sống với tâm không còn giới hạn – (đó là ý nghĩa của) atimāne na tiṭṭheyya (không nên an trú trong sự quá mạn).
Nibbānamanaso naroti. Idhekacco dānaṃ dento sīlaṃ samādiyanto uposathakammaṃ karonto pānīyaṃ paribhojanīyaṃ upaṭṭhapento pariveṇaṃ sammajjanto cetiyaṃ vandanto cetiye gandhamālaṃ āropento cetiyaṃ padakkhiṇaṃ karonto yaṃ kiñci tedhātukaṃ kusalābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkharonto na gatihetu na upapattihetu na paṭisandhihetu na bhavahetu na saṃsārahetu na vaṭṭahetu, sabbaṃ taṃ visaṃyogādhippāyo nibbānaninno nibbānapoṇo nibbānapabbhāro abhisaṅkharotīti. Evampi nibbānamanaso naro. Atha vā sabbasaṅkhāradhātuyā cittaṃ paṭivāpetvā † amatāya dhātuyā cittaṃ upasaṃharati – ‘‘etaṃ santaṃ etaṃ paṇītaṃ yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbāna’’nti. Evampi nibbānamanaso naro.
A person whose mind is set on Nibbāna. Herein, a certain person—while giving alms, undertaking the moral precepts, performing the Uposatha observance, setting out drinking water and water for use, sweeping the monastic compound, worshipping the cetiya, offering fragrances and garlands at the cetiya, and circumambulating the cetiya—while performing any wholesome volitional formation whatsoever pertaining to the three realms, does so not for the sake of a future destination, not for the sake of rebirth, not for the sake of re-linking, not for the sake of existence, not for the sake of saṃsāra, not for the sake of the round of existence. Rather, with the intention of disjunction, one performs all that inclined toward Nibbāna, tending toward Nibbāna, sloping toward Nibbāna. In this way, too, one is a person whose mind is set on Nibbāna. Or else, having turned the mind away from the element of all formations, one directs the mind toward the deathless element, thinking: 'This is peaceful, this is sublime—that is, the stilling of all formations, the relinquishment of all substrata of existence, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.' In this way, too, one is a person whose mind is set on Nibbāna.
Nibbānamanaso naroti (Người có tâm hướng về Niết-bàn). Ở đây, có người trong khi bố thí, trong khi thọ trì giới, trong khi thực hành phận sự ngày trai giới, trong khi sắp đặt nước uống nước dùng, trong khi quét dọn khuôn viên, trong khi đảnh lễ bảo tháp, trong khi dâng cúng hương hoa tại bảo tháp, trong khi đi nhiễu quanh bảo tháp, trong khi tạo tác bất cứ thiện hành nào thuộc ba cõi, (vị ấy tạo tác) không phải vì nhân là cõi đến, không phải vì nhân là sự tái sanh, không phải vì nhân là sự nối liền (sanh hữu), không phải vì nhân là sự hiện hữu, không phải vì nhân là sự luân hồi, không phải vì nhân là vòng luân chuyển; vị ấy tạo tác tất cả những điều ấy với chủ ý thoát ly, với tâm hướng về Niết-bàn, với tâm xuôi về Niết-bàn, với tâm nghiêng về Niết-bàn. Như vậy cũng là nibbānamanaso naro (người có tâm hướng về Niết-bàn). Hoặc là, sau khi làm cho tâm rời khỏi các giới hành, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử (và suy niệm): ‘Pháp này là tịch tịnh, pháp này là cao thượng, đó là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự diệt tận, (tức là) Niết-bàn.’ Như vậy cũng là nibbānamanaso naro (người có tâm hướng về Niết-bàn).
‘‘Na paṇḍitā upadhisukhassa hetu, dadanti dānāni punabbhavāya;
Kāmañca te upadhiparikkhayāya, dadanti dānaṃ apunabbhavāya.
The wise do not give gifts for the sake of happiness based on the substrata of existence, nor for renewed existence. Rather, for the destruction of the substrata of existence and for no more renewed existence, they give gifts.
‘Bậc trí không bố thí vì nhân là lạc thú của sanh y, (cũng không bố thí) vì sự tái sanh; Mà thật ra, các vị ấy bố thí vì sự đoạn tận sanh y, vì sự không tái sanh.
‘‘Na paṇḍitā upadhisukhassa hetu, bhāventi jhānāni punabbhavāya;
Kāmañca te upadhiparikkhayāya, bhāventi jhānaṃ apunabbhavāya.
The wise do not cultivate the jhānas for the sake of happiness based on the substrata of existence, nor for renewed existence. Rather, for the destruction of the substrata of existence and for no more renewed existence, they cultivate the jhānas.
‘Bậc trí không tu tiến các thiền vì nhân là lạc thú của sanh y, (cũng không tu tiến) vì sự tái sanh; Mà thật ra, các vị ấy tu tiến thiền vì sự đoạn tận sanh y, vì sự không tái sanh.
‘‘Te nibbuttiṃ āsisamānasā † dadanti, tanninnacittā † tadadhimuttā;
Najjo yathā sāgaramajjhupetā †, bhavanti nibbānaparāyanā te’’ti.
They give, desiring Nibbāna, with minds inclined toward it and resolved on it; just as rivers that enter the ocean, they become those whose final destination is Nibbāna.
‘Các vị ấy bố thí với tâm mong cầu sự tịch tịnh, với tâm hướng về điều ấy, với lòng tin tưởng vào điều ấy; Như các dòng sông chảy vào giữa lòng đại dương, các vị ấy có Niết-bàn là đích đến cuối cùng.’
Nibbānamanaso naro. Tenāha bhagavā –
A person whose mind is set on Nibbāna. Therefore, the Blessed One said:
Người có tâm hướng về Niết-bàn. Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Niddaṃ tandi sahe thīnaṃ, pamādena na saṃvase;
Atimāne na tiṭṭheyya, nibbānamanaso naro’’ti.
A person whose mind is set on Nibbāna should endure sleep, drowsiness, and sloth; they should not dwell in heedlessness, nor stand upon over-conceit.
‘Nên chịu đựng sự buồn ngủ, sự mệt mỏi, sự hôn trầm, không nên sống chung với sự dể duôi; Không nên an trú trong sự quá mạn, (đối với) người có tâm hướng về Niết-bàn.’
178.
178.
178.
Mosavajje na niyyetha, † rūpe snehaṃ na kubbaye;
Mānañca parijāneyya, sāhasā virato care.
One should not engage in false speech, nor cultivate affection for forms; one should fully understand conceit, and conduct oneself while abstaining from rashness.
Không nên đi đến lời nói dối, không nên tạo ra sự luyến ái trong các sắc; Nên liễu tri cả sự kiêu mạn, nên từ bỏ sự bạo hành mà sống.
Mosavajje na niyyethāti. Mosavajjaṃ vuccati musāvādo. Idhekacco sabhaggato vā parisaggato vā ñātimajjhagato vā pūgamajjhagato vā rājakulamajjhagato vā abhinīto sakkhipuṭṭho – ‘‘ehambho purisa, yaṃ jānāsi taṃ vadehī’’ti, so ajānaṃ vā āha – ‘‘jānāmī’’ti, jānaṃ vā āha – ‘‘na jānāmī’’ti, apassaṃ vā āha – ‘‘passāmī’’ti, passaṃ vā āha – ‘‘na passāmī’’ti. Iti attahetu vā parahetu vā āmisakiñcikkhahetu vā sampajānamusā bhāsitā hoti – idaṃ vuccati mosavajjaṃ. Api ca tīhākārehi…pe… catūhākārehi… pañcahākārehi… chahākārehi… sattahākārehi… aṭṭhahākārehi…pe… imehi aṭṭhahākārehi musāvādo hoti. Mosavajje na niyyethāti. Mosavajje na yāyeyya na niyyāyeyya na vaheyya na saṃhareyya, mosavajjaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, mosavajjā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – mosavajje na niyyetha.
“One should not be led on by false speech.” False speech is called lying. Herein, someone, having gone to an assembly, or to a gathering, or among relatives, or among a guild, or among royalty, when brought forward and questioned as a witness—“Come, good sir, speak what you know”—though not knowing, says, “I know,” or knowing, says, “I do not know”; not seeing, says, “I see,” or seeing, says, “I do not see.” Thus, for one's own sake, or for another's sake, or for the sake of some slight material gain, a deliberate falsehood is spoken—this is called false speech. Moreover, in three ways... in four ways... in five ways... in six ways... in seven ways... in eight ways... in these eight ways, false speech occurs. “One should not be led on by false speech” means one should not go towards, should not be led towards, should not be carried away by, should not take up false speech. One should abandon false speech, dispel it, bring it to an end, cause it to come to non-existence. One should be aloof from false speech, abstaining from it, refraining from it, having gone forth from it, having cast it off, released from it, disconnected from it, and should dwell with a mind without boundaries. Thus, one should not be led on by false speech.
Mosavajje na niyyethāti (Không nên đi đến lời nói dối). Lời nói dối được gọi là mosavajjaṃ (lỗi lầm do sự dối trá). Ở đây, có người khi đến hội đồng, hoặc đến hội chúng, hoặc đến giữa những người bà con, hoặc đến giữa đoàn thể, hoặc đến giữa hoàng tộc, được dẫn đến và được hỏi làm nhân chứng: ‘Này ông, điều gì ông biết thì hãy nói ra.’ Người ấy không biết mà nói: ‘Tôi biết,’ hoặc biết mà nói: ‘Tôi không biết;’ không thấy mà nói: ‘Tôi thấy,’ hoặc thấy mà nói: ‘Tôi không thấy.’ Như vậy, vì bản thân, hoặc vì người khác, hoặc vì một chút lợi lộc vật chất nào đó, người ấy đã cố ý nói dối – điều này được gọi là mosavajjaṃ. Lại nữa, lời nói dối xảy ra do ba cách... bốn cách... năm cách... sáu cách... bảy cách... tám cách... do tám cách này mà có lời nói dối. Mosavajje na niyyethāti (Không nên đi đến lời nói dối) có nghĩa là: Không nên đi đến, không nên dẫn đến, không nên mang đến, không nên đem đến lời nói dối; nên từ bỏ, nên loại trừ, nên làm cho chấm dứt, nên làm cho không còn hiện hữu lời nói dối; nên xa lìa, nên từ bỏ, nên hoàn toàn từ bỏ, nên thoát ra, nên rũ bỏ, nên giải thoát, nên không còn liên hệ với lời nói dối; nên sống với tâm không còn giới hạn – (đó là ý nghĩa của) mosavajje na niyyetha (không nên đi đến lời nói dối).
Rūpe snehaṃ na kubbayeti. Rūpanti cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Rūpe snehaṃ na kubbayeti. Rūpe snehaṃ na kareyya chandaṃ na kareyya pemaṃ na kareyya rāgaṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyyāti – rūpe snehaṃ na kubbaye.
“One should not form affection for form.” “Form” means the four great elements and the form derived from the four great elements. “One should not form affection for form” means: for form, one should not make affection, should not make desire, should not make love, should not make lust; one should not generate it, should not bring it forth, should not produce it, should not cause it to be fully produced. Thus, one should not form affection for form.
Rūpe snehaṃ na kubbayeti (Không nên tạo ra sự luyến ái trong các sắc). Rūpaṃ (sắc) là bốn đại hiển và sắc do bốn đại hiển tạo thành. Rūpe snehaṃ na kubbayeti (Không nên tạo ra sự luyến ái trong các sắc) có nghĩa là: Không nên tạo ra sự luyến ái, không nên tạo ra dục, không nên tạo ra tình thương, không nên tạo ra tham ái, không nên làm phát sanh, không nên làm cho sanh khởi, không nên làm cho hiện hữu, không nên làm cho hiện hữu một cách trọn vẹn trong các sắc – (đó là ý nghĩa của) rūpe snehaṃ na kubbaye (không nên tạo ra sự luyến ái trong các sắc).
Mānañca parijāneyyāti. Mānoti ekavidhena māno – yā cittassa unnati. Duvidhena māno – attukkaṃsanamāno, paravambhanamāno. Tividhena māno – ‘‘seyyohamasmī’’ti māno, ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, ‘‘hīnohamasmī’’ti māno. Catuvidhena māno – lābhena mānaṃ janeti, yasena mānaṃ janeti, pasaṃsāya mānaṃ janeti, sukhena mānaṃ janeti. Pañcavidhena māno – ‘‘lābhimhi manāpikānaṃ rūpāna’’nti mānaṃ janeti, ‘‘lābhimhi manāpikānaṃ saddānaṃ…pe… gandhānaṃ… rasānaṃ… phoṭṭhabbāna’’nti mānaṃ janeti. Chabbidhena māno – cakkhusampadāya mānaṃ janeti, sotasampadāya…pe… ghānasampadāya… jivhāsampadāya… kāyasampadāya… manosampadāya mānaṃ janeti. Sattavidhena māno – atimāno, mānātimāno, omāno, sadisamāno, adhimāno, asmimāno, micchāmāno. Aṭṭhavidhena māno – lābhena mānaṃ janeti, alābhena omānaṃ janeti, yasena mānaṃ janeti, ayasena omānaṃ janeti, pasaṃsāya mānaṃ janeti, nindāya omānaṃ janeti, sukhena mānaṃ janeti, dukkhena omānaṃ janeti. Navavidhena māno – seyyassa ‘‘seyyohamasmī’’ti māno, seyyassa ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, seyyassa ‘‘hīnohamasmī’’ti māno, sadisassa ‘‘seyyohamasmī’’ti māno, sadisassa ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, sadisassa ‘‘hīnohamasmī’’ti māno, hīnassa ‘‘seyyohamasmī’’ti māno, hīnassa ‘‘sadisohamasmī’’ti māno, hīnassa ‘‘hīnohamasmī’’ti māno. Dasavidhena māno – idhekacco mānaṃ janeti jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunā. Yo evarūpo māno maññanā maññitattaṃ unnati unnamo dhajo sampaggāho ketukamyatā cittassa – ayaṃ vuccati māno.
Regarding ‘And one should fully understand conceit’: Conceit is of one kind: the elevation of the mind. Conceit is of two kinds: conceit that exalts oneself and conceit that disparages others. Conceit is of three kinds: the conceit ‘I am superior,’ the conceit ‘I am equal,’ and the conceit ‘I am inferior.’ Conceit is of four kinds: one generates conceit through gain, one generates conceit through fame, one generates conceit through praise, one generates conceit through pleasure. Conceit is of five kinds: one generates conceit thinking, ‘I am a gainer of desirable forms’; one generates conceit thinking, ‘I am a gainer of desirable sounds... smells... tastes... touches.’ Conceit is of six kinds: one generates conceit through the perfection of the eye, through the perfection of the ear... nose... tongue... body... mind. Conceit is of seven kinds: over-conceit, conceit surpassing the conceited, inferior conceit, conceit of equality, conceit of superiority, the conceit ‘I am,’ and wrong conceit. Conceit is of eight kinds: one generates conceit through gain, and one generates inferior conceit through loss; one generates conceit through fame, and one generates inferior conceit through disrepute; one generates conceit through praise, and one generates inferior conceit through blame; one generates conceit through pleasure, and one generates inferior conceit through pain. Conceit is of nine kinds: the conceit ‘I am superior to a superior,’ the conceit ‘I am equal to a superior,’ the conceit ‘I am inferior to a superior’; the conceit ‘I am superior to an equal,’ the conceit ‘I am equal to an equal,’ the conceit ‘I am inferior to an equal’; the conceit ‘I am superior to an inferior,’ the conceit ‘I am equal to an inferior,’ the conceit ‘I am inferior to an inferior.’ Conceit is of ten kinds: herein, a certain person generates conceit due to birth or clan... or due to some other basis. Whatever such conceit—conceiving, the state of having conceived, elevation, elation, a banner, a firm grasp, the mind's desire for prominence—this is called conceit.
Về câu "nên liễu tri cả mạn." Mạn là: theo một phương diện, mạn là sự vươn lên của tâm. Theo hai phương diện, mạn là: mạn đề cao bản thân, mạn chê bai người khác. Theo ba phương diện, mạn là: mạn rằng "ta hơn," mạn rằng "ta bằng," mạn rằng "ta thua." Theo bốn phương diện, mạn là: do lợi lộc mà sanh mạn, do danh vọng mà sanh mạn, do tán dương mà sanh mạn, do lạc mà sanh mạn. Theo năm phương diện, mạn là: sanh mạn rằng "ta được các sắc khả ý," sanh mạn rằng "ta được các tiếng khả ý... (v.v.)... các mùi... các vị... các xúc khả ý." Theo sáu phương diện, mạn là: do sự toàn hảo của mắt mà sanh mạn, do sự toàn hảo của tai... (v.v.)... do sự toàn hảo của mũi... của lưỡi... của thân... do sự toàn hảo của ý mà sanh mạn. Theo bảy phương diện, mạn là: quá mạn, mạn hơn cả mạn, ty liệt mạn, mạn ngang bằng, tăng thượng mạn, ngã mạn, tà mạn. Theo tám phương diện, mạn là: do lợi lộc mà sanh mạn, do không lợi lộc mà sanh ty liệt mạn; do danh vọng mà sanh mạn, do không danh vọng mà sanh ty liệt mạn; do tán dương mà sanh mạn, do chê bai mà sanh ty liệt mạn; do lạc mà sanh mạn, do khổ mà sanh ty liệt mạn. Theo chín phương diện, mạn là: đối với người hơn, mạn rằng "ta hơn;" đối với người hơn, mạn rằng "ta bằng;" đối với người hơn, mạn rằng "ta thua;" đối với người bằng, mạn rằng "ta hơn;" đối với người bằng, mạn rằng "ta bằng;" đối với người bằng, mạn rằng "ta thua;" đối với người thua, mạn rằng "ta hơn;" đối với người thua, mạn rằng "ta bằng;" đối với người thua, mạn rằng "ta thua." Theo mười phương diện, mạn là: ở đây, có người sanh mạn do dòng dõi, hoặc do gia tộc, ... (v.v.)... hoặc do một sự việc nào đó. Bất cứ mạn nào có hình thức như vậy, sự tưởng, trạng thái tưởng, sự vươn lên, sự cúi xuống, ngọn cờ, sự nắm giữ, sự mong muốn được như ngọn cờ của tâm – đây được gọi là mạn.
Mānañca parijāneyyāti. Mānaṃ tīhi pariññāhi parijāneyya – ñātapariññāya, tīraṇapariññāya, pahānapariññāya. Katamā ñātapariññā? Mānaṃ jānāti ayaṃ ekavidhena māno – yā cittassa unnati. Ayaṃ duvidhena māno – attukkaṃsanamāno paravambhanamāno…pe… ayaṃ dasavidhena māno – idhekacco mānaṃ janeti jātiyā vā gottena vā…pe… aññataraññatarena vā vatthunāti jānāti passati – ayaṃ ñātapariññā.
Regarding ‘And one should fully understand conceit’: One should fully understand conceit through three kinds of full understanding: full understanding by way of knowing, full understanding by way of scrutinizing, and full understanding by way of abandoning. What is full understanding by way of knowing? One knows conceit: ‘This is conceit of one kind—the elevation of the mind. This is conceit of two kinds—conceit that exalts oneself and conceit that disparages others... This is conceit of ten kinds—herein, a certain person generates conceit due to birth or clan... or due to some other basis.’ One knows and sees this: this is full understanding by way of knowing.
Về câu "nên liễu tri cả mạn." Nên liễu tri mạn bằng ba loại liễu tri: biến tri, thẩm sát tri, và đoạn trừ tri. Biến tri là gì? Vị ấy biết mạn: "Đây là mạn theo một phương diện – là sự vươn lên của tâm. Đây là mạn theo hai phương diện – mạn đề cao bản thân, mạn chê bai người khác... (v.v.)... đây là mạn theo mười phương diện – ở đây, có người sanh mạn do dòng dõi, hoặc do gia tộc, ... (v.v.)... hoặc do một sự việc nào đó," vị ấy biết, thấy như vậy – đây là biến tri.
Katamā tīraṇapariññā? Etaṃ ñātaṃ katvā mānaṃ tīreti aniccato dukkhato…pe… nissaraṇato tīreti – ayaṃ tīraṇapariññā.
What is full understanding by way of scrutinizing? Having known this, one scrutinizes conceit as impermanent, as suffering... as an escape—this is full understanding by way of scrutinizing.
Thẩm sát tri là gì? Sau khi đã biết như vậy, vị ấy thẩm sát mạn là vô thường, là khổ... (v.v.)... thẩm sát là sự xuất ly – đây là thẩm sát tri.
Katamā pahānapariññā? Evaṃ tīrayitvā mānaṃ pajahati vinodeti byantiṃ karoti anabhāvaṃ gameti – ayaṃ pahānapariññā. Mānañca parijāneyyāti mānaṃ imāhi tīhi pariññāhi parijāneyyāti – mānañca parijāneyya.
What is full understanding by way of abandoning? Having scrutinized it thus, one abandons conceit, dispels it, makes an end of it, and brings it to non-existence—this is full understanding by way of abandoning. ‘And one should fully understand conceit’ means that one should fully understand conceit through these three kinds of full understanding.
Đoạn trừ tri là gì? Sau khi thẩm sát như vậy, vị ấy từ bỏ mạn, loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu – đây là đoạn trừ tri. Về câu "nên liễu tri cả mạn," có nghĩa là nên liễu tri mạn bằng ba loại liễu tri này – nên liễu tri cả mạn.
Sāhasā virato careti. Katamā sāhasā cariyā? Rattassa rāgacariyā sāhasā cariyā, duṭṭhassa dosacariyā sāhasā cariyā, mūḷhassa mohacariyā sāhasā cariyā, vinibaddhassa mānacariyā sāhasā cariyā, parāmaṭṭhassa diṭṭhicariyā sāhasā cariyā, vikkhepagatassa uddhaccacariyā sāhasā cariyā, aniṭṭhaṅgatassa vicikicchācariyā sāhasā cariyā, thāmagatassa anusayacariyā sāhasā cariyā – ayaṃ sāhasā cariyā. Sāhasā virato careti sāhasā cariyāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyya careyya vicareyya iriyeyya vatteyya pāleyya yapeyya yāpeyyāti – sāhasā virato care.
Regarding ‘One should conduct oneself abstaining from rashness’: What is rash conduct? For one who is impassioned, conduct of passion is rash conduct; for one who is malicious, conduct of malice is rash conduct; for one who is deluded, conduct of delusion is rash conduct; for one who is firmly bound, conduct of conceit is rash conduct; for one who grasps wrongly, conduct of views is rash conduct; for one who is scattered, conduct of restlessness is rash conduct; for one who has not reached a conclusion, conduct of doubt is rash conduct; for one in whom they are strong, conduct of underlying tendencies is rash conduct—this is rash conduct. ‘One should conduct oneself abstaining from rashness’ means one should be aloof from rash conduct, abstaining from it, utterly abstaining from it, gone forth from it, detached from it, released from it, disconnected from it, and should dwell with a mind free from limitations, should conduct oneself, behave, act, maintain, observe, continue, and keep going. This is the meaning of ‘One should conduct oneself abstaining from rashness’.
Về câu "nên sống từ bỏ hành vi bạo tợn." Hành vi bạo tợn là gì? Đối với người tham ái, hành vi tham là hành vi bạo tợn; đối với người sân hận, hành vi sân là hành vi bạo tợn; đối với người si mê, hành vi si là hành vi bạo tợn; đối với người bị trói buộc, hành vi mạn là hành vi bạo tợn; đối với người cố chấp, hành vi tà kiến là hành vi bạo tợn; đối với người bị tán loạn, hành vi trạo cử là hành vi bạo tợn; đối với người chưa đi đến quyết định, hành vi hoài nghi là hành vi bạo tợn; đối với người có (phiền não) mạnh mẽ, hành vi tùy miên là hành vi bạo tợn – đây là hành vi bạo tợn. Về câu "nên sống từ bỏ hành vi bạo tợn," có nghĩa là: vị ấy nên xa lánh, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ hành vi bạo tợn, nên thoát ra, dứt bỏ, giải thoát, không liên hệ, nên trú với tâm không còn giới hạn, nên sống, nên đi lại, nên duy trì oai nghi, nên hành xử, nên hộ trì, nên nuôi mạng, nên tiếp tục sống – (đó là ý nghĩa của) "nên sống từ bỏ hành vi bạo tợn."
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Mosavajje na niyyetha, rūpe snehaṃ na kubbaye;
Mānañca parijāneyya, sāhasā virato care’’ti.
‘One should not be given to the vice of falsehood, nor cultivate affection for forms; one should fully understand conceit, and conduct oneself abstaining from rashness.’
"Không nên dấn thân vào lời nói dối, không nên tạo ái luyến trong các sắc; nên liễu tri cả mạn, nên sống từ bỏ hành vi bạo tợn."
179.
179.
179.
Purāṇaṃ nābhinandeyya, nave khantiṃ na kubbaye † ;
Hīyamāne na soceyya, ākāsaṃ † na sito siyā.
One should not delight in the old, nor form an attachment to the new; one should not grieve over what is diminishing, nor be dependent on craving.
"Không nên hoan hỷ điều cũ, không nên ưa thích điều mới; khi bị suy giảm, không nên sầu muộn, không nên nương tựa vào không gian (ái dục)."
Purāṇaṃ nābhinandeyyāti. Purāṇaṃ vuccati atītā rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇā. Atīte saṅkhāre taṇhāvasena diṭṭhivasena nābhinandeyya nābhivadeyya na ajjhoseyya, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyyāti – purāṇaṃ nābhinandeyya.
Regarding ‘One should not delight in the old’: ‘The old’ refers to past form, feeling, perception, formations, and consciousness. With regard to past formations, through craving and views, one should not delight in them, welcome them, or be attached to them. One should abandon delighting, welcoming, attachment, grasping, misapprehension, and adherence; one should dispel them, make an end of them, and bring them to non-existence. Thus, ‘one should not delight in the old’.
Về câu "không nên hoan hỷ điều cũ." Sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong quá khứ được gọi là "cũ." Đối với các hành trong quá khứ, do năng lực của ái, do năng lực của tà kiến, không nên hoan hỷ, không nên tán dương, không nên chìm đắm; nên từ bỏ sự hoan hỷ, sự tán dương, sự chìm đắm, sự nắm giữ, sự chấp thủ sai lầm, sự quyết tâm, nên loại trừ, làm cho chấm dứt, làm cho không còn hiện hữu – (đó là ý nghĩa của) "không nên hoan hỷ điều cũ."
Nave khantiṃ na kubbayeti. Navā vuccati paccuppannā rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇā. Paccuppanne saṅkhāre taṇhāvasena diṭṭhivasena khantiṃ na kareyya chandaṃ na kareyya pemaṃ na kareyya rāgaṃ na kareyya na janeyya na sañjaneyya na nibbatteyya nābhinibbatteyyāti – nave khantiṃ na kubbaye.
Regarding ‘One should not form an attachment to the new’: ‘The new’ refers to present form, feeling, perception, formations, and consciousness. With regard to present formations, through craving and views, one should not form an attachment, should not form a desire, should not form affection, should not form passion; one should not generate, co-generate, produce, or fully produce them. Thus, ‘one should not form an attachment to the new’.
Về câu "không nên ưa thích điều mới." Sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong hiện tại được gọi là "mới." Đối với các hành trong hiện tại, do năng lực của ái, do năng lực của tà kiến, không nên ưa thích, không nên có dục, không nên có yêu thương, không nên có tham ái; không nên làm sanh khởi, không nên làm phát sanh, không nên làm cho có mặt, không nên làm cho có mặt một cách trọn vẹn – (đó là ý nghĩa của) "không nên ưa thích điều mới."
Hīyamāne na soceyyāti. Hīyamāne hāyamāne parihāyamāne vemāne vigacchamāne antaradhāyamāne na soceyya na kilameyya na parāmaseyya na parideveyya na urattāḷiṃ kandeyya na sammohaṃ āpajjeyya. Cakkhusmiṃ hīyamāne hāyamāne parihāyamāne vemāne vigacchamāne antaradhāyamāne, sotasmiṃ…pe… ghānasmiṃ… jivhāya… kāyasmiṃ… rūpasmiṃ… saddasmiṃ… gandhasmiṃ… rasasmiṃ… phoṭṭhabbasmiṃ… kulasmiṃ… gaṇasmiṃ… āvāsasmiṃ… lābhasmiṃ… yasasmiṃ… pasaṃsāya… sukhasmiṃ… cīvarasmiṃ… piṇḍapātasmiṃ… senāsanasmiṃ… gilānapaccayabhesajjaparikkhārasmiṃ hīyamāne hāyamāne parihāyamāne vemāne vigacchamāne antaradhāyamāne na soceyya na kilameyya na parāmaseyya na parideveyya na urattāḷiṃ kandeyya na sammohaṃ āpajjeyyāti – hīyamāne na soceyya.
'One should not grieve over what is diminishing': When something is declining, diminishing, decaying, ceasing, departing, or disappearing, one should not grieve, one should not become weary, one should not misapprehend, one should not lament, one should not beat one's breast and wail, one should not fall into confusion. When the eye is declining, diminishing, decaying, ceasing, departing, or disappearing; or the ear... or the nose... tongue... body... form... sound... smell... taste... tangible object... family... group... dwelling... gain... fame... praise... happiness... robe... alms-food... lodging... or requisites of medicine for the sick is declining, diminishing, decaying, ceasing, departing, or disappearing, one should not grieve, one should not become weary, one should not misapprehend, one should not lament, one should not beat one's breast and wail, one should not fall into confusion. This is the meaning of 'one should not grieve over what is diminishing'.
“Không nên sầu muộn khi bị suy giảm” có nghĩa là: Khi bị suy giảm, khi bị hao mòn, khi bị suy thoái, khi không còn, khi biến mất, khi tan biến, vị ấy không nên sầu muộn, không nên mệt mỏi, không nên chấp thủ sai lầm, không nên than khóc, không nên đấm ngực khóc lóc, không nên đi đến si mê. Khi con mắt bị suy giảm, bị hao mòn, bị suy thoái, không còn, biến mất, tan biến; khi lỗ tai... (như trên)... khi lỗ mũi... khi lưỡi... khi thân... khi sắc... khi thanh... khi hương... khi vị... khi xúc... khi gia tộc... khi hội chúng... khi trú xứ... khi lợi lộc... khi danh tiếng... khi sự tán dương... khi sự an lạc... khi y phục... khi vật thực khất thực... khi sàng tọa... khi dược phẩm trị bệnh bị suy giảm, bị hao mòn, bị suy thoái, không còn, biến mất, tan biến, vị ấy không nên sầu muộn, không nên mệt mỏi, không nên chấp thủ sai lầm, không nên than khóc, không nên đấm ngực khóc lóc, không nên đi đến si mê. Đây là ý nghĩa của “không nên sầu muộn khi bị suy giảm”.
Ākāsaṃ na sito siyāti. Ākāsaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Kiṃkāraṇā ākāsaṃ vuccati taṇhā? Yāya taṇhāya rūpaṃ ākassati samākassati gaṇhāti parāmasati abhinivisati, vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ… upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ ākassati samākassati gaṇhāti parāmasati abhinivisati; taṃkāraṇā ākāsaṃ vuccati taṇhā. Ākāsaṃ na sito siyāti. Taṇhānissito na siyā. Taṇhaṃ pajaheyya vinodeyya byantiṃ kareyya anabhāvaṃ gameyya, taṇhāya ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā vihareyyāti – ākāsaṃ na sito siyā.
“One should not be dependent on `ākāsa`.” `Ākāsa` is a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. For what reason is craving called `ākāsa`? Because by means of that craving one draws in (`ākassati`), strongly draws in, seizes, grasps, and becomes attached to form, feeling... perception... formations... consciousness... destiny... arising... relinking... existence... wandering-on... the round; one draws it in, strongly draws it in, seizes it, grasps it, and becomes attached to it. For that reason, craving is called `ākāsa`. “One should not be dependent on `ākāsa`” means: one should not be dependent on craving. One should abandon craving, dispel it, bring it to an end, cause it to not arise again. One should be far from craving, especially abstaining, fully abstaining, having gone forth from it, having discarded it, especially liberated from it, disjoined from it; one should dwell with a mind that is without boundaries. This is the meaning of “one should not be dependent on `ākāsa`”.
“Không nên nương tựa vào khoảng không” có nghĩa là: Tham ái được gọi là khoảng không. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Vì lý do gì tham ái được gọi là khoảng không? Do tham ái ấy mà vị ấy lôi kéo, lôi kéo hoàn toàn, nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm vào sắc; ...vào thọ... vào tưởng... vào các hành... vào thức... vào cõi đi... vào sự tái sanh... vào sự nối liền... vào hữu... vào vòng luân hồi... vào vòng sinh tử, vị ấy lôi kéo, lôi kéo hoàn toàn, nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm. Vì lý do đó, tham ái được gọi là khoảng không. “Không nên nương tựa vào khoảng không” có nghĩa là: Không nên nương tựa vào tham ái. Vị ấy nên từ bỏ, nên loại trừ, nên chấm dứt, nên làm cho tham ái không còn tồn tại; vị ấy nên xa lìa, từ bỏ, hoàn toàn từ bỏ, thoát ra, rũ bỏ, hoàn toàn giải thoát, không còn liên hệ với tham ái, nên sống với tâm không còn giới hạn. Đây là ý nghĩa của “không nên nương tựa vào khoảng không”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Purāṇaṃ nābhinandeyya, nave khantiṃ na kubbaye;
Hīyamāne na soceyya, ākāsaṃ na sito siyā’’ti.
“Let one not delight in the old, nor find satisfaction in the new; let one not grieve for what is diminishing, nor be dependent on craving.”
“Không nên hoan hỷ điều cũ, không nên ưa thích điều mới; không nên sầu muộn khi bị suy giảm, không nên nương tựa vào khoảng không.”
180.
180.
180.
Gedhaṃ brūmi mahoghoti, ājavaṃ † brūmi jappanaṃ;
Ārammaṇaṃ pakampanaṃ, † kāmapaṅko duraccayo.
Greed, I say, is a great flood; the current, I say, is a yearning; the object is an agitation, and the mire of sensuality is hard to cross.
Ta nói sự tham lam là dòng lũ lớn, Ta nói sự lôi kéo là sự thèm muốn; là đối tượng, là sự rung động, là vũng lầy dục vọng khó vượt qua.
Gedhaṃ brūmi mahoghotīti. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Mahogho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Gedhaṃ brūmi mahoghotīti. Gedhaṃ ‘‘mahogho’’ti brūmi ācikkhāmi desemi paññapemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi pakāsemīti – gedhaṃ brūmi mahoghoti.
“Greed, I say, is a great flood.” `Gedha` (greed) is a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. `Mahogha` (a great flood) is a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. “Greed, I say, is a great flood” means: I say greed is a “great flood”; I tell, I teach, I proclaim, I establish, I open up, I analyze, I make clear, I reveal. This is the meaning of “Greed, I say, is a great flood”.
“Ta nói sự tham lam là dòng lũ lớn” có nghĩa là: Tham ái được gọi là sự tham lam. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Tham ái được gọi là dòng lũ lớn. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. “Ta nói sự tham lam là dòng lũ lớn” có nghĩa là: Ta nói, Ta tuyên bố, Ta thuyết giảng, Ta chế định, Ta thiết lập, Ta khai mở, Ta phân tích, Ta làm cho rõ ràng, Ta hiển thị rằng sự tham lam là “dòng lũ lớn”. Đây là ý nghĩa của “Ta nói sự tham lam là dòng lũ lớn”.
Ājavaṃ brūmi jappananti. Ājavā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Jappanāpi vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Ājavaṃ brūmi jappananti ājavaṃ ‘‘jappanā’’ti brūmi ācikkhāmi…pe… uttānīkaromi pakāsemīti – ājavaṃ brūmi jappanaṃ.
“The current, I say, is a yearning.” `Ājava` (current) is a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. `Jappanā` (yearning) is also a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. “The current, I say, is a yearning” means: I say `ājava` is “`jappanā`”; I describe, teach, set forth, establish, disclose, analyze, clarify, and reveal it. This is the meaning of “The current, I say, is a yearning”.
“Ta nói sự lôi kéo là sự thèm muốn” có nghĩa là: Tham ái được gọi là sự lôi kéo. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Tham ái cũng được gọi là sự thèm muốn. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. “Ta nói sự lôi kéo là sự thèm muốn” có nghĩa là: Ta nói, Ta tuyên bố... (như trên)... Ta làm cho rõ ràng, Ta hiển thị rằng sự lôi kéo là “sự thèm muốn”. Đây là ý nghĩa của “Ta nói sự lôi kéo là sự thèm muốn”.
Ārammaṇaṃ pakampananti. Ārammaṇampi vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Pakampanāpi vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlanti – ārammaṇaṃ pakampanaṃ.
Regarding 'An object, an agitation': `Ārammaṇa` (an object) is also a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. `Pakampanā` (agitation) is also a name for craving. That which is lust, strong lust... and so on... covetousness, greed, an unwholesome root. This is the meaning of 'An object, an agitation'.
“Là đối tượng, là sự rung động” có nghĩa là: Tham ái cũng được gọi là đối tượng. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Tham ái cũng được gọi là sự rung động. Sự tham ái, sự tham ái mãnh liệt... (như trên)... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Đây là ý nghĩa của “là đối tượng, là sự rung động”.
Kāmapaṅko duraccayoti. Kāmapaṅko kāmakaddamo kāmakileso kāmapalipo kāmapalibodho † duraccayo durativatto duttaro duppataro dussamatikkamo dubbītivattoti – kāmapaṅko duraccayo.
Regarding 'The mire of sensuality is hard to cross': The mire of sensuality, the mud of sensuality, the defilement of sensuality, the stain of sensuality, the obstruction of sensuality, is hard to cross, hard to overcome, hard to get beyond, very hard to pass over, difficult to transcend, difficult to go beyond. This is the meaning of 'The mire of sensuality is hard to cross'.
“Là vũng lầy dục vọng khó vượt qua” có nghĩa là: Vũng lầy dục vọng, bùn nhơ dục vọng, phiền não dục vọng, sự bôi trát của dục vọng, chướng ngại của dục vọng là khó vượt qua, khó đi qua, khó bơi qua, rất khó bơi qua, khó hoàn toàn vượt qua, khó đi qua. Đây là ý nghĩa của “là vũng lầy dục vọng khó vượt qua”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Gedhaṃ brūmi mahoghoti, ājavaṃ brūmi jappanaṃ;
Ārammaṇaṃ pakampanaṃ, kāmapaṅko duraccayo’’ti.
‘Greed, I say, is the great flood; the current, I say, is a whispering; the object is an agitation, and the mire of sensuality is hard to cross.’
“Ta nói sự tham lam là dòng lũ lớn, Ta nói sự lôi kéo là sự thèm muốn; là đối tượng, là sự rung động, là vũng lầy dục vọng khó vượt qua.”
181.
181.
181.
Saccā avokkamaṃ muni, thale tiṭṭhati brāhmaṇo;
Sabbaṃ so paṭinissajja, sa ve santoti vuccati.
The sage, not transgressing from truth, the brahmin, stands on high ground. Having relinquished all, he is indeed called 'the peaceful one'.
Bậc mâu-ni không đi lệch khỏi chân lý, vị Bà-la-môn đứng trên vùng đất cao; vị ấy, sau khi đã từ bỏ tất cả, được gọi là người tịch tịnh.
Saccā avokkamaṃ munīti. Saccavācāya avokkamanto, sammādiṭṭhiyā avokkamanto, ariyā aṭṭhaṅgikā maggā avokkamanto. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so munīti – saccā avokkamaṃ muni.
Regarding 'The sage not transgressing from truth': Not transgressing from truthful speech, not transgressing from right view, not transgressing from the Noble Eightfold Path. As for `muni` (sage): knowledge is called `mona`... and so on... having overcome the entangling net, he is a sage. This is the meaning of 'The sage not transgressing from truth'.
“Bậc mâu-ni không đi lệch khỏi chân lý” có nghĩa là: Không đi lệch khỏi lời nói chân thật, không đi lệch khỏi chánh kiến, không đi lệch khỏi Thánh đạo Tám ngành. “Bậc mâu-ni” có nghĩa là: Trí tuệ được gọi là sự tĩnh lặng... (như trên)... vị ấy, vượt qua mạng lưới của sự dính mắc, là bậc mâu-ni. Đây là ý nghĩa của “bậc mâu-ni không đi lệch khỏi chân lý”.
Thale tiṭṭhati brāhmaṇoti. Thalaṃ vuccati amataṃ nibbānaṃ. Yo so sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Brāhmaṇoti sattannaṃ dhammānaṃ bāhitattā brāhmaṇo…pe… asito tādi pavuccate sa brahmā. Thale tiṭṭhati brāhmaṇoti. Thale tiṭṭhati dīpe tiṭṭhati tāṇe tiṭṭhati leṇe tiṭṭhati saraṇe tiṭṭhati abhaye tiṭṭhati accute tiṭṭhati amate tiṭṭhati nibbāne tiṭṭhatīti – thale tiṭṭhati brāhmaṇo.
Regarding 'The brahmin stands on high ground': High ground is called the deathless, Nibbāna. That which is the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. As for `brāhmaṇa`: because of having excluded seven things, he is a brahmin... and so on... unattached, one of such a nature, he is called Brahmā. Regarding 'The brahmin stands on high ground': the brahmin stands on high ground; he stands on the island; he stands in the place of protection; he stands in the hiding place; he stands in the refuge; he stands in the fearless place; he stands in the changeless place; he stands in the deathless place; he stands in Nibbāna. This is the meaning of 'The brahmin stands on high ground'.
“Vị Bà-la-môn đứng trên vùng đất cao” có nghĩa là: Bất tử, Niết-bàn được gọi là vùng đất cao. Pháp ấy là sự lắng dịu của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các chấp thủ, sự đoạn tận của tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, là Niết-bàn. “Vị Bà-la-môn” có nghĩa là: do đã loại bỏ bảy pháp nên được gọi là Bà-la-môn... (như trên)... vị ấy không bị nương tựa, có sự nhẫn nại, được gọi là Phạm thiên. “Vị Bà-la-môn đứng trên vùng đất cao” có nghĩa là: Vị ấy đứng trên vùng đất cao, đứng trên hòn đảo, đứng ở nơi trú ẩn, đứng ở nơi ẩn náu, đứng ở nơi nương tựa, đứng ở nơi vô úy, đứng ở nơi bất biến, đứng ở nơi bất tử, đứng trong Niết-bàn. Đây là ý nghĩa của “vị Bà-la-môn đứng trên vùng đất cao”.
Sabbaṃ so paṭinissajjāti. Sabbaṃ vuccati dvādasāyatanāni – cakkhu ceva rūpā ca …pe… mano ceva dhammā ca. Yato ajjhattikabāhiresu āyatanesu chandarāgo pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo, ettāvatāpi sabbaṃ cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ. Yato taṇhā ca diṭṭhi ca māno ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, ettāvatāpi sabbaṃ cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhaṃ. Yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, ettāvatāpi sabbaṃ cattaṃ hoti vantaṃ muttaṃ pahīnaṃ paṭinissaṭṭhanti – sabbaṃ so paṭinissajja.
As for 'having relinquished all': 'All' is said to be the twelve sense-bases—the eye and forms... the mind and mental objects. When desire and lust for the internal and external sense-bases is abandoned, with its root cut off, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and having the nature of non-arising in the future—to that extent, all is given up, vomited, released, abandoned, and relinquished. When craving, views, and conceit are abandoned, with their roots cut off, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and having the nature of non-arising in the future—to that extent, all is given up, vomited, released, abandoned, and relinquished. When meritorious formations, demeritorious formations, and imperturbable formations are abandoned, with their roots cut off, made like a palm-tree stump, brought to a state of non-existence, and having the nature of non-arising in the future—to that extent, all is given up, vomited, released, abandoned, and relinquished. This is the meaning of 'having relinquished all'.
“Vị ấy từ bỏ tất cả” (Sabbaṃ so paṭinissajja). “Tất cả” được gọi là mười hai xứ: mắt và các sắc … cho đến … ý và các pháp. Khi nào dục tham ở các xứ trong và ngoài được đoạn tận, bị cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; chỉ với chừng ấy, tất cả được xem là đã từ bỏ, đã khạc nhổ, đã giải thoát, đã đoạn tận, đã xả ly. Khi nào tham ái, tà kiến, và ngã mạn được đoạn tận, bị cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; chỉ với chừng ấy, tất cả được xem là đã từ bỏ, đã khạc nhổ, đã giải thoát, đã đoạn tận, đã xả ly. Khi nào phước hành, phi phước hành, và bất động hành được đoạn tận, bị cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; chỉ với chừng ấy, tất cả được xem là đã từ bỏ, đã khạc nhổ, đã giải thoát, đã đoạn tận, đã xả ly. – (như thế là ý nghĩa của) “vị ấy từ bỏ tất cả”.
Sa ve santoti vuccatīti. So santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti vuccati kathīyati bhaṇīyati dīpīyati voharīyatīti – sa ve santoti vuccati.
As for 'he is truly called peaceful': He who is peaceful, calmed, especially calmed, extinguished, and pacified is called, spoken of, said, shown, and designated as 'peaceful'. This is the meaning of 'he is truly called peaceful'.
“Vị ấy thật được gọi là tịch tịnh” (Sa ve santoti vuccati). Vị ấy là người tịch tịnh, lắng dịu, hoàn toàn lắng dịu, dập tắt, an tịnh, nên được gọi là, được nói đến, được tuyên bố, được chỉ rõ, được mệnh danh. – (như thế là ý nghĩa của) “vị ấy thật được gọi là tịch tịnh”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Saccā avokkamaṃ muni, thale tiṭṭhati brāhmaṇo;
Sabbaṃ so paṭinissajja, sa ve santoti vuccatī’’ti.
“The sage does not transgress from truth, the brahmin stands on firm ground; having relinquished all, he is indeed called 'peaceful'.”
“Bậc ẩn sĩ không rời xa chân lý, vị Bà-la-môn đứng vững trên đất liền. Vị ấy, sau khi từ bỏ tất cả, thật được gọi là bậc tịch tịnh.”
182.
182.
182.
Sa ve vidvā † sa vedagū, ñatvā dhammaṃ anissito;
Sammā so loke iriyāno, na pihetīdha kassaci.
He is indeed wise, one who has attained ultimate knowledge; having known the Dhamma, he is unattached. Comporting himself rightly in the world, he longs for no one here.
Vị ấy thật là bậc trí tuệ, vị ấy là bậc thông suốt Vệ-đà, sau khi biết rõ các pháp, không nương tựa. Vị ấy hành xử chân chánh trong thế gian, không khao khát bất cứ ai ở đời này.
Sa ve vidvā sa vedagūti. Vidvāti vidvā vijjāgato ñāṇī vibhāvī medhāvī. Vedagūti. Vedā vuccanti catūsu maggesu ñāṇaṃ…pe… sabbavedanāsu vītarāgo sabbavedamaticca vedagū soti – sa ve vidvā sa vedagū.
As for 'he is truly wise, a knower of the Vedas': 'Wise' means he is wise, has attained knowledge, is knowledgeable, discerning, and intelligent. As for 'knower of the Vedas': Knowledge in the four paths is called 'vedas'... he is free from lust in all feelings, having overcome all vedas, he is a 'knower of the Vedas'. This is the meaning of 'he is truly wise, a knower of the Vedas'.
“Vị ấy thật là bậc trí tuệ, vị ấy là bậc thông suốt Vệ-đà” (Sa ve vidvā sa vedagū). “Bậc trí tuệ” (vidvā) là người có trí tuệ, đã đạt đến minh, là người có trí, là người có khả năng phân biệt, là người có tuệ giác. “Bậc thông suốt Vệ-đà” (vedagū): Trí tuệ trong bốn đạo được gọi là Vệ-đà… cho đến… vị ấy đã ly tham trong tất cả các cảm thọ, đã vượt qua tất cả Vệ-đà, nên là bậc thông suốt Vệ-đà. – (như thế là ý nghĩa của) “vị ấy thật là bậc trí tuệ, vị ấy là bậc thông suốt Vệ-đà”.
Ñatvā dhammaṃ anissitoti. Ñatvāti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti ñatvā jānitvā tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā. Anissitoti dve nissayā – taṇhānissayo ca diṭṭhinissayo ca…pe… ayaṃ taṇhānissayo…pe… ayaṃ diṭṭhinissayo. Taṇhānissayaṃ pahāya diṭṭhinissayaṃ paṭinissajjitvā cakkhuṃ anissito… sotaṃ anissito… ghānaṃ anissito…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbe dhamme anissito anallīno anupagato anajjhosito anadhimutto nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – ñatvā dhammaṃ anissito.
As for the phrase 'Having known the Dhamma, one is not dependent': 'Having known' means having known, understood, weighed, investigated, distinguished, and made clear. Having known, understood, weighed, investigated, distinguished, and made clear that 'All formations are impermanent'; having known... that 'All formations are suffering'... and that 'Whatever has the nature of arising, all that has the nature of ceasing'. 'Not dependent' means: there are two dependencies—dependence on craving and dependence on views... this is dependence on craving... this is dependence on views. Having abandoned dependence on craving and relinquished dependence on views, one is not dependent on the eye... not dependent on the ear... not dependent on the nose... not dependent on things seen, heard, sensed, and cognized. One is not clinging, not approaching, not attached, not resolved upon; one has gone forth, is relinquished, liberated, disjoined, and dwells with a mind without boundaries. This is the meaning of 'Having known the Dhamma, one is not dependent'.
“Sau khi biết rõ các pháp, không nương tựa” (Ñatvā dhammaṃ anissito). “Sau khi biết rõ” (ñatvā) là sau khi biết, sau khi hiểu rõ, sau khi cân nhắc, sau khi thẩm xét, sau khi làm cho sáng tỏ, sau khi làm cho hiển lộ. “Tất cả các hành là vô thường” sau khi biết, hiểu rõ, cân nhắc, thẩm xét, làm cho sáng tỏ, làm cho hiển lộ; “tất cả các hành là khổ”… cho đến… “bất cứ pháp nào có tính sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tính đoạn diệt” sau khi biết, hiểu rõ, cân nhắc, thẩm xét, làm cho sáng tỏ, làm cho hiển lộ. “Không nương tựa” (anissito): có hai sự nương tựa – sự nương tựa vào tham ái và sự nương tựa vào tà kiến… cho đến… đây là sự nương tựa vào tham ái… cho đến… đây là sự nương tựa vào tà kiến. Sau khi từ bỏ sự nương tựa vào tham ái, sau khi xả ly sự nương tựa vào tà kiến, vị ấy không nương tựa vào mắt… không nương tựa vào tai… không nương tựa vào mũi… cho đến… không nương tựa vào các pháp được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; vị ấy sống không dính mắc, không gần gũi, không chấp thủ, không quyết tâm, đã thoát ra, đã từ bỏ, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên kết, với tâm không còn giới hạn. – (như thế là ý nghĩa của) “sau khi biết rõ các pháp, không nương tựa”.
Sammā so loke iriyānoti. Yato ajjhattikabāhiresu āyatanesu chandarāgo pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo, ettāvatāpi sammā so loke carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpeti…pe… yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, ettāvatāpi sammā so loke carati viharati iriyati vattati pāleti yapeti yāpetīti – sammā so loke iriyāno.
As for the phrase 'He comports himself rightly in the world': When, in regard to the internal and external sense bases, desire and lust is abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and is of a nature not to arise again in the future—by this much also, he moves, dwells, acts, proceeds, maintains, and sustains himself rightly in the world... When meritorious formations, demeritorious formations, and imperturbable formations are abandoned, cut off at the root, made like palm stumps, brought to non-existence, and are of a nature not to arise again in the future—by this much also, he moves, dwells, acts, proceeds, maintains, and sustains himself rightly in the world. This is the meaning of 'He comports himself rightly in the world'.
“Vị ấy hành xử chân chánh trong thế gian” (Sammā so loke iriyāno). Khi nào dục tham ở các xứ trong và ngoài được đoạn tận, bị cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; chỉ với chừng ấy, vị ấy đi lại, trú ngụ, hành xử, xoay vần, bảo hộ, duy trì, tồn tại một cách chân chánh trong thế gian… cho đến… Khi nào phước hành, phi phước hành, và bất động hành được đoạn tận, bị cắt đứt gốc rễ, làm cho như thân cây thốt nốt, làm cho không thể hiện hữu, có trạng thái không sanh khởi trong tương lai; chỉ với chừng ấy, vị ấy đi lại, trú ngụ, hành xử, xoay vần, bảo hộ, duy trì, tồn tại một cách chân chánh trong thế gian. – (như thế là ý nghĩa của) “vị ấy hành xử chân chánh trong thế gian”.
Na pihetīdha kassacīti. Pihā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā pihā taṇhā pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhā, so kassaci na piheti khattiyassa vā brāhmaṇassa vā vessassa vā suddassa vā gahaṭṭhassa vā pabbajitassa vā devassa vā manussassa vāti – na pihetīdha kassaci.
As for the phrase, 'Here, one does not long for anyone': `Pihā` is called craving (`taṇhā`). Whatever is passion, intense passion... covetousness, greed, is an unwholesome root. For whichever person this longing (`pihā`), this craving (`taṇhā`), has been abandoned, utterly cut off, especially stilled, pacified again, made incapable of future arising, and burned by the fire of wisdom, that person does not long for anyone—be it a warrior, a brahmin, a merchant, a worker, a householder, a renunciant, a deva, or a human being. This is the meaning of the phrase, 'Here, one does not long for anyone.'
“Không khao khát bất cứ ai ở đời này” (Na pihetīdha kassaci). Sự khao khát (pihā) được gọi là tham ái (taṇhā). Sự tham muốn, sự tham đắm… cho đến… sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ của bất thiện. Đối với vị nào mà sự khao khát, tham ái này đã được đoạn tận, đã được cắt đứt hoàn toàn, đã được lắng dịu, đã được an tịnh, không còn khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy không khao khát bất cứ ai, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, người tại gia, người xuất gia, chư thiên, hay loài người. – (như thế là ý nghĩa của) “không khao khát bất cứ ai ở đời này”.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Sa ve vidvā sa vedagū, ñatvā dhammaṃ anissito;
Sammā so loke iriyāno, na pihetīdha kassacī’’ti.
“He is indeed wise, one who has attained ultimate knowledge; having known the Dhamma, he is unattached. Comporting himself rightly in the world, he does not long for anyone here.”
“Vị ấy thật là bậc trí tuệ, vị ấy là bậc thông suốt Vệ-đà, sau khi biết rõ các pháp, không nương tựa. Vị ấy hành xử chân chánh trong thế gian, không khao khát bất cứ ai ở đời này.”
183.
183.
183.
Yodha kāme accatari, saṅgaṃ loke duraccayaṃ;
Na so socati nājjheti, chinnasoto abandhano.
Whoever has overcome sensual pleasures here, and attachment in the world, which is difficult to overcome, that person, with the stream of craving cut and free from bonds, neither grieves nor yearns.
Người nào ở đời này đã vượt qua các dục, và sự dính mắc khó vượt qua trong thế gian, vị ấy không sầu muộn, không tham luyến, đã cắt đứt dòng chảy, không còn bị ràng buộc.
Yodha kāme accatari, saṅgaṃ loke duraccayanti. Yoti yo yādiso yathāyutto yathāvihito yathāpakāro yaṃ ṭhānappatto yaṃ dhammasamannāgato khattiyo vā brāhmaṇo vā vesso vā suddo vā gahaṭṭho vā pabbajito vā devo vā manusso vā. Kāmāti uddānato dve kāmā – vatthukāmā ca kilesakāmā ca…pe… ime vuccanti vatthukāmā…pe… ime vuccanti kilesakāmā. Saṅgāti satta saṅgā – rāgasaṅgo, dosasaṅgo, mohasaṅgo, mānasaṅgo, diṭṭhisaṅgo, kilesasaṅgo, duccaritasaṅgo. Loketi apāyaloke manussaloke devaloke khandhaloke dhātuloke āyatanaloke. Saṅgaṃ loke duraccayanti. Yo kāme ca saṅge ca loke duraccaye durativatte duttare duppatare dussamatikkame dubbītivatte atari uttari patari samatikkami vītivattayīti – yodha kāme accatari, saṅgaṃ loke duraccayaṃ.
As for the phrase, 'Whoever has overcome sensual pleasures here, and attachment in the world, which is difficult to overcome': 'Whoever' refers to one of whatever kind, endowed in whatever way, considered in whatever way, having whatever distinction, having attained whatever state, and endowed with whatever quality—be it a warrior, a brahmin, a merchant, a worker, a householder, a renunciant, a deva, or a human being. 'Sensual pleasures': In summary, there are two kinds of sensual pleasures: sensual pleasures as objects and sensual pleasures as defilements... these are called sensual pleasures as defilements. 'Attachment': There are seven attachments: the attachment of lust, the attachment of hatred, the attachment of delusion, the attachment of conceit, the attachment of views, the attachment of defilements, and the attachment of misconduct. 'In the world': This refers to the world of misery, the human world, the deva world, the world of aggregates, the world of elements, and the world of sense bases. The meaning of the full phrase is: that person has overcome, crossed, passed over, surmounted, and gone beyond both sensual pleasures and attachments in the world—which are difficult to overcome, difficult to get past, difficult to cross, difficult to traverse, difficult to surmount, and difficult to pass beyond.
“Người nào ở đời này đã vượt qua các dục, và sự dính mắc khó vượt qua trong thế gian” (Yodha kāme accatari, saṅgaṃ loke duraccayaṃ). “Người nào” (yo) là người nào, có bản chất như thế nào, có sự liên hệ như thế nào, có cách sống như thế nào, có loại hình như thế nào, đã đạt đến địa vị nào, có đầy đủ pháp nào, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, người tại gia, người xuất gia, chư thiên, hay loài người. “Các dục” (kāmā): nói tóm lại, có hai loại dục – dục đối tượng và dục phiền não… cho đến… những thứ này được gọi là dục đối tượng… cho đến… những thứ này được gọi là dục phiền não. “Sự dính mắc” (saṅgā): có bảy sự dính mắc – sự dính mắc do tham, sự dính mắc do sân, sự dính mắc do si, sự dính mắc do ngã mạn, sự dính mắc do tà kiến, sự dính mắc do phiền não, sự dính mắc do ác hạnh. “Trong thế gian” (loke): trong cõi khổ, cõi người, cõi trời, trong thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ. “Sự dính mắc khó vượt qua trong thế gian” (saṅgaṃ loke duraccayaṃ): Người nào đã vượt qua, đã vượt lên, đã vượt qua một cách triệt để, đã vượt qua hoàn toàn, đã vượt qua một cách đặc biệt các dục và các sự dính mắc trong thế gian, vốn khó vượt qua, khó đi qua, khó vượt lên, khó băng qua, khó vượt qua hoàn toàn, khó vượt qua một cách đặc biệt. – (như thế là ý nghĩa của) “người nào ở đời này đã vượt qua các dục, và sự dính mắc khó vượt qua trong thế gian”.
Na so socati nājjhetīti. Vipariṇataṃ vā vatthuṃ na socati, vipariṇatasmiṃ vā vatthusmiṃ na socati. ‘‘Cakkhu me vipariṇata’’nti na socati…pe… sotaṃ me… ghānaṃ me… jivhā me… kāyo me… rūpā me… saddā me… gandhā me… rasā me… phoṭṭhabbā me… kulaṃ me… gaṇo me… āvāso me… lābho me… yaso me… pasaṃsā me… sukhaṃ me… cīvaraṃ me… piṇḍapāto me… senāsanaṃ me… gilānapaccayabhesajjaparikkhārā me… mātā me… pitā me… bhātā me… bhaginī me… putto me… dhītā me… mittā me… amaccā me… ñātī me… ‘‘sālohitā me vipariṇatā’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti – na socati. Nājjhetīti najjheti na ajjheti na upanijjhāyati na nijjhāyati na pajjhāyati. Atha vā na jāyati na jiyyati na miyyati na cavati na upapajjatīti – nājjhetīti – na so socati nājjheti.
He does not grieve, nor does he pine. He does not grieve over a thing that is subject to change, or he does not grieve on account of a thing that is subject to change. He does not grieve, thinking: 'My eye is subject to change'... my ear... my nose... my tongue... my body... forms... sounds... smells... tastes... tangible objects... my family... my group... my dwelling... my gain... my fame... my praise... my pleasure... my robe... my almsfood... my lodging... my requisites of medicine for the sick... my mother... my father... my brother... my sister... my son... my daughter... my friends... my associates... my maternal relatives... 'my paternal relatives are subject to change.' He does not grieve, does not become weary, does not lament, does not beat his breast and weep, does not fall into bewilderment—thus, he does not grieve. 'Nor does he pine' means: he does not pine, does not contemplate, does not brood over, does not intensely brood over, does not fixate. Alternatively: he is not born, does not age, does not die, does not pass away, is not reborn—thus, 'nor does he pine.' Thus: He does not grieve, nor does he pine.
Vị ấy không sầu muộn, không suy tư. Vị ấy không sầu muộn về vật đã biến hoại, hoặc không sầu muộn ở trong vật đã biến hoại. Vị ấy không sầu muộn rằng: ‘Mắt của ta đã biến hoại’... cho đến... tai của ta... mũi của ta... lưỡi của ta... thân của ta... các sắc của ta... các tiếng của ta... các mùi của ta... các vị của ta... các vật xúc chạm của ta... gia tộc của ta... hội chúng của ta... chỗ ở của ta... lợi lộc của ta... danh tiếng của ta... sự tán dương của ta... sự an lạc của ta... y của ta... vật thực khất thực của ta... sàng tọa của ta... dược phẩm trị bệnh và các vật dụng của ta... mẹ của ta... cha của ta... anh em trai của ta... chị em gái của ta... con trai của ta... con gái của ta... bạn bè của ta... bằng hữu của ta... bà con của ta... ‘huyết thống của ta đã biến hoại,’ vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến si mê – (nghĩa là) không sầu muộn. Nājjheti có nghĩa là không suy tư, không suy nghĩ, không trầm tư, không nghiền ngẫm, không suy xét. Hoặc là, không sanh, không già, không chết, không mệnh chung, không tái sanh – (đó là nghĩa của) nājjheti – (cho nên) vị ấy không sầu muộn, không suy tư.
Chinnasoto abandhanoti. Sotaṃ vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā sotā taṇhā pahīnā samucchinnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati chinnasoto. Abandhanoti rāgabandhanaṃ dosabandhanaṃ mohabandhanaṃ mānabandhanaṃ diṭṭhibandhanaṃ kilesabandhanaṃ duccaritabandhanaṃ, yassete bandhanā pahīnā samucchinnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati abandhanoti – chinnasoto abandhano.
His stream is cut off, he is without bonds. The stream is called craving. That is, passion, passionate desire... up to... covetousness, greed, the root of unwholesome states. He for whom this stream, that is, craving, has been abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called 'one whose stream is cut off'. Without bonds—the bond of passion, the bond of aversion, the bond of delusion, the bond of conceit, the bond of views, the bond of defilements, the bond of misconduct. He for whom these bonds are abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called 'without bonds'. Thus: his stream is cut off, he is without bonds.
Đã cắt đứt dòng chảy, không còn bị ràng buộc. Dòng chảy được gọi là ái. Sự tham ái, sự tham luyến... cho đến... sự tham lam, lòng tham, là gốc rễ của bất thiện. Vị nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... cho đến... đã thiêu đốt ái là dòng chảy ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người đã cắt đứt dòng chảy. Không bị ràng buộc là sự ràng buộc của tham, sự ràng buộc của sân, sự ràng buộc của si, sự ràng buộc của mạn, sự ràng buộc của tà kiến, sự ràng buộc của phiền não, sự ràng buộc của ác hạnh; vị nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... cho đến... đã thiêu đốt những sự ràng buộc ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không bị ràng buộc – (nghĩa là) đã cắt đứt dòng chảy, không còn bị ràng buộc.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Yodha kāme accatari, saṅgaṃ loke duraccayaṃ;
Na so socati nājjheti, chinnasoto abandhano’’ti.
“Whoever here has overcome sensual pleasures, an attachment in the world difficult to overcome, does not grieve nor pine; with stream cut off, he is without bonds.”
‘Vị nào ở đây đã vượt qua các dục, sự dính mắc ở đời khó vượt qua; vị ấy không sầu muộn, không suy tư, đã cắt đứt dòng chảy, không còn bị ràng buộc.’
184.
184.
184.
Yaṃ pubbe taṃ visosehi, pacchā te māhu kiñcanaṃ;
Majjhe ce no gahessasi, upasanto carissasi.
Dry up what is past, let there be nothing for you in the future. If you do not grasp at what is in the middle, you will fare on pacified.
Cái gì ở trước, hãy làm khô cạn nó, ở sau mong rằng không có gì cho ngươi; nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ, ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.
Yaṃ pubbe taṃ visosehīti. Atīte saṅkhāre ārabbha ye kilesā uppajjeyyuṃ te kilese sosehi visosehi sukkhāpehi visukkhāpehi abījaṃ karohi pajaha vinodehi byantiṃ karohi anabhāvaṃ gamehīti. Evampi yaṃ pubbe taṃ visosehi. Atha vā ye atītā kammābhisaṅkhārā avipakkavipākā te kammābhisaṅkhāre sosehi visosehi sukkhāpehi visukkhāpehi abījaṃ karohi pajaha vinodehi byantiṃ karohi anabhāvaṃ gamehīti. Evampi yaṃ pubbe taṃ visosehi.
As for 'Dry up what is past': Regarding past formations, whatever defilements might arise, you should dry up those defilements, thoroughly dry them up, make them dry, make them thoroughly dry, render them seedless, abandon them, dispel them, bring them to an end, and bring them to non-existence. This is also the meaning of 'Dry up what is past'. Alternatively, whatever past karmic formations have not yet yielded their results, you should dry up those karmic formations, thoroughly dry them up, make them dry, make them thoroughly dry, render them seedless, abandon them, dispel them, bring them to an end, and bring them to non-existence. This is also the meaning of 'Dry up what is past'.
‘Cái gì ở trước, hãy làm khô cạn nó.’ Đối với các hành trong quá khứ, những phiền não nào có thể sanh khởi, hãy làm khô cạn, làm khô cạn đặc biệt, làm cho khô héo, làm cho khô héo đặc biệt những phiền não ấy, hãy làm cho chúng không còn hạt giống, hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy đưa đến chỗ không còn hiện hữu. Như vậy cũng là (nghĩa của) ‘Cái gì ở trước, hãy làm khô cạn nó.’ Hoặc là, những nghiệp hành nào trong quá khứ chưa cho quả, hãy làm khô cạn, làm khô cạn đặc biệt, làm cho khô héo, làm cho khô héo đặc biệt những nghiệp hành ấy, hãy làm cho chúng không còn hạt giống, hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy đưa đến chỗ không còn hiện hữu. Như vậy cũng là (nghĩa của) ‘Cái gì ở trước, hãy làm khô cạn nó.’
Pacchā te māhu kiñcananti. Pacchā vuccati anāgataṃ. Anāgate saṅkhāre ārabbha yāni uppajjeyyuṃ rāgakiñcanaṃ dosakiñcanaṃ mohakiñcanaṃ mānakiñcanaṃ diṭṭhikiñcanaṃ kilesakiñcanaṃ duccaritakiñcanaṃ, imāni kiñcanāni † tuyhaṃ mā ahu mā akāsi mā janesi mā sañjanesi mā nibbattesi mā abhinibbattesi pajaha vinodehi byantiṃ karohi anabhāvaṃ gamehīti – pacchā te māhu kiñcanaṃ.
As for 'Let there be nothing for you in the future': 'The future' is a term for what is to come. Regarding future formations, whatever impediments might arise—the impediment of lust, the impediment of hatred, the impediment of delusion, the impediment of conceit, the impediment of views, the impediment of defilements, the impediment of misconduct—let these impediments not be for you. Do not create them, do not generate them, do not produce them, do not bring them into being, do not fully bring them into being; abandon them, dispel them, bring them to an end, and bring them to non-existence. Thus: 'Let there be nothing for you in the future'.
‘Ở sau mong rằng không có gì cho ngươi.’ ‘Ở sau’ được gọi là tương lai. Đối với các hành trong tương lai, những chướng ngại nào có thể sanh khởi, (như là) chướng ngại tham, chướng ngại sân, chướng ngại si, chướng ngại mạn, chướng ngại tà kiến, chướng ngại phiền não, chướng ngại ác hạnh, mong rằng những chướng ngại này không có đối với ngươi, đừng làm, đừng sanh ra, đừng tạo ra, đừng phát sanh, đừng làm cho phát sanh; hãy từ bỏ, hãy loại trừ, hãy làm cho chấm dứt, hãy đưa đến chỗ không còn hiện hữu – (nghĩa là) ‘Ở sau mong rằng không có gì cho ngươi.’
Majjhe ce no gahessasīti. Majjhaṃ vuccati paccuppannā rūpavedanāsaññāsaṅkhāraviññāṇā. Paccuppanne saṅkhāre taṇhāvasena diṭṭhivasena na gahessasi na uggahessasi na gaṇhissasi na parāmasissasi nābhinandissasi nābhicarissasi na ajjhosissasi, abhinandanaṃ abhivadanaṃ ajjhosānaṃ gāhaṃ parāmāsaṃ abhinivesaṃ pajahissasi vinodessasi byantiṃ karissasi anabhāvaṃ gamessasīti – majjhe ce no gahessasi.
As for 'If you will not grasp in the middle': 'Middle' is a term for present form, feeling, perception, formations, and consciousness. Regarding present formations, through craving and through views, you will not take them, you will not seize them, you will not grasp them, you will not cling to them, you will not delight in them, you will not pursue them, and you will not be attached to them. You will abandon delight, praise, attachment, grasping, misapprehension, and adherence; you will dispel them, bring them to an end, and bring them to non-existence. Thus: 'If you will not grasp in the middle'.
‘Nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ.’ ‘Ở giữa’ được gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hiện tại. Đối với các hành trong hiện tại, do năng lực của ái, do năng lực của tà kiến, ngươi sẽ không nắm giữ, không chấp thủ, không bám víu, không lầm chấp, không hoan hỷ, không thực hành theo, không đắm nhiễm; ngươi sẽ từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn hiện hữu sự hoan hỷ, sự tán dương, sự đắm nhiễm, sự nắm giữ, sự lầm chấp, sự quyết đoán – (nghĩa là) ‘Nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ.’
Upasanto carissasīti. Rāgassa santattā samitattā upasamitattā, dosassa santattā samitattā upasamitattā…pe… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā upasamitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddho carissasi viharissasi iriyissasi vattissasi pālissasi yapissasi yāpissasīti – upasanto carissasi.
As for 'You will fare on pacified': This means due to the calming, stilling, and pacifying of lust… and so on… due to the calming, stilling, pacifying, special pacifying, destruction, extinguishment, absence, and tranquillizing of all unwholesome formations, being calmed, pacified, especially pacified, extinguished, and tranquillized, you will conduct yourself, you will dwell, you will maintain your posture, you will continue, you will maintain, you will sustain yourself, you will cause yourself to be sustained. Thus: 'you will fare on pacified.'
‘Ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.’ Do tham đã được an tịnh, đã được lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu; do sân đã được an tịnh, đã được lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu... cho đến... do tất cả các bất thiện hành đã được an tịnh, đã được lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho lắng dịu hoàn toàn, đã bị dập tắt, đã được tịch tịnh, đã lìa khỏi, đã được làm cho an tịnh trở lại; là người an tịnh, lắng dịu, lắng dịu hoàn toàn, tịch tịnh, an tịnh trở lại, ngươi sẽ đi lại, sẽ trú ngụ, sẽ duy trì oai nghi, sẽ hành xử, sẽ bảo hộ, sẽ duy trì, sẽ nuôi mạng – (nghĩa là) ‘Ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.’
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Yaṃ pubbe taṃ visosehi, pacchā te māhu kiñcanaṃ;
Majjhe ce no gahessasi, upasanto carissasī’’ti.
“Dry up that which is past; let there be nothing for you in the future. If you do not grasp at that which is in the middle, you will fare on pacified.”
‘Cái gì ở trước, hãy làm khô cạn nó, ở sau mong rằng không có gì cho ngươi; nếu ở giữa ngươi sẽ không nắm giữ, ngươi sẽ đi lại trong sự an tịnh.’
185.
185.
185.
Sabbaso nāmarūpasmiṃ, yassa natthi mamāyitaṃ;
Asatā ca na socati, sa ve loke na jīyati.
For whom there is no possessiveness at all towards name-and-form, and who does not grieve over what is non-existent, that one, indeed, is not defeated in the world.
Vị nào đối với danh và sắc, không có sự xem là của ta một cách hoàn toàn; và do không có (sự xem là của ta) nên không sầu muộn, vị ấy thật sự không bị thua thiệt ở đời.
Sabbaso nāmarūpasmiṃ, yassa natthi mamāyitanti. Sabbasoti sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ asesaṃ nissesaṃ pariyādiyanavacanametaṃ – sabbasoti. Nāmanti cattāro arūpino khandhā. Rūpanti cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṃ upādāya rūpaṃ. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Mamāyitanti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca…pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Sabbaso nāmarūpasmiṃ, yassa natthi mamāyitanti sabbaso nāmarūpasmiṃ mamattā yassa natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – sabbaso nāmarūpasmiṃ, yassa natthi mamāyitaṃ.
As for 'For whom there is no possessiveness at all towards name-and-form': Herein, 'at all' (sabbaso) means: in every way, entirely, completely, without remainder, without exception; this is a term of complete comprehension. 'Name' means the four immaterial aggregates. 'Form' means the four great elements and the form derived from the four great elements. 'For whom' means for the Arahant, the one with taints destroyed. 'Possessiveness' (mamāyitaṃ) means the two kinds of possessiveness: craving-possessiveness and view-possessiveness… and so on… this is view-possessiveness. As for 'For whom there is no possessiveness at all towards name-and-form': this means for whom possessiveness towards name-and-form in any way does not exist, is not present, is not found, is not obtained; they have been abandoned, cut off, especially pacified, tranquillized, are incapable of arising again, and have been burned by the fire of knowledge. Thus: 'for whom there is no possessiveness at all towards name-and-form.'
‘Vị nào đối với danh và sắc, không có sự xem là của ta một cách hoàn toàn.’ Sabbaso là một từ chỉ sự bao trùm, có nghĩa là: bởi tất cả, tất cả, trong mọi cách, tất cả, không còn dư sót, không có ngoại lệ. Nāma (danh) là bốn uẩn vô sắc. Rūpa (sắc) là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Yassa (vị nào) là chỉ vị A-la-hán, bậc Lậu Tận. Mamāyitaṃ (sự xem là của ta) có hai loại chấp thủ là của ta: chấp thủ là của ta do ái và chấp thủ là của ta do tà kiến... cho đến... đây là chấp thủ là của ta do ái... cho đến... đây là chấp thủ là của ta do tà kiến. ‘Vị nào đối với danh và sắc, không có sự xem là của ta một cách hoàn toàn’ có nghĩa là: vị nào đối với danh và sắc một cách hoàn toàn, các sự chấp thủ là của ta không có, không hiện hữu, không được tìm thấy; đã được đoạn tận, đã được cắt đứt, đã được làm cho lắng dịu, đã được làm cho an tịnh trở lại, không có khả năng sanh khởi, đã được thiêu đốt bằng ngọn lửa trí tuệ – (nghĩa là) ‘Vị nào đối với danh và sắc, không có sự xem là của ta một cách hoàn toàn.’
Asatā ca na socatīti. Vipariṇataṃ vā vatthuṃ na socati, vipariṇatasmiṃ vā vatthusmiṃ na socati. ‘‘Cakkhu me vipariṇata’’nti na socati, sotaṃ me… ghānaṃ me… jivhā me… kāyo me… rūpā me… saddā me… gandhā me… rasā me… phoṭṭhabbā me… kulaṃ me… gaṇo me… āvāso me… lābho me…pe… ‘‘sālohitā me vipariṇatā’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi asatā ca na socati.
Regarding 'And one does not grieve for what is non-existent': One does not grieve for an object that has altered, or one does not grieve on account of an object that has altered. One does not grieve, thinking, 'My eye has altered.' 'My ear... my nose... my tongue... my body... my forms... my sounds... my scents... my tastes... my tangible objects... my family... my group... my dwelling... my gain... my blood relatives have altered.' One does not grieve, does not become weary, does not lament, does not weep beating one's breast, does not fall into confusion. In this way also is the meaning of 'And one does not grieve for what is non-existent'.
Và không sầu muộn về cái không có (asatā ca na socati) nghĩa là: Vị ấy không sầu muộn về vật đã biến hoại, hoặc không sầu muộn trong khi vật đang biến hoại. Vị ấy không sầu muộn rằng: ‘Mắt của ta đã biến hoại’, tai của ta... mũi của ta... lưỡi của ta... thân của ta... các sắc của ta... các tiếng của ta... các mùi của ta... các vị của ta... các vật xúc chạm của ta... dòng họ của ta... đoàn thể của ta... trú xứ của ta... lợi lộc của ta... v.v... ‘bà con huyết thống của ta đã biến hoại.’ Vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê mờ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘và không sầu muộn về cái không có’.
Atha vā asatāya dukkhāya vedanāya phuṭṭho pareto samohito samannāgato na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi asatā ca na socati. Atha vā cakkhurogena phuṭṭho pareto…pe… ḍaṃsamakasavātātapasarīsapasamphassena phuṭṭho pareto samohito samannāgato na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi asatā ca na socati. Atha vā asante asaṃvijjamāne anupalabbhamāne ‘‘ahu vata me, taṃ vata me natthi, siyā vata me, taṃ vatāhaṃ na labhāmī’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti. Evampi asatā ca na socati.
Alternatively, being touched, afflicted, beset, and overcome by a disagreeable, painful feeling, one does not grieve, does not become weary, does not lament, does not weep beating one's breast, does not fall into confusion. In this way also is the meaning of 'And one does not grieve for what is disagreeable.' Alternatively, being touched, afflicted... by an eye disease... being touched, afflicted, beset, and overcome by contact with gadflies, mosquitoes, wind, sun, and serpents, one does not grieve, does not become weary, does not lament, does not weep beating one's breast, does not fall into confusion. In this way also is the meaning of 'And one does not grieve for what is disagreeable.' Alternatively, when something is non-existent, not present, unobtainable, one does not grieve, thinking, 'Indeed, I had it! Indeed, I do not have it! Would that I had it! Indeed, I do not get it!' One does not grieve, does not become weary, does not lament, does not weep beating one's breast, does not fall into confusion. In this way also is the meaning of 'And one does not grieve for what is non-existent'.
Hoặc là, bị cảm thọ không vừa ý, khổ đau xúc chạm, xâm chiếm, bao trùm, áp đảo, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê mờ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘và không sầu muộn về cái không có’. Hoặc là, bị bệnh về mắt xúc chạm, xâm chiếm... v.v... bị sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, loài bò sát xúc chạm, xâm chiếm, bao trùm, áp đảo, vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê mờ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘và không sầu muộn về cái không có’. Hoặc là, khi (vật gì) không có, không hiện hữu, không tìm thấy được, vị ấy không sầu muộn... rằng: ‘Ôi, ta đã có, nhưng giờ đây ta không có. Ôi, mong rằng ta có được, nhưng than ôi, ta không có được nó.’ Vị ấy không sầu muộn, không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không đi đến mê mờ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘và không sầu muộn về cái không có’.
Sa ve loke na jīyatīti. Yassa ‘‘mayhaṃ vā idaṃ paresaṃ vā ida’’nti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ atthi, tassa jāni atthi.
Regarding 'He is not overcome in the world': For whomever there is anything concerning form, concerning feeling, concerning perception, concerning formations, or concerning consciousness that is grasped, misapprehended, adhered to, clung to, and resolved upon, thinking, 'This is mine' or 'This is others',' for him there is loss.
Vị ấy thật không bị hao tổn trong thế gian (Sa ve loke na jīyati) nghĩa là: Người nào có sự nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm, bám víu, tin chắc vào bất cứ điều gì liên quan đến sắc, thọ, tưởng, hành, hoặc thức với ý nghĩ rằng: ‘Cái này là của ta’ hoặc ‘Cái này là của người khác’, thì người ấy có sự hao tổn.
Bhāsitampi hetaṃ –
For this was also said:
Và điều này cũng đã được nói đến –
Yassa ‘‘mayhaṃ vā idaṃ paresaṃ vā ida’’nti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi, tassa jāni natthi. Bhāsitampi hetaṃ – ‘‘‘nandasi, samaṇā’ti. ‘Kiṃ laddhā, āvuso’ti? ‘Tena hi, samaṇa, socasī’ti. ‘Kiṃ jīyittha, āvuso’ti? ‘Tena hi, samaṇa, neva nandasi na socasī’ti. ‘Evamāvuso’’’ti.
For whom there is not any grasping, misapprehending, adhering to, being attached to, or being intent upon anything related to form, feeling, perception, formations, or consciousness as 'this is mine' or 'this is others,' for them there is no loss. Indeed, this too was spoken: 'Do you delight, ascetic?' he asked. 'What have I gained, friend?' he said. 'In that case, ascetic, do you grieve?' he asked. 'What have I lost, friend?' he said. 'In that case, ascetic, you neither delight nor grieve?' he asked. 'That is so, friend,' he said.
Người nào không có sự nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm, bám víu, tin chắc vào bất cứ điều gì liên quan đến sắc, thọ, tưởng, hành, hoặc thức với ý nghĩ rằng: ‘Cái này là của ta’ hoặc ‘Cái này là của người khác’, thì người ấy không có sự hao tổn. Và điều này cũng đã được nói đến: ‘– Này Sa-môn, ngài có hoan hỷ không?’ ‘– Này hiền giả, được cái gì chứ?’ ‘– Vậy thì, này Sa-môn, ngài có sầu muộn không?’ ‘– Này hiền giả, mất cái gì chứ?’ ‘– Vậy thì, này Sa-môn, ngài không hoan hỷ cũng không sầu muộn?’ ‘– Đúng vậy, này hiền giả.’
‘‘Cirassaṃ vata passāma, brāhmaṇaṃ parinibbutaṃ;
Anandiṃ anīghaṃ bhikkhuṃ, tiṇṇaṃ loke visattika’’nti.
“After a long time indeed, we see a brahmin who has attained Parinibbāna; a bhikkhu without delight, without affliction, who has crossed over attachment in the world.”
‘Sau một thời gian dài, chúng ta mới thấy được vị Bà-la-môn đã tịch tịnh, vị Tỳ khưu không hoan hỷ, không phiền não, đã vượt qua sự dính mắc trong thế gian.’
Sa ve loke na jīyati. Tenāha bhagavā –
He truly is not overcome in the world. Therefore, the Blessed One said:
Vị ấy thật không bị hao tổn trong thế gian. Vì thế, Đức Thế Tôn đã nói –
‘‘Sabbaso nāmarūpasmiṃ, yassa natthi mamāyitaṃ;
Asatā ca na socati, sa ve loke na jīyatī’’ti.
“For whom there is no 'making mine' whatsoever in regard to name-and-form, and who does not grieve over what is non-existent, he truly is not overcome in the world.”
‘Đối với danh và sắc trong mọi phương diện, người nào không có sự xem là của ta; Và không sầu muộn về cái không có, vị ấy thật không bị hao tổn trong thế gian.’
186.
186.
186.
Yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ;
Mamattaṃ so asaṃvindaṃ, natthi meti na socati.
For whom there is no impediment whatsoever as 'this is mine' or 'this is others'; that one, not finding any sense of 'mineness', does not grieve, thinking 'there is nothing for me'.
Người nào không có (ý niệm) ‘cái này là của tôi’, hoặc bất cứ thứ gì là của người khác; Vị ấy, không tìm thấy cái ‘của ta’, không sầu muộn rằng ‘tôi không có’.
Yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcananti. Yassāti arahato khīṇāsavassa. Yassa ‘‘mayhaṃ vā idaṃ paresaṃ vā ida’’nti kiñci rūpagataṃ vedanāgataṃ saññāgataṃ saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ gahitaṃ parāmaṭṭhaṃ abhiniviṭṭhaṃ ajjhositaṃ adhimuttaṃ natthi na santi na saṃvijjati nupalabbhati, pahīnaṃ samucchinnaṃ vūpasantaṃ paṭipassaddhaṃ abhabbuppattikaṃ ñāṇagginā daḍḍhanti. Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ.
Regarding 'For whom there is no ‘this is mine,’ nor any impediment belonging to others': 'For whom' means for the Arahant, one whose taints are destroyed. For whom there is not any grasping, misapprehending, adhering to, being attached to, or being intent upon anything related to form, feeling, perception, formations, or consciousness as 'this is mine' or 'this is others'; it does not exist, is not present, is not found. It is abandoned, cut off, stilled, calmed, incapable of arising again, burned by the fire of knowledge. In this way also is the meaning of the phrase 'For whom there is no ‘this is mine,’ nor any impediment belonging to others'.
Người nào không có (ý niệm) ‘cái này là của tôi’, hoặc bất cứ thứ gì là của người khác (Yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ) nghĩa là: Người nào (yassāti) là bậc A-la-hán, bậc lậu tận. Người nào không có, không hiện hữu, không tồn tại, không tìm thấy được sự nắm giữ, chấp thủ, quyết tâm, bám víu, tin chắc vào bất cứ điều gì liên quan đến sắc, thọ, tưởng, hành, hoặc thức với ý nghĩ rằng: ‘Cái này là của ta’ hoặc ‘Cái này là của người khác’; (chúng) đã được từ bỏ, đoạn trừ, làm cho lắng dịu, làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ. Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘Người nào không có (ý niệm) ‘cái này là của tôi’, hoặc bất cứ thứ gì là của người khác’.
Vuttañhetaṃ bhagavatā – ‘‘nāyaṃ, bhikkhave, kāyo tumhākaṃ, napi aññesaṃ. Purāṇamidaṃ, bhikkhave, kammaṃ abhisaṅkhataṃ abhisañcetayitaṃ vedanīyaṃ daṭṭhabbaṃ. Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako paṭiccasamuppādaṃyeva sādhukaṃ yoniso manasikaroti – ‘iti imasmiṃ sati idaṃ hoti imassuppādā idaṃ uppajjati, imasmiṃ asati idaṃ na hoti imassa nirodhā idaṃ nirujjhati, yadidaṃ avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ…pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāyatveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho…pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti. Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ.
This was said by the Blessed One: 'O monks, this body is not yours, nor is it of others. O monks, this is old kamma, formed, willed, to be experienced, and to be seen. Therein, O monks, the learned noble disciple gives careful and wise attention to dependent origination itself: ‘When this is, that is; from the arising of this, that arises. When this is not, that is not; from the cessation of this, that ceases. That is: with ignorance as condition, volitional formations come to be; with volitional formations as condition, consciousness comes to be… Thus is the origin of this whole mass of suffering. But with the remainderless fading away and cessation of that very ignorance, there is the cessation of volitional formations… Thus is the cessation of this whole mass of suffering.’ In this way also is the meaning of the phrase 'For whom there is no ‘this is mine,’ nor any impediment belonging to others'.
Điều này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘– Này các Tỳ khưu, thân này không phải của các ông, cũng không phải của những người khác. Này các Tỳ khưu, đây là nghiệp cũ, đã được tạo tác, đã được chủ ý, cần phải được cảm nhận, cần phải được thấy. Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều khéo tác ý như lý về chính Lý Duyên Khởi rằng: ‘Do cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là, do vô minh duyên các hành; do các hành duyên thức... v.v... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn chính vô minh ấy nên các hành diệt... v.v... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.’ Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘Người nào không có (ý niệm) ‘cái này là của tôi’, hoặc bất cứ thứ gì là của người khác’.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā –
This was also said by the Blessed One:
Và điều này cũng đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng –
‘‘Suññato lokaṃ avekkhassu, mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṃ ūhacca †, evaṃ maccutaro siyā;
Evaṃ lokaṃ avekkhantaṃ, maccurājā na passatī’’ti.
“Look upon the world as empty, O Mogharāja, ever mindful; having uprooted the view of self, thus one may cross beyond death. The King of Death does not see one who regards the world in this way.”
‘Này Mogharāja, hãy luôn chánh niệm, nhìn thế gian là trống không; sau khi nhổ bỏ tự thân kiến, như vậy có thể vượt qua cái chết. Người nhìn thế gian như vậy, tử thần không nhìn thấy.’
Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ.
In this way also is the meaning of the phrase 'For whom there is no ‘this is mine,’ nor any impediment belonging to others'.
Như vậy cũng là ý nghĩa của ‘Người nào không có (ý niệm) ‘cái này là của tôi’, hoặc bất cứ thứ gì là của người khác’.
Vuttampi hetaṃ bhagavatā – ‘‘yaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṃ? Rūpaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Vedanā… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, yaṃ imasmiṃ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ, taṃ jano hareyya vā ḍaheyya † vā yathāpaccayaṃ vā kareyya, api nu tumhākaṃ evamassa – ‘amhe jano harati vā ḍahati vā yathāpaccayaṃ vā karotī’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Taṃ kissa hetu’’? ‘‘Na hi no etaṃ, bhante, attā vā attaniyaṃ vā’’ti. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, yaṃ na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṃ? Rūpaṃ, bhikkhave, na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissati. Vedanā… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ na tumhākaṃ, taṃ pajahatha. Taṃ vo pahīnaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya bhavissatī’’ti. Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ. Bhāsitampi hetaṃ –
This too was spoken by the Blessed One: "Bhikkhus, abandon what is not yours. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness. And what, bhikkhus, is not yours? Form, bhikkhus, is not yours—abandon it. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness. Feeling… perception… formations… consciousness is not yours—abandon it. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness. What do you think, bhikkhus? If people were to carry away, burn, or do as they please with the grass, sticks, branches, and leaves in this Jeta’s Grove, would it occur to you: ‘People are carrying us away, burning us, or doing as they please with us’?" "No, venerable sir." "For what reason?" "Because, venerable sir, that is not our self nor what belongs to our self." "In the same way, bhikkhus, abandon what is not yours. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness. And what, bhikkhus, is not yours? Form, bhikkhus, is not yours—abandon it. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness. Feeling… perception… formations… consciousness is not yours—abandon it. Your abandoning it will be for your long-term welfare and happiness." Thus also is the meaning of the phrase: 'For whom there is no "this is mine," nor anything belonging to others.' This too was said:
Và điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: "Này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi, hãy từ bỏ cái ấy. Việc từ bỏ cái ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Thọ... tưởng... các hành... thức không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Này các tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào, những gì là cỏ, củi, cành, lá trong khu vườn Jetavana này, người ta có thể mang đi, đốt đi, hoặc làm gì tùy ý, liệu các ngươi có nghĩ rằng: 'Người ta đang mang chúng tôi đi, đốt chúng tôi đi, hoặc làm gì tùy ý với chúng tôi' không?" "Bạch Thế Tôn, không phải vậy." "Vì sao vậy?" "Bạch Thế Tôn, vì đó không phải là tự ngã của chúng con, cũng không phải là cái thuộc về tự ngã của chúng con." "Cũng vậy, này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi, hãy từ bỏ cái ấy. Việc từ bỏ cái ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Và này các tỳ khưu, cái gì không phải của các ngươi? Này các tỳ khưu, sắc không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi. Thọ... tưởng... các hành... thức không phải của các ngươi, hãy từ bỏ nó. Việc từ bỏ nó sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho các ngươi." Cũng vậy, đối với người không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác. Và điều này cũng đã được nói đến:
‘‘Suddhadhammasamuppādaṃ, suddhasaṅkhārasantatiṃ;
Passantassa yathābhūtaṃ, na bhayaṃ hoti gāmaṇi.
For one who sees, as it truly is, the arising of pure phenomena and the continuity of pure formations, there is no fear, O Gāmaṇi.
Này Gāmaṇi, đối với người thấy như thật sự sanh khởi của các pháp thuần tịnh, sự tiếp nối của các hành thuần tịnh, thì không có sự sợ hãi.
‘‘Tiṇakaṭṭhasamaṃ lokaṃ, yadā paññāya passati;
Nāññaṃ patthayate kiñci, aññatra appaṭisandhiyā’’ti †.
When one sees the world with wisdom as like grass and sticks, one desires nothing other than non-rebirth.
Khi người ấy thấy thế gian này bằng trí tuệ, xem nó như cỏ và củi, người ấy không mong cầu bất cứ điều gì khác ngoài việc không tái sanh.
Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ. Vajirā bhikkhunī māraṃ pāpimantaṃ etadavoca –
Thus also is the meaning of the phrase: 'For whom there is no "this is mine," nor anything belonging to others.' The bhikkhunī Vajirā said this to Māra the Evil One:
Cũng vậy, đối với người không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác. Tỳ khưu ni Vajirā đã nói với Ác ma Māra như sau:
‘‘Kaṃ nu sattoti paccesi, māra diṭṭhigataṃ nu te;
Suddhasaṅkhārapuñjoyaṃ, nayidha sattupalabbhati.
Māra, what do you believe to be a 'being'? Is this a wrong view of yours? This is a mere heap of pure formations; here, a being is not found.
Này Māra, ngươi tin vào cái gì là 'chúng sanh'? Phải chăng đó là tà kiến của ngươi? Đây chỉ là một khối các hành thuần tịnh, ở đây không tìm thấy chúng sanh nào.
‘‘Yathā hi † aṅgasambhārā, hoti saddo ratho iti;
Evaṃ khandhesu santesu, hoti sattoti sammuti †.
Just as with an assembly of parts, there comes to be the term 'chariot'; so too, when the aggregates are present, there is the convention 'a being'.
Ví như khi các bộ phận được lắp ráp lại, có tên gọi là 'xe cộ'; cũng vậy, khi các uẩn hiện hữu, có tên gọi quy ước là 'chúng sanh'.
‘‘Dukkhameva hi sambhoti, dukkhaṃ tiṭṭhati veti ca;
Nāññatra dukkhā sambhoti, nāññaṃ dukkhā nirujjhatī’’ti.
Indeed, only suffering arises; suffering persists and passes away. Nothing other than suffering arises, nothing other than suffering ceases.
Chỉ có khổ sanh khởi, khổ tồn tại và biến đi. Ngoài khổ ra, không có gì sanh khởi; ngoài khổ ra, không có gì diệt đi.
Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ. Vuttaṃñhetaṃ bhagavatā
Thus also is the meaning of the phrase: 'For whom there is no "this is mine," nor anything belonging to others.' This was said by the Blessed One:
Cũng vậy, đối với người không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác. Và điều này đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘‘Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu rūpaṃ samannesati yāvatā rūpassa gati, vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ samannesati yāvatā viññāṇassa gati. Tassa rūpaṃ samannesato yāvatā rūpassa gati, vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ samannesato yāvatā viññāṇassa gati, yampissa taṃ hoti ‘aha’nti vā ‘mama’nti vā, ‘asmī’ti vā, tampi tassa na hotī’’ti. Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ.
Just so, bhikkhus, a bhikkhu investigates form as far as the range of form extends; he investigates feeling… perception… formations… consciousness as far as the range of consciousness extends. For him who investigates form as far as the range of form extends, and feeling… perception… formations… consciousness as far as the range of consciousness extends, whatever there might be of ‘I’ or ‘mine’ or ‘I am’—that too does not exist for him. Thus also is the meaning of the phrase: 'for whom there is no ‘this is mine,’ nor anything belonging to others'.
Cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tìm kiếm sắc cho đến tận cùng phạm vi của sắc, tìm kiếm thọ... tưởng... các hành... tìm kiếm thức cho đến tận cùng phạm vi của thức. Đối với vị ấy, khi tìm kiếm sắc cho đến tận cùng phạm vi của sắc, tìm kiếm thọ... tưởng... các hành... tìm kiếm thức cho đến tận cùng phạm vi của thức, thì những gì là 'tôi' hay 'của tôi' hay 'tôi là', những điều ấy cũng không tồn tại đối với vị ấy. Cũng vậy, đối với người không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác.
Āyasmā, ānando, bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘‘suñño loko, suñño loko’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, suñño lokoti vuccatī’’ti? ‘‘Yasmā kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā, tasmā suñño lokoti vuccati. Kiñcānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā? Cakkhu kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā. Rūpā suññā, cakkhuviññāṇaṃ suññaṃ, cakkhusamphasso suñño, yadidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi suññaṃ… sotaṃ suññaṃ… saddā suññā… ghānaṃ suññaṃ… gandhā suññā… jivhā suññā… rasā suññā… kāyo suñño… phoṭṭhabbā suññā… mano suñño… dhammā suññā… manoviññāṇaṃ suññaṃ… manosamphasso suñño, yadidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi suññaṃ attena vā attaniyena vā. Yasmā kho, ānanda, suññaṃ attena vā attaniyena vā, tasmā suñño lokoti vuccatī’’ti. Evampi yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ.
The Venerable Ānanda said this to the Blessed One: “‘The world is empty, the world is empty,’ it is said, venerable sir. To what extent, venerable sir, is it said that ‘the world is empty’?” “Because, Ānanda, it is empty of a self or of what belongs to a self, therefore it is said, ‘the world is empty.’ And what, Ānanda, is empty of a self or of what belongs to a self? The eye, Ānanda, is empty of a self or of what belongs to a self. Forms are empty, eye-consciousness is empty, eye-contact is empty, and whatever feeling arises that is conditioned by eye-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is empty... The ear is empty... sounds are empty... The nose is empty... odors are empty... The tongue is empty... tastes are empty... The body is empty... tangible objects are empty... The mind is empty... mental objects are empty... mind-consciousness is empty... mind-contact is empty, and whatever feeling arises that is conditioned by mind-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is empty of a self or of what belongs to a self. Because, Ānanda, it is empty of a self or of what belongs to a self, therefore it is said, ‘the world is empty.’” Thus also is the meaning of the phrase: 'For whom there is no “this is mine,” nor anything belonging to others.'
Tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, người ta nói: 'thế gian trống không, thế gian trống không'. Bạch Thế Tôn, do đâu mà được gọi là 'thế gian trống không'?" "Này Ānanda, vì nó trống không đối với tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã, nên được gọi là 'thế gian trống không'. Và này Ānanda, cái gì trống không đối với tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã? Này Ānanda, mắt trống không đối với tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã. Các sắc trống không, nhãn thức trống không, nhãn xúc trống không, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, thì cái ấy cũng trống không... tai trống không... các âm thanh trống không... mũi trống không... các mùi hương trống không... lưỡi trống không... các vị trống không... thân trống không... các vật xúc chạm trống không... ý trống không... các pháp trống không... ý thức trống không... ý xúc trống không, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, thì cái ấy cũng trống không đối với tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã. Này Ānanda, vì nó trống không đối với tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã, nên được gọi là 'thế gian trống không'." Cũng vậy, đối với người không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác.
Mamattaṃ so asaṃvindanti. Mamattāti dve mamattā – taṇhāmamattañca diṭṭhimamattañca…pe… idaṃ taṇhāmamattaṃ…pe… idaṃ diṭṭhimamattaṃ. Taṇhāmamattaṃ pahāya diṭṭhimamattaṃ paṭinissajjitvā mamattaṃ avindanto asaṃvindanto anadhigacchanto appaṭilabhantoti – mamattaṃ so asaṃvindaṃ.
He does not find mineness. As for ‘mineness,’ there are two kinds of mineness: mineness that is craving and mineness that is wrong view... This is mineness that is craving... This is mineness that is wrong view. Having abandoned mineness that is craving and having relinquished mineness that is wrong view, not finding mineness, not fully experiencing it, not attaining it, not acquiring it—this is the meaning of ‘he does not find mineness.’
Vị ấy không tìm thấy sự sở hữu. Sự sở hữu có hai loại: sự sở hữu do tham ái và sự sở hữu do tà kiến... đây là sự sở hữu do tham ái... đây là sự sở hữu do tà kiến. Sau khi từ bỏ sự sở hữu do tham ái, xả ly sự sở hữu do tà kiến, vị ấy không tìm thấy, không cảm nhận, không đạt đến, không có được sự sở hữu - đó là ý nghĩa của 'vị ấy không tìm thấy sự sở hữu'.
Natthi meti na socatīti. Vipariṇataṃ vā vatthuṃ na socati, vipariṇatasmiṃ vā vatthusmiṃ na socati. ‘‘Cakkhu me vipariṇata’’nti na socati, ‘‘sotaṃ me…pe… sālohitā me vipariṇatā’’ti na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṃ kandati na sammohaṃ āpajjatīti – natthi meti na socati.
‘There is nothing of mine,’ thus he does not grieve. He does not grieve over a thing that has changed, nor does he grieve when a thing has changed. He does not grieve, thinking, ‘My eye has changed.’ He does not grieve, thinking, ‘My ear... my blood relations have changed.’ He is not wearied, does not lament, does not beat his breast and wail, and does not fall into bewilderment—this is the meaning of ‘“There is nothing of mine,” thus he does not grieve.’
'Không có gì là của tôi' nên không sầu muộn. Vị ấy không sầu muộn về vật đã biến hoại, hay không sầu muộn trong khi vật đang biến hoại. Vị ấy không sầu muộn rằng: "Mắt của tôi đã biến hoại", "tai của tôi... bà con của tôi đã biến hoại". Vị ấy không mệt mỏi, không than van, không đấm ngực khóc lóc, không rơi vào si mê - đó là ý nghĩa của 'không có gì là của tôi' nên không sầu muộn.
Tenāha bhagavā –
Therefore the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói:
‘‘Yassa natthi idaṃ meti, paresaṃ vāpi kiñcanaṃ;
Mamattaṃ so asaṃvindaṃ, natthi meti na socatī’’ti.
For one who has nothing of 'this is mine,' nor anything of others; he, not finding mineness, does not grieve, 'I have nothing.'
Người nào không có 'cái này là của tôi', cũng không có bất cứ thứ gì của người khác; vị ấy không tìm thấy sự sở hữu, nên không sầu muộn rằng 'không có gì là của tôi'.
187.
187.
187.
Aniṭṭhurī ananugiddho, anejo sabbadhī samo;
Tamānisaṃsaṃ pabrūmi, pucchito avikampinaṃ.
Not harsh, not greedy, without craving, equanimous in every way; I declare this benefit of the unwavering one, when asked.
Không thô lỗ, không tham luyến, không dao động, bình thản trong mọi hoàn cảnh; Ta tuyên bố quả báu ấy cho người không lay chuyển khi được hỏi.
Aniṭṭhurī ananugiddho anejo sabbadhī samoti. Katamaṃ niṭṭhuriyaṃ? Idhekacco niṭṭhuriyo hoti, paralābhasakkāragarukāramānanavandanapūjanāsu issati usūyati † issaṃ bandhati. Yaṃ evarūpaṃ niṭṭhuriyaṃ niṭṭhuriyakammaṃ issā issāyanā issāyitattaṃ usūyā usūyanā usūyitattaṃ – idaṃ vuccati niṭṭhuriyaṃ. Yassetaṃ niṭṭhuriyaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ…pe… ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati aniṭṭhurīti. Ananugiddhoti. Gedho vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yasseso gedho pahīno samucchinno…pe… ñāṇagginā daḍḍho, so vuccati ananugiddho. So rūpe agiddho sadde…pe… diṭṭhasutamutaviññātabbesu dhammesu agiddho agadhito amucchito anajjhosanno, vītagedho vigatagedho cattagedho vantagedho muttagedho pahīnagedho paṭinissaṭṭhagedho, vītarāgo vigatarāgo cattarāgo vantarāgo muttarāgo pahīnarāgo paṭinissaṭṭharāgo, nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṃvedī brahmabhūtena attanā viharatīti – aniṭṭhurī ananugiddho.
‘Not harsh, not greedy, without craving, equanimous in every way.’ What is harshness? Here, a certain person is harsh: they are envious, jealous, and bear resentment regarding others’ gains, honor, respect, reverence, homage, and veneration. Such harshness, harsh action, envy, the act of being envious, the state of being envious, jealousy, the act of being jealous, the state of being jealous—this is called harshness. One for whom this harshness is abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called ‘not harsh.’ ‘Not greedy.’ Greed (gedha) is a term for craving (taṇhā). It is that which is lust, intense lust... covetousness, greed, an unwholesome root. One for whom this greed is abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called ‘not greedy.’ He is not greedy, not clinging, not infatuated, not attached regarding forms, sounds... or phenomena seen, heard, sensed, or cognized. He is rid of greed, gone beyond greed, has discarded greed, has expelled greed, is released from greed, has abandoned greed, has relinquished greed; he is rid of lust, gone beyond lust, has discarded lust, has expelled lust, is released from lust, has abandoned lust, has relinquished lust; he is without thirst, extinguished, become cool, experiencing bliss, and dwells with a mind that has become sublime—thus, ‘not harsh, not greedy.’
Không thô lỗ, không tham đắm, không dao động, bình đẳng ở mọi nơi. Thế nào là sự thô lỗ? Ở đây, có người là kẻ thô lỗ, đối với lợi lộc, sự cung kính, sự tôn trọng, sự quý mến, sự đảnh lễ, sự cúng dường của người khác thì sanh lòng ganh tỵ, tật đố, kết buộc sự ganh tỵ. Bất cứ sự thô lỗ, hành vi thô lỗ, sự ganh tỵ, tình trạng ganh tỵ, sự tật đố, tình trạng tật đố có hình thức như vậy – điều này được gọi là sự thô lỗ. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... (v.v.)... đã thiêu đốt sự thô lỗ ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không thô lỗ. (Thế nào là) không tham đắm? Sự tham ái được gọi là sự tham đắm. Bất cứ sự tham muốn, sự say đắm... (v.v.)... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... (v.v.)... đã thiêu đốt sự tham đắm ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không tham đắm. Vị ấy không tham đắm đối với các sắc, không tham đắm đối với các tiếng... (v.v.)... không tham đắm, không tham lam, không mê muội, không bị trói buộc đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức; đã thoát khỏi sự tham đắm, đã từ bỏ sự tham đắm, đã vứt bỏ sự tham đắm, đã mửa ra sự tham đắm, đã giải thoát khỏi sự tham đắm, đã đoạn tận sự tham đắm, đã xả ly sự tham đắm; đã thoát khỏi lòng tham, đã từ bỏ lòng tham, đã vứt bỏ lòng tham, đã mửa ra lòng tham, đã giải thoát khỏi lòng tham, đã đoạn tận lòng tham, đã xả ly lòng tham; không còn khao khát, đã được dập tắt, đã trở nên mát mẻ, đang cảm nhận sự an lạc, vị ấy sống với tâm đã trở thành cao thượng. (Như vậy là) không thô lỗ, không tham đắm.
Anejo sabbadhī samoti. Ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā ejā taṇhā pahīnā samucchinnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati anejo. Ejāya pahīnattā anejo. So lābhepi na iñjati, alābhepi na iñjati, yasepi na iñjati, ayasepi na iñjati, pasaṃsāyapi na iñjati, nindāyapi na iñjati, sukhepi na iñjati, dukkhepi na iñjati, na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhatīti – anejo. Sabbadhī samoti sabbaṃ vuccati dvādasāyatanāni. Cakkhu ceva rūpā ca…pe… mano ceva dhammā ca. Yato ajjhattikabāhiresu āyatanesu chandarāgo pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṃkato āyatiṃ anuppādadhammo, so vuccati sabbadhi samo. So sabbattha tādi sabbattha majjhatto sabbattha upekkhakoti – anejo sabbadhī samo.
‘Unshaken, equanimous in every way.’ Agitation (ejā) is a term for craving (taṇhā). It is that which is lust, intense lust... covetousness, greed, an unwholesome root. One for whom this agitation, this craving, is abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called ‘unshaken.’ Because of having abandoned agitation, he is unshaken. He is not shaken by gain, nor by loss; not shaken by fame, nor by ill-repute; not shaken by praise, nor by blame; not shaken by pleasure, nor by pain. He does not move, tremble, quake, or intensely quake—thus, ‘unshaken.’ ‘Equanimous in every way.’ ‘All’ refers to the twelve sense bases: the eye and forms... the mind and mental objects. When, regarding the internal and external sense bases, desire and lust are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise again in the future, he is called ‘equanimous in every way.’ He is stable in all things, impartial in all things, equanimous in all things—thus, ‘unshaken, equanimous in every way.’
(Thế nào là) không dao động, bình đẳng ở mọi nơi? Sự tham ái được gọi là sự dao động. Bất cứ sự tham muốn, sự say đắm... (v.v.)... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... (v.v.)... đã thiêu đốt sự dao động, tức là tham ái ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không dao động. Do đã đoạn tận sự dao động nên (gọi là) không dao động. Vị ấy không bị lay động khi được lợi, không bị lay động khi bị thất lợi, không bị lay động khi được danh vọng, không bị lay động khi bị mất danh vọng, không bị lay động khi được tán dương, không bị lay động khi bị chê bai, không bị lay động khi được an lạc, không bị lay động khi bị đau khổ; không rung động, không chấn động, không rúng động, không chấn động mạnh. (Như vậy là) không dao động. (Thế nào là) bình đẳng ở mọi nơi? Mười hai xứ được gọi là tất cả. Mắt và các sắc... (v.v.)... ý và các pháp. Bởi vì dục tham đối với các xứ bên trong và bên ngoài đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, nên vị ấy được gọi là bình đẳng ở mọi nơi. Vị ấy vững chắc ở mọi nơi, trung lập ở mọi nơi, xả ly ở mọi nơi. (Như vậy là) không dao động, bình đẳng ở mọi nơi.
Tamānisaṃsaṃ pabrūmi, pucchito avikampinanti. Avikampinaṃ puggalaṃ puṭṭho pucchito yācito ajjhesito pasādito ime cattāro ānisaṃse pabrūmi. Yo so aniṭṭhurī ananugiddho anejo sabbadhi samoti brūmi ācikkhāmi…pe… pakāsemīti – tamānisaṃsaṃ pabrūmi pucchito avikampinaṃ.
‘I declare that benefit, being asked about the unwavering one.’ Being questioned, asked, requested, entreated, and persuaded, I declare these four benefits of an unwavering person. He who is not harsh, not greedy, unshaken, and equanimous in every way—I declare, I explain... I proclaim—thus, ‘I declare that benefit, being asked about the unwavering one.’
(Câu) ‘Ta nói lên quả báu ấy, khi được hỏi về người không lay động’ (có nghĩa là): Khi được hỏi, được chất vấn, được thỉnh cầu, được khuyến thỉnh, được làm cho hoan hỷ về hạng người không lay động, ta nói lên bốn quả báu này. Vị nào không thô lỗ, không tham đắm, không dao động, bình đẳng ở mọi nơi, ta nói, ta trình bày... (v.v.)... ta tuyên thuyết. (Như vậy là) ‘Ta nói lên quả báu ấy, khi được hỏi về người không lay động’.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do vậy, đức Thế Tôn đã nói rằng –
‘‘Aniṭṭhurī ananugiddho, anejo sabbadhī samo;
Tamānisaṃsaṃ pabrūmi, pucchito avikampina’’nti.
“Not harsh, not greedy, unshaken, equanimous in every way; I declare that benefit, being asked about the unwavering one.”
“Không thô lỗ, không tham đắm, không dao động, bình đẳng ở mọi nơi; Ta nói lên quả báu ấy, khi được hỏi về người không lay động.”
188.
188.
188.
Anejassa vijānato, natthi kāci nisaṅkhati † ;
Virato so viyārabbhā, † khemaṃ passati sabbadhi.
For the unshaken one who knows, there is no kind of formation; he is abstinent from exertion, he sees security everywhere.
Đối với người không dao động, người có trí tuệ, không có sự tích lũy nào cả; Vị ấy đã từ bỏ các hành, thấy được sự an ổn ở mọi nơi.
Anejassa vijānatoti. Ejā vuccati taṇhā. Yo rāgo sārāgo…pe… abhijjhā lobho akusalamūlaṃ. Yassesā ejā taṇhā pahīnā samucchinnā…pe… ñāṇagginā daḍḍhā, so vuccati anejo. Ejāya pahīnattā anejo. So lābhepi na iñjati, alābhepi na iñjati, yasepi na iñjati, ayasepi na iñjati, pasaṃsāyapi na iñjati, nindāyapi na iñjati, sukhepi na iñjati, dukkhepi na iñjati na calati na vedhati nappavedhati na sampavedhatīti – anejassa. Vijānatoti jānato ājānato vijānato paṭivijānato paṭivijjhato. ‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti jānato ājānato vijānato paṭivijānato paṭivijjhato, ‘‘sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti…pe… ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti jānato ājānato vijānato paṭivijānato paṭivijjhatoti – anejassa vijānato.
‘For the unshaken one who knows.’ Agitation (ejā) is a term for craving (taṇhā). It is that which is lust, intense lust... covetousness, greed, an unwholesome root. One for whom this agitation, this craving, is abandoned, cut off... burned by the fire of knowledge, is called ‘unshaken.’ Because of having abandoned agitation, he is unshaken. He is not shaken by gain, nor by loss; not shaken by fame, nor by ill-repute; not shaken by praise, nor by blame; not shaken by pleasure, nor by pain. He does not move, tremble, quake, or intensely quake—thus, ‘for the unshaken one.’ ‘Who knows’ means one who knows, understands, comprehends, clearly comprehends, and penetrates that ‘All formations are impermanent’... ‘All formations are suffering’... ‘Whatever is of the nature to arise, all that is of the nature to cease’—thus, ‘for the unshaken one who knows.’
(Câu) ‘Đối với người không dao động, người có trí tuệ’ (có nghĩa là): Sự tham ái được gọi là sự dao động. Bất cứ sự tham muốn, sự say đắm... (v.v.)... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Người nào đã đoạn tận, đã cắt đứt... (v.v.)... đã thiêu đốt sự dao động, tức là tham ái ấy bằng ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không dao động. Do đã đoạn tận sự dao động nên (gọi là) không dao động. Vị ấy không bị lay động khi được lợi, không bị lay động khi bị thất lợi, không bị lay động khi được danh vọng, không bị lay động khi bị mất danh vọng, không bị lay động khi được tán dương, không bị lay động khi bị chê bai, không bị lay động khi được an lạc, không bị lay động khi bị đau khổ; không rung động, không chấn động, không rúng động, không chấn động mạnh. (Như vậy là) đối với người không dao động. (Thế nào là) người có trí tuệ? (Là) người biết, người biết rõ, người biết một cách đặc biệt, người biết thấu đáo, người thâm nhập. (Là) người biết, người biết rõ, người biết một cách đặc biệt, người biết thấu đáo, người thâm nhập rằng: ‘Tất cả các hành là vô thường’. (Là) người biết, người biết rõ, người biết một cách đặc biệt, người biết thấu đáo, người thâm nhập rằng: ‘Tất cả các hành là khổ’... (v.v.)... (Là) người biết, người biết rõ, người biết một cách đặc biệt, người biết thấu đáo, người thâm nhập rằng: ‘Bất cứ pháp nào có đặc tính sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đặc tính đoạn diệt’. (Như vậy là) đối với người không dao động, người có trí tuệ.
Natthi kāci nisaṅkhatīti. Nisaṅkhatiyovuccanti puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro. Yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, ettāvatā nisaṅkhatiyo natthi na santi na saṃvijjanti nupalabbhanti, pahīnā samucchinnā vūpasantā paṭipassaddhā abhabbuppattikā ñāṇagginā daḍḍhāti – natthi kāci nisaṅkhati.
‘There is no kind of formation.’ ‘Formations’ (nisaṅkhati) refers to meritorious formations, demeritorious formations, and imperturbable formations. When meritorious formations, demeritorious formations, and imperturbable formations are abandoned, cut off at the root, made like a palm stump, brought to non-existence, and are of a nature not to arise again in the future—to this extent, there are no formations. They do not exist, are not found, are not perceived; they are abandoned, cut off, stilled, pacified, incapable of arising again, and burned by the fire of knowledge—thus, ‘there is no kind of formation.’
(Câu) ‘Không có sự tích lũy nào cả’ (có nghĩa là): Phước hành, phi phước hành, và bất động hành được gọi là các sự tích lũy. Bởi vì phước hành, phi phước hành, và bất động hành đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, do đó các sự tích lũy không có, không hiện hữu, không được tìm thấy, không thể có được; chúng đã được đoạn tận, đã được cắt đứt, đã được làm cho an tịnh, đã được làm cho lắng dịu, không có khả năng sanh khởi, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ. (Như vậy là) không có sự tích lũy nào cả.
Virato so viyārabbhāti. Viyārabbho vuccati puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro. Yato puññābhisaṅkhāro ca apuññābhisaṅkhāro ca āneñjābhisaṅkhāro ca pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṃkatā āyatiṃ anuppādadhammā, ettāvatā ārabbhā viyārabbhā ārato assa virato paṭivirato nikkhanto nissaṭo vippamutto visaññutto vimariyādikatena cetasā viharatīti – virato so viyārabbhā.
‘He is abstinent from exertion.’ ‘Exertion’ (viyārabbha) refers to meritorious formation, demeritorious formation, and imperturbable formation. Because meritorious formation, demeritorious formation, and imperturbable formation are abandoned, their roots cut off, made like a palm stump, brought to a state of non-existence, and are of a nature not to arise again in the future—to this extent, from exertion and various exertions, he is abstinent, especially abstinent, restrained, gone forth, freed, especially freed, disjoined, and dwells with a mind without boundaries—thus, ‘he is abstinent from exertion.’
(Câu) ‘Vị ấy đã từ bỏ các hành’ (có nghĩa là): Phước hành, phi phước hành, và bất động hành được gọi là sự cố gắng (viyārabbho). Bởi vì phước hành, phi phước hành, và bất động hành đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai, do đó vị ấy đã tránh xa, đã từ bỏ, đã dứt bỏ, đã thoát ly, đã xuất ly, đã giải thoát, đã hoàn toàn giải thoát, đã không còn liên hệ khỏi sự cố gắng, khỏi các sự cố gắng khác nhau; vị ấy sống với tâm không còn giới hạn. (Như vậy là) vị ấy đã từ bỏ các hành.
Khemaṃ passati sabbadhīti. Bhayakaro rāgo bhayakaro doso bhayakaro moho…pe… bhayakarā kilesā. Bhayakarassa rāgassa pahīnattā…pe… bhayakarānaṃ kilesānaṃ pahīnattā sabbattha khemaṃ passati sabbattha abhayaṃ passati sabbattha anītikaṃ passati sabbattha anupaddavaṃ passati sabbattha anupasaggaṃ passati sabbattha anupasaṭṭhattaṃ † passatīti – khemaṃ passati sabbadhi.
“He sees safety everywhere.” Lust is fear-producing, hate is fear-producing, delusion is fear-producing… the defilements are fear-producing. Because the fear-producing defilements are abandoned, everywhere he sees safety, everywhere he sees fearlessness, everywhere he sees freedom from distress, everywhere he sees freedom from calamity, everywhere he sees freedom from oppression, everywhere he sees freedom from affliction. This is the meaning of the phrase, “He sees safety everywhere.”
‘Thấy sự an ổn ở khắp nơi.’ Tham ái tạo ra sợ hãi, sân hận tạo ra sợ hãi, si mê tạo ra sợ hãi... các phiền não tạo ra sợ hãi. Do đã đoạn tận tham ái là thứ tạo ra sợ hãi... do đã đoạn tận các phiền não là những thứ tạo ra sợ hãi, vị ấy thấy sự an ổn ở khắp nơi, thấy sự vô úy ở khắp nơi, thấy sự không tai ương ở khắp nơi, thấy sự không hoạn nạn ở khắp nơi, thấy sự không nguy hiểm ở khắp nơi, thấy sự không vướng mắc ở khắp nơi. – (Nghĩa là) thấy sự an ổn ở khắp nơi.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã dạy rằng –
‘‘Anejassa vijānato, natthi kāci nisaṅkhati;
Virato so viyārabbhā, khemaṃ passati sabbadhī’’ti.
“For the unshaken one who knows, there is no fabrication whatsoever; he is abstinent from exertion, he sees safety everywhere.”
“Với người trí tuệ, không dao động, Không còn tích lũy điều gì cả; Vị ấy lìa bỏ các nỗ lực, Thấy sự an ổn ở khắp nơi.”
189.
189.
189.
Na samesu na omesu, na ussesu vadate muni;
Santo so vītamaccharo, † nādeti na nirassati. [iti bhagavā]
“The sage does not make comparisons among equals, inferiors, or superiors; peaceful and free from stinginess, he neither grasps nor rejects.”
Bậc Thánh nhân không nói ‘bằng’ giữa những người bằng, không nói ‘thấp’ giữa những người thấp, không nói ‘cao’ giữa những người cao; vị ấy an tịnh, không còn keo kiệt, không nắm giữ, cũng không từ bỏ. [Thế Tôn đã dạy như vậy]
Na samesu na omesu, na ussesu vadate munīti. Munīti. Monaṃ vuccati ñāṇaṃ…pe… saṅgajālamaticca so muni. ‘‘Seyyohamasmī’’ti vā ‘‘sadisohamasmī’’ti vā ‘‘hīnohamasmī’’ti vā na vadati na katheti na bhaṇati na dīpayati na voharatīti – na samesu na omesu, na ussesu vadate muni.
“The sage does not make comparisons among equals, inferiors, or superiors.” As for ‘sage’ (muni): ‘Mona’ (sagehood) is said to be knowledge… having overcome the net of attachment, that sage does not say, “I am superior,” or “I am equal,” or “I am inferior.” He does not say, does not declare, does not utter, does not proclaim, or does not express it. This is the meaning of the phrase, “The sage does not make comparisons among equals, inferiors, or superiors.”
‘Bậc Thánh nhân không nói ‘bằng’ giữa những người bằng, không nói ‘thấp’ giữa những người thấp, không nói ‘cao’ giữa những người cao.’ Bậc Thánh nhân (muni) là gì? Trí tuệ được gọi là sự trầm lặng (mona)... Vị Thánh nhân ấy, vượt qua mạng lưới của sự vướng mắc, không nói, không kể, không thốt ra, không chỉ bày, không dùng đến các cách nói như: ‘Ta hơn,’ hoặc ‘Ta bằng,’ hoặc ‘Ta kém.’ – (Nghĩa là) bậc Thánh nhân không nói ‘bằng’ giữa những người bằng, không nói ‘thấp’ giữa những người thấp, không nói ‘cao’ giữa những người cao.
Santo so vītamaccharoti. Santoti rāgassa santattā samitattā santo, dosassa…pe… mohassa… sabbākusalābhisaṅkhārānaṃ santattā samitattā vūpasamitattā vijjhātattā nibbutattā vigatattā paṭipassaddhattā santo upasanto vūpasanto nibbuto paṭipassaddhoti – santo. So vītamaccharoti. Pañca macchariyāni āvāsamacchariyaṃ…pe… gāho vuccati macchariyaṃ. Yassetaṃ macchariyaṃ pahīnaṃ samucchinnaṃ…pe… ñāṇagginā daḍḍhaṃ, so vuccati vītamaccharo vigatamaccharo cattamaccharo vantamaccharo muttamaccharo pahīnamaccharo paṭinissaṭṭhamaccharoti – santo so vītamaccharo.
“Peaceful, he is free from stinginess.” ‘Peaceful’ (santo): Because passion is calmed and subdued, he is peaceful; because aversion… delusion… all unwholesome formations are calmed, subdued, stilled, extinguished, ceased, departed, and pacified, he is peaceful, calm, stilled, extinguished, and pacified—this is the meaning of ‘peaceful’. “He is free from stinginess.” There are five kinds of stinginess: stinginess regarding dwellings… Grasping is called stinginess. One for whom this stinginess is abandoned, cut off… burned by the fire of knowledge, is called ‘free from stinginess,’ ‘devoid of stinginess,’ ‘having relinquished stinginess,’ ‘having disgorged stinginess,’ ‘liberated from stinginess,’ ‘having abandoned stinginess,’ ‘having cast off stinginess’—thus, “peaceful, he is free from stinginess.”
Santo so vītamaccharo (vị ấy tịch tịnh, không còn bỏn xẻn) có nghĩa là: Santo (tịch tịnh) có nghĩa là: Do tham ái đã được lắng dịu, đã được dập tắt nên gọi là tịch tịnh; do sân... (cho đến)... do si... do tất cả các hành bất thiện đã được lắng dịu, đã được dập tắt, đã được hoàn toàn dập tắt, đã được tiêu diệt, đã được tịch diệt, đã được lìa khỏi, đã được an tịnh trở lại nên gọi là tịch tịnh, gần tịch tịnh, hoàn toàn tịch tịnh, tịch diệt, an tịnh trở lại. Đây là ý nghĩa của santo. So vītamaccharo (vị ấy không còn bỏn xẻn) có nghĩa là: Có năm loại bỏn xẻn là bỏn xẻn về trú xứ... (cho đến)... sự nắm giữ được gọi là bỏn xẻn. Người nào mà sự bỏn xẻn này đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt... (cho đến)... đã được đốt cháy bởi ngọn lửa trí tuệ, vị ấy được gọi là người không còn bỏn xẻn, đã lìa bỏn xẻn, đã từ bỏ bỏn xẻn, đã mửa ra sự bỏn xẻn, đã giải thoát khỏi bỏn xẻn, đã đoạn trừ bỏn xẻn, đã xả ly sự bỏn xẻn. Đây là ý nghĩa của santo so vītamaccharo.
Nādeti na nirassati, iti bhagavāti. Nādetīti rūpaṃ nādiyati na upādiyati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisati, vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ… upapattiṃ… paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ nādiyati na upādiyati na gaṇhāti na parāmasati nābhinivisatīti – nādeti. Na nirassatīti rūpaṃ na pajahati na vinodeti na byantiṃ karoti na anabhāvaṃ gameti, vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… gatiṃ… upapattiṃ … paṭisandhiṃ… bhavaṃ… saṃsāraṃ… vaṭṭaṃ na pajahati na vinodeti na byantiṃ karoti na anabhāvaṃ gameti. Bhagavāti gāravādhivacanaṃ…pe… sacchikā paññatti yadidaṃ bhagavāti.
“He does not appropriate, nor does he reject,” thus says the Blessed One. ‘He does not appropriate’ (nādeti): He does not appropriate form, does not cling to it, does not grasp it, does not misapprehend it, does not become fixated on it; nor feeling… perception… formations… consciousness… destiny… arising… rebirth… existence… the round of rebirths does he appropriate, cling to, grasp, misapprehend, or become fixated on—this is the meaning of ‘he does not appropriate.’ ‘Nor does he reject’ (na nirassati): He does not abandon form, does not dispel it, does not make an end of it, does not bring it to non-being; nor feeling… perception… formations… consciousness… destiny… arising… rebirth… existence… the round of rebirths does he abandon, dispel, make an end of, or bring to non-being. ‘Blessed One’ (bhagavā): This is a term of reverence… a designation that is a matter of direct experience, that is, ‘Bhagavā’.
Nādeti na nirassati, iti bhagavā (không chấp thủ, không từ bỏ, đức Thế Tôn đã nói như vậy) có nghĩa là: Nādeti (không chấp thủ) có nghĩa là: Không nhận lấy, không chấp thủ, không nắm giữ, không sờ mó, không quyết tâm vào sắc, thọ, tưởng, các hành, thức, thú, sự tái sanh, sự nối liền, hữu, sự luân hồi, vòng luân hồi. Đây là ý nghĩa của nādeti. Na nirassati (không từ bỏ) có nghĩa là: Không từ bỏ, không loại trừ, không làm cho chấm dứt, không làm cho không hiện hữu đối với sắc, thọ, tưởng, các hành, thức, thú, sự tái sanh, sự nối liền, hữu, sự luân hồi, vòng luân hồi. Bhagavā (đức Thế Tôn) là từ ngữ chỉ sự tôn kính... (cho đến)... danh xưng “Bhagavā” này là một chế định được chứng thực.
Tenāha bhagavā –
Therefore, the Blessed One said:
Do đó, đức Thế Tôn đã nói rằng:
‘‘Na samesu na omesu, na ussesu vadate muni;
Santo so vītamaccharo, nādeti na nirassati’’. [iti bhagavā]
“The sage does not make comparisons among equals, nor among inferiors, nor among superiors; peaceful and free from stinginess, he neither appropriates nor rejects.” [Thus said the Blessed One.]
“Bậc ẩn sĩ không nói năng giữa những người ngang bằng, thấp kém, hay cao hơn; vị ấy tịch tịnh, không còn bỏn xẻn, không chấp thủ, không từ bỏ.”
The Exposition of the Attadaṇḍa Sutta, the fifteenth, is concluded.
Phần giải thích kinh Attadaṇḍa, chương thứ mười lăm.